Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Sáu, 2020, 05:11:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 81 
 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2020, 05:31:19 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        CÁC NHÀ GIẢI MÃ VÔ DANH

        Cùng với việc hóa giải mật mã Enigma của Đức, Bletchley Park cũng thành công trong việc giải mã các thông tin của Nhật Bản và Italia. Các thông tin tình báo thu nhận được từ ba nguồn này được đặt mật danh là Ultra, và các hồ sơ Tình báo Ultra có trách nhiệm giúp cho quân Đồng minh có được một lợi thế rõ ràng trên tất cả các vũ đài trọng yếu của cuộc chiến. Ở Bắc Phi, Ultra đã hỗ trợ cho việc tiêu diệt các đường tiếp tế của Đức và thông báo cho quân Đồng minh về tình trạng lực lượng của Tướng Rommel, giúp cho Quân đoàn 8 đánh bại đội quân tiên phong của Đức. Ultra cũng đã cảnh báo về sự xâm lược của Đức vào Hy Lạp, giúp cho đội quân Anh ứng phó kịp, nên không bị thiệt hại nặng nề. Trong thực tế, Ultra đã cung cấp những báo cáo chính xác về tình hình của kẻ thù trên toàn vùng Địa Trung hải. Những thông tin này lại càng đặc biệt có giá trị khi mà quân Đồng minh đổ bộ vào Italia và Sicily năm 1943.

        Năm 1944, Ultra đã đóng một vai trò chủ yếu trong cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào châu Âu. Chẳng hạn, trong vài tháng trước ngày D (ngày quân Anh-Mỹ đổ bộ lên miền Bắc nước Pháp), việc giải mã của Bletchley đã cung cấp một bức tranh chi tiết về sự tập trung quân của Đức dọc bờ biển nước Pháp. Ngài Harry Hinsley, nhà lịch sử quân sự của Tình báo Anh trong thời kỳ chiến tranh, đã viết:

        Khi (thông tin tình báo) Ultra được gia tăng, nó đã gây ra một vài cú sốc không mấy dễ chịu. Đặc biệt là nó đã tiết lộ vào nửa cuối tháng Năm - tiếp sau những dấu hiệu đáng lo ngại ban đầu cho thấy người Đức đã quyết định rằng vùng lãnh thổ nằm giữa Le Havre và Cherbourg chắc chắn sẽ là vùng tấn công, và thậm chí có thể là vùng tấn công chủ yếu - rằng họ (quân Đức) đang gửi thêm quân tiếp viện tới Normandy và vùng bán đảo Cherbourg. Song chứng cứ này đã đến đúng lúc, giúp quân Đồng minh có thể điều chỉnh kế hoạch đổ bộ vào bãi biển Utah; và có một thực tế đặc biệt là trước khi cuộc viễn chinh khởi hành, ước tính của quân Đồng minh về số lượng, nhận dạng và vị trí các sư đoàn địch ở miền tây, tổng cộng gồm năm mươi tám, là chính xác về tổng số, nhưng có hai điều là quan trọng về phương diện tác chiến.

        Trong suốt cuộc chiến tranh, các nhà giải mã Bletchley đã biết rằng việc giải mã của họ có tầm quan trọng sống còn, và cuộc tới thăm của Churchill càng khẳng định thêm quan điểm này. Song các nhà giải mã không bao giờ được cho biết các chi tiết của chiến dịch hay được biết những thông tin giải mã của họ đã được sử dụng như thế nào. Chẳng hạn, các nhà giải mã không hề được cho biết thông tin nào về ngày D và họ đã lập kế hoạch tổ chức một buổi khiêu vũ vào ngay buổi tối hôm trước cuộc đổ bộ. Điều này khiến viên chỉ huy Travis, Giám đốc Bletchley và là người duy nhất ở đó biết được tin cơ mật về ngày D, lo lắng. Ông ta không thể yêu cầu Ban Khiêu vũ của Nhà số 6 hủy bỏ sự kiện này vì điều đó sẽ chẳng khác gì một gợi ý rõ ràng rằng một cuộc tấn công lớn đang tới gần và như vậy là vi phạm quy tắc an ninh. Buổi khiêu vũ vẫn được phép tiến hành. Tình cờ, do thời tiết xấu, nên cuộc đổ bộ đã bị hoãn lại 24 giờ, nhờ đó mà các nhà giải mã đã có đủ thời gian để lại sức sau cuộc vui thâu đêm. Vào ngày đổ bộ, quân kháng chiến Pháp đã phá hủy phương tiện viễn thông trên đất liền, buộc quân Đức phải liên lạc bằng vô tuyến, điều này đã giúp cho Bletchley có cơ hội để chặn bắt và giải mã thêm nhiều thông tin hơn. Vào thời điểm có tính bước ngoặt này của cuộc chiến, Bletchley đã có thể cung cấp một bức tranh còn chi tiết hơn nữa về các chiến dịch quân sự của Đức.

        Stuart Milner-Barry, một trong số các nhà giải mã của Nhà số 6 đã viết: “Tôi không thể tưởng tượng được là có cuộc chiến tranh nào từ thời xưa lại diễn ra mà trong đó một phía đọc được đều đặn các tin tình báo hải quân và lục quân của phía bên kia”. Một báo cáo của Mỹ cũng có kết luận tương tự: “Ultra đã tạo ra trong các bộ tham mưu cao cấp và tại thời điểm cao trào về chính trị, một trạng thái tinh thần có thể làm thay đổi việc ra quyết định. Cảm giác đi guốc vào bụng kẻ thù thật là một cảm giác vô cùng thoải mái. Nó tăng dần theo thời gian một cách khó có thể cảm nhận được khi bạn quan sát một cách đều đặn và đầy đủ những suy nghĩ, cách thức, thói quen và hành động của đối phương. Biết như vậy sẽ khiến kế hoạch của bạn ít do dự hơn và chắc chắn hơn, ít đau khổ hơn và vui vẻ hơn.”

 82 
 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2020, 12:18:32 am 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
     

      Thượng úy về phòng dùng điện thoại liên lạc với cục phản gián. Ô tô đã có sẵn. Giấy má của kẻ bị tình nghi đã được kiểm tra tỉ mỉ và kín đáo. Chúng dùng điện đánh về Bu-ca-rét để thẩm tra. Chúng bí mật chụp ảnh người thương khách. Sáng sớm, lúc ông ta nắm lấy tay vặn ở cửa đã để lại dấu vết tay lên đó rất rõ...

      Chiếc ô tô buýt tiếp tục chạy, đã sắp đến ga cuối cùng. Nó đỗ lại ở trạm kiểm soát thông hành ngoài thành phố. Tên Goát-man có bộ mặt ngựa, chính thằng đã đưa Át-ke Kê-ri-mốp về cục phản gián trước đây, kiểm soát giấy tờ của hành khách. Chúng mời tất cả vào buồng của trạm trưởng. Tên Goát-man gọi từng người lại bàn và lần lượt thẩm vấn. Sau đó, giấy tờ được trả lại và mỗi người kiểm soát xong lại ra ngay để chiếm chỗ ngồi trên xe.

      Bốn người đã qua xong xuôi. A-lếch-dăng Gờ-rít-kô là người thứ năm tiến lại phía bàn. Tên Goát-man lật hộ chiếu của anh, xem qua lời chứng nhận của cảnh sát cho phép nhập cảnh vào một số vùng ở miền tây, hỏi mấy câu. Gờ-rít-kô trả lời trôi chảy.

     - Tốt. Ngài Pô-pét-ki, ngài có thể tự do. Và tôi có thể khen : ngài nói tiếng Đức thạo quá. Hầu như không có sai giọng mà tôi ngờ rằng mỗi người Ru-ma-ni nhất định phải mắc... Ngài còn biết những ngoại ngữ khác nữa không ?

     - Chỉ có tiếng mẹ đẻ và tiếng của đất nước vĩ đại các ông.

    - Tốt lắm. Tôi cũng chẳng giữ ngài làm gì nữa.

     Gờ-rít-kô đứng dậy, nghiêng đầu chào rồi ra thẳng. Giờ đây anh càng lo lắng hơn. Lẽ tất nhiên, chúng hỏi vấn đề ngoại ngữ không phải là thường tình.

     Hai phút sau, Phốc cũng rời phòng giấy của Goát-man. Hành khách đã lên đủ, ô-tô lại chuyển bánh chạy vào thành phố.

     Gờ-rít-kô xuống xe ở ngay quảng trường trung tâm rồi vào khách sạn. Mai là thứ tư, ngày gặp mặt với đồng chí. Nhưng Gờ-rít-kô hiểu rằng : anh không thể ra chỗ hẹn được nếu không vượt khỏi sự theo dõi của kẻ thù. Anh nhất định phải gặp cho bằng được Kê-ri-mốp. Một tên đặc vụ của trường gián điệp ấy đã lọt vào tay phản gián Liên-xô. Bây giờ người ta đã biết rõ thêm về nó. Đồng chí liên lạc có nhiệm vụ giao mệnh lệnh cho Kê-ri-mốp chuẩn bị tiếp một toán nhảy dù, giúp đỡ họ lấy hồ sơ tài liệu rồi sau đó tiêu diệt trường gián điệp, bọn lãnh đạo và tất cả các học viên.

      Khách sạn đây rồi. Người thường trực như đang đợi anh : thuê buồng rất dễ, không có sự chậm chạp rắc rối như thường lệ. Ngay lúc cầm chìa khóa đi dọc hàng hiên, Gờ-rit-kô lại nhìn thấy kẻ đi trên xe với anh lúc đầu. Tuy tên đặc vụ không mặc áo mầu vàng nhạt như trước nhưng Gờ-rít-kô còn nhớ hắn rất rõ nên nhận ra ngay.

      Anh vào buồng đặt túi hành lý xuống, cởi áo vắt lên lưng ghế. Gờ-rít-kô đến bên cửa sổ và suy tính. Buồng này ở tầng hai, cửa sổ nhìn ra khu vườn. Và Gờ-rít-kô đã quyết định. Lúc trời tối anh tắt đèn, lặng lẽ mở cửa sổ. Anh sẽ tụt xuống vườn và chuồn luôn. Thời gian đợi đến nửa đêm, anh có thể vào một rạp xi-nê nào đó «nhằm lấy» một mụ đàn bà và đến với mụ ta...Ý nghĩ ấy xúc phạm đến anh thật nhưng không còn lối thoát nào khác, anh không thể lang thang ban đêm ngoài đường phố. Gờ-rít-kô không hề nghĩ đến hộ chiếu còn trong tay người thường trực vì anh còn có những giấy tờ khác. Ở hộ chiếu tuy có tấm ảnh... Dù sao thì Gờ-rít-kô cũng hy vọng rằng mai anh có thể ra chỗ hẹn gặp rồi sau đó biến luôn...

      Anh ngồi lên khung cửa, vắt chân qua rồi tụt xuống, hai tay víu lấy bậc. Cách mặt đất không xa lắm. Anh buông tay và nhảy xuống dưới.
     - Không được động dậy! Giơ tay lên !

      Gờ-rít-kô vừa đứng thẳng dậy vội co người tháo chạy. Anh vấp phải một kẻ nào đó rồi đấm đá. Tiếng kêu bật lên trong đêm tối. Một tên ngã lôi theo cả Gờ-rít-kô. Một thằng ôm lấy anh, mấy thằng nữa lao vào... Hai bên không cân sức. Gờ-rít-kô đã bị trói giật cánh khuỷu, anh nheo mắt vì bị ánh đèn pin sáng chói dọi thẳng vào mắt.

      Ô tô đến. Chúng đẩy Gờ-rít-kô lên ghế sau. Hai bên có hai tên ngồi kèm. Đằng trước cạnh tài xế là tên đặc vụ đã theo dõi anh trong khách sạn. Chiếc va-li nhỏ của Gờ-rít-kô đang nằm yên trên đầu gối hắn.

     Tên ngồi bên phải ra lệnh:
     - Đi thôi.

     Gờ-rít-kô liếc mắt và nhìn thấy gã đàn ông gầy, dáng ngưòi cao cao, mặc một bộ thường phục màu tối, đội bê-rê đen.

     Chính hắn là Gơ-rê-gô Ốt.

     Một giờ sau, tướng Vây đích thân hỏi cung người bị bắt.

     A-lếch-dăng Gờ-rít-kô ngồi nhìn vào góc nhà im lặng.
     - Cũng được — Vây nói — Anh không muốn nói tên mình, dân tộc nào, làm việc cho ai. Điều đó cũng dễ hiểu. Anh là người rất cứng rắn và tôi rất kính nể những người như thế. Nhưng đối với anh thế là kết liễu rồi.

     Hắn chỉ những giấy má trên mặt bàn rồi tiếp:
     - Đây là trả lời của Bu-ca-rét, đây là tài liệu của những người đã đi theo anh nhiều ngày. Anh không phải là người Ru-ma-ni nào cả. Anh là người Nga.

     Mi mắt của Gờ-rit-kô hơi rung.
     - Anh là người Nga. Chúng tôi biết thế lắm. Anh hãy khai tất cả ra : đi đâu, làm gì, gặp ai ?...

     Gờ-rít-kô vẫn im lặng.
     - Cũng có thể anh làm những việc này vì... — Tên tướng lướt nhanh lên tờ giấy — vì Na-ta-sa của anh ?

      Gờ-rít-kô vươn người lên rất nhanh và nhìn thẳng vào mắt tên tướng Vây.

      - Và vì S-tép-ca của anh?

      Giọng tên trùm phản gián không một chút nhiệt tình.

    A-lếch-dăng Gờ-rít-kô như bị điện giật. Anh thoáng nhớ lại đêm ở Cờ-ra-kốp. Tất nhiên rồi, chính cái đêm ngủ chung phòng ở khách sạn anh đã mơ thấy gia đình, vợ và con anh. Những cơn ác mộng nào đó cứ hành hạ anh mãi, hình như là có điều gì bất hạnh xẩy đến cho vợ con anh... Anh nhìn thấy họ và anh muốn bảo vệ, muốn gọi to... Và có lẽ anh đã gọi tên họ lên thật !...

      Gờ-rít-kô nhớ lúc thức dậy ngồi trên giường anh thấy một giường bỏ trống. Lúc ấy anh cũng chẳng để ý gì chuyện đó. Nhưng giờ đây !... Chính cái thằng già nọ đã nghe lỏm và đi báo...

     - Thế nào ? — Vây nhắc lại.

      Gờ-rít-kô thở dài nặng nhọc rồi lại quay người đi.

      Sau đó chúng đưa anh vào ngục tối. Tướng Vây cũng đến đây và dự vào cuộc tra hỏi bằng dùi cui. Sau trận đòn, A-lếch-dăng Gờ-rít-kô trở thành một khối thịt tứa máu và mềm nhũn.

      Nhưng anh không hé nửa lời.

     Ngày hôm sau chúng đưa anh đi bắn!...

 83 
 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2020, 12:16:00 am 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
                                                                                                                  

                                                                                                                    HỒI THỨ MƯỜI SÁU.

                                                                                                                     TẬP BAY TRÊN TUYẾT





      Ánh mặt trời rọi trên tuyết trắng, chiếu hắt lên lóa cả mắt.

      Nhân dân đứng chật sân ga Giáp Bì. Mọi người cười nói rất vui vẻ, vừa sưởi nắng, vừa ngóng trông về phía nam, mong đợi hai đoàn xe trở về.

       Hôm nay là ngày thứ năm rồi, theo đúng kế hoạch thì hai đoàn xe trưa nay sẽ trở về. Vì thế từ sáng sớm nhân dân đã tới ga ngóng đợi. Trẻ em, nhất là những thiếu niên lớn tuổi, nô đùa chạy nhảy, đánh cầu tuyết hoặc chơi đuổi nhau. Có lúc xô cả vào người lớn, bị mắng, các chú lại ùa ra khỏi nhà ga, trèo lên tận đỉnh đồi phía tây nam để đón "hai cô" trở về - các chú gọi hai đoàn xe là hai "cô xe".

       Anh em công nhân chốc chốc lại ghé sát tai vào đường sắt để nghe xem "chân của hai cô" đã về chưa. Mọi ngưòi cố quên đói, thỉnh thoảng lại thắt chặt thêm thắt lưng. Người ta ước mong làm thế nào có thể kéo đường ray lại như kéo sợi dây thừng để lôi ngay hai đoàn xe về trước mắt.

      Chiều rồi. Mặt trời đã ngả dần xuống rừng cây trên núi tây nam. Ánh nắng đã nhạt dần. Tiếng cười nói cũng giảm bớt, mọi người đã lộ vẻ thất vọng.

      Một trận gió lạnh thổi cuộn tuyết lên. Bụi tuyết bay tung, giội vào người, vào mặt càng tăng thêm lòng bi quan và thất vọng. Rất nhiều bà già và phụ nữ không chịu được gió rét buổi chiều đã chán nản bỏ về, người đứng ở sân ga mỗi lúc một thưa dần. Không khí trở nên âm thầm lạnh lẽo. Chỉ còn lại những thanh niên và thiếu nhi, họ vẫn không thất vọng, vẫn cười, vẫn nói, nắm tuyết ăn như ăn bánh bao.

     Kiếm Ba đã mấy lần giở đồng hồ ra xem. Nhìn mặt trời sắp lặn, anh cũng có vẻ suy nghĩ, nhưng anh tin chắc chắn rằng không xảy ra việc gì. Anh đoán chừng ở quãng đường sắt Tấn Tuy chuyển sang đường sắt lâm nghiệp phải mất nhiều thời giờ chuyển hàng, nên xe về trễ. Anh tươi cười đi về chỗ đám thanh thiếu niên ngồi trên đống củi.

      - Thế nào, chán nản rồi ư? "Hai cô" sắp về rồi đấy!

      - Chưa chán nản đâu, thủ trưởng 203 ạ.

      Đó là câu nói của chú bé Song Hỷ, con giai bác lái xe Trương Đại Sơn, chú giương hai con mắt đen láy nhìn Kiếm Ba, rồi nhún mình nhảy từ trên đống gỗ xuống mặt đất, xắn lại cái quần rách, giơ tay gọi to:
      - Chúng mày đừng nản! Lại đây đón "hai cô" đi!

      - Đúng rồi, lại đi đi!

      Cả bọn trẻ con lại nhảy ùa từ trên đống gỗ xuống đất, rồi chạy rối rít lên cái gò phía tây nam.

     Bọn trẻ em đi khỏi, sân ga càng lạnh lẽo thêm. Trừ phân đội ra, hầu như không còn mấy người nữa. Kiếm Ba và phân đội nhìn đoàn thiếu niên và nhi đồng tung tăng chạy lên đồi. Thấy một thiếu niên giống như Song Hỷ, trèo lên một cây to, đến gần ngọn cây, bỗng nhiên rơi tuột xuống đất, sau đó lại thấy đám trẻ con chạy rối rít vẫy tay la gọi.

      Kiếm Ba lo ngại hét to;
      - Một chú bé nữa từ trên cây xuống đất. Huân Thương, Bạch Như đâu?

      Huân Thương và Bạch Như trả lời:
      - Có.

      Rồi chạy thẳng lên phía đồi. Đám trẻ con vẫn chạy nhảy rối rít từ trên đồi xuống. Kiếm Ba nâng ống nhòm lên nhìn: chạy đi đầu chính là chú Song Hỷ, mình đầy những tuyết. Kiếm Ba mỉm cười.
     - Không phải đi nữa, xem kìa. Song Hỷ nó đang vui mừng cuống quít chạy về.

     Các chiến sĩ đều nhìn về phía chú bé:
     - Nhất định chúng nó thấy tàu về rồi.

      Tu tu...Tu tu...

      Tiếng còi xe lửa vui vui từ phương xa vọng lại. Huân Thương vừa gọi to, vừa chạy về phía chân gò.

      - Xe lửa về rồi!

      Trước sân ga các chiến sĩ đều reo mừng gọi to:
      - Bà con ơi, xe lửa về rồi!

      Huân Thương chạy tới chân gò, thì vừa gặp bọn trẻ con chạy xuống. Chúng gọi rối rít:
      - Bác đội trưởng Lưu ơi, xe về rồi! Xe về rồi!

      Vừa nói chúng vừa chạy ven chân núi để đón xe. Vừa lúc đó thì xe lại rúc lên một hồi còi dài và đã chạy về gần tới nơi.

     Toàn thôn nhộn nhịp hẳn lên. Mọi người vừa kêu vừa gọi, chạy ùa về phía sân ga. Xe xình xịch chạy tới giữa tiếng hoan hô của mọi người.

      Cao Ba và một tiểu đội được phái tới để bảo vệ xe, oai hùng đứng trước khẩu súng máy trên toa đầu, miệng cười tay vẫy, chào gọi mọi người.

      Hai đoàn xe lần lượt dừng lại trước cửa ga. Cao Ba cùng đơn vị đi bảo vệ nhảy xuống xe, chạy đến trước mặt Kiếm Ba, dàn thành hàng ngang, đứng nghiêm chào:
     - Báo cáo thủ trưởng 203, theo lệnh đồng chí, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ. Thủ trưởng 201 và 202 có gửi thư cho đồng chí và phái một đơn vị đi theo bảo vệ xe.

      Báo cáo xong, Cao Ba chuyển thư cho Kiếm Ba. Tiểu đội trưởng Quách Khuê Vũ tiến ra khỏi hàng ngũ, giơ tay chào báo cáo:
      - Báo cáo thủ trưởng 203! Tôi Quách Khuê Vũ, tiểu đội trưởng thuộc đại đội cảnh vệ được lệnh đi áp tải đoàn xe, bây giờ chờ lệnh của đồng chí.

      Kiếm Ba cười giơ tay chào lại:
      - Hãy báo cáo cho mọi người biết các đồng chí đã đem những gì tới cho nhân dân.

      Quách Khuê Vũ và các chiến sĩ trả lời:
      - Có !

      Nhân dân vòng trong vòng ngoài quanh Quách Khuê Vũ và các chiến sĩ, vỗ tay hoan hô rầm trời.

      Kiếm Ba bắt tay đồng chí lái xe Trương Đại Sơn, rồi anh xé bức thư mới nhận được ra đọc. Vừa đọc, vừa tươi cười nói:
      - Hay lắm, hay lắm! Thế là giải quyết được vấn đề.

      Anh gọi Huân Thương:
     -  "Xe tăng"! Thổi còi tập hợp.

      Tiếng còi của Huân Thương nổi lên, tiếng cười nói im bặt. Kiếm Ba trèo lên một toa chở đầy lương thực. Mọi người đổ xô tới chung quanh anh. Kiếm Ba giơ cao lá thư, cười nói:
      - Thưa các đồng chí công nhân và đồng bào toàn thôn! Đảng và Chính phủ đã gửi tới cho chúng ta cơm ăn, áo mặc. Chính phủ cho dân ta hai vạn tấn gạo cứu tế. Anh em bộ đội cũng tiết kiệm lương thực, gửi giúp chúng ta một vạn cân. Cấp trên quyết định 3 vạn cân gạo ấy giúp hẳn cho đồng bào không lấy tiền.

      Toàn thể nhân dân vỗ tay, hô to:
      - Đảng cộng sản muôn năm! Giải phóng quân muôn năm!...

 84 
 vào lúc: 29 Tháng Năm, 2020, 12:13:43 am 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
     

      - Nào chúng ta cùng thỏa thuận với nhau như thế này nhé - tên dự thẩm vân vê chiếc bút chì vót nhọn trong tay, tiếp tục. — Tôi sẽ không hỏi thêm cô một câu nào nữa đâu. Chúng tôi đã biết tất cả…Không cần có cô chúng tôi vẫn cứ biết... tôi phải khen ngợi cô vì cô đã tỏ ra rất cừ khi bị hỏi cung. Cô là một phụ nữ thông minh và dũng cảm. Nhưng nếu cô cứ tiếp tục xử sự như vậy thì chỉ vô ích mà thôi. Đấy cô xem, phôn Sêlia đã sớm hiểu ra rồi đấy – im lặng khi hỏi cung chỉ có hại. Cô không tin lời tôi nói sao ?...Mật danh của ông ta là Ariét, còn của cô là Anta. Có đúng vậy không nào ?

      Tên dự thẩm có vẻ khoái chí vì thành công và thắng lợi hắn vừa đạt được trước người phụ nữ gan góc này. Với cô ta không thể tiếp tục chơi trò "ú tim” được nữa, Cần phải đánh quỵ cô ta để cho cô ta thấy rằng ván bài đã lật ngửa và bắt cô ta phải nói về những người khác…    

       Inda cũng nghĩ như vậy. Tên dự thẩm này muốn gì đây? Tại sao một kẻ cục cằn tàn ác như hắn, kẻ đã từng khoe khoang rằng chưa bao giờ lại chịu bó tay trong suốt mười năm làm nghề tra hỏi này bỗng nhiên lại tỏ ra cởi mở và thân thiện đến thế nhỉ ? Có gì ẩn giấu sau nụ cười khoan dung của hắn ? Inda im lặng. Cứ như thế có lẽ lại tốt hơn, cứ mặc xác cho muốn ba hoa gì cũng được.   

      - Ồ, hãy nghe tôi nói đây, cô Schiôbe. Tôi muốn giúp đỡ cô. Cô có muốn tôi nói cho cô biết là chúng tôi đã và chưa biết gì về cô không ? Thế này nhé, cách đây ít lâu chúng tôi bắt được một hiệu thính viên có liên lạc với Mátxcơva. Lúc đầu hắn cũng im lặng như cô; nhưng rồi người ta đã bắt hắn phải khai ra…Nhờ có hắn mà chúng tôi đã giải mã được một số bức điện. Trong một bức điện có nói đến tên cô... Lúc đầu thì đấy là bằng chứng duy nhất để chúng tôi buộc tội cô. Chúng tôi cũng không ngờ  rằng việc liên lạc với Sêlia tại qua tay cô. Chúng tôi đã phải mất nhiều thời gian để mò mẫm tìm tòi. Còn phần cô thì một tháng rưỡi nay, cô đã không nói đúng sự thật và cô đã giả vờ khéo tới mức chúng tôi bắt đầu tin cô... Xét về mặt tự biện bạch cho bản thân thì cô đã xử sự thật tuyệt không chê vào đâu được. Là một dự thẩm viên có kinh nghiệm thành thật mà nói, tôi cứ tưởng sự thật là như vậy đấy. Nhưng cô lại không tính đến chuyện khác : ngoài cô ra trong tổ chức còn nhiều người nữa. Họ bắt đầu tìm Inda Schiôbe để bắt liên lạc với cô. Điều này xét về mặt tâm lý thì cũng dễ hiểu thôi. Giao thông viên đã đến Villianxtrasse và gặp “Anta”. Nhưng đó không phải là Anta thật mà là người của chúng tôi đóng vai…Những gì xảy ra về sau thì tôi tin rằng cô có thể tự hiểu lấy được. Chúng tôi đã bắt tên giao thông viên cũng như Ruđônphơ phôn Sêlia. Mọi chuyện là như vậy đấy. Cô thấy chưa, tôi có giấu gì cô đâu.

      Trước mặt Schiôbe như có một vực thẳm…Đâu là thực, đâu là hư trong lời của tên Khabeke ?...cho dù chúng đã biết tất cả về chị rồi thì đã sao…Chúng biết được về chị nhưng chắc gì đã biết được về những người khác. Ra thế đấy ! Chúng muốn chị khai về những người khác đây mà… Đã thế thì lại phải thay đổi chiến thuật, nhận tất cả tội lỗi về mình để cứu những người khác. Inda thử áp dụng sách lược cũ :

      - Trời đất ơi – chị thốt lên – thưa ngài ủy viên hình sự, tôi đã nói với ngài nhiều lần rằng đã có một sai lầm bi thảm nào đấy rồi cơ mà…Nào tôi có tội tình gì đâu.

     Nụ cười trên nét mặt của tên Khabeke vụt tắt. Hắn bực tức nhìn người phụ nữ và bỗng điên tiết đấm tay xuống bàn. Inda giật nảy mình.

     - Đứng dậy ! – Hắn hét lên – Inda bật khỏi ghế - Mày là một con ngu đần không hiểu gì hết ! Mày có nhận mật danh của mày là Anta không ?

     - Đúng, tôi công nhận…

      Inda biết rõ rằng công nhận như vậy tức là tự mình nhận lấy án tử hình nhưng chị không thể làm  khác được. Còn tên dự thẩm thì cảm thấy là hắn đã đánh gục được đối thủ của mình.

       - Nhân viên điện đài của mày đâu ?

      - Tôi không có nhân viên điện đài.

      - Không có nghĩa là làm sao ?

      - Tôi tự tay đánh điện cho Mátxcơva.

      - Mày nói dối, rồi mày sẽ phải trả giá đắt về chuyện này..

     - Có gì thì tô nói đúng như thế... Tôi là hiệu thính viên của phôn Sêlia.

      - Thế đài phát mày để ở đâu ? ...Đài phát và chìa khóa mã đâu ?

     - Tôi không biết, tất cả đều để ở Vilianxtrasse. Những thứ đó có khi bây giờ đang nằm trong tay các ông rồi...   

      - Thế mày đánh điện từ đâu ?

      - Tôi đã nói là từ Vilianxtrasse mà. Ở đó có máy phát.   

     - Đừng có làm cho tao loạn óc lên — Khabeke lại gầm lên. Hắn bắt đầu hiểu là chị đã không nói đúng sự thật— không có đài phát nào ở Vilianxtrasse cả. Các máy định hướng không xác định có máy phát hoạt động ở khu vực này — Mày hãy nói thật đi !

     - Thật uổng quá, tại sao ông lại không nói trước cho tôi biết về máy định hướng. Nếu mà tôi biết thì tôi không nhận là có máy phát hoạt động trong phòng của tôi... Inda trả lời.

     Chị nói giọng điềm tĩnh, nhỏ nhẹ, đượm vẻ hài hước.

      Tên dự thẩm hiểu ra. Hắn đỏ mặt tía tai, ngừng hỏi cung…Hắn gọi tên lính gác đang đứng ngoài cửa.

     - Lôi cái con này đi cho tao — hắn điên cuồng hét lên - Ngày mai mày sẽ phải nói khác, mà sẽ phải khai hết với tao…


 85 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 03:30:40 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
PHỐI HỢP TÁC CHIẾN GIỮA CÁC LỰC LƯỢNG
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Đại tá, TS. DƯƠNG ĐÌNH LẬP
Nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử Tổ chức quân sự,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cách đây 50 năm, Đảng ta đã huy động nhiều lực lượng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đồng loạt tại hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, do Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, chiếm đóng ở miền Nam, giành thắng lợi to lớn, tạo ra bước ngoặt chiến lược, có ý nghĩa quyết định đối với kết cục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bài viết này chỉ đề cập sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

1. Chuẩn bị lực lượng mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Trước thời cơ cách mạng xuất hiện, tháng 6-1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp thông qua quyết tâm chiến lược, trong đó xác định giành thắng lợi quyết định, dự kiến trong năm 1968 và khẳng định, ta phải đánh cho Mỹ buộc phải thua về quân sự, tạo chuyển biến nhảy vọt cho cục diện chiến tranh cách mạng ở miền Nam thay đổi hẳn có lợi cho ta.

Trong điều kiện ở miền Nam địch có hơn một triệu quân (gồm 542.000 quân Mỹ, 57.800 quân các nước đồng minh của Mỹ và 650.000 quân Sài Gòn), Trung ương Đảng chủ trương: Nhanh chóng phát triển lực lượng vũ trang của ta lớn mạnh vượt bậc, làm thay đổi hẳn lực lượng so sánh giữa ta và địch. Đồng thời chỉ rõ: "Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc trong thời gian trước mắt là phải bảo đảm... chi viện cho miền Nam, phục vụ tốt nhất cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa giành được thắng lợi" .

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 14, trên cả hai miền Nam - Bắc đều khẩn trương làm công tác chuẩn bị mọi mặt. Ngay sau khi Bộ Chính trị thông qua quyết tâm chiến lược giành thắng lợi quyết định (dự kiến trong năm 1968), từ giữa năm 1967, Quân ủy Trung ương đã trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc chuẩn bị lực lượng, đặc biệt là huấn luyện, nâng cao trình độ của lực lượng chủ lực đánh tiêu diệt lớn quân địch. Khối lực lượng chủ lực của Bộ (các sư đoàn 308, 304, 320, 312) được kiện toàn về tổ chức biên chế, bổ sung vũ khí trang bị. Sau lớp tập huấn của Bộ (7-1967) về phối hợp tác chiến hiệp đồng binh chủng, các đơn vị chủ lực mở đợt sinh hoạt chính trị và tập huấn quân sự cho cán bộ các cấp. Tiếp đó, các sư đoàn chủ lực và một số đơn vị binh chủng đẩy mạnh huấn luyện về phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, nâng cao trình độ chiến đấu trong thành phố, thị xã, sẵn sàng cơ động vào chiến trường miền Nam khi có lệnh.

Thực hiện nhiệm vụ chi viện lực lượng cho miền Nam đánh Mỹ, đến cuối năm 1967, hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ ở miền Bắc biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật hành quân vào các chiến trường Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ, nâng tổng số lực lượng vũ trang ta ở miền Nam tăng lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương, không kể lực lượng dân quân, du kích, tự vệ .

Ở miền Nam, thực hiện kế hoạch chuẩn bị lực lượng cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã được Bộ Chính trị thông qua, từ tháng 10-1967, các chiến trường chú trọng củng cố, phát triển lực lượng vũ trang tại chỗ, thành lập thêm các đơn vị: Trung đoàn Quyết Thắng (Đông Nam Bộ), Trung đoàn 401 đặc công (Khu 5), Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và 2 tiểu đoàn (Quân khu Cool, Tiểu đoàn 307 và một lữ đoàn (Quân khu 9).

Khối lực lượng chủ lực Miền có 3 sư đoàn bộ binh (9, 5, 7), Đoàn pháo binh 69 (tương đương sư đoàn) được tăng cường Trung đoàn 88 bộ binh (Mặt trận Tây Nguyên), Trung đoàn 568 và 6 tiểu đoàn bộ binh cùng một số đơn vị binh chủng hành quân từ miền Bắc vào, được gấp rút củng cố, huấn luyện nâng cao trình độ chiến đấu sát với thực tế chiến trường.

Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, các chiến trường khẩn trương điều động, bố trí lực lượng áp sát các mục tiêu, sẵn sàng chiến đấu. Ở miền Đông Nam Bộ, Sài Gòn - Gia Định là trọng điểm tổng tiến công, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập "Khu trọng điểm" gồm Sài Gòn và một số huyện thuộc các tỉnh lân cận. Khu trọng điểm gồm 6 phân khu, trong đó lực lượng Phân khu 6 (các quận nội thành) có 11 đội biệt động , hoạt động trên 3 hướng (đông, nam, bắc), có nhiệm vụ đánh chiếm các mục tiêu đầu não của địch như: Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh Sài Gòn, Đại sứ quán Mỹ, Bộ Tư lệnh hải quân, Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn, Biệt khu Thủ đô... Lực lượng của 5 phân khu (1, 2, 3, 4, 5) có 3 trung đoàn, 13 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đặc công, hình thành 5 hướng (bắc và tây bắc, tây và tây nam, nam, đông, đông bắc) có nhiệm vụ tiếp ứng các đơn vị đặc công, biệt động chiếm lĩnh các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn.

Lực lượng ở vùng ven và vành đai Sài Gòn có 3 sư đoàn bộ binh (9, 5, 7), Đoàn 69 pháo binh (thiếu) chủ lực Miền được tăng cường Trung đoàn 88 bộ binh (Mặt trận Tây Nguyên) và một số lực lượng thuộc các đơn vị binh chủng kỹ thuật có nhiệm vụ tiến công các căn cứ của địch ở vòng ngoài, kìm giữ và ngăn chặn không cho chúng cơ động vào ứng cứu Sài Gòn.

Tại chiến trường Trị - Thiên, lực lượng chủ lực Quân khu Trị - Thiên có Trung đoàn 6 bộ binh được tăng cường 3 trung đoàn: Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304), Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324), Trung đoàn 8 (Sư đoàn 325 C) và 4 tiểu đoàn bộ binh, 4 tiểu đoàn đặc công, 15 đội biệt động thành và một số đơn vị binh chủng. Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên xác định: Thành phố Huế là trọng điểm của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Lực lượng tiến công vào thành phố Huế gồm có 3 trung đoàn (6, 8, 9), 2 tiểu đoàn (802, 810) bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công, chia làm 2 cánh: Cánh Bắc (hướng chính) và cánh Nam (hướng phối hợp) đánh vào nội thành và đánh địch phản kích từ ngoài vào thành phố. Lực lượng vũ trang ở các địa phương có 5 đoàn (4, 5, 6, 7 và 31), đảm nhiệm từng hướng tiến công trên địa bàn quân khu.

Trên địa bàn Quân khu 5, Bộ Tư lệnh Quân khu chia chiến trường thành 4 hướng tiến công (Quảng Nam - Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên - Khánh Hòa, Tây Nguyên), trong đó Quảng Nam - Đà Nẵng là hướng chủ yếu, thành phố Đà Nẵng là trọng điểm. Lực lượng trực thuộc Mặt trận 4 (Đà Nẵng) có Trung đoàn 31 (thiếu) và 3 tiểu đoàn bộ binh, Trung đoàn 575 pháo hỏa tiễn ĐKB, chia thành các tiểu đoàn mũi nhọn (bộ binh, đặc công), cùng biệt động thành phố và tự vệ mật đánh chiếm các mục tiêu then chốt ở nội thành. Ở vòng ngoài, lực lượng chủ lực Quân khu 5 (Sư đoàn 2 bộ binh) đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên, khu trung tuyến Gò Nổi, đường 104, dãy Dương Thông, chia cắt giữa Đà Nẵng và Chu Lai. Lực lượng vũ trang trên hướng Bình Định có Sư đoàn 3 bộ binh, Tiểu đoàn 407 đặc công (Quân khu 5); hướng Phú Yên - Khánh Hòa có 2 trung đoàn (10, 20) bộ binh; hướng Tây Nguyên có Sư đoàn 1, 3 trung đoàn (24, 33, 95) bộ binh và lực lượng vũ trang địa phương tiến công quân sự, kết hợp nổi dậy của quần chúng để giành chính quyền.

Đồng bằng sông Cửu Long tuy không phải là trọng điểm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Trung ương Cục vẫn chỉ đạo các quân khu 8, 9 bố trí lại lực lượng vũ trang phù hợp từng địa phương. Lực lượng Quân khu 8 có 5 tiểu đoàn bộ binh, 3 đại đội đặc công, 4 đại đội công binh và một số đại đội binh chủng cùng lực lượng vũ trang địa phương tiến công trọng điểm 1 - thành phố Mỹ Tho và trọng điểm 2 - thị xã Bến Tre. Lực lượng vũ trang Quân khu 9 có 4 tiểu đoàn (303, 307, 309, Tây Đô), một số đội đặc công đảm nhiệm tiến công trọng điểm 1 - thành phố Cần Thơ và 3 tiểu đoàn (306, 308, 857), bộ đội địa phương huyện Châu Thành tiến công trọng điểm 2 - thị xã Vĩnh Long.

Trong khi đó, lực lượng vũ trang Quân khu 6 có 2 tiểu đoàn 840 và 842 bộ binh, một số đơn vị đặc công và lực lượng vũ trang thị xã có nhiệm vụ tiến công thị xã Phan Thiết; đồng thời 2 tiểu đoàn 145 và 186 bộ binh phối hợp với lực lượng đặc công, biệt động thị xã và tỉnh Tuyên Đức tiến công thành phố Đà Lạt.

Như vậy, đến đầu năm 1968, trên tất cả các chiến trường ở miền Nam, mọi công tác chuẩn bị của quân và dân ta, trong đó việc chuẩn bị các lực lượng tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 về cơ bản đã hoàn thành, bảo đảm bí mật. Các lực lượng vũ trang miền Nam sẵn sàng chờ giờ G để phối hợp tiến công đồng loạt, bất ngờ vào các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, nhất là các trung tâm đầu não chính trị, quân sự của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy, quyết tâm giành thắng lợi cao nhất.

2. Phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 
 
Trong lúc quân Mỹ và quân Sài Gòn phải tập trung sức lực đối phó với chủ lực Quân giải phóng miền Nam tại Khe Sanh, từ đêm 29 rạng ngày 30-1-1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 - theo lịch miền Nam), các lực lượng vũ trang ta ở miền Nam bất ngờ, đồng loạt tiến công, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở 4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, trọng điểm là các thành phố lớn Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng.

Theo kế hoạch, Sài Gòn là trọng điểm lớn nhất của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, bởi đây là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, chỉ đạo toàn bộ bộ máy chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại miền Nam. Ở nội thành, lực lượng biệt động đồng loạt, bất ngờ tiến công vào Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh hải quân, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh, Đại sứ quán Mỹ. Phối hợp với lực lượng biệt động, lực lượng vũ trang, bán vũ trang của các ngành, các giới đánh địch tại chỗ và phát động quần chúng nổi dậy, giành quyền làm chủ ở một số khu vực nội thành; đồng thời, lực lượng vũ trang của các phân khu 1, 2, 3, 4 và 5 ở các vùng ven đô và lân cận tiến công đánh chiếm một số mục tiêu địch.

Ở vòng ngoài, lực lượng chủ lực Miền (các sư đoàn 5, 9, 7) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh vào các Sở chỉ huy, kho tàng, căn cứ xuất phát tiến công của địch như: Bộ Chỉ huy dã chiến 2 Mỹ, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn, Sở chỉ huy Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn, sân bay Biên Hòa, kho Long Bình... ngăn chặn và kìm chế không cho địch đưa lực lượng từ ngoài vào ứng cứu nội thành. Sự phối hợp tác chiến chặt chẽ giữa lực lượng bộ đội đặc công, biệt động tiến công vào 6/9 mục tiêu quan trọng của địch trong nội thành, cùng với những đòn tiến công mạnh mẽ của lực lượng chủ lực Miền và lực lượng vũ trang địa phương đánh táo bạo, hiểm hóc vào các Sở chỉ huy, căn cứ địch ở vùng ven Sài Gòn đã làm rối loạn hậu phương của chúng, gây tiếng vang lớn trong nước, làm chấn động cả nước Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Cùng thời gian này, tại các thành phố lớn Huế, Đà Nẵng cũng như nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ khác trên toàn miền Nam, do công tác chuẩn bị và trình độ phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương, do so sánh lực lượng địch mạnh hơn ta, cũng như phản ứng quyết liệt của Mỹ và quân đội Sài Gòn, nên diễn biến và hiệu quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta ở từng nơi cũng có mức độ khác nhau.

Tại thành phố Huế, trọng điểm thứ hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, theo kế hoạch, 2 giờ 33 phút ngày 31-1-1968, sau khi lực lượng pháo binh bắn đồng loạt vào các vị trí địch, lực lượng vũ trang ta trên hai cánh Bắc và Nam đồng loạt đánh vào 40 mục tiêu địch trong và ngoại thành Huế. Ở cánh Bắc, lực lượng chủ lực (Đại đội 1 và 2 thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9 bộ binh) phối hợp với bộ đội đặc công, tiến đánh đồn Mang Cá, sân bay Tây Lộc. Trong khi đó, một bộ phận lực lượng chủ lực khác (đại đội 3 và 4) tiến công đánh chiếm khu Cột Cờ và toàn bộ khu Đại Nội. Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được kéo lên trên cột cờ, báo hiệu ta đã làm chủ trung tâm thành phố Huế. Phối hợp với đòn tiến công đánh chiếm nội thành, lực lượng chủ lực (các tiểu đoàn 806, 816 thuộc Trung đoàn 9 bộ binh) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các vị trí địch ở vòng ngoài (An Hòa, Đốc Sơ, La Chữ, Quế Chữ, Bồn Trì, Bồn Phổ), gây cho địch một số thiệt hại.

Ở cánh Nam, do đường hành quân xa, lại bị địch phục kích ngăn chặn, nên lực lượng chủ lực ta (gồm tiểu đoàn 815 và 818 thuộc Trung đoàn 9 bộ binh, tiểu đoàn 840 và 810 bộ binh thuộc Đoàn 5), tiến công vào nội thành chậm so với kế hoạch đề ra. Bộ phận lực lượng chủ lực này đã phối hợp với bộ đội đặc công tiến công đánh chiếm Đài Phát thanh, Trường Quốc học Huế, Trường Đồng Khánh, Tòa tỉnh trưởng... Ở vòng ngoài, một bộ phận lực lượng của Trung đoàn 9 bộ binh còn lại phối hợp với đặc công tiến công địch ở Tam Thai, Nam Giao, khu nhà thờ Phước Quả, các trại Lê Lợi, Quang Trung, gây cho địch thiệt hại nặng. Kết quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở Huế giành thắng lợi lớn. Mặt trận Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình thành phố ra đời và Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên - Huế được thành lập.

Đối với Đà Nẵng, trọng điểm thứ ba của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, sau khi lực lượng pháo binh ta bắn phá các sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn và lực lượng biệt động, tự vệ đánh chiếm một số mục tiêu ở nội thành ngày 30-1, thì ở phía bắc, lực lượng bộ binh (Trung đoàn 31), công binh và lực lượng vũ trang Khu 1 tiến công đồn Nhất và đánh chiếm thị trấn Nam Ô. Ở phía nam, lực lượng đặc công (Tiểu đoàn 89) và lực lượng vũ trang Khu 2 tiến công Sở chỉ huy Trung đoàn 51 quân Sài Gòn. Ở nội thành, lực lượng Tiểu đoàn 1 bộ binh đánh vào Sở chỉ huy Quân đoàn 1 bị chặn lại. Trong khi đó, lực lượng chủ lực (Sư đoàn 2 bộ binh), do nhận được lệnh hoãn ngày nổ súng, nên rút về tuyến sau. Vì thế, kế hoạch phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong và ngoại vi Đà Nẵng không thực hiện được.

Phối hợp với ba trọng điểm lớn Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng, lực lượng vũ trang ta trên các chiến trường tiến công vào nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, căn cứ, sân bay, kho tàng địch. Ở miền Đông Nam Bộ, lực lượng bộ đội chủ lực, đặc công, biệt động tiến công sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình, Bộ Chỉ huy dã chiến 2 của Mỹ ở Biên Hòa; Tòa hành chính Thủ Dầu Một, Dinh Tỉnh trưởng, Ty Cảnh sát trong thị xã An Lộc và thị trấn Phước Bình.

Tại Quân khu 8, các lực lượng bộ binh, pháo binh, đặc công, biệt động phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tiến công các thị xã Mỹ Tho, Bến Tre và một số căn cứ của địch. Ở Quân khu 9, các lực lượng bộ binh, pháo binh phối hợp với biệt động tiến công hai trọng điểm thành phố Cần Thơ và thị xã Vĩnh Long. Phối hợp với đòn tiến công quân sự ở các thị xã, thành phố, tại nhiều vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng vũ trang địa phương tiến công hỗ trợ quần chúng nổi dậy, phá ách kìm kẹp của địch ở nhiều xã, ấp, giành quyền làm chủ.

Tại Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang ta được lực lượng chính trị của quần chúng hỗ trợ, tiến công làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) trong 6 ngày, làm chủ một phần các thị xã Kon Tum, Pleiku và chiếm giữ căn cứ Tân Cảnh. Ở đồng bằng Khu 5, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công vào các thành phố Quy Nhơn, Nha Trang; các thị xã Hội An, Tuy Hòa và 40 thị trấn. Ở Quân khu 6, lực lượng vũ trang ta tiến công thị xã Phan Thiết, thành phố Đà Lạt, gây cho địch một số thiệt hại.

Nhìn chung, trong những ngày đầu Tổng tiến công và nổi dậy, các lực lượng vũ trang của ta đã phối hợp tác chiến, đánh chiếm được một số mục tiêu quan trọng của địch ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam, tiêu hao một phần sinh lực địch, phá hủy một số phương tiện chiến tranh của chúng, hỗ trợ quần chúng nhân dân nổi dậy, giành quyền làm chủ.

Sau một thời gian củng cố tổ chức, chấn chỉnh lại lực lượng, từ ngày 17-2, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta trên toàn miền Nam lại đồng loạt tiến công vào hàng chục thành phố, thị xã, hàng trăm thị trấn, quận lỵ và nhiều căn cứ quân sự của địch. Tại Huế, lực lượng chủ lực ta ở nội đô được tăng cường khá đông, nhưng địch tập trung phản kích quyết liệt và dùng máy bay ném bom, bắn phá dồn ta vào trong thành nội. Ở cánh Nam, chỉ có một bộ phận nhỏ lực lượng ta ở khu Tam Giá đánh nhỏ, kìm chân địch, còn đại bộ phận lực lượng chủ lực phải rút ra vùng ven sông An Cựu, Vân Dương. Trong khi đó, hoạt động tác chiến của ta ở Đường 9 - Khe Sanh và các nơi khác không đủ sức mạnh để phân tán lực lượng địch. Những cố gắng của lực lượng chủ lực ta ở cánh Bắc chỉ tiêu hao một bộ phận nhỏ lực lượng địch, không tạo được sự chuyển biến tình hình. Địch phản kích dữ dội, dồn lực lượng ta về phía tây. Trước tình hình đó, ngày 25-2-1968, toàn bộ lực lượng ta được lệnh của Khu ủy Trị - Thiên và chỉ huy Mặt trận Huế đã bí mật rút khỏi thành phố ra phía ngoài an toàn.

Trong khi đó, tại Sài Gòn, do lực lượng chủ lực ta không tiến vào được nội đô, nên bộ phận lực lượng đặc công, biệt động và các tiểu đoàn mũi nhọn chiến đấu bên trong lâm vào tình thế đơn độc, lực lượng bị tiêu hao, phải rút ra vùng ven củng cố, tiếp tục chiến đấu. Sau hơn một tuần phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong nội thành và vùng ven đô, gây cho địch một số thiệt hại, lực lượng ta gặp khó khăn. Địch tập trung lực lượng phản kích dữ dội, gây cho ta tổn thất lớn. Trước tình hình đó, ngày 28-2-1968, ta kết thúc cuộc Tổng tiến công ở Sài Gòn.

Cùng thời gian này, ở Nam Bộ, các lực lượng vũ trang ta phối hợp tác chiến ở 11 thị xã, 17 thị trấn, 7 sân bay; ở Tây Nguyên, ta phối hợp tác chiến trong hơn 100 trận; ở cực Nam Trung Bộ, lực lượng ta phối hợp tác chiến ở hai trọng điểm là thị xã Phan Thiết và thành phố Đà Lạt... Những ngày đầu tháng 3-1968, ta còn tiến công một số thị xã, thị trấn, song nhìn chung, áp lực phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta giảm dần, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trên toàn miền Nam kết thúc.

Trong điều kiện so sánh lực lượng, địch hơn hẳn, ta khó có thể thực hiện đánh tiêu diệt lớn quân địch, thì việc tổ chức phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, chủ yếu là lực lượng chủ lực (bộ binh, pháo binh), lực lượng tinh nhuệ (đặc công, biệt động) và lực lượng vũ trang địa phương đánh thẳng vào trung tâm đầu não chính trị, quân sự của địch ở các thành phố lớn Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng và nhiều thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ, kết hợp với nổi dậy của quần chúng là một quyết định sáng suốt, táo bạo của Đảng ta.

Dù còn một số hạn chế, nhưng quá trình phối hợp tác chiến giữa các lực lượng, nhất là phối hợp tác chiến trong các thành phố trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 có ý nghĩa hết sức quan trọng và để lại những bài học kinh nghiệm quý giá. Đó là việc chuẩn bị về lực lượng, về nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa các lực lượng của ta đánh đồng loạt, bất ngờ vào hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, quận lỵ do Mỹ và chính quyền Sài Gòn kiểm soát, chiếm đóng; là sự phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong nội thành và phối hợp tác chiến giữa các lực lượng ngoại thành với các lực lượng nội thành. Đây là cơ sở quan trọng để cho quân đội ta nói riêng, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam nói chung tiếp tục kế thừa, phát triển cả về lý luận và thực tiễn, nâng cao hiệu quả phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trong những trận đánh lớn có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, tiến tới Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Chính vì vậy, sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cần tiếp tục được nghiên cứu, kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công tác xây dựng, đào tạo và huấn luyện bộ đội, nâng cao sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho quân đội ta có đủ sức mạnh chiến đấu hoàn thành tốt chức năng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 86 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 03:25:03 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
PHÁT HUY KHÍ THẾ "THÁC ĐỔ, TRIỀU DÂNG"
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968
TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY



Đại tá, TS. NGUYỄN NHƯ TRÚC
Trưởng phòng Tuyên truyền - Cổ động, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị


Chiến thắng trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đi vào lịch sử như một biểu tượng của trí tuệ và khí phách dân tộc Việt Nam, là mốc son đánh dấu bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc, khắc ghi sự phát triển cao về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng, Bác Hồ. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 như một cơn "sóng thần" ập vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ. Cả Mỹ và quân đội Sài Gòn đều bất ngờ, không lường định được sức mạnh, thời gian, không gian, cường độ, lực lượng, khả năng phối hợp và địa điểm, mục tiêu... của cuộc tổng tiến công. Về mặt chiến lược, đế quốc Mỹ đã thua cuộc từ mùa Xuân năm 1968; sau một tháng, tướng Oétmolen, Tổng chỉ huy quân Mỹ ở miền Nam, bị cách chức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ chức. Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Pari; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai... Đây là sự thừa nhận đầu tiên nhưng đầy đủ nhất về sự phá sản của chiến lược "chiến tranh cục bộ" của Mỹ - chiến lược chiến tranh quan trọng nhất được Mỹ công phu chuẩn bị và đánh giá cao trong chiến lược toàn cầu "phản ứng linh hoạt" vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Đến tháng 5-1968, Mỹ phải bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

Trong những đoàn quân hùng mạnh tiến lên phía trước, khí thế mỗi chiến sĩ ta đều mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước, niềm tin, hy vọng và ý chí quyết thắng để cho đất nước hoàn toàn giải phóng, giang sơn thu về một mối, đồng bào Nam, Bắc được sum họp một nhà. Khí thế đó được biểu hiện bằng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không chịu khuất phục trước kẻ thù xâm lược, quyết tâm hoàn thành xuất sắc bất cứ nhiệm vụ nào; bằng việc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 14 khóa III (tháng 1-1968): "Trong quá trình tổng công kích và tổng khởi nghĩa, chúng ta phải quán triệt nguyên tắc: Tập trung lực lượng quân sự và chính trị đến mức cao nhất, chiến lược chính; kiên quyết tiến công, liên tục tiến công nhằm vào những nơi xung yếu của địch mà đánh những đòn quyết định; phải tuyệt đối giữ cho được yếu tố bất ngờ; phải biết giành thắng lợi từng giờ, từng phút và không ngừng mở rộng thắng lợi; kiên quyết chống trả và bẻ gẫy các cuộc phản công của địch và truy kích địch đến cùng để giành thắng lợi cao nhất" . Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã đánh vào 4 trong 6 thành phố lớn, 37 trong số 44 thị xã và hàng trăm thị trấn, quận lỵ, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, 8 trong 11 bộ tư lệnh sư đoàn quân đội Sài Gòn, 2 bộ tư lệnh biệt khu, 2 bộ tư lệnh dã chiến Mỹ cùng nhiều bộ tư lệnh lữ đoàn, trung đoàn, chi khu và hàng trăm căn cứ quân sự địch bị tiến công đồng loạt... Thắng lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã minh chứng cho tinh thần bất diệt, cho khí thế hào hùng của cả dân tộc Việt Nam và thắng lợi đó đã tạo nên một hơi thở mới, một làn gió mới trong mỗi người dân, người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Có được khí thế "thác đổ, triều dâng" đó là do chúng ta đã biết tận dụng thế chiến lược, nắm chắc thời cơ và có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng sinh động, đúng lúc, kịp thời, ngắn gọn, hiệu quả; kết hợp chặt chẽ giữa động viên và hướng dẫn hành động cụ thể, giữa vấn đề tư tưởng với vấn đề tổ chức; biết nắm đúng và tập trung đúng vào đối tượng. Nhờ vậy, chúng ta đã có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, có năng lực hành động giỏi, thần tốc, táo bạo, bất ngờ, có cách đánh đột kích mạnh, tiến công nhanh, giành thế áp đảo; sự chỉ huy linh hoạt, sáng tạo, tạo nên một sức mạnh phi thường nhanh chóng đè bẹp sự kháng cự của địch, lập nên chiến công kỳ diệu, góp phần giành toàn thắng của cuộc kháng chiến.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta; thắng lợi đó là sự hội tụ của nhiều nhân tố, nhưng trước hết đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược tài giỏi của Đảng, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng với trí tuệ của con người Việt Nam. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, khí thế "thác đổ, triều dâng" được thể hiện đầy đủ nhất và sinh động nhất. Đây là một cuộc động binh và huy động quần chúng có quy mô lớn nhất từ trước tới thời điểm đó với phương thức tiến công đồng loạt cả quân sự, chính trị, binh vận, thực hiện ba mũi giáp công trên cả "ba vùng chiến lược" để tạo nên hiệu lực tổng hợp như một "đòn sét đánh". Với cuộc động binh đó, ta đã chuyển hướng từ lối tác chiến thông thường sang lối đánh mới, linh hoạt, sáng tạo trong lựa chọn hướng, mục tiêu chiến lược. Nhờ có sáng tạo và linh hoạt, ta đã đưa được hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược vào ngay trong sào huyệt địch, trong lúc địch có cả một mạng lưới an ninh và tình báo rộng khắp.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đòn quyết định đánh thẳng vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, mở ra bước ngoặt quyết định cho cuộc kháng chiến. Bước ngoặt lịch sử đó không chỉ là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, mà còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang có những thuận lợi, nhưng cũng không ít những thách thức. Để phát huy những bài học từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cần tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội.

Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là thắng lợi của một quá trình đánh giá đúng tình hình, có tầm nhìn chiến lược, kiên định mục tiêu cơ bản và lâu dài của dân tộc, của cách mạng; phân tích đúng tình hình, tạo ra thời cơ và nắm bắt thời cơ để đề ra được những chủ trương, chỉ đạo chiến lược sáng tạo và sắc bén. Vận dụng bài học đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta phải nắm chắc quy luật và truyền thống "dựng nước đi đôi với giữ nước" của dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hết sức sáng tạo trong chỉ đạo thực tiễn, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Dĩ bất biến ứng vạn biến". Phải xác định rõ: Mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định; lấy ổn định chính trị, củng cố an ninh, quốc phòng vững mạnh làm điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội; kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Xây dựng chí căm thù giặc sâu sắc; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng quả cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thứ hai, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị - tinh thần.

Chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống đánh giặc ngoại xâm, ý thức tự lực, tự cường; chăm lo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống vật chất - tinh thần của nhân dân, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, xây dựng "thế trận lòng dân", tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh; xây dựng lòng tin và nâng cao trách nhiệm của nhân dân đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, sự đồng thuận xã hội phát huy sức mạnh tổng hợp và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động làm ly tán lòng dân, phá hoại thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hóa so sánh lực lượng để "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn". Đó là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam và cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Thứ ba, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn sự kiện lịch sử Xuân Mậu Thân 1968 cho thấy vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Vì vậy, để phát huy bài học đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo, bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân chính quy, hiện đại, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội và các tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), nhằm bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Tiếp tục triển khai có hiệu quả Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong tình hình mới", gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII), Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện tốt phong trào Thi đua quyết thắng cùng các cuộc vận động, nhất là cuộc vận động "Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ".

Sau 50 năm nhìn lại, khí thế "thác đổ, triều dâng" trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là vô cùng sâu sắc và có ý nghĩa chiến lược. Đó không chỉ là bài học lịch sử, mà còn là động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 này là dịp để chúng ta ôn lại truyền thống, nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và hiện thực của nó trong bối cảnh cách mạng mới. Trên cơ sở đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục phát huy khí thế "thác đổ, triều dâng" cùng những bài học kinh nghiệm, quyết tâm phấn đấu thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X trong thời kỳ hội nhập, phát triển.

 87 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 03:13:24 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng TRẦN HỮU TÀI
Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7


Sau thắng lợi đánh bại các cuộc hành quân mùa khô của Mỹ (1965-1966, 1966-1967), Trung ương Đảng nhận định: Địch đã thất bại một bước rất cơ bản trong chiến lược "chiến tranh cục bộ" và đang lúng túng, bị động về chiến lược, chiến dịch. Trước tình hình đó, Trung ương chỉ đạo quyết tâm chiến lược mới là: "Khẩn trương tranh thủ thời gian, tạo mọi điều kiện, thời cơ giành thắng lợi liên tục, toàn diện và ngày càng lớn". Năm 1967, Cục Chính trị Miền triển khai đợt sinh hoạt chính trị trong các lực lượng vũ trang nhằm quán triệt chỉ thị của Quân ủy Trung ương về thực hiện cuộc vận động "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Tổ chức Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn miền Nam (năm 1967) trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, phong tặng 471 cán bộ, chiến sĩ toàn miền Nam là Anh hùng lực lượng vũ trang và Chiến sĩ thi đua; nhiều địa phương, đơn vị, tập thể và cá nhân được khen thưởng, phong tặng danh hiệu Anh hùng, Huân chương giải phóng và cờ mang dòng chữ "Trung thành vô hạn, anh dũng tuyệt vời, chiến thắng vẻ vang". Riêng quân và dân miền Đông Nam Bộ được phong tặng 20/47 1 Anh hùng lực lượng vũ trang toàn miền Nam . Đại hội Anh hùng, chiến sĩ thi đua đã tạo động lực, niềm tin, sức mạnh mới làm dấy lên tinh thần đoàn kết, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tạo ra phong trào thi đua sôi nổi "Học tập thành tích các anh hùng, dũng sĩ, thi đua giết giặc lập công", được triển khai toàn diện trong quân và dân miền Đông Nam Bộ.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương về "tổng công kích, tổng khởi nghĩa", ngày 25-10-1967, Trung ương Cục ra Nghị quyết "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" trên chiến trường B2 (Nghị quyết Quang Trung); chiến trường miền Đông Nam Bộ được xác định là hướng trọng điểm của chiến dịch. Để chuẩn bị cho "tổng công kích, tổng khởi nghĩa", tháng 12 - 1967, Bộ Chỉ huy Miền quyết định giải thể Quân khu miền Đông và Quân khu Sài Gòn - Gia Định, thành lập 6 phân khu (1, 2, 3, 4 ,5 ,6) còn lại ba tỉnh độc lập trực thuộc Quân ủy Miền (Biên Hòa U1, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tây Ninh) 2. Ngày 2-1-1968, tại căn cứ Ba Thu huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An, Trung ương Cục triển khai kế hoạch "tổng công kích, tổng khởi nghĩa"; Đảng ủy các phân khu tổ chức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chặt chẽ và thống nhất từ trên xuống; chỉ đạo Phòng Chính trị nắm chắc tình hình, chủ động khẩn trương hướng dẫn các nội dung công tác đảng, công tác chính trị trong các đơn vị lực lượng vũ trang miền Đông, nổi bật đó là:

Về công tác tư tưởng: Khẩn trương tổ chức hội nghị bàn về công tác đảng, công tác chính trị trước và trong tổng công kích; xác định nhiệm vụ hàng đầu là làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, chỉ đạo tổ chức quán triệt thực hiện cuộc vận động "ba dân chủ" trong đơn vị, quán triệt đến mọi cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí, phát huy bản chất giai cấp công nhân quyết tâm chiến đấu sắt đá, kiên cường, tiến công địch mãnh liệt, dồn dập và liên tục; phát động phong trào thi đua "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt"; chỉ đạo thực hiện tốt công tác phối hợp, hiệp đồng tác chiến đánh bại các cuộc hành quân của địch; phát động phong trào quần chúng, thanh niên và sinh viên thi đua xung phong "xuống đường giải phóng quê hương".

Về xây xựng Đảng: Các phân khu chỉ đạo các đơn vị tổ chức học tập Nghị quyết của Trung ương Cục và nghị quyết của Phân khu ủy về thực hiện "tổng công kích, tổng khởi nghĩa"; các chi bộ, đảng bộ phải tiến hành đợt sinh hoạt kiểm điểm 1 năm thực hiện cuộc vận động xây dựng "chi bộ ba tốt", "đảng viên ba tốt", củng cố kiện toàn cấp ủy chi bộ, nâng cao vai trò lãnh đạo của chi bộ trước khi bước vào thực hiện "tổng công kích, tổng khởi nghĩa". Tổ chức rà soát sắp xếp đủ cán bộ cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu, dự kiến số lượng cán bộ thay thế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; tổ chức tập huấn cán bộ về chỉ huy chiến đấu trong địa hình đô thị và tiến công mục tiêu trong thành phố. Các phân khu đều xây dựng được các tiểu đoàn, đại đội và bộ đội quận, huyện.

Lãnh đạo kiện toàn, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các phân khu: Chấp hành Nghị quyết của Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo Quân khu 7 và Quân khu Sài Gòn - Gia Định khẩn trương tổ chức kiện toàn, sắp xếp lại cán bộ lãnh đạo, chỉ huy tăng cường cho các phân khu :

Phân khu 1, đồng chí Trần Đình Xu (Ba Đình) làm Tư lệnh phân khu; đồng chí Tư Trường làm Chính ủy. Phân khu 2, đồng chí Lê Văn Nhỏ làm Tư lệnh; đồng chí Võ Trần Chí làm Chính ủy. Phân khu 3, đồng chí Huỳnh Công Thân là Tư lệnh; đồng chí Nguyễn Văn Chính (Chín Cần) làm Chính ủy. Phân khu 4, đồng chí Lương Văn Nho làm Tư lệnh; đồng chí Đoàn Công Chánh (Sáu bảo) làm Chính ủy. Phân khu 5, đồng chí Nguyễn Chí Sình làm Tư lệnh; đồng chí Hoàng Minh Đạo (Năm Thu) làm Chính ủy (sau tiến công đợt 2, đồng chí Nguyễn Văn Bứa làm Tư lệnh). Phân khu 6, đồng chí Trần Hải Phụng làm Tư lệnh; đồng chí Võ Văn Thạnh làm Chính ủy. Sau tiến công đợt 2, kiện toàn lại đồng chí Trần Bạch Đằng làm Bí thư, Nguyễn Thái Sơn làm Phó Bí thư, Trần Hải Phụng làm Chỉ huy trưởng, Võ Văn Thạnh làm Chính ủy, Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu) làm Phó Chỉ huy trưởng, kiêm Tham mưu trưởng phân khu ủy.
 
Đồng thời, tập trung lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang các cấp tỉnh, huyện; lực lượng du kích xã được xây dựng phát triển mạnh mẽ và xác định đây là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên.

Lãnh đạo lực lượng vũ trang tham gia các đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa: Chiến dịch Mậu Thân được thực hiện thành 3 đợt (đợt 1 trong tháng 1 và tháng 2; đợt 2 trong tháng 5 và tháng 6; đợt 3 trong tháng 8 và tháng 9-1968).

Đợt 1, vào hồi 23 giờ ngày 30-1-1968 tại Sở chỉ huy tiền phương Phân khu 6, sau khi giao nhiệm vụ cho các đội biệt động, đồng chí Võ Văn Thạnh nhắc lại lời thề "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" và trịnh trọng đọc lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Các phân khu chỉ đạo các lực lượng phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích chuẩn bị tinh thần tiến công vào các mục tiêu; Phân khu nội đô vừa thực hiện nhiệm vụ đánh địch vừa vận động quần chúng tham gia vào chiến dịch. Thực hiện theo hiệp đồng đến giờ "G", các lực lượng Phân khu 2 đã nổ súng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất; Phân khu 6 nổ súng tấn công vào trung tâm đầu não của đối phương là: Bộ Tổng Tham mưu; Dinh Độc Lập; Đài Phát thanh Sài Gòn; Đại sứ quán Mỹ và Bộ Tư lệnh hải quân Mỹ. Cuộc chiến trên các hướng diễn ra rất ác liệt, ta đã tiêu diệt nhiều lực lượng, phương tiện của địch; Mỹ tăng cường thêm lực lượng, ta gặp nhiều khó khăn do lực lượng còn mỏng so với yêu cầu nhiệm vụ; việc nắm địch và hiệp đồng với các lực lượng còn những hạn chế, nên ta hy sinh tương đối nhiều, đặc biệt, gần 80% các chiến sĩ biệt động Thành hy sinh và bị bắt . Tuy nhiên, với kết quả đợt 1 đạt được, Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 6 đánh giá: "Đợt 1 đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm thay đổi nhanh chóng tương quan lực lượng giữa ta và địch..., mở ra cục diện mới trong sự nghiệp chống Mỹ của nhân dân ta, đặt cơ sở vững chắc đưa tổng công kích, tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi hoàn toàn".

Kết thúc đợt 1, chiến trường Đông Nam Bộ gặp nhiều khó khăn, các phân khu (1, 4, 5, 6) bị tổn thất lớn, một số đơn vị cán bộ, chiến sĩ xuất hiện tư tưởng dao động, ngán ngại khó khăn, thiếu tin tưởng vào thắng lợi. Cơ quan chính trị các phân khu tiếp tục đề xuất kiện toàn cán bộ lãnh đạo, chỉ huy và các tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ; tiếp tục quán triệt định hướng chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ; quán triệt Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Cục, ngày 4-2-1968, về "phát huy thắng lợi đã giành được, tiếp tục công kích cao điểm 2"; tiếp tục động viên cán bộ, chiến sĩ, vận động phong trào quần chúng thực hiện tiến công đợt 2 và làm tốt công tác binh vận trong chiến đấu. Đêm 5-5-1968 đợt 2 bắt đầu, các lực lượng tiến công vào các trung tâm đầu não của địch: Dinh Độc Lập, Nha Cảnh sát, Tân Cảng; các đội tự vệ vũ trang của Thành đoàn, tự vệ vũ trang tiến công vào trụ sở hành chính Quận 5; Phân khu 5 thọc sâu vào quận 6, 8 và Nhà máy điện. Quân và dân phối hợp chặt chẽ, chiến đấu anh dũng, tiêu diệt, tiêu hao được nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch; vừa chiến đấu vừa thông báo, thông tin kết quả thắng lợi, từ đó củng cố niềm tin, tinh thần chiến đấu ngày càng cao và hiệu quả tốt. Ngày 18-6-1968, đợt 2 kết thúc, ta đã đạt được mục tiêu và tiếp tục gây chấn động dư luận trong nước cũng như trên thế giới, làm lung lay ý chí của giới cầm quyền Mỹ.

 Tháng 8-1968, Bộ Chính trị chủ trương tiến hành "tổng công kích, tổng khởi nghĩa" đợt 3, mục đích là làm cho địch bị thất bại nặng nề, buộc chúng phải tìm giải pháp chính trị chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Tuy nhiên, sau đợt 2, Mỹ - chính quyền Sài Gòn huy động lực lượng lớn tổ chức phòng ngự mạnh quanh Sài Gòn, đồng thời chúng thực hiện các cuộc hành quân bình định, kiểm soát chặt chẽ vùng ven đô, hành quân càn quét ở vùng trung tuyến, sử dụng phi pháo, B52 đánh phá hủy, diệt các căn cứ của ta ở vùng rừng, núi. Căn cứ vào đặc điểm chiến trường, Quân ủy Miền báo cáo Bộ Chính trị những khó khăn tại mặt trận Sài Gòn - Gia Định và đề nghị cho chuyển hướng trọng điểm tiến công từ nội đô ra trung tuyến, và được chấp nhận. Để giảm bớt những khó khăn và nâng cao hiệu quả hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang các phân khu, tháng 7-1968, Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Cán sự đảng T7 và Bộ Tư lệnh T7, trực tiếp chỉ đạo các đơn vị vũ trang ở chiến trường phía đông Sài Gòn gồm các tỉnh Biên hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long Khánh, do đồng chí Lương Văn Nho làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Ngọc Tân làm Chính ủy.

Cùng với việc thành lập Ban Cán sự đảng T7, Trung ương Cục quyết định thành lập Thành ủy Sài Gòn - Gia Định do đồng chí Võ Văn Kiệt làm Bí thư, Thường vụ Thành ủy trực tiếp lãnh đạo Phân khu 6 đảm nhiệm toàn bộ quân khu nội ô Sài Gòn. Công tác cán bộ đòi hỏi cần phải nhanh chóng ổn định để thực hiện đợt 3; sắp xếp, bố trí kiện toàn Phòng Chính trị của Bộ Tư lệnh T7 và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, mỗi phòng được biên chế thành 5 ban (Tuyên huấn, Tổ chức, Cán bộ, Dân vận, Bảo vệ an ninh), quân số khoảng 25 đồng chí.

Bộ Tư lệnh T7 và Thành ủy Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo Phòng Chính trị nắm chắc tình hình và làm tốt công tác truyên truyền, thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, hướng dẫn các đơn vị mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu, niềm tin thắng lợi; khắc phục tư tưởng hoài nghi, dao động, cho rằng địch mạnh, nhưng chưa thấy hết khả năng to lớn của cách mạng; khắc phục những hạn chế của cấp ủy đảng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ; phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị để quyết tâm giành thắng lợi lớn. Phát động phong trào thi đua diệt Mỹ và phong trào xây dựng "chi bộ ba tốt" và làm tốt công tác động viên khen thưởng trong quá trình chiến đấu với các danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", "Dũng sĩ diệt xe cơ giới Mỹ". Tích cực làm tốt công tác dân vận, đã huy động được hơn 6.000 dân công đào đường, phá giao thông trên tỉnh lộ 2 và quốc lộ 15, đồng thời vận động các tầng lớp quần chúng tham gia vào tổng khởi nghĩa trên khắp các địa bàn.

Các lực lượng miền Đông Nam Bộ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ lực Miền thực hiện tác chiến, tiến công trên địa bàn Tây Ninh, Bình Long, Dầu Tiếng; Sư đoàn 5 phối hợp với Sư đoàn 9 tiêu diệt nhiều tiểu đoàn địch và phá hủy hàng trăm xe quân sự, làm phá sản kế hoạch "quét giữ" và "bình định" của Mỹ. Dù vậy, thắng lợi của ta cũng chưa đủ làm thay đổi tình hình trên chiến trường B2 nói chung và ở Đông Nam Bộ nói riêng. Giai đoạn này, lực lượng cách mạng của ta hết sức khó khăn; Mỹ, ngụy tăng cường điều động và chi viện lực lượng, đẩy mạnh kế hoạch cấp tốc "bình định" để chiếm lại các vị trí đã mất. Trước tình hình đó, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền cùng các đơn vị chủ lực phải di chuyển về căn cứ bên kia biên giới Campuchia; các đơn vị của Bộ Tư lệnh T7, Phân khu 2 và Sài Gòn - Gia Định phải trụ lại chiến đấu rất ác liệt, vô cùng khó khăn và gian khổ. Các lực lượng được tiếp tục quán triệt nhiệm vụ quan trọng là: "Làm cho các cấp nhận rõ hơn nữa tính chất mới của giai đoạn tổng công kích, tổng khởi nghĩa là liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, kết hợp cao điểm với thường xuyên, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn". Riêng các khu và phân khu cần nắm vững thời cơ, kiên quyết tiến công giành thắng lợi to lớn cho Đông Xuân, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. Sau khi được quán triệt sâu sắc chỉ thị của Trung ương Cục và Quân ủy Miền, hoạt động giai đoạn 2 của đợt 3 thực hiện với khí thế sôi nổi; bộ đội chủ lực tiếp tục thực hiện được những trận đánh xuất sắc; lực lượng vũ trang Sài Gòn - Gia Định và các phân khu vừa tiến công vừa đánh phản kích giữ các địa bàn, tạo được những cao điểm của tiến công, hạn chế được một phần lấn chiếm của địch. Đợt 3 đã giành được những thắng lợi to lớn nhất từ trước tới nay; đã thực hiện được nhiều trận đánh, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phương tiện chiến tranh của địch. Góp phần củng cố, phát triển thế chủ động tiến công và bao vây địch, cho thấy chủ trương chuyển hướng tiến công chủ yếu ra vòng ngoài đô thị là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tế của chiến trường.

Hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại kết quả và kinh nghiệm cho lực lượng vũ trang miền Đông như sau:

Ưu điểm: Cấp ủy, chỉ huy các lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ luôn nắm chắc quan điểm, phương châm lãnh đạo của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương và Bộ Chỉ huy Miền; kịp thời đề xuất chủ trương, giải pháp thực hiện nhiệm vụ đúng, sát thực tế. Triển khai thống nhất từ trên xuống một cách toàn diện có trọng tâm, trọng điểm. Phương pháp, hình thức, nội dung tiến hành công tác đảng, công tác chính trị thực hiện linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với nhiệm vụ và sát tình hình thực tế. Cấp ủy, lãnh đạo chỉ huy các cấp luôn theo sát, nắm vững tư tưởng trong từng giai đoạn; triển khai tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là trong từng giai đoạn khó khăn. Kịp thời giải quyết tư tưởng, củng cố kiện toàn tổ chức, xốc lại lực lượng trên từng hướng, mũi, đơn vị bị tổn thất; giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự thắng lợi của cách mạng; chống tư tưởng dao động, hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ. Kịp thời kiện toàn cấp ủy, tổ chức biên chế, sắp xếp cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong khi chiến trường có nhiều thay đổi. Coi trọng công tác chính sách trong chiến đấu, công tác vận động nhân dân địa bàn chiến đấu; kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với công tác binh vận, địch vận, làm tan rã lực lượng địch, tạo sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân hướng về cách mạng, giải quyết hậu quả chiến đấu.

Sau tổng tiến công đã lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời rút kinh nghiệm, chống chủ quan, đơn giản, củng cố ý chí quyết tâm; chấn chỉnh củng cố tổ chức, bình xét khen thưởng, điều chuyển thương binh, quản lý chặt chẽ bộ đội, chống hữu khuynh tiêu cực, bạc nhược, dao động khi địch phản công.

Nhược điểm: Việc nhận định, đánh giá tình hình, lường trước sự việc còn hạn chế, mơ hồ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa thường xuyên; việc phổ biến chủ trương, quyết tâm chiến lược của Đảng chưa kỹ, nhận thức giữa lý thuyết và thực tế còn khoảng cách xa, biểu hiện đó là "khi học Nghị quyết của Trung ương thấy địch mỏng như lá lúa, về chiến trường thấy địch dày hơn da trâu", từ đó xác định mục tiêu không rõ ràng, không biết còn tổng công kích, tổng khởi nghĩa nữa hay không? Đó là vấn đề ở một số cán bộ, đảng viên, làm giảm động lực và niềm tin vào sự thắng lợi. Chưa kịp thời động viên trong quá trình chiến đấu, do một phần lực lượng cán bộ chính trị còn thiếu, mỏng. Chỉ đạo kết hợp đấu tranh trên các mặt quân sự - ngoại giao, binh vận còn hạn chế. Công tác vận động quần chúng chưa cao nên lực lượng quần chúng ở các vùng trọng điểm đô thị tham gia còn ít so với dự định, chưa đạt như mong muốn chiến lược của Đảng là tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

Từ thực tiễn công tác đảng, công tác chính trị của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, phải thường xuyên nắm vững quan điểm chiến lược của Đảng, tình hình chiến trường; đặt niềm tin vào chính nghĩa của cách mạng, đề ra chủ trương, giải pháp lãnh đạo toàn điện, thống nhất và quyết tâm giành thắng lợi trong thực hiện nhiệm vụ. Phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức trong đấu tranh cách mạng, đặc biệt sức mạnh quần chúng của các tầng lớp nhân dân trong việc kết hợp thực hiện chiến lược "tổng công kích và tổng khởi nghĩa".

Hai là, thường xuyên coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ một cách đầy đủ; giáo dục phải gắn với thực tiễn, tạo niềm tin và ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong xây dựng tổ chức đảng; công tác đảng phải tiến hành thường xuyên, nhạy bén, sáng tạo; phát động các nội dung, phong trào thi đua tạo khí thế trong thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, thường xuyên nghiên cứu tình hình chiến trường, mạnh dạn đề xuất những nội dung, giải pháp sát, đúng, kịp thời trong thực hành tác chiến và chuyển mục tiêu chiến lược; khẩn trương kiện toàn cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong các nhiệm vụ; chỉ huy chiến đấu kiên quyết, tiến công liên tục để giành ưu thế.





-----------------------------------------------------------------
1. Anh hùng gồm: Nguyễn Văn Lên, Tô Văn Dực, Nguyễn Văn Tăng, Nguyễn Văn Lịch, Phạm Văn Cội, Nguyễn Thị Hạnh. Dũng sĩ diệt Mỹ gồm: Ông Ngang, Nguyễn Thị Tiệp; tập thể, đơn vị địa phương được tuyên dương "Củ Chi đất thép thành đồng", "Long An trung dũng kiên cường, toàn dân đánh giặc". Xem Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị lực lượng vũ trang Quân khu 7 (1945-2000).

2. Địa bàn Phân khu 1 gồm: Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận, Trảng Bàng. Phân khu 2: Quận 5, 6, 10, 11, Bình Chánh, các huyện phía tây bắc của Long An. Phân khu 3: các quận 2, 4, 8, Nhà Bè, Cần Đước, Cần Giuộc. Phân khu 4: Thủ Đức, Long Thành, Nhơn Trạch, Thạnh Mỹ Tây, Q 1, Q 9. Phân khu 5: Lái Thiêu, Dĩ An, một phần Bắc Thủ Đức, Phú Nhuận, Bình Hòa. Phân khu 6 là địa bàn nội ô Sài Gòn. Xem Lịch sử Đảng bộ Quân khu 7 (1945-2005), tr.282.

 88 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 03:01:56 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
TỔ CHỨC, BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng KHÚC ĐĂNG TUẤN
Tư lệnh Binh chủng Thông tin liên lạc


Cách đây 50 năm, cùng với thắng lợi của quân và dân miền Bắc đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, từ ngày 30-1 đến ngày 31-3-1968, quân và dân ta ở miền Nam đã mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt đánh vào hầu hết các cơ quan đầu não trung ương, địa phương của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trên ba vùng chiến lược và giành được thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đó, cùng với quân và dân cả nước, trực tiếp là quân và dân miền Nam, bộ đội thông tin liên lạc đã phát huy cao độ ý chí quyết chiến, quyết thắng, khắc phục khó khăn, gian khổ, vượt qua những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, góp phần làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc.

Để chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, ngay từ những ngày đầu tháng 1-1968, Cục Thông tin liên lạc đã được Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị "Tăng cường khả năng bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy từ Bộ đến các chiến trường được vững chắc hơn theo yêu cầu mới". Quán triệt chỉ thị của trên, Cục Thông tin liên lạc đã chỉ đạo, chỉ huy xây dựng lực lượng, triển khai củng cố các tổng trạm thông tin của Bộ, kể cả các tổng trạm dự bị cách xa Hà Nội.

Về xây dựng lực lượng: Trong tình hình cả nước có chiến tranh, Cục Thông tin liên lạc xác định phương châm xây dựng lực lượng là: "Vừa chiến đấu, vừa xây dựng" yêu cầu bảo đảm đủ số lượng nhưng hết sức chú trọng chất lượng; nhất là công tác huấn luyện. Cục còn chỉ đạo các đơn vị xác định nội dung, phương pháp và thời gian huấn luyện cho phù hợp. Đối với các đơn vị chưa có nhiệm vụ chiến đấu sau giai đoạn huấn luyện tập trung thì phối hợp với bộ đội binh chủng hợp thành để diễn tập. Các đơn vị đang phục vụ chiến đấu phải kết hợp huấn luyện với thực tế công tác. Trong hoàn cảnh nào, nội dung huấn luyện cũng phải bám sát nhiệm vụ của đơn vị, thực tế chiến đấu cũng như yêu cầu chỉ đạo, chỉ huy trong tác chiến. Trước yêu cầu phải có đủ số lượng cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị và nhân viên kỹ thuật để bổ sung cho các đơn vị mới thành lập và tăng cường cho chiến trường, ngày 21-5-1965, Trường Sĩ quan thông tin trực thuộc Cục Thông tin liên lạc được thành lập có nhiệm vụ tổ chức những lớp đào tạo cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị sơ cấp ngắn hạn (3 tháng, 6 tháng); cán bộ trung cấp kỹ thuật (1 năm) tập trung vào những nội dung cần thiết nhất. Tiếp đó, đến tháng 3-1967, Trường Kỹ thuật thông tin cũng được thành lập với nhiệm vụ đào tạo cán bộ và nhân viên kỹ thuật trung cấp. Đến năm 1968, các trường đã đào tạo, bồi dưỡng được trên 2.000 cán bộ chỉ huy và cán bộ chính trị, nhân viên kỹ thuật, kịp thời bổ sung cho các chiến trường. Trong 4 năm (1965-1968) Cục đã tăng cường cho các mặt trận trên chiến trường miền Nam 1.836 cán bộ và nhân viên kỹ thuật, 37 cơ công sơ cấp, 45 trung cấp kỹ thuật, 32 đài trưởng và 880 báo vụ, 11 tiểu đoàn, 3 đại đội thông tin.

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, cũng như quản lý lực lượng thông tin trong giai đoạn cách mạng mới, ngày 31-1-1968, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc. Đây là một sự kiện lớn đánh dấu bước ngoặt lịch sử của Binh chủng trên con đường tiến lên xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Ngay sau khi thành lập, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Binh chủng đã nhanh chóng kiện toàn các cơ quan giúp việc như tham mưu, chính trị, hậu cần, kỹ thuật; xây dựng các chế độ công tác, nhằm thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ được giao.

Về hệ thống thông tin: Đối với thông tin vô tuyến điện, Bộ Tư lệnh chủ trương tăng cường số lượng máy mới có độ nhạy cao và công suất lớn ở các trung tâm thu phát vô tuyến điện; sử dụng vô tuyến điện sóng ngắn bảo đảm liên lạc để Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo, chỉ huy kịp thời đến Bộ Chỉ huy Miền, các quân khu, tỉnh đội, vượt cấp tới một số sư đoàn, trung đoàn đánh vào các căn cứ quan trọng của địch tại Sài Gòn, Huế, Cần Thơ... Đài phát điện chung và hệ thống đài canh của Bộ, của các quân khu, Miền được tổ chức chặt chẽ và liên tục bảo đảm liên lạc và hiệp đồng cho các đơn vị trong khi cơ động chiến đấu. Vô tuyến điện sóng cực ngắn là phương tiện chủ yếu bảo đảm tốt cho chỉ huy đánh địch trong thành phố, thị xã... nhất là các đơn vị đặc công, biệt động luồn sâu đánh hiểm.

Thông tin hữu tuyến điện, vô tuyến điện tiếp sức, đặt thêm các máy tải ba nhiều kênh ở tổng trạm của Bộ và các trạm cơ vụ đi các hướng, nhất là đường trục vào chiến trường miền Nam. Cán bộ được tăng cường trực tiếp từng phiên ca trong các trạm máy, kiểm tra duy trì các chế độ và điều hành chặt chẽ ở từng trạm, từng tổng trạm và trên các trục từ Bộ đi các đơn vị, nhất là trục hữu tuyến điện và vô tuyến điện tiếp sức đi Trị - Thiên, Tây Nguyên vào chiến trường miền Nam. Ở chiến trường Trị - Thiên và Tây Nguyên, Cục Thông tin liên lạc đã xây dựng tuyến dây trần, vô tuyến điện tiếp sức từ Bộ Tổng Tham mưu đến trạm cơ vụ A72 (Quảng Bình); giao cho Trung đoàn 134 triển khai tuyến dây trần từ trạm cơ vụ A72 (Quảng Bình) vào Quân khu Trị - Thiên dài hơn 300km, đồng thời thay thế các máy tải ba ít kênh bằng các máy nhiều kênh, tổ chức hàng trăm trạm cơ vụ bảo đảm thông tin cho mặt trận Đường 9 - Khe Sanh và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968.

Thông tin chuyển đạt đã bảo đảm vận chuyển kịp thời công văn, tài liệu... từ Hà Nội vào các quân khu, mặt trận ở miền Nam theo tuyến vận tải 559. Ở chiến trường miền Nam, thông tin chuyển đạt kết hợp với thông tin nhân dân được tổ chức chặt chẽ và làm tốt nhiệm vụ chuyển đạt công văn, chỉ thị, báo cáo, dẫn đường, đưa đón cán bộ ra, vào vùng địch kiểm soát.

Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Cục Thông tin liên lạc chỉ đạo các đơn vị thông tin ở miền Bắc sử dụng hết sức tiết kiệm phương tiện khí tài hiện có, dành dây máy tốt nhất cho các đơn vị thông tin ở chiến trường miền Nam. Một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật thông tin có chất lượng tốt được khẩn trương chuyển vào chiến trường sớm hơn dự kiến để kịp bảo đảm cho chiến đấu (từ năm 1965 đến năm 1968 đã chuyển vào chiến trường miền Nam 2.692 máy vô tuyến điện các loại, 843 tổng đài, 12.058 máy điện thoại, 137 tổ máy phát điện quay tay). Nhờ những cố gắng trên, cơ quan thông tin các mặt trận đã kịp thời bổ sung lượng tiêu hao, trang bị cho những đơn vị mới thành lập, một phần cho lực lượng vũ trang địa phương và có một phần lực lượng dự bị cho các hoạt động tiếp sau.

Về tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc: Ở Mặt trận Sài Gòn - Gia Định, sau đợt 1 của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, các đơn vị biệt động, đặc công ta nhanh chóng thọc sâu vào các mục tiêu được phân công. Tuy bị máy bay lên thẳng, máy bay trinh sát địch phát hiện, bắn xối xả vào đội hình, nhưng các chiến sĩ bộ đàm vẫn bám sát đơn vị để giữ liên lạc (chiến sĩ Phạm Thái Hòa bị bom địch hất xuống bờ sông, tay phải bị thương, đã tự băng bó và tiếp tục giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy sư đoàn. Chiến sĩ Trần Văn Can ba lần bị thương vẫn không chịu rời máy, kiên quyết bám trụ bên cầu để giữ liên lạc). Do địch phản kích quyết liệt, trong khi đó Sở chỉ huy phải di chuyển liên tục nhưng để đảm bảo thông tin thông suốt, liên lạc vô tuyến điện phải tiến hành trên xuồng ở sông Sài Gòn, mỗi ngày chỉ có một phiên làm việc vào 12 giờ đêm, sau đó lại cất giấu máy và chuẩn bị chiến đấu.

Trong đợt 2 (từ ngày 1 đến ngày 12-3-1968), Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương kiên quyết giữ vững bàn đạp từ ngoại ô nối liền với những khu vực đã chiếm ở nội thành (như Phú Thọ Hòa, phía bắc cầu chữ Y...), sử dụng các Sư đoàn bộ binh 9 (thiếu), Sư đoàn bộ binh 7, Đoàn đặc công 117 và các đơn vị biệt động đánh từ Long An sang hướng Bà Quẹo. Để đảm bảo hoạt động cho các lực lượng, cơ quan thông tin đã tổ chức hai đài 102E, sáu tổ đài PRC25, một phân đội hữu tuyến điện và thông tin chuyển đạt đi theo Sở chỉ huy tiền phương (đặt tại khu vực Mành Manh, sông Vàm Cỏ Đông). Hữu tuyến điện được tổ chức từ Sở chỉ huy đến Sư đoàn bộ binh 7. Thông tin chuyển đạt sử dụng chiến sĩ người địa phương thông thuộc địa hình ở khu vực tác chiến để bảo đảm liên lạc. Mở màn đợt 2, các đơn vị thông tin đã phục vụ cho pháo binh ta bắn phá vào 16 vị trí địch trong nội thành. Máy bộ đàm đi theo các mũi tiến công đã giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương. Tổ thông tin gồm chiến sĩ bộ đàm Dương Tuấn Nghĩa và chiến sĩ chuyển đạt Lưu Phước Lượng của Sư đoàn 9 đã phối hợp với tổ trinh sát đặc công trụ bám nhiều ngày trên tầng 5 của một ngôi nhà ở góc đường Phú Nhuận, theo dõi địch và báo cho pháo binh ta bắn rất chính xác. Trung đoàn 2 Sư đoàn 9 đánh vào ngã tư Bảy Hiền, điện đài bị lạc, cơ quan thông tin đã kịp thời đưa một máy K63 xuống và chọn điểm cao đặt máy, bảo đảm liên lạc tốt với Sở chỉ huy chiến dịch và liên lạc hiệp đồng chặt chẽ với Sư đoàn 7 ở vòng ngoài.

Các phân đội thông tin thuộc Sư đoàn 7, 9, Đoàn đặc công 117 vừa giữ vững liên lạc, vừa dũng cảm chiến đấu với địch, đã bảo đảm cho chỉ huy nhiều trận đánh giành thắng lợi lớn; điển hình là trận đánh chìm hai tàu trên sông Lòng Tàu, diệt 250 tên địch, phá hủy 20 máy bay lên thẳng và 5.000 viên đạn pháo.

Trong đợt 3, Sở chỉ huy tiền phương di chuyển lên Bắc Tây Ninh, sử dụng Sư đoàn 9 làm lực lượng chủ yếu đánh địch tiến công lên Tây Ninh. Việc tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc lúc này lấy vô tuyến điện sóng ngắn là chủ yếu. Một tổ vô tuyến điện gồm ba chiến sĩ mang theo một máy Sinen làm việc ở bộ phận quân báo trụ bám ở ấp Bảo Công, xã An Ninh, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Địch càn quét rất ác liệt, tổ đài phải xuống hầm bí mật tránh địch nhiều lần nhưng vẫn bảo đảm an toàn cả về máy và người, giữ vững liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương. Trong một đợt càn quét, địch tìm được hầm, anh em đã đội nắp hầm nhảy lên ném lựu đạn tiêu diệt địch và thoát vây.
Ở Quân khu 9, để bảo đảm cho Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị hoạt động trong vùng địch tạm chiếm, từ năm 1967 theo chủ trương chung của Quân khu, cơ quan thông tin đã cử cán bộ xuống cơ sở tham gia phát động phong trào chiến tranh du kích, xây dựng xã, ấp chiến đấu kết hợp với xây dựng mạng lưới thông tin nhân dân từ ấp, xã lên huyện, tỉnh.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, trọng điểm của tiến công quân sự là thành phố Cần Thơ (hướng chủ yếu) và các thị xã Rạch Giá, Cà Mau, Chương Thiện. Từ Sở chỉ huy tiền phương, quân khu đã tổ chức vô tuyến điện sóng ngắn kết hợp với sử dụng hệ thống giao liên của Khu ủy để liên lạc với các trung đoàn 1, 2 chủ lực và với các tỉnh, thành. Do được chuẩn bị chu đáo nên mệnh lệnh tổng tiến công được chuyển kịp thời đến các đơn vị, góp phần bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ cho cuộc tổng tiến công. Khi Sở chỉ huy tiền phương quân khu di chuyển xuống phía nam thành phố Cần Thơ, các điện đài sóng ngắn ở Sở chỉ huy được đặt trên xuồng nhưng vẫn tiếp tục bảo đảm liên lạc chặt chẽ với các đơn vị. Trước các đợt phản kích quyết liệt của địch, Trung đoàn 1 chủ lực của Quân khu trụ bám đánh địch. Đại đội thông tin trung đoàn đã giữ vững liên lạc với cấp trên và với các tiểu đoàn, dũng cảm chiến đấu chống địch càn quét, bảo vệ Sở chỉ huy, bảo vệ đài, trạm thông tin.

Ở Quân khu 8, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Quân khu có nhiệm vụ đánh vào thành phố Mỹ Tho (hướng chủ yếu), căn cứ Đồng Tâm, Long An và bắc đường số 4. Đại đội thông tin 250 Quân khu đảm nhiệm tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc bảo đảm cho Sở chỉ huy tiền phương Quân khu chỉ huy các trung đoàn 1, 2 chủ lực và các tỉnh đội bằng vô tuyến điện sóng ngắn, kết hợp với sử dụng hệ thống giao liên của Khu ủy. Đại đội thông tin vừa phục vụ chiến đấu tốt, vừa tham gia chiến đấu chống càn. Trong trận đánh địch tiến công vào Sở chỉ huy tiền phương Quân khu (2-1968), một bộ phận của đại đội thông tin với 8 khẩu AK đã diệt gọn 1 đại đội biệt kích ngụy gồm 85 tên.
Ở Quân khu 5 và Mặt trận Tây Nguyên, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã tổ chức hệ thống thông tin liên lạc bằng vô tuyến điện sóng ngắn, kết hợp với hệ thống giao liên, chỉ huy các đơn vị đánh trúng vào các mục tiêu chủ yếu ở ba thị xã lớn là Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột và tiến công đồng loạt các thành phố Đà Nẵng, Nha Trang, các thị xã Hội An, Quy Nhơn, Tuy Hòa, giành thắng lợi to lớn.

Ở Mặt trận Trị - Thiên, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Tiểu đoàn Thông tin 813 Mặt trận được giao nhiệm vụ tổ chức thông tin liên lạc từ Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận đến Trung đoàn 6 chủ lực đánh vào thành phố Huế. Mặc dù không được nghiên cứu địa hình trước, nhưng phân đội hữu tuyến điện đã vận dụng phương pháp đơn vị đi tới đâu rải dây theo tới đó, kết hợp sử dụng một máy PRC-25 bám sát trung đoàn hành quân liên lạc qua đài chuyển tiếp đặt trên điểm cao Hòn Vượn, đã bảo đảm cho Sở chỉ huy tiền phương liên lạc hữu tuyến điện, vô tuyến điện sóng cực ngắn thông suốt với Trung đoàn. Đại đội thông tin Trung đoàn đã tổ chức, sử dụng hữu tuyến điện, vô tuyến điện sóng cực ngắn kết hợp với thông tin chuyển đạt bảo đảm cho chỉ huy chặt chẽ các cánh quân phát triển sâu vào nội thành. Đây là lần đầu tiên bộ đội thông tin liên lạc triển khai đường dây trong một thành phố lớn ở miền Nam, đạt hiệu suất sử dụng cao.

Tại Mặt trận Quảng Trị, đêm 30 Tết, lực lượng thông tin của Quân khu đi theo Sở chỉ huy Mặt trận gồm một trung đội vô tuyến điện trang bị hai máy vô tuyến điện sóng ngắn, một tiểu đội hữu tuyến điện xuống khu vực Hải Lăng, kết hợp với trung đội thông tin chuyển đạt lót sẵn, triển khai hệ thống thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy các đơn vị đánh vào căn cứ La Vang, quận lỵ Hải Lăng và thị xã Quảng Trị. Mặc dù quân địch phản kích quyết liệt, kết hợp với máy bay và các loại pháo từ ngoài biển, từ căn cứ Ái Tử và thị xã bắn phá dữ dội, nhưng nhờ tổ chức, sử dụng vô tuyến điện sóng ngắn 15W nên thông tin liên lạc giữa các đơn vị và với Sở chỉ huy Mặt trận vẫn bảo đảm tốt.

Bên cạnh nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bộ đội thông tin liên lạc còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế - duy trì liên lạc vững chắc cho chỉ đạo, chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân đội Pathét Lào giành thắng lợi to lớn.

Tháng 1-1968, phối hợp với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân của ta, quân đội Pathét Lào cùng với quân tình nguyện Việt Nam đã mở chiến dịch Nậm Bạc nhằm khôi phục và củng cố vùng giải phóng Tây Bắc Thượng Lào. Để đảm bảo thông tin cho hướng hoạt động này, cơ quan thông tin Quân khu Tây Bắc được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc và sự hiệp đồng tích cực của bộ đội thông tin Đoàn 959 đã cùng với bạn tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chiến dịch. Tiểu đoàn thông tin Sư đoàn bộ binh 316 quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng chủ yếu của chiến dịch được trang bị đầy đủ theo tổ chức biên chế, có điện đài 15W trang bị đến tiểu đoàn bộ binh, đã cùng với bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc bảo đảm cho chỉ huy các đơn vị ta và bạn nổ súng tiến công đồng loạt các cụm cứ điểm địch ở Nậm Bạc và chuyển sang truy quét địch phá vây rút chạy. Sau 16 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 6-12 đến ngày 27-1-1968), chiến dịch đã giành thắng lợi hoàn toàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3.000 địch (có hơn 2.000 tên bị bắt sống), giải phóng trên một vạn dân, thu nhiều vũ khí. Qua chiến dịch này, bộ đội thông tin liên lạc của ta và bạn đã thu được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc ở địa hình rừng núi trong một chiến dịch tiến công đánh cụm cứ điểm và đánh địch rút chạy; qua đó, củng cố thêm một bước tinh thần liên minh đoàn kết chiến đấu, giúp bạn nhanh chóng xây dựng lực lượng để có thể tự lực đảm nhiệm công tác bảo đảm thông tin liên lạc trong các chiến dịch sau.

Cùng với thắng lợi to lớn trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam Xuân Mậu Thân 1968 và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ quốc tế đối với nước bạn Lào, Binh chủng Thông tin đã có sự trưởng thành trên nhiều mặt như: chính trị, tư tưởng, tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc, xây dựng lực lượng và cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong suốt quá trình diễn ra cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, Bộ Tư lệnh Thông tin đã thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Một là, quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong tình hình và nhiệm vụ mới, xây dựng quyết tâm, ý chí chiến đấu vượt qua mọi khó khăn gian khổ giữ vững thông tin liên lạc cho lãnh đạo chỉ huy các mặt trận giành thắng lợi. Toàn Binh chủng đã dấy lên phong trào thi đua "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" và nhiều hành động thiết thực như: "Dây là ruột, cột là xương, liên lạc là mạch máu"... có ý nghĩa, nội dung thiết thực, đạt hiệu quả cao.

Hai là, làm tốt công tác chuẩn bị các mặt, nhất là lực lượng, phương tiện thông tin kịp thời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Binh chủng đã tập trung xây dựng lực lượng, đặc biệt là đào tạo bồi dưỡng cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị và nhân viên kỹ thuật, chi viện cho các đơn vị ở miền Bắc và chiến trường miền Nam.

Công tác bảo đảm phương tiện thông tin cho các mặt trận ở chiến trường miền Nam được tiến hành tích cực và khẩn trương. Binh chủng đã chỉ đạo các đơn vị thông tin miền Bắc sử dụng hết sức tiết kiệm phương tiện khí tài hiện có, dành dây máy tốt cho các đơn vị thông tin ở chiến trường miền Nam. Do đó các mặt trận đã có thêm nhiều phương tiện thông tin (kể cả các loại phương tiện thông tin mới) để bảo đảm chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Ba là, binh chủng chỉ đạo, sử dụng phương tiện thông tin phù hợp trong từng giai đoạn ở các mặt trận. Tăng cường kiểm tra duy trì nền nếp chế độ công tác thông tin liên lạc ở từng trạm, từng tổng trạm và trên trục từ Bộ đi vào chiến trường. Nhờ đó, các đơn vị trên chiến trường miền Nam, miền Trung, Tây Nguyên, các đơn vị quân chủng, tỉnh thành trong cả nước đã tổ chức và bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, nhất là bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ đạo, chỉ huy thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, cũng như thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Lào.

Thắng lợi to lớn của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở miền Nam, cũng như thắng lợi đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ trên miền Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn Lào có những đóng góp quan trọng của bộ đội thông tin liên lạc. Tháng 11-1968, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên dương: "Bộ đội thông tin liên lạc hiệp đồng chặt chẽ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí, trưởng thành nhanh chóng, chiến thắng vẻ vang". Những thành tích đó đã được Bộ Tổng Tham mưu nhận xét trong Hội nghị chủ nhiệm thông tin toàn quân năm 1969: "Bộ đội thông tin liên lạc đã đóng góp vào thắng lợi to lớn của năm 1968, đặc biệt là thắng lợi to lớn, toàn diện, vững chắc trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền Nam mùa Xuân 1968".

Trong giai đoạn hiện nay, Binh chủng Thông tin liên lạc đã tham mưu cho Bộ Quốc phòng đầu tư nhiều trang thiết bị thông tin hiện đại cho các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng, tỉnh thành trong cả nước như: Trang bị tổng đài kỹ thuật số, mạng truyền số liệu MISTEN, thông tin vệ tinh, các xe thông tin cơ động... Để kế thừa và phát huy truyền thống của bộ đội thông tin liên lạc anh hùng trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nói riêng, cán bộ, chiến sĩ thông tin toàn quân phải không ngừng học tập, nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực chuyên môn; khai thác thành thạo trang bị khí tài, vươn lên làm chủ khoa học công nghệ tiên tiến; đoàn kết, hiệp đồng xây dựng Binh chủng Thông tin hiện đại. Thực hiện thành công chiến lược hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc quân sự, bảo đảm thông tin liên lạc kịp thời, chính xác, bí mật, an toàn cho Đảng, Nhà nước, quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 89 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 01:57:53 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
VAI TRÒ CỦA CỤC THAM MƯU MIỀN
TRONG TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968



Thiếu tướng LÊ BỬU TUẤN
Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân khu 7


Bước vào giai đoạn 1967-1968, với vai trò là cơ quan tham mưu, chỉ huy cấp chiến dịch, chiến lược, Cục Tham mưu Miền đã chủ động tham mưu, đề xuất cho Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang B2 kiên quyết giữ vững tinh thần tiến công cách mạng, xây dựng, củng cố và phát triển thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn; tổ chức và điều chỉnh chiến trường, phân bổ lực lượng trên từng hướng tiến công, bảo đảm giữ vững quyền chủ động chiến lược, phát huy hiệu quả cao nhất, tạo điều kiện cho Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 diễn ra đúng kế hoạch. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Cục Tham mưu Miền đã tổ chức có hiệu quả mạng lưới nắm địch, nghiên cứu và phân tích tình hình địch - ta một cách toàn diện, giúp cho Quân ủy - Bộ Chỉ huy Miền chỉ huy, chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 thống nhất trên toàn chiến trường, giành thắng lợi to lớn, làm thay đổi cục diện chiến tranh.

1. Nắm và đánh giá tình hình địch - ta, tham mưu cho Bộ Chỉ huy Miền tổ chức lại chiến trường và lực lượng chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân ở B2

Hội nghị tháng 6-1967, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: Thắng lợi Đông - Xuân 1966-1967 của ta là thắng lợi có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị đề ra chủ trương đưa cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam lên bước phát triển mới, với nội dung chủ yếu là chuyển hướng trọng tâm tiến công từ vùng rừng núi, nông thôn vào các đô thị sào huyệt đầu não của địch, giáng cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên sự chuyển biến nhảy vọt.

Để chuẩn bị cho cuộc tiến công vào đô thị chủ yếu là Sài Gòn, Bộ Chỉ huy Miền đã giao cho các cơ quan giúp Quân khu Sài Gòn - Gia Định tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các tiểu đoàn mũi nhọn. Cơ quan tham mưu khẩn trương xây dựng kế hoạch tiến công địch trên cơ sở "Kế hoạch X" trước đây1.

Thực hiện chỉ thị của Bộ Chỉ huy, bên cạnh việc tham mưu chỉ đạo các đơn vị địa phương chiến đấu đánh địch trong mùa mưa, tháng 7-1967, Cục Tham mưu đã thành lập một bộ phận chuyên trách xây dựng "Kế hoạch X" do đồng chí Trần Văn Danh phụ trách. Trong một thời gian ngắn, Phòng Quân lực, Quân huấn đã xây dựng xong tổ chức, biên chế lực lượng, trang bị và tài liệu huấn luyện kỹ, chiến thuật tác chiến trong thành phố cho các tiểu đoàn mũi nhọn. Cục cũng đã cử cán bộ trực tiếp xuống căn cứ Lò Gò theo dõi các tiểu đoàn mũi nhọn huấn luyện. Tuy phải tập trung theo dõi, tổng hợp tình hình hoạt động của các quân khu trong đợt hoạt động Hè - Thu 1967 và triển khai kế hoạch tiến công địch tại Lộc Ninh, Bù Đốp đầu mùa khô 1967-1968, nhưng đến tháng 9-1967, Cục Tham mưu đã hoàn thành dự thảo kế hoạch 5 mũi tiến công vào Sài Gòn - Gia Định và các mục tiêu đánh chiếm trong nội đô Sài Gòn; phân công các tổ trinh sát bằng nhiều phương thức tiếp cận nghiên cứu các mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất, Biên Hòa, Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn.

Ngày 25-10-1967, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết về tổng công kích - tổng khởi nghĩa trên chiến trường B2 (Nghị quyết Quang Trung). Ngày 4-11-1967, Trung ương Cục miền Nam tổ chức hội nghị mở rộng quán triệt Nghị quyết Quang Trung. Tại hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Thái được bổ nhiệm làm Tư lệnh Miền. Trên cơ sở giải thể Quân khu Sài Gòn - Gia Định và Quân khu miền Đông cũng như yêu cầu thực tế của chiến trường, cấp trên quyết định thành lập 6 phân khu, từ phân khu 1 đến phân khu 5, mỗi phân khu có từ 2 đến 4 tiểu đoàn mũi nhọn, trang bị gọn nhẹ, hình thành 5 mũi tiến công vào Sài Gòn. Phân khu 6 là phân khu nội đô chỉ huy lực lượng biệt động thành, tự vệ thành, quần chúng cách mạng tiến công các mục tiêu đầu não của địch và nổi dậy giành chính quyền.

Để bảo đảm cho tổng tiến công giành thắng lợi, Cục Tham mưu phải triển khai gấp nhiều công việc do Bộ Chỉ huy Miền yêu cầu. Tuy đã có sự chuẩn bị trước, nhưng từ thủ trưởng cơ quan đến các trợ lý của Cục đều chưa hình dung hết khối lượng và tính chất công việc. Mặc dù vậy, do chủ động khắc phục khó khăn nên kế hoạch tổng tiến công của lực lượng vũ trang B2 và kế hoạch tổng tiến công vào Sài Gòn - Gia Định vẫn liên tục được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện. Theo đó, Phân khu 1 gồm: Tiểu đoàn Quyết Thắng, Tiểu đoàn Gò Môn, Tiểu đoàn 4 đặc công, tăng cường Trung đoàn 16 có nhiệm vụ tiến công hướng bắc - tây bắc Sài Gòn; Phân khu 2 gồm Tiểu đoàn 267, Tiểu đoàn 269, Tiểu đoàn Bình Tân, Tiểu đoàn 12 đặc công, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn pháo vác vai, 2 đội trinh sát, tiến công hướng tây nam; Phân khu 3 gồm Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Long An, Tiểu đoàn Phú Lợi 2, Tiểu đoàn Đồng Nai, Tiểu đoàn pháo Kiến Tường, Tiểu đoàn đặc công, tiến công hướng nam; Phân khu 4 gồm Tiểu đoàn 4 Thủ Đức, Tiểu đoàn đặc công được tăng cường, Trung đoàn 3, Sư đoàn 9, tiến công hướng đông bắc; Phân khu 5 gồm Tiểu đoàn 3 Dĩ An và Trung đoàn Đồng Nai tiến công từ hướng bắc; Phân khu 6 phụ trách nội đô, gồm 3 cụm biệt động, tiến công các mục tiêu đã được phân công. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 9 tiến công quân trường Quang Trung, Trung tâm viễn thông Quán Tre, ngăn chặn không cho Sư đoàn 25 địch về ứng cứu cho Sài Gòn. Sư đoàn bộ binh 5, được tăng cường Tiểu đoàn đặc công, Trung đoàn pháo binh 724, lực lượng vũ trang Biên Hòa, tiến công sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh dã chiến 2 Mỹ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3. Kế hoạch được Quân ủy và Trung ương Cục thông qua vào cuối tháng 12-1967.

Song song với chỉ đạo các đơn vị địa phương chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy, Đảng ủy Cục Tham mưu còn ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo Đảng bộ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xuống đường tiến công và nổi dậy. 100% cán bộ, đảng viên của Đảng bộ xung phong xuống đường chiến đấu. Các phòng, ban đã lập danh sách lực lượng làm nhiệm vụ ở Sở chỉ huy tiền phương, các phái viên theo từng mũi tiến công vào Sài Gòn và nhanh chóng triển khai nhiệm vụ. Những phòng phải triển khai lực lượng trên các hướng là Phòng Quân báo, Phòng Thông tin, Phòng Đặc công cơ giới và Phòng Quân lực.

Đầu tháng 1-1968, Cục Tham mưu Miền đã tiến hành thu thập và thể hiện được toàn bộ các mục tiêu quan trọng của địch bố trí trong các thành phố, thị xã ở Đông Nam Bộ. Các cụm trinh sát công khai dẫn nhiều đồng chí trong Bộ Chỉ huy Miền, chỉ huy các phân khu trực tiếp vào nội đô Sài Gòn quan sát mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu, sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha Cảnh sát, Đặc ủy trung ương tình báo 2... Tiểu đoàn Trinh sát 46 triển khai Đại đội 2 tăng cường cho Sư đoàn 5 trinh sát nắm địch tại Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy và sân bay Biên Hòa, Đại đội 1 và Đại đội 3 xuống Bưng Còng (nam Bến Cát) phục vụ Bộ Chỉ huy tiền phương Bắc. Cùng thời gian, Cục Tham mưu Miền đã triển khai các cụm thông tin vô tuyến điện, các tổ thông tin vận động xuống Rạch Tra (Hóc Môn) triển khai mạng liên lạc phục vụ Tư lệnh tiền phương chỉ đạo, chỉ huy Phân khu 1 và Sư đoàn bộ binh 9 triển khai nhiệm vụ. Phòng Thông tin cung cấp khí tài và điều động nhân viên kỹ thuật giúp đỡ các phân khu thành lập ban thông tin, mỗi phân khu có 1 đài 15W, các tiểu đoàn mũi nhọn được trang bị tổ thông tin vô tuyến điện đủ theo biên chế. Để chuẩn bị cho tổng tiến công, một ngày mạng thông tin toàn Miền phát hàng trăm bức điện, triển khai hàng trăm kilômét dây hữu tuyến điện đi các hướng. Do chấp hành nghiêm quy chế bảo mật, tổ chức chôn dây thông tin và ngụy trang khéo léo, nên địch gần như không phát hiện được gì cho đến trước giờ tổng tiến công.

2. Vừa chỉ đạo, vừa tham mưu cho Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo, điều chỉnh, bổ sung lực lượng, mục tiêu và rút kinh nghiệm trong quá trình Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân ở B2

Đêm 30 rạng 31-1-1968, các đội biệt động thành tiến công vào 6 mục tiêu chiến lược (Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn, Dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh hải quân, Tòa Đại sứ Mỹ, sân bay Tân Sơn Nhất), trong đó có 4 mục tiêu ta đã chiếm toàn bộ hoặc một phần trong nhiều giờ (Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ, Đài Phát thanh Sài Gòn, cổng số 4 căn cứ Bộ Tổng Tham mưu). Từ 5 giờ sáng ngày 31-1 đến hết ngày 1-2, các tiểu đoàn mũi nhọn trên 5 hướng tổ chức đánh chiếm các mục tiêu được phân công và đánh địch phản kích. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại cổng số 4 Bộ Tổng Tham mưu, tại ngã ba Cây Thị, chợ Bàn Cờ, cầu Tham Lương, trường đua Phú Thọ. Do các đơn vị tăng viện không đến kịp và bị địch ngăn chặn nguồn tiếp viện từ phía sau, các tiểu đoàn mũi nhọn phải lùi ra ngoài vùng ven đô. Riêng hướng Phân khu 2, Phân khu 3 còn một bộ phận của Tiểu đoàn Bình Tân, Tiểu đoàn 267, 16, 269 trụ lại chiến đấu đến ngày 7-1-1968. Hiệp đồng với lực lượng đánh nội đô, Sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Trung đoàn 16, Tiểu đoàn Phú Lợi đồng loạt tiến công các mục tiêu sân bay Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, thị xã Thủ Dầu Một, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tiêu diệt và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

 Tổng tiến công đồng loạt trên nhiều hướng, đánh nhiều mục tiêu, đánh trực tiếp vào cơ quan đầu não chỉ đạo, chỉ huy chiến tranh của Mỹ, chính quyền Sài Gòn, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân vào Sài Gòn đã giành thắng lợi lớn về quân sự và chính trị. Tại Quân khu 8, Quân khu 9, đồng loạt tiến công ở các trọng điểm trong đêm 31-1, các đơn vị Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 và Tiểu đoàn 504 của Quân khu 8 tiến công thành phố Mỹ Tho; Tiểu đoàn bộ binh của tỉnh Bến Tre tiến công thị xã Bến Tre. Tại thành phố Cần Thơ, Quân khu ủy Khu 9 đã trực tiếp chỉ đạo 3 tiểu đoàn tập trung của tỉnh (Tây Đô, 303, 309) và lực lượng biệt động tiến công vào thành phố Cần Thơ. Các đơn vị của ta đánh chiếm được nhiều mục tiêu tại Mỹ Tho, Bến Tre, Cần Thơ, gây cho địch nhiều thiệt hại. Mỹ, ngụy bàng hoàng trước đòn đánh bất ngờ của ta. Ngày 17-2-1968, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ phải cay đắng báo cáo với Tổng thống Mỹ rằng: "Cuộc tấn công ban đầu của Việt cộng đã gần thành công ở hàng chục điểm. Để tránh thất bại chỉ có thể có những biện pháp phản ứng kịp thời" .
Tuy bị bất ngờ, choáng váng những giờ đầu nhưng sáng ngày 31-1, Mỹ, ngụy đã tổ chức lực lượng phản kích quyết liệt vào các mũi tiến công của ta. Các đội biệt động Thành bị thương vong, tổn thất đến 80% quân số. Hướng tiến công của Phân khu 1, Phân khu 4 và Sư đoàn 5 bị mất liên lạc với Bộ Chỉ huy tiền phương. Phần lớn các tiểu đoàn mũi nhọn thọc sâu vào nội đô không còn giữ được liên lạc với cấp trên. Các đơn vị phải độc lập chiến đấu trong sự phản kích quyết liệt của địch.

Trong những ngày ác liệt, cán bộ, chiến sĩ Cục Tham mưu đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh bám sát các hướng. Khi chiến sự xảy ra, Cục đã cử cán bộ tác chiến trực tiếp xuống những đơn vị mất liên lạc để nắm tình hình, trực tác chiến kịp thời tổng hợp tình hình chiến trường báo cáo Bộ Chỉ huy Tiền phương. Để bảo đảm thông tin, Cục đã tổ chức triển khai 3 phương tiện thông tin để phục vụ chỉ huy. Địch đánh phá ác liệt, đường dây hữu tuyến điện đứt nhiều lần nhưng các tổ, trạm thông tin vẫn kiên cường khắc phục, đã có 2 tổ đài 15W bị trúng bom, hầu hết các đài 2W đi tăng cường cho các tiểu đoàn mũi nhọn đều hy sinh, nhưng tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ không hề giảm. Các cơ quan còn lại của Cục đã phối hợp với cơ quan của Cục Chính trị làm công tác động viên chiến trường, củng cố bổ sung quân, cấp phát vũ khí trang bị để các đơn vị tiếp tục chiến đấu.

Từ đêm 19-2 đến 7-3-1968, lực lượng vũ trang B2 thực hiện cao điểm 2 của đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy, với các mục tiêu: sân bay Tân Sơn Nhất, khu kho Hạnh Thông Tây, kho Nhà Bè, Biệt khu Thủ đô, khám Chí Hòa và một số mục tiêu tại quận 5, 7, 8. Do tính bất ngờ không còn, địch tăng cường phòng thủ nhiều tuyến quanh Sài Gòn nên hầu hết các đơn vị của ta không thọc sâu được vào trong nội đô, mà chỉ thực hiện pháo kích sân bay Tân Sơn Nhất 3 lần vào các đêm (17-2, 24-2, 2-3) và pháo kích vào Biệt khu Thủ đô, kho xăng An Nhơn, Nha Cảnh sát đô thành. Cao điểm 2 đã gây cho địch một số thiệt hại nhưng về phía ta lực lượng bị tổn thất lớn.

Kết thúc đợt 1 tổng tiến công và nổi dậy, Bộ Chỉ huy Miền đánh giá bên cạnh những thắng lợi có ý nghĩa to lớn về chính trị, quân sự gây chấn động trong nước và quốc tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tại chiến trường B2 còn bộc lộ những điểm yếu. Đó là hướng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Khu 8, Quân khu 10 hoạt động quân sự chưa tương xứng với yêu cầu của tổng tiến công và nổi dậy. Tại trọng điểm Sài Gòn - Gia Định ngay khi nổ súng, chỉ huy tiền phương, Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền không nắm được đầy đủ tình hình phía trước, các đơn vị cũng không giữ được liên lạc các cánh và đơn vị bạn. Vì vậy, việc chỉ huy, điều động chi viện cho nhau trong chiến đấu rất hạn chế. Những hạn chế này là do sự thiếu sót trong công tác tham mưu, ta không lường hết được các tình huống cần giải quyết trong cuộc tiến công quy mô lớn.

*
*        *

Trong giai đoạn cách mạng mới, tình hình thế giới và trong nước tiếp tục diễn biến phức tạp khó lường. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", "bạo loạn lật đổ" nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tình hình trên đặt ra cho quân đội ta những nhiệm vụ hết sức nặng nề, Bộ Tham mưu Quân khu 7 cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tốt các bài học kinh nghiệm của Cục Tham mưu Miền trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Đồng thời, với vai trò là cơ quan trung tâm chỉ huy, hiệp đồng của lực lượng vũ trang Quân khu 7, Bộ Tham mưu Quân khu 7 cần tập trung thực hiện một số nội dung sau:

1- Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện tốt chức năng tham mưu cho Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và các nhiệm vụ đột xuất khác; xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tổ chức biên chế tinh gọn, cơ động, có sức mạnh chiến đấu cao; nâng cao chất lượng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân; xây dựng các tuyến phòng thủ và khu vực phòng thủ các cấp trên địa bàn Quân khu 7.

2- Luôn luôn cảnh giác, nắm chắc tình hình địch, bạn, ta một cách toàn diện. Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: Tham mưu là phải tổ chức nắm địch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo, tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật, nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù... Để thực hiện tốt lời dạy của Bác, Bộ Tham mưu Quân khu cần phải nắm chắc diễn biến tình hình khu vực và trên thế giới, ý đồ chiến lược của các nước lớn, các khối, nhất là các nước có biên giới với địa bàn Quân khu 7, các tổ chức hoạt động trên địa bàn Quân khu. Đồng thời, thực hiện tốt Nghị định số 77/2010/NĐ-CP của Chính phủ phối hợp chặt chẽ với công an và cơ quan chức năng thường xuyên nắm chắc tình hình, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, tham mưu xử lý kịp thời, chính xác ngay từ cơ sở, không để mắc mưu tạo cớ, không để bị động, bất ngờ.

3- Tổ chức quán triệt nghiêm túc các chỉ lệnh, mệnh lệnh, kế hoạch, chương trình, nội dung huấn luyện, nhất là Nghị quyết 765 của Quân ủy Trung ương về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013-2020 và những năm tiếp theo. Thực hiện tốt phương châm huấn luyện "cơ bản, thiết thực, vững chắc", coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức trách nhiệm, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ huấn luyện. Nội dung huấn luyện được tiến hành toàn diện, coi trọng cả huấn luyện chính trị, quân sự, điều lệnh, huấn luyện chuyên ngành và huấn luyện thể lực cho bộ đội. Trong đó, đặc biệt coi trọng duy trì nghiêm chế độ huấn luyện tại chức, tập huấn, bồi dưỡng các nội dung về tham mưu tác chiến cấp chiến dịch.

4- Xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, cơ quan Bộ Tham mưu Quân khu vững mạnh toàn diện, tổ chức biên chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao. Các cơ quan, đơn vị quán triệt, thực hiện nghiêm chỉ thị, quy định của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và của Bộ Tư lệnh Quân khu về xây dựng nền nếp chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật; duy trì nghiêm túc chế độ làm việc, nền nếp công tác. Bộ Tham mưu làm tốt chức năng tham mưu cho Bộ Tư lệnh Quân khu nhiều chủ trương, biện pháp xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật đối với lực lượng vũ trang Quân khu; kiểm tra, đôn đốc các đơn vị duy trì nghiêm kỷ luật.




-----------------------------------------------------------------
1. "Kế hoạch X" đã được Bộ Chỉ huy Miền chỉ đạo cơ quan Tham mưu Miền chuẩn bị từ cuối năm 1964, theo kế hoạch, ta tổ chức tiến công vào Sài Gòn trên 5 hướng.

2. Cụm Điệp báo chiến dịch do đồng chí Hoàng Đạo phụ trách đã trực tiếp đưa đồng chí Trần Đình Xu, Tư lệnh Phân khu 1 đi theo đường hợp pháp vào trinh sát các mục tiêu Bộ Tổng Tham mưu, Đài Phát thanh Sài Gòn về căn cứ an toàn. Xem Lịch sử Phòng Quân báo Miền, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010.

 90 
 vào lúc: 28 Tháng Năm, 2020, 11:34:30 am 
Tác giả ThanhdanvanF302 - Bài mới nhất gửi bởi ThanhdanvanF302
Chào bác Thanhdanvan

Chuyện của Bác kể làm tôi nhớ Hùng (cũng lính Hà nội đợt Bác, bị phục hy sinh 1979 ở Chongcal), anh chàng có kể cho Tôi nghe  về chuyện lần đầu uống nước mía với muối trên đường lên xa mát. Chắc là trong nhóm này quá...

Chúc Bác khỏe mà viết

Chào anh Lính 302...
Thấy anh nói có anh Hùng ở F 302 bị hy sinh ở Chong cal..thế anh có biết anh Hùng quê ở đâu không ?

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM