Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử tư tưởng quân sự Việt Nam - Trọn bộ
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Bảy, 2022, 08:40:28 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 61 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:04:02 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN ĐƯỢC


Nguyễn Văn Được, sinh năm 1946, dân tộc Kinh, quê ở xã Hành Tín, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là đại úy, phó trung đoàn trưởng trung đoàn 141 bộ binh, sư đoàn 312, Quân đoàn 1, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1961 đến năm 1967, Nguyễn Văn Được là chiến sĩ thuộc sư đoàn 3 chiến đấu ở chiến trường Quảng Ngãi, Bình Định. Khi làm liên lạc, khi trực tiếp chiến đấu, dù trong tình huống khó khăn, phức tạp thế nào đồng chí cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Nguyễn Văn Được đã cùng với tiểu đội diệt 200 tên địch, bắn sập 30 lô cốt, bắn cháy 6 xe tăng và xe bọc thép. Riêng bản thân diệt 64 tên, bắt sống 3 tên, bắn cháy 1 xe bọc thép, thu 23 súng các loại.


Từ năm 1968 đến năm 1972, Nguyễn Văn Được chiến đấu ở chiến trường Lào và chiến trường Quảng Trị. Là cán bộ đại đội, rồi cán bộ tiểu đoàn, đồng chí luôn luôn nêu cao tác phong chỉ huy linh hoạt, kiên quyết tiến công địch, giành thắng lợi. Hai lần bị thương nặng, lần nào Nguyễn Văn Được cũng đứng vững ở vị trí chiến đấu cho đến khi trận đánh kết thúc. Bản thân đã chỉ huy đơn vị diệt 580 tên địch, bắt sống 15 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác. Riêng đồng chí diệt được 22 tên địch.


Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, với cương vị là trung đoàn phó, Nguyễn Văn Được đã góp phần chỉ huy đơn vị tiêu diệt căn cứ Phú Lợi và làm đội dự bị cho quân đoàn.


Nguyễn Văn Được hết lòng thương yêu đồng đội, nhiều lần cõng thương binh vượt qua bom đạn địch đưa về phía sau an toàn.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 3 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 2 lần là Dũng sĩ, được tặng 20 bằng khen và giấy khen.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Nguyễn Văn Được được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 62 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:03:19 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG NGUYỄN VĂN SƠN


Nguyễn Văn Sơn (tức Hùng), sinh năm 1928, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận, tỉnh Bình Thuận. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thiếu tá, chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tuyên Đức, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1961 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Sơn tham gia công tác và chiến đấu ở Khu 6, trưởng thành từ chiến sĩ, ở cương vị nào đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong chiến đấu, Nguyễn Văn Sơn chỉ huy linh hoạt, mưu trí, dũng cảm, dám quyết đoán trong mọi tình huống khó khăn, dẫn đầu đơn vị giành thắng lợi. Bản thân đã đánh hơn 100 trận, chỉ huy đơn vị diệt hàng nghìn địch. Riêng Nguyễn Văn Sơn diệt 137 tên, bắt 18 tên, thu 24 súng các loại.


Ngày 5 tháng 2 năm 1966, đồng chí chỉ huy đội biệt động thị xã đột nhập sân bay Cam Ly (Đà Lạt). Đánh xong thì trời sáng. Quân địch ở xung quanh kéo đến phản kích, bao vây mọi ngả. Nguyễn Văn Sơn vẫn bình tĩnh chỉ huy đơn vị rút ra an toàn, sau đó một mình quay lại kiểm tra trận địa, hủy nốt 2 máy bay vận tải sót lại vừa đưa được một thương binh về phía sau.


Tháng 6 năm 1969, đơn vị nhiều lần chuẩn bị đánh chi khu Đức Trọng (tỉnh Tuyên Đức cũ) nhưng gặp nhiều khó khăn. Với cương vị là tỉnh đội phó, Nguyễn Văn Sơn cùng một số cán bộ trực tiếp đi điều tra, quyết tâm khắc phục để đánh địch. Khi tiến đánh đồng chí chỉ huy đơn vị cắt 9 lớp rào, dẫn đầu chiến sĩ xông lên tiêu diệt hoàn toàn chi khu Đức Trọng do một tiểu đoàn địch đóng giữ.


Nguyễn Văn Sơn chú trọng xây dựng đơn vị, bồi dưỡng lớp chiến sĩ trẻ kế tiếp.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì. 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 21 bằng khen và giấy khen.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Nguyễn Văn Sơn được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 63 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:02:34 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG TRẦN VĂN TRUNG


Trần Văn Trung sinh năm 1927, dân tộc Kinh, quê ở thị xã Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, nhập ngũ tháng 12 năm 1952. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung tá, cán bộ tình báo thuộc Bộ Tham mưu Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1952 đến thống 4 năm 1975, do yêu cầu nhiệm vụ tình báo, suốt 23 năm cùng ăn, ở, làm việc với địch, phải thường xuyên tiếp xúc với bọn đầu sỏ gian ác nhất nhưng Trần Văn Trung vẫn luôn luôn giữ vững lòng trung thành với Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng.


Trong công tác, Trần Văn Trung đã khôn khéo, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, che mắt địch, bám chắc địa bàn, lập nhiều thành tích xuất sắc. Đồng chí đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu nguyên bản có giá trị lớn.


Trần Văn Trung luôn giữ nếp sống giản dị, trong sạch, có ý thức tổ chức, kỷ luật cao.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 6 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trần Văn Trung được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 64 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:02:01 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG LÊ THỊ THƯ HẠNH


Lê Thị Thu Hạnh (tức Hãnh), sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là trung sĩ, y tá thuộc đội điều trị 82 Cục Hậu cần Quân khu Trị-Thiên, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Năm 15 tuổi Thu Hạnh xin vào bộ đội, đồng chí đã làm công tác vận tải, y tá, và đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ tháng 5 nãm 1968 đến tháng 6 năm 1972, Thu Hạnh công tác ở đội điều trị, đồng chí đã ngày đêm tận tụy, không nề hà bất kỳ việc gì, nuôi dưỡng, phục vụ thương binh, bệnh binh.


Nhiều ngày, đồng chí làm việc tới 15, 16 giờ liền, có khi phải thức cả đêm ngồi cho thương binh tựa ngủ.


Thu Hạnh luôn xung phong nhận những thương binh nặng nhất và đã chăm sóc chu đáo gần 300 thương binh nặng, tiêm hơn 4 vạn mũi an toàn trong suốt 4 năm liền.


Tháng 6 năm 1972 đến tháng 7 năm 1975, Thu Hạnh đi học lớp đào tạo y sĩ và tốt nghiệp loại giỏi.


Lê Thị Thu Hạnh luôn luôn gần gũi giúp đỡ chị em trong đội về mặt chuyên môn cũng như mặt rèn luyện đạo đức, được mọi người mến phục.


Quá trình công tác, Thu Hạnh được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 2 lần là Dũng sĩ Quyết thắng và được tặng 12 bằng khen.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Lê Thị Thu Hạnh được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 65 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:01:20 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG TRƯƠNG THỊ MỸ


Trương Thị Mỹ (tức Kim Mỹ) sinh năm 1953, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải, nhập ngũ tháng 10 năm 1969. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ trung đội trưởng đoàn 804C vận tải thuyền Cục Hậu cần Quân khu 9, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1969 đến tháng 4 năm 1975, Trương Thị Mỹ làm nhiệm vụ vận tải vũ khí bằng đường sông. Trên đường đi, phải qua nhiều đồn bốt và trạm kiểm soát của địch, nhiều lần thuyền bị chúng nghi ngờ, lục lọi, đồng chí vẫn bình tĩnh, mưu trí dùng lời lẽ khéo léo hoặc đấu lý với địch để đưa vũ khí tới đích an toàn.


Có những thời kỳ Mỹ - ngụy đánh phá ác liệt, tuyến đường cũ không đi được, Trương Thị Mỹ xung phong đi chuyến đầu tiên thăm dò trên đường sông mới để mở tuyến khác. Một lần nhận nhiệm vụ chở tiền cho một đơn vị ờ vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, gần tới nơi thì gặp địch, thuyền không thể tiếp tục đi được nửa. Đồng chí nghĩ ra cách bỏ tiền vào thùng tôn, dũng cảm bơi qua sông trong đêm tối, đem tiền tới cho đơn vị kịp mua gạo cứu đói cho bộ đội.


Trương Thị Mỹ đã đi hơn 70 chuyến thuyền trên nhiều sông lớn ở miền Tây Nam Bộ, chở được 200 tấn vũ khí về nơi an toàn.


Trương Thị Mỹ luôn luôn lấy việc hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo lòng trung thành của mình đối với Đáng, với cách mạng. Đồng chí sống chan hòa, cởi mở với mọi ngườị, được đồng đội tin yêu.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua và được tặng 6 bằng khen, giấy khen.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Trương Thị Mỹ được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 66 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 07:00:05 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG NGUYỄN THỊ BA


Nguyễn Thị Ba sinh năm 1917, dân tộc Kinh, quê ở xã Hậu Thạnh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, nhập ngũ tháng 12 năm 1961. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là cán bộ giao thông tình báo thuộc Bộ tham mưu Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1940 đến 1945, Nguyễn Thị Ba làm giao thông liên lạc cho cơ quan bí mật của Đảng ờ Sài Gòn, đồng chí luôn luôn vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Từ năm 1945 đến tháng 4 năm 1975, Nguyễn Thị Ba làm chiến sĩ tình báo, có nhiệm vụ chuyển tài liệu, tin tức tình báo ra vùng căn cứ và truyền đạt chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên cho cán bộ tình báo hoạt động trong thành phố Sài Gòn. Trong suốt 3 năm hoạt động, Nguyễn Thị Ba đã luôn luôn trung thành với Đảng, với cách mạng, dũng cảm, mưu trí, một mình đảm bảo liên lạc với hàng chục đầu mối an toàn, đúng thời gian, đúng kế hoạch.


Ngoài nhiệm vụ trên, Nguyễn Thị Ba còn làm công tác đưa đón cán bộ ra vào Sài Gòn hoạt động. Những năm về sau, tuy tuổi già sức yếu nhưng đồng chí vẫn hoàn thành xuất sắc công việc này.


Xa chồng 20 năm, lại vừa nuôi hai con vừa công tác, Nguyễn Thị Ba đã chịu đựng, khắc phục khó khăn, hy sinh hạnh phúc riêng của bản thân, nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng. Do vậy, Nguyễn Thị Ba được nhân dân thương yêu, đồng đội kính mến và là tấm gương sáng để mọi người học tập.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phỏng hạng ba, được tặng 22 bằng khen và giấy khen.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Nguyễn Thị Ba được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 67 
 vào lúc: 02 Tháng Bảy, 2022, 06:59:23 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG ĐOÀN ĐỨC THÁI
(LIỆT SĨ)


Đoàn Đức Thái sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở xã Hàng Kênh, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng, nhập ngũ tháng 12 năm 1971. Khi hy sinh, đồng chí là tiểu đội trưởng đại đội 4 bộ binh, tiểu đoàn 2, trung đoàn 271, sư đoàn 3, Bộ chỉ huy Miền, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1973 đến tháng 12 nảm 1974, Đoàn Đức Thái chiến đấu ở chiến trường Đông Nain Độ, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần tích cực tiến công địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đặc biệt nhất là trong trận đánh chi khu Bù Đăng (huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé) ngày 14 tháng 12 nảin 1974, Đoàn Đức Thái đã có hành động vô cùng dũng cảm, nhận sự hy sinh để giành thắng lợi cho đơn vị.


Bước vào trận đánh, vì sức yếu nên đơn vị yêu cầu làm nhiệm vụ ở tuyến sau nhưng Đoàn Đức Thái đã viết thư quyết tâm xin đi chiến đấu bằng được. Tổ đồng chí làm nhiệm vụ đánh bộc phá hàng rào, mở cửa mở cho đơn vị xung phong. Địa hình trống trải, sườn đồi lại quá dốc, địch bắn ra ác liệt nhưng tổ đã dũng cảm, liên tục đánh bung được 7 lớp rào. Đến lớp rào thứ 8, đã hai lần đặt xong bộc phá nhưng vì độ dốc quá lớn, ống bộc phá bị tụt rơi xuống. Tình thế hết sức khẩn trương, Đoàn Đức Thái lại ôm bộc phá lao lên, bám vào hàng rào, tìm cách khắc phục đặt được bộc phá, sau đó giật nụ xòe và định lui về phía sau thì ống bộc phá lại một lần nữa tụt rơi xuống. Nếu bộc phá lao xuống chân dốc nổ sẽ gây thương vong cho đồng đội và hàng rào củng không phá được. Không ngần ngại, Đoàn Đức Thái dũng cảm ôm ống bộc phá lao lên áp chặt cả người vào hàng rào. Bộc phá nổ hàng rào cuối cùng bật tung. Lực lượng xung kích của ta nhanh chóng vượt qua cửa mở, diệt gọn bọn địch trong chi khu.


Gương hy sinh của Đoàn Đức Thái được sư đoàn tổ chức học tập và góp phần cổ vũ đồng đội anh dũng chiến đấu trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Đoàn Đức Thái được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 68 
 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2022, 08:53:04 pm 
Tác giả ptlinh - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Các sách đã hoàn thành trong tháng 06 - 2022


1. Liên khu II những ngày đầu Thủ đô kháng chiến

2. Sự phản bội của Goóc-ba-trốp

3. Tổng kết Lịch sử đấu tranh chống gián điệp 1945-2005

4. Võ Đại Tôn - FULRO và đồng lõa sa lưới

5. Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - Tập 3

6. Biển Đông yêu dấu

 69 
 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2022, 08:48:43 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG NGÔ XUÂN THU
(LIỆT SĨ)


Ngô Xuân Thu sinh năm 1949, dân tộc Kinh, quê ở xã Nguyên Úy, huyện Kim Bảng, tỉnh Nam Hà. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội phó công binh, đại đội 1, bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1968 đến năm 1971, Ngô Xuân Thu làm nhiệm vụ đánh mìn phá giao thông địch trên đường số 1 (đoạn từ Đà Nẵng đến đèo Hải Vân). Mỹ - ngụy tăng cường càn quét bắn phá và dùng mọi thủ đoạn để bảo vệ tuyến đường này. Nhưng Ngô Xuân Thu luôn luôn suy nghĩ, tìm mọi cách gài mìn, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Đồng chí góp phần tích cực cùng đơn vị phá hủy gần 100 đoàn tàu và xe quân sự, diệt trên 2000 tên địch. Riêng Ngô Xuân Thu phá hủy 17 đoàn tàu, 7 xe quân sự, 1 máy bay lên thẳng, diệt 195 tên.


Đầu năm 1969, để bảo vệ đoàn tàu sắp đi qua, địch thường đánh phá rất ác liệt hai bên đường giao thông. Vì thế, lối đánh đặt mìn điểm hỏa bằng điện của ta gặp trở ngại, dây dễ bị bom, pháo làm đứt, người ngồi điểm hỏa không an toàn. Ngô Xuân Thu đã nghĩ ra cách điểm hỏa bằng bẫy tự động (không cần người điểm hỏa) và tự mình đánh thử trận đầu, lật nhào một đoàn tàu có 9 toa chở đầy lính và hàng quân sự. Từ đó, đơn vị áp dụng sáng kiến của đồng chí và lần nào đánh cũng giành thắng lợi.


Bị đánh hỏng nhiều đoàn tàu, địch đối phó bằng cách cho hai toa chở đá nặng đi trước để làm cho mìn nổ, do đó đầu máy đi sau không hỏng và đoàn tàu không bị lật. Ngô Xuân Thu lại nghĩ ra cách đánh mới lật được hai đoàn tàu chở đầy vũ khí, diệt hàng trăm tên.


Trong trận tháng 4 năm 1971, Ngô Xuân Thu mưu trí dùng hai khối thuốc nổ, một khối đặt ở chân cầu để vừa phá cầu vừa đánh xe lửa, một khối đặt ở bãi trống gần đó để đánh máy bay dịch (đồng chí phán đoán có thể máy bay chúng sẽ đến và phải hạ cánh xuống bãi trống đó khi cầu đổ). Kết quả, Ngô Xuân Thu đã phá sập chiếc cầu dài 27 mét, lật nhào đoàn tàu chở đầy vũ khí và phá hủy 1 máy bay lên thẳng.


Ngày 25 tháng 11 năm 1971, sau khi đặt mìn, trên đường về gặp địch, mặc dù chúng đông gấp bội, Ngô Xuân Thu đã chỉ huy tổ chiến đấu diệt nhiều tên. Trận này, đồng chí đã anh dũng hy sinh. Hôm sau, quả mìn do Ngô Xuân Thu gài nổ tung, lật nhào một đoàn tàu 12 toa chở đầy lính và hàng quân sự.


Ngô Xuân Thu luôn luôn xung phong gương mẫu về mọi mặt, chấp hành kỷ luật nghiêm, đoàn kết nội bộ, đoàn kết với đơn vị bạn.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 4 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ.


Ngày 15 tháng 1 năm 1976, Ngô Xuân Thu được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 70 
 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2022, 08:47:38 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
ANH HÙNG BÙI VĂN HỢP
(LIỆT SĨ)


Bùi Văn Hợp sinh năm 1950, dân tộc Mường, quê ở xã Vĩnh Đông, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Khi hy sinh, đồng chí là trung đội trưởng trinh sát, đại đội 4, trung đoàn 165 sư đoàn 7, Quân đoàn 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ năm 1969 đến năm 1972, Bùi Văn Hợp làm nhiệm vụ trinh sát, dù khó khăn ác liệt thế nào, đồng chí vẫn luôn luôn bám sát địch để nắm chắc tình hình, phục vụ   cho đơn vị chiến đấu.


Ngày 8 tháng 4 năm 1970, ở đồi 95, tỉnh Công Pông Chàm (Cam-pu-chia), Bùi Văn Hợp chủ động đi điều tra nắm địch rồi dẫn đơn vị vào đánh, diệt được 22 xe quân sự của chúng.


Ngày 8 tháng 1 năm 1971, Bùi Văn Hợp đưa cán bộ đi nghiên cứu cụm quân địch ở Sóc Bồ Câu (tỉnh Công Pông Chàm); vì thấy động, địch bắn ra dữ dội, đồng chí đề nghị cho cán bộ rút về để tránh hy sinh tổn thất, còn mình ở lại tiếp tục nắm địch. Khi trận chiến đấu diễn ra, Bùi Văn Hợp chỉ từng mục tiêu cho đơn vị đánh, diệt 200 tên, phá hủy 10 xe quân sự.


Đặc biệt trong 3 ngày từ 19 đến 21 tháng 6 năm 1972, một tiểu đoàn địch tiến công sở chỉ huy trung đoàn của ta. Bùi Văn Hợp phụ trách một tổ đánh trả địch quyết liệt; bản thân sử dựng cả 4 loại vũ khí, tiểu liên, súng trường, B.40 và lựu đạn, cùng tổ đánh lui nhiều đợt tiến công của địch, bảo vệ được sở chỉ huy trung đoàn. Trận này, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Bùi Văn Hợp luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, được cán bộ, chiến sĩ mến phục.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công giải phóng hạng ba, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, 2 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua, 7 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ và 7 bằng khen, giấy khen.


Ngày 15 tháng năm 1976, Bùi Văn Hợp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM