Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Năm, 2020, 11:27:44 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:39:56 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn

        TÊN ANH CHƯA CÓ TRONG DANH SÁCH

        Trong suốt quãng đời của mình, Kôlia Plugiơnhikốp chưa bao giờ có được nhiều niềm vui bất ngờ như trong ba tuần lễ vừa qua. Mệnh lệnh phong hàm quân hàm cho anh – Nikôlai Pêtơrôvích Plugiơnhikốp – anh đã chờ đợi từ lâu, nhưng tiếp theo là biết bao nhiêu chuyện bất ngờ thú vị xảy ra đến mức khiến cho Kôlia đêm đêm sực bừng tỉnh vì tiếng cười của chính mình.

        Sau buổi điểm dang buổi sáng, ở đó mệnh lệnh đã được công bố, các học viên được dẫn thẳng đến kho quân trang, không, không phải là cái kho chung của học sinh quân, mà là cái kho bấy lâu nay hằng mơ ước, nơi cấp phát những đôi ủng bốc-can, những dây đai mới tinh, những bao súng ngắn căng phồng, những cái xà cột chỉ huy với cặp bản đồ nhẵn láng, những tấm áo ca pốt có những khuy đồng và những tấm áo sơ mi lính bằng vải chéo đều đặn. Sau đó, tất cả học viên tốt nghiệp kéo nhau đến xưởng may nhà trường, chữa quân phục cho thật vừa với khổ người. Họ xô đẩy, chen lấn, nói cười ầm ĩ, đến nỗi cả cái chao đèn sắt tráng men treo lơ lửng trên trần nhà cũng chao đảo.

        https://www.quansuvn.net/index.php/topic,8839.0.html

 2 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:33:56 am 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn

        KỶ NIỆM CỨU QUỐC QUÂN

        Cứu quốc quân là một trong những đội vũ trang tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Ra đời sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn oanh liệt, trong những năm đen tối của nước nhà dưới ách thống trị thực dân tàn bạo của đế quốc Pháp, Nhật câu kết với bọn phong kiến phản động, Cứu quốc quân được Đảng lãnh đạo, được nhân dân che chở và nuôi dưỡng, đã tiến hành một cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng và gian khổ để "duy trì tiếng súng Bắc Sơn", để xây dựng căn cứ địa cách mạng, tiến tới khởi nghĩa toàn quốc. Từ năm 1944 Cứu quốc quân đã cùng với Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân chiến đấu, công tác, góp phần lập nên Khu giải phóng đầu tiên, tích cực chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Nhiều đồng chí trong đội vũ trang đó đã hy sinh anh dũng trong quá trình chiến đấu, nhiều đồng chí khác ngày nay đã trở thành những cản bộ lãnh đạo và chỉ huy xuất sắc của Đảng ta, của quân đội ta.

        Đồng chí Chu Văn Tấn là một trong những người đã trực tiếp đóng góp vào những hoạt động vẻ vang của Cứu quốc quân, từ lúc nó mới ra đời. Đồng chí đã ghi lại nhiều mẩu chuyện về Cứu quốc quân được đăng rải rác trên các báo, hoặc đã in thành sách. Năm 1964, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã xuất bản cuốn "Một năm trên biên giới Việt - Trung" của đồng chí, ghi lại một chặng đường hoạt động của Cứu quốc quân, với sự giúp đỡ hết lòng của Đảng và nhân dân nước bạn.

        https://www.quansuvn.net/index.php?topic=31609.0

 3 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:27:41 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Từ trên xe bước xuống là những quan chúc của Hội đồng an ninh quốc gia: Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên, có vấn an ninh Đặng Văn Quang, cố vấn kinh tế tài chính giáo sư Nguyễn Văn Hào, Quốc vụ khanh Nguyên Bá Cẩn... và các tư lệnh quân khu: tướng Ngô Quang Trưởng, tướng Phạm Văn Phú, tướng Nguyễn Văn Toàn...

        Nhân bắt tay ... (bị rách)

        Quang đang vung tay múa chân tranh luận một việc gì đó.

        - Mấy bữa nay đồng đô-la lại lên giá rồi đó, tôi nói có sai đâu

        Hào lạch bạch đuổi kịp Nhân.

        - Ngài Tổng trưởng dịp này lại trúng bự rồi.

        - Trời đất... anh mà cũng nghĩ vậy về tôi sao - Hào phân bua: - Từ sau cái vụ buôn giấy, may nhờ anh đỡ cho, tôi đâu có mần ăn chi nữa.

        - Vậy mà người ta đồn ngài Tổng trường đưa con gái làm thông ngôn cho người Mỹ để buôn đô-la.

        - Trời đất... con nhỏ làm ăn thế nào tôi đâu có biết. Chả giấu gì anh, từ ngày tôi lấy bà hai, Nhị Hà giận, nó tự kiếm việc làm, chứ có nhờ vả gì tôi đâu. Thiên hạ thật lắm điều.

        Họ bước lên những hàng gạch bông trắng. Nhân lôi chiếc đồng hồ quả quít xem giờ rồi đi thẳng lên lầu hai - nơi Tổng thống phu nhân và cô út vừa ngủ dậy, đang tưới những giỏ phong lan. Thấy Nhân đến, họ quay vào phòng.

        Nhân cắm những bông hoa vào chiếc bình sứ Trung Hoa màu hồng nhạt rồi đi lại phía Tổng thống phu nhân đang tự tay pha cà- phê. Cô út liếc nhìn những bông hoa qua bức gương ở bàn trang điểm. Nhân làm bộ ngạc nhiên hỏi:

        - Chị Sáu kiếm ở đâu ra cái độc bình quý vậy?

        - Mẹ cháu đổi cái vòng ngọc bữa nọ đó - Cô út phụng phịu vuốt tóc đứng dậy - Chú Hai thấy có vô lý không?

        - Sao lại vô lý? - Nhân cười - Cô út đâu có biết giá trị của những chiếc bình cổ Trung Hoa. Thực ra loại men màu hồng này bây giờ không còn làm ra được nữa. Người ta đồn rằng xưa kia, người Trung Hoa phải lấy máu của các cô gái đồng trinh để chế ra loại men đặc biệt mới tạo nên được cái màu hồng kỳ diệu, trong vắt của những chiếc bình như thế này. Để cho tôi thử coi nó đã tồn tại bao nhiêu năm.

        Tổng thống phu nhân và cô út chạy lại nhìn chòng chọc vào chiếc bình hoa, chớp mắt như chua từng thấy nó bao giờ. Cặp môi dày đánh loại son Cô-ty đỏ há to:

        - Thiệt hử, chú Hai?

        - Chị Sáu trúng to rồi đó - Nhân rút chiếc kính hiển vi, chăm chú soi vào chiếc bình hoa với một thái độ cẩn trọng rồi nói - Kim cương mấy chục cạ-rạ còn dỗ kiếm hơn loại bình này.

        - Con thấy chưa? - Tổng thống phu nhân hãnh diện vuốt má cô Út - Cứ tiếc cái vòng ngọc nữa đi.

        - Tôi có vòng khác, quà Nô-en năm nay cho cô út đó - Vừa nói Nhân vừa đặt vào tay cô út một chiếc hộp nhung màu huyết dụ.

        - Đưa đây mẹ coi đã!

        Tổng thống phu nhân thích thú mở hộp nhung, chiếc vòng màu hoa lý có những vân lửa đỏ, chói rực lên trước mắt bà. Cô út ngây thơ nhìn Nhân:

        - Có phải người ta chôn những chiếc vòng này theo người chết mới có nhũng vân đỏ phải không, chú Hai?

        Nhân lim dim mắt nhìn khuôn mặt trái xoan trắng trẻo của cô Út:

        - Xưa kia người Tàu họ hay chôn của, phải yểm bùa, có khi chôn theo các cô gái làm thần giữ của. Truyến thuyết là vậy, nhung khoa học đâu có chứng minh nổi. Theo tôi, những loại đá quý tự nó đã có những vân đỏ rực như thế này.

        - Vòng này đẹp hơn cái vòng của vợ ông Kỳ, phải không chú Hai?

        Nhân quay lại, cao giọng:

        - Không những đẹp hơn mà còn là đồ cổ nữa, chị Sáu ạ! Đây là loai vòng được chế tạo thô kệch, chưa được đánh bóng mà đã lộng lẫy thế.

        Tổng thống phu nhân trao ly cà-phê cho Nhân:

        - Chú Hai cho đường vào mà uống đi. Tướng Phú vừa đem về một tạ cà- phê loại đặc biệt. Tui bắt rang xay theo gu Pa-ri, chú chở một ít về mà xài Nô-en.

        Hai Nhân uống cạn ly cà-phê:

        - Cám ơn chị Sáu. Ngon quá!

        Nguyễn Văn Thiệu từ phòng bên, mở cửa bước sang. Ông ta mặc bộ com-lê màu trắng may theo mốt cũ, mái tóc chải ngược hất ra phía sau, làm cho khuôn mặt tròn, căng ra một cách bướng bỉnh:

        - Họ đến đủ cả chưa? - Tổng thống đưa tay vuốt tóc cô út, nhưng có lẽ đầu ông đang nghĩ đến nhung mũi tên xanh đỏ trên tấm bản đồ các vùng chiến thuật ông đang phải tính toán những nước cờ mới cho một năm mà thầy tuớng số đã nói chắc là ông phải gặp nhị hạn khá gay gắt1.

----------------------
        1. Theo tử vi thì: Nhị hạn là Đại hạn mười năm cùng với năm tiểu hạn xấu, còn gọi là Tuế hạn.

 4 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:26:13 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Tôi và anh Đặng Vân Đình hồi ở cùng đơn vị và kể cả sau này nữa, hay nói chuyện với nhau về đủ mọi loại đề tài. Anh nói, tên đệm của anh trước kia khác chứ không phải là Vân đâu. Tôi rất thích nghe anh kể chuyện và ngắm khuôn mặt anh biểu lộ tình cảm khi anh kể. Anh biết khá nhiều chuyện và cũng hay tìm tôi để giãi bày.

        Anh đã kể cho tôi nghe khá tỉ mỉ về chuyện anh phải nhảy dù đêm 1-3-1972. Chuyện anh nhảy dù thì tôi biết vì thời gian đó tôi đang trực ở sân bay Thọ Xuân - Thanh Hóa, được thông báo và sân bay có cử một tốp đi tìm cứu anh. Hồi ấy, ta áp dụng chiến thuật “nhử mồi”, tức là cho một chiếc lên độ cao, nghênh ngang đi theo hướng nào đó để ra-đa địch phát hiện được. Khi chúng cho tốp nào đó lên đánh chặn thì bấy giờ lực lượng ém quân của ta mới xuất kích, tiêu diệt tốp kia.

        Đêm 1-3, hai anh Phạm Tuân và Đặng Vân Đình trực ban chiến đấu. Nhiệm vụ của Đặng Vân Đình là “nhử mồi”, để Phạm Tuân đánh chặn. Trước đó, Tuân đã nói với Đình:

        - Ông có nhớ trước đây biên đội Đỉnh, Tuân (Vũ Ngọc Đỉnh và Phạm Đình Tuân) trực chiến thì Tuân rơi, bây giờ lại Đình, Tuân thì không biết thế nào. Tuân kia rơi rồi, chưa biết chừng lần này đến ông đấy!

        Nghe Tuân nói chơi chơi như vậy, Đặng Vân Đình chỉ cười. Không ngờ, hôm ấy Đình bị rơi thật.

        Đặng Vân Đình kể với tôi:

        - Hôm ấy tôi nhớ là hôm bên các bạn Lào có Đại hội. Khi ra tuyến trực, tôi mặc chiếc áo da của Nguyễn Khánh Duy. Tôi cất cánh xuất kích lúc 20h 47 phút, được dẫn vào khu vực Thanh Hóa trên độ cao 5-6 cây số, vòng ở đó chừng 10 phút, còn anh Tuân thì bay ở độ cao 1,5-2 cây số. Khi tôi nhận lệnh bay về đối đài được chừng 2 phút thì sở chỉ huy lại dẫn tôi quay lại. Trước đó tôi đã bị bọn tiêm kích Mỹ bắn đối đầu mấy lần rồi, nhưng không trúng. Khi tôi vòng máy bay, thấy mấy quả tên lửa bắn từ phía sau tôi nhưng đều vọt lên trước máy bay tôi. Tôi còn kịp thấy cả đèn trên máy bay chúng khi chúng thoát li cơ mà. Sở chỉ huy cho tôi vòng tiếp 2 vòng nữa. Đúng lúc cải máy bay ra bay bằng thì tôi nghe cái “rầm”. Ngay lập tức, người tôi bật lên sát nắp buồng lái. Tôi phải lấy hai tay ấn lên nắp buồng lái để đẩy người xuống ghế. Biết không thể điều khiển máy bay được nữa, tôi đành nhảy dù. Khi nhảy dù ra, tôi thấy có hai đám cháy. Đấy là chiếc MiG của tôi bị gãy làm đôi đấy. Dù rơi từ độ cao 6.000 mét xuống sao mà lâu. Ngồi dưới vòm dù trong trời đêm, tôi thấy thời gian như ngừng trôi, xung quanh vắng lặng, im ắng đến nghẹt thở. Mãi rồi dù cũng xuống, nhưng lại bị mắc kẹt trên cành ngang của một cây trong rừng. Tôi kéo túi NAZ-7 ra, thả xuống nhưng thấy nó không chạm đất, tức là tôi đang mắc ở độ cao phải lớn hơn 15 mét. Tôi quyết định bám theo dây của NAZ-7 để tụt xuống. Nhún nhún một lúc thì người rơi bịch một phát vào giữa các bụi chuổì. Tôi tháo dây của NAZ-7 ra, lấy những vật dụng cần thiết trong NAZ-7, chuẩn bị cho việc tìm đường thoát hiểm.

        (Tới đây tôi xin ngắt lời anh Đặng Vân Đình một chút để giải thích cho các bạn đọc biết về chiếc túi NAZ-7. Túi NAZ-7 được lắp đặt dưới ghế dù của phi công. Trong túi có những vật dụng cần thiết tối thiểu cho phi công có thể sống ít nhất là 7 ngày khi gặp bất trắc phải nhảy dù, ròi bỏ máy bay. Đó là lương khô, dụng cụ cấp cứu, thuốc men, bông băng..., rồi bộ dây câu với những con mồi tẩm hóa chất, cồn khô, diêm không tắt dù trời mưa to gió lớn, thuốc chống cá mập, chống muỗi vắt, pháo hiệu cấp cứu, sách dạy tìm những thứ ăn được ở trong rừng V. V..). Có lẽ riêng khoản lương khô luôn đảm bảo có thể tồn tại được trong 7 ngày nên được gọi là NAZ-7. Đoạn dây dù của túi NAZ-7 dài 15 mét, được buộc vào quai dù, có một thời gian nó được ngoắc vào móc khóa ở phần ống quần bay của phi công).

        - Tôi nhìn đồng hồ, bấy giờ mới hơn 9 giờ đêm -  anh Đình nói tiếp. Tôi lần tìm được con suối, nhưng suối đã cạn nước nên không có nước uống. Dưới ánh trăng mờ ảo, tôi đi theo lòng suối. Đi một lúc bắt đầu thấy có nước, càng ngày thì thấy nước càng nhiều, tôi leo lên bờ rồi gặp bụi luồng, liền tìm cách trèo lên, uốn vít các cây các cành buộc vào nhau, tạo chỗ nằm. Những con sóc ở đây nhiều lắm, tôi đành làm bạn với chúng trong đêm này vậy. Tôi chập chờn ngủ được một chút rồi giật mình nghe như có tiếng tàu hỏa. Nghe kỹ thì hóa ra không phải, đấy là những tiếng thú rừng đi ăn đêm. Tôi đành nằm im chờ sáng.

 5 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:25:14 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Trong đôi mắt xanh trong của ông, dưới hàng lông mày rậm bạc trắng, lộ vẻ ngây thơ, hiền từ.

        — Sở dĩ như vậy là do chúng mình sống và làm việc chung cùng nhau, — Ca-da-cốp nói. — Tình đoàn kết của chúng ta lớn lao lắm.

        — Thằng con trai cứ khuyên can tôi mãi. — Grô-mốp vừa nói vừa cười. — « Bố phải rời khỏi đây ngay, — hắn khuyên — bố ở lại đây chẳng đề làm gì cả; còn ở đấy người ta đón tiếp bó với tất cả sự kính trọng và thu xếp cho bố...». Tôi rất giận nó nên nhất quyết không đi đâu cả.

        — Bọn thanh niên thường hay coi chúng mình như vậy đấy. —  Ca-da-cốp nói tiếp. — Nhưng thực tế, thế hệ chúng ta chưa phải là đã vô dụng. Các cụ già ấy còn ở đây làm gì, chúng nó nghĩ, ở đấy có than ấm, được kính nè. Tuồi già sức yếu, như loại gà già, còn chúng ta đây đang trẻ như loại gà giò.

        — Nhưng thằng Pa-ven nhà tôi thì nó không nghĩ thế đâu. —  A-lếc-xây Grô-mốp hơi cau mày nói.

        — Thằng Pa-ven nhà bác... — Ca-da-cốp cười độ lượng. — Có bà

        đỡ từ Da-mô-ri-a tới, mang theo bình sức khỏe, đối với người khác bà ta cho từng nắm một, nhưng thằng Pa-sa nhà bác thì mụ ta dành cả bình. Bác A-li-ô-sa, lạy trời, đừng có giận con mình làm gì. Đúng thế đấy.

        Trên danh nghĩa là tổ trưởng tổ tiện, Ca-da-cốp không chịu ngồi yên một chỗ. Lúc nào cũng nhìn thấy cái đầu hói của ông loanh quanh trong xưởng và cái giọng khe khẽ luôn luôn nghe vang lúc ở đây, lúc ở kia.

        — Không được đâu, người anh em ạ, chỗ này cần phải làm lại. —  Ông nói với một công nhân làm sai một chi tiết nào đấy. — Phải tháo ra làm lại thôi, nếu không thì phải tiện cái khác. Cậu ăn cháo hay sao mà không hiểu được điều này!

        Ông cười ha hả và A-lếc-xây Grô-mốp cũng phải cất tiếng cười theo. Trong thời trai trẻ của hai ông, bề dày của những đồng tiền lẻ là đơn vị đo lường chính xác nhất trong nhà máy. Bây giờ, A-lếc- xây Grô-mốp, Cu-dơ-ma vui vẻ thực sự khi nhớ lại lúc đó họ đã từng làm việc như thế nào.

        Đôi lúc, trước khi đi ngủ, ngồi hút thuốc trên giường trong hầm trú ẩn, họ kể lại cho nhau những chuyện quá khứ của mình.

        Họ nhớ lại những năm đầu của thế kỷ này, năm 1903, 1904, 1905: cuộc biểu tình tuần hành đầu tiên của công nhân thành phố, những cuộc bãi công,đụng độ với cảnh sát, những vết khắc kỷ niệm trên thân cây trong rừng; rồi nơi họ hội họp để nghe những người Bôn-sê-vích nói chuyện. Nhưng những câu chuyện của năm linh năm họ lướt qua để nói về năm mười bảy lịch sử. Họ sôi nổi khi nhớ lại cảnh họ đi tước vũ khí của bọn lính chính phủ lâm thời, về cuộc tiến công kho vũ khí vào một đêm thu lạnh lẽo, về những ủy viên nhân dân đầu tiên được bầu vào Xô-viết thành phố. Nhưng họ cùng thấy những gì ý nghĩa nhất trong cuộc đời riêng của họ đều không đáng kể, so với những người anh hùng, những sự kiện lịch sử vĩ đại. Trong những buổi tối như thế, A-lếc-xây Grô-mốp vừa ngồi nghe, vừa góp chuyện và cảm thấy hình như ông đã trải qua những cuộc đời như vậy.

        Trong phân xưởng ông làm việc sau tấm vách ngăn bằng gỗ giữa hai phòng, ông thường nghe thấy giọng nam cao rè rè của Ni-cô-la-ép. Ông thợ khắc chạm già ngồi dưới ô cửa sổ hình vuông đề làm thước ngắm súng cối.

        Trong ngôi nhà gỗ cao... cao.
        Đội ngũ ta vẫn cò... òn...

        Ni-cô-la-ép hát toáng cả nhà, quên cả mọi người xung quanh, mắt ông nheo nheo, chỉnh đi chỉnh lại các số đo trên thước ngắm súng cối.

        Mỗi làn nghe giọng hát đó, Ca-da-cốp lại đưa mắt nhìn A-lếc-xây Grô-mốp như muốn nói « Đấy, ông xem, chúng ta còn có thể như thế đó».

        Nhưng dĩ nhiên, các ông già thường bàn luận với nhau về tình hình chiến sự, về tin tức ngoài mặt trận, hơn tất cả mọi chuyện. Mà mặt trận thì đã ở ngay sát thành phố này, và từng giờ, từng phút trong nhà máy đã cảm thấy không khí đó. Không phải chỉ mình A-lếc-xây Grô-mốp có người thân ngoài mặt trận, những tin tức về sự mất mát đầu tiên của trung đoàn công nhân đã bay về nhà máy, nó liên quan đến những người bạn của ông. Người em trai của bác thợ nguội Prô-ta-cổp đã hy sinh, An-ma-dốp vừa đi thăm thằng cháu bị thương nặng nằm ở bệnh viện. Đồng thời về phần mình, mọi người dân thành phố đều hân hoan vui mừng với mỗi chiến thắng của trung đoàn, họ cùng chia sẻ với nhau và coi đó như là niềm vui của chính gia đình mình.

        Chủ tịch ủy ban bảo vệ thành phổ La-tô-skin cũng đã đến thăm nhà máy một vài lần. Ông thăm các phân xưởng, hỏi chuyện mọi người và trả lời các câu hỏi của họ.

        Hàng ngày cũng có các chiến sĩ của trung đoàn đi xe tải chở đến nhà máy những vũ khí hỏng cần sửa chữa và nhận những khẩu súng đã được chữa lại hoàn hảo. Những chiến sĩ này chẳng xa lạ gì, họ chính là những công nhân của các nhà máy lân cận: nhà máy luyện kim, nhà máy sản xuất vũ khí, sản xuất ấm đun nước Sa-mô-va, nhà máy đồ gỗ, nhà máy liên hợp, đoạn đầu máy...

 6 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:24:37 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        ...Trong nhà máy cũng như khắp mọi nơi trong thành phố bị bao vây này, mọi người đang nhanh chóng thích nghi với những điều kiện sống và làm việc mới... Chiến sự vẫn diễn ra ở vùng ngoại vi, lúc im ắng, lúc lại rộ lên, còi báo động thường rú lên lúc gần tối, còn ban ngày bọn Đức không ngừng pháo kích vào thành phố. Trong các bệnh viện, bên cạnh thương binh từ tiền tuyến về, còn cỏ nhiều phụ nữ, trẻ em bị thương vì bom đạn Đức. Có những người sáng dậy đi làm nhưng bản thân họ cũng không biết được chiều nay còn sống không. Các bà mẹ bước ra khỏi nhà cũng lo sợ khi nghĩ có thể họ sẽ không được gặp lại những đứa con thân yêu nữa. Nhưng bất chấp tất cả, hay nói đúng hơn là đấu tranh với những điều đó, mọi người càng hiểu rõ hơn họ phải làm và làm tốt nhất tất cả mọi việc vì cuộc sống và chiến thắng. Các cửa hàng vẫn mở cửa như thường lệ và những người bán hàng đeo mặt nạ phòng độc sau lưng vẫn điềm lĩnh đứng ở quầy hàng. Nhà tắm hơi, hiệu cắt tóc, cửa hàng ăn uống vẫn tiếp tục làm việc và cách đây không lâu, một xưởng ăn uống đã được khai trương ở trung tâm thành phố để phục vụ bữa ăn trưa nóng sốt cho các chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Trong các hợp tác xã của những người mất sức, tàn phế, mọi người đang vá chữa giày, ủng cho chiến sĩ, - còn ở nhà máy may, các chị khẩn trương may áo khoác bộ đội.

        Đêm đêm, ngoài giờ làm việc, trong các ngôi nhà, mọi người dân đều nhận giặt là quần áo của chiến sĩ. Và cùng hòa nhịp với cuộc sống sôi động này, trong các nhà hộ sinh của thành phố, khi các nhóm tự vệ áo trắng trực trên tầng thượng thì ở dưới, trong các gian phòng sáng sủa, những công dân trẻ nhất thành phố cũng cất tiếng khóc chào đời; và trận đánh đang diễn ra cách đấy không xa cũng là vì cuộc sống và hạnh phúc của những đứa trẻ này...

        Vào ngày thứ tư của cuộc bao vây, hai quả bom hai trăm năm mươi cân rơi trúng khu nhà máy cơ khí, một phần phân xưởng máy bị đổ, còn phân xưởng đúc thì bị nặng hơn. Trận oanh tạc ngừng từ lâu rồi mà tiếng kính vỡ vẫn còn kêu răng rắc, và qua các khung cửa sổ trống hoác đã lác đác thấy các bông tuyết đầu mùa bay qua. Nhưng công việc ở phòng thiết kế cũ vẫn không ngừng chút nào: ai được ngủ ban ngày thì ban đêm đứng máy. Những người thợ nguội đã bắt đầu lắp khẩu cối đầu tiên, còn ở các khu vực khác trong nhà máy, các đội tình nguyện đang lao động ngày đêm.

        Khu vực rèn cao rộng nhưng vắng ngắt vì công nhân đã chuyền sang làm ở ga-ra xe. Công việc rèn ở đây hoàn toàn thủ công, cả đốc công lãn thư ký công đoàn phân xưởng cũng ra đứng búa rèn bệ súng cối. Trong phân xưởng đúc bé nhỏ đang tiến hành sửa chữa các loại vũ khí nhẹ tự động mà người ta tìm thấy ở vườn hoa thành phố và ở các cứ điểm trước làng Mư-skin.

        Cái nhà máy rộng lớn này bây giờ chỉ căn thoáng đưa mắt là có thể bao quát được toàn bộ sự hoạt động của nó. Bởi vì, chỉ có một nhóm người còn làm việc ở đây và như có cảm tưởng rằng cảnh hoang tàn, đổ nát của nhà máy rộng lớn này đã hút mất họ, những cơn gió rít gầm gừ thổi qua, những cửa sổ bỏ ngỏ trong các tòa nhà thênh thang. Những tia lửa hàn xanh xanh lóe lên, trong bóng sương mù dày đặc trông cũng mờ ảo xa xôi như các ngồi sao trên trời. Song những con người ở đây không cảm thấy đơn độc vì con số ít ỏi của họ. Lòng nhiệt tình hăng hái đã sưởi ấm họ, tăng thêm sức chịu đựng những cơn gió tháng mười quái ác đang hoành hành trong các ngôi nhà không có cửa sổ. Trời lạnh buốt và để rèn được nhanh, có chất lượng, người thợ phải luôn luôn ngâm tay vào nước ấm. Do đó những ngón tay bị nứt nẻ, rỉ máu, nhưng việc rèn lại tiến hành tốt hơn. Những thợ rèn chỉ hơi nhăn mặt khi phải ráng kìm chặt các thỏi sắt vì bàn tay đau nhức nhối.

        Giờ đây A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy ngày một khỏe hơn, tuy được nghỉ rất ít như những người khác, còn việc ăn, ngủ lại thất thường. Bệnh tật vẫn hoành hành, nhưng có vẻ cũng đã phải chịu thua trước sự gan bướng của ông già và ông không cần lưu tâm đến nó nhiều như trước nữa. Vả lại, khi nhìn những người bạn cùng tuổi, theo như cách gọi của Ca-da-cốp đang cùng làm việc với ông ở nhà máy, ông có cảm tưởng như họ đang trẻ lại. Mọi người thân ái, đoàn kết hơn, vui yẻ, nhanh nhẹn hơn; họ thường trêu chọc, cười đùa với nhau như thời tuổi trẻ xa xôi; có thể nghĩ là hoàn cảnh khó khăn gian khổ đã làm họ xích lại gần nhau. Chính vì thế họ thấy mình lạc quan, trẻ trung ra. Ngay cả An-ma-dốp, một ông già ít nói, tư lự, trâm ngâm cũng làm cho Grô-mốp ngạc nhiên vì ông ấy đã bắt đầu bắt chuyện hồ hởi, vui vẻ với những người xung quanh. Có một lần, trong bữa ăn, bên chiếc bàn đầy bụi sắt đặt ở góc xưởng, An-ma-dốp đã thổ lộ:

        — Ông có thấy không, tất cả cánh mình vẫn còn khỏe ra phết! Không có lúc nào nghĩ đến mình nữa, đúng thế không? Người này nghĩ đến người khác, và cứ như vậy...

 7 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:24:16 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Ít giờ sau, toàn nhà máy đã biết tin là trận chiến đấu chặn bọn Đức tiến công đã bắt đầu diễn ra trên đường Oóc-lốp ở phía Nam thành phố. Nhà máy cách các vị trí tiền tiêu khoảng một ki-lô-mét rưỡi nên nghé rất rõ tiếng đại bác, pháo nổ và cả liên thanh nữa. Các cánh cửa kính đều bị rạn, các cửa thông hơi bị nửt nẻ. A-lếc- xâv Grô-mốp và các bạn già của ông vẫn tiếp tục làm việc coi như không có gì xảy ra, nhưng họ vẫn thấp thỏm chờ đợi từng phút lệnh rời khỏi nhà máy. Họ biết rõ tòa nhà phân xưởng đã được đặt mìn và nếu quân thù tràn được vào đây, họ sẽ cho mìn nổ. Những người được phân công phá nổ từ hôm qua đến giờ không lúc nào rời vị trí, sẵn sàng chờ đợi hiệu lệnh là bấm điện. Bởi vậy, A-lếc-xây Grô-mốp cũng như tất cả mọi người trong nhà máy đều hết sức khẩn trương tranh thủ tính toán từng phút, để khi chưa có lệnh cuối cùng phát ra, họ vẫn có thể làm những gì cần thiết. Khuôn mặt nhăn nheo già nua của ông đã lấm tấm mồ hôi, mái tóc bạc hoa râm xõa lòa xòa xuống trán. Chính cái ý nghĩ cho là trong buổi sáng nay con trai mình, Pa-ven của ông, đang chống trả quyết liệt kẻ thù đã làm cho ông vừa lo lắng nhưng đồng thời cũng tiếp thêm cho ông một sức mạnh mới. A-lếc-xây Grô-mốp cảm thấy chính Pa-ven, chứ không phải ai khác, đang nóng lòng đợi những khẩu súng mà người cha thân yêu của nó đang làm. Ngoài sự lo lắng khi nghĩ đến những nguy hiểm đang đe dọa Pa-ven, ông còn lo sợ khi thình lình nhận được lệnh rút ra khỏi nhà máy, rồi nhà máy sẽ bị phá và hy vọng vào chiến thẳng của đứa con trai cũng sụp đổ theo. Khoảng hai giờ chiều, tiếng súng đã thưa thớt hơn, và lúc đó A-lếc-xây Grô-mốp mới ngạc nhiên thấy mình đã đứng bên máy hơn bảy giờ liền, quên hết cả bệnh tật, ông đã tiện xong gấp hai lần số chi tiết được giao. Lúc này ông mới cảm thấy chân đau ê ẩm. Nhưng thật may cho ông, người ta gọi ông đi họp ở chỗ Oóc-lóp, do đó có thể được ngồi và nghi ngơi đôi chút. Và đến tối, ông cũng không phản đối khi bí thư đảng ủy bắt ông cùng An-ma-dốp và Ni-cô-la-ép đi ngủ.

        Sáng hôm sau, bí thư đảng ủy mang đến cho ông đôi ủng, ông đã cám ơn, định nhận nhưng khi ông ngờ ngợ là bệnh tật của mình đã bị phát hiện thì ông liền từ chối, nhất định không chịu nhận nữa. Ông viện lẽ đã quen đi giày và như thế làm việc sẽ thuận tiện hơn. Ngày thứ hai đứng máy ông thấy khó khăn hơn so với ngày qua. Trước bữa ăn trưa một lúc, cái giờ phút mà ông không thể chịu đựng được nữa đã đến: chân ông cứng đờ, nặng trình trịch không chịu tuân theo ông. Tắt máy, ngẩn người ra, A-lếc-xây Grô-mốp đứng đờ tại chỗ không dám nhúc nhích vì sợ bị ngã... Nhưng ông cũng không gọi người lại đỡ mà chỉ nheo mắt lại như không muốn nhìn thấy tình cảnh thất vọng đáng sợ của chính mình.

        — Bác làm sao thế, bác A-li-ô-sa?— Ông nghe thấy một giọng nói nhỏ nhẹ của Ca-da-cốp thoảng lên sau lưng. A-lếc-xây Grô-mốp mở bừng mắt, ngửa đâu lên, cười một cách yếu ớt và lạ lùng, cố thu hết sức lực còn lại để có thể nhấc chân lên được, ông ưỡn thẳng người dậy, dường như lao về phía trước, rút bổng chân phải lên rồi đặt xuống, rồi lại nhấc chân trái lên và đặt xuống. Lấy hộp thiếc nhỏ cùng chiếc tàu ở trong túi ra, ông làm như đang định hút thuốc và bảo với Ca-da-cốp:

        — Sức lực đã cạn hết rồi, bác Cu-dơ-ma ạ! Giá như bác cố hộ cho...

        Chậm rãi, từ tốn, ông đi ra phía cửa, đôi chân đau nhói. Ca- da-cốp lo lắng nhìn theo, và khi cánh cửa đã khép sau lưng A-lếc- xây Grô-mốp, ông mới thốt lẻn:

        — Bác vẫn là chàng trai A-li-ô-sa Grô-mốp ngày xưa, bác A- Iếc-xây Va-xi-li-ê-vích ạ. Thật là một con người độc đáo!

        A-lếc-xây Grô-mốp ngồi phịch xuống chiếc ghế ngoài hành lang, chìm đắm trong suy nghĩ, hai tay bóp bóp đầu gối, thở dài khe khẽ, trở vào xưởng.

        Vào ngày thứ ba, Oóc-lốp giao cho Grô-mốp tiện nòng súng cối, một công việc đòi hỏi sự tinh tế, chính xác rất cao. A-lếc-xây Grô-mốp đã làm xong nòng súng đầu tiên, nhưng thật ra, nói cho thật chính xác —đó là một cái ống, ở đoạn trên đươc một bàn tay diêu luyện chế tạo ra hình dáng nòng súng, có rãnh, có đường xoắn ốc... tuy có như vậy thôi, nhưng cái nòng súng đầu tiên này đã làm cho ông già hết sức dễ chịu, thích thú.

        Trong những tháng qua, ông đã lo lắng, không yên tâm khi nghĩ đến công việc, cả những lúc vui hay lúc buồn ông đều bị dằn vặt vì nó. Bề ngoài ông bình thản, nhưng trong lòng ông không yên chút nào, còn giờ đây ông đã thỏa mãn và ý thức được sự có ích của mình. Chỉ có lao động thôi và không một cái gì khác có thể thay đổi được nó, mới mang đến cho ông sự bình thản, thoải mái trong tâm hồn, thiếu nó sao ông cảm thấy nặng nề, khó thở đến thế.

 8 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:23:56 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Cách đấy một quãng là bộ tóc bù xù con nhím của Ni-cô-lai- ép, thợ khắc chạm, thò ra dưới gối. Ông cũng là bạn cũ của Grô- mốp, một con người tế nhị, dịu dàng và năng nổ.

        — Bác có công nhận không, hả bác Cu-dơ-ma ? — Quay sang Ca-da-cốp, Grô-mốp hỏi với giọng yếu ớt, dường như bị nghẹn. —  Thói quen lao động, đây là liều thuốc quý giá nhất. Chỉ sau một đợt lao động, anh có thể ăn ngon ngủ yên như bọn trẻ ngay.

        Nói xong, ông lim dim đôi mắt tỏ vẻ muốn ngủ... Đối với Ni- cô-la-ép, một ông già còn khá khỏe mạnh, thì sự dễ chịu, thoải mái, nói về phương diện nghề nghiệp, là được đứng làm việc, được nói chuyện về công việc trong tuần tới.

        Trong thâm tâm ông già Grô-mốp cảm thấy lo sợ vì có thể làm việc kém hcn mọi người, phần thể xác của ông không chịu quyền điều khiển của ông nữa, nó đã già yếu đi rất nhanh chóng so với khả năng muốn hoạt động, nghị lực của ông. Bởi vậy nhiều lúc ông cảm thấy mình không phải là đã già, nhưng thực tế lại phải sống với cơ thể yếu ớt của mình và ông cảm thấy nặng nề khó chịu vì mọi người xung quanh đã hiểu ông rất cặn kẽ và do đó, trong công việc họ nhường nhịn ông, ông không được đứng ngang hàng với họ. Còn đối với ông, lòng mong ước được làm việc như mọi người đã trở thành thói quen trong những năm qua, bây giờ ông không muốn ai đụng đến bệnh tật của mình cả. Ông cảm thấy xấu hổ và thầm nghĩ một khi nỗi bất hạnh đã đến thì tự bản thân ông sẽ vượt qua được mà không cần đến bất kỳ sự giúp đỡ của ai.

        Grô-mốp thức giấc khi trời chưa sáng hẳn. Ông hơ ấm chân rồi lấy xà cạp quấn lại một cách cẩn thận hơn và chặt hơn mọi khi, sau đó đi tất ra ngoài. Mặc xong quần áo, ông chậm chạp đi dần ra phía cửa buồn rầu nhưng kiên quyết như một đấu thủ quyết chiến đấu đến cùng trong cuộc đấu không cân sức. Ông đã tự nhủ thầm chỉ chịu rời khỏi xưởng chừng nào ông không còn đứng được nữa và người ta phải khênh ông ra khỏi xưởng mới thôi.

        Trong phân xưởng của ông, trước đây là phòng thiết kế rộng lớn, ấm hơn hẳn tất cả các phân xưởng khác của nhà máy. Những chiếc máy tiện, máy phay, máy khoan cũ kỹ, han gỉ được lắp ráp trong một thời gian ngắn đã sẵn sàng làm việc. Những lúc khác nhìn thấy chúng thì Grô-mốp thường nở nụ cười bao dung, độ lượng. Nhưng giờ đây chúng chỉ làm cho ông thấy khó chịu, nặng nề vì cái vẻ già nua cũ kỹ của chính chúng.

        Mười lăm phút, rồi nửa tiếng trôi qua, máy vẫn chạy tốt, tiếng reo đều đặn, nhịp nhàng, những thoi kim loại trắng lấp lánh bị nguội lạnh khi qua chất dịch rơi xuống dưới chân người thợ tiện già kêu lanh canh nghe rất vui tai, làm cho Grô-mốp cảm thấy tâm trí thanh thản dễ chịu hơn. Có thể là không đúng, nếu nói rằng, được trở về bên chiếc máy thân yêu sau thời gian xa vắng nó, giờ đây ông cảm thấy một niềm phấn chấn rất long trọng và căng thẳng. Được làm những công việc mà mình vẫn yêu thích, ông lại cảm thấy tự do, thoải mái hơn nhiều. Cũng giống như một người đi xa mệt mỏi khi trở về nhà lại được mặc bộ quần áo ưa thích, mát mẻ hàng ngày của mình. A-lếc-xây Grô-mốp lắp thỏi thép vào gá ngoàm rồi mở máy, đưa dao tiện vào thỏi thép, điều chỉnh tốc độ vòng quay lúc tăng lúc giảm và công việc cuốn hút tài năng lão luyện chính xác đến kinh ngạc cửa ông. Qua nhiều năm làm việc đã tạo cho ông một sự nhạy cảm rất tinh tế, nhạy bén với máy móc và dụng cụ của mình, kể cả những máy khó sử dụng. Ông coi máy như một người ngang hàng với mình, ông thường thủ thỉ nói chuyện, tâm sự với nó, sửa đi sửa lại các bộ phận của nó và ngược lại nó cũng không phụ lòng ông, nó luôn làm việc tốt. Từ lâu rồi, đối với ông, lao động sáng tạo là một cái gì đó rất huyền bí diệu kỳ, mà chỉ có những người thợ lão luyện, lành nghề mới khám phá ra nó. A-lếc-xây Grô-mốp như một chuyên gia thực thụ, các thao tác của ông chính xác, nhanh nhẹn, hơn nữa, trong ông còn có một đặc điểm rất đáng quý mà người ta thường gọi là sự linh cảm với máy móc.

        Nhưng cái bản năng cảm thụ, thậm chí hình như là đoán trước được những điều mà người khác không thấy trong công việc, làm mọi người ngạc nhiên chẳng phải là cái gì xa lạ thần bí ngoài việc biết tích lũy các kinh nghiệm lâu năm. Và giờ đây, ông lại có dịp vui thú với tài năng của mình, cái tài năng đã trở thành nguồn gốc của lòng tự hào, nhưng đứng ngoài nhìn vào thì có vẻ như không cần cố gắng gì lớn lao lắm. Ngắm nghía sản phẩm vừa làm xong đang âm ấm và nặng trịch, bóng loáng như một vật báu nằm trên lòng bàn tay dính dầy dầu mỡ, người thợ già lãng quên ngay tất cả những điều ấm ức vừa qua.

 9 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:23:12 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Ông tưởng tượng ra một cỗ máy mà sự vận hành bên trong nó có thể thay đổi, nhờ đó, nó có thể thực hiện được tất cả các chức năng của tất cả các máy Turing. Những thay đổi sẽ được thực hiện bằng cách đưa vào những băng giấy được lựa chọn một cách thận trọng, nhờ đó có thể chuyển đổi được một cỗ máy linh hoạt duy nhất thành máy chia, máy nhân hay bất kỳ loại máy nào khác. Turing gọi thiết bị giả tưởng này là máy Turing vạn năng vì nó có khả năng giải đáp mọi câu hỏi mà về mặt logic có thể trả lời được. Thật không may, người ta đã chỉ ra rằng không phải bao giờ về mặt logic cũng có thể trả lời được câu hỏi về tính không thể quyết định được của một câu hỏi khác, và vì vậy ngay cả máy vạn năng của Turing cũng không thể xác định được tất cả các câu hỏi không thể quyết định được.

        Sau khi đọc bài báo của Turing, các nhà toán học đã thất vọng rằng con quái vật của Gôdel đã không bị thuần phục nhưng, như là một niềm an ủi, Turing lại mang đến cho họ một bản thiết kế chi tiết của chiếc máy tính hiện đại có thể lập trình được. Turing đã biết đến công trình của Babbage và máy Turing vạn năng có thể xem như một sự hồi sinh của Máy Sai phân số 2. Trong thực tế, Turing đã tiến xa hơn nhiều, ông đã mang lại cho sự tính toán một cơ sở lý thuyết chắc chắn, làm cho máy tính đó có một tiềm năng không thể tưởng tượng được cho đến nay. Đó mới chỉ là vào những năm 1930 và công nghệ vẫn chưa tồn tại để biến máy Turing vạn năng trở thành hiện thực. Song, Turing không hề thất vọng vì lý thuyết của mình đã đi trước cả những gì khả thi về mặt công nghệ. Ông chỉ muốn có được sự thừa nhận từ bên trong cộng đồng toán học, những người đã thực sự tán thưởng bài báo của ông như là một trong những đột phá quan trọng nhất của thế kỷ. Lúc đó ông mới chỉ có 26 tuổi.

        Đó là một thời kỳ hạnh phúc và thành công đặc biệt đối với Turing. Trong suốt những năm 1930, ông đã liên tục được thăng tiến qua các cương vị để trở thành một thành viên của trường King’s College, ngôi nhà chung của những bộ não ưu tú nhất thế giới. Ồng đã sống cuộc đời điển hình của một giáo sư trường Cambridge, một cuộc sống kết hợp toán học thuần túy với những hoạt động bình thường hơn. Năm 1938, ông đã đi xem phim Nàng Bạch Tuyết và Bảy chú lùn, trong đó có một cảnh đáng nhớ là Mụ phù thủy Độc ác nhúng quả táo vào thuốc độc. Sau đó, đồng nghiệp của ông đã nghe thấy Turing hát đi hát lại câu “Nhúng quả táo vào rượu, Để cho cái chết lịm dần thấm qua”.

        Turing đã rất yêu quý những năm ở Cambridge. Ngoài những thành công trong khoa học, ông còn được sống trong một môi trường đầy sự động viên và độ lượng. Đồng tính được chấp nhận rộng rãi trong trường đại học này và điều đó có nghĩa là ông được thoải mái trong các mối quan hệ mà không phải lo sợ có người biết và người khác nói gì. Tuy ông không có một mối quan hệ kéo dài và nghiêm túc nào, song ông dường như hài lòng với cuộc sống của mình. Sau đó, vào năm 1939, sự nghiệp khoa học của Turing đã dừng lại một cách đột ngột. Trường Mật mã của Chính phủ đã mời ông đến làm một nhà giải mã tại Bletchley và ngày 4 tháng Chín năm 1939, một ngày sau khi Neville Chamberlain tuyên bố chiến tranh với Đức, Turing đã chuyển từ khuôn viên sang trọng của trường Cambridge đến Quán trọ Crown ở Shenley Brook End.

        Mỗi ngày, ông đạp xe 5 km từ Shenley Brook End đến Bletchley Park, nơi ông dành một phần thời gian của mình góp phần vào nỗ lực giải mã thường lệ trong các nhà tạm, và một phần thời gian vào bộ phận chuyên gia, ở chỗ trước đây là hầm chứa táo, lê và mận của Ngài Herbert Leon. Bộ phận chuyên gia là nơi các nhà giải mã có những sáng kiến bất chợt về cái cách mà họ vượt qua những vấn đề mới, hay dự kiến trước cách giải quyết những vấn đề có thể sẽ nảy sinh trong tương lai. Turing tập trung vào những gì sẽ xảy ra nếu quân đội Đức thay đổi hệ thống trao đổi chìa khóa mã thư của họ. Những thành công bước đầu của Bletchley dựa trên thành quả của Rejewski, tận dụng thực tế là những người điều khiển máy Enigma đã mã hóa mỗi khóa mã thư hai lần (ví dụ, nếu khóa mã thư là YGB, thì người điều khiển sẽ mã hóa YGBYGB). Sự lặp lại này là nhằm bảo đảm để người nhận không bị nhầm lẫn, nhưng nó lại tạo ra một kẽ hở trong sự an toàn của Enigma. Các nhà giải mã Anh đoán rằng nó sẽ không kéo dài trước khi người Đức nhận ra rằng khóa mã lặp lại đã làm tổn hại đến mật mã Enigma, lúc đó những người điều khiển Enigma sẽ được chỉ thị không được lặp lại và do đó sẽ vô hiệu hóa kỹ thuật giải mã hiện tại của Bletchley. Nhiệm vụ của Turing chính là tìm ra một cách khác để tấn công Enigma, một cách mà nó không phụ thuộc vào khóa mã thư lặp lại.

 10 
 vào lúc: Hôm nay lúc 07:21:53 am 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Người bạn duy nhất của cậu ở Sherborne là Christopher Morcom, người cũng giống như Turing, chỉ quan tâm đến khoa học. Họ đã cùng nhau thảo luận về những thông tin khoa học mới nhất và tự tiến hành các thí nghiệm. Mối quan hệ này đã khơi lên trong Turing sự tò mò trí tuệ, nhưng, quan trọng hơn, nó đã có một ảnh hưởng tình cảm sâu sắc đối với ông. Andrew Hodges, người viết tiểu sử của Turing, đã viết rằng “Đây là mối tình đầu... Nó mang cái cảm giác buông xuôi cho cám dỗ ấy, cùng một tri giác thăng hoa, dường như sắc màu rực rỡ đã nổ bùng ra trong một thế giới hai màu đen trắng”. Mối quan hệ của họ kéo dài trong bốn năm, nhưng Morcom dường như không nhận ra chiều sâu tình cảm mà Turing dành cho mình. Sau đó, vào năm cuối cùng của họ ở Sherborne, Turing đã vĩnh viễn mất cơ hội để nói với Morcom về tình cảm của mình. Vào thứ Năm, ngày 13 tháng Hai năm 1930, Christopher Morcom đã mất đột ngột vì bệnh lao phổi.

        Turing đã rất đau khổ vì mất đi một người duy nhất mà cậu đã thực sự yêu mến. Cách duy nhất để nguôi ngoai về cái chết của Morcom đó là tập trung vào học những môn khoa học với mong muốn thực hiện tâm nguyện của bạn mình. Morcom, dường như có năng khiếu hơn trong hai người, đã giành được một học bổng của trường Đại học Cambridge. Turing tin rằng trách nhiệm của cậu là phải giành được một vị trí ở Cambridge, và sau đó là phải tiến hành những khám phá mà lẽ ra bạn của cậu sẽ làm. Cậu xin mẹ của Christopher một bức ảnh và khi nhận được, cậu đã viết thư cảm ơn bà: “Giờ anh ấy đang ở trên bàn của cháu, động viên cháu làm việc thật chăm chỉ”.

        Năm 1931, Turing đã được nhận vào học tại trường King’s College, Cambridge. Ông đến đúng vào thời kỳ đang diễn ra những tranh cãi gay gắt về bản chất của toán học và logic, với những tiếng nói đầy uy tín của Bertrand Russell, Alfred North Whitehead và Ludwig Wittgenstein. Trung tâm của cuộc tranh cãi là vấn đề về tính không thể quyết định, một khái niệm gây tranh cãi do nhà logic học Kurt Gôdel đề xướng. Người ta luôn luôn cho rằng, ít nhất là về mặt lý thuyết, tất cả các vấn đề toán học đều có thể giải đáp được. Tuy nhiên, Gôdel đã chứng minh rằng có tồn tại một số ít các vấn đề vượt ra ngoài tầm của chứng minh logic, chúng được gọi là những vấn đề không thể quyết định được. Các nhà toán học đã bị sốc trước thông tin nói rằng toán học không phải là một môn học toàn năng như họ vẫn hằng tin như vậy. Họ toan tính bảo vệ môn học của mình bằng cách cố tìm ra một phương cách để xác định những vấn đề kỳ quặc không thể quyết định được, từ đó họ có thể an tâm gạt chúng qua một bên. Chủ đề này cuối cùng đã gợi cảm hứng cho Turing viết một bài báo có ảnh hưởng lớn nhất của ông về toán học, về những con số tính toán được, được công bố năm 1937. Trong Giải mã, một vở kịch của Hugh Whitemore nói về cuộc đời của Turing, một nhân vật đã hỏi Turing về ý nghĩa của bài báo đó. Ông trả lời, “Nó viết về đúng và sai. Nói một cách tổng quát, đây là một bài báo chuyên môn về logic toán, song nó cũng nói về sự khó khăn trong việc phân biệt đúng và sai. Mọi người -  hay đúng hơn là hầu hết mọi người - nghĩ rằng trong toán học chúng ta luôn biết rõ cái gì là đúng và cái gì là sai. Nhưng không phải như vậy. Và không còn như vậy nữa.”


Hình 47 Alan Turing.

        Trong nỗ lực nhằm xác định những vấn đề không thể quyết định được, bài báo của Turing đã mô tả một cỗ máy tưởng tượng được thiết kế để thực hiện một phép tính toán học cụ thể, hay một thuật toán. Nói cách khác, cỗ máy này có thể chạy qua một chuỗi những bước đã định sẵn để, chẳng hạn, nhân hai số với nhau. Turing đã mường tượng rằng các số sẽ được nhân với nhau có thể được nạp vào máy qua một băng giấy, giống như băng giấy đục lỗ được sử dụng để nạp âm vào một chiếc máy chơi nhạc tự động. Đáp số của phép nhân sẽ đi ra qua một băng giấy khác. Turing đã tưởng tượng ra một loạt các máy được gọi là Máy Turing, mỗi cái được thiết kế đặc biệt để thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt, chẳng hạn như phép chia, phép khai căn hoặc lấy giai thừa. Sau đó Turing đã thực hiện một bước cơ bản hơn.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM