Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Hai, 2020, 05:48:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:09:44 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Phong trào nữ dân quân đánh xe cơ giới địch đã xuất hiện ở huyện 4 (Chư Păh) với “lá cờ đầu diệt xe cơ giới Mỹ” ở Gia Lai và cả Tây Nguyên là các chị Rơmah Sao, Rahlan Mêk xã B9 (Chư Păh) đã đánh 14 trận, cùng lúc đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Đường chiến lược số 14 và đường số 19 là nơi chiến sự diễn ra quyết liệt nhất và cũng là nơi xe của địch bị chôn vùi nhiều nhất. Ngoài Trung đoàn 95, đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên cắm địa bàn nách đông nam Thị xã Pleiku có nhiệm vụ đánh cắt giao thông vận chuyển của địch, còn mạng lưới du kích chiến tranh dày đặc của bộ đội Tỉnh, Huyện, dân quân du kích các xã ven đường đến các xã vùng sâu thay phiên nhau ra đánh xe địch. Các lực lượng đã phối hợp nhịp nhàng, vận động nhiều lối đánh sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả. Ta kết hợp đánh nhỏ lẻ thường xuyên với đánh từng đoàn xe địch vận chuyển, từ 30-40 chiếc, vừa diệt xe cơ giới với diệt bộ binh đi giải tỏa, vừa đánh phá cầu cống, băm nát, cắt vận chuyển, vừa tập kích diệt các đơn vị bảo an, phá ấp mở dân các vùng Hà Lòng, AYun, Hà Ra, Phú Yên… Cán bộ công binh Trịnh Đức Trá (Đại đội 17 công binh) đã chỉ huy Trung đội trong 9 tháng đánh 15 trận giao thông, bản thân anh diệt 26 xe các loại và 51 tên địch, 15 lần đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

“Dạ dày đô thị”, bị chọc thủng, “cuống họng giao thông” bị bóp nghẹt. Mỹ - ngụy ở Gia Lai trăm bề khốn quẫn, càng sa lầy trong thế bị động lúng túng buộc phải rải quân đối phó khắp nơi.

Từ hè 1965 đến cuối năm 1968, quân và dân Gia lai cùng quân dân toàn Miền đã trải qua những năm tháng chiến đấu cực kỳ gay go, ác liệt trên địa bàn tỉnh.

Là nơi quân chiến đấu Mỹ đổ quân vào đông nhất trên chiến trường Tây Nguyên, cũng là một trong những trọng điểm “tìm diệt và bình định” của Mỹ - Ngụy, nên đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt.

Nét nổi bật là trước kẻ địch còn có ưu thế quân đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng bộ Tỉnh đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, kịp thời xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ. Cơ quan quân sự các cấp đã đề ra những biện pháp tổ chức thích hợp cả về lực lượng, cách đánh để thực hiện quyết tâm đó.

Tư tưởng chỉ đạo đúng đắn ấy xuất phát từ sự nhận định, đánh giá đúng địch; lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân được giáo dục và tổ chức, đã dựa chắc vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng, củng cố trong quá trình đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Ta đã đánh giá đúng khả năng các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân trong tỉnh trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ; nhận rõ những nhân tố góp phần thắng lợi của địa bàn chiến lược, nhất là khi Mặt trận Tây Nguyên có thế đứng chân vững chắc trên phía tây tỉnh.

Từ đầu, khi quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào Gia Lai, quân và dân trong tỉnh chưa hiểu thật cụ thể về lực lượng và cách đánh của quân chiến đấu Mỹ. nhưng do quán triệt nhiều lần tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, tin tưởng mãnh liệt vào sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, với ý chí sắt đá giải phóng Miền nam, bảo vệ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, với tinh thần cách mạng “cứ đánh đi, thực tiễn sẽ giúp ta tìm ra các đánh”.

Trên cơ sở đó mà Đảng bộ đã chỉ đạo thành công tổ chức “vành đai diệt Mỹ”; đã huy động nhiều lực lượng phối hợp chặt chẽ trong một thế trận chung, đã nhân lên nhiều lần sức mạnh tại chỗ, nhiều đơn vị, nhiều bộ phận tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn, liên tục tiến công quân Mỹ giam chân chúng trong sào huyệt luôn nơm nớp lo sợ, hãm chúng trong thế luôn luôn bị động đối phó. Vành đai diệt Mỹ là biểu hiện cao của tư tưởng tiến công và là nét sáng tạo của thế trận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới.

Vành đai diệt Mỹ ở Gia Lai đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt theo địa hình cụ thể. Vùng căn cứ rừng núi hiểm trở quanh căn cứ Sư đoàn 1 không vận chủ yếu là hoạt động vũ trang đánh diệt địch. Nhưng ở vùng đất bằng, đồi trọc trống trải quanh căn cứ Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở La Sơn, ở vùng Kơty Prông của Lữ 3 Sư đoàn 25 thì vành đai hoạt động bằng hai chân, ba mũi; tấn công quân sự, đấu tranh chính trị, tiến công binh vận; lực lượng dân quân, nhân dân sống bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp; vừa đánh địch linh hoạt, bảo vệ được dân làng an tâm sản xuất.

Quân chiến đấu Mỹ vào Gia Lai, các lực lượng vũ trang ta đã linh hoạt vận dụng các phương thức tác chiến chiến thuật, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt. Đã tăng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt được nhiều địch, phá hủy được nhiều phương tiện chiến tranh của chúng; vẫn duy trì nhiều thế đấu tranh chính trị của quần chúng; vẫn đẩy mạnh công tác tiến công binh, địch vận cả quân Mỹ và quân ngụy. Những loại hình chiến đấu trên đã đi vào lòng dân, phù hợp với trình độ, khả năng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đưa phong trào chiến tranh nhân dân của tỉnh lên mức cao, toàn diện.

Cùng với việc vận dụng sáng tạo các phương thức tác chiến, Đảng bộ đã chỉ đạo sát sao khẩu hiệu “ba bám” cho các cấp, các ngành, cho lực lượng vũ trang, có ý nghĩa hướng dẫn hành động cách mạng dũng cảm ngoan cường, tạo sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất đánh thắng giặc Mỹ. Những làng chiến đấu “Hang đá Bok Krôh” sừng sững đứng giữa vùng tam giác lửa đạn của Kon Gang (bắc Mang Yan), hang đá Đak Brết, chân núi Kông Chiêng xã PơYâu (nam Mang Yang); Vùng đất bằng như xã Gào (Pleiku), làng O sơ (xã B7) và xã B5 (ChưPăh) sát nách căn cứ địch vẫn trụ bám kiên cường.

Địa bàn thị xã Pleiku, ngoài cơ sở mật vẫn duy trì, phát triển, ta đã chuyển một số cán bộ vào hoạt động hợp pháp trong nội thị. Tại vùng ven thị còn tổ chức hầm bí mật, nhơ đó mà tuy địch đánh phá phong trào quyết liệt, ta vẫn giữ được thế liên tục hoạt động.

Ba năm giáp mặt chiến đấu với quân Mỹ trong chiến tranh cục bộ, lực lượng vũ trang tỉnh đã trưởng thành một bước lớn, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đoàn kết chặt chẽ với bộ đội chủ lực Tây Nguyên giành nhiều thắng lợi.

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:09:20 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Trong khí thế sục sôi cách mạng của toàn Miền Nam, đồng bào và các lực lượng vũ trang Gia Lai đã đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, thừa thắng xốc tới, liên tiếp tiến công và phản công địch. Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào sân bay Cù Hanh đêm 13 và 14 tháng 2 – tiểu đoàn bộ binh 15 của tỉnh đột nhập vào ấp chiến lược Glar, đánh thiệt hại đại đội bảo an từ quận Lệ Trung vào giải tỏa. Cán bộ, chiến sỹ trụ bám ban ngày trong ấp diệt từng toán địch mặc cho pháo lớn từ Lệ Trung bắn vào chi viện. Đồng chí Siu Tem chính trị viên đại đội hỏa lực của tiểu đoàn đã dùng lựu đạn RKG đốt cháy một xe tăng M48 của địch tại làng Breng Dôr, buộc chúng phải rút lui.

Bị ta đánh trúng vào sào huyệt, giặc Mỹ và tay sai lồng lộn điên cuồng, liên tiếp mở các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá cơ sở cách mạng trong thị xã và vùng ven, cho xe ủi đất san bằng các làng xung quanh Thị để lập vành đai trắng. Chúng thường xuyên giới nghiêm trong thị xã, quận lỵ, truy lùng bắt bớ cơ sở cách mạng hòng triệt phá, truy tróc các chỗ dựa của lực lượng cách mạng, đẩy ta ra khỏi địa bàn thị xã.

Chúng tổ chức các cuộc hành quân, tung biệt kích, thám báo lùng sục quanh ven Thị xã, căn cứ quân sự, máy bay trinh sát rà lượn; máy bay trực thăng “quạt” soi tìm dấu vết, nơi trú quân, đường mòn; thả những “cây trinh sát nhiệt đới” để phát hiện các cuộc hành quân, hội họp của bộ đội ta. Trên các trục giao thông quan trọng địch dùng bom đạn, hóa chất độc phát quanh hai bên đường, gài mìn clây-mo nơi chúng nghi là hành lang đi lại của các đội công tác, lập thêm các chốt, tăng cường tuần tra lót phục các hướng xâm nhập vào thị xã v.v…

Cuộc đọ sức của ta và địch trên mặt trận này đã diễn ra ngày càng gay go quyết liệt. Bộ đội ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, thử thách để đánh thắng địch. Cứ sau mỗi lần các mục tiêu bị tấn công, giặc Mỹ lại tăng thêm phòng thủ, thay đổi cách bố trí; thêm nhiều lớp rào kẽm gai, chòi canh dày đặc, đèn pha, mìn sáng càng nhiều hơn.

Vì vậy, việc đưa các mũi đặc công của ta lọt vào nổ súng đúng thời gian theo kế hoạch là một khó khăn lớn. Nhiều lần đơn vị đặc công tiểu đoàn 408 hành quân tiếp cận đến khu vực “bãi lầy” vùng Kon Gang – làng Dập thì gặp địch phục kích; trận chiến đấu phải dừng lại hôm sau chuyển sang phương án, mục tiêu khác. Đồng chí Tấn Tiểu đoàn phó tiểu đoàn đặc công 450, chưa vượt hết các lớp chướng ngại vật vào mục tiêu thì trời sắp sáng, cả tổ đặc công phải vùi mình sát lùm cỏ cả ngày gữa hai lớp rào kẽm gai của căn cứ sây bay Tân Tạo chờ đêm sau tiếp cận chiến đấu. Có tổ 3 chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 450 sau khi nổ súng đánh địch, rút ra được khỏi các lớp rào kẽm gai thì trời sáng phải chui vào hang đá trên núi Hòn Cong. Địch phát hiện đánh mìn sập hang đá. Tổ 3 đồng chí hy sinh, vĩnh viễn nằm tại Hòn Cong như tượng đài bất diệt.

Khó khăn, thử thách ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ ta nêu cao quyết tâm đánh địch, và nhất định tìm ra cách đánh, xây dựng lòng tin cho đơn vị. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân các đơn vị mũi nhọn của ta kiên trì bám địch, phát hiện được những sơ hở của chúng và tìm được cách đánh có hiệu quả.

Trận tập kích căn cứ hậu cần của Sư đoán 4 Mỹ ở Kơty Prông rạng sáng 23 tháng 8 của Tiểu đoàn 408 đặc công – ngọn cờ đầu “Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ” đã tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh và kỹ thuật điêu luyện đánh hậu cứ địch. Đơn vị phải hành quân hàng chục ki-lô-mét dưới trời mưa tầm tã, vượt qua nhiều đồn bót, giấu mình suốt ngày trời cạnh căn cứ địch với độc chiếc quần lót, gói thuốc nổ trong tay. Trước giờ nổ súng có 5 đồng chí bị thương vong vì đạn pháo của địch, song bộ đội vẫn giữ quyết tâm chiến đấu. Chỉ trong vòng 25 phút, đơn vị đã phá hủy 133 xe quân sự, diệt 72 tên Mỹ, phá sập 11 nhà, nhiều lô cốt.

Đồng bào khu 4 (Chư păh) đã góp phần làm nên chiến công này. Sau trận đánh đồng bào đã đón sẵn trên đường khiêng, cõng thương binh về căn cứ an toàn. Đồng bào sướt ngô non nấu cháo nuôi bộ đội (do giáp hạt thiếu gạo).

Trên mặt trận giao thông lại diễn ra sôi động và liên tục sau tổng tiến công và nổi dậy. Hễ đâu có xe địch chạy là ở đấy có trận địa tiêu diệt xe. Dân quân du kích xã, thôn diệt xe tăng địch đi càn quét ngay bên rìa làng, ven rẫy. Lấy bom bi, đạn lép của địch làm mìn diệt xe địch đã thành phong trào rộng rãi, lan khắp tỉnh. Anh Siu Hyơn “người kỹ sư không có văn bằng của chiến tranh nhân dân vô địch”, người xã đội phó xã E14 (khu 5) đã tự tạo gần 100 quả mìn các loại liên tục hướng dẫn cho du kính đánh xe địch trên đường 14.

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:08:27 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Ngày 4 tháng 2 – 1968, Hồ Chủ tịch thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, gửi điện khen: “Quân và dân ta ở Miền Nam đánh rất giỏi, rất đều, rất nhịp nhàng, đánh khắp nơi và nơi nào cũng thắng to…”

Bác dặn: “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan, quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng, càng dẫy dụa điên cuồng, quân và dân ta càng phải tăng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh liên tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa…”

Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy động loạt này, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4 khẳng định: “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.”

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 đã thực sự làm cho quân Mỹ khiếp sợ. Viên tướng của ban tham mưu của Oét-Mô-len hồi bấy giờ phải thốt lên “Oa-sinh-tơn phải kinh hoàng”, Phó tổng thống Mỹ Hăm-Phrây rầu rĩ nói: “Tết đã thực sự đẩy lùi chúng ta”(1). Ngáy 31 tháng 3 năm 1968, Jonhsơn phải ra tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam và chịu đàm phán với ta tại Pari. “Nước Mỹ hùng mạnh về quân sự trong lịch sử, lần này đã trở thành kẻ thua trận về nhiều mặt…”(2)

Kết quả thắng lợi thật to lớn, nhưng sự hy sinh tổn thất của ta cũng không nhỏ. Hơn 200 cán bộ và chiến sỹ hy sinh. Hàng ngàn quần chúng bị chết bị thương. Hàng mấy trăm cán bộ, chiến sỹ và đồng bào bị bắt, tù đày, bị tra tấn. Song quân và dân ta đã làm cho kẻ thù hết sức khiếp sợ và thán phục.

Tuy ta có tổn thất, trả giá đắt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy; nhưng không có sự hy sinh cao cả đúng mức, thì làm sao có thắng lợi to lớn vẻ vang như chiến công hiển hách Tết Mậu Thân! Những dòng máu anh hùng của các liệt sỹ, của chiến sĩ, đồng bào đổ ra trong Tết Mậu Thân có ý nghĩa sâu sắc, có giá trị tinh thần vô giá, xứng đáng với tầm vóc thắng lợi, xứng đáng với sự nhớ ơn, ngưỡng mộ muôn đời của thế hệ sau.

Tuy nhiên, ta chưa thực sự giành được thắng lợi như quyết tâm đã đề ra.

Trước hết, ta chưa đánh giá đúng tương quan địch, ta trên chiến trường cụ thể, chưa đánh giá đúng khả năng, phản ứng của địch để có kế hoạch cụ thể ngăn chặn, kiềm chế địch nhất là đánh phá liên tục các sân bay, trận địa pháo của địch để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Do đó, việc chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị chiến trường còn đơn giản, công tác nắm địch, nắm các mục tiêu địch chưa cụ thể, nên công tác chuẩn bị cho tiến công về quân sự còn nhiều thiếu sót đáng lẽ không đáng có.

Việc sử dụng lực lượng theo kế hoạch lúc đầu có qui mô lớn, nhưng khi nổ súng thì không đồng loạt, một số đơn vị lớn chưa vào thị xã, hoặc đến chậm. Việc chiến đấu trong nội thị lực lượng quá ít, mỏng, cơ sở vật chất, lương thực, đạn dược thiếu, thông tin liên lạc không có (cả hữu tuyến và vô tuyến) nên sức chiến đấu của bộ binh, đặc công giảm sút nhanh, không trụ bám dài ngày được. Do đó mà đòn quân sự chưa đủ sức hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Trong công tác tư tưởng thường nhấn mạnh một chiều đến thuận lợi, nên khi vấp váp khó khăn, chưa đạt yêu cầu đề ra thì nảy sinh những biểu hiện dao động, băn khoăn, lo lắng, thậm chí có người cho là thắng lợi ít mà tổn thất nhiều, tỏ ra thiếu tin, bi quan.

Được Hội nghị Tỉnh ủy khẳng định, qua hội nghị Quân chính toàn tỉnh 9-1968, Ban cán sự và Ban Chỉ huy đã phát động tư tưởng trong cán bộ, phát huy dân chủ thảo luận, phân rõ đúng sai. Hội nghị được tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất nhận thức: “Tổng tiến công và nổi dậy là một giai đoạn, là một quá trình tiến công phấn đấu rất ác liệt và phức tạp, bằng cả tấn công quân sự, tấn công chính trị và tấn công binh vận, bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và có cả phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và tiến công bằng ngoại giao…”. Từ phân tích trên mà dần dần thử nghiệm, thấm sâu, an tâm, ổn định tự giải đáp được những vướng mắc, xây dựng lòng tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của Bác Hồ, và chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng.

Nghe theo lời dạy của Bác Hồ trong điện khen quân dân ta ở Miền Nam Việt Nam và điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Mặt trận Tây Nguyên: “hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, liên tục tiến công và phản công tiêu diệt nhiều địch (cả Mỹ, ngụy và bọn biệt kích) đập tan mọi âm mưu xảo quyệt của chúng, làm cho chúng tê liệt, đánh cho chúng không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành chính quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ…”(3)


(1) Cuộc chiến tranh 30 năm – Hãng thông tin Mỹ AP
(2) Roi-tơ ngày 2-2-1968
(3) Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi Mặt trận Tây Nguyên 4-2-1968

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:06:58 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
*   *
*

Nhìn chung trên địa bàn Gia Lai, trọng điểm là Thị xã Pleiku, đợt tấn công và nổi dậy liên tục từ 31-1-1968 đến 6-2-1968, quân và dân trong tỉnh đã thực hiện đồng loạt tiến công, ngay từ đầu đã đánh trúng tất cả các mục tiêu chủ yếu một cách bất ngờ, khiến quân địch trở thay không kịp, đối phó yếu ớt.

Bộ đội và cán bộ, dân quân du kích có bước chuyển biến nhảy vọt về chất lượng, chẳng những tiến công mạnh mẽ vào các căn cứ địch mà còn trụ bám kiên cường liên tục đánh địch phản kích trong điều kiện bom đạn ác liệt một thời gian dài. Tinh thần chiến đấu của lực lượng vũ trang và nhân dân nổi dậy rất cao. Nhiều phân đội trụ bám chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng. Nhiều đoàn quần chúng giương cao cờ cách mạng vượt qua bom đạn xáp vào đấu tranh với địch. Những tấm gương hy sinh chiến đấu kiên cường dũng cảm bám trụ đánh trả địch quyết liệt đã để lại những ấn tượng sâu sắc, không bao giờ phai mờ trong nhân dân Thị xã và vùng ven Thị. Nó cổ vũ và khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù giặc, ý thức tự hào dân tộc của những người dân sống lâu năm trong thế kìm kẹp của địch, nhất là đầy sự khâm phục của số đông đồng bào bị Mỹ - Diệm cưỡng ép di dân lập đồn điền đang sống ở vùng ven Thị xã, nơi xảy ra khu chiến của bộ đội ta.

Ta đã phát triển được thế tiến công chiến lược áp đảo quân thù trên toàn Tỉnh, đưa chiến tranh cách mạng vào tận dinh lũy cuối cùng của địch, dồn chúng vào thế vô cùng hoang mang, lúng túng. Chỉ trong một thời gian ngắn, chiến thắng của ta đã tạo ra một cục diện mới trên chiến trường hoàn toàn có lợi cho ta, đẩy địch lún sâu vào thế phòng ngự bị động(1).

Chiến thắng Xuân Mậu Thân đã đánh dấu một bước chuyển biến nhảy vọt về chiến tranh nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh; chưa bao giờ Đảng bộ, Mặt trận dân tộc giải phóng lại động viên và tổ chức được một lực lượng hùng hậu hàng chục vạn đồng bào của các dân tộc nổi dậy tiến công địch trên qui mô rộng lớn như vậy. Nó thể hiện đường lối chống Mỹ cứu nước, chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng, phát huy cao độ sức mạnh chiến đấu, to lớn của đồng bào trên cả ba vùng; căn cứ rừng núi, nông thôn đất bằng và nội thị xã, thị trấn.

Qua chiến đấu, khối đoàn kết các dân tộc càng rộng rãi, quyền làm chủ núi rừng của nhân dân các dân tộc được xây dựng và phát huy cao, lực lượng cách mạng thêm phát triển. Đặc biệt cán bộ, đảng viên, cơ sở cách mạng trong nội Thị được thử thách, rèn luyện kiên cường vững vàng hơn.

Thắng lợi Tết mậu Thân còn thể hiện tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của cán bô, chiến sỹ, đảng viên, cơ quan, lực lượng dân quân du kích, các Đội vũ trang công tác, quần chúng nhân dân, nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng, khắc phục mọi khó khăn phục vụ vô điều kiện để giành thắng lợi. Sau cuộc đọ sức “hai mùa khô” với quân Mỹ trên địa bàn tỉnh, tuy ta giành được thắng lợi lớn nhưng chúng ta cũng gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật. Nhưng khi có lệnh chuẩn bị cho tiến công và nổi dậy thì Đảng bộ các cấp, các ngành, các đơn vị, các đoàn thể quần chúng đã khắc phục vô vàn khó khăn, huy động mọi tiềm lực, tạo được khối lượng vật chất, tạo được sức mạnh tổng hợp, phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên đủ sức đồng loạt tiến công theo kế hoạch đã định.

Cuộc tiến công và nổi dậy của quân và dân trong tỉnh không những chỉ góp phần cùng cả nước giành thắng lợi có ý nghĩa về chiến lược mà còn giành được những thắng lợi cụ thể về mặt chiến thuật. Bộ đội, các lực lượng vũ trang ta đã rút được nhiều kinh nghiệm về đánh sâu trong hậu cứ địch, nhất là trưởng thành một bước về đánh địch cố thủ trong công sự, đường phố, tạo điều kiện cho các cuộc tấn công địch giành thắng lợi sau này trong đánh sâu vào thị xã, quận lỵ.

Tỉnh ủy Gai Lai và Mặt trận 300(2) tổng kết: “Quân và dân Tỉnh ta (chủ yếu là Mặt trận Thị xã Pleiku) đã diệt 3.500 tên địch, trong đó có 1.300 tên Mỹ, phá hủy phá hỏng 580 xe quân sự, 35 pháo và một số máy bay các loại, đốt cháy hàng triệu lít xăng dầu của địch.

Phối hợp với tấn công quân sự, 11.000 quần chúng xuống đường biểu tình đấu tranh chính trị. Chính quyền một số ấp, xã ở các huyện 3, 4, 5, 6 được thành lập. Hơn 14 ngàn đồng bào phá ấp chiến lược trở về làng cũ; 11 làng ven Thị xã được giải phóng”.

Thắng lợi Xuân Mậu Thân của Gia Lai nằm trong thế trận chung của Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và cả nước, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các chiến trường. Quân dân Gia Lai đã góp phần vào thắng lợi chung to lớn của cả nước, tạo ra bước ngoặt mới của cuộc chiến tranh giải phóng.

Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt thường trực Quân ủy Trung ương gởi điện: “Nhiệt liệt khen ngợi những thành tích vừa qua của Quân dân Tây Nguyên, đặc biệt là thành tích của quân dân thị xã Buôn Ma Thuột, Pleiku, Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh…”.


(1) Trích Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên 3-1968
(2) Mặt trận 300 là tổ chức chỉ huy giữa lực lượng Tây Nguyên phối hợp với lực lượng địa phương trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:05:06 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Thời gian im tiếng súng không lâu. Từ 7 giờ sáng địch bắt đầu phản kích quyết liệt. hàng trăm quả đạn đại bác từ các căn cứ pháo binh địch nã vào trung tâm Thị xã, nhà dân đã bốc cháy một số. Máy bay trực thăng vũ trang từ Sư đoàn 4 Mỹ, Cơ Ty Prông đổ về, từng tốp dàn hàng ngang phóng từng chùm rốc-kết xuống các khu Thuần Phong, Hội Phú, Sư Vạn Hạnh, chúng phát hiện các đơn vị bộ đội ta đang bám trụ. Đến 10 giờ trưa; địch cho xe tăng, xe bọc thép có trực thăng yểm trợ, một cánh tiến theo đường Hoàng Diệu, cánh thứ hai theo đường 14, qua thôn Trà Bá Hai, vòng về bọc sau đội hình bám trụ của bộ đội ta thực hiện siết vòng vây. Cuộc giáp chiến quyết liệt của bộ binh ta với cơ giới địch. Dưới làn đạn rốc-kết và pháo lớn, cán bộ chiến sĩ các đơn vị đã dựa vào công sự đánh trả từng mũi phản công của chúng. Nhiều xe tăng, xe bọc thép của địch lần lượt bốc cháy. Bộ đội ta vừa bắn máy bay rà thấp, vừa bắn xe tăng, xe bọc thép, vừa xung kích giáp lá cà quần lộn đánh địch trước mặt, sau lưng và bên sườn. Lực lượng trụ bám của ta ít, trang bị hỏa lực có mức độ, nhưng đã chiến đấu hết sức dũng cảm, đánh trả địch quyết liệt đến cùng quyết không lùi bước. Suốt ngày mồng một tết bộ đội ta quần lộn với địch, trận địa không ngớt tiếng súng, khói lửa mịt mù. Ta đã diệt được nhiều sinh lực, bắn cháy hàng chục chiếc xe tăng, xe cơ giới của chúng.

Đến tối mồng một Tết tiếng súng thưa dần. Riêng một bộ phận của Đại đội 21 Thị xã đánh vào khu vực Tòa hành chính và một số tổ đánh vào khu 37 pháo binh địch, một tổ đánh vào đài phát thanh tỉnh.

Liên tiếp các ngày sau ta vừa đánh bồi các căn cứ kho tàng, sân bay, pháo kích vào căn cứ La Sơn, cứ điểm địch ở Chử Hà Tây, vừa chặn đánh giao thông và bộ binh địch nống ra giải tỏa.

Bộ đội các khu đã tổ chức tập kích vào các chốt bảo an, dân vệ, diệt ác phá kèm, tạo thế cho quần chúng nổi dậy. Trung đội tập trung khu 6 tập kích vào ấp chiến lược Glar (nam MangYang) đánh rã Trung đội dân vệ, thu hết vũ khí, chuẩn bị phát động quần chúng, đến trưa quân bảo an ở quận Lệ Trung vào phản kích, vây ấp, bắt một số cán bộ ta.

Đại đội 19 công binh tỉnh tập kích vào Trung đội bảo an gần đồn điền chè Bàu Cạn, đánh diệt xe trên đường 19 (kéo dài). Nhiều nơi địch phản ứng gay gắt nhưng bộ đội các huyện đã xáp vào phát động quần chúng, diệt ác ôn, thu được thắng lợi trên mặt trận giải phóng nông thôn.

Về hoạt động của lực lượng chính trị: Phối hợp với tấn công quân sự; cán bộ, nhân viên các cơ quan, đoàn thể, ban ngành quanh tỉnh huy động gần 200 cán bộ, nhưng đường hành quân xa không kịp nhập Thị vào đêm giao thừa. Có một số cán bộ tăng cường lên Thị trước cùng với cán bộ, các cơ quan, đoàn thể Thị xã trên 40 đồng chí đã nhập thị cùng các đơn vị bộ đội. Tuy số lượng hạn chế, nhưng các đồng chí đã kịp tỏa ra các hướng phối hợp với bộ đội, vừa chiến đấu, vừa tập hợp quần chúng động viên, phát động, diệt ác ôn, trấn áp tề điệp. Anh em đã sát cánh cùng bộ đội chiến đấu và có đồng chí hy sinh anh dũng.

Phía đông nam Thị xã, nhân dân các làng đồng bào dân tộc vòng ấp Mo, BarMaih đã nổi dậy đập phá cơ quan ngụy quyền. Các toán cán bộ “bình định nông thôn” ở ấp Mo hốt hoảng bỏ chạy về Thị xã. Các nơi khác, nhân dân nổi dậy, diệt ác, giải tán tề tay sai, bao vây tiến công binh vận các đồn bót.

Trên đường 19 khu vực Lệ Cần, An Mỹ, làng Nủ quần chúng được huy động nhập thị gần 1.500 người, địch cho lính bảo an, có xe cơ giới hỗ trợ ra đàn áp, gần ba chục đồng bào hy sinh và bị thương một số lớn.

Hướng khu 8 (Chưprông) có các đồng chí lãnh đạo Huyện huy động trên 4 ngàn đồng bào chia làm nhiều hướng tiến thẳng về vây quận lỵ Thanh An, Tân Lạc, Thanh Giáo. Một cánh khác tiến về hướng làng Nhơn (xã B7) Trà Bá. Phía bắc và tây bắc Thị xã một số đồng bào tiến về đường Ngô Sơn, Tiên Sơn; Hướng khu 4 (Chư Păh) triến về làng Ku Rôh.

Trước khí thế nổi dậy của quần chúng khắp nơi, địch vô cùng hốt hoảng, chúng đã cho phi cơ, pháo và bộ binh đàn áp dã man đồng bào tay không. Nhiều đoàn đã bị chặn lại ở ngoại vi Thị xã; nhiều gương hy sinh dũng cảm; tuy bị thương nhưng vẫn động viên nhau tiếp tục tiến lên.

Trong nội Thị, đêm giao thừa đảng viên, cơ sở và quần chúng cảm tình lắng nghe tiếng súng hòa lẫn tiếng pháo, hồi hộp theo dõi, đợi chờ diễn biến tình hình. Đến trưa, khi địch phản kích quyết liệt, các cánh quân sự của ta chống trả địch liên tục, nhưng trước tình hình địch đông, hoạt động quân sự của ta chưa đủ độ để quần chúng Thị xã phối hợp hành động. Tuy vậy lực lượng đảng viên và cơ sở nội Thị đã có bước chuẩn bị chu đáo. Đồng bào đã sẵn sàng gánh chịu hy sinh, đã khéo léo đưa cán bộ chỉ đạo vào nội thị để chuẩn bị lực lượng. nhiều gia đình có điều kiện để làm thật nhiều bánh, chuẩn bị thức ăn để sẵn sàng chi viện, tiếp tế cho bộ đội và đồng bào nhập Thị. Đồng bào, cơ sở đã che dấu gần 500 cán bộ, du kích và đồng bào vùng nông thôn lân cận được “rấm” vào trong Thị trước ngày tiến công. Khi xảy ra chiến đấu có mấy cơ sở che dấu, nuôi dưỡng thương binh, tạo phương tiện hợp pháp đưa anh em trở về căn cứ. Một chiến sĩ Đại đội 21 (Thị xã) bị thương nặng được đồng bào cứu chữa, chăm sóc sau 11 ngày hồi phục sức khỏe mới tìm cách đưa trở về căn cứ ở xã Gào.

Trong khó khăn gian khổ, ác liệt, càng nổi bật sự cưu mang, đùm bọc của nhân dân đối với cách mạng, đối với lực lượng vũ trang con em ruột thịt của mình. Lòng dân là chiếc nôi nuôi dưỡng, là chỗ dựa vững chắc để bộ đội ta hoạt động thắng lợi trong tiến công địch.

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:04:46 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
*   *
*

b. Giờ tấn công và Nổi dậy

Ngày 29 tháng 1 năm 1968, các đơn vị bộ binh tỉnh, huyện; các Đoàn cán bộ, các Đội vũ trang công tác, các Đội an ninh; lực lượng dân quân tự vệ trong và ngoài Thị xã đều ở vị trí xuất phát.

Các bàn đạp An Mỹ, Lệ Cần, Làng Dôr, các vùng Ấp Mo, BurMaih, đến xã Gào, xã B7, B5, hàng đoàn cán bộ cơ sở theo kế hoạch chung đã cùng nhân dân cơ sở gần 300 người, chia từng tốp nhỏ, từng hướng khác nhau cải trang ra vào Thị xã dưới dạng đi sắm Tết để thăm dò tình hình, nghe ngóng dự luận kịp báo cáo cho cán bộ, có người vào ở luôn trong nội thị chờ giờ nổi dậy.

Tại đường 19, ấp Lê Cần, ta tranh thủ thời cơ tha tên tù binh Lê Văn Cứ (là Tỉnh đội phó Pleiku) ta bắt hè năm 1965 để gây ảnh hưởng lợi thế cho đấu tranh chính trị, binh vận.

Đúng 0 giờ 55 phút, ngày 31 tháng 1 năm 1968 (giao thừa Tết Mậu Thân) các đơn vị đồng loạt nổ súng tiến công địch. Lực lượng ta đã chia làm nhiều cánh, nhiều hướng đột nhập vào nội thị. Tiểu đoàn đặc công 408 (gồm Đại đội 60, 70 và 80) đánh vào sân bay Aréa, quân đoàn 2 ngụy, phá hủy 45 máy ban lên thẳng, đốt cháy 35 xe quân sự. Đại đội 90 đặc công Thị xã, một mũi đánh vào khu biệt động quân diệt Ban Chỉ huy và 200 tên lính, phá hủy, đốt cháy 35 xe quân sự. Một mũi khác cùng Đại đội 1 Thị xã nhanh chóng đánh vào Tiểu khu Pleiku, diệt một số tên tại cơ quan Tiểu khu và các ụ súng bảo vệ. Cùng lúc, một bộ hận đánh vào tỉnh đoàn bảo an, đánh thẳng vào Ty cảnh sát ngụy, diệt 10 xe M113, nhanh chóng đánh phá các nhà trại giam khu chiêu hồi, giải thoát gần 2000 cán bộ và nhân dân bị địch giam giữ.

Tiểu đoàn 15 bộ binh tỉnh đứng chân tại xã ĐakLá được lệnh hành quân bôn tập. đến giờ “G” đơn vị mới đến khu vực Thuần Phong, Hội Phú và Trà Bá H. kịp triển khai đội hình thành hai mũi. Mũi thứ nhất tiến về hướng Sư Vạn Hạnh để phối hợp với Đại đội đặc công 90 đang chiến đấu dọc đường Hoàng Diệu (nay là Hùng Vương). Mũi thứ hai phối hợp cùng một bộ phận của Đại đội Khu 6 (Mang Giang) băng qua đồi cà phê vào khu vực xưởng cưa, đến cầu Hội Phú tiến về căn cứ của Trung Đoàn 3 thiết giáp ngụy ở ngã ba Phù Đổng, vừa bố trí đội hình tiến công thì trời sáng.

Hai đại đội đặc công Thị xã sau khi đánh chiếm các mục tiêu đã nhanh chóng triển khai đánh các vị trí địch từ ngã ba Diệp Kinh trở lên theo đường Hoàng Diệu, một mũi khác phát triển qua đường Trịnh Minh Thế (nay là đường Trần Hưng Đạo) đánh diệt một toán địch có xe M113 ra phản kích tại ngã ba Bưu Điện. Một tổ của Đại đội 90 từ khu vực Tiểu khu phát triển đánh diệt ổ đề kháng của địch tại ngã ba cây xăng Caltex, sau đó tiến về phía Trường Trung Học Pleiku (nay là trường PTCSở Diên Hồng).

Bộ phận Đại đội khu 6 cùng Đội vũ trang công tác của đồng chí MêK phát triển sang khu giải trí, đánh diệt Trung đội bảo an tại đấy.

Đại đội 231 pháo ĐKB liên tục pháo kích vào căn cứ Quân Đoàn II ngụy, phá hỏng dàn ra-đa viễn thông của địch. Trung đoàn 95 bộ binh diệt đoàn xe 26 chiếc tại khu vực cầu AYun (Đường 19) không cho địch cứu viện cho Pleiku.

Ngay từ phút đầu ta đã bất ngờ đánh trúng các mục tiêu chủ yếu của các cơ quan chỉ huy đầu não Mỹ ngụy trong thị xã và các căn cứ quân sự, khiến chúng hoang mang, lúng túng, và bị thiệt hại nặng. Phần lớn các căn cứ địch chống cự yếu ớt, một số toán lính ngụy lẩn trốn hoặc bỏ chạy.

Ta đã chiếm các vị trí tiến công và triển khai đội hình chuẩn bị chiến đấu cho ngày tiếp sau.

Đến 5 giờ sáng 31 tháng 1 (mồng một Tết) trong nội Thị có phầm in tiếng súng. Các đơn vị tranh thủ củng cố công sự và phát triển chiến đấu. Trong giây phút im ắng đó, một số đồng bào khu vực Thuần Phong, Hội Phú ra mời bộ đội về nhà ăn Tết.

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:03:20 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Ban chỉ đạo tấn công và nổi dậy ở trọng điểm Pleiku gồm các đồng chí:

+ Tạ Quang Kim - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự Khu 9 (Thị Pleiku) chỉ đạo chung.

+ Lê Tiên – Tỉnh ủy viên, Phó bí thư Ban cán sự khu 9 trực tiếp chỉ đạo nội thị.

+ Hoàng Lê – Tỉnh ủy viên phụ trách tổ chức chỉ huy lực lượng quần chúng của các huyện huy động nổi dậy nhập thị.

Các đồng chí Đỗ Minh Cảnh (Thống), Lê Ngọc Ký (Điềm) trong Ban cán sự Tỉnh đội chỉ huy các lực lượng quân sự.

Lực lượng tham gia tấn công vào thị xã gồm các đơn vị của Mặt trận Tây Nguyên: Trung đoàn 95 bộ binh, Tiểu đoàn 631 đại đội đặc công và đại đội pháo súng 12ly7.

Lực lượng tỉnh gồm Tiểu đoàn bộ binh 15, Tiểu đoàn đặc công 408. Đại đội pháo binh ĐKB 231.

Lực lượng thị 9 có Đại đội đặc công 90, 21, đại đội vùng ven, 3 tổ biệt động.

Ngoài ra huy động các trung đội du kích các khu 3, 4, 5, 6 ở ven thị. Du kích xã Gào, B7, B5 có 180 người, 77 đảng viên có 19 du kích nữ, trang bị 6 súng cối 60 ly, 6 súng B49, 14 súng M79, Tiểu liên AK đầy đủ.

Dự kiến huy động 300 cán bộ các cơ quan ban, ngành, đoàn thể tỉnh và các huyện lân cận. Cố gắng huy động khoảng 40 ngàn quần chúng của huyện 4 giáp thị xã và 10 ngàn quần chúng trong nội thị nổi dậy.

Các huyện khác trên địa bàn như 2, 7, 11, 8 do các cấp ủy trực tiếp điều hành phối hợp với trọng điểm thị xã. Các Đại đội công binh 17, 18, 19 của tỉnh có kế hoạch cùng du kích dọc trục đường 19, 14 đánh phá giao thông địch và đột nhập phá các ấp chiến lược vùng đất bằng tây sông AYun, đánh rã các Trung đội dân vệ.

Tháng 1 năm 1968, sau khi kết thúc đợt hoạt động đêm các đơn vị khẩn trương chuẩn bị cho chiến dịch đến.

Như thường lệ, ngày 01 tháng 01 năm 1968, nhân dân cả nước đón thư chúc tết Mậu Thân của bác Hồ.

Tết này Bác viết:

            “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
            Thắng trận tin vui khắp nước nhà
            Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,
            Tiến lên!
            Toàn thắng ắt về ta!”.


Chưa có năm nào ra trận mà lòng chiến sỹ được giục giã như xuân này. Từng đoàn cán bộ mò mẫm chuẩn bị chiến trường. Tân binh huyện 5 (Chưprông) anh em dân tộc JaRai mới bổ sung cho Tiểu đoàn 15, mặc dù chưa qua huấn luyện cơ bản về kỹ thuật cá nhân đã đưa vào huấn luyện đội hình chiến đấu chiến thuật Tiểu đội, Trung đội đánh vào lô cốt cố thủ, vào các khu nhà chiếm giữ của địch. Trên thao trường huấn luyện của Tiểu đoàn tại xã Đăk La (nam Mang Yang) vang tiếng xung phong nhịp nhàng hăng hái của chiến sỹ tân binh rèn luyện chờ ngày xuất quân.

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:02:58 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Bộ tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư Lệnh Mặt trận Tây Nguyên tổ chức Hội nghị liên tịch ba tỉnh Đak Lăk, Gia Lai và Kon Tum phối hợp chung và thành lập các Ban chỉ huy chung từng tỉnh để triển khai thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí Hà chủ nhiệm chính trị Mặt trận Tây Nguyên xuống Gia Lai lập Ban chỉ huy chung của tỉnh. Khẩu hiệu: “Tất cả để chiến thắng, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân” biến thành những nội dung lớn trong các cuộc Hội nghị, học tập về tình hình nhiệm vụ cho cán bộ các cấp, các ngành, các cuộc Hội nghị về du kích chiến tranh, hội nghị chuyên đề bàn công tác đô thị, công tác binh địch vận hoạt động trong tấn công và nổi dậy được thảo luận sôi nổi ở các cấp từ tỉnh xuống huyện.

Về tác chiến: Tỉnh đội tập trung chỉ đạo giải quyết nâng trình độ chỉ huy cho cán bộ giải quyết các đánh địch có hiệu quả, diệt được các chốt bảo an kìm kẹp “bình định” trong các ấp chiến lược; đánh diệt được lực lượng bảo an, Cộng hòa trong các cuộc hành quân lấn chiếm. Đồng thời đánh đều khắp trên Mặt trận giao thông, cắt từng thời gian hệ thống vận chuyển của địch, đánh mạnh vào chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ. Tỉnh tiếp tục phát động thi đua đánh phá giao thông và bắn máy bay Mỹ rộng khắp.

Đồng thời khẩn trương huấn luyện cho bộ đội tỉnh, huyện biết đánh địch và đánh thành thạo quân địch bám giữ trong công sở, đường phố, doanh trại để phục vụ cho chiến đấu trong nội thị theo yêu cầu nhiệm vụ đến.

Vấn đề lớn thứ hai là động viên rút thanh niên nhập ngũ bổ sung quân số cho các đơn vị tỉnh, huyện. Tiểu đoàn 15 tỉnh quân số có 450 người. Công tác bảo đảm vật chất được khẩn trương triển khai, các đoàn dân công phục vụ tiền tuyến được thành lập. Công tác chi viện tiền phương được tổ chức đều khắp. Đông xuân 1967-1968, tỉnh huy động 1.600 tấn lương thực, mức huy động cao nhất của tỉnh từ trước đến nay. Với tinh thần “Tất cả đều chiếu thắng…” đồng bào vùng căn cứ tự nguyện “Tơtuh” (dốc hết) lương thực phục vụ cho chiến đấu; ngoài ra còn hàng trăm rẫy sắn của dân, của bộ đội đến kỳ thu hoạch. Các hành lang Co2, Co4, H4 của tỉnh và của trên tấp nập từng đoàn dân công, đồng bào dân tộc gùi vũ khí, đạn dược, lương thực từ các binh trạm của Tây Nguyên và các huyện đông đường 14.

Tỉnh tổ chức tháng hoạt động đêm. Ngày 4 tháng 1 năm 1968, Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào sân bay Cây Me và Tân Tạo. Tiểu đoàn đặc công 408 tập kích vào căn cứ liên đoàn 20 công binh đông Pleiku 3 km, diệt 120 tên, Tiểu đoàn bộ binh 15 ngày 8 tháng 1 năm 1968 tập kích vào quận lỵ Lệ Trung diệt một trung đội bảo an, hỗ trợ cho nhân dân ở ấp chiến lược bắc Hà Lòng nổi dậy diệt ác ôn, phá rã trung đội dân vệ. Đại đội hỏa lực và Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào căn cứ của Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ gây thiệt hại cho chúng. Trong tháng hoạt động đêm, các lực lượng vũ trang trong tỉnh đã đánh 225 trận vừa, nhỏ, diệt 3.075 địch, có 2.024 tên Mỹ chết và bị thương; ta phá hủy, phá hỏng 572 xe quân sự; bắn rơi và phá hủy 260 máy bay lên thẳng; đốt 17.000 lít xăng, phá banh một số mảng ấp chiến lược, giải phóng 7.000 dân đông vùng ven thị xã về lại làng cũ.

Trọng điểm thị xã Pleiku, Ban cán sự thị đề nhiệm vụ: “khẩn trương động viên tư tưởng toàn Đảng bộ, toàn dân, toàn quân nỗ lực chuẩn bị mọi mặt, tập trung sức xây dựng thực lực vững mạnh và đều khắp, đáp ứng yêu cầu cho tấn công và nổi dậy, nhằm đạt giải phóng hoàn toàn vùng thị xã, kể cả các đồn điền…”.

- Xây dựng xã Gào và các bàn đạp chung quanh thị xã, các trục giao thông hành lang bảo đảm cho từng địa bàn đứng chân chỉ đạo chiến dịch, xây dựng căn cứ sát thị xã vững chắc bất cứ tình huống nào.

Tình hình thị xã có chuyển biến mới. Trong nội thị từ 3 Đảng viên đã phát triển lên 20 Đảng viên, có 60 cơ sở nòng cốt trung kiên, xây dựng được 3 tổ vũ trang biệt động thị có 9 đội viên, hàng trăm cảm tình, cốt cán, xâu nắm và phát động được hàng ngàn quần chúng.

Ở các đồn điền quần chúng công nhân được phát động, xây dựng được nhiều cơ sở, nhất là Bàu Cạn, An Mỹ, Lệ Cần, Trà Bá, thực sự làm bàn đạp đứng chân cho các đơn vị hoạt động vào thị xã. Chi bộ xã Gào có 90 Đảng viên, 150 đoàn viên, xây dựng củng cố được 2 Trung đội du kích mạnh có 80 đội viên, hàng trăm dân quân thôn, được trang bị đầy đủ vũ khí. Một số đơn vị vùng ven khác như xã B5 (Ia Sa – Chưpăh) xã B7 (IaPet Chưpăh), xã Song An (An Khê) được chuẩn bị tốt, lót được một số vũ khí phục vụ cho cuộc tấn công và nổi dậy.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 04:02:27 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
*   *
*

III/ Tấn công và nổi dậy đồng loạt xuân 1968:

1. Chuẩn bị cho phương hướng chiến lược:

Cuộc chiến đấu oanh liệt của quân và dân qua hai mùa khô 1966 – 1967 đã đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế rối ren phức tạp. Nắm vững thời cơ, Hội nghị Trung ương Đảng tháng 6 năm 1967 hạ quyết tâm: “Đánh cho địch một đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn, tạo nên một sự chuyển biến nhảy vọt, buộc Mỹ phải thua về quân sự…”.(1)

Quán triệt ý định của Trung ương Đảng, Quân Khu đã chỉ thị các lực lượng vũ trang đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, chuẩn bị mọi mặt cho đòn tiến công quyết định khi thời cơ xuất hiện.

Nắm vững phương hướng chiến lược của trên, thu đông 1967 các lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, dân quân du kích tổ chức đánh sâu vào vùng ven thị xã, quận lỵ như Lệ Trung, Lệ Thanh, Phú Nhơn, làm cho hậu phương địch ngày càng thêm rối loạn, tạo điều kiện cho các đội công tác xây dựng phát triển cơ sở, xây dựng thêm một số hành lang mới, làm bàn đạp nhập thị thuận lợi hơn trước.

Lực lượng chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã áp sát hai cánh nam, bắc thị xã Pleiku. Trung đoàn bộ binh 95 hoạt động phía nam đường 19, chủ chốt trong mặt trận đánh phá giao thông chiến lược của địch. Tiểu đoàn bộ binh 361 hoạt động phía tây bắc thị xã. Khu vực đông tây thị xã, đèo Mang Yang không còn là đường đi lại an toàn của địch. Thị xã Pleiku, các quận lỵ không còn là nơi “bất khả xâm phạm” của chúng. Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở La Sơn phải rải quân đóng thành từng cụm suốt từ nam thị xã Pleiku ra đến Đăk Tô, Tân Cảnh (bắc Kon Tum). Sư đoàn 22 ngụy, tuy Sở chỉ huy căn cứ đóng ở Trà Quang (Phù Mỹ - Bình Định) nhưng thường xuyên phải ném từ 1 đến 2 Trung đoàn lên Gia Lai để cùng Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ càn quét đánh phá vùng ta làm chủ. Chúng thực hiện biện pháp: Mỹ ra vòng ngoài càn quét để “tìm diệt”, quân Ngụy trấn giữ vòng trong làm công việc “bình định”. Nhưng càng rải quân ra “bình định”, chiếm giữ ấp, quân ngụy lại ngập sâu vào biển chiến tranh nhân dân của ta, biến lực lượng cộng hòa cơ động làm nhiệm vụ phòng giữ(2).

Cuối năm 1967, Bộ chính trị quyết định chuyển chiến tranh cách mạng của ta sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định.

Trên chiến trường Quân Khu và Mặt trận tây Nguyên quyết định tập trung cả ba lực lượng liên tục tiến công mạnh mẽ quân địch cả xuân và hè 1968; Chủ yếu tập trung vào Xuân 1968, nhằm đánh sập Ngụy quân, ngụy quyền, tiêu diệt nặng sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, kết hợp với nổi dậy của quần chúng giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân.

Ở Gia Lai xác định những trọng điểm sau:

- An Khê cùng với Bình Định phối hợp với Mặt trận Tây Nguyên đánh quỵ Sư đoàn 22 ngụy, một bộ phận quân Mỹ và Nam Triều Tiên.

- Pleiku là một trong hai trọng điểm quan trọng để tiêu diệt lớn quân địch, thu hút, kiềm chế, tiêu diệt sinh lực Mỹ, tạo thuận lợi cho chiến trường đồng bằng hoạt động. Thị xã Pleiku chủ yếu dùng đòn tấn công bằng quân sự.

Quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng và Khu ủy 5, Tỉnh ủy Gia Lai quyết định; “Mở chiến dịch tiến công và nổi dậy vào thị xã Pleiku và các cứ điểm trong toàn tỉnh, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đón thời cơ tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định, giải phóng hoàn toàn tỉnh nhà…”.


(1) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954 – 1975 Những sự kiện lớn Bộ Quốc Phòng Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Hà nội 1988 – Trang 177
(2) Tại Gia Lai: Quân Mỹ - F1 không vận, F4 bộ binh, Lữ dù 173
Quân Ngụy – E3 thiết giáp D biệt động số 11, số 12 cùng 1 số Tiểu đoàn bảo an biên phòng. Sách LLVTND Tây Nguyên Trang 12

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:48:38 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Có mặt ở đây ngay từ những buổi đầu bạt gốc, trốc đá mở đường, chính ủy đã chú ý đến Quang và có cảm tình đặc biệt với chàng thảnh niên lầm lỳ ít nói nhưng rất trung thực đó. Trong con mắt đã từng đọng lại nhiều số phận khác nhau của mình, chính ủy sớm nhận ra Quang chính là con đẻ của những tuyến đường đầy gian lao vất vả của đất nước, những tuyến đường mà nền móng của nó được xây đắp bằng xương khô và máu tươi, bằng mồ hôi nước mắt, bằng đoàn tụ và chia ly, bằng sự kiên nhẫn của những hạt cát làm nên bãi biển và bằng cả tình thương trĩu nặng của nhiều thế hệ đã chuẩn bị và giao phó cho những người như Quang cái sứ mệnh bảo vệ và phát triển con đường ấy. Trong những giờ phút như hiện nay, sự vắng mặt của Quang là một thiếu thốn lớn đối với cuộc chiến đấu ở đây. Tuy chưa biết Quang có thể làm được những gì ở Cô-Tan ở lúc này, nhưng chính ủy mỗi lúc một cảm thấy rằng những công việc đó nếu có Quang sẽ có thể yên tâm hơn. Sau khi nghe đòng chí tư lệnh chỉ thị, chính ủy đã định trình bày những ý nghĩ đó của mình ra, nhưng do một sự thận trọng đã trở thành tập quán, chính ủy lại đắn đo và tự nhủ : làm đã, rồi hãy nói.

        Trở về đến động Chân Linh, chính ủy đi thẳng vào bàn điện thoại. Sau khi gọi dây nói báo cho Phương Thảo trở về A2 gấp, chính ủy bước vào chỗ làm việc của thủ trưởng Đức. Bằng một giọng nhiệt thành, phản ánh một sụ tin tưởng sâu sắc đối với những suy nghĩ của mình, chính ủy trao đổi với thủ trưởng Đức về sự cần thiết phải đưa Quang về tuyến cáng sớm càng tốt nhưng phải kín đáo, tự nhiên, để khỏi gây nên nhũng khó khăn trong nội bộ. Cuối cùng, chính ủy nhìn hai gò má hốc hác của thủ trưởng Đức, mỉm cười:

        — Chắc, bây giờ anh đã hiểu tại sao tôi lại đề nghị anh cho kỹ sư Nhơn làm việc với tôi một thời gian rồi chứ? Nhơn mới ra trường, kinh nghiệm chưa có mấy, nhưng Nhơn là người trung thục, Nhơn chỉ có một ý muốn là mở đường về giải phóng quê hương. Tôi cần cái kỹ thuật của những người như thế. Nhơn đã giúp tôi được nhiều trong việc nghiên cứu những tài liệu khoa học của đoạn đường qua Cô-Tan. Nhưng điều quan trọng nhất là Nhơn đã giúp tôi hiểu rõ hơn thực chất giá trị của những cán bộ làm công tác khoa học kỹ thuật, đã góp phần nung nấn nhũng ý nghĩ mà tôi vừa trao đổi với anh.

        Chính ủy dừng lại một chút, rồi tiếp:

        — Theo tôi nghĩ, trong cuộc đọ sức ở Cô-Tạn hiện nay, chúng nó đã tập trung cao độ tất cả sức mạnh hiện có của chúng — trừ bom nguyên tử — để đánh chúng mình, nếu chúng mình không có khả năng tập trung được cao độ toàn bộ sức mạnh của chúng mình ra chống trả thì bản chất của hai bên chưa bộc lộ, mà chúng tla lại rất cần sự bộc lộ đó, vì một khi đã làm bộc lộ được bản chất thì cũng có nghĩa là ta đã thắng. Quân ăn cướp chúng rất sợ điều đó. Anh nghĩ thế nào ?

        Thủ trưởng Đức im lặng một lúc, rồi lật cuốn sổ của mình ra, lấy một tờ giấy gấp nhỏ đưa cho chính ủy :

        — Tòi vừa mới nhận được.

        Chính ủy Lâm Hồng Sơn mở ra xem. Vừa nhìn thấy những dòng chữ trên đầu trang giấy, anh đã tỏ vẻ vui mừng và cắm cúi ngồi dọc. Quả thục, lá thư đến với anh như một điều may mắn bất ngờ:

        «... Các anh thông cảm cho tôi nhé! và các anh cũng đừng nghĩ gì về việc Phương Thảo và Đính viết thư cho tôi. Thắng lợi TaBua LaBui là một điều đáng mừng đối với bạn tôi. Nhưng tôi e rằng sự việc ở Cô-Tan sẽ không diễn ra như thế đâu. Rất tiếc là chúng ta không bắt gọn được cái đám biệt kích hôm đó. Trước lúc tôi bị thương, tôi trông thấy rất rõ một thằng Mỹ trà trộn trong đám biệt kích. Cậu Ngàn nhà ta đã bắn trúng nó nhưng lúc bọn chúng khiêng nó đi nó vẫn luôn mồm gọi vào máy. Nó nói những gì tôi không biết, nhưng tôi ngờ là nó cũng làm cái việc như tôi: khảo sát địa chất. Nếu điệu phán đoán đó là đúng thì các anh hãy tin ở tôi: vùng Cô-Tau nhất định sẽ phải chịu đựng sự tàn phá khó có thể lường được;

        Tất nhiên các anh đã có kế hoạch đối phó, nhưng tôi tự thấy mình có nhiệm vụ phải báo cáo lại với các anh như vậy. Vết thương của tôi đã khỏi tới 90%, Tôi mong, được ra viện quá. Được ra. tôi sẽ về tuyến ngay. Nhưng khi qua Hàm Rồng, xin báo cáo với các anh cho tôi dừng lại thăm bố tôi vài giờ.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM