Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Tư, 2021, 01:32:03 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2021, 04:58:29 pm 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Phicôngtiêmkích
Trong tiếng Nga, vấn đề phức tạp nữa là trọng âm vì phát âm sai trọng âm là nghĩa khác hoàn toàn. Ví dụ, từ zámôk là lâu đài hay pháo đài, nhưng nếu đọc zamốk thì nghĩa lại là cái khóa hay ổ khóa ... và còn nhiều từ khác nữa nên phải luôn thận trọng vối cái trọng âm này. Có nhiều từ có rất nhiều chữ ghép vào với nhau, đọc đến méo cả mồm, ví như từ mang nghĩa lành nghề chẳng hạn thì phải đọc là vư xôcôkvaliphixirôvannưi. Vậy cũng đủ ốm. Thày giáo cô giáo liên tục bắt phải phát âm, phải đặt câu. Mà học thuộc những từ dài như thế kia thì bao giờ mới thuộc. Một anh bạn vớ ngay được một từ rất ngắn, rất dễ học thuộc, đấy là từ Kít- nghĩa là cá voi. Thế là anh ta tận dụng triệt để cái từ này trong việc đặt câu, cẳng hạn: hôm qua tôi trông thấy con Kít, hay tôi gặp con Kít, rồi đến cả Tôi ăn con Kít thì thày giáo bổ chửng lên và nói ngay: thôi, vấn đề con Kít đến đây có thể chấm dứt được, hãy chuyển sang từ khác đi. Vậy là từ bấy, chúng tôi gán ngay từ Kít sau tên anh để làm biệt hiệu.
Phong trào học tiếng Nga được đẩy lên rất cao và thế là có nhiều sáng kiến trong học tập nảy ra, nhất là chuyện "Việt hóa tiếng Nga". Chuyện này cũng là học theo cách của cha ông mình thôi. Ví như cái từ tiếng Anh: một, hai, ba... là One, two, three...thì được Việt hóa là Oẳn tù tì trong các trò chơi của trẻ con chẳng hạn. Còn về tiếng Nga thì từ cám ơn sẽ được Việt hóa là xin bà tí bơ (Xờ-pa-xí-bờ), hay từ làm ơn, xin mời với tiếng Nga là Po-gia-lui-xơ-ta thì Việt hóa thành bà già lui ra. Rồi cả từ kỹ thuật như từ Lôn-gie-rôn là khung sườn dọc của cánh thì biến ngay thành Lôn dưới rốn...Nhiều cái kinh khủng lắm...
Dầu sao, sau 3 tháng học tiếng Nga, chúng tôi đã cơ bản nắm được những vấn đề cần thiết và đã có nhiều anh thuộc hạng khá, giỏi trong lĩnh vực này và rồi bước ngay vào học lí thuyết bay trên loại máy bay phản lực sơ cấp L-29.
 Chuyện ăn uống ở đất nước Liên-xô này, chúng tôi chưa quen ngay được. Các bữa ăn hầu như rất ít có rau hoặc gần như không có nên rất xót ruột. Một ai đó phát hiện được những vạt rau sam các loại, thế là bí mật đi hái về dể luộc hoặc nấu canh ăn. Rau sam ở bên ấy ngọn to như chiếc đũa  và bò dài ngoẵng, non búng, chỉ trông thấy đã thèm, lúc luộc lên có vị chua chua, uống nước luộc thấy mát lòng mát ruột nên ai cũng khoái. Rồi lại còn những cây rau muối nữa. Cây rau muối cao đến ngang vai mình với những chiếc lá xanh mơn mởn, lấm tấm những hạt trắng như những hạt muối tinh do ai vô tình đánh rơi lên đó, cứ lấp lánh dưới ánh mặt trời và đung đưa theo gió, trông thật mát mắt và khêu gợi. Thứ đó hái về đem nấu với cá hộp thì chỉ có "nhất quả đất". Rồi cả những cây bông mã đề non búng không hiểu sao lại mọc tràn lan ở xứ này. Vậy là chúng tôi tận dụng triệt để các loại rau ấy, nhưng phải ăn vụng ăn trộm vì nhà trường cấm, không cho ăn những thứ đó. Họ sợ giun sán sẽ xâm nhập vào bụng dạ chúng tôi qua con đường "cải thiện" ấy. Mà chuyện giun sán thì các nước châu Âu này sợ lắm. Họ cấm cũng phải thôi, còn chúng tôi thì cứ giấu diếm tổ chức đánh chén cho đỡ thèm. "Cơm không rau như đau không thuốc" mà!.

 2 
 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2021, 08:26:19 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Phicôngtiêmkích
PhaPhai ơi! Thế thì có nhiều cái khá giống nhau trên những nẻo đường rồi đấy!. Mình viết tiếp nhé!

Khi đến sân bay Akhtari thì trước đó đã có 2 đoàn học viên Việt Nam rồi: một đoàn 40 người do anh Nguyễn Chính Hậu làm trưởng đoàn, còn đoàn kia có 20 người đang học lí thuyết bay do anh Phạm Đình Tuân làm trưởng đoàn. Đoàn của anh Hậu sẽ cùng bay L-29 với chúng tôi. Đoàn của anh Tuân sẽ bay theo kiểu "hàn lâm", tức là bay trên loại máy bay cánh quạt IAK-18 trước rồi đến MiG-17, sau đó mới là MiG-21.
Chúng tôi ổn định chỗ ở xong thì được nhận quân trang, sách vở và đồ dùng học tập rồi nghe phổ biến quy chế ở trường. Có lẽ, khó khăn lớn nhất của chúng tôi gặp phải trong giai đoạn này là vấn đề ngoại ngữ. Chúng tôi bắt đầu bước vào học tiếng Nga ở cơ sở học bay với tên gọi tắt là ULÔ do ông Thiếu tá tên là Phomin phụ trách. Ông là người rất có trách nhiệm, tâm lí, hóm hỉnh, tế nhị và rất nhanh nhẹn. Ông nói sõi từ "hai bốn" nên chúng tôi đặt cho ông cái tên là "Thiếu tá Hai bốn!". Thế nào mà ông lại biết được cái biệt hiệu ấy, khi gặp chúng tôi, ông lấy tay vỗ vỗ vào ngực mình và nói: "Thiếu tá Hai Bốn đây!". Đoàn chúng tôi được chia thành 8 lớp do các thày cô người Nga trực tiếp giảng dạy. Trong đoàn tôi, trừ một vài anh đã học Đại học ngoại ngữ khoa  tiếng Nga thì còn nhàn hạ, tiếp đến là bọn tôi được học mấy năm phổ thông biết võ vẽ chút tiếng Nga thì đỡ hơn một chút nhưng cũng rất chật vật, còn lại những ai chưa hề dính líu đến cái thứ tiếng đa âm đa nghĩa này thì đúng là phải đánh vật với từng từ một cho đến toát mồ hôi ra mới thôi.  Cách phát âm đã khó mà lại còn đủ loại cách nữa: nào nguyên cách nào sinh cách, nào đối cách nào dữ cách rồi tạo cách, giới cách rồi lại đến cách chia động từ theo số ít, số nhiều, theo hiện tại theo quá khứ theo thì tương lai rồi lại hoàn thành thể, chưa hoàn thành thể. Tất cả cứ rối loạn hết cả lên. Đúng là "mưa sa bão táp không bằng ngữ pháp tiếng Nga" thật. Ngôi với cách phức tạp quá, quân ta lắm lúc cứ để nguyên cách 1 (nguyên cách) mà xài. Đã có lần có 1 anh "phang" một câu dài toàn dùng cách 1 như thế này : "Xây chát mư đa môi. Vô xem cha xốp mư xu đa! Đa?" (Bây giờ chúng tôi về nhà, 8 giờ chúng tôi trở lại đây. Đúng không?). Thày giáo gật đầu: "Đa!" (Đúng rồi!). THế là ổn, cần quái gì cách với cú cho mệt. Câu chuyện ấy tới giờ mỗi khi gặp nhau chúng tôi vẫn nhắc lại rồi cùng cười nhớ lại một thời đã qua. Nhưng cái từ "Đa" (Vâng) cũng gây ra lắm rắc rối. Lắm khi chẳng hiểu gì thì cứ "đa" bừa đi cốt cho qua chuyện, nhưng thày lại hỏi: "Sờ tô đa?" (Vâng cái gì?) thế là lại nói : "Nhét!" (không), thày hỏi lại: "Sờ-tô nhét?) (không cái gì?) Vậy là cả bọn ngớ người ra. Ôi, cái thứ ngoại ngữ này phức tạp thật đấy!.

 3 
 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2021, 03:50:13 pm 
Tác giả vubang - Bài mới nhất gửi bởi doan duy hien
  Grin CHÙM THƠ 4 CÂU

MỪNG NGÀY VU QUY CỦA CHÁU

Ngày kia lễ cưới cháu thương rồi
Thỏa ước bao ngày sớm đến tôi
Ủ kén nuôi Tằm nay dệt lụa
Mừng cho hạnh phúc đã đơm chồi.

VƯỢT KHÓ

Đừng nên trách mãi phận hoa bèo
Hãy chẳng than trời với số neo
Phải quyết vươn mình ra sóng cả
Rồi đây nghiệp vận thoát danh nghèo.

HUYỀN THOẠI NÔNG TRANG

Trèo lên tháp bậc ruộng chiêm vàng
Thỏa nguyện trong đời ngắm vĩ thang
Ảo vọng mây vờn quanh ghẹo núi
Mà như thượng uyển giữa Thiên đàng.
Đoàn Duy Hiển

 4 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:49:30 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Trên cơ sở đánh giá đúng đắn ta - địch qua thực tế cả năm 1974 như vậy, Bộ chỉ huy B2 đặt kế hoạch hoạt động lớn ngay vào đầu mùa khô 1974-1975 cho chiến trường B2. Trong kế hoạch đó, các Quân khu 8, 9 tiêu diệt địch, phá bình định, mở rộng vùng làm chủ, trọng điểm là trung tâm vùng đồng bằng: các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long. Còn chủ lực Miền thì đánh địch trên đường 14, mở đầu bằng diệt chi khu Đồng Xoài, làm chủ ngã tư giao thông quan trọng này để dùng cơ giới tải đạn dược, lương thực qua phía bắc và phía đông Sài Gòn chuẩn bị cho các mũi bắc và đông đánh vào Sài Gòn trong thời gian tới. Nếu điều kiện thuận lợi do địch bị cô lập ở Phước Long hoang mang, ta sẽ giải phóng cả tỉnh. Trung ương Cục đã thông qua kế hoạch, một mặt báo cáo ra Trung ương, một mặt triển khai đánh địch ngay vào đầu tháng 12 năm 1974 của đợt 1 mùa khô và chuẩn bị cho đợt 2 vào tháng 3. Ngoài ra, Trung -ương Cục còn đề nghị có cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và lãnh đạo chỉ huy các chiến trường để nhận định đánh giá đúng tình hình và có những chủ trương kịp thời.


Nhưng Trung ương không chấp thuận kế hoạch của B2; lệnh không được dùng chủ lực và binh chủng xe tăng, pháo xe kéo, trong năm 1975, để dành sức quan trọng cho thời cơ quan trọng năm 1976. Năm 1975 chỉ được đánh nhỏ, chủ yếu hoạt động phá bình định ở đồng bằng Cửu Long. Chủ lực chỉ dùng một bộ phận đánh Đức Lập mở hành lang thông suốt vào miền Đông Nam Bộ để chuẩn bị cho các chiến dịch lớn, thời cơ lớn năm 1976.


Chính vì vậy B2 phải bỏ kế hoạch đánh Đồng Xoài, điều lực lượng Quân đoàn 4 triển khai sẵn ở Đồng Xoài cùng pháo và xe tăng về vị trí cũ; dùng Sư đoàn 3 mới tổ chức cùng địa phương và du kích đánh nhỏ trên đường 14 vào khu vực Bù Đăng và bắc Đồng Xoài.


Điều này chứng tỏ các chiến trường không báo cáo được đầy đủ và kịp thời tình hình thực tế ra Trung ương hoặc báo cáo sai lệch. Không thể có dự kiến cho sắp tới, tiên tri cho tương lai trong khi thiếu những cơ sở thực tế của chiến trường được phản ánh đầy đủ.


Cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có sự tham dự của lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường toàn Miền từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975 đã bổ sung kịp thời những thiếu sót đó. Tình hình đã rõ, sự đánh giá của ta về địch đúng đã làm cơ sở vững chắc cho kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976. B2 được phép dùng chủ lực Quân đoàn 4 pháo và xe tăng cùng Sư đoàn 3 đánh và đã tiêu diệt gọn Đồng Xoài rồi giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long trong niềm vui sướng của mọi người. Quân ngụy bị rải ra giữ khắp miền Nam để thực hiện mệnh lệnh của Thiệu là không để một xã nào rơi vào tay Việt Cộng. Rút cục không còn lực lượng dự bị nào phản ứng nổi thất bại lớn lao này như nhận định của B2 trước khi đánh. Chúng chỉ đưa được liên đoàn biệt kích dù 81 vẻn vẹn khoảng 200 tên lên phản kích nhưng cũng bị tiêu diệt. Thiệu đành làm trò hề ba ngày toàn quốc để tang cho Phước Long. Còn Mỹ tuy cảm thấy sự kiện Phước Long có quan hệ đến sự sụp đổ của chế độ ngụy, nhưng cũng chỉ đứng ngoài hăm dọa và gây áp lực từ xa như báo động khẩn cấp Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ ở O-ki-na-oa, dọa ném bom trở lại miền Bắc nếu ta tiếp tục tấn công, cho tàu sân bay Interprise từ Phi-líp-pin vào biển Đông, Nam Việt Nam. Mặc dù chính tổng thống Thiệu đã van nài đại sứ Mỹ Ma-tin xin Mỹ can thiệp, Bộ ngoại giao của cái gọi “Cộng hòa Việt Nam” chính thức gửi công hàm, tướng Khuyên - tổng tham mưu trưởng quân ngụy gọi điện cầu cứu khẩn cấp với Xmít, trưởng cơ quan tình báo quân sự Mỹ (DAO), song, Mỹ vẫn làm ngơ. Ngày 9 tháng 1 năm 1975, Đại sứ quán Mỹ báo cho Thiệu biết “Việc yểm trợ bằng máy bay Mỹ lúc này chưa được phép”, rồi ngày 21 tháng 1 năm 1975 tổng thống Pho tuyên bố: “Không có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn, sẽ không can thiệp vào Việt Nam mà không thông qua thủ tục hiến pháp và lập pháp” và khi bị Quốc hội Mỹ chất vấn, tàu sân bay Interprise được lệnh rút êm về Ân Độ Dương.


Trong đợt 1 hoạt động mùa khô toàn B2 đã giành thắng lợi lớn. Mặc dù các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ, địch vẫn không thể tập trung cao độ đối phó với B2 vì thực sự chúng đã suy yếu nghiêm trọng. Ngoài chiến thắng Phước Long, ta đã giải phóng huyện Tánh Linh và một nửa huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Thuận, tiêu diệt và làm chủ đài quan sát và kỹ thuật thông tin ở núi Bà Đen dùng khống chế cả vùng tây bắc miền Đông Nam Bộ. Ở đồng bằng sông Cửu Long ta diệt nhiều chi khu, căn cứ và đồn bốt địch, loại khỏi vòng chiến đấu 2 vạn tên, giải phóng gần 2 triệu dân.


Trong cuộc họp của Bộ Chính trị (mở rộng) kết thúc vào ngày 8 tháng 1 năm 1975, căn cứ vào tình hình phát triển mới nhất, đặc biệt là chiến thắng giải phóng toàn tỉnh Phước Long, hội nghị đã có những kết luận quan trọng:


“Diễn biến cơ bản của tình hình trong gần hai năm qua rõ ràng là ta đang ở thế thắng, thế đi lên, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang thế thua, thế đi xuống, thế bị động và khó khăn... Chúng suy yếu một cách toàn diện với nhịp độ ngày càng tăng. Do hoạt động của ta và do khó khăn nội tại của chúng, địch có thể trải qua những bước xuống dốc nghiêm trọng”...


“So sánh lực lượng địch - ta trên phạm vi cả nước cũng như trên chiến trường miền Nam đã có những chuyển biến cơ bản rõ rệt có lợi cho cách mạng, ta đã mạnh hơn địch”.


“Chúng ta đã đứng trước thời cơ chiến lược lớn”... Chưa bao giờ ta có đầy đủ điều kiện về quân sự và chính trị như hiện nay, thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc...”.


Trên cơ sở nhận định và đánh giá tình hình như vậy mà Bộ Chính trị hạ quyết tâm về kế hoạch hai năm 1975-1976 giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Bộ Chính trị nhấn mạnh vấn đề thời cơ chiến lược: “Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh tạo nên thời cơ, phong trào chính trị thúc đẩy thời cơ, tình hình thế giới và nội tại nước Mỹ là thời cơ.

Phải khẩn trương, phải đánh nhanh hơn".

Chiến thắng Phước Long là một thực tế làm lộ rõ tình hình của giai đoạn cuối của chiến tranh giúp ta đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên. Hiểu rõ khả năng của ngụy nhất là khả năng của Mỹ có tái can thiệp vào Việt Nam hay không. Chiến thắng Phước Long đã tạo thời cơ vô cùng quan trọng trong năm 1975 không được bỏ lỡ để kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

 5 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:48:49 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
VỚI CHIẾN THẮNG GIẢI PHÓNG
MỘT TỈNH ĐẦU TIÊN, QUÂN VÀ DÂN PHƯỚC LONG ĐÃ CHỈ RA
THỜI CƠ VÀ KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM


Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
Trích kỷ yếu chiến thắng Phước Long của Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh B2 (Miền), Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh - Xuân 1975


Quân và dán Phước Long đã làm nên một kỳ tích chiến lược trong chiến tranh chống Mỹ. Đúng như vậy; không có chiến thắng Phước Long thì chưa có Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vì vậy chiến thắng Phước Long không thể đánh giá như một chiến thắng chiến thuật hay chiến dịch mà là một chiến thắng ở tầm chiến lược. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đi vào lịch sử vinh quang nhất của dân tộc phải chăng xuất phát từ ngày 6 tháng 1 năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Hãy ghi nhớ công ơn của những người con của dân tộc đã ngã xuống trên miền đất thiêng liêng này, những con người tiếp sáng trí tuệ của những người sống, chỉ ra thời cơ đã chín và khả năng của ta giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Ngay sau khi chiến thắng Phước Long được thông báo trong cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng đến các lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường đang họp tại Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư đã vui mừng nói: "Thực tế này nói rõ hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ”. Về sau đồng chí lại nói: “Chiến thắng này, đã mở ra tiền đề cho cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam”.


Trong chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến tranh chống Mỹ của ta, mà sức lực đôi bên rất không cân xứng. Kẻ địch của ta là một cường quốc thế giới có dư bom đạn vũ khí hiện đại, dư tiền của và có quyết tâm của một chiến lược toàn cầu, nên tình hình diễn biến vô cùng phức tạp trong suốt các quá trình của cuộc chiến. Hiểu rõ địch nhất là những âm mưu, kế hoạch của nó, hiểu rõ ta nhất là những khả năng thực tế đến đâu, hiểu rõ tình hình đôi bên từng giai đoạn trên chiến trường là rất khó. Không thể căn cứ vào hiện tượng nhiều khi không thật, không thể căn cứ vào ý chí của ta. Sự việc thường diễn biến thuận hoặc nghịch lý, luôn vận động phát triển không ngừng, có lúc biểu lộ rõ nét, nhưng bao giờ cũng còn những ẩn số ngầm. Việc nắm bắt được kịp thời và chính xác thực chất của sự vật, chiều hướng phát triển của nó để có chủ trương chiến lược đúng thời cơ là yêu cầu cao nhất của lãnh đạo chỉ đạo chiến lược trong chiến tranh.


Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, sự đánh giá tình hình giữa ta và địch có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau. Hiệp định quy định quân Mỹ rút hết khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ không những để hết vũ khí lại cho ngụy, rút về hơn nửa triệu quân tay không, mà còn chở thêm, cả bằng đường không, đường biển, trang bị vũ khí rất nhiều cho ngụy để ngụy giành thắng lợi cuối cùng trong “Việt Nam hóa chiến tranh”. Do đó, có những đánh giá rằng Mỹ cút nhưng ngụy chưa nhào mà còn mạnh lên về mọi mặt; còn ta thì yếu đi nhiều, cần sắp xếp lại thành hai vùng, rút hết quân đội ta từ vùng địch về vùng ta để củng cố nếu không sẽ bị tiêu diệt hết. Tất nhiên như vậy chiến trường sẽ phân tuyến, tự mình xóa thế xen kẽ da beo vô cùng lợi hại của chiến tranh nhân dân. May thay, Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng chấn chỉnh và đề ra đường lối đúng đắn để ta tiếp tục giành thắng lợi. Mùa khô 1974, toàn bộ chiến trường B2 hoạt động đánh địch rất tích cực, đã giành nhiều thắng lợi cả ở đồng bằng và rừng núi. Qua hoạt động thực tế tại chiến trường, ta đã hiểu địch và hiểu ta rõ hơn. Nhờ đó Trung ương Cục đã nhận định trong hội nghị tổng kết tháng 6: “Qua mùa khô này nhân tố mới sẽ xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không dừng lại, phải tiếp tục giành thắng lợi lớn hơn. Mùa mưa này (1974) ta có rất nhiều thuận lợi hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, các địa phương và cho chủ lực bước vào mùa khô 1974-1975 với khí thế mạnh, sung sức. Năm 1975, nhất là mùa khô 1975, ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình, tạo ra bước ngoặt, một bước ngoặt có tính chất quyết định”.


Quả thật mùa mưa năm 1974 ta thắng lớn. Lại vượt mọi khó khăn do địch và thời tiết gây ra, vận tải vũ khí và đưa quân số bổ sung được cho đồng bằng sông Cửu Long và các đơn vị sẵn sàng cho mùa khô.

 6 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:47:38 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Lời giới thiệu


Đại thắng mùa Xuân 1975 là đòn tiến công chiến lược cuối cũng kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm. Theo dòng chảy lịch sử, ta đã có một khoảng lùi xa 30 năm để nhìn lại sự kiện vĩ đại này của thế kỷ XX.


Những sự kiện, những chiến dịch lớn quyết định trong giai đoạn này đã được ghi lại dưới nhiều dạng thức, chuyền tải đến bạn đọc một lượng thông tin rất đa dạng và phong phú về diễn tiến chiến dịch tại chiến trường miền Nam và cả hậu phương lớn miền Bắc.


Đại thắng mùa Xuân 1975 đã huy động vào đây hầu hết những lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến của các quân binh chủng nhằm giải quyết những điểm mốc then chốt, cũng như bố trí cài thế trên bình diện cuộc chiến, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định. Nghệ thuật quân sự đỉnh cao, sự sáng tạo và tổ chức chỉ huy, tinh thần và ý chí của binh sĩ được thể hiện trong chiến dịch vô cùng sôi động kéo dài 55 ngày đêm.


Đối với các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ, Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã khắc sâu vào tâm tưởng những kỷ niệm không bao giờ quên.


Tập sách này, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân quy tụ nhiều tác giả là cán bộ chỉ huy các cấp chiến lược, chiến dịch, các cán bộ quân sự, chính trị, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà khoa học... là những nhân chứng đã từng tham gia chiến dịch, các trận đánh lớn hoặc giai đoạn tiếp quản.


Các tác giả đã biểu đạt các sự kiện gắn với kỷ niệm của mình với độ chính xác đáng tin cậy; đồng thời cập nhật nhiều tư liệu mới và cái nhìn có chiều sâu lịch sử... góp phần tạo nên bức tranh toàn cảnh và hoành tráng của một chiến dịch tầm cỡ, kết thúc cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt nhất trong lịch sử Việt Nam.


Với những cố gắng của các tác giả và Ban biên soạn, hy vọng tập sách "Đường tới toàn thắng" sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu sắc, toàn diện hơn thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử chống ngoại xâm, tròn 30 năm trước.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN

 7 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:46:49 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Tên sách: Đường tới toàn thắng
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh, quansuvn


Tổ chức thực hiện:
   - Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
   - Đại tá GIÁP VĂN PHÚC

Có sự tham gia của các đồng chí:
   - Đại tá - Nhà văn HÀ BÌNH NHƯỠNG
   - Thượng tá - Nhà văn LAM GIANG (Hồ Sĩ Thành)
   - NGUYỄN QUỐC HOÀN

 8 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:44:04 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Phối hợp với bạn chiến đấu ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng với Sư đoàn 316, còn có Trung đoàn 866 thuộc Bộ tư lệnh Mặt trận 31. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 đã kiên trì chịu đựng khó khăn vất vả, hiểm nguy hoàn thành tốt nhiệm vụ giúp bạn giữ vững địa bàn, củng cố xây dựng đơn vị, giành chính quyền, bảo vệ khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Theo kế hoạch của Quân ủy Trung ương ta và bạn Trung đoàn 866 cử 40 đồng chí thông thạo tiếng Lào, có kinh nghiệm chiến đấu vào phía tây Viêng Chăn phối hợp với các đội công tác của bạn làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở củng cố và giúp đỡ các địa phương tuyên truyền về đường lối, nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặc biệt là các địa phương có nhiều dân tộc ít người Lào. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 không quản khó khăn, gian khổ phối hợp cùng bạn làm tốt việc xây dựng cơ sở ở vùng địch hậu. Trong khi bọn tay sai phản động luôn tìm mọi cách mua chuộc và lợi dụng các bản người Lào Sủng (người Mẹo) để chia rẽ hoà hợp dân tộc, chống phá cách mạng Lào, các tổ công tác của ta đã tận tình giúp bạn tuyên truyền, vận động được đông đảo quần chúng ủng hộ cách mạng.


Trong thời gian này, tình hình cách mạng Lào có những diễn biến phức tạp. Một số sĩ quan phản động do tướng Thao-ma được bọn phản động Thái Lan ủng hộ, vượt sông Mê Kông làm đảo chính ở Viêng Chăn. Do biết trước kế hoạch của địch, ta và bạn đã dập tắt ngay cuộc đảo chính. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và kế hoạch xây dựng lực lượng ba năm (1973-1975), Bộ tư lệnh Mặt trận 31 phân chia khu vực và các hướng để tập trung đấu tranh phối hợp ba mũi giáp công, chú trọng công tác vận động binh lính địch và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Dựa vào việc một số đơn vị của phái hữu Lào đang có hiện tượng đào ngũ, không chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Bộ tư lệnh Mặt trận 31 cử các tổ, đội công tác xuống các địa phương giúp bạn tuyên truyền, vận động binh lính địch quay súng trở về với cách mạng sẽ được hưởng khoan hồng; đồng thời tích cực đấu tranh buộc địch phải thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đã ký kết trong Hiệp định.


Cuộc đấu tranh để trung lập hoá hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng diễn ra gay go quyết liệt vì phái hữu Lào đưa ra nhiều điều khoản phi lý. Nhưng trước sự mềm dẻo, kiên trì thuyết phục, sau nhiều phiên họp đàm phán giữa hai bên, ngày 3 tháng 4 năm 1974 Hoàng thân Xu-pha-nu-vông - Chủ tịch Ủy ban Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và đoàn cán bộ của bạn đã đến Viêng Chăn an toàn để chuẩn bị thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp.


Ngày 5 tháng 4 năm 1974, Chính phủ Liên hiệp lâm thời quốc gia và hội đồng chính trị hiệp thương quốc gia do nhà vua trực tiếp ra chỉ dụ tiến cử. Tiếp đó, ngày 23 tháng 4 năm 1974, Chính phủ Liên hiệp lâm thời quốc gia thông qua chương trình công tác gồm 10 điểm. Ngày 25 tháng 5 năm 1974, Hội đồng chính trị liên hiệp Quốc gia đã nhất trí thông qua cương lĩnh chính trị gồm 18 điểm và văn kiện xác định quyền tự do dân chủ của nhân dân. Cương lĩnh chính trị được Chính phủ Liên hiệp Quốc gia tổ chức thực hiện và trở thành cương lĩnh chỉ đạo hoạt động của chính quyền các cấp trên toàn quốc, trở thành phương hướng và chỗ dựa cho nhân dân các bộ tộc và các lực lượng vũ trang toàn quốc tiến hành đấu tranh để bảo vệ hoà bình và hoà hợp dân tộc, thực hiện quyền tự do dân chủ và thống nhất dân tộc, xây dựng đất nước Lào độc lập, thống nhất và thịnh vượng.


Trước sự đấu tranh kiên quyết của quân và dân Lào, tháng 5 năm 1974, Mỹ và Thái Lan phải rút hết quân ra khỏi lãnh thổ Lào. Sự kiện này làm cho quân phái hữu vốn đã suy yếu nay lại càng suy yếu hơn. Tình hình cách mạng Lào chuyển biến nhanh và thuận lợi, các đoàn quân tình nguyện và chuyên gia quân sự của ta tiếp tục tập trung xây dựng kế hoạch cụ thể giúp bạn.


Đánh giá về quan hệ đoàn kết, hữu nghị giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước Việt - Lào, trong đó có quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hoạt động ở Lào theo yêu cầu của Đảng và nhân dân Lào, tại Hội nghị cán bộ toàn quốc Lào ngày 13 tháng 5 năm 1974, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn - Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào nêu rõ: "Mối quan hệ đoàn kết Lào - Việt là mối quan hệ đặc biệt, tình nghĩa hiếm có trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài từ trước tới nay và từ nay về sau vẫn còn là yêu cầu thiết thân, sống còn của hai nước đối với cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Mối quan hệ đó là mẫu mực đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân, góp phần đấu tranh vì sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin"1 (Bài phát biểu của đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, hồ sơ CĐ-11, MQ-620, TCCT, tr. 35).

 9 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:43:27 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Trong thời gian này, vùng giải phóng Nam Lào được mở rộng kéo dài từ R8 qua Na-kai, vòng quá đông nam Thà Khẹc, đường số 13 xuống bắc Phu Xăng, qua thị trấn Sê Pôn xuống Koòng Kẹc, đường 13 ven sông Mê Kông. Cờ cách mạng Lào được cắm xung quanh các đồn địch. Đoàn 565 khẩn trương phối hợp với bạn tranh thủ điều kiện thuận lợi, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, tạo làn sóng đấu tranh mạnh mẽ ủng hộ cách mạng. Cán bộ chuyên gia ta đã giúp bạn giải giáp toàn bộ lực lượng ngụy quyền ở Quân khu 3, Quân khu 4 và Hạ Lào xoá bỏ hệ thống chính quyền ngụy từ tỉnh xuống huyện, tạo điều kiện để giải phóng hoàn toàn nước Lào khi thời cơ đến.


Sau khi ký thoả thuận cụ thể về việc đưa lực lượng của hai phái vào bảo vệ hai thành phố trung lập Viêng Chăn và Luông Phra Băng, ngày 24 tháng 1 năm 1974, các đơn vị quân giải phóng nhân dân Lào nhanh chóng tiến vào hai thành phố trung lập; đồng thời chiếm đóng các vị trí chiến lược quan trọng, làm cho thế và lực của cách mạng Lào phát triển vững chắc.


Tình hình diễn biến ngày càng thuận lợi cho cách mạng Lào, nhưng đế quốc Mỹ và bọn phản động cực hữu Viêng Chăn vẫn tìm mọi cách chống phá. Mỹ tiếp tục viện trợ cho quân đội và cảnh sát phái hữu nhằm khống chê Chính phủ Liên hiệp và hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia, sử dụng quốc hội Viêng Chăn ngăn cản hoạt động của hai cơ quan liên hiệp, gây rối làm cho tình hình Thủ đô hết sức căng thẳng.


Trước tình hình đó, Chính phủ Liên hiệp quốc gia tạm thời với cương vị là cơ quan điều hành hợp pháp đề nghị nhà vua giải tán quốc hội của phía Viêng Chăn. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân ở Viêng Chăn và một số địa phương khác, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải từng bước chấp hành Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn; đồng thời phải thực hiện việc rút cố vấn Mỹ và quân Thái Lan ra khỏi Lào, giải tán “lực lượng đặc biệt” Vàng Pao.


Trong khi đó, trên chiến trường Hạ Lào, Sư đoàn 968 quân tình nguyện được thành lập (trên cơ sở Đoàn 968 trước đây, có bổ sung thêm một số trung đoàn bộ binh và đơn vị binh chủng, theo Quyết định số 60 ngày 13 tháng 4 năm 1973 của Bộ Quốc phòng), giúp bạn giành nhiều thành tích to lớn. Nhiệm vụ chính của sư đoàn là: Giúp bạn bố trí lực lượng, huấn luyện quân sự, bồi dưỡng nghiệp vụ, đặc biệt là hướng dẫn bạn lãnh đạo các tầng lớp nhân dân tại các địa phương đấu tranh buộc địch phải thi hành Hiệp định Viêng Chăn, tạo thế và lực cho quân và dân Lào đẩy mạnh cuộc đấu tranh giành thắng lợi.


Thực hiện chủ trương của bạn, ngày 21 tháng 1 năm 1974 Sư đoàn quyết định: Trung đoàn 9 phối hợp với Trung đoàn 59 (thiếu) chuẩn bị đánh địch tại thị xã Pắk Xoòng. Trung đoàn 19 là lực lượng dự bị chủ yếu, trước mắt cơ động về đông bắc Pắk Xoòng kiềm chế lực lượng GM33 và lữ đoàn 28 của địch tại các khu vực Tha Teng, Huội Sài, Huội Koòng. Các trung đoàn 102, 19, 39 bảo vệ thị xã Sa-ra-van. Sau khi chiếm được thị xã Pắk Xoòng, địch để lại trung đoàn 401 quân Thái Lan đóng giữ; GM33 về chốt giữ các vùng Huội Sài, Tha Teng hòng ngăn chặn ta từ hướng đông bắc Pắk Xoòng. Ngày 23 tháng 2 năm 1974, Trung đoàn 19 được lệnh tập kích bằng hoả lực pháo, cối tiêu diệt GM33 và GT4, buộc địch phải rút khỏi thị trấn Tha Teng, kết thúc chiến dịch. Từ đây, vùng giải phóng của bạn được mở rộng liên hoàn giữa các tỉnh Khăm Muộn, Xa Vẳn Na Khệt, Sa-ra-van, Át-ta-pư. Tuyến vận tải chiến lược 559 chi viện chiến trường Nam Đông Dương ngày càng được bảo vệ vững chắc.


Phát huy thắng lợi, trong những tháng đầu năm 1974 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 968 tiếp tục sát cánh cùng lực lượng vũ trang nhân dân bạn ở Nam Lào tiến công, kiên quyết buộc địch phải chấp hành các điều khoản Hiệp định trên cơ sở pháp lý ở các địa bàn giáp ranh Sa-ra-van, Bô-lô-ven, giúp nhân dân ổn định đời sống, tham gia làm đường, phát triển giao thông theo yêu cầu của chính quyền địa phương bạn. Đồng thời, Sư đoàn 968 giúp bạn mở các lớp huấn luyện cấp tốc nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị để bạn có thể độc lập đấu tranh với địch trên 3 mặt trận. Trong 3 tháng (từ tháng 2 đến cuối tháng 5-1974), sư đoàn giúp bạn tổ chức được ba lớp tập huấn cho hơn 500 cán bộ bạn. Nội dung tập huấn gồm những kiến thức cơ bản về đấu tranh chính trị kết hợp binh vận và công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân ủng hộ cách mạng.


Ngày 17 tháng 2 năm 1974, Hội nghị toàn thể lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào họp, đánh giá ý nghĩa thắng lợi của cách mạng Lào trong 18 năm qua nêu rõ: “Cách mạng Lào có bước phát triển to lớn, nhảy vọt, toàn diện, cơ bản, vững chắc, có ý nghĩa chiến lược, ý nghĩa lịch sử to lớn và có tính chất thời đại. Từ thắng lợi của cách mạng Lào là một đòn giáng vào dã tâm xâm lược của đế quốc Mỹ, làm thất bại một bước âm mưu chiến lược của chúng hòng biến nước Lào thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự”1 (Tổng kết chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng (145-1975), Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 220, 221), về vai trò của lực lượng vũ trang, Hội nghị chỉ rõ: chúng ta (Lào) đã xây dựng được lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, luôn xứng đáng là công cụ bạo lực của giai cấp công nhân, của Đảng, trung thành với Tổ quốc, thương yêu nhân dân, dũng cảm, kiên cường, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và hy sinh, quyết đánh, quyết thắng mọi kẻ thù của dân tộc.


Căn cứ vào tình hình cụ thể của cách mạng Lào, Hội nghị đề ra phương hướng nhiệm vụ trong giai đoạn mới là: “Tiếp tục đẩy mạnh công tác trong vùng đối phương kiểm soát; tăng cường công tác mặt trận và dân vận. Tổ chức đấu tranh trong Chính phủ Liên hiệp. Hội đồng quốc gia Chính trị Liên hiệp và trong 2 thành phố trung lập; đẩy mạnh công tác ngoại giao; kiện toàn bộ máy lãnh đạo của Đảng thật vững mạnh, cải tiến về tổ chức và khâu tổ chức thực hiện nghị quyết. Tăng cường công tác bồi dưỡng cán bộ, làm cho đảng viên có sự nhất trí cao; tích cực nghiên cứu, sớm có cương lĩnh chính trị cho giai đoạn mới"1 (Tổng kết chiến tranh nhân dân ở Lào chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng (1945-1975), Bản đánh máy lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr. 220, 221).


Trên cơ sở thế và lực mới của cách mạng, Trung ương Đảng và Bộ Quốc phòng Lào điều chỉnh thế bố trí lực lượng vũ trang một cách cụ thể (vị trí đóng quân, nhiệm vụ, kế hoạch tác chiến giữa quân tình nguyện Việt Nam và quân giải phóng nhân dân Lào cho phù hợp với sự phát triển của cách mạng Lào.

 10 
 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:42:26 pm 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Theo yêu cầu của bạn, Đoàn 959 xây dựng kế hoạch giúp Bộ Tổng tham mưu bạn thành lập các Ban chỉ huy mặt trận ở từng khu vực, tổ chức hệ thống thông tin liên lạc từ Bộ đến thẳng mặt trận và xây dựng mạng lưới hậu cần riêng cho từng khu vực để đảm bảo kịp thời vật chất cho sinh hoạt và chiến đấu của bộ đội. Quân ủy Trung ương bạn cũng chỉ thị đưa một số lớn cán bộ của ba cơ quan Tổng cục xuống các khu vực nhằm tăng cường năng lực lãnh đạo, chỉ huy ở các đơn vị.


Đồng thời, Đoàn 959 cử một số cán bộ xuống các mặt trận giúp bạn triển khai lực lượng, đưa cán bộ có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ vào thành phố Viêng Chăn, dựa vào sứ quán của ta, giúp bộ phận hoạt động nội thành của bạn chỉ đạo công tác vận động binh lính địch và đấu tranh thi hành các điều khoản của hiệp định về mặt quân sự.


Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu ta, Đoàn 959 phối hợp với Bộ tư lệnh Thủ đô, Quân khu Tây Bắc, Quân khu 3 và Tổng cục Hậu cần giúp bạn đưa các tiểu đoàn quân giải phóng nhân dân Lào vào làm nhiệm vụ bảo vệ và cảnh sát liên hiệp ở hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng theo quy định của nghị định thư đã được 3 bên ký kết.


Căn cứ vào tình hình của Lào, bạn đề nghị ta giúp đỡ, từ tổ chức lực lượng, bồi dưỡng nghiệp vụ đến trang bị hậu cần, phương tiện vận chuyển. Được sự hỗ trợ to lớn của các đơn vị trong nước và Tổng cục Hậu cần, trong 3 tháng, ta đã giúp bạn đưa được 2 đơn vị bảo vệ, 2 đơn vị làm nhiệm vụ cảnh sát liên hiệp và hàng nghìn tấn hàng hoá, trang bị vào hai thành phố Viêng Chăn và Luông Phra Băng an toàn, tạo điều kiện cho Hoàng thân Xu-pha-nu-vông và đoàn cán bộ của Neo Lào Hắc Xạt vào Thủ đô Viêng Chăn cùng Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma thành lập Chính phủ Liên hiệp dân tộc và Hội đồng quốc gia chính trị liên hiệp ở Lào sau này. Sự có mặt của các đơn vị quân đội bạn ngay trong thành phố' Luông Phra Băng và Thủ đô Viêng Chăn là thắng lợi quan trọng, tăng thêm thế và lực mới cho cuộc đấu tranh sắp tới của bạn.


Trong khi đó, Đoàn 565 giúp bạn điều chỉnh một bước về tổ chức lực lượng gồm 2 cụm chủ lực ở Hạ Lào và Trung Lào, phát triển lực lượng mỗi cụm từ trung đoàn lên tương đương lữ đoàn. Tiếp đó, Đoàn 565 giúp bạn xây dựng lực lượng vũ trang ở các địa phương, tạo thế vững chắc cho các tỉnh thuộc Trung ương để tiến tới giải thể Quân khu Nam Lào. Ở tất cả các tiểu đoàn của bạn đều có các chuyên gia của ta phối hợp làm việc với bạn. Trong quá trình giúp bạn, ta cũng gặp không ít khó khăn do địch vẫn duy trì bọn phỉ hoạt động quấy rối, ra sức tuyên truyền chia rẽ tình hữu nghị Việt - Lào. Nhờ sự lớn mạnh, trưởng thành của quân đội bạn, sự hỗ trợ của chuyên gia quân sự Việt Nam, bạn đã giành được những thắng lợi đáng kể. Đặc biệt là ở các vị trí quan trọng như: Pha-lan, Đồng Hến, Keeng Cọc, Không Xê Đôn, Pắk Xoòng, Bô-lô-ven, cò cách mạng Lào được cắm khẳng định rõ ranh giới vùng giải phóng của bạn ngày càng được củng cố, mở rộng.


Đoàn 565 không chỉ giúp bạn ổn định tổ chức, xây dựng lực lượng ở hai cụm chủ lực mà còn giúp bạn xây dựng kế hoạch tác chiến cho các tiểu đoàn độc lập và tiểu đoàn binh chủng của bạn như các tiểu đoàn pháo 14, 19 của bạn đóng tại vùng Xa Van. Hỗ trợ Tiểu đoàn 11 thuộc vùng Nam Lào và bộ đội tỉnh Khăm Muộn thực hiện một số công tác binh vận đối với quân ngụy Lào. Ngoài ra, Đoàn còn cử chuyên gia xuống các địa phương giúp bạn ổn định đời sống nhân dân, thực hiện tốt công tác dân vận ở các huyện thuộc phía đông của tỉnh Xa Vẳn Na Khệt, phân công các tổ công tác, bám sát đội hình của bạn làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ cách mạng. Đoàn 565 bố trí chặt chẽ lực lượng, triển khai từng đợt hoạt động kết hợp phong trào đấu tranh của quần chúng với sử dụng lực lượng vũ trang, nhanh chóng giải phóng vùng Khăm Muộn và Bắc Xa Vẳn Na Khệt, phục kích diệt địch ở phía tây, ven đường số 13.


Trong công tác huấn luyện, Đoàn 565 còn cử chuyên gia giúp bạn mở lớp huấn luyện ngắn ngày. Nội dung huấn luyện gồm một số kiến thức trong hoạt động kết hợp 3 mũi giáp công. Trong một năm, Đoàn 565 đã giúp bạn mở 5 lớp tập huấn, góp phần trang bị kiến thức về quân sự và chính trị cho hơn 400 cán bộ cấp đại đội, tiểu đoàn và cán bộ tỉnh đội với thời gian 15 ngày. Đồng thời, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 565 chủ động giúp bạn củng cố, hoàn chỉnh hệ thống giao thông trong khu vực phía nam thị xã Sa-ra-van. Tiếp đó, mở đợt hoạt động dọc đường sô 13, phía tây tỉnh Tha Teng, tiêu diệt bọn phỉ trong vùng và phát động các tầng lớp nhân dân ủng hộ cách mạng Lào.


Khu vực Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ của cả ba nước Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, có liên quan mật thiết với việc bảo vệ trị an vùng biên giới Việt - Lào. Đặc biệt là giữ vai trò quan trọng quyết định việc thực hiện vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam đến các chiến trường Đông Dương. Đế quốc Mỹ đánh giá “Cánh Đồng Chum là chìa khoá của nước Lào, là mái nhà của Đông Dương". Về phía Lào cũng xác định: “Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là trung tâm chống chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào”. Bởi vậy, Quân ủy Trung ương Lào và ta đã thống nhất tập trung lực lượng đế bảo vệ và củng cố khu vực chiến lược trọng yếu này. Cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam đã sát cánh cùng quân và dân bạn vận động quần chúng thu phục phỉ, xây dựng cơ sở, chiến đấu giữ vững các tuyến đường vận chuyển ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Đầu năm 1974, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, Trung ương Đảng bạn quyết định tiến hành cuộc vận động: “Toàn quân đón thời cơ, tranh thủ thời cơ, tất cả ra tiền tuyến chiến đấu và phục vụ chiến đấu”. Hưởng ứng cuộc vận động của bạn, quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam chiến đấu tại Lào tích cực triển khai công tác trên tất cả các hướng để thực hiện tốt việc thực hiện đấu tranh trên cả ba mặt trận. Nhiều đoàn cán bộ của ta xuống các địa phương bạn tổ chức vận động, tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong nhân dân; phân công cán bộ, đảng viên ở từng địa phương cùng cán bộ bạn thâm nhập, vận động tới từng gia đình thuộc các bộ tộc Lào. Được tuyên truyền về chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng bạn, đông đảo quần chúng nhân dân các bộ tộc Lào, nhất là phụ nữ và thanh niên đã hăng hái ủng hộ cách mạng. Đây là thắng lợi lớn có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác phát triển lực lượng ủng hộ cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi, buộc địch phải từng bước thực hiện Hiệp định và Nghị định thư Viêng Chăn.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM