Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Hai, 2019, 03:11:39 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 51 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:48:52 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Tô Vĩnh Diện
(Liệt sĩ)


Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 7 năm 1949. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc đại đội 827, tiểu đoàn 394, trung đoàn 367.


Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo khổ, lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, đồng chí đã phải chịu đựng bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946 đồng chí tham gia dân quân ờ địa phương, đến năm 1949 xung phong vào bộ đội. Trong học tập và công tác, đồng chí luôn thể hiện tinh thần gương mẫu đi đầu, lôi cuốn đồng đội noi theo. Trong hành quân chiến đấu, đồng chí đã cùng đồng đội bền bỉ vượt qua khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị cho đánh lớn, đồng chí Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị cao pháo. Quá trình đơn vị hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1.000 ki-lô-mét tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội đưa pháo tới đích an toàn.


Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, đồng chí xung phong lái để bảo đảm cho pháo được an toàn. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ từng dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xảy ra.


Kéo pháo vào đã nhiều gian khổ hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt. Đồng chí đã đi sát từng người động viên giải thích rõ nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.


Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối - một cái dốc nghiêng 70 độ, đường hẹp và cong rất nguy hiểm - Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng, dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, đồng chí vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo xuống thắng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, đồng chí Ty bị hất xuống suối. Trước hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: "Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo" và đồng chí buông tay lái xông lên trước, lấy thân mình lao vào chèn bánh xe pháo. Pháo bị vướng, nghiêng dựa vào sườn núi, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ được pháo dừng lại.


Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.


Tô Vĩnh Diện đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất. Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nưức Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 52 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:48:06 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Cao Thế Chiến
(Liệt sĩ)


Cao Thế Chiến sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Quảng Hải, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nhập ngũ tháng 1 năm 1947. Khi hy sinh đồng chí là đại đội phó, thuộc đại đội 2, trung đoàn 101, đại đoàn 325, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Hơn bảy năm chiến đấu ở chiến trường Bình - Trị - Thiên, đồng chí Cao Thế Chiến đã trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đại đội. Ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đồng chí đã tham gia 50 trận đánh. Nhiều trận gặp tình huống gay go, phức tạp, đồng chí vẫn bình tĩnh, linh hoạt chỉ huy đơn vị đánh thắng địch.


Năm 1947, Cao Thế Chiến là chiến sĩ thông tin ở bộ phận điện đài, đồng chí đã khắc phục nhiều khó khăn để nắm vững nghiệp vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ phục vụ chỉ huy chiến đấu.

Năm 1948, Cao Thế Chiến được chuyển về đơn vị chiến đấu làm nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, đồng chí đã lập được nhiều thành tích. Một lần đồng chí dẫn tiểu đội bao vây vị trí bọn tề đang họp (gần thị xã Đồng Hới), rồi tự mình xông vào bắt bọn chúng, 2 tên ngoan cố tháo chạy, đồng chí nổ súng tiêu diệt, bọn còn lại bị tiểu đội xông vào bắt gọn.


Trận Mỹ Trung (Quảng Bình), đầu năm 1949, kế hoạch định đánh bằng binh vận bị lộ, địch xảo quyệt gài bẫy lừa ta, khi đồng chí dẫn đầu tiểu đội tiến vào, chúng đã bố trí sẵn hỏa lực bắn ra dữ dội. Tuy lâm vào tình thế bất lợi, nhưng đồng chí vẫn bình tĩnh chỉ huy tiểu đội anh dũng chiến đấu với một đại đội địch, diệt 14 tên rồi phá hàng rào rút ra an toàn.


Trận Xuân Bồ (năm 1950), đơn vị Cao Thế Chiến bị địch bao vây bất ngờ. Cuộc chiến đấu diễn ra gay go ác liệt. Tiểu đội trưởng hy sinh. Đồng chí thay thế chỉ huy tiểu đội và trực tiếp dùng trung liên bắn mạnh cản địch cho đơn vị rút ra an toàn.


Trong trận chống càn ở Thanh Hương (Thừa Thiên) năm 1952, địch tập trung 18 tiểu đoàn, có hơn 50 máy bay, 18 khẩu pháo và 100 xe cơ giới yểm trợ, tiến công ta. Sau đợt phản kích đầu tiên, trung đội đồng chí bị đứt liên lạc với đại đội và bị thương vong chỉ còn lại 17 người. Suốt 1 ngày, Cao Thế Chiến đã động viên và tổ chức anh em đánh lui 6 đợt phản kích điên cuồng của địch. Đến tối, được lệnh mở đường phá vây, đưa đồng bào ra ngoài. Đồng chí đã chỉ huy đơn vị dũng cảm chiến đấu phá vỡ vòng vây địch, đưa 500 đồng bào rút về căn cứ an toàn.


Đầu năm 1954, địch dùng 4 tiểu đoàn bao vây tập kích vào cơ quan trung đoàn bộ của ta. Nghe tiếng súng nổ, Cao Thế Chiến chủ động nhanh chóng chỉ huy trung đội đánh tạt sườn quân địch, diệt gọn một trung đội. Bị đánh bất ngờ vào giữa đội hình, địch hoang mang tan rã. Đồng chí đang dẫn đầu trung đội truy kích địch, không may bị thương nặng. Không bỏ lỡ thời cơ kẻ địch đang hoang mang Cao Thế Chiến không cho đồng đội băng bó, tiếp tục chỉ huy đơn vị tiến công dồn dập, phá tan cuộc tập kích của chúng, bảo vệ được sở chỉ huy. Do vết thương nặng, đồng chí đã anh dũng hy sinh trên đường truy kích địch.


Cao Thế Chiến đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công (một hạng nhất, một hạng ba), 9 bằng và giấy khen.

Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Cao Thế Chiến được Chù tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 53 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:47:30 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Trần Can
(Liệt sĩ)


Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 1 năm 1951. Khi hy sinh đồng chí là đại đội phó bộ binh thuộc trung đoàn 209, đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ hồi còn nhỏ Trần Can đã rất ham thích đi bộ đội để được cầm súng giết giặc, cứu nước. Lớn lên, đã 3 lần đồng chí xung phong tình nguyện xin đi bộ đội, nhưng vì sức yếu nên mãi lần thứ tư mới được chấp nhận.


Từ khi váo bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, chỉ huy hết sức linh hoạt. Trong mọi trường hợp khó khăn ác liệt, đồng chí đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; đã hai lần đồng chí bị thương nặng vẫn tiếp tục chiến đấu, chỉ huy đơn vị kiên quyết tiến công tiêu diệt địch. Tấm gương của đồng chí đã thiết thực cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi trong toàn đơn vị.


Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, trong trận đánh địch ờ Bản Hoa, Trần Can làm nhiệm vụ xung kích, vừa có lệnh xung phong đồng chí đã nhanh chóng cùng tiểu đội vượt qua cửa mở, dùng thủ pháo diệt một ụ súng địch rồi lập tức phát triển sâu vào bên trong. Khi tiểu đội bị thương vong hết, đồng chí tự động sát nhập với hai đồng chí của tiểu đội khác lập thành một tổ tiếp tục chiến đấu. Đồng chí dẫn đầu tổ diệt luôn ba ụ súng nữa và đánh thẳng vào sở chỉ huy địch diệt cơ quan đầu não, bắt sống 22 tên, thu 17 súng các loại.


Trong trận đánh đồn Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội thọc sâu diệt sở chỉ huy và cắm lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Hồ Chủ tịch giao cho quân đội lên đồn giặc. Khi nổ súng, mặc cho hỏa lực địch bắn ra dữ dội, đồng chí dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên, chọc thẳng vào đánh chiếm sở chỉ huy như một mũi dao nhọn cắm vào giữa tim gan địch, rồi nhảy lên nóc lô cốt cắm cờ. Sau đó chỉ huy tiểu đội diệt bọn địch còn lại trong hầm ngầm, bắt 25 tên, thu nhiều súng.


Trong trận đánh điểm cao 507, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo địch, chiếm mỏm cột cờ. Địch bắn pháo dữ dội và cho quân đánh chiếm lại. Ta với địch giành giật nhau từng thước đất hết sức quyết liệt. Đồng chí đã cùng đồng đội kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản kích của chúng. Địch lại xông lên trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung phong, Trần Can nhặt ném lại và chỉ huy đơn vị nhảy lên hào đánh giáp lá cà với địch. Cán bộ đại đội bị thương vong hết, bản thân Trần Can cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn quyết tâm thay thế cán bộ đại đội chi huy đơn vị chiến đấu suốt một đêm. Sáng hôm sau, đồng chí tập trung thương binh nhẹ lại, động viên bộ đội, chấn chỉnh tổ chức, củng cố trận địa. Địch lại phản kích lên dữ dội, mong đánh bật quân ta, giành lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt phản kích của chúng, kiên quyết giữ vững trận địa, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh. Đồng chí Trần Can đã hy sinh anh dũng sáng ngày 7 tháng 5 nám 1954, ngày kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.


Trần Can đã được, tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đại đoàn.

Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trần Can được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 54 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:46:32 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Nguyễn Phú Vị


Nguyễn Phú Vị sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội, nhập ngũ tháng 3 năm 1946. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 48, đại đoàn 320, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 16 tuổi, nhà nghèo, đồng chí Nguyễn Phú Vị xin vào làm công nhân ở nhà máy điện Hà Nội. Tổng khởi nghĩa tháng Tám nảm 1945, đồng chí đã cùng công nhân tham gia cướp chính quyền ở Hà Nội, chiếm nhà máy điện và trại lính bảo an, sau đó xung vào đội quân Nam tiến, chiến đấu ở Nam Bộ, bị thương, được đưa ra Bác điều trị.


Tháng 3 năm 1946, sau khi bình phục Nguyễn Phú Vị trở về đội ngũ, tham gia chiến đấu ở giữa Thủ đô những ngày đầu kháng chiến toàn quốc và sau đó đồng chí hoạt động ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nguyễn Phú Vị đã đánh 30 trận luôn luôn thể hiện tinh thần hăng say đánh giặc, đã nổ súng là kiên quyết xung phong, gặp tình huống gay go ác liệt cũng không nản, kiên quyết tiến công tiêu diệt địch, chỉ huy bình tĩnh, mưu trí, táo bạo, đã cùng trung đội diệt 500 tên địch, thu và phá hủy nhiều xe pháo của chúng. Riêng đồng chí diệt 60 tên, bắt sống 5 tên thu 10 súng các loại.


Trận Trung Thứ, Hà Nam năm 1951, địch dùng 2 đại đội bất ngờ tiến công bao vây 1 đại đội ta ở làng Trung Thứ. Đồng chí được lệnh sang đánh giải vây cho đơn vị bạn, mặc cho địch bắn pháo chặn đường, đồng chí dũng cảm dẫn đầu trung đội vượt qua lửa đạn, đánh thốc vào sau lưng địch, diệt ngay sở chỉ huy, bắn chết tên quan ba, bắt sống tên chỉ huy và 17 tên khác, diệt gọn 1 trung đội địch, khiến toàn bộ địch hoang mang tan rã, tạo điều kiện cho tiểu đoàn bao vây chia cắt, diệt gọn cả 2 đại đội địch, giải vây cho đơn vị bạn.


Trong trận tiến công địch ở thị trấn Phát Diệm (năm 1952), Nguyễn Phú Vị nhận nhiệm vụ chỉ huy đơn vị thọc sâu, diệt sở chỉ huy và khu điện đài của địch. Đồng chí chỉ huy đơn vị bí mật tiếp cận trước giờ nổ súng. Khi có lệnh, cả đơn vị xông lên bắn chết 2 tên lính gác, rồi nhanh chóng vượt rào, chia làm 3 mũi đánh vào sở chỉ huy, khu máy điện và khu thông tin. Chỉ ít phút sau, ta đã diệt xong địch và làm chủ khu vực này. Đồng chí tổ chức lại lực lượng chiếm giữ trận địa, và cử 6 đồng chí đánh tiếp sang khu bên, diệt thêm 2 tiểu đội địch nữa rồi cố thủ ở đó, đánh lui ba đợt phản kích của lực lượng tiếp viện địch. 7 giờ sáng, được lệnh rút Nguyễn Phú Vị chỉ huy đưa hết thương binh ra ngoài và tranh thủ tiếp tục đánh chiếm khu để pháo của địch, diệt thêm 6 tên, mở rộng bàn đạp cho toàn trung đoàn triển khai, diệt gọn 7 đại đội địch, làm chu thị trấn 1 ngày 1 đêm.


Nguyễn Phú Vị là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, luôn luôn xung phong dẫn đầu trong mọi công tác, đoàn kết giúp đỡ mọi người. Với đức tính khiêm tốn, giản dị, chân thành, đồng chí được anh em trong toàn đơn vị tin yêu.


Nguyễn Phú Vị đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công (một hạng nhất, một hạng nhì, một hạng ba), 17 lần được trung đoàn và đại đoàn khen.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, đồng chí Nguyễn Phú Vị được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 55 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:56 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Lộc Văn Trọng


Lộc Văn Trọng sinh năm 1905, dân tộc Tày, quê ở xã Chí Thảo, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ năm 1950. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội phó lái xe ô tô thuộc Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước Cách mạng tháng Tám, đồng chí Lộc Văn Trọng bị bắt đi lính. Chúng đưa đồng chí sang Pháp học lái xe. Năm 1945, nghe tin nước nhà độc lập, mặc dù bọn đế quốc ra sức khủng bố, đồng chí đã tham gia tổ chức Ái hữu của binh lính người Việt ở Pháp, đấu tranh không chuyển vũ khí sang Việt Nam và đòi hồi hương, do đó bị chúng bắt bỏ tù và đày đi Bắc Phi. Năm 1946, trước đòi hỏi chính đáng của Chính phủ ta, bọn Pháp phải thả số anh em này và cho hồi hương.


Đồng chí trở về quê, xung phong vào du kích. Năm 1948, giặc càn vào làng, đồng chí đã cùng tổ du kích dũng cảm chiến đấu, bắt sống 2 tên lính Pháp, thu 2 tiểu liên và 200 viên đạn.


Năm 1950, tuy đã 45 tuổi, Lộc Văn Trọng được tin bộ đội đang rất cần lái xe để phục vụ kịp thời cho chiến dịch Biên Giới, đồng chí xung phong đi ngay. Từ đó đồng chí đã lái xe phục vụ trong suốt 5 chiến dịch lớn, luôn luôn nêu cao tinh thần bền bỉ, tích cực, dũng cảm vượt qua mọi khó khăn ác liệt, đưa được nhiều hàng tới đích kịp thời và an toàn. Gần 3 năm, trong những điều kiện phục vụ chiến dịch hết sức khó khăn, chiếc xe do đồng chí lái và bảo quản đã chạy hơn 3 vạn ki-lô-mét an toàn đưa được hàng nghìn tấn vú khí, lương thực tới chiến trường, kịp thời phục vụ đơn vị chiến đấu. Trong phong trào thi đua lập công, đồng chí Lộc Văn Trọng là chiến sĩ lái xe xuất sắc của Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần; với tinh thần trách nhiệm cao, kết hợp những kinh nghiệm, nền nếp bảo quản và sử dụng xe, đồng chí đã nêu tấm gương sáng trong ngành vận tải, xứng đáng là lá cờ đầu của toàn đơn vị.


Chiến dịch Biên Giới, Lộc Văn Trọng theo sát bộ đội vào thu chiến lợi phẩm ở Đông Khê, Thất Khê. Xe bị hư hỏng nhiều, đồ nghề thiếu, đồng chí đã vận động anh em thu nhặt phụ tùng ở các xe hỏng, sửa chửa liên tục nhiều ngay đêm được 36 xe, riêng bản thân đồng chí sửa được 4 xe, kịp thời phục vụ đắc lực cho việc vận chuyến sau chiến dịch.


Phục vụ chiến dịch Tây Bắc và Điện Biên Phủ, qua những quãng đường gay go nguy hiểm, gặp bom nổ chậm, Lộc Văn Trọng đều bình tĩnh xem xét, tổ chức và dẫn đầu đơn vị vượt qua an toàn.


Cuối năm 1952, địch đánh lên vùng Đoan Hùng (Phú Thọ). Thấy giặc sắp đến vùng kho hàng cua ta, đồng chí nhanh nhẹn lái chiếc xe của mình dẫn đầu anh em đi chuyển kho, cứu hàng ra ngoài. Trời mưa, đường trơn, nhiều xe và hàng còn bị mắc kẹt, Lộc Văn Trọng quay lại động viên anh em chặt tre, đan phên lát đường cho xe chạy. Suốt đêm mưa, tối, đồng chí đã cùng anh em đưa được 80 thùng xăng và 14 tấn vũ khí vượt ra vùng an toàn.


Một lần trong chiến dịch Điện Biên Phủ, do yêu cầu vận chuyển cấp tốc, đoàn xe phải tranh thủ vượt một trọng điểm, vừa tiến đến thì một quả bom nổ, mảnh bom, đất đá văng tung tóe vào các xe, trong lúc đó máy bay địch vẫn đang quần lượn, Lộc Văn Trọng bình tĩnh ra lệnh tắt đèn và lái xe dẫn đầu đơn vị vượt ra khỏi khu vực nguy hiểm.

Lộc Văn Trọng luôn gương mẫu, cởi mở, khiêm tốn, chí công vô tư, được đồng đội tin yêu.

Lộc Văn Trọng đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, được Cục Vận tải khen và bầu là chiến sĩ lái xe xuất sắc.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lộc Văn Trọng được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 56 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:10 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Lê Văn Thọ


Lê Vãn Thọ sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Tân Thới Hiệp, huyện Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, nhập ngũ tháng 4 năm 1947. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng đặc công thuộc miền Đông Nam Bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lúc còn nhỏ, Lê Văn Thọ đã tham gia canh gác, giấu cán bộ về hoạt động bí mật ở xã. Từ ngày nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, đồng chí hoạt động ở Sài Gòn và miền Đông Nam Bộ, luôn luôn dũng cảm, táo bạo trong chiến đấu, kiên trì, mưu trí, thận trọng, chính xác trong việc điều tra, trinh sát nắm địch. Gặp nhiều trường hợp khó khăn nguy hiểm đồng chí vẫn không nản, kiên quyết khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình chiến đấu, đồng chí đã diệt được 161 tên địch, góp phần tích cực cùng đơn vị phả hủy nhiều cầu cống, kho bom đạn và đồn bốt địch.


Năm 1949, Lê Văn Thọ nhận nhiệm vụ trinh sát và đánh cầu Lái Thiêu (trên đường số 13), ở đây địch canh phòng rất cẩn mật. Đồng chí đã dũng cảm kiên trì trinh sát và dẫn đơn vị vào đánh đến lần thứ tư, mới đánh sập cầu.


Từ năm 1950 - 1952, Lê Văn Thọ đã tham gia đánh nhiều trận, lập công xuất sắc, đặc biệt, trong nhiệm vụ điều tra và đánh kho bom Tân Sơn Nhất. Đây là một vị trí địch tổ chức bố phòng nghiêm ngặt: nhiều đồn bốt bao bọc bên ngoài, rồi hàng rào dây thép gai, bãi mìn, bãi cát trắng, đường xe đi tuần, con mương rộng sâu lút đầu người, dưới đáy cắm chông, rồi lại thành đất cao và dày, đèn pha bật sáng suốt đêm, một đại đội Âu Phi thường xuyên tuần tiễu. Đồng chí đã mưu trí táo bạo kiên trì trinh sát trong 4 tháng liền, hết vào lại ra, nhiều lần nằm lại theo dõi nắm chắc địch và xây dựng cơ sở. Khi được lệnh trên cho đánh, Lê Văn Thọ đã cùng một đồng chí nữa đột nhập gài mìn vào giữa kho bom và những nơi xung yếu rồi giật nổ làm chết 182 tên địch, bị thương nhiều tên, phá huy hơn 700 quả bom, một đại bác, làm sập ba tháp canh, một dãy nhà lính và 15 dãy nhà kho. Trận đánh thắng này đã gây cho địch rất nhiều thiệt hại, có tác dụng cổ vũ toàn chiến trường Nam Bộ lúc bấy giờ.


Ngoài tinh thần anh dũng chiến đấu, tích cực tiêu diệt sinh lực địch, đồng chí Lê Văn Thọ còn hết lòng thương yêu đồng đội, tuy thường phải hoạt động và chiến đấu độc lập ít người giữa vòng vây dày đặc của địch, nhưng dù khó khăn ác liệt thế nào đồng chí cũng tìm cách đưa bằng được thương binh, tử sĩ ra ngoài an toàn, chu đáo. Thường xuyên trong hoạt động, đồng chí còn biết dựa vào dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân đùm bọc che chở qua các bước hiểm nghèo.


Lê Văn Thọ đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 5 lần được Mật trận miền Đông Nam Bộ khen vả là Chiến sĩ thi đua toàn quốc.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lê Văn Thọ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 57 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 07:44:27 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Lý Văn Thím


Lý Văn Thím sinh năm 1925, dân tộc Nùng, quê ở xã Nam Sơn, huyện Thất Khê, tỉnh Lạng Sơn, nhập ngũ tháng 2 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội phó bộ binh thuộc trung đoàn 335, đơn vị quân tình nguyện, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trước Cách mạng tháng Tám (tháng 2 năm 1945), Lý Văn Thím đã xung phong vào Giải phóng quân, tham gia đánh bọn phỉ ở Hang Cấu, đánh Nhật, ở Pò Mã và cùng nhân dân khởi nghĩa cướp chính quyền ở thị xã Lạng Sơn. Sau đó đồng chí bị yếu, được trên cho về nhà nghỉ chữa bệnh. Đến tháng 6 năm 1946, đồng chí lại trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu đến tháng 7 năm 1954. Đồng chí đã nhận nhiều nhiệm vụ, công tác khác nhau khi trực tiếp chiến đấu, khi làm chiến sĩ trinh sát, liên lạc, khi làm công tác tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng... nhiệm vụ nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc. Đồng chí đã tham gia chiến đấu 46 trận, luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên quyết tiến công địch, diệt và làm bị thương 25 tên, bắt sống 5 tên, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng ở 7 bản thuộc vùng dân tộc ít người.


Tháng 12 năm 1946, giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, tiểu đội Lý Văn Thím làm nhiệm vụ phòng ngự chống địch trong thị xã Lạng Sơn. Địch huy động 1 tiểu đoàn có xe tăng và cả máy bay, pháo binh yểm trợ tiến công vào thị xã. Tiểu đội bị thương vong một số. Đồng chí vẫn cố thủ trong thành, đợi địch đến gần mới bắn và ném lựu đạn, chiến đấu liên tục 8 giờ liền, diệt nhiều địch, giữ vững trận địa.


Trận đánh đồn Na Y (trên đường số 4) đầu năm 1949, Lý Văn Thím xung phong vào đội quân cảm tử, xông thẳng vào đồn phá bung ba lớp rào, đánh sập lô cốt rồi tiến lên chiếm hào giao thông, ném lựu   đạn dập tắt hỏa điểm xung yếu nhất, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Tháng 12 năm 1949, Lý Văn Thím làm chiến sĩ liên lạc và trinh sát ở vùng PĐây là vùng dân tộc ít người, nhân dân chưa hiểu còn xa lánh cán bộ, bộ đội. Địch thường phục kích trên các con đường đi lại. Đồng chí đã kiên trì gần gũi giúp đỡ, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, xây dựng được cơ sở, qua đó nắm vững tình hình địch. Có lần chuyển công văn hỏa tốc, đường đi mất 7 ngày, giữa đường gặp địch, cơm không có, phải nhịn đói, nhưng Lý Văn Thím vẫn tìm cách xuyên rừng đưa công văn tới nơi, trước giờ quy định.


Từ tháng 12 năm 1952 đến tháng 8 năm 1953, đồng chí nhận nhiệm vụ hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng ở một vùng trọng điểm. Suốt 9 tháng liền, ngày nằm rừng, đêm về tìm dân ở các bản, nhiều khi địch lùng sục, gạo không có phải ăn rau, củ rừng, nhưng Lý Văn Thím vẫn kiên trì bám dân hoạt động, gây được cơ sở ở 7 bản.


Với tinh thần và tác phong kiên trì, chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, liên hệ mật thiết với quần chúng, đồng chí Lý Văn Thím đã cảm hóa được mọi người, tranh thủ được sự đồng tình mến phục của nhân dân và lòng tin yêu của anh em đồng đội.


Lý Văn Thím đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất và được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Lý Văn Thím được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 58 
 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:54:45 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

11. CÁC BỨC THƯ CỦA ÔNG TƯỚNG

1

        Bardia nằm trên một bờ biển cao nhìn bao quát ra Địa Trung Hải, với một bãi biển nằm xa phía dưới về hướng Đông hầu như bị đóng kín cả ba mặt, từng là sào huyệt của bọn hải tặc cách đây một trăm năm. Thời bình, tôi có thể hình dung Bardia là một nơi nghỉ mát lý tưởng. Rommel đã có nhiều lợi thế khi đặt bản doanh tiền phương tại đây. Nó vừa là một nơi để xả hơi sau các công việc mệt nhọc, vừa thuận tiện cho một vị chỉ huy vẫn được tiếng luôn luôn gần gũi với binh sĩ.

        Chúng tôi nhận được một số tăng cường. Một sư đoàn thứ ba, được thành lập bằng rút binh sĩ của nhiều đơn vị khác nhau, mang tên Sư đoàn 90 Khinh binh, nhưng vẫn chưa biết ngày nào sẽ lên đường. Sư đoàn 5 Khinh binh biến cải thành Sư đoàn 21 Panzer (Thiết giáp). Tư lịnh hiện thời là Trung Tướng Von Raveinslein, thay thế Streich. Trung Tướng Von Esebeck, anh họ ông bạn thông tín viên chiến tranh của tôi, nắm quyền Tư lịnh Sư đoàn 15 Panzer, nhưng vài ngày sau ông ta đã bị thương trong một cuộc oanh kích của phi cơ Anh gần Acroma.

        Như vậy các đơn vị chánh của Quân đoàn Phi Châu, đã đưa quân đoàn trở nên lừng danh sau này đều hiện diện, bao gồm các Sư đoàn 15, 21 Panzer và 90 Khinh binh.

        Phần lớn thời gian này chúng tôi nằm tại Bardia và thật sự không bị quấy nhiễu, ngay cả vào một buổi sáng chúng tôi biết được một nhóm xung kích Anh đã đột nhập lên bãi biển mà chúng tôi thường tắm. Hai tên trong bọn bị bắt giữ, nhưng những tên khác đều chạy thoát.

        Một vài hôm sau, Rommel với Rerndt và tôi tháp tùng, đến xem xét khu đất gần các giao thông hào nằm cạnh bờ biển phía tây Barđia, trong lúc không ngờ nhất, chúng tôi trở thành mục tiêu tốt cho các xạ thủ bắn sẻ của địch. Chỉ mang theo súng lục, chúng tôi đành phải núp sau một vách đá. Hơn nửa giờ chúng tôi không dám thò đầu ra ngoài. Cuối cùng, sau một loạt đạn, chúng tôi chạy nhanh ra xe. Một tiếng rưỡi đồng hồ sau tôi trở lại, với ba mươi tên lỉnh, lục lọi toàn thể khu vực và tìm tòi trong mọi giao thông hào. Nơi nào chúng tôi cũng dẫm phải những chiếc mền cũ, lựu đạn, và nhiều vật dụng khác do quân Ý bỏ lại trong trận đại bại hồi tháng 12 năm rồi. Nhưng không dấu vết nào cho thấy có sự hiện diện của địch quân một giờ rươi trước đây. Chúng tôi đã phí công hai tiếng đồng hồ.

        Đây là lần thứ hai địch quân đã cố gắng « hạ » Rommel. Lần thứ nhứt xảy ra lúc bản doanh của chúng tôi được đặt ở bờ biển phía tây Tobruk. Các tên xâm nhập bị chặn bắt chỉ cách chiếc xe của Rommel không đầy hai trăm thước, cũng may, bởi vì chúng tôi cẩu thả nhứt trong việc canh gác bản doanh, ở tiền tuyến, các tiện nghi của Rommel không khác gì một tên lính quèn hoặc tiện nghi hơn chút đỉnh. Lúc ấy chúng tôi không hề ý thức rằng các tên xâm nhập đã nhắm vào ông Tướng, mà chỉ nghĩ đó chẳng qua là một hành động phá hoại thường tình.

        Vây mà Rommel vẫn không tỏ ra nao núng sau vu thứ hai này. Ông cười và nói đùa : « Đối với người Anh, xem ra tôi cũng có giá lắm ».

 59 
 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:53:07 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
     
4

        Rommel tập trung mạnh mẽ sự lưu tâm của ông vào mặt biên giới. Các tổ quan sát của chúng tôi được đặt dài theo tuyến duyên hải từ Bardia đến chu vi Tobruk để dòm ngó các động tĩnh trên mặt biển, và họ đã báo cáo có nhiều tàu chở quân dụng và đồ tiếp liệu đến hải cảng bị bao vây này. Nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy địch tăng cường lực lượng và như vậy, một cố gắng phá vỡ vòng vây Tobruk của quân Anh khó thể xảy ra. Rommel đã tiên đoán một cuộc tấn công mới của quân Anh không thể phát động trong vòng ba tháng tới.

        Ông đồng ý mặt trận Sollum có thể là khung cảnh thuận lợi cho bất kỳ hoạt động nào của địch trong những tháng tới và vì vậy, ông quyết định di chuyển bản doanh tiền phương xa hơn về phía đông, hướng đến biên giới. Ông chọn Bardia làm căn cứ hành quân riêng của ông đặt tại một ngôi nhà khá đổ nát ngay cạnh nhà thờ làng — mà các dấu vết còn để lại cho thấy có đến hàng ngàn quân Anh, Úc và Nam Phi từng ở qua.

        Rommel ở thời gian này chỉ là Tổng Tư Lịnh của Quân Đoàn Phi Châu và mặc dù mọi binh sĩ tại mặt trận đều thừa nhận ông là vị Tư Lịnh thật sự, nhưng trên lý thuyết vị Tư Lịnh Tối Cao các cuộc hành quân ở Bắc Phi nằm trọng tay người Ý, Đại Tướng Garibaldi.

        Rommel mời Garibaldi đến thăm viếng mặt trận khi các cơ cấu phòng thủ Solium đã hoàn toàn vững mạnh. Garibaldi chấp thuận cuộc thăm viếng và một vài ngày sau ông đến Bardia. Tại đây, ông đã trao gắn Huy chương bạc Anh dũng của Ý Đại Lợi cho Rommel. Tôi ngạc nhiên hơn khi loại huy chương cao quý nhứt của Ý này cũng được gắn lên ngực tôi. Garibalbi cho biết ông đặt lòng tín cẩn vào tất cả chúng tôi. Vội vã giải thích tình hình cũng như sự sắp xếp các đơn vị, Rommel lập tức đưa Garibaldi đến tuyến đầu Sollum. Đặc biệt, Rommel dự tính đưa vị Tướng Ý đi thanh sát tất cả mọi vị trí của chúng tôi. Nhưng tôi nhận thấy, xuyên qua các lời dẫn giải của Rommel được thông dịch qua tiếng Ý bởi bác sĩ Hagemann, các sĩ quan người Ý cũng như Garibaldi đã không che dấu được sự bồn chồn của họ. Khi chúng tôi chỉ vừa tiến đến Halfaya Pass, một sĩ quan người Ý đi vượt lên và nói với Garibaldi « Kính thưa Đại Tướng, tôi có thể mạn phép nhắc Đại Tướng về các cuộc họp khẩn thiết, cần sự có mặt của Đại Tướng, ở Cyrene haỵ không ? ».

        « Ồ ! Tôi nhớ rồi ! », Garibaldi nói và ông ta xoay sang nói với Rommel là có việc quan trọng cần phải trở về lập tức. Việc này nằm ngoài chương trình dự định của Rommel, vì ông đã sắp xếp các cuộc tiếp đón hoàn hảo để chứng tỏ sự hiện diện của « ông xếp trên hình thức » của ông tại mặt trận. Tôi bắt gặp một tia sáng đượm vẻ mỉa mai trong đôi mắt của Rommel khi Garibaldi nói một cách nhũn nhặn trước khi lên xe « Cảm ơn về các thành quả đáng kinh ngạc của ông. Tất cả những gì ông làm đều đúng. Nếu là tôi, chắc chắn tôi cũng sẽ làm như thế ! ».

        Các người Ý đi khỏi, không còn một đồng minh nào ở đây, chúng tôi tiếp tục nói chuyện với Đại úy Bach, sĩ quan cao cấp Đức tại vị trí phòng thủ Halfaya Pass. Một giảo sĩ trở thành một binh sĩ chiến đấu, Bach, sau này là một Thiếu tá, cùng tất cả lực lượng ở Halfaya đã đầu hàng Trung Tướng I.P de Villiers, Tư lịnh Sư đoàn 2 Nam Phi vào tháng giêng năm sau.

        Sau đó chúng tôi lên đường trở về Barđia. Đôi mắt của Rommel chợt bừng sáng và thình lình ông lên tiếng với một nụ cười ranh mãnh : « Tôi tự hỏi việc gì ở Cyrene mà lại gọi là khẩn cấp ? ».

5

        Ehlert hiện tại đã rời khỏi Bộ tham mưu của Rommel và được Thiếu tá Wustefeld thay thế ở Ia. Cùng thị sát với Wustefeld, Rommel đã vạch ra rõ ràng những mục tiêu mà ông hy vọng hoàn thành trước cuối tháng 11 năm 1941. Thứ nhứt, hoàn tất một chuỗi pháo đài từ Halfaya Pass đến Sidi Omar được dự trù mức độ đề kháng có thể duy trì ba tuần lễ hoặc hơn, trước một cuộc tấn công qui mô của địch quân.

        Thứ hai, phía sau khung cảnh của tuyến phòng thủ này, một cuộc tấn công và chiếm giữ Tobruk sẽ được chuẩn bị kỹ càng.

        «Vâng, Wustefeld », Rommel ngẫm nghĩ. « Việc này có ý nghĩa là trong thời gian nửa năm, chúng ta sẽ phải duy trì bằng mọi cách các đường tiếp tế của chúng ta đến các vị trí ở Tobruk và chung quanh Tobruk đến phòng tuyến này... »

        « Vâng, thưa Đại Tướng, tôi thiết nghĩ việc nay không thể không nghĩ đến ». Wustefeld đáp không mấy nồng nhiệt, có thể nghĩ như thế, cũng như tôi, khi nghĩ đến các xe vận tải khuấy bụi mù mịt trên các con đường lầm cát ngoại vi Tobruk.

        « Cho dù có thể làm được việc đó », Rommel thêm. « Cái gì mà ông muốn nói chính là một con đường thích hợp chạy quanh Tobruk ? Sau này chúng ta sẽ có con đường duyên hải xuyên qua hải cảng, nhưng rất tiếc, hiện thời những tên Úc đáng ghét đã từ chối không cho chúng ta đi qua con đường nầy ».

        Kế hoạch của Rommel đã được tiếp nhận với nhiệt tâm và nhanh chóng trở thành cụ thể. Các buổi họp được mở ra với các vị Tư lịnh Sư đoàn Ý và đưa đến kết quả là tận dụng tất cả nhân lực có thể, bắt đầu xây đắp con đường vòng đai Tobruk. Các tiểu đoàn Đức cũng được cắt đặt vào công tác này, nhưng họ lại thích nhiệm vụ ở tiền tuyến hơn, nên sau một thời gian, họ được phép hoán chuyển với các binh sĩ Ý nằm ở các vị trí chiến đấu.

        Con đường thành hình nhanh chóng. Đá không thiếu trong khu vực sa mạc này và dĩ nhiên cảt là một vật liệu dồi dàò nhứt. Ba ngàn quân Ý làm việc siêng năng và hăng hái, hình như nhiệm vụ thích hợp với khả năng của họ. Di chuyển trên các đoạn đường đã hoàn thành, tôi đã ngạc nhiên khi nhìn thấy các tiệm hớt tóc và tạp hỏa của dân địa phương mọc lên.

        Con đường hoàn tất trong vòng ba tháng. Một tường lãnh Ý cắt băng khánh thành và nó được mang tên « Achseustrasse »1, con đường nay sau đó trỏ thành « sinh lộ » trong sa mạc cho cả hai phe, cho đến cuối năm 1943. Tôi nghĩ hiện tại nó vẫn còn được sử dụng ở Cyrenaica.

          Trục lộ — con đường của phe Trục {Đức, Ý và Nhật), nhưng Sự thật chỉ do người Đức và Ý xây đắp.

 60 
 vào lúc: 09 Tháng Mười Hai, 2019, 08:52:36 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

3

        Nhưng, trong chiến tranh, chúng tôi không thể hy vọng trải qua những ngày tuyệt thú mãi mãi. Phía sau chúng tôi, hải quân Anh đã bắt đầu nả đạn vào Benghazi, trong cố gắng ngăn chặn sự củng cố lực lượng của Afrika Korps. Một ngày hoặc hai ngày sau, tướng Wavell phản công ở Sollum. Cùng lúc, Quận công Aosta bị vây ở Amba Alagi1, và sự đối kháng ở Đông Phi đã cáo chung ; nhưng, trong vòng một hai ngày sau, lực lượng nhảy dù Đức tràn vào Crete và giáng cho Wavell một đòn trầm trọng.

        « Cái dùi lớn » là mật danh cuộc tấn công của Wavell, tuy nhiên chúng tôi không hiểu ý nghĩa của danh từ này khi các báo cáo đầu tiên đến từ mặt trận Halfaya. Trong báo cáo chỉ nói đó là «một cuộc cường tập bằng chiến xa ». Hầu hết các chiến xa Anh là loại Mark II, phía trước bọc sắt thật dày và các bộ phận che chở dày xích hai bên cạnh sườn khả hữu hiệu.

        Yềm trợ cho bộ binh, các chiến xa đã tạo ra các bước tiến quyết định khi vượt qua những khe trũng dốc thẳng ở Halfaya Pass và dọc theo bờ biến dẫn đến Solium. Rommel lo ngại nhứt các cơ cấu phòng thủ của chúng tôi ở đây, vì phần lớn còn đang được thiết dựng. Ông lập tức ra lịnh cho các đơn vị thuộc Trung đoàn 5 Panzer, nhanh chừng nào hay chừng nấy, tiến dọc theo Tright Capuzzo, một trong những đường mòn tốt nhứt ở sa mạc, nằm phía nam con đường duyên hải.

        Tình hình dược nghi ngờ xảy ra vào ngày thứ hai cuộc tấn công của quân Anh : Mũi dùi sẽ chĩa vào Solium. Rommel quyết định đích thân thị sát khu vực này với Aldinger, Berndt và tôi đi theo. Chúng tôi không thể sử dụng con đường bờ biển, vì R.A.F. (Không lực Hoàng gia Anh) thường xuất hiện bất ngờ. Chúng tôi bắt buộc chọn lộ trình Tright Capuzzo.

        Chúng tôi được chứng kiến một trận đánh đẹp mắt. Các chiến xa của Wavell chọc thủng một trong số các vị trí phòng thủ của bộ binh, mặc dù vấp phải các khẩu đại bác 88 ly của chúng tôi ngăn chặn liên tục, mà họ chưa từng thấy. Các xạ thủ 88 ly đặt súng trên cao và không có gì che chở quanh họ, khi một người bị đại liên chiến xa liạ, người khác nhảy vào thế ngay. Các xạ thủ Ý phấn khởi bởi sự can cường của người Đức, cũng bắt đầu lên cao tinh thần chiến đấu đến tột độ. Nhưng mặc dù bị thiệt hại nặng nề, bộ binh Anh, với sự dũng cảm hiểm thấy, đã ồ ạt vượt sang các « Wadi » Halfava.

        Sau nhiều ngày quần thảo, trận đánh chấm dứt vời sự hài lòng của Rommel. Tin tức của trận đánh này đã không được loan đi một cách rộng rãi như các trận đánh khác ở sa mạc ; sự thật, rất hiểm người Libya nhở lại danh từ « Rattleaxe »2. Điều này cũng đã xảy ra rất nhiều tại các chiến trường Âu Châu và Địa Trung Hải.

        Tôi tháp tùng theo Rommel trong cuộc thanh tra mặt trận nầv dọc theo biên giới từ Halfaya đến Sidi Omar. Chúng tôi đã đếm được cả thảy 180 chiến xa Anh, hầu hết là loại Mark II, bị loại ra khỏi vòng chiến. Một số các chiến xa này sau được người Đức kéo về. Sửa sang lại, kẻ chữ Vạn và mang trở ra mặt trận để đương đầu với đồng đội của những người từng sử dụng chúng trước đây.

        Chiến thắng của Rommel đều nhờ vào sự tận dụng các khẩu 88 ly, một loại vũ khí sơ đẳng vừa chống phi cơ vừa chống chiến xa, và được xem là loại vũ khi chính yếu của mọi vị trí phòng thủ Đức.

        Một vài địch quân bị bắt giữ. Tôi nghe lỏm được một mẩu đối thoại giữa một thẩm vấn viên tham mưu và một ky binh tuổi trẻ người Anh.

        « Theo ý kiến tôi », ky binh Anh nói, với một cái liếc không mấy thiện cảm về phía khẳu 88 ly đặt gần đó, « sử dụng súng phòng không để hạ chiến xa của chúng tôi là bất lương ».

        Một xạ thủ Đức, đang đứng dựa lưng vào khẩu súng, lắng nghe câu chuyện, đã xen lời một cách thích thú : « Đúng, và tôi nghĩ sự bất lương nhứt của các anh là đã sử dựng chiến xa để tấn công những người không được bao bọc bằng sắt mà chỉ có những khầu 88 ly ».

        Mău đối thoại này khiến tôi không nhịn cười được. Nhưng tên kỵ binh Anh nói cũng có phần đúng. Các khẩu phòng không 88 ly này sẽ vô hiệu khi bắn chặn đầu Mark II, nhưng bắn cạnh sườn thì kết quả rất tốt. Bẳn cạnh sườn, quả thật, không mấy lưong thiện.

        Hiện tại, mọi nơi mà Rommel hiện diện, binh sĩ đều bám vào ông. Ông đã trở thành một vị. anh hùng của họ. Ông đưa ra các lời ca ngợi thuộc cấp, nhưng thiếu sót khi cố tình quên lãng các ông bạn người Ý, những người đã thực sự chiến đấu hữu hiệu. Berndt biết cách « đánh bóng » sự thành công của Rommel và, với kỹ thuật tuyên truyền khéo lẻo, hắn đã khiến Rommel không những được lòng quân trên chiến trường mà còn vang danh ở Đức quốc nữa.

        Ngay sau đó, một tờ báo Anh loan tin liên quan đến trận Haifaya Pass — và gọi là «Hỏa ngục» — đã lọt vào tay chúng tôi.

        Bernđt chớp ngay bài báo này và gởi ngay về Bá linh cho Goebbels.

----------------------
        1. Một pháo đài nằm trên cao điểm 11.000 bộ ở Abyssinia. Nơi đây, vào ngày 19 tháng 5 năm 1941, Phó Vương Ý Đạt Lợi — Quận công Aosta — và quân của ông bị bao vây (nhưng không bị xâm phạm) bởi Sư đoàn 5 Ấn của Trung Tướng Mayne và Trung đoàn 1 Nam Phi của Thiếu Tướng Pienaar.

        2. Một cái dùi lớn, được sử dụng làm vù khí thời cổ

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM