Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Một, 2020, 07:03:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:40:26 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Ba là, tư tưởng về cách đánh.

Với quyết tâm tiêu diệt địch ngay khi chúng xâm phạm đến bờ cõi nước ta, Ngô Quyền chủ trương đánh trận quyết chiến chiến lược ngay trên địa bàn cửa ngõ đất nước, từ ngoài của biển vào phía sông Bạch Đằng, chủ yếu là khúc sông phía trong tiếp liền cửa biển.


Trên cơ sở thế trận đã được chuẩn bị sẵn, ông bố trí các đội quân thủy, bộ và dân binh do các tướng giỏi và tướng người địa phương chỉ huy ở hai bên cửa sông Bạch Đằng, ở bên trong bãi cọc, khoảng hạ lưu và trung lưu sông Bạch Đằng.


Theo truyền thuyết và thần tích, Dương Tam Kha, con trai Dương Đình Nghệ, em vợ của Ngô Quyền cùng Đào Nhuận (người Gia Viên, Hải Phòng) bố trí lực lượng ở tả ngạn sông Bạch Đằng, trong đó đội quân do Đào Nhuận chỉ huy có tới hàng nghìn người. Đỗ Cảnh Thạc cùng với ba anh em họ Lý ở Hải Phòng bố trí lực lượng ở hữu ngạn sông. Còn Ngô Xương Ngập (con trai Ngô Quyền) bố trí lực lượng ở hữu ngạn sông Cấm, sẵn sàng ngăn chặn quân địch đi vào đường sông Cấm, buộc chúng phải đi đúng vào vùng chiến địa mà ta đã định sẵn.


Ngô Quyền cũng chuẩn bị một đội quân khiêu chiến để dụ địch vào thế trận bố trí sẵn của ta. Theo thần tích Gia Viên (Hải Phòng), đội quân khiêu chiến này do Nguyễn Tất Tố - người địa phương rất giỏi thủy chiến chỉ huy.


Khi quân Nam Hán ngấp nghé ngoài cửa biển. Ngô Quyền cho đội thuyền khiêu chiến ra dụ địch vào sâu thế trận lúc nước thủy triều dâng. Hoằng Tháo quả nhiên mắc mưu, xua quân đón đánh. Theo hiệu lệnh của Ngô Quyền, quân khiêu chiến của ta giả vờ thua và rút chạy, dụ địch đuổi theo. Hoằng Tháo nhanh chóng tiến quân vượt qua hàng cọc, lọt hẳn vào trong trận địa mai phục của ta. Sau khi toàn bộ đạo binh thuyền địch đã lọt hẳn vào trong vùng cắm cọc, khi nước triều bắt đầu rút, chính là lúc đại quân ta mai phục ở hai bên bờ sông và ở phía trên xông ra chặn đánh quân giặc. Nước triều càng xuống mạnh, quân ta càng tích cực tiến công khiến Hoằng Tháo chống đỡ không nổi. Chúng buộc phải tháo chạy ra hướng biển, nhưng hàng cọc của ta đã nhô lên, chặn đứng đoàn thuyền địch. Sử cũ cho biết: "Hoằng Tháo phải chống cự luôn tay, mà nước triều xuống rất nhanh, thuyền bè đều bị vướng vào trong cọc. Quyền đánh hăng, đại phá được Hoằng tháo"39 (Việt sử lược, Sđd, tr.41).


Kết quả là, quân ta đã tiêu diệt được đại bộ phận quân địch và giết được chủ tướng Hoằng Tháo. Trận quyết chiến diễn ra trong vòng chưa đầy một ngày, vào thời gian một lần nước triều lên xuống, đã đập tan ý chí xâm lược của quân Nam Hán.


Cuộc chiến đấu chống quân Nam Hán kết thúc thắng lợi nhanh, gọn. Trong trận đánh này, quân và dân ta đã khéo dùng kế nhử địch vào trận địa mai phục rồi tung lực lượng ra phản công quyết liệt, kết hợp tiến công với cản phá bằng trận địa cọc, nhanh chóng tiêu diệt đạo binh thuyền địch, giành thắng lợi cho cuộc chiến tranh giữ nước. Đó là cuộc chiến đấu chống xâm lược tiêu biểu cho cách đánh đầy mưu trí, có hiệu quả cao của dân tộc ta.


Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 là kết tinh sức mạnh yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta - một dân tộc đang vươn lên quyết giữ gìn non sông đất nước, bảo vệ nền độc lập tự do. Sử gia Ngô Thì Sĩ ở thế kỷ XVIII đã viết: "Thắng lợi trên sông Bạch Đằng là cơ sở sau này cho việc phục lại quốc thống. Những chiến công các đời Đinh, Lê, Lý, Trần vẫn còn nhờ vào uy danh lẫm liệt để lại ấy. Trận Bạch Đằng là vũ công cao cả, vang dội đến ngàn thu hết phải chỉ lừng lẫy ở một thời bấy giờ mà thôi"40 (Ngô Thì Sĩ: Việt sử tiêu án, Văn hóa Á châu xuất bản, 1960, tr.80).


Tóm lại, từ thế kỷ III Tr. CN đến đầu thế kỷ X, là một thời kỳ lịch sử nhân dân ta liên tục chống xâm lược, chống ách đô hộ, thống trị của các thế lực phong kiến phương Bắc để giành lại và giữ quyền làm chủ, giữ vững độc lập tự do của đất nước. Trong cuộc đấu tranh lâu dài đó, tư tưởng quân sự của dân tộc ta từng bước hình thành và phát triển. Nó thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu, như vấn đề xác định mục tiêu chiến đấu, vấn đề tổ chức lực lượng, tạo ra sức mạnh và tìm kiếm phương thức đấu tranh để giành chiến thắng... Đó là kết quả của sự tổng kết kinh nghiệm đánh giặc giữ nước của dân tộc ta trong nhiều thế kỷ, cho nên, nó có ý nghĩa phổ biến cho những cuộc chiến tranh giữ nước ở giai đoạn tiếp sau.

 2 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:39:06 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Hai là, tư tưởng về tạo lực lượng và thế trận để đánh thắng quân xâm lược.


Tiến hành cuộc kháng chiến trong điều kiện nước ta đã là một quốc gia độc lập, có chủ quyền dân tộc, có nguồn nhân lực, vật lực và trên một mức độ nhất định đã có một lực lượng quân sự của mình, nên Ngô Quyền chủ trương huy động sức mạnh của cả dân tộc, của cả nước và chủ động xây dựng một thế trận để chống giặc.


Lực lượng quân sự nòng cốt để chống giặc Nam Hán trước hết là đạo quân bản bộ của Ngô Quyền từ Ái Châu kéo ra. Mặc dù sử sách không cho biết đội quân này có số lượng là bao nhiêu, nhưng đó là đội quân đã từng tiến công thành Đại La, đánh đuổi quân Nam Hán (năm 931), diệt Kiều Công Tiễn (năm 938), nên chắc hẳn có số lượng đông đến vài vạn người, có tinh thần chiến đấu và giàu lòng yêu nước.


Đồng thời, do ý thức dân tộc ngày càng trưởng thành, nên trước họa ngoại xâm, nhiều hào trưởng yêu nước ở các nơi đã đem quân về dưới trướng Ngô Quyền để cùng đánh quân xâm lược. Theo thần tích của nhiều địa phương, trong đội quân của Ngô Quyền có lực lượng của nhiều hào mục, thủ lĩnh ở nhiều nơi khác tham gia, như: Lã Minh ở Liễu Chử, xã Song Liễu (Thuận Thành, Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ ở Ngọc Đường (Kim Động, Hưng Yên), Phạm Chiêm ở Nam Sách (Hải Dương), Đinh Công Trứ ở Hoa Lư (Ninh Bình), Kiều Công Hãn ở Bái Dương (Nam Định), Ngô Xương Ngập ở Quang Đàm, An Hải (Nam Định)... Cho nên, khi Ngô Quyền dẫn quân ra chống giặc ở cửa biển thì ông đã có trong tay một đội quân của cả nước, đúng như sử gia Lê Văn Hưu đã nhận xét: "Tiền Ngô Vương có thể lấy quân mới họp của nước Việt ta mà đánh tan được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo"36 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.204).


Bên cạnh đội quân chủ lực, Ngô Quyền cũng huy động lực lượng dân binh ở các làng xã dọc đường hành quân, nhất là dân binh ở các làng xã quanh vùng xảy ra chiến trận. Nhiều nguồn tư liệu địa phương đã phản ánh việc Ngô Quyền tuyển quân ở vùng cửa biển, chọn lấy những người giỏi về sông nước. Theo truyền thuyết Gia Viên (nội thành Hải Phòng), Ngô Quyền đã mộ được ở đây 30 người vào đội quân "thần tử" để chuẩn bị cho cuộc chiến; hay Nguyễn Tất Tố và Đào Nhuận là người địa phương đã cầm đầu các đội quân tham gia nhiều mũi tiến công trong thế trận của Ngô Quyền.


Cũng theo truyền thuyết, thần tích các địa phương ở Hải Phòng, ba anh em Lý Minh, Lý Bảo, Lý Khả ở làng Hoàng Pha, xã Hoàng Động (Thủy Nguyên) huy động lực lượng dân binh đánh giặc tại chỗ; chàng trai họ Phạm ở xã Đằng Giang (An Hải) tham gia đóng cọc trên sông Bạch Đằng; Nguyễn Quý Minh ở Lâm Động (Thủy Nguyên) cho biết người mách bảo con nước thuỷ triều để Ngô Quyền chuẩn bị kế hoạch diệt địch trên sông Bạch Đằng và hiến kế đóng cọc trên sông Bạch Đằng...


Nhờ vậy, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ hai, Ngô Quyền đã tập hợp được lực lượng đông đảo của cả nước, trong đó có đội quân chủ lực giỏi cả về đánh thủy và đánh bộ làm nòng cốt.


Đồng thời, Ngô Quyền cũng chủ động lập sẵn thế trận để phá giặc. Quyết tâm ấy được thể hiện trong lời ông bàn với các tướng về kế phá giặc: "Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát"37 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.203). Vì vậy ông đã cho xây dựng một trận địa cọc ngầm ở hai bên cửa sông Bạch Đằng. Đây là một vùng đất hiểm yếu, cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từ biển Đông vào nội địa nước ta. Sử sách của ta thời xưa từng viết về địa thế sông nước khu vực này: "Sông Bạch Đằng có tên gọi nữa là sông Vân Cừ, rộng hơn 2 dặm, ở đó có nhiều núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ biển, thực là một nơi hiểm yếu về đường biển"38 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.223).


Chính giữa vùng thiên nhiên sông biển đó, trên cơ sở sức mạnh đoàn kết và ý chí độc lập của cả dân tộc, Ngô Quyền khẩn trương bày sẵn một thế trận hết sức hiểm hóc, lợi hại để chủ động phá giặc. Ông huy động cả quân và dân vào rừng đẵn gỗ, vót nhọn, bịt sắt, rồi cho đóng xuống lòng sông thành hàng dài, tạo nên một bãi cọc, một bãi chướng ngại dày đặc ở hai bên của sông. Khi nước triều lên mênh mông, thì cả bãi cọc ngập chìm, khi triều xuống thì hàng cọc nhô lên cản trở thuyền bè qua lại. Bãi cọc đã thực sự làm tăng thêm phần hiểm trở cho địa hình thiên nhiên ở đây.


Về việc chuẩn bị trận địa cọc, các sách sử của ta chép không rõ mà chỉ ghi chung chung là Ngô Quyền cho đóng cọc đầu bịt sắt ở cửa biển. Song, để xây dựng một trận địa cọc to lớn, công phu trong thời gian ngắn như vậy, tất yếu phải có sự tham gia đông đảo của lực lượng quân đội và dân chúng từ các địa phương. Chỉ với sự ủng hộ, tham gia tích cực của đông đảo nhân dân mới có thể tạo nên thế trận lợi hại để tiêu diệt gọn đạo quân xâm lược Nam Hán trong trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng.

 3 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:37:19 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
3. Tư tưởng quân sự trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự chủ đầu thế kỷ X

Kể từ năm 905, với cuộc nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, nhân dân ta đã phá bỏ được ách đô hộ của nhà Đường, giành lại quyền tự chủ. Nhưng các thế lực xâm lược từ phương Bắc vẫn tìm cách chiếm lại nước ta, âm mưu áp đặt lại ách thống trị của chúng trên đất nước ta.


Trong thời gian chưa đầy 10 năm, từ năm 930 đến năm 938, nhà Nam Hán liên tiếp hai lần đem quân sang xâm lược nước ta, vào các năm 930 và 938.


Ở lần xâm lược thứ nhất (930), mục tiêu của quân Nam Hán còn nặng về cướp bóc hơn là đô hộ. Do vậy, sau khi đánh chiếm các vùng trọng yếu của nước ta, quân Nam Hán co lại chỉ giữ Đại La (Hà Nội), kiểm soát một số vùng xung quanh và chỉ cử Lý Tiến sang làm Thứ sử Giao Châu cùng với Lương Khắc Trinh (Đại Việt sử ký toàn thư chép là Lý Khắc Chính) giữ thành Đại La.


Ở lần xâm lược thứ hai (938), nhà Nam Hán thể hiện rất rõ ý đồ chiếm đất và đô hộ. Vì thế, chúng đã huy động một lực lượng lớn, có quy mô và tổ chức chặt chẽ hơn, do đích thân vua Nam Hán cùng con trai trực tiếp chỉ huy. Đội quân xâm lược này được chia làm hai đạo: Đạo quân tiên phong gồm một đội binh thuyền mạnh được giao cho Vạn Vương Hoằng Tháo, con trai vua Nam Hán chỉ huy, vượt biển đi trước. Đạo quân tiếp theo do vua Nam Hán tự làm tướng chỉ huy, đi sau áp sát làm kế thanh viện và yểm trợ cho Hoằng Tháo. Đặc biệt vua Nam Hán còn đổi phong con Vạn Vương làm Giao Vương với ý định để Hoằng Tháo cầm đầu bộ máy cai trị Giao Châu, thể hiện quyết tâm đặt lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc lên đất nước ta.


Đến đây, với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán (năm 938) do Ngô Quyền lãnh đạo, cuộc đấu tranh quân sự của dân tộc ta có sự biến đổi về yêu cầu, nhiệm vụ, nó không phải nhằm đánh đuổi quân địch đang chiếm đóng trên đất nước ta, mà nhằm đánh bại quân địch từ nước chúng kéo sang xâm lược. Do đó, cùng với các biến đổi về yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến, tư tưởng quân sự của dân tộc ta ở giai đoạn này cũng có sự biến đổi nhằm đáp ứng những đòi hỏi do thực tiễn cuộc đấu tranh đặt ra. Sự biến đổi ấy thể hiện trên một số nội dung chủ yếu như sau:


Một là, tư tưởng về xác định mục tiêu chiến đấu.


Biết giặc Nam Hán chuẩn bị tiến công xâm lược và có tham vọng đô hộ hẳn nước ta, Ngô Quyền quyết tâm tổ chức và lãnh đạo cuộc chiến đấu để bảo vệ nền độc lập non trẻ của đất nước. Sau khi mau chóng diệt xong bọn phản bội Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền bàn với các tướng rằng: "Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm trước ở cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát"34 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.203).


Qua kế đánh giặc mà Ngô Quyền bàn với các tướng, có thể thấy mục đích của cuộc chiến đấu là nhằm tiêu diệt toàn bộ đạo binh thuyền lớn do Hoằng Tháo chỉ huy khi chúng vượt biển đánh sang, tới vùng cửa sông Bạch Đằng.


Đạo binh thuyền lớn do Hoàng Tháo chỉ huy là đạo quân xâm lược đi đầu, đạo quân chủ lực của địch. Còn đạo quân do Lưu Cung (vua Nam Hán) trực tiếp chỉ huy, là đạo quân đi tiếp ứng, làm lực lượng dự bị của địch. Nếu đạo quân chủ lực của Hoàng Tháo đánh sang chỉ bị quân ta chặn đánh tiêu hao, vẫn tiếp tục tiến công vào sâu được nội địa nước ta, thì đạo quân dự bị Lưu Cung ắt sẽ tràn sang tiếp ứng để đè bẹp lực lượng kháng chiến của ta. Nhưng nếu đạo quân Hoàng Tháo vừa tiến sang tới địa phận nước ta đã bị quân và dân ta chặn đánh, tiêu diệt gọn một cách nhanh chóng thì đạo quân của Lưu Cung sẽ không kịp tràn sang ứng cứu, mà chỉ còn cách duy nhất là cuốn cờ rút lui, chấm dứt cuộc xâm lăng. Bởi vậy, một khi thực hiện được mục đích trận đánh là nhanh chóng tiêu diệt gọn đạo binh thuyền Hoằng Tháo khi chúng vừa kéo tới vùng cửa sông Bạch Đằng, làm cho đạo quân của Lưu Cung bị tan rã ý chí chiến đấu, buộc phải rút về thì cũng tức là đạt được mục tiêu chiến lược của cuộc chiến tranh giữ nước: tiêu diệt lực lượng quân sự địch, làm tan rã ý chí xâm lược của Vương triều Nam Hán, nhanh chóng kết thúc chiến tranh, bảo vệ vững chắc chủ quyền của dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


Tư tưởng về xác định mục tiêu chiến đấu kể trên phản ánh được ý chí và nguyện vọng cơ bản, sống còn của cả dân tộc; tỏ rõ cuộc chiến đấu của ta là tiến bộ, chính nghĩa, hợp quy luật, còn địch thì ngược lại, đồng thời cũng phản ánh đúng sự so sánh lực lượng giữa ta và địch. Nó là ngọn cờ tập hợp, cố kết, động viên lực lượng toàn dân, sức mạnh cả nước đánh thắng quân xâm lược.


Việc xác định đúng mục tiêu chiến đấu tạo ra thuận lợi cơ bản cho quân và dân ta hình thành lực mạnh, thế mạnh, có sức mạnh ưu thế để đánh thắng quân thù. Thực tế cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán do Ngô Quyền lãnh đạo cho thấy, việc tiêu diệt nhanh gọn, bất ngờ đạo quân chủ lực của địch đã khiến cho vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng mà không kịp trở tay đối phó. Hắn kinh hoàng, hoảng hốt, đành "thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về"35 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.204). Sau thất bại thảm hại này, triều Nam Hán phải từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta, từ đó không dám xâm phạm đến lãnh thổ, chủ quyền của ta nữa.

 4 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:26:14 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Những sự việc trên cho thấy, việc lật đổ đánh đuổi chính quyền đô hộ và chiếm giữ phủ thành Tống Bình luôn là mục tiêu chung của các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc ở giai đoạn này. Điều đó càng tô đậm thêm tính chất chính nghĩa, tiến bộ của các cuộc khởi nghĩa chống đô hộ, mặt khác cũng khẳng định sự trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng yêu nước, của nhân dân ta cả về tinh thần và vật chất.


Mục tiêu cứu nước của các cuộc khởi nghĩa ở giai đoạn này còn thể hiện ở tính chất, mức độ đấu tranh rất quyết liệt của nhân dân ta. Cuộc khởi nghĩa nào sau khi giành được thắng lợi cũng tiến hành xưng đế, xưng vương hoặc tổ chức bộ máy lãnh đạo đất nước, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ... Cuộc khởi nghĩa nào hễ nổ ra, cũng bị bộ máy đô hộ tại chỗ dùng bạo lực hoặc chính quyền đô hộ nhà Đường đưa lực lượng từ chính quốc sang đàn áp, bắt giết những người tham gia đấu tranh. Song nhân dân ta vẫn không chịu khuất phục, vẫn kiên cường đấu tranh, càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Cho dù nhà Đường đàn áp cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (713-722) rất dã man, chất xác nghĩa quân đắp thành gò cao để đe dọa nhân dân ta; hoặc năm 757, đổi tên gọi An Nam thành Trấn Nam, thể hiện ý đồ tăng cường bạo lực quân sự đối với nhân dân ta, chúng cũng không sao ngăn nổi phong trào đấu tranh giải phóng của dân tộc ta.


Mục tiêu cứu nước - sự kết tinh trong đó những giá trị của lòng yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập, tự chủ, đến đây càng phát huy sức mạnh thúc đẩy cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc đi đến thắng lợi.


Hai là, các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc ở giai đoạn này có tính chất toàn dân, tính chất quần chúng rất cao. Đặc điểm này thể hiện ở một số nội dung như sau:


Thứ nhất, thành phần lãnh đạo cuộc đấu tranh ngày càng có nhiều hào trưởng người Việt tham gia. Đó là tầng lớp xã hội vốn có uy tín, có thế lực ở địa phương. Do chịu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân, họ càng ngày càng có ý thức về vai trò và lực lượng của mình, sẵn sàng cùng toàn dân đấu tranh giành lấy chủ quyền dân tộc. Sự tham gia của họ với tư cách là thủ lĩnh, người lãnh đạo đã khiến cho phong trào đấu tranh có thanh thế rất lớn, được dân chúng hưởng ứng rất đông và đạt hiệu quả cũng rất cao.


Điều này được thể hiện rất rõ trong phong trào đấu tranh chống ách đô hộ nhà Đường, điển hình là cuộc nổi dậy giành quyền tự chủ của nhân dân ta năm 905, do Khúc Thừa Dụ - một hào trưởng địa phương lãnh đạo. Nhận xét về vai trò của Khúc Thừa Dụ, cũng như dòng họ hào kiệt của ông trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, trong Việt giám thông khảo tổng luận, sử gia Lê Tung viết: "Khúc Tiên Chúa (Thừa Dụ) mấy đời là hào tộc, mạnh sáng trí lược, nhân nhà Đường mất, lòng người yêu mến, suy tôn làm chúa, dựng đô La Thành, dân yên nước trị, công đức truyền mãi... Khúc Trung Chúa (Hạo) nối cơ nghiệp trước, khoan hòa có phong thái của ông nội, trù hoạch quyết thắng, ngoài ý mọi người, chống chọi các nước Bắc triều, là bậc chúa hiền của nước Việt"31 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.121). Rõ ràng là, với sự tham gia ngày càng mạnh mẽ của tầng lớp hào trưởng dân tộc, phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc ở giai đoạn cuối càng có tính chất quần chúng rộng lớn và có bước phát triển vượt bậc.


Thứ hai, phong trào đấu tranh có sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân từ miền ngược đến miền xuôi, từ rừng núi đến miền đồng bằng, ven biển.


Trong giai đoạn này, cuộc khởi nghĩa nào cũng có đông đảo nhân dân tham gia. Điển hình như vào năm 713, hưởng ứng cờ nghĩa của Mai Thúc Loan, có đến 40 vạn dân chúng nổi dậy. Cuộc khởi nghĩa đó đã tập hợp được nhiều thành phần xã hội, từ những người dân phu, phường săn, nông dân và hào kiệt các vùng, đồng thời còn mở rộng lực lượng chống chính quyền nhà Đường ra cả nước và liên kết với các nước Chămpa, Chân Lạp ở phía Nam, phía Tây Nam và ở rất xa, như nước Kim Lân (Malaixia). Sử nước ta cũng như của Trung Quốc đều chép về cuộc khởi nghĩa này, như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Mai Thúc Loan chiếm giữ châu, xưng là Hắc Đế, bên ngoài liên kết với người Lâm Ấp, Chân Lạp, số quân nói là 30 vạn"32 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.190). Còn theo Tân Đường thư, Dương Tư Húc truyện thì số người tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan là 40 vạn. Nhờ thế, cuộc khởi nghĩa không bị bó hẹp trong phạm vi các châu huyện miền Trung mà còn mở rộng ra vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ lưu vực sông Lam đến lưu vực sông Hồng.


Sự tham gia đông đảo của nhân dân khiến cho các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường có quy mô rộng lớn, có tính chất quần chúng rộng rãi và đó cũng là nhân tố quyết định làm nên chiến thắng của nghĩa quân.


Thứ ba, phong trào đấu tranh còn lôi cuốn được nhiều võ quan và binh lính người Việt trong quân đội đô hộ nhà Đường tham gia. Đó là việc năm 803, căm phẫn trước âm mưu, thủ đoạn bóc lột tàn bạo của bọn quan lại đô hộ nhà Đường và được nhân dân ủng hộ, binh lính người Việt ở Hoan Châu, Ái Châu do tướng Vương Quý Nguyên chỉ huy, đã nổi dậy đánh phá phủ thành, đuổi viên đô hộ Bùi Thái về Trung Quốc.


Hoặc năm 819-820, Dương Thanh chỉ huy 3.000 quân nổi dậy chống lại viên đô hộ Lý Tượng Cổ. Về sự kiện này, sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo hà khắc mất lòng dân chúng. Tướng của Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man (chỉ người Việt - TG), khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742) nhà Đường làm Thứ sử Hoan Châu, Tượng Cổ vẫn kiêng dè, gọi cho làm nha tướng, đến đây sai đi đánh người Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ, đang đêm trở về đánh úp châu, chiếm được, giết Tượng Cổ.. ."33 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.192).


Sau khởi nghĩa Dương Thanh, binh sĩ yêu nước tiếp tục đấu tranh, nhiều lần nổi dậy làm binh biến. Tiêu biểu trong các năm 828, 841, 858, 860, 880... khiến cho chính quyền đô hộ phải đối phó rất vất vả. Những cuộc đấu tranh đó chứng tỏ sự trưởng thành của tinh thần dân tộc, ý thức độc lập tự chủ và góp phần tô đậm thêm tính chất toàn dân, tính quần chúng rộng rãi của các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Đường.


Ba là, phương thức đấu tranh chủ yếu ở giai đoạn này vẫn là phương thức kết hợp tác chiến và nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân. Song, do hầu hết các cuộc khởi nghĩa đều có hình thái vận động từ khởi nghĩa địa phương phát triển thế tiến công và nổi dậy rộng khắp trên cả nước, khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, nên sự kết hợp đó có nhiều biểu hiện phong phú, luôn được cải tiến và hoàn thiện.


Thực tế cho thấy, sự phối hợp chiến đấu giữa nghĩa quân và nhân dân được thực hiện ngay từ đầu cũng như trong suốt quá trình thực hành và phát triển cuộc khởi nghĩa. Ví như, trong việc lập căn cứ, xây dựng đất đứng chân làm nền tảng cho khởi nghĩa. Trong điều kiện mất nước, công việc này cố nhiên gặp khó khăn lớn, nhưng nghĩa quân đã dựa vào dân, sát cánh cùng nhân dân địa phương, làng xã, bao gồm cả già trẻ, gái trai, gắn bó với nhau bằng nhiều sợi dây tình nghĩa gia đình, dòng họ, quê hương, đất nước, nòi giống cộng với lòng căm thù giặc, tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất, để xây dựng và phát triển lực lượng. Do đó, các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh giải phóng có quy mô lớn lúc bấy giờ, đều lập được căn cứ chiến đấu vững chắc, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan có căn cứ Sa Nam (Nghi Xuân, Nghệ An), khởi nghĩa Phùng Hưng có căn cứ ở vùng Đường Lâm (Sơn Tây) hay khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ có căn cứ ở Hồng Châu (Ninh Giang, Hải Dương)...


Trong quá trình khởi nghĩa, nhân dân yêu nước đứng lên, dùng mọi thứ vũ khí có trong tay, từ cuốc, cào, dao, gậy, đến cung, gươm, kiếm, giáo cùng nghĩa quân tiến công đập tan cơ cấu thống trị địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ ở địa phương, chống lại những cuộc đàn áp của kẻ thù để giữ vững và phát triển cuộc đấu tranh. Sử sách và truyền thuyết đã kể về sự hy sinh của Lý Tự Tiên trong cuộc chiến đấu chống sự đàn áp của viên Đô hộ Lưu Diên Hựu, cũng như nghĩa quân của Phùng Hưng đã nhiều lần đánh bại cuộc đàn áp của viên Đô hộ Cao Chính Bình, bảo vệ căn cứ Đường Lâm...


Phương thức kết hợp tác chiến với nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân có quy mô chặt chẽ hơn khi khởi nghĩa phát triển từ địa phương mở rộng ra toàn quốc, nhất là trong những cuộc tiến công vào Tống Bình, chiếm giữ phủ thành, đánh đuổi hoặc bắt giết các quan đô hộ, rồi chiến đấu chống lại các đạo viện binh giặc, như năm 687 nhà Đường cử đạo viện binh do Tư mã Quế Châu là Tào Huyền Tỉnh chỉ huy, sang đàn áp khởi nghĩa của Lý Tự Tiên, Đinh Kiến; hoặc năm 722 lại sai tướng Dương Tư Húc đem 10 vạn quân sang đàn áp khởi nghĩa Mai Thúc Loan... Phương thức đấu tranh đó có hiệu lực rất lớn, khiến cho kẻ địch luôn bị động, phải phân tán lực lượng đối phó ở khắp nơi, do đó, càng tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ta giành chiến thắng.


Đặc biệt là, trong giai đoạn này, bên cạnh phương thức kết hợp tác chiến với nổi dậy của quân và dân, nhân dân ta còn sáng tạo một phương thức đấu tranh mới - phương thức địch vận. Dựa vào sức mạnh của chính nghĩa, sức mạnh chiến đấu của quân và dân ta, công tác địch vận đã đạt được những kết quả rất to lớn, góp phần khoét sâu mâu thuẫn nội bộ địch và từng bước làm tan rã tinh thần là tổ chức lực lượng của chúng. Do đó, dưới thời thuộc Đường, nhất là từ đầu thế kỷ IX, xuất hiện nhiều cuộc binh biến của các võ quan, tướng lĩnh và binh sĩ người Việt trong quân đội đô hộ nhà Đường, tiêu biểu như cuộc nổi dậy của binh lính dưới sự lãnh đạo của Vương Quý Nguyên (năm 803); hoặc vào những năm 819-820 do Dương Thanh lãnh đạo... Từ đây, phương thức kết hợp tác chiến và nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân với địch vận trở thành một phương thức đấu tranh quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của dân tộc ta, không những trong các cuộc khởi nghĩa mà cả trong các cuộc chiến tranh yêu nước sau này.


Những điểm nổi bật của phong trào đấu tranh chống ách đô hộ Tùy - Đường nêu trên, thể hiện sự kế thừa, phát triển những quan niệm, quan điểm về quân sự mà tổ tiên ta ở giai đoạn trước đó tích lũy, đúc kết, đồng thời tạo tiền đề cho sự phát triển tư tưởng quân sự của dân tộc trong giai đoạn lịch sử mới, từ sau khi Khúc Thừa Dụ giành được quyền tự chủ cho đất nước.

 5 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:23:56 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
2. Tư tưởng quân sự giai đoạn đấu tranh chống ách đô hộ nhà Tùy và nhà Đường

Từ thế kỷ VII, nước ta lại rơi vào ách thống trị của nhà Tùy (603-618), rồi nhà Đường (618-905). Kế tục chính sách bành trướng của các triều đại phong kiến Trung Hoa trước, nhà Tùy, đặc biệt là nhà Đường đẩy mạnh việc chinh phục, mở rộng lãnh thổ ra các phía. Từ Triều Tiên tới Iran, từ lưu vực sông Ili (Trung Á) đến miền Trung nước ta ngày nay. Tình hình đó được thể hiện rất rõ trong câu nói của Đường Thái Tông: "Chinh phục Man Di ngày trước, chỉ có Tần Thủy Hoàng và Hán Vũ Đế. Ta nay với thanh gươm ba thước, ta đã khuất phục hai mươi vương quốc, dẹp yên bốn biển, bọn Man Di ở cõi xa cũng lần lượt quy phục"29 (Đường thư. Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.300).


Nhà Tùy cũng như nhà Đường, sau khi chiếm được nước ta đều chú trọng việc tổ chức chặt chẽ hơn bộ máy thống trị của chính quyền đô hộ. Nhà Tùy chia nước ta làm 7 quận và cho dời trị sở của quận Giao Chỉ từ Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình (Hà Nội). Đến nhà Đường lại đổi các quận thành châu, chia nước ta làm 12 châu, 59 huyện (bao gồm miền đất nước ta từ Bắc Bộ đến Đèo Ngang và một phần phía nam các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây), đứng đầu mỗi châu là một quan thứ sử. Năm 622, nhà Đường lập Giao Châu đô hộ phủ; tới năm 679, đổi thành An Nam đô hộ phủ với các hình thức, thủ đoạn cai trị tàn bạo, xảo quyệt và ngu dân. So với thời Tùy, nền đô hộ của nhà Đường đã khống chế đất nước ta một cách chặt chẽ hơn.


An Nam đô hộ phủ là một tổ chức chính quyền thực dân có nhiều quyền lực, lúc đầu phụ thuộc vào chính quyền Trung ương, nhưng từ năm 757 trở đi, thì phụ thuộc vào Tiết độ sứ ở Lĩnh Nam (Quảng Châu). Đến nửa cuối thế kỷ IX, thì An Nam mới có Tiết độ sứ riêng. Tiết độ sứ là một chức quan đại diện cho uy quyền Hoàng đế Trung Hoa ở các miền biên cương, được nhà Đường đặt ra từ giữa thế kỷ VII.


Để chống phá và ngăn cản phong trào đấu tranh của nhân dân ta ngày càng lên cao, bọn quan lại đô hộ còn cho xây đắp các thành lũy lớn, chắc chắn, tăng cường quân lính đóng giữ ở các châu, quận, đặc biệt là ở phủ thành Tống Bình (Hà Nội).


Bên cạnh việc tổ chức bộ máy cai trị, các chính quyền đô hộ thực hiện việc bóc lột nhân dân ta rất nặng nề. Bọn quan lại đô hộ ở An Nam, phần lớn đều tham nhũng, ra sức vơ vét tiền của của dân, như Cao Chính Bình "phú liễm nặng" (Tư trị thông giám), Lý Trác "tham ăn hối lộ, phú thuế bạo ngược" (Cựu Đường thư), Lý Tượng Cổ "tham túng, bất kể pháp luật" (Tân Đường thư)30 (Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.309).


Chính sách bóc lột và đồng hóa của các chính quyền đô hộ dưới triều Tùy, rồi triều Đường đã khiến cho các tầng lớp nhân dân ta bị bần cùng hóa với quy mô ngày càng lớn và sự phân hóa giai cấp trong xã hội càng trở nên sâu sắc. Song, nhân dân ta với bản lĩnh vững vàng được tạo lập trong quá trình đấu tranh lâu dài chống thiên tai và địch họa, đã biết tiếp thu và vận dụng những yếu tố văn hóa ngoại nhập để thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lên một bước phát triển mới.


Cuộc đấu tranh chống ách đô hộ nước ngoài, giành lại độc lập dân tộc của nhân dân ta đã diễn ra liên tục trong suốt các thế kỷ VII, VIII và IX. Tinh thần, khí phách và kinh nghiệm đấu tranh được nuôi dưỡng, tích lũy trong hơn ba thế kỷ chống quân xâm lược đã góp phần củng cố, phát huy ý chí độc lập, tự chủ, ý thức tự lập, tự cường của nhân dân ta, đồng thời cũng làm cho tư tưởng quân sự của dân tộc ta ở giai đoạn này có bước định hình rõ hơn về những vấn đề cơ bản của khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng ở nước ta. Nó thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu như sau:


Một là, các cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc ở giai đoạn này đều thể hiện rõ rệt quyết tâm chống ách đô hộ, quyết tâm giành lại nền độc lập của dân tộc. Nó cho thấy, mục tiêu giải phóng đất nước, xây dựng một chính quyền tự chủ, một nền độc lập của đất nước vẫn là khát vọng cháy bỏng của mọi tầng lớp nhân dân ta. Cho nên, các cuộc khởi nghĩa của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (năm 687), của Mai Thúc Loan (năm 713-722), của Phùng Hưng (năm 766-791), của Dương Thanh (năm 819-820) và nhiều cuộc khởi nghĩa khác, chính là sự biểu thị thái độ của nhân dân ta kiên quyết bác bỏ quyền thống trị của nhà Đường, không chấp nhận bộ máy cai trị áp đặt từ bên ngoài.


Các cuộc khởi nghĩa ở giai đoạn này luôn đặt ra yêu cầu phải đánh đổ chính quyền đô hộ của nhà Đường, tiêu diệt những tên quan lại cao cấp của chính quyền địch ở bên đất nước ta. Vì thế, mỗi khi nổi dậy, dù ở nhiều địa phương khác nhau của đất nước, quân khởi nghĩa đều tập trung lực lượng đánh vào tận sào huyệt, đại bản doanh của địch ở Tống Bình (Hà Nội), nhằm chiếm lấy phủ thành, bắt giết bọn quan lại đô hộ.


Thực tế các cuộc khởi nghĩa đã diễn ra đúng như vậy, như năm 687 nghĩa quân của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến đã vây đánh phủ thành Tống Bình, giết chết viên đô hộ Lưu Diên Hựu; năm 713, Mai Thúc Loan cũng từ Nghệ An tiến công ra Bắc, đánh chiếm Tống Bình, khiến viên đô hộ Quang Sở Khách phải bỏ thành chạy trốn; hoặc là nghĩa quân Phùng Hưng, sau khi nổi dậy làm chủ Đường Lâm là một vùng rộng lớn (năm 766), cũng tiến xuống vây đánh phủ thành Tống Bình, khiến cho viên đô hộ Cao Chính Bình lo sợ phát bệnh mà chết; rồi cuộc nổi dậy của binh lính do Dương Thanh lãnh đạo (819-820) cũng giết chết viên đô hộ nhà Đường là Lý Tượng Cổ và đánh chiếm phủ thành Tống Bình. Đặc biệt là năm 905, sau khi nổi dậy giành quyền làm chủ ở Hồng Châu (Ninh Giang - Hải Dương), Khúc Thừa Dụ cũng dẫn quân khởi nghĩa tiến về chiếm phủ thành Tống Bình, dựng nền tự chủ của đất nước.

 6 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:19:47 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
b) Về lực lượng đấu tranh

Sự thống trị tàn bạo của bọn phong kiến phương Bắc khiến người Việt hơn bao giờ hết, thấy rất rõ rằng mất nước là mất tất cả. Họ không chịu khuất phục, quyết vùng dậy đấu tranh để giành lại độc lập, tự do. Bất chấp kẻ thù có một bộ máy chính quyền đô hộ và một lực lượng quân sự chiếm đóng trên cả nước ta, các thế hệ người Việt liên tục đứng lên đấu tranh, đánh đuổi quân cướp nước.


Từ trong những thế kỷ căm hờn và đấu tranh đó, nhân dân ta càng ngày càng thấy rằng, chỉ có nổi dậy mãnh liệt và đấu tranh kiên quyết mới giành lại được quyền sống, giành lại được độc lập dân tộc. Cuộc đấu tranh đó phải có sự tham gia của quảng đại quần chúng nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội mới có đủ sức mạnh tiêu diệt lực lượng quân sự địch và đập tan bộ máy đô hộ của chúng. Cho nên, trong phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc, người Việt bị áp bức ở nước ta luôn biết tạo lập nên sức mạnh đấu tranh của mình bằng cách động viên, tập hợp lực lượng nhân dân cả nước tham gia đánh giặc, cứu nước.


Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo nổ ra vào mùa xuân năm 40 sau Công nguyên là điển hình đầu tiên về một cuộc khởi nghĩa toàn dân chống xâm lược. Khi cờ nghĩa dấy lên ở đất Hát Môn, lập tức các lực lượng yêu nước ở khắp các miền của Tổ quốc - từ miền xuôi đến miền ngược - đều hưởng ứng kéo về, chung sức đánh giặc. Tham gia nghĩa quân không chỉ có những chàng trai khỏe mạnh, yêu nước mà còn có rất nhiều thủ lĩnh địa phương như ông Đống, ông Nà, ông Cai, Đỗ Năng Tế, Hoàng Đạo, Đông Bảng, Đô Chinh, Đô Dương, Chu Bá, v.v... Đặc biệt là trong hàng ngũ nghĩa quân có đông đảo các nữ tướng tài năng, dũng cảm như Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, Xuân Nương, Liễu Giáp, Việt Huy, Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Thị Hoa, Ả Di, Ả Lã, Nàng Đê... Đó là những con người đến từ nhiều miền quê khác nhau, nhưng nhanh chóng vượt qua tư tưởng địa phương, vùng miền để đứng dưới cờ của hai vị nữ anh hùng kiệt xuất, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự chủ.


Sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã được phản ánh trong nhiều sử sách và truyền thuyết. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: "Lúc bấy giờ Thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về Nam Hải. Quân Bà đi đến đâu, như gió lướt đến đấy. Các tộc man, lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Lấy lại và dẹp yên được 65 thành ở đất Lĩnh Nam. Bà tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Các thứ sử, Thái thú ở quận Giao Chỉ đều chỉ bảo toàn được mình thôi"27 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, t.1, tr.114). Với sức mạnh của nhân dân, của dân chúng cả nước, chỉ trong hơn một tháng, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã đập tan ách đô hộ của nhà Đông Hán, khôi phục nền độc lập, tự chủ của đất nước và giữ được chính quyền trong ba năm.


Khởi nghĩa Lý Bí cũng là một điển hình về mức độ tham gia của nhân dân, như sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép: "Vua (Lý Bí - TG) vốn nhà hào trưởng, thiên tư lỗi lạc, làm quan không được vừa ý. Lại có người là Tinh Thiều giỏi từ chương từng đến [kinh đô nhà Lương] xin được chọn làm quan. Thượng thư bộ Lại nhà Lương là Sái Tôn cho rằng họ Tinh trước không có ai hiển đạt, nên chỉ bổ cho chức Quảng Dương môn lang. Thiều lấy làm nhục, trở về làng, theo vua mưu việc dấy binh. Vua bấy giờ làm chức Giám quân ở châu Cửu Đức, nhân liên kết với hào kiệt mấy châu, đều hưởng ứng. Có Triệu Túc tù trưởng ở Chu Diễn phục tài đức của vua, bèn dẫn đầu đem quân theo về"28 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I, tr.179).


Từ một số sử liệu ít ỏi đó có thể thấy rằng, tham gia vào việc lãnh đạo và tổ chức cuộc khởi nghĩa, ngoài Lý Bí - vốn xuất thân từ một hào trưởng địa phương, còn có nhiều đại biểu yêu nước thuộc các tầng lớp khác nhau, như Tinh Thiều, một người có học thức nhưng không được trọng dụng; Triệu Túc, thủ lĩnh đất Chu Diên (mạn Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Nội) và con trai là Triệu Quang Phục; Phạm Tu, tướng tài người làng Thanh Liệt (Thanh Trì, Hà Nội)... Cuộc khởi nghĩa còn được nhân dân và hào kiệt ở nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng. Chính bằng sức mạnh nổi dậy của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên hầu khắp các châu huyện đất nước, nghĩa quân không những nhanh chóng quét sạch bọn quan lại đô hộ nhà Lương về nước mà còn nhanh chóng đánh bại các cuộc phản kích của chúng.


Kinh nghiệm của các cuộc đấu tranh đã nói lên rất rõ rằng, ở nước ta, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược, chống đô hộ muốn giành được thắng lợi phải nhất thiết do nhân dân tiến hành và các cuộc đấu tranh đó bao giờ cũng có khả năng động viên, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Điều đó khiến cho các cuộc khởi nghĩa, chiến tranh yêu nước trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta luôn có tính nhân dân sâu sắc và đó cũng là một nội dung có tính quy luật của mọi cuộc chiến tranh yêu nước ở Việt Nam.


c) Về phương thức đấu tranh

Các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc của nhân dân ta diễn ra trong tình thế quân xâm lược đã áp đặt được ách thống trị, đã dàn quân chiếm đóng trên cả nước ta, do đó, chúng không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn tàn bạo nào để đàn áp, khủng bố. Mặt khác, dân tộc ta tiến hành khởi nghĩa trong điều kiện khi khởi sự thường chỉ có một lực lượng quân sự (nghĩa quân) mới được tổ chức đến một mức độ nhất định, phần lớn vũ khí còn ít ỏi và thô sơ, nên quân khởi nghĩa phải vừa chiến đấu vừa xây dựng, phát triển lực lượng, đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh.


Xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta lúc đó, tổ tiên ta đã vận dụng phương thức đấu tranh thích hợp để giành chiến thắng. Đó là phương thức kết hợp tác chiến của nghĩa quân với nổi dậy của dân chúng để tiêu diệt địch, đập tan ách thống trị của chúng, giành lại chủ quyền trên toàn bộ đất nước. Phương thức đấu tranh đó vừa khai thác, phát huy được sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, cả già trẻ, gái, trai, thực hiện cả nước đánh giặc, vừa tạo ra điều kiện để thực hành những cuộc tiến công quân sự, giáng cho địch những đòn thật đau, thật mạnh, làm tan rã ý chí xâm lược của chúng.


Trong hoàn cảnh mất nước, phải lấy nhỏ đánh lớn thì sự phối hợp giữa tiến công quân sự của nghĩa quân với nổi dậy của nhân dân đã trở thành phương thức đấu tranh chủ yếu, quan trọng để dân tộc ta lật đổ ách đô hộ của địch, giành lại độc lập, tự chủ.


Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là điển hình đầu tiên về một cuộc khởi nghĩa toàn dân, đồng thời cũng là một kiểu mẫu thành công của sự phối hợp giữa tác chiến của nghĩa quân với nổi dậy của nhân dân trên cả nước. Để tiến hành khởi nghĩa, Hai Bà Trưng đã tổ chức tại căn cứ Mê Linh một đội quân làm lực lượng nòng cốt và kêu gọi hào kiệt cùng dân chúng các nơi tham gia. Sách Thiên Nam ngữ lục và nhiều thần tích ghi chép rằng, hưởng ứng lời kêu gọi của Hai Bà Trưng, chỉ trong 10 ngày, trên những huyện, thành chủ yếu của nước ta thời đó đã có tới 10 vạn người - chiếm 10% số dân nước ta lúc đó nổi dậy, đánh chiếm các phủ thành, tiêu diệt bọn quan lại đô hộ và các đồn binh địch. Đồng thời từ Mê Linh, Hai Bà Trưng dẫn đạo quân chủ lực tiến công địch ở Tây Vu, Cổ Loa, rồi Luy Lâu, Liên Châu -Lũng Khê, Thuận Thành, Bắc Ninh - thủ phủ chính quyền đô hộ địch. Nghĩa quân liên tiếp tiêu diệt các vị trí địch với một khí thế mãnh liệt như truyền thuyết kể rằng, quân của Hai Bà Trưng "Voi đi nườm nượp trên bộ, thuyền bè tấp nập dưới sông, hoặc như sách Đại Nam quốc sử diễn ca mô tả:

Ngàn Tây nổi áng phong trần.

Ào ào binh mã xuống gần Long Biên.


Bằng những đòn tiến công mạnh mẽ, dồn dập, nghĩa quân đã tiêu diệt đạo quân chủ lực của địch, đập tan bộ máy chính quyền đô hộ cao nhất của đế chế Hán trên đất nước ta, tạo điều kiện cho nhân dân nổi dậy giành chính quyền ở các địa phương còn lại, kể cả Nhật Nam ở mặt Nam, Hợp Phố ở mặt Bắc. Chỉ trong hơn một tháng nhân dân ta đã giành lại quyền làm chủ trên cả 65 huyện, thành, tức là toàn bộ đất nước ta thời đó.

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng giành được thắng lợi nhanh chóng là nhờ có sự phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự của quân khởi nghĩa với nổi dậy đồng loạt của dân chúng vũ trang ở khắp các địa phương trong cả nước. Từ đây trở đi, sự kết hợp giữa tác chiến của nghĩa quân với nổi dậy của nhân dân trở thành phương thức đấu tranh cơ bản để dân tộc ta lật đổ ách thống trị của bọn phong kiến phương Bắc.


Đến thế kỷ VI, phương thức đấu tranh đó được vận dụng một cách sáng tạo và đã giành được thắng lợi trong cuộc khởi nghĩa chống Lương do Lý Bí lãnh đạo. Lý Bí cũng tổ chức được một lực lượng khởi nghĩa làm nòng cốt, đồng thời ông liên kết với các hào trưởng, thủ lĩnh ở nhiều châu, huyện nước ta để tổ chức, phát động nhân dân các địa phương cùng nổi dậy đấu tranh lật đổ ách đô hộ của giặc Lương. Dưới những đòn tiến công quân sự mãnh liệt của quân khởi nghĩa cùng với sự nổi dậy rộng khắp của dân chứng trên hầu khắp các châu, huyện nước ta thời đó, ách thống trị của địch trong thời gian chưa đầy ba tháng đã bị đập tan. Một lần nữa, sự kết hợp tác chiến của nghĩa quân với nổi dậy của nhân dân đã làm nên chiến thắng, mở đường cho sự thành lập Nhà nước Vạn Xuân độc lập.


Thực tế của khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đầu Công nguyên và khởi nghĩa Lý Bí ở thế kỷ VI - hai cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc có quy mô rộng lớn và đều giành được thắng lợi - cho thấy, dân tộc ta từ rất sớm đã xác định được phương thức đấu tranh thích hợp để chống lại ách thống trị của ngoại bang. Trong cả hai cuộc khởi nghĩa đó, đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa những đòn tiến công quân sự dồn dập, mãnh liệt, những trận đánh lớn của nghĩa quân nhằm vào thủ phủ địch, vào các đạo quân chủ lực địch với những cuộc nổi dậy đồng loạt, rầm rộ của nhân dân, buộc quân địch phải bị động, phân tán lực lượng đối phó ở khắp mọi nơi, nên ta nhanh chóng giành thắng lợi.


Cũng cần thấy rằng, sở dĩ nhân dân ta có thể nhanh chóng nổi dậy đồng loạt dưới cờ đại nghĩa của Hai Bà Trưng hay của Lý Bí, cùng nhiều vị anh hùng dân tộc khác và cùng nghĩa quân đánh giặc, là vì trong những đêm dài nô lệ, nhân dân ta vẫn giữ được quyền làm chủ ở các làng xã, vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình, không để bị đồng hóa. Đó là nền móng, cơ sở vững chắc, để hình thành nên phương thức đấu tranh giải phóng rất hiệu quả, giành chiến thắng vẻ vang.


Khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân với mục tiêu giành độc lập, có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, sự phối hợp chặt chẽ giữa tác chiến với nổi dậy của nghĩa quân và nhân dân, đó là những quan điểm quân sự nổi bật mà dân tộc ta sớm đúc kết, vận dụng trong cuộc đấu tranh chống Bắc thuộc từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI, nhất là trong hai cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Lý Bí. Những quan điểm đó được duy trì, tiếp tục phát triển và biểu hiện phong phú hơn ở giai đoạn đấu tranh sau.

 7 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:17:18 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
III- TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ TRONG GIAI ĐOẠN CHỐNG BẮC THUỘC, GIÀNH ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ

1. Sự xuất hiện bước đầu tư tưởng khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân chống xâm lược (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ VI)

Sau thất bại của An Dương Vương (179 Tr.CN), nước Âu Lạc bị nhà Triệu thôn tính và sáp nhập vào đất Nam Việt của Triệu Đà. Từ đấy cho đến thế kỷ VI, các triều đại phong kiến phương Bắc như Hán, Ngô, Ngụy, Tấn, Tống, Tề, Lương, kế tiếp nhau cất quân xâm lược, đặt quan cai trị, biến Âu Lạc thành quận huyện, rắp tâm xoá bỏ độc lập, chủ quyền dân tộc, vơ vét, bóc lột tàn bạo nhân dân ta. Dân tộc ta sống đày đọa trong những đêm dài lệ thuộc bọn phong kiến nước ngoài.


Trước nguy cơ bị đồng hóa, ý thức dân tộc, lòng yêu nước của người Việt đã trỗi dậy mạnh mẽ, ngoan cường. Trong những thế kỷ đó, không thế kỷ nào không nổ ra một vài cuộc khởi nghĩa với quy mô lớn, có những cuộc khởi nghĩa đã chuyển thành chiến tranh giải phóng lâu dài, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), Bà Triệu (248), Lý Bí (542-548). Trong quá trình đấu tranh chống xâm lược, chống đô hộ, chống đồng hóa đó, đã nảy nở và xuất hiện tư tưởng khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân - một đặc trưng nổi bật của tư tưởng quân sự Việt Nam ở giai đoạn này.


Tư tưởng khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân chống xâm lược hình thành như một tất yếu của lịch sử trong điều kiện khách quan về so sánh lực lượng giữa dân tộc ta với thế lực xâm lược, đô hộ. Đó là lúc dân tộc ta đã mất độc lập phải đứng lên đập tan ách nô lệ mà kẻ thù áp đặt lên mình, nên cuộc đấu tranh tất nhiên phải đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn để giành lại toàn bộ chủ quyền từ tay kẻ thù. Mặt khác, kẻ thù của ta là thế lực xâm lược của một nước lớn nằm sát liền biên giới với nước ta, lại đã tổ chức được bộ máy đô hộ trên đất nước ta, nên nhân dân ta một khi nổi dậy đấu tranh giành quyền tự chủ tất yếu sẽ vấp phải sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù. Đó là sự trấn áp dữ dội bằng bạo lực của bộ máy đô hộ đã giăng sẵn ở khắp các quận huyện nước ta, bằng các cuộc phản công quyết liệt của các đạo viện binh lớn được nhanh chóng điều động từ chính quốc sang. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh của nhân dân ta muốn giành được thắng lợi, tất nhiên không thể chỉ dựa vào một hoặc một vài thành phần xã hội nhỏ bé nào đấy, không chỉ có dân chúng ở một hoặc một vài địa phương riêng lẻ, mà phải thu hút, lôi cuốn được cả cộng đồng, được dân chúng cả nước tham gia.


Thực tiễn chiến đấu đó đã làm cho các thế hệ người Việt, hơn ai hết, hiểu thấu một thực tế hiển nhiên là, chỉ có lực lượng của toàn dân, của cả cộng đồng mới có đủ sức mạnh đánh đuổi kẻ thù xâm lược to lớn và tàn bạo đang thống trị trên đất nước ta, cũng như chống lại các cuộc phản kích của chúng sau khi khởi nghĩa giành được thắng lợi. Quan niệm khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân chống xâm lược của dân tộc ta đã được hình thành, đúc kết nên từ thực tiễn đấu tranh lâu dài đó.


Tư tưởng khởi nghĩa và chiến tranh toàn dân chống xâm lược của dân tộc ta ở giai đoạn này được thể hiện khá rõ rệt, tập trung nhất ở những điểm cốt lõi có tính quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh, từ mục tiêu đến lực lượng và phương thức đấu tranh.


a) Về mục tiêu đấu tranh

Trong bối cảnh dân tộc bị mất nước, đất nước có nguy cơ bị đồng hóa vĩnh viễn, ý thức về cộng đồng người Việt, về chủ quyền quốc gia vốn đã hình thành từ thời dựng nước, đến nay càng được củng cố và nuôi dưỡng. Mối quan tâm thường xuyên và cấp bách của cả cộng đồng, của mọi người dân Việt lúc này là độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước, là làm sao đánh đuổi được kẻ xâm lược, cứu được nước. Những yêu cầu đó đã tạo ra cho các tầng lớp nhân dân ta, từ các lạc dân cho đến các lạc tướng, cừ súy (sau này chuyển dần là các hào trưởng địa phương) đều có một nguyện vọng chung là đánh đuổi giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước. Nó trở thành mục tiêu chiến đấu, là ngọn cờ đoàn kết để tập hợp lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng, đồng thời làm cho những cuộc đấu tranh đó mang tính nhân dân sâu sắc.


Phải nói rằng, ngay từ đầu Công nguyên, các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của giặc Hán, giặc Ngô của nhân dân ta đã phản ánh được nguyện vọng chung ấy và hành động quật khởi chung theo mục tiêu ấy. Sách Thiên Nam ngữ lục ở thế kỷ XVII đã khái quát tài tình về tôn chỉ, mục đích của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng:

Một xin rửa sạch nước thù,

Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,

Ba kẻo oan ức lòng chồng,

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này!


Mục tiêu đó cũng được cô đúc xong câu nói nổi tiếng đầy khí phách, tương truyền là của Bà Triệu: Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người ta.


Đấu tranh giành độc lập dân tộc là ý chí của mỗi người dân yêu nước, đồng thời cũng là điểm chung để đoàn kết, gắn bó mọi người với nhau thành một khối. Vì vậy, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, 65 huyện, thành trong cả nước lập tức hưởng ứng nổi dậy, khi Bà Triệu cưỡi voi, gióng trống thì toàn thể Châu Giao chấn động, Thứ sử Giao Châu mất tích.


Rõ ràng là, trong giai đoạn đầu Bắc thuộc, mục tiêu giành lại nước, khôi phục chế độ của Vua Hùng là một sự cổ vũ lớn đối với nhân dân ta bấy giờ và là một động lực to lớn của công cuộc cứu nước, như sử gia Lê Văn Hưu nhận xét: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay"24 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.156 – 157, 178 – 179, 179).


Nếu các cuộc khởi nghĩa trong giai đoạn đầu Bắc thuộc, đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có mục tiêu là nhằm khôi phục chế độ thời Hùng Vương, thì đến thế kỷ VI với cuộc khởi nghĩa của Lý Bí đã đánh dấu một bước phát triển mới về mục tiêu đấu tranh. Sau khi đánh đuổi nhà Lương, Lý Bí đã chủ trương xây dựng nền độc lập, ngang hàng với phương Bắc. Sử của ta chép rằng: "Vua (Lý Bí - TG) dấy binh đánh đuổi được (giặc Lương - TG), xưng là Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên"25 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.156 – 157, 178 – 179, 179). "Mùa xuân, tháng giêng, vua nhân thắng giặc, tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi, đặt niên hiệu, lập trăm quan, dựng quốc hiệu là Vạn Xuân, ý mong cho xã tắc truyền đến muôn đời vậy. Dựng điện Vạn Xuân làm nơi triều hội. Lấy Triệu Túc làm Thái phó, bọn Tinh Thiều, Phạm Tu đều làm tướng văn, tướng võ"26 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.156 – 157, 178 – 179, 179). Đồng thời, ông lấy niên hiệu riêng là Thiên Đức, xây chùa lớn ở Kinh đô, đặt tên chùa là Khai Quốc (mở nước), đúc đồng tiền riêng để tiêu dùng trong xứ... Những việc làm trên cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của ý thức dân tộc, của lòng tự tin vào khả năng vươn lên làm chủ đất nước và đánh dấu một bước phát triển của phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta thời Bắc thuộc.


Nhìn chung, các cuộc khởi nghĩa chống Bắc thuộc của nhân dân ta ở giai đoạn này đều có mục tiêu chung là đánh đuổi bọn quan lại đô hộ, giành lại độc lập cho dân tộc. Mục tiêu cứu nước đó luôn là nguồn cổ vũ, động viên cực kỳ to lớn đối với các tầng lớp nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, vì độc lập, tự do của đất nước.

 8 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:11:40 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
3. Tư duy, tư tưởng phòng ngự của An Dương Vương trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Triệu

Trong cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược, do có lực lượng quốc phòng khá hùng mạnh, nhất là có thành Cổ Loa kiên cố và nỏ thần lợi hại, do thực tiễn đánh bại cuộc xâm lược của quân Tần và nhiều lần đập tan các cuộc tiến công của quân Triệu, nên đã có sự chuyển hóa trong nhận thức của An Dương Vương về các yếu tố giành chiến thắng trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Sự chuyển hóa đó đã đưa đến sự thay đổi trong quan niệm chỉ đạo chiến tranh của An Dương Vương, từ chỗ dựa vào nhân dân, chủ động tiến công địch để giữ thành, giữ nước, sang xa rời nhân dân, ỷ vào thành trì, vũ khí mà phòng thủ một cách thụ động. Quan điểm đó được thể hiện rõ trong câu nói của An Dương Vương: "Đà không sợ nỏ thần của ta sao?"15 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.139) mà sử sách đã ghi.


Sử cũ cho biết, vào năm 210 Tr.CN, Nhâm Ngao và Triệu Đà phát binh xâm lược nước Âu Lạc. Quân giặc đóng trải ra trên một vùng khá rộng từ ven sông Cầu (Nguyệt Đức), vùng Tiên Du (Từ Sơn) đến núi Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh). Quân và dân Âu Lạc do An Dương Vương lãnh đạo đã chủ động tiến công địch trên vùng đồi Tiên Du, làm cho quân thù gặp nhiều khốn đốn.


Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: "Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang, đánh nhau với vua (An Dương Vương - TG). Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy... Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh"16 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.138). Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng chép: "Triệu Đà biết vua Thục có cái nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ sang xin hòa... cho con là Trọng Thủy sang làm con tin, nhân tiện cầu hôn. .."17 (Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội 1998, t.1, tr.85). Các truyền thuyết dân gian cũng kể rằng, khi quân của Triệu Đà tiến đến gần Cổ Loa, thì "Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự với nhà vua, không dám đối chiến"18 (Vũ Quỳnh, Kiều Phú (nhuận chính): Lĩnh Nam chích quái, Sđd, tr.60).


Như vậy là trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Triệu, thực hiện cách đánh chủ động, quân và dân Âu Lạc đã nhiều lần chặn đứng, đẩy lùi cuộc xâm lược dai dẳng của Triệu Đà. Thắng lợi đó đã khiến An Dương Vương về sau nảy sinh tâm lý chủ quan, khinh địch, ỷ vào vũ khí nên không còn chủ động tiến công mà giữ thành đợi giặc. Bởi vậy, khi Triệu Đà thực hiện mưu kế xin "giảng hòa", An Dương Vương đã bất chấp sự can gián của quần thần, chấp thuận cho con trai của Triệu Đà là Trọng Thủy làm rể. "Đà sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng"19 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.139).


Tiếp đó, An Dương Vương còn phạm nhiều sai lầm như nghe lời gièm pha mà bạc đãi công thần, khiến cha con Nồi Hầu phải từ quan, Tướng quân Cao Lỗ bị phế truất, nội bộ triều đình bất hòa, nhân dân oán trách. Cho nên, vua càng xa dân, chỉ biết ỷ vào thành cao hào sâu, vũ khí lợi hại để giữ nước. Tư tưởng phòng thủ thụ động ấy đã đưa tới hậu quả là mất nước, như sử sách của ta chép: "Đà đem quân đến đánh vua (An Dương Vương - TG), vua không biết lẫy nỏ đã mất, ngồi đánh cờ cười mà bảo: "Đà không sợ nỏ thần của ta sao?". Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi nên ngựa, cùng chạy về phía nam"20 (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.I,tr.139).


Sử cũ của Trung Quốc cũng chép về sự kiện này như sau: "Nam Việt Vương (Triệu Đà) biết là không thể đánh nổi, phải lui quân đóng ở Vũ Nghi (Vũ Ninh)... Việt Vương sai thái tử tên là Thủy hàng phục An Dương Vương, xưng thần để thờ. An Dương Vương không biết Thông (tức là Cao Thông hay Cao Lỗ) là người thần, đối đãi vô đạo. Thông bèn bỏ đi và nói với vua rằng: giữ được nỏ này thì làm vua thiên hạ, không giữ được nỏ này thì mất thiên hạ. Thông bỏ đi. An Dương Vương có con gái là Mỵ Châu, thấy Thủy là người đoan chính, cùng Thủy giao thông với nhau. Thủy hỏi Châu cho xem cái nỏ của cha. Thủy thấy nỏ bèn trộm cưa gẫy nỏ, rồi trốn về báo với Việt Vương (Triệu Đà). Việt Vương tiến binh đánh. An Dương Vương đem nỏ ra bắn. Nỏ gẫy nên bị thua. An Dương Vương xuống thuyền chạy ra biển"21 (Giao Châu ngoại vực ký. Dẫn theo sách Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.157).


Cuộc kháng chiến chống Triệu, cuối cùng đã bị thất bại bởi tư tưởng chỉ đạo chiến tranh sai lầm của An Dương Vương. Nếu giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến, ông nắm vững tư tưởng chủ động tiến công, kiên quyết đánh tan những đạo quân xâm lược của nhà Triệu, không để chúng xâm phạm đến kinh thành Cổ Loa, thì về sau do chủ quan khinh địch, do không thấy được âm mưu thâm độc của kẻ thù, nên ông từng bước mắc mưu địch, để cho chúng phá vỡ khối đoàn kết nội bộ, khoét sâu mâu thuẫn Âu - Việt, loại bỏ người hiền tài và đánh cắp bí mật quân sự. Nếu như trước đây, ông biết dựa vào nhân dân mà tổ chức kháng chiến, nên đã đẩy lui giặc Triệu, thì nay ỷ vào thành lũy, nỏ thần bách phát bách trúng, mà tách rời nhân dân, tiến hành cuộc kháng chiến đơn độc và bị động, lấy phòng thủ làm chính, cho nên ông không giữ được nước.


Những sai lầm của An Dương Vương đã bị sử gia Ngô Thì Sĩ phê phán rằng: "Xét về hình tích thắng bại khi lẫy nỏ còn thì quân xâm lược phương Bắc phải tan; lẫy nỏ gãy thì hết đường, chạy về phía nam. Ngoài cái móng rùa (ý chỉ vũ khí, thần linh) thì việc người đều không dự đến... Nước địch ở bên cạnh, đáng ra phải có quy mô luyện binh tuyển tướng, phải có kế hoạch dẹp loạn mưu sự sinh tồn, sao lại dám yên lặng vui chơi, dẫn cừu thù vào nơi cung khuyết, đặt mưu kế giữ biên giới vào cuộc an nhàn? Chỉ vì có móng rùa. Vì trận thắng nhỏ mà lòng kiêu căng lớn lên, để đến nỗi lứa đôi thành thù địch, nước non Âu Lạc như đẩy bàn cờ ra là hết"22 (Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr.51) và "An Dương Vương chỉ cậy sức mạnh của nỏ thần, không sang sửa chính sự có đạo đức, biên giới không đề phòng, quân giặc vào sát cõi mà chưa từng sai một quan tướng, ra một đạo quân. Đợi đến lúc giặc vào tới quốc đô, vẫn còn muốn giải quyết cơ mưu trong chốc lát, khác nào lửa cháy đến mái nhà mà vẫn cứ ngồi yên. Mê muội đến thế. Giả sử có thiên tướng thần binh cũng chẳng thể nào đuổi giúp được giặc, huống chi một cái móng rùa"23 (Đại Việt sử ký tiền biên, Sđd, tr.51).


Thất bại của cuộc kháng chiến chống Triệu do An Dương Vương lãnh đạo đã để lại cho nhân dân ta một bài học lịch sử sâu sắc. Đó là, bất cứ một cuộc chiến đấu nào chỉ dựa vào thành lũy, vũ khí mà không dựa vào nhân dân thì trước sau đều thất bại. Lịch sử của các cuộc chiến tranh giải phóng đất nước hay cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc từ xưa đến nay đều minh chứng cho nhận định trên. Rõ ràng là không có một thành cao hào sâu nào, không có một thứ vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh của toàn dân đánh giặc, sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân.

 9 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:03:59 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
2. Tư duy, tư tưởng phòng thủ đất nước thời An Dương Vương

Điểm xuất phát của tư duy, tư tưởng quốc phòng trong buổi đầu dựng nước nói chung, ở thời An Dương Vương nói riêng là ý thức về lãnh thổ và bảo vệ lãnh thổ của cộng đồng người Việt trước mối đe dọa của các thế lực xâm lược bên ngoài. Ý thức đó càng ngày càng lớn lên, được nâng cao cùng với sự phát triển của công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.


Ở thời An Dương Vương, việc Nhà nước Âu Lạc ra đời với đất đai rộng lớn hơn, dân cư đông đúc hơn, là sự phát triển lên một mức cao hơn so với Nhà nước Văn Lang, đánh dấu một bước trưởng thành của ý thức dân tộc, của tinh thần đoàn kết và quyết tâm giữ nước của nhân dân ta. Mặt khác, Nhà nước Âu Lạc vẫn thường xuyên phải đối phó với nguy cơ xâm lược của nhiều kẻ thù, như giặc Xích Quỷ, giặc Triệu... Truyền thuyết thôn Hà Phương (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) còn nhắc đến việc nước Âu Lạc của An Dương Vương đánh bại giặc Xích Quỷ ở khu vực này11 (Ngọc Phả, miếu Bốn, thôn Hà Phương, xã Thắng Thủy, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Điều đó khiến cho cư dân Âu Lạc sớm ý thức được yêu cầu phải giữ nước, bảo vệ lãnh thổ và cuộc sống của mình. Việc xây dựng lực lượng quân sự, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước được chú trọng hơn các mặt khác. Bởi vậy, tuy chỉ tồn tại khoảng 30 năm, nhưng nước Âu Lạc vẫn tiếp tục phát triển về các mặt trên cơ sở kế thừa những thành tựu đã đạt được thời Văn Lang, nhất là trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng.


Theo sử sách, lực lượng quân sự của nước Âu Lạc lúc bấy giờ khá hùng mạnh. Quân đội thường trực được tăng cường về số lượng, được luyện tập chiến đấu lâu hơn, kỹ hơn. Sách Việt sử lược cho biết, quân đội thường trực của An Dương Vương có đến hơn một vạn lính, gồm hai lực lượng chính là quân thủy và quân bộ, lại có thêm "thần nỗ binh" - tức là binh nỏ thần. Truyền thuyết Cổ Loa kể nhiều về hoạt động luyện quân, tập đánh thủy, đánh bộ, luyện bắn cung nỏ... của quân đội Âu Lạc, hoặc An Dương Vương thường cưỡi thuyền duyệt thủy quân. Chỉ huy quân đội bấy giờ là những vị tướng giỏi thao lược như Cao Lỗ, Nồi Hầu... Ngoài ra, nước Âu Lạc còn có lực lượng dân binh của các làng chạ ở khắp nơi, đồng bằng và rừng núi, ven sông và ven biển. Truyền thuyết Cổ Loa cũng cho biết sự có mặt của các đội dân binh do ông Đống, ông Vực chỉ huy trong nhiều trận chiến đấu chống quân xâm lược Triệu.


Quân đội Âu Lạc được trang bị khá tốt. Vũ khí ở giai đoạn này không chỉ tăng về số lượng mà còn rất phong phú, đa dạng về loại hình, gồm cả vũ khí tấn công, cả vũ khí phòng thủ. Tài liệu khảo cổ học cho biết, vào lúc bấy giờ, giáo, lao, rìu, cung tên, là những loại vũ khí thông dụng, được đa số binh lính sử dụng. Nhờ có kỹ thuật chế tác đồ đồng phát triển, các loại vũ khí càng trở nên tiện lợi, sắc bén và đạt hiệu quả cao.


Đặc biệt, thời Âu Lạc đã sáng chế ra loại nỏ bắn một lần được nhiều phát tên, mà truyền thuyết gọi là "nỏ thần". Đầu tên có ba cạnh với một chuôi dài để cắm vào thân. Thân nỏ dài và lớn, có thể đặt trên bệ cố định, do nhiều người trương dây để có thể đặt nhiều phát tên bắn đi cùng một lúc.


Truyền thuyết cho biết, An Dương Vương rất coi trọng việc chế tạo loại nỏ này. Sách Lĩnh Nam chích quái kể chuyện thần Kim Quy tháo chiếc vuốt đưa cho An Dương Vương và dặn "đem vật này làm lẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn thì không lo gì nữa"; hoặc sách Việt sử lược chép: "Lúc bấy giờ An Dương Vương có người thần tên là Cao Lỗ, làm được nỏ Liễu, mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên"12 (Việt sử lược, Sđd, tr.15). Thư tịch cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận, thậm chí còn phóng đại hơn về hiệu quả của loại vũ khí này, như: "mỗi phát giết được ba trăm người" (Giao Châu ngoại vực ký), "bắn một phát giết quân (Nam Việt) hàng vạn người, bắn ba phát giết đến ba vạn người" (Nam Việt chí) "mỗi phát tên đồng xuyên qua hàng chục người" (Việt kiệu thư).


Cùng với việc tăng cường lực lượng vũ trang, chế tạo vũ khí, An Dương Vương đã cho xây thành Cổ Loa kiên cố để phòng thủ đất nước. Truyền thuyết và thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái đã miêu tả: "Thành (Cổ Loa) rộng hơn nghìn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành"13 (Vũ Quỳnh, Kiều Phú (nhuận chính): Lĩnh Nam chích quái, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1960, tr.59). Hiện tại, cấu trúc thành Cổ Loa chỉ còn ba vòng, gồm: thành Nội, thành Trung và thành Ngoại.


Thành Ngoại (thành ngoài), là một vòng thành khép kín được đắp nối những gò đồi tự nhiên lại, nên không có hình dáng rõ ràng. Độ dài của vòng thành khoảng 8.000m, có độ cao trung bình từ 3 đến 4m, chỗ cao nhất là gò Cột Cờ ở phía đông nam, cao tới 8m. Bề mặt của tường thành rộng khoảng 12 đến 15m, chân thành rộng từ 12 đến 20m.


Thành Trung (thành giữa), cũng là một vòng tròn khép kín nằm phía trong thành Ngoại. Tường thành Trung cũng giống như thành Ngoại, được đắp theo kiểu nối các gò đồi tự nhiên và đầm ao, có độ dài khoảng 6.500m. Tường thành cao từ 6 đến 12m, mặt thành rộng trung bình làm, chân thành rộng từ 20 đến 22m. Trong ba vòng thành, tường thành Trung còn khá nguyên vẹn, phía ngoài dốc đứng, rất khó có thể trèo lên được; phía bên trong lại thoai thoải có thể lên xuống dễ dàng. Với cấu trúc như vậy, kẻ thù bên ngoài rất khó leo vào, nhưng quân giữ thành lại dễ dàng vận động lên mặt thành để đánh địch.


Thành Nội (thành trong), hình chữ nhật, có chu vi 1.650m, cao khoảng 5m. Mặt thành rộng từ 6 đến 12m, chân thành rộng từ 20 đến 30m. Chung quanh tường thành có 12 ụ đất nhô ra ngoài để làm vọng gác gọi là "hỏa hồi". Các hỏa hồi được đắp khá cân xứng. Hai cạnh dài của thành, mỗi cạnh có 4 ụ đất; hai cạnh ngắn, mỗi cạnh có 2 ụ đất. Nhìn chung, những hỏa hồi này được đắp cao hơn mặt thành từ 1 đến 2m, nhô ra từ 10 đến 12m.


Cả ba vòng tường thành đều mở ra các hướng, có cửa đường bộ và có cửa đường sông, nhưng số lượng cửa mở ra ở các vòng tường thành lại khác nhau. Thành Nội chỉ mở một cửa quay về hướng Nam. Thành Trung mở bốn cửa: cửa Nam, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Ở đây cũng có một số ụ đất được đắp cao hơn để làm vọng gác. Thành Ngoại tuy dài và rộng cũng chỉ mở ba cửa: cửa Nam, cửa Bắc và cửa Tây Nam. Tuy một số cửa thành Trung và thành Ngoại mở cùng một hướng, nhưng do chu vi khác nhau nên các cửa thành thường lệch chéo nhau, lại có thêm các ụ đất phòng vệ, càng làm tăng thêm độ vững chắc, cẩn mật của tòa thành.


Dưới chân ba vòng thành đều có hào nước ở phía ngoài để ngăn cản quân địch, đồng thời là đường giao thông thủy quan trọng nối liền các khu vực trong thành và cũng là con đường thoát ra ngoài khi có nguy biến. Hào nước có chiều rộng từ 20 đến 30m nên thuyền bè từ sông Hoàng có thể ra vào thành dễ dàng. Cả ba hào này được nối liền với nhau và với sông Hoàng để bảo đảm quanh năm, ba hào đều có nước, càng làm tăng thêm sự hiểm yếu của kinh thành Cổ Loa.


Giữa các vòng thành và phía ngoài thành Ngoại có nhiều ụ đất và lũy chắc chắn. Các lũy đất được xây dựng khá công phu, nhất là ở hướng bắc, vì đây là hướng xung yếu của tòa thành, lại là cánh đồng bằng phẳng, không có chướng ngại thiên nhiên. Các thành lũy đó được kết hợp chặt chẽ với hệ thống hào và mương lạch nối liền với sông Hoàng đã tăng cường thêm khả năng phòng vệ của tòa thành.


Với cấu trúc nói trên, thành Cổ Loa thực sự là một công trình quân sự kiện cố, không chỉ về mặt quy mô mà còn thể hiện tư duy quân sự, trình độ nghệ thuật quân sự và kỹ thuật đắp thành tài giỏi của ông cha ta buổi đầu dựng nước và giữ nước.


Việc xây thành để phòng thủ, luyện quân và chế nỏ để giữ thành thể hiện quyết tâm giữ nước và tư duy quốc phòng sáng tạo của An Dương Vương, như sử gia Ngô Thì Sĩ ca ngợi: "Việc dựng nước đóng đô xây thành, đặt chỗ hiểm, trị kẻ địch, chống kẻ khinh nhờn giặc, lo phòng hoạn nạn khiến cho hơn 40 năm không phải lo việc canh phòng giặc, trong nước vô sự, có thể nói là bậc có mưu lược dựng nước và giữ nước đấy"14 (Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.51). Tư duy đó là tiền đề xuất phát cho tư tưởng quốc phòng ở thời kỳ sau, thời kỳ độc lập tự chủ của đất nước.

 10 
 vào lúc: 24 Tháng Một, 2020, 08:01:11 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
II- TƯ DUY, TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ THỜI HÙNG VƯƠNG - AN DƯƠNG VƯƠNG

1. Tư duy, tư tưởng quân sự trong cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên


Do nhu cầu sống, tồn tại và phát triển, dân tộc ta đã phải chiến đấu chống ngoại xâm từ rất sớm và rất nhiều lần. Không kể những cuộc chiến đấu mang tính huyền thoại thời Hùng Vương, cuộc chiến tranh cứu nước, chống xâm lược đầu tiên, mà sử sách lưu lại cho biết là cuộc kháng chiến chống Tần vào cuối thế kỷ III Tr.CN.


Sách Hoài Nam Tử của Lưu An viết: Nhà Tần lại ham sừng tê, ngà voi, lông trả, ngọc châu và ngọc cơ của đất Việt, bèn sai úy Đồ Thư phát 50 vạn binh, chia làm năm đạo quân: một đạo đóng ở đèo Đàm Thành, một đạo đóng giữ ở ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Phiên Ngung, một đạo giữ miền Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can.


Trong 3 năm quân Tần không cởi giáp, dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương, để đánh nhau với người Việt. Giết được quận trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết chết Đồ Thư. Quân Tần thây phơi máu chảy hàng mấy chục vạn người8 (Xem Lưu An: Hoài Nam Tử, Nhân gian huấn, q.18. Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.136).


Mặc dù sử sách còn lại chỉ cho biết sơ lược như vậy, nhưng có thể thấy rằng, ngay từ cuộc đụng đầu lịch sử lớn đầu tiên với kẻ thù từ phương Bắc xuống, tổ tiên ta trước sự sống còn của dân tộc đã phải suy tính, lựa chọn khi quyết định cầm vũ khí đứng lên chiến đấu, rồi vừa đánh vừa rút kinh nghiệm kịp thời, để cuối cùng giành chiến thắng. Từ thực tiễn cuộc chiến đấu đó, đã nảy nở những mầm mống đầu tiên của tư duy, tư tưởng quân sự, mà biểu thị tập trung ở một số nội dung cốt lõi sau:


a) Quyết tâm chiến đấu để bảo vệ cộng đồng bảo vệ quê hương, đất nước

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần diễn ra trong bối cảnh, người Việt do nhu cầu cố kết trong công cuộc chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm đã dựng nên được nhà nước đầu tiên của mình - Nhà nước Văn Lang. Trên cương vực của nhà nước ấy, tổ tiên ta vào cuối thời Hùng Vương - An Dương Vương đã sáng tạo nên một nền văn minh cổ đại - nền văn minh sông Hồng với đỉnh cao là văn hóa Đông Sơn rực rỡ, mà nền tảng kinh tế, xã hội của nó là nghề nông trồng lúa nước cùng với cộng đồng làng xóm của những cư dân nông nghiệp. Trên nền tảng kinh tế, xã hội ấy, đã hình thành một đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, đậm tính bản địa và bản sắc riêng, mà biểu hiện tập trung nhất ở sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, với quê hương, đất nước và với cộng đồng người Việt. Sự gắn bó, yêu thương của con người với quê hương, đất nước ngày càng thêm keo sơn trong quá trình đấu tranh chống thiên tai, địch họa dài hàng nghìn năm.


Đồng thời, cũng do sớm hòa hợp, chung sức trong công cuộc dựng nước và giữ nước, cho nên, dân tộc ta sớm có ý thức cố kết cộng đồng, ý thức độc lập, tự chủ mạnh mẽ. Câu chuyện về việc Việt vương Câu Tiễn có lần sai sứ giả xuống dụ Vua Hùng thần phục nhưng bị cự tuyệt, mà sách Việt sử lược chép, là một minh chứng về tinh thần tự lập tự cường của tổ tiên ta thời ấy.


Bởi vậy, ngay khi quân Tần kéo vào nước ta, tổ tiên ta, cả người Âu Việt và Lạc Việt đã chiến đấu rất ngoan cường để bảo vệ quê hương, đất nước. Mặc dù lúc ấy, có một số nhóm người Việt thuộc tộc Bánh Việt ở Nam Trường Giang hoặc đã bị thôn tính hoặc bỏ đất ra đi vì họa xâm lược của giặc Tần, nhưng tổ tiên ta đã chọn con đường ở lại, bám trụ làng xóm, bám trụ ruộng vườn, sông núi, quê hương, kiên quyết chiến đấu chống quân xâm lược. Họ thà chạy vào rừng sống cùng các loài cầm thú chứ quyết không chịu khuất phục, không chịu kiếp sống nô lệ. Họ liên kết nhau lại, đồng lòng, chung sức, cử người tài giỏi ra chỉ huy đánh giặc. Quân xâm lược đi đến đâu cũng vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của nhân dân các địa phương. Cuộc chiến đấu bảo vệ làng xóm, quê hương gắn liền với cuộc chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước.


Sau nhiều năm chiến đấu anh dũng và bền bỉ, nhân dân ta đã đánh bại được cuộc xâm lược của quân Tần. Thắng lợi đó càng làm tăng thêm niềm tự hào, ý thức cố kết cộng đồng và tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm của dân tộc ta.


b) Phát huy sức mạnh cố kết của cộng đồng để chống giặc

Chống giặc ngoại xâm, hơn nữa lại là những thế lực xâm lược to lớn, luôn đòi hỏi phải có sự cố kết và tham gia của cả cộng đồng, không loại trừ bất cừ thành viên nào. Nó cũng đòi hỏi mỗi thành viên tinh thần tự giác gắn kết với cộng đồng, ý thức trách nhiệm, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ thành quả lao động chung, bảo vệ quê hương, đất nước. Điều đó đối với người Việt như là một lẽ tự nhiên, một đòi hỏi tự thân và khách quan để tồn tại và phát triển. Câu truyện Thánh Gióng phá giặc Ân tuy đượm màu thần thoại, nhưng đã phản ánh phần nào về sự cố kết của cộng đồng trong cuộc chiến đấu chống xâm lược, như việc Vua Hùng sai sứ giả đi khắp nơi cầu người tài giỏi ra đánh giặc cứu nước; hoặc cùng với quân đội của nhà vua, đội quân của ông Gióng đi đánh giặc có cả người dân cày cầm vồ đập đất, có người câu cá, có người đi săn, có đoàn trẻ chăn trâu,v.v., nhờ đó mà có đủ sức mạnh phá tan được quân giặc dữ. Vào cuối thế kỷ III Tr.CN, 50 vạn quân Tần do Hiệu úy Đồ Thư cầm đầu, đánh xuống phía Nam Trường Giang, chinh phục các bộ tộc Bách Việt, rồi thừa thắng, một bộ phận quân Tần tràn vào nước ta. Chúng ra sức đốt phá, cướp bóc, tàn sát dân lành và gây nhiều tội ác đối với nhân dân ta.


Để đương đầu với thế lực xâm lược to lớn mà số quân của chúng đông tới hàng vạn tên, (tổng số dân nước ta lúc đó có khoảng 1 triệu người), các thủ lĩnh Âu Việt và Lạc Việt đã biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, của cộng đồng để chống giặc. Điều đó đã được kể trong một bức thư của Lưu An gửi Hán Võ đế, chép lại trong sách Tiền Hán Thư: "Thần nghe các cụ phụ lão nói rằng, thời Tần từng sai úy Đồ Thư đánh đất Việt, lại sai giám Lộc đào cừ mở đường. Người Việt trốn vào núi sâu, rừng rậm, không thể đánh được. {Nhà Tần} lưu quân ở lại đóng giữ đất không, lâu ngày sĩ tốt mệt mỏi. Người Việt bèn ra đánh, quân Tần đại bại"9 (Ban Cố: Tiền Hán thư, Nghiêm Trợ truyện, q.64.thượng. Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1,tr.137).


Rõ ràng là, trước họa ngoại xâm, người Âu Việt và người Lạc Việt đã tham gia đánh giặc một cách hết sức kiên trì, bền bỉ và rộng khắp. Người thì trực tiếp cầm vũ khí chiến đấu tiêu hao sinh lực địch; người thì rút bỏ vào rừng, làm vườn không nhà trống, cất giấu thóc lúa, của cải, gây nhiều khó khăn cho giặc về tiếp tế, hậu cần. Lực lượng kháng chiến không chỉ có các đội thân binh của các thủ lĩnh quân sự Âu Việt, các lạc tướng và các đội dân binh làng xã mà còn có đông đảo dân chúng tham gia, bất kể lứa tuổi, nam nữ, địa vị xã hội. Quân giặc bị đánh đuổi ở khắp nơi, liên tục phải đối phó với cuộc chiến đấu của người Việt, nên quân dẫu đông mà vẫn thiếu, càng đánh càng lâm vào tình thế khó khăn, tuyệt vọng, cuối cùng phải chịu thất bại.


Cuộc chiến đấu của người Việt thời đó thật kiên cường, diễn ra chủ yếu là ở vùng rừng núi phía Bắc và Tây Bắc, song theo sử sách thì đã có nhiều người thuộc vùng trung du, đồng bằng châu thổ sông Hồng tham gia đánh giặc. Tiêu biểu là Cao Lỗ (ông Nỏ), người ở đất Vũ Ninh (Bắc Ninh), là Lý Ông Trọng người làng Chèm, thuộc huyện Từ Liêm, Hà Nội ngày nay.


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tần vào thế kỷ III Tr.CN là chiến công chung của cộng đồng cư dân Việt cả người Âu Việt và Lạc Việt. Chiến công đó đã thể hiện sự manh nha của tư tưởng chiến tranh nhân dân Việt Nam, tạo nên niềm tin to lớn về truyền thống yêu nước tất thắng của các thế hệ người Việt trong cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.


c) Sử dụng nhiều cách đánh giặc mưu trí, sáng tạo

Trong cuộc kháng chiến chống Tần, tổ tiên ta không chỉ có quyết tâm chiến đấu rất cao, mà còn biết vận dụng nhiều cách đánh thông minh, sáng tạo để giành chiến thắng. Sử sách Trung Quốc xưa đều ít nhiều đã nói đến lối đánh của người Việt, như khi giặc còn mạnh thì "rút vào rừng", "đêm công ngày lánh", khiến cho địch chiếm "mảnh đất không", thủy thổ bất phục, "tiến không được, thoái không xong", khi thời cơ đến thì "đại phá quân Tần", tiêu diệt hàng chục vạn tên, buộc nhà Tần phải bãi binh. Những điều ghi chép trên cho thấy, tư duy về cách đánh giặc của tổ tiên ta đã nảy sinh và phát huy tác dụng từ cuộc chiến đấu không cân sức này.


Trước thế mạnh ban đầu của quân Tần, người Việt đã không dàn trận chặn địch, mà phân tán lực lượng, chạy vào rừng để bảo toàn lực lượng. Họ rút vào rừng nhưng không phải là bỏ đất cho địch, mà trái lại là tích lũy lực lượng, tìm người tài giỏi chỉ huy tiếp tục cuộc chiến đấu, ngày ẩn, đêm ra đánh phá quân Tần. Bám chắc vào các làng bản, chiềng chạ, tận dụng địa thế hiểm trở của quê hương, đất nước, họ vận dụng nhiều cách đánh linh hoạt như: đánh đêm, đánh úp, đánh lén, đánh tỉa, đánh bền bỉ, dẻo dai, chống lại quân xâm lược.


Với lối đánh đó, tổ tiên ta vừa phát huy được khả năng đánh giặc của cả cộng đồng, của mỗi người, vừa tận dụng được yếu tố bí mật, bất ngờ để thực hiện đánh địch ở khắp mọi nơi, buộc quân giặc phải phân tán lực lượng đối phó và làm cho chúng không những bị tiêu hao sinh lực, bị triệt hạ lương thực mà còn bị mệt mỏi tinh thần. Chính sách Sử ký của Tư Mã Thiên cũng ghi nhận là cuộc chiến đấu mưu trí, bền bỉ của người Việt đã khiến cho quân Tần "lương thực bị tuyệt và thiếu", "đóng binh ở đất vô dụng, tiến không được, thoái cũng không xong". Quân Tần càng ngày càng bị dồn vào tình thế khốn quẫn, tuyệt vọng: "Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta tự thắt cổ trên cây dọc đường, người chết trông nhau"10 (Tư Mã Thiên: Sử ký, q.113. Dẫn theo Lịch sử Việt Nam, Sđd, t.1, tr.142).


Khi tình thế cho phép, tổ tiên ta mới tập trung lực lượng, chuyển sang phản công, thực hiện đánh lớn, đánh tiêu diệt sinh lực giặc, đập tan cuộc xâm lược của quân Tần. Kết quả là, người Việt đã đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư. Quân Tần thây phơi, máu chảy hàng mấy chục vạn người, cuối cùng buộc phải bãi binh.


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tần chứng tỏ ngay từ cuộc đụng đầu lịch sử lớn đầu tiên với kẻ thù đến từ phương Bắc, tổ tiên ta đã biết tìm ra cách đánh thích hợp với địa hình, hoàn cảnh của đất nước, một mặt biết khai thác lợi thế của ta, mặt khác ra sức hạn chế ưu thế của quân giặc để phát triển cuộc chiến đấu và cuối cùng đã đánh bại ý chí xâm lược của kẻ thù. Thắng lợi đó đã thể hiện mầm mống đầu tiên của tư tưởng quân sự và nghệ thuật quân sự Việt Nam, "lấy nhỏ thắng lớn", "lấy ít địch nhiều", tạo nên sức mạnh và thế trận hơn hẳn đối phương để giành thắng lợi trên chiến trường.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM