Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Một, 2019, 05:14:41 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:40:18 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

MiG-17 TIẾP ТỤС CHIẾN ĐẤU

        Trong lúc tình hình không mấy khả quan cho lực lượng Không quân đánh địch - bởi lực lượng chủ công trong không chiến là MiG-21 đã được lệnh ngừng bay (không biết thời gian nào trở lại) - thì các Biên đội MiG-17 èo uột như tàn quân cũng phải lên trời đánh với bọn “thần sấm”, “con ma”, “hiệp sĩ thánh chiến” hàng ngày. Không thể để bầu trời của ta cho địch muốn làm gì thì làm. Đã đến lúc các chiến sĩ Không quân không chỉ cần nêu cao tinh thần quyết tử bảo vệ Tổ quốc, mà còn phải tỏ ra thiện chiến với mỗi cá nhân trong nổ lực tìm ra cách đánh nhằm chặn đứng đà thắng lợi của kẻ địch, từng bước giành lại thế chủ động trong đối mặt không chiến với kẻ thù. Và Nguyễn Văn Bảy vẫn thầm nói trong lòng quyết đánh cho kẻ thù phải sợ mà chùn chí. Trò chơi tuổi thơ ngày nào hiện về với anh như vỗ về. Chẳng phải ngày xưa Bảy đã từng nghĩ ra bao cách chơi táo bạo bắt các bạn ở phía đối phương phải nể mặt đó sao? Chẳng phải sự dũng cảm và mưu trí của anh trên lưng bò, lưng trâu đã từng mang lại cho phe Bảy những chiến thắng ngoạn mục và hết sức ly kỳ đó sao? Đánh giặc với đánh trận giả là khác nhau, nhưng có một nguyên tắc chung là phải mưu trí, sáng tạo. MiG-21 có ưu thế, nhưng gần đây kẻ địch đã nghiên cứu và nắm được quy luật vận hành và cách đánh lặp đi lặp lại không thay đổi, từ đó mà bị địch bắt thóp, điểm huyệt. Tin vào mình, giàu linh cảm về bản thân khi đối mặt với những cảnh huống khó khăn, nguy hiểm, Bảy cứ ngồi nghiệm ra cách đánh bằng những mũi tên trên đất. Bảy cười một mình với những bài hình học không gian thô sơ, hiển lành được anh vẽ bằng miếng gạch bể cứ lăn tăn, líu la, líu lít trong đầu cùng sự tưởng tượng ngộ nghĩnh chẳng khác anh nông dân tay lấm chân bùn đang ngồi trên bờ đê thửa ruộng vừa trải qua một mùa thất bát để tính tiếp cho lẩn thu hoạch vụ sau lúa chất đầy bổ.

        Bất giác Bảy nhớ lại một lần trên sông, cả bọn con nít, trẻ trâu chơi trò bắt nhau trên nước, Bảy bị vây vào giữa, không đường nào thoát được, dù biết lặn nhưng lặn chưa được dài hơi, bí! Chẳng lẽ đầu hàng để bị bắt,

        Bảy bèn đánh liều hít hơi sâu, lặn một hơi thật dài, mài người sát mặt đất, bườn ra khỏi đám trẻ đang vỗ tay mừng chiến thắng vì nghĩ rằng Bảy hết đường chạy. Nào ngờ, Bảy lặn một hơi thật sâu, thật dài, cố chui vào được tầng lá thấp phủ ngang mặt nước của cây bần để trốn an toàn. Tụi nhỏ đợi mãi không thấy “kẻ địch” nổi lên. Chúng bắt đầu hoảng, cứ cho rằng Bảy đã chết chìm, hay bị bà thủy, hà bá gì bắt, bèn tháo lên bờ, túm quần túm áo mà chạy thục mạng, vừa chạy vừa la làng:

        -   Bớ làng... thằng Bảy Đầu Giồ bị bà thủy bắt...!

        -   Thằng Bảy chăn bò bị hà bá bắt... Bớ làng xóm ơi!

        Bảy nghe sướng quá, khoái chí quá đi mất. Cho chúng nó hết hồn chơi. Bảy cứ lặng im trong lùm lá, hút gió làm chim vịt kêu chiếu. Trời lại đi dần vào chạng vạng. Đến lượt người lớn kéo nhau lao ầm ầm xuống sông lặn tìm thằng Bảy. Trong đó có cả anh Hai, anh Ba của Bảy. Còn ông già tía của Bảy thì đứng trên bờ la bài hãi “Phải kiếm cho được nó về. Cái thằng nghịch tử... trời đánh!”

        Sau đó, hít một hơi thở đầy, Bảy lặn lại mé nước gần đó, chỗ có lùm cỏ lau, cỏ đế mà lẻn bò lên bờ. Đói bụng. Bảy đi một tăng lại chỗ có buồng chuối vặt được từ gò mả mồ côi giú trong lùm, lột ra, làm một hơi hết hai nải, no bụng, lúc túc lội về. Tới sân lúa hàng xóm, thấy có bọn cùng Bảy chơi cút bắt dưới sông hồi chiểu đang tụm nhau một cách đầy hứng thú với trò bịt mắt bắt dê, Bảy liền nghĩ ra cách ma hiện hồn làm cho chúng nó sợ. Tụi mầy chơi xấu, biết tao chết rồi mà vẫn kéo nhau đi chơi vui, không đứa nào biết buồn...

        Khi về đến nhà thì hỡi ơi! Nhà Bảy đầy chật người, nhiều người khóc la như cảnh nhà có tang điếu. Hồn phách lạc mất, Bảy run rẩy nép vô hàng rào khi nhìn thấy đám trẻ chơi bắt dê ban nãy chạy ào tới, trợn mắt chu mổm hét toáng lên:

        -   Thằng Bảy nó thành ma rồi...!

        Trời bất dung gian đảng, ông già tía của Bảy đi mua đinh về chuẩn bị đóng quan đóng quách cho nó, thấy có thằng bé thụt ló bên hàng rào, nhìn một lúc, ông liến túm lấy cổ nó lôi vào nhà. Mọi người tá hỏa. Ông già định lôi Bảy xuống bộ ngựa nhà dưới mà nện cho một trận nên thân, nhưng mấy người bà con xót lòng ngăn cản:

        -   Nó còn sống là mừng muốn chết rồi, còn đánh đòn nó làm gì. Cho mấy bác, mẩy cô, mấy bà xin đi!

        Câu chuyện nghịch ngợm là như vậy. Tự dưng hôm nay Bảy lại nhớ đến nó. Chắc là có chút duyên cớ gì đây. Hay là “lặn”. Đúng rồi: Lặn!

        Đội hình chiến thuật này thỉnh thoảng Biên đội có đề cập, nhưng chưa lần nào chính thức thực hiện, có thực hiện như trận đánh của Bảy lần trước cũng chưa thật triệt để, chưa thật sự khoa học. Chúng nó bao vây, cố đưa mình vào giữa để “kẹp” lại, mình phải nghĩ ra cách phá thế võ của chúng nó chứ. Phải rồi: Lặn! Lặn xuống, lặn ngược - trồi ngược lên trời. Thế đấy. Thứ nhất chúng nó không bắn mình được. Thứ hai, mình khéo nhử một chút là chúng nó có thể bắn vào nhau, gậy ông đập lưng ông, quân ta bắn quân mình!?

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:39:19 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Những nguyên nhân dẫn đến thua trận sau năm 1966 thắng lợi giòn giã, là:

        Thứ nhất: các Ban Tham mưu đã không nắm được ý đồ của địch, bỏ đi nguyên tắc biết địch, biết ta; thiếu thông tin tình báo, thông tin từ trinh sát kỹ thuật, cùng những nhận định, đánh giá trên cơ sở khoa học, không nắm được diễn biến về chiến thuật, cách đánh của đối phương.

        Thứ hai: các bộ phận radar đã không phát hiện được địch từ xa. Các chuyên gia dẫn đường làm chưa thật tốt nhiệm vụ kỹ thuật của mình, không hỗ trợ được nhiều cho các phi công tiêm kích của ta như các trận trước. Một phần do địch thay đổi thiết bị kỹ thuật đột ngột, một phần do ta đã không hình dung ra trước phương án kỹ thuật phá nhiễu, cách xử lý tình huống chủ động trước giải pháp thay đổi tần số liên lạc, bí số, mật danh về hướng bay, đường bay, thậm chí cả hệ thống dẫn đường Doppoler mà F-105 thường sử dụng để đánh lừa ta, khiến ta lúng túng, thụ động, không tìm ra được phương cách tối ưu hòng phá được mạng lưới nhiễu động của chúng.

        Thứ ba, có tư tưởng chủ quan, nôn nóng, muốn giành tiếp thắng lợi trong tâm lý háo thắng: chiến thắng sau phải cao hơn chiến thắng trước.

        MiG-21 là con bài bất khả chiến bại. Có MiG-21 là có “bảo bối”, có “kính chiếu yêu” để “trị” đối phương, để bắt hồn, bắt vía kẻ địch. Những tên giặc lái Mỹ rất sợ MiG-21. Các phi công lái MiG-21 đã cao hứng mà phóng đại, cường điệu hóa, thẩn kỳ hóa những chiếc MiG-21 và tài thao lược của mình. Các phi công là người chịu trách nhiệm chính trong khuyết điểm này. Trong khi đó, MiG-21 còn có một nhược điểm là chỉ thích hợp với thời gian biểu, cự ly xuất kích khi địch cách sân bay của ta khoảng 40km.

        Thứ tư, tư tưởng chiến thuật không thay đổi, không dùng phép biện chứng để nghiên cứu, xây dựng đấu pháp, cách đánh, phương án chiến thuật mới phù hợp với lối đánh, cách đánh của địch sau những thất bại từ giữa đến cuối năm 1966. vẫn tập trung ý đố chiến đấu vào việc đánh chặn cường kích ném bom của địch hơn là nghiên cứu cách đánh khác, nhất là phương án chiến đấu chủ động, hoặc bắt buộc với bọn tiêm kích bảo vệ khi tình huống đòi hỏi, hoặc có biến thể vế hình thái chiến thuật để xoay trở trước sự thay đổi đột ngột vế lối đánh, cách đánh của đối phương. Phải thừa nhận ta rất ngây ngô trong trường hợp bọn F-4 cải trang thành F-105 bằng hệ thống nhiễu khiến ta quá dễ mắc lừa thủ đoạn trá hình của chúng. Chiến dịch Bolo là một lối đánh, cách đánh lạ, nhưng rất thuần thục của địch đã được vận dụng trơn tru, chính xác và hiệu quả. Chứng tỏ giặc đã mạnh mà còn biết rút kinh nghiệm, biết chấn chỉnh, không dám xem thường ta, còn ta thì yếu nhưng lại dám coi thường địch. Một bài học hết sức bổ ích cho sự ngạo mạn của những anh David trước gã khổng lồ.

        Riêng trong trận ngày 2 tháng 1 năm 1967, phải xem đại tá Mỹ Robin Olds là một sĩ quan chỉ huy mẫu mực. chính hắn ta phát hiện ra số 3 của ta rồi bình tĩnh đeo bám và chiếm ưu thế, nhanh nhẹn bắn liền một lúc hai quả tên lửa Sparrow và một quả Sidewinder về phía chiếc MiG-21 của Nguyễn Đăng Kính với ý đổ kết liễu đối phương một cách quyết đoán. Mọi chuyện đã xảy ra theo đúng những toan tính thông minh của hắn. Một gã chỉ huy không tồi, nếu không nói là đẩy bản lĩnh.

        Vấn đề còn ở chỗ: khi Biên đội 4 chiếc MiG-21 của ta xuyên đám mây dày, vừa ló đầu ra khoảng không với độ cao 3.000m, liến bị đối phương “kẹp” vào giữa. Đây là một điểm cần nghiên cứu. Địch đã chủ động bằng chiến thuật được huấn luyện kỹ để đón bắt ta, chứ không phải một tình huống ngẫu nhiên, bất ngờ địch may mắn có được. Không có gì đáng xấu hổ cả, nếu ta chịu khó đọc lại thật kỹ trận địa bố trí của địch để giải mã cho được công hiệu chiến thuật của chúng - thậm chí có học kẻ thù để đánh lại chúng cũng không có gì để phải chạm đến sĩ diện của ta. Trong các thứ học, có cái phải học từ phía kẻ thù. Trong các thầy dạy ta, có một người “Thầy” là kẻ thù của chúng ta. Phải can đảm và loại trừ thói tự cao - tự phụ, nếu có. Học ai cũng được, miễn học để có thêm kiến thức, tri thức, kinh nghiệm phục vụ việc nâng cao hiệu quả chiến đấu cho các đơn vị của ta đều phải được xem là tốt.

        Cuối cùng, Bộ Chỉ huy thống nhất điểu chỉnh cách đánh theo lối du kích “đánh nhanh, rút gọn”. Chỉ 2 đến 4 chiếc MiG-21 trực chiến đấu một ca. Khi xuất kích đánh chặn, MiG-21 phải được đài chỉ huy mặt đất liên tục theo dõi, nhắc nhở về việc phải thường xuyên thay đổi độ cao theo kiểu thoắt ẩn, thoắt hiện (rắn lượn) để tấn công, kết hợp cùng MiG-17 hiệp đồng làm nhiệm vụ nghi binh để giành thắng lợi theo từng trận.

        Bộ chỉ huy yêu cầu: trong khu chiến, radar phải nắm chắc địch, dẫn đường chính xác và hiệu quả. Phi công phải tìm mọi cách giám sát cho được các hành động của từng tốp địch, nhất là khi cùng một lúc gặp cả cường kích lẫn tiêm kích, hoặc chỉ gặp những tốp tiêm kích của địch, phải nắm được tình hình địch một cách cụ thể để có những quyết định chính xác nhằm nâng cao khả năng giành chiến thắng, hạn chế tổn thất.

        Kíp trực ban dẫn đường phải kết hợp nắm thông tin từ tình báo kỹ thuật, nắm tin tình báo xa - gần, để tăng khả năng dự đoán các đường bay vào và bay ra của địch, nhằm tính toán đúng thời cơ cất cánh cho các đôi máy bay của ta lựa chọn khu chiến phù hợp. Dù biết rằng, đối với bộ phận dẫn đường đưa được MiG của ta đánh đúng cường kích của địch là bài toán cực kỳ khó khăn, hóc búa, vì vậy các chuyên gia phải hết sức kiên nhẫn động não để có cách suy tính chính xác mới mong đạt được kết quả khả quan. Trên thực tế trận địa, nếu có cả cường kích đan xen cùng tiêm kích và các loại trinh sát, bảo vệ, gây nhiễu... thì bầu trời tựa như mớ bòng bong, nhiều bài toán hình học không gian xuất hiện cùng một lúc và xếp chồng lên nhau có tính chất điện toán, khiến cho lực lượng dẫn đường chỉ có trong đầu chất xám tự nhiên cùng khối lượng tri thức giới hạn sau vài khóa huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn trong và ngoài nước thì lại càng bội phần thêm khó. Tuy vậy, dẫu biết rằng mọi sự đã hẳn hòi như thế, song có một điều thật hiển nhiên mà ai cũng phải hiểu, đó là: dẫn đường khó một thì phi công khó mười, vì vậy bắt buộc mọi người: từ cấp chỉ huy, đến kỹ thuật viên radar cảnh giới, dẫn đường tiêu đổ, dẫn đường trên màn hiện sóng đều phải hết lòng chia sẻ trách nhiệm cùng nhau thì khả năng thắng địch mới cao lên được.

        Bộ phận Tham mưu, cùng tất cả các bộ phận phải tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh cách đánh, đồng thời theo dõi địch sát sao để kịp thời lên phương án đối phó một cách chủ động. Riêng lực lượng Tham mưu phải ngày đêm nghiền ngẫm, động não cho ra các chiến thuật, đấu pháp mới, sẵn sàng giúp phi công ta chủ động trong huấn luyện để tạo ra hiệu suất chiến đấu cao trong tình hình giặc ngày càng điên cuông đẩy mạnh chiến tranh ở cả hai miền đất nước.

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:38:59 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Số 2 nguyễn Văn Thuận và số 4 Bùi Đức Nhu bị lạc mất đội hình, tự động đuổi theo mấy con F-4 hung hăng của địch, quẩn lộn với chúng. Bọn địch tràn ngập bầu trời, kẹp hai chiếc MiG-21 của Thuận và Nhu vào giữa, tiêu diệt. Thuận và Nhu kịp nhảy dù. Như vậy là chỉ trong vòng vài phút chiến đấu chưa đâu vào đâu thì 4 chiếc MiG-21 của ta đã bị trúng tên lửa và rơi xuống. Bầu trời tồn tại trong cảm giác trống không của các phi công ta qua những giây phút quá ư khắc nghiệt và choáng váng. Một thất bại chóng vánh đến hẫng hụt, khó lường.

        Tới 13 giờ 55 phút, Biên đội thứ hai gồm: Nguyễn Ngọc Độ số 1, Đặng Ngọc Ngự số 2, Đồng Văn Đe số 3, Nguyễn Văn Cốc số 4, được lệnh cất cánh.

        Lên khỏi lớp mây dày, với độ cao đang chiếm giữ là 3.000 m, Đồng Văn Đe hô phát hiện địch, liền vòng trái gấp. Nguyễn Ngọc Độ cũng phát hiện mục tiêu, liền vứt thùng dầu phụ, vòng trái. Sau khi cơ động, kín một vòng, Độ nhìn thấy địch bắn một lúc hai quả tên lửa vế phía đội hình MiG-21. Ngay lúc ấy thì một chiếc F-4 của địch lọt vào vòng ngắm của Độ. Anh quyết định phóng tên lửa. Chợt nghe máy bay của Độ rùng mình thật mạnh rồi xoay nghiêng và mất độ cao. Không chậm trễ, Độ quyết định nhảy dù. Số 2, số 3, số 4 quẩn nhau quyết liệt với đám F-4, nhưng cả hai phía đều không chiếm được ưu thế để hạ gục đối phương một cách có thể. Cuối cùng, cả ba con MiG-21 của ta phải thoát ly trận địa vì nguy cơ cạn nhiên liệu theo mệnh lệnh từ Sở Chỉ huy.

        Lần đầu tiên trong một trận ta mất 5 chiếc MiG-21 mà không bắn rơi được chiếc nào của địch. Một tồn thất lớn, chưa bao giờ có!

        Chưa hết, họa vô đơn chí: ngày 5 và 6 tháng 1 năm 1967 - tức 3 và 4 ngày sau trận thua kỷ lục trước không quân Mỹ ngày 2 tháng 1, không quân Việt Nam còn thua thêm hai trận nữa, mất thêm 4 chiếc MiG- 21, và phi công Đồng Văn Đe - Con trai của Tướng Đồng Văn Cống - quê Bến Tre - hy sinh trong trận đánh kiên cường với một bầy máy bay địch. Ba ngày, mất 9 chiếc MiG-21. Một thất bại chưa từng - kể cả trong sự tưởng tượng bi quan, yếm thế nhất.

        Với trận thua trước, phần nào trách nhiệm được cho là thuộc về lực lượng radar cảnh giới, dẫn đường. Hai trận sau, lực lượng ấy được bố trí lại, gồm những chuyên gia giỏi nhất ở lĩnh vực này. Nguyễn Văn Chuyên phụ trách tiêu đồ tại Sở Chỉ huy. Phạm Từ Định trực màn hiện sóng. Tại Đài chỉ huy Trung đoàn có Phạm Minh Cậy, Trần Đức Dụ dẫn đường. Tất cả đều hạ quyết tâm phải thắng để phục hận trận thua nặng trước đó. Nhưng với chuyện chiến trường, nhất là chiến trường trên không, chỉ quyết tâm không thì chưa đủ. Điểu đơn giản ấy được chứng minh bằng sự thất bại liên tiếp của hai ngày sau. Trong trận mà Đổng Văn Đe hy sinh, phi công được cho là lão luyện của không quân Việt Nam ở thời điểm hiện tại: Trần Hanh - đảm trách bay ở vị trí số 1, Mai Lương bay số 2, Đồng Văn Đe bay số 3, Nguyễn Văn Cốc bay số 4. Trận đánh giằng co, diễn ra nhiêu tình huống gay cấn, phức tạp, bởi địch vẫn đông áp đảo so với hai Biên đội tham chiến của ta. Thất bại lại giống như là tất yếu, là quy luật tất nhiên không thể tránh khỏi. Điêu đó mới đáng sợ hơn cả sự chết, hay sự thất bại nhất thời. Điểu đó gián tiếp tạo ra tâm lý: lên đánh nữa là có khả năng thua nữa. Chết không sợ, chỉ sợ thua. Ai cũng nghĩ như vậy. Cuối cùng, điểu không phi công nào chờ đợi đã đến: một quyết định của Bộ Chỉ huy Quân chủng vừa hạ xuống: ngừng đưa MiG-21 xung trận! Một quyết định mà không có phi công lái MiG-21 nào muốn nó ra đời. Nhưng nó đã thành sự thật. Chấp hành.

        Buồn. Đau đớn. Và còn hơn buồn, hơn cả đau đớn nữa là sự thất bại, sự bế tắc về chiến thuật, trong lúc tình hình đang bức bách đòi hỏi sự tham chiến hiệu quả của MiG-21 trên trận địa bầu trời với Mỹ. Bọn địch đang tăng cường độ đánh phá nhằm làm náo loạn hậu phương, suy yếu về hậu cần và quân lực từ miền Bắc để chúng tiến hành chiến dịch hai gọng kìm, tiêu diệt quân Chủ lực Giải Phóng miền Nam trong mùa khô 1967 với những cuộc hành quân có quy mô hai chục nghìn, bốn chục nghìn quân thiện chiến gốm các Quân, Binh chủng, dốc toàn lực đánh vào các căn cứ địa của Trung ương Cục miền Nam, buộc Cách mạng miến Nam và Cách mạng Việt Nam phải thua vô điều kiện sức sức mạnh vô đối của Mỹ.

        Ngày 7 tháng 1 năm 1967, cuộc giảng bình được mở ra tại Trung đoàn 923 kéo dài quá trưa. Tất cả các ý kiến tham gia đều tập trung vào việc tìm ra nguyên nhân thất bại. Thứ đến là xây dựng phương án tác chiến thích hợp để đánh địch cho cả MiG-21 và MiG-17, MiG-19.

        Ngày 8 tháng 1 năm 1967, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân đã tổ chức cuộc họp quan trọng kéo dài ba ngày để rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân thất bại, và quyết tâm xây dựng phương án tác chiến mới nhằm đánh trả sự mở rộng và tăng cường chiến tranh trên cả hai miền Nam Bắc của Mỹ ngụy.

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:38:28 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

NGÀY MỞ ĐẦU CHO MỘT NĂM BI TRÁNG

        Chiến dịch Bolo của Mỹ do đại tá phi công lừng danh Robin Olds dẫn đầu với sứ mệnh phải thắng trận mở đầu năm 1967 trong khí thế hùng hổ nhất - có thể. Một chiến dịch được chuẩn bị kỹ đến từng chân tơ kẽ tóc, bài bản, thận trọng, táo bạo, bất ngờ, với một lực lượng đông gấp 60 lần đối phương. Các phi công Mỹ buộc phải nghiên cứu đến từng chi tiết, chiến dịch, cách sử dụng thiết bị tác chiến điện tử, cách sử dụng vũ khí, cách nghi binh, cải trang, trá hình... Nghi binh: kết hợp bố trí đội hình - đội hình bay, thời gian cất cánh, tốc độ, độ cao; tác chiến điện tử gây nhiễu... Đặc biệt nham hiểm và tinh vi là máy bay F-4 của địch bí mật đeo khối ECM Pod cùng thiết bị gây nhiễu QRC- 160 Jamming Pod, khiến chúng giống F-105 cường kích mang bom để đánh lừa không quân ta. Thực tế là chúng đã lừa được một cách nhanh chóng, gọn gàng, không hể gây ra một chút thắc mắc, tò mò gì đối với các phi công MiG của ta.

        Trong lúc đó, chúng cho nhiều tốp máy bay tiêm kích F-4 rình sẵn trong mây, ngay trên vùng trời sân bay, chờ các chiếc MiG của ta cất cánh, chưa kịp chiếm độ cao, tập hợp và triển khai đội hình, thì lập tức bị chúng tấn công bằng tên lửa ngay trận địa chúng phục kích.

        Tốp hai phi đội với 16 chiếc F-4 con ma do tên đại tá cáo già không chiến Robin Olds trực tiếp chỉ huy đã bay vào Hà Nội với độ cao thấp, khiến radar khu vực Hà Nội và vùng liên cận không phát hiện được. Hai phi đội của Robin Olds phục kích đầu sân bay để kiểm tỏa đối phương trước khi cường kích ném bom F-105 bay vào áp chế các mục tiêu trên mặt đất. Vì vậy, nếu MiG-21 của ta cất cánh theo phương án đánh chặn từ xa thì không thể tránh khỏi đòn bất thẩn bị vỗ mặt hoặc xuyên hông trước. Riêng tên đại tá Robin Olds lại tỏ ra hết sức kiêu căng, khinh mạn, hắn bay biểu diễn lộn vòng - tức là bay cuộn tròn vọt ngược - hay còn gọi là bay cuộn máy bay theo trục dọc, tạo ưu thế trước đối phương - cứ khoan thai bẻ vòng xếp đặt đội hình, hình thành thế quyết đoán trong tiếp cận đối phương để kịp thời phóng tên lửa tầm nhiệt khi MiG xuất hiện. “Đánh cho phi công Bắc Việt phải bàng hoàng ngơ ngác” và tâm phục, khẩu phục đối với phi công của Không lực Hoa Kỳ.

        Phần ta, hôm đó thời tiết rất xấu. Đáy mây dày 1.500m, đỉnh mây 3.000m. Sở Chỉ huy không cho đi thấp để thực hiện chiến thuật: đi thấp, kéo cao, tiếp cận nhanh vào cuối đội hình địch, tạo điều kiện cho các phi công lần lượt, hoặc đồng loạt công kích như những trận đánh trước đó. Mỗi trận đánh có một hình thái địch ta không giống nhau. Trong vai trò của mình hôm nay, Sở Chỉ huy không hề hay biết địch đã lên kế hoạch cẩn thận, lại có lối đánh mới giảo quyệt với sức mạnh phủ đầu, không đánh giá đúng những phức tạp của trận đánh - một phần do toàn bộ hệ thống radar cảnh giới đã không phát hiện đầy đủ số lượng máy bay địch tham gia chiến đấu.

        Đội hình tham gia trực chiến của địch buổi trưa này gôm 92 máy bay các loại: 56 máy bay F-4 c, 28-F105 làm nhiệm vụ chế áp tên lửa SAM-2 và 8 chiếc F-104 Starhghters. Ngoài ra còn có lực lượng phi cơ trợ chiến gần 100 chiếc EB- 66, ЕС- 121, Skyraider, trực thăng...

        Sở Chỉ huy Trung đoàn 921 của ta có Trung đoàn trưởng Trần Mạnh, Trung đoàn phó Đỗ Hữu Nghĩa. Trực ban dẫn đường có Lê Thành Chơn, Lê Thiết Hùng.

        Khi trên bản tiêu đổ Sở Chỉ huy Không quân từ Hà Nội phát hiện nhiều tốp máy bay địch bay về hướng Phú Thọ, Ban Chỉ huy thống nhất nhận định chúng có thể đánh vào Hà Nội. Chỉ huy Trung đoàn 921 xin lệnh xuất kích.

        Đúng 13 giờ 46 phút, Biên đội MiG-21 thứ nhất gôm: Vũ Ngọc Đỉnh số 1, Nguyễn Đăng Thuận số 2, Nguyễn Đăng Kính số 3, Bùi Đức Nhu số 4, được lệnh cất cánh. Trang bị của MiG-21 vẫn là hai quả tên lửa R-3S. Các chiếc MiG của ta xuyên mây qua vùng trời Phú Ninh, cách sân bay 43 km thì gặp ngay tốp F-4 của địch - từ Phú Thọ lao thẳng vào đội hình MiG- cách sân bay 55 km.

        Biên đội MiG vừa xếp đội hình so le, chuẩn bị chiến đấu. Khi Biên đội quay bám theo các chiếc F-4 phát hiện trước vừa đến được phía Tây Nội Bài thì lại bắt gặp 4 con F-4 khác xuất hiện cặp kè. Vũ Ngọc Đỉnh lập tức cắt thùng dầu phụ, tăng lực, đuổi theo. Ngay lập tức, 4 chiếc F-4 triển khai đội hình cơ động, bay đan chéo nhau một cách chủ động chứ không hề rối loạn như trước đây thường thấy. Cuộc quần đuổi quyết liệt và sát phạt, tiếng động cơ rầm rền vang động một khúc trời. Vũ Ngọc Đỉnh không tìm được lợi thế để phóng tên lửa. Cuối cùng Đỉnh quyết định vòng trái quay vế thì anh phát hiện hai con F-4 phía sau vừa phóng tên lửa về phía mình ở thế cao hơn. Đỉnh không kịp cơ động để tránh. Ngay khi ấy thì chiếc MiG-21 của Vũ Ngọc Đỉnh rùng mình thật mạnh, mất độ cao đột ngột, khiến Đỉnh không còn điếu khiển được. Đỉnh quyết định nhảy dù.

        Nguyễn Đăng Kính - số 3 - vừa phát hiện một tốp 4 chiếc F-4 khác của địch, liền tăng tốc đuổi theo một cách dũng mãnh, quyết không để cho chúng chạy thoát. 4 con F-4 liền kéo cao tăng tốc, bẻ vòng 45 độ trong thế có lợi hơn Kính và phóng liên tục hai quả tên lửa tẩm nhiệt. Con MiG-21 của Kính lại rung lên. Kính nhảy dù.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:37:20 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Dẫu vậy, đánh Mỹ là đánh với tên đế quốc đầu sỏ về kinh tế và năng lực quốc phòng, nên không thể nói “thắng” là thắng được. Ngoài ra, Mỹ còn là một đất nước của khoa học kỹ thuật, tàu sân bay, bom nguyên tử, đầu đạn hạt nhân, đất nước của 250 triệu dân, của hàng chục triệu quân dự bị và hơn 2 triệu quân thường trực tinh nhuệ gồm đủ các quân binh chủng thiện chiến. Cho nên Mỹ chỉ thua về tinh thần chiến đấu khi bắt đầu cuộc chiến, chứ thua để kết thúc chiến tranh thì... đó là một mơ ước hoàn toàn ảo tưởng. Với đế quốc nói chung, với đế quốc Mỹ nói riêng, yếu tố quyết định để giành chiến thắng trước chúng là phải xác định ngay từ đầu tinh thần dám đánh, biết đánh, kiên trì đánh với một chiến lược toàn dân, toàn diện và trường kỳ. Phải biết làm mỏi mệt ý chí của chúng, phải làm cho tinh thần của chúng bị han rỉ bằng sự hy sinh xương máu và sức chịu đựng bển bỉ, kiên cường của cả một dân tộc có chính nghĩa độc lập tự do và ý chí quyết thắng vững hơn sắt, chắc hơn đồng trước kẻ thù hùng mạnh và tàn bạo bậc nhất địa cầu này.

        Bác Hồ đã từng nhận định: giặc Mỹ thua ở đâu thì thua, nhưng chúng chỉ chịu thua thật sự khi bị đánh bại trên bẩu trời Hà Nội - Hải Phòng. Chúng ta hãy chuẩn bị đón chúng trên bầu trời Hà Nội - Hải Phòng, bởi vì chúng nhất định sẽ tới...

        Sau những mất mát, thiệt hại nghiêm trọng từ giữa năm đến cuối năm 1966, chúng bắt đầu rút kinh nghiệm, hệ thống hóa lại tính chất của cuộc không chiến bên cạnh những nghiên cứu về toàn bộ cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, để tìm cách ăn thua đủ với ta. Chúng lập tức đưa những sĩ quan dày dạn chiến trường với vài nghìn giờ bay về nước huấn luyện lại, đồng thời cho đám sĩ quan bay này luân phiên làm giảng viên tập huấn lại cho hầu hết phi công tham gia cuộc chiến tranh ở Bắc Việt Nam. Chúng chuẩn bị cho năm 1967 giành lấy thắng lợi, trước là với lực lượng Không quân Việt Nam, sau là đánh cho các lực lượng mặt đất phải cúi đầu để cho chúng muốn làm gì thì làm.

        Chương trình nặng nể, có cả chiến thuật cận chiến và cơ động nhanh vốn đã bỏ quên từ lâu trong các giáo trình huấn luyện không chiến hiện đại, nay phải khôi phục, bổ sung vào giáo trình và giáo án huấn luyện của khóa. Đám phi công già đời vế tác chiến trên không, nay phải khởi động lại với những loại máy bay đời cũ có tốc độ tương đương, đông thời áp dụng thêm khả năng tránh và chống tên lửa cùng hỏa lực phòng không mọi cỡ từ mặt đất. Thật không hề dễ dàng gì khi phải ngồi nuốt lại chương trình và cả các cách đánh đã học từ thời vỡ lòng bay đối với các phi công lão làng đầy tính kiêu căng tự phụ. Nhưng kỷ luật quân trường, yêu cầu tác chiến thực tế, không thể không học các miếng đánh cổ điển, cơ động tự do, tác chiến linh hoạt trong đội hình phi đội hàm chứa yêu cầu nghiêm khắc của một chiến thuật mà với đối phương nó sẽ là sự bất ngờ khó chống đỡ.

        Mùa Giáng sinh vừa qua. Một trời pháo hoa rực rỡ ở châu Âu và nước Mỹ. Các tàu sân bay, hạm đội Mỹ trên Thái Bình Dương nã pháo, cho máy bay ném bom xuống bờ biển, các thành phố sâu trong nội địa Việt Nam làm quà cuối năm tặng cho tổng thống Mỹ Lyndon Johnson khi tờ lịch cuối cùng của năm 1966 được gỡ xuống.

        Những cốc Whisky, Scotch ngầu bọt sau giờ giao thừa bên những nụ cười kiêu mạn của những tên giặc lái vừa được trang bị thêm bửu bối giết người.

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:36:04 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

BẢO VỆ NHÀ MÁY ĐIỆN YÊN PHỤ NHƯ LÀ MỘT KỲ TÍCH!

        Năm 1967. Ngày hôm ấy tin trinh sát báo về Sở Chỉ huy 923 tại sân bay Hòa Lạc sẽ có ít nhất 12 chiếc F-105 đi từ Lào sang, tấn công mục tiêu nóng nhất Hà Nội là Nhà máy điện Yên Phụ.

        Tại Sở Chỉ huy, Tư lệnh Binh chủng Nguyễn Văn Tiên dường như rất lo lắng, có vẻ như không tin lắm về khả năng có địch, ông nói như gắt:

        - Địch ở đâu? Có vào đâu mà đòi đánh?

        Nguyễn Văn Chuyên điềm tĩnh nhận định:

        - Lần này, nếu thực hiện phương án tốt, có thể sẽ ngăn chặn Không quân Mỹ tấn công mục tiêu.

        Tư lệnh Nguyễn Văn Tiên hầu như không hài lòng về nhận định của Chuyên, không đáp.

        Nguyễn Văn Chuyên vẫn nói:

        - Được sự đồng ý của trên, ta cho Biên đội MiG-21 cất cánh đánh từ Suối Rút trở ra và Biên đội MiG-17 từ Gia Lâm cất cánh sau bốn phút, sẽ đánh từ Hòa Bình trở vào.

        Tư lệnh miễn cưỡng hỏi Chuyên:

        - Anh định dẫn thế nào?

        - Báo cáo thủ trưởng, khi ta ra đến Mai Châu thì địch sẽ xuất hiện ở biên giới Lào Việt - Nguyễn Văn Chuyên khẳng định.

        Tư lệnh lặng thinh theo dõi. Đúng lúc chì đó trên bản đồ đến Mai Châu, ông nói như hét:

        - Anh cho vòng trái đi!

        Chuyên liếc nhìn Tư lệnh, chắc có lẽ ông ấy lo sợ nếu ra xa sẽ bị bọn tiêm kích tấn công?

        Lúc đó chưa có địch nên Chuyên buộc lòng phải ra hiệu cho phi công vòng trái, hướng bay 90 độ. Phi công vừa bẻ cần lái, thì địch ùn ùn kéo vào ba tốp liền, tình thê thật nguy hiểm, trong khi ấy nguyên tắc khi vòng là bắt buộc phải vòng 360 độ, thế là đương nhiên phi công mất hẳn đi một phút, lỡ một cơ hội tấn công.

        Tình thế bắt buộc Nguyễn Văn Chuyên phải hướng cho phi công ta có muốn rút gì cũng phải vòng đến 350 độ, rồi đối đầu với tốp máy bay Mỹ, không thể bám đít được.

        Đúng như dự tính, chiếc máy bay MiG-21 của phi công ta đốì đầu với chiếc F-4, hai bên quần nhau một lúc mà không phân thắng bại, tuy nhiên MiG-21 đã làm được một việc quan trọng là cản F-4 không cho chúng yểm hộ F-105, còn F-105 không thấy F-4 yểm trợ trong lúc bị MiG-17 ra sau săn đuổi ráo riết thì vô cùng hoang mang. Trong lúc đang lúng túng, thì một chiếc bị dính đạn pháo của MiG-17 lảo đảo rơi ngay tại chỗ, khiến cho cả tốp hoảng hốt trút bom quay đầu bỏ chạy.

        Như thế là kế hoạch mang bom tấn công Nhà máy điện Yên Phụ của bọn Mỹ đã chấm dứt sớm ngay từ Suối Rút, do dẫn đường của ta đã dẫn cực kỳ chính xác.

        Tối hôm ấy Nguyễn Văn Chuyên ngồi chỉnh lý những gì đã xảy ra. Anh hơi buồn vì người ta nói rằng, dẫn gì mà bắn được một cái tận ngoài rừng núi... phải dẫn làm sao đế hạ ít nhất vài chiếc mới đáng nói...

        Thấy anh không vui, Chính ủy Binh chủng Phan Hy vỗ vai anh:

        - Chuyên! Cậu bạo phổi thật đấy, hôm nay mà cậu sai thì chết với ông Tiên!

        Hình như chỉ đợi câu nói ấy của Chính ủy đê Nguyễn Văn Chuyên bật khóc mà không phải kiềm chế. Trong thâm tâm anh nghĩ rằng, đường đường một người Chính ủy Binh chủng mà ông Phan Hy bỏ qua hết cả lễ nghi quân đội, giữa lãnh đạo với cấp dưới để nói với anh những lời chân thành như thế, có lẽ ông ấy rất hiểu anh.

        Tuy anh chỉ là Trợ lý dẫn đường, nhưng nếu không dám làm, không dám cả quyết thì liệu có cản được ba tốp máy bay cường kích và tiêm kích kia không? Thà bắn được ít nhưng bảo vệ được mục tiêu còn hơn là bắn được 10 chiếc, mà mục tiêu bị bắn phá.

        Nếu so sánh trận đánh này của Không quân Việt Nam với Không quân những nước mạnh có thế nói đó là một kỳ tích, vì họ có nhiều máy bay sẵn sàng bảo vệ mục tiêu ngay tại chỗ, còn việc có bắn rơi chiếc nào hay không thì coi như thêm thắt vào kết quả trận đánh mà thôi.

        Còn Không quân ta, vừa ít về máy bay, vừa yếu về lực lượng, thế mà đuổi đánh ba tốp hùng mạnh của chúng phải rút chạy, võ mộng tấn công mục tiêu đó là một thành tích rất đáng kể, thử nghĩ xem nếu bằng ấy tốp máy Mỹ vào đến tận nơi và thả bao nhiêu tấn bom vào Nhà máy điện thì khu vực đó sẽ thế nào? Nếu có bắn rơi ngay tại mục tiêu ba, bốn chiếc thì thiệt hại của ta vẫn là vô cùng lớn.

        Nhưng thời điểm ấy, người ta không chú trọng đến mặt tích cực của ngăn chặn, mà thường chỉ tính xem đã bắn được mấy chiếc? Còn tôi lại cho rằng trận đánh bảo vệ mục tiêu Nhà máy điện Yên Phụ quả là một kỳ tích của ngành dẫn đường cũng như của Nguyễn Văn Chuyên!

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:35:29 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

*

        Mười ngày sau. Lê Hải ở đâu chạy về thông báo:

        - Anh Chao ơi! Bác Sao gọi đến lấy rượu đấy!

        - Thế à, vậy là cuối tuần có rượu uống rồi. Nhưng bọn mày phải giữ kín đấy, các ông ấy mà biết chúng mày uống rượu là lôi thôi. Nhất là mấy ông bác sĩ quân y ấy. Các ông ấy không muốn cánh lái uống rượu đâu.

        - Anh yên tâm đi, mang về có khi các ông ấy cũng thích ấy chứ. Anh phải chuẩn bị cái can to vào.

        Mấy anh em chúng tôi đi tìm can rồi vào làng. Quả là công sức bỏ ra cho vụ cấy lúa này kể ra cũng không phải ít. Lo từ đầu mạ lên đến khi gặt lúa rồi xát thành gạo rồi đem nhờ người ta nấu thành rượu. Tất nhiên chẳng phải khó khăn to tát gì, nhưng chuyện phi công cấy lúa mà lại cấy lúa nếp người ta bàn ra tán vào khắp nơi. Ông Sao nấu hết chỗ 160 ki-lô-gam mà được nhiều rượu quá. Tôi bảo ông:

        - Nhò có Bác mà chúng tôi có rượu uống. Bác để lại vài lít mà dùng trong dịp Tết sắp tới. Coi như chúng tôi trả công cho bác. Chỗ còn lại, chúng tôi mang về chia cho anh em lái uống dần.

        - Các chú đã cho cám nuôi lợn, bã rượu tôi cũng để nuôi lợn, nay các chú lại cho cả rượu nữa, quí hóa quá, nhà tôi biết lấy gì cảm ơn bây giờ? - Bác Sao mừng rỡ nói.

        - Ấy, bác đừng nói thế, anh Chao với chúng cháu phải cảm ơn bác mới đúng chứ - Mấy cậu lái thấy thế phà trò - Thôi, chúng cháu về đây, sắp tối rồi. Ui, rượu thơm quá.

        Chúng tôi khệ nệ khiêng mấy can rượu nếp về đơn vị không quên chào bác Sao và dặn bác mùa lúa sau nếu còn ở Kép sẽ lại nhờ bác nữa.

        Trồi về chiều đã lãng đãng sương mò. Tôi bảo :

        - Mấy đứa kiếm chai chia rượu, rồi mang biếu mấy thủ trưởng, còn lại các cậu mỗi đứa một bi - đông mang về cất vào tủ mà uống dần!

        Mang rượu tới đúng bữa ăn, các thủ trưởng đơn vị cười, bảo mở luôn ra uống thử xem sao. Anh Phiếu nâng chén rượu đưa lên ngang mũi, rồi hạ xuống bảo:

        - Ngon! Ngon lắm, thế có được nhiều không?

        - Cũng được hơn chục lít thôi anh ạ - Tôi đáp.

        - Ngon thê này, lẽ ra phải cho nhiều nhiều vào chứ - Anh Phiếu cười.

         Câu chuyện xoay quanh món “rượu phi công” xem chừng rôm rả mãi không dứt. Cho đến mấy hôm sau thì cả Trung đoàn đã biết tôi nấu rượu, “mà lại nấu rượu nếp mới ghê”.

       
*

        Bẵng đi một tuần, bỗng dưng Chính ủy Phiếu cho gọi tôi lên. Có người bảo:

        - Chuyến này tay Chao chết rồi! Rồi sẽ bị các thủ trưởng xạc cho một trận tơi bời cho mà xem.

        Tôi nghe xong cười khẩy:

        - Tôi trồng được lúa, thì tôi làm gì là việc của tôi, nấu rượu thì cũng bình thường có sao mà...

        Từ nhà lên đến chỗ Chính ủy, tôi cứ nghĩ chắc là Chính ủy gọi lên để chuẩn bị tinh thần thực hiện kế hoạch đánh Mỹ mới, chứ không phải vì tôi nấu rượu.

        Tôi lò dò vừa vào đến cửa thì anh Phiếu nói luôn, vẻ bực bội:

        - Cậu hay thật, ai cho phép cậu nấu rượu?

        - Sao tự nhiên anh lại hỏi tôi thế? - Tôi ngạc nhiên - Tôi nấu rượu, các anh cũng uống còn khen ngon, giờ lại bảo tôi phải có phép mới được nấu à? Thôi tôi về đây...

        Tôi nói xong về luôn chẳng đê cho Chính ủy Phiếu nói thêm câu nào, vừa đi vừa nghĩ về lời nói của thằng bạn trước khi lên đây: Cái thằng... thế mà đoán như thần.

        Một tuần liền tôi bị Chính ủy đơn vị gọi lên ba lần. Đến lần thứ ba thì tôi bực lắm, nhưng vẫn cố kiềm chế. Thoáng thấy bóng tôi Chính ủy nói vọng ra:

        - Vào đi!

        Tôi vào phòng Chính ủy:

        -Gì ạ?

        Chính ủy nghiêm giọng nói:

        - Cậu ngồi xuống! Yêu cầu cậu nói rõ việc... nấu rượu!

        Tôi quay ngoắt ra, không nói không rằng.

        - Đồng chí Chao đứng lại! - Chính ủy Phiếu nghiêm giọng gọi giật tôi lại.

        - Việc nấu rượu, đồng chí hỏi nhiều lần rồi, chuyện ấy tôi làm đúng chẳng có gì sai. Tôi tưởng là địch đốt phá sân bay, giết hại dân mới phải điều tra kỹ càng thế, chứ tôi nấu rượu cho anh em phi công uống những ngày không phải trực, có phải tôi để anh em say li bì ngày này sang ngày khác đâu mà cứ nói mãi, khoét mãi thế? - Tôi nóng mặt, to tiếng - Tôi nói thật, nếu lần sau gọi tôi lên vì việc này, tôi không lên nữa đâu!

        Tôi vùng vằng bỏ đi, Chính ủy Phiếu tay cầm tờ tài liệu gì đó, còn mắt thì tròn lên nhìn theo tôi ra khỏi phòng rồi lắc đầu.

*

        Tôi bực vì nhiều lý do, hình như người ta nói đúng: “Các ông chính trị ở mặt đất làm sao nói chuyện trên trời”. Mới hôm qua Phó tham mưu trưởng Trung đoàn Chu Tất Bộ yêu cầu ngày nghỉ, phi công phải gác lán (vì sân bay mới, sợ an ninh không đảm bảo) mỗi người một giờ đồng hồ, tôi đã không chịu nổi bảo:

        - Mai còn đi đánh nhau gác gác cái gì? Các ông muôn cắt ai gác thì gác, tôi là Đại đội trưởng, tôi nhất định không để lái gác đêm. Ngày nghỉ phải cho anh em nghỉ chứ. Một tiếng đồng hồ cũng làm cho người ta thấp thỏm cả đêm, còn sức đâu mà bay, mà chiến đấu?

        Cuối cùng Chu Tất Bộ thấy tôi phản đối kịch liệt quá, nên nhượng bộ tôi, cử chính trị viên thay nhau gác. Anh em phi công được nghĩ ngơi để dành sức sẵn sàng chiến đấu.

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:35:03 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

PHI CÔNG MIG CŨNG CẤY LÚA, NẤU RƯỢU NHƯ NÔNG DÂN

        Tôi đi đến đâu cũng nghe người ta rỉ tai: “Anh Chao có biết khắp Trung đoàn và dân quanh vùng Kép nói gì không”?

        - Không? Họ nói gì? - Tôi tò mò hỏi lại.

        - Là chuyện cấy lúa đó.

        - Họ nói sao?

        - Ôi giòi, ông này chán quá, bây giờ ai chả thuộc câu “Mạ ông Chao, ao ông Bộ, gỗ ông Xưởng, giường ông Châu". (Câu này là tôi mới có tên, trước kia nói "ao ông Bộ" là do Chu Tất Bộ tổ chức cho Cơ quan Tham mưu đào ao thả cá, nhưng không để ý chỗ đó là đất đá ong, nên cứ bơm nước đầy qua một đêm là cạn sạch, cá giống không có nước, chết phơi bụng trắng đáy ao. “Gỗ ông Xưởng” là vì Đào Công Xưởng đi mua gỗ về đóng giường cho Chiêu đãi sở mua phải gỗ mục nên không dùng được, còn "giường ông Châu" là ông Châu hành chính thực hiện nhiệm vụ đóng giường cho Chiêu đãi sở làm từ "gỗ của ông Xưởng" nên giường vừa đóng xong đã sập...). Ồng gieo mạ ở chỗ thấp như thế, chỉ một trận mưa là ngập hết ngay.

        - Kệ, người ta nói là một chuyện, tôi khác. Tôi đã hỏi kinh nghiệm dân rồi - Tôi ra vẻ cứng cỏi, kỳ thực trong lòng hơi lo lo. Có thế sẽ bị mưa ngập nhưng chỉ một lúc sau là rút ngay, vì địa hình vùng này như thế, nước sẽ rút xuống suối ngay.

        Còn nhớ, về Kép được ít lâu, Trung đoàn vận động anh em phi công ngoài những lúc bay, nên tranh thủ tăng gia sản xuất. Mỗi một phi công ít nhất cũng phải có 20 ki-lô-gam lương thực nộp cho đơn vị một năm. Tôi là Đại đội trưởng Đại đội 2 nên phải có trách nhiệm cùng với anh em phi công thực hiện kế hoạch.

        Chúng tôi tận dụng giếng có sẵn để thả cá, còn trên khu đồi thả vài chục con gà, rồi trồng rau cần. Những tay lái chao liệng trên trời khi xung trận, giờ lại sắn quần xuống ruộng chẳng khác gì nông dân chính hiệu, mỗi lúc không phải xuất kích. Chẳng phải trước khi là phi công chúng tôi -  những Chao, Địch, Cống... đều là nông dân thực đó sao!

        Tôi nghĩ mãi, cuối cùng mới xin hợp tác xã hai sào ruộng và quyết định cấy lúa nếp, cày bừa thì đã mượn được trâu của dân làng. Nghe tin tôi định cấy lúa, ai cũng nói: “Cán bộ lái máy bay MiG thì biết gì về nông nghiệp, mà cũng dám làm lúa?”.

        Còn tôi thì gan vì nghĩ là mình đã có kinh nghiệm từ ngày còn ở nhà với mẹ nên tôi cứ làm. Nhưng giờ nghe người ta đọc vè, tôi đâm ra lo quá, chả lẽ bao nhiêu công sức của phi công mất hết cả?

        Mà nghe nói, hình như mấy ông biết tôi gieo mạ trên đám ruộng này còn rủa tôi ngu nữa chứ. Bụng tôi như lửa đốt, chỉ mong cho trời tạnh mưa rồi ra xem đám ruộng mạ thế nào.

        Tôi cứ đi ra, đi vào mãi cho tối 3 giờ chiều mưa mới ngớt hẳn, tôi kéo mấy cậu phi công không phải trực chiến chạy như bay ra đám ruộng. Cứ tưởng ra là thấy nước ngập hết ngọn mạ, nhưng may quá trước mắt tôi nước trong đám ruộng đã rút gần hết. Chúng tôi tìm đủ mọi cách khơi cho nước chảy hết cho đến khi thấy vài đám mạ đã dần dần lộ ngồng mới thở phào nhẹ nhõm. Tôi cười sung sướng, vỗ vai cậu lính mới:

        - Ông trời thương chúng ta rồi, chả lẽ tôi đã mất công đi hỏi dân, mà lại mất trắng ruộng mạ được sao?

        - Thế là hết sợ người ta giễu nhé - Anh em mỗi người một câu động viên tôi - Giờ thì ai có nói gì cũng mặc anh Chao nhỉ, chúng ta cứ cấy, rồi họ sẽ phải tròn mắt ngạc nhiên vì phi công cũng cấy được lúa cho mà xem.

        Từ hôm ấy, cứ hết giờ trực chiến là chúng tôi lại đáo qua đám ruộng lúa nếp. Cây lúa cứ lớn lên từng ngày cùng với niềm vui của chúng tôi.

*

        Gần đến Tết năm 1968, chúng tôi phấn khởi mượn xe cải tiến của dân đi gặt lúa. Tướng chỉ được vài chục ký, hóa ra gom tất lại chúng tôi cũng được bốn bao tải, chừng 160 ki- lô-gam lúa nếp.

        Lúc ấy có từng đó gạo nếp phải nói là quí lắm. Người thì bảo cứ xay ra rồi biếu mỗi người vài cân ăn Tết. Người thì bảo để dành đúng đến Tết gói bánh chưng...

        Còn tôi, vẫn cái tính ngang tàng, với lại vẫn còn cay cú những lời chế giễu dạo trước, nên tôi quyết định đem xay xát hết tất cả bằng ấy thóc để... nấu rượu, mặc kệ lời mấy người hỏi sao không nộp cho đơn vị ít nào?

        - “Gạo này mà nấu rượu thì ngon phải biết chứ chẳng bỡn” - Tôi hồ hởi nói.

        - Còn chỗ cám này anh tính sao? - Thằng Địch hỏi tôi.

         - Còn sao nữa, cho ông già có xe cải tiến cho mình mượn hết. Đế’ ông ấy nấu cám cho lợn - Tôi dứt khoát - Các cậu khiêng lên xe đi.

        - Đi đâu anh?

        - Đi vào trong xóm nhờ người ta nấu rượu chứ đi đâu nữa. Tôi đã hỏi rồi. Cứ kéo vào xóm đi theo tôi.

        Chúng tôi hì hục kéo mấy bao gạo vào làng đến trước cổng nhà ông Sao, tôi gọi:

        - Bác Sao ơi! Bác Sao có nhà không nhỉ?

        - Tôi đây, các chú đem gạo đến đây à? - ông Sao quần sắn móng lợn tất tả chạy ra.

        - Vâng, như đã nói chuyện với bác hôm trước đấy, nhờ bác nấu cho chúng tôi hết bằng này gạo. Bác nấu xong tôi sẽ biếu bác một ít uống Tết.

        - Các chú yên tâm, ai chứ chú Chao thì tôi ngại gì nữa. Khi nào xong tôi sẽ báo các chú đến nhé.

        Thế là việc nhờ nấu rượu coi như đã xong, chỉ chờ đến ngày mang can đến mà lấy rượu.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:34:09 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Lúc này thì tôi và Hải đã tăng độ cao tới 1.500 mét và vận tốc 700 ki-lô-mét/giờ liền vòng phải bay chừng một phút nữa thì nghe mặt đất thông báo :

        - Phía trước, bên trái 10 độ 50 ki-lô-mét có địch, sáu chiếc F-4 ở độ cao 3.000 mét.

        Chúng tôi nhanh chóng tăng hết cửa dầu và lên dần độ cao 2.000 mét, vận tốc 750 ki-lô-mét/giờ. Chỉ còn cách địch khoảng chừng 25 ki-lô-mét thì Lê Hải thấy pháo ở đường 1 bắn lên và đồng thời phát hiện địch từ phía biển đi vào hướng 260 độ, chúng bay theo đội hình 2 chiếc hàng dọc kéo dài.

        Lê Hải báo cáo qua điện đàm:

        - Số Một, bên trái có địch, tiếp tục vòng trái đi!

        - Chưa thấy! - Tôi đáp. Lúc này thì máy bay của ta đã ngang địch với góc 90 độ.

        Chiếc F-4 đi sau bỗng phóng ra 2 quả tên lửa ra phía sau máy bay của Lê Hải, khói phụt trắng cả vùng trời.

        Lê Hải hô:

        - Số Một, vòng trái gấp, công kích!

        Tôi vẫn chưa nhìn thấy địch nên trả lời:

        - Tôi vẫn chưa nhìn thấy, số Hai công kích đi, tôi yểm hộ!”

        Tôi và Lê Hải cùng ném thùng dầu phụ cho máy bay bớt nặng và kéo độ cao lên 2.700 mét. Lê Hải vừa vòng trái vừa bắn một loạt đạn vào chiếc F-4 đi đầu, nhằm bắt buộc địch phải cơ động đôi phó, tạo điều kiện thuận lợi cắt bán kính tiêu diệt chúng. Chiếc F-4 đi đầu hốt hoảng vòng phải gấp, vội vàng chạy thoát thân ra hướng biển.

        Đội hình của địch bắt đầu bị phá, chiếc F-4 thứ hai vội vã hạ thấp độ cao. Lê Hải nhanh như cắt đuổi theo cắt bán kính và bắn loạt đạn thứ hai, trúng luôn chiếc F-4 này. Chiếc F-4 bùng cháy rồi rơi ngay tại chỗ.

        Mừng quá, Lê Hải kéo độ cao lên và tiếp tục vòng trái quay lại yểm hộ cho tôi. Anh bay tới vòng thứ 3 thì phát hiện thêm một chiếc F-4 đang ở độ cao 1.000 mét, Lê Hải đuổi theo bắn thêm một loạt đạn nữa nhưng cự ly xa quá, hơn nữa lại hết đạn vì băng đạn bị đứt, chỉ còn có 6 viên 23 ly nên Lê Hải phải vòng phải rút về.

        Trong khi đó, tôi vòng trái yểm hộ cho Lê Hải nhìn thấy địch thì nghĩ “Tại sao địch chỉ có 2 chiếc? Hướng Đông Nam thế nào cũng có địch”, tôi bèn vòng phải chừng một phút thì phát hiện ngay 1 chiếc F-4.

        Tôi liền ép độ nghiêng, nhưng cự ly không thu ngắn lại được, cố xả một loạt đoạn nhưng không trúng. Tôi nôn nóng hạ địch nhưng tình thế không cho phép nên tiếp tục yểm hộ cho Lê Hải.

        Đây rồi, lại phát hiện thêm một chiếc F-4 đang từ phía Đông Nam đi lên, nó cứ lòng vòng rồi lại quay đầu ra biển, chắc là nó đang tìm để yểm hộ cho đồng bọn. Lê Hải nói qua điện đàm:

        - Số Một yên tâm công kích, phía sau đã có tôi.

        Tôi như được tiếp thêm sức mạnh lao vào cắt bán kính và bắn. Loạt đạn đầu tiên trúng vào đuôi máy bay F-4, hai loạt đạn liền sau đó bồi thêm, đã làm cho thân chiếc F-4 thủng to, khiến cho chiếc máy bay này lảo đảo, tròng trành cố bay ra biển rồi cuối cùng cũng rơi xuống biển trong nháy mắt. Vừa lúc đó thì tôi phát hiện thêm một chiếc F-4 nữa, nhưng máy bay của tôi vừa vặn hết đạn. Định gọi cho Lê Hải nhưng thấy Lê Hải còn đang ở xa quá không lên kịp, tôi liền quyết định dừng đánh, gọi Lê Hải trở về căn cứ.

        Chỉ trong vòng 3 phút mà tôi và Lê Hải đã cơ động tiêu diệt được 2 chiếc F-4B, loại máy bay ném bom của Hải quân, hiện đại nhất nhì của Mỹ. Không những thế, những chiếc F-4 đều được lái bởi những phi công xuất sắc của quân đội Mỹ, hầu như phi công Mỹ đã trải qua kinh nghiệm tính bằng hàng nghìn giờ bay. Còn phi công MiG- 17 của ta - tại thời điểm đó - người nào nhiều nhất cũng chỉ được huấn luyện chừng 400 giờ. Các anh chiến đấu mà không có sự hỗ trợ của ra-đa cùng những thiết bị tối tân dẫn đường như của bọn Mỹ mà vẫn tiêu diệt được chúng. Quả là một sự phi thường.

        Trên đường trở về sân bay Sao Vàng, tôi và Lê Hải cùng dâng lên niềm vui vô bờ bến. Thế là ước nguyện đánh địch trên quê Bác của tôi nay đã thành hiện thực “Bác Hồ ơi, chúng con kính yêu Người”.

        Trận đánh trên quê hương Bác Hồ ngày 18 tháng 6 năm 1968 hôm ấy đã là một kỷ niệm không thê nào quên của hai phi công Lưu Huy Chao và Lê Hải. Chúng tôi đã lập một chiến công như một món quà mừng sinh nhật muộn dâng lên Bác Hồ kính yêu.

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:33:53 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

QUÀ SINH NHẬT MUỘN DÂNG LÊN BÁC HỒ

        Giữa năm 1968 Đế quốc Mỹ đã thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam và phá hoại miền Bắc chủ yếu bằng không quân.

        Những năm 1966 - 1967, Không quân Việt Nam đã cho bọn Mỹ biết thế nào là MiG-17, tuy không hiện đại bằng những Thần Sấm (F-105) Con Ma (F-4) nhưng MiG-17 lại làm cho bọn Mỹ sợ hết hồn, khiếp vía. Chẳng khác gì châu chấu đá voi, nhưng châu chấu nhỏ bé mà khôn lanh đã đánh bại voi to lớn.

        Không quân Mỹ đã bị hao tổn lớn về máy bay và người lái, buộc chúng phải tiến hành “ném bom hạn chế” để đánh tập trung, đánh lẻ, đánh liên tục và ác liệt trong phạm vi Khu 4, hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam. Và đặc biệt, chúng muốn gây căng thẳng trong nhân dân, hòng làm cho nhân dân quân Khu 4 hoang mang, lo sợ...

        Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân quyết định đưa lực lượng Không quân vào chiến đấu ở chiến trường Quân khu 4 cùng với các Binh chủng bạn và lực lượng vũ trang địa phương kiên quyết tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, góp phần tích cực đập tan âm mưu “ném bom hạn chế” của Không quân Mỹ.

        Lệnh trên vừa đưa xuống, Ban chỉ huy Đoàn Không quân Tiêm kích Yên Thế liền khẩn trương vạch kế hoạch tác chiến ngay. Lần này, phải giao nhiệm vụ cho những phi công dày dạn kinh nghiệm và thông thạo địa hình mới có thể lập chiến công, vì Ban chỉ huy quyết định không sử dụng hệ thống dẫn đường trên không. Chỉ có chỉ huy bổ trợ trực tiếp tại khu vực chiến đấu cho biên đội mà thôi.

        Nhiệm vụ thật khó khăn, tại thời điểm này chỉ có hai phi công Lưu Huy Chao và Lê Hải có thể đáp ứng yêu cầu này.

        Ngày 18 tháng 6 năm 1968, tôi và Lê Hải vô cùng mừng rỡ vì được giao nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu và đánh địch tại vùng núi Thung Nưa - phía bắc tỉnh Nghệ An, quê hương của Bác Hồ.

        Riêng tôi thì vui mừng hơn cả, bởi năm trước có dịp được gặp Bác Hồ trong lần đến thăm Phủ Chủ tịch và được Người tặng lẵng hoa cho Trung đoàn, tôi còn nhớ y nguyên lời của Bác nói với mình lúc đó: “Chú đã bắn được bốn chiếc, thế là rất tốt, nhưng chú phải ăn nhiều nữa, đừng để gầy thế này, có sức khỏe chú sẽ bắn rơi thêm nhiều máy bay hơn...".

        Từ lúc gặp Bác cho đến nay, hầu như hôm nào tôi cũng tự nhủ sẽ cố gắng lập thành tích trên quê hương của Bác Hồ để tỏ lòng biết ơn lời căn dặn của Người. Bây giờ thì đúng là thỏa ước nguyện, chỉ chờ xem có bắn được "Con Ma" hay "Thần Sấm" nào không.

        Đúng 8 giờ 15 phút, chúng tôi chuyển trường từ sân bay Gia Lâm và chỉ một lát sau đã hạ cánh xuống sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân - Thanh Hóa). Tôi và Lê Hải hồi hộp từng giờ, chờ lệnh cất cánh

        Thế rồi, phát súng báo động cấp I đã nổ. Đồng hồ chỉ đúng 14 giờ 27 phút. Tôi cùng Lê Hải nhanh chóng ra máy  bay. Ở sân bay, các anh ở Tổ thợ máy đã hoàn thành việc kiểm tra và đang chờ sẵn hai người. Tất cả đã sẵn sàng. Chúng tôi bước lên máy may, vẫy chào mọi người.

        Bầu trời Sao Vàng không một gợn mây, xanh trong ngút ngát. Tôi dẫn đội, vòng phải hướng 180 độ, giữ độ cao 500 mét và vận tốc 650 ki-lô-mét/ giờ, còn Lê Hải thì bay bên phải, phía sau giữ cự ly giãn cách vừa phải, hai anh em cứ men theo bên phải đường 15 tới Nghĩa Đàn.

        Gần đến Đô Lương thì chúng tôi nâng lên độ cao 700 mét - 1.000 mét. Nghe chỉ huy mặt đất nói:

        - Vòng phải 360 độ!

        Tôi hỏi lại:

        - Có phải bay đến địa điểm công tác không?

        Mặt đất trả lời:

        - Phải!

        - Thế thì tôi tự bay được - Tôi đáp.

        Tôi và Hải lập tức bay thẳng đến Thanh Chương, bay vòng 360 độ chừng một phút thì dưới mặt đất hô:

        - Vòng phải 150 độ!

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM