Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Hai, 2020, 12:31:59 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 61 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:51:37 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Ti-man hút một hơi dài. Đồng chí từ từ nhả khói rồi nói dằn lừng tiếng ;

        — Thưa ngài thiếu tá, ngài sẽ nói như thế nào nếu như Cu-snhia Cu-sna-rép bỗng nhiên bị bệnh... với giá ba mươi ngàn ?

        Vẻ mặt tên thiếu tá trở nên tàn nhẫn. Hắn nhìn Ti-man chằm chằm. Tay tên SS từ từ đưa xuống bao súng, nhưng dừng lại ngay. Ba mươi ngàn, mẹ khỉ, đó là cả một tài sản ! Hô-vơn nuốt nước bọt.

        — Được, tôi đồng ý.

        Ti-man thấy nhẹ cả người.

        — Nhưng không bằng răng vàng, — Hô-vơn nhăn mặt một cách kinh tởm. — Bằng tiền mác.

        Nửa giờ sau tên SS trực nhật trao cho tên gian tế một giấy gọi có chữ ký của chính bác sĩ trưởng : Cu-snhia Cu-sna-rép được mời lên ngay bệnh viện của trại để thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh thương hàn phát ban.

        Trong khi kiểm tra quần áo của Cu-snhia Cu-sna-rép, đã tìm thấy một con rận. Những người y-tá được phái đến lại tìm thấy một con nữa trên giường của tên gian tế.

        — Căn phải để ông nằm bệnh viện, — Ti-man nói.

        — Không, không, tôi không nằm bệnh viện đâu, — thằng khốn nạn run lên. — Và tôi cũng không uống thuốc ! Tôi cũng không để cho tiêm đâu !

        Tên bác sĩ trưởng nhìn cái thân hình nhẽo nhựt của thằng nghiện ma túy bằng cặp mắt khỉnh bỉ : đồ súc sinh này mà được trả giá ba mươi ngàn ! Rồi hắn ra lệnh :

        — Cho Cu-snhia Cu-sna-rép vào phòng bệnh riêng, do tôi theo dõi.

        Rồi hắn bảo tên tướng cũ của Nga hoàng :

        — Chính bác sĩ Ti-man phụ trách bộ phận này sẽ chữa cho ông.

        — Xin cám ơn ngài thiếu tá, xin cám ơn,— nụ cười đọng lại trên mặt Cu-snhia Cu sna-rép giờ lâu.

        Tên gian tế được cho vào một phòng riêng. Theo lệnh Hô-vơn, những tên lính trong nhà bếp SS mang thức ăn đến cho nó.

        Ti-man hiểu rằng giấy bạc còn chưa đem đến đặt trên bàn Hô-vơn thì chưa sợi tóc nào rụng khỏi đầu tên gian tế.

        Nhưng chuyển vàng bạc châu báu thành tiền đâu phải là một việc đơn giản. Trung tâm tìm cách đưa vàng và đá quí từ trại tập trung đến Vây-ma để đổi lấy tiền ở ngân hàng thành phố.

        Ngày nào đội làm việc ở nhà bếp cũng đến Vây-ma nhận thực phẩm cho bọn SS. Trong đội có người của mình. Họ được trao nhiệm vụ quan trọng ấy. Đồng chí đảng viên cộng sản già Di-véc vốn có liên hệ với tổ chức cộng sản bí mật ở Tiu- rinh, sẽ bố trí những cuộc gặp gỡ bí mật trong khu công nhân.

        — Các đồng chí cứ chuyển lời chào của tôi, rồi anh em sẽ giúp.

        Ngay trước hôm đội nhà bếp đi Vây-ma, đồng chí  Ốt-tô Gan-lê phụ trách kho đồ đem vàng và châu báu tới. Đồng chí đã chọn lấy các thứ ấy từ trước và cất trong một chỗ giấu bí mật. Tuy đã làm những biện pháp đề phòng mọi mặt, nhưng thằng SS Bam-bút chịu trách nhiệm về vàng bạc châu báu trong kho vẫn nhận thấy thiếu vài thoi vàng. Nó truy thẳng vào Gan-lê :

        — Vàng mất đi đâu hử !

        Gan-lê không mất bình tĩnh. Đồng chí khẽ nói, giọng bí mật :

        — Đến chỗ ngài tư lệnh.

        Bam-bút đành ngậm tăm. Tên SS biết rằng thằng tư lệnh thường thò tay vào kho châu báu của nhà nước. Trong những việc như thế thì hắn bất lực: đừng có nhổ nước bọt ngược chiều gió. Bam- bút lầu bầu vài câu về vấn đề phải thận trọng rồi nó khuyên :

        — Nhưng mày phải ghi lại để còn kiểm kê. Nếu không, cấp trên thì lấy đi, còn chúng mình lại phải đem đầu ra hứng lấy tất cả.

        Trước hôm Nô-en, Ti-man đặt ba mươi ngàn mác lên bàn, trước mặt tên thiếu tá làm hắn sửng sốt đến ngây người ra.

        — Thưa ngài thiếu tá, ngài không cần đếm làm gì, không thiếu đồng nào đâu.

        Hô-vơn ngồi xuống ghế. Hắn lặng đi vài giây, nhìn những tập giấy bạc bó rất chặt, chất thành một đống trên bàn giấy. Ba mươi ngàn. Mẹ khỉ, cả một tài sản ! Tên bác sĩ trưởng mở ngăn kéo, vội vã xếp những tập giấy bạc vào trong đó. Rồi có tiếng khóa lách cách. Thiếu tá SS Hô-vơn ngước nhìn người tù.

        — Cu-snhia Cu-sna-rép đã thuộc về ông. Tôi mong rằng sẽ không đề lại chút dấu vết nào.

        Ti-man gật đầu.

        Đồng chí ra đến cửa thi bỗng nhiên loa phóng thanh trong phòng làm việc kêu o o. Ti-man đề phòng lắng nghe. Ngay sau đó, nghe thấy giọng nói rin rít của tên sĩ quan thông báo : 

        — Toàn trại chú ý ! Mệnh lệnh ! Sĩ quan phụ trách khối chín mươi chín có mặt ngay ở công...

        Ti-man hiểu ngay : bọn đao phủ ở khối chín mươi chín. Như thế có nghĩa là sắp có những cuộc hành quyết mới.

        — ... Đội lò thiêu xác nghe đây ! Phái ngay sáu đứa ra cổng...

        Ti-man nghiến răng : bọn phát xít muốn xóa sạch ngay các dấu vết.

        — ... Toàn trại nghe đây ! Cu-snhia Cu-sna-rép ra ngay cổng !

        Ti-man run bắn người lên. Như thế là chúng nó đang giải anh em người Nga đến... cần có tên gian tế, tên phản bội... Nhưng nó vẫn còn sống !

        Ti-man nhìn tên thiếu tá, tỏ ý đòi hỏi. Hô-vơn cầm ống nói lên, nói giọng thật bình thản với văn phòng :

        — Cu-snhia Cu-sna-rép đang ốm. Đang nằm bệnh viện, ốm rất nặng.

        Người tù đi nhanh ra khỏi phòng làm việc. Cần phải hành động thật nhanh, ngay bây giờ... Chỉ cần loa phóng thanh ở đấy không mở. Chỉ cần Cu- snhia Cu-sna-rép không nghe thấy lệnh gọi. Nhanh lên mới được... Sao cho kịp... Sao cho kịp...

 62 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:46:51 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
         
HẠM ĐỘI 7 HẾT "LÀM MƯA LÀM GIÓ"

        Chiến tranh ở Việt Nam do Mỹ tiến hành đã gây ra biết bao đau thương tang tóc cho nhân dân ta ở cả hai miền Nam Bắc. Cuộc chiến cũng đã làm cho Mỹ thiệt hại lớn về mọi mặt. Báo Mỹ - Tuần tin tức số ra ngày 5 tháng 2 năm 1973 đã nhận xét:

        "Cuối cùng, Mỹ bắt đầu rút khỏi một cuộc chiến tranh sa lầy đã từng làm đau khổ bốn đời tổng thống và làm mất chức một tổng thống, đã chia rẽ đất nước một cách sâu sắc hơn bất cứ một sự kiện nào từ sau nội chiến, rốt cuộc bị đại đa số dân Mỹ coi như một sai lầm bi thảm. Nó đã khiến Mỹ mất 46.000 sinh mạng trong chiến đấu và 146 tỷ đôla trong hơn một chục năm (những con số này còn dưới sự thật). Nhưng cái giá nặng nề hơn là trên đất nước tinh thần bị đau thương đến nỗi, tin tức hòa bình chỉ gây một cảm giác nhẹ nhõm vì thấy đau khổ đã chấm dứt".

        Cuộc chiến đem đến sự tổn thất nặng nề đối với nền quốc phòng Mỹ. Riêng lực lượng hải quân, ngày 1 tháng 3 năm 1972 trong báo cáo trước ủy ban quân lực Hạ viện Mỹ, bộ trưởng hải quân Mỹ Giôn-sa-phi thú nhận tổn thất:

        "Khi tôi đảm nhiệm chức vụ bộ trưởng hải quân Mỹ vào tháng 1 năm 1969 nước Mỹ đang dính líu nặng nể vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Tài nguyên và tài năng của ta bị dồn cả vào cố gắng này. Những tàu chiến hiện đại nhất, mới nhất đều đưa đến chiến trường này... Các tàu chiến Hạm đội 7 được ưu tiên số một. Những vũ khí hiện đại nhất, mới nhất, tốt nhất được dành cho Hạm đội 7, khiến cho các đơn vị hải quân Mỹ ở các nơi khác trên thế giới, kể cả Hạm đội 6 đều phải chịu thiệt thời...".

        Những năm đầu mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, hạm đội Mỹ hàng ngày vẫn diễu võ dương oai ngoài Biển Đông. Từ những hàng không mẫu hạm trên Hạm đội 7, máy bay hải quân Mỹ cất cánh vào ném bom miền Bắc nước ta. Càng mở rộng chiến tranh thì máy bay các loại dù tối tân mấy cũng bị thiệt hại ngày càng nặng nề. Những nhà thò trên các chiếc tàu sân bay nhằm an lòng phi công Mỹ nhưng những trận đi ném bom miền Bắc rất nhiều phi công không trở lại hạm tàu càng làm cho tinh thần của chúng nao núng, nhiều tên hoảng loạn thoái thác trách nhiệm bằng nhiều cách. Trong lịch sử của hải quân Mỹ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Hạm đội 7 phải gánh chịu những tổn thất từ những cuộc tiến công của hải quân và không quân Việt Nam.

        Trước trận tiến công miền Bắc bằng không quân, ngày 2 tháng 8 năm 1964 tàu Mađốc của Hạm đội 7 ngang nhiên xâm phạm vùng biển nước ta. Được lệnh của cấp trên, Phân đội 3 của Tiểu đoàn 135 Hải quân nhân dân Việt Nam gồm ba tàu phóng ngư lôi 333, 336 và 339 lên đường, nhằm thẳng mục tiêu địch tiến tới. Bốn mươi ba năm sau, năm 2007, Đại tá Nguyễn Xuân Bột, nguyên thuyên trưởng tàu 333 trực tiếp tham gia cuộc tiến công tàu Mađốc kể lại:

        "14 giờ ngày 2 tháng 8 năm 1964 phân đội 3 đang neo đậu ở bắc Hòn Mê tỉnh Thanh Hóa được lệnh tiến về hướng bắc chặn đánh tàu Mỹ đang xâm phạm vùng biển nước ta. Thông thường, tàu ngư lôi chỉ làm nhiệm vụ chiến đấu khi mà về phía ta có máy bay, tên lửa trên bờ cùng các lực lượng khác phối hợp chiến đấu làm tê liệt hỏa lực địch từ trên tàu chúng. Trong trận này ba tàu ngư lôi của ta đánh một tàu khu trục hiện đại của Mỹ có sức cơ động cao 30 - 32 hải lý/giờ, có hỏa lực mạnh gồm các loại pháo tầm xa, tầm gần từ 123mm trở lên bố trí dày đặc trên boong tàu lại có máy bay yểm trợ là một cuộc chiến không cân sức. Theo tài liệu tổng kết của Hải quân Nga trong đại chiến thế giới lần thứ 2, để đánh tàu khu trục có tốc độ 30 - 32 hải lý/giờ phải dùng 12 tàu phóng ngư lôi hình thành một mặt quạt thì bắn 24 quả mới có một quả ngư lôi trúng tàu. Thế mà tàu Mađốc lại là loại tàu được trang bị vũ khí hiện đại, được cải tiến, có sức cơ động cao gấp hai lần khu trục hiện đại thế chiến thứ 2. Một cuộc chiến không cân sức, cho nên, quá trình vận động để tiếp cận mục tiêu vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vừa phải khôn khéo tránh các làn hỏa lực của các loại pháo, chúng dùng pháo tầm xa bắn xé đội hình ta. Cần ăng ten máy thông tin 609 bị pháo địch bắn gãy khiến cho việc liên lạc giữa các tàu trong phân đội gặp khó khăn hơn. Trong quá trình tiến công hai tàu 336 và 369 mất khả năng cơ động nên pháo từ tàu địch tập trung vào tàu ngư lôi 333. Gần tiếp cận đến mục tiêu thì quả ngư lôi ống trái bị trúng pháo địch bốc cháy nghi ngút. Chỉ còn một quả ngư lôi ống phải nên tàu lệch, tôi ra lệnh cho chiến sĩ cơ điện tăng hết tốc lực chiếm mạn tàu bên phải của địch, lệnh cho pháo thủ Phạm Bá Phong dùng pháo hai nòng 14,5mm bắn quét boong tàu địch và kéo cò bắn quả ngư lôi còn lại. Pháo trên tàu địch câm họng, chúng chạy tán loạn. Bắn xong, tàu 333 ra khỏi khu vực chiến đấu cũng là lúc năm máy bay địch đến ném bom vào mũi tàu. Tàu chúng tôi tiếp tục chiến đấu với máy bay địch gần hai mươi phút. Một chiếc máy bay địch bốc cháy nên cả tốp máy bay địch cút luôn. Chúng tôi nhanh chóng trở về căn cứ lúc đó là 22 giờ cùng ngày. Kết thúc trận đánh, tàu 336 thiệt hại nặng nhất, thuyền trưởng Nguyễn Văn Tự và một pháo thủ hy sinh. Trời nhá nhem tối mới tìm thấy tàu 336 rồi kéo về Sầm Sơn, Thanh Hóa...".

 63 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:45:36 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

TAN XÁC "CÁNH CỤP CÁNH XÒE"

        Máy bay ném bom F111A được Mỹ đưa vào Việt Nam từ tháng 3 năm 1968. Tháng 9 năm 1972 Mỹ lại đưa thêm hai đại đội F111A gồm 148 chiếc thuộc liên đoàn không quân 47 sang sân bay Tắc Li, Thái Lan tăng cường đánh phá miền Bắc. Đây là loại máy bay mới nhất, có thể thay đổi cánh để tăng giảm tốc độ nên được mệnh danh là "cánh cụp cánh xòe". F111A nặng 32 tấn, tốc độ bay từ 250 - 300m/s, có khả năng mang được mười tấn bom - bằng hai lần số bom của năm chiếc máy bay F4, máy bay F1ll cấu tạo đặc biệt, có thiết bị tự động để có thể bay cao hoặc thấp trên các địa hình phức tạp đến ném bom mục tiêu không cần hệ thống dẫn đường. Lợi hại của loại máy bay này còn là khả năng gây nhiễu cho phù hợp với việc chiến đấu ở địa hình phức tạp, F111A được trang bị nhiều khí tài và trang bị điều khiển để có thể bay men theo các triền núi, ven sông biển cực thấp. Chúng thường hoạt động ban đêm, đi lẻ đối phó với cả ba loại vũ khí phòng không lợi hại của ta là tên lửa, máy bay tiêm kích và pháo phòng không tầm thấp. Mặc dù có nhiều chức năng ưu việt nhưng F111A cũng còn là loại máy bay thử nghiệm, chưa thật hoàn hảo. Chính những phi công Mỹ thông thạo loại máy bay mới này thừa nhận. Trung tá phi công tù binh Giêm Uy-li-êm O-nên, sinh năm 1930 bị bắt ở Hòa Bình ngày 29 tháng 9 năm 1972 nói về F1ll:

        - Đây là loại máy bay mới. Nhiều người cho là tuyệt vời, rất hiện đại. To lớn, cánh xòe ra và cụp vào được. Một kỳ công của công nghệ chế tạo máy bay. Nhưng F1ll chưa thật hoàn hảo, đang trong thời gian thử nghiệm. Mỗi một máy bay Fill giá 15 triệu USD đắt tiền hơn cả giá một chiếc B52. Vì cớ giá béo bỏ như thế nên nhiều công ty chế tạo máy bay sản xuất để kiếm lời. Có điều là người lái F1ll là gửi tính mạng cho máy móc. Phó mặc cho hàng vạn chi tiết máy. Nếu lái máy bay F4 bay cao, vào ban ngày thì một khi có trục trặc máy móc thông thường người lái có thể xử lý được. Lái F1ll thì chịu, bay nhanh 800 kilômét/giờ, bay thấp ở độ cao 200m, bay đêm tối mịt mù, chỉ một trục trặc nhỏ cũng thành thảm họa.

        Lạy chúa! Những tên lái F1ll xấu số thường bị đạn không kịp nhảy dù. Cái chết rất thảm thương, một mình trong đêm tối.

        Lần đầu tiên không quân Mỹ dùng F1ll hoạt động đêm trên vùng trời Tây Bắc.

        Đêm 17 tháng 10 năm 1972 dân quân xã Tiền Châu huyện Vĩnh Lạc đã tổ chức một tổ súng máy phục kích đón lõng và đã bắn rơi một chiếc.

        Máy bay Fill được Mỹ rêu rao là "cánh cụp cánh xòe" với nhiều chức năng có thể làm cho các loại súng phòng không của ta mất tác dụng nhưng rồi cũng không tránh khỏi số phận nơi mồ chung với các loại "thần sấm" "con ma".

        Đế quốc Mỹ đưa F1ll vào Việt Nam tham gia đánh phá miền Bắc, giới chóp bu ở Lầu năm góc tưởng có thể xoay chuyển được tình thế nghĩa là có thể vượt mặt các loại súng phòng không của ta, đánh phá vào ban đêm có hiệu quả. Sự kiện này không những giới quân sự quan tâm mà cả giới báo chí cũng rất sốt sắng theo dõi. Một chiếc bị "mất tích" thế là chúng phải dừng bay để "ngâm cứu". Ngày 28 tháng 9 năm 1972 sau khi thực hiện được bốn phi vụ, một chiếc F111 không thấy trở về căn cứ, hãng AP đã vội vã đưa tin ngay với tâm trạng lo lắng không kém giới quân sự.

        "Mỗi ngày F111 bay từ hai mươi đến ba mươi lần chiếc. Ngày 28 tháng 9 năm 1972 máy bay này tạm ngừng đi chiến đấu sau khi mới bay được bốn phi vụ, trong đó có một chiếc mất tích!".

        Trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội cuối năm 1972, F111 được dùng trong đội hình cùng B52 đánh phá ác liệt. F111 cùng chung số phận với B52 - không thoát khỏi đòn trừng phạt của quân và dân ta. 19 giờ 8 phút ngày 18 tháng 12 năm 1972, mở đầu cho cuộc tập kích bằng không quân của Mỹ vào Thủ đô Hà Nội. Đài quan sát của ta ở Tam Đảo đã phát hiện nhiều tốp F111 bay vào Hà Nội. Hai phút sau, Đại đội rađa 16 của Trung đoàn 291 phát hiện nhiều nhiễu B52 xuất hiện - "B52 đang bay vào Hà Nội". Ngay từ đầu F111 cùng các máy bay cường kích chiến thuật đánh phá hủy diệt các sân bay nhằm tiêu diệt, chế áp không quân ta, dọn đường cho B52. F111 còn làm nhiệm vụ xung kích đánh phá các trận địa tên lửa, pháo phòng không ở nội thành. Có đợt chúng huy động cả một liên đội F111, mỗi đêm từ 10-25 lần chiếc hoạt động xen kẽ giữa các đợt ném bom rải thảm của B52.

        Trong 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không" năm chiếc F111 bị bắn rơi. Tự vệ Hà Nội cũng góp một phần chiến công.

        Mấy ngày đầu Mỹ tập kích vào Hà Nội, quân và dân ta biết được sự nguy hiểm của loại máy bay "cánh cụp cánh xòe", phát hiện quy luật hoạt động của F111, Bộ tư lệnh Thủ đô quyết định tổ chức trận địa phòng không tầm thấp đón lõng đánh F111 tại trận địa Vân Đồn. Một số liên đội dân quân tự vệ được tổ chức trực chiến cơ động bắn máy bay tầm thấp trong đó có Liên đội tự vệ Khu Hoàn Kiếm – Hai Bà Trưng. Liên đội gồm năm khẩu súng máy phòng không 14,5mm của ba nhà máy: Gỗ 42 Khu Hoàn Kiêm hai khẩu, Cơ khí Mai Động có hai khẩu và Cơ khí Lương Yên có một khẩu. Họ là nam nữ cán bộ, công nhân còn rất trẻ, hăng hái nhưng lại là những cây súng trực chiến rất cừ. 21 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1972, kíp trực phát hiện từ phía tây bắc Hà Nội có một chiếc F111A bay sát mặt sông qua cảng Hà Nội. Lúc này ba khẩu đội trong đó có các tự vệ kỳ cựu Bùi Mai, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Hiếu, Nguyễn Công Cường, Tống Văn Xuyên do Thái Văn Quang làm khẩu đội trưởng. Được lệnh nổ súng, các trận địa đồng loạt điểm xạ. Những đường đạn thẳng căng rạch trời đêm chụm chính xác vào chiếc F111A. Máy bay trúng đạn bốc cháy như một ngọn đuốc lao nhanh về phía tây rơi xuống huyện Lương Sơn, Hòa Bình. Chỉ với mười chín viên đạn súng máy, Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng đã bắn rơi một máy bay tối tân nguy hiểm của Mỹ nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 tháng 12, góp vào chiến công chung trong trận chiến thắng lịch sử "Điện Biên Phủ trên không".

        Một trong năm khẩu súng máy 14,5mm lập chiến công ngày ấy được đưa về Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cùng với cánh máy bay F111. Trên một góc cánh máy bay có dòng chữ "Liên đội tự vệ Hoàn Kiếm - Hai Bà Trưng bắn rơi ngày 22 tháng 12 năm 1972".

 64 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:44:54 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        No-man được đưa đến sân bay Đà Nẵng - một căn cứ không quân Hoa Kỳ gần Bắc Việt Nam. Chắc là bị những con số 3 độc địa ám ảnh nên anh ta cũng đã  hết sức cố gắng gìn giữ sao cho sớm kết thúc công việc về Mỹ. No-man tỏ ra rất tích cực, tham gia nhiều cuộc họp giao ban, rút kinh nghiệm chiến đấu của các phi đội, thu thập nhiều tư liệu... Hơn hai tháng sau No-man đã chuẩn bị xong đề cương chuẩn bị về trình bày trước Hội đồng tham mưu bộ không quân Hoa Kỳ. Ngày được trở vế đang đến gần ngày 15 tháng 5 năm 1967! Nhưng trớ trêu cho anh ta, để chuẩn bị về nước phải có một chuyến bay vào Bắc Việt Nam nghiên cứu tình hình thực tế chiến đấu của không quân!

        Ngày 12 tháng 5 năm 1967, No-man lái chiếc F4C, vào loại tối tân nhất lúc đó lẻn vào vùng trời Hà Nội cùng với nhiều máy bay hộ tống. No-man chưa kịp phát hiện hỏa lực phòng không của Bắc Việt, chưa kịp biết MiG lợi hại thế nào đã bị MiG của ta bắn hạ. Một chiếc MiG-17, đánh gần bắn máy bay F4C bằng tiểu liên 20mm. Bị thương, No-man biết nên vội vàng lao xuống thấp định chạy trốn lại bị lưới lửa phòng không tầm thấp hạ gục!

        Một phi công lão luyện có tên tuổi của không quân Mỹ có lịch sử khá lâu đời lại bị các phi công non trẻ của Không quân Việt Nam cũng còn rất non trẻ cho "đo ván". Người phi công anh hùng của chúng ta là trung úy Ngô Đức Mai, hồi đó mới hai mươi bảy tuổi đời, có gần ba trăm giờ bay đánh gục đại tá No-man lúc đó bốn mươi hai tuổi và đã có hơn bốn ngàn hai trăm giờ bay và là hiệu trưởng một trường không quân của Mỹ!

        Trung úy Ngô Đức Mai kể về cuộc chiến đấu trên không:

        - Gặp địch, tôi quan sát thấy có một chiếc máy bay F4C được nhiều máy bay hộ tống đang bay vào Hà Nội. Tôi đoán chắc đó là máy bay của tên chỉ huy. Đối với người lính không quân chúng tôi, Hà Nội là khu vực thiêng liêng. Biết bao tâm tư tình cảm chúng tôi dành cho thủ đô. Giặc Mỹ đánh vào Hà Nội là xúc phạm đến những gì thiêng liêng nhất của người dân Việt Nam. Phải đánh thằng chỉ huy, nghĩ thế bằng một đường bay bất ngờ, táo bạo, được đồng đội yểm trợ tôi tấn công chiếc F4C.

        Chiến công của trung úy Ngô Đức Mai dâng lên Bác Hồ kính yêu nhân dịp kỷ niệm lần thứ 77 ngày sinh của Bác.

        Có một kỷ niệm không bao giờ quên trong cuộc đời chiến đấu không quân của Ngô Đức Mai là được gặp Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhân dịp Đại tướng đến thăm đơn vị. Được biết Mai bắn rơi máy bay của No-man, đại tướng vỗ vai anh thân tình nói:

        - Các đồng chí ạ, phải đánh thế! Đúng lắm, đó là lối đánh của chúng ta, của dân tộc Việt Nam. Cách đánh thật thông minh, tìm thằng đầu sỏ mà quật. Chà! Đồng chí Mai bắn gần đến thế. Đó chính là kiểu đánh gần, đánh bất ngờ, nắm thắt lưng địch mà đánh như các chiến sĩ Quân giải phóng miền Nam!

        Một phi công tên tuổi lái máy bay tối tân của Hoa Kỳ lại bị chính loại máy bay mà anh ta cho là "nhãi nhép" hạ gục tất nhiên là anh ta cay cú lắm. No-man luôn nằng nặc xin được gặp mặt đối thủ. Chúng ta cũng đã bố trí cuộc gặp theo yêu cầu của anh ta.

        Từ cuối tháng 2 năm 1973 ta báo cho anh ta biết tin này. No-man rất vui:

        - Thưa các ông, tôi xin cam đoan, cho đến phút cuối cùng ở trại, tôi vẫn hết sức tuân thủ kỷ luật của trại giam, giữ gìn trật tự vệ sinh. Không dám để các ông phật lòng.

        No-man là một trong nhiều nhân viên quân sự cao cấp nhất được phía chính phủ ta trao trả cho chính phủ Mỹ ngày 4 tháng 3 năm 1973. Trong đợt này, có 108 nhân viên quân sự Hoa Kỳ và Thái Lan được trao trả, gồm những phi công tù binh bị bắt từ năm 1966 đến giữa năm 1967. Cùng được trao trả với anh ta còn có chín trung tá, 29 thiếu tá, 36 đại úy, 29 trung úy, hai thiếu úy và hai nhân viên quân sự Thái Lan.

 65 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:44:14 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

TÌM CÁCH DIỆT MiG BỊ MiG DIỆT

        Câu chuyện trớ trêu về đại tá phi công tù binh No-man Ga-đi-xơ - đại diện cho các phi công lão luyện vào loại nhất nhì của Mỹ làm khách không mời ở trại giam Hỏa Lò. Cấp đại tá cũng đủ nói lên thời gian phục vụ không quân Mỹ của anh ta, cả về tài năng và kinh nghiệm chiến đấu nữa chứ. Anh ta không phải là đại tá phi công Mỹ duy nhất bị bắt làm tù binh. Trong chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc, không ít sĩ quan cấp đại tá không quân Mỹ bị ta bắt làm tù binh. Trong năm 1967 nhiều đại tá phi công Mỹ rủ nhau làm khách không mời của trại giam Hỏa Lò: No-man Ga-đi-xơ bị bắt ngày 12 tháng 5 năm 1967 tại Hà Nội. Ba tháng sau, ngày 2 tháng 8 đại tá Oa-lát Hai-dơ lái chiếc RF4C bị quân và dân huyện Hương Khê - Hà Tĩnh bắn rơi. Hơn hai tháng sau đó, ngày 20 tháng 10 Hà Nội lại bắt sống giặc lái, đại tá Pi-tơ Phơ-lin và hơn nửa tháng sau, ngày 18 tháng 11 đại tá Bơ-đét Et-đu-át liên đội trưởng không quân chiến thuật Mỹ, máy bay của anh ta cũng không thoát khỏi lưới lửa phòng không của quân và dân tỉnh Hà Tây (cũ)...

        No-man người gốc Hà Lan sinh ngày 30 tháng 9 năm 1923, đăng lính lúc còn là một chàng trai trẻ mười chín tuổi - 29 tháng 12 năm 1942, khi mà cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai giữa phe trục phát xít Đức - Ý - Nhật với quân các nước Đồng minh chưa phân thắng bại. Mới vào lính anh ta làm thợ máy, thế rồi do yêu cầu của chiến tranh một lớp đào tạo lái máy bay khu trục được mở ra, No-man được cử đi học, sau hai năm đào tạo anh ta tốt nghiệp, được phong quân hàm thiếu úy. Con đường binh nghiệp của No-man khá thuận lợi, trải qua nhiều chức vụ quan trọng: Chỉ huy căn cứ Mắc-đin ở bang Flo-ri-đa -  một căn cứ không quân lớn thuộc bộ chỉ huy không quân chiến thuật (TAC). Nhiều năm anh ta là sĩ quan cao cấp nghiên cứu về không quân ở bộ quốc phòng, chuyên theo dõi về trang bị, xây dựng, mua sắm các loại máy bay và xăng dầu của không quân Mỹ. Năm 1967 No-man được điều sang chiến trường Đông Nam Á. Không biết có phải anh ta bị ám ảnh bởi ngày độc hay không mà cứ quả quyết rằng - ngày anh ta được điều động đến Việt Nam ảnh hưởng đến số phận của một sĩ quan cao cấp trong không quân Hoa Kỳ:

        - Tôi được điều sang Việt Nam vào đúng ngày 3 tháng 3 năm 1967, đúng là ngày mang cái số độc địa. Con số 3 là con số độc địa, những con số 3 ám ảnh tôi. Ngày 3 tháng 3 đã là hai con số 3 độc rồi. Ngay năm 1967 cũng có một con số 3 độc nữa. Này nhé: 1+9+6+7 bằng 23 - có nguy hiểm chết người không cơ chứ!

        No-man đến Việt Nam khi mà chính quyền Ních-xơn đang cay đắng vì những thất bại thảm hại ở miền Nam. Chính quyền Ních-Xơn hiếu chiến âm mưu mở rộng chiến tranh lớn ra miền Bắc là có thể làm cho nhân dân miền Bắc khiếp sợ, không dám chi viện cho chiến trường miền Nam. Và như thế vấn đề miền Nam được giải quyết dứt điểm trong hai năm 1966-1967. Khi mà No-man đến dải đất trên bao lơn Thái Bình Dương trông yểu điệu, tha thướt như một cô gái lại là đất nước của những con người hiên ngang không khuất phục - miền Bắc đã bắn rơi hơn một ngàn máy bay phản lực tối tân đủ các loại của Mỹ.

        Bốn mươi hai tuổi, No-man đã có trên bốn ngàn hai trăm giờ bay và là hiệu trưởng một trường đào tạo phi công Mỹ. Học trò lái các loại máy bay phản lực hiện đại của Mỹ lại bị lũ "nhãi nhép" - cách No-man gọi các loại máy bay MiG của ta đánh cho tan tác. Không những thế còn có nhiều phi công có kinh nghiệm cũng bị lũ "nhãi nhép" MiG-17, MiG-21 bắn rơi phải vào trại giam làm cho anh ta càng bực tức hơn. Không ít lần trên bục giảng anh ta mỉa mai đồng nghiệp của mình bị bắt ở Bắc Việt Nam. Thế là No-man tình nguyện xin được sang chiến đấu ở Việt Nam, hơn thế nữa anh ta có hẳn một kế hoạch khá công phu nghiên cứu để tìm ra biện pháp hữu hiệu tiêu diệt các loại MiG của Bắc Việt. Nhiệm vụ anh ta được giao sang chiến trường Việt Nam nhằm: "Xem xét chiến thuật của không quân Mỹ, nghiên cứu về lưới lửa phòng không của Bắc Việt Nam. Đặc biệt là nghiên cứu cách đánh của máy bay MiG được Nga chế tạo và tìm cách tiêu diệt có hiệu quả MiG-19, MiG-21 rồi quay về báo cáo với tổng hành dinh không quân Hoa Kỳ tại thủ đô Oa-sinh-tơn".

 66 
 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2020, 05:42:57 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Mạc Lâm kể về cuộc trò chuyện với phi công tù binh lái chiếc trinh sát điện tử EB66. Từ căn cứ quân sự Tắc Li, Thái Lan chúng vào nước ta, đến Tuyên Quang bị tên lửa tiêu diệt. Hai phi công tù binh là đại úy Nô-ran A-lếch-xan-đơ Mắc Đa-ni-en, sinh tháng 7 năm 1937, có vợ và hai con. Mắc Đa-ni-en là sĩ quan điện tử máy bay trinh sát EB66, đơn vị đóng ở căn cứ Tắc Li, Thái Lan. Đại úy sĩ quan điện tử EB66 Glan-đơn Uy-liêm Péc-kin, sinh tháng 7 năm 1934.

        Sáng hôm ấy chúng tôi gọi hai phi công tù binh từ Tuyên Quang về. cả hai đều bị thương nhẹ được trạm xá cứu chữa. Họ khai:

        - Chúng tôi trước kia bay ở biên giới Việt - Lào nhưng vì quá xa Hà Nội nên cấp trên lệnh phải bay vào Sơn La, bí mật bay qua Tuyên Quang. Bay ở

        Sơn La đã nguy hiểm, vào Tuyên Quang là liều lắm rồi, cứ nghĩ là các ông không biết. Bay ở biển an toàn hơn vì đã có trinh sát điện tử hải quân đảm nhiệm. Chúng tôi trinh sát phục vụ cho hoạt động của không quân hướng tây bắc đánh vào Hà Nội. Đây là phi vụ đầu tiên...

        Hỏi về trang thiết bị trên EB66, chúng nói:

        - EB66 có hệ thống thu và phân tích mọi loại tín hiệu của rađa, có hệ thống máy gây nhiễu điện tử tầm xa. Trong tác chiến, EB66 thường phối hợp với các loại máy bay chiến đấu F1ll, F4 để gây nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực trên một diện tích rộng làm mờ hiện sóng của rađa đối phương. Trong chiến đấu hợp đồng, EB66 có khả năng chỉ dẫn cho các máy bay chiến đấu tấn công vào các trận địa rađa hoặc đối đầu với máy bay MiG-17, MiG-21.

        Về trường hợp bị bắt, chúng thi nhau kể:

        - Chúng tôi nhảy dù vào một khoảng trống trong rừng rậm, đã bị bỏng không biết xoay xở thế nào để trốn thoát. Nghe nói rừng nhiệt đới nhiều thú dữ, nhiều côn trùng phát khiếp, đêm lại xuống dần chúng tôi vô cùng sợ hãi. Bỗng chúng tôi nghe tiếng người, tiếng người ngày một gần. Thì ra là dân địa phương từ các ngả kéo tới. Chúng tôi bị bắt, về một thị trấn nhỏ nghỉ lại rồi về đây. Sợ quá, không dám chống cự, dân cho ăn uống và tha tội chết cho chúng tôi. Nằm trong trại chúng hối tiếc vì đã quá tin vào công nghiệp quốc phòng Mỹ. Sợ nhất là khi máy bay bốc cháy, may còn bấm kịp dù.

        Những phi công tù binh này giúp chúng ta những tài liệu quý về các loại máy bay trinh sát điện tử, về sự phối hợp tác chiến giữa trinh sát điện tử với các loại máy bay khác trong từng trận đánh, giúp chúng ta đối phó với những âm mưu đánh phá bằng không quân Mỹ vào các mục tiêu trên đất liền.

        Không quân cũng đã được tổ chức để tiêu diệt loại máy bay trinh sát điện tử lợi hại này. "Lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân" ghi lại một trận đánh khá tiêu biểu:

        "7 giờ 10 phút, ngày 19 tháng 11 năm 1967 Bộ tư lệnh Quân chủng lệnh cho một biên đội MiG-21 gồm hai chiếc đánh máy bay điện tử EB66. Theo phương án cũ, không quân đi đánh EB66, thì bộ đội rađa sẽ dẫn đường cho máy bay MiG-21 lên Thanh Sơn rồi thọc xuống hướng tây nam đón đánh EB66 ở phía tây Thanh Hóa. Nhưng hôm nay, trung đoàn trưởng Trần Mạnh quyết định sử dụng một đường bay mới. Biên đội MiG-21 do hai chiến sĩ Nguyễn Đăng Kính và Vũ Ngọc Đỉnh bay thấp theo trục đường số 1 rồi ngoặt lại đánh thọc sườn vào đội hình tốp máy bay EB66. Dọc đường bay tiếp cận địch, ta không mở máy thông tin đối không để giữ bí mật. Đến bầu trời Lang Chánh, Hồi Xuân - Thanh Hóa, sở chỉ huy thông báo có địch. Vũ Ngọc Đỉnh phát hiện EB66, được Nguyễn Đăng Kính yểm hộ lao vào công kích nhưng bị lỡ đà mất thời cơ. Đỉnh lệnh cho số 2 vào công kích. Nguyễn Đăng Kính xông lên, lấy đường ngắm phóng liền hai quả, tiêu diệt một chiếc EB66. Chiếc máy bay bốc cháy đâm xuống rừng nguyên sinh Hồi Xuân, Thanh Hóa. Chiếc EB66 bị quân ta đánh tan, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội tên lửa và pháo phòng không ở vòng trong đánh địch. Chưa bao giờ các kíp chiến đấu của binh chủng tên lửa thấy trên màn hiện sóng của mình không còn tín hiệu nhiễu ngoài đội hình như vậy".

        Ngày 14 tháng 1 năm 1968, không quân cũng lại dùng một biên đội MiG-21 đi đánh EB66. Chiến sĩ lái Phạm Văn Song bắn rơi tại chỗ một chiếc EB66C.

 67 
 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2020, 09:27:48 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi xuanv338
Thật là tuyệt vời. Anh Nguyễn Công Huy em chúc mừng anh. Cảm ơn anh Giangtvx đã hệ thống cho mọi người cùng được biết tài năng của anh lính nhà trời Công Huy. Hôm qua mọi người luôn nhắc tới hai cái tên Giangtxv và Phaiphai.

 68 
 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2020, 06:26:27 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Một tiếng động mạnh trên nóc hang làm chính ủy Lâm Hồng Sơn giật mình ngẩng lên: Phương Thảo đang ngồi chống hai tay ra phía sau lấy thăng bằng rồi tuột một mạch xuống theo lườn đá nhẵn thín. Thoắt cái, cô đã nghiêm trang đứng trước mặt chính ủy giơ tay chào theo nghi thức quân đội.

        — Sao lại biết lối ấy mà xuống ? — Chinh ủy ngạc nhiên hỏi.    

        — Báo cáo,chúng em đã trú quân ở đây mấy hôm

        — Các cô là nghịch lắm. Đã đi hết cái động này chưa ?

        — Dạ, chúng em đi gần hết rồi ạ.

        — Ngồi xuống đây, trong động có cái gì lạ không ?

        — Báo cáo chính ủy... — Thảo vừa nói, vừa ghé ngồi xuống phiến đá bên cạnh — Lạ nhất là... là... — Thảo ngừng lại che miệng cười.
Chính ủy nhìn Phương Thảo:

        — Sao, có gì lạ cứ nói thử xem nào!

        — Báo cáo, nhưng mà... ngượng lắm ạ!

        — Không sao, cứ nói !

        Thảo ngập ngừng rồi đánh bạo:

        — Báo cáo, lạ lắm ạ! Hôm chúng em mới vào đây, các bạn nam nghịch đi... tiểu tiện xuống nước. Tự nhiên nước sủi bọt lên rất nhiều... Báo cáo, các ban ấy gọi là... hiện tượng bia hơi ạ !

        Chính ủy phì cười, nhìn Phương Thảo:

        — Quân của cô thật quả lắm. Thế đã tìm ra nguyên nhân nước sủi bọt chưa?

        — Dạ, cũng dễ thôi ! Báo cáo, bây giờ chính ủy vào . chỗ đó sẽ thấy ở vách hang có ghi cái công thúc hóa học của hiện tượng... bia hơi ấy ạ !

        — Liệu ghi có đúng không?

        — Báo cáo, kỹ sư Nhơn vào xem đã phê năm điểm cộng vào cạnh cái công thức ấy rồi ạ ! Báo cáo chính ủy, nước ở đây có nồng độ hòa tan khoáng chất rất đậm đặc, có hiện tượng bão hòa ở một số vùng tù. Chúng em đã ghi cả vào sổ sưu tầm khoa học của đơn vị rồi đấy ạ!   

        — Tốt đấy! Hồi kháng chiến chống Pháp các anh đi chiến đấu cũng thường gặp những chuyện như các cô bây giờ, nhưng chẳng biết cắt nghĩa nó như thế nào cả. Thậm chí đến hai chữ «hóa học » cũng chưa biết nó ra cái gì nữa kia. Các cô bây giờ thật sướng, bước vào chiến đấu được trang bị biết bao nhiên thứ... Nhưng mà thôi! Chuyện vui thế thôi, còn bây giờ ta bàn công việc.

        Chính ủy im lặng nhìn Phương Thảo đang cúi xuống mân mê chiếc bút máy cài vào mép quyển sổ tay, rồi hỏi:

        — Em đã nghe nói gì về chủ trương mới của Ban chỉ huy tuyến chưa ?

        — Dạ, chưa có phổ biến chính thức nên em cũng chỉ mới nghe loáng thoáng.

        — Em nghe thế nào?

        — Dạ, thấy nói sẽ mở đường tránh!

        — Thẹo ý kiến riêng của em thì mở đường tránh hơn hay khôi phục lại tuyến chính hơn ?

        — Báo cáo chính ủy, trình độ chúng em chưa thể biết được. Nhưng em nghe anh Đính nói thì đường tránh cũng không hơn gì tuyến chính đâu ạ.

        — Nhưng có hai đường vẫn tốt hơn chứ?

        — Dạ, đã đành là tót hơn nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề một cách cơ bản.

        — Theo ý em thì giải quyết thế nào mới là cơ bản ?

        — Dạ, chúng em chưa hiểu mấy về kỹ thuật nhưng em thấy đằng nào thì trước sau cũng phải nghĩ cách xử lý hậu quả để sửa đường thông xe chứ tránh thì tránh thế nào được mãi. Nó đã đánh thì đánh vào đâu mà nó chả đánh. Cuối cùng thì cũng lại vẫn phải sửa thôi ạ.

        — Em đã nghĩ chúng ta nên sửa như thế nào bây giờ chưa ?— Báo cáo chính ủy, chúng em cũng đã tổ chức ra hiện trường nghiên cứu và hiến kế tại chỗ, nhưng cùng chỉ mới đề xuất được vài ý kiến về chống lầy thôi ạ.

        — Các em định chống lầy thế nào?

        — Dạ, báo cáo chính ủy, dùng phá nổ vừa đào đắp vừa lèn ép.

        — Thế nước ngầm thì tiêu đi đâu ?

        — Dạ, tăng cường cống rãnh ạ.

        — Còn vấn đề trượt?

        — Vấn đề này, báo cáo chính ủy là chúng em không đủ sức để phát biểu ý kiến. Nhưng chúng, em nghe các anh kỹ thuật tranh luận với nhau ghê lắm ạ.

        — Tranh luận thế nào ?

        —Báo cáo, các anh ấy nói toàn chuyên môn với nhau, chúng em chỉ hiểu lõm bõm. Các anh ấy chia làm ba phe. Anh Kha, anh Tuệ, anh Khiêm một phe. Anh Triều, anh Cổn mội phe. Còn anh Đính, anh Nhơn vào một phe.

        — Ý kiến của mỗi phe thế nào?

        — Dạ, em không nắm được. Chỉ biết sơ sơ là phe anh Kha thì cho rằng trình độ kỹ thuật hiện hay chưa đủ sức xử lý được cái trượt đó vì quá lớn. Còn phe anh Triều, anh Cổn thì lại xoay ra chỉ trích công tác thiết kế định tuyến.

        — Họ chỉ trích thế nào ?

        — Báo cáo, các anh ấy nói dài lắm ạ. Chúng em chỉ nhớ là các anh ấy bảo cho tuyến đi quá Cô-Tan là chui vào đuờng hầm không lối thoát. Nhưng mà phe anh Kha chống lại kịch liệt. Các anh ấy nói cả tiếng Pháp, tiếng Nga gì với nhau chúng em không hiểu.

        — Còn cậu Đính, cậu Nhơn ?

        — Báo cáo, phe các anh ấy chống lại cả hai phe kia. Những mà các anh ấy hay pha trò lắm ạ!

        — Sao, các ông tướng ấy định xử lý trượt bằng biện pháp khôi hài à? — Chính ủy hỏi đùa.

 69 
 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2020, 06:24:21 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Cái cách uống rượu của người dân tộc Thái ở Sơn La cũng khác các nơi khác: sau khi chạm chén rượu đầu tiên, thế nào cũng phải nghiêng chén, đổ một chút rượu xuống đất về phía bên trái mình. Tôi tò mò tìm hiểu thì được giải thích: đúng ra là phải lấy ngón tay út chấm vào chén rượu rồi nhỏ mấy giọt xuống bên trái mình cho con ma nhà mình, sau đó chấm tiếp và nhỏ mấy giọt sang bên phải cho con ma nhà người, tiếp đến lại chấm và nhỏ mấy giọt nữa xuống giữa chỗ ngồi cho thổ công thổ địa gì đó. Phong tục ấy dần dà được "cắt xén" bớt đi cho thuận tiện, tức là chỉ đổ một lần về phía bên trái thôi.

        Tôi thấy đấy là một nét rất nhân văn nên học theo. Một lần, khi vào tiệc rượu, một em phát hiện ra tôi làm động tác ấy liền thắc mắc:

        - Ơ, anh Huy không phải người Sơn La mà sao lại biết phong tục của người Sơn La thế nhỉ?.

        - Cũng biết đấy! - tôi trả lời như những người ở đây vẫn hay trả lời.

        - Thế thì phải uống riêng với anh một chén thôi!

        - Ừ, uống thôi!

        Uống riêng với nhau là phải rót chén đầy. Tôi thấy tôi với em ngồi cách nhau một người. Tôi liền nói:

        - Phải rót cho cả người "báng lẩu" nữa chứ!

        Ẹm tròn mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Chẳng là, nếu ở giữa mình và người sẽ uống riêng với mình có một ai đó thì người ấy là người "báng lẩu" -  người "gánh rượu". Nó tựa như người gánh đôi thùng gánh nước ấy và đương nhiên là người ấy cũng phải được rót đầy chén để chạm. Sau thủ tục ấy rồi mới chạm riêng từng thành phần, uống xong thì người được mời phải mời lại người vừa mời mình và sau mỗi lần uống là bắt tay. Uống bao nhiêu chén, bấy nhiêu lần bắt tay. Thủ tục ấy như là để "khẳng định" rằng mình đã uống hết. Có nơi còn bày ra chuyện sau khi uống hết liền xòe bàn tay trái ra, đập mạnh miệng chén xuống và giơ tay cho biết rằng "chính quyền đã đóng dấu xác nhận". Ai để "dấu" bị nhòe - tức là vẫn còn rượu trong chén (mà ta quen gọi là "rông- đen") thì sẽ bị phạt, phải uống lại cho đến khi "con dấu" tròn trịa mới thôi.

        Động tác uống xong rồi bắt tay không rõ xuất xứ từ đâu nhưng sau này tôi thấy nhiều nơi áp dụng lắm. Ai cũng nói rằng nguồn gốc chuyện ấy là ở quê hương mình. Tôi chẳng muốn tranh luận làm gì.

        Một lần trong bữa rượu, sau khi đã dăm bảy lượt nâng chén, có người hỏi tôi:

        - Mày có biết tại sao lại gọi là dốc Cun rồi chợ Lồ không?

        - Không biết đâu vớ! - tôi vừa cười vừa trả lời.

        - Thế này này, ngày xưa người ta vẫn gọi là "dốc Cu", có hai chữ thôi, còn chợ thì tận ba chữ cơ. Rồi khi cái cán bộ Việt Minh đến thì bảo là tên ấy nghe không được đâu, xấu lắm, tục tĩu lắm, bèn lấy cái chữ thứ ba của chợ ghép cho vào dốc. Thế là chợ còn hai chữ, dốc thành ba chữ, mới là chợ Lồ, dốc Cun đấy!

        Tôi nghe xong bật cười, tất cả cũng cười ầm lên. Ôi! Những người dân miền sơn cước ngày thông minh mà tế nhị, hóm hỉnh làm sao. Thế là lại rót rượu, lại nâng chén:

        - Nào, uống vì cái dốc, vì cái chợ nào!

        - Cạn chén thôi, "au hành" thôi!

        Cuộc vui cứ thế kéo dài, rượu cứ rót tràn, cứ nâng, cứ uống... Uống đi! uống đi! Đừng sợ hết rượu! Suối ở đây không bao giờ cạn mà!...

        Cuộc sống với mọi chuyện cứ đơn giản như vậy!

        Thực ra, chỉ khi quen biết nhau, thân thiết quý mến nhau thì mới được như thế. Tất cả đều sống chan hòa, cởi mở, không khách sáo, nói năng ăn uống lại còn có phần bỗ bã nữa. Đúng là không gì bằng sự thông hiểu, sự quý mến nhau thật!

        Lần chúng tôi lên Nà Sản, Sơn La để tìm chỗ ở mới cho Tiểu đoàn căn cứ sân bay vì chỗ ở hiện giờ có nhiều điều không ổn. Nó vừa xa sân bay, đường vào căn cứ thì hẻo lánh, nhỏ như lối ngõ, hai bên đầy lau sậy um tùm. Được mỗi cái là ở gần mó nước (nguồn nước) thôi. Mấy anh em tôi vào Tiểu đoàn, nói nội dung và yêu cầu của chuyến đi công tác xong thì đi khảo sát, tìm địa điểm mới. Chúng tôi tìm được một nơi có thể nói là "đắc địa" vì đất ở đấy bằng phẳng, gần đường quốc lộ, tiện việc di chuyển, cơ động, lại gần sân bay, nên việc canh gác, triển khai cho nhiệm vụ rất hợp lí. Đang đứng ở gần đoạn cuối dốc, anh phó đoàn của chúng tôi vừa lấy tay khoát khoát ra hiệu, vừa giải thích, tình cờ có một chị người Thái "cưỡi" trên chiếc xe đạp nam lao từ trên dốc xuống. Hình như chị có nói điều gì đó nhưng chúng tôi không hiểu vì ngôn ngữ bất đồng. Chưa ai kịp định thần, xe của chị đã lao trúng người anh phó đoàn. Cả hai lăn kềnh xuống rãnh bên lề đường. Rất may là không ai bị sây sát gì. Hai người đứng lên, phủi bụi ở quần áo, anh phó đoàn của chúng tôi với nét mặt căng thẳng, hỏi to:

        - Thế mày không thấy tao đứng ở đây à?.

        - Thế mày tưởng tao biết đi xe đạp à? - chị người Thái hồn nhiên hỏi lại.

        Tất cả chúng tôi phá lên cười. Hai người nhìn nhau rồi cũng cười ngặt nghẽo. Thế là "hòa cả làng", "vui như Tết"... Thì ra, mọi chuyện ở vùng sơn cước này đều đơn giản, không phức tạp như miền xuôi. Dưới miền xuôi, sau cú va chạm ấy chắc sẽ to tiếng với nhau lắm mà rồi có khi "thượng cẳng chân, hạ cẳng tay" nữa cũng chưa biết chừng. Cuộc đời này đã phức tạp lắm rồi, sao con người lại cứ muốn cho nó phức tạp hơn lên thế nhỉ, sao không cư xử với nhau, sao không suy nghĩ và hành động cho đơn giản đi giống như chị người Thái kia nhỉ?.

        Cứ mỗi lần tôi đi, tôi lại gặp nhiều điều, tôi lại suy tư, lại dằn vặt...

        Con người ta cứ tự mình làm khổ mình thôi. Trên đời này, có loài vật nào như thế đâu!

        Những chuyện thuộc về giai thoại của người Thái, người Mông (người Mèo) thì còn nhiều nhiều lắm. Họ đă từng là "lãnh địa" riêng, là "Khu tự trị Thái Mèo" cơ mà, nên đương nhiên, họ cũng có cái lí, cái lẽ riêng của họ chứ!...

 70 
 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2020, 06:22:18 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Mọi người đều thừa nhận rằng đây là một cuộc mạo hiểm. Nhưng không còn có lối thoát nào khác. Trong trường hợp kế hoạch bị thất bại, trung tâm quân sự chính trị Nga sẽ cho nhóm xung kích hành động : hễ Hô-vơn từ chối không nhận hối lộ thì phải khử hắn ngay. Nếu thấy mật hiệu của Hen- mút Ti-man, các đội viên xung kích Nga sẽ phải tấn công vào khối bốn mươi sáu, làm như đẽ giải phóng các đồng chí sắp bị dùng vào những thí nghiệm y học, và giết Hô-vơn. Đồng thời họ cũng có thể trừng trị cả lão Cu-snhia Cu-sna-rép, nhà lão này cũng ở gần đấy. Các anh em tham gia cuộc tập kích tự nguyện hy sinh thân mình vì sự nghiệp chung.

        Hen-mút Ti-man không rời Hô-vơn nửa bước trong hai tuẫn liền để theo dõi hắn. Đồng chỉ chờ thời cơ thuận lợi. Bất cứ lúc nào, các nhà yêu nước Nga cũng sẵn sàng xông đến giết tên SS mà họ căm thù.

        Cuối cùng, một tuần trước lễ Nô-en, giờ phút bao lâu mong đợi đã đến. Nếu trong lòng hắn vui vẻ thì đôi khi tên thiếu tá SS cũng hạ mình nói chuyện với Ti-man, thậm chí chơi cờ với đồng chí. Hắn đã có tâm trạng như thể hôm thứ bảy. Hắn tới bệnh viện, giải quyết nhanh chóng công việc trước mắt rồi gọi Ti-man vào.

        — Anh bày quân cờ ra đi. Tôi sẽ thanh toán ngay với anh. Về thất bại lần trước.

        — Chuyện ấy thì chúng ta còn phải chờ xem, thưa ngài thiếu tá.

        Ở Bu-khen-van, Hen-mút Ti-man được, coi là một trong những người chơi cờ giỏi nhất. Đồng chí bầy quân cờ rất nhanh rồi nói rành rọt một cách đầy ý nghĩa.

        — Bây giờ tôi sẽ làm cho ngài mất vui trước lễ Nô-en...

        Ván cờdiễn ra ác liệt, thắng lợi lúc ngả sang bên này, lúc ngả sang bên kia, rồi kết thúc với phần thắng về phía Hô-vơn. Hen-mút Ti-man đã «thua» rất khéo. Nhiều lần đồng chí định mở đầu câu chuyện cần thiết, nhưng cứ ngập ngừng mãi. Máu chảy giần giật như búa đập vào hai bèn thái dương, miệng khô cả lại. Bây giờ bắt đầu nào, bây giờ bắt đầu nào...

        — Hô-vơn nhận thấy vẻ xúc động của Ti-man. Nhưng hắn lại hiểu khác.

        — Thế nào, anh không thích thua lắm à? Đúng đấy ! Bây giờ tôi sẽ chiếu cho anh bí ngay tức khắc — tên thiếu tá di quân mã — Chiếu !

        Ti-man đã «thua» một cách tài tình. Thắng lợi làm cho tên thiếu tá như mọc cánh. Hắn thậm chí trở nên tốt bụng. Hắn cười nhạo, ném cho Ti-man một điếu thuốc lá.

        — Anh có thể hút thuốc được, nghe nói hút thuốc đôi khi cũng có lợi đấy.

        Ti-man liếm cặp môi khô rồi hỏi :

        — Thưa ngài thiếu tá, tôi có thể nêu với ngài một cãu hỏi không nằm trong công tác, hay như người ta thường nói, một câu hỏi trước đêm giáng sinh được không ạ ?

        — Tôi nghe đây.

        — Thưa ngài thiếu tá, hình như có lần ngài kề rằng ngài có một trang trại riêng. Ở gần Phơ-rai- bua. Ở đấy có những chỗ đẹp lắm !

        Hô-vơn nở một nụ cười.

        — Không khí ở đấy thật là tốt ! Ở vùng Thụy- sĩ thuộc Đức của chúng tôi ấy ! Trong mùa này vùng ấy đẹp như thế nào, anh không tưởng tượng được đâu.

        Ti-man hơi ngả người về phía trước.

        — Thưa ngài thiếu tá... Xin ngái tha thứ cho cái tính tò mò, thu nhập của ngài về trang trại ấy được bao nhiêu ạ ?

        Hô-vơn châm thuốc hút rồi nói thật oai:

        — Ba ngàn trừ tất cả các khoản.

        «Đừng nói khoác, anh bạn thân mến ạ, — Ti-man nghĩ thầm, — anh chỉ thu nhập được một ngàn tám trăm bốn mươi hai mác thôi»

        — Thưa ngài thiếu tá, nếu như bây giờ người ta đặt lên bàn cho ngài... — Ti-man ngừng lời một lát rồi mơ màng nói rành rọt : — Chẳng hạn một món tiền bằng thu nhập của ngài trong mười lăm năm, thì thế nào ạ ?

        Hô-vơn đưa mắt lên nhìn Ti-man rồi bật cười.

        — Tôi không phải là một người mơ mộng.

        Ti-man vẫn không thôi:

        — Nhưng dù sao cũng sắp đến Nô-en rồi, cung có thể mơ ước được một chút. Ngài thử tưởng tượng, một lúc nào đó, ngài mở cửa phòng làm việc và nhìn thấy trên bàn của ngài ba mươi ngàn mác...

        — Chuyện ngớ ngẩn, — tên bác sĩ trường nói, — các anh toàn nói những chuyện ngớ ngẩn. —  Hắn nín lặng một lát rồi lại bật cười, — Cộng sản ! Mơ mộng hao huyền ! Tất cả các anh đều như thế hết... Các anh sống bằng những ảo tưởng ! Lúc thì các anh đem thiên đường dưới trần, đem cái chủ nghĩa cộng sản ấy hứa hẹn với các dân tộc, lúc thì các anh bịa ra mọi thứ kế hoạch năm năm...

        Hô-vơn dụi điếu thuốc lá vào cái gạt tàn rồi nói tiếp :

        — Cần phải học tập người Mỹ. Ở đấy người ta không ước mơ mà làm ra tiền — rồi hắn khẽ nói bằng một giọng khác hẳn vì xem ra câu hỏi của Ti-man đã trúng đích. — Thế nhưng bà tiên tốt bụng nào sẽ đặt món tiền ấy lên bàn ?

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM