Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Sáu, 2020, 05:07:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 41 
 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2020, 08:50:50 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Mối quan tâm đến chữ viết tượng hình được đánh thức trở lại vào thế kỷ thứ 17 khi Giáo hoàng Sixtus V quy hoạch lại thành phố Rome, theo một hệ thống đại lộ mới, đang dựng các tháp bia mang về từ Ai Cập tại mỗi ngã tư. Các học giả đã cố gắng thử giải mã nghĩa của các chữ viết tượng hình trên các tháp bia song lại gặp khó khăn do một quan niệm sai lầm: không ai được chuẩn bị để chấp nhận rằng các chữ viết tượng hình này biểu thị cho một ký tự ngữ âm, hay ký âm. Ý tưởng về việc viết theo từng âm được cho là quá tiến bộ so với một nền văn minh cổ đại như vậy. Thay vào đó, các học giả thế kỷ 17 lại cho rằng các chữ viết tượng hình là những ký hiệu biểu ý - tức là các ký tự phức tạp này biểu thị cho toàn bộ một ý tưởng và chẳng qua chỉ là loại chữ viết bằng tranh nguyên thủy. Việc tin rằng chữ viết tượng hình đơn giản chỉ là chữ viết bằng tranh thậm chí còn phổ biến ở cả những người nước ngoài đến thăm Ai Cập vào thời mà chữ viết tượng hình vẫn còn là chữ viết thịnh hành. Diodorus Siculus, nhà sử học Hy Lạp thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên đã viết:

        Giờ hóa ra là dạng các chữ cái của người Ai Cập mang hình dáng của tất cả các loài sinh vật, của chân tay trên cơ thể con người và của vật dụng hằng ngày... Chữ viết của họ không diễn đạt những ý tưởng định sẵn bằng cách kết hợp các âm tiết với nhau, mà bằng vẻ ngoài của những cái đã được sao chụp và bằng ý nghĩa ẩn dụ đã in dấu vào trí nhớ qua hoạt động thực tiễn... Vì vậy mà biểu tượng con diều hâu đối với họ là tất cả những gì xảy ra nhanh vì sinh vật này là loài nhanh nhất trong số các động vật có cánh. Và ý tưởng này được chuyển giao, thông qua những ẩn dụ thích hợp, cho tất cả những gì mau lẹ và những thứ phù hợp với tốc độ.

        Dưới ánh sáng của những giải thích như vậy, thì có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi mà các học giả thế kỷ 17 đã cố gắng giải mã các chữ viết tượng hình bằng cách diễn dịch mỗi biểu tượng thành một ý tưởng trọn vẹn. Chẳng hạn, vào năm 1652, tu sĩ dòng Tên người Đức Athanasius Kircher đã xuất bản một cuốn tự điển về những giải thích có tính phúng dụ nhan đề CEdipus agyptiacus và sử dụng nó để tạo ra một loạt những bản dịch lý thú và kỳ quặc. Một nhóm chữ viết tượng hình mà ngày nay chúng ta đã biết nó chỉ tên của pharaon Apries, đã được Kircher dịch thành: “Những lợi ích của Osiris thần thánh tìm được là nhờ các nghi lễ linh thiêng và chuỗi Genii, để có thể nhận được các lợi ích của sông Nile.” Ngày nay các bản dịch của Kircher nghe thật nực cười, song ảnh hưởng của chúng đối với những người làm ra vẻ là nhà giải mã khác là rất to lớn. Kircher còn hơn cả một nhà Ai Cập học: ông đã viết một cuốn sách về khoa học mật mã, xây dựng một đài phun nước có âm nhạc, phát minh ra chiếc đèn kỳ lạ (tiền thân của điện ảnh), tự mình đi sâu vào miệng núi lửa Vesuvius và được mệnh danh là “cha đẻ của ngành núi lửa học”. Vị tu sĩ dòng Tên được biết đến rộng rãi với tư cách là học giả được kính trọng nhất ở thời ông, và vì thế những tư tưởng của ông tất nhiên đã ảnh hưởng đến nhiều thế hệ các nhà Ai Cập học tương lai.

        Một thế kỷ rưỡi sau Kircher, vào mùa hè năm 1798, những di tích cổ của người Ai Cập cổ đại lại được nghiên cứu trở lại khi Napoleon Bonaparte phái một đoàn gồm các nhà sử học, khoa học và những chuyên gia họa hình theo sau đoàn quân xâm lược của mình. Những chuyên gia này, hay “những con chó Bắc Kinh” như đám binh lính vẫn gọi họ như vậy, đã thực hiện một công việc to lớn, đó là lập bản đồ, vẽ, sao chép, đo đạc và ghi lại tất cả những gì họ chứng kiến. Vào năm 1799, các học giả Pháp đã bắt gặp mặt một phiến đá nổi tiếng nhất trong lịch sử ngôn ngữ học, do một đội quân Pháp đồn trú tại đồn Julien ở thị trấn Rosetta vùng delta sông Nile, tìm thấy. Tốp lính này nhận được lệnh phải phá đổ một bức tường cổ để dọn đường mở rộng địa phận của đồn. Gắn bên trong bức tường là một tấm đá trên đó có rất nhiều chữ viết; cùng một đoạn văn bản được viết trên tấm đá ba lần: bằng chữ Hy Lạp, chữ viết bình dân và chữ viết tượng hình. Phiến đá Rosetta, như người ta gọi ngày nay, dường như tương đương với một crib trong khoa mật mã, chính là các crib đã từng giúp các nhà giải mã ở Bletchley Park hóa giải mật mã Enigma. Đoạn viết bằng chữ Hy Lạp, có thể đọc được dễ dàng, chính là một đoạn văn bản thường dùng để so sánh với bản mật mã bằng chữ viết bình dân và chữ viết tượng hình. Phiến đá Rosetta tiềm tàng là một phương tiện để khám phá ý nghĩa của các biểu tượng Ai Cập cổ đại.

Hình 54 Phiến đá Rosetta, được khắc vào năm 196 trước Công nguyên và được phát hiện vào năm 1799, có chứa những đoạn ký tự được viết bằng ba loại chữ viết khác nhau: chữ viết tượng hình ở trên cùng, ở giữa là chữ viết bình dân và dưới cùng là chữ Hy Lạp.

 42 
 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2020, 08:48:12 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        GIẢI MÃ NHỮNG NGÔN NGỮ ĐÃ BIẾN MẤT VÀ VĂN TỰ CỔ

        Thành công của mật mã Navajo phần lớn dựa trên thực tế đơn giản là tiếng mẹ đẻ của người này là hoàn toàn vô nghĩa với bất kỳ ai không quen thuộc với nó. Trên nhiều phương diện thì nhiệm vụ mà những nhà giải mã Nhật Bản phải đương đầu cũng tương tự như với các nhà khảo cổ học tìm cách giải mã một ngôn ngữ đã bị quên lãng từ lâu, có thể được viết trong một văn tự đã quá cổ xưa. Nếu có gì khác chăng thì đó là thử thách của các nhà khảo cổ học khắc nghiệt hơn rất nhiều. Chẳng hạn, nếu người Nhật Bản còn có được một dòng chảy liên tục các từ Navajo mà họ phải tìm cách giải mã thì thông tin sẵn có cho các nhà khảo cổ học đôi khi chỉ là một vài tấm đất sét. Hơn nữa, các nhà giải mã khảo cổ thường không có ý niệm gì về bối cảnh cũng như nội dung của một văn bản cổ, vốn là những đầu mối mà các nhà giải mã quân sự thường dựa vào để giúp họ phá vỡ một mật mã.

        Giải mã các văn bản cổ dường như là một sự theo đuổi gần như vô vọng, song có rất nhiều người, cả nam lẫn nữ, đã cống hiến bản thân mình cho nhiệm vụ khó khăn này. Sự ám ảnh của họ đã được dẫn dắt bởi khát vọng muốn hiểu được những văn bản viết tay của tổ tiên chúng ta, cho phép chúng ta nói được ngôn ngữ của họ và nắm bắt được một chút ít về tư tưởng và cuộc sống của họ. Có lẽ sự khao khát muốn giải mã những văn tự cổ đã được Maurice Pope tóm tắt hay nhất trong cuốn Cầu chuyện về giải mã của ông: “Giải mã cho đến nay là những thành tựu hấp dẫn nhất của học thuật. Có một cái gì đó thần diệu ở những văn bản viết tay bí ẩn, đặc biệt là khi nó đến từ quá khứ xa xôi, và một vinh quang tương xứng sẽ dành cho người đầu tiên mở ra sự bí ẩn của nó.”

        Việc giải mã các văn tự cổ không nằm trong cuộc chiến diễn ra liên tục giữa các nhà tạo mã và giải mã, vì mặc dù cũng có những nhà giải mã với tư cách là các nhà khảo cổ học song không có các nhà tạo mã. Nói rõ hơn là, trong đa số trường hợp giải mã về ngôn ngữ, người viết không hề có chủ tâm che giấu ý nghĩa của văn tự. Vì vậy, phần còn lại của chương này, trình bày về vấn đề giải mã khảo cổ, sẽ hơi lạc ra khỏi chủ đề chính của cuốn sách một chút. Tuy nhiên, các nguyên tắc của giải mã khảo cổ về cơ bản cũng tương tự như trong giải mã quân sự truyền thống. Thực sự thì, rất nhiều nhà giải mã quân sự đã bị cuốn hút trước thách thức của một văn tự cổ chưa được vén màn bí mật. Điều này có thể là vì việc giải mã khảo cổ tạo nên một sự thay đổi dễ chịu so với việc giải mã quân sự, nó đem lại một câu đố thuần túy về trí tuệ hơn là một thách thức quân sự. Nói cách khác, động cơ là vì tò mò, ham hiểu biết hơn là vì thù địch.

        Nổi tiếng nhất, và có lẽ cũng lãng mạn nhất trong số tất cả các bản giải mã đó là hóa giải chữ viết tượng hình cổ Ai Cập. Trong nhiều thế kỷ, chữ viết tượng hình vẫn còn là một điều bí ẩn, và các nhà khảo cổ học không thể làm gì hơn là phỏng đoán về ý nghĩa của nó. Tuy nhiên, nhờ một cách giải mã cổ điển, chữ viết tượng hình cuối cùng cũng đã được giải mã và kể từ đó các nhà khảo cổ học đã đọc được những bản tường thuật trực tiếp về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại. Việc giải mã chữ viết tượng hình đã nối liền thiên niên kỷ chúng ta với nền văn minh của các pharaon.

        Chữ viết tượng hình cổ nhất xuất hiện vào năm 3000 trước công nguyên, và dạng chữ viết hoa mỹ này tồn tại trong suốt ba ngàn năm rưỡi sau đó. Mặc dù các ký hiệu phức tạp trong chữ viết tượng hình là lý tưởng cho các bức tường của những đền thờ trang nghiêm (tiếng Hy Lạp từ hieroglyphica có nghĩa là “những hình chạm khắc linh thiêng”), song chúng lại quá phức tạp để bám sát những giao dịch thường ngày. Vì vậy, phát triển song song với các chữ viết tượng hình là chữ hieratic, một dạng chữ viết sử dụng hằng ngày trong đó mỗi biểu tượng trong chữ viết tượng hình được thay thế bằng một biểu thị ước lệ, nhanh và dễ viết hơn. Vào khoảng năm 600 trước công nguyên, chữ hieratic được thay thế bằng thứ chữ viết thậm chí còn đơn giản hơn nữa được gọi là demotic (chữ viết bình dân), cái tên này có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp demotika có nghĩa là “dân dã”, để biểu thị tính năng thông dụng của nó. Chữ viết tượng hình, chữ hieratic và chữ viết bình dân về cơ bản là giống nhau - người ta hầu như coi chúng đơn giản chỉ là những phông chữ khác nhau mà thôi.

        Tất cả ba dạng chữ viết này đều theo ngữ âm, tức là các ký tự phần lớn đều biểu thị những âm khác nhau, cũng giống như trong bảng chữ cái tiếng Anh. Trong hơn ba ngàn năm, những người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các loại chữ viết này trong mọi phương diện của cuộc sống, như chúng ta sử dụng chữ viết ngày nay. Sau đó, đến cuối thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, trong vòng một thế hệ, các văn tự Ai Cập đã biến mất. Những tư liệu cuối cùng về chữ viết Ai Cập cổ được tìm thấy ở đảo Philae. Một dạng chữ viết tượng hình ở đền thờ được khắc vào năm 394 sau Công nguyên, và một mẩu đá khắc chữ bình dân được cho là vào năm 450. Sự lan rộng của Nhà thờ Thiên chúa chính là nguyên nhân gây ra sự biến mất của chữ viết Ai Cập, vì họ cấm sử dụng chúng để tiêu diệt tận gốc rễ bất kỳ mối liên hệ nào với quá khứ vô thần của người Ai Cập. Những chữ viết cổ được thay thế bằng chữ Coptic, một dạng chữ viết gồm hai mươi tư chữ cái lấy từ bảng chữ cái Hy Lạp bổ sung thêm sáu ký tự bình dân được sử dụng cho các âm Ai Cập không biểu thị được bằng tiếng Hy Lạp. Sự thống trị của chữ Coptic đã hoàn toàn đến nỗi khả năng đọc được chữ tượng hình, chữ hieratic và chữ bình dân đã biến mất. Ngôn ngữ Ai Cập cổ tiếp tục được nói và tiến hóa thành cái gọi là ngôn ngữ Coptic, song trong quá trình đó, cả ngôn ngữ và chữ viết Coptic đều bị thay thế bởi sự lan tràn của chữ viết Ả Rập vào thế kỷ thứ 11. Mối liên hệ cuối cùng về ngôn ngữ với các vương quốc Ai Cập cổ đại đã bị cắt đứt và sự hiểu biết cần thiết để đọc được những truyền thuyết về các pharaon cũng biến mất theo.

 43 
 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2020, 08:47:28 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Một người bạn thân ở chung hào với tôi. Nhưng người Nhật đã cắt ngang họng anh ấy, xuyên qua dây thanh âm ở phía sau cổ. Anh ấy vẫn còn thở hổn hển ở thanh quản. Và cái âm thanh khi anh ấy cố hít thở thật là khủng khiếp. Tất nhiên là anh ấy chết. Khi bọn chó Nhật tấn công, máu nóng bắn toé lên khắp bàn tay cầm ống nghe của tôi. Tôi đã kêu cứu bằng mật mã. Họ nói rằng bất chấp những gì xảy ra, mọi âm tiết trong thư của tôi đều vẫn rất rành rọt.

        Tất cả đã có bốn trăm hai mươi người nói mật mã Navajo. Mặc dù lòng dũng cảm trong chiến đấu của họ được biết đến song vị trí đặc biệt của họ trong liên lạc bí mật thì không được phổ biến rộng rãi. Chính phủ cấm họ không được nói về nhiệm vụ của mình và sự đóng góp độc nhất vô nhị của họ không được công bố. Cũng như Turing và các nhà giải mã ở Bletchley Park, người Navajo bị lãng quên trong nhiều thập kỷ. Cuối cùng, vào năm 1968, mật mã Navajo đã được công bố và vào năm sau đó, những người nói mật mã đã có cuộc tái ngộ lần đầu tiên. Sau đó, vào năm 1982, họ đã rất vinh dự khi Chính phủ Mỹ lấy ngày 14 tháng Tám là “Ngày Quốc gia những người nói mật mã Navajo”. Tuy nhiên, sự ban thưởng lớn nhất cho công việc của những người Navajo là một thực tế đơn giản: mật mã của họ là một trong số ít những mật mã chưa bao giờ bị phá vỡ trong lịch sử. Trung tướng Seizo Arisue, cục trưởng Cục tình báo Nhật Bản, đã thừa nhận rằng, mặc dù họ đã hóa giải được mật mã của Không lực Hoa Kỳ, song lại thất bại hoàn toàn trước mật mã Navajo.

Hình 53 Hạ sĩ Henry Bake, Jr. (trái) và binh nhất George H. Kirk đang sử dụng mật mã Navajo trong khu rừng rậm ở Bougainville vào năm 1943.

 44 
 vào lúc: 31 Tháng Năm, 2020, 12:39:33 am 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
   

       Giring đang dùng đèn cồn đun cà phê. Lão ngước mắt hỏi tên trợ lý :
       - Anh nhớ cái gì kia chứ ?— giọng lão khàn đặc.

       - Năm ngoái, khi được giao nhiệm vụ lập mạng lưới chỉ điểm, tôi đã không muốn lấy một phòng trong cơ quan Giéttapô, tôi thích thuê phòng riêng hơn. Cái hãng mà tôi vừa đến, ở ngay tại ngôi nhà mà chúng tôi đã thuê phòng. Tại đó, tôi thường hay gặp một vị hay ra vào văn phòng của mình. Tôi thường chào hỏi hắn mặc dù không quen, chả là phòng của tôi rất gần với văn phòng của hắn, chỉ cách nhau có vài bước. Ngài hãy cho tôi xem lại tấm ảnh một lần nữa đi…

      Giring bắc cà phê ra, rót vào tách. Lão đã đưa lên miệng toan làm một tợp, nhưng lại thôi. Lão bỏ cái tách xuống rồi vươn người với lấy cái cặp. Câu nói của tên trợ lý đã làm cho lão cảnh giác.

      - Tất nhiên là thế mà, hắn đây rồi ! – Vinli Bécgơ hết đưa tấm ảnh lại gần mắt rồi lại đưa lui ra xa… - Khi đó hắn đội mũ rộng vành mầu xám, mặc áo mưa xanh…Nhưng tất nhiên là hắn đây rồi !

     Lão cố vấn hình sự nhấm nháp cà phê pha đường và rượu cô-nhắc.
     - Ông hãy nhớ lại ngày này đi – lão nói – nếu mọi việc đều đúng như anh nói thì bọn chúng sẽ nằm trong tay chúng ta…Anh hãy ra lệnh cho mắc thiết bị nghe trộm vào đường dây điện thoại của hãng này. Ghi lại tất cả các cuộc nói chuyện !

     Giring quyết định đến Bộ tư lệnh quân quản thành phố để kiểm tra điều khả nghi vừa phát hiện được. Lão tự lái xe đến đó. Viên tư lệnh khẳng định hãng này quả thực chỉ chuyên cung cấp hàng cho lực lượng vũ trang và nhân viên của nó thường tỏa đi khắp nơi.

      Khi được hỏi hãng này có điều gì nghỉ vấn không thì viên tư lệnh vội xua tay :
      - Làm gì có chuyện đó thưa ngài. Các nhân viên của hãng này thì khỏi phải chê. Hãng đã giúp chúng tôi rất nhiều và thực hiện bất cứ đơn đặt hàng nào. Tôi xin cam đoan là họ không có gì đáng đặt thành nghi vấn cả đâu...

      Giring đưa tấm ảnh cho viên tư lệnh xem :
      - Chính hắn đấy ! Một con người tuyệt diệu nhất đấy !

      Lão cố vấn hình sự không cần giải thích cho viên tư lệnh. Giring tin rằng lão đã lần theo đúng dấu vết.

     Nhóm của Giring đến Amstécđam bằng các chuyến tàu khác nhau vào thời gian khác nhau, và tập trung tại tòa nhà trước đây là của cơ quan phản gián Hà lan. Bốn tầng được dành cho người trong nhóm của Giring, các tầng khác phân cho các nhân viên Giéttapô khác.

      Trong những cuộc tìm kiếm sắp tới, Giring trước hết đặt hy vọng vào một con người bé nhỏ, nhanh nhẹn tên là Van Min có liên quan tới hãng mà lão cố vấn quan tâm. Tay Van Min này đã bị Giéttapô phục bắt vì tội đầu cơ vặt và được đưa đến chỗ Giring. Bị khống chế, Van Min hoảng sợ đã đồng ý làm việc cho Giéttapô. Chúng bắt tên này suốt ngày lang thang trên các đường phố và chui vào tất cả các loại văn phòng với hy vọng tên chó săn này sẽ gặp được ai đó trong số các thương nhân quen thuộc. Bám theo Van Min là những cái đuôi của Giéttapô. Nhưng tất cả những việc này chẳng khác chi mò kim đáy biển và kết quả của chuỗi ngày lang thang tìm kiếm là con số không.

     Thế là lão Giring lại xua lũ chó săn theo dấu vết khác. Trong phòng thương mại có một cô thư ký tên là Xêxin Glôxche. Nhiệm vụ của cô ta là viết thư từ trao đổi với khác hàng ở các thành phố khác. Theo như lời khẳng định của tên Van Min thì Glôxche có thể biết những thương nhân mà Giring quan tâm đến.

     Tất nhiên đơn giản nhất vẫn là cùng một lúc tập kích vào những hãng khả nghi, lựa người mà bắt, mà chộp ngay lấy. Nhưng Giring nghĩ làm sao có thể đảm bảo được rằng những vụ tập kích như thế không đánh động những người cầm đầu có kinh nghiệm và cảnh giác họ sẽ đi qua ngay trước mũi lão và lúc ấy thì đầu lão chắc cũng không còn. Lão già Giring bắt đầu giăng bẫy một cách thận trọng, không vội vàng hấp tấp.

      Lão cố vấn hình sự đã quyết định một bước phiêu lưu – sử dụng mối liên lạc của Glôxche. Trong các thư từ trao đổi giữa các phòng thương mại của thành phố với nhau, trong các tập tài liệu nhằm chất đống, không hiếm những thư từ đụng chạm đến những hãng đang nằm trong vòng theo dõi. Ngành an ninh đã giám sát chặt những bức thư này. Trong thư thỉnh thoảng có những tờ phụ bản lạ nào đó về công việc làm ăn. Chúng được đánh máy hẳn hoi.

      Glôxche đã gọi giây nói từ trạm điện thoại tự động ở nhà ga cho bạn gái của mình. Sau khi trao đổi một số việc linh tinh cô nói là ngày mai mình muốn gặp cô bạn gái đó tại địa điểm cũ. Theo quy ước, gặp với bạn gái vào ngày mai tức là gặp gỡ với Pitơ Gram. Người bạn gái đã gọi điện cho Gram và truyền đạt nội dung câu chuyện vừa nghe được. Tiếng chuông điện thoại không gây nên sự nghi ngờ nào cả. Thông thường Gram cử Amigô hoặc tự mình đi đến những cuộc gặp gỡ như thế. Họ gặp gỡ theo giờ quy định tại một quán cà phê nhỏ yên tĩnh.

     Glôxche và Van Min đến quán cà phê sớm hơn thời gian đã định và ngồi vào chiếc bàn cạnh cửa sổ trông ra phố. Những tấm rèm mỏng buông lơ lửng trên cửa sổ, trong quán ánh sáng mờ mờ. Gió mát thoảng qua những ô cửa sổ mở. Bây giờ đang độ thu sang, những hàng cây ven đường đã ngả mầu vàng.

      Khách đến thưa thớt. Những người bồi bàn rỗi việc đứng túm tụm cạnh quầy bán hàng ? Trong quán yên tĩnh nhưng Glôxche bỗng cảm thấy bồn chồn lo lắng. Có thể đấy là cảm giác gây nên bởi sự hồi hộp thoáng qua của người bạn đồng hành ngồi đối diện thỉnh thoảng liếc mắt nhìn ra cửa ra vào. Nói tóm lại là có điều gì đó đã làm cho Glôxche cảnh giác và buộc cô phải quan sát xung quanh. Cô đã để ý thấy có những thanh niên lạ lực lưỡng không giống người Flamăng đi vào trong quán. Cạnh bàn cô là hai thanh niên. Họ gọi bia và nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức. Glôxche nhìn vào gương và thấy một người ngồi phía bên kia tường đang chăm chú theo dõi cô và Van Min…

      Cô đã hiểu ra – tai họa sắp đến… Có thể cô đã rơi vào bẫy chăng. Biết đâu những khách hàng lực lưỡng kia chẳng phải là cảnh sát đóng giả ? Nhưng một ý nghĩ khác lại thoáng qua trong đầu cô : chúng chẳng việc gì mà phải săn cô, chúng đang săn Gram…Tại sao Van Min lại có vẻ căng thẳng như vậy nhỉ ? Chỉ vài phút nữa là Pitơ Gram sẽ đến. Anh ấy bao giờ cũng đến đúng hẹn…Đúng rồi, anh ấy đang đi ở bên kia đường phố rồi. Anh đã đi qua quán cà phê rồi quay trở lại đi ngang qua phố…Phải làm gì bây giờ đây ?

     Glôxche nhìn Van Min với con mắt đầy căm phẫn. Mặt chị tái đi. Tên Van Min nói gì đó, nhưng giọng hắn cứ như từ đâu vọng tới…Trời ơi biết làm sao bây giờ ! Chỉ còn vài tích tắc nữa thôi…Phải làm gì đây ? Cần phải làm sao để Pitơ không vào đây…

     - Ôi, sao tôi khó chịu quá – Cô bỗng áp lòng bàn tay vào thái dương kêu lớn – Hãy đi khỏi nơi đây ngay. Đi thôi !... Tôi bị lên cơn rồi – Cô bật đứng dậy la hét : Chúng ta đi đâu đây ?...Tôi không muốn ở lại đây. Tôi ngạt thở lắm…. Glôxche kêu khóc lảm nhảm và đấm thùm thụp vào bàn. Mọi người đổ xô về phía cô và vây quanh lấy cô, người thì đưa nước, người thì chạy đi tìm bác sĩ…

      Xêxin Glôxche đã giả vờ bị cơn thần kinh rất tuyệt. Quán cà phê trở nên lộn xộn, thường thì trong những trường hợp như thế này, ai cũng tò mò muốn xem.

      Pitơ Gram đã trông thấy tất cả từ ngoài cửa sổ…và anh đi ngang qua. Anh đã hiểu. Glôxche liếc nhìn theo anh và dần dần hồi tỉnh lại. Răng chị đập lập cập vào miệng cốc nước đáng uống. Nhưng đấy không còn là vai kịch chị đang đóng nữa rồi. Quán cà phê đã trở lại yên tĩnh. Nửa giờ đã trôi qua. Không một ai tới quán. Chờ đợi nữa cũng vô ích... Van Min và Glôxche đứng dậy bỏ đi. Nối gót theo sau họ là những tên cảnh sát  mật vụ cải trang...

 45 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 04:54:22 pm 
Tác giả canaris - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Ai-xơ-man đi đi lại lại hồi lâu trong phòng làm việc của mình.

Y chắp hai tay sau lưng, bước những bước dài, lúc nào y cũng cảm thấy như thiếu một cái gì rất quen thuộc và cơ bản. Cái đó làm cho y mất tập trung tư tưởng, ý nghĩ của y cứ tản mạn, không xoáy vào điểm chủ yếu, y không thể phân tích đến cùng tất cả những gì khiến cho y đau đầu - tại sao Sơ-tiếc-lít lại lâm vào tình thế bị điều tra?

Cuối cùng, khi tiếng còi báo động phòng không vang lên rền rĩ, Ai-xơ-man mới hiểu rằng thì ra y còn thiếu cái khoản nghe tiếng bom rơi đạn nổ. Chiến tranh đã gắn liền với sinh hoạt hàng ngày, sự yên tĩnh có vẻ nguy hiểm và ẩn giấu một cái gì đó còn đáng sợ hơn cả những trận ném bom.

“Lạy chúa! - Ai-xơ-man nghĩ thầm, khi tiếng còi báo động vừa lặng đi. - Bây giờ thì có thể ngồi làm việc được rồi đây. Mọi người đã chạy ra hầm trú ẩn, tôi có thể ngồi và suy nghĩ, không còn ai bước vào phòng mình với những câu hỏi ngớ ngẩn và những giả thuyết ngu ngốc nữa...”

Ai-xơ-man ngồi vào bàn và bắt đầu giở tập hồ sơ về vị giám mục đạo Tin Lành Phơ-rít Sơ-lắc ra xem. Sơ-lắc bị bắt vào mùa hè năm 1944 vì bị nghi là có hoạt động chống lại quốc gia. Quyết định bắt giữ dựa vào hai bản tố giác, một của Bác-ba-ra Cơ-rain và một của Rô-béc-tơ Nít-sê. Hai tên này là những kẻ vẫn đến nhà thờ nghe giám mục giảng đạo. Chúng viết trong bản tố giác rằng, khi giảng đạo, giám mục đã kêu gọi vãn hồi hòa bình và xây dựng mối quan hệ hữu nghị anh em với mọi dân tộc, đã lên án cuộc chiến tranh dã man và sự đổ máu vô nghĩa. Việc thẩm tra khách quan xác nhận rằng vị giám mục đã từng gặp gỡ mấy lần với cựu thủ tướng Bơ-ruy-ninh là người hiện đang sống lưu vong ở Thụy Sĩ. Hai người này có quan hệ thân thiện với nhau, thế nhưng trong tập hồ sơ không có dẫn chứng nào về mối liên hệ chính trị giữa vị giám mục với thủ tướng lưu vong, mặc đù đã tiến hành điều tra hết sức chặt chẽ cả ở nước Đức lẫn ở Thụy Sĩ...

Ai-xơ-man không hiểu, vì lý do gì giám mục Sơ-lắc lại được đưa sang bên cơ quan tình báo mà không bị ném vào sở ghét- xta-pô. Tại sao người của Sê-len-béc lại quan tâm đến vị giám mục? Y tìm ra câu trả lời qua một tư liệu ngắn kèm vào hồ sơ của Sơ-lắc: năm 1933, đức giám mục đã đi sang Anh và Thụy Sĩ hai lần để dự Đại hội các chiến sĩ hòa bình.

“Họ chú ý đến các quan hệ quen biết của giám mục, - Ai-xơ- man hiểu ra, - họ muốn biết Sơ-lắc đã gặp gỡ những ai ở hai nước đó. Bởi vậy, ngành tình báo mới kéo ông ta sang chỗ họ và cũng bởi vậy mà ông ta được chuyển giao cho Sơ-tiếc-lít, Sơ- tiếc-lít thì dính dáng gì đến vấn đề này nhỉ? Người ta giao nhiệm vụ cho anh ấy, và anh ấy đã làm tròn…”

Ai-xơ-man tiếp tục giở xem hồ sơ  biên bản các cuộc hỏi cung đều ngắn ngủi và vắn tắt. Để cho được khách quan, y muốn trích dẫn một vài doạn cho kết luận của y có lý lẽ và tư liệu xác đáng, nhưng y không thể trích dẫn được đoạn nào cả. Cuộc hỏi cung diễn ra theo một phong cách không giống phong cách thông thường của Sơ-tiếc-lít: nó không có gì đặc sắc, hoàn toàn mang tính chất hình thức và thẳng thắn.

Ai-xơ-man gọi điện tới phòng bảo quản hồ sơ. Mãi vẫn không có ai trả lời.

“Chẳc họ chạy ra hầm trú ần cả rồi”, - Ai-xơ-man nghĩ bụng và định bỏ ống nghe xuống, thì đúng lúc đó có tiếng nói ở đầu dây bên kia.

- Tôi là Ai-xơ-man ở Vụ IV đây. Xin chào. Nhờ bên anh tìm hộ xem ở chỗ các anh có băng ghi âm buổi hỏi cung giám mục Sơ-lắc ngày 29 tháng chín năm 1944 của đại tá Sơ-tiếc-lít hay không?


“Tôi muốn cảnh cáo ngài: ngài đã bị bắt, mà những ai đã rơi vào tay cơ quan tư pháp của đảng Quốc xã, một cơ quan có sứ mệnh trừng phạt những kẻ tội lỗi và bảo vệ nhân dân khỏi những hành động xấu xa, thì đừng nói đến việc có thể quay trở lại cuộc sống và hoạt động bình thường được nữa. Cuộc sống của gia đình ngài cũng sẽ không còn bình thường đâu. Tôi cần nói thêm: tất cả sẽ trở lại bình thường, với điều kiện, một là, ngài chịu thừa nhận lỗi lầm của mình và lên tiếng vạch mặt những nhà hoạt động tôn giáo còn lại, - những người không chịu ủng hộ nhà nước chúng ta và, hai là, ngài đồng ý giúp đỡ công việc của chúng tôi trong thời gian tới. Ngài có đồng ý như vậy không?

- Tôi cần phải suy nghĩ đã.

- Ngài cần bao nhiêu lâu để suy nghĩ?

- Theo ông, người ta cần bao nhỉêu lâu để chuẩn bị tiếp nhận cái chết?

- Tôi mong ngài một lần nữa hãy suy xét về đề nghị của tôi. Ngài nói rằng, trong cả hai trường hợp, cuộc đời ngài đều đến giai doạn chấm hết, nhưng ngài có phải là một nhà ái quốc của nước Đức hay không?

- Phải, tôi là một nhà ái quốc. Nhưng ông hiểu thế nào là “một nhà ái quốc của nước Đức”?

- Là trung thành với ý thức hệ của chúng ta.

- Ý thức hệ chưa phải là đất nước.

- Dù thế nào thì nước ta cũng vẫn sống bằng hệ tư tưởng của Quốc trưởng. Chẳng lẽ nghĩa vụ của ngài, nghĩa vụ của một vị giám mục, Đức cha coi sóc phần hồn, không phải là sát cánh với dân tộc đang tín ngưỡng hệ tư tưởng của chúng ta hay sao?

- Giá như tôi được tranh luận ngang hàng với ông, có lẽ tôi sẽ biết nên trả lời ông như thế nào?

- Thì tôi xin mời ngài cứ tranh luận bình đẳng với tôi.

- Sát cánh với dân tộc là một chuyện, còn cảm thấy mình ở trong một tình thế cần phải hành động theo lẽ công bằng và niềm tin lại là chuyện khác. Hai chuyện ấy có thể trùng nhau mà cũng có thể không trùng nhau. Trong trường hợp này, ông đã đề nghị với tôi một lối thoát không phù hợp với tín điều của tôi. Ông định sử dụng tôi như một mô-men ứng lực nhằm mục đích bắt tôi ký một lời tuyên bố hợp với ý muốn của ông. Ông diễn tả đề nghị dưói hình thức làm như ông coi tôi như một con người có nhân cách. Ông nói với tôi như thế làm gì, một khi ông đã muốn tôi trở thành một cái đòn bảy? Thà ông cứ nói toạc ra: hoặc chúng tao sẽ giết mày, hoặc là mày hãy ký vào tờ giấy này. Dân tộc Đức sẽ đi đến đâu và nói bằng thứ tiếng gì, đối với tôi điều đó còn ý nghĩa gì nữa, nếu thực chất tôi đã là một xác chết...

- Điều đó không đúng. Không đúng vì mấy lý do sau đây. Tôi không yêu cầu ngài ký bất kỳ tờ giấy nào. Cứ cho rằng tôi xin rút lui vấn đề thứ nhất, đề nghị thứ nhất của tôi về việc ngài công khai lên tiếng trên báo chí và đài phát thanh, chống lại những người anh em cùng tín ngưỡng với ngài, những người chống đối lại chế độ của chúng ta. Tôi mong ngài trước hết hãy đi tới chân lý của đảng Quốc xã chúng tôi, và sau đó, nếu ngài thấy có thể tán thành chân lý đó tới mức nào, ngài hãy giúp đỡ chúng tôi đến mức đó.

- Nếu ông đặt vấn đề như vậy thì ông hãy thử thuyết phục tôi xem, đảng Quốc xã đem đến cho con người được cái gì nhiều hơn bất cứ tổ chức nào khác đi nào.

- Sẵn sàng. Đảng quốc xã - đó là nhà nước của chúng ta, một nhà nước đang được dẫn dắt bởi những tư tưởng vĩ đại của Đức quốc trưởng. Còn các lãnh tụ tôn giáo như các ngài thì lại không đưa ra được một cái gì khác với nhà nước ấy để người ta lựa chọn. Các ngài chỉ đưa ra sự hoàn thiện về tinh thần mà thôi.

- Đúng là như vậy.

- Nhưng con người đâu chỉ sống bẳng sự hoàn thiện về tinh thần, dù rằng con người không chỉ sống bằng bánh mì. Nghĩa là chúng tôi mong muốn đem lại lợi ích cho nhân dân ta. Vậy chúng ta hãy coi đó là bước đi đầu tiên trên con đường dẫn tới sự hoàn thiện về tinh thần của dân tộc ta trong tương lai.

- Được, trong trường hợp đó, tôi xin hỏi ông một điều: các trại tập trung hoặc những cuộc hỏi cung giống như cái ông đang tiến hành với tôi, một nhà tôn giáo, là hậu quả tất yếu của nhà nước các ông phải không?

- Đúng như vậy, bởi vì chúng tôi bảo vệ ngài thoát khỏi cơn phẫn nộ của dân tộc ta, một dân tộc sẽ lập tức thủ tiêu ngài, nếu biết rằng ngài chống lại Quốc trưởng, chống lại hệ tư tưởng của chúng tôi.

- Nhưng đâu là căn nguyên, còn đâu là hậu quả? Vì sao xuất hiện cơn phẫn nộ của dân tộc, và cơn phẫn nộ của dân lộc có phải là yếu tố tất yếu của cái chế độ mà ông đang tô son điểm phấn hay không? Nếu phải, thì cơn phẫn nộ ấy trở thành nhân tố tích cực độc lập từ bao giờ. Đó không phải là cơn phẫn nộ, mà là phản ứng trước cái ác. Nếu phẫn nộ là cơ sở của các ông, nếu cơn phẫn nộ là căn nguyên của các ông, còn tất cả những cái còn lại đều là hậu quả, tóm lại, nếu các ông dùng cái ác làm nguyên nhân, thì tại sao ông lại còn muốn thuyết phục tôi rằng cái ác là lợi ích?

- Không phải thế, “cái ác” là nói theo lời của ngài, còn tôi nói “lòng căm phẫn của dân tộc”. Lòng căm phẫn của một dân tộc lần đầu tiên sau bao nhiêu năm phải chịu đựng hiệp ước Véc-xây nhục nhã, dưới ách áp bức của bọn chủ nhà băng và thương gia Do Thái, được hưởng cuộc sống thanh nhàn. Dân tộc nổi cơn phẫn nộ, khi một kẻ nào đó, dù là Đức cha linh hồn, mưu toan gieo rắc nghi ngờ đối với những thành tựu vĩ đại mà đảng chúng tôi, dưới sự dẫn dắt của Quốc trưởng vĩ đại, đã đem lại cho dân tộc.

- Hay lắm… sống thanh nhàn và cắn xé lẫn nhau là một ư?

- Chúng ta đánh nhau chỉ là để bảo đảm không gian sinh tồn cho mình.

- Thế giam giữ một phần tư dân tộc trong các trại tập trung - đó là lợi ích hay chính là cái cuộc sống hài hòa mà vì nó tôi phải hy sinh cả cuộc đời tôi?

- Ngài nhầm rồi, các trại tập trung của chúng ta làm gì giam giữ tới một phần tư dân số. Nhân tiện, cần nói thêm rằng các trại tập trung không phải là công cụ thủ tiêu - chẳng qua chỉ là do ngài sử dụng các nguồn tin của kẻ thù đấy thôi. Hơn nữa, ngoài cổng mỗi trại tập trung đều có khẩu hiệu: “Công việc làm cho con người trở nên tự do”. Ở các trại tập trung, chúng tôi giáo dục những con người lầm đường lạc lối, còn những kẻ không phải lầm đường lạc lối mà là kẻ thù của chúng tôi, thì dĩ nhiên sẽ bị thủ tiêu.

- Nghĩa là, các ông tùy ý quyết định ai là người có lỗi, ai không có lỗi đối với các ông, chứ gì?

- Đúng thế.

- Nghĩa là các ông biết trước một người nào đó muốn gì, sai lầm ở đâu, phải không?

- Tôi biết dân tộc ta mong muốn điều gì.

- Dân tộc. Dân tộc bao gồm những ai?

- Bao gồm mọi người.

- Làm sao ông biết mọi người muốn gì, một khi ông không biết từng người mong muốn điều gì? Nói đúng hơn, ông biết trước dân tộc muốn gì, nên mới gán cái ý muốn của mình bắt dân tộc phải theo phải không? Như thế là hoang tưởng.

- Ngài nhầm rồi. Dân tộc muốn được ăn uống tốt...

- Và muốn chiến tranh để được ăn uống tốt?

- Rồi hẵng. Muốn có thức ăn ngon, có nhà ở đẹp, có xe du lịch, gia đình vui vẻ. Và muốn chiến tranh để giành hạnh phúc đó cho mình! Đúng, muốn chiến tranh!

- Và dân tộc còn muốn để những người suy nghĩ theo một kiểu khác phải ngồi tù trong các trại tập trung? Nếu cái này tất yếu do cái kia đẻ ra, thì như thế là có cái gì đó không đúng trong hạnh phúc của các ông, bởi vì cái hạnh phúc đạt được bằng kiểu đó, theo tôi nghĩ, không thể trong sạch được nữa rồi. Có lẽ tôi nhìn nhận sự vật khác ông. Hẳn là theo quan điểm của ông thì mục đích biện hộ cho phương tiện - thuyết Dòng Tên cũng đã tuyên truyền cho cái đó.

- Là một giám mục, rõ ràng ngài không muốn kiểm tra lại toàn bộ sự phát triển của đạo Thiên chúa chứ gì? Hay là ngài vẫn cho phép mình loại bỏ   một vài thời kỳ phát triển của Thiên chúa giáo. Nói riêng là thời kỳ sử dụng hình phạt Trung cổ tại tòa án giáo hội.

- Tôi biết nên trả lời ông như thế nào. Tất nhiên, trong lịch sử phát triển của đạo Thiên chúa, có thời kỳ sử dụng hình phạt Trung cổ - thiêu người trên giàn lửa, Nói thêm rằng, theo quan điểm của tôi, sự suy sụp của dân tộc Tây Ban Nha đã gắn liền với việc họ thay thế mục đích bẳng phương tiện. Tòa án giáo hội ban đầu được coi như một phương tiện thanh trừ tín ngưỡng, dần dần đã biến thành mục đích tự thân. Nghĩa là, chính sự thanh trừ, chính hình phạt thiêu người trên giàn lửa, chính cái hình phạt tàn khốc đó, chính việc đàn áp những người bất đồng về tư tưởng đó - ban đầu được coi như sự thanh trừ tín ngưỡng, - dần dần đã đặt cái ác trước mặt mình như một mục đích tự thân.

- Tôi hiểu rồi. Xin ngài cho biết, trong lịch sử Thiên chúa giáo, những người bất đồng tư tưởng có hay bị giáo hội thủ tiêu, để cho bộ phận con chiên còn lại được sống sung sướng hơn hay không nào?

- Tôi hiểu ý ông. Những kẻ bị thủ tiêu thường là bọn dị giáo. Mà tất cả bọn dị giáo trong lịch sử đạo Thiên chúa đều là những phần tử phiến loạn dựa trên quyền lợi vật chất. Tất cả những kẻ dị giáo trong Thiên chúa giáo đều truyền bá tư tưởng bất bình đẳng, trong khi chúa Ki-tô chủ trương bình đẳng. Tuyệt đại đa số bọn dị giáo trong lịch sử Thiên chúa giáo đều đựa trên cơ sở người giàu bất bình đẳng với người nghèo, người nghèo phải thủ tiêu người giàu hoặc trở thành người giàu, leo lên địa vị người giàu, trong khi Chúa Ki-tô cho rằng về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa mọi người với nhau và sự giàu có cũng chỉ mang tính chất tạm thời như sự nghèo khổ mà thôi. Trong khi Chúa Ki-tô muốn mọi người hòa thuận với nhau, thì bọn dị giáo lại xúi giục người ta gây chuyện đổ máu. Phải nói thêm rằng ý niệm cái ác thưởng là cơ sở của mọi tà thuyết, và giáo hội buộc phải lên tiếng chống lại bọn tà giáo, để cho bạo lực khỏi hoành hành và khỏi bị đưa vào bộ luật đạo đức của đạo Thiên chúa.

- Đúng! Nhưng khi chống lại một tà thuyết định dùng bạo lực, giáo hội có sử dụng bạo lực hay không?

- Có sử dụng, nhưng không biến nó thành mục đích và không biện hộ cho nó về nguyên tắc.

- Bạo lực chống tà thuyết được sử dụng trong khoảng thời gian tám, chín thế kỷ, có phải thế không, thưa ngài? Nghĩa là trong vòng tám, chín thế kỷ, người ta đã dùng bạo lực để thủ tiêu bạo lực. Chúng tôi lên cầm quyền năm 1933. Vậy ngài muốn gì ở chúng tôi? Mới có mười một năm, chúng tôi đã xóa bỏ nạn thất nghiệp, mới có mười một năm chúng tôi đã nuôi béo tất cả những người Đức, vâng - trong khi đàn áp những kẻ bất đồng tư tưởng! Thế mà ngài lại cản trở chúng tôi - bằng lời lẽ tuyên truyền! Nhưng nếu như ngài là người chống lại chế độ của chúng tôi với một niềm tin sâu sắc đến thế, thì ngài dựa vào yếu tố vật chất chứ không phải yếu tố tinh thần, có phải là hợp lý hơn không? Chẳng hạn, ngài hãy thử tổ chức những con chiên nào đó của ngài thành một tổ chức hoạt động chống lại nhà nước có hơn không? Dùng truyền đơn, bãi công, phá hoại và hoạt động vũ trang chống lại một số đại biểu của chính quyền chẳng hạn?

- Không, không đời nào tôi đi theo con đường đó, vì một lý do đơn giản… Không phải vì tôi sợ bất cứ cái gì… Chẳng qua tôi cảm thấy con đường ấy không thể chấp nhận được về nguyên tắc, bởi vì, nếu tôi bắt đầu áp dụng những phương pháp của các ông để chống lại các ông, thì vô tình tôi sẽ trở thành người giống như các ông mất.

- Nghĩa là, nếu như có một người trẻ tuổi trong số các con chiên của ngài đến gặp ngài và nói: “Thưa Cha linh hồn, con không tán thành chế độ hiện hành, con muốn đấu tranh chống lại nó”...

- Tôi sẽ không ngăn cản anh ta.

- Anh ta sẽ nói: “Con muốn giết chết tên gau-lây-te. Mà tên gau-lây-te lại có ba đứa con gái: một lên hai, một lên năm và một lên chín. Và một bà vợ bị liệt cả hai chân. Ngài sẽ xử sự ra sao ?

- Tôi không biết.

- Và nếu tôi hỏi ngài về tay thanh niên đó, ngài sẽ không nói gì với tôi chứ? Ngài sẽ không cứu sống ba đứa con gái bé nhỏ và một người phụ nữ bệnh tật ư ? Hay là ngài sẽ giúp đỡ tôi?

- Không, tôi sẽ không nói gì với ông cả, bởi vì trong khi cứu sống một số người này, có thể tôi lại giết chết những người khác. Khi đang diễn ra cuộc chiến tranh vô nhân đạo như thế này, mọi hành động tích cực đều chỉ dẫn tới một sự đổ máu mới. Con đường xử thế duy nhất của các nhà hoạt động tôn giáo trong trường hợp này là lánh xa sự tàn ác, không đứng về phía tên đao phủ. Tiếc rằng đó là con đường tiêu cực, nhưng bất cứ con đường tích cực nào lúc này cũng đều tăng thêm sự đổ máu.

- Tôi tin rằng, nếu chúng tôi chuyền việc hỏi cung ngài sang bước thứ ba - mà bước này sẽ rất đau đớn về thể xác, - chắc là ngài sẽ nói tên gã thanh niên kia cho chúng tôi biết.

- Ông muốn nói rằng, nếu ông biến tôi thành một con vật mất hết trí khôn vì quá đau đớn, thì tôi sẽ làm tất cả những gì mà ông cần phải không? Rất có thể tôi sẽ làm như vậy. Nhưng lúc ấy tôi không còn là tôi nữa. Nếu đã thế, thì ông còn phải tiến hành buổi nói chuyện này làm gì? Ông hãy áp dụng với tôi tất cả những gì mà ông cần, ông hãy sử dụng tôi như một con vật hoặc một chiếc máy...

- Xin ngài cho biết, nếu như có những người nào đó - những kẻ thù độc ác, những kẻ điên rồ - đến gặp ngài và đề nghị ngài đi ra nước ngoài, sang Anh, Nga, Thụy Điền hoặc Thụy Sĩ làm nhân vật trung gian chuyển một bức thư nào đó, thì ngài có thực hiện lời đề nghị ấy không?

- Làm nhân vật trung gian là địa vị đương nhiên của tôi.

- Tại sao như vậy?

- Tại vì làm nhân vật trung gian giữa mọi người trong mối quan hệ với Chúa - đó là nghĩa vụ của tôi. Mà quan hệ giữa con người với Chúa cần phải có chỉ cốt là để cho con người cảm thấy mình là người với đầy đủ ý nghĩa của từ đó. Bởi vậy, tôi không tách quan hệ giữa con người với Chúa ra khỏi quan hệ giữa người với người, về nguyên tắc, đó chỉ là một quan hệ - quan hệ thống nhất. Bởi vậy, mọi vai trò trung gian giữa mọi người với nhau về nguyên tắc đều là chuyện tự nhiên đối với tôi. Điều kiện duy nhất mà tôi đặt ra cho mình khi ấy là vai trò trung gian đó phải dẫn tới điều thiện và phải được thực hiện bằng các phương tiện tốt đẹp.

- Ngay cả nếu như sự trung gian là cái ác đối với nhà nước chúng ta ư?

- Ông buộc tôi phải đưa ra những lời đánh giá chung. Ông thừa hiểu rằng, nếu nhà nước xây dựng trên bạo lực, thì một giám mục như tôi không thể ủng hộ nó về nguyên tắc. Dĩ nhiên, tôi muốn mọi người sống khác với lối sống hiện nay. Nhưng với điều kiện tôi biết rõ cách đạt tới điều đó. Về nguyên tắc, tôi mong cho tất cả mọi người dân hợp nên cái nhà nước quốc xã này đều sống sót và tạo nên một sự thống nhất nào đó khác cái nhà nước này. Tôi không muốn giết bất cứ một ai.

- Theo tôi nghĩ, sự phản bội là điều đáng sợ, nhưng thái độ quan sát thụ động và hờ hững trước sự phản bội và sự giết người còn đáng sợ hơn.

- Trong trường hợp ấy, chỉ có thể làm một điều duy nhất là tham gia vào việc chấm dứt sự giết người.

- Cái đó không phụ thuộc vào ngài.

- Không phụ thuộc. Thế ông gọi thế nào là sự phản bội?

- Thụ động là phản bội.

- Không, thụ động vẫn chưa phải là sự phản bội.

- Nó còn đáng sợ hơn sự phản bội nữa kia…”



Ai-xơ-man cảm thấy tòa nhà bắt đầu rung chuyển. “Chắc bom rơi ngay bên cạnh, - y nghĩ thầm. - Hoặc chúng ném loại bom tấn... Câu chuyện lạ lùng thật... Rất lý thú nhưng ngữ điệu thật lạ lùng,..”

Y gọi điện thoại cho viên sĩ quan trực. Tên kia bước vào, mặt tái xanh, đầy mồ hôi, Ai-xơ-man hỏi:

- Đây là băng ghi âm chính thức hay băng kiểm tra?

Viên sĩ quan trực trả lời lí nhí:

- Tôi xin phép xác minh rồi thưa lại ngài ngay bây giờ.

- Địch ném bom gần chỗ ta lắm à?

- Thưa, cửa kính ngôi nhà này bị vỡ hết cả.

- Anh không được chạy ra hầm trú ẩn à?

- Thưa, không ạ, - viên sĩ quan trực đáp. - Điều lệnh cấm làm như vậy.

Ai-xơ-man định nghe tiếp, nhưng viên sĩ quan trực quay lại báo cáo với y rằng Sơ-tiếc-lít không sử dụng băng ghi âm. Câu chuyện được thu vào băng theo chỉ thị của cơ quan phản gián - nhằm mục đích kiểm tra các nhân viên làm việc tại bộ máy trung tâm.

 46 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 04:47:58 pm 
Tác giả canaris - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
- Chào chị Kin, - người đàn ông cúi xuống đầu giường nói.

- Chào ông, - Kết trả lời rất nhỏ.

Chị nói còn rất khó khăn, đầu lúc nào cũng ong ong nhức nhối, hễ cử động lại thấy buồn nôn. Chỉ sau khi cho con bú, chị mới thấy lòng thanh thản đôi chút. Chú bé đã ngủ, và chị cũng chợp đi theo con. Nhưng khi mở mắt ra, nhìn thấy đứa con trai của mình, lòng chị lại trỗi dậy một cảm giác lạ lùng trước đây chưa hề có, tiếp đó mọi vật trước mắt lại bắt đầu quay lộn trong đầu chị, màu sắc thay đổi và cơn buồn nôn lại dồn lên cuống họng. Cái tình cảm mới mẻ kia lạ lùng quá khiến chị không biết giải thích với mình ra sao. Tất cả đều lẫn lộn với nhau trong con người chị - vừa là nỗi sợ hãi, vừa là cảm giác bay bổng, vừa là niềm tự hào pha chút hãnh diện khó hiểu, vừa là sự bình tĩnh cao độ mà trước đây chị chưa hề có.

- Tôi muốn được hỏi chị vài câu, chị Kin ạ. - Người đàn ông nói tiếp. - Chị nghe rõ lời tôi đấy chứ?

- Vâng.

- Tôi sẽ không quấy rầy chị lâu đâu...

- Ông ở đâu đến đây?

- Tôi là nhân viên công ty bảo hiểm...

- Chồng tôi... không còn nữa ư?

- Tôi đang định hỏi chị. Chị hãy nhớ lại xem lúc bom nổ thì anh ấy đang ở đâu?

- Anh ấy ở trong nhà tắm.

- Nhà chị vẫn còn than bánh để nấu nước kia à? Món ấy dạo này hiếm lắm... ở công ty anh em chúng tôi cũng đến chết cóng mất thôi...

- Nhà tôi mua... được mấy bánh… nhân dịp...

- Chị không mệt chứ?

- Chồng tôi chết rồi ư?

- Tôi đem đến cho chị một tin buồn, chị Kin ạ. Anh ấy mất rồi... Chúng tôi giúp đỡ tất cả các nạn nhân của những cuộc ném bom dã man hiện nay. Chị muốn được giúp đỡ gì trong lúc đang nằm viện? Vấn đề ăn uống chắc ở đây người ta bảo đảm cho chị rồi. Còn quần áo thì chúng tôi sẽ chuẩn bị đầy đủ cho cả chị lẫn cháu khi ra viện... Cháu bé kháu quá đi mất... Con gái à, chị?..

- Con trai.

- Cháu có hay quấy không, chị?

- Không... Thậm chí tôi chưa nghe tiếng cháu lần nào.

Đột nhiên chị cảm thấy lo lắng vì chưa nghe tiếng con lần nào.

- Trẻ sơ sinh nhất thiết phải kêu khóc luôn miệng hay sao hở ông? - Kết hỏi.

- Lũ con tôi thì hét khiếp lắm, - người đàn ông đáp, - tôi suýt thủng màng nhĩ vì tiếng kêu khóc của chúng nó. Nhưng lũ con tôi lúc mới đẻ bé lắm, chứ không to như thằng cháu này đâu. Mà các lực sĩ thì cậu nào cũng ít mồm... Chị Kin ạ, xin lỗi, nếu chị chưa mệt lắm, thì tôi muốn hỏi thêm: tài sản của chị được bảo hiểm với số tiền bao nhiêu?

- Tôi không biết… Nhà tôi lo việc ấy...

- Thế gia đình đăng ký ở phòng bảo hiểm nào chắc chị cũng không nhớ phải không?

- Hình như ở góc phố Cu-đam và Căng-tơ.

- À, đó là phòng bảo hiểm số hai mươi bảy... Bây giờ thì việc tra cứu sổ sách trở nên đơn giản rồi... Chị hãy cố nhớ xem tổng số tiền bảo hiểm là bao nhiêu!

- Hình như một vạn mác...

- Món tiền to đấy...

Người đàn ông ghi tất cả những điều đó vào một quyển sách nhàu nát, gã lại ho một tiếng rồi cúi xuống mặt Kết mà nói rất nhỏ:

- Người mẹ trẻ tuyệt đối không được khóc lóc và cảm xúc quá mạnh… Chị hãy tin tôi, một người cha của ba đứa con. Tất cả những cái đó sẽ lập tức ảnh hưởng đến bụng dạ thằng bé. Chị sẽ được nghe thấy giọng hát của nó... Chị không có quyền chỉ nghĩ đến mình. Cái thời kỳ ấy đã vĩnh viễn qua đối với chị rồi. Từ nay chị phải nghĩ trước hết đến cậu bé quý tử của chị.

- Tôi sẽ không khóc, - Kết nói nhỏ và khẽ chạm những ngón tay lạnh ngắt của mình vào bàn tay ươn ướt, ấm áp của ông ta. - Cảm ơn ông...

- Bà con thân quyến của chị ở đâu? Công ty chúng tôi sẽ giúp họ đến thăm chị. Chúng tôi sẽ trả mọi chi phí tàu xe và thu xếp chỗ ăn ở cho họ... Tất nhiên, chị cũng biết rằng các khách sạn đã bị phá hủy một số, còn một số thì giành cho bên quân đội. Nhưng chúng tôi có một số phòng riêng. Bà con thân quyến của chị sẽ không giận chúng tôi đâu. Vậy nên viết thư báo tin cho ai, hở chị?

- Bà con thân thuộc của tôi ở lại Kê-ni-xơ-béc cả, - Kết trả lời. - Tôi không rõ hiện nay họ ra sao rồi.

- Thế còn gia đình bên chồng? Chúng tôi sẽ báo tin dữ cho ai bây giờ?

- Gia đình anh ấy sống ở bên Thụy Điển... Nhưng không tiện viết thư cho họ đâu, vì ông chú của nhà tôi là một người thân Đức, có đề nghị vợ chồng tôi đừng viết thư cho chú ấy, kẻo phiền... Chúng tôi chỉ gửi thư cho chú ấy qua sứ quán hoặc có dịp ai qua bên đó.

- Chị có nhớ địa chỉ không?

Đúng lúc ấy thì chú bé khóc.

- Xin lỗi ông, - Kết nói, - để tôi cho cháu bú rồi sẽ nói địa chỉ cho ông biết.

- Tôi không dám phiền, - người đàn ông nói rồi bước ra khỏi phòng bệnh.

Kết nhìn theo gã và chậm rãi nuốt một cái gì dâng lên cuống họng. Đầu chị vẫn đau âm ỉ như  trước, nhưng chị không thấy buồn nôn nữa. Chị chưa kịp suy nghĩ thực sự về những câu hỏi mà người kia vừa đặt ra, bởi vì thằng bé đang bắt đầu mút vú, và tất cả những gì lo lắng xa lạ đều biến mất. Chỉ còn lại chú bé con đang thèm khát mút vú và ngó ngoáy hai bàn tay tí hon. Chị cởi tã cho con và nhìn nó. Thằng bé to và đỏ hỏn.

Rồi chị bỗng nhớ lại rằng, hai ngày trước, chị còn nằm trong một phòng bệnh rộng lớn, bên cạnh rất nhiều phụ nữ, rồi cùng một lúc người ta đem trẻ sơ sinh đến trao cho tất cả mọi người trong phòng, rồi phòng bệnh đầy tiếng lao xao mà chị nghe như văng vẳng ở đâu xa.

“Tại sao mình lại ở đây một mình? - Kết bỗng nghĩ, - Mình đang nằm ở đâu thế này?”

Nửa giở sau, người đàn ông kia quay lại. Gã ngắm nghía chú bé đang ngử hồi lâu, rồi lấy từ trong cặp ra mấy chiếc ảnh, đặt chúng lên đùi và hỏi:

- Trong lúc tôi ghi địa chỉ ông chú của chị, xin chị hãy nhìn mấy bức ảnh này, xem có đồ dùng nào của chị không. Sau trận ném bom, người ta có tìm được một số đồ vật trong tòa nhà của chị, chị biết đấy, giữa lúc chị hoạn nạn thế này thì chỉ một chiếc va-li cũng giúp ích không ít. Xem có thể bán vài thứ gì đó, để lấy tiền mua mấy thứ cần thiết nhất cho cháu nhỏ… Dĩ nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng chuẩn bị đầy đủ khi chị xuất viện, nhưng dẫu sao...

- Phơ-răng Pa-kê-nen, Gu-xơ-táp, Gê-oóc-gơ-plát, 25, Xtốc-khôm.

- Cảm ơn. Chị không mệt lắm chứ?

- Cũng hơi mệt, - Kết trả lời, bởi vì trong mấy bức ảnh, giữa đám va-li, hòm xiểng xếp ngay ngắn trên đường phố, cạnh bức tường đổ nát của ngôi nhà hai vợ chồng chị từng sống, chị nhìn thấy một chiếc va-li rất lớn nổi bật hẳn lên bên cạnh những chiếc khác, Ê-rơ-vin đặt điện đài ở trong chiếc va-li đó...

- Chị xem kỹ đi, tôi xin phép về đây, - gã đàn ông chìa ảnh ra cho chị và nói.

- Không có đồ dùng nào của tôi cả, - Kết trả lời. - Trong này không thấy mấy chiếc va-li của gia đình tôi…

- Thôi, cảm ơn chị, nếu vậy chúng ta hãy coi như vấn đề này đã được giải quyết, - người kia nói, thận trọng cất mấy bức ảnh vào cặp, cúi chào rồi đứng dậy. - Một, hai ngày nữa tôi sẽ lại đến thăm chị để báo tin cho chị biết kết quả công việc mà tôi lo giúp chị... Chị cũng hiểu đấy, giữa lúc thời thế khó khăn này, tiền mà chị phải trả công cho tôi chẳng có gì đáng kể, điều đó chẳc chắn cũng sẽ không làm cho chị phật lòng…

- Tôi sẽ hết sức cảm tạ ông. - Kết trả lời.


Nhân viên điều tra của tổ chức ghét-xta-pô ở khu phố, kẻ đã tới thăm Kết, lập tức gửi tấm ảnh chụp những chiếc va-li tới phòng giám định các vết tay của Kết: tấm ảnh này đã được tráng một chất đặc biệt ở trong phòng thí nghiệm. Các vết tay trên chiếc điện đài đặt trong va-li đã được ghi lại. Kết quả cho thấy các vết tay trên chiếc va-li đựng diện đài là của ba người khác nhau... Còn những tư liệu khác thì hắn gửi tới Vụ VI của cơ quan an ninh Đức quốc xã: hắn đề nghị cho biết tất cả những gì liên quan tới cuộc đời và hoạt động của Phơ-răng Pa-kê-nen, người mang quốc tịch Thụy Điển...

 47 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 04:44:30 pm 
Tác giả canaris - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Khi vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh Hít-le cứ nhắc đi nhắc lại như một lời thần chú, rằng vấn đề đổ vỡ của liên minh Anh - Mỹ - Xô chỉ còn là vấn đề một vài tuần, khi hắn thuyết phục tất cả đồng bọn rẳng sau thất bại có tính chất quyết định, phương Tây sẽ phải lạy lục người Đức giúp đỡ họ, thì nhiều người nghĩ rằng đó chỉ là một biểu hiện tính cách của Quốc trưởng - tin tưởng đến cùng vào cái đã được óc tưởng tượng đầy khát vọng bệnh hoạn của hắn tạo nên. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Hít-le cố dựa vào các sự kiện sau đây: cơ quan tình báo của Boóc-man, bỏ qua tuyến của Him-le và Ríp- ben-tơ-rốp và ngay cả đến ngành tình báo quân sự của Ca-na-ri-xơ, viên đô đốc đã có hành vi phương hại nghiêm trọng tới tổ chức của mình. Ngay từ giữa năm 1944, ngành tình báo của Boóc- man đã săn được một tài liệu tối mật ở Luân Đôn. Đặc biệt là trong tài liệu ấy có mấy dòng như sau: “Thảm họa khủng khiếp hẳn là sẽ xảy ra, nếu như chế độ dã man của nước Nga thủ tiêu được nền văn hóa và độc lập của các quốc gia châu Âu cổ đại”. Trí nhớ kỳ lạ của Hít-le lập tức đưa hắn trở lại thời kỳ 1936, ở Nuy-ren-be, tại đại hội của đảng Quốc xã Đức, Tại đại hội đó, Hít-le đã nói: “Nếu các phương pháp của bọn bôn-sê-vích thành công, nền văn hóa châu Âu sẽ bị thay bằng một chế độ dã man nhất có thời đã tồn tại trong lịch sử”.

Cái đoạn trích từ tài liệu mật đánh cắp được kia, cái đoạn mà Hít-le ngày càng hay nhắc đi nhắc lại, là lời nói của Uyn- xtơn Sớc-sin. Viên thủ tướng Anh đã viết câu ấy trong giác thư tối mật vào tháng mười năm 1943, khi quân Nga không phải ở Ba Lan, mà đang phòng thủ ở ngoại vi Xta-lin-grát, không phải tiến quân trên đất Ru-ma-ni, mà đang cố thủ gần Xmô-len-xcơ, không phải ở Nam Tư, mà đang rút lui về Khắc-cốp.

Chắc là Hít-le sẽ không ra lệnh xử bắn tại chỗ, ngay lập tức, tất cả những kẻ nào có âm mưu đàm phán, nếu như hắn biết đến cuộc tranh luận gay gắt trong những năm 1943 - 1944 giữa Anh và Mỹ xoay quay hướng tấn công chính của quân đội Đồng minh. Sớc-sin khăng khăng đòi phái đổ bộ quân đội vào vùng Ban-căng.

Y giải thích điều đó bằng những lý do sau đây:

- Vấn đề là thế này: chúng ta có sẵn sàng bằng lòng với việc cộng sản hóa vùng Ban-căng và, có thể, cả nước Ý nữa hay không? Kết luận mà chúng ta cần rút ra là: chúng ta phải chống lại sự xâm nhập và can thiệp của bọn cộng sản... Cần hiểu rõ những điểm ưu việt mà nền dân chủ phương Tây sẽ giành được, nếu như quân đội chúng ta tiến chiếm Bu-đa-pét, Viên và giải phóng Pra-ha cùng Vác-xa-va...
Những cái đầu tỉnh táo ở Mỹ hiểu rằng ý đồ của Sớc-sin muốn giáng đòn chủ yếu vào Hít-le không phải trên đất Pháp, mà tại vùng Ban-căng, là hết sức vị kỷ. Họ thừa hiểu rằng, nếu quan điểm của Sớc-sin thắng thế, nước Anh sẽ trở thành bá chủ ở vùng Địa Trung Hải, do đó chính nước Anh sẽ làm chủ ở Châu Phi, phương đông A Rập, Ý, Nam Tư và Hy Lạp. Nếu vậy thì tương quan lực lượng sẽ nghiêng về phía bất lợi cho Mỹ. Bởi vậy, việc đổ bộ được ấn định vào nước Pháp.

Mùa đông năm 1945, chiến lược của Sớc-sin được y diễn tả với những cận thần gần gũi nhất của y như sau:

- Một là, nước Nga xô-viết đã trở thành mối đe dọa chết người đối với thế giới tự do; hai là, cần phải mở ngay một mặt trận mới chống lại bước tiến cực nhanh của nước Nga xô-viết; ba là, mặt trận ấy ở châu Âu phải tiến càng xa về phía Đông càng tốt; bốn là, mục tiêu chủ yếu và thực sự của liên quân Anh - Mỹ là Béc Lanh; năm là, việc quân Mỹ giải phóng Tiệp Khắc và tiến vào Pra-ha có ý nghĩa quan trọng; sáu là, thủ đô Viên, thực chất là cả nước Áo, phải nằm dưới sự điều khiển của các cường quốc phương Tây...

Là một chính khách thận trọng và táo bạo, Sớc-sin đồng thời cũng hiểu rất rõ rằng không thể đàm phán với bất cứ ai trong giới lãnh đạo đảng Quốc xã của Hít-le - ngay trong trường hợp quân Nga tiến công thần tốc vào châu Âu, bởi vì, nếu đối với y, nước Nga là một mối đe dọa chết người, thì đối với những người sống khốn khổ dưới chế độ Hít-le nước Nga lại tượng trưng cho sự giải phóng. Y cũng không thể đàm phán với Béc Lanh, bởi vì y hiểu rằng bọn trùm sỏ Hít-le có thể bội ước đến mức khó tưởng tượng. Y cũng hiểu rằng dư luận thế giới không đời nào tha thứ cho việc đàm phán giữa lực lượng dân chủ với bè lũ Hít-le... Y chỉ có thể - trong những hoàn cảnh nhất định, thật cấp bách - đàm phán với những người đối lập với Hít-le, để thành lập một mặt trận thống nhất có khả năng ngăn chặn quân Nga tràn tới vùng bờ Đại Tây Dương, điều mà Sớc-sin lo sợ hơn cả. Song những phần tử đối lập ấy, sau khi âm mưu đảo chính mùa hè năm 1944 bị đập tan, ở nước Đức không còn nữa. Nhưng Sớc-sin cho rằng, mọi ý đồ đàm phán thận trọng với các nhân vật trong Bộ chỉ huy Hít-le, với những kẻ muốn để quân đội quốc xã đầu hàng ở phương Tây dù ít có khả năng hiện thực đến mấy, do lập trường cứng rắn của Ru-dơ-ven và của các phần tử thân Nga trên toàn thế giới cũng vẫn cho phép y thực hiện một chính sách cứng rắn hơn đối với Xta-lin, nhất là về các vấn đề Ba Lan và Hy Lạp.

Và khi tình báo quân đội báo cáo với Sớc-sin rằng, người Đức đang tìm cách tiếp xúc, đàm phán với các nước Đồng minh, thì Sớc-sin trả lời:

- Người ta có thể buộc tội nước Anh về sự chậm trễ, táo bạo, phớt đời, về óc phân tích hài hước... Song không ai có thể buộc tội nước Anh về sự xảo quyệt và tôi cầu Chúa ban phước cho chúng ta, để chúng ta khỏi bị buộc vào tội đó. Nhưng, - y nói thêm, và mắt y trở nên lạnh như thép, chỉ ở mãi đâu đó trong đáy mắt mới thấy thấp thoáng ánh giễu cợt, - bao giờ tôi cũng đề nghị mọi người phân biệt chính xác ranh giới giữa trò chơi ngoại giao, một thủ đoạn nhằm mục đích củng cố sự hợp tác giữa các dân tộc, với sự xảo quyệt công khai, phi lý. Chỉ có dân châu Á mới có thể coi trò chơi ngoại giao tinh vi và phức tạp là sự xảo quyệt. Phải thấy rằng bản thân khái niệm trò chơi đã cho phép tránh sang một bên! Trẻ con chúng vẫn bảo nhau như thế, mà trẻ con chính là những chính trị gia thành thật nhất...

Bằng cách đó, Sớc-sin làm cho giới tình báo hiểu rằng có thể đàm phán với người Đức: trong tình huống nhất định, với những điều kiện nhất định, và cần chuẩn bị khả năng để tuyên bố rằng việc đàm phán ấy chỉ là một trò chơi, một sự thăm dò vì lợi ích chung của phe Đồng minh trong cuộc đấu tranh chống bọn bạo chúa Hít-le.

- Phải nói thêm rằng, - Sớc-sin bổ sung, - do các đồng nghiệp người Mỹ của chúng ta nắm vững tin tức không kém chúng ta, thậm chí còn có thể nhiều hơn chúng ta, cho nên hãy đành cho họ vai trò làm chiếc vi-ô-lông cầm chịch trong dàn nhạc ấy.

- Nhưng trong trường hợp hữu ích, trò chơi có thể sẽ không còn là trò chơi nữa, mà trở thành một hành động nghiêm túc hơn thì sao ạ? - viên Cục phó Cục tình báo hỏi.

- Ông nghĩ rằng trò chơi không phải là chuyện nghiêm túc ư? Trò chơi là cái nghiêm túc nhất trong mọi thứ có trên đời. Trò chơi và hội họa. Tất cả các thứ còn lại đều nhỏ bé và trống rỗng, - Sớc-sin trả lời. Y vẫn nằm trên giường, chứ chưa ngồi dậy sau giấc ngủ trưa, bởi vậy y đang ở trong tâm trạng vui vẻ và thoải mái. - Cái thứ chính trị, dưới cái dạng ta vẫn quen quan niệm và tiếp nhận đó, nó đã chết hẳn rồi. Một thứ chính sách toàn cầu đã đến thay thế cái món chính sách địa phương, cục bộ của những chiến dịch tế nhị ở vùng này hay vùng nọ trên thế giới. Đó không còn là ý chí riêng của một cá nhân, đó không còn là nguyện vọng ích kỷ của một nhóm người này hay nhóm người nọ, đó là một khoa học chính xác như toán học và nguy hiểm như phương pháp bức xạ thí nghiệm trong y học. Các nhà hội họa và thiên văn học, những người điều khiển thang máy và các nhà toán học, các bậc vương giả và những thiên tài sẽ lệ thuộc vào chính sách toàn cầu, - Sớc-sin sửa chiếc khăn trải giường và nói thêm:

- Sự liên kết trong một thời kỳ giữa một ông vua với một thiên tài hoàn toàn không nhằm chống lại ông vua; thế đối lập nằm trong thời kỳ đó là ngẫu nhiên, chứ không mang tính chất hướng đích. Chính sách toàn cầu sẽ dẫn đến những đồng minh bất ngờ, những chuyển biến - bước ngoặt trái ngược trong chiến lược, khiến bức thư của tôi gửi Xta-lin ngày 33 tháng 6 năm 1941 sẽ là đỉnh cao của tính lô-gích chặt chẽ và tính nhất quán. Nói đúng hơn, bức thư của tôi có tính chất lô-gích, còn vấn đề tính nhất quán đứng ở hàng thứ hai. Cái chủ yếu là quyền lợi của sự hợp tác giữa các dân tộc, mọi thứ còn lại sẽ được lịch sử tha thứ hết...

 48 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 04:42:03 pm 
Tác giả canaris - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
Chương 6


Sê-len-béc trông thấy Sơ-tiếc-lít đứng trong phòng khách của thống chế SS Him-le. Sơ-tiếc-lít ghi tên xin vào gặp thống chế. Tay anh xách một chiếc cặp mầu xanh đậm viền vàng. Trong cặp có một tờ giấy. Đó là bức thư mà anh vừa viết, ngay sau khi từ khu phố Kê-pê-ni-cơ trở về.

Viên sĩ quan tùy tùng trực hôm nay để tướng Pôn phụ trách Cục kinh tế tài chính SS vào gặp Him-le, rồi bảo Sơ-tiếc-lít:

- Tướng Pôn ra thì ngài vào. Tôi nghĩ rằng ngài thượng tướng chỉ gặp Thống chế một lát thôi, vì vấn đề trao đổi không hệ trọng lắm.

- Chào anh Sơ-tiếc-lít, - Sê-len-béc nói. - Tôi đang tìm anh đây.

- Chào ông, - Sơ-tiếc-lít đáp, - Ông làm sao mà có vẻ mệt mỏi thế?

- Vẻ mệt mỏi của tôi lộ rõ thế cơ à?

- Vâng, rất rõ.

- Lên chỗ tôi đi, tôi đang cần gặp anh lắm.

- Nhưng tôi đã xin được gặp thống chế.

- Về chuyện gì đấy?

- Việc riêng ạ.

- Một, hai tiếng nữa anh vào gặp Thống chế cũng được, - Sê-len-béc nói. - Anh hãy bảo sĩ quan trực xếp cho anh vào sau. Thống chế còn làm việc ở đây đến tối cơ.

- Cũng được, - Sơ-tiếc-lít lẩm bẩm, - tôi chỉ sợ như thế bất tiện thôi ạ.

- Tôi cần gặp phôn Sơ-tiếc-lít ngay, - Sê-len-béc báo sĩ quan trực. - Đề nghị anh chuyển lui giờ tiếp lại hai tiếng sau.

- Xin tuân lệnh ngài thiếu tướng!

Sê-len-béc khoác tay Sơ-tiếc-lít bước ra khỏi phòng khách và nói nhỏ:

- Anh thấy giọng cậu ấy thế nào? Cậu ấy báo cáo hệt như một diễn viên kịch, cố làm cho người ta thích cái giọng bụng của mình.

- Bao giờ tôi cũng thương hại đám sĩ quan tùy tùng, - Sơ- tiếc-lít nói. - Lúc nào họ cũng phải giữ vẻ bí ần đầy ý nghĩa, kẻo sợ người ta nhận ra vai trò không cần thiết của mình.

- Anh nhầm rồi. Sĩ quan tùy tùng hết sức cần thiết chứ. Sĩ quan tùy tùng cũng giống như một con chó săn mỹ miều: vừa có thể trò chuyện vài câu xen giữa công việc, vừa làm cho những người đi săn khác ghen tị, nếu vẻ ngoài trông đẹp mã.

- Thực tình tôi có biết một cậu sĩ quan tùy tùng, - Sơ-tiếc- lít tiếp tục câu chuyện lúc hai người còn đi ngoài hành lang. - Cậu ta muốn sắm vai người chủ thầu tổ chức biểu diễn: gặp ai cậu ta cũng kể ra cái thiên tài của ông chủ mình. Rốt cuộc người ta bố trí tặng cho cậu ta một tai nạn xe hơi, vì tức giận cái tính ba hoa của cậu ta...

Sê-len-béc cười to:

- Anh bịa ra hay chuyện thật đấy?

- Tất nhiên là chuyện bịa...

Gần tới lối ra cầu thang trung tâm, hai người gặp Muyn-lơ.

- Hai-lơ Hít-le, chào các bạn! - Muyn-lơ nói.

- Hai-lơ Hít-le, chào anh bạn! - Sê-len-béc đáp.

- Hai-lơ, - Sơ-tiếc-lít trả lời, tay trái không buồn giơ lên.

- Rất sung sướng gặp hai bạn, hai con quỷ, - Muyn-lơ nói - Các bạn lại sắp bày đặt một trò quỷ quyệt gì đấy phải không?

- Sắp bày đây, - Sê-len-béc trả lời. - Sao lại không nhỉ?

- Không một chiến dịch nào của chúng tôi có thể sánh với trò quỷ quyệt của bên các ngài được đâu, - Sơ-tiếc-lít nói. - So với bên các ngài, cánh chúng tôi còn thanh cao chán.

- So với tôi ư? - Muyn-lơ ngạc nhiên. - Kể ra cũng thú vị khi được người ta gọi mình là đồ quỷ sứ. Người đời chết đi còn lưu danh tiếng lại. Thế thì cứ để cho quỷ sứ lưu danh đã chết ai.

Muyn-lơ thân mật vỗ vai Sê-len-béc với Sơ-tiếc-lít, rồi rẽ vào phòng làm việc của một cộng sự viên bên y; y thích bước vào phòng làm việc của họ mà không báo trước, nhất là giữa những buổi hỏi cung chán ngắt.

 49 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 09:23:35 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn


        NẮNG ĐỒNG BẰNG

        Đã thấy gió từ sông Sài Gòn phả nhẹ vào mặt. Gió mang theo cái vị nồng nồng tanh tanh của dòng sông lắm tôm nhiều cá. Măng lồ ô sắp tàn, đang cố vươn những búp vàng sậm lên lưng chừng rừng. Nom hao hao những ngọn nến khổng lồ đang cháy. Cháy nhợt nhạt. Cháy giữa một trời mưa.

        Nước ở đâu mà tuôn mãi không thôi. Nước rung rào rào trên lá. Nước tràn trên mặt đất. Nước chảy theo những thân cây. Rừng ướt sũng, đất ướt sũng, và trời mãi cũng chẳng thấy khô hơn. Mới xế chiều mà rừng đã muốn tối om. Rừng như xị ra. Mặt trời vẫn còn đâu đó ở đường chân trời. Nó đang thổi hồng một đám mây màu xám chì, giống như đống trấu ủ giữa sương mù đặc sệt. Dai dẳng trên cao, tiếng “đầm già” nhoè nhoẹt lúc gần lúc xa, nghe thuốn buốt như có cánh ong nào siết vòng ngay mang tai. Chiếc L.19 có dáng bay của một con chuồn chuồn ướt cánh, nhưng cái đầu của nó cứ vênh lên ngạo nghễ.
Vừa thấy được một mảng xanh đã tiếp liền những bãi trống. Những bãi B.52 trống hơ trống hoác khiến dải rừng gợi lên sự liên tưởng tới cái đầu lở trốc. Mùi khét của nó vẫn còn vương vất trong mưa. Đưa lưỡi nếm trên môi, bỗng dưng thấy vị đắng. Một đàn dọc đen trũi vội vã quăng mình trên ngọn cây cao. Chúng nó tản cư về những vùng rừng già yên tĩnh, ít tiếng đạn bom.

        https://www.quansuvn.net/index.php/topic,4532.0.html

 50 
 vào lúc: 30 Tháng Năm, 2020, 09:20:53 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
       

        ĐẠI NGUYÊN SOÁI STALIN
               
        Không ai sinh ra trên đời này lại không có nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Tôi tự ngẫm rằng, sẽ là đáng tin cậy nếu chúng ta bắt đầu làm quen với Stalin bằng chính lập trường khách quan này.

        Hãy bắt đầu từ những sự kiện xa xưa, mà thiếu nó chúng ta sẽ không hiểu được nhân cách và tài năng của vị Đại Nguyên soái trong tương lai đã được hình thành như thế nào.

        Ioxiph Dgiugashvili (tên khai sinh của Stalin) sinh ngày 21 tháng 12 năm 18791 ở thành phố nhỏ mang tên Gori2 thuộc tỉnh Tiphli nước Grudia, trong gia đình thợ giầy, cha của Stalin là ông Vixarion Ivanovich Dgiugashvili và mẹ là bà Ekaterina Geogriépna. Lễ rửa tội, đặt tên cho Stalin được tổ chức tại nhà thờ dòng chính giáo của thành phố. Năm 1888, ông được gửi vào học tại trường dòng của thành phố Gori, sau khi tốt nghiệp, vào năm 1894 ông chuyển lên học tại trường dòng của thành phố Tiphlis - thành phố lớn thứ hai của Grudia. Do thành tích học xuất sắc ông được chuẩn bị để đào tạo thành cha cố. Tuy nhiên, do được tiếp xúc từ rất sớm với các sách vở, tài liệu cách mạng, ông đã bị lôi cuốn và tham gia tích cực vào các nhóm Macxít và nhanh chóng trở thành cốt cán của các nhóm này. Ngày 27 tháng 5 năm 1899 (tức là năm thứ năm ỏ trường dòng) ông đã bị đuổi khỏi trường vì tham gia hoạt động cách mạng.

        https://www.quansuvn.net/index.php?topic=31432.0

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM