Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Chín, 2021, 12:39:33 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 08:07:15 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Từ năm 1993 đến năm 2005, lực lượng An ninh tiếp tục đấu tranh thắng lợi nhiều chuyên án lớn như A392, QT93, ĐT93, PQ55, HC96, SB36; vô hiệu hoá âm mưu tác động tinh thần, kích động thành lập các tổ chức chính trị đối lập; vô hiệu hoá, đẩy lùi và đập tan hàng chục chiến dịch gây nổ, khủng bố, phá hoại mang tên “Chiến dịch Hoa Lan”, “Chiến dịch Hoa Phượng”, “Chiến dịch nở hoa trong lòng địch”... Từ năm 1996 đến nay, lực lượng An ninh triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh chuyên án HC96 với tổ chức phản động lưu vong danh xưng “Chính phủ Việt Nam tự do”, do Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu, đấu tranh chuyên án HM26 với tổ chức “Việt Tân”, chuyên án SB36 với “Đảng nhân dân cách mạng hành động” do Nguyễn Sỹ Bình cầm đầu. Hơn 10 năm triển khai kế hoạch đấu tranh, lực lượng An ninh làm rõ âm mưu, sự chỉ đạo và tài trợ của các thế lực thù địch đôi với các tổ chức này. Dưới sự chỉ đạo của Tổng cục An ninh, Công an các tỉnh phía Nam phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ, đồng thời các biện pháp nghiệp vụ đón bắt hàng chục toán xâm nhập gồm gần 200 tên, thu thuốc nổ, máy chèn cướp sóng, tài liệu phản tuyên truyền, phương tiện hoạt động, ngăn chặn kịp thời hàng chục kế hoạch gây nổ, kích động bạo loạn của chúng. An ninh các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippin, đã phối hợp chặt chẽ với An ninh Việt Nam vây bắt hàng chục tên hoạt động đắc lực ở nước ngoài, giao cho ta. Mặc dù chúng liên tục thay đổi phương thức và tuyến xâm nhập; thậm chí thuê những người buôn bán nhỏ, xe ôm, gái làm tiền vận chuyển vũ khí và phương tiện nhưng nhờ có hệ thống cơ sở ở khu vực biên giới và ý thức cảnh giác của nhân dân nên lực lượng An ninh đủ điều kiện đón bắt gọn các toán mỗi khi chúng xâm nhập lãnh thổ.


Thế lực thù địch không chỉ tài trợ, chỉ đạo các tổ chức phản động lưu vong gây nổ, khủng bố mà chúng còn chỉ đạo và tài trợ để thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị phản động ở nước ngoài rồi xâm nhập về nước phát triển tổ chức trong nội địa. Những năm qua, lực lượng An ninh liên tục đấu tranh nhiều chuyên án, kiềm toả, vô hiệu hoá hoạt động của chúng trên lĩnh vực này. Trong số đối tượng nguy hiểm hiện nay, Nguyễn Sĩ Bình, gốc Việt, quốc tịch Mỹ là một trong những tên nguy hiểm nhất. Bình thành lập “Đảng nhân dân cách mạng hành động” tại Mỹ từ những thập niên 80, đưa người, phương tiện in ấn tài liệu về nước, phát triển tổ chức. Năm 1984, lực lượng An ninh đã bắt gần 20 tên, trục xuất Bình ra khỏi lãnh thổ. Bị trục xuất nhưng Bình vẫn tiếp tục làm tay sai cho các thế lực thù địch. Y phục hồi “Đảnq nhân dân cách mạng hành động”, chuyển địa bàn về các nước trong khu vực, tuyển mộ hàng trăm tay chân từ khắp các lục địa vào tổ chức; phát triển hệ thống chân rết ở nhiều quốc gia và hướng về Việt Nam để chống phá. Lực lượng Cảnh sát các nước Thái Lan, Lào, Campuchia và một số nước khác phối hợp chặt chẽ với An ninh Việt Nam, đã tiến hành các biện pháp mạnh như không cho lập trụ sở, cấm các đối tượng nhập cảnh; giải tán các hội nghị, đại hội; bắt một số tên cầm đầu, quá khích. Từ năm 1990 đến nay, lực lượng An ninh đã đón bắt hàng chục toán với danh nghĩa “chi bộ” của “Đảng nhân dân cách mạng hành động” về nước để móc nối cơ sở phát triển tổ chức ở trong nước; thu giữ hàng tấn tài liệu, chặn đứng âm mưu của Bình và đồng bọn. Đối với tổ chức “Việt Tân” lực lượng An ninh vừa đấu tranh ngăn chặn hệ thống tổ chức phát triển ở trong và ngoài nước, vô hiệu hoá các chiến dịch tuyên truyền, khủng bố của chúng mà còn củng cố chứng cứ, xác định đây là một tổ chức khủng bố để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cùng phối hợp đấu tranh của các nước đối với tổ chức này.


Giai đoạn từ 1990 đến 2005, lực lượng An ninh đã bước đầu đấu tranh thành công với những phương thức, thủ đoạn mới của bọn gián điệp, về căn bản đã đẩy lùi âm mưu móc nối cơ sở trong số đối tượng bất mãn, quá khích; những đối tượng trong cộng đồng các dân tộc, tôn giáo, văn nghệ sĩ có nhân thân được dư luận quan tâm; kích động chống đối và cung cấp tin tình báo. Thủ đoạn của chúng thường núp dưới chiêu bài đòi dân chủ, nhân quyền, đòi tự do tôn giáo, đòi quyền lợi cho dân tộc ít người, đòi thả tù chính trị,... để chỉ đạo bọn bên trong, hướng dẫn cho bọn bên trong gây ra các điểm nóng, tạo cớ cho bọn bên ngoài can thiệp. Đặc biệt là giai đoạn này các thế lực thù địch triệt để sử dụng thành tựu khoa học tiên tiến, phương tiện khoa học công nghệ thông tin để chỉ đạo và tài trợ cho các thế lực bên trong. Vì vậy mọi diễn biến ở trong nước đều được chúng sản xuất thành các chương trình nghe, nhìn và chuyển ra nước ngoài rất nhanh chóng. Dưới sự chỉ đạo và tài trợ của các thế lực thù địch, các đối tượng ở trong nước ráo riết tiến hành các kế hoạch mua chuộc, kích động đồng bào ta trốn ra nước ngoài, vào rừng hoạt động phỉ, khiếu kiện kéo dài gây ra các điểm nóng về an ninh nông thôn, tôn giáo và dân tộc. Năm 2001 và năm 2004 đã xuất hiện hình thức biểu tình và bạo động chính trị ở Tây Nguyên.


Trên lĩnh vực này, công tác đấu tranh chống gián điệp không chỉ kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống phản động mà đã trở thành mặt trận thống nhất dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng. Nhờ đó, đã giải toả cuộc biểu tình của phật tử tại Huế do Thích Công Tạng, Thích Hải Chánh cầm đầu; giải tán cuộc biểu tình năm 2001, cuộc bạo động chính trị năm 2004 ở Tây Nguyên do Ksor Kơk và tàn dư Fulro lưu vong chỉ đạo. Được đông đảo bà con giáo dân, phật tử ủng hộ và sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan, đoàn thể, lực lượng An ninh đã bắt, truy tố Lê Quang Liêm, Nguyễn Văn Lý cùng một số đối tượng khác. Tổ chức đấu tranh chuyên án T295, kiềm toả, ngăn chặn những phần tử chống đối ở trong nước làm tay sai cho bọn gián điệp. Đây là lĩnh vực đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp, có độ nhạy cảm cao nhưng chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Lĩnh vực đấu tranh này không chỉ đòi hỏi các thế hệ cán bộ chiến sỹ phải có trình độ nghiệp vụ sắc sảo, phẩm chất chính trị vững vàng mà cần có độ nhạy cảm chính trị cao và sáng tạo vì chúng là lực lượng quan trọng mà các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng hòng can thiệp vào nội bộ nước ta.


Trong đấu tranh chống nội gián, sau một thời gian chưa chú trọng đúng mức, Trung ương Đảng đã kịp thời kiểm điểm, đánh giá lại và xác định: Để bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ, thống nhất về đường lối, tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải làm tốt công tác chống nội gián trong tình hình mới. Quán triệt chỉ đạo của Trung ương Đảng, lãnh đạo Bộ Công an ra Chỉ thị số 59/CT-BCA, năm 1989, đánh giá lại những khuyết điểm trong quá trình thực hiện Chỉ thị 17/CT năm 1977; quyết định tập trung chỉ đạo, tập trung lực lượng, rà soát hồ sơ, thẩm tra đầu mối và xử lý dứt điểm đầu mối nội gián cũ, xây dựng kế hoạch phòng ngừa, chống nội gián mới. Tiếp tục triển khai công tác chống nội gián tuy có muộn, song là quyết định có ý nghĩa chiến lược về đấu tranh chống gián điệp để bảo vệ Đảng, bảo vệ nội bộ trong bối cảnh đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập sâu rộng trước sức tấn công ráo riết của các thế lực thù địch. Thực hiện Chỉ thị số 59/CT- BCA, lực lượng An ninh đã tập trung khai thác hồ sơ nội gián cũ đồng thời xây dựng kế hoạch đấu tranh với nội gián của cơ quan đặc biệt Mỹ và cơ quan đặc biệt TH. Do bố trí lực lượng có trọng tâm, tập trung vào địa bàn trọng điểm nên công tác đấu tranh chống nội gián có bước phát triển mới. Lực lượng An ninh đã lập hàng trăm chuyên án thuộc địa bàn cấp cơ sở; bóc gỡ từng mảng nội gián TH đánh vào hoặc kéo ra ở các cơ quan, địa phương lực lượng vũ trang của ta thuộc khu vực phía Bắc. Quá trình đấu tranh làm rõ cơ quan đặc biệt TH không chỉ đánh vào hoặc kéo ra mà chúng câu móc, sử dụng từng vụ việc, từng yêu cầu hoặc sử dụng hàng hoá, tiền bạc để đổi lấy tin tình báo.


Hoạt động nội gián của cơ quan TH hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp. Chúng đã cài cắm cơ sở đến các khu vực Tây Nguyên, vào lực lượng hành pháp của ta. Do đó, đấu tranh chống nội gián TH đang là cuộc đấu tranh vô cùng quyết liệt; phải được coi là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp bộ Đảng với sự kết hợp chặt chẽ giữa cơ quan chuyên môn với các cấp chính quyền, từ Trung ương đến cơ sở. Đấu tranh chống nội gián mới không chỉ là bóc gỡ đầu mối, mà chủ yếu là phòng ngừa, loại trừ những điều kiện kẻ địch xâm nhập vào cơ quan, đơn vị. Ngày 12-6-1993, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 23/CT-BCT về tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chỉ thị nêu rõ về nhiệm vụ của công tác bảo vệ nội bộ trong giai đoạn lịch sử hiện nay, nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm ngặt các chế độ, thủ tục, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên; kỷ luật trong phát ngôn, quan hệ với người nước ngoài; về bảo vệ bí mật tài liệu của Đảng và Nhà nước; quy chế về cử cán bộ đi tham quan, học tập công tác ở nước ngoài. Trên cơ sở chỉ đạo của Đảng, lực lượng An ninh chấn chỉnh một bước về quản lý nhà nước đối với công tác xuất nhập cảnh, quản lý người nước ngoài phục vụ công tác trinh sát, theo dõi đối tượng xâm nhập công khai hoặc bất hợp pháp. Hướng dẫn Công an các tỉnh thuộc biên giới phía Bắc tham mưu cho các cấp bộ Đảng rà soát lại toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục chính trị, củng cố lập trường tư tưởng, kiên quyết chống lại âm mưu cài gián điệp vào nội bộ ta. Do chấn chỉnh công tác quản lý cán bộ, giáo dục cán bộ chiến sĩ nên hàng trăm đảng viên, cán bộ chủ chốt cấp huyện, xã đã tự nguyện báo cáo, giao nộp thư và quà do cơ quan gián điệp TH liên lạc, móc nối, dụ dỗ, khống chế cộng tác. Tuy vậy, đây là một mặt công tác có thời gian chúng ta còn thiếu sót về chỉ đạo. Tổ chức lực lượng đấu tranh chưa đúng tầm với âm mưu, hoạt động của địch; các cấp chính quyền và nhân dân ở các tỉnh biên giới còn coi nhẹ, mất cảnh giác trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của cơ quan đặc biệt TH.


Tóm lại: Từ năm 1975 đến năm 2005 là giai đoạn lịch sử có nhiều biến động lớn ở trong nước và trên trường quốc tế. Sự khủng hoảng về đường lối và tan rã của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tác động tiêu cực và trực tiếp đối với phản động quốc tế các thế lực thù địch xác định Việt Nam là một trong những tiêu điểm, là thành trì cuối cùng của chủ nghĩa xã hội và tập trung mũi nhọn chống phá quyết liệt với nhiều phương thức, thủ đoạn mới.

 2 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 08:02:31 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hóa, để bảo đảm kịp thời các nhu cầu hàng hóa phục vụ kháng chiến và phục vụ tiêu dùng của nhân dân, cũng như bảo đảm ổn định giá cả một số mặt hàng thiết yếu, góp phần bình ổn thị trường, phá bao vây kinh tế của đối phương, Việt Nam đã phát triển sâu rộng mô hình mậu dịch quốc doanh, coi đó như một mẫu hình hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế kháng chiến.


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, do hoàn cảnh phải chiến đấu trong vòng vây của kẻ thù (từ sau năm 1950, biên giới được khai thông, giao lưu quốc tế được mở ra, song về cơ bản vẫn phải tự lực cánh sinh là chính), Đảng ta chủ trương vừa phá kinh tế địch, vừa ra sức xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Chỉ có tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ đó mới có thể làm thất bại âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của địch và mới đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của đời sống nhân dân, đồng thời thỏa mãn được các yêu cầu, đòi hỏi của cuộc kháng chiến.


Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền: miền Nam tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ; miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và trở thành hậu phương - căn cứ địa chung của cách mạng cả nước. Ngay từ những năm đầu kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đảng ta đã xác định: “Muốn thống nhất nước nhà, điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc; đồng thời phải giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam”1 (Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (khóa II), tháng 3-1955). Hay nói cách khác, Việt Nam phải tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Để nhanh chóng khắc phục hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh 9 năm, Đảng ta đã mạnh dạn triển khai kế hoạch ba năm khôi phục kinh tế (1955 - 1957) và tiến hành cải cách ruộng đất. Trong quá trình đó, phục hồi và phát triển nông nghiệp được xác định là trọng tâm.


Sau khi căn bản hoàn thành kế hoạch khôi phục kinh tế, Đảng chủ trương phát triển kinh tế - văn hóa theo hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cải tạo xã hội chủ nghĩa được xác định là một nội dung quan trọng, cải tạo xã hội chủ nghĩa ở đây được hiểu không có nghĩa là “phủ định sạch trơn” mà là quá trình tiếp thu, chắt lọc những mặt tích cực, những cái hay từ nền kinh tế, văn hóa thực dân, phong kiến; uốn nắn những lệch lạc, tư duy lạc hậu, bảo thủ cho phù hợp với trào lưu phát triển của xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng cải tạo xã hội chủ nghĩa được hiện thực hóa bằng kế hoạch ba năm (1958-1960) do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 13 (khoá V) tháng 12-1957 đưa ra. Đối tượng của cải tạo xã hội chủ nghĩa bao gồm: kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư doanh. Nội dung cốt lõi của cải tạo xã hội chủ nghĩa được xác định là cải tạo nông nghiệp, trong đó tập trung vào hợp tác hóa, thuỷ lợi hóa, cải tiến và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào canh tác. Đối với thủ công nghiệp, tiến hành thành lập các hợp tác xã thủ công, hợp tác xã mua bán. Đối với công nghiệp, các cơ sở tư nhân được chuyển đổi thành công ty hợp doanh. Tôn trọng quyền sở hữu của người dân, Nhà nước chủ trương không dùng quyền để ép buộc, tịch thu, xung công mà mua lại máy móc, thiết bị, tư liệu sản xuất của dân.


Mục đích của cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhằm nhanh chóng khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh, tiếp tục hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân; tiến hành cải tạo nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa trên cơ sở nền tảng của kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã, với hình thức sở hữu tập thể và sở hữu toàn dân là chủ yếu. Đó cũng chính là quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trên cơ sở những thành tựu thu được của quá trình phát triển kinh tế, xã hội ba năm (1958-1960), tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960), Đảng ta đã quyết định vừa tiếp tục hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, vừa xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa xã hội. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ nhất (1960 - 1965), lĩnh vực được xác định ưu tiên nhất là phát triển công nghiệp trên cơ sở phát triển nông nghiệp một cách hợp lý.


Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1960- 1965) đang được thực hiện thì tháng 8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, leo thang ra đánh phá miền Bắc, cả nước lại bước vào chiến tranh. Trong bối cảnh đó, Đảng chủ trương chuyển hướng phát triển kinh tế và mọi mặt đời sống miền Bắc sang thời chiến; kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng; vừa tiếp tục xây dựng miền Bắc theo hướng xã hội chủ nghĩa, vừa kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, vừa chiến đấu, vừa duy trì sản xuất tốt. Mọi hoạt động đều được chuyển sang thời kỳ có chiến tranh, nhất là hoạt động của các cơ quan và lãnh đạo các bộ, ban ngành ở Trung ương. Giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta xác định: chỉ có tiếp tục đưa miền Bắc tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa thì mới phát huy được sức mạnh của chế độ mới, mới huy động được sức người, sức của tối đa, mới tranh thủ được sự đồng lòng, giúp đỡ của bạn bè quốc tế... tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh thắng cuộc chiến tranh do Mỹ gây ra trên cả hai miền Nam - Bắc.


Thời kỳ này, để đề phòng kẻ địch đánh phá, các cơ sở công nghiệp lớn của ta được di chuyển và phân tán ra khỏi thành phố, thị xã, cách xa khu dân cư; các công trình công nghiệp đang xây dựng được tạm dừng; tập trung phát triển công nghiệp địa phương, đặc biệt là cơ khí; đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp bảo đảm cung ứng đầy đủ nhu cầu về lương thực, thực phẩm của bộ đội và nhân dân; mở rộng và bảo đảm an toàn cho mạng lưới giao thông vận tải, coi bảo đảm giao thông là một mặt trận nóng bỏng có ý nghĩa chiến lược.


Ở miền Nam, tư tưởng chỉ đạo chung là phải vừa tiến công, vừa xây dựng; tiến công để xây dựng, củng cố và mở rộng vùng giải phóng; xây dựng để tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công quyết liệt với địch, giành thắng lợi lớn nhất, “Đoàn kết giết giặc và sản xuất” vừa là khẩu hiệu, vừa là mục tiêu tiêu diệt quân xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đoàn kết sản xuất là điều kiện quan trọng để phục vụ mục tiêu giết giặc. Tập trung đẩy mạnh hai mũi giáp công, liên tục tiến công địch.


Đối với vùng giải phóng, tập trung phát động quần chúng, đẩy mạnh phong trào chống phi pháo, chống gom dân, lập ấp, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tiết kiệm, xây dựng xã ấp chiến đấu, củng cố các tổ chức quần chúng, phát huy vai trò làm chủ của nông dân ở vùng nông thôn, kiên quyết bảo vệ quyền lợi ruộng đất cho dân...


Đối với vùng tranh chấp, cùng với kiểm soát, phát động nông dân liên tục nổi dậy khởi nghĩa phá ấp chiến lược, diệt ác phá kìm, giải phóng đến đâu chia ngay ruộng đất cho dân đến đó; xây dựng và củng cố xã ấp, các tổ chức chính trị như chi bộ đảng, nông thôn, phụ nữ...


Đối với các vùng giải phóng phải xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, có lực lượng vững chắc để chủ động đối phó với địch. Xây dựng được kinh tế phát triển thì mới đảm bảo được đời sống của nhân dân, mới có cơ sở để giải quyết hậu cần tại chỗ, có cơ sở vật chất để tổ chức vùng kinh tế ta lấn sâu vào vùng kinh tế địch. Xây dựng được nền kinh tế vững mạnh ở vùng giải phóng là đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sau này. Tại các vùng giải phóng, các căn cứ kháng chiến, Đảng chủ trương phát triển tăng gia sản xuất, trao đổi lưu thông hàng hóa giữa các vùng giải phóng với các vùng bị tạm chiếm; bảo đảm tự cung, tự cấp một phần nhu cầu về lương thực, thực phẩm; triệt để khai thác các nguồn vật chất trong dân, các loại vật tư thiết yếu từ các cơ sở của quần chúng yêu nước trong vùng địch kiểm soát; sử dụng có hiệu quả chiến lợi phẩm thu được của địch. Trong vùng địch tạm chiếm, tùy theo tình hình từng vùng, từng thời kỳ mà triển khai cuộc đấu tranh kinh tế với địch; coi đây cũng là một mặt trận đấu tranh không kém phần quan trọng, đặc biệt là đối với những chiến trường trù phú như ở Đồng bằng sông Cửu Long.


Để từng bước “đánh cho Mỹ cút” tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, cùng với nỗ lực đẩy mạnh cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam, Đảng ta chủ trương nhanh chóng khôi phục kinh tế miền Bắc vừa bị chiến tranh tàn phá; tập trung phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội miền Bắc, bảo đảm cho hậu phương lớn miền Bắc huy động đến mức cao nhất sức người, sức của chi viện cho quân và dân miền Nam. Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, phải xây dựng và bảo vệ miền Bắc; và để bảo vệ, xây dựng miền Bắc, thì phải đánh thắng giặc Mỹ ở miền Nam. Chiến lược cách mạng ở hai miền Nam, Bắc luôn quyện chặt, làm tiền đề để thúc đẩy lẫn nhau phát triển. Quá trình thực hiện đồng thời cả hai chiến lược đó tạo thành sức mạnh chung của cả nước, trong đó động lực lớn nhất là miền Bắc - hậu phương xã hội chủ nghĩa.

 3 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 08:00:33 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, Việt Nam phải chiến đấu trong vòng vây của nhiều thế lực thù địch và trong kháng chiến chống Mỹ, có những giai đoạn nguồn viện trợ về quân nhu, vũ khí, trang bị từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em giảm sút, thậm chí bị gián đoạn. Trong những thời kỳ khó khăn như vậy, nhờ giải quyết tốt mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, với tinh thần “tự lực cánh sinh là chính”, “đem sức ta giải phóng cho ta”, công cuộc kháng chiến vẫn liên tục phát triển các vùng tự do, các vùng căn cứ trong kháng chiến chống Pháp; hậu phương lớn miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ vẫn đáp ứng đủ yêu cầu của tiền tuyến, bảo đảm cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Trước khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như trong những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta chủ trương đưa hàng vạn tấn máy móc, trang thiết bị lên vùng rừng núi, vào các vùng tự do, ra các căn cứ địa, tổ chức sản xuất, sửa chữa vũ khí, hình thành và phát triển hệ thống công binh xưởng rộng khắp suốt từ Bắc chí Nam nhằm đáp ứng nhu cầu kháng chiến trước mắt, đồng thời đặt nền móng cho một nền công nghiệp quốc phòng về sau. Để xây dựng cơ sở ban đầu cho nền công nghiệp vừa mới manh nha, Đảng chủ trương vừa triệt để tận dụng hạ tầng của chế độ cũ để lại như nhà máy, hầm lò, các công trường khai khoáng...; vừa khẩn trương bắt tay phục hồi và xây dựng mới các nhà máy, công binh xưởng. Các cơ sở công nghiệp này vừa phục vụ được nhu cầu quốc phòng, vừa đáp ứng được một phần của nhu cầu dân sinh. Trong phát triển công nghiệp, Đảng chủ trương không chỉ chú trọng vào công nghiệp quốc phòng mà còn phải phát triển cả các cơ sở công nghiệp nhẹ để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong đời sống của nhân dân và lực lượng vũ trang.


Kháng chiến càng trường kỳ, càng phải coi trọng phát triển nền kinh tế. Trong quá trình đó, “phải bảo vệ và phát triển nền tảng kinh tế của ta, đấu tranh kinh tế với địch”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.173). Nghĩa là vừa làm cho kinh tế kháng chiến không ngừng lớn mạnh nhưng đồng thời cũng phải làm cho kinh tế của địch suy yếu.


Nắm vững tư tưởng trên, Đảng đã đề ra và thực hiện một số chủ trương như “tiêu thổ kháng chiến” (trong kháng chiến chống Pháp) hay phá “ấp dân sinh”, tổ chức “cửa khẩu” ra vào căn cứ địa... (trong kháng chiến chống Mỹ). Những chủ trương đó đã gây cho đối phương nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện ý đồ “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.


Đi đôi với phát triển sản xuất, Đảng ta chủ trương từng bước xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến thực dân, thay vào đó bằng việc hình thành các cơ sở kinh tế dân chủ nhân dân với các mô hình tổ chức và cơ cấu chính sách ngày càng được hoàn thiện. Một trong những nội dung quan trọng được ưu tiên trong quá trình xóa bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, thực dân là vấn đề ruộng đất. Muốn hoàn thành căn bản nhiệm vụ của cách mạng dân chủ, xóa bỏ hoàn toàn chế độ bóc lột, cần phải giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân; trao cho họ quyền làm chủ cả về kinh tế lẫn chính trị; gắn kết họ với giai cấp công nhân. Thông qua các chủ trương giảm tô, giảm tức, chia lại công điền, tịch thu ruộng của địa chủ chia cho dân nghèo..., kết quả thực hiện chính sách ruộng đất trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) đã góp phần cổ vũ hậu phương hăng hái tham gia sản xuất phục vụ kháng chiến và kiến quốc; tiền tuyến hăng say thi đua “giết giặc lập công”.


Kháng chiến càng trường kỳ, càng phải quan tâm xây dựng và phát triển kinh tế bởi một nền kinh tế tự chủ, phát triển không những đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhất những nhu cầu về vật chất ngày càng lớn do yêu cầu phát triển của chiến tranh đặt ra, mà còn đáp ứng được yêu cầu trường kỳ kháng chiến. Hơn nữa, phát triển kinh tế sẽ góp phần bồi dưỡng sức dân, hun đúc tinh thần kiến quốc và kiên quyết kháng chiến của toàn dân. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, để nâng cao đời sống nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế, việc tích cực tăng gia sản xuất được triển khai song hành cùng với thực hành tiết kiệm. Trong tăng gia sản xuất thì mũi nhọn được xác định là nông nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dù khó khăn đến mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được. Nếu không làm được lúa, phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.20).


Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quân, dân Việt Nam đã xây dựng được một nền kinh tế kháng chiến Cơ bản đáp ứng được các nhu cầu của chiến tranh đặt ra, góp phần để quân và dân ta lần lượt làm phá sản các chiến lược chiến tranh của thực dân Pháp, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn. Đồng thời, nền kinh tế đó cũng đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng nền móng của một nền kinh tế quốc dân theo con đường chủ nghĩa xã hội về sau này. Nền kinh tế kháng chiến mà quân, dân Việt Nam xây dựng là một thực thể thống nhất bao gồm kinh tế cá thể, kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng.


Với một đất nước thuần nông, lực lượng sản xuất chủ yếu là nông dân thì kinh tế hộ nông dân được coi là hạt nhân của kinh tế cá thể, bên cạnh đó là kinh tế của tiểu thương, tiểu thủ công... Để góp phần tạo ra nhiều hàng hóa phục vụ kháng chiến và dân sinh, Đảng chủ trương tạo điều kiện cho nông dân sản xuất, khuyến khích tầng lớp tiểu thương, tiểu thủ công bỏ vốn kinh doanh, tổ chức nhà xưởng sản xuất...


Chiến tranh càng leo thang, đòi hỏi về sức người, sức của chi viện chp tiền tuyến ngày càng lớn. Điều này dẫn sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực ở hậu phương, đặc biệt là trong kháng chiến chống Mỹ. Một nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thế đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến, bởi vậy yêu cầu tất yếu đặt ra là cần phải có sự liên kết trong sản xuất. Trong bối cảnh đó, Đảng ta chủ trương khuyên khích phát triển mô hình kinh tế tập thể. Mô hình đó không chỉ áp dụng trong nông nghiệp, mà ngay cả trong tiểu thủ công nghiệp. Khác với mô hình kinh tế ở một số nước, kinh tế tập thể ở Việt Nam hình thành trên cơ sở tự nguyện và bắt đầu từ hình thức thấp (như tổ vần công, đổi công) phát triển lên hình thức cao (hợp tác xã).


Dân tộc Việt Nam tiến hành kháng chiến trong điều kiện một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, nền công nghiệp nặng còn hết sức thô sơ và què quặt; trong khi đó, kẻ thù lại có tiềm lực quân sự, kinh tế mạnh gấp nhiều lần. Chính vì vậy mà, trong quá trình xây dựng nền kinh tế kháng chiến, công nghiệp nặng (trong đó có công nghiệp quốc phòng) được đặc biệt coi trọng. Một ngành có vị trí quan trọng như công nghiệp quốc phòng không xây dựng trên cơ sở của kinh tế cá thể hay kinh tế tập thể mà phải dựa vào kinh tế nhà nước - một thành phần kinh tế chủ đạo giữ vai trò đòn bẩy trong nền kinh tế của đất nước.

 4 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:59:41 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
2. Xây dựng nền kinh tế mới trong chiến tranh cách mạng

Xây dựng, phát triển nền kinh tế mới, từng bước cải thiện đời sống nhân dân là một trong những nội dung cốt lõi trong tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp với một nền kinh tế kiệt quệ. Nhằm ổn định nhanh chóng đời sống nhân dân, tạo dựng những cơ sở đầu tiên cho một nền kinh tế độc lập tự chủ và đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc tiến tới thắng lợi, một phong trào toàn dân “diệt giặc đói”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất đã được phát động trong cả nước. Để phong trào nhanh chóng đi vào cuộc sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp kêu gọi mọi người dân, từ nông thôn đến thành thị “tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa”, coi “tấc đất là tấc vàng”. Người còn đề nghị “10 ngày nhịn ăn một bữa và kêu gọi đồng bào nhường cơm, sẻ áo”.


Khắc phục tình trạng ngân khố quốc gia trống rỗng, góp phần giải quyết những khó khăn về tài chính, từng bước thoát khỏi sự lệ thuộc vào tư bản tài chính, ngân hàng nước ngoài, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương xây dựng Quỹ độc lập và phát động Tuần lễ vàng, phát hành đồng tiền Việt Nam... Tất cả chủ trương, biện pháp nêu trên đều xuất phát từ sự thấu triệt tư tưởng xây dựng một nền kinh tế tự chủ trong quá trình kháng chiến, kiến quốc.


Tư tưởng đó chỉ rõ, song song với việc thủ tiêu các đặc quyền, đặc lợi của tư bản Pháp và tư sản mại bản Mỹ là từng bước xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ; nền kinh tế đó phải thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào nền kinh tế của chủ nghĩa thực dân; phải đáp ứng được các yêu cầu của cuộc kháng chiến trong mọi điều kiện, hoàn cảnh cả khi bị bao vây, phong tỏa (trong kháng chiến chống Pháp) hay khi bị gián đoạn, giảm sút về viện trợ quốc tế do sự bất đồng giữa các nước anh em (trong kháng chiến chống Mỹ).


Việt Nam là một nước lấy sản xuất nông nghiệp làm chính, vì vậy đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp được xác định là mũi nhọn, ưu tiên hàng đầu trong xây dựng nền kinh tế kháng chiến. Để khuyến khích sản xuất phát triển, Đảng, Chính phủ ta đã kịp thời đề ra những chủ trương phù hợp nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất cho dân; ban hành nhiều chính sách động viên, khuyến khích nhân dân tích cực lao động, sản xuất, thực hành tiết kiệm. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho lực lượng vũ trang và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Dù khó khăn đến mấy, vấn đề lương thực cũng phải giải quyết cho được. Nếu không làm được lúa, phải chuyển nhanh, thiếu cơm có khoai, thiếu khoai có sắn”1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.20). Nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa kháng chiến và kiến quốc, Người yêu cầu: “Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và du kích không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt, nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thế tách rời được với chính trị và kinh tế. Nếu chỉ biết đánh mà không nghĩ đến kinh tế thì khi hết gạo sẽ không đánh được”2 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.523).


Cùng với nỗ lực đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, là chính sách chú trọng quan tâm đến phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về tiêu dùng thiết yếu, về cái ăn, cái mặc cho người dân và cho bộ đội.

Quán triệt sâu sắc tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, trong suốt 30 năm chiến tranh, cùng với việc tập trung lãnh đạo, tổ chức toàn dân kháng chiến, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn giành sự quan tâm đặc biệt cho xây dựng, phát triển kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân. Một mặt, những hành động đó cho thấy tính ưu việt của chính quyền mới. Mặt khác, sự quan tâm ấy cũng làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa xây dựng và kháng chiến, giữa Nhà nước và nhân dân, cũng như bản chất cuộc chiến tranh vệ quốc với hình thức chiến tranh nhân dân. Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, chỉ trong một thời gian ngắn, Đảng vừa lãnh đạo nhân dân Nam Bộ kháng chiến, vừa nhanh chóng đưa nền kinh tế nước nhà ra khỏi bờ vực thẳm, chặn đứng được nạn đói, từng bước đầy lùi nạn dốt, khôi phục được một số ngành kinh tế, tạo đà để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Để khắc phục nạn đói, Chính phủ ta đã phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất, coi đó là “những việc cần làm ngay”. Đảng và Chính phủ đã kêu gọi toàn dân “tấc đất tấc vàng, tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa...”. Đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước, phát động phong trào nhường cơm sẻ áo cho nhau. Khắc phục những khó khăn về tài chính, Chính phủ đã ra sắc lệnh xây dựng Quỹ độc lập và phát động Tuần lễ vàng nhằm thu hút sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lỏp tư sản dân tộc có tinh thần yêu nước. Chính phủ cũng đã cho phát hành đồng tiền Việt Nam, khuyên khích sự đóng góp về kinh tế tài chính của tầng lớp tư sản dân tộc.


Sau khi giải quyết cơ bản nạn đói, nhân dân Việt Nam bắt đầu tập trung vào xây dựng một nền kinh tế độc lập nhằm thoát dần khỏi sự lệ thuộc vào nền kinh tế của chủ nghĩa thực dân... Hàng loạt chủ trương, chính sách, biện pháp đã được Chính phủ ta đưa ra áp dụng như: chia lại ruộng đất, bảo đảm ai cũng có đất sản xuất; thực hiện giảm tô, giảm tức, khôi phục hệ thống thủy lợi; đưa tiến bộ kỹ thuật vào canh tác; tạo điều kiện cho nhân dân khai hoang, phục hóa; ban hành chính sách thuế nông nghiệp một cách hợp lý, hợp lòng dân...


Để thúc đẩy các hoạt động kháng chiến và kiến quốc, nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Pháp nhanh chóng vượt qua thời kỳ cầm cự khó khăn, năm 1948, Chính phủ ta đã phát động một phong trào thi đua ái quốc sâu rộng trong cả nước. Phong trào này đã có sức thu hút và lan tỏa mạnh mẽ: Tiền tuyến thi đua giết giặc lập công, diệt ác, phá tề; hậu phương thi đua sản xuất và ra sức bảo vệ sản xuất. Những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chính phủ đã tiến hành cải cách ruộng đất. Tuy có những vấp váp, khuyết điểm trong quá trình thực hiện, song cải cách ruộng đất cũng đã tạo nên một luồng sinh khí mới, động viên manh mẽ tinh thần thi đua chiến đấu, lập công ở ngoài mặt trận và hăng say lao động, sản xuất ở hậu phương.

 5 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:58:44 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn. Đó là vấn đề mang tính quy luật của bất cứ một cuộc cách mạng nào. Trong bốỉ cảnh Việt Nam đang phải tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng dưới hình thức chiến tranh vệ quốc không cân sức chống lại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thì tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc - vừa chiến đấu vừa xây dựng chế độ mới đã phản ánh đúng quy luật tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đó là: xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế độ mới và ngược lại bảo vệ chế độ mới phải dựa trên cơ sở xây dựng và củng cố chế độ mới. Tư tưởng này vừa xuất phát từ các yêu cầu của cách mạng và chiến tranh cách mạng, vừa là sự kế thừa, phát triển tư tưởng “dựng nước phải đi đôi với giữ nước” trong lịch sử dân tộc.


Tư tưởng đó cho thấy, muốn bảo vệ được thành quả cách mạng, bảo vệ được nền độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thu giang sơn về một mối, thì phải tiến hành kháng chiến để làm thất bại từng bước, tiến tới làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc và tay sai. Mụốn tiến hành kháng chiến thắng lợi, cần phải đẩy mạnh kiến quốc. Chỉ có đẩy mạnh kiến quốc mới nhanh chóng xóa bỏ được những tàn tích của chế độ phong kiến và thực dân, củng cố chính quyền nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, huy động được sức mạnh tổng hợp... đưa sự nghiệp kháng chiến tiến tới thắng lợi. Nói cách khác, vừa kháng chiến vừa kiến quốc là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất: cách mạng Việt Nam.


Nhìn lại lịch sử, có thể thấy, tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc - vừa chiến đấu, vừa xây dựng chế độ mới được hình thành từ rất sớm. Ngay sau khi Chính phủ liên hiệp ra mắt quốc dân, trong phiên họp đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: công việc khẩn cấp bây giờ là “kháng chiến và kiến quốc”. Tư tưởng đó tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh trong quá trình phát triển của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, gắn liền với tình hình quốc tế trong từng giai đoạn. Những hình thức khác nhau của tư tưởng đó trong hiện thực càng cho thấy đây là một tư tưởng có tính chiến lược, chính xác và đúng đắn của Đảng và nhân dân.


Chiến tranh càng phát triển, từ chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy thì nhiệm vụ kiến quốc càng trở nên hết sức quan trọng. Chính vì vậy mà quá trình đẩy mạnh kháng chiến cũng tức là quá trình thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng trong kháng chiến. Qua đó cách mạng có khả năng khai thác triệt để mọi tiềm lực của đất nước, phát huy đến mức cao nhất vai trò của căn cứ địa, hậu phương tại chỗ cũng như hậu phương lớn của cả nước để duy trì và đẩy mạnh kháng chiến tiến tới thắng lợi hoàn toàn.


Vừa đẩy mạnh kháng chiến, vừa thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Song song với đánh đuổi thực dân, đế quốc, lật đổ chế độ bù nhìn tay sai, thực hiện mục tiêu của cách mạng dân tộc, Đảng, Chính phủ Việt Nam cũng đồng thời thực hiện từng bước những nhiệm vụ của cách mạng dân chủ như: giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất, xây dựng chính quyền mới, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, hợp tác hóa nông nghiệp, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động...


Cuộc chiến tranh cách mạng (1945-1975) do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, dựa vào Nhà nước dân chủ nhân dân chính là sự tiếp tục của cách mạng bằng chiến tranh và trong chiến tranh. Mục tiêu của cuộc chiến tranh này là nhằm bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám 1945, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhằm đạt được những mục tiêu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Để hoàn thành những mục tiêu đó, trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định vấn đề độc lập dân tộc phải đi liền với chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến; giữa nhiệm vụ kháng chiến và nhiệm vụ kiến quốc; giữa quan hệ cách mạng Việt Nam với cách mạng ba nước Đông Dương cũng như với cách mạng thế giới... Tư tưởng đó là nền tảng để trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng vạch ra các chiến lược và sách lược phù hợp, đưa công cuộc kháng chiến giành thắng lợi từng bước, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.


Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc là tư tưởng xuyên suốt trong 30 năm chiến tranh giải phóng. Kháng chiến để thực hiện nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ, giữ vững nền độc lập tự do. Kiến quốc nhằm tạo dựng nền tảng để xây dựng hậu phương trong kháng chiến; đồng thời chuẩn bị cơ sở cho tái thiết đất nước sau chiến tranh. Triển khai thực hiện thắng lợi tư tưởng vừa kháng chiến, vừa kiến quốc - vừa chiến đấu, vừa xây dựng là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược.

 6 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:58:08 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Chương IV
VỪA KHÁNG CHIẾN, VỪA KIÊN QUỐC,
XÂY DỰNG CĂN CỨ ĐỊA - HẬU PHƯƠNG
VÀ NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, TOÀN DIỆN


I- VỪA KHÁNG CHIẾN, VỪA KIẾN QUỐC - VỪA CHIẾN ĐẤU, VỪA XÂY DỰNG

1. Mối quan hệ giữa “kháng chiến” và “kiến quốc”

Tư tưởng quân sự Việt Nam không tồn tại dưới dạng thức của những học thuyết chiến tranh thuần túy. Nghệ thuật quân sự Việt Nam luôn được đặt trong những mục tiêu quốc gia - dân tộc cụ thể, nằm trong một tổng thể chính trị nhất định.


Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam thường xuyên phải tiến hành các cuộc chiến tranh vệ quốc. Những cuộc chiến tranh vệ quốc đã trở thành một phần đời sống của dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa, cô đọng thành truyền thống quân sự - vừa giữ nước, vừa dựng nước. Trong thời kỳ 1945-1975, truyền thống ấy được thế hiện ở chủ trương vừa kháng chiến, vừa kiến quốc của Đảng.


Ngay từ những ngày đầu kháng chiến, tư tưởng “kháng chiến, kiến quốc”, vừa chiến đấu vừa xây dựng đồng nghĩa với việc vừa đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, vừa động viên toàn dân tích cực củng cố, bảo vệ chính qụyền, xây dựng chế độ mới ở miền Bắc, trong đó cần thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách nhất lúc bấy giờ như: cứu đói, chống nạn mù chữ, tổng tuyển cử, hợp hiến chính quyền do dân làm chủ; giáo dục phẩm chất con người Việt Nam mới; xóa bỏ những tàn dư của chế độ phong kiến; tuyên bô tự do tín ngưỡng và lương - giáo đoàn kết. Những nội dung cốt lõi nêu trên đã được cụ thế hoá trong Chương trình 10 điểm do Quốc dân Đại hội Tân Trào thông qua ngày 15-8-1945.


Khác với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và các cuộc khởi nghĩa trong lịch sử dân tộc trước đó, càng khác xa các cuộc chiến tranh trên thế giới, cuộc kháng chiến 30 năm mà nhân dân Việt Nam tiến hành (1945-1975) thực chất là cuộc chiến tranh cách mạng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng bằng chiến tranh và trong chiến tranh; vừa chiến đấu, vừa phục vụ kháng chiến, vừa đặt cơ sở để xây dựng đất nước về lâu dài. Quá trình vừa kháng chiến, vừa kiến quốc là “kháng chiến đuổi Tây giữ nưâc, kiến quốc là phát triển chế độ dân chủ mới ở Việt Nam về mọi mặt”1 (Văn kiện quân sự của Đảng 1945-1950, Sđd, t.3, tr.316); quá trình kết hợp kiến quốc trên cả nước với kháng chiến cục bộ và kết hợp kháng chiến với kiến quốc trên phạm vi cả nước.


Trong quá trình kháng chiến và kiên quốc, dẫu có những bước thăng trầm, thậm chí cả những vấp váp, nhưng tinh thần nhất quán trong tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc được biểu hiện ở sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo. Đường lối đó là sự kết hợp hữu cơ giữa cách mạng và chiến tranh; chiến lược cách mạng và chiến lược chiến tranh; giữa phương pháp cách mạng và phương pháp tiến hành chiến tranh. Đường lối đó là sự tổng hòa của các quy luật cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và quy luật chiến tranh cách mạng.


Trong chiến tranh cách mạng, đấu tranh vũ trang luôn giữ vai trò quyết định, song nó không thể tách rời với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. Sức mạnh vật chất và tinh thần để giành thắng lợi trong chiến tranh cách mạng Việt Nam chỉ có thể được tạo ra bởi sự tham gia của toàn dân, trên tất cả các mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế và văn hóa tư tưởng. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng mỗi người dân Việt Nam bất kỳ già trẻ, trai gái, giàu nghèo, lớn nhỏ đều phải trở thành một chiến sĩ đấu tranh trên các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa...


Tư tưởng tự lực tự cường nằm trong tổng thể vừa kháng chiến vừa kiến quốc chính là biểu hiện bản chất của cuộc chiến tranh vệ quốc chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng vừa kháng chiến vừa kiến quốc xác định phải dựa vào sức minh là chính. Sự nghiệp giải phóng dân tộc nằm trong tay của dân tộc; có tự lập mới có độc lập, có tự cường mới có tự do; một nước không tự cố gắng mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ, thì không thể giành được độc lập. Ngay từ khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng ta đã xác định “đem sức ta tự giải phóng cho ta”, dựa vào sức mình là chính nhằm chủ động đối phó với mọi tình huống của cuộc chiến. Không chỉ trong bối cảnh phải đơn thương độc mã chiến đấu trong vòng vây thời kỳ đầu kháng chiến mà ngay cả khi sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã được “phá vây” và nhận được sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta vẫn đề cao tính độc lập trong hoạch định đường lối, chủ trương. Tinh thần tự lực cánh sinh, tự chủ được biểu hiện rõ nét trong quá trình điều hành công cuộc kháng chiến và kiến quốc.


Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vừa là biểu tượng cho dân tộc Việt Nam, vừa là biểu tượng cho xu hướng tiến bộ ờủa nhân loại - thế giới, đồng thời đại diện cho cuộc đôi đầu giữa những lực lượng tiến bộ với những xu hướng thủ cựu đang khởi phát từ “trào lưu thực dân” của thế giới tư bản. Do đó, tư tưởng kháng chiến dựa vào sức mình là chính đòi hỏi phải biết huy động tối đa tiềm lực của đất nước, khoan thư sức dân và động viên toàn dân, nhưng đồng thời cũng phải biết tận dụng mọi cơ hội, mọi sự giúp đỡ từ bên ngoài bằng chiến lược đoàn kết quốc tế đúng đắn, mà trước hết là từ liên minh chiến đấu của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia và từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Trong quá trình kháng chiến và kiến quốc, Đảng ta chủ trương đề cao và phát huy tối đa yếu tố nội lực, lấy nội lực làm cơ sở để sử dụng có hiệu quả các nhân tố ngoại lực. Nội lực và ngoại lực có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó yếu tố nội lực đóng vai trò quyết định. Thế và lực mạnh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam có sức lan tỏa và phát triển thuận lợi thì Việt Nam sẽ càng tranh thủ được nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ của quốc tế.

 7 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:51:34 am 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
Do việc chiếu tại các rạp chiếu bóng ở Côn Minh những cuốn phim về cuộc diễu binh ngày 14 tháng 7 ở Paris đã gây ấn tượng sâu sắc đến những người Trung Hoa và người An-nam, cho nên những phần tử vận động chủ nghĩa dân tộc đã quyết định chiếm đoạt những cuốn phim này. Dĩ nhiên tôi được báo trước và tôi đã giữ được những cuổn phim đó bằng cách giao cho Phái đoàn 5 phải bảo vệ chu đáo. Liền sau đó, tôi yêu cầu có thểm nhiều cuốn phim mới cùng loại.


Cũng trong thời kỳ này, cơ quan tình báo OSS của Mỹ ở Côn Minh chuyển đến chúng tôi một thông điệp nhờ đưa tới Phái đoàn 5. Thông điệp này được gửi đi từ đại bản doanh Việt Nam đặt tại một nơi nào đó trong vùng thượng du Tuyên Quang, thông báo cho Chính phủ lâm thời cộng hoà Pháp của những điểm chủ chốt mà "Mặt trận Việt Minh" hi vọng sẽ được ghi thêm vào qui chế tương lai của Đông Dương thuộc Pháp.


Dưới đây là nội dung bản thông điệp:

"... Mặt trận Việt Minh chúng tôi yêu cầu chính phủ Pháp cho công bố và xem xét trong chính sách tương lai của Pháp ở Đông Dương như sau:

1- Tiến hành tổng tuyển cử để bầu ra một nghị viện nắm quyền ở xứ này. Cho tới khi nền độc lập được ban bố, chính quyền Đông Dương có một thống đốc Pháp đứng đầu với danh nghĩa là chủ tịch. Chủ tịch này chọn ra một nội các hoặc một nhóm tư vấn được nghị viện chấp nhận. Những quyền lực cụ thể của tất cả những chức trách này có thể ấn định sau.

2- Nền độc lập cần được ban hành trong thời điểm sớm nhất là năm năm, muộn nhất là mười năm.

3- Các tài nguyên thiên nhiên phải được trả lại cho người dân ở đây sau khi đã đền bù thoả đáng cho người chiếm hữu trước. Nước Pháp sẽ có phần trong các nhượng bộ về kinh tế.

4- Tất cả những quyền tự do mà Liên Hợp Quốc đã công bố phải được trao cho ngườiỉ Đông Dương.

5- Việc buôn bán thuốc phiện phải cấm triệt để.

Chúng tôi hi vọng những điểu khoản này sẽ được chính phủ Pháp chấp nhận".


Văn bản này được viết bằng tiếng Anh, và đã được các nhà chức trách Pháp tại Côn Minh (thanh tra thuộc địa Raymond, trưởng phái đoàn nước Pháp hải ngoại đặt trụ sở tại Calcutta, phó là Léon Pignon, tướng Allessandri và tôi) nghiên cứu.


Bản trả lời của Pháp, cũng viết bằng tiếng Anh được chuyển cho các cơ quan của Mỹ. Những người Mỹ có trách nhiệm chuyển theo con đường vẫn thường sử dụng để được đến tay Việt Minh. Bản trả lời không "đóng", nhưng tất nhiên vẫn phải theo những quyết định của Mẫu quốc.


Trong thời gian này cũng có thêm nhiều dự định nữa để tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Việt Minh. Ngày 2 tháng 7 năm 1945, tiểu đoàn trưởng Revol, trưởng nhóm "Picardie" đặt trụ sở tại Trịnh Tây nhân dịp tới Hà Lĩnh tiếp xúc với các nhân viên trong nhóm công tác, đã gặp người đứng đầu Việt Minh phụ trách vùng Cao Bằng - Sóc Giang.


Sau đó, Revol đã tới Côn Minh báo cáo với tôi về cuộc gặp này. Theo Revol, cuộc tiếp xúc đã gây ấn tượng rất tốt, ông nhận xét có thể bàn với Việt Minh phối hợp hoạt động chống quân đội Nhật Bản chiếm đóng Đông Dương, ông đã đề nghị Việt Minh giúp đỡ để đưa quân đội Pháp xâm nhập về phía châu thổ. Hơn nữa, ông còn đề cập với những người đối thoại ý tưởng về một cuộc gặp tại Côn Minh giữa người đứng đầu Việt Minh và trưởng phái đoàn quân sự Pháp. Các đại biểu Việt Minh, viện lý do cần phải chuyển yêu cầu tới cấp trên tại Hà Nội, đề nghị hai tháng nữa sẽ trả lời. Bù lại, Việt Minh đòi chúng tôi cung cấp vũ khí và các huấn luyện viên nước Pháp tới giúp đỡ họ cùng tiếp tục các hoạt động chống sự chiếm đóng của Nhật Bản (ngày 16 tháng 7, một phái đoàn cán bộ Pháp - Mỹ gồm có trung tá Montfort, các trung sĩ Logos và Phác cùng ba người Mỹ trong đó có thiếu tá Thomas, đã nhảy dù xuống gần nơi làm việc của ban lãnh đạo Việt Minh)1 (Theo lời kể của thiếu tá tình báo Mỹ trong cuốn hồi ký nhan đề "Tại sao, Việt Nam?", ngay khi vừa nhảy dù xuống xã Kim Lũng, trung uý Pháp Montfort đóng giả làm một sĩ quan Mỹ đã bị Việt Minh phát hiện và sau đó đã buộc phải quay trở lại Côn Minh. Người phát hiện ra Montfort là một du kích Việt Minh đã nhận ra viên sĩ quan giả danh Mỹ này chính là một đồn trưởng biên phòng Pháp đã từng làm quan cai trị ở Cao Bằng. Cụ Hồ Chí Minh cũng nhận thấy viên sĩ quan tự xưng là người Mỹ này lại nói tiếng Anh rất kém và nói theo âm Pháp - ND).


Một dự định nữa bắt đầu vào hồi tháng 7, do sáng kiến của một người Mỹ tên là Gordon, từng làm việc trong một hãng kinh doanh dầu mỏ quan trọng của Mỹ tại Đông Dương hồi trước. Với sự khôn khéo, nhờ những mối quan hệ của nhiều người bạn, Gordon đã thiết lập được một mạng lưới thu thập tin tức tình báo, cắm chân vững chắc và từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 đã chống lại được những sự truy lùng của Nhật Bản tốt hơn tất cả các nhóm khác. Nhờ vậy Gordon đã duy trì được một số cơ sở trong nội địa Đông Dương và bắt liên lạc được với Việt Minh. Tuy nhiên, những liên lạc của mạng lưới Gordon với các mạng lưới của Pháp đã bị vẩn đục do việc Gordon từ chối cúi mình phục tùng cơ quan tập hợp các cơ sở tình báo bí mật và muốn duy trì tính hoạt động độc lập của mình. Do vậy, những quan hệ của Gordon với những người tiền nhiệm của tôi đã bị thương tổn.


Đứng trước sự phát triển của tình hình thời cuộc tôi quyết định nối lại mối quan hệ với Gordon, và Gordon đã thoả thuận thông báo cho tôi biết những tin tức tình báo cùng một lúc với việc báo cáo những thông tin này với các cơ quan tình báo của Mỹ mà anh đang làm việc. Tôi chỉ còn biết lấy tư cách cá nhân nhiệt liệt khen ngợi sự trung thực của anh.


Chính trong những điều kiện đó, Gordon nhận đứng ra làm trung gian tổ chức cuộc gặp giữa tôi và lãnh tụ Việt Minh Hồ Chí Minh, cũng là người tôi cần gặp. Hình như lúc đó Hồ Chí Minh cũng đã nhận lời tới Côn Minh để gặp tôi với điều kiện có một nhân vật trung lập cùng tham dự những cuộc nói chuyện.


Tôi cũng đã dự tính, trong trường hợp người đứng đầu Việt Minh không thể tới Vân Nam được thì tôi sẽ tự mình đi vào lãnh thổ Bắc Kỳ gặp ông.

Những sự kiện tiếp theo, nhất là những trận mưa lũ ngăn mọi hoạt động của máy bay trong vùng đã cản trở việc thực hiện kế hoạch này.

Sau đó, tôi được các sĩ quan Đồng minh hồi đó làm việc bên cạnh lãnh đạo Việt Minh cho biết "Mặt trận Việt Minh" cũng đã rất muốn gặp một đại diện chính phủ Pháp và đã cho chuẩn bị lá cờ ba mầu và những biểu ngữ chào mừng đại diện của nước Pháp1 (Sainteny hoàn toàn suy diễn. Các tài liệu của Mỹ và văn kiện của Việt Nam đều không nói đến những trường hợp này - ND).


Hình như hồi đó có lẽ những nhà lãnh đạo Việt Minh cũng muốn tiến vào Hà Nội cùng với đại diện Pháp, là người được chính phủ lâm thời cộng hoà Pháp giao trách nhiệm giành lại quyền sở hữu thủ đô xứ Bắc Kỳ sau khi quân đội Nhật Bản đầu hàng2 (Sainteny hoàn toàn suy diễn. Các tài liệu của Mỹ và văn kiện của Việt Nam đều không nói đến những trường hợp này - ND).

 8 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 07:49:45 am 
Tác giả nhinrathegioi - Bài mới nhất gửi bởi nhinrathegioi
V
CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN
VỚI NHỮNG NGƯỜI THEO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC


Trong thời gian vài tuần trước khi tôi đi Paris, tôi đã nhiều lần tiếp một trung uý người An-nam do một sĩ quan cấp cao là thiếu tá Carbonnel giới thiệu đến gặp tôi1 (Trong hệ thống cấp bậc của quân đội Pháp, từ thiếu tá trở lên được xếp vào hàng sĩ quan cấp cao - ND). Viên trung uý này đặc biệt hiểu rõ những vấn đề chính trị của Đông Dương và có những nhận xét mà tôi rất tin cậy. Đó là trung uý Phác trong đội quân Bắc Kỳ rút sang Trung Quốc cùng những đơn vị tập hợp chung quanh ban tham mưu của tướng Allessandri.


Từ khi tới thủ phủ tỉnh Vân Nam, Phác đã có quan hệ với vài người Đông Dương theo chủ nghĩa dân tộc. Anh cho tôi biết tâm trạng đồng bào anh và những sự phát triển trong tư tưởng độc lập của họ. Trên cơ sở đó, một hôm anh đã đề nghị tôi gặp một trong những nhà lãnh đạo chủ yếu của phong trào cách mạng đang có mặt tại Côn Minh, và có vẻ như người này cũng đang muốn có một cuộc nói chuyện với tôi. Trước khi tiến hành chuyến đi ngắn ngày tại Pháp, tôi đã thoả thuận với đề nghị trên và để cho Phác toàn quyền tổ chức cuộc gặp, mà tôi cũng không cần quan tâm nhiều lắm, vì tôi dự kiến rằng cuộc hẹn này sẽ khơi mào cho những cuộc thương thuyết kéo dài vô tận. Tôi cũng cho rằng rất ít khả năng dự án này sẽ đạt được kết quả.


Tuy nhiên, sau khi tôi từ Paris về Côn Minh được nhiều ngày, một buổi tối khuya sau khi mới ăn tối tại ban tham mưu Mỹ trở về, tôi được báo Phác đã đợi tôi được ít lâu. Viên sĩ quan An-nam này cho biết, nếu tôi muốn, cuộc gặp đã dự kiến có thể tiến hành ngay trong đêm nay. Tôi nhận lời ngay và vội choàng chiếc áo khoác bên ngoài để che giấu bộ quân phục bên trong rồi cùng đi với Phác tới nơi hẹn vừa bí mật vừa bất ngờ. Một sĩ quan làm nhiệm vụ bảo vệ năn nỉ xin đi cùng. Ba chúng tôi cùng nhảy vào trong chiếc xe Jeep đi qua những đường phố từ thời Trung cổ ở Côn Minh, tôi lợi dụng đêm khuya đem lại sự vắng vẻ cho khu phố này để phóng xe trên những con đường lát đá càng nhanh chừng nào càng tốt chừng ấy.


Cuối cùng, chúng tôi tới một phố nhỏ và hẹp, dừng xe trước một quán ăn kín đáo đã vắng khách. Ở tầng một chỉ có một người đang ngồi ở bàn đợi tôi. Đây là một mẫu người thật sự tiêu biểu cho giới trí thức An-nam, một vẻ rắn rỏi hiếm có trong tầng lớp trí thức Đông Dương. Chỉ có tôi với người đối thoại, bởi vì chúng tôi đã có giao ước với nhau là không bên nào được mang thêm người. Ngay đến Phác, sau khi giới thiệu đôi bên, cũng rút lui luôn. Còn viên sĩ quan Pháp cùng đi thì lặng lẽ chờ tôi ở ngoài xe Jeep.


Như vậy tôi đã gặp Nguyễn Tường Tam, một trong những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng, một đảng chính trị dân tộc cực đoan. Trong chính phủ liên hợp ngày 2 tháng 3 năm 1946, Tam được giữ chức bộ trưởng ngoại giao và sau đó vài ngày đã chống lại những thoả thuận Pháp - Việt. Tam cũng là người mà ngày 24 tháng 3 năm 1946 tôi đã giới thiệu với đô đốc d’ Argenlieu tại cuộc gặp trên vịnh Hạ Long là một thành viên của chính phủ Cộng hoà Việt Nam.


Sau mấy câu vòng vèo cổ điển và mấy lời ca ngợi xã giao, Nguyễn Tường Tam nói với tôi, ông ta rất vui lòng được gặp một người của "Nước Pháp Mới". Đây là câu nói với tính chất công thức mà lần đầu tôi được nghe thấy và sau đó sẽ nhiều lần được nghe thấy nữa.


Tiếp đó, người đối thoại hỏi tôi, liệu tôi có biết đến sự phát triển đáng kể của tư tưởng độc lập trong tâm trí nhân dân An-nam từ ngày 9 tháng 3 năm 1945 hay không. Tam sợ rằng ở Pháp người ta không đánh giá đủ quyết tâm sắt đá của đồng bào Tam muốn giải phóng khỏi sự đỡ đầu của Pháp. Ông giải thích thẳng thừng bằng lời nói rõ ràng đáng ngạc nhiên đối với một người xứ Viễn Đông, rằng "thời cơ đang rất tốt đẹp" và những người bạn theo chủ nghĩa dân tộc của ông, kể cả ông nữa, quyết tâm không bỏ mất cơ hội. Họ đòi người Pháp phải xem lại tận gốc địa vị của mình tại Đông Dương, tuy nhiên cũng chấp nhận để Pháp giữ lại một vị trí nào đó. Tam nhấn mạnh, trong bất kỳ trường hợp nào, họ cũng đã quyết tâm tận dụng tình thế tuyệt đối bất ngờ quá sức mong đợi này. Tôi trả lời, tôi vừa móới từ Paris trở lại đây. Về phần tôi, tôi có thể khẳng định rằng, trước hết chính phủ Pháp không hề mảy may có ý rời bỏ các quyền chính đáng của Pháp tại Đông Dương. Tuy nhiên nước Pháp vẫn trung thành với lập trường trong bản tuyên bố Brazzaville1 (Tức là bản tuyên bố ngày 24.3.1945 của De Gaulle cho Đông Dương được tự trị trong một liên bang gồm 5 xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Campuchia, đứng đầu là một Thượng sứ Pháp) và Pháp cũng hiểu rằng cần áp dụng một vài sự thay đổi trong qui chế của những thuộc địa phát triển nhất, nhưng không chờ đợi những cải cách này bị buộc phải tiến hành bằng bạo lực. Ngược lại chính phủ Pháp sẵn sàng đối thoại một cách hợp lý với những người Đông Dương được cử làm đại diện cho đất nước mình.


Đối với tôi, mối quan tâm duy nhất là tránh điều gì không thể cứu vãn được. Có nghĩa là trong khi thực hiện qui chế mới này, người Pháp và người An-nam cần phải thoả thuận không đổ máu. Nhất định phải có cơ sở thoả hiệp, phải tìm thấy cơ sở đó.


Nguyễn Tường Tam trình bày với tôi nhận xét của mình là mọi người đang nóng lòng muốn độc lập, nhất là ở Bắc Kỳ. Tam nói thẳng với tôi mà cũng không cần che đậy là ông cũng sợ sẽ xảy ra điều tệ hại nhất. Một vài người trong đó có Tam, rất muốn đất nước độc lập, nhưng không muốn nền độc lập này xày dựng trên cơ sở những đống tàn phá đổ nát từ cuộc nổi dậy đẫm máu. Chính vì những lẽ đó mà ông muốn gặp một đại diện của Pháp ở Trung Quốc. Em trai ông, ở Hà Nội, là một trong những lãnh tụ của đảng mà ông tham gia. Tam đề nghị chuyển cho tôi một bức thư mật mã làm dấu hiệu thiết lập những cuộc tiếp xúc giữa em ông với một người đại diện của nước Pháp ngay khi vị đại diện này vừa đặt chân tới Hà Nội, tương tự như những cuộc tiếp xúc giữa tôi với Tam ở đây. Tôi chấp nhận. Vài hôm sau, tôi đã có trong tay lá thư mà tôi hứa sẽ chuyển đến người Pháp đầu tiên đặt chân tới Hà Nội. Lúc đó, tôi chưa nghĩ rằng người Pháp đó lại chính là tôi.


Mãi tới đêm khuya chúng tôi mới chia tay nhau. Buổi nói chuyện kéo dài vì toàn đề cập đến những đại cương. Lúc chia tay, chúng tôi cũng tỏ ý mong sẽ gặp lại lần nữa nếu có điều kiện. Trên thực tế, tôi chỉ gặp lại Tam vào tháng 3 năm 1946, khi chính phủ liên hiệp thành lập và tôi là người ký Hiệp định Sơ bộ.


Đến cuối tháng 10 năm 1945 tôi mới gặp Hồ Chí Minh lần đầu tiên. Tướng Allessandri và ông Pignon đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên với ông Hồ vào ngày 28 tháng 9 năm 1945.


Không phải là thiếu chính xác khi nói rằng có nhiều ngươi vận động chủ nghĩa dân tộc An-nam hoạt động tại Côn Minh và trong tỉnh Vân Nam. Một số người trong bọn họ tiến hành các hoạt động lật đổ trong hàng ngũ các binh sĩ ngươi bản xứ thuộc đội quân Pháp từ Đông Dương rút sang Trung Quốc. Họ cũng đã đi tới chỗ phát động vài vụ bạo loạn. Còn số khác thì đang náu mình ở Côn Minh nhằm thiết lập những quan hệ với các nước Đồng minh, theo dõi thái độ hành động của Pháp, cố gắng trong bóng tối làm tất cả những gì có thể để chống lại việc Pháp quay trở lại Đông Dương.

 9 
 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2021, 06:54:44 am 
Tác giả vietkieu_cuuquocquan - Bài mới nhất gửi bởi vietkieu_cuuquocquan


Tối 18/9, Hội Tin học TP Hồ Chí Minh (HCA) cho biết, Hội cùng các đơn vị vừa đưa vào thử nghiệm ứng dụng "Tìm người thân - danh sách người mất vì COVID-19" tại TP Hồ Chí Minh.


Ứng dụng có chức năng tra cứu các thông tin cụ thể về bệnh nhân đang được điều trị và những người đã qua đời vì COVID-19 tại các cơ sở y tế. Người sử dụng có thể dùng các công cụ để tra cứu chính xác thông tin người thân vừa qua đời được an táng, hỏa táng.

Ông Phí Anh Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Tin học Thành phố (thành viên nhóm triển khai ứng dụng) cho biết, đây là chương trình xã hội thiện nguyện, có tính nhân văn nhằm góp phần chia sẻ nỗi đau của cộng đồng và của gia đình có người qua đời vì COVID-19. Với ứng dụng này, ngay tại nhà hay bất cứ nơi đâu, thân nhân có thể tra cứu và nắm bắt kịp thời thông tin của người bệnh - người đã mất vì COVID-19.

Ứng dụng này bảo đảm sự liên thông các dữ liệu của bệnh nhân COVID-19 từ lúc vào bệnh viện cho đến khi xuất viện. Bệnh nhân sẽ được xác định danh tính và dữ liệu được cập nhật chính xác thông qua mã QR. Từ đó, thân nhân có thể tra cứu thông tin về hiện trạng của người bệnh/người mất theo phân cấp từng cơ sở y tế, cơ sở an táng, quận/huyện, tỉnh/thành phố...

Đối với những người tử vong, dữ liệu sẽ được cập nhật liên tục cho đến khi tro cốt được giao tận tay cho gia đình. Ứng dụng cũng cho phép số hóa toàn bộ dữ liệu của nạn nhân đã mất. Đây cũng là công nghệ giúp cho các cán bộ, chiến sĩ Nhà tang lễ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh giảm tải khối lượng công việc thủ công hiện nay.

Trong thời gian đầu, ngoài thông tin được cập nhật tại Nhà Tang lễ thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, ứng dụng sẽ được triển khai đến các bệnh viện dã chiến, bệnh viện có điều trị bệnh nhân COVID-19 và các cơ sở y tế khác, cũng như chuyển giao cho các tỉnh, thành phố khác nếu có nhu cầu sử dụng.

Ứng dụng được thiết kế trên nhiều nền tảng web-app, mobile-app và được vận hành trên hệ điều hành iOS và Android tại trang https://benhnhancovid.info.

Theo Hội Tin học Thành phố, khi tìm kiếm, người dùng cần nhập đầy đủ, chính xác họ và tên, năm sinh người cần tìm. Hiện tại, ứng dụng chỉ cung cấp thông tin người đã mất, chưa cung cấp thông tin người đang điều trị tại các cơ sở y tế, bệnh viện.

Tiến Lực (TTXVN)


https://baotintuc.vn/khoa-hoc-doi-song/thi-diem-ung-dung-tim-nguoi-than-danh-sach-nguoi-mat-vi-covid19-20210918205918782.htm

 10 
 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2021, 09:27:58 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

Ganay không làm gì cả. Một nhân vật thật lạ. Suốt ngày ở một chỗ bàn bạc thì thầm với những người Việt Minh đặc biệt, những loại tình báo đỏ. Nhóm ấy có vẻ thỏa thuận với nhau. Rõ ràng ông đang thăm hỏi về người bạn trẻ của mình trong số tù binh.

Trời tối, tôi nói với Ganay: "Theo đúng lệnh của đại tướng de Lattre, chúng ta trở về Hà Nội". Nhưng ông ấy rất bình tĩnh, giọng run run trả lời: "Tôi ở lại". Trước những cán bộ chính trị làm như không nghe thấy, chúng tôi cãi nhau. "Ông ở trong hội Hồng thập tự Pháp chứ không phải Hồng thập tự Việt Minh - Bà đừng cố gặng. Tôi ở đây rất tốt và xin nhắc lại: tôi ở lại”.

Lúc ấy tôi thấy người ta đưa trong hang ra một chiếc giường rộng hai người nằm để vào trong căn nhà tranh. Trong lúc người phục vụ mắc màn, ông già Ganay xoa tay sung sướng như sẽ qua một đêm hạnh phúc.

Trời gần tối hẳn. Hai chiếc máy bay đến. Người ta ra hiệu cho họ đậu xuống. Thấy chỉ một mình tôi, phi công sửng sốt hỏi: "Ganay đâu? - Hỏng rồi, ông ấy không muốn về - Con vật!" Và không đầy một tiếng là thế giới khác. Thật tuyệt vời được ở Hà Nội, ở chỗ ông thưa đại tướng.

- Bà nghĩ ngày mai công việc có tiếp tục không? Hay hỏng rồi?

- Tôi không rõ, thưa đại tướng. Không phải đã thất bại hoàn toàn, cũng không phải thành công. Còn phải thử nữa. Ông cho phép tôi lại đi khi trời sáng.

Bà de Vendeuvre nói điều ấy rất đơn giản. Vì trước hết bà không muốn tỏ ra là một nữ anh hùng - chỉ làm phận sự. Bà biết không có gì bằng sự tiết độ ấy mới làm cho người ta trở thành anh hùng.

Bình minh, Lilia lại ở trong căn nhà tranh Việt. Ganay mặt đầy mẩn ngứa, càu nhàu: "Tôi ngủ không được tốt".

Hôm ấy, người Việt tỏ ra dễ chịu hơn. Công việc tiến triển tốt hơn, thong thả nhưng đều đặn. Cuối cùng gần năm mươi chuyến đi, lại; việc trao đổi hoàn thành ngày 13 tháng hai. Tất cả 46 người bị thương của Pháp được đổi với 48 thương binh Việt Minh. Hai chiếc Morane bổ sung mang tới 2968 bức thư và 150 hộp quà cho các tù binh người Việt còn giữ lại. Trong số những người nhận lại, đa số là người Ả-rập, những người đạo Hồi.

De Lattre không thoả mãn lắm. Bao nhiêu vất vả để đưa lại ít kết quả thế! Và để làm việc ấy ông có phương hại đến sự trong sạch, đến vinh quang của ông không?

Thời kỳ ấy de Lattre đầy suy tư. Ông đang ở lại để rút lợi nhuận về Vĩnh Yên. Mấy tuần sau đó chẳng được bao nhiêu. Bảo Đại vẫn không "bám" - còn tiếp tục phải làm. Với Việt Minh những tiếp xúc về chính trị không đưa lại gì. Đối với họ chủ yếu sẽ hoàn toàn là cuộc chiến.

Điều này cũng thất vọng. De Lattre chờ đợi mãi, hy vọng nếu họ không muốn "nói chuyện", ít nhất họ sẽ đánh nhau. Các sư đoàn của ông Giáp phải đến nhưng họ không đến. Khi nào thì họ xuất hiện, ở đâu và như thế nào? Chẳng ai biết. Dù sao cũng là một "sự việc" hoàn toàn mới, không rõ dữ kiện, chẳng phải như Vĩnh Yên, trong lúc này không một dấu hiệu nào. Vẫn còn trống không.

Vả lại Beaufre thất sủng chỉ là một nạn nhân làm nguội cơn thịnh nộ. Vua Jean biết rõ chính mình sai lầm. Châu Á quá lạ lẫm đối với ông. Ông không nhận rõ được nhịp điệu đặc biệt của cuộc chiến Việt; nói đúng ra không biết cuộc chiến ấy tiến triển ra sao. De Lattre lập luận theo lối quân sự chuyên nghiệp còn ông Giáp thực hiện cuộc chiến cộng sản, cuộc chiến tranh nhân dân, lâu dài và không bao giờ mạo hiểm. Không có lối tự cao như những con người của chiến tranh Châu Âu. Thay vì kiên trì trong thất bại, tổ chức lực lượng mạnh để giành giật thắng lợi, "giải pháp đúng đắn" là rút lui đúng lúc, khi cần thiết, để sau đó bắt đầu lại hoàn hảo hơn.

Khi quân chính quy đã tập trung hết về trại, ông Giáp bắt đầu "nghiên cứu", nêu lên những sai lầm, rút ra những "bài học" . Trong lúc de Lattre "chờ họ quay ngoắt lại". Ông Giáp, Tổng bộ Việt Minh, Bộ chỉ huy Quân đội nhân dân phân tích cuộc chiến Vĩnh Yên đến những chi tiết nhỏ nhất trong nhiều ngày. Tất cả những người "có trách nhiệm" tự phê bình, kiểm điểm gắt gao. Kết quả không phải là sự yếu đuối mà cảm giác tự nguyện được xây dựng, mỗi người tự xem lại mình, thấy rõ vì đã làm không đúng và phấn đấu vươn lên.

Người Pháp nắm được một tài liệu của quân Việt, có lẽ đúng và dù sao de Lattre cũng tin vào đó. Đấy là báo cáo tự kiểm điểm của bộ phận "chóp bu" mà người Việt nêu lên những câu hỏi: "Tại sao chúng ta không tiến hành đồng bộ việc phản công ngoài mặt trận với những hoạt động trong nội bộ địch? Tại sao không sử dụng lực lượng quần chúng cắt đứt những phương tiện giao thông của quân Pháp, nhất là các đường đi lại trong vùng châu thổ? Tại sao không phát động những trận đánh phụ ở phần còn lại trên đất Đông Dương, ở Nam Kỳ và nhất là ở Trung Kỳ? Như vậy sẽ cản trở được người Pháp tập trung quân và máy bay trước Hà Nội, sẽ không cho phép de Lattre điều đến những đội tăng cường quyết định. Tại sao trong quá trình phản công ở Vĩnh Yên và đường số 2, việc cung cấp cho mặt trận không đủ, gạo và đạn dược thiếu? Và tại sao chúng ta thiếu thận trọng đưa những trung đoàn ra dưới lưới lửa áp đảo của quân Pháp, trong những điều kiện họ có thể hoàn toàn phát huy được ưu thế về vũ khí? Trong tất cả những điều đó, vậy là đã có sự đánh giá thấp sức mạnh của Đội quân viễn chinh và đánh giá quá cao lực lượng Việt Minh. Tất cả phải làm lại. Phải tìm cách tránh né về chiến thuật: không chỉ "giáo dục lại". Quân đội nhân dân phải phát triển lên gấp hai lần, đông hơn, tăng quân số và vũ khí. Phải có thời gian dài, không thể "ra quân" trong bốn tháng mùa hè còn lại. Cũng phải giả vờ có những trận đánh lớn để giữ quân Pháp lại trong những vùng rìa châu thổ, ngăn cản họ cố tấn công vào rừng sẽ nguy hiểm trong lúc này. Và rồi vấn đề mấu chốt là gạo, phải qua thâm nhập vào châu thổ để cung cấp cho quân đội.

Như vậy, dần dần và khó nhọc, de Lattre có được một ý tưởng đỡ mơ hồ đối với quân Việt. Ông biết họ trở về căn cứ và chuẩn bị. Nhưng thế nào đây? Sau trận Vĩnh Yên, ông tự hỏi: "Làm gì?" De Lattre hỏi ý kiến riêng từng người và từng nhóm, tất cả cùng một lúc. Cuối cùng ông được góp ý quá nhiều nhưng không hay. Về người Việt cũng có nhiều "nguồn" đấy nhưng vẫn không sáng tỏ được. De Lattre khốn khổ! Hơn nữa trên lưng ông có Bảo Đại và các chính quyền Đông Dương, cả Đội quân viễn chinh cần "trang điểm tỉ mỉ", nước Pháp và cả thế giới phải tác động - không kể các nhà báo và vài chuyện nhỏ với bà de Lattre, bà de Vendeuvre và Bernard...

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM