Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Bảy, 2019, 11:57:58 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 12:17:10 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
                                                                                                             

                                                                                                                              HỒI THỨ SÁU.

                                                                                                                         BAN ĐÊM HỎI CUNG.



       Đêm khuya, trăng mờ, sương tỏa. Trong một căn nhà nhỏ, Kiếm Ba đang tra hỏi tên thợ đồ gốm do Dương Tử Vinh bắt về. Không khí trong căn nhà rất căng thẳng. Kiếm Ba lòng nóng như lửa muốn biết tình hình, và sào huyệt bọn phỉ ở đâu. Nhưng tên thợ đồ gốm xảo quyệt nhất định không xưng. Cao Ba và Lý Hồng Nghĩa trợn mắt nghiến răng, như muốn xé xác, móc bụng nó ra để tìm những điều muốn biết.

      Kiếm Ba kiên tâm tra hỏi, và nhận thấy nó là một thằng phỉ gan dạ, xảo quyệt; đồng thời cũng nhìn thấy thủ đoạn lão luyện của nó, thảo nào một tay trinh sát cừ, giàu kinh nghiệm như Dương Tử Vinh đã có lúc phải dao động. Hôm nay là lần tra hỏi thứ hai. Kiếm Ba đã thấy nóng mắt, đăm đăm nhìn:
      - Bây giờ nói lại, làm nghề gì?

      - Tôi đã trả lời ông nhiều lần rồi, tôi làm thợ đồ gốm!

      - Mày là người ở đâu? Tên họ là gì?

      - Thôn Hòa Thượng, tên Vương An.

      - Vương Ân Điền ở Cửu Long Hội đối với mày là thế nào?

      - Anh rể, chị ruột.

      Kiếm Ba cất cao giọng hỏi:
      - Hứa Gậy Gộc ở đâu?

      - Không rõ. Tôi làm nghề thủ công, vì phải tìm kế sinh nhai nên tôi có phạm pháp, đi bán thuốc phiện, làm thế nào mà biết nó ở đâu? Xin các ông đừng gán cho tôi cái tên quốc dân đảng, thổ phỉ.

       Kiếm Ba nổi giận:
       - Tao cần nhắc lại cho mày biết, muốn được khoan hồng thì cũng phải có điều kiện. Không nói thật thì chỉ có hại. Điều đó mày nên rõ. Cậu Ba mày còn có...

      Tên đồ gốm lo lắng cho ông cậu, một thằng nhát như cáy chỉ sợ chết. Lại thêm những câu hỏi của Kiếm Ba, nó bắt đầu tỏ vẻ lo lắng. Ở đôi mắt nó, người ta thấy vẻ hoảng sợ và do dự, đồng thời có thể biết trong tim gan nó đang diễn ra một cuộc đấu tranh gay go. Nhưng nó vẫn giương mắt nhìn và nói:
      - Nếu bắt buộc tôi nói, tôi sẽ nói, nhưng tôi không chịu trách nhiệm những câu nói của tôi.

       Kiếm Ba rất bực tức, nhưng cố gắng trấn tĩnh. Bên ngoài có tiếng chó sủa, Dương Tử Vinh và Bạch Như chạy vào mặt đỏ tía, thở hổn hển.

       Bạch Như, một nữ đội viên ngây thơ nhanh nhẹn vừa bước qua ngưỡng cửa, hai tay chắp lại, miệng mỉm cười, nhảy chân sáo:
      - Thành công! Thành công! Đại thành công!

      Còn Dương Tử Vinh cười ha hả bước vào muốn báo cáo điều gì, nhưng chợt trông thấy tên thợ gốm do chính tay anh bắt về, anh im bặt không nói nữa.

      Kiếm Ba nhìn Bạch Như vui vẻ nói:
      - Kìa khéo... đừng làm tắt đèn.

      Bạch Như đỏ mặt, nghiêng đầu ngồi xuống cạnh giường, sau bóng Cao Ba.

      Kiếm Ba hiểu ý Dương Tử Vinh và Bạch Như, lệnh cho Cao Ba dẫn tên thợ đồ gốm đi.

      Kiếm Ba tủm tỉm cười:
      - Bây giờ nói đi nào! Thành công như thế nào?

      Dương Tử Vinh vừa cất lời định nói, thì bên ngoài có tiếng chân người. Ba người cùng hồi hộp chạy ra. Bước qua cổng thì gặp Đổng Trung Tùng, tiểu đội phó tiểu đội hai, Tùng phấn khởi reo lên:
      - Tham mưu trưởng! Tham mưu trưởng!

      Bạch Như tươi cười cải chính:
      - Lại quên mất rồi. Gọi là 203 hay gọi là đội trưởng!

      Ý Bạch Như muốn nói câu ấy với Kiếm Ba, vì Kiếm Ba cũng đã nhiều lần sửa lại cái quên của nàng.

      Đổng Trung Tùng cười ha hả:
     - Vội quá, thôi gọi thế nào cũng được!

      - Cái gì mà vội thế, nói đi, nói mau đi.

      Đổng Trung Tùng vừa thở vừa nói:
      - Huân Thương đã về, bắt được "bảo bối", - anh nói tiếp, - bước vào cửa là nó cúi đầu lạy: "Xin các ông xét cho!... Cũng là người nhà cả thôi".

       Đổng Trung Tùng bắt chước dáng điệu tên bị bắt làm cho ai nấy phải phì cười. Bạch Như cười ngặt nghẽo, đẩy Tùng:
       - Diễn lại một lần nữa xem nào.

       Huân Thương mặt mấy ngày chưa rửa, mồ hôi nhễ nhại bước vào trong lúc gian nhà còn vang tiếng cười…

      Kiếm Ba bước ra, siết chặt tay Huân Thương:
      - "Xe tăng"! Anh làm chúng tôi đợi sốt cả ruột!

       Mọi người cười lên nói theo:
       - "Xe tăng" đã về, anh em ạ!

      Rồi lần lượt bắt tay Huân Thương. Đến lượt Bạch Như, Huân Thương ra sức nắm lấy tay nàng:.
     - Ái dà!

     Nàng kêu lên, chân dún lên dún xuống, cố kéo tay ra.

      Huân Thương cưòi:
      - "Bồ Câu Trắng"! Cô làm gì đấy, định múa cho chúng tôi xem à! Tôi ở trong rừng sâu cũng nghe thấy tiếng cô cười.

      Nói xong anh bước lên giưòng ngồi.

      Còn Bạch Như đứng xoa xoa cái tay đang đau vì bị nắm chặt, đưa mắt nhìn theo:
     - Gớm! Cái anh tai thỏ này!

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 12:13:00 AM 
Tác giả huytop - Bài mới nhất gửi bởi huytop
  

      …Phôn Chíppenkiếc nhấn mạnh rằng quân Nga sẽ bị bất ngờ, vì thế nhận định cho rằng chiến dịch sắp tới ở phía Đông kéo dài không quá sáu tuần là hoàn toàn có căn cứ. Những biện pháp do Bộ chỉ huy tối cao Đức tiến hành nhằm ngụy trang cho chiến dịch, kể cả việc thường xuyên di chuyển quân, tung tin giả về cuộc đổ bộ sắp tới lên đất Anh đã đánh lừa được tình báo Liên xô….

      Tự nhiên tướng Ganđe nhớ lại cuộc gặp gỡ ngày hôm đó với viên đại tá Liên xô — người này cũng không tỏ ra mẩy may nghỉ ngờ một chút nào cả...

        Sau đấy, cuộc họp chuyển sang bàn cách sử dụng trung đoàn "Branđenburg 800” trong ngày X — ngày đầu tiên tấn công vào Liên xô — như thế nào.

       Trung đoàn "Branđenburg 800” là con đẻ của đô đốc Kanarít, người cầm đầu ngành tình báo và phản gián quân sự của Đức quốc xã. Trung đoàn này, gồm những tên tình nguyện giết người, đầu trộm đuôi cướp, mạo danh là đội quân xây dựng đóng tại tỉnh Branđenburg. Bây giờ chúng được điều động đến gần biên giới Liên xô. Những tên lính đổ bộ đường không này đã từng có mặt trong những trận đánh mới đây tại mặt trận phía tây. Chúng mặc quân phục Hà lan, đi thành đội ngũ tới sông Maac và kênh đào Anbe trong vùng Maac Tritta và chiếm các cây cầu ở đây không tốn lấy một viên dạn. Việc này xẩy ra vài phút trước khi pháo bắn dọn đường mở đầu cho cuộc chiến tranh thực sự ở Tây Âu. Quân Hà lan không phá được cầu vì thế quân Đức đã ào ạt tiến sang bờ bên kia sông Maac mà không bị thiệt hại

       Điều đó đã xảy ra. Bây giờ nó được quyết định lặp lại.

       Cấp phó của Hâyđrích báo cáo rằng đã kiếm được trang phục của lính Nga, có cả những bộ hoàn chỉnh của cấp chỉ huy, hắn bày tỏ ý định chiếm bến vượt trong hậu phương quân đội Liên xô cách biên giới chừng hai mươi kilômét. Hắn trải bản đồ khu vực tác chiến sắp tới lên bàn.

      Theo hợp đồng với phòng tác chiến, chiến dịch sẽ tiến hành trước tiên trong khu vực Dvinxca cạnh chiếc cầu qua sông Dvin. Sau đó — hắn ấp úng vì từ Nga quá khó khi phát âm — trên sông Ribertsa — hắn đánh vần từng chữ... cầu Dêrêvianưi... dài một trạm tám mươi mét.

       Ganđe sửa lại chiếc kính không gọng rồi cúi xuống tấm bản đồ lớn.   
       - Chúng ta đặc biệt quan tâm đến chiếc cầu qua sông Dvin — viên Tổng Tham mưu trưởng nói...

       Buổi chiều trong cuốn nhật ký của hắn đã xuất hiện những dòng chữ mới:
       "Việc soạn thảo kế hoạch triển khai chiến dịch Bar-barosa đã hoàn tất. Một đại đội của trung đoàn "Branđenburg 800” được chuyển cho List”.

       Hoạt động của đại đội 10 thuộc trung đoàn "Branđenburg 800” là một trong những nhiệm vụ của kế hoạch chiến lược. Hoạt động này bí mật đến nỗi không có một bản báo cáo nào của các bộ chỉ huy Đức nói đến cả.

      Sau cuộc họp với Gande, tưóng Cuốc phôn Chippenkiếc đến phòng làm việc của tên cầm đầu ngành tình báo đế chế, đô đốc Kanarít ở phố Kripittrác.

       Trông thấy hắn, viên tùy tùng của đô đốc Kanarít đứng bật ngay dậy. Phôn Chíppenkiếc chẳng nói chẳng rằng, gật đầu rồi đi thẳng vào phòng làm việc của tên cầm đầu Ápve. Đây là căn phòng treo đầy bản đồ các khu vực trên thế giới mà hắn hay lui tới. Những tấm bản đồ bị thay đổi là tùy theo nhiệm vụ từ đại bản doanh của Hítle dội xuống. Tại đây đã từng treo bản đồ của Áo, Tiệp, Ba lan... Bây giờ đây, thay vào chỗ của chúng là một tấm bản đồ Nước Nga Xô viết chíếm gần nửa bức tường và buông sát mặt đất.   

     Trên một bức tường khác của phòng là chân dung của các cựu thống lĩnh Ápve. Giữa các bức chân dung, ở vị trí trung tâm là một tấm ảnh lớn của đại tá Nhicôlai, người đã từng cầm đầu ngành tình báo đế chế trong những năm tháng của đại chiến thế giới lần thứ nhất. Trên bàn làm việc là chân dung của Ađôn Hítle, còn dưới nó một chút là ảnh của tướng Phrancô với dòng chữ đề tặng người mà đô đốc Kanarít có quan hệ từ lâu.   

       Ngoài ra, trên bàn làm việc còn có một pho tượng nhỏ bằng đồng — tượng ba con khỉ dựa vào nhau. Thoạt nhìn, trông chúng giống như một bức tượng truyền thống trong đạo Phật ở phương Đông, tượng,  trưng cho sự thờ ơ trong công việc trần tục và thoát khỏi bụi trần trong cuộc sống. Dưới bàn tay tạo hình của các nghệ nhân trong Phật giáo, một con khỉ lấy tay bịt mắt, con thứ hai bịt tai, còn con thứ ba thì dùng lòng bàn tay bịt miệng : "Không thấy, không nghe, không nói!” — cực lạc đang chờ ở cõi tiên. Nhưng Kanarít đã giao cho một người thợ tạc tượng sửa pho tượng phương đông đi một chút. Trên bàn hắn, con khỉ thứ nhất khom mu bàn tay che trên lông mày như đang theo dõi ai đó, con khỉ thứ hai nghiêng lòng bàn tay che bên tai để nghe trộm, riêng con thứ ba thì vẫn giữ nguyên như cũ tức là vẫn lấy tay bịt miệng lại. "Nhìn thấy tất cả, nghe thấy mọi điều, nhưng im lặng”. Đô đốc Kanarít lệnh cho đúc hàng trăm và cũng có thể tới hàng nghìn những bức tượng giống như thế và đem phân phát cho các nhân viên của ngành tình báo quân sự đế chế...

       Phôn Chíppenkiếc báo cáo cho đô đốc về cuộc họp trong bộ Tổng tham mưu, về những đại đội Branđenburg được phái về các bộ tham mưu tập đoàn quân, về những cuộc đổ bộ sắp tới liên quan đến việc đánh chiếm các cây cầu.

     - Ngài biết không – Kanarít bỗng ngắt lời hắn — giá như bây giờ tôi cho thêm vào bức tượng này một con khỉ  nữa thì nó sẽ đốt ngòi nổ chậm.. Đấy là cái mới khác biệt trong ngành tình báo của chúng ta. Chúng ta không chỉ thấy, nghe, giữ kín mà còn hành động... Mục đích biện minh cho phương tiện mà! Tôi hoàn toàn nhất trí với Quốc trưởng về điều này... Chúng ta đang bắt đầu một trò chơi lớn. Và tôi tin là chúng ta sẽ thắng lợi...

      Kanarít liếc nhìn người đang nói chuyện với mình. Hắn bắt đầu phát triển ý định mới :
      - Song song với những chuyện đã được quyết định, cần phải phái người của ta sang Nga trên những chuyến tàu chở hàng. Nếu họ phải nằm một hai ngày trong những toa chở hàng thì cũng chẳng can gì. Thế nhưng rạng sáng ngày X các hiệp sĩ Branđenburg của ta đã có mặt trong hậu cứ của bọn Nga. Chỉ có điều là không nên phái họ đi quá xa... Hãy cho người làm nhiệm vụ kiểm tra thời gian biểu của tàu chở hàng. Cứ để cho họ gieo rắc hoang mang... Cứ mặc cho họ giết chóc, đốt phá thả sức... Còn một điều nữa... Ngài có chú ý tới chi tiết tâm lý này không: khi quân lính đi thành đội ngũ vào khu vực quân sự thì thường ít bị kiểm tra giấy tờ... vậy thì tại sao ta lại không phái vào pháo đài Brext một đội Branđenburg biết nói tiếng Nga, ăn mặc như quân Nga...vào trước ngày X.., Nếu được thế thì họ sẽ là đội quân đắc lực của ta trong ngày X... Ngài có nhớ người chỉ huy đầu tiên của trung đoàn, ngài phôn Kippen không ? Ông ta thường nói với quân của mình rằng: "Các anh phải là những thần tượng có thể bắt quỷ trong địa ngục ! ”.. Đấy, chúng ta sẽ phái những con người như thế vào pháo đài của bọn Nga…

      Ngày X đã đến gần. Con khỉ tưởng tượng trên bàn của đô đốc Kanarít đang cầm sẵn trong tay mồi lửa để đốt ngòi nổ chậm...




 3 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 05:37:42 PM 
Tác giả hạnh phin - Bài mới nhất gửi bởi hạnh phin



         Chào mừng Cựu Binh đoàn ta đoàn 567 anh hùng cùng với cựu chiến binh trên khắp mọi miền Tổ Quốc.  Với ân tình đồng đội trong tháng tri ân,  tấp lập những hoạt động viếng thăm nơi an nghỉ của các anh hùng liệt sỹ.

         Lại thêm một hoạt động mang tính tổ chức,  cựu binh đoàn 567 cùng các cựu binh của mặt trận Vị Xuyên tỉnh Bắc Kạn,   lập nên câu lạc bộ với tinh thần tri ân đồng đội để ôn về một thời không thể nào quên,  chiến đấu hy sinh bảo vệ Biên Cương phía Bắc Tổ Quốc - chống quân Trung Quốc xâm lược.

     





 4 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 02:57:13 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Phicôngtiêmkích
Cám ơn Giangtvx đã đưa ra vấn đề rất lí thú. Đúng là hệ thống chỉ hướng trên máy bay không thể như chiếc la bàn bình thường mà Giangtvx đề cập đến. Khi bọn tôi bay những năm đầu tiên trên loại máy bay phản lực sơ cấp thì hệ thống này được  định hướng qua đồng hồ "Gích" (GIK). Đấy là chiếc đồng hồ có nam châm vĩnh cửu được đặt trong chất lỏng. Khi máy bay bay bình thường hoặc khi lật ngửa, nó vẫn chỉ hướng bình thường. Khi may bay lật vuông góc 90 độ, hầu như nó đứng im, không chỉ. Độ dung sai của nó lớn hơn đồng hồ "Cờ-si" (KSI) trên MiG-21 vì hệ thống chỉ hướng trên MiG-21 gồm có con quay với đồng hồ chỉ hướng và máy hiệu chỉnh từ. Đấy là một "tổ hợp". Chế độ làm việc chính xác của la bàn từ là chế độ làm việc của truyền cảm con quay bán la bàn với cảm ứng từ. Khi la bàn làm việc ở chế độ bán la bàn, sai lệch của nó không quá 3-4 độ sau một giờ bay. Sau khi mở máy, trước khi máy bay lăn, phi công phải ấn nút hiệp đồng la bàn để hiệu chỉnh lại chỉ số của đồng hồ theo cảm ứng từ (hiệu chỉnh từ). Nói chung, các kỹ sư đặc thiết phải học và nắm rất kỹ cấu tạo và cách hoạt động của các đồng hồ này, còn các phi công phải biết cách sử dụng và xử lí khi nó bị hỏng hóc ở trên không.
Ngoài đồng hồ la bàn từ ra, còn có đồng hồ la bàn điện (ARK) với chiếc kim sơn màu vàng mà vẫn được gọi là "kim vàng". Đúng là nó còn quý hơn vàng vì lúc nào nó cũng chỉ về đài xa (ở cách đầu sân bay, phía hạ cánh khoảng 4-5 km). Vì vậy, bất kể trong mây, trong mù hay trong đêm, khi nhìn vào đồng hồ và theo hướng chỉ của nó thế nào cũng về đến đài. Ngày nay, trên các loại máy bay hiện đại còn có thêm những đồng hồ định hướng qua vệ tinh thì việc xác định hướng còn chính xác hơn nhiều.
Khi bay, còn có một loạt hệ thống các đài trạm ra-đa cảnh giới, ra-đa dẫn đường theo dõi và dẫn dắt nữa, nên chuyện lạc đường là "hơi hiếm". Chuyện trong chiến đấu, chuyến xuất kích của anh Trần Hanh phải hạ ở bản Kẻ Tằm thì lại là chuyện khác, Giangtvx ạ!
Giá như, Huyphongssi vẫn còn ở đâu đó, vẫn theo dõi diễn đàn này thì chắc sẽ giải thích chi tiết, cặn kẽ hơn tôi, nhưng hy vọng phần nào cũng đáp ứng được thắc mắc của các đồng đội!.

 5 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:16:20 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        LIÊN MINH CHIẾN ĐẤU, liên kết giữa các lực lượng (quốc gia, dân tộc, tập đoàn chính trị - xã hội) nhằm phối hợp hành động đấu tranh vũ trang vì những mục đích nhất định. Theo mục đích chính trị, có LMCĐ: chính nghĩa, tiến bộ hoặc phi nghĩa, phản động; theo hình thức và thời gian, có LMCĐ: lâu dài hoặc tạm thời. Trong nhiều thập kỉ qua, trên thế giới đã xuất hiện những LMCĐ tiến bộ, chính nghĩa như liên minh chống chủ nghĩa phát xít (1940-45), liên minh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ xâm lược của nhân dân ba nước Đông Dương (1945-75); đồng thời cũng xuất hiện  LMCĐ giữa CNĐQ với các thế lực phản động nhằm tiến hành xâm lược vũ trang hoặc diễn biến hòa bình, bạo loạn, lật đổ chống lại các nước XHCN và phong trào giải phóng dân tộc hoặc những quốc gia không chịu khuất phục và lệ thuộc.

        LIÊN MINH QUÂN SỰ, liên kết hoạt động QS giữa hai hoặc nhiều nước (hay tập đoàn chính trị) trên cơ sở thống nhất về mục đích và lợi ích. LMQS có thể tổ chức ra khối quân sự hoặc chỉ lập thành đơn vị chiến đấu chung (quân đoàn châu Âu của Pháp. Đức. Tây Ban Nha...). Tùy thuộc vào mục đích chính trị, LMQS có thể là tiến bộ hay phản động, tự vệ hay xâm lược.

        LIÊN MINH TÂY ÂU (A. Western European Union, vt: WEU), tổ chức hợp tác khu vực Tây Âu. Gồm 7 nước (Anh, Pháp, CHLB Đức, Bỉ. Luyxembua, Italia, Hà Lan). Thành lập 6.5.1955 trên cơ sở hiệp ước Brucxen (1948). Trụ sở: Luân Đón. Về tổ chức có: Hội đồng liên minh (cơ quan hoạch định các chính sách gồm các bộ trưởng ngoại giao, đại sứ các nước thành viên ở Anh và thứ trưởng ngoại giao Anh, do tổng thư kí điều hành): Ban thư kí (gồm: tổng thư kí, phó tổng thư ký trợ lí tổng thư kí, cố vấn pháp luật); Đại hội đồng (cơ quan quyết định chính sách phòng thủ và các vấn đề có liên quan đến liên minh và các thành viên, đề xuất ý kiến lên hội đồng liên minh, quốc hội, chính phủ các nước và các tổ chức thế giới, gồm các đại biểu từ các nước thành viên tham gia Đại hội đồng tư vấn của Hội đồng châu Âu). Ngoài ra còn có các cơ quan giúp việc: cơ quan kiểm soát vũ khí trang bị; ủy ban thường trực về vũ khí trang bị; ủy ban về các vấn đề phòng thủ  và vũ khí trang bị; ủy ban về các vấn đề chung; ủy ban về các vấn đề ngân sách và hành chính; ủy ban về nguyên tắc các thủ tục và đặc quyền. LMTÂ đã tạo ra cơ sở cho việc “phòng thủ tập thể” giữa các nước thành viên.

        LIÊN TOÁN NHÂN DÂN TỰ VỆ CHIẾN ĐẤU, phân đội chiến đấu của lực lượng nhân dân tự vệ ở khóm, ấp của chính quyền Sài Gòn. Ra đời theo luật số 003/68 ngày 19.6.1968. Mỗi LTNDTVCĐ thường gồm 3 toán, quân số 35-44 người (có cả nữ đoàn viên), thuộc biên chế của đoàn, hoặc độc lập; trang bị một số vũ khí thông thường. Liên toán trường do đoàn viên nhân dân tự vệ bầu. LTNDTVCĐ đặt dưới quyền chỉ huy, sử dụng, yểm trợ và huấn luyện của ban chỉ huy phân chi khu.

        LIÊN XÔ (Liên bang các nước cộng hòa XHCN Xô viết,  CCCP, A. Union of Soviet Socialist Republics, Soviet Union, USSR), quốc gia liên bang tồn tại 1922-91 trên đại bộ phận lãnh thổ đế chế Nga cũ. Thủ đô: Maxcơva. Khi thành lập (31.12.1922) gồm 4 nước Cộng hòa XHCN xô viết: Liên bang Nga, Bêlôrutxia (Bêlarut), Ucraina và Liên bang Dacapcadia. Sau khi các nước cộng hòa tự trị Udơbêkixtan, Tuôcmênia (Tuôcménixtan) (1925), Tatgikixtan (1929), Cadắcxtan, Kiêcghidia (Cưrơgưxtan), Mônđavia (Môndôva) (1936) chuyến thành cộng hòa xô viết liên bang; Liên bang Dacapcadia giải thể thành các nước cộng hòa xô viết liên bang Adecbaigian, Acménia và Grudia (1936); các nước Latvia, Litva và Extônia gia nhập liên bang (1940), LX gồm 15 nước CHLB, trong đó có 20 nước cộng hòa, 8 tỉnh và 10 khu tự trị. Dt 22.400.000km2 (chiếm 1/6 diện tích lục địa Trái Đất); ds (1990): 291 triệu người: gồm trên 100 dân tộc và bộ tộc, trong đó 52% người Nga, 16% Ucraina, 32% người các dân tộc khác. Ngoài ngôn ngữ chính thức chung là tiếng Nga, các nước CHLB và cộng hòa tự trị đều có quyền sử dụng ngôn ngữ riêng. Cơ quan quyền lực cao nhất: Xô viết tối cao LX gồm hai viện: Viện liên bang và Viện dân tộc. Cơ quan hành pháp nhà nước cao nhất: Hội đồng bộ trường LX. Mỗi nước CHLB và cộng hòa tự trị đều có hiến pháp, xô viết tối cao và chính phủ riêng. Dưới sự lãnh đạo của ĐCS LX. nhân dân LX đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt là trong chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941- 45), góp phần quan trọng vào việc đánh bại chủ nghĩa phát xít. giải phóng nhiều nước ở châu Âu, châu Á, hình thành hệ thống các nước XHCN sau CTTG-II, tích cực ủng hộ và giúp đỡ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Nước đi dầu trong nhiều ngành khoa học kĩ thuật, đặc biệt trong lĩnh vực chinh phục vũ trụ. Trong công cuộc xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc và thống nhất đất nước, nhân dân VN thường xuyên nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của nhà nước và nhân dân LX. Những biến động kinh tế - xã hội cuối thập kỉ 1980 đã dẫn đến việc nhiều nước cộng hòa thuộc LX tuyên bố độc lập. 18.12.1991 tại Minxcơ (thủ đô Bélarut), ba nước Nga, Bêlarut và Ucraina và kí hiệp ước thành lập Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG). 21.12.1991 tại Anmatư (Anma-Ata, thủ đô Cadăcxtan), các nước Adecbaigian, Acmênia, Bêlarut, Cadăcxtan, Tuôcmênixtan, Udơbêkixtan, và Ucraina kí tuyên bố chung công nhặn các nguyên tắc của hiệp định thành lập SNG, chính thức chấm dứt sự tồn tại của LX.

 6 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:11:30 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        LIÊN LẠC CÔNG VỤ, liên lạc dành riêng cho các đơn vị thông tin để điều hành việc triển khai, khai thác, thu hồi tổng trạm, đài (trạm) thông tin nhằm giải quyết các vấn đề nghiệp vụ đảm bảo cho thông tin luôn thông suốt. LLCV thường được tiến hành trên kênh (đường dây) riêng, có thể thực hiện trên kênh (đường dây) chung, nhưng ưu tiên bảo đảm liên lạc cho nhiệm vụ chính.

        LIÊN LẠC ĐIỆP BÁO, bí mật chuyển giao tin tức, tài liệu, trang bị tình báo và giữ mối liên hệ về tổ chức giữa cơ quan chỉ đạo với các thành viên trong lực lượng hoạt động nhằm giải quyết các nhiệm vụ điệp báo.

        LIÊN LẠC ĐƠN CÔNG, phương pháp tổ chức liên lạc phát và thu tin được tiến hành lần lượt trên một kênh thông tin. Việc thay đổi đối tượng liên lạc hoặc chuyển từ thu sang phát chỉ có thể thực hiện sau khi đối tượng liên lạc đã kết thúc việc phát: hình thức của phương pháp liên lạc hai chiều. LLĐC được áp dụng rộng rãi ở các cấp trong QĐ, chủ yếu trên phương tiện thông tin vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC ĐƠN XEN NGẮT. liên lạc cho phép đối tượng đang thu tin khi cần có thể phát ngắt đài bạn. để hỏi hoặc yêu cầu phát lại: một hình thức của liên lạc hai chiều. LLĐXN được thực hiện trên phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện và thông tin tín hiệu. LLĐXN đảm bảo hiệu suất cao, nhưng đòi hỏi nhân viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi và phải bố trí hai tần số thu, phát khác nhau khi liên lạc vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC HAI CHIỂU, phương pháp tổ chức liên lạc vô tuyến điện giữa hai bèn đều phát và thu tin bằng hình thức liên lạc song công, đơn công và đơn xen ngắt. LLHC được vận dụng rộng rãi ở các cấp trong QĐ. So với liên lạc một chiều, LLHC đảm bảo kịp thời, chính xác, nhưng tính bí mật không cao do địch dễ phát hiện tổ chức liên lạc.

        LIÊN LẠC HƯỚNG, phương pháp tổ chức liên lạc giữa hai đối tượng (giữa hai SCH, hai người, hai cơ quan chỉ huy...) trên một đường truyền tin. LLH có thể tổ chức bằng phương tiện thông tin vô tuyến điện, hữu tuyến điện, vận động (quân bưu). Đôi với thông tin vô tuyến điện. Cg liên lạc tay đôi.

        LIÊN LẠC HƯỚNG VÔ TUYÊN ĐIỆN nh LIÊN LẠC TAY ĐÔI VÔ TUYẾN ĐIỆN

        LIÊN LẠC MẠNG VÔ TUYẾN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc giữa ba đài vô tuyến điện trở lên trên một hoặc hai tần số thu, phát khác nhau. Có LLMVTĐ: chỉ huy, hiệp đồng, thông báo, báo động... Đài trường mạng có thể liên lạc đồng thời với tất cả các đài trong mạng hoặc lần lượt với từng đài theo thứ tự ưu tiên và các đài trong mạng có thể liên lạc ngang với nhau khi được sự đồng ý của đài trưởng mạng. LLMVTĐ tiết kiệm được lực lượng thông tin, nhưng dễ lộ bí mật vì thời gian thiết lập liên lạc và làm việc lâu.

        LIÊN LẠC MỘT CHIỀU, phương pháp tổ chức liên lạc trong đó một bên chỉ phát, một bên chỉ thu. LLMC thường dùng để phát các mệnh lệnh, chỉ thị, báo cáo...; được quy định trước như: thông báo báo động, lệnh nổ súng, yêu cầu chi viện hỏa lực, chỉ huy các mũi luồn sâu, toán (tổ) trinh sát và tín hiệu cấp cứu (SOS) khi gặp nạn,... bằng phương tiện vô tuyến điện, thông tin tín hiệu. So với liên lạc hai chiều, LLMC bảo đảm bí mật. nhanh (không cần thủ tục bất liên lạc), nhưng độ tin cậy không cao, vì không báo nhận kịp thời.

        LIÊN LẠC SONG CÔNG, phương pháp tổ chức liên lạc phát và thu tin được tiến hành đồng thời trên một kênh thông tin; một hình thức của liên lạc hai chiều. LLSC thực hiện chủ yếu trên phương tiện thông tin vô tuyến điện. Khi tổ chức LLSC phải chọn tần số thu, phát thích hợp để không gây nhiễu lẫn nhau.

        LIÊN LẠC TAY ĐÔI nh LIÊN LẠC HƯỚNG

        LIÊN LẠC TAY ĐÔI VÔ TUYÊN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc giữa hai đài vô tuyến điện trên một hoặc hai tần số thu, phát khác nhau. Có LLTĐVTĐ một hướng (chuyên hướng) và nhiều hướng. Liên lạc một hướng: sử dụng hai đài chuyên trách liên lạc liên tục hoặc định giờ với nhau. Liên lạc nhiều hướng: sử dụng một đài liên lạc với nhiều đài theo định giờ. So với liên lạc mạng vô tuyến điện, khi tổ chức LLTĐVTĐ phải đảm bảo nhanh, vững chắc và cơ động, bí mật. nhưng cần nhiều nhân viên và khí tài. Cg liên lạc hướng vô tuyến điện.

        LIÊN LẠC VƯỢT CẤP VÔ TUYẾN ĐIỆN, phương pháp tổ chức liên lạc vô tuyến điện giữa người (cơ quan) chỉ huy cấp trên với người (cơ quan) chỉ huy cấp dưới cách một hay nhiều cấp, để trực tiếp chỉ huy đơn vị khi làm nhiệm vụ đặc biệt. Có hai hình thức LLVCVTĐ là lâm thời và thường xuyên. Liên lạc lâm thời: khi đài cấp trên phát tín hiệu liên lạc vượt cấp vào mạng hoặc tay đôi, các đài trong mạng, tay đôi của cấp dưới phải ưu tiên đài vượt cấp làm việc. Liên lạc thường xuyên: đài của cấp trên liên lạc với đài cấp dưới theo thời gian quy định.

 7 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:08:48 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        LIÊN KHU, đơn vị hành chính - QS, thường gồm một số khu có liên quan về vị trí địa lí, về QS... được hợp nhất lại theo yêu cầu chỉ huy, chỉ đạo tác chiến, xây dựng LLVT và xây dựng chính quyền nhân dân. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, gồm: LK 1, LK 3, LK 10 (ở Bắc Bộ), LK 4, LK 5 (ở Trung Bộ). Mỗi LK có ủy ban kháng chiến hành chính LK và BTL LK. Từ 1957 gọi là quân khu, có điểu chỉnh địa giới và nhiệm vụ.

        LIÊN KHU 1, liên khu ở Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Khu 1, Khu 12 và điều chỉnh lại địa giới; gồm 10 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Quảng Yên, Hòn Gai và Hải Ninh. Bắc có đường biên giới với TQ, nam giáp Liên khu 3, tây giáp Liên khu 10, đông giáp biển. Lực lượng (đầu 1948) có 7 trung đoàn (72, 74, 121, 28, 36, 98, 59) và 3 tiểu đoàn (19, 43, 517) bộ binh. LK1 sáp nhập với Liên khu 10 (4.11.1949) thành Liên khu Việt Bắc. Tư lệnh và chính ủy đầu tiên: Chu Văn Tấn, Lê Hiến Mai.

        LIÊN KHU 3, liên khu đồng bằng Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH trên cơ sở hợp nhất Khu 2, Khu 3 và Khu 11; gồm: Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương. Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và Hoà Bình. Bấc và tây giáp Liên khu Việt Bắc, tây nam giáp Liên khu 4, đông và đông nam giáp biển. Được điều chỉnh địa giới: tách Hà Nội để thành lập Mặt trận Hà Nội (11.1948); tách Hải Phòng. Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình để thành lập Khu Tả Ngạn (5.1952). Trong KCCP, LK3 tiến hành chiến tranh nhân dân, đánh phá giao thông, căn cứ địch trong vùng tạm chiếm, chống địch khủng bố, càn quét. 4.1954 LK3 (kể cả Khu Tả Ngạn) có 4 trung đoàn, 9 tiểu đoàn, 58 đại đội và 15 trung đội chiến đấu, với quân số khoảng 34.300 người. Giải thể (6.1957) để thành lập Quân khu  Tả Ngạn và Quân khu Hữu Ngạn. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Hoàng Sâm, Lê Quang Hòa.

        LIÊN KHU 4, liên khu ở Bắc Trung Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH: gồm các tỉnh thuộc Khu 4: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Bắc giáp Liên khu Việt Bắc và Liên khu 3, nam giáp Liên khu 5, đông giáp biển, tây có đường biên giới với Lào. Từ 1950 Quảng Bình. Quảng Trị, Thừa Thiên tổ chức thành phân khu (cg Mặt trận Bình - Trị - Thiên; có bộ chỉ huy riêng trực thuộc Bộ tổng tư lệnh về tác chiến). Trong KCCP, LK4 tiến hành chiến tranh nhân dân trong vùng địch tạm chiếm, bảo vệ vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh, chi viện cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và giúp đỡ CM Lào; lực lượng thuộc LK4 (đầu 1948) gồm 6 trung đoàn và một tiểu đoàn; đến 4.1954, có: 11 tiểu đoàn, 39 đại đội và 10 trung đội, quân số khoảng 18.200 người. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Sơn, Trần Văn Quang.

        LIÊN KHU 5, liên khu ở Nam Trung Bộ trong KCCP. Thành lập 20.10.1948 trên cơ sở hợp nhất Khu 5, Khu 6 và Khu 15; gồm các tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận. Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng (Lâm Đồng). Bắc giáp Liên khu 4, nam giáp Đồng Nai, Sông Bé (Nam Bộ), dông giáp biển, tây có đường biên giới với Lào và Campuchia. Trong KCCP, LK5 đã tiến hành chiến tranh nhân dân trong vùng địch tạm chiếm; chống càn quét, khủng bố và giúp CM Lào và Campuchia. Lực lượng LK5 (4.1948) có: 7 trung đoàn và 1 tiểu đoàn làm nòng cốt, thường phân tán cùng LLVT các địa phương đấu tranh vũ trang; đến 4.1954 có: 3 trung đoàn và 8 tiểu đoàn thuộc liên khu, 7 tiểu đoàn thuộc tỉnh, 85 đại đội và 62 trung đội thuộc huyện; quân số trên 31.000 người. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Nguyễn Thế Lâm, Nguyễn Chánh.

        LIÊN KHU 10, liên khu ở Bắc Bộ trong KCCP. Thành lập theo sắc lệnh 120-SL ngày 25.1.1948 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Khu 10 và Khu 14 và điều chỉnh địa giới; gồm 8 tỉnh: Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu và châu Mai Đà (thuộc t. Hoà Bình). Tây và tây nam có đường biên giới với Lào, đông giáp Liên khu I, nam và đông nam giáp Liên khu 3 và Liên khu 4. Lực lượng (đầu 1948) có 4 trung đoàn (209, 165, 115, 148), 4 tiểu đoàn (696, 450, 410, 718) bộ binh và một đơn vị pháo binh. Sáp nhập với Liên khu 1 (4.11.1949) thành Liên khu Việt Bắc. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Bằng Giang, Song Hào.

        LIÊN KHU VIỆT BẮC. liên khu ở phía bắc Bắc Bộ. Thành lập theo sắc Iệnh l27-SL ngày 4.11.1949 của chủ tịch nước VN DCCH, trên cơ sở hợp nhất Liên khu 10 và Liên khu 1. Bắc giáp TQ. nam giáp Liên khu 3, đông giáp biển, tây giáp Lào. Có căn cứ địa Việt Bắc, Tây Bắc, Đông Bắc. Từ 7.1952 các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu được tách ra để thành lập Khu Tây Bắc. Đến 4.1954. LKVB có 1 trung đoàn. 15 tiểu đoàn, 81 đại đội, 32 trung đội chiến đấu với quân số khoảng 32.900 người. Giải thể (6.1957) để thành lập Quân khu Tây Bắc, Quân khu Việt Bắc, Quân khu Đông Bắc. Tư lệnh, chính ủy đầu tiên: Lê Quảng Ba, Chu Văn Tấn.

 8 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:07:14 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        LIÊN ĐOÀN, đơn vị tổ chức có biên chế không cố định của một số quân chủng, binh chủng trong QĐ Sài Gòn. Trong không quân thuộc BTL không quân, có: LĐ kiểm báo (kiểm soát không lưu và báo động), gồm một số đài và trung tâm kiểm báo với quân số khoảng 1.000 người; thuộc biên chế sư đoàn không quân, có: LĐ trợ lực (bảo đảm kĩ thuật), 700- 1.400 người và LĐ phòng thủ (bảo vệ sân bay), 500-900 người. Trong lực lượng giang phòng của hải quân, LĐ thường gồm một số giang đoàn và đơn vị độc lập; có: LĐ thủy bộ, LĐ tuần thám, LĐ ngăn chặn, LĐ người nhái... Trong biệt động quân, LĐ là đơn vị chiến thuật, được tổ chức thống nhất, gồm 3 tiểu đoàn và một số đơn vị độc lập với quân số khoảng 2.000 người. Trong lực lượng tiếp vận, có: LĐ yểm trợ trực tiếp (về hậu cần), 900-1.100 người; LĐ đạn dược (gồm một số kho và phân đội), 660 người; LĐ công binh chiến đấu (gồm 3 tiểu đoàn), 2.300 người; LĐ công binh kiến tạo (gồm 4 tiểu đoàn), 3.100 người; LĐ truyển tin (gồm 2-3 tiểu đoàn và đại đội độc lập), 3.000 người.

        LIÊN ĐOÀN CỰU CHIẾN BINH THẾ GIỚI, tổ chức quốc tế tự nguyện, phi chính phủ, phi đảng phái tập hợp các hội (liên đoàn) quốc gia và quốc tế của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh. Mục đích hoạt động; phối hợp hành động của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh các nước, góp phần duy trì hòa bình và an ninh thế giới phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc; phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế trong giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân đạo, tôn trọng nhân quyền; bảo vệ quyển lợi của cựu chiến binh và nạn nhân chiến tranh, về tổ chức gồm: Đại hội đại biểu các thành viên (cơ quan quyền lực cao nhất); Hội đồng liên đoàn (mỗi thành viên một đại diện) do đại hội phê chuẩn; các chủ tịch danh dự và BCH liên đoàn (gồm chủ tịch, tổng thư kí, tổng thủ quỹ và bốn phó chủ tịch) do đại hội bầu; ủy ban kiểm tra tài chính (gồm ba thành viên ngoài hội đồng và BCH). Trụ sở tại Pari (Pháp).

        LIÊN ĐOÀN LƯU ĐỘNG nh BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG

        LIÊN ĐỘI ĐẶC CÔNG, phân đội chiến thuật cao nhất của Binh chủng đặc công. Thường gồm 3 đội đặc công. LĐĐC thường được tổ chức trong đoàn đặc công hoặc trong quân khu, quân đoàn, bộ chỉ huy QS tỉnh. LĐĐC có thể chiến đấu độc lập hoặc trong đội hình cấp trên, hiệp đồng binh chủng.

        LIÊN HỢP (N. Coio3), 1) loạt tàu vũ trụ của LX (nhiều chỗ ngồi, có thể ghép nối với các trạm vũ trụ hoặc các tàu vũ trụ tương tự), để bay trên quỹ đạo gần Trái Đất. Dài 7,5m, đường kính 2,72m. khối lượng 6,6-7,07t; gồm: khoang quỹ đạo với thiết bị lắp ghép có thể tích 10m3 để kíp bay làm việc và nghi ngơi, khoang máy móc thiết bị có động cơ hiệu chỉnh và hãm, khoang hạ cánh (sau khi tách khỏi khoang quỹ đạo và xuyên qua lớp khí quyển dày đặc sẽ tiếp đất cùng tổ bay bằng dù và hệ thống tiếp đất nhẹ nhàng). LH phóng lần đầu 23.4.1967. Các loại cải tiến là LH-T (phóng lần đầu 5.6.1980), LH-TM (phóng lần đầu 5.2.1987); 2) chương trình chế tạo và phóng tàu vũ trụ LH; gồm: tiến hành nghiên cứu khoa học, y sinh học, các thử nghiệm kĩ thuật, đưa người ra ngoài khoảng không vũ trụ, sử dụng tàu để đưa các tổ bay, hàng hóa lên trạm quỹ đạo và trở về Trái Đất. Đến 1998 đã 76 lần phóng tàu LH có người lái (37 LH, 14 LH-T, 25 LH-TM, trong đó tàu LH-19 đã thực hiện chuyến bay thử nghiệm ghép nối với tàu vũ trụ Apôlô của Mĩ, 7.1975). Nhà du hành vũ trụ VN Phạm Tuân cũng bay trên loại tàu này.

        LIÊN HỢP QUỐC (A. United Nations, vt: UN), tổ chức quốc tế tự nguyện của các quốc gia có chủ quyền vì mục đích gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế, phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Thành lập theo sáng kiến của LX, Mĩ, Anh, TQ tại hội nghị Xan Phranxixcô (Mĩ), gồm đại diện của 50 nước tham gia kí kết Hiến chương Liên hợp quốc, có hiệu lực từ 24.10.1945. Đến 2003 có 192 quốc gia thành viên trong đó có VN (1977); trụ sở ở Niu Ooc (Mĩ). Nguyên tắc hoạt động: bình đẳng về quyền lợi và quyền tự quyết dân tộc; tôn trọng nhân quyền, không phân biệt chùng tộc, tín ngưỡng; nghiêm chỉnh thực hiện các nghĩa vụ theo Hiến chương LHQ; giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, không dùng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; tạo điều kiện để các quốc gia không phải là thành viên hoạt động phù hợp Hiến chương LHQ. Tổ chức gồm: Đại hội đồng (cơ quan lãnh đạo cao nhất), Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Hội đồng kinh tế -  xã hội, Hội đồng quản thác, Toà án quốc tế Liên hợp quốc và Ban thư kí do tổng thư kí điều hành; ngoài ra còn có một số cơ quan chuyên trách khác. LHQ ngày càng phát triển và có nhiều đóng góp tích cực, trở thành trung tâm phối hợp hành động giữa các quốc gia và diễn đàn quốc tế lớn thu hút nhiều nước và tổ chức quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, LHQ đang tiến hành các biện pháp cải tổ nhằm tinh giản bộ máy và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phù hợp với trật tự thế giới mới vì hòa bình, hợp tác, bình đảng, tiến bộ và phát triển. 24.10 được lấy làm Ngày LHQ.

 9 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:05:49 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        LỊCH SỬ SỬ HỌC QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử sử học đóng thời là chuyên ngành của khoa học lịch sử quân sự (nghĩa 2). nghiên cứu lịch sử của khoa học lịch sử QS. Đối tượng nghiên cứu là sự hình thành, phát triển các tri thức lịch sử QS theo thời gian, từ những tri thức riêng lẻ, những hiện tượng bề ngoài, từng mặt đến một hệ thống tri thức và phương pháp nhận thức để trở thành một khoa học. LSSHQS có quan hệ chặt chẽ với các chuyên ngành khác của khoa học lịch sử QS.

        LỊCH SỬ TỔ CHỨC QUÂN SỰ. bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2). nghiên cứu sự hình thành và phát triển của LLVT, của QĐ (các quân chủng, binh chủng, đơn vị, nhà trường, cơ quan chỉ huy, ngành nghiệp vụ...) trong các thời đại và thời kì lịch sử khác nhau. LSTCQS tìm ra những quy luật tổ chức QS của các quốc gia, mối liên hệ giữa hình thức tổ chức lực lượng trực tiếp chiến đấu. tổ chức chỉ huy và bảo đảm  chiến đấu; giữa các quân chủng, binh chủng; giữa nền kinh tế đất nước với khả năng tổ chức trang bị KTQS: vạch ra vai trò của QĐ. những đặc điểm về cơ cấu tổ chức, hệ thống giáo dục, huấn luyện, tổ chức chỉ huy các cấp và những hoạt động của nó trong thời chiến và thời bình; phân chia và tổ chức thiết bị chiến trường, địa bàn QS, cơ sở hậu phương và bảo đảm hậu cần. Trên cơ sở đó hoạch định việc tổ chức, xây dựng LLVT cả về chính trị. QS, biên chế, trang bị kĩ thuật, rút những bài học thiết thực cho việc nghiên cứu tổ chức QS hiện tại và tương lai.

        LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2), chuyên nghiên cứu sự hình thành và phát triển hệ thống quan điểm về QS và các vấn đề liên quan đến QS của các cá nhàn, giai cấp, chính đảng nhất định. LSTTQS VN hình thành trong quá trình đấu tranh chống sự xâm lược của phong kiến phương Bắc, chống CNĐQ thực dân, đặc biệt được phát triển phong phú từ khi ĐCS VN ra đời lãnh đạo CM VN.

        LICHTENXTÊN (Công quốc Lichtenxtên; Furstentum Liechtenstein, A. Principality of Liechtenstein) quốc gia ở Trung Âu, nằm giữa Thụy Sĩ và Áo. Dt 160km2; ds 33 nghìn người (2003); gồm: người Áo, Đức, Thụy Sĩ... Ngôn ngữ chính thức: tiếng Đức. Tôn giáo: đạo Thiên Chúa. Thù đô: Vađudơ. Chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu nhà nước là quốc vương. Cơ quan lập pháp: quốc hội một viện. Cơ quan hành pháp: chính phủ. 75% lãnh thổ là núi, thuộc dãy Anpơ. độ cao 2.000m, phía tây là đồng bằng thượng lưu Sông Ranh. Khí hậu ôn hòa. Rừng chiếm 25% diện tích. Ngân hàng và du lịch là các ngành quan trọng của nền kinh tế. Thành viên LHQ (18.9.1990). Không có QĐ.



        LIĐA (LIDAR. vt từ A. Light Detection And Ranging), máy định vị quang học dùng lade làm nguồn bức xạ thăm dò. Các bộ phận chủ yếu: lade xung phát ra bức xạ điện từ trong dải quang học, hệ thống quang học làm nhiệm vụ anten thu phát, đầu thu bức xạ và bộ xử lí. Nguyên lí hoạt động tương tự như rađa. So với rađa. L xác định tọa độ góc mục tiêu với mức chính xác cao (nhỏ hơn l ph) và độ phân giải về cự li tốt hơn (tới vài cm). L được dùng trong QS để đo cự li, theo dõi khí cầu. phát hiện các vùng không khí nhiễm độc...

        LIÊN BINH ĐOÀN, đơn vị lực lượng vũ trang, gồm một số binh đoàn và binh đội, phân đội trực thuộc và cơ quan chỉ huy. Thường thực hiện những nhiệm vụ chiến dịch, chiến dịch -  chiến lược hoặc chiến dịch - chiến thuật. Cơ cấu tổ chức, quân số, trang bị của LBĐ phụ thuộc vào nhiệm vụ tác chiến và tính chất chiến trường. Thuộc loại LBĐ có quân đoàn, tập đoàn quản, phương diện quân, cụm bộ độix) nước ngoài.

 10 
 vào lúc: 19 Tháng Bảy, 2019, 11:03:58 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        “LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT CHIẾN DỊCH VIỆT NAM TRONG 30 NĂM CHIẾN TRANH CHỐNG PHÁP, CHỐNG MĨ (1945-1975)”, công trình nghiên cứu, tổng kết lịch sử hình thành và phát triển nghệ thuật chiến dịch VN trong 30 năm tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, do tập thể tác giả Viện lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn: xuất bản 1994 (3 tập) và tái bản 1995 (1 tập). Gồm ba phần: lịch sử nghệ thuật chiến dịch VN trong KCCP, lịch sử nghệ thuật chiến dịch VN trong KCCM và tổng luận. Nội dung chủ yếu: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn của gần 100 chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến, khẳng định nghệ thuật chiến dịch VN là nghệ thuật của chiến tranh nhân dân, được hình thành và phát triển trên nền tảng thế trận chiến tranh nhân dân. do ĐCS VN tổ chức và lãnh đạo; là sự phát huy sức mạnh tổng hợp của LLVT ba thứ quân, kết hợp sức mạnh QS và chính trị; quán triệt sâu sắc tư tưởng tích cực, chủ động, kiên quyết, liên tục tiến công; phát triển từ thấp đến cao theo yêu cầu của chiến lược và sự phát triển lực lượng, từ quy mô nhỏ đến lớn. từ tuấn tự đến nhảy vọt, kết hợp chặt chẽ phương thức tác chiến tập trung chính quy với tác chiến du kích và đấu tranh chính trị. nổi dậy của quần chúng; hình thành và phát triển cách đánh chiến dịch sáng tạo, trong đó đặc biệt coi trọng việc tạo thế ta, phá thế địch, tạo tình huống và thời cơ có lợi để đánh tiêu diệt bằng các trận thời chốt và thời chốt quyết định... Là công trình chính trong hệ thống công trình nghiên cứu. tổng kết lịch sử nghệ thuật chiến dịch của LLVTND VN qua hai cuộc kháng chiến, có giá trị khoa học trong việc tổng kết các bài học kinh nghiệm, góp phần làm rõ thêm những vấn đề có tính quy luật của nghệ thuật QS VN trong thời kì hiện đại.

        LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ, bộ phận của lịch sử quân sự (nghĩa 2), nghiên cứu sự hình thành, phát triển của những phương thức và hình thức đấu tranh vũ trang trên cả ba lĩnh vực chiến lược QS, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật trong từng cuộc đấu tranh của từng dân tộc, ở từng thời đại và ở mọi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau trong lịch sử. LSNTQS dựa vào thực tế các cuộc chiến tranh, rút ra những kinh nghiệm có tính nguyên tắc về tiến trình của nghệ thuật QS, góp phần xem xét và giải quyết những vấn đề phát triển lí luận QS nói chung, nghệ thuật QS nói riêng của hiện tại và tương lai.

        “LỊCH SỬ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM”, tác phẩm nghiên cứu, tổng kết lịch sử QĐND VN trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước do ĐCS VN lãnh đạo. Gồm 2 tập: tập 1 do Ban nghiên cứu lịch sử QĐ trực thuộc TCCT biên soạn, xuất bản 1974 và tái bản 1976, 1977. 1994, 1999; tập 2 do Viện lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn, xuất bản lần đầu gồm 2 quyển vào các năm 1989. 1990 và tái bản thành 1 quyển vào các năm 1994. 1999. Nội dung cơ bản: trình bày những quan điểm QS đầu tiên của Đảng: sự hình thành và phát triển các tổ chức vũ trang CM qua các thời kì vận động và xây dựng lực lượng CM (1930-39), thời kì chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang và tiến hành tổng khới nghĩa giành chính quyền (1939-45); quá trình chiến đấu. xây dựng và trường thành của QĐND VN cùng với toàn dân đấu tranh bảo vệ chính quyền CM, chống thù trong giặc ngoài: làm nghĩa vụ quốc tế và thực hiện liên minh chiến dâu với CM các nước Lào. Campuchia; lần lượt đánh bại àm mưu. thủ đoạn, chiến lược chiến tranh của kẻ thù, đưa KCCP (1945-54) và KCCM (1954-75) đến thắng lợi hoàn toàn. “LSQĐNDVN” góp phần làm rõ bản chất CM và vai trò của QĐND VN trong lịch sử hiện đại của dân tộc, được sử dụng rộng rãi làm tài liệu giáo dục cho các LLVTND, có giá trị tham khảo đối với các cơ quan, cán bộ nghiên cứu. giảng dạy trong và ngoài QĐ.

        LỊCH SỬ QUÂN SỰ, 1) lịch sử về quá trình phát sinh, phát triển các hoạt động QS trong lịch sử xã hội loài người; 2) bộ phận của khoa học lịch sử nghiên cứu các hoạt động QS trong quá khứ. chủ yếu là các quy luật của chiến tranh, đấu tranh vũ trang, nhằm rút ra những bài học thiết thực cho việc tổ chức, tiến hành chiến tranh, xây dựng và sử dụng LLVT. Các bộ phận hợp thành: lịch sử chiến tranh, lịch sử nghệ thuật quân sự, lịch sử tổ chức quân sự, lịch sử tư tưởng quân sự, lịch sử kĩ thuật quân sự và những chuyên ngành bổ trợ: sử liệu học quân sự, lịch sử sử học quân sự, cổ thư học quân sự, khảo cổ học quân sự. thống kê học quân sự. Phương pháp luận và cơ sở lí luận của khoa học LSQS mácxit là chủ nghĩa Mác - Lênin mà trực tiếp là học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và QĐ. Khoa học LSQS quan hệ hữu cơ với khoa học quân sự. Khoa học LSQS VN hiện đại được xây dựng trên nền tảng lí luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa tinh hoa truyền thống QS của dân tộc và của thế giới. Cg sử học quân sự.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM