Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Năm, 2022, 07:06:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:39:40 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
*


       Sau khi cùng Sùng Sử lên huyện học chính sách trở về, Giàng Seo Tính làm việc có phần hăng hái hơn trước nhiều. Đi đến đâu hắn cũng ca ngợi cụ Hồ và chính sách đại đoàn kết của chính phủ ta. Hắn còn nói đến việc phải bỏ bớt các tục lệ ma chay cưới xin nặng nề, phải bớt nấu rượu, bớt trồng thuốc phiện. Hắn thường lấy bản thân ra làm thí dụ :

       - Thằng Phăng Ky ác lắm, thâm độc lắm ! Nó xui dân ta trồng cây anh túc lấy nhựa nên tôi mới nghiện nặng thế này. Người thì gầy như cây sậy, bao nhiêu ruộng, trâu cũng chui vào rọc tẩu hết. Nghe lời khuyên dạy của Chính phủ, tôi sẽ bỏ thuốc dần. Tiện đây cũng nói để đồng bào ta rõ, để chúng ta đỡ khổ, Chính phủ sẽ yêu cầu mọi người giảm bớt việc trồng cây anh túc. Vì thế thuế đánh vào cây anh túc sẽ nặng lắm đấy !

       Nói đến việc cưới xin, Giàng Seo Tính lấy ngay chủ tịch Sùng Sử ra làm dẫn chứng :

       - Đấy, bà con xem, ngay như chủ tịch Sùng Sử của chúng ta đây chỉ vì thiếu một trăm đồng bạc trắng mà chưa cưới được Seo Mỷ. Cái lý của Chính phủ bây giờ là trai gái Mông thương nhau, yêu nhau thì phải được thành vợ chồng, không cho mua bán như mua con gà, con lợn.

       Mọi người tưởng Giàng Seo Tính nói chung chung như thế rồi thôi, ai ngờ Giàng Seo Tính lại làm rất hăng hái. Đến mùa thu thuế nhựa cây anh túc, nhà nào cũng phải nộp gấp hai lần thời Phăng Ky.

       Tiếng oán thán của dân bản vang khắp nơi, nhưng Giàng Seo Tính cứ làm như điếc. Hắn còn nói : Chính phủ ra lệnh như thế, ai không theo thì bắt đi tù hết.

       Một hôm Giàng Seo Tính đến nhà ông Hảng A Lềnh. Sau khi giải thích một thôi dài về chính sách đại đoàn kết, Giàng Seo Tính hỏi lại :

       - Ông đã thông với chính sách đại đoàn kết chưa?

       Ông Hảng A Lềnh chẳng cần suy nghĩ nhiều, đáp ngay :

       - “Một chân đứng không vững, một tay vỗ không kêu”, người Mông ta từ xưa đã nói như thế mà.

       - Ông thông suốt với chính sách của cụ Hồ thế thì rất tốt. Đoàn kết là phải đoàn kết với cả người giàu, người nghèo, ông có đồng ý như thế không ? - Giàng Seo Tính nheo mắt gặng lại.

       - “Anh em đông tiện bàn bạc, chị em nhiều lợi se lanh”, cái lý người Mông ta cũng vậy mà. Thêm người thêm sức, có gì mà phải đắn đo suy nghĩ - Ông Hảng A Lềnh trả lời không chút do dự.

       Lúc này Giàng Seo Tính mỏi nhìn thẳng vào ông Hảng A Lềnh hỏi :

       - Sùng Sử là người nghèo ông có đoàn kết không?

       - Sùng Sử là chủ tịch xã, không đoàn kết với Sùng Sử thì còn đoàn kết với ai.

       - Thế với Giàng Páo, ông có đoàn kết không ?

       - Với Giàng Páo à ?... Giàng Páo là lý trưởng... - Ông Hảng A Lềnh có vẻ ngần ngừ.

       - Bây giờ làm gì còn lý trưởng nữa, ông Giàng Páo chỉ là một nhà giàu, lại là chủ tịch mật trận đoàn kết, chẳng lẽ ông không đoàn kết với Giàng Páo được ư ?

       Ông Hảng A Lềnh cúi mặt nhìn xuống cái điếu ống đang cầm trong tay. Trong đầu ông lão thấy khó mà tin được Giàng Páo, nhưng ngoài miệng không biết nói sao cho vừa lòng Giàng Seo Tính, người mà ông lão thừa biết cùng một cây, một gốc với Giàng Páo.

       Lúc này Giàng Seo Tính mới cười nhạt và nói :

       - Tôi biết thật bụng ông chưa muốn đoàn kết với Giàng Páo. Ngay cả với Sùng Sử, ông cũng có thật bụng đoàn kết đâu.

       - Ấy ấy, sao ông lại nói thế - Ông lão Hảng A Lềnh vội vã thanh minh - Tôi mà không thật bụng đoàn kết với Sùng Sử thì ông mặt trời đi ngủ tôi cũng chết luôn.

       - Thôi ông không phải thề độc nữa. Nếu thực bụng đoàn kết với Sùng Sử ông đã không thách cưới Seo Mỷ đến một trăm đồng bạc trắng.

       - Đấy là tôi làm theo tục lệ của người Mông ta.

       - Ông đừng dựa vào tục lệ mà che dấu việc làm mất đoàn kết của ông. Ông đoàn kết thế nào được với Sùng Sử khi mà ông bắt anh ta khổ sở vì chạy bạc trắng làm lễ cưới ? Ông nên biết rằng Sùng Sử bây giờ đã là chủ tịch xã, là người thay mặt người Mông cả vùng Ngũ Chỉ Sơn này. Không đoàn kết với Sùng Sử có nghĩa là không đoàn kết với cả dân bản vùng Ngũ Chỉ Sơn. Ta sống nhờ dân bản, chết cũng nhờ dân bản, tôi nói thế là hết lý rồi đấy, tùy ông nghĩ sao thì nghĩ.

       Càng nghe Giàng Seo Tính nói ông Hảng A Lềnh càng thấy sợ. Mồ hôi trán ông vã ra như người đang leo núi. Ông lão nghĩ : - Chẳng lẽ mình đã thành người xấu thật rồi ư ? Mình thành người chống lại chính sách đại đoàn kết ư ? Đúng là không có gì đáng sợ bằng sống giữa dân bản mà bị coi là người chống lại dân bản. Tự nhiên ông lão thấy run từ trong bụng đến cả chân tay.

       Một lúc sau cố trấn tĩnh lại, ông lão nói với Giàng Seo Tính :

       - Từ khi được nhìn thấy trời đến nay tóc đã bạc, tôi chỉ biết cái lý rằng ai chống lại tục lệ là chống lại dân bản. Bây giờ tôi mới nghe ông nói làm theo tục lệ cũ là chống lại chính sách đại đoàn kết, là chống lại dân bản. Thôi để tối nay về bàn với Seo Mỷ, mai sẽ đến nói lại với ông.

       - Liệu câu trả lời ngày mai có làm vừa lòng chủ tịch Sùng Sử không ? Tôi chẳng qua cũng chỉ là người đem lời chủ tịch truyền đến tai ông mà thôi.

       - Chắc là cũng phải theo chính sách “đại đoàn kết” mà ông vừa nói thôi ạ.

       Giàng Seo Tính gật đầu vẻ thỏa mãn. Khi đứng dậy ra về hắn còn nhìn lại ông lão Hảng A Lềnh với một nụ cười khó hiểu nhếch lên ở một bên mép.


*


       Với sự sắp xếp và thúc bách của Giàng Seo Tính, một tháng sau Sùng Sử và Seo Mỷ làm đám cưới. Giàng Páo đứng ra làm chủ đám cưới, vì Giàng Seo Tính viện lý nói rằng : ở Ngũ Chỉ Sơn chỉ có thể là Giàng Páo - chủ tịch mặt trận đoàn kết mới xứng đáng làm cái việc vẻ vang ấy. Cả hai bên chỉ ăn hết một tạ thịt và năm mươi cân rượu1. Sùng Sử được Giàng Páo đem đến giúp một con lợn năm mươi cân và ba mươi cân rượu.

       Mở đầu bữa rượu đám cưới, Giàng Seo Tính nói :

       - Đám cưới đời sống mới đầu tiên của người Mông Ngũ Chỉ Sơn lại là đám cưới của chủ tịch Sùng Sử. Thật là đầy đủ ý nghĩa. Chủ tịch đã đi đầu, dân Mông ta cứ thế mà theo. Ai mà nghĩ rằng việc cưới này có lợi cho chủ tịch, nên Sùng Sử đi đầu là sai chính sách đấy nhé ! Chủ tịch Sùng Sử đã phải đợi cái ngày hôm nay từ bao nhiêu năm rồi ! Nào, nâng bát lên chúc mừng hạnh phúc cho chủ tịch Sùng Sử và cô Seo Mỷ !

       Giàng Seo Tính nâng bát, nheo nheo mắt nhìn về phía Giàng Páo. Giàng Páo cũng đưa mắt nháy lại. Những cái bát cùng nhất loạt nâng lên và chất nước men nóng bỏng chảy vào những cái cuống họng đã khô se làm bùng lên những chuỗi cười nói, chúc tụng huyên náo.

       Trong không khí náo nhiệt của hơi men, Giàng Seo Tính và Giàng Páo kín đáo trao đổi với nhau một nụ cười nửa miệng.




----------------------------------------------------------------
1. Mỗi cân tương đương một lít.

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:38:27 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

Tháng 3 - tháng 7.

Các chiến trường đẩy mạnh hoạt động phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại Nam Bộ
, tiểu đoàn 302 phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Cam-pu-chia diệt một số vị trí địch, mở rộng vùng giải phóng ở các tỉnh phía đông Cam-pu-chia. Đại đội đặc công 205 tập kích kho bom Phú Thọ Hòa (Sài Gòn), thiêu hủy gần 10.000 tấn bom và thuốc nổ, 10 triệu lít xăng dầu, diệt một đại đội lính Âu - Phi. Tiểu đoàn 303 (Thủ Biên) phối hợp với bộ đội địa phương diệt một đại đội lính Com-măng-đô, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội 65 và đại đội Lê Hồng Phong (Bến Cát) diệt một đại đội địch tại đồn Bến Tranh. Đại đội 55 và đại đội Nguyễn An Ninh (Lái Thiêu) diệt một trung đội tại đồn Cây Trắc. Đội đặc công Rừng Sác bắn chìm ba tàu chở lính Pháp trên sông Lòng Tàu (tháng 6)... Tại Trung Bộ; lực lượng vũ trang Liên khu 5 đánh bại cuộc càn Át-lăng 2 của địch. Trung đoàn 96 vận động phục kích diệt binh đoàn cơ động GM100 trên đường số 19. Tại đồng bằng Bắc Bộ, trung đoàn 42 (Liên khu 3) phục kích trên đường số 5 (Bần Yên Nhân, Hưng Yên), diệt 315 tên thuộc binh đoàn cơ động số 3. Các trung đoàn 52, 48 (Đại đoàn 320) phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh hoạt động ở Nam Định, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Các tiểu đoàn 400, 353, 375 (trung đoàn 9, Đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội địa phương và du kích hoạt động mạnh ở Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông.


Tháng 4.

Trường Bổ túc quân chính sơ cấp được chuyển thành Trường Bổ túc quân chính trung cấp
. Nhiệm vụ: bồi dưỡng cán bộ trung cấp, cao cấp.

Hiệu trưởng: Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh Đại đoàn bộ binh 304.
Chính ủy: Hoàng Phương.

Địa điểm: Tân Hương, Bắc Sơn, Lạng Sơn.


8 tháng 5.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen bộ đội, dân công, thanh niên xung phong và đồng bào Tây Bắc đã chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ:
“Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bước đầu. Chúng ta không nên vì thắng mà kiêu, không nên chủ quan khinh địch. Chúng ta kiên quyết kháng chiến để tranh lại độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình. Bất kỳ đấu tranh về quân sự hay ngoại giao cũng đều phải đấu tranh trường kỳ mới đi đến những thắng lợi hoàn toàn”.


13 tháng 5.

Lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ
, được tổ chức trọng thể tại cánh đồng Mường Thanh - trung tâm tập đoàn cứ điểm của địch vừa bị tiêu diệt. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng, Tư lệnh chiến dịch thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ tuyên dương công trạng các đơn vị tham gia chiến dịch, các đơn vị trong toàn quân, đồng bào ở hậu phương trong cả nước đã tạo nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ. Đại đoàn 312 được nhận cờ “Quyết chiến quyết thắng”.


4-27 tháng 7.

Hội nghị quân sự Trung Giã
. Đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng làm trưởng đoàn. Đoàn đại diện Bộ Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương do Đại tá Len-nuy làm trưởng đoàn. Hội nghị bàn những vấn đề quân sự mà Hội nghị Giơ-ne-vơ và những vấn đề khác do tình hình cụ thể tại chỗ đặt ra, về trao trả tù binh, thực hiện ngừng bắn trên toàn bộ chiến trường Việt Nam.


15-17 tháng 7.

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (mở rộng)
. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo về “Tình hình mới và nhiệm vụ mới” đề ra “…Phương châm, sách lược đấu tranh của ta trong giai đoạn mới là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hiện hòa bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”. Hội nghị quyết định “Tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yều cầu của tình hình mới”.


21 tháng 7.

Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương kết thúc
. Các nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào; quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương. “Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam” quy định lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời để lực lượng hai bên tập kết. Lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam ở phía bắc giới tuyến, lực lượng quân đội “Liên hiệp Pháp” ở phía nam giới tuyến. Giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, hoàn toàn không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ. Thời gian tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam được ấn định vào tháng 7 năm 1956.


Ngày 22 tháng 7.

Vào lúc 0 giờ, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh ngừng bắn trên toàn chiến trường Việt Nam
. Quân đội nhân dân Việt Nam cùng toàn dân, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Lịch sử quân đội chuyển sang một giai đoạn mới.

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:38:03 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
*

       Ít lâu sau, huyện cử một tổ cán bộ về vùng Ngũ Chỉ Sơn thành lập chính quyền. Sùng Sử được chỉ định làm chủ tịch, Giàng Seo Tính làm phó chủ tịch. Mỗi bản tạm thời lấy người thôn trưởng làm uỷ viên hành chính trông coi công việc trong thôn.

       Sùng Sử đã gặp riêng cán bộ Việt Long, tổ trưởng công tác nói rõ về lai lịch của Giàng Seo Tính. Cán bộ Việt Long nghe xong tỏ lời hoan nghênh sự phát hiện của Sùng Sử, nhưng anh lại nói :

        - Bây giờ việc chính là đoàn kết mọi người, mọi dân tộc để chung sức, chung lòng kháng chiến chống Pháp đến thành công. Những người ở tầng lớp trên hoặc có quan hệ mật thiết với tầng lớp trên trước đây, tuy họ có những mặt chưa tốt với nhân dân, với kháng chiến, nay họ đã có hướng ngả về kháng chiến thì cũng phải đoàn kết với họ. Như thế là thực hiện phương châm “thêm bạn bớt thù” để đánh Pháp. Vả lại tầng lớp trên hiện nay vẫn còn nhiều uy tín trong nhân dân các dân tộc thiểu số.

        Nghe cán bộ Việt Long nói Sùng Sử thấy cũng đúng, song vẫn áy náy trong lòng. Sùng Sử không biết cách trình bày cho rõ sự nghi ngại của mình.

        Cán bộ Việt Long chừng như đoán được nỗi lòng Sùng Sử, nên anh nói thêm :

        - Cứ yên tâm làm việc với Giàng Seo Tính. Anh ta tuy nghiện thuốc phiện nặng, nhưng mọi công việc tôi giao, anh ta đều cố gắng làm và hoàn thành công việc khá nhanh chóng. Ở đây chỉ có hai người biết chữ và biết tiếng phổ thông để giao dịch với cán bộ là anh và Giàng Seo Tính. Chúng tôi được các đồng chí bộ đội giới thiệu, hai anh đều là những người đầu tiên ở đây hăng hái giúp đỡ bộ đội. Gạt bỏ Giàng Seo Tính, một mình anh có làm nổi công việc của cả xã không ? Đã có câu nói : “Một cây làm chẳng nên non, Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Tôi đã đến nhà Giàng Seo Tính rồi, Seo Tính cũng nghèo xơ xác, cho nên đừng lo ngại nhiều về ông ta. Có người nói với tôi Giàng Páo không tốt với kháng chiến. Tôi đã đến nhà ông ta nhiều lần, tôi còn ngủ lại ở đấy nữa. Qua xem xét lời nói và việc làm gần đây của Giàng Páo, tôi thấy ông ta cũng là người biết điều và đang có chiều hướng chuyển biến tốt theo kháng chiến. Chính sách đại đoàn kết của chính phủ ta còn lôi kéo được cả thổ ty đi theo kháng chiến, Giàng Páo chỉ là một lý trưởng quèn lo gì ta không cảm hóa được.

        Nghe cán bộ Việt Long nói đến đây Sùng Sử không bằng lòng ra mặt. Anh nói :

        - Con hổ lúc ngủ cũng vẫn là con hổ. Nếu là con hổ vờ ngủ còn nguy hiểm gấp mấy lần con hổ đang thức. Nếu cán bộ dùng Giàng Páo là dùng con dao hai lưỡi đấy !

        Nghe Sùng Sử nói,Việt Long cười to và giải thích thêm :

        - Tôi được nghe dân bản kể rằng trước đây Giàng Páo có việc làm không tốt với Sùng Sử. Tuy vậy đừng nên lúc nào cũng nhìn về đằng sau. Phải rộng lượng, đừng vì những xích mích vặt vãnh trước kia mà quên mất chính sách đoàn kết to lớn của Chính phủ, Sùng Sử ạ.

        Lúc này Sùng Sử nghĩ bụng : Thì ra cán bộ Việt Long cho là mình cố ý nói xấu Giàng Páo và Giàng Seo Tính. Mình cũng hiểu chính sách đại đoàn kết chứ. Nhưng mà... đoàn kết theo cái kiểu trộn lá chè và lá ngón mà pha nước uống thì...

       Thấy Sừng Sử lặng im, Việt Long gặng thêm :

       - Tôi định cho Giàng Páo làm trưởng ban Mặt trận Đoàn kêt, Sùng Sử có bằng lòng không ?

       - Tùy cán bộ thôi. - Sùng Sử đáp lấp lửng.

       Nhìn vẻ mặt của Sùng Sử, Việt Long lại nghĩ : “Thì ra anh nông dân ở đâu cũng bảo thủ ghê thật !”.

       Sùng Sử khoác túi vải chàm lên vai đứng dậy định đi. Việt Long sực nhớ ra việc mới lại dặn thêm :

       - Này Sùng Sử, cậu cần chú ý đến chị em phụ nữ nhé. Tôi thấy Seo Mỷ cũng là một cô gái tốt đấy ! Phải đưa phụ nữ vào tổ chức để chị em đóng góp sức lực cho kháng chiến.

       - Tôi thấy phải cho cả Hảng Seo Máy, Khúa Ly, Lý Seo Say vào nữa.

       Sùng Sử vừa dứt lời thì Việt Long bật cười hỏi lại :

       - Cậu không muốn dùng Giàng Páo, sao lại tin Seo Máy và Khúa Ly là vợ Giàng Páo ?

       - Tôi đẻ ra ở đây nên tôi biết nên tin ai và nên nghi ngờ ai.

       - Hỏi cho vui thôi, tôi cũng bằng lòng với Sùng Sử đấy ! - Việt Long cười nói vui vẻ và dặn thêm :

       - Phải gấp rút xây dựng các đoàn thể lớn mạnh. Sắp tới kháng chiến sẽ rất cần đến sức mạnh của đông người để đánh đuổi Giàng Quấy ra khỏi đất nước ta đấy !

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:37:45 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

NĂM 1954

26 tháng 1 - 10 tháng 2.

Đại đoàn bộ binh 308 phối hợp với quân giải phóng Pa-thét Lào tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu (Thượng Lào), diệt 17 đại đội, giải phóng tỉnh Phong Sa Lỳ, uy hiếp kinh đô Luông Pha Băng, phá vỡ “con đường liên lạc chiến lược” giữa Thượng Lào với Điện Biên Phủ của địch.


27-1 đến 5 -2.

Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng hai trung đoàn 108, 803, bộ đội địa phương và du kích mở chiến dịch tiến công địch ở Bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, phá cuộc càn Át-lăng của địch ở Phú Yên.

Tư lệnh kiêm Chính ủy: Nguyễn Chánh.

Kết quả: loại khỏi vòng chiến đấu 2.000 tên, giải phóng thị xã Công Tum, buộc địch phải bỏ dở cuộc càn Át-lăng.


31 tháng 1.

- Bộ đội địa phương tỉnh Kiến An tập kích sân bay Đồ Sơn, phá hủy năm máy bay, đốt cháy năm triệu lít xăng dầu.

- Trung đội du kích huyện Kim Thành (Hải Dương) phục kích đoàn tàu quân sự địch tại khu vực gần ga Phạm Xá, làm đổ đầu máy và tám toa tàu, diệt 778 lính Âu - Phi, làm ngừng trệ vận chuyển của địch trên tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng trong bốn ngày đêm.

- Bộ Tư lệnh Phân khu Bình-Trị-Thiên sử dụng trung đoàn 101 (Đại đoàn 325), một đại đội quân tình nguyện Liên khu 5 phối hợp với một tiểu đoàn chủ lực Pa-thét Lào mở chiến dịch Hạ Lào. Trong hơn hai tháng, các đơn vị tiến công địch ở vùng cao nguyên Bô Lô Ven (Lào) và bắc Stung Treng (Cam-pu-chia), loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 1.000 tên, giải phóng một vùng đất rộng lớn, thực hiện phối hợp tốt với các chiến trường trong cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953 - 1954.


Tháng 1 - tháng 2.

Các chiến trường đẩy mạnh hoạt động theo kế hoạch tác chiến Đông-Xuân
. Ở Bắc Bộ, Đại đoàn bộ binh 320 cùng các lực lượng vũ trang Liên khu 3 diệt hàng loạt vị trí, phá vỡ phòng tuyến sông Đáy, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Ở Liên khu 4, các lực lượng vũ trang địa phương đánh giao thông địch trên đường số 1, đường số 7, bức rút nhiều vị trí, giải phóng huyện Hướng Hóa (Quảng Trị). Ở Nam Trung Bộ, các lực lượng vũ trang tập kích thị xã Hội An, Phan Thiết, bao vây bức hàng và diệt một số cứ điểm, mở rộng vùng giải phóng. Ở Nam Bộ, các tiểu đoàn chủ lực khu (302, 304, 307) và các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh (311, 410...) tiến vào vùng tạm bị địch chiếm, hỗ trợ nhân dân đẩy mạnh chiến tranh du kích.


3 tháng 3.

Phân đội chiến đấu gồm 16 chiến sĩ do đồng chí Vũ Văn Sự chỉ huy tập kích sân bay Gia Lâm (Hà Nội), phá hủy 18 máy bay, một nhà sửa chữa máy bay, đốt cháy một kho xăng, diệt 16 tên địch.


7 tháng 3.

Phân đội chiến đấu gồm 32 chiến sĩ thuộc Khu Tả Ngạn và tỉnh đội Kiến An do các đồng chí Lê Thừa Giao, Đỗ Tất Yến chỉ huy tập kích sân bay Cát Bi (Hải Phòng), phá hủy 59 máy bay địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng phân đội Huân chương Quân công hạng nhất và danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”.


13-3 đến 7-5.

Chiến dịch Điện Biên Phủ.


Ngày 22 tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cờ Quyết chiến quyết thắng cho quân đội. Người chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được cử làm Bí thư Đảng ủy kiêm Tư lệnh Bộ Chỉ huy chiến dịch. Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội đồng cung cấp Mặt trận. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái - Phó tổng tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Đồng chí Lê Liêm làm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch. Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh phụ trách công tác đường sá, tiếp tế chiến dịch.

Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn bộ binh 308 (ba trung đoàn 102, 88, 36), 312 (ba trung đoàn 141, 209, 165), 316 (hai trung đoàn 174, 98), 304 (trung đoàn 57), 351 công-pháo (các trung đoàn 45 lựu pháo 105 ly, 675 sơn pháo và cối, 367 cao xạ, 151 công binh)1, các đơn vị thông tin, vận tải (16 đại đội), quân y..., số quân khoảng 55.000 người, và 260 nghìn dân công hỏa tuyến. Phương tiện và vật chất huy động gồm 628 ô tô, 11.800 thuyền, 20 nghìn xe đạp thồ và các loại xe thô sơ, hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh.

Thời gian đầu, khi địch chưa tăng cường lực lượng và hệ thống công sự, phương châm tác chiến chiến dịch là “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị và được Bộ Chính trị đồng ý, chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Các mặt công tác chuẩn bị chiến dịch chuyển theo phương châm tác chiến mới.

Ngày 11 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ: “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng rất vinh quang”.

Ngày 13 tháng 3, Chiến dịch bắt đầu và trải qua ba đợt. Đợt một (13 - 17 tháng 3), các đại đoàn 312, 308 tiến công diệt các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo (phân khu Bắc). Đợt hai (30 tháng 3 - 24 tháng 4), các đại đoàn 316, 308, 312 tiến công các cứ điểm phía đông (các ngọn đồi C1, E, D, A1), xây dựng trận địa bao vây, đánh lấn, chia cắt tập đoàn cứ điểm, khống chế và triệt chi viện đường không của địch. Riêng trận đánh đồi A1 gặp khó khăn, ta phải tổ chức đánh đến ba lần. Đợt ba (1-7 tháng 5), các đại đoàn 308, 312, 304, 316 đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây (các điểm cao 505, 505A, 511A, 311B, C2, 506, 310) và chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5, trong 55 ngày đêm, trải qua ba đợt chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt và bắt hơn 16.000 tên, bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm do tướng Đờ Cát-xtơ-ri chỉ huy. Về đơn vị, diệt 21 tiểu đoàn (17 tiểu đoàn bộ binh và dù, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh); bắn rơi và phá hủy 62 máy bay, bắn hỏng 4 xe tăng; thu 30 trọng pháo, 6 xe tăng, hơn 30 nghìn chiếc dù, toàn bộ vũ khí, đạn, quân trang, quân dụng.

Đây là chiến dịch tiến công hiệp đồng binh chủng quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần quyết định làm phá sản kế hoạch Na-va của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, là chiến thắng có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, môt chiến công vĩ đại trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, cổ vũ phong trào chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc trên thế giới.
________________________________________________
1. Quá trình chiến dịch xây dựng thêm một tiểu đoàn ĐKZ75 và một tiểu đoàn hỏa tiễn H6.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:36:11 pm 
Tác giả hoi_ls - Bài mới nhất gửi bởi hoi_ls
CHƯƠNG SÁU


       Bên bếp lửa, bên bàn đèn thuốc phiện, trong lúc đi nương, đi rừng hay ở trong đám rượu... câu chuyện râm ran nhất vẫn là Giàng Quấy thua chạy, Việt Minh đã về đến phố huyện. Người nói Việt Minh toàn là người Kinh, người nói trong Việt Minh có cả người Tày, người Thái và cả người Mông ta nữa. Có người khen Việt Minh rất tốt với người già, biết thương trẻ con. Tuy thế cũng có người chê Việt Minh mặc quần áo không đẹp bằng Giàng Quấy và nghèo hơn cả người dân ở phố huyện. Có người quả quyết : ai có cái khăn dù đỏ quàng ở cổ đều là Việt Minh hết. Ở vùng Ngũ Chỉ Sơn này mỗi người nhìn Việt Minh theo con mắt riêng và hiểu Việt Minh theo sự suy nghĩ nông cạn của mình.

       Cho đến một hôm, cả vùng Ngũ Chỉ Sơn ai cũng được thấy Việt Minh, nhưng cũng được một phen sợ mất mật.

       Sáng hôm ấy khi mọi người bắt tay vào công việc của một ngày bình thường thì ở phía Cửa Gió bỗng rộ lên âm thanh dữ dội : Tằng ! Tằng ! Tằng ! Cục ! Cục ! Cục ! Tắc bọp ! Tác bọp ! Ùng... sạt... sạt... oàng ! Tiếng súng nổ hỗn loạn. Không gian trầm tĩnh của vùng Ngũ Chỉ Sơn như vỡ tung ra bởi tiếng nổ của các loại súng máy, súng cối, súng trường. Những con trâu đang kéo cày lồng lên kéo theo cả cày chạy vào rừng. Những con ngựa buộc trên đồng cỏ giật đứt thừng phóng chạy tứ tung. Trong bản chó sủa chu tréo từng hồi. Trẻ con kêu khóc bám chặt lấy các bà mẹ. Người lớn mắt nhớn nhác nhìn nhau không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Có người cõng con, vơ vội mấy cái quần áo rồi bỏ chạy vào hang núi.

       Tiếng súng rộ lên một chập rồi lắng bặt. Quãng một giờ sau có người từ Sin Suối Thầu chạy về nhà Giàng Páo nói không ra hơi :

       - Lính Phăng Ky đến !

       Mặt Giàng Páo tươi lên :

       - Thì xưa nay Phăng Ky vẫn ở đây, vẫn trông coi ta, có gì mà đáng lo sợ. Họ có đông không ?

       - Có khoảng ba chục người, cả da trắng lẫn da đen và cả lính Thái. Chúng nó đang cướp gà, bắn trâu của dân mổ ăn.

       - Khách đến nhà không cho khách ăn thì khách phải tự tìm lấy thứ ăn chứ.

       - Chúng tôi sợ lắm !

       - Không có gì phải sợ, cứ tìm gà, gạo, rượu, thịt đem đến cho họ ăn uống no say là họ không phá phách gì đâu.

       Trong khi đó một tổ trinh sát của bộ đội đã tiến vào Sín Chải. Một em bé Mông dẫn tổ trinh sát đến gặp Sùng Sử.

        - Các anh là Việt Minh à ? - Sùng Sử hỏi.

        Nam, tổ trưởng trinh sát mỉm cười cải chính :

        - Chúng tôi là bộ đội cụ Hồ. Cụ Hồ cho chúng tôi lên đây đánh Tây để giải phóng cho đồng bào.

        Sùng Sử bỡ ngõ trước những danh từ mới lạ. Anh hỏi lại :

        - Bộ đội có giống lính của Phăng Ky không ?

        Nam biết là Sùng Sử còn chưa hiểu hết câu nói của anh. Nam cố tìm những câu thật mộc mạc nói cho Sùng Sử dễ hiểu hơn :

        - Bộ đội là người được cụ Hồ cho cầm súng đi đánh Giàng Quấy (từ Giàng Quấy anh mới học được khi tiếp xúc với nhân dân vùng này). Bộ đội sẽ đánh đuổi Giàng Quấy, đánh đuổi quan Châu, lý trưởng đi để dân được yên ổn làm ăn.

        Đúng là những người mà ta bảo Seo Giả đi tìm rồi ! - Sùng Sử nghĩ bụng. Anh đoán là Seo Giả đã đến chỗ bộ đội Nam nên hỏi :

        - Anh có thấy Seo Giả không ?

        - Seo Giả nào ?

        - Seo Già là người Mông ở vùng Ngũ Chỉ Sơn này. Lý trưởng Giàng Páo thù ghét, tìm cách giết Seo Giả, nên Seo Giả bỏ trốn đi theo bộ đội mấy tháng nay rồi.

        - Bộ đội nhiều người lắm, nên tôi chưa gặp được Seo Giả. Trong bộ đội cũng có nhiều người dân tộc đấy ! Đây là anh Păn, người Tày - Nam nói và chỉ anh chiến sỹ có khuôn mặt xương xương đứng bên.

       Tuy chưa được tin Seo Giả, song Sùng Sử đã thấy mến những anh bộ đội cụ Hồ. Anh hỏi lại :

       - Bộ đội có đói không ?

       - Bộ đội có cơm mang theo rồi - Nam chỉ nắm cơm buộc ở thắt lưng.

       - Bộ đội đến đây làm gì ?

       - Đi đuổi bọn Giàng Quấy thua chạy. Sáng nay nghe tiếng súng của chúng nó nổ ở gần đây.

       - Có đấy, súng nổ ở Sin Suối Thầu.

       - Chúng nó có đông không ?

       - Nghe súng nổ sợ lắm, tôi không dám đến gần.

       - Đến Sin Suối Thầu có xa không ?

       - Không xa đâu, bộ đội muốn đi tôi dẫn đường.

       Sùng Sử đưa tổ trinh sát đến tận nơi điều tra tình hình địch. Ngay đêm đó Sùng Sử và tổ trinh sát dẫn một trung đội chia hai mũi tập kích vào Sin Suối Thầu. Vốn đã hoang mang lại bị đánh bất ngờ, trung đội lính lê dương tan rã tháo chạy để lại năm xác chết, bỏ cả súng máy lẫn súng cối.

       Sáng hôm sau Sùng Sử lại đi theo đồng chí trung đội trưởng để giải thích cho nhân dân Sin Suối Thầu rõ mục đích đánh Pháp của bộ đội cụ Hồ.

       Cũng sáng hôm ấy Giàng Seo Tính mò đến Sin Suối Thầu. Hắn hết lời khen bộ đội đánh giỏi, rồi lăng xăng chạy đi thúc giục các nhà đem gà, đem gạo, đem thịt rượu ra “nộp” cho bộ đội.

       Đồng chí trung đội trưởng đã thay mặt đơn vị cảm ơn lòng tốt của nhân dân Sin Suối Thầu và trả lại tất cả những thứ nhân dân đem đến. Đồng chí nói dài, nhưng Sùng Sử chỉ tóm tắt dịch lại một số ý chính : “Chúng tôi là bộ đội cụ Hồ, đi đánh giặc giải phóng cho nhân dân. Bộ đội đã được lệnh của cụ Hồ không được lấy một cái kim, sợi chỉ của dân. Bộ đội và nhân dân phải đoàn kết với nhau như cá với nước”.

       Đồng chí trung đội trưởng còn cảm ơn Sùng Sử và Giàng Seo Tính đã hết lòng giúp đỡ bộ đội. Anh ghi rõ tên họ và chỗ ở của hai người vào sổ tay, rồi dẫn bộ đội tiếp tục truy kích bọn tàn quân Pháp tháo chạy.

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:34:56 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

23 tháng 6.

Tổng Quân ủy mở lớp chỉnh quân chính trị cho cán bộ trung cấp, cao cấp tại Việt Bắc
. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Mục đích chỉnh quân là làm cho quân đội ta thành một quân đội nhân dân cách mạng, quyết chiến quyết thắng”.


24 tháng 6.

Bộ Quốc phòng – Tổng tư lệnh ra nghị quyết số 12/NĐA tăng tiêu chuẩn cung cấp cho bộ đội.



27 tháng 7.

Hội nghị xây dựng lực lượng vũ trang địa phương ở vùng tự do.



28 tháng 7 - 5 tháng 8.

Trung đoàn bộ binh 95 (Đại đoàn 325) cùng lực lượng vũ trang địa phương chống cuộc càn “Các-ma-giơ” tại vùng du kích thuộc bốn huyện Phong Điền-Quảng Điền-Triệu Phong-Hải Lăng (Quảng Trị).


Tháng 7-tháng 8.

Cán bộ sơ cấp và chiến sĩ toàn quân chỉnh quân chính trị.


17 tháng 8.

Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh ban hành nghị định 14A/NĐA về tổ chức hệ thống cung cấp toàn quân
(từ tổng cục xuống đại đội chủ lực và tỉnh đội địa phương); vai trò và sự lãnh đạo của thủ trưởng quân chính đối với công tác hậu cần; quan hệ giữa các ngành quân nhu, quân y, quân khí, vận tải trong hệ thống tổ chức cung cấp.


28 tháng 8.

Ba đại đội 295, 196, 331 bộ đội địa phương tỉnh Kiến An, huyện Tiên Lãng và du kích chống cuộc càn Cơ-lốt (Claude) của hai binh đoàn cơ động và bốn tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 677 tên, phá hủy ba xe lội nước, bắn chìm hai ca-nô, bắn cháy hai máy bay. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng quân và dân huyện Tiên Lãng Huân chương Kháng chiến hạng nhất.


14 tháng 9.

Trường cán bộ cung cấp (thành lập trên cơ sở lớp huấn luyện cung cấp) khai giảng khóa 1. Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Hữu Dực kiêm Giám đốc. Số học viên: 62 cán bộ đào tạo từ cấp tiểu đoàn trở lên. Địa điểm: Phố Ngữ, Thái Nguyên.


18-23 tháng 9.

Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ hai
, nghiên cứu tổ chức cung cấp ở các đơn vị, bàn biện pháp kiện toàn tổ chức cung cấp, thống nhất chỉ đạo các chuyên ngành trong bộ máy cung cấp, xác định quan hệ, các vấn đề nghiệp vụ, tiêu chuẩn chế độ quân nhu, quân y...


22-9 đến 2-10.

Hai trung đoàn 50, 42 (Liên khu 3) cùng bộ đội địa phương, du kích chống cuộc càn Brô-xê của địch ở các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.200 tên, thu và phá hủy nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, giữ vững căn cứ du kích.


Tháng 9.

Bộ Chính trị họp bàn chủ trương tác chiến Đông-Xuân 1953-1954
, phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, quyết định đưa bộ đội chủ lực lên hướng Tây Bắc, buộc địch phải phân tán lực lượng, tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở các chiến trường sau lưng địch.


Tháng 9 - tháng 11.

Toàn quân chỉnh huấn quân sự
. Bộ Tổng tư lệnh mở lớp tập huấn cán bộ trung cấp, cao cấp, nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy, bàn cách đánh cứ điểm, đánh địch đang vận động, hoặc mới chiếm lĩnh trận địa và chống càn quét. Về kỹ thuật: huấn luyện năm môn (bắn súng, đâm lê, ném lựu đạn, công sự và bộc phá). Về chiến thuật: huấn luyện đánh vận động, đánh công kiên quân địch trong công sự và tập đoàn cứ điểm trong điều kiện quân địch có máy bay, pháo binh và cơ giới yểm hộ cả ban ngày và ban đêm. Các liên khu từ Nam Bộ trở ra phát triển các trung đoàn chủ lực khu. Các tỉnh phát triển bộ đội địa phương và du kích.


15-10 đến 6-11.

Đại đoàn bộ binh 320 chống cuộc càn “Hải âu” (Mouetre) của sáu binh đoàn cơ động, chín tiểu đoàn pháo binh, ba tiểu đoàn thiết giáp địch tại tây nam Ninh Bình, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.500 tên, đánh bại ý đồ giành lại thế chủ động trên chiến trường của Na-va.


17 tháng 10.

Bộ Quốc phòng quy định tiêu chuẩn quân trang, bổ sung một số loại mới như ba lô, khăn mặt, bi đông, thắt lưng ...


19 tháng 11.

Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng triệu tập cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên phổ biến kế hoạch tác chiến Đông-Xuân 1953-1954
, động viên cán bộ vượt mọi khó khăn giành thắng lợi lớn nhất trong đông-xuân 1953-1954. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận: “Hướng chính là Tây Bắc, kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng Lai Châu và mở rộng căn cứ kháng chiến, uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tác chiến sau này. Lực lượng sử dụng hai đến ba đại đoàn. Hướng phụ là Trung Lào, lực lượng sử dụng hai trung đoàn. Hướng phối hợp là đồng bằng…”


Tháng 11.

Đồng chí Văn Tiến Dũng - Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 được cử làm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.


6 tháng 12.

Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị “Phương án tác chiến mùa xuân năm 1954"
. Phương án gồm bốn phần: 1 - Tình hình địch và phương hướng chiến dịch. 2 - Binh lực sử dụng và thời gian tác chiến. 3 - Nhu cầu nhân lực, vật lực. 4 - Kế hoạch đường sá và vận chuyển. Phân tích tình hình địch và phương hướng chiến dịch, Tổng Quân ủy cho rằng, trong đông-xuân 1953-1954 “phải nhằm trường hợp địch tăng cường thành tập đoàn cứ điểm mà chuẩn bị…”. “Điện Biên Phủ sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay, không kém Nà Sản và đường sá còn xa hơn. Vì vậy, sự chuẩn bị có nhiều khó khăn, cần ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp; nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn”. Bộ Chính trị thông qua phương án, quyết định mở chiến dịch Điên Biên Phủ.


10 tháng 12.

Đại đoàn bộ binh 316 do Đại đoàn trưởng Lê Quảng Ba và Chính ủy Chu Huy Mân chỉ huy tiến đánh Lai Châu mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954. Trong trận Mường Pồn (12-12), chiến sĩ Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng cho đồng đội tiêu diệt địch.


20 tháng 12.

Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị kế hoạch quân sự năm 1954
. Nội dung chủ yếu: 1 - Mấy nét nhận định về địch và ta. 2 - Chủ trương chiến lược và kế hoạch tác chiến. 3 - Kế hoạch xây dựng bộ đội. 4 - Vấn đề giáo dục bộ đội và cán bộ. 5 - Vấn đề đường sá và cung cấp mặt trận. 6 - Vấn đề miền Nam và Cao Miên. 7 - Vấn đề Lào. 8 - Vấn đề chấn chỉnh và tăng cường cơ quan chỉ đạo. Kế hoạch xác định: “Phương hướng chiến lược là trước hết giải phóng Tây Bắc và Tây Nguyên, uy hiếp Nam Bộ, tạo điều kiện để giải phóng Bắc Bộ”.


21-12-1953 đến 31-1-1954.

Các trung đoàn bộ binh 66 (Đại đoàn 304), 101 (Đại đoàn 325), 280 và 120 bộ đội tình nguyện và một số đơn vị binh chủng phối hợp với một bộ phận quân giải phóng Pa-thét Lào, mở chiến dịch tiến công địch ở Trung Lào, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, phối hợp với các chiến trường.

Tư lệnh: Hoàng Sâm.
Chính ủy: Trần Quý Hai.

Kết quả: đánh thiệt hại nặng bốn tiểu đoàn; giải phóng thị xã Thà Khẹt, một phần tỉnh Sa Vẳn Nạ Khệt, thị xã At Tô Pơ và toàn bộ cao nguyên Bô Lô Ven. Phát triển thắng lợi, trung đoàn 101 tiến công xuống phía nam phối hợp với quân giải phóng Ít-xa-rắc (Cam-pu-chia) giải phóng và mở rộng căn cứ ở đông bắc Cam-pu-chia.

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:33:14 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

1 tháng 4.

Thành lập trung đoàn 367 phòng không (quyết định sổ 06/QĐ của Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh)
. Biên chế: sáu tiểu đoàn hỏa lực (381, 383, 385, 392, 394, 396), mỗi tiểu đoàn có ba đại đội pháo cao xạ 37 ly (12 khẩu); một đại đội súng máy 12,7 ly (12 khẩu); một tiểu đoàn xe kéo pháo, vận tải và sửa chữa; cơ quan trung đoàn bộ (tham mưu, chính trị, cung cấp).

Trung đoàn trưởng: Lê Văn Tri.
Chính trị viên: Đoàn Phụng.

Trung đoàn 367 là trung đoàn phòng không đầu tiên của quân đội ta. Ngày thành lập trung đoàn (1-4) trở thành ngày truyền thống của bộ đội phòng không.


8-4 đến 3-5.

Chiến dịch Thượng Lào.


Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào, Mặt trận Ít-xa-la, Bộ Tổng tư lệnh điều các Đại đoàn 308, 312, 316, 304, trung đoàn bộ binh 148, phối hợp với lực lượng vũ trang Pa-thét Lào mở chiến dịch tiến công địch ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Thượng Lào) nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai, xây dựng và củng cố các căn cứ du kích, đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Tham gia Bộ chỉ huy chiến dịch có Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản và đồng chí Thao-ma (Bí thư tỉnh Sầm Nưa). Về phía ta có Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chỉ huy trưởng), Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm chính trị), Thiếu tướng Hoàng Văn Thái (Tham mưu trưởng), Nguyễn Văn Nam (Chủ nhiệm cung cấp) và đồng chí Nguyễn Khang đặc trách công tác ở chiến trường nước bạn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư (3-4) căn dặn bộ đội làm nhiệm vụ quốc tế: “Giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”.

Trước sức tiến công của Liên quân Lào - Việt, quân địch bỏ chạy. Bộ đội ta chuyển sang truy kích, giải phóng tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phong Sa Lỳ (bằng một phần năm diện tích nước Lào). Căn cứ kháng chiến của cách mạng Lào được mở rộng, nối liền với vùng tự do của Việt Nam.

Thắng lợi của chiến dịch góp phần củng cố tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào.


21 tháng 4.

Bộ đội địa phương tỉnh Kiến An do Tỉnh đội trưởng Đặng Kinh chỉ huy, tập kích một số vị trí địch trong thị xã Kiến An, diệt và làm bị thương hơn 400 tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.


21-31 tháng 5.

Hội nghị, cán bộ cơ sở Tổng cục Cung cấp lần thứ nhất
. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho hội nghị: “Trách nhiệm của Tổng cục Cung cấp từ trên đến dưới là toàn tâm, toàn lực phục vụ bộ đội. Chớ tham ô, chớ lãng phí một đồng tiên, một bát gạo, một ngày công của nhân dân đóng góp cho bộ đội”.


Tháng 5.

- Tổng Quân ủy ra nghị quyết về chỉnh quân chính trị:
“Nhằm nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp của bộ đội, làm cho tổ chức được trong sạch và củng cố, đề cao sức chiến đấu, để bộ đội trở thành một lực lượng lớn mạnh kiên quyết ủng hộ việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ”.

- Bộ Quốc phòng quyết định:

+ Chia đoàn 99 (thu dung, an dưỡng ở Việt Bắc) thành đoàn 99 (thu dung, an dưỡng) và trung đoàn 77 (trung đoàn trưởng: Văn Giáo; chính ủy: Hùng Phong), đứng chân ở Phú Thọ, để huấn luyện, bổ sung quân.

+ Xây dựng trung đoàn 55 (trung đoàn trưởng: Chu Văn Yêm; trung đoàn phó: Hồ Sĩ Lễ, chính ủy: Nguyễn Lập, phó chính ủy: Phạm Đức Nhuận). Trung đoàn đứng chân ở Thanh Hóa để tuyển mộ, huấn luyện, bổ sung tân binh.

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:32:10 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

Năm 1953

13-28 tháng 1.

Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng hai trung đoàn 108, 803, tiểu đoàn 40 chủ lực liên khu và trung đoàn 120 địa phương mở chiến dịch tiến công địch, địa bàn chính là An Khê, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với chiến trường toàn quốc.

Tư lệnh kiêm Chính ủy chiến dịch: Nguyễn Chánh.

Các đơn vị đã diệt một số cứ điểm, đánh viện binh địch trên đường số 19, diệt nhiều sinh lực, phá hủy một số xe quân sự địch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng gửi thư khen: “Thắng lợi này chứng tỏ các đồng chí đã tiến bộ về chính trị cũng như về kỹ thuật sau thời kỳ chỉnh huấn, đặc biệt kỹ thuật đánh điểm nhỏ, viện nhỏ”.


25-30 tháng 1.

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc báo cáo về chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự:

“1. Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do.

Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay.

2. Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bắc Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt, để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiến từng bộ phận, để tranh lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc, ăn chắc, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch và tạo điều kiện cho vận động chiến.

3. Chiến trường sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch; để chống địch càn quét, bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân, để khuấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền và giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, đặng thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch.

4. Ngoài việc tăng cường bộ đội chủ lực và xây dựng bộ đội địa phương, vùng tự do và những căn cứ du kích khá to cần phải xây dựng những tổ chức dân quân du kích không thoát ly sản xuất. Những tổ chức dân quân du kích ấy chẳng những có thể phụ trách việc đàn áp bọn phản cách mạng, giữ gìn trị an trong làng xã, bảo vệ lợi ích của quần chúng, đấu tranh với địch và phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, mà lại có thể dùng để bổ sung bộ đội chủ lực.

5. Về việc chỉ đạo quân sự, cần phải kết hợp những hình thức đấu tranh nói trên một cách linh hoạt, khôn khéo. Như thế, một mặt lợi cho bộ đội chủ lực có thể tìm nhiều cơ hội để tiêu diệt địch; một mặt khác có thể giúp bộ đội, du kích hoạt động và giúp căn cứ du kích của ta sau lưng địch phát triển và củng cố.

6. Trong sự chỉ đạo các hình thức đấu tranh nói trên, cần phải thiết thực nhận rõ tính chất trường kỳ của kháng chiến. Cho nên, phải rất chú ý giữ gìn sức chiến đấu nhất định của bộ đội, không nên làm cho bộ đội hao mòn, mệt mỏi quá.

Đồng thời cần phải yêu cầu bộ đội chịu khó, chịu khổ, kiên quyết, gan dạ thi đua diệt địch lập công. Hai điều đó không trái nhau, mà kết hợp với nhau.

7. Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải đảm bảo sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội.

8. Phải tăng cường công tác quân sự, trước hết là phải luôn luôn xem trọng việc huấn luyện bộ đội. Phải ra sức bồi dưỡng cán bộ, phải rèn luyện tư tưởng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị cũng như trình độ chiến thuật và kỹ thuật của cán bộ. Đó là khâu chính trong các thứ công tác.

Phải tăng cường công tác của Bộ Tổng Tham mưu và của Tổng cục Cung cấp. Công tác của Bộ Tổng Tham mưu phải tăng cường mới có thể nâng cao chiến thuật và kỹ thuật của bộ đội. Công tác của Tổng cục Cung cấp phải tăng cường thì mới có thể đảm bảo được sự cung cấp đầy đủ cho chiến tranh và nâng cao sức chiến đấu của bộ đội.

Nhưng phải kiên quyết phản đối xu hướng sai lầm làm cho các cơ quan phình lên.

9. Phải có kế hoạch chung về việc xây dựng và bổ sung bộ đội. Ngoài việc động viên thanh niên ở vùng tự do tòng quân, cần phải rất chú ý tranh thủ và cải tạo ngụy binh đã đầu hàng ta để bổ sung cho bộ đội ta. Tổ chức bộ đội mới thì không nên hoàn toàn dùng cán bộ mới và binh sĩ mới, mà nên dùng cách lấy bộ đội cũ làm nền tảng để mở rộng bộ đội mới. Đồng thời cũng không nên vét sạch bộ đội du kích để bổ sung cho bộ đội chủ lực.

10. Cần phải tăng cường và cải thiện dần việc trang bị cho bộ đội, nhất là xây dựng pháo binh".


Tháng 2.

Bộ Tổng Tham mưu mở hội nghị nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm
, phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu trong phòng ngự tập đoàn cứ điểm của địch, thảo luận các cách đánh, đặc biệt là cách khắc phục hỏa lực địch, chiến đấu ban ngày và liên tục.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:30:48 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

15-7 đến 26-9.

Bộ Tư lệnh Liên khu 5 sử dụng trung đoàn 803 và lực lượng vũ trang địa phương mở chiến dịch tiến công địch tại Quảng Nam; nhằm tiêu diệt sinh lực, phá hệ thống đồn bốt, tháp canh của địch, mở rộng vùng du kích.

Tư lệnh chiến dịch: Nguyễn Bá Phát.
Chính ủy: Bùi San.


Tháng 7.

Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị chiến tranh du kích Bắc Bộ
. Đại biểu các ngành quân, dân, chính, đảng các địa phương ở vùng sau lưng địch (Bắc Bộ, Bình-Trị-Thiên, Liên khu 5) tham dự. Hội nghị tổng kết kinh nghiệm chống càn, khẳng định vai trò của bộ đội địa phương và dân quân du kích; giải quyết một số vấn đề cụ thể và thống nhất lãnh đạo, biên chế tổ chức, công tác cung cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho hội nghị: “Điều trọng yếu là bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám sát lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Bám lấy dân là làm sao cho được lòng dân, dân tin, dân mến, dân yêu. Như vậy thì bất kể việc gì khó cũng làm được cả và nhất định thắng lợi”.


2-13 tháng 8.

Hội nghị tổ chức toàn quân lần thứ nhất
, tổng kết kinh nghiệm công tác chi bộ trong quân đội, nâng cao chất lượng đảng viên, chấn chỉnh tổ chức và sinh hoạt, tăng cường sự lãnh đạo tập thể, phát huy sự lãnh đạo của chi bộ, làm cho chi bộ thành trụ cột vững mạnh bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ tác chiến và xây dựng. Hội nghị quán triệt nghị quyết của Trung ương Đảng về thực hiện chế độ đảng ủy, củng cố hội đồng quân nhân và tổ chức đoàn thanh niên trong quân đội.


2 tháng 8.

Tổng cục Cung cấp ban hành “Quy chế tổ chức Đội Thanh niên xung phong”
, nêu rõ nhiệm vụ, tổ chức, quyền hạn, các mối quan hệ công tác, chế độ, tiêu chuẩn về ăn, mặc, tài chính, chữa bệnh của Đội Thanh niên xung phong.


25-29 tháng 8.

Trung đoàn 101 (Liên khu 4) do trung đoàn trưởng Lê Thiết chỉ huy chống cuộc càn mang tên “Chiến dịch Châu chấu” (Opération Sauterelle) tại Thanh Hương - Vĩnh Xương.


31 tháng 8.

Tổ đặc công do Nguyễn Văn Thọ chỉ huy đánh kho bom Phú Thọ (Sài Gòn)
phá hủy 52 nghìn tấn bom và 50 triệu viên đạn các loại. Tiếng nổ kéo dài hơn một ngày đêm làm rung chuyển thành phố Sài Gòn và các vùng lân cận.


Tháng 8.

- Thành lập Trường du kích chiến tranh
. Khóa 1 khai giảng vào cuối năm 1952, tại Vai Cày, Đại Từ, Thái Nguyên, bổ túc cán bộ tỉnh đội, huyện đội, cán bộ tiểu đoàn và đại đội bộ đội địa phương. Nội dung: về chính trị, bồi dưỡng theo các tài liệu trường kỳ kháng chiến, nghị quyết công tác trong vùng tạm chiếm và vùng du kích, đẩy mạnh du kích chiến tranh... Về quân sự, học bắn súng, ném lựu đạn, sử dụng các loại vũ khí thô sơ (chông, mìn, cạm, bãy), các hình thức chiến thuật phục kích, tập kích, chống càn, đánh giao thông...

Hiệu trưởng: Trần Mạnh Quỳ - nguyên Cục trưởng Cục Dân quân.

- Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh thành lập Trường Bổ túc quân chính sơ cấp, đối tượng chính là cán bộ đại đội.

Hiệu trưởng: Đào Chính Nam.
Chính trị ủy viên: Ngô Tấn Văn.

Khóa 1 khai giảng ngày 20 tháng 9 năm 1952, tại xã Tiền Phong, Đồng Hỷ, Thái Nguyên, có 192 học viên.


4-7 tháng 9.

Trung đoàn 101 (Liên khu 4) chống cuộc càn “Cá sấu” (Caiman) tại khu vực Cửa Việt, Phong Điền, Hải Lăng (Quảng Trị).


14-10 đến 10-12.

Chiến dịch Tây Bắc.


Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị chuẩn bị chiến dịch từ tháng 4 năm 1952. Đầu tháng 9, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc. Ở hướng chính, Bộ Tổng tư lệnh sử dụng các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316, Đại đoàn Công pháo 351, trung đoàn bộ binh 148 và lực lượng vũ trang địa phương đánh địch ở Tây Bắc. Hai đại đoàn bộ binh 320, 304 hoạt động nghi binh và phối hợp ở vùng sau lưng địch.

Các tỉnh từ Thanh - Nghệ - Tĩnh trở ra huy động 35.000 dân công cùng các đơn vị công binh sửa đường và vận tải tiếp tế.

Chỉ huy trưởng chiến dịch: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Hoàng Văn Thái. Chủ nhiệm chính trị: Nguyễn Chí Thanh. Chủ nhiệm cung cấp: Nguyễn Thanh Bình.

Chiến dịch diễn ra qua ba đợt. Trên cả hai mặt trận, bộ đội ta loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên, đánh bại âm mưu củng cố “Xứ Thái”, “Xứ Mường”, “Xứ Nùng” tự trị của địch, giải phóng 28.500 ki-lô-mét vuông với 25 vạn dân thuộc các tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), bốn huyện phía nam tỉnh Lai Châu, hai huyện phía tây tỉnh Yên Bái, nối liền Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc.

Các đơn vị tham gia chiến dịch tiến bộ rõ rệt về trình độ đánh công kiên, đánh vận động ở chiến trường rừng núi xa hậu phương. Tại hội nghị tổng kết chiến dịch (29-1-1953), Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương: “Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác bằng lòng các chú, lần này chưa phải là hoàn toàn, nhưng hơn mọi lần trước”.


Tháng 10.

Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ khắc phục trận lũ lụt lớn, giữ gìn lực lượng, tích cực đánh địch để giành lại thế chủ động, phối hợp với các chiến trường.


Tháng 11.

Cục Thông tin liên lạc mở lớp tập huấn đài trưởng vô tuyến điện lần thứ nhất.



1-30 tháng 12.

Trung đoàn 48 (Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương phá cuộc càn Brơ-ta-nhơ của năm binh đoàn cơ động địch ở Nam Định. Các trung đoàn 57, 66, 9, 52 phối hợp với bộ đội địa phương, du kích đánh địch ở Ninh Bình, Hà Nam, Thái Bình.


5 tháng 12.

Thành lập Đại đoàn bộ binh 325
. Từ ngày 17 tháng 5 năm 1950, Bộ Quốc phòng đã ra quyết định “chấn chỉnh tổ chức quân chính quy ở Bình - Trị - Thiên... củng cố các đơn vị chủ lực hiện có, tiến tới xây dựng thành đại đoàn chủ lực cơ động tác chiến dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng tư lệnh”. Ngày 23 tháng 6 năm 1951, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho mặt trận Bình - Trị - Thiên “gấp rút củng cố bộ đội địa phương, phát triển dân quân du kích, sẵn sàng thay thế lực lượng chủ lực, tiến tới xây dựng đại đoàn chủ lực ở Bình - Trị - Thiên”. Ngày 5 tháng 12 năm 1952, Thường vụ Liên khu ủy Liên khu 4 quyết nghị: “Rút các trung đoàn chủ lực ra khỏi chiến trường để xây dựng thành đại đoàn chủ lực”. Thực hiện chủ trương trên, Đảng ủy và Bộ chỉ huy mặt trận Bình - Trị - Thiên đưa các trung đoàn bộ binh 101, 18, 95 và một số phân đội binh chủng ra vùng tự do Nghệ - Tĩnh xây dựng Đại đoàn bộ binh 325.

Tư lệnh kiêm Chính ủy: Trần Quý Hai.

Đại đoàn bộ binh 325 mang tên truyền thống “Đại đoàn Binh - Trị - Thiên”.


19 tháng 12.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi nhân ngày toàn quốc kháng chiến:
“Chúng ta bước sang năm thứ bảy của cuộc kháng chiến toàn quốc... ta càng ngày càng mạnh, địch càng ngày càng yếu. Từ chiến dịch Biên Giới cuối năm 1950 đến nay, trên chiến trường Bắc Bộ, ta đã giành và giữ chủ động, còn địch thì bị động”.

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 02:29:09 pm 
Tác giả chuongxedap - Bài mới nhất gửi bởi chuongxedap

1 tháng 5.

- Hội nghị thông tin liên lạc toàn quân lần thứ hai
, tổng kết chiến thuật thông tin trong đánh đồn, đánh vận động, đánh tập kích, đánh độn thổ (ở đồng bằng), bảo đảm liên lạc vô tuyến điện, hiệp đồng giữa các phương tiện thông tin, thống nhất biên chế phân đội thông tin liên lạc từ cấp đại đội bộ binh trở lên để Bộ Tổng Tham mưu duyệt.

- Thành lập tiểu đoàn 320 vận tải thuộc Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Nhiệm vụ: tiếp nhận; vận chuyển hàng hóa từ Liên khu 5 về chiến khu Đ, giữ vững đường liên lạc giữa Nam Bộ với Trung ương; đưa đón, bảo vệ các đoàn cán bộ Trung ương vào Nam Bộ và ngược lại. Tiểu đoàn trưởng: Nguyễn Văn Lung.


4-15 tháng 5.

Hai trung đoàn 108, 803 (Liên khu 5) chống cuộc càn La-tê-rít (Latérite) tại căn cứ miền Tây Quảng Ngãi.


20 tháng 5.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra nghị quyết “Về tổ chức Đảng trong bộ đội chủ lực”
, quyết định bỏ chế độ chính ủy “tối hậu quyết định”, thành lập chế độ cấp ủy Đảng trong bộ đội chủ lực; quy định tổ chức Đảng ở các cấp, nhiệm vụ quyền hạn và các mối quan hệ của cấp ủy Đảng...

Hệ thống tổ chức Đảng ở các cấp được quy định như sau:

“- Ở đại đội có hội nghị toàn thể chi bộ và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy).

- Ở tiểu đoàn có đại hội đại biểu tiểu đoàn và ban chấp hành tiểu đoàn (gọi tắt là tiểu đoàn ủy).

- Ở trung đoàn có đại hội đại biểu trung đoàn và ban chấp hành trung đoàn (gọi tắt là trung đoàn ủy).

- Ở đại đoàn có đại hội đại biểu đại đoàn và ban chấp hành đại đoàn (gọi tắt là đại đoàn ủy).

- Ở các trường, nếu nhỏ thì có hội nghị toàn thể chi bộ trong trường và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy), nếu lớn thì có đại hội đại biểu toàn trường và ban chấp hành nhà trường (gọi tắt là hiệu ủy).

- Ở các cơ quan đoàn bộ, nếu nhỏ thì có hội nghị toàn thể chi bộ trong cơ quan và ban chấp hành chi bộ (gọi tắt là chi ủy), nếu lớn, có từ hai chi bộ trở lên thì có đại hội đại biểu cơ quan và ban chấp hành liên chi (gọi tắt là liên chi ủy). Ở đại đoàn bộ hoặc các tổng cục thuộc Bộ Tổng tư lệnh, nếu có nhiều liên chi, thì có đại hội đại biểu toàn cơ quan và ban chấp hành đại đoàn bộ, tổng cục...

- Tổng Quân ủy do Trung ương chỉ định, đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị.


28 tháng 5 - 2 tháng 6.

Tiểu đoàn 57 (trung đoàn 46, Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương chống cuộc càn Căng-gu-ru (Kangourou) tại khu vực tây Phú Xuyên, Ứng Hóa (Hà Đông) và Kim Bảng (Hà Nam), diệt và làm bị thương 400 tên, ta bảo toàn lực lượng.


Tháng 5.

- Các đơn vị từ Liên khu 5 trở ra chỉnh huấn chính trị, quân sự, tổ chức biên chế, trang bị
. Về chính trị: cán bộ từ cấp đại đội trở lên học tài liệu “Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam". Cán bộ từ trung đội đến chiến sĩ học các tài liệu "Quân đội nhân dân Việt Nam”, "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi”. Về quân sự: các đại đoàn thống nhất huấn luyện năm kỹ thuật (bắn súng, đầm lê, ném lựu đạn, đào công sự, sử dụng bộc phá); chiến thuật công kiên cứ điểm, đánh vận động, chống càn quét, hiệp đồng với các đơn vị binh chủng... Về tổ chức, biên chế, trang bị: Bộ Tổng Tham mưu quy định mỗi đại đoàn có ba trung đoàn bộ binh và các tiểu đoàn binh chủng (công binh, pháo binh, phòng không, thông tin, vận tải...). Mỗi tiểu đoàn tổ chức một đại đội mạnh có bốn trung đội để làm nhiệm vụ chủ công trong chiến đấu công kiên. Mỗi đại đội bộ binh giảm 11 người, nhưng được trang bị thêm 6 súng trường, 15 tiểu liên. Cơ quan từ đại đội bộ đến đại đoàn bộ giảm 800 người. Toàn đại đoàn giảm 1.000 người. Các cơ quan trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh xác định rõ chức trách, cải tiến nếp làm việc, giảm trung gian, rút cán bộ và chiến sĩ tăng cường cho các đơn vị chiến đấu. Thực hiện tiêu chuẩn cung cấp mới cho bộ đội, chính sách đối với thương binh, nữ quân nhân...

- Thành lập Khu Tả ngạn sông Hồng. Gồm các tỉnh: Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên và Thái Bình, tách từ Liên khu 3 ra.

Bộ Tư lệnh khu gồm các đồng chí: Đỗ Mười - Bí thư kiêm Chính ủy; Nguyễn Khai - Tư lệnh; Dương Hữu Miên - Phó tư lệnh; Đặng Tính - Phó chính ủy.


2-6 tháng 6.

Tiểu đoàn 922 (trung đoàn 46, Liên khu 3) chống cuộc càn Ăng-ti-lốp (Antilop) tại khu vực đông Phú Xuyên (Hà Đông) và Duy Tiên (Hà Nam), diệt và làm bị thương 300 tên.


16 tháng 6.

Đại đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành (Mỹ Tho) do huyện đội trưởng Lê Phước Hải chỉ huy, tiến công trường hạ sĩ quan ngụy tại Bình Đức, diệt và bắt hơn 250 tên, thu 200 súng và 100.000 viên đạn. Đại đội được Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ khen: “thọc sâu, đánh hiểm, bảo toàn lực lượng”.


19 - 20 tháng 6.

Trung đoàn 101 (Liên khu 4) đánh bại cuộc tiến công của hai tiểu đoàn Âu - Phi, bảo vệ chiến khu Dương Hòa (tây Thừa Thiên).


22 tháng 6.

Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất
. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với hội nghị: “Mỗi cán bộ cung cấp nói riêng, Tổng cục Cung cấp nói chung, phải phụ trách trước bộ đội, trước nhân dân, trước Đảng, trước Chính phủ... Bổn phận của cán bộ cung cấp là phục vụ chiến sĩ đi đánh giặc và những người dân công đi giúp chiến dịch. Đối với chiến sĩ, phải săn sóc họ, làm sao cho họ đủ ăn, đủ mặc, đủ súng, đủ thuốc... Một bát gạo, một đồng tiền, một viên đạn, một viên thuốc, một tấc vải phải đi thẳng đến chiến sĩ”.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM