Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Hai, 2019, 03:10:32 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 31 
 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 11:24:12 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
         
        Churchill có vẻ khoái « tai nạn » này vô cùng, vì sau đó ông đã kể đi kể lại nhiều lần,

        Tiếp theo các cuộc đổ bộ thành công của Đồng minh ở Ma-Rốc, Oran và Algiers, Binh đoàn 1 Anh, Tư lịnh là Đại Tướng Kenneth Anderson lại thoái bỏ và rút ra khỏi Tunisia. Quân Đức tiến vào Tunisia sau cuộc đổ bộ của Đồng minh không lâu và viên tư lịnh lực lượng Pháp ở đây là Đại Tường Barré bắt đầu ra lịnh triệt thoái các đơn vị nghèo nàn trang bị và cơ động của ông về phía Tây.

        Các đơn vị của Bộ chỉ huy в Tiền phương thuộc Sư đoàn 2 Thiết giáp Hoa Kỳ được tăng phái cho quân Anh trước khi toàn thể sư đoàn tiến vào mặt trận. Các đơn vi tang phái này được dàn ra ở đông Dorsal, dọc theo biên giới Tunisia, dặt dưới quyền chỉ huy của người Anh hoặc Pháp cho đến tháng giêng năm 1945, khi Quân đoàn II Hoa Ky tiến vào đảm trách khu vực này. Nhưng trước khi việc này xảy ra, người Đức đã chuẩn bị để đập tan mối đe dọa nằm phía sau các lực lượng của Rommel đang rút vê phía Tây trước mũi dùi của Binh đoàn 8 Anh đang chĩa xuống các khu vực phía bắc Libya và Tripolitania gần Bịa Trung Hải.

        Sau khi quân Đức đã đập tan các cuộc phản công của quân Mỹ ở Lessouda và Sidibou-Sid, Rornmel lại vội vã tiến binh và bảo vệ an toàn cho Kasserine Pass và các trận xa chiến vang danh lịch sử đã xảy ra lại khu vực này

        Ngày 20 tháng 2 năm 1943, Rommel chọc thủng các thành phần Hoa Kỳ dàn dọc theo Kasserine Pass. Thiếu Tướng P. M. Robinett, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy в Tiền Phương của Sư đoàn 1 Thiết giáp được lịnh Trung Tướng Harmon tung quân chặn đứng Rommel. Một cuộc quần thảo chiến xa giữa Rommel và Robinett xảy ra vào ngày 21. Phần thắng nghiêng về phía Hoa Kỳ.

        Ngày 22. Rommel chỉnh đốn lại đội ngũ và tấn công nữa. Lần này Rommel bị đẩy lui thật xa các phòng tuyến Hoa Kỳ. Chiến thắng của Robinett đã làm xoay hẳn cán cân lực lượng giữa đôi bên, tuy nhiên chưa thể « thuyết phục » Rommel bỏ cuộc.

        Ngàv 23 tháng 3, Patton rời khỏi Casablanca sang Tunisia nắm quyền chỉ huy Quân đoàn II Thiết giáp Hoa Kỳ, trực thuộc Binh đoàn 8 Anh của Đại Tướng Alexander.

        Vào ngày 25 tháng 3, Tướng Alexander chỉ định Quân đoàn của Patton thực hiện nhiệm vụ đồng loạt : Thiết lập một phòng tuyến vững chắc dọc theo Abiod Sbiba và tung quân tiến về Gufsa Sbeitla ; Sư đoàn 9 và sư đoàn 34 được tăng phái cho Patton tiến dọc theo con đường Gufsa Gabes, nhằm khai thông con đường này đến phía bắc ngọn đồi 309 cho Sư đoàn 1 Thiết giáp di chuyển xuyên qua.

        Nếu chiếm giữ được ngọn đôi 369, Quân đoàn II sẽ kiểm soát trục lộ giữa Djebel- Chemsi và Djebel Berda. Khi trục lộ này được khai thông sẽ cho phép lực lượng Đồng minh tiến lên phía Bắc tiêu diệt các hệ thống liên lạc của địch quân.

        Tất cả nhiệm vụ giao phó đều hoàn thành, tuy nhiên Thiếu tá Jenson, một tùy viên của Patton, bị tử thương vào ngày 1 tháng 4 năm 1943 trong lúc trận đánh sắp tàn. Trong nhựt ký, Patton đã mô tả cái chết và lễ an táng viên sĩ quan này như sau :

        « Mười hai oanh tạc cơ Đức chúi xuống và dội bom ngay vào bộ chỉ huy mặt trận, tất cả mọi người đều nhảy vào hầm trú ẩn gần đó. Một quả bom rơi trúng vào góc hầm của Jenson, giết hắn tức khắc. Đôi mắt của hắn không nhìn thấy nữa vào lúc 10 giờ 12 phút. Tài giỏi, trung tín và can đảm, tôi tiếc thương sâu xa người thuộc cấp này...

        Ở đây chúng tôi có một trung đội chung sự, một đội kèn, nhưng không có hòm hoặc gỗ, Jenson nằm trên một cáng khiêng và được quàn luôn một vuông vải trắng vào đó. Đại úy Stiller, Trung úy Craig, Trung sĩ Meeks và Trung sĩ Meeks khiêng hắn đến nghĩa địa mới gần đó.

        Trong bức thư gởi cho mẹ của Jenson, tôi có gói theo một lọn tóc của hắn ».

        Vào ngày 13 tháng 4, ông viết thư cho phu nhân :

        « Chúng tôi chấm dứt các trận đánh ở đây vào ngày 7, và vào ngày 10 các chiến xa đầu tiên tiến qua con đường ở Paid mà không gặp sự chống đối nào.

        Trước khi rời khỏi Gafsa, tôi, Gay và Trung sĩ Meeks có đến nghĩa địa mới để từ biệt Jenson. Ở đây, sau các trận đánh, đã có hơn 700 ngôi mộ... »

        Giữa tháng 4, Patton rời khỏi Tunisia và được Tướng Bradley thay thế. Patton trở lại Rabat để tiếp tục nhiệm vụ cũ của ông, thực hiện cuộc đổ bộ và điều khiển mặt trận Sicily vào tháng 7 kế đó.

        Mặt trận Tunisia được kết thúc một cách tốt đẹp, những thành quả này do công của Tướng Bradley. Hầu hết lực lượng Phát-xít đều bị bắt giữ.

***

        Patton và những người tháp tùng theo ông trải qua ngày 15 và 16 tháng 4, ở Constantine, Tunisia. Sáng hôm san, tất cả leo lên chiếc C.47 tại một phi trường nhỏ gần thành phố để bay đến Rabat. Ngoài nhóm Patton, còn có Đại Tướng Spaalz, Tổng tư lịnh Không lực Hoa Kỳ. Vì có sự hiện diện của tướug Spaatz, viên phi công lính quýnh

        đến nỗi không thể nào làm cho phi cơ nổ máy được. Nhưng cuối cùng phi cơ cũng cất cánh và viên phi công hỏi xem Tướng Spaatz có cần dù hãy không. Tướng Spaatz đáp :

        «Cần lắm, tôi muốn có ngay bây giờ! » Viên phi công lập tức đem cho ông một câv dù và yêu cầu ông để hắn mang giúp. ông đáp :

        «Tôi có thể tự mang được ». Thế rồi ông đặt cây dù lên sàn phi cơ, gối đầu lên và ngủ khò. Trung sĩ Meeks nói rằng chuyến bay này rất « đắt giá » nếu phi cơ rơi. Nhưng chuyến bay tư Constantine đến Rabat êm thắm.

        Patton rời khỏi mặt trận Tunisia đúng ngày 17 tháng 4 năm 1943. ông viết :

        « Lúc 14 giờ, rời khỏi chiếc C.47, chiếc phi cơ trời đánh của Spaatz, và vào thành phố Rabat lúc 18 giờ. Keyes và Harkins gặp tôi, Tôi đã đi được 43 ngày, chỉ huy 95.800 người, đánh đâu thắng đó, mất khoảng 10 cân Anh nhưng bù lại bằng một Ngôi sao thứ ba

        Tunisia là một mặt trận để huấn luyện các vị tư lịnh Hoa Kỳ và Anh. Chính Rommel đã viết như sau :

        « Ở Tunisia người Mỹ đã trả một giá khá đắt nhưng họ đã thu thập được nhiều kinh nghiệm. Sau mặt trận này, các tướng

        lãnh Mỹ đã tỏ ra rất tiến bộ trong thuật cầm binh, mặc dù chúng ta phải chờ cho đến khi Binh đoàn của Patton đặt chân lên đất Pháp chúng ta mới thấy những thành quả đáng sửng sốt nhứt trong chiến pháp di động mà ông ta áp dụng. Người Mỹ, phải thành thật mà nói, đã thâu nhiều lãi hơn người Anh tại Phi Châu ».

 32 
 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 08:44:40 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Phicôngtiêmkích
Trở lại với Đại đội bay đêm, đánh đêm.
Cuộc chiến tranh đánh phá bằng Không quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam đã kết thúc. Các phi công bay đêm, đánh đêm xuất kích chiến đấu không nhiều và bắn rơi máy bay địch không nhiều nếu so sánh với lực lượng bay ngày, đánh ngày. Nhưng những chiến công của họ thì không thể nói là nhỏ được.
Đại tá Tạ Quốc Hưng, một trong những sĩ quan dẫn đường kỳ cựu của Không quân chia sẻ:
"Nếu chỉ nhìn vào số máy bay địch bị các phi công đánh đêm bắn hạ mà vội vã kết luận là hiệu quả chiến đấu thấp thì với tư cách là dẫn đường, tôi xin khẳng định ngay kết luận đó hoàn toàn không chính xác. Bởi ý nghĩa và cả mục đích của những lần xuất kích ban đêm là cản phá, xua đuổi, uy hiếp Không quân địch để mở thông các cửa khẩu trên tuyến đường vận tải chiến lược 559 là vô cùng to lớn và có rất nhiều ý nghĩa, mặc dù số máy bay bị các phi công bắn hạ chỉ đếm trên đầu ngón tay..."
Một lần gần đây, tôi có dịp ngồi tâm sự với Đại tá Nguyễn Văn Chuyên, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, cũng là người dẫn đường kỳ cựu và từng dẫn nhiều trận đánh về ban đêm. Khi hỏi về những trận đánh đêm thì anh nói:
"Phải nói rằng, suốt 7 năm trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ ra miền Bắc Việt Nam, ta có xây dựng đội ngũ bay đêm, nhưng những trận đánh ngày đã cuốn hút hơn nên phần nào cũng sao nhãng trong việc chỉ đạo, chăm sóc cho lĩnh vực đánh đêm. Những phi công đánh đêm là những phi công có kỹ thuật giỏi, hoàn chỉnh nhất vì bay được 4 khí tượng, cũng giống như phi công Hải quân của Mỹ giỏi hơn phi công của Không quân Mỹ vậy. Anh Đinh Tôn là phi công giỏi nhất trong đội ngũ phi công Việt Nam, chưa ai hơn được anh ấy. Nói về thành tích của lực lượng phi công đánh đêm thì đầu tiên phải nói đến việc làm hạn chế hỏa lực của B-52 trên tuyến đường 559, rồi đến chiến dịch Quảng Trị và chiến dịch 12 ngày đêm "Điện Biên Phủ trên không".. Các phi công đánh đêm như Đinh Tôn, Hoàng Biểu, Vũ Đình Rạng...đã âm thầm, thường xuyên coa mặt trong chiến trường Khu Bốn làm nhiệm vụ. Đánh đêm là trận đánh đơn đọc nhưng giá trị rất lớn, ví như trận đêm 20-11-1971, sau đêm ấy, bọn B-52 không dám ra hoạt động ở phía Bắc đường 9 đến tận 4 tháng liền, chỉ dám hoạt động ở phía Nam đường 9 thôi. Điều này là điều rất quan trọng cho chiến trường, cho chiến dịch Quảng Trị và cho cả chiến dịch 12 ngày đêm sau này. Còn về việc tính công trạng thì tôi phải nói thế này: nếu trong bóng đá không có người thiết kế, đưa bóng cho người làm bàn thì liệu có đá tung lưới đối phương được không. Người thiết kế, kiến tạo, tạo cơ hội ấy quan trọng lắm. Trong chiến dịch 12 ngày đêm, Không quân cũng thiết kế cho tên lửa Phòng không ghi bàn đấy chứ. Và ngay trong đêm 18-12, việc xuất kích của các phi công bay đêm giá trị  kém gì việc bắn rơi B-52...Chốt lại, tôi chỉ muốn nói: các phi công đánh đêm đã âm thầm cống hiến, tuy bắn rơi ít máy bay địch, nhưng sự đóng góp của họ rất to lớn, không hề nhỏ bé đâu!...

 33 
 vào lúc: 11 Tháng Mười Hai, 2019, 07:00:22 AM 
Tác giả VMH - Bài mới nhất gửi bởi ptlinh
Kỷ niệm 75 năm thành lập QĐND Việt Nam, QKTĐ tổ chức offiline tại Hẻm quán Hoàng Cầu vào lúc 11h30 ngày 14/12/2019. Kính mời các đồng chí tham dự.

 34 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:13:37 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

13. ĐẠO QUÂN THIẾT KỴ RA ĐỜI

1

        Giữa năm 1941, có sự thay đổi ở Bộ Tư Lịnh Tối Cao Ý Đại Lợi tại Phi Châu. Đại Tướng  Bastico thay thế Đại Tướng Garibaldi.

        Một bức công điện được mã hóa gởi đến. Bardia, chỉ thị Rommel trình diện Bastico lập tức ở Cyrene. Ngay hôm sau chúng tôi đến Cyrene, dơ bẩn và mệt đừ bởi cuộc hành trình quả dài, vì chúng tôi đã phải đi vòng quanh Tobruk. Chúng tôi, những người đã quen với ngôi nhà dột nát ở Bardia, đã cảm thấy giống như lạc vào cung điện xa hoa lộng lẫy của bậc đế vương lúc đi ngang qua một khu vườn hoa xinh xắn để tiến vào một ngôi nhà, mà các cột trụ toàn bằng đá hoa cương, dành riêng cho chúng tôi trong thời gian ở Cyrene.

        Đây là lần đầu tiên trong nhiều tháng đôi mắt của tôi mới không còn phải nhìn thấy mặt trời, cát và ruồi, và thay vào đó là những bãi cỏ mượt, những đám mây trắng, những đồi cây xanh, và những người đàn bà đáng yêu. Nhưng Rommel và tôi, dơ bẩn và mệt nhọc, với những chiếc xe lâm nhâm lỗ đạn và bụi bậm trùm lấp qua thời gian dài lặn lội trong sa mạc, đã không cảm thấy cái gì gọi là gần gũi trong ngôi nhà đá hoa cương này và những phục thị dành cho chúng tôi.

        Rommel lập tức thông báo sự có mặt của ông để xin hội kiến với Bastico. Viên tân Tư Lịnh người Ý vì bận nên chỉ tiếp Rommel nửa giờ sau đó. Khi Rommel rời khỏi văn phòng Bastico, qua cuộc hội kiến ngắn ngủi, ông có vẻ khó chịu. Sau này khi nhắc đến Bastico, chúng tôi thường gọi là « Bombastico » (quả bom Bastico).

        Thật ra, hiện giờ Rommel đã được chỉ định vào một chức vụ cao hơn và có nhiều quyền hạn hơn. Một nhóm sĩ quan Đức thuộc một tổng Hành Dinh mới đã đến Cyrene. Tổng Hành Dinh của Đạo quân Thiết kỵ Phi Châu (Panzer Gruppe Afrika) mới thành lập, và được đặt dưới quyền sử dụng của Bộ Tổng Tư Lịnh Phi Châu, do Bastico cầm đầu.

        Rommel, theo tôi thấy, tỏ ra khó chịu, và có vẻ lo lắng, chắc hẳn ông tự hỏi không hiểu bộ tham mưu mới này sẽ nằm dưới sự điều động trực tiếp của OKW (Oberkammando des Wehrmacht) Bộ Tư Lịnh Tối Cao Đức Quốc Xã, hoặc sẽ do một tướng lãnh cao cấp hơn ông cầm đầu, bao gồm cả Quân đoàn Phi Châu mà hiện ông là Tư Lịnh1.

        Điều lo lắng này sẽ được giải tỏa tất cả trong chuyến đi Cyrene này. Lúc chờ đợi «Ông Xếp » hội kiến Bastico, tôi có gặp một số sĩ quan của Bộ Tham Mưu mới. Một trong số này là Trung úy Dickmann, một sĩ quan tùy viên, với thái độ vồn vã hiếm thấy khi gặp tôi, khiến tôi có cảm giác như là một vật lạ lùng đối với hắn ta qua dáng vẻ thô kệch, rừng rú trong nhiều tháng sống ở tiền tuyến của tôi. Tôi nghĩ là hắn ta đã đóng kịch, nhưng khi Rommel từ văn phòng Bastico chạy đến gặp Tướng Gause, người cầm đầu Bộ Tham Mưu mới đến, tôi biết là đã nghĩ sai. Gause, một người cân đối và mạnh khỏe, đã cung kỉnh trình lên Rommel rằng Bộ Tham Mưu mới của ông được đặt dưới quyền của Rommel.   

        Từ đó, một đạo quân thiết kỵ ở Phỉ Châu ra đời, tháng tám 1941, Tư Lịnh là Rommel. Đạo quân Thiết kỵ Phi Châu (Panzer Gruppe Afrika) đương nhiên bao gồm hai quân đoàn Ý nằm bên ngoài Tobruk và Quân đoàn Phi Châu của Đức, Tư Lịnh hiện thời là Tướng Cruwell, đặt dưới quyền điều động của Rommel.

        Mặc dầu bộ tư lịnh cao cấp hơn được khai sáng, lực lượng của chúng tôi ở sa mạc không được tăng cường là bao. Thật vậy, các đơn vị tăng cường cho đúng với thực danh của nó có thể sẽ không hy vọng có được trong một thời gian ngắn. Chính Rommel đã nhấn mạnh rằng các đường tiếp tế trong sa mạc vẫn phải được nắm giữ bằng mọi cách để duy trì mức độ cung cấp hiện hữu cho ba sư đoàn Đức đang có mặt ở Phi Châu cho đến khi các đơn vị chiến đấu khác được chuyển vận sang.

        Suốt những tháng mùa hạ nóng bức, tuyến Sollum vẫn được củng сố thêm theo lịnh của Rommel. Các khẩu súng phòng thủ hạng nặng được gởi đến và các bãi mìn cũng được thiết lập thêm. Sau khi mặt này được cùng cố hoàn toàn, ông tập trung tất cả sự chú ý vào tuyến Tobruk. Một cách có hệ thống, ông chuẩn bị một cuộc tấn công vào hạ tuần tháng 11. Ông hạ lịnh cho các đơn vị tại một số khu vực thiết lập thêm những vị trí tiền phương. Các tiền đồn chiến đấu mới này nằm quá về phía trước phòng tuyến hiện hữu đã được thiết lập vào ban đêm, mặc dù gặp phải các toán tuần tiễu của Úc Đại Lợi ngăn chặn liên tục, các tiền đồn này vẫn hoàn tất và đã được trấn đóng ngay.

------------------------
        1. Đạo quân (Group) cấp số lớn hơn Quân đoàn (Corp) nhưng nhỏ hơn Binh đoàn tức Lộ quân (Army) cấp số cao hơn nữa là Đại đoàn (Army Group), chỉ thấy nói đến trong hai kỳ Đệ nhứt: và Đệ nhị thế chiến.

 35 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:11:32 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Halfaya là nơi khá nhộn nhịp trước đây. Rommel xem khu vực này có tính cách chiến lược quan trọng hàng đầu, vì nó chế ngự con đường duyên hải từ Ai Cập vào Cyrenaica. Trường hợp dịch quân tấn công Cyrenaica, trong khi con đường đi ngang Sollum và Haifa bị chặn, địch quân sẽ bắt buộc phải tiến xa về phía nam, di chuyển ngang qua sa mạc. Vì vậy, Rommel gấp rút tăng cường mạnh mẽ vị trí này và, ông vừa gởi một số đơn vị thuộc Sư đoàn 90 đến đây, mặc dù sư đoàn này vẫn còn bất động vì thiếu phương tiện chuyển vận.

        Chúng tôi đến vừa đúng lúc Bach hội họp với các Đại đội trưởng của ông. Và đó cũng là dịp may để Rommel nói chuyện với họ.

        « Quí vị », Rommel nói, « chiến đấu ở sa mạc tốt nhứt, nếu so với mặt trận trên biển. Bất cứ phe nào nếu nắm trong tay loại vũ khí có tầm bắn xa nhứt, phe đó có cánh tai dài nhứt, giống như trên mặt biển. Và bất cứ phe nào di động nhiều hơn, cùng với sự hữu hiệu về phương diện tiếp tế, phe đó có thể bắt buộc đối thủ hành động theo mong muốn của họ.

        « Các đơn vị của quí vị ở đây, ở Halfaya, là các đơn vị bất động. Các đơn vị này chỉ hữu hiệu để chống lại các đơn vị cơ động là khi nào chúng được đặt vào những vị trí đã được chuẩn bị hoàn hảo và kiên cố. Nhưng ở đây, quỉ vị lại còn ưu thế là có được « cánh tay dài nhứt » — các khẩu 88 ly. Điều chánh yếu đối với quí vị, các đơn vị bất động, là phải ngụy trang, phải che dấu bằng mọi cách tốt nhứt sự dòm ngó của địch quân, và chuẩn bị, dự trù xạ trường hữu hiệu tối đa cho các khẩu 88 ly và các loại vũ khí khác ».

        Rommel ngừng nói, và sau đó tiếp tục với giọng điệu mạnh mẽ : « Các yếu tố này cũng nằm trong ý định của tôi : thiết dựng một tuyến phòng thủ kéo dài từ bờ biển đến Sidi Omar. Các vị trí tiền đồn, trên cấp đại đội, bắt buộc phải nằm cách khoảng nhau khá xa, nhưng toàn thể phòng tuyến này phải được sắp xếp để có một chiều sâu hợp lý đối với hậu tuyến.

        « Mỗi điểm phòng thủ chính nó phải là một hệ thống kháng cự toàn bộ. Mỗi loại vũ khí phải được đặt như thế nào để có thể khai hỏa mọi hướng. Tôi đã phác họa sự sắp xếp các điểm phòng thủ lý tưởng trên những căn bản sau đây :

        « Một khẩu 88 ly đặt sâu dưới mặt đất đến mức độ mà xạ trường có thể cho phép. Từ đây, sẽ có ba giao thông hào tỉa ra ba hưởng, dẫn đến ba điểm — thử nhứt, dẫn đến vị trí đặt một khẩu đại liên, thứ hai dẫn đến một khẩu súng cối hạng nặng và thứ ba dẫn đến một khẩu cao xạ 22 ly hoặc 50 ly (chống cả chiến xa). Nước uống, thực phẩm và đạn dược phải luôn luôn đầy đủ cho ba tuần lễ. Và mọi binh sĩ chuẩn bị tác chiến ngay cả khi ngủ ».

        Rommel nhấn mạnh : « Quí vị, đây là một vài lưu ý về phép dụng binh. Trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công của địch quân, hỏa lực của mọi loại vũ khí của chúng ta phải bao che các lỗ hổng giữa các điểm kháng cự, nếu không, địch quân sẽ đâm mũi dùi xuyên qua các lỗ hổng đó. Mọi loại vũ khí cũng cần phải được đặt trong vị thế bao che cho cả phía sau nữa. Để dễ hiểu, tôi có thể nói là không có vấn đề «Chiều hướng — Trướcmặt» mà là « Chiều hướng — Địch quân ».

        Ông nhấn mạnh một điểm khác :« Quyết định cuối cùng của bất kỳ cuộc tấn công nào nếu các đơn vị cơ động và thiết giáp có thể dàn được phía sau phòng tuyến địch để đánh tới. Quyết định này nằm trong yếu tố tinh thần. Và một trận chiến gọi là thắng chỉ khi nào địch quân hoàn toàn bị tiêu diệt. Hãy nhớ một điều : mọi vị trí cá nhân phải được giữ, không nên lưu tâm đến tình thế tổng quát đang xuất hiện. Thiết giáp và các đơn vị cơ động của chúng ta sẽ không khiến quỉ vị mong đợi cuống cuồng... dù cho quí vị chiến đấu suốt tuần lễ mà vẫn không thấy bóng dáng chúng xuất hiện. Cám ơn quí vị ».

        Các sĩ quan giải tán. Bach tháp tùng chúng tôi đến thăm một khẩu đội của người Ý. Nơi đây, Rommel cũng rất lưu tâm đến vấn đề tiếp tế đạn dược. Hagemann thông dịch các câu nói của Rommel cho các sĩ quan Ý. Nhưng, tôi nhận thấy Rommel có vẻ hiểu tiếng Ý, ông thường chặn Hagemann ở những điểm mà hẳn ta đã dịch nhưng không lột tả hết những gì mà ông muốn nói.

        Ngàv hôm đó chúng tôi đã bị pháo kích khi di chuyển xuống « Đường Địa ngục » (tức Halfaya Pass) hướng ra khoảng trống dọc theo duyên hải. Trên bình nguyên duyên hải, Rommel ghi nhận rằng một số điểm phòng thủ đã bắt giữ được các chiến xa loại Mark II của Anh trước đây nhờ thiết lập chìm dưới mặt đất, ngoại trừ các ụ súng. Chiến công này khiến ông luôn luôn nhắc nhở, và cũng thường được bàn tán trong các câu chuyện gẫu của chúng tôi.

        Khi chúng tôi tiến ra bãi biển, tôi khởi xướng việc nhảy xuống nước. Chúng tôi không mang theo đồ tắm, nhưng có ai ở tiền tuyến sa mạc lại lưu tâm vì vấn đề này ? Rommel và tôi nhào xuống Địa Trung Hải mát mẻ. Nước biến lóng lánh như một chai Champagne mầu xanh. Rommel tung hoành trên mặt nước vui thích như một gã học trò.

        Bây giờ con đường dẫn chúng tôi đến Serpentine Pass1 hướng về Sollum Barrack2 nằm ở đầu dốc. Nửa đường đi lên dốc, chúng tôi thấy các công binh Đức đang phá một con đường hầm ăn sâu vào sườn núi dẫn sang một pháo đài phòng duyên của người Ý trước đây. Như thường lệ, Rommel đi chung quanh, nhìn chăm chú xa về phía đông, phía của địch quân.

        Và cứ thế cho đến gần tối, chúng tôi mới chạy như giông như gió về Bardia. Suốt ngày không một miếng gì trong bụng, nhưng cả núi công việc đang chờ tôi, và riêng Rommel, dù là một ông Tướng chuyên đánh đấm, giấy tờ cũng đã chất đống trên bàn bắt buộc ông phải giải quyết.

        Ngày vừa qua và những ngày kế tiếp đều giống nhau, trong sinh hoạt của tôi với Rommel.

-----------------
         1. Đường hẹp ngoằn ngoèo (như rắn lượn), đây là một địa danh.

         2. Trại lính Sollumt cũng là địa danh.


 36 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:10:19 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
           
12. SOLLUM LÊN CƠN SỐT

1

        Rommel đang gây « cơn sốt » dữ dội cho tuyến Sollum. Tôi xin đơn cử một vài hoạt cảnh trong đời sống hàng ngày của chúng tôi để mô tả « cơn sốt » này như thế nào.

        Đúng bảy giờ sáng, chúng tôi lên đường thăm viếng tiền tuyến như thường lệ. Lộ trình ngắn, chiếc Mammoth được nằm nhà. Trong hai chiếc xe mui trần, chúng tôi chạy như giông ra con đường độc nhứt dẫn vào Tổng Hành Dinh của Quân đoàn Phi Châu, bỏ lại phía sau tiếng động ầm ĩ và cái chào của tên lính gác cổng. Từ khi Aldinger ra đi, tôi ngồi chung xe với Rommel. Ông ngồi phía trước với tên tài xế, tôi ngồi phía sau với Tiến sĩ Hagemann, thông dịch viên.

        Chủng tôi chạy lướt ngang Capuzzo, xuyên qua một lỗ hổng của hàng rào giày kẽm gai chăng ở biên giới và đâm đầu vào sa mạc, xa hẳn các vị trí tiền tuyến của chúng tôi. Ở chân trời, trong vùng đất không người, chúng tôi thường nhìn thấy thấp thoáng các xe tuần tiễu của địch quân. Chúng tôi không thể đoán được cái giá mà chúng tôi phải trả như thế nào nếu chúng tôi di chuyển đúng vào tầm súng có gắn ống viễn xạ của địch quân.

        Rommel điều nghiên các vị trí của chúng tôi từ những lợi điểm về phía của địch quân. Ông xem xét các vị trí xuyên qua đôi kính trận của ông, tỉ mỉ như một khoa học gia xử dụng kính hiền vi. Ông khịt mũi luôn luôn, đó là dấu hiệu có một cái gì làm ông không được hài lòng. Chúng tôi nhảy thót trở vào xe sau ông. Ông đứng xõng lưng trên xe khi chúng tôi di chuyển thẳng đến pháo đài. mà ông vừa quan sát.

        Tên lỉnh gác trố mắt nhìn Rommel. « Tại sao anh không chào ? », Rommel la ó. Tên lính gác chụm chân lại, đứng như trời trồng, không thốt nên tiếng nào.

        « Chỉ huy trưởng tiền đồn này ở đâu ? ». Rommel hỏi một cách giận dữ.

        « Ông ấy đang ngủ, thưa... thưa... Thiếu tá ». Tẻn lính gác nói lắp.

        Hắn ta là một tân binh, mới ra mặt trận và chưa từng gặp Rommel lần nào. Hắn nhầm lẫn cả dấu hiệu cấp bậc mang ngoài mặt trận. Hắn nghĩ bất kỳ ai « lớn lối » như thế ít ra phải to chức : hẳn liền vứt ngay lá bài « Thiếu tá » lên chiếu bạc.

        «Hừ ! Thưa ông lính», Rommel chụp ngay. « Hình như, nếu tôi không lầm, mọi người ở đây đều ngủ gục hết. Xin làm ơn đánh thức họ dậy đi — thưa ngài ! »

        Tên lính gác không cần đi đâu. Khuôn mặt ngái ngủ của một sĩ quan trẻ đã thò ra từ cửa hầm trú ẩn gần đó. Khi thấy ông Tướng, anh ta đứng nghiêm lại, giơ tay chào và báo cáo : « Tiền đồn Franke báo cáo : không có gì đặc biệt ».

        « Làm sao ông biết được, thưa Trung úy ? » Rommel hỏi. « Ông đang nằm ngủ — và việc đó cũng tốt đẹp ? »

        Viên Trung úy im thin thít. Một khoảng trống ngột ngạt. Rommel nói : « Thưa Trung úy, cái đồn của ông đã không làm đúng theo các chỉ thị của tôi. Hầm trú ẩn của ông quả nổi. Mọi thứ gần như không được che dấu. Binh sĩ của ông trốn đâu cả — trong lúc ông ngủ. Ngày mai tôi sẽ quay lại và tôi muốn các đòi hỏi của tôi phải được hoàn thành. Chào Trung úy ».

        Ông chỉ lối cho tên tài xế tiếp tục lộ trình. Viên Trung ủy đứng chôn chân một chỗ. Trước khi cửa miệng hắn thốt được câu : « Jawohl, Herr General », xe của Rommel đã đi xa. Nếu sau này có dịp hồi tưởng lại những ngày ở sa mạc Bắc Phi, đầu tiên chắc hẳn phải nhớ cái màn vừa diễn ra.

        Các chiếc xe của chúng tôi bị nhận ra ngay khi chúng chạy vào pháo đài kế đó, mang tên « Cowa ». Pháo đài báo động. Viên Trung úy chỉ huy chực chờ tiếp đón. Dung mạo Rommel đối khác hoàn toàn, nhưng vẫn dấu kín sự thân cận, theo tật cố hữu của ông.

        « Một vị trí hoàn hào, và các xếp đặt tốt », ông phê bình. « Đây là điều quan trọng hàng đầu. Chúng ta không thề nằm chờ các dịp may. Về vấn đề các đường tiếp tế của chúng ta trên Địa Trung Hải hiện rất khó khăn trong việc mang quân dụng và thực phẩm khô cho binh sĩ của chúng ta trú đóng ở Phi Châu. Vì lý do này, chúng ta phải thích nghi hẳn với hoàn cảnh, và nó cũng tùy theo sự xếp đặt của chúng ta. Một pháo đài gọi là hoàn hảo ngoài tinh thần phục vụ ra, còn phải bao gồm những điều vừa nói ».

        « Jawohl, Herr General ».

        « Tình trạng đạn dược và lương thực của anh như thế nào ? »

        « Đạn dược đầy đủ, thưa Đại Tướng, và thực phẩm dự trữ ba ngày ».

        « Chỉ ba ngày, anh bạn ? Anh phải đòi hỏi xét lại để đủ dùng ba tuần lễ. Nhưng... đừng bao giờ nghĩ là sẽ thấy có ngay ».

        Với hai tiếng « cảm ơn » ngắn ngủi, Rommel lại tiếp tục lộ trình.

        Tại mỗi tiền đồn, ông Tướng đều rời khỏi xe. Mặc dù gấp hai lần tuổi của tôi, ông không hề tỏ vẻ mệt nhọc. Hai chân tôi mỏi nhừ và bước đi nặng nề, vì đôi giầy luôn luôn ngập trong cát. Tôi phải ghi chú không ngừng nghỉ mọi đòi hỏi, mọi mạng lịnh và mọi nhận xét của ông Tướng. Khi về, tôi có nhiệm vụ mang tất cả mọi việc liên hệ đến chuyến đi trình lên Tham Mưu Trưởng.

        Chúng tôi đến thăm một trong những đồn chặn bắt liên lạc vô tuyến của địch. Hai trong số đồn này nằm ở đầu tuyến Solium, có nhiệm vụ dò tìm các làn sóng liên lạc xa của địch quân và trắc giác để định vị trí phát xuất.

        Theo tin tức bắt được cho thấy hiện tại các cơ sở vô tuyến của địch đã dời về phía bắc, gần biển. « Không đáng ngạc nhiên », Rommel mỉm cười. « Đó là do thời tiết. Các anh tưởng rằng người Anh không thích tắm biển ? »

        Chúng tôi thường thấm viếng Halfaya. Ngày hôm đó chúng tôi đến đây ngay sau khi đã rảo qua các tiền đồn khác. Đại úy Bach, tay cầm «gậy », đến gặp chúng tôi. Ngoài Bach, không có sĩ quan nào khác được phép cầm gậy trước mặt Rommel. Bach được Rommel cho phép bởi ông ta đã lớn tuổi. Một mục sư lúc còn ngoài dân sự, Bach được thuộc cấp yêu mến do lòng khoan dung của ông. Mặc dù thời bình nghề nghiệp của ông không dính dáng gì đến quân ngũ, nhưng thời chiến, khi nắm quyền chỉ huy vị trí này, khả năng của ông còn tỏ ra vượt hơn nhiều sĩ quan chuyên nghiệp khác. Rommel có biệt nhãn đối với ông.

 37 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:09:00 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Mỗi đêm tôi cặm cụi như là một thư ký tư. Thời gian này, dù tăm tiếng của Rommel chưa tiến đến tột đỉnh, nhưng mỗi ngày có từ ba mươi đến bốn mươi bức thư gởi đến ông từ nhiều quốc gia và mọi giới ở Đức. Nhiều bức thư đến từ các chú bé sùng bai vị anh hùng Rommel, nhưng đa số là của phái nữ. Tất cả đều chứa đựng những lời lẽ hâm mộ nồng nhiệt và gần như hầu hết đều hỏi xin ảnh của ông Tướng. Để đáp ứng sự đòi hỏi này, chúng tôi phải rửa một số lượng khả to chân dung của Rommel được chụp bởi Hoffman, nhiếp ảnh viên chính thức của Hitler ở Munich và đích thân Rommel ký tặng trên mỗi bức ảnh được tôi gởi đi.

        Tôi cũng phải trả lời riêng các bức thư đến từ những người từng quen biết Rommel. Việc này không phải luôn luôn dễ dàng, vì tôi chẳng biết người viết ra sao mà cũng chẳng biết mức độ quen thân giữa họ như thế nào. Nhưng tôi có rất ít thì giờ để cân nhắc, và sau đó tôi sớm nghĩ ra một số phúc đáp mẫu đánh máy sẵn để trình lên ông Tướng và gửi đi như mọi văn thư thông thường. Một số phúc đáp thư khác tôi giao cho một tốc ký viên, Hạ sĩ Bottcher.

        Tôi sẽ đưa Rottcher một xấp thư và nói : « Mười tám trẻ em và phụ nữ muốn xin ảnh —  hãy gởi cho họ với những câu thường lệ ».

        Kế đó, tôi lôi ra hai bức thư đề riêng. « Đây là hai bức thư của hai chiến hữu hồi Đệ nhứt thế chiến. Hãy viết: « Bạn thân mến, tôi rất cám ơn...». Và tôi tiếp tục giả dạng Rommel qua những gì mà tôi biết về ông. Nhưng Rommel luôn luôn xem tỉ mỉ những phúc thư loại này và ông sẽ không bao giờ ký, nếu xét thấy chúng được bịa một cách quá trớn.

        Rommel có tật mỗi khỉ ký tên là đầu lưỡi của ông thè ra, và vì vậy một lần đệ trình các bức thư lên cho ông là một lần tiêu khiển của tôi, và buồn cười hơn, là sau khi ký đầy đủ tên xong, ông lại kẻ thêm các đường nét hoa mỹ một cách khác thường quanh chữ « R » rắn rỏi. Thỉnh thoảng tôi nhận ra một nét chữ quen thuộc trong các bức thư và kêu lên « A ! Lại một bức thơ khác của Die alte Schachtel (Mụ Phù Thủv) ở Leipzig ». Người viết thư, hiển nhiên là một người đàn bà lớn tuổi, dưới mỗi bức thư luôn luôn ký « Mụ Phù Thủy ». Bức thư đầu tiên của bà ta đã khởi bằng câu : « Sehrgeehrter Herr General —  Vị Tướng đáng tôn kính nhứt... ». Nhưng, đến bức thứ năm, giọng diễu cợt cởi mở hơn :

        « Rommel thân mến, và các thuộc cấp của Rommel... » Bà ta viết hẳn ra những ẩn chưa trong thâm tâm, không có sự e dè mà cũng không có sự tôn kính nào dành cho những người có địa vi cao cả. Chẳng hạn : « Hans Fritsche lại làm rộn bên chiếc máy thâu thanh — tôi không thể chịu đựng nỗi tánh ưa càu nhàu và các lời mỉa mai chua chát của hắn ». (Hans Fritsche đây chắc là ông chồng của bà ta). Nhưng các bức thư của bà ta thường mang đến những tin tức đầy khích lệ khắp mọi nơi và, mặc dù bà ta gởi riêng cho Rommel, lại gây nhiều niềm vui cho tất cả chúng tôi. Chúng tôi đồng ý rằng, dù cho kỳ dị đi nữa, bà ta, mụ phù thủy này, là người thực sự có tinh thần.

        Một hôm bà ta gởi cho chúng tôi một kiện sách vĩ đại. Rommel yêu cầu tôi mang phân phát cho các binh sĩ ở Halfaya. Tôi có xem qua một số sách và lấy làm thích thú khi nhận thấy chúng toàn là loại « Văn chương rẻ tiền ».

        Tôi cung nhận được một bức thư, bắt đầu bằng câu : « Tất cả gia đình đã kiêu hãnh vì anh, người anh vang danh của em». Tôi không đọc hết và chuyển ngay cho Rommel, đoán chừng bức thư đã đến từ cô em gái của ông.

        Có lẽ tôi thích thú cách đặc biệt khi nhận được các lá thư do những người cùng quê quán với Rommel, ở Swabia1 gởi cho ông. Các bức thư đã tiết lộ cho tôi thấy rõ ràng những đức tính đặc thù của sự trung thành, tùng phục và can đảm, và do đó đã phát sinh rа những quân nhân xuất sắc từ các cư dân ở đây, như Rommel chẳng hạn. Nhưng người Swabia, theo quan điểm riêng của tôi, đã có một yếu điểm : lòng kiêu ngạo địa phương quá mãnh liệt của họ. Một câu tôi được đọc : « Chúng tôi hãnh diện về sự thành công của ông. Một người Swabia cầm đầu Quân đoàn Phi Châu, đó là một vĩ đại thật sự. Và chúng tôi có nghe nói đa số binh sĩ của ông đều sinh trưởng ở Swabia. Vâng, không có bất kỳ sự ngờ vực nào khi cho rằng những người Swabia là những quân nhân tốt nhứt... ». Tôi cố gắng trả lời với tất cả sự khôn khéo mà tôi có thể, nhằm hạ bớt ngọn lửa nhiệt tâm của họ xuống. Rommel đã tỏ ra ngần ngừ, rồi ông mĩm cười, và ký bức thư đá giò lái này.

        Mỗi chiều Bộ Tham Mưu đều trình lên Rommel một bàn tóm lược các biến cố trong ngày ở Nga Sô. Và qua một bản đồ theo dõi tình hình quân sự to lớn treo trên tường, Rommel đặc biệt chú ý đến diễn tiến hoạt động của Sư đoàn 7 Panzer, « Sư đoàn ma quái » mà ông từng chỉ huy trước kia, và ông đã tỏ ra đắc ý khi nhìn thấy các mũi dùi của sư đoàn này chĩa thẳng về phía Mạc tư khoa.

        Ông cũng biếu lộ sự khoan khoái tột cùng khi các lực lượng dù của phe Trục chiếm giữ Crete2 mà vai trò của không quân Đức đã tỏ ra rất hữu hiệu. Thái độ của ông rất dễ hiểu, bởi vì vai trò của không quân vẫn được ông xem là căn bản tốt nhứt cho các hoạt động đương đầu với địch quân ở sa mạc và Trung Đông như là một tính cách toàn diện. Nhưng ông cảm thấy rằng việc chiếm giữ Malta3 sẽ có giá trị 1âu dài hơn, vì hòn đảo nhỏ bé này là một đe dọa liên tục công cuộc tiếp tế bằng đường biển của chúng tôi cho mặt trận Bắc Phi. Người Anh sẽ không bao giờ chiến thắng ở Bắc Phi nếu Malta bị tấn công và bi chiếm giữ vào năm 1941 ? Tôi không nghĩ như thế.

-----------------
        1. Swabia, một khu vực thuộc Tây Nam Đức, пằт hai bên Hắc lâm ( Black Forest), giữa Neckar và hồ Constance.

        2. Một hòn đảo của Hy Lạp ở Địa Trung Hải.

        3. Một hòn đảo của Anh quốc ở Địa Trung Hải, phía Nam đảo Sicily của Y Đại Lợi.


 38 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:07:07 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

2

        Tình trạng tiếp tế của chúng tôi cũng cải thiện dần dần. Lần đầu tiên trong sa mạc, chúng tôi nhận được rau cải tươi từ vùng Jebel Akhdar và từ Tripoli. Sau đó chúng tôi được một bữa khoái khẩu với món gan chiên bơ. Khi viên sĩ quan phụ trách phòng ăn hô to : « Trong quí vị ở đây có ai muốn dùng gan một lần nữa không ? ». Chủng tôi đều ngạc nhiên lớn với sự rộng rãi của hắn ta, và không ai từ chổi. Nhưng qua bữa ăn kế khi hắn hò to : « có ai trong quí vị muốn dùng thêm gan lạc đà nữa không ? ». Mặt mày của chúng tôi bí xị.

        Riêng Rommel ăn uống không cầu kỳ và chẳng bao giờ nghe ông ta phàn nàn chuyện ăn uống của ông. Ông thường dùng các thức ăn khô giống như binh sĩ và nhất là thời gian chúng tôi chỉ có ít cả mòi hộp, bánh mì và dĩ nhiên, « Alter Mann ». Ông tự cho phép uống một ly rượu vang chỉ khi nào có một buổi lễ đặc biệt với tính cách giao tế. Ông không bao giờ hút thuốc. Thật vậy, ông và đối thủ chính của ông là Montgomery đã giống y hệt nhau về phương diện khắc khổ trong đời sống.

        Rommel thích đi ngủ sớm và luôn luôn dậy rất sớm và làm việc chuyên cần. Ông thích đi săn và trong những lúc nhàn rỗi ông hay đi săn linh dương trong sa mạc. Người ta sẽ thấy, sau này, bản tính thích săn đuổi lộ hẳn từ một bề ngoài không hề xúc động của ông. Mặt khác, ông đúng là khắc tinh của giống ruồi. Hằng ngày, suốt giờ ăn, ông сố tìm cách diệt giống vật gây bệnh truyền nhiễm này càng nhiều càng tốt.

        Berndt và tôi sống trong một ngòi nhà nhỏ nằm gần khu đặt bản doanh, phía bên phải, dựa lưng vào vách đá được xem như là nơi ổn định nhứt so với những ngày đã qua.

        Tòi hiểu rõ Berndt hơn trong những ngày này. Tôi được chứng kiến sau đó sự đóng góp của anh ta vào các huyền thoại bao quanh Rommel. Các hình ảnh của « Con Cáo Sa Mạc » được quảng bá tại Đức và các xứ trung lập đều do chính Bernđt sắp xếp vã đạo diễn. Chính Rommel, mà các thông tín viên chiến tranh có thể xác nhận, theo lời khuyên của Berndt đã sẵn sàng để cho chụp hình bất kỳ lúc nào, với tất cả dáng vẻ tự nhiên, khiến cho nhiếp ảnh viên dễ dàng lấy các góc cạnh, càng gây hiệu quả hơn cho nhiệm vụ tuyên truyền của Berndt. Berndt và tôi rất thân cận, mặc dù chính kiến chúng tôi bất đồng. Gã đàn ông vạm vỡ với chiếc đầu tròn to lớn này thường gợi nhớ một gánh nặng cho tôi, nhưng lại có giọng nói êm đềm và gây lòng tin cậy, nhứt là sự tưởng tượng của Berndt, rất phong phú. Các tin tức của Berndt về các hoạt động của chúng tôi — hoặc đôi khi của riêng anh ta — luôn luôn không đúng mức với sự thật. Mặc dù trong quân đội anh ta chỉ mang cấp bậc Trung úy, nhưng lại khoái gây ấn tượng như mình là một tay có ảnh hưởng mạnh mẽ ở Bộ Tuyên Truyền. Điều này tôi tự hỏi, có phải đó là một ý thích đơn giản chỉ nhằm quan trọng hóa anh ta, hay là anh ta thật sự có thân thế ?

        Một hôm, Bernđt cao hứng tiết lộ riêng với tôi, rằng chính anh ta là người tổ chức kế hoạch giả dạng quân Tiệp Khắc gây ra các biến cố ở biên giới1. Các biến cố này chính thức được mô tả như là các hành động gây hấn chống Đức Quốc và hậu quả như thế nào ai ai cũng đều biết. Với tư cách quân nhân . trong thời gian đó, tôi chưa hề nghe nói đến bất kỳ ẩn ý nào trong các biến cố vừa nói. Nhưng dù cho có nghe đi nữa, tôi cũng sẽ bỏ qua và xem như đó chỉ là một loại tuyên truyền thông thường do phe địch đưa ra. Tiết lộ của Berndt, vì vậy, đã gây cho tôi một xúc động mạnh mẽ.

        Tôi nghĩ rằng hành vi như thế không những xấu xa mà còn đưa tới mối nguy hiểm cao độ, đã khiến Đức quốc bị ném vào sự đơn độc. Tôi nói với Berndt như thế.

        Berndt không còn giữ vẽ điềm đạm và đã lớn tiếng với tôi một cách cáu kỉnh :

        « Schmidt, anh là một mẫu người trong số nhiều người Đức không may đã có những ý tưởng phát sinh từ chủ nghĩa xúc động đầy sự mê muội và ngớ ngẩn ». Anh ta tiếp : « Chúng ta phải nhìn nhận câu phương châm của người Anh : Xử sự của tôi đúng hoặc sai ».

        Tôi chưa từng được nghe nói đến, nhưng dù thế nào, tôi nghĩ hình như Berndt đã hiểu sai câu này. Tôi chọc giận anh ta thêm khi tôi nói rằng các phương pháp mà anh ta xem thường tình đó lại chính là sự lừa gạt không những đối với các quốc gia khác mà còn ngay cả với Đức quốc và, đặc biệt, với quân đội Đức.

        Berndt nhìn tôi một cách thương hại và nói : « Những vấn đề chánh trị không phải là lãnh vực của mọi người». Vì muốn hòa dịu, tôi đồng ý « hoàn toàn », nhưng anh ta đã ứng dụng câu vừa nói ở đâu, tôi không vạch ra cho anh ta biết.

        Mặc dầu có những cuộc cải cọ như thế, chúng tôi vẫn sống một đời sống yên tĩnh, đời sống của một gia đình toàn đàn ông — tương đối trong tình trạng hiện tại. Nhưng có sự thay đổi, không những làm thay đổi cả thói quen mà còn đẩy tôi gần Rommel hơn.

        Thể chất của Aldinger không cường tráng bằng Rommel. Sức khỏe của anh ta suy sụp và sau cùng mắc bịnh đau tim. Aldinger đành phải rời bỏ vị trí cánh tay mặt, vừa là người bạn tâm sự của Rommel trong nhiều năm, để sang Âu Châu chữa bịnh.

        Các nhiệm vụ của Aldinger được trao lại cho tôi, và tôi dọn vào một căn phòng kế căn phòng của ông Tướng.

        Berndt cũng yêu cầu cấp sự vụ lịnh để trở về Bá linh và một hồ sơ sáu tháng hoạt động của Afrika Korps cho Bộ Tuyên Truyền của Goebbels.

        Trách nhiệm của tôi hiện tại thật nặng nề. Chuẩn bị và sắp xếp chi tiết các cuộc thị sát tiền tuyến hàng ngày nằm trong phần việc của riêng tôi. Mọi ý muốn và mọi mạng lịnh của ông Tướng phải được ghi lại một cách chính xác trên giấy mực, và luôn luôn phải ghi nhớ thật đúng về thời gian, chỉ danh, địa điểm, khả năng của từng đơn vị một và v.v...

---------------------
        1. Giống như biến cố ở biên giới Đức — Ba Lan, khởi đầu cho cuộc Đệ Nhị thế Chiến.

 39 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:04:54 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Thật sự, Patton đã nhìn thấy những khó khăn đó sẽ xảy ra trước mắt. Khi Noguès ngồi xuống, Patton đứng ngay dậy, ông lấy tờ thỏa ước trong tay Wilbur, cầm một vài giây, nhìn qua mọi người một lượt đoạn từ từ xé ra từng mảnh. Sau đó ông nối :

        « Kính thưa quí vị, cũng như Tướng Keyes, tôi biết hầu hết các sĩ quan Pháp trước đây, trong thời gian tôi theo học tại các quân trường bên Pháp. Chúng ta đều chung nghề nghiệp, đều là những kẻ cầm súng. Lời nói của các ông, tốt hơn là chữ của các ông. Điều này luôn luôn là sự thật đối với những người như chúng ta,

        «Tôi đề nghị, cho đến khi các điều khoản đạt đến một thỏa hiệp được sắp xếp bởi thượng cấp của chúng ta, các ông hãy rút tất cả các lực lượng trở về vị trí xuất phát lập tức, trao đổi thương binh và tù binh giữa đôi bên. Và tôi yêu cầu các ông cho tôi một lời hứa» là sẽ không tìm cách chống lại lực lượng của chúng tôi. Các ông sẽ tạo ra mọi nỗ lực đề duy trì trật tự và kỷ luật ở Ma-Rôc, bao gồm việc bảo vệ an ninh các cây cầu hỏa xa và các thiết lộ xuyên qua thung lũng Taza ».

        Đề nghị này được phái đoàn Pháp đồng ý hoàn toàn. Noguès thoáng mỉm cười. Nhưng, Patton bỗng cát cao giọng : « Tuy nhiên, có một điều phụ thêm mà tôi cần phái nhấn mạnh ». Cả hai Tướng Noguès và Đô Đốc Michelier nhìn ông chăm chăm, lộ vẻ khẩn trương.

        Patton vừa nói tiếp vừa ra dấu cho Thiếu tá  Codman :

        « Điều kiện đó là... các ông cùng uống với tôi một ly sâm-banh, để chúc mừng Hoa Kỳ và Pháp quốc cũng như sự liên kết của chúng ta ».

        Noguès và Michelier cười rạng rỡ. Cả hai cùng ôm chầm lấy Patton và hôn lên má ông.

        Cuộc đình chiến giữa Pháp và lực lượng của Patlon có hiệu lực, và sau ngày 11 tháng 11, Patton ra lịnh cho binh sĩ của ông tiến sâu vào rừng Mamora Cork.

        Khu rừng này dày bịt với những cây cổ thụ có từ 25 năm, được trú đóng bởi Sư đoàn 9 Bộ binh và Sư đoàn 2 Thiết giáp, chạy dài từ phía bắc Lyautey đều phía nam Rabat 25 dặm và chạy thêm nhiều dặm nữa vào sâu trong đất liền. Chỗ trú quân của Sư đoàn 2 Thiết giáp nằm phía bên ngoài khu rừng, cạnh thành phố nhỏ Monod, cách phía đông Rabat khoảng 10 dặm. Từ địa điểm này, tiếng sóng trên bờ biển Ma-Rốc có thể nghe thấy.

        Patton và bộ tham mưu của ông, Quân đoàn 1 Thiết giáp, di chuyển từ khách sạn Miramar đến Villa Maas. Bộ tham mưu bao gồm Trung Tướng Keyes, Thiếu Tướng Wilbur (vừa tân thăng), đại tá Gay, Trung tá Harkins, Thiếu tá Jenson và Đại-úy Stiller, sĩ quan tùy viên.

        Ngôi biệt thự lộng lẫy này tọa lạc vùng ngoại ô Casablanca, gần khách sạn Anfa, nơi mà sau đó một cuộc hội nghị danh tiếng được mở ra vào đầu tháng giêng năm 1943 giữa Tống Thống Roosevelt, Thủ Tướng Churchill, hai Tướng De Gaulle và Girauđ

        Hoạt động của Palton ở Rabat trong vai trò của một người anh hùng chinh phục, một vị tư lịnh quân sự đồng thời là một đại diện cao сấр của Hoa Kỳ ở một xứ sở đầy phức tạp, rộng hơn tiểu bang California với dân số trên 7 triệu, người.

        Patton quyết định một cách khôn ngoan là không nhúng tay vào các vấn đề nội bộ ở Ma- Rốc. Ông thiết lập liên lạc mật thiết với Thống sứ Noguès ở Rabat, sự liên lạc này cũng có đối với các viên chức chính quyền dân sự dưới quyền của Noguès. Do đó, nhiệm vụ sơ khởi của ông rất suông sẻ.

        Mặt khác, người Pháp đã phối hợp với các đơn vị Hoa Kỳ trong việc bảo vệ mấy trăm Thiết lộ ở Oran. Những binh sĩ Hoa Kỳ tử trận được chôn cất tử tế một vài ngày sau khi đình chiến, tại một nghĩa trang nhỏ gần Kashah ở Mehedya. Trong các buổi lễ an táng có một số hỏa phu Pháp mặc tang chế màu đen tham dự. Sự hiện diện này đã gây cho Patton xúc động sâu xa đến phải rơi lệ. Hai ngày sau đó, ông và bộ tham mưu đã tham dự một buổi lễ dành cho các binh sĩ và thủy thủ Pháp tử trận.

        Tất cả đơn vị Hoa Kỳ trong thời gian ở Ma- Rốc vẫn tập luyện ít ra một ngày trong tuần. Tất cả đều biết rằng cuộc chiến đấu sẽ gay go trong những ngày sắp tới. Có nhiều tin đồn rằng Tây Ban Nha sắp tấn công phía nam Ma- Rốc, tức phần lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha. Do đó, một đại đội Thiết giáp được gởi đến dàn cạnh biên giới Ma-Rốc thuộc Pháp và Tây Ban Nha, ở Souk el Arba.

        Vào ngày 4 tháng 1 năm 1943, Tổng Thống Roosevelt và Thủ Tướng Churchill đến Ma- Rốc đề dự hội nghị Casablanca. Cuộc họp mở ra tại biệt thự Maas, còn có sự tham dự của Thống Tướng Marshall, Tướng Patton, Tướng Keyes, Tướng Gay (vừa tân thăng), Tướng Harry Hopkins, Tướng De Gaulle và nhiều người khác. Trước khi đến Maas, Roosevelt, Hopkins, Patton và Mark Clark dùng сơm ngoài trời với binh sĩ Hoa Kỳ trú đóng phía bắc Rabat, nằm giữa quốc lộ Rabat - Lyautey. Suốt cuộc hội nghị Casablanca có một tai nạn xảy ra. Thủ Tướng Churchill sau khi dùng bữa với Tướng Patton ở biệt thự Maas và nói chuyện cho đến ba giờ sáng, bỗng nhiên quyết định trở về nơi cư trú của ông trong khách sạn Anta gần đó. Vì khoảng cách gần nên Churchill muốn đi một mình, khi ông tiến gần vòng rào kẽm gai bao quanh khách sạn, một lính canh Hoa Kỳ đã chĩa súng bắt ông dừng lại. Churchill cho biết ông là Thủ Tướng Auh, tên lính này không tin và gọi viên hạ sĩ trưởng canh : « Có một gã tự xưng là Thủ Tướng Anh quốc, tôi nghĩ hắn láo ! » Khi viên hạ sĩ đến, hắn nhận ra Churchill.

 40 
 vào lúc: 10 Tháng Mười Hai, 2019, 11:04:30 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Lebel nói :

        « Thưa Trung Tướng, xin cho phép tôi đưa ra một đề nghị »

        « Nói đi ».

        « Tòi quen thân với Đề Đốc Jean Ronarcb, Tham mưu trưởng của đô Đốc Michelier. Nếu Trung Tướng cho phép, tôi sẽ đến Bộ chỉ huy Hải quân, tôi sẽ bảo đảm rằng Hải quân Pháp sẽ tuân theo lịnh của Đại Tướng Laseroux.

        Patton suy nghĩ trong chốc lát rồi nói :

        « Lebel, tôi đồng ý để ông đi. ông hãy nói cho Michelier biết rằng nếu ông ta không muốn bị tiêu diệt, tốt hơn...»

        Ông ngừng lại đó và xoay sang gọi Đại tá John p. Ralay, phụ tá tình báo của ông :

        « Ratay, anh đi theo Trung tá Lebel đến Casablanca. Các cuộc tấn công vẫn tiếp tục, chỉ ngưng lại khi được lịnh của tôi ». Lúc đó là 4 giờ 15 phút.

        Vào 6 giờ 48 phút sĩ quan truyền tin của Patton là Đại tá Elton F. Hamraond nhận được liên lạc vô tuyến từ Sư đoàn 3 muốn gặp Patton.

        Tướng Anderson, Tư lịnh Sư đoàn, báo cáo khi Patton được trao máy điện thoại :

        « Hải quân Pháp đã tan rã

        « Nhờ trời », Patton chỉ nói một câu đơn giản như thể rồi gác máy.

        Sau đó ông viết cho phu nhân : « Lịnh oanh tạc các mục tiêu lúc đó đang nằm trong tay tôi. Đây là thời gian dài nhứt trong đời tôi ».

        Bây giờ trận chiến đã vượt qua. Đô Đốc Michelier chịu nhượng bộ. Cuộc chiến thắng của Patton bắt đầu vào lúc 10 giờ sáng ngày 11 tháng 11 năm 1942 với một « cuộc hòa đàm » giữa Hoa Kỳ và các Tư lịnh Pháp ở Fedala, giữa lúc các quân nhân Pháp và Hoa Kỳ bị thiệt mạng được vùi xuống những chiếc hố cạnh bờ biển, mấy Tướng lãnh và Đô đốc của hai phe cũng đang tìm cách chôn vùi « sự đổi nghịch »của họ tại khách sạn Miramar.

        Đại diện lực lượng Hoa Kỳ ở cuộc hội nghị đình chiến này là Tướng G.s Patton, Đô Đốc Hewitt, Tướng Keyes, Đề Đốc Hall, Đại tá Gay, Đại tá Wilbur, Đại tá Harkins và Đại tá Lambert. Đại diện của Pháp có Đại Tướng Noguès, Đô Đốc Michelier, Tướng Không quân Lahoulle và Tướng Desré.

        Tướng Patton ra lịnh sắp xếp một toán dàn chào danh dự dọc theo lối vào khách sạn để đón tiếp Tướng Noguès, Thống sứ Pháp tại Ma-Rốc. «Không nêu đánh người ngã ngựa». Ông đã viết cho nhu nhân như thế.

        Buổi chiều, một chiếc xe bóng loáng chạy đến với đoàn mô tô hộ tống, ngừng lại trước cửa khách sạn. Gọn gàng và mạnh mẽ, Tướng Noguès bước lên các bực thềm, tiếp theo sau là các Tướng Lascroux và Lahoulle, Tư lịnh Không quân Pháp ở Ma-Rốc. Tất cả được Tướng Leyte thay mặt Patton tiếp đón ngay phòng khách. Ngồi cạnh chiếc bàn dài là Hewitt, Keyes, Hall, Gay và Đại tá Wilbur, thông dịch viên. Đối diện phía bên kia bàn là Nogues, cạnh phải Patton, Michelier, Lahoulle và Desre.

        Mở đầu phiên họp, Patton lên tiếng ca ngợi « sự dũng cảm và khéo lẻo của các lực lượng Pháp trong ba ngày đối đầu vừa qua ».

        Noguès ngồi bất động, mặt lạnh như tiền, Michelier hơi nhúc nhích, miệng khẽ mím và tay mân mê cây viết chì.

        Sau đó, Patton tiếp : « Chúng ta đến đây để sắp xếp các giai đoạn đình chiến, và các giai đoạn đó như thế này...»

        Ông quay sang Đại tá Wilbur gật đầu. Wilbur đứng ngay dậy và đọc các điều khoản « hóc búa » trong « Thỏa ước c », do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chuẩn bị sẵn cho Patton như đã nói ở đoạn đầu. Khi Wilbur chấm dứt, cả phòng im lặng một cách căng thẳng. Thế rồi Đô Đốc Michelier viết lên mảnh giấy mấy chữ « không chấp nhận » trao cho Noguès. Viên Thông sử Pháp liếc qua, ngần ngừ giây lát, rồi đứng dậy :« Cho phép tôi nói » giọng ông lạnh lùng, « Theo như các điều khoản này, thì nền bảo hộ của Pháp ở Ma-Rốc sẽ cáo chung. Điều đó có vẻ bắt buộc ».

        Ông ngưng nói, và sau đó tiếp, giọng lạnh lùng và nhấn mạnh hơn: « Người Pháp chúng tôi không hy vọng thách thức sức mạnh với Hoa Kỳ, chúng tôi chỉ thách thức trong trường hợp bắt buộc. Nếu như thỏa ước khủng khiếp này được đặt lên đầu chúng tôi, nó sẽ gây thất bại cho nhiệm vụ của các ông. Không chỉ trên phương diện ổn định giữa các quốc gia Ả Rập, Berbers, Do Thái, nhưng còn cả sự ổn định của một phần nền bảo hộ Tây Ban Nha ở Ma-Rốc và tồn hại đến các hệ thống liên lạc với Algiers và Tunisia. Người Pháp chúng tôi hiệu diện một cách êm đẹp và vững chắc ở đây. Trái lại người Mỹ, chân ướt chân ráo mới đến mảnh đất nhiều rắc rối này, chắc chắn sự hỗn loạn và chống đối có thể xảy ra ».

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM