Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Mười Hai, 2019, 05:56:07 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 71 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 10:05:31 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Chạy khoảng nửa giờ, chúng tôi gặp các đại đội bộ binh Đức đang thiết dựng các cơ sở phòng thủ trên một vùng đất cao thuộc El Adem. Rommel dừng lại hỏi chuyện các sĩ quan, những người vừa đến đày một vài giờ, trong số có Trung úy Schmidt, người bạn đồng hành của tôi trong chuyến viễn du Marada - Jalo. Trong lúc ông Tướng nói chuyện, một loạt pháo kích của địch rơi giữa chúng tôi. Một Trung úy trẻ tuổi chết và Schmidt, bạn tôi, mất một cánh tay.

        Hai dậm xa về hướng đông, chúng tôi gặp Tướng Streich, với chiếc Mammoth, và Bộ Tham Mưu của ông đang nằm trong một « Wadi »1 rộng lớn. Pháo binh Tobruk hiện đã ngừng bắn, và Rommel nói với Streich với giọng đùa cợt: « Họ ngừng bắn, dĩ nhiên tốt hơn là nên tiết kiệm đạn. Chưa phải lúc họ sử dụng tất cả ».

        Nhưng, để đính chính lời nói của Rommel, chúng tôi nghe một loạt đạn rít trên không và rơi xuống nổ bùng gần đó và hiển nhiên là nhắm vào chúng tôi. Nhưng chúng tôi cũng nhận ngay ra là các quả đạn này không phải được bẳn từ Tobruk. Chúng đến từ phía nam. Chúng tôi nhìn xuyên qua khung kính xe, đến một dãy nhà thấp và hàng cột điện tuyến được dựng trên một dãy đất cao. « El Adem », Rommel nói và liếc nhanh xuống bản đồ của ông. Ông dùng ống dòm quan sát khu vực một lần nữa.

        Ỏng nhận ra một chiếc thiết giáp đơn độc, mà trong đó, chúng tôi kết luận, có sĩ quan tiền sát pháo binh địch. Trong khi chúng tôi còn đang sắp xếp phản ứng, khoảng mười lăm phút, chiếc xe bỏ chạy. Pháo binh của chúng tôi bắn đuổi theo.

        Trong khi đó hai ông Tướng vẫn tiếp tục thảo luận binh tình. Trước khi ra đi, Rommel lại nhắc Streich : « Chúng ta phải tấn công Tobruk với mọi thứ mà chúng ta có. Các thiết giáp của ông phải lập tức chiếm lấy các vị trí địch trước khi phi cơ của họ có thì giờ chôn chúng ».

        Rạng đông hôm sau, chúng tôi rời tòa nhà trắng và một lần nữa, trên con đường lầm bụi, hướng về Acroma. Các đoàn quàn di chuyển từ hướng ngược lại với mọi loại cơ giới đi đầu, khuây động từng lớp bụi mù dày đặc, khiến chúng tôi chỉ có thể nhận đường qua các cột điện tuyến trồng dọc theo lề. Chuyến đi này cũng chỉ có ba xe — của Rommel, của tôi và chiếc thiết giáp hạng nhẹ.

        Ở Acroma, Đại úy Wahl đón chờ, với bốn thiết giáp, như biết trước ông Tướng sẽ đến. Trong khi Rommel chăm chú quan sát các lô cốt ở phía tây Tobruk. Xuyên qua ống dòm, tôi nói chuyện gẫu với Wahl, một gã thích đùa bỡn, lôi cuốn và có tinh thần cao độ.

        Rommel lặng lẽ và say sưa quan sát. Thân thể vững chắc của ông thẳng đứng trên đôi chân đang ra, khuỷu tay cong lại giữ chặt cái ống dòm hiệu Zeiss trên đôi mắt, cằm hất về phía trước. « Cặp kính Mechili » vẫn nằm trên chóp mũ của ông.

        « Này Trung úy, chúng ta đi tới! » Rommel thình lình lên tiếng. « Hãy nói với ông sĩ quan đó mang các chiếc Panzer của ông theo». ông nhảy lên xe và tiến về phía trước. Tỏi chuyền lịnh của ông. Wahl ra thủ hiệu, nắm tay giơ lên và đầy về phía trước nhiều lần, rồi leo lên chiếc xe chỉ huy và hét to : « Tiến về Tobruk ! ».

        Chủng tôi chạy về hướng đông một vài dặm. Bây giờ và liên tiếp, các quả đạn đại pháo của địch bùng nổ quanh chúng tôi. Chúng tôi chạy ngang qua một pháo đội Ý, trú đóng giữa lòng một « Wadi », đang đáp lễ dữ dội các « đồng nghiệp » người Anh của họ ở Tobruk.

        Rommel dừng lại và nghiên cứu bản đồ. Tôi chạy vòng quanh và nhận thấy các thiết giáp của Wahl còn cách chúng tôi một khoảng xa. Rommel vẫy tay, tôi chạy đến bên xe ông. Ngón tay trỏ của ông chỉ thẳng vào một điểm trên bản đồ : Tôi nhận ra đó là cạnh sườn phía tây của phòng tuyến.

        « Pháo đội Ý này đúng là ở đây, nhưng tiểu đoàn Bersaglieri ở đâu ? Nó được chỉ định đóng trên khu đất cao ngay phía trước kia mà ».

----------------
        1. Như một lòng sông to lớn nằm giữa sa (nạc, nhưng không có nước.

 72 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 10:04:23 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

CÁC CỬA NGÕ VÀO TOBRUK

1

        Rommel đích thân dẫn đầu cuộc tấn công Tohruk trước bình minh. Đêm trước đó, Bộ tham mưu Quân đoàn Phi Châu của Đức di chuyền hết đến Mechili. Tôi né tránh gặp Thiếu tá Ehlert. Rommel cấp cho Tướng Streich, Tư lịnh Sư đoàn 5 Khinh binh, một trong những chiếc Mammoth và giữ hai chiếc cho chính ông và Bộ tham mưu. Tất cả đều được kẻ chữ Vạn. Phần chúng tôi tranh nhau một số xe còn khả dụng của địch quân. Tôi được phân phối một xe tham mưu mui trần, cùng loại với chiếc xe Rommel thường sử dụng trước đây.

        Đại úy Ađlinger, ngôi ở xe đầu đoàn di chuyển với Rommel, đã báo cho tôi biết : «Trung úy Schmidt, từ bây giờ trở về sau Xe của Trung úy sẽ luôn luôn chạy ngay phía sau xe của ông Tướng. Trung úy hoàn toàn đặt dưới quyền sử dụng của Tổng Tư Lịnh ».

2

        Đây là những ngày có vẻ u ám. Vào ngày 27 tháng 3 năm 1941, Hoàng đế Peter nắm giữ quyền kiểm soát Nam Tư sau khi chiếm « Dinh Cách mạng » vào lúc hai giờ sáng. Vào ngày 28, các lực lượng đồng minh của chúng tôi bị Hải quân Hoàng gia Anh đánh bại tơi bời ở mặt trận Cape Matapan. Ngày kế, việc Lữ đoàn 1 Nam Phi lần lượt tiến đến Diredawa, đến Abyssinia, số phận của Addis Ababa hiền nhiên đã trở thành mong manh. Hai ngày sau, Asmara thất thủ, (được tiến chiếm bởi Sư đoàn 5 Ấn, Tư lịnh là Trung Tướng L.M. Heal1 vào ngày 1 tháng 4 năm 1941). Cuộc di chuyển của Rommel ở È1 Agleiba trở thành lưỡng lự vào ngày 30. Vào ngày 2 tháng 4, các lực lượng Đức đẩy quàn Anh ra khỏi Mersa Brega nằm trên miền duyên hải và cũng đánh bật họ ra khỏi Agedabia. Và ngày kế đó, quân Anh triệt thoái khỏi Benghazi, vì thành phố này khó giữ lâu dài. Cùng lúc, một cuộc đảo chánh thân Trục do Rashid Ali khởi xướng, thành công ở Iraq, và đó là một vấn đề khác được đặt ra với Đại Tướng Wavell. Ngoại trưởng Anh Eden và Tướng Sir John Dill, Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Hoàng gia Anh cùng đến Athen để đáp lại lời yêu cầu viện trợ quân sự của Hy Lạp. Wavell phải lo liệu việc gởi các lực lượng của ông từ Trung Đông sang Hy Lạp, trong lúc người Đức đã tràn sang quốc gia này và đồng thời tiến vào Nam Tư vào ngày 6 tháng 1.

        Vào ngày 7 tháng 4 chúng tôi chiếm giữ Derna, nhưng Addis Ababa thất thủ và nơi thường được tôi nhớ tới, Massawa, đang bị vây hãm2 chỉ có Rommel của sa mạc là tiến lên hàng đầu.

3

        Tròng lúc tạm dừng quân, Rommel nhận được báo cáo vô tuyến từ Behrendt : « Đến Derna ». Đại úy Behrendt, phụ tá Ic, được chỉ định chỉ huy một đơn vị hỗn họp trang bị một vài khẩu đại bác chống chiến xa, tạm thời đảm trách nhiệm vụ chiến đấu, được lịnh tiến vào Derna. Ông dẫn đầu các lực lượng Ý di chuyển men theo bờ biển và bắt giữ được một số tù binh.

        Trong vài ngày qua, không quân được tăng cường để yểm trợ cuộc vượt biển Địa Trung Hải của Sư đoàn 15 Thiết giáp. Tư lịnh Sư đoàn, Tướng Von Priltwitz, là một nhân vật mới lần đầu đặt chân lên Phi Châu. Sau một cuộc hội kiến ngắn ngủi với Rommel, ông dẫn đầu lực lượng của ông tiến đánh Tobruk. Ông lọt vào phòng tuyến địch quân và tử trận. Đỏ là tướng lãnh đầu tiên của Đức gục ngã trên trận địa ở Phi Châu.

        Đêm đến, Rommel và Bộ Tham Mưu vào nghỉ trong một tòa nhà quét vôi trắng, nguyên trước kia của một kỹ sư cầu cống, nằm về phía tây Tobruk. Bức tường vây của tòa nhà được một nghệ sĩ người Úc trang trí. Đoàn ngựa đua khắc trên các bức tường thật sống động. Các cột điện tín được dựng lên xuyên qua sa mạc giữa tòa nhà này và pháo đài ở Acroma. Ở đây, cạnh ngôi nhà, chúng tôi thiêu xác Von Prittwitz và những người Đức khác cùng gục ngã với ông.

        Bản doanh tham mưu được đặt ở một chỗ đất trũng phía tây nam của tòa nhà trắng. Ehlert nằm tại một trong các chiếc ACV (xe thiết giáp chỉ huy), một chiếc Mammoth, cũng là Phòng Hành Quàn. Chiếc Mammoth còn lại được dành riêng cho Rommel.

        Sáng hôm sau, Rommel đi Acroma. Ngoài xe ông chỉ có xe tôi và một chiếc thiết giáp hạng nhẹ đi theo. Chúng tôi cày trên con đường lầm bụi tiến về Acroma, con đưòng liên lạc duy nhứt và khó khăn thường được sử dụng xưa nay cho đến khi con đường kế cận phe Trục xây đắp sau này. Từ Acroma, Rommel lại hướng về phía đông nam, trực chỉ E1 Adem. Pháo kích từ Tobruk thình lình rớt nổ quanh chúng tôi. Một số lính đương hoảng hốt nhảy loạn xạ giữa ba chiếc xe. Chúng tôi tiếp tục chạy, các quả đạn rượt theo những khoảng cách khá xa.

---------------------
        1. Lúc đó Ẩn Độ là thuộc địa Anh. Các đơn vị gồm toàn người Ấn hoặc hỗn hợp Anh Ấn, nhưng các chức vụ then chót đều do người Anh nắm giữ.

        2. Bị hai Lữ đoàn 7 và 10 Ấn Độ và Lữ đoàn Đông phương của Pháp chiếm giữ ngày 7-4-1941.


 73 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 10:00:00 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Patton dự định phát khởi cuộc đổ bộ vào lúc 8 giờ sáng, tuy nhiên lúc này trong tình trạng căng thẳng khi theo dõi hoạt động của đơn vị dò đường chẳng khác nào chính ông đích thân tham dự. Ông đứng gần như bất động. Bây giờ ông mới ý thức rằng, giờ phút này Hải quân giữ vai trò chánh. Ông đứng đó, không đưa ra một lời khuyến cáo nào, không nhăn nhó, nếu có chỉ là những câu đùa ngắn ngủi nhằm giảm bớt sự căng thẳng trong ông. Trong khi đó các tàu chuyển vận gặp rắc rối. Binh sĩ Hoa Kỳ được huấn luyện ở bãi Chesapeake trước đây hầu hết đều thực tập đổ bộ trực tiếp lên bờ, trái lại, hiện thời họ phải chuyển từ tàu chánh xuống xuồng chông chênh, và nhứt là phải mang theo trang bị nặng nề, họ đã vấp phải nhiều khó khăn. Công việc kéo dài thật chậm chạp và vượt hẳn giờ dự tính. Đại tá Hải Quân Emmett báo cho Phó Đô Đốc Hewitt biết giờ H phải hoãn lại. Patton ra lịnh hoãn lại 45 phút, 4 giờ 45 thay vì 4 giờ. Tuy nhiên lịnh này không được báo cho đơn vị dò đường. Họ vẫn xúc tiến nhiệm vụ theo giờ cũ.

        Vào lúc 3 giờ 35, Patlon nhìn thấy các trái sáng bật lên từ bờ biển. Đơn vị dò đường đã đánh dấu bãi và bắt đầu bấm đèn hiệu. Lúc 3 giờ 50, những trái sáng màu đó và xanh được bắn lên trời. Nhiệm vụ của đơn vị dò đường hoàn tất và bây giờ họ biến thành các toán tiền đồn chờ đợi lực lượng chánh đặt chân lên bờ. Tuy nhiên cả một tiếng đồng hồ sau họ vẫn không thấy động tĩnh gì cả.

        Đây là biến сố bất ngờ, có thể khiến cho cuộc đổ bộ đổ vỡ. Chắc chắn quân Pháp quanh Casablanca đã được báo động, nếu muốn chống đối, họ có dư thời giờ để chặn đứng cuộc đổ bộ trước khi quân sĩ Hoa Kỳ đặt chân lên bãi cát.

        Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã hợp tác trong cuộc hành quân bằng cách chuẩn bị « mặt đất » cho Patton đặt chân lên và cũng đã giúp, xuyên qua các điệp viên của mình, làm bất kỳ cái gì có thể được nhằm vạt bớt các mũi nhọn chống đối. Như kết quả đã thấy, một nhóm nhỏ sĩ quan Pháp ở Casablanca đã tiếp tay dọn dẹp bãi đổ bộ cho quân Mỹ, nhưng các chuẩn bị đều không tới nơi tới chốn, và không hoàn hảo, nhứt là sự bảo mật chỉ được giải tỏa đối với người Pháp vào giờ phút chót.

        Bảo mật là một yếu tố chết sống trong cuộc chiến và trong đầu óc của Patton. Đừng hiểu rằng yếu tố bất ngờ là con đường ngắn nhứt đưa đến chiến thắng. Nhưng mà bảo mật quá đáng nhiều khi đưa đến sự bất lợi.

        Khi lần đầu tiên ông nghe Culbert cho biết các nỗ lực của Bộ Ngoại giao ở Ma-Rốc nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của ông, Patton cho đó là những nỗ lực tốt. Ông nói với Culbert: « Bất kỳ sự tiếp tay nào cũng đều được tôi đón nhận cả, miễn là cứu được sinh mạng binh sĩ Hoa Kỳ ». Nhưng khi ông kiểm điểm lại, ông nhận thấy có một sự thật chua chát trong việc bảo mật, khiến cho kế hoạch giảm hẳn mức độ hữu hiệu.

        Hẳn như bí mật của « Torch » được giữ triệt để đối với người Pháp (ngay cả những người hợp tác chặt chẽ, được xem là ủng hộ triệt để cuộc đổ bộ) cũng không có một « người bạn » nào của Hoa Kỳ ở Ma-Rốc được báo trước cuộc đổ bộ để họ móc nối các phần tử nằm trong quân đội Pháp một cách sâu rộng. Chẳng hạn vào ngày 23 tháng 10 năm 1942, Trung Tướng Mark w. Clark thuộc bộ tham mưu của Thống Tướng Eisenhower được gởi sang Bắc Phi với sứ mạng bí mật thảo luận kế hoạch « bó đuốc » cùng một ủy ban cao cấp Pháp, bao gồm Đại Tướng René Mast, tham mưu trưởng của Tổng Tư lệnh quân đội thuộc địa Pháp, nhưng Clark được chỉ thị thảo luận một cách tổng quát, không nói cho người Pháp biết ngày giờ và địa điểm đổ bộ.

        Người Pháp không nắm vững vấn đề, họ như chui vào cuộn chỉ rối, và chẳng làm gì khác hơn là chờ đợi và phỏng đoán. Theo họ, người Mỹ chỉ thực hiện một cuộc đột kích chớp nhoáng giống như người Anh đã làm ở Dieppe. Có thể, chỉ là một cuộc tấn công của các đơn vị xung kích lưu động. Họ không dám đưa ra thái độ thực tế nào, vì còn người Đức đứng một bên, họ không còn cách nào để chọn hơn là giữ các lực lượng trong thế thủ.

 74 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 09:59:32 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Patton hỏi Steere nửa đùa nửa thật :

        « Nầy, Thiếu tá, ông có dám tiên đoán thời tiết ở một khoảng cách quá xa như thế không ?»

        « Dạ dám chứ, thưa Trung Tướng ». Steere đáp với vẻ mặt thành thật « thời tiết sẽ tốt vào ngày 8 tháng 11 ».

        Vì câu nói bạo dạn và hiển nhiên là chính xác, từ đây trở về sau Patton đã chấp nhận Steere như là một chuyên viên khí tượng đầy đủ thẩm quyền nhứt của ông.

        Khi trận bão kéo dài từ ngày 4 đến 6 tháng 11, hình như không đúng với lời tiên đoán của Steere, Patton không xao xuyến, ông nói:
« Tôi vẫn tin chuyên viên khí tượng của tôi ». Sau đó, những tiên đoán đen tối của Hoa-thịnh-đốn và Luân-đôn chất đầy tủ hồ sơ thời tiết vẫn không làm lung lay niềm tin của chính Steere và của Patton đặt vào Steere.

         Trong khi hạm đội lướt xuyên qua thời tiết nặng nề — và ngay cả khi thiết giáp hạm Texas bị сuốn mất mấy chiếc ca-nô và các pháo khẩu gần như tê liệt — Steere vẫn bảo đảm với Patton rằng mọi sự đều tốt đẹp vào ngày 8 tháng 11. Hắn nói với ông Tướng: « Bão tố tức nhiên là tồi tệ , thưa Trung Tướng — nhưng nó di chuyển quá nhanh và sẽ lướt qua, không gây ảnh hưởng trầm trọng đến kế hoạch. Nhưng tiến gần bờ biển Ma-Rốc, thời tiết sẽ điều hòa lại, cuộc đổ bộ sẽ ở vào tình trạng tốt đẹp trong ngày 8 tháng 11

        Sau đó, dưới bầu trời không một ánh sao, Patton bước lên đài chỉ huy và được báo cáo là thời tiết đã tốt, các lượn sóng thấp nhứt so với những tháng trước đây. Patton báo cho Steere biết và nói: «Tôi muốn cám ơn anh, Steere. Anh đúng là một nhà tiên tri ».

        Mặt biển yên tĩnh trở lại, đất liền hiện ở xa xa. Không khí cạnh bờ biển trong sáng với những cơn gió nhẹ. Mặc dù Patton không nhìn thấy, nhưng ông biết rằng 12 quân vận hạm của Đạo Quân Tấn Công Trung Ương, tức đạo quân thực hiện cuộc đổ bộ nằm trong kế hoạch phụ ở Fedala, quân số bao gồm 20.000 sĩ quan và binh sĩ thuộc Lực lượng Đặc nhiệm Phương tây của ông đã đến địa điểm dự trù. Nhưng sự thật, đạo quân này đã đặt chân lên các trục lộ ở Fedaia ngay trong khi Pattort vẫn còn ngủ, đúng 7 phút trước nửa đêm (tức 24 giờ 53 phút). Những hồ nghi về khả năng của Hải quân mà Patton có trước đây, với cuộc đổ bộ sơ khởi chỉnh xác nhứt về thời điểm, cũng như chính xác nhứt về mục tiêu đã khiến cho quan niệm của ông hoàn toàn thay đổi.

        Chỉ còn hai tiếng đồng hồ nữa là cuộc đổ bộ chánh bắt đầu. Không có gì cho Patton làm hơn là chờ đợi. Xuyên qua ống dòm, ông nhìn về hướng đông, bờ biển lượn cong từ phía bắc đến phía nam, ông trở nên hồi hộp khi nhận thấy thành phố Fedala tối đen như mực. Người Pháp có thể đã được báo động và tắt hết đèn trong thành phố ! Nhưng ông tỏ ra phấn khởi khi nhận thấy Casablanca vẫn còn lấp loáng ở phía xa xa.

        Ánh đèn của thành phố lớn này hoàn toàn cháy sáng, chẳng khác nào một ngọn đuốc khổng lồ hướng dẫn đường đi cho ông. Từ đài chỉ huy của soái hạm Augusta, Patton có thể thấy rõ trong trí khu vực cư trú của dân Ả Rập, khu vực cư trú có tường bao quanh của người Âu Châu nổi bật thành một hình vòng cung và những đại lộ tràn ngập ánh sáng đèn điện.

        Nhưng nói chung quang cảnh của đêm tối kỳ dị này chẳng khác nào một tấm vải phủ lên mặt tử thi. Đêm đen bao trùm đến nỗi các chiến hạm không nhìn thấy lẫn nhau. Dù cho mở bét mắt, Patton cũng không thể nào nhìn thấy bất cứ vật gì di động trên mặt biển, ngay cả giòng nước chảy kế cận bên ông, chỉ có tiếng động rì rầm của máy tàu và tiếng động khác để ông có thể biết rằng Lực lượng Đặc nhiệm đang tiến những bước cuối cùng của cuộc hành quân.

        Đến 1 giờ sáng, các quân vận hạm đi đầu thả xuồng đổ bộ xuống nước. Lúc 1 giờ 45, bốn xuống dò đường do Thiếu tá James R. Weaver chỉ huy, trang bị đèn bấm và máy truyền tin nhỏ cực mạnh, chạy vào các địa điểm chỉ định nằm bên trong hải cảng Fedala để thiết lập và đánh dấu các bãi đổ bộ.

        Gió loáng thoáng đưa tiếng máy của bốn xuống đổ bộ này đến tai Patton trên đài chỉ huy, nhưng ông không nhìn thấy gì hết. Không một tiếng nói nào thoát ra. Đơn vị dò đường được lịnh dừng lại ngay mép nước của bãi biến chờ đợi 25 phút trước giờ H» và liên lạc với đơn vị chánh bằng đèn hiệu. Sau đó, đúng 10 phút trước giờ H, họ đánh dấu các bãi đổ bộ bằng đèn màu.

 75 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 09:58:39 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Những nghiên cứu trước đây về sự thay đổi thời tiết bất thường dọc theo bờ biển Ma-Rốc đã gây nhiều lo ngại cho Eisenhower, do đó ông đã chỉ thị các kế hoạch gia sắp xếp « các kế hoạch bất thần » để cho Lực lượng Đặc nhiệm Phương tây có thể đổ bộ một nơi nào đó ở Phillipville, Bene hay Bougie, hay một hải cảng khác của Algeria. Patton bác bỏ vấn đề này. Ông nói với Ike (tức Eisenhower) rằng, ông bất chấp thời tiết, trường hợp thời tiết xấu vào ngày 8 tháng 11, ông vẫn tiến tới thay vì đổi hướng sang Algiers. Trong trường hợp dọc bờ biển Ma-Rốc tồi tệ, ông sẽ cho pháo kích Casablanca từ biển, « trong một nỗ lực nhằm để chọn đường tiến đến hải cảng này mà không gặp sự đối kháng ». Ông đề nghị Hải quân sử dụng ít nhứt một Thiết giáp hạm bắn phá hải cảng và yểm trợ cho lực lượng bộ binh ngay khi họ thiết lập được một bàn đạp trên bờ.

        Đồng thời ông sẽ đưa ra một tối hậu 30 phút cho cái người mà ông gọi là « Toàn quyền Casablanca », để báo cho ông này biết « tôi sẽ chấp nhận sự đầu hàng và dành cho ông ta tất cả danh dự và thể diện trước lực lượng của ông ta ; hoặc là tôi sẽ pháo kích ông ta từ biển, oanh tạc ông ta từ trên không và đánh ông ta trên bộ ».

        Patton ý thức rằng tối hậu thơ này chỉ là một dịp may bấp bênh, bởi lẽ, lực lượng của ông sẽ dưới chân lực lượng của « Toàn quyền Casablcnca », nếu một khi ông này chống cự Nhưng ông tin vào sự may mắn thiên định của ông.

                Phó Đô Đốc Hewitt tỏ ra lo ngại lực lượng của ông dính líu cuộc tấn công trực tiếp vào một bờ biển được phòng thủ mạnh mẽ. Ông đề nghị chọn cách đổ bộ khác hoặc chờ đợi thời tiểt sáng sủa hơn. Nhưng trong suốt chuyến đi, ông và Patton trở thành đôi bạn thân nhanh chóng. Vị phó Đô Đốc này bị sức lôi cuốn và nhiệt tâm của Patton đánh ngã. Vào ngày 6 tháng l1, Hewitt nói với Patton : « Patton đi đâu thì Hải quân đi đó, ngay cả tấn công vào các pháo đài hoặc đấu mặt với những khẩu trọng pháo phòng duyên của địch quân.

        Patton không phải tạo ra những kế hoạch một cách bấp bênh, chỉ dựa vào may mắn và sự liều lĩnh trước khi khởi đầu các cuộc phiêu lưu táo bạo của ông, ông sẽ tìm nơi vắng vẻ để suy nghĩ, hầu hết là những đêm nằm trên giường ngủ ? Ông tin tưởng tuyệt đối vào chính ông, do đó không; có bất kỳ sự ngờ vực hoặc sợ sệt nào kéo dài đối với ông. Ông đã áp dụng triệt để câu của Stonewall Jackson : « Đừng dựa vào lời khuyên của sự sợ hãi ».

        Patton cũng sợ hãi, vì ông không phải là siêu nhân. Ông có thể kinh hoảng như người khác, và ông không bao giờ xấu hổ khi nhìn nhận việc này. Roosevelt đã từng nói với dân chúng Hoa Kỳ rằng vật duy nhứt mà ta phải sợ hãi đó là « sợ hãi chính ta ».Patton công nhận câu này là một yếu tố căn bản của dũng khí qua tư cách một người lính trongg ông. Nó không có sự can đảm mù quáng vô nghĩa.
        Trong năm cuối cùng ở West Point một vài tuần trước khi kết hôn, Patton đã có hành động gây sửng sốt cho nhiều người. Trong giờ tập bắn ông bỗng đứng thẳng và đưa đầu ông ra trước làn đạn. Sau này ông có nhắc lại hành động này cho cha của nghe.

        Cha ông hỏi:

        « Tại sao làm như vậy ? Thật là ngu dại, đúng là con muốn chửng tỏ sự can đảm của con, phải không ? »

        Patton ngoan ngoãn nói :

        « Thưa cha, không phải như vây. Đúng ra con muốn biết sợ hãi như thế nào. Con thấy căng thẳng mà không thấy sự hãi ».

        Ông luôn luôn công nhân may mắn là yếu tố quan trọng trong sự thành công? của con người, Mọi người đều phải nắm lấy dịp may, tuy nhiên dip may không phải luôn luôn xuất hiện. Ông không chống đối sự suy luận theo lẽ phải, nhưng hủy hoại một cơ hội ông sẽ chống đối tới cùng.

        Trong việc đối đầu với thời tiết thay đổi bất thường ở hiện tại, Patton đã tìm thấy hai đồng minh trên soái hạm Augusta, cả hai đồng minh này đều khăng khăng từ chối sự bi thảm hóa của các nhà thiên văn. Một trong hai người này là Paul Culbert, cố vấn ngoại giao của Patton. Culberf đã từng sống ở Ma-Rốc một thời gian khá lâu, đủ để biết những gì về sự bất thường của thời tiết miền duyên hải xứ này. Hiện thời ông bảo đảm với Patton rằng « mấy tên khí tượng » của Eisenhower là những kẻ bi quan không chính đáng. Ông nói : « Thưa Trung Tướng tôi bảo đảm với Trung Tướng rằng tình trạng sóng gió sẽ không ảnh hưởng trầm trọng đến cuộc đổ bộ

        Đồng minh thứ hai của Patton là một chuyên viên khí tượng, Thiếu tá Hải quân R. C Steere. Ngay hồi tháng 10, lúc còn ở Hoa-thịnh-đốn, Steere đã báo cáo với Patton về kết quả nghiên cứu thời tiết và tình trạng sóng gió ở duyên hải Ma-Rốc.

 76 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 09:57:15 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

***

        Patton đi ngủ vào lúc 10 giờ 30 tối, ông mặc nguyên bộ đồ trận ngoại trừ đôi giầy được cởi ra (đó là thỏi quen của ông trước mỗi công tác, ngay cả những công tác trong thời bình), và cố dỗ giấc ngủ. Sau đó ông nói với Rosevich : « Thật khó mà ngủ được ». — nhưng bằng cách này hay cách khác, ông cố nhắm mắt cho đến 1 giờ 30 sáng, tức là Ngày D của ông.

        Ngay khi ông xỏ giày, bỗng nhiên ông nhảy dựng lên với một sự bối rối khác thường. Chiếc máy truyèn thanh trên tàu mở thật to, phát ra một giọng nói quen thuộc mà ai ai cũng nghe rõ.

        Đó là tiếng nói của Tổng Thống Roosevelt gởi các « người bạn của ông » ở Bắc Phi —  do đài BBC phát đi đúng 1 giờ 30 sáng.

        Đây là một trong những điều vi phạm an ninh trầm trọng đã khiến Patton điên đầu từ khi ông khởi sự sắp xếp cuộc hành quân của ông. Đầu tiên, trong tháng 8 vừa qua, trang 17 của Kế hoạch hành quân « Bó Đuốc » (Torch), bỗng nhiên biến mất, không để lại một dấu vết nào tại Tổng Hành Dinh của Eisenhower ở Luân-đôn. Trang này chứa đựng tọa độ các nơi đổ quân của Patton Ma-Rốc. Có phải gián điệp Đức đã chớp được hay không ?

        Rồi đến một rắc rối khác, vi phạm an ninh hành quân một cách trầm trọng hơn nữa, khiến hy vọng gây yếu tố bất ngờ cho cuộc đổ bộ ở Ma-Rốc của Patton tiêu tán. Vào ngày 19 tháng 9, chủ bút phần tin tức của Thông tấn xã UP (United Press) ở Luân-đôn, đã gọi điện thoại cho Lyle Wilson, Trưởng phòng UP ở Hoa-thịnh-đốn, với những lời nói vừa thông thường vừa đặc biệt, yêu cầu Wilson tìm hiểu các cuộc đổ bộ của Hoa Kỳ ở Casablanca và « một nơi nào đó ở Ma-Rốc thuộc Pháp », hy vọng sẽ được thực hiện vào đầu tháng 11. Cuộc điện đàm này đã thoát khỏi hệ thổng kiểm duvệt thời chiến của Anh quốc, và chắc chắn người Đức sẽ không mấy khó khăn trong việc nghe lỏm.

        Trường hợp Cái trang nằm trong kế hoạch hành quân đã lọt vào tay Đức hoặc cuộc điện đàm của UP có bị họ chặn nghe hay không, dĩ nhiên là Patton không thể nào biết được. Nhưng ông biết chắc chắn, qua một số « tiết lộ » công khai khác, cuộc chuyển quân của ông không còn giữ yếu tố bất ngờ được nữa. Các cuộc đổ bộ « Torch » được dự trù hai nơi một lúc — ở Algeria bởi các lực lượng di chuyển từ Gibraltar và ở Ma-Rốc bởi lực lượng Đặc nhiệm Phương tây của Patton. Các cuộc đổ bộ bên trong Địa Trung Hải dự trù thực hiện lúc 1 giờ 30 sáng ngày 8 tháng 11, trong lúc các cuộc đổ bộ của Patton được dự trù trước 4 giờ sáng.

        Hoa-thịnh-đốn cho rằng việc công bố sự hiện diện của lực lượng Hoa Kỳ qua một thông điệp đặc biệt của Tổng Thống là một hành động khôn ngoan. Thông điệp này được quyết định loan đi đúng 9 giờ 30 sáng, cùng lúc với các cuộc đổ bộ ở Algiers và Oran.

        Trước đây, ngay khi nghe được quyết định nay, Patton đã gởi một công điện đến Eisenhower với những lời lẽ phản đối mạnh mẽ những gì mà ông xem như là một « rạn nứt của niềm tin» chắc chắn sẽ gây nhiều khó khăn trong việc bảo đảm an toàn cho Lực lượng Đặc nhiệm của ông. Nhưng Eisenhower cho ông biết đài phát thanh sẽ xúc tiến chương trình đúng như kế hoạch đã sắp xếp.

        Trong công điện hồi đáp, vị Tổng Tư Lịnh nói :

        « Tôi không tin rằng nếu thông điệp loan đi trước giờ H, cuộc tấn công của ông sẽ mất yếu tố bất ngờ. Tin tức về các cuộc đổ bộ chắc chắn đã đến tay nhà cầm quyền Casablanca, dù có loan hoặc không loan trên các hệ thống truyền thanh ».

        Giọng tiếng Pháp của Tổng Thống Roosevelt rất đúng nhưng có hơi nặng lại vang vang trên soái hạm Angusta khi Patton bước vào phòng chỉ huy lúc 1 giờ 45 phút. Môi của Patton trắng bệt vì giận dữ khi ông nghe những tiếng lập đi lập lại. Ông đứng một lúc trên cau thang, bắt chước giọng nói của Tổng Thống : « Mes amis... Mes amis » (Những người bạn của tôi... những người bạn của tôi). Nhưng rồi gương mặt ông bỗng bình thản trở lại. Ông nhìn quanh, hít mạnh không khí thơm mát của đêm tối trên đại dương.

        Trong cuộc hải trình này, thời tiết chỉ phá rầy Patton ba ngày sau khi khởi hành. Gió Tây Bắc thổi ồ ạt khiến cho sóng biển dâng cao. Hai ngày kế đó, một cơn bão dữ dội của Đại Tây Dương quét qua đoàn tàu — khiến một số tàu, nhứt là các diệt lôi hạm, bị gió thổi xoay hướng đến 42 độ. Vào ngày 6 tháng 11, thời tiết trở nên tồi tệ hơn, và quang cảnh tối tăm đến nỗi Đại tá Hải quân Robert R.M, Emmet, Chỉ huy trưởng các quân vận hạm, đã viết trong nhật ký của ông : « Duyên hải Ma-Rốc quá u ám ; thành công của kế hoạch đổ bộ đang xúc tiến là một điều đáng hồ nghi».

        Tiên đoán thời tiết từ Hoa-thịnh-đốn và Luân-đôn còn đáng bi quan hơn nữa. Theo hai nơi này, các cơn gió có thể gây cho sóng biển dâng cao 15 bộ, vì vậy cuộc đổ bộ khó thể thực hiện.

 77 
 vào lúc: 07 Tháng Mười Hai, 2019, 09:56:13 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
   
* * *

        Trong một góc kín đáo của nhà hàng và khách sạn Miramar ở Fedala, nơi ủy Ban Đình Chiến Đức đặt bản doanh, Tướng Von Wulisch đang thết đãi Theodor Auer (một nhà triệu phú hoạt bát, với tư cách một nhân viên ngoại giao Đức ở Ma-Rốc) và một người bạn địa phương. Tất cả đều nói chuyện rất nhỏ, trong khi nhấp nháp xâm-banh —  loại Bollinger Brut 1934 của Đức — theo lịnh của Wulisch, nhà hàng Marimar được cung cấp vô hạn định.

        Đây là bữa ăn cuối cùng của Auer tại Ma- Rốc. Ông ta được người bạn là Otto Abetz, Đại sứ Đức bên cạnh chánh phủ của Thống Chế Henri Philippe Pétain, gọi đến Vichy để giữ nhiệm vụ cố vấn. Auer đã lập nhiều thành tích ngoại giao ở Ma-Rốc, được cảm tình hầu như tất cả mọi người ngay cả những « tùy viên» Hoa Kỳ, những người có nhiệm vụ mật mà ông có thể đã am hiểu. Nói chung, Auer được thông báo rất nhiều tin tức đặc biệt nhưng nếu ông ta nghe được câu lập đi lập lại trên đài BBC « Robert sắp đến », chắc chắn ông ta sẽ không hiểu một chút gì cả.

         « Thưa Đại tướng », Auer kính cẩn nói với Von Wuliscli, « Tôi lấy làm tiếc phải rời khỏi xứ sở tuyệt diệu này, và rời khỏi công việc đầy phấn khởi bên cạnh Ngài. Tôi thành thật hy vọng rằng con đường mà tôi và Ngài đi sẽ lại gặp nhau một lần nữa trong một khoảng cách không mấy xa ở tương lai

        Bữa tiệc chấm dứt lúc 1 giờ sáng và đầu của Wulisch trĩu nặng vì rượu xâm-banh, ông đã chập choạng leo lên giường ngủ trong căn phòng ở tầng thứ hai của khách sạn Miramar. Các khung cửa sổ phòng ông đều hướng ra biển, nơi có những khẩu trọng pháo 100 ly của Pháo đài Hải cảng bao che, gây cho ông ta một cảm giác thật an toàn.

        Ông đã thiếp ngủ mau lẹ mà không cần nhờ tiếng sóng biển vỗ rì rào ở xa xa. Nhưng ông giựt mình thức dậy khoảng một giờ sau đó vì tiếng gõ cửa cấp bách. Đó là Thiếu tá Schonau, tùy viên của ông ta.

        « Kính thưa Đại tướng», Schanau lên tiếng xuyên qua cánh cửa đã khóa chặt bên trong: « Có điện thoại gọi Đại tướng ở văn phòng. Khẩn cấp ».

        Với chiếc áo ngủ, Von Wulischba chân bốn cẳng chạy xuống văn phòng trong khách sạn, nhấc máy điện thoại lên.

        Ông nghe tiếng nói lập cập của Đại tá Von Schimmel, một ủy viên của ủy ban đình chiến ở Algiers. « Thưa Đại tưởng, một việc mà Ngài không thể tưởng được ! Hình như người Mỹ đang đổ bộ lên mũi Matifou nằm giữa Surcouf và Wadi Reghaia, chỉ cách cái máy điện thoại của tôi 20 cây số ».

        « Das ist unmoglich ! », Von Wulisch nói một cách nhát gừng, giọng ngái ngủ và sặc mùi rượu.

        « Chuyện này không thể có được »f Von Schimmel lập lại lời ông Tướng như hét lên. « Đó là một sự thật ! Ngài định thế nào ? »

        « Không định gì hết », Tướng Wulisoh nói. Ông nhìn ra cửa sổ, hướng về mũi Fedala tối đen và yên lặng. Những khẩu đại bác 75 ly của pháo đài nhỏ bé trên bản đảo này bị bóng đêm bao trùm.

        « Tuyệt đối vô lý. Cái Mũi đó im lim còn hơn một cái nghĩa địa ».

        « Được rồi », von Schimmel nói « Tốt hơn Ngài nên tiếp xúc với Noguès lập tức ! Và luôn luôn giữ liên lạc với ông ta ! Tôi sẽ сố gắng điều hành mọi việc ».

        Tướng Von Wulisch quay lại nhìn Thiếu Tá Schonau với đôi mắt trống rỗng.

        «Quân Mỹ đang đổ bộ gần Algiers, Schonau», ông nói với tùy viên của mình. «Có lẽ đày chỉ là một cuộc đột kích, một lối đánh mau rút lẹ, chắc anh đồng ý chớ ». Ổng ngừng một lát, ròi cất giọng khàn khàn : « Nhưng đúng đây là sự thật, tôi e rằng hậu quả sẽ tồi tệ ».

        Viên Thiếu tá nhìn ông Tướng của hắn tự hỏi cố gì đâu mà « Ông già » này lại tỏ vẻ lo lắng như thế.

        Schonau gằn giọng :

        « Fuhrer sẽ đẩy bật chúng ra biển trở lại không mấy gì khó khăn ».

        Von Wuiisch chặn lại;

        — Không, không Schonau ! Cuộc đô bộ này ở Algiers, có một tầm mức quan trọng, nó khủng khiếp không thể tưởng. Nó có thể xoay chiều cả cuộc chiến. Nếu người Mỹ thành công trong cuộc đổ bộ này, tất cả những gì mà Đức đạt được từ năm 1918 sẽ bị xóa bỏ hết. Người Mỹ sẽ đẩy bật Hommel về phía sau và chúng ta cuốn gói khỏi Phi Châu ».

        Khi nói tới đây, những giọt lệ lăn dài xuống đôi má ông.

 78 
 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2019, 08:39:44 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Một trong những người lính đã làm chúng tôi phấn khỏi khi cho biết trong xe tiếp liệu chất đầy trứng tươi. Tôi luộc một vài quả cho tôi và Von Esebeck, trong khi anh chàng này lui cui nấu cà phê. Trận bão vẫn còn dữ dội, và mặc dù miệng mồm ai ai cũng đầy cát, thức ăn vẫn tuyệt diệu và hương vị cà phê vẫn vô song.

        Bầu trời lúc binh minh trong sáng như pha lê. Chúng tôi có thể nhìn xa nhiều dặm quanh đó, nhưng không có dấu vết nào của người hoặc xe cộ. Chúng tôi theo mặt cát phẳng tiến về hướng đông nam. Tôi cố tìm tọa độ của mặt cát này qua tấm bản đồ của Von Esebeck nhưng vô ích. Tôi và anh chàng thông tín viên chiến tranh quyết định tiếp tục cuộc hành trình.

        Chúng tôi lái nhiều tiếng đồng hồ trước khi nhìn thấy một toán quán đi chuyển xa xa phía đông bắc. Von Esebeck càu nhàu rằng chúng tôi sẽ đến Mechili quá trễ để hắn viết tin mới tính cách nhân chứng giờ phút thất thủ của thành phố này. Chúng tôi rời khỏi vùng cát phẳng và tiến vào một vùng cát lồi lõm. Chợt lúc ấy trên không, hướng tây bắc, hơi chếch về phía sau chúng tôi, một chiếc phi cơ chúi mũi xuông đất và cháy bùng. Chúng tôi quành xe và lái thẳng đến đó để xem sao. Trên đường, chúng tôi gặp một tiền đồn và rất yên lòng khi biết được tiền đồn này là một căn cử phòng không hạng nhẹ của Đức. Chúng tôi hỏi viên Hạ sĩ quan chỉ huy : « Đường nào đi Mechili ? » Hắn đáp : « Các ông đang trên đường tới Mechili đấy ! »

        Và hắn ta nói thêm là cuộc tấn công vào Mechili đang chuẩn bị phát động.

        Nhẹ nhõm, thật ra phải nói là vui mừng, tôi đến được Bộ tham mưu Sư đoàn 5 Khinh binh một vài phút sau đó. Tôi vội vàng từ giã Von Esebeck, cảm ơn sự giúp đỡ của anh ta, và đến trình diện Thiếu tá Hauser. Ông lặng yên nghe tôi nói, « đúng như Ehlert », ông nói, « đúng là sự việc sẽ xảy ra như thế ». Ông ta thảo luận lịnh mới với Tướng Streich. Nhưng vị Tư lịnh Sư đoàn đã nhận được lịnh riêng từ Rommel chỉ cách đây một vài giờ, theo đó, cuộc tấn công Mechili vẫn duy trì.

        Từ ba mặt, lực lượng Đức tiến vào pháo đài nhỏ nằm trong sa mạc này và các vị trí của Anh chung quanh đó. Cuộc quần thảo bùng nổ dữ dội, nhưng kéo dài chỉ một đôi giờ. Trung Tướng Anh, Gambier-Parry bị bắt sống ngay trên xe chỉ huy của ông ta trong khi cố mở vòng vây tháo chạy. Con số tù binh lên đến 3000 người, và một chiến lợi phẩm vĩ đại hơn : một lực lượng cơ động Đức gồm toàn xe mô tô đã bắt giữ một nhóm binh sĩ Anh, di chuyền về hướng đông xuyên qua sa mạc, trong cố gắng chạv về Jebel Akhdar. Và đáng kinh ngạc hơn nữa, trong số tù binh này còn có hai vị anh hùng trong cuộc tiến quân vào Benghazi của Anh : Đại Tướng Sir Richard O' conner, vừa được phong chức vị hiệp sĩ bởi Hoàng gia Anh sau những trận chiến thắng lẫy lừng các lực lượng Ý Đại Lợi của ông, và Đại Tướng Sir Philip Neame, phụ tá của O’connar. Vì thế, chúng tôi có được ba ông Tướng trong rọ.

        Mặt đất của Mechili bị bật tung lên bởi các cuộc oanh tạc dữ dội của phi cơ Đức và giữa khoảng trống tạm thời của cuộc chiến đấu, phi cơ Anh lại đến vùi dập thẽm một lần nữa. Vào lúc trận đánh đến hồi chung cuộc, chiếc Fiesler Storch « của tôi » đáp xuống. Rommel bước. ra, cười rạng rỡ và khoan khoái sau chuyến thị sát tổng quát.

        Các xe bọc sắt chỉ huy của các tướng lãnh Anh bị bắt giữ nằm nổi bật trên một gò cát. Đó là những chiếc xe dềnh dàng và đầy góc cạnh, bên trong trang bị máy vô tuyến và cả các vật dụng « bàn giấy » nữa. Sau này chúng tôi đặt tên chúng là « Mammoth » (Voi khổng lồ). Nhưng tôi không đoán trước được rằng những chiếc xe còn khả dụng này sẽ được sử dụng bởi Rommel, Bộ Tham Mưu của ông và vị Tư lịnh Sư đoàn 5 trong suốt cuộc trường chinh trong sa mạc mà hiện chỉ mới bắt đầu.

        Rommel xem qua các chiếc xe, có vẻ chú tâm đến tiện nghi của chúng, trước khi mở một cuộc thẩm vấn ngắn các tướng lãnh Anh bị bắt. Rommel cũng ngắm nghía bộ quân phục Anh của họ. Giữa mớ quân dụng hỗn độn tịch thàu được, Rommel nhón lấy một cặp kính bự chế tạo riêng để chống nắng và cát. Ông mỉm cười và nói: « Chiến lợi phẩm — hợp pháp, tôi lấy nó, dù tôi là một tướng lãnh ». Ồng gắn cặp kính ngay nơi đường viền vàng trên chóp mũ của ông.

        Cặp kính này sau đó luôn luôn được xem như là phù hiệu đặc thù của « Con Cáo Sa Mạc ».

 79 
 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2019, 08:39:24 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Tôi tìm gặp viên Hạ sĩ quan phi công của Rommel. Thoạt đầu hẳn tưởng tôi đùa giỡn, bởi vì tôi, một tên Trung úy hạng bét, mà lại đòi sử dụng phi cơ của ông Tướng. Và rồi khi tôi thuyết hắn một hồi và thêm rằng tôi không phải điên mà dám thọc tay vào ổ kiến, hắn bèn tuyên bố rằng nếu không điên thì không nên chui đầu vào cơn bão cát như thế này. Dĩ phiên hắn nói đúng. Chỉ đến lúc đó cuộc đối thoại của chúng tôi mới ngưng lại. Xuyên qua những đảm mây bụi, chúng tôi có thể  nhìn thấy và nghe tiếng bom do phi cơ địch dội xuông rất gần, nhưng không nghe tiếng phi cơ, bởi cơn bão đã lấn át hẳn.

        Điều này tôi xem ra có thể thuyết phục được viên Hạ sĩ quan. Tôi nói chuyến bay có cơ ít nguy hiểm hoặc có thể an toàn hơn nếu so với việc ở gần Tổng Hành Dinh. Hắn ta moi ra một tấm bản đồ nhỏ, xem qua các vị trí phải bay đến và vạch ra các khó khăn, và sau đó thản nhiên leo lên phi cơ. Còn tôi, dĩ nhiên là tôi ngồi trên ghế ông Tướng đã từng ngồi.

        Hình như viên phi công của Rommel đã gặp phải khó khăn để đạt đến cao độ ở lúc đầu. Sau khi phi cơ lượn nhiều vòng, tôi cảm nghe dễ chịu, vì phi cơ đã lấy được độ cao và thăng bằng. Thỉnh thoảng có vài lỗ hổng giữa những đám mây bụi, tôi liếc nhanh để tìm các đơn vị di chuyền phía dưới. Lịnh « bỏ Mechili — đến Tobruk » luôn luôn vang đến trong đầu tôi. Tôi lạ lùng về sự thay đổi, do sáng kiến của Tham Mưu Trưởng, một kế hoạch vĩ đại như thế mà không có sự hay biết của Rommel.

        Tôi hy vọng cơn bão sẽ mau tàn, nhưng chúng tôi đã bay được bốn mươi lăm phút và cơn cuồng nộ của sa mạc hình như càng lúc càng dâng cao. Viên Hạ sĩ quan hình như ít kiểm soát được hướng bay của chiếc phi cơ nhỏ bé. Nó cứ đong đưa, giống như một chiếc diều giấy được buộc giàv và thả giữa con gió lớn.

        Tôi lay viên phi công : « Chủng ta phải đến nơi dự định — anh phải biết việc này quan trọng như thế nào ! »

        « Biết hoàn toàn, thưa Trung úy » hắn ta đáp, « nhưng cái gì khó thể làm là khó thể làm ».

        Như để nhấn mạnh cầu nói của viên phi công, chiếc phi cơ đâm chúi xuống, thấp dần, thấp dần. Nó đang rơi. Hình như cái chết đà cầm chắc trong tay. Nhưng đột nhiên, phi cơ lấy lại thăng bằng.

        Viên phi công, qua tình trạng đó, đã đi đến một quyết định. Hắn ta nói với tôi : « Tôi trách nhiệm hoạt động của chiếc máy bay này. Tôi đang đáp xuống đất ».

        Tôi không trả lời, nhưng tự hỏi làm sao hắn ta đáp được, bởi phi cơ không thể hạ cánh ở một nơi không phải là đất bằng như thế này. Nhưng không biết bằng cách nào, xuyên qua bầu không khí mù mịt, anh ta đáp xuông dễ dàng. Bánh xe của chiếc phi cơ đội lên và đứng lại trên sa mạc lồi lõm trong vòng một vài thước. Những chiếc storch này có thể đáp xuống một sân quần vựt.

        Tôi nhảy ra ngoài, choáng váng mặt mày, nhưng ý nghĩ đầu tiên đến trong đầu tôi : Sứ mạng quan trọng. Tôi không dám để thất bại ! Viên phi công đang rị mọ đóng cọc và buộc dây ghịt chiếc phi cơ xuống để gió khỏi cuốn nỏ đi. Tôi bảo hắn ở lại đây chở cho cơn bão hạ xuống, trong khi tôi đi tìm phương tiện khác.

        Như một kẻ mù lòa, tôi chạy lủi vào cơn bão cát, biết rằng mỗi phút trôi qua là mỗi quí giá bị đánh mất. Dĩ nhiên, tôi phải nghĩ đến « từng giờ » trong tình cảnh này. Tôi cảm thấy cô độc và nhỏ nhoi hơn bao giờ hết, và nơi này cũng xa vời hơn bất kỳ nơi nào khác mà tôi từng đặt chân đến. Rồi thì, trong bụi đó mù mịt giăng giăng trước mặt, tôi lờ mờ thấy bóng dáng một chiếc Wolkswagen. Một đám bụi dày bịt hơn chợt xoáy lên, che lấp mất hình ảnh vừa thấy, nhưng tôi vẫn tiếp tục chạy theo và gào to. Người lái xe nghe tiếng tôi và ngừng xe lại. Hắn nhìn tôi đăm đăm tỏ vẻ kinh ngạc khi tôi nhảy thốc lèn xe và ngòi trên chiếc băng đóng đầy cát. Tôi ngừng thở để tự giới thiệu và nói rõ cảnh cùng quẫn của tôi.

        Người lái xe là một thông tín viên chiến tranh người Đức tên Von Esebeck. Hắn ta cũng, đang bị lạc đường, và nói rằng hình như ở đây không có dấu hiệu nào cho thấy có người trong vòng nhiều dặm. Rất khó để xác định vị trí bằng mặt trời xuyên qua bão cát cuồng loạn. Chúng tôi phỏng đoản, ở thời gian này trong ngày mặt trời sẽ chếch về hướng tày, nhưng thật khó mà biết địch quân đang ở phía trước hay phía sau, nhưng dù thế nào chúng tôi cũng phải đi về hướng đông.

        Trước hoàng hôn không làu, chúng tôi gặp một khẩu đại pháo do một chiếc xe kéo. Tất cả đều hư hại nên bị bỏ lại. Cùng lúc, chúng tôi cũng gặp một nhóm gồm tám xạ thủ Đức, cũng đi lạc trong sa mạc, với khẩu 88 ly phòng không của họ, một thiết vận xa loại lớn và một xe chở tiếp liệu.

 80 
 vào lúc: 06 Tháng Mười Hai, 2019, 08:38:31 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
        
2

        Tôi tiến dần ra phía duyên hải, hướng chánh tây của El Angleila, và gặp một vài chiếc xe của bộ tham mưu. Kiệt sức sau suốt đêm bôn ba từ Marada, tôi nằm dài và ngủ được khoảng

        hai tiếng đồng hồ, và thức dậy lúc bình minh với sức khỏe phục hồi, mặc dù cát đã dán kín đôi mắt của tôi. Bảy giờ sáng tôi tìm được lá cờ của Tổng Hành Dinh tiền phương gần vùng binh nguyên Agedabia.

        Phúc trình về chuyến viễn du Marada —  Jalo của tôi hiện tại trở thành vô ích. Không còn ai lưu tâm đến kế hoạch tiến đánh Jalo. Ehlert liếc nhìn tôi với vẻ thờ ơ. « Anh chui rúc xỏ nào ? » Ông ta hỏi tôi, nhưng không cần câu đáp lại. Ông ta vẫn gò lưng trên đống bản đồ và hầu như quên lãng sự hiện diện của tôi. Chiếc xe tham mưu của Ehlert đường như căng thẳng với nhịp độ của các hoạt động đang diễn tiến bên ngoài. Đại úy Hosslin, sĩ quân tùy viên, cũng hiện diện trong xe, hiển nhiên là có nhiệm vụ ngăn chặn Ehlert bị phá rầy. Tôi hiểu ngay và câm miệng. Viên sĩ quan truyền tin bận rộn liền chân với công điện đi và đến. Tấm bản đồ bọc plastic của Ehlert chằng chịt dấu xanh đỏ. Phía ngoài xe, tôi nhận thấy những đám mây cát dày bịt nổi cao, bay về hướng đông bắc, phủ lên Msus.

        Đầu của Trung úy Himmler xuất hiện ở cửa : « Có Ia ở đây không ? »

        « Hãy đi cho khuất mắt! » Ehlert hét to, nhưng vẫn cắm cúi. Tôi ước muốn được đi ra sa mạc ngay.

        Ehlert trả lời điện thoại của Tham Mưu Trưởng. Tôi lắng nghe, nhưng cũng chẳng biết Rommel hiện giờ ở đâu.

        « Tư lịnh muốn bay đến Msus bằng Storch »,

        Ehlert nói, « nhưng chiếc phi cơ vẫn còn ở đày ».

        Một trận bão cát dữ dội đột nhiên nổi lên. Người Ý gọi nó là một « Ghibli », người Anh gọi là một « Khamsin ». Cát nóng bỏng ùa vào miệng, khắp mọi nơi trên thân thể. Các chuyến bay đều bất khả.

        Ehlert ngưng một chút, sau đó nói : « Có thể ông Tướng đã rời đây bằng chiếc xe mui trần của ông. Có Thiếu tá Schrapher và Adlinger đi theo... »

        Von dem Borne, hình như vậy, yêu cầu cho những báo cáo của không quân. Ehlert đáp : « Vấp phải trận bão cát, các báo cáo buổi sáng không đáng tin cậy. Theo một tin xác định của họ, có một sự di chuyển tổng quát của các lực lượng Anh hướng về Tobruk ».

        Tham Mưu Trường nói qua tình hình theo nhận xét của ông ta. Ehlert lắng nghe, các ngón tay đánh nhịp xuống mặt bàn có vẻ bồn chồn.

        Cuối cùng Ehlert nói : « Đó cũng là ý kiến của tôi, thưa Trung tá, mũi dùi của chúng ta phải tung ra trước khi địch quân có thời giờ củng cố ở đó. Hiện thời các lịnh đưa đến cho Sư đoàn 5 Khinh binh đều nhằm « chĩa mũi dùi vào Mechili ». Trong khi ông Tướng vắng mặt, Trung tá có thẩm quyền thay đổi các lịnh và điều khiển cuộc tấn công mà mục tiêu là Tobruk thay vì Mechili? »

        Von dem Borne đồng ý và cúp điện đàm.

        Ehlert xoay lại và nhìn tôi với vẻ tư lự. Đôi mắt của ông ta khẽ khép, như tiêu điểm được сố thu nhỏ lại và sau khi trở về trạng thái bình thường, Ehlert nói : « Tôi hy vọng anh đã nghe qua tất cả cuộc điện đàm vừa rồi... Hãy lấy một chiếc xe — không, sử dụng một chiếc phi cơ, bay đến Mechili. Đến mỗi đơn vị và cho lịnh mới : Tất cả mũi dùi đều chĩa vào Tobruk ».

        Tôi chưa hề nghe nói gì đến địa danh Mechili trước buổi sáng nay.

        « Sử dụng một chiếc phi cơ », câu nói đó khác nào cáu « hãy tìm cho tôi một cái trứng nóng », giữa tình cảnh này.

        Tôi định hỏi : « Tôi sử dựng phi cơ gì, thưa Thiếu tá ? » Và cũng muốn hỏi xin một tấm bản đồ, nhưng tôi kịp rút lại ý kiến một cách thông minh. Khuôn mặt của Ehlert như chảy dài ra và đôi mắt mở tròn. «Anh muốn gì nữa ? » Ông ta rống lẻn. « Một người vú em chắc ? »

        « Không, thưa Thiếu tá ». Tôi ấp úng, đưa tay chào lẹ, và biến nhanh như gió. Khi cánh cửa phía sau tôi vừa khép, Ehlert mở lại và nói vói theo : «Lấy chiếc Storch của ông Tướng ».

        Nếu ngay khi nhận lịnh tôi đã không lượng định nổi tầm quan trọng và mức khẩn cấp của nó, thì bây giờ, khi được phép sử dụng phi cơ riêng của ông Tướng, tôi đã hiểu nghĩa sứ mạng của tôi như thế nào ?

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM