Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Mười Hai, 2019, 09:48:46 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 81 
 vào lúc: 02 Tháng Mười Hai, 2019, 11:59:11 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Rồi hai người họ lại ôm siết lấy nhau khi Nguyễn Văn Bảy buộc xong chiếc khăn đặc trưng Nam Bộ có từ thời đi mở đất của Tổ tiên.

        - Đây là chiếc khăn dùng để vắt vai của người Nam Bộ - Đồng Tháp quê tôi. Chiếc khăn có từ thời ông cha chúng tôi đi mở đất. Bình thường dùng để lau mồ hôi, lau mặt, lau mình khi tắm, che nắng, che mưa, hay quấn cho đỡ lạnh khi mưa gió hay mùa đông về. Đàn ông Nam Bộ có thể không có áo, chứ không thể thiếu khăn. Đặc biệt là dùng nó vào những trường hợp khẩn cấp!

        - Khẩn cấp? - Anh bạn Mỹ trố mắt.

        - Đúng vậy. Đó là khi người khẩn hoang bị rắn hổ mây hàng 5 - 7 kg rượt bắt để ăn thịt, người bị nạn phải dùng chiếc khăn này để tự giải thoát cho mình.

        - Bằng cách nào với chiếc khăn nhỏ bé?

        - Người ta vứt chiếc khăn có mồ hôi người lại cho rắn, nó sựng lại và quấn vội lấy chiếc khăn, xem như bắt được con mồi, và cứ thế người bị hổ mầy đuổi chạy thoát.

        Mọi người đều cười, cứ ngờ ngợ là chuyện tiếu lâm. Anh phiên dịch cũng cười khiến câu chuyện thần kỳ về chiếc khăn rằn bị dừng lại. Sau đó, câu chuyện được tiếp tục bởi câu hỏi của người bạn Mỹ.

        - Anh đã từng bị rắn đuổi...?

        - Không, chỉ nghe người lớn tuổi kể lại thôi. Thời mình lớn, quê mình không còn nhiều rừng rú nữa. Tôi tặng anh chiếc khăn là tặng cả lịch sử khẩn hoang của vùng đất Nam Bộ quê tôi đấy. Chúc anh, chị, và cháu gái vui.

        - Cảm ơn! Cảm ơn!

        Người dẫn chương trình mời tất cả đại biểu vào hội trường. Cuộc giao lưu bắt đầu.

        Hầu hết những người có mặt đều ngoài 70 tuổi. Dẫu vậy, người Mỹ trông vẫn trẻ trung, quắc thước hơn những anh hùng áo vải khăn rằn như Nguyễn Văn Bảy. Một số người vẫn nhận ra nhau sau những lần gặp trước.

        - Chào những người bạn của tôi!

        - Chào Bảy, chào Bảy! - Cựu phi công từng đến nhà Nguyễn Văn Bảy - Steve Richhie, Chalie Plumb nhận ngay ra ông.

        - Chào hai ông bạn của tôi! Chào buổi sáng...

        Rồi họ trào vào lòng nhau. Những câu chuyện về nhau, về chiến tranh bắt đầu râm ran cùng những tiếng cười sảng khoái. Những cái bắt tay. Những tiếng vỗ tay.

        - Ông này ngày xưa bắn hạ tôi đây. Xin chào!

        - Ôi, người bạn phía bên kia của tôi!

        - Người hay về trong giấc mơ của tôi đây! Xin chào tất cả các bạn!

        Phía trong bức tường sân khấu hiện ra dòng chữ bằng tiếng Mỹ: “From doglights to dente” (Từ không chiến đến hòa giải)

        Phía Việt Nam, cựu phi công - Trung tướng - Nguyễn Đức Soát thay mặt đoàn phát biểu:

        - Thưa quý vị! Cách đây hơn 40 năm - chúng ta - các phi công trẻ đều thực hiện nhiệm vụ mà đất nước giao cho mình. Ngày nay, khi quan hệ hai nước tốt lên, chúng ta gặp nhau, thăm nhau, cùng nhau nhìn lại các trận đánh ngày xưa để hiểu thêm về nhau, cùng nhau chia sẻ nỗi đau mất mát mà cuộc chiến đã để lại cho mỗi bên. Nhưng mục đích cao hơn cả là để góp phần xây dựng mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ nhằm gác lại quá khứ, hướng đến tương lai... Xin gửi đến các bạn và gia đình lời thăm hỏi, sẻ chia niềm vui nỗi buồn và tình cảm thân mến, chân thành của chúng tôi...!

        Sau tiếng vỗ tay, một cựu phi công Mỹ phát biểu theo lời giới thiệu của người dẫn chương trình.

        - Thưa các bạn! Hơn 50 năm trước, năm 1965, Bắc Việt có 40 phi công. Và 40 phi công này đã chiến đấu chống lại Hải quân Mỹ, Không quân Mỹ, Thủy quân Lục chiến Mỹ, và các lực lượng chiến đấu từ các nước đồng minh của Mỹ. Chúng ta khác họ: chúng ta có thể trở về nhà sau 10 tháng chiến đấu, còn họ, họ đã ở quê nhà rồi; nhưng họ luôn phải trở lại chiến trường, họ phải bỏ cả đời mình để chiến đấu. Với tính kiên trì và lòng dũng cảm ấy, họ đã đạt được điêu mà họ muốn... Sau hơn 40 năm sau (1973 - 2017) chúng ta đã tự thử thách mình bằng sự mách bảo của ý thức hệ, đã trả lời một cách cay đắng bằng những từ ngữ mông lung về cuộc chiến tranh mà cả hai phía chúng ta đều can dự một cách tự nguyện. Cuối cùng ta đã vượt qua được, đã chế ngự được lòng tự trọng của người mang trong lòng mình chính nghĩa của ý thức hệ. Và chúng ta - người từ hai phía quyết tìm đến đây đề gặp nhau với tinh thần của khẩu hiệu kia: Từ không chiến đến hòa giải. Giờ chúng ta ngồi đây như những người bạn. Một cuộc hạnh ngộ. Hãy mạnh dạn khép lại quá khứ để hướng tới tương lai và tình hữu nghị của hai Dân tộc Việt Nam - Hoa Kỳ. Xin chúc mừng niềm vui và hạnh phúc cho tất cả chúng ta!

        Lại những tràng pháo tay vang dội kéo dài. Những ánh mắt khả ái quay qua, quay lại tìm nhau trong nụ cười hồ hởi. Lần lượt những câu chuyện, những lời tâm sự được nói lên cùng những tấm lòng.

 82 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:57:57 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Thái độ của Trung Quốc đối với Pháp

Giọng điệu của các bản tuyên bố của Trung Quốc đối với Pháp hoàn toàn khác hẳn. Chắc chắn là có thể lập một bảng dài về những lời lên án mạnh mẽ chống những hành động của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng vẫn tưởng chúng toát ra khi đọc báo và nghe đài Trung Quốc. Về điểm này là một ý định có hệ thống đẩy Chính phủ Pari giữ những khoảng cách với Oa-sinh-tơn.


Đôi khi Anh cũng được trình bày như là nạn nhân của chính sách của Mỹ. Ví dụ như hồi tháng 8 năm 1953, Nhân dân nhật báo đã đánh giá những kết luận của hội nghị Oa-sinh-tơn (từ 10 đến 14 tháng 7) như là do Mỹ áp đặt và đi ngược lại lợi ích của Anh và Pháp trong chừng mực hội nghị đó đã hủy bỏ một dự án về hội nghị cấp cao bốn nước lớn và thay bằng cuộc họp chỉ ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà thôi96 (Nhân dân nhật báo, 14-8-1953). Cũng theo cách đó, việc giảm khối lượng buôn bán giữa Anh và Pháp đã được trình bày như là kết quả của chính sách Mỹ nhằm cố ý gạt Anh ra khỏi thị trường châu Á97 (People's China, 1-10-1953. Xem chương V ở đoạn sau).


Nhưng chính là hướng về nước Pháp mà Trung Quốc tăng lên nhiều lần những lời kêu gọi rời bỏ đường lối chính trị của Mỹ với hiểu biết rõ rằng những luận điểm như vậy có nhiều khả năng có được tiếng vang nào đó ở Pari hơn là Luân Đôn98 (Chính sách của Trung Quốc đối với Pháp (và ở mức thấp nhất đối với Anh) biểu hiện trước chừng nào một chính sách tương lai của Trung Quốc ở châu Âu, Xem chương XI).


Chắc chắn là chiến dịch dư luận đó đã được phát triển để làm hậu thuẫn cho một chính sách, còn khá cứng rắn ở nhiều khía cạnh. Ngày khai mạc Hội nghị Béc-lin, 25 tháng 1-sự trùng hợp ngày tháng này không phải là ngẫu nhiên-cũng là ngày các nhà đương cục Trung Hoa tịch thu tài sản của hai công ty Pháp: Tiết kiệm quốc tế và Địa ốc Trung Hoa (International Saving Society và Foncière de Chine) và của một công ty Anh-Pháp về đầu tư đất đai (Anglo-French Land Investment Company), cả ba đều đặt trụ sở ở Thượng Hải99 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn/số 297-298/25-1-1954). Tuy vậy ở một bình diện khác, những cuộc vận động qua trung gia Liên Xô và Thụy Sĩ để trả lại tự do những kiều dân Pháp cuối cùng còn bị giam giữ (đa số là những nhà tu hành) và cho phép một số người khác được rời khỏi Trung Quốc, đã đạt được vài kết quả phải chăng bởi vì trước khi hội nghị họp, có 11 nhà truyền giáo được thả và có thể rời Trung Quốc qua Hồng Công. Khi khai mạc hội nghị, ở Trung Quốc còn 17 người Pháp còn bị giam giữ, 2 người còn bị giam chặt và 2 người khác bị từ chối không được cấp thị thực xuất cảnh100 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Những người Pháp bị giam giữ ở Trung Quốc", 27-4-1954. Tướng Ra-đa Đại sứ Pakistan tại Trung Quốc cũng đã có một vai trò nhận định trong việc giao trả tự do này. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Ô-giê/Karachi/số 89-91/26-2-1954). Nhưng các tháng 2, 3, 4 năm 1954 là những tháng Việt Minh được Trung Quốc viện trợ lớn nhất. Nếu việc chuyển giao viện trợ đó nằm trong lô-gích của một chính sách giúp đỡ công cuộc giải phóng nhân dân Việt Nam và nếu những viện trợ đó theo quan điểm của Trung Quốc, nhằm biện hộ cho sự cần thiết của cả Trung Quốc lẫn Việt Minh giành thế mạnh trong thương lượng một khi họ đã hướng về thương lượng thì theo quan điểm của Pháp, những viện trợ đó không phải là như vậy mà chỉ có thể coi là những bằng chứng rõ ràng về sự ngoan cố của Trung Quốc.


Ở Pari, thái độ ngoan cố đó chỉ có thể củng cố chiều hướng dư luận có lợi cho một cuộc can thiệp của Mỹ ở Đông Dương.

Vì vậy, có lẽ để giảm nhẹ hậu quả do chính sách của mình, có thể gây ra, Trung Quốc đã chủ động phát động ngay sau hội nghị Béc-lin một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm tách càng xa càng tốt nước Pháp khỏi đồng minh là Mỹ, làm mọi việc để chứng minh lợi ích của Pháp chỉ có thể được bảo vệ nếu chống lại Mỹ. "Chính sách của Oa-sinh-tơn đối với Đông Dương-tạp chí People's China (nhân dân Trung Quốc) viết: không phải chỉ chống lại lợi ích của nhân dân các nước Đông Dương mà còn chống lại lợi ích của nhân dân Pháp"101 (People's China, 1-4-1954, tr.9).


Theo hướng đó, đại sự ký do tạp chí Thế giới trí thức công bố cuối tháng 4 năm 1954 đã đăng lại một số lớn những lời tuyên bố của các nhân vật Pháp đối lập các lợi ích của Pháp với lợi ích của Mỹ. Ví dụ như, một tuyên bố của Lê-ông Pi-nhông (Leon Pignon), Cao ủy Pháp ở Đông Dương, vào tháng 5 năm 1950, đã tố cáo những nguy cơ can thiệp của Mỹ vào các công việc chính trị Đông Dương đang tăng lên theo sự phát triển của viện trợ Mỹ102 (A Chronicle of Principal Events Relating to the Indo-China Question (Đại sự ký về các các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương), sách đã dẫn, 12-5-1950), hoặc là một báo cáo kinh tế Pháp năm 1951 nhấn mạnh đến việc Mỹ âm mưu chiếm đoạt tài nguyên của Việt Nam và chính sách của chính phủ Mỹ trái với lợi ích của tư bản Pháp ở Đông Dương103 (Như trên, ngày 16-3-1951, về điểm này cũng xem P.E-ly, sách đã dẫn, tr.32, đã khẳng định một phần sự phân tích này); hoặc một tuyên bố của Pôn Rây-nô (Paul Raynaud) tháng 8 năm 1951 nói rằng Đông Dương cung cấp cho Mỹ 89% nhu cầu về cao su thiên nhiên và 52% nhu cầu về thiếc và do đó, việc bảo vệ bán đảo phù hợp với việc  bảo vệ lợi ích của quốc gia họ104 (Như trên. Ngày 20-9-1951 (có vẻ như những con số liên quan đến cả Đông Nam châu Á hơn là chỉ nói riêng về Đông Dương). Hai năm sau, Hội nghị Giơ-ne-vơ, tướng Na-va viết không có gì khác: Nguy cơ nghiêm trọng nhất của viện trợ Mỹ là về mặt chính trị. Viện trợ đó sẽ đưa đến sự thay thế dần dần ảnh hưởng của chúng ta bằng ảnh hưởng của Mỹ bên cạnh các quốc gia liên kết. Chúng ta đã đi đến tình trạng trái ngược là nhận viện trợ Mỹ thì hầu như chắc chắn là chúng ta mất Đông Dương, ngay cả nếu sự viện trợ đó giúp chúng ta chiến thắng (H.Na-va, sách đã dẫn, tr.28, 66-67, 96-97/113-138)) v.v...


Theo Trung Quốc, cuộc chiến tranh Đông Dương, phân tích đến cùng đã bị các tổ chức độc quyền Mỹ lợi dụng. Một sự phân công lao động thực sự đã hình thành, Mỹ cung cấp vũ khí (do những người đóng thuế trả tiền) và nước Pháp "cung cấp xác chết". Nước Pháp đã kiệt quệ, trên bờ của sự phá sản, biên giới không còn được  bảo vệ, bấy nhiêu sự suy yếu đó cho phép mỹ kiểm soát chặt chẽ tốt hơn nước Pháp cũng như Đông Dương105 (People's China, 1-7-1954). Ngoài ra, Chính phủ Oa-sinh-tơn đã sẵn sàng thay thế Pháp ở Đông Dương. Nhân dân nhật báo kết luận: "Những âm mưu đen tối của Đa-lét đang đưa nước Pháp đến ngõ cụt, hiển nhiên là xung đột với lợi ích của Pháp"106 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trang hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 136-138, 20-4-1954).


Vậy thái độ duy nhất hợp lý, đáp ứng lợi ích căn bản của Pháp là chính sách hòa bình, độc lập với những âm mưu xâm lược của Mỹ. Theo Trung Quốc, nhân dân Pháp nhất trí đòi hỏi một chính sách nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương và giải phóng nước Pháp khỏi sự can thiệp và kiểm soát của người Mỹ107 (Nhân dân nhật báo, 16-3-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 66-70, 18-3-1954). Rất nhiều tuyên bố của các chính khách Pháp tán thành thương lượng đã được dẫn ra để chứng minh cho luận điểm đó, những tuyên bố của Guy Mô-lê, Mô-ri-xơ Pô-rơ, v.v... mà người ta còn nhớ rằng đã được phát biểu trong một cuộc hội nghị có Trung hoa nhân dân tham dự108 (People's China, ngày 1-4-1954, tr.4. Ngoài ra nên nhớ rằng tổng thống Ô-ri-ôn cũng như Mit-tơ-răng, Plee-ven bao giờ cũng tán thành một cuộc thương lượng như vậy (V.Ô-ri-ôn, sách đã dẫn, tr.195, 295, 507 v.v...)).


Vậy kết quả của hội nghị Giơ-ne-vơ tùy thuộc rộng rãi vào thái độ của Pháp: các đại diện bán chính thức của chính phủ Trung Quốc tại Hồng Công như Fei Yiming, Tổng biên tập của tờ Đại công báo ở địa phương và Pe-rey Chen, cố vấn pháp luật, luật sư bào chữa cho các cơ quan cộng sản ở Hồng Công, đã cho biết một trong những nhiệm vụ đầu tiên của đoàn đại biểu Trung Quốc sẽ là xác định "xem lập trường của Pháp lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đối ngoại của Mỹ, hoặc ngược lại Pháp có thể khẳng định rõ ràng ý muốn giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương hay không109 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Hồng Công/số 129-140 và 141-146/20-4-1954). Tờ Nhân dân nhật báo xác nhận điều đó một cách gần như chính thức: "Nhân dân toàn thế giới chăm chú theo dõi Chính phủ Pháp, chờ xem họ có chính sách như thế nào tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Không còn nghi ngờ gì nữa là nước Pháp có thể hy vọng nhìn vào tương lai với điều kiện Pháp khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, và cố gắng lập lại hòa bình ở Đông Dương, phù hợp với lợi ích của nước Pháp"110 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công, số 137-138/20-4-1954. Cũng xem Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Lập trường của Trung hoa nhân dân sắp đến ngày họp Hội nghị Giơ-ne-vơ, 24-4-1954). Đó là những lý lẽ mà một số nhà quan sát và nhà thương lượng của Pháp không thể tỏ ra vô tình111 (Xem chương V ở đoạn sau).


Khi Hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường quốc tế của Trung Quốc là tương đối rõ ràng. Xem ra lập trường đó được tóm tắt đầy đủ trong bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp đề ngày 24 tháng 4 năm 1954:

-Trung Hoa cộng sản mong muốn vai trò cường quốc thứ năm.

-Địa vị ưu thế của Trung Quốc ở châu Á phải được thừa nhận: Không có vấn đề nào ở đây có thể được giải quyết mà không có sự góp sức của Trung Quốc.

-Tự do trao đổi buôn bán giữa Đông và Tây phải được khôi phục vì lợi ích của tất cả các bên112 (Điểm này sẽ được nghiên cứu chi tiết ở chương V).

-Chính sách của Trung Quốc là một chính sách hòa bình dựa trên nền độc lập của các dân tộc.

-Ngược lại, chính sách của Mỹ là một chính sách chiến tranh. Mỹ tìm cách bao vây Trung Quốc bằng một vành đai căn cứ quân sự. Ở Đông Dương, họ cố gắng tăng cường chiến tranh và thay thế địa vị của Pháp.

-Hòa bình phải được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập của các dân tộc. Lợi ích của nước Pháp là tách khỏi chính sách của Mỹ và ký kết hòa bình113 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề: "Lập trường của Trung hoa nhân dân gần đến ngày họp hội nghị Giơ-ne-vơ" 24-4-1954. Bản này thêm một điểm cuối cùng: "Hòa bình ở Đông Dương phải được thương lượng trực tiếp hoặc giữa Pháp và Việt Minh hoặc giữa Việt Nam (ngụy-N.D) và Việt Minh". Vấn đề cụ thể về những thủ tục có thể có được của giải pháp cho cuộc xung đột Đông Dương theo quan điểm của Trung Quốc, sẽ được đề cập sau, xem chương IV: "Những bước đầu của Hội nghị về Đông Dương").


Đó là thực sự tinh thần các luận điểm mà đoàn đại biểu của Trung Quốc sẽ  bảo vệ và phát triển ngay từ những gia đoạn đầu của cuộc thương lượng.

 83 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:55:02 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Trung Quốc chuẩn bị hội nghị Giơ-ne-vơ


Trung Quốc đả kích Mỹ

Phản ứng của Trung Quốc đối với tin triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ cũng nói lên mối lo sợ sâu xa của Trung Quốc về cách cư xử của Mỹ. Xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22-2-1954, trong đó Trung Quốc cho biết cảm tưởng đầu tiên của mình, đã nhấn dài dòng đến những thái độ dè dặt của Mỹ đối với cuộc họp đã dự liệu và đến những mối nguy cơ mà một thái độ như vậy sẽ đem lại. Chính phủ Bắc Kinh không giấu diếm rằng họ rất lo ngại là ở Mỹ: những phần tử hiếu chiến tìm cách gây trở ngại cho thỏa thuận đạt được ở hội nghị Béc-lin. Theo tờ báo Trung Quốc, tình hình đó kêu gọi những ai yêu chuộng hòa bình phải cảnh giác cao độ77 (Nhân dân nhật báo, 22-2-1954).


Thực tế, trong tháng 3 và tháng 4, Trung Quốc tố cáo một cách có hệ thống mọi sáng kiến của chính sách Đa-lét, hàng ngày nhắc đi nhắc lại, dưới hình thức này hay hình thức khác rằng "phải chú ý nghiêm chỉnh đến những âm mưu của Mỹ phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ"78 (Thế giới tri thức, 15-3-1954. Dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Bu-đôn/Hồng Công/số 72-73/19-3-1954).


Theo Trung Quốc có nhiều nhân tố buộc Mỹ phải chấp nhận thương lượng tại Giơ-ne-vơ. Đầu tháng 3, tờ Quang minh nhật báo liệt kê một mớ nào là "Mỹ hết ảo tưởng nắm được bí mật nguyên tử", nào là "chiến dịch chạy đua vũ trang (của Mỹ và chư hầu) làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản", nào là "những khó khăn thương mại của các nước tư bản chủ nghĩa" và nhất là "sức mạnh của phe hòa bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội". Vì tất cả những lý do đó, nhưng cũng là để khỏi bị "cô lập với các nước phương Tây khác", đoàn đại biểu Mỹ tại Béc-lin đã phải chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Giơ-ne-vơ79 (Quang minh nhật báo, 11-3-1954).


Nhưng một khi chấp nhận rồi, Mỹ làm mọi việc có thể được cho hội nghị thất bại. Một mặt, họ tiếp tục "phát triển nhanh các lực lượng của bù nhìn Lý Thừa Vãn (..) vi phạm hiệp định đình chiến Triều Tiên" và "ủng hộ Lý Thừa Vãn trong mọi hành động đe dọa và gây áp lực"80 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954). Mặt khác, về Đông Dương, Mỹ trắng trợn "đưa nhân viên không quân (...) đến tham gia trực tiếp vào việc tàn sát nhân dân các nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Pa-thét Lào"81 (Peoplés china, 1-4-1954). Ngoài ra, Bộ Ngoại giao và nghị sĩ quốc hội Mỹ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng "không thể giải quyết vấn đề (...) bằng phương thức hòa bình".


"Đồng thời hãng Thông tấn Tân hoa viết tiếp: Mỹ ép buộc Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh mất lòng dân. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ reo rắc câu chuyện hoang đường nói rằng địa vị cường quốc của Pháp sẽ lung lay nếu Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ còn reo rắc không khí lạc quan về các trận đánh mặc dù bị thiệt hại nặng trên chiến trường. Mục đích của tất cả những việc đó là làm cho nước Pháp phản đối việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, bên ngoài vòng cương tỏa của Mỹ"82 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954).


Ngoài những âm mưu thủ đoạn đó, theo Trung Quốc còn phải thêm việc Chính phủ Oa-sinh-tơn khuyến khích chính sách tái vũ trang Nhật Bản, việc xây dựng các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Phi-luật-tân, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. "Nếu người ta gắn với những việc làm đó với mục đích của hội nghị Giơ-ne-vơ-như Mỹ cũng đã chấp nhận là giải quyết các vấn đề cấp bách ở châu Á bằng thương lượng nhằm làm dịu tình hình quốc tế-người ta buộc phải nhận thấy khoảng cách kỳ lạ giữa lời nói và việc làm của những nhà lãnh đạo Mỹ"83 (Như trên).


Trong ba tuần lễ tháng 4 trước ngày khai mạc Hội nghị Giơ-ne-vơ, Trung Quốc càng đả kích Mỹ nhiều hơn và kịch liệt hơn. Vì vậy "hành động chung" giữa các đồng minh do Đa-lét đề nghị trong diễn văn quan trọng ngày 28-3 ở Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ (Oversea Press Club of America): đã gây nên một sự phản ứng mạnh mẽ trong giới báo chí Trung Quốc. Mọi hình thức quốc tế hóa cuộc chiến tranh bao giờ cũng bị Trung Quốc kiên quyết tố cáo. Ví dụ như Trung Quốc đã tỏ ra rất lo ngại trước ý định của Thái Lan hồi tháng 4-tháng 5-1953, đưa ra trước Liên hiệp quốc84 (Về điểm này, cần nhấn mạnh là Pháp cũng lo sợ như Trung Quốc về sự can thiệp có thể xảy ra của Liên hiệp quốc. Việc đó có thể đẩy nhanh việc đưa đến Đông Dương những quân chí nguyện Trung Quốc như ở Triều Tiên (M.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.39). Đại tá Ghi-éc-ma lúc đó là tùy viên quân sự Pháp tại Băng Cốc đã được giao trách nhiệm giải thích điều đó cho Chính phủ Phi-bun xong-khram. Về phương diện này, lập trường của Pháp gần với Trung Quốc hơn là với Mỹ hay với Anh. Ngoài ra cần lưu ý rằng chính Mỹ đã thúc đẩy Thái Lan đi theo con đường đó, nhưng Chính phủ Băng Cốc thì có vẻ do dự, sách đã dẫn, tr.165), lời kêu gọi ngày 25-12-1953 của Lào gửi các nước trong thế giới tự do chống lại sự xâm lược của Việt Minh, cũng như trước đề nghị của Nam Triều Tiên vào đầu tháng 2 năm 1954, gửi một sư đoàn tới Lào để chiến đống chống cộng sản xâm lược. Chính phủ Bắc Kinh luôn luôn khẳng định lại rằng toàn bộ chính sách của họ ngược lại, là làm cho "chiến tranh Triều Tiên không tái diễn ở bất cứ nơi nào ở châu Á"85 (People's China, 1-1-1954 và cả 1-4-1954). Vậy, đối với Trung Quốc, hành động chung của Mỹ đề nghị chỉ có thể đưa đến một xung đột mới theo kiểu Triều Tiên: "Cái gọi là hành động chung đó sẽ dẫn đến đâu? (...). Cuộc chiến tranh Triều Tiên đưa ra câu trả lời"86 (Tân Hoa xã, Bắc Kinh, 3-4-1954, Nhân dân nhật báo, 3-4-1954). Điều duy nhất mà Mỹ nghĩ đến chỉ là làm căng thẳng thêm tình hình mới về quân sự của Mỹ87 (Về thái độ của Trung Quốc đối với cánh nhìn mới. Xem bài của Cheng Wan, Thế giới tri thức, số 4, 20-2-1954), của sự đoa dọa hạt nhân, những cuộc thí nghiệm nhiệt hạch ở quần đảo Mác-san (Marshall) các ngày 1 và 26 tháng 3 năm 195488 (Phản ứng của Trung Quốc trong bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 1-4-1954 đăng lại trong Survet of China Mainland Press, số 780, 2-4-1954), và của những cuộc tập trận về không quân ở Nam Triều Tiên89 (Nhân dân nhật báo 3-4-1954, Survey of China Mainland Press, số 781, 3-5-1954. Cũng xem Nhân dân nhật báo, 30-3-1954, tr.4 (bản đồ các căn cứ quân sự của Mỹ ở Viễn Đông đe dọa các nước xã hội chủ nghĩa). Việc tăng cường tiềm lực quân sự của Trung Hoa quốc gia (với sự giúp đỡ của Mỹ) trên các đảo ven biển Kim Môn và Mã Tổ90 (H.C.Hinton, Communist China in world Politics (Cộng sản Trung Quốc trong chính trị thế giới) London, Melbourne Mac Milan 1966), cũng như tuyên bố của Thủ tướng Trần Thành ngày 18 tháng 4, nói rằng Trung Hoa quốc gia "sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu trong chừng mực mà sự can thiệp của Trung Hoa quốc gia là một bộ phận của kế hoạch chung"91 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Cat-tan Đài Bắc, số 212/20-4-1954. Tuyên bố nói tiếp như sau: "Một kế hoạch như vậy tùy thuộc vào việc thực hiện một mặt trận thống nhất giữa các quốc gia tự do. Sự thống nhất đó chưa có vì một vài cường quốc (Anh, Pháp) còn mang ảo tưởng về khả năng thỏa hiệp với Cộng sản". Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Tình hình ở Đài Loan", 30-11-1953), chỉ làm tăng thêm mối lo ngại của Trung Quốc. Báo Nhân dân nhật báo, ngày 24 tháng 4 trả lời một cách lạnh lùng: chúng tôi tán thành hòa bình và phản đối chiến tranh. Nhưng chúng tôi không khoanh tay làm ngơ nếu có một cuộc xâm lược vũ trang chống lại chúng tôi"92 (Nhân dân nhật báo, 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Sài Gòn gửi các quốc gia liên kết 22-4-1954).


Cũng theo cách đó, hoạt động ngoại giao của Mỹ trong tháng 4 bị chỉ trích không kém dữ dội. Các thông cáo công bố về kết quả các cuộc gặp gỡ một mặt giữa Đa-lét và I-đơn, và mặt khác giữa Đa-lét và Bi-đôn, ngày 13 và 14 tháng 4 gây nên sự phản đối kịch liệt: trong cả hai trường hợp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ bị lên án là phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ bằng cách lôi kéo Anh và Pháp đi theo chính sách xâm lược về "hành động chung"93 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 15-4-1954 và 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Buy-đôn/Hồng Công/số 137-138, 20-4-1954). Diễn văn ngày 16 tháng 4 của Phó tổng thống Nich-xơn đơn thuần đề nghị gửi quân đội Mỹ đến Đông Dương, cũng bị tố cáo mạnh mẽ, như một "diễn văn của tên lái súng", một "lời kêu gọi chiến tranh"94 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-4-1954 và Tân hoa xã, 20-4-1954).


Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường của Trung Quốc đối với Mỹ cứng rắn hơn bao giờ hết. Chính sách của Mỹ đã được giải thích, không phải là không có vài lý do, như một âm mưu lớn nhằm đè bẹp nước Trung Hoa mới. Ở Bắc Kinh người ta cho rằng Đông Dương chỉ là một yếu tố của hệ thống xâm lược mà Mỹ cố gắng xây dựng dọc biên giới và bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, thái độ của Trung Quốc không phải là vì vậy mà hoàn toàn tiêu cực. Đôi khi ở Bắc Kinh người ta thích nói đến tình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ, và nói đến cả hy vọng được cùng tồn tại trong hòa bình với nhân dân Mỹ95 (Thế giới tri thức, số 8, 20-4-1954, tr.12). Khả năng thương lượng đã được sắp xếp như vậy.

 84 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:48:26 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Nguyễn Văn Thuần




Nguyễn Văn Thuần, sinh năm 1916, dân tộc Kinh, quê ở xã Cộng Hòa, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh, nhập ngũ tháng 9 năm 1945. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đoàn phó bộ binh, trung đoàn 209, đại đoàn 312, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ lúc 10 tuổi đến 28 tuổi, Nguyễn Văn Thuần hết đi ở cho địa chủ lại đi phu, nhiều lần bị địa chủ cường hào đánh đập tàn nhẫn. Năm 1944 Nguyễn Văn Thuần bị bắt đi lính cho Pháp, cuộc đời ở lính cũng bị đánh đập đối xử tệ bạc. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Văn Thuần bị bắt làm tù binh, chúng đánh đập dã man phải đi nhà thương, ở đây Thuần đã tìm cách trốn được về nhà.


Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Văn Thuần xung phong vào bộ đội, chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Từ ngày nhập ngũ tới tháng 7 năm 1954, đồng chí chiến đấu trên chiến trường Bắc Bộ, ở đơn vị chủ lực tập trung, trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ trung đoàn, bao giờ cũng hăng say đánh giặc. Đồng chí, chỉ huy linh hoạt, bình tĩnh, mưu trí, dù trong hoàn cảnh nào cũng dẫn đầu đơn vị vượt qua. Đồng chí Nguyễn Văn Thuần đã tham gia chiến đấu 30 trận, chỉ huy đơn vị diệt gần 1.000 địch, bắt sống hàng trăm tên, tự tay đồng chí diệt gần 200 tên, phá huy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.


Năm 1947, đánh địch càn ở Lạc Điền, Hải Dương, Nguyễn Văn Thuần làm nhiệm vụ bắn trung liên, bố trí hướng chính diện bắn chặn địch và hỗ trợ cho đơn vị xung phong. Đồng chí đã bình tĩnh chờ cho địch vào cách 30 mét mới nổ súng, diệt hàng chục tên lính Pháp đi đầu; khiến bọn còn lại hoảng hốt chạy tán loạn, tạo điều kiện cho đơn vị vận động lên tiêu diệt địch, phá vỡ cuộc càn của chúng.


Trận Phủ Thông (năm 1948), đồng chí phụ trách tiểu đội xung kích, dũng cảm dẫn đầu một tổ xông thẳng vào đồn, dùng dao và mác đánh giáp lá cà với địch rất quyết liệt, cùng đơn vị diệt gọn đồn này.


Trận Phố Ràng (năm 1949), khi nổ súng, địch chống cự quyết liệt, Nguyễn Văn Thuần dẫn tiểu đội xông vào đánh chiếm cửa mở, cướp lựu đạn địch tiếp tục phát triển thọc sâu. Tiểu đội chỉ còn 3 người, đồng chí vẫn động viên đồng đội kiên quyết chiến đấu, đánh chia cắt địch và giữ trận địa.


Trận đánh đồn Ba Huyên (tháng 1 năm 1951), ta tiến công suốt đêm vẫn chưa giải quyết xong, 8 giờ sáng hôm sau, địch phản kích chiếm lại 3 lô cốt quan trọng. Trung đội Nguyễn Văn Thuần được lệnh đánh chiếm lại. Với lối đánh xung phong mãnh liệt, nhanh chóng áp sát địch, chỉ ít phút sau Nguyễn Văn Thuần đã chỉ huy trung đội diệt được 2 lô cốt, bọn còn lại vào lô cốt số ba, ngoan cố chống cự. Đồng chí thu nhặt bộc phá, gói lại thành khối thuốc nổ 10 ki-lô-gam, bò lên đặt và giật nổ phá sập lô cốt, diệt hết bọn địch còn lại, chiếm toàn bộ vị trí. Nguyễn Văn Thuần có tác phong khiêm tốn giản dị, sâu sát gần gũi anh em, đoàn kết thương yêu chăm sóc chiến sĩ, được anh em trong đơn vị rất yêu mến.


Nguyễn Văn Thuần được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng ba, 11 lần được tiểu đoàn, trung đoàn, đại đoàn khen thường và được Hồ Chủ tịch tặng Huy hiệu của Người.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, đồng chí Nguyễn Văn Thuần được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 85 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:45:14 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Sơn Ton




Sơn Ton sinh năm 1933, dân tộc Khơ Me, quê ở xã Lưu Nguyệt Anh, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội trưởng đặc công thuộc trung đoàn 3, bộ đội miền Tây Nam Bộ.


Cách mạng tháng Tám thành công vào lúc Sơn Ton 12 tuổi, đang đi ở đợ. Với nhiệt tình hăng hái của tuổi trẻ, đồng chí tuy vẫn phải làm việc quần quật suốt ngày hầu hạ nhà chủ, nhưng vẫn tích cực   tham   gia công tác cách mạng, canh gác, phá đường ngăn cản địch. Năm 1949, đồng chí tham gia du kích xã, rồi lên du kích tập trung huyện, sau chuyển thành bộ đội địa phương (tháng 1 năm 1953).


Gần 7 năm, Sơn Ton vừa chiến đấu, vừa tham gia hoạt động xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức dân quân du kích chiến đấu trong vùng người dân tộc Khơ Me. Tuy trình độ có hạn, địch lại thường xuyên càn quét đánh phá, tuyên truyền gây hiềm khích chia rẽ dân tộc, cơ sở Đang chưa có nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc, Sơn Ton đã kiên trì vận động quần chúng, vạch rõ âm mưu giặc, giác ngộ, tổ chức thanh niên người Khơ Me kiên quyết đứng lên cầm súng chống Pháp, bảo vệ làng xóm. Trong hoàn cảnh khó khăn ban đầu, Sơn Ton dũng cảm tự tay gài mìn và nổ súng diệt địch trước để đồng bào tin tưởng noi theo. Dần dần Sơn Ton đã xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng tốt, nhiều tổ đội du kích, duy trì và phát triển phong trào chiến tranh du kích trong vùng đồng bào dân tộc Khơ Me ngày một vững chắc.


Một lần xã đang họp hội nghị, có cán bộ tỉnh về dự, địch bao vây tiến công vào, một mình đồng chí dũng cảm chiến đấu bắn chặn, cầm cự với giặc để hội nghị rút an toàn.


Hai năm 1952 - 1953 là thời kỳ khó khăn nhất của huyện Long Phú. Địch thường xuyên dùng 2, 3 tiếu đoàn càn quét, có máy bay, pháo binh bắn phá yểm trợ, đóng đồn bốt khắp trong huyện. Trước tình hình giặc lùng sục khủng bố ác liệt, đội du kích hầu như không còn, cả đội chỉ còn đồng chí và một cán bộ xã đội là vẫn kiên cường cầm súng chống giặc. Suốt 2 năm liền, hai anh em vừa bảo vệ vũ khí, vừa tuyên truyền gây cơ sở, vừa chiến đấu chống giặc, tới trận Mương Ông Tám. Cuối năm 1952, giặc đổ bộ vào xã, đồng chí tổ chức gài lựu đạn, dụ địch vào diệt được nhiều tên, khiến nhân dân phấn khởi tin tưởng, phong trào du kích lại lên. Từ đó Sơn Ton tổ chức được 15 trung đội dân quân và 15 tiểu đội du kích thường xuyên tập luyện sẵn sàng đánh giặc.


Năm 1953, Sơn Ton được điều lên đội du kích tập trung của huyện. Năm 1954, ta mở chiến dịch tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm. Đồng chí dẫn đầu tổ vũ trang tuyên truyền (hầu hết anh em là người Việt) vào tuyên truyền xây dựng cơ sở. Đến sóc (làng) nào đồng chí cũng xung phong vào trước để tuyên truyền giác ngộ đồng bào. Nhiều lần dựa vào nhân mối, Sơn Ton đã táo bạo đến thẳng bốt địch tuyên truyền vận động binh lính quay súng về với nhân dân. Đối với bọn ngoan cố thì kết hợp với dân quân tiến công tiêu diệt hoặc uy hiếp. Kết quả trong 7 tháng hoạt động, tổ vũ trang tuyên truyền đã diệt 67 tên địch bắt sống 100 tên, thu 43 súng, vận động được nhiều binh lính về với nhân dân và động viên được 50 thanh niên tòng quân.


Do tinh thần tích cực, dũng cảm, tác phong gương mẫu khiêm tốn, giản dị, Sơn Ton rất có uy tín với đồng đội và nhân dân địa phương. Đồng chí đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 4 lần được huyện, tỉnh và Miền khen.


Ngày 31 tháng 8 nảm 1955, Sơn Ton được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 86 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:42:17 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Phan Tư




Phan Tư, sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, nhập ngũ tháng 6 năm 1951. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng thuộc đoàn 555 công binh, Cục Công binh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ khi nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, đồng chí Phan Tư đã tham gia 4 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ. Trong các nhiệm vụ: mở đường, phá bom bảo đảm giao thông, phá thác... nhận bất cử nhiệm vụ gì, dù ở cương vị nào, đồng chí cũng luôn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm vượt mọi khó khăn ác liệt, kiên quyết hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Chiến dịch Hòa Bình năm 1952, Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát và phá bom nổ chậm bảo đảm đường giao thông vận chuvển. Có lần địch đánh phá ác liệt, bom nổ rất gần, đất đá tung cả vào hầm, đồng chí vẫn động viên đồng đội bình tĩnh quan sát bom rơi, khi máy bay bay đi, lại ra phá gỡ. Có quả bom nổ chậm chui sâu, phải đào gỡ liên tục 4 giờ liền, quá giờ an toàn quy định, đồng chí vẫn dũng cảm kiên quyết tháo bằng được quả bom để thông đường.


Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Phan Tư làm nhiệm vụ quan sát. Khi máy bay địch quay trở lại ném bom tiếp, Phan Tư đã dũng cảm nằm ngay tại mặt đường quan sát để nắm chắc vị trí bom rơi, đánh dấu cho anh em phá gỡ. Một quả bom nổ chậm nằm giữa mặt đường, không nắm được giờ an toàn, nên không ai dám vượt qua, dân công bị ùn lại. Đồng chí đã dũng cảm đốt đuốc đứng cạnh quả bom, làm lộ tiêu cho dân công vượt qua an toàn nhanh chóng.


Tháng 2 năm 1954, trung đội Phan Tư nhận nhiệm vụ phá thác trên sông Nậm Na. Lần đầu phá thác chưa có kinh nghiệm, gặp nhiều khó khăn: nước chảy xiết, trời mùa đông rét buốt, địa hình khó, nhảy xuống không khéo sẽ bị nước cuốn trôi, hoặc người đập vào đá. Đồng chí xung phong nghiên cứu phá trước, rút kinh nghiệm cho toàn đơn vị. Sau nhiều lần lặn xuống nghiên cứu tìm nơi đặt bộc phá, đồng chí đã quyết định ôm khối thuốc nổ 6 ki-lô-gam, ngòi đốt sẵn, nhoài người xuống ấn khối thuốc nổ vào kẽ đá, rồi nhanh chóng ngoi lên bơi vào bờ, vừa xong thì bộc phá nổ. Tiếp theo, đồng chí trực tiếp phá 4 thác khác để rút kinh nghiệm. Nhờ đó, trung đội đồng chí đã phá được hơn 30 thác, bảo đảm thời gian quy định, thông luồng cho thuyền chở vũ khí phục vụ chiến dịch Điện Biên Phú được dễ dàng và an toàn.


Không những lo lắng cho đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, mà Phan Tư còn thường xuyên chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt, vì vậy trung đội do đồng chí chỉ huy luôn luôn là trung đội dẫn đầu đại đội trong công tác, chiến đấu cũng như sinh hoạt, rèn luyện.


Phan Tư đã được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhì, 11 lần được trung đoàn, đại đoàn và Tổng cục Chính trị khen thưởng.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Phan Tư được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vủ trang nhân dân.

 87 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:31:31 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Nguyễn Văn Ty




Nguyễn Văn Ty sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ tháng 2 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là đại đội trưởng bộ binh thuộc trung đoàn 88, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Nguyễn Văn Ty xung phong vào bộ đội ba lần nhưng vì người nhỏ, sức yếu, mãi đến lần thứ tư đồng chí mới được chấp nhận. Từ ngày nhập ngũ đến tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Ty đã tham gia 7 chiến dịch lớn trên chiến trường Bắc Bộ, với 35 trận đánh, trận nào cũng thể hiện tinh thần dũng cảm, táo bạo, bị thương vẫn không rời trận địa, lập công xuất sắc. Khi làm chiến sĩ liên lạc, cũng như khi phụ trách tiểu đội trưởng bộc phá, bất kỳ nhiệm vụ nào, trong hoàn cảnh nào, đồng chí đều chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh.


Chiến dịch Biên Giới năm 1950, khi xung phong lên chiếm điểm cao, địch tập trung hỏa lực bắn xả xuống, Nguyễn Văn Ty bị thương vào chân phải, máu chảy nhiều, liền lấy chân trái giẫm đè lên vết thương cho máu đỡ chảy và tiếp tục chiến đấu, ném lựu đạn diệt tại chỗ 5 tên, tạo điều kiện cho đơn vị xung phong đánh chiếm điểm cao, diệt xong địch mới chịu băng bó.


Chiến dịch Hòa Bình năm 1951, đơn vị đánh trận Tu Vũ, đồng chí làm tổ trưởng thông tin liên lạc. Khi trận đánh gay go ác liệt, cả tổ bị thương vong, đồng chí làm thay nhiệm vụ cả 4 người, và đã dũng cảm vượt dưới làn mưa đạn địch, lên xuống qua cửa mở 18 lần, truyền đạt mệnh lệnh chính xác kịp thời, góp phần cùng đơn vị tiêu diệt vị trí Tu Vũ.


Trận đánh đồi Độc Lập (chiến dịch Điện Biên Phủ). Nguvễn Văn Ty phụ trách tiểu đội đánh bộc phá. Trời tối, địch tập trung hỏa lực bắn dữ dội về hướng cửa mở, tiểu đội bạn đánh bị chệch hướng. Đồng chí lên quan sát rồi dẫn tiểu đội vào thay, tự mình đánh quả bộc phá đầu, chỉnh lại đúng hướng đường mở, sau đó tiếp tục chỉ huy tiểu đội đánh liên tục 28 quả bộc phá, phá tan 7 lớp rào. Đến hàng rào cuối cùng, địch bắn và ném lựu đạn ra ác liệt, đồng chí bị thương vào mắt trái, máu chảy tràn đầy mặt, nhưng vẫn cố dùng tay căng mẳt phải để quan sát, chỉ huy tiểu đội phá bung nốt hàng rào cuối cùng, mở thông cửa cho xung kích vào diệt gọn vị trí địch.


Nguyễn Văn Ty là một cán bộ gương mẫu, tận tụy, luôn luôn chú trọng xây dựng đơn vị tiến bộ về mọi mặt. Bản thân tuy có nhiều thành tích nhưng đồng chí rất khiêm tốn, giản dị, được đồng đội trong đơn vị tin yêu.


Nguyễn Văn Ty đã được tặng thưởng 3 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba và 4 lần được bầu là Chiến sĩ thi đua của đơn vị.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Nguyễn Văn Ty được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 88 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:26:58 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Võ Văn Ngôm




Võ Văn Ngôm sinh năm 1926, dân tộc Kinh, quê ở xã Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh, nhập ngũ tháng 1 năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là tiểu đội phó công binh thuộc đội công binh bộ đội địa phương tỉnh Mỹ Tho (cũ), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Võ Văn Ngôm nhà rất nghèo, lên 10 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ, mãi tới khi Cách mạng tháng Tám thành công mới chấm dứt được cuộc đời đi ở, làm thuê. Tháng 2 năm 1946, đồng chí tham gia du kích xã, đã chiến đấu 3 trận, trận nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tháng 1 năm 1949, đồng chí xung phong vào bộ đội tập trung của tỉnh và từ đó đến tháng 7 năm 1954, hoạt động chiến đấu ở vùng Mỹ Tho, chuyên làm nhiệm vụ đánh phá giao thông đường bộ và đánh tàu chiến địch trên sông. Trong nhiều trận đánh gay go, phức tạp, đồng chí đã luôn nêu cao quyết tâm chiến đấu, xung phong gương mẫu từ việc điều tra nắm địch, đến hành động dũng cảm táo bạo dẫn đầu đơn vị khi bước vào chiến đấu. Đồng chí đã tham gia đánh 15 trận, góp phần chủ yếu vào việc phá hủy 4 chiếc cầu lớn, đánh chìm 25 tàu, gây cho địch nhiều thiệt hại, khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Cầu Bến Lức là một chiếc cầu loại lớn ở Nam Bộ nằm trên quốc lộ 4, địch canh phòng rất nghiêm ngặt. Qua 6 tháng kiên trì điều tra và tập luyện, đêm 24 tháng 2 năm 1952, Võ Văn Ngôm mang khối thuốc nổ nặng 50 ki-lô-gam dẫn đầu đơn vị bơi qua sông vào đánh. Bộc phá nổ đã diệt 6 tiểu đội lính bảo vệ và đánh sập một nhịp cầu dài 50 mét, làm ngưng trệ giao thông của địch trên tuyến đường này trong 7 tháng liền.


Nhận nhiệm vụ đánh tiếp cầu Tân An, đồng chí đeo 30 ki-lô-gam vũ khí và thuốc nổ dẫn đầu tổ bơi 30, 40 ki-lô-mét suốt hai đêm. Địa hình trống trải, ban ngày phải giấu mình ở các bụi ô rô, sình lầy. Đồng chí đã động viên đồng đội chịu đựng gian khổ, giữ bí mật tuyệt đối và bảo quản vũ khí thật tốt. Đêm thứ hai tổ đồng chí luồn vào đánh sập cầu Tân An hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Cuối năm 1952, đồng chí tham gia đánh đoàn tàu gồm 22 chiếc của địch đậu ở bến cảng thị xã Vĩnh Long. Đây là lực lượng ứng chiến của địch để tiến công vùng Đồng Tháp Mười và kiểm soát hệ thống đồn bốt hai bờ sông Cửu Long. Nhận được lệnh, đồng chí dẫn một tổ vào đánh chiếc tàu mang số 720 là chiếc tàu trọng điểm, đồng thời diệt một số tàu hộ vệ xung quanh. Đặt xong thuốc nổ quay ra thì dây điện bị đứt, địch lại đang tuần tra, đồng chí cho cả tổ rút ra, còn mình ở lại chập điện ngay chỗ dây đứt. Mìn nổ, chiếc tàu 720 chìm ngay tại chỗ và 6 chiếc tàu bên cạnh cũng bị nổ và chìm theo.


Trong chiến đấu cũng như trong công tác, Võ Văn Ngôm luôn luôn gương mẫu, nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Đồng chí sống khiêm tốn, giản dị, hết lòng thương yêu đồng đội, được mọi người tin yêu, quý mến.


Võ Văn Ngôm đã được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 4 lần được tỉnh và khu tuyên dương công trạng và tặng bằng khen.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Võ Văn Ngôm được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 89 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:22:22 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Núp




Núp sinh năm 1914, dân tộc Ba Na, quê ở thôn Sê Tơ, xã Tơ Tung, huyện KBang, tỉnh Gia Lai. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là thôn đội trưởng du kích, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Núp mồ côi cha mẹ từ khi 10 tuổi. Năm 15 tuổi Núp đã phải đi phu và bị đánh đập dã man, nên đồng chí sớm căm thủ quân giặc. Năm 1935, quân Pháp về lùng bắt phu, dân làng lánh hết vào rừng, một mình đồng chí ở lại dũng cảm dùng nỏ bắn chết một tên giặc. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Lính Pháp qua làng, đồng chí mưu trí đi báo Nhật về vây bắt bọn lính Pháp, lợi dụng cơ hội lộn xộn, Núp lấy được một khẩu súng và 10 hòm đạn.


Trong Cách mạng tháng Tám, đồng chí tích cực tham gia tổng khơi nghĩa cướp chĩnh quyền, và từ đó đến năm 1954, hoạt động chiến đấu ở địa phương.


Trong hoàn cảnh rất khó khăn: địch liên tiếp càn quét, đốt làng, dồn dân, phá rẫy, nhân dân thì trình độ giác ngộ chưa cao, lại đói rét, thiếu muối, bệnh tật nhiều... đồng chí đã luôn luôn dũng cảm, gương mẫu đi đầu trong chiến đấu và sản xuất, kiên trì vận động tổ chức nhân dân vượt qua mọi khó khăn, vừa bảo đảm sản xuất tốt, vừa chiến đấu chống giặc thắng lợi, duy trì và phát triển phong trào cách mạng ở địa phương ngày một vững chắc.


Suốt 3 năm từ 1947 đến 1949, là những năm đầu kháng chiến gay go gian khổ nhất. Địa phương đồng chí Núp mất liên lạc với trên, nên gặp muôn vàn khó khăn. Nhưng đồng chú Núp vẫn tin tưởng ở thắng lợi. Nắm vững phương châm "trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh", đồng chí Núp đã lãnh đạo nhân dân thay đổi chỗ ở năm lần. Đi đến khu rừng nào đồng chí cũng vận động nhân dân phát triển sản xuất bảo đảm đủ lương ăn, xây dựng làng chiến đấu, tổ chức du kích kiên quyết đánh giặc diệt được 80 tên.


Năm 1950, địch ra sức càn quét bình định, khủng bố vùng du kích Tây Nguyên rất gắt gao, đồng chí Núp vẫn kiên trì vận động dân làng ra sức rào làng chiến đấu, sáng tạo nhiều cách đánh dùng chông mìn, cạm bẫy, tên nỏ diệt địch, bảo vệ nương rẫy và dân làng.


Đặc biệt trong trận đánh địch càn tháng 10 năm 1952, liên tục 7 ngày liền đồng chí chỉ huy trung đội du kích ngoan cường luồn rừng chiến đấu với cả trung đoàn địch, diệt nhiều tên, phá vỡ cuộc càn của chúng, bảo vệ được tài sản và tính mạng của nhân dân. Bản thân đồng chí đã gương mẫu về mọi mặt, đồng chí còn giáo dục xây dựng gia đình gương mẫu về sản xuất, tích cực tham gia canh gác, chiến đấu giữ làng, nuôi dưỡng cất giấu cán bộ, bài trừ mê tín dị đoan, đoàn kết với dân bản.


Núp hoàn toàn được dân làng và đồng đội mến yêu, tnh cậy, xứng đáng là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc cứu nước của đồng bào Tây Nguyên.


Núp đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, được Hồ Chủ tịch tặng một áo lụa và huy hiệu của Người.


Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Núp được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 90 
 vào lúc: 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:18:23 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Anh hùng Chu Văn Mùi



Chu Văn Mùi sinh năm 1929, dân tộc Kinh, quê ở xã Thượng Lan, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, nhập ngũ năm 1949. Khi được tuyên dương Anh hùng đồng chí là trung đội trưởng thông tin vô tuyến điện thuộc trung đoàn 102, đại đoàn 308, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Từ khi nhập ngũ đến năm 1954, Chu Văn Mùi đã tham gia bảy chiến dịch lớn, đảm nhận những công tác khác nhau; pháo thủ, chiến sĩ nuôi quân, chiến sĩ xung kích, tiểu đội phó súng cối, tiểu đội trưởng thông tin liên lạc; nhiệm vụ nào đồng chí cũng nêu cao tinh thần bền bỉ, quyết vượt qua mọi thử thách, ác liệt hoàn thành một cách xuất sắc.


Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Chu Văn Mùi phụ trách máy vô tuyến điện, phối thuộc với đơn vị bạn chiến đấu phòng ngự trên đồi A1 và đồi 311B. Trong điều kiện bom đạn địch vô cùng ác liệt, đồng chí đã thể hiện rõ tinh thần ngoan cường dũng cảm, kiên quyết bám trận địa, giữ vững liên lạc với sự chỉ huy và điều khiển cho pháo binh ta bắn chính xác tiêu diệt nhiều địch, bẻ gãy nhiều đợt phản kích của chúng.


Khi được lệnh vào phối thuộc phòng ngự đồi A1, Chu Văn Mùi đã dũng cảm vượt qua làn mưa đạn của địch, tới nơi kịp thời đặt máy làm việc luôn. Ngày thứ nhất, đồng chí đặt đài quan sát báo cho pháo binh ta bắn chính xác diệt nhiều địch, đánh lui hai đợt phản kích của chúng. Ngày hôm sau, đơn vị được lệnh rút ra, tổ đồng chí được lệnh ở lại nắm tình hình địch và báo cáo, đồng chí vừa chỉ huy tổ chiến đấu, dũng cảm bảo vệ thương binh, giữ vững trận địa, vừa báo cáo kịp thời tình hình địch với sở chỉ huy. Pháo địch bắn mỗi lúc càng thêm ác liệt, địch lên mỗi lúc một đông, tổ chỉ còn lại hai người, đồng chí vẫn kiên quyết chiến đấu giữ vững trận địa cho đến khi được lệnh rút lui.


Trận phòng ngự trên đồi 311B, suốt 4 ngày đêm liền đơn vị phải nằm dưới hầm. Trời mưa, hầm sập và ngập nước, bom đạn các cỡ của địch thường xuyên bắn về dữ dội, đồng chí vẫn bảo vệ được máy, giữ vững liên lạc với sở chỉ huy. Có lần máy bị hỏng nặng, đồng chí đã dũng cảm đi tìm máy của địch tháo lấy phụ tùng đem về thay thế, kịp thời bắt liên lạc, góp phần tích cực phục vụ cho việc chỉ huy chiến đấu thắng lợi.


Chu Văn Mùi là một cán bộ thông tin gương mẫu về mọi mặt, với đức tính khiêm tốn, giản dị, cởi mở, chân thành, đồng chí được đồng đội hết sức tin yêu.

Chu Văn Mùi đã 9 lần được trung đoàn và đại đoàn khen.

Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Chu Văn Mùi được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM