Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Hai, 2020, 07:12:24 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
 21 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:20:02 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

XXVIII

        Đã đến tháng mười một nắng ráo. Tiết trời ấm áp. Những bầy chim bay cao trên trời xanh, xuống phương Nam.

        — Ở vùng chúng mình mùa này hạc đang bay đi, — Ca-ri-mốp trầm ngâm nói. Hạc thật. À một giống chim thông minh...

        Anh chàng người Phéc-ga-na thủng thẳng đi cùng với An-đơ-rây dọc theo dãy hàng rào dây thép gai, trên con đường trồng cây dành cho anh em tù «đi dạo». Những người tù đi trên đường, từng đôi hay từng nhóm nhỏ. Hôm nay là ngày chủ nhật, một «ngày ngắn». Anh em tù được thở không khí mát mẻ, được sống một mình, được gặp bạn bè trong một tiếng hay tiếng rưỡi đồng hồ.

        An-đơ-rây và Ca-ri-mốp gặp nhau vì công việc. Đã hơn một tuần, anh chàng người Phéc-ga-na được trung tâm cho phép đến ở khối của anh em tù binh Liên-Xô, trong đó có những đại biểu của các dân tộc châu Á : U-dơ-bếch, Tát-gích, Kiết- ghít, Tuyếc-men, Ca-dắc, Tác-ta.

        — An-đơ-rây ạ, cậu sẽ không được ngủ yèn trước những ngày lễ đâu — Ca-ri-mốp nói bằng tiếng U-dơ-bếch — vì phải nhận những tin mới nhất từ Ta-skên. Trong lúc này mình không dám đi vắng ban đêm. Cậu sẽ phải theo dõi thay mình. Bất cứ tin lặt vặt nào cũng đều quan trọng,

        An-đơ-rây gật đầu nhận lời.

        — Ghi được gì thì chuyển cho cậu Tiệp-khắc Vơ-la-đi-xláp.

        — Thằng cảnh sát ấy à ? — An-đơ-rây thấy lạ quá, đứng dừng lại.

        — Đi cho bình tĩnh, đừng làm chúng nó để ý — giọng Ca-ri-mốp bình thản, nhưng có vẻ như ra lệnh. — Vơ-la-đi-xláp là đảng viên cộng sản đấy. Cậu ấy mặc quần áo cảnh sát theo lệnh của trung tâm.

        — Rõ.

        Hai người chia tay nhau.

        «Đây mới thật là một nhiệm vụ ! » — An-đơ-rây sung sướng, tim đập rôn rập. Anh sẽ được nghe tiếng nói của Tổ quốc! của Mát-xcơ-va, của Ta-skên !

        Nhưng về đến khối thì An-đơ-rây chợt nhớ ra : «Thế ghi bằng gì bây giờ ? Giấy đâu ? Bút chì đâu ? »

        Anh quay lại con đường tròng cây. Không thấy Ga-ri-mốp đâu nữa. Ca-ri-mốp đã đi rồi. «Chà, mình ngốc thật, — An-đơ-rây thầm tự trách, — chỉ thắc mắc đâu đâu, còn điều chủ chốt thì quên khuấy đi mất... »

        Về đến cửa khối thì An-đơ-rây thấy Bun-chon đang chờ mình.

        — Mày lởn vởn ở đâu thế hử ? Ai sẽ dọn dẹp thay cho mày ? Trong phòng tao lại đưể bần rồi !

        An-đơ-rây lườm trưởng trại, cầm lấy cái bàn chải cọ sàn rồi đi vào căn phòng của Bun-chôn.

        — Quát lác đủ rồi đấy...

        Nhưng vào đến trong phòng thi Bun-chôn thay đôi hẳn. Bác đặt một bàn tay to bè bè lên vai An- đơ-rây.

        — Mình sẽ không đánh thức cậu đâu. Đến đêm, lúc vừa thay gác xong, thấy bọn SS hô «hailơ» thì cậu vào đây, — Bun-chon nói bằng tiếng Đức. —  Có giấy và bút chì rồi.

        — Rõ.

        — Bây giờ cậu vào nghỉ đã — Bun-chon cầm lấy cái bàn chải trong tay An-đơ-rây — Để mình dọn dẹp lấy.

        Nhưng đêm ấy An-đơ-rây đã không được nghe tiếng nói của Tổ quốc. Sau lúc kiểm tra buổi chiều, khi anh em tù quay về các khối, Cô-xchi-a kéo An- đơ-rày lại.

        — Vào chỗ rửa ráy đi, anh em đang chờ cậu đấy.

        Trong chỗ rửa rảy. An-đơ-rây nhìn thấy Lép- sen-cốp, chính người đã nói chuyên với anh trước trận đấu quyền Anh. Lép-sen-cốp đang lau rửa. Giữa lúc ấy vài thằng xanh bất chợt đi vào, chúng nó vừa lau rửa, vừa nói chuyện ầm ĩ. Lúc An-đơ- rây bước vào, Lép-sen-cốp chỉ hơi nháy mắt với anh rồi «vô tình » đánh đổ thùng nước bẩn,

        An-đơ-rây hiểu ý, anh làm vẻ mặt khó chiu:

        — Có lau rửa cũng không nên thân, thôi dọn sạch đi!

        Lép-sen-cốp chỉ khẽ mỉm cười.

        — Cậu dừng làm ầm lên nữa — Lép-sen-cốp cầm lấy miếng giẻ — để mình dọn...

        Rồi anh cúi xuống gần An-đơ-rây, khẽ nói rất nhanh:

        — Đến đêm, lúc thay gác, cậu đến khối bảy. Có việc.

        — Thế còn... — An-đơ-rây muốn nói đến nhiệm vụ mà Ca-ri-môp vừa trao cho anh.

        Nhưng Lép-sen-cốp vừa vắt miếng giẻ, vừa khẽ nói tiếp:

        — Mọi nhiệm vụ khác đều bỏ hết. Bây giờ thì cậu đưa mình ra.

        An-đơ-rây lấy vai hích Lép-sen-cốp.

        — Thôi đủ rồi — anh nói to — về mà nghỉ, lần sau thì liệu đấy! Phải có ý tứ một chút.

        Đêm hôm ấy có trăng có sao.

        An-đơ-rây không ngủ, anh lắng nghe. Chúng nó đã bắt đầu thay gác, những tên SS đồng thanh hộ « hai-lơ ». Rồi có những khẩu lệnh, những tiếng ủng đóng cả sắt đi rầm rập. Một lát sau toàn trại lại yên lặng.

        An-đơ-rây tụt trên giường ván xuống, đi ra cửa.

        — Cậu đi đâu đấy? — người nằm bên hỏi giọng ngái ngủ.

        — Đến chỗ Nga hoàng phải đi bộ mà tới1,—  An-đơ-rây nhanh trí trả lời — cậu đi với minh nhé.

---------------------
        1. Ý nói đi ngoài (người dịch).

 22 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:17:05 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
 
        Chúng ta hãy xét các điều kiện cụ thể của vấn đề. Kẻ địch là những phân đội SS đã qua huấn luyện và được vũ trang hết sức đầy đủ. Chúng nắm những điểm hỏa lực đã chuẩn bị trước. Còn chúng ta có gì ? Hàng vạn con người lực cùng sức kiệt, tinh thần thì kiên cường, nhưng không có vũ trang. Trung tá Xmiếc-nốp thở dài. Đồng chí biết rằng trong những tình huống như thế này, ưu thế bao giờ cung thuộc về bên những người được tổ chức và vũ trang tốt. Nhưng chẳng nhẽ những nhóm chiến đấu năm người có thể trở thành lực lượng xung kích cơ bản của cuộc khỏi nghĩa hay sao?

        Trung tá Xmiếc-nốp đi đến góc nhà, đứng lại một lát. Đồng chí vừa định quay lại thì Váp-con-chi đã đến trước mặt đồng chí. Một thằng bé tóc đen đứng bên cạnh Váp-con-chi, nó nắm chặt tay thằng lớn.

        — Chào bác, chào đồng chí cảm tử, — Váp-con- chi nói. Nó rất kinh trọng tinh thần dũng cảm của trung tá. Đến thằng Cốc mà đồng chí cũng chẳng sợ!

        — Chào cháu, chào cháu, Váp-con-chi, — Xmiếc-nốp ngồi sụp xuống, chìa tay cho thằng bé. — Chào cả cháu nữa, cháu nhỏ.

        Đứa bé nhìn trung tá Xmiếc-nốp có ý đề phòng. Hai con mắt nó đen, to tròn như hai cái khuy.

        — Nói « chào bác » đi, — Váp-con-chi giật tay thằng bé.

        — Chào bác, — đứa nhỏ bập bẹ.

        Xmiếc-nốp xoa bộ tóc vừa đen, vừa xoăn của nó.

        — Tên cháu là gi nhỉ?

        — Gô-ga, — đứa nhỏ đã mạnh dạn hơn, nó đưa một ngón tay nhỏ như sợi rơm sờ vào râu trung tá. — Đây là râu phải không?

        — Phải, râu đấy.

        — Bao giờ cháu lớn, cháu cũng có râu. Phải không bác?

        — Đúng đây, Gô-ga ạ, — trung tá vừa xoa đầu đứa nhỏ, vừa nghĩ đến con mình, cả đến số phận của hai đứa bé này cung tùy thuộc vào kết quả của cuộc khởi nghĩa cần phải cân nhắc lại tất cả.

        — Bác ạ, lúc cháu ngủ, cháu cứ nằm mơ thấy những con rắn ghê lắm, ghê lắm. Chúng nó lúc nào cũng muốn cắn cháu.

        — Đừng Sợ, Gô-ga ạ. Chúng mình sẽ giết những con rắn ấy.

        — Cháu không sợ đâu. Cháu chỉ ghê ghê thôi.

        Gô-ga nhìn trung tá, nó tin tưởng nói thỏ thẻ:

        — Bao giờ mẹ cháu đến, mẹ cháu sẽ bế cháu. Mẹ cháu nói: « Chào Gô-ga ! » Rồi cháu sẽ không bao giờ nằm mê thấy những con rắn ấy nữa.

        — Đúng đấy, Gô-ga ạ, đúng đấy, — trung tá lục khắp các túi, lấy ra miếng bánh mì trắng khô mà Pôn Mác-xen vừa tặng đồng chí trong buổi họp. —  Phần của cháu đây, Gô-ga.

        Đứa nhỏ nắm chặt lấy miếng bánh.

        — Em cháu đấy à ? — Xmiếc-nốp hỏi Váp- con-chi.

        Nó lắc đầu.

        — Thế mẹ Gô-ga còn sống không?

        Váp-con-chi lại lắc đầu.

        — Bác rõ rồi. Cháu tìm thấy nó ở đâu thế ?

        — Ở Ô-xven-xim.

        — Cháu đã ở đấy, ở cái trại giết người ấy rồi à ?

        — Vâng. Bây giờ thì Gô-ga là em cháu. Cháu sẽ không trao nó cho ai cả.

        — Thế Gô-ga ở đâu đến đấy ?

        — Cháu không biết. Có lẽ ở Min-xcơ. Cháu đã gặp nó ở Min-xcơ, lúc bọn cảnh sát bắt cháu, đánh cháu và ném cháu lên toa xe. Ở đấy cũng có cả mẹ Gô-ga. Bác ấy tốt tốt là ! Bác ấy lau mặt cho cháu, chùi máu, xé khăn bịt đầu buộc chân cho cháu. Nhưng chân cháu vẫn chảy máu. Bác ấy cùng đi trên đoàn tầu với chúng cháu suốt một tuần. Bác ấy có một chiếc bánh mì to, bác ấy chia đều cho Gô-ga, Ác-xen (Ác-xen là tên thằng bé thứ hai), cho con bé La-li-a, cho cả cháu nữa. Còn cháu thì khi đến các ga, lúc chúng nó mở cửa đặt một thùng nước, cháu lấy nước bằng cái hộp. Cũng chia cho tất cả.

        Váp-con-chi nín lặng một lát rồi nói tiếp :

        — Chúng cháu bị đưa đến Ô-xven-xim. Trời mưa, lạnh lắm. Chúng nó đuổi mọi người xuống xe. Một thẳng Đức SS bụng phệ ra lệnh : «Cởi hết quần áo !» Chúng cháu vừa đứng vừa run. Chúng nó đánh bằng gậy, bằng báng súng. Mọi người kêu khóc, trẻ con thì gào lên, không muốn cởi quần áo. Cháu cởi áo, quần, buộc lại và để vào một chỗ khô. Khi mọi người cởi quần áo xong, chúng nó bắt xếp hàng. Mẹ của Gô-ga dắt tay con bé, còn một tay bế thằng Ác-xen. Chảu đứng bên cạnh, dắt Go-ga.

        Chúng nó dồn mọi người vào một phòng tối, không có cửa sổ. Tường và sàn đều bằng xi-măng, ẩm lắm. Lạnh như cháy cả chân. Cháu bắt đầu thấy sợ, cử nghĩ bụng : «Sẽ bị chúng nó giết ngay bây giờ đây. Không bao giờ được trông thấy bố nữa đâu».

        Từ phòng này, chúng nó dồn vào một phòng khác. Ở đấy các bác phụ nữ bị cắt tóc, tóc chất thành đống. Đống tóc rất to, chiếm cả một góc phòng. Hai thằng Đức mặc áo choàng màu lam dùng bàn chải bôi một thứ nước rất thối vào đầu mọi người. Chúng nó bôi cả vào đầu cháu. Rồi chúng nó bắt bước vào một cái máng to, nhúng chân. Trong máng cũng có một chất nhớt gì vừa đặc vừa thối. Cháu bước ra khỏi mảng, hai chân cứ trơn như trượt băng. Đến lúc ấy, cháu đi chậm lại sau mẹ Gô-ga. Gô-ga trượt chân ngã. Cháu đỡ được nó dậy thì mẹ nó đã bị đẩy lên phía trước. Mọi người chung quanh la khóc. Chúng cháu vào đến phòng cuối cùng. Trong ấy đã chật ních, toàn phụ nữ và trẻ con. Cháu nghe thấy mẹ Gô-ga gọi: « Gô-ga, Gô-ga !». Cháu kêu to : « Chúng cháu ở đây ». Mẹ Gô-ga gọi: «Hai đứa vào đây. Chỗ này tường ấm lắm ». Nhưng cháu không thể nào len đến chỗ bác ấy được.

        Lúc cửa đóng lại thì mọi người gào khóc rất ghê. Bỗng nhiên cháu cảm thấy sàn dưới chân chuyền động, nghiêng đi. Phía trước, bên dưới, chỗ mẹ Gô-ga đứng, có lửa... Người ta bắt đầu rơi xuống đấy. Cháu cũng không cưỡng lại được. Hai chân cứ trồi xuống. Một tay cháu giữ Gô-ga, còn một tay bám lấy sàn. Nhưng sàn nhà trơn trơn là!..

        Bỗng nhiên sàn nhà dừng lại, rung lên rồi bắt đầu cao lên. Tất cả những người còn lại đều chạy lui về phía sau, cố tránh xa lửa. Khi sàn nhà đã lại như cũ, cửa mở ra. Chúng cháu đứng chết lặng. Chính thẳng SS bụng phệ lúc nãy bắt mọi người cởi quần ảo lại bước vào. Nó quát: xCút khỏi chỗ này!»

        Cháu cùng với Gô-ga nhảy ra phố. Trời mưa, rất lạnh, nhưng cháu thì mừng. Sống sót rồi ! Cháu đi tìm mẹ Gô-ga, nhưng không thấy đâu. Gô-ga gào lên. Cháu dỗ nó rằng mẹ nó đi tìm bố sắp về đấy. Nó hơi nguôi được một chút. Về sau, khi chúng cháu bị giải đến Bu-khen-van, cháu được biết rằng hôm ấy đã có một sự lầm lẫn. Bọn phát-xít nhầm đoàn tầu, cử nghĩ rằng chúng cháu là người Do- thái. Đến khi chúng nó biết rằng những người trên toa xe là dân Cáp-ca-dơ thì không hiểu sao chúng nó quyết định không giết nữa. Thế là chúng cháu bị đưa đến đây.

        Có hai thằng thiếu niên xuất hiện ở gần khối trước mặt. Một đứa huýt một tiếng sáo dài. Váp- con-chi vội đi ngay.

        — Chúng cháu phải đi đây. Chúng nó gọi chúng cháu đấy.

        Đồng chí Xmiếc-nốp bắt tay nó rồi cúi xuống với Gô-ga. Đồng chí định bảo đứa nhỏ dừng buồn, mẹ nó sắp đến với nó rồi, nhưng lời nói cứ tắc trong họng. Đồng chí không nói gì, chỉ âu yếm xoa đầu thằng nhỏ.

        Hai đứa bé đã đi về phía những ngôi nhà bằng gỗ. Bóng tối càng dày đặc. Những dãy nhà bằng đá và bằng gỗ hiện lên đều đặn.

        Trung tá nhìn những khối nhà tối đen, nhưng đồng chí không nhìn thấy những kiến trúc, mà nhìn thấy những đơn vị quân đội, đứng thành hàng ngũ trong một cuộc duyệt binh. Đồng chí không nhìn thấy trong mỗi khối những nhóm năm người rời rạc, mà những đại đội và những tiểu đoàn đồng tâm nhất trí. Đồng chí Xmiếc-nốp thấy như tức thở. Hình như những ý nghĩ của đồng chí cử tự nhiên phát triển dần. Ngay cách phân bố các khối đã chia toàn trại thành những đơn vị chiến đấu lớn. Đây, khu các khối nhà gỗ là lữ đoàn một. Khu các khối nhà đá là lữ đoàn hai. Trại nhỏ là lữ đoàn ba... Đấy, đạo quân bí mật sẽ trả thù bè lũ phát-xít về thời thơ ấu bị chà đạp của Váp-con-chi, về những giọt nước mắt của thẳng bé Gô-ga người Gơ-ru-di- a, về tất cả những sự đày ải !

 23 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:16:06 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
     
        Ngày 19 tháng 5 năm 1967 là một ngày thắng lợi lớn của quân và dân Hà Nội - mười máy bay Mỹ bị bắn rơi, Nhà máy điện Yên Phụ được bảo vệ an toàn. Điện Hà Nội vẫn sáng làm cho Lầu năm góc và Nhà trắng điên đầu. Chúng lại tiếp tục đánh phá

        Nhà máy điện Yên Phụ. Ngày 10 tháng 6 các tốp máy bay hải quân Mỹ thay nhau đánh phá nhà máy điện bằng bom điểu khiển vô tuyến. Nhưng lưới lửa phòng không khiến cho máy bay Mỹ không thể vào gần để phóng bom chính xác. Sau đợt này tổng thống Mỹ ra lệnh tạm ngừng ném bom khu vực Hà Nội trong bán kính 10 dặm.

        Ngày 26 tháng 10 năm 1967 chúng lại tổ chức đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. 11 giờ 20 phút, hai mươi lần chiếc với đủ các loại máy bay, đặc biệt lần này Mỹ sử dụng 12 chiếc A4C phóng 12 quả bom Walleye. Trận chiến đấu hết sức dữ dội. Bom Mỹ rơi xuống cả một vùng rộng quanh nhà máy điện. Cùng với máy bay A4C mang bom Walleye là lũ máy bay "con ma" F4 rất lợi hại đánh Nhà máy điện Hà Nội. Máy bay tiêm kích - cường kích F4 có thể cất cánh từ đất liền hoặc trên các tàu sân bay ngoài khơi Thái Bình Dương. Đây là loại máy bay hai người lái, được trang bị sáu tên lửa sparrow, một số bom pháo và rốc két có thể bay với tốc độ tối đa là 2.330km/h ở độ cao ll.000 m. Trong chiến đấu chúng phải đảm đương nhiều nhiệm vụ: trinh sát vũ trang, bắn phá các mục tiêu giao thông như cầu đường, bến bãi và tham gia hộ tống các máy bay cường kích, máy bay ném bom. Chúng còn được dùng đánh chế áp các trận địa phòng không của ta. Cũng là F4 nhưng lại có F4 Wld Weasset. Đây là loại máy bay có khả năng phát hiện và tiêu diệt các hệ thống vũ khí do rađa điều khiển, chiếm vị trí ưu tiên trong chiến tranh điện tử của không quân Mỹ. Chúng được lắp hệ thống né tránh địa hình điều khiển bằng máy vi tính điện tử. Ngoài vai trò chống rađa, chúng còn dùng để hộ tống cho máy bay cường kích và máy bay trinh sát khác.

        Trong trận này thiếu tá Mắc-kên lái chiếc F4E đang lao xuống phóng bom bị trúng đạn của tiểu đoàn tên lửa từ độ cao 4.500m đến 1.800m. Chiếc F4E bốc cháy đâm sầm xuống khu để xỉ than của Nhà máy điện Hà Nội.

        Mạc Lâm có mặt khi Mắc-kên vừa được đưa từ hồ Trúc Bạch về trại giam, ông kể:

        - Hoa Kỳ vừa bế tắc vừa cay cú. Chắc ông Giôn-xít-nây - Mắc-kên, đô đốc tư lệnh hải quân Mỹ ở châu Âu cũng vậy. Theo lệnh của JCS, ông đã phối hợp với không quân, lần này đã tổ chức một chiến dịch quy mô lớn lại đánh tiếp vào Hà Nội: ngày 25 tháng 10 do không quân đánh, ngày 26 tháng 10 do hải quân đánh... Thế là thiếu tá Mắc-kên, con của đô đốc hải quân lái máy bay A4E, đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. Máy bay anh ta không thoát lưới lửa phòng không, anh ta kịp nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch. Nằm trên cáng, mê man bất tỉnh, lúc đó chưa ai biết tên anh ta là gì. Trại đưa anh ta đi cấp cứu tại Quân y viện 108. Trước khi lên bàn mổ, anh mở mắt nhìn và nói: "Tôi không cần ai cứu!". Chúng ta bỏ qua câu nói hỗn đó, tập trung cứu chữa. Một ca phẫu thuật khá công phu mới cứu được mạng sống cho anh ta. Sáng hôm sau, anh ta tỉnh lại, chúng tôi đến, mới biết anh ta là Mắc-kên. Tôi lấy ngay quyển tạp chí Hải quân Mỹ vừa mới xuất bản có hình Giôn-xít-nây Mắc-kên, đưa cho anh ta xem. Anh ta gật đầu: "Bố tôi!". Tôi chỉ nói vui: "Hình như đô đốc người hơi thấp". Mắc-kên cười - lần đầu tiên tôi thấy anh ta cười: "Đúng thế... Mẹ tôi đẹp hơn bố tôi nhiều...".

        Mắc-kên bị bắt làm cho giới chóp bu quân sự Mỹ xôn xao. Anh ta sinh ngày 29 tháng 8 năm 1936 tại căn cứ hải quân Mỹ Coco Solo trên kênh đào Pa-na-ma. Theo truyền thông, con trai của dòng họ Mắc-kên đều có tên là Giôn. Là "người hùng", tin vào bề dày đào tạo phi công lão luyện từ trường đào tạo phi công của Mỹ, anh ta tưởng có thể "giải quyết" được cái mục tiêu Nhà máy điện Hà Nội thật là ngon xơi mà sao lũ phi công ăn hại không đánh nổi! Sẽ dập tắt nguồn sáng của người Hà Nội. Nhưng thật là trớ trêu, anh ta cũng không hơn gì những phi công Mỹ trước đó. May cho Mắc-kên, ngay khi nhìn thấy dù bung ra rơi xuống hồ thì nhiều người, kể cả dân quân, bộ đội và dân thường đã có mặt, kịp thời kéo anh ta lên. Chậm chút nữa những vết thương nặng bị nhiễm trùng thì toi đời rồi. Mắc-kên lại là "con ông cháu cha" có tiếng ở Mỹ. Ông nội Mắc-kên nguyên là đô đốc - đại tướng bốn sao, tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương. Ông ta là cha đẻ của ý tưởng thành lập các nhóm hàng không mẫu hạm trên các biển và là đại diện cho Hoa Kỳ có mặt trong buổi lễ Nhật Hoàng ký kết việc đầu hàng vô điều kiện quân đội Đồng Minh trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ba ngày sau lễ ký kết ông ta qua đời. Bố của Mắc-kên cũng là đô đốc tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương.

 24 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:15:33 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
        
ĐÈN HÀ NỘI VẪN RỰC SÁNG

        Đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, trong đó Hà Nội là một mục tiêu trọng điểm, chúng ảo tưởng sẽ gây sức ép với ta để giải quyết vấn đề Việt Nam trong hai năm 1967-1968. Ngày 8 tháng 2 năm 1967, tổng thống Mỹ gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa thăm dò vừa rêu rao tìm kiếm hòa bình cốt là để xoa dịu làn sóng chống Mỹ xâm lược Việt Nam ngày càng tăng ở nước Mỹ và cả thế giới. Một tuần sau, ngày 15 tháng 2, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư trả lời tổng thống Mỹ. Người vạch trần những âm mưu, thủ đoạn của chính quyền Mỹ, yêu cầu Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam và ngừng ngay việc ném bom đánh phá miền Bắc.

        Từ ngày 8 tháng 4 năm 1967, Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ đã vạch kế hoạch đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ, giao cho các tàu sân bay thực hiện. Chúng âm mưu triệt phá nguồn điện duy nhất của Hà Nội. Đây là một kế hoạch mà đích thân tổng thống Giôn-xơn phê chuẩn vào ngày 16 tháng 5 năm 1967. Bộ tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương giao cho lực lượng đặc nhiệm 77 mà chủ yếu là liên đội máy bay trên tàu sân bay Bô-nom Ri-sớc thực hiện. Để triệt phá nguồn cung cấp điện duy nhất của Hà Nội, Mỹ sử dụng loại vũ khí mới là bom điểu khiển bằng vô tuyến truyền hình (bom Walleye) - vũ khí này mới thử nghiệm thành công trong tháng 3, mỗi quả nặng 1.000 bảng Anh (453kg) mà mỗi máy bay cường kích A4E chỉ mang được một quả. Bom Walleye có xác suất trúng đích khá cao. Nguyên lý cấu tạo khá đặc biệt so với các loại bom thông thường: đầu quả bom gắn máy ảnh và hệ thống điều chỉnh cho bom rơi đúng mục tiêu theo ảnh chuẩn đã chụp khi trinh sát.

        Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, quân dân Hà Nội triển khai một kế hoạch bảo vệ nguồn sáng thủ đô -  niềm tin của cả nước. Lực lượng bảo vệ nhà máy điện được tăng cường. Ngoài lực lượng của Sư đoàn phòng không Hà Nội còn có lực lượng của hai trung đoàn bạn tổng số lên tới 18 đại đội pháo 57mm, ba đại đội pháo tự hành, một số phân đội súng 12,7mm, 12,5mm, và pháo phòng không 37mm trên các tàu hải quân neo đậu ở sông Hồng.

        Sáng 19 tháng 5, cán bộ và chiến sĩ Quân chủng Phòng không - Không quân vui mừng được đón tám lẵng hoa Bác tặng cho các đơn vị lập công xuất sắc. Buổi chiều hôm ấy, 14 giờ 25 phút lực lượng đặc nhiệm 77 của Mỹ đã huy động máy bay đánh phá Nhà máy điện Hà Nội. Chúng sử dụng hai mươi lần chiếc gồm nhiều loại máy bay: A4, F4, F8 và A6 đánh các trận địa pháo vòng ngoài để cho hai chiếc F4E vào phóng bom điều khiển bằng vô tuyến truyền hình. Trước sức đánh trả mãnh liệt của lưới lửa phòng không, bom đạn Mỹ bị bật ra ngoài. Trận đánh sắp kết thúc, một chiếc máy bay trinh sát A3J bay thẳng vào nhà máy. Các trận địa phòng không đã nổ súng mãnh liệt, chiếc A3J trúng đạn bốc cháy rơi ngay trên đường phố Hà Nội - con phố mang tên người chiến sĩ yêu nước chống Pháp - Lê Trực. Đây là lần đầu tiên máy bay phản lực ném bom bị tan xác trên đường phố, phi công Mỹ bị quân và dân thủ đô bắt sống làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ phòng không Hà Nội. Trận đánh đã đi vào ký ức của nhiều cán bộ và chiến sĩ Quân chủng Phòng không - không quân. Trung tướng Nguyễn Xuân Mậu, nguyên Phó Tư lệnh Quân chủng nhớ lại:

        "Buổi chiều, máy bay của hải quân địch tập trung đánh phá Nhà máy điện Yên Phụ. Trên vùng trời Hồ Tây, bọn A4E quần đảo, lồng lộn tìm cơ hội phóng bom vô tuyến vào nhà máy, nhưng bị lưới lửa phòng không bắn rát, không thực hiện được ý đồ. Trên trận địa ôm sát nhà máy điện, đại đội trưởng Đại đội 1, Anh hùng Nguyễn Huy Cảnh tỉnh táo bỏ qua bọn F8 nghi binh, chỉ huy đơn vị tập trung diệt bọn bổ nhào khiến bom địch chệch xa ra ngoài. Các trung đoàn phòng không phối hợp chặt chẽ đánh tan hai đợt công kích liên tục vào nhà máy điện. Biết không thể đánh chính diện được, địch dùng thủ đoạn đánh lén. Trong lúc bọn F8 lượn vòng phía tây nam hòng thu hút sự chú ý của ta, thì một chiếc A3J là thấp theo trục sông Hồng định giở trò cắn trộm, lập tức bị lưới lửa của Đại đội 1 quật thẳng vào mặt. Chiếc máy bay bị trọng thương đâm đầu xuống phố Lê Trực. Tin máy bay địch rơi trên đường phố Hà Nội làm không khí trong Sở chỉ huy sôi động hẳn lên. Đây là trường hợp đặc biệt chưa từng xảy ra bao giờ ở thủ đô. Thực ra, ngày 12 tháng 6 năm 1966 cũng đã có một chiếc rơi ở Hòa Mục, nhưng đó là một chiếc không người lái, lại rơi ở ngoại thành. Còn đây là chiếc phản lực ném bom. Ở Sở chỉ huy rất nóng ruột về tên giặc lái. Nó nhảy dù ra được hay chết trong máy bay? Bắn rơi tại chỗ một máy bay địch đã là quý rồi, nhưng bắt được giặc lái thì ý nghĩa càng lớn hơn. Có giặc lái, tối nay nhất định chúng ta sẽ tổ chức họp báo... Khoảng nửa giờ sau, có tin chính thức báo về : hai giặc lái đã bị bắt sống. Một tên rơi xuống chuồng gà số nhà 71, một tên rơi xuống ngõ 124 cùng ở phố Thụy Khuê".

 25 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:15:06 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Tấm ảnh liên quan đến việc làm bộ phim "Người của chúng ta ở Hà Nội" chiêu rộng rãi ở Mỹ. Để có tấm ảnh lịch sử ấy các anh chị ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam cũng kỳ công tìm kiếm. Trần Thanh Hằng kể lại rằng:

        "Ngày 14 tháng 2 năm 1997, Văn phòng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao có cử đồng chí Vũ Bình đến Bảo tàng Quân đội (nay là Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam) tìm bức ảnh phi công Mỹ có tên là Pi-tơ-sơn Đu-gla Bri-an bị bắt sống tại xã An Bình huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương. Đó là viên phi công thứ sáu mươi sáu của Mỹ bị bắt trên miền Bắc, sinh ngày 26 tháng 6 năm 1935, ở Nê-brát-xka, số quân FR 54627. Việc tìm bức ảnh Pi-tơ-sơn khi bị bắt giam ở Hỏa Lò giúp cho Bộ Ngoại giao có những tài liệu cần thiết để tuyên truyền về Pi-tơ-sơn trước khi sang Việt Nam làm đại sứ và giúp cho đạo diễn Mai-Cơn Gáp-sơn hoàn thành bộ phim mang tên "Our man in Hà Nội" (Người của chúng ta ở Hà Nội)... Thời gian như xóa đi mọi dấu vết, khó có thể nhận diện từ những bức ảnh phi công cách đây ba mươi năm. Phải mất nửa tháng loay hoay tìm kiếm, vận may đã đến với tôi. Tôi đã tìm được trên báo Quân đội nhân dân và báo Hải Dương đăng tin bài sự kiện máy bay rơi và viên phi công bị bắt sống. Một số quản giáo cũ cho tôi biết một số tên lóng in trên áo sọc tù nhân. Hồi đó quản giáo thường gọi tên phi công phiên từ tiếng Anh sang tiếng Việt cho dễ nhớ và in luôn tên lóng đó trên áo. Tôi ghi kỹ càng những tên lóng có từ "S" như Sơn, Son, Song... và lần tìm những bức ảnh phi công trên áo có hàng chữ đó. Cuối cùng tôi tìm được bức ảnh phi công trên ngực có tên là Song, tên gọi tắt từ âm cuối của từ Pi-tơ-sơn. Tuy bức ảnh tôi tìm được trên ngực áo có chữ Song, khuôn mặt, cặp mày đôi nét hao hao giống bức ảnh từ Bộ Ngoại giao đưa sang, nhưng chưa chắc chắn. Anh Vũ Bình, Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao gửi e-mail sang Mỹ. Hai ngày sau tôi được tin anh Bình cho biết, đó chính là bức ảnh Bộ Ngoại giao cần tìm. Bức ảnh được đưa vào phim "Our man in Hà Nội". Ngay lập tức bộ phim dài sáu mươi phút được phát trên kênh truyền hình CBS News vào khoảng tháng 3 năm 1997...".

        Những ngày sống trong trại giam Hỏa Lò đã giúp cho Pi-tơ-sơn cũng như những phi công tù binh Mỹ hiểu về Việt Nam. Đó cũng là lý do vì sao những phi công tù binh Mỹ sau khi về nước, nhiều người mong muốn được trở lại Việt Nam. Nhiều người tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh ủng hộ Việt Nam. Về nước họ dũng cảm nói cho nhân dân Mỹ hiểu rõ chính sách đối xử nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, lòng thương yêu con người, thiết tha hòa bình của nhân dân Việt Nam.

        Trung úy Nô-rit Sác sinh ngày 4 tháng 8 năm 1945 tại bang Tam-pha. Tốt nghiệp Đại học Mo-hao-xơ bang At-lan-ta năm 1968. Máy bay anh ta bị bắn rơi ngày 30 tháng 12 năm 1971 và là một trong ba phi công tù binh được phóng thích tháng 9 năm 1972. Anh ta đã nói lên sự thật về "Những ngày trong trại giam" được nhà báo s. Giê-fơ ghi lại:

        "Đêm đó tôi phát hiện một trong những điều quan trọng nhất của đời một tù binh: Mỗi năm được sáu bữa ăn thịnh soạn vào những ngày lễ tết của họ... Ở trại thứ hai được đọc thêm những thứ, không phải thường xuyên nhưng thỉnh thoảng có cái mới để đọc. Tôi được đọc một lô những sách nói về chiến tranh có tác giả Mỹ viết. Ở trại giam tôi đọc sách của Phê-lích Grin nhiều hơn là ở trường đại học, kể cả cuốn "Việt Nam, Việt Nam" với cuốn "Kẻ thù", cuốn "Gia tài cay đắng" của Xô-lê-din-gơ có một lô những bài báo của Tom Hai-nơ. Cả "Tình thư" của Đích-ken. Một ngày rất nóng giữa mùa hè, "người mở khóa" (tên gọi người gác tù) đi ra thành phố. Có lẽ hai tuần họ được đi một lần. Khi trở về trại, anh ta đem theo một ít chanh và làm nước chanh cho chúng tôi. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một trong những điều vĩ đại nhất trên thế giới. Nó biểu thị cho chúng tôi thấy lòng nhân đạo của người Việt Nam. Đối với chúng tôi, chẳng có thù ghét gì giữa tù với người gác".

 26 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:14:52 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Đêm mùng 10 tháng 9 năm 1966, dân làng vẫn còn nhớ, một đêm tối trời máy bay Mỹ đánh phá cầu Phú Lương, cầu Lai Vu trên đường 5. Tưởng đi đánh trộm đêm có thể trốn tránh được lưới đạn phòng không, nào ngờ... Bầu trời bỗng sáng rực sau những tiếng nổ lớn, đanh của tên lửa ta. Máy bay Mỹ trúng đạn, cháy đỏ rực, rồi rơi lả tả xuống cánh đồng. Có tin phi công Mỹ nhảy dù thế là cả làng rộn ràng hẳn lên. Bộ đội và dân quân du kích được lệnh đi lùng bắt phi công Mỹ nhảy dù xuống vùng này. Chẳng còn biết sợ là gì, mọi người túa ra các ngả. Cuối cùng thì tổ du kích ba người là Nguyễn Viết Chộp, Nguyễn Danh Sinh và Nguyễn Danh Xuyên bắt sống được tên phi công chạy trốn. Chiếc máy bay bị bắn cháy hôm đó là chiếc F4 được mệnh danh là "con ma" do đại úy Pi-tơ-sơn lái và cùng bay còn có trung úy Ta- lay. Pi-tơ-sơn bị thương được ta băng bó cứu chữa rồi chuyển lên trên. Ta-lay khỏe hơn tìm cách chạy trốn vào khu nghĩa địa. Anh ta đào đất ngồi vào đó rồi lấy rơm đội lên đầu tưởng có thể thoát thân nhưng sáng hôm sau những người đàn bà của hợp tác xã nông nghiệp đi làm đồng sớm bắt được, anh ta lạy như tế sao. Chiếc "con ma" do Pi-tơ-sơn lái đi ăn đêm đã bị Tiểu đoàn tên lửa 62 thuộc Trung đoàn 236 bắn hạ. Người con của quê hương Hải Dương, Trần Thanh Hằng kể lại:

        "Tại một địa điểm thuộc huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương, Tiểu đoàn tên lửa 62, Trung đoàn 236 Quân chủng Phòng không - Không quân căng bạt đóng quân ven đường 5 với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Đơn vị được trên giao bảo vệ con đường 5 huyết mạch vận tải hàng hóa từ cảng Hải Phòng về Hà Nội. 20 giờ 30 phút ngày 10 tháng 9 năm 1966, có lệnh báo động. Đêm hè bầu trời trong xanh, những chòm sao sáng rực.

        Tiểu đoàn trưởng Đinh Công Khẩn dõng dạc hô: "Nâng cao thế khẩn cấp!". Mục tiêu đã ở cự ly bốn mươi kilômét từ hướng Hà Bắc - Yên Tử, độ cao sáu ngàn mét, khí tài đã chuyển tự động. Tổ trắc thủ có bốn đồng chí: sĩ quan điểu khiển trung úy Nguyễn Xuân Minh, phụ trách cự ly, đồng chí Khuê cùng một phụ trách góc tà, một phương vị. Sau khi đồng chí Khuê báo cáo mục tiêu vào cự ly 20km, chuẩn bị! Đồng chí Nguyễn Xuân Minh ấn nút phóng. Lửa đạn vút lên theo hướng máy bay. Chiếc F4 bốc cháy làm thành một bó đuốc lớn rơi lả tả, sáng rực cả một vùng trời. Hai phi công kịp nhảy dù...".

        Cuộc đời Pi-tơ-sơn cũng không thuận buồm xuôi gió. Sau Hiệp nghị Pari cùng với đồng nghiệp, Pi-tơ-sơn được trao trả trở về Mỹ. Anh ta tiếp tục phục vụ quân đội. Sau 26 năm mặc áo lính, năm 1981 anh ta được giải ngũ với cấp quân hàm trung tá về chung sống cùng gia đình ở bang Flo-ri-da. Anh ta tham gia giảng dạy ở trường đại học sau đó làm kinh doanh máy tính điện tử. Nhưng rồi điều không may đến với anh ta: người con trai chết vì tai nạn. Chưa kịp nguôi ngoai nỗi buồn thì vợ anh ta - Các-lốt-ta mất vì bệnh ung thư. Rồi Pi-tơ-sơn tích cực tham gia hoạt động chính trị. Không bao lâu được bầu làm nghị sĩ Mỹ Liên bang của bang Flo-ri-da.

        Sang Việt Nam làm đại sứ, Pi-tơ-sơn cũng đã tìm được hạnh phúc riêng. Ông lấy vợ người Úc gốc Việt tên là Lê Vi. Đám cưới của họ được tổ chức ở Nhà thờ lớn Hà Nội. Trong nhiệm kỳ làm Đại sứ Mỹ tại Việt Nam ông góp phần quan trọng vào việc tăng cường quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa Mỹ và Việt Nam.

        Ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam có một bức ảnh Pi-tơ-sơn khi còn là "khách không mời" của "Khách sạn Hin-tơn". Ảnh kiểu chân dung nhưng người trong ảnh không ngồi chính diện, có mái tóc cắt ngắn, mặc áo tù và có chữ "Song" đằng trước. Đại tá Mạc Lâm giải thích: có chữ "Song" như thế là vì, trong trại có mấy trăm tù binh, đê tiện cho việc nhận diện, chúng tôi thường có một tên bằng tiếng Việt cho mỗi phi công tù binh Mỹ. Su-mếch-cơ chúng tôi gọi là Su. An-va-rết chúng tôi gọi là An... Tên anh ta là Pi-tơ-sơn chúng tôi thường gọi là Song. Nói rồi ông cười. Tấm ảnh ấy đã trở thành hiện vật của bảo tàng, mang ký hiệu: BTQĐ-P-13477.

 27 
 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2020, 07:14:36 AM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

NGƯỜI PHI CÔNG MỸ GỐC THỤY SĨ

        Sau hai mươi năm chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Việt Nam và Mỹ đã chính thức khép lại quá khứ, nhìn về tương lai, quan hệ bình thường giữa hai quốc gia được thiết lập. Ngày 11 tháng 7 năm 1995 Tổng thống Mỹ, Bin Clin-tơn tuyên bố thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tổng thống Mỹ đã chọn Pi-tơ-sơn hạ nghị sĩ Mỹ liên bang Flo-ri-da làm đại sứ đầu tiên tại Việt Nam. Điều khá trớ trêu, Pi-tơ-sơn vốn là phi công tù binh Mỹ đã từng sống ở trại giam Hỏa Lò - Khách sạn Hin-tơn Hà Nội từ năm 1966 đến ngày được trao trả về Mỹ năm 1973. Tất nhiên là việc bổ nhiệm này cũng đã gây tranh cãi trong giới chức Mỹ, có người sợ Pi-tơ-sơn đã từng là tù binh có thể "phải lòng" Việt Nam không hành động vì quyền lợi của nước Mỹ. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua đi. Pi-tơ-sơn làm tốt nhiệm kỳ đại sứ của mình.

        Trước khi Pi-tơ-sơn sang làm đại sứ ở Việt Nam, đạo diễn Mai-cơn Gáp-sơn làm bộ phim "Người của chúng ta ở Hà Nội" (Our man in Hanoi) dài 60 phút phát trên kênh truyền hình CBS News kể về cuộc đời của Pi-tơ-sơn trước và sau khi trở thành phi công năm 1954. Hình ảnh Pi-tơ-sơn sang Việt Nam tham gia chiến đấu, máy bay bị bắn rơi và những ngày tháng trong khách sạn Hin-tơn cho đến năm 1973 được trao trả về Mỹ gặp lại những người thân yêu sau bao năm xa cách.

        Nhớ lại chuyện đó tôi hỏi đại tá Mạc Lâm:

        - Có một nhân vật khá nổi tiếng - Đại sứ đầu tiên của Mỹ ở Việt Nam từng là khách không mời của trại giam Hỏa Lò, chắc ông nhớ chứ?

        - Tôi nhớ chứ, đó là một anh chàng người gốc Thụy Sĩ, khá đẹp trai. Đại úy Pi-tơ-sơn sinh ngày 26 tháng 6 năm 1935 ở Nê-brát-xka, trước khi vào khách sạn Hin-tơn, Pi-tơ-sơn đã có vợ và ba người con. Hai mươi mốt tuổi vào quân đội Mỹ - tháng 11 năm 1954, lái máy bay F4 thuộc đơn vị không quân 433 TS đóng ở căn cứ quân sự U Bon, Thái Lan. Hơn hai mươi năm sau, Pi-tơ-sơn trở lại Việt Nam, anh ta có một cử chỉ đầy thiện chí là trở lại thăm người du kích năm xưa đã bắt anh ta khi máy bay F4 bị bắn rơi. Pi-tơ-sơn kịp nhảy dù và bị dân quân Nguyễn Viết Chộp cùng đồng đội bắt. Việc Pi-tơ-sơn về thăm lão Chộp - người đội viên đội dân quân Quyết thắng ở làng An Đoài, xã An Bình, tỉnh Hải Dương thể hiện cái tình của người phi công tù binh này. Nhân dân An Bình nhớ câu nói đầy thiện cảm của Pi-tơ-sơn:

        "Lúc đó rất có thể tôi đã bị giết chết. Nhưng rất may là có người ngăn lại và tôi vô cùng biết ơn điều đó".

        Một đoạn đối thoại ngắn giữa Nguyễn Viết Chộp và Pi-tơ-sơn hôm ấy đã được nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa ghi lại:

        - Ông còn nhớ tôi không? Ông có mong tôi trở lại không?

        Đại sứ Pi-tơ-sơn bắt tay lão Chộp và hỏi lão như vậy. Câu hỏi ấy làm cho lão rất đỗi kinh ngạc:

        - Làm sao tôi lại nhớ và mong ông được. Ông không phải người làng tôi, cũng không phải họ hàng. Ngay cả bây giờ gặp ông giữa ban ngày ban mặt tôi cũng còn chẳng thể nhận ra được nữa kia. Lúc ấy ông khác lắm...

        - Tôi khác ư? Khác thế nào? - Đại sứ đâm tò mò...

        - Thì lúc ấy ông là cái ông đầu trọc. Tôi muốn túm tóc ông cũng không túm được. Còn bây giờ thì ông thế này...

        Đại sứ Mỹ cười vang. Lão Chộp cùng cười. Câu chuyện xưa đã thành cổ tích. Còn hiện nay lão Chộp đang thủng thẳng cùng Pi-tơ-sơn đi thăm cánh đồng Mã Giai, thăm gian nhà kho chứa thóc giống nơi ngài từng bị nhốt. Tất cả giờ đổi khác... .

        An Bình là một xã sống bằng nghề nông, nằm giữa hai cây cầu Phú Lương và Lai Vu trên đường số 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng. Trong chiến tranh phá hoại những cây cầu là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ, và những khu dân cư quanh những cây cầu, đường giao thông cũng thế. Chúng đánh ban ngày và đánh cả vào ban đêm. Tiếng máy bay gầm rú suốt đêm ngày, làng xóm xác xơ và bị cháy trụi, những rặng tre xanh tươi là thế chẳng mấy chốc trơ xương, đổ nghiêng ngả. Rồi tiếng trẻ khóc, tiếng gào thét vì mất người thân trong những trận giặc Mỹ đánh phá như vẫn còn đâu đây.

 28 
 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2020, 04:09:44 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Phong trào nữ dân quân đánh xe cơ giới địch đã xuất hiện ở huyện 4 (Chư Păh) với “lá cờ đầu diệt xe cơ giới Mỹ” ở Gia Lai và cả Tây Nguyên là các chị Rơmah Sao, Rahlan Mêk xã B9 (Chư Păh) đã đánh 14 trận, cùng lúc đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”. Đường chiến lược số 14 và đường số 19 là nơi chiến sự diễn ra quyết liệt nhất và cũng là nơi xe của địch bị chôn vùi nhiều nhất. Ngoài Trung đoàn 95, đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên cắm địa bàn nách đông nam Thị xã Pleiku có nhiệm vụ đánh cắt giao thông vận chuyển của địch, còn mạng lưới du kích chiến tranh dày đặc của bộ đội Tỉnh, Huyện, dân quân du kích các xã ven đường đến các xã vùng sâu thay phiên nhau ra đánh xe địch. Các lực lượng đã phối hợp nhịp nhàng, vận động nhiều lối đánh sáng tạo, linh hoạt, có hiệu quả. Ta kết hợp đánh nhỏ lẻ thường xuyên với đánh từng đoàn xe địch vận chuyển, từ 30-40 chiếc, vừa diệt xe cơ giới với diệt bộ binh đi giải tỏa, vừa đánh phá cầu cống, băm nát, cắt vận chuyển, vừa tập kích diệt các đơn vị bảo an, phá ấp mở dân các vùng Hà Lòng, AYun, Hà Ra, Phú Yên… Cán bộ công binh Trịnh Đức Trá (Đại đội 17 công binh) đã chỉ huy Trung đội trong 9 tháng đánh 15 trận giao thông, bản thân anh diệt 26 xe các loại và 51 tên địch, 15 lần đạt danh hiệu “Dũng sĩ diệt xe cơ giới”.

“Dạ dày đô thị”, bị chọc thủng, “cuống họng giao thông” bị bóp nghẹt. Mỹ - ngụy ở Gia Lai trăm bề khốn quẫn, càng sa lầy trong thế bị động lúng túng buộc phải rải quân đối phó khắp nơi.

Từ hè 1965 đến cuối năm 1968, quân và dân Gia lai cùng quân dân toàn Miền đã trải qua những năm tháng chiến đấu cực kỳ gay go, ác liệt trên địa bàn tỉnh.

Là nơi quân chiến đấu Mỹ đổ quân vào đông nhất trên chiến trường Tây Nguyên, cũng là một trong những trọng điểm “tìm diệt và bình định” của Mỹ - Ngụy, nên đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt.

Nét nổi bật là trước kẻ địch còn có ưu thế quân đông, trang bị kỹ thuật hiện đại, Đảng bộ Tỉnh đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang quán triệt tư tưởng chiến lược tiến công, kịp thời xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng giặc Mỹ. Cơ quan quân sự các cấp đã đề ra những biện pháp tổ chức thích hợp cả về lực lượng, cách đánh để thực hiện quyết tâm đó.

Tư tưởng chỉ đạo đúng đắn ấy xuất phát từ sự nhận định, đánh giá đúng địch; lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân được giáo dục và tổ chức, đã dựa chắc vào thế trận chiến tranh nhân dân được xây dựng, củng cố trong quá trình đánh thắng chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. Ta đã đánh giá đúng khả năng các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân trong tỉnh trực tiếp chiến đấu với quân Mỹ; nhận rõ những nhân tố góp phần thắng lợi của địa bàn chiến lược, nhất là khi Mặt trận Tây Nguyên có thế đứng chân vững chắc trên phía tây tỉnh.

Từ đầu, khi quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào Gia Lai, quân và dân trong tỉnh chưa hiểu thật cụ thể về lực lượng và cách đánh của quân chiến đấu Mỹ. nhưng do quán triệt nhiều lần tư tưởng chiến lược tiến công của Đảng, tin tưởng mãnh liệt vào sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, với ý chí sắt đá giải phóng Miền nam, bảo vệ Miền Bắc xã hội chủ nghĩa, với tinh thần cách mạng “cứ đánh đi, thực tiễn sẽ giúp ta tìm ra các đánh”.

Trên cơ sở đó mà Đảng bộ đã chỉ đạo thành công tổ chức “vành đai diệt Mỹ”; đã huy động nhiều lực lượng phối hợp chặt chẽ trong một thế trận chung, đã nhân lên nhiều lần sức mạnh tại chỗ, nhiều đơn vị, nhiều bộ phận tạo ra sức mạnh tổng hợp lớn, liên tục tiến công quân Mỹ giam chân chúng trong sào huyệt luôn nơm nớp lo sợ, hãm chúng trong thế luôn luôn bị động đối phó. Vành đai diệt Mỹ là biểu hiện cao của tư tưởng tiến công và là nét sáng tạo của thế trận chiến tranh nhân dân trong điều kiện mới.

Vành đai diệt Mỹ ở Gia Lai đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt theo địa hình cụ thể. Vùng căn cứ rừng núi hiểm trở quanh căn cứ Sư đoàn 1 không vận chủ yếu là hoạt động vũ trang đánh diệt địch. Nhưng ở vùng đất bằng, đồi trọc trống trải quanh căn cứ Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ ở La Sơn, ở vùng Kơty Prông của Lữ 3 Sư đoàn 25 thì vành đai hoạt động bằng hai chân, ba mũi; tấn công quân sự, đấu tranh chính trị, tiến công binh vận; lực lượng dân quân, nhân dân sống bất hợp pháp, nửa hợp pháp và hợp pháp; vừa đánh địch linh hoạt, bảo vệ được dân làng an tâm sản xuất.

Quân chiến đấu Mỹ vào Gia Lai, các lực lượng vũ trang ta đã linh hoạt vận dụng các phương thức tác chiến chiến thuật, sáng tạo nhiều cách đánh linh hoạt. Đã tăng cao hiệu suất chiến đấu, tiêu diệt được nhiều địch, phá hủy được nhiều phương tiện chiến tranh của chúng; vẫn duy trì nhiều thế đấu tranh chính trị của quần chúng; vẫn đẩy mạnh công tác tiến công binh, địch vận cả quân Mỹ và quân ngụy. Những loại hình chiến đấu trên đã đi vào lòng dân, phù hợp với trình độ, khả năng chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân, đưa phong trào chiến tranh nhân dân của tỉnh lên mức cao, toàn diện.

Cùng với việc vận dụng sáng tạo các phương thức tác chiến, Đảng bộ đã chỉ đạo sát sao khẩu hiệu “ba bám” cho các cấp, các ngành, cho lực lượng vũ trang, có ý nghĩa hướng dẫn hành động cách mạng dũng cảm ngoan cường, tạo sức mạnh tinh thần và sức mạnh vật chất đánh thắng giặc Mỹ. Những làng chiến đấu “Hang đá Bok Krôh” sừng sững đứng giữa vùng tam giác lửa đạn của Kon Gang (bắc Mang Yan), hang đá Đak Brết, chân núi Kông Chiêng xã PơYâu (nam Mang Yang); Vùng đất bằng như xã Gào (Pleiku), làng O sơ (xã B7) và xã B5 (ChưPăh) sát nách căn cứ địch vẫn trụ bám kiên cường.

Địa bàn thị xã Pleiku, ngoài cơ sở mật vẫn duy trì, phát triển, ta đã chuyển một số cán bộ vào hoạt động hợp pháp trong nội thị. Tại vùng ven thị còn tổ chức hầm bí mật, nhơ đó mà tuy địch đánh phá phong trào quyết liệt, ta vẫn giữ được thế liên tục hoạt động.

Ba năm giáp mặt chiến đấu với quân Mỹ trong chiến tranh cục bộ, lực lượng vũ trang tỉnh đã trưởng thành một bước lớn, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, đoàn kết chặt chẽ với bộ đội chủ lực Tây Nguyên giành nhiều thắng lợi.

 29 
 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2020, 04:09:20 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Trong khí thế sục sôi cách mạng của toàn Miền Nam, đồng bào và các lực lượng vũ trang Gia Lai đã đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, thừa thắng xốc tới, liên tiếp tiến công và phản công địch. Đại đội 231 ĐKB pháo kích vào sân bay Cù Hanh đêm 13 và 14 tháng 2 – tiểu đoàn bộ binh 15 của tỉnh đột nhập vào ấp chiến lược Glar, đánh thiệt hại đại đội bảo an từ quận Lệ Trung vào giải tỏa. Cán bộ, chiến sỹ trụ bám ban ngày trong ấp diệt từng toán địch mặc cho pháo lớn từ Lệ Trung bắn vào chi viện. Đồng chí Siu Tem chính trị viên đại đội hỏa lực của tiểu đoàn đã dùng lựu đạn RKG đốt cháy một xe tăng M48 của địch tại làng Breng Dôr, buộc chúng phải rút lui.

Bị ta đánh trúng vào sào huyệt, giặc Mỹ và tay sai lồng lộn điên cuồng, liên tiếp mở các cuộc hành quân cảnh sát, đánh phá cơ sở cách mạng trong thị xã và vùng ven, cho xe ủi đất san bằng các làng xung quanh Thị để lập vành đai trắng. Chúng thường xuyên giới nghiêm trong thị xã, quận lỵ, truy lùng bắt bớ cơ sở cách mạng hòng triệt phá, truy tróc các chỗ dựa của lực lượng cách mạng, đẩy ta ra khỏi địa bàn thị xã.

Chúng tổ chức các cuộc hành quân, tung biệt kích, thám báo lùng sục quanh ven Thị xã, căn cứ quân sự, máy bay trinh sát rà lượn; máy bay trực thăng “quạt” soi tìm dấu vết, nơi trú quân, đường mòn; thả những “cây trinh sát nhiệt đới” để phát hiện các cuộc hành quân, hội họp của bộ đội ta. Trên các trục giao thông quan trọng địch dùng bom đạn, hóa chất độc phát quanh hai bên đường, gài mìn clây-mo nơi chúng nghi là hành lang đi lại của các đội công tác, lập thêm các chốt, tăng cường tuần tra lót phục các hướng xâm nhập vào thị xã v.v…

Cuộc đọ sức của ta và địch trên mặt trận này đã diễn ra ngày càng gay go quyết liệt. Bộ đội ta đã phải trải qua muôn vàn hy sinh, thử thách để đánh thắng địch. Cứ sau mỗi lần các mục tiêu bị tấn công, giặc Mỹ lại tăng thêm phòng thủ, thay đổi cách bố trí; thêm nhiều lớp rào kẽm gai, chòi canh dày đặc, đèn pha, mìn sáng càng nhiều hơn.

Vì vậy, việc đưa các mũi đặc công của ta lọt vào nổ súng đúng thời gian theo kế hoạch là một khó khăn lớn. Nhiều lần đơn vị đặc công tiểu đoàn 408 hành quân tiếp cận đến khu vực “bãi lầy” vùng Kon Gang – làng Dập thì gặp địch phục kích; trận chiến đấu phải dừng lại hôm sau chuyển sang phương án, mục tiêu khác. Đồng chí Tấn Tiểu đoàn phó tiểu đoàn đặc công 450, chưa vượt hết các lớp chướng ngại vật vào mục tiêu thì trời sắp sáng, cả tổ đặc công phải vùi mình sát lùm cỏ cả ngày gữa hai lớp rào kẽm gai của căn cứ sây bay Tân Tạo chờ đêm sau tiếp cận chiến đấu. Có tổ 3 chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 450 sau khi nổ súng đánh địch, rút ra được khỏi các lớp rào kẽm gai thì trời sáng phải chui vào hang đá trên núi Hòn Cong. Địch phát hiện đánh mìn sập hang đá. Tổ 3 đồng chí hy sinh, vĩnh viễn nằm tại Hòn Cong như tượng đài bất diệt.

Khó khăn, thử thách ác liệt, nhưng cán bộ, chiến sĩ ta nêu cao quyết tâm đánh địch, và nhất định tìm ra cách đánh, xây dựng lòng tin cho đơn vị. Dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân các đơn vị mũi nhọn của ta kiên trì bám địch, phát hiện được những sơ hở của chúng và tìm được cách đánh có hiệu quả.

Trận tập kích căn cứ hậu cần của Sư đoán 4 Mỹ ở Kơty Prông rạng sáng 23 tháng 8 của Tiểu đoàn 408 đặc công – ngọn cờ đầu “Luồn sâu đánh giỏi, liên tục tiến công thị xã và căn cứ Mỹ” đã tiêu biểu cho tinh thần khắc phục khó khăn, chấp hành mệnh lệnh và kỹ thuật điêu luyện đánh hậu cứ địch. Đơn vị phải hành quân hàng chục ki-lô-mét dưới trời mưa tầm tã, vượt qua nhiều đồn bót, giấu mình suốt ngày trời cạnh căn cứ địch với độc chiếc quần lót, gói thuốc nổ trong tay. Trước giờ nổ súng có 5 đồng chí bị thương vong vì đạn pháo của địch, song bộ đội vẫn giữ quyết tâm chiến đấu. Chỉ trong vòng 25 phút, đơn vị đã phá hủy 133 xe quân sự, diệt 72 tên Mỹ, phá sập 11 nhà, nhiều lô cốt.

Đồng bào khu 4 (Chư păh) đã góp phần làm nên chiến công này. Sau trận đánh đồng bào đã đón sẵn trên đường khiêng, cõng thương binh về căn cứ an toàn. Đồng bào sướt ngô non nấu cháo nuôi bộ đội (do giáp hạt thiếu gạo).

Trên mặt trận giao thông lại diễn ra sôi động và liên tục sau tổng tiến công và nổi dậy. Hễ đâu có xe địch chạy là ở đấy có trận địa tiêu diệt xe. Dân quân du kích xã, thôn diệt xe tăng địch đi càn quét ngay bên rìa làng, ven rẫy. Lấy bom bi, đạn lép của địch làm mìn diệt xe địch đã thành phong trào rộng rãi, lan khắp tỉnh. Anh Siu Hyơn “người kỹ sư không có văn bằng của chiến tranh nhân dân vô địch”, người xã đội phó xã E14 (khu 5) đã tự tạo gần 100 quả mìn các loại liên tục hướng dẫn cho du kính đánh xe địch trên đường 14.

 30 
 vào lúc: 22 Tháng Hai, 2020, 04:08:27 PM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Ngày 4 tháng 2 – 1968, Hồ Chủ tịch thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ, gửi điện khen: “Quân và dân ta ở Miền Nam đánh rất giỏi, rất đều, rất nhịp nhàng, đánh khắp nơi và nơi nào cũng thắng to…”

Bác dặn: “Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan, quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng, càng dẫy dụa điên cuồng, quân và dân ta càng phải tăng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh liên tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa…”

Đánh giá thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy động loạt này, Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 4 khẳng định: “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã làm đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.”

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân 1968 đã thực sự làm cho quân Mỹ khiếp sợ. Viên tướng của ban tham mưu của Oét-Mô-len hồi bấy giờ phải thốt lên “Oa-sinh-tơn phải kinh hoàng”, Phó tổng thống Mỹ Hăm-Phrây rầu rĩ nói: “Tết đã thực sự đẩy lùi chúng ta”(1). Ngáy 31 tháng 3 năm 1968, Jonhsơn phải ra tuyên bố không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ tới, ngừng ném bom Miền Bắc Việt Nam và chịu đàm phán với ta tại Pari. “Nước Mỹ hùng mạnh về quân sự trong lịch sử, lần này đã trở thành kẻ thua trận về nhiều mặt…”(2)

Kết quả thắng lợi thật to lớn, nhưng sự hy sinh tổn thất của ta cũng không nhỏ. Hơn 200 cán bộ và chiến sỹ hy sinh. Hàng ngàn quần chúng bị chết bị thương. Hàng mấy trăm cán bộ, chiến sỹ và đồng bào bị bắt, tù đày, bị tra tấn. Song quân và dân ta đã làm cho kẻ thù hết sức khiếp sợ và thán phục.

Tuy ta có tổn thất, trả giá đắt cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy; nhưng không có sự hy sinh cao cả đúng mức, thì làm sao có thắng lợi to lớn vẻ vang như chiến công hiển hách Tết Mậu Thân! Những dòng máu anh hùng của các liệt sỹ, của chiến sĩ, đồng bào đổ ra trong Tết Mậu Thân có ý nghĩa sâu sắc, có giá trị tinh thần vô giá, xứng đáng với tầm vóc thắng lợi, xứng đáng với sự nhớ ơn, ngưỡng mộ muôn đời của thế hệ sau.

Tuy nhiên, ta chưa thực sự giành được thắng lợi như quyết tâm đã đề ra.

Trước hết, ta chưa đánh giá đúng tương quan địch, ta trên chiến trường cụ thể, chưa đánh giá đúng khả năng, phản ứng của địch để có kế hoạch cụ thể ngăn chặn, kiềm chế địch nhất là đánh phá liên tục các sân bay, trận địa pháo của địch để hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy. Do đó, việc chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị chiến trường còn đơn giản, công tác nắm địch, nắm các mục tiêu địch chưa cụ thể, nên công tác chuẩn bị cho tiến công về quân sự còn nhiều thiếu sót đáng lẽ không đáng có.

Việc sử dụng lực lượng theo kế hoạch lúc đầu có qui mô lớn, nhưng khi nổ súng thì không đồng loạt, một số đơn vị lớn chưa vào thị xã, hoặc đến chậm. Việc chiến đấu trong nội thị lực lượng quá ít, mỏng, cơ sở vật chất, lương thực, đạn dược thiếu, thông tin liên lạc không có (cả hữu tuyến và vô tuyến) nên sức chiến đấu của bộ binh, đặc công giảm sút nhanh, không trụ bám dài ngày được. Do đó mà đòn quân sự chưa đủ sức hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy.

Trong công tác tư tưởng thường nhấn mạnh một chiều đến thuận lợi, nên khi vấp váp khó khăn, chưa đạt yêu cầu đề ra thì nảy sinh những biểu hiện dao động, băn khoăn, lo lắng, thậm chí có người cho là thắng lợi ít mà tổn thất nhiều, tỏ ra thiếu tin, bi quan.

Được Hội nghị Tỉnh ủy khẳng định, qua hội nghị Quân chính toàn tỉnh 9-1968, Ban cán sự và Ban Chỉ huy đã phát động tư tưởng trong cán bộ, phát huy dân chủ thảo luận, phân rõ đúng sai. Hội nghị được tỉnh chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất nhận thức: “Tổng tiến công và nổi dậy là một giai đoạn, là một quá trình tiến công phấn đấu rất ác liệt và phức tạp, bằng cả tấn công quân sự, tấn công chính trị và tấn công binh vận, bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược và có cả phối hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và tiến công bằng ngoại giao…”. Từ phân tích trên mà dần dần thử nghiệm, thấm sâu, an tâm, ổn định tự giải đáp được những vướng mắc, xây dựng lòng tin tưởng tuyệt đối vào lời dạy của Bác Hồ, và chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng.

Nghe theo lời dạy của Bác Hồ trong điện khen quân dân ta ở Miền Nam Việt Nam và điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Mặt trận Tây Nguyên: “hãy thừa thắng xông lên, đánh mạnh, đánh trúng, đánh giòn giã hơn nữa, liên tục tiến công và phản công tiêu diệt nhiều địch (cả Mỹ, ngụy và bọn biệt kích) đập tan mọi âm mưu xảo quyệt của chúng, làm cho chúng tê liệt, đánh cho chúng không ngóc đầu dậy nổi, hỗ trợ đắc lực và động viên thúc đẩy quần chúng nổi dậy giành chính quyền, mở rộng vùng nhân dân làm chủ…”(3)


(1) Cuộc chiến tranh 30 năm – Hãng thông tin Mỹ AP
(2) Roi-tơ ngày 2-2-1968
(3) Điện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi Mặt trận Tây Nguyên 4-2-1968

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM