Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Mười Hai, 2019, 05:57:44 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 91 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:40:31 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
CHI ĐỘI 1 VÀ DÂN QUÂN THỦ DẦU MỘT

Nguyễn Văn Kiệp


Ngay khi chuẩn bị khởi nghĩa cướp chính quyền, bên cạnh lực lượng chính trị hùng hậu, Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng lực lượng tự vệ vũ trang để sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu với quân địch bảo vệ quần chúng khi khởi nghĩa nổ ra.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thành lập, ở Thủ Dầu Một một số đơn vị lớn được tập trung thành lập Chi đội 1 và trong quá trình chiến đấu, Chi đội 1 trở thành nòng cốt và là chỗ dựa vững chắc trong việc xây dựng phong trào dân quân, tiến hành du kích chiến tranh, phát huy cao độ sức mạnh của toàn dân, đấu tranh toàn diện với quân địch.


Các đại đội của chi đội trong phạm vi chiến trường mình phụ trách, tùy theo khả năng và điều kiện đã huấn luyện và trang bị, tham gia xây dựng và củng cố các đội du kích và các đội du kích đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bộ đội đánh du kích bảo vệ dân, bảo vệ chính quyền, tiêu hao tiêu diệt địch mọi nơi mọi lúc bằng mọi cách khiến cho địch phân tán, bị động, rối loạn, mệt mỏi tạo điều kiện cho bộ đội đánh lớn tiêu diệt địch.


Từ giữa năm 1946 đến giữa năm 1947, không thể nào kể được đầy đủ nhưng tôi còn nhớ được ở Lái Thiêu - Đại đội 1, có các đội du kích như Hòa Lân (An Thạnh), Hưng Định... khống chế phân chi khu Búng, Tân Phước Khánh, Tân Hóa Khánh, Bình Chuẩn đối đầu với lính Cao Đài Tân Khánh. Bao quanh chi khu Lái Thiêu cũng có sự hoạt động của du kích Vĩnh Phú, Phú Long nhất là du kích Tân Thới.


Ở huyện Châu Thành - Đại đội 2, hoạt động xung quanh tiểu khu Thụ Dầu Một và căn cứ Phú Lợi đã có du kích Phú Cường, Chánh Hiệp, Định Hòa, Phú Hòa, Phú Hữu... các đội du kích Phú Chánh, Vĩnh Tân... bảo vệ địa phương và góp phần tích cực bảo vệ căn cứ Vĩnh Lợi.


Đại đội 3 hoạt động ở chiến trường Bến Cát - Hớn Quản, tổ chức các đội du kích Thới Hòa, Mỹ Phước, Chánh Phú Hòa thường xuyên gây rối, uy hiếp đánh nhỏ lẻ địch ở chi khu Bến Cát. Riêng chiến trường Hớn Quản là nơi gian khổ nhất, các đội du kích Tân Khai, Tân Lập Phú... vẫn thường xuyên hoạt động quanh huyện.


Các đường giao thông huyết mạch như đường 14 Sài Gòn - Buôn Ma Thuột, đường 13 Sài Gòn - Lộc Ninh... khi qua địa phận Thủ Dầu Một, giặc thường bị các đội du kích ven lộ uy hiếp, quấy rối.

Qua giữa năm 1947, dân quân được phát triển mạnh, được tổ chức thành hệ thống và chỉ huy thống nhất, ủy viên dân quân tỉnh kiêm Tỉnh đội trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Văn Tiết, Bí thư Tỉnh ủy kiêm nhiệm, ở các huyện thường là đại đội phó (tiểu đoàn phó) biệt phái. Ủy viên thường vụ huyện ủy hoặc huyện bộ Việt Minh làm chính trị viên. Hầu hết các xã đội đều có đội du kích, mỗi ấp có đại đội dân quân tự vệ. Được sự quan tâm đặc biệt của các cấp ủy Đảng, sự chi viện hỗ trợ tích cực của Chi đội 1, phong trào dân quân, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, xứng đáng với vị trí vai trò lực lượng chiến lược của nó. Lực lượng địch trong tỉnh bị căng kéo phân tán, bị bao vây quấy rối ngày đêm. Nhiều nơi ta xây dựng được ấp, xã chiến đấu có rào rấp công sự, đường hầm kèm lựu đạn chông mìn...


Phong trào dân quân tự vệ phát triển mạnh, các đội du kích có súng bén và đánh giỏi và đã tạo thêm điều kiện cho Chi đội 1 phát triển, hoàn thành tốt nhiệm vụ ở chiến trường (tháng 3 năm 1948. Chi đội 1 đổi thành Trung đoàn 301). Đặc điểm nổi bật là trung đoàn có được nguồn bổ sung quân số đã qua chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu. Các chỉ huy sở của trung đoàn (Thuận Giao) và các chỉ huy sở tiểu đoàn được bảo vệ từ xa. Nhiều nhân mối địch vận do dân quân tự vệ và du kích móc nối trực tiếp phục vụ trung đoàn.


Để phát huy rộng rãi công tác huấn luyện tuyên truyền giáo dục dân quân về chiến tranh nhân dân, đi đôi với việc mở trường huấn luyện cán bộ dân quân (xã An Điền - Bến Cát) do đồng chí Nguyễn Oanh, Thường vụ Tỉnh ủy làm Ủy viên chính trị, Tỉnh ủy đã cấp ngân sách cho tỉnh đội phát hành một tờ báo Dân Quân, mỗi tháng một kỳ từ 800 đến 1.000 số. Tòa soạn của báo đặt chung với tòa soạn báo “Việt Nam tiến” do đồng chí Nguyễn Chí Trung chủ trì. Chính tờ báo đó đã đi vào đời sống của dân quân. Đến kỳ mà chưa nhận được báo, các xã đội đã phái dân quân về tận tòa soạn yêu cầu được cấp trực tiếp và kịp thời.


Tháng 7 năm 1948, tại cuộc hội nghị dân quân ở Quân khu Đông Thành (Giồng Lức - Quéo Ba) do đồng chí Lê Minh Định ủy viên dân quân Quân khu chủ trì, Tỉnh đội Gia Định và Tỉnh đội Thủ Dầu Một được biểu dương và được thưởng một số tiền. Với số tiền đó, trên đường về qua các xã đội của huyện đội Bến Cát và huyện đội Châu Thành, đại diện tỉnh đội đã tùy theo đặc điểm mỗi nơi mà trích thưởng cho các xã đội lập nhiều thành tích.


Hồi tưởng lại những năm đầu kháng chiến chống Pháp ở Đông Nam Bộ, qua phong trào dân quân thời ấy thấy nổi lên hình thái một cuộc chiến tranh toàn dân toàn diện, với vai trò của Chi đội 1 (Trung đoàn 301) đơn vị hướng dẫn hỗ trợ giúp đỡ tích cực và không mệt mỏi cho phong trào, đồng thời cũng là lực lượng đánh những đòn quyết định một khi dân quân và du kích đã tạo được tình huống thích hợp. Điều đó phù hợp với vấn đề đã rút ra “Muốn tổ chức một cuộc chiến tranh chống xâm lược, phải phát huy sức mạnh của toàn dân... vai trò tác chiến du kích có ý nghĩa chiến lược... Kết quả của từng trận đánh tuy không lớn nhưng nếu gộp lại thì rất to lớn. Nhưng nếu chỉ tác chiến du kích không thôi thì quân địch không thể bị chia cắt, tiêu diệt từng bộ phận nên phải có bộ đội tập trung... Mỗi quan hệ giữa nhân dân, du kích và chủ lực là mối quan hệ hữu cơ, nếu tách rời nhau thì sẽ không duy trì được cuộc khảng chiến lâu dài và thắng lợi”.

 92 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:37:09 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Điểm nổi bật nhất trong hoạt động tác chiến đánh địch lúc này là phong trào diệt tháp canh địch.

Đến cuối năm 1949, hệ thống tháp canh Đờ La-tua của địch xung quanh Chiến khu Đ được xây dựng hoàn tất. Hệ thống tháp canh này trở thành các điểm quan sát khống chế liên hoàn xung quanh chiến khu, đồng thời là điểm tựa để từ đó chúng tổ chức thường xuyên các đội biệt kích đột nhập vào căn cứ. Diệt tháp canh địch trớ thành một đòi hỏi bức xúc của công cuộc kháng chiến ở Nam Bộ lúc bấy giờ. Tại Chiến khu Đ, Phòng Tham mưu Khu 7 kết hợp với tỉnh đội Biên Hòa nghiên cứu tìm cách diệt tháp, tổ chức các lớp học đào tạo chiến sỹ đặc nhiệm phá tháp. Ban quân giới Khu chế tạo các loại mìn FT và Bê ta. Trận đánh tháp canh sụp cầu Bà Kiên (19-4-1950) thắng lợi đã mở ra khả năng phá chiến thuật tháp canh Đờ La-tua của địch. Chiến khu Đ trở thành nơi tổ chức huấn luyện cán bộ làm nhân cốt mở rộng phong trào diệt tháp canh ra khắp chiến trường miền Đông, miền Tây Nam Bộ, miền Trung và cả nước. Cách đánh đặc công hình thành, khởi từ nôi điểm Chiến khu Đ.


Sau thất bại chiến dịch Biên giới, mặc dù gặp hàng loạt khó khăn, tại Nam Bộ, thực dân Pháp vẫn tiếp tục đẩy mạnh thực hiện bình định, thực hành bao vây và chia cắt nhỏ các vùng, các chiến trường của ta, kiểm soát chặt chẽ Khu 8, cắt đứt Nam Bộ ra làm hai vùng tách biệt Đông và Tây. Tại Chiến khu Đ, ta gặp rất nhiều khó khăn. Cuối năm 1950, Bộ Tư lệnh Nam Bộ từ miền Tây chuyển về đứng chân tại Chiến khu Đ, nhưng do thiếu nguồn lương thực thực phẩm, nên sang đầu năm 1951 phải dời về Chiến khu Dương Minh Châu.


Để phù hợp với tình hình, giữa năm 1951 Trung ương Cục miền Nam quyết định bố trí lại chiến trường, lấy sông Tiền làm ranh giới chia Nam Bộ thành hai phân liên khu Đông và Tây, tổ chức lại lực lượng, kiện toàn lãnh đạo các cấp. Công tác xây dựng căn cứ địa cho các vùng, phân liên khu vì thế càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bộ Tư lệnh Nam Bộ quyết định thành lập Ban Căn cứ địa Nam Bộ do đồng chí Nguyễn Văn Trí làm trường ban, xây dựng U Minh, Đồng Tháp Mười, Chiến khu Đ, Dương Minh Châu thành các căn cứ lớn của Nam Bộ. Chiến khu Đ từ là của tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Khu 7 được xây dựng thành một trong những căn cứ chính của toàn miền Nam.


Trên địa bàn Chiến khu Đ giờ đây rộng khoảng 3.700 ki-lô-mét vuông. Tỉnh Thủ Biên (Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập lại) thành lập huyện căn cứ Đồng Nai, huyện căn cứ Sông Bé. Các huyện căn cứ tổ chức lại các xã, thành lập các xã mới ở những vùng thưa dân, chia căn cứ địa thành các khu vực có đan xen giữa các xóm ấp dân cư với các cơ quan đơn vị kháng chiến, các nông trường (trại sản xuất), công trường (binh công xưởng)... Tại các khu vực đều có hệ thống nhà lắp ghép (bằng cây lá) với đường sá ngay thẳng thuận lợi. Tiểu đoàn bảo vệ căn cứ 295, Tiểu đoàn chủ lực khu 303 phối hợp với đại đội bộ đội địa phương huyện căn cứ Nguyễn Văn Nghĩa và du kích các xã để bảo vệ căn cứ, phân chia khu vực phụ trách và hợp đồng tác chiến chống càn.


Lần đầu tiên, công tác xây dựng căn cứ địa được chú trọng thực hiện một cách toàn diện, đồng bộ. Kết quả của những hoạt động nêu trên đã tạo điều kiện quan trọng về địa bàn và thực lực để quân và dân miền Đông bước vào thời kỳ gay go hơn trong giai đoạn cùng cả nước “tổng phản công”.


Tháng 10 năm Nhâm Thìn (1952), một trận bão lớn chưa từng có ập đến miền Đông Nam Bộ, và sau đó gây nên nạn úng lụt nghiêm trọng. Chiến khu Đ bị tàn phá nặng nề. Gần như toàn bộ cây lương thực hoa màu bị xoá sạch. Các kho tàng cất trữ lương thực thực phẩm thuốc men, quân trang, sách báo bị mục mốc. Vũ khí đạn dược bị gỉ sét, hư hỏng. Nhân đó, giặc Pháp liên tục càn quét vào Chiến khu, tuyên truyền chiêu dụ chiến sĩ cán bộ ta ra đầu thú. Lời ca “gió mưa lật đổ mái nhà, bao nhiêu gia đình tan hoang, đau thương lệ rơi chứa chan” trong ca khúc “Lên ngàn” của nhạc sĩ Hoàng Việt nhằm ghi lại một phần khó khăn ở miền Đông Nam Bộ sau trận bão lụt lịch sử này.


Lịch sử Chiến khu Đ trong giai đoạn sau bão lụt đến mùa thu năm 1953 là lịch sử chống đói, chống càn, chống chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch, chống tư tưởng dao động thoái chí trước gian khổ, giữ vững Chiến khu. Đây là giai đoạn khó khăn ác liệt nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Chiến khu Đ. Sự tồn tại vững vàng của chiến khu qua giai đoạn thử thách này có ý nghĩa rất quan trọng, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của cuộc kháng chiến, giữ vững lòng tin của đồng bào, chiến sĩ tại Chiến khu cũng như ở vùng tạm chiếm nông thôn và thành thị khác đối với sự nghiệp kháng chiến.


Từ cuối năm 1953, thực dân Pháp buộc phải tập trung lực lượng ra chiến trường miền Bắc. Tại Nam Bộ, chúng tiếp tục điều rút quân, thế vào đó những tiểu đoàn nguỵ quân được thành lập vội vã, thiếu tinh thần và kinh nghiệm chiến đấu. Hoạt động quân sự của địch quay về thế phòng ngự bị động. Xung quanh Chiến khu Đ, địch tiếp tục rút 3 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh và cơ giới. Lực lượng còn lại chỉ đủ giữ các đường giao thông, các cửa ngõ hiểm yếu và hành động càn quét nhỏ. Bộ Tư lệnh Phân liên khu miền Đông thực hiện chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam về “chuẩn bị đón lấy thời cơ mới” đã đề ra 3 nhiệm vụ chính: Giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố và mở rộng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác địch nguỵ vận. Riêng về công tác căn cứ địa, Bộ Tư lệnh Phân liên khu ban hành một nghị quyết án chuyên đề hướng dẫn nội dung công tác củng cố và mở rộng các căn cứ trên địa bàn phân liên khu.


Các lực lượng vũ trang sau khi khắc phục nhược điểm dồn về chiến khu, bỏ trống địa bàn du kích và tạm bị chiếm và thích “ăn to đánh lớn” đã tổ chức lại thành những đơn vị phù hợp, toả về làm nòng cốt cho phong trào du kích chiến tranh ở cả ba vùng kháng chiến. Đầu năm 1954, vùng chiếm đóng của địch càng thu hẹp lại. Ta tích cực mở rộng Chiến khu Đ thành một vùng rộng lớn, phía bắc giáp đường 14, phía nam và phía đông nam giáp sông Đồng Nai, phía tây giáp đường 16 và liên tỉnh lộ 1A, phía đông lên đến Tà Lài. Từ Chiến khu Đ, đường liên lạc vận tải lên Long Nguyên, Dương Minh Châu, xuống Vĩnh Cửu, Long Thành, Rừng Sát, sang Bà Rịa, Xuyên Mộc... được mớ ra thông suốt. Tiểu đoàn vận tải 320 thực hiện xuất sắc nhiệm vụ vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí, nguyên hoá liệu, tài liệu sách báo, vải vóc, tiền vàng từ bến Hàm Tân (Bình Thuận) về Chiến khu Đ, góp phần nối thông hành lang vận tải chiến lược từ Trung ương đến các chiến trường Nam Bộ.


Trong chiến khu, ta xây dựng một “xã hội Việt Nam mới” có chính quyền cách mạng, các đoàn thể, có tạm cấp ruộng đất và nền kinh tế kháng chiến độc lập, có cuộc sống văn minh với phong trào bổ túc văn hoá, văn nghệ thể thao... Tất cả tạo thành một hình mẫu xã hội lý tưởng, trở thành niềm tự hào, nơi hướng về của hàng triệu đồng bào khắp mọi vùng kháng chiến.


Và, thực tế ấy có lúc thuyết phục lớn lao trong công tác địch nguỵ vận ở xung quanh địa bàn Chiến khu Đ, đồng thời tạo thế và lực cho các đơn vị vũ trang mở một cao trào phối hợp với chiến trường miền Bắc, miền Trung và Lào, tiến tới đè bẹp hoàn toàn lực lượng quân xâm lược Pháp, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ trong suốt 9 năm ròng rã.


Từ là căn cứ địa của một đơn vị vũ trang tỉnh Biên Hoà, Chiến khu Đ dần dần được xây dựng phát triển thành căn cứ địa của Khu 7 và toàn Nam Bộ. Kết quả hoạt động của Chiến khu đã góp một phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Và nó chuẩn bị những nhân tố cơ bản về giá trị tinh thần và lực lượng vật chất để trở thành tiền đề một căn cứ lớn ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ trong công cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ sau đó.

 93 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:36:26 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Đầu năm 1948, thực hiện sự chuyển hướng chiến lược từ đánh nhanh hay đánh kéo dài, thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”, quân đội Pháp tại Nam Bộ tập trung bình định vùng đã chiếm đóng, thực hành chính sách bao vây kháng chiến, đánh mạnh vào cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị của ta. Chúng tiến hành bao vây Chiến khu Đ về mọi phương diện, đặc biệt thiết lập hệ thống tháp canh Đờ La-tua dày đặc xung quanh và vào sâu trong căn cứ nhằm vây chặn, cắt đứt tất cả các ngả đường giao thông liên lạc, vận tải lương thực thực phẩm vào chiến khu. Thay các cuộc hành quân càn quét lớn bằng những cuộc hành quân nhỏ, dùng các toán Com-măng-đô bất ngờ thọc sâu vào căn cứ địa giết phá rồi rút ra nhanh chóng, kết hợp với dùng máy bay rà quét triệt phá các cơ sơ kho tàng, lán trại, hoa màu, nông súc. Mặt khác, chúng cho mật thám, chỉ điểm, nhân viên phòng nhì Pháp giả dạng công chức bỏ thành phố đi kháng chiến để xâm nhập Chiến khu, len lỏi sâu vào các cơ quan của ta, tổ chức bọn buôn lậu đưa hàng hoá xa xỉ và gái điếm vào Chiến khu khêu gợi sự ăn chơi, hưởng lạc, rượu chè trai gái; tung tin thất thiệt gây mang hoang dao động trong hàng ngũ kháng chiẽn.


Chiến khu Đ bước vào thời kỳ khó khăn liên tục và kéo dài. Nạn thiếu lương thực thực phẩm cho hàng ngàn con người, thiếu nguyên vật liệu hoá chất cho sản xuất vũ khí... diễn ra từng ngày một. Các cơ quan, binh xưởng, kho tàng, lán trại phải liên tục di chuyên vì căn cứ bị đánh phá chính xác và thường xuyên. Nội bộ cán bộ ta nghi ngờ, thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. Một số không ít cán bộ chiến sĩ không chịu nổi gian khổ trốn về thành đầu hàng giặc, phản bội lại kháng chiến. Thêm vào đó, không ít người hoang mang dao động vô tình phụ hoạ với luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch. Một vài cán bộ quân sự vốn là “dân anh chị” đi theo cách mạng, vẫn giữ nguyên tác phong kiểu anh hùng cá nhân, vô kỷ luật, quân phiệt, cục bộ, gây khó khăn thêm cho cách mạng.


Công tác xây dựng và bảo vệ chiến khu giờ đây tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng dự trữ kháng chiến, đánh mạnh vào hậu phương quân địch, bảo vệ an toàn căn cứ địa.


Tháng 3 năm 1948, Chi bộ 10 Biên Hoà và Chi bộ 1 Thủ Dầu Một phát triển thành Trung đoàn 310 và Trung đoàn 301. Chiến khu Đ trở thành địa bàn tập huấn luyện quân cho sự chuyển nâng về chất này của lực lượng vũ trang. Từ Chiến khu Đ, các đơn vị đưa một phần lớn lực lượng từ vùng du kích và tạm bị chiếm hoạt động vừa để đánh vào hậu phương quân địch vừa thu hút phân tán lực lượng không cho chứng tập trung dồn ép chiến khu.


Bên trong Chiến khu, ta đẩy mạnh tăng gia sản xuất, mở các trại chăn nuôi và nông trường trồng trọt dọc triền sông, phát triển các ngành kinh tế công nghệ khác như xây dựng lò đường, lò gốm, xưởng dệt vải... Binh công xưởng tận dụng nguyên vật liệu cải tiến các loại vũ khí, đặc biệt các loại vũ khí cơ bản thông thường. Các bệnh viện quân y, bệnh viện dân y khắc phục tình trạng thiếu thuốc và dụng cụ y tế, thay thuốc tây bằng các loại thuốc nam có sẵn trong rừng chiến khu, với phương châm “địa phương hoá tây y, khoa học hóa đông y”. Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ cho in, lưu hành giấy bạc Việt Nam trong vùng căn cứ địa và vùng du kích. Tờ giấy bạc Việt Nam mà cán bộ chiến sĩ nhân dân ở đây thường gọi là “bạc Cụ Hồ” không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà trở thành một thứ bảo chứng, kỷ vật thiêng liêng về tình cảm của họ đối với Đảng, với Bác Hồ, với sự nghiệp kháng chiến, ủy ban kháng chiến hành chánh còn phát hành công phiếu kháng chiến rộng rãi trong nhân dân. Đồng thời, ta thực hiện chính sách bao vây kinh tế địch như cấm lưu hành giấy bạc Đông Dương ngân hàng của Pháp trong vùng căn cứ địa, cấm bán sản phẩm hàng hoá về vùng tạm bị chiếm.


Song song với việc xây dựng nền kinh tế tự túc tại chỗ, ta còn xây dựng các tuyến hành lang vận tải từ các vùng nhiều lúa, các căn cứ và thành phố Sài Gòn về Chiến khu Đ. Đơn vị cơ quan nào trong chiến khu cũng có trạm đầu cầu làm nhiệm vụ vận động bà con quyên góp và thu mua lương thực, vải vóc thuốc men, nguyên hoá liệu... tại các vùng tạm bị chiếm nông thôn và đô thị và từ đó tổ chức đưa về chiến khu bằng nhiều hình thức hoặc bí mật hoặc “bình phong”.


Công tác bảo vệ căn cứ địa cũng được đặt ra một cách cấp thiết. Cuối năm 1948, các đơn vị bộ đội chủ lực khu ra đời. Tại Chiến khu Đ, Tiểu đoàn 303 thành lập, hoạt động trên địa bàn hai tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một. Dân quân du kích các xã trong chiến khu được xây dựng thành hệ thống có chỉ huy thống nhất. Mạng lưới thông tin nhân dân hình thành. Phong trào làm hàng rào xung quanh xóm ấp, dọc sông Đồng Nai, làm vật cản trên sông phát triển. Công tác phòng gian, bảo mật, chống gián điệp bước đầu thực hiện có kết quả.


Công tác bảo đảm an toàn trong chiến khu còn bao gồm cả việc chống thú dữ, đặc biệt chống cọp Ba Móng. Cọp Ba Móng xuất hiện ở Chiến khu Đ sau trận đánh La Ngà. Đây là một con cọp rất tinh quái, lúc ẩn lúc hiện, lưu động liên tục trong khắp mọi góc rừng căn cứ. Ba Móng tấn công người bất kể ngày hay đêm, đang ngồi họp, làm việc, đi trên đường hay đang ngủ. Tính đến năm 1950, Ba Móng đã ăn thịt hơn 100 người. Sự hoành hành của Ba Móng gây nên tình trạng hoang mang, lo sợ và làm đảo lộn mọi sinh hoạt trong cản cứ. Nhân đó, dịch làm giả cọp Ba Móng để hù doạ tung tin thất thiết trong căn cứ địa. Ban căn cứ của Khu phải qui định chế độ sinh hoạt đặc biệt, phát động phong trào làm hàng rào chống cọp tấn công xung quanh nhà ở, hội trường, cơ quan làm việc. Các tổ diệt cọp được thành lập. Đến đầu năm 1950, Ban quân giới Khu dùng xác người chết làm mồi dưới có chôn mìn mới diệt được cọp Ba Móng.

 94 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:35:11 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Thông qua các hội nghị Cù Lao Vịt, Thiện Tân... vào giữa năm 1946, Xứ ủy lâm thời Nam Bộ, Tỉnh ủy Biên Hoà, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một xác lập sự lãnh đạo tuyệt đối đối với các đơn vị vũ trang trong chiến khu. Công tác xây dựng căn cứ từ đây được tiến hành dưới sự lảnh đạo thường xuyên của Đảng.


Trên địa bàn Chiến khu Đ, lực lượng vũ trang các tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một lần lượt được tổ chức lại, sát nhập các đơn vị nhỏ lẻ thành tổ chức chi đội với trang bị ngày càng đầy đủ hơn. Trình độ quản lý chỉ huy của cán bộ, trình độ kỹ chiến thuật và ý thức tổ chức kỷ luật của chiến sĩ được từng bước nâng dần lên. Các “Quận quân sự”, rồi “Ban công tác liên thôn”, thực chất là những tổ chức quân sự địa phương ra đời đã xây dựng và thúc đẩy lực lượng tự vệ chiến đấu, dân quân xã ấp phát triển. Phong trào tham gia kháng chiến trong nhân dân vùng căn cứ và vùng ven phát triển mạnh, hoà nhịp với phong trào trong toàn miền. Tất cả tạo thành mội phong trào chiến tranh nhân dân rộng và mạnh, tác động đến quá trình xây dựng và mở rộng của Chiến khu. Ý thức chuẩn bị thực lực mọi mặt để kháng chiến lâu dài được định hình một cách dứt khoát trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Công tác xây dựng căn cứ địa vì thế được tiến hành một cách chủ động.


Đến ngày toàn quốc kháng chiến, vùng rừng Tân Uyên đã trở thành một căn cứ kháng chiến nổi tiếng mà cán bộ, chiến sĩ thường gọi là Chiến khu Đ, trở thành một biểu tượng kháng chiến, chỗ dựa tinh thần trước hết cho nhân dân vùng tạm chiếm thành phố Sài Gòn, hai tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một và những khu vực kế cận. Sự hiện diện vững vàng của chiến khu là một trong những bước chuấn bị có “ý nghĩa quan trọng đặc biệt để quân và dân Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Khu 7 vững vàng bước vào thời kỳ mới - thời kỳ cùng cả nước kháng chiến.


Ngày 19 tháng 12 năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ! Thực dân Pháp mơ rộng chiến tranh xâm lược ra phạm vi toàn quốc. Xung quanh Chiến khu Đ, chúng co cụm lại, rút bớt đồn nhỏ, tăng cường lực lượng cơ động càn quét cấp tiểu đoàn. Đây là một trong những trọng điểm càn quét của lữ đoàn Lê dương thứ 13 quân viễn chinh.


Phối hợp với tiếng súng toàn quốc, các lực lượng vũ trang tại Chiến khu bung ra hoạt động mạnh ở vòng ngoài cùng với phong trào đánh giặc lên mạnh ở vùng du kích đẩy địch co lại ở những vùng tạm bị chiếm. Các cơ quan kháng chiến tỉnh, huyện, các cơ sở sản suất từ trong rừng sâu kéo ra đóng sát bìa rừng như Tân Hoà, Mỹ Lộc... Chiến khu Đ được nới rộng và mở thông về nhiều vùng xung quanh xuống Long Thành, rừng Sác, lên quốc lộ 13.


Công tác “sinh sản tự túc", xây dựng nền kinh tế kháng chiến, công tác văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao được chú trọng. Các báo như “Vệ quốc”, “Việt Nam”, “Tiếng rừng”, “Sứ mạng”... được phát hành rộng rãi không chỉ trong chiến khu mà kể cả thành phô Sài Gòn và nhiều vùng bị tạm chiếm khác. Các đội trinh sát tình báo trong và bìa chiến khu hoạt động bảo vệ căn cứ có hiệu quả. Phòng “Quốc dân thiểu số” Khu 7 thành lập. Các đội thiểu số vận đi sâu vào từng buôn sóc đồng bào dân tộc Ch’ro, S’tiêng gây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng buôn sóc chiến đấu.


Cùng với hoạt động xây dựng căn cứ bên trong, từ Chiến khu Đ các lực lượng vũ trang tiến ra ngoài đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch, nhất là đánh giao thông đồn bót. Nắm chắc qui luật hoạt động của địch, đưa lực lượng táo bạo luồn sâu, ém quân bí mật, phục kích bất ngờ ngay giữa ban ngày rồi nhanh chóng hành quân về căn cứ, Chi đội 10 Biên Hoà đã tổ chức thắng lợi hàng loạt trận đánh giao thông địch, thu kết quả cao không chỉ về ý nghĩa tiêu hao sinh lực địch, gây rối loạn hoạt động đi lại của chúng mà còn bồi dưỡng nhiều kinh nghiệm tốt cho ta. Đó là các trận Bảo Chánh 1, Bảo Chánh 2, Trảng Táo, Bàu Cá, Đồng Xoài. Tại trận Trảng Táo tháng 6 năm 1947, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư lâm thời Xứ ủy Nam Bộ đã trực tiếp đến quan sát trận đánh và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Chi đội 10 trong cuộc họp tổng kết rút kinh nghiệm.


Trận đánh giao thông vang dội nhất diễn ra trên quốc lộ 20 (Sài Gòn - Đà Lạt) quãng từ cầu La Ngà đến thị trấn Định Quán. Đêm ngày 25 rạng ngày 26 tháng 2 năm 1948, sau khi bố trí nghi binh tại các cửa rừng dẫn vào Chiến khu, Chi đội 10 Biên Hoà và Liên quân 17 Khu 7 bí mật rời khỏi Chiến khu Đ, vượt sông Bé, băng rừng trên quãng dường dài hơn 80 ki-lô-mét về La Ngà. Chiều ngày 1 tháng 3, đúng như dự kiến của ta, đoàn công voa chở phái đoàn cán bộ quân sự cao cấp của địch đi dự hội nghị tại Đà Lạt (chuẩn bị cho việc thành lập chính phủ Bảo Đại) lọt vào trận địa phục kích kéo dài 9km. Sau chưa đầy 60 phút chiến đấu, quân ta hoàn toàn làm chủ mặt đường, thiêu hủy 59 xe, diệt 150 tên lính Lê dương hộ tống, 25 sĩ quan trong đó có tên Đơ Sê-ri-nhê (De Serigne) đại tá chỉ huy bán lữ đoàn lê dương thứ 13 và tên Pa-ruýt (Paruist) đại tá phó tham mưu trưởng thứ nhất quân đội miền Nam Đông Dương.


Cay cú, Bộ chỉ huy quân sự Pháp ở Sài Gòn điên cuồng mở cuộc phản kích qui mô lớn vào Chiến khu Đ, nơi mà chúng biết chắc “lực lượng Việt Minh” tấn công trận La Ngà vừa từ đó ra đi và chưa kịp trở về. Dự đoán trước được ý đồ của địch và đã chuẩn bị sẳn phương án tác chiến, lực lượng vũ trang ở lại bảo vệ căn cứ đã dùng chiến thuật dụ địch phân tán ra khắp các nẻo rừng để phục kích, đột kích tiêu hao, vừa thực hiện kế hoãn binh chờ lực lượng Chi đội 10 và Liên quân 17 trở về phối hợp đánh địch. Quân địch buộc phải rút lui sau khi bỏ lại Chiến khu Đ hơn 100 xác lính.


Chiến thắng La Ngà gây một tiếng vang lớn trong cả nước, làm chấn động cả dư luận nước Pháp. Thắng lợi của trận đánh đánh dấu một bước phát triển quan trọng về chất của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ, đưa ra một mẫu mực về cách tổ chức trận đánh nối liền từ căn cứ địa tới chiến trường, phối hợp giữa việc lấy chiến khu làm nơi chuẩn bị, xuất phát, tiến công địch và bảo vệ an toàn căn cứ.


Sau trận La Ngà, đồng chí chỉ huy trưởng Chi đội 10 Biên Hoà được đề bạt lên Khu bộ phó Khu 7 và sau đó giữ chức Khu bộ trưởng. Đồng chí không về Chiến khu Đồng Tháp Mười mà ở lại Chiến khu Đ xây dựng căn cứ Khu. Một lần nữa, Chiến khu Đ trở thành nơi đứng chân của Bộ chỉ huy Khu 7.

 95 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:33:25 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
Do tương quan lực lượng không ngang sức, để bảo tồn củng cố lực lượng, các lực lượng kháng chiến dần dần rút ra vòng ngoài. Vùng rừng Tân Uyên trở thành hướng rút thuận lợi cho nhiều tổ chức kháng chiến và đơn vị vũ trang, trước hết thuộc địa bàn phía bắc và đông bắc vùng phụ cận Sài Gòn.


Một bộ phận gồm 40 người với 30 súng trường các loại do đồng chí Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy đã tách khỏi Ủy ban kháng chiến miền Đông (đang trên đường rút ra Xuân Lộc, Phan Thiết) về trụ lại vùng rừng Tân Uyên, hợp với tiểu đội vũ trang của đồng chí Trần Văn Quỳ xây dựng nơi đây thành căn cứ kháng chiến.


Tiếng lành đồn xa, nhiều lực lượng yêu nước từ các nơi khác cũng lần lượt kéo về xin gia nhập bộ đội Huỳnh Văn Nghệ. Đó là phân đội Ban tiếp tế miền Đông, các đơn vị tự vệ Tổng công đoàn Nam Bộc các tổ chức kháng chiến bị tan rã, công nhân từ các xương Ba Son, Đề-pô Dĩ An, BIF Biên Hoà... Lực lượng ngày càng đông, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ mở trường Quân sự tại Đất Cuốc nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về quân sự, chính trị cho các học viên. Học viên sau khi mãn khoá một bộ phận ở lại, một bộ phận khác toả về các xã làm nòng cốt cho du kích địa phương.


Ngay chưa đầy một tháng tập hợp lực lượng, bộ đội Huỳnh Văn Nghệ đã trở thành một lực lượng đông đảo, tổ chức thành 4 phân đội gọi là Vệ quốc đoàn Biên Hoà hoạt động chu yếu ở địa bàn xung quanh căn cứ thuộc quận Tân Uyên.


Đầu tháng 11 năm 1945, đồng chí Nguyễn Bình, một cán bộ có nhiều kinh nghiệm xây dưng căn cứ địa ở miền Bắc được Trung ương cử vào Nam Bộ. Trong khi đi nắm tình hình ở các chiến trường, đồng chí về Tân Uyên và qua khảo sát thực địa, đồng chí đã thảo luận với Ban chỉ huy Vệ quốc đoàn Biên Hoà về việc chọn khu vực Lạc An rừng Tân Uyên lập căn cứ địa cho toàn khu.


Ngày 10 tháng 12 năm 1945, thực hiện nghị quyết hội nghị Thiên Hộ (Cái Bè - Mỹ Tho, 25-10-1945), tại Đức Hoà (Gia Định), hội nghị quân sự toàn Nam Bộ được triệu tập dưới sự chủ toạ của đồng chí Hoàng Quốc Việt. Hội nghị đã thảo luận và quyết nghị về việc tổ chức chiến trường trên toàn Nam Bộ, chia Nam Bộ thành các khu 7, 8, 9, chỉ định khu trưởng và ủy viên chính trị khu, thảo luận biện pháp củng cố phát triển lực lượng vũ trang và xây dựng các căn cứ địa kháng chiến cho từng khu.


Khu 7 một tổ chức hành chính quân sự được chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Bình làm Khu bộ trưởng và đồng chí Trần Xuân Độ làm chính trị ủy viên Khu. Lạc An được chọn làm căn cứ địa của Khu 7.


Ngàv 17 tháng 12 năm 1945, cơ quan Khu bộ Khu 7 cùng với các bộ phận hậu cần trực thuộc về Tân Uyên xây dựng căn cứ đứng chân và hệ thống phòng thủ.


Cùng với cơ quan Khu 7 và Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Chi đội 1 - lực lượng Vệ quốc đoàn tỉnh Thủ Dầu Một - và nhiều đơn vị vũ trang khác từ miền Bắc, miền Trung, “Nam tiến” và trong toàn Khu cùng chuyển toàn bộ hoặc bộ phận về đóng ở Tân Uyên và vùng kế cận.


Vùng rừng Tân Uyên sau 2 tháng thực dân Pháp đánh rộng ra các tỉnh trở thành một trung tâm kháng chiến sôi động của tỉnh Biên Hoà, Thủ Dầu Một và toàn Khu 7. Hoạt động náo nhiệt ở chiến khu nhanh chóng thu hút sự chú ý của địch.


Sang đầu năm 1946, thực dân Pháp đưa quân đánh rộng ra vừa để tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và các đơn vị vũ trang, vừa để đóng đồn bốt chiếm đất giành dân, bảo vệ cơ sở chính trị kinh tế của chúng. Tân Uyên trở thành một trong những mục tiêu tấn công trước tiên. Từ giữa tháng 1 trở đi, chúng liên tục tổ chức các cuộc tàn công lên căn cứ Tân Uyên. Ngày 24 tháng 1, bằng cuộc tấn công quy mô lớn có phối hợp thuỷ lục không quân với hơn 4.000 tên, 4 máy bay, 4 tàu chiến và nhiều xe cơ giới, thiết giáp, thực dân Pháp chiếm được thị trấn Tân Uyên. Chúng lập 2 chi khu ở hai bên sông Đồng Nai khống chế chặt phía nam Tân Uyên.


Vấn đề xây dựng và bảo vệ căn cứ địa được đặt ra một cách cấp thiết.

Ngày 20 tháng 2, Khu bộ Khu 7 họp hội nghị bất thường tại Lạc An. Một trong những nội dung quyết nghị quan trọng của hội nghị là xây dựng địa bàn đứng chân, phân bố qui định các khu vực, bố trí hệ thống phòng thủ nhiều tầng, nhiều vùng bảo đảm chiến đấu ngăn chặn địch, bảo vệ an toàn căn cứ. Trung đội “bộ đội danh dự gương mẫu” được thành lập làm nhiệm vụ nghi thức và lưu động kháng chiến bảo vệ các cơ quan khu. Toàn bộ vùng căn cứ địa được chia thành nhiều khu vực, mỗi khu vực được gọi theo mật danh A, B, c... Đ là vùng Hố Ngãi Hoang, nơi đứng chân của “Tổng hành dinh” Khu 7.


Chiến khu Tân Uyên từ đây được đặt vấn đề xây dựng và bảo vệ một cách có hệ thống. Danh từ chiến khu Đ ra đời được gọi luôn cho cả vùng căn cứ lấy đây làm điểm cốt để ngày càng mở rộng lên mãi.


Trong buổi đầu kháng chiến còn nhiều ngỡ ngàng lúng túng và đầy rẫy những khó khăn thử thách, sự lãnh đạo của Đảng chưa xuống đến cơ sở và chưa bám sát thường xuyên phong trào, sự ra đời của Chiến khu Đ là sự đáp ứng tất yếu của yêu cầu đặt ra cháy bỏng lúc bấy giờ, biểu thị tính năng động và ý thức nhìn xa, chuẩn bị thực lực để kháng chiến lâu dài của các cán bộ kháng chiến miền Đông Nam Bộ, trong đó có vai trò quan trọng của các đồng chí Nguyễn Bình và Huỳnh Văn Nghệ và Trần Văn Quỳ.


Sau Hiệp định Sơ bộ 6 tháng 3, tại Nam Bộ, thực dân Pháp không chịu thi hành hiệp định, âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi nước Việt Nam. Đối với Chiến khu Đ, chúng rút bớt các đồn lẻ, tập trung củng cố chi khu và các đồn chính bao xung quanh, đặc biệt ven sông Đồng Nai và đường đá xanh 16. Mặt khác, tổ chức các cuộc tấn công liên tục với qui mô lớn vào trung tâm chiến khu, đặc biệt trong 2 cuộc càn ngày 25 tháng 3 và 18 tháng 4 địch huy động tổng cộng 13.000 lượt quân do đích thân tướng Lơ-cléc chỉ huy.


Sau trận càn ngày 18 tháng 4 (kéo dài đến ngày 22-4) của địch, các lực lượng kháng chiến trong căn cứ trong điều kiện phải đương đầu với lực lượng đối địch lớn mạnh gấp bội, lại thiếu kinh nghiệm trụ bám chống càn, sau một thời gian phân tán đánh tiêu hao quân địch đã buộc phải phá vây rút ra vòng ngoài. Từ đây cơ quan Khu bộ Khu 7 dời về “quân khu Đông Thành”, các cơ sở hậu cần của Khu nhập vào lực lượng Vệ quốc đoàn Biên Hòa tiếp tục ở lại xây dựng căn cứ địa, quyết tâm trụ bám, chuẩn bị thực lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài.

 96 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:31:27 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
CHIẾN KHU Đ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Hồ Sơn Đài


Danh từ Chiến khu Đ ra đời vào cuối tháng 2 năm 1946. Đ là mật danh nhằm chỉ căn cứ của “Tổng hành dinh” Khu 7 tại vùng rừng Tân Uyên, nằm trong hệ thống các căn cứ được xếp gọi theo thứ tự các chữ cái A, B, C... Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn còn nhiều người bàn cãi và đề xuất nhiều cách giải thích lai lịch khác nhau. Như Đ là chữ cái đầu viết tắt địa danh Đất Cuốc (xã Tân Hoà, huyện Tân Uyên), nơi bộ đội Huỳnh Vản Nghệ khởi cứ đầu tiên, tập hợp lực lượng, mở trại huấn luyện ngay trong ngày đầu kháng chiến. Đ là chữ cái viết tắt từ Chiến khu Đỏ, chiến khu Đảng nhằm chỉ tính chất cách mạng của chiến khu để phân biệt với căn cứ một số ít lực lượng vũ trang không cách mạng lúc bấy giờ. Đ là chữ cái đầu của tên gọi Chiến khu miền Đông, Chiến khu Đồng Nai, chiến khu Đầu tiên... Dù có nhiều cách giải thích khác nhau, trong thực tế danh từ Chiến khu Đ nhằm chỉ một vùng căn cứ rộng lớn ở miền Đông Nam Bộ đã đi vào lòng mỗi cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở đây, cũng như những người chưa từng một lần đặt chân tới như là một biệt ngữ không còn đơn thuần mang ý nghĩa địa danh, mà biểu tượng của cách mạng, cho kháng chiến.


Chiến khu Đ nằm trên triền rừng bạt ngàn thoải từ chân cao nguyên miền trung và nam Tây Nguyên xuống giáp giới với các đô thị lớn như Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Sài Gòn. Khởi từ hạt nhân 5 xã Tân Hoà, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An (thuộc huyện Tân Uyên tỉnh Bình Dương ngày nay), cùng với quá trình phát triển của cuộc kháng chiến, Chiến khu không ngừng được mở rộng, lấy đường 16 về phía tây và sông Đồng Nai về phía nam làm ranh giới để ngày càng phát triển lên phía bắc và đông bắc, chiếm giữ một vùng đất đai rộng lớn trên toàn chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ.


Địa hình Chiến khu Đ chủ yếu là vùng bán bình nguyên, rừng và đồi liên tiếp nối nhau ngút ngát. Hệ thống đồi núi được phủ xanh bằng rừng cây nhiều tầng, những tuyến hào phòng thủ thiên nhiên do hàng ngàn sông suối thuộc lưu vực sông Đồng Nai tạo nên, hàng chục đường giao thông chiến lược và chiến thuật bao quát và đan cắt trong lòng chiến khu đã tạo cho Chiến khu Đ một thế đặc biệt lợi hại về mặt quân sự. Lại nữa, Chiến khu Đ ở vào vị trí gạch nối giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng đông dân cư và các đô thị lớn, là một trạm trung chuyển không thể thay thế từ miền Bắc vào miền Đông Nam Bộ và ngược lại. Cư dân lâu đời ở Chiến khu Đ chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa, công nhân các đồn điền cao su và nông dân sông dọc triền sông suối. Họ là một trong những cộng đồng khu vực có truyền thống bất khuất, phong trào  cách mạng sớm và mạnh, thành một dòng chảy nổi bật ngay từ đầu thế kỷ 20.


Ưu điểm về địa lý tự nhiên, quân sự và nhân văn là những nhân tố cắt nghĩa nơi đây sớm trở thành một căn cứ cách mạng quan trọng ngay trong quá trình vận động tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945.


Mùa thu năm 1940, Ban Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ lãnh đạo hướng tất cả các cuộc đau tranh lẻ tẻ vào phong trào chống chiến tranh đế quốc, chống đế quốc Pháp và tay sai, chuẩn bị điều kiện tiến tới khởi nghĩa. Tỉnh ủy Biên Hòa bí mật xây dựng một đơn vị vũ trang do đồng chí Huỳnh Liễn chỉ huy, gồm 35 người với vài khẩu súng trường. Đơn vị đã lấy vùng rừng Tân Uyên làm một trong những căn cứ hoạt động, tập luyện, phát triển lực lượng.


Đêm 22 rạng ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ làm rung chuyển toàn bộ vùng nông thôn sát các đô thị. Từ căn cứ Tân Uyên, đội vũ trang Biên Hoà tỏa về các địa phương trong quận Tân Uyên - quận được chí đạo thí điểm trong khởi nghĩa làm nòng cốt trong lực lượng quần chúng tiến hành khởi nghĩa.


Do kế hoạch bị lộ từ trước, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại. Thực dân Pháp điên cuồng khủng bố bắn giết các chiến sĩ cách mạng. Tại Tân Uyên, hàng loạt cơ sở Đảng bị vỡ. Đồng chi Huỳnh Liễn hy sinh, các đồng chí khác như Lê Văn Tôn, Nguyễn Hồng Kỳ bi địch bắt đày đi Côn Đảo. Phong trào cách mạng đứng trước thử thách to lớn. Trước sự truy lùng gắt gao của địch, bộ phận còn lại của đơn vị vũ trang tỉnh tập hợp lại thành một tiểu đội do đồng chí Trần Văn Quỳ (Chín Quỳ) chỉ huy rút sâu vào vùng rừng căn cứ cũ ở Tân Uyên để bảo tồn lực lượng và từng bước khôi phục xây dựng lại phong trào.


Cuối năm 1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa. Xứ uỷ Nam Kỳ chủ trương chọn Tân Uyên, xây dựng thành một trong những căn cứ địa để in ấn sách báo, cất giấu vũ khí, huấn luyện cán bộ và lực lượng vũ trang, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa ở Sài Gòn. Thực hiện chủ trương này, một số nhóm cán bộ đã về Tân Uyên chọn địa điểm xây dựng căn cứ địa. Tại Đất Cuốc, công việc xây dựng căn cứ bước đầu được triển khai. Đến ngày Nhật làm đảo chính (9-3-1945), công việc này bị ngưng lại vì cán bộ xây dựng căn cứ quay trở về Sài Gòn nhận nhiệm vụ khác theo yêu cầu cách mạng trong tình hình mới.


Vậy là, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng rừng Tân Uyên đã là một trong những căn cứ địa cách mạng của tỉnh Biên Hòa và Xứ ủy Nam Bộ. Sự kiện này kết hợp với những ưu điểm đã trình bày trên đã tạo thành yếu tố tiền đề quan trọng để vùng rừng Tân Uyên nhanh chóng trở thành một căn cứ địa kháng chiến ngay sau ngày thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.


Tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, chính thức xâm lược nước ta một lần nữa. Sau một tháng bị vây hãm trong thành phố Sài Gòn, cuối tháng 10 năm 1945, có thêm viện binh, Bộ chỉ huy quân đội Pháp quyết định phá vòng vây đánh rộng ra chiếm các đô thị, vùng kinh tế quan trọng và các đường giao thông chiến lược. Biên Hòa, Thủ Dầu Một trở thành một trong những hướng đánh chiếm đầu tiên của chúng. Từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 1945, lần lượt, tỉnh lỵ Biên Hòa, Thủ Dầu Một rơi vào tay quân Pháp.

 97 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 07:26:43 PM 
Tác giả quansuvn - Bài mới nhất gửi bởi quansuvn
PHỤ LỤC


DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY CHI ĐỘI 1

1.Ban Chỉ huy Chi đội:



2. Cơ quan và các đại đội:



DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN 301

1.Ban Chỉ huy Trung đoàn:


2.Các tiểu đoàn:



DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO CHỈ HUY CHI ĐỘI 10


1.Ban Chỉ huy Chi đội:


2.Cơ quan và các đại đội:



DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY TRUNG ĐOÀN 310

1.Ban Chỉ huy Trung đoàn:


2.Các tiểu đoàn:



DANH SÁCH CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, CHỈ HUY LIÊN TRUNG ĐOÀN 301-310

1.Ban Chỉ huy Liên trung đoàn:



2.Tiểu đoàn 302:


 98 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:47:31 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Đôi điều về MiG-17 được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam

        Thời kỳ này, MiG-17 đã được coi là "out of date", vì chúng quá cổ. Nói rộng ra một chút, thời kỳ không chiến trên bầu trời miền Bắc Việt Nam đã xuất hiện những mâu thuẫn Liên Xô và Trung Quốc. Trước năm 1960, Liên Xô viện trợ ồ ạt cho Trung Quốc, làm kỹ thuật Trung Quốc phát triển với tốc độ đại nhảy vọt. Đến 1960, người Trung Quốc đã chế tạo được MiG-19 và đang hoàn thiện việc chế tạo MiG-21, máy bay chiến đấu trên không hiện đại nhất của Liên Xô hồi đó. Như vậy, từ một nước hết sức lạc hậu năm 1949, chỉ trong vòng 10 năm, Trung Quốc đã sản xuất được những máy bay chiến đấu hàng đầu thế giới.

        Nhưng do những cuộc đấu tranh giành quyền lực nội bộ, người Trung Quốc đột nhiên quay sang đối đầu với Liên Xô, nhằm đánh bại những thế lực của các nhà kỹ thuật mới xuất hiện. Người Trung Quốc đã thay thời kỳ phát triển nhảy vọt trước 1960 thành kế hoạch "Đại nhảy vọt" và những kế hoạch khác, phá hoại gốc rễ nền tảng kinh tế và kỹ thuật, tạo thời kỳ bế tắc kỹ thuật kéo dài 30 năm. Do mâu thuẫn này, mà Liên Xô không thể viện trợ những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất cho Việt Nam, tránh thất thoát kỹ thuật sang Trung Quốc, vốn rất thân thiện với Việt Nam. Thậm chí, Liên Xô cử chuyên gia sang trực tiếp sử dụng khí tài hiện đại. Có thể lấy ví dụ nhỏ: khi cần hiệu chỉnh tên lửa SAM-2, đích thân Đại sứ Liên Xô phải ra lệnh tháo đầu dẫn đường làm ngay trên Việt Nam, còn chuyên gia yêu cầu mang về Nga, sẽ làm lỡ chiến trận.

        Tuy được Liên Xô viện trợ những kỹ thuật tối tân hồi những năm 1950, nhưng thời kỳ này Trung Quốc tỏ ra chưa có kinh nghiệm chiến đấu bằng máy bay. Những máy bay chiến đấu phản lực Trung Quốc đến 28-10-1958 đại bại trước Đài Loan. Đã bại trong chiến đấu, người Trung Quốc lại tỏ ra không kiên trì dũng cảm phát triển chiến thuật và bế tắc kỹ thuật, không tìm được phương thức chiến đấu hiệu quả. Trước khi những chiến công của Không Quân Việt Nam diễn ra, người Trung Quốc đã vài lần bị Mỹ bắn hạ trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ mà phải bó tay, không trả đòn được gì. Sự thật là do trận đánh ngày 28-10-1958, Đài Loan sử dụng vũ khí mới là tên lửa có điều khiển, loại hướng hồng ngoại AIM-9, đánh các MiG-15 Trung Quốc.

        Để đối phó, một mặt, Trung Quốc đã dừng hoàn toàn các cuộc chiến đấu trên không, mặt khác, họ huy động một lượng người khổng lồ, rà quét từng đề-xi-mét vuông vùng diễn ra trận đánh. Những người được huy động thu thập từng mẩu vũ khí rơi xuống trong một vùng vài trăm ki-lô- mét vuông. Trung Quốc tìm được một vài mảnh đuôi tên lửa và rất may mắn, họ đã tìm được một tên lửa cắm vào máy bay mà không nổ (chiếc máy bay này cố gắng hạ cánh nhưng không được). Các đầu dò và phần điện tử được Trung Quốc tháo ra giữ lại, rồi chuyển tên lửa sang Liên Xô yêu cầu phân tích giúp đõ. Người Liên Xô từ đó chế tạo ra R-13, tên lửa dùng trên MiG-21, rất giống AIM-9. Mãi đến tận cuối thế kỷ 20, giới quân sự phương Tây cũng không biết tại sao thiết kế AIM-9 lại thất thoát. Trung Quổc giữ lại phần điện tử để hy vọng có được tên lửa tốt hơn Liên Xô sau này. Do quá dễ dàng có được kỹ thuật cao, người Trung Quốc nghĩ rằng, dễ dàng sở hữu kỹ thuật đó. Thực tế cho thấy, 30 năm sau họ vẫn chưa thể chế tạo được các đầu dò hồng ngoại tốt.

        MiG-17 đã bắt đầu tham chiến trong bối cảnh như thế. Đó là những máy bay phản lực đầu tiên Không quân Việt Nam sử dụng đánh lại không quân Mỹ. Không quân Việt Nam được rèn luyện hết sức chu đáo, chiến đấu dũng cảm và sáng tạo, ngay từ đầu đã chứng tỏ ưu việt. Máy bay MiG-21 vẫn là máy bay thế hệ sau, thời cuối chiến tranh năm 1970- 1972, các MiG-17 đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình trong không chiến. Tuy nhiên, MiG-17 để lại ấn tượng lớn, do khả năng hết sức linh hoạt của nó và đặc biệt là một loại máy bay cổ lỗ đã chiến thắng nhiều máy bay hiện đại Trung Quốc và Triều Tiên cũng cử những đơn vị không quân chiên đấu tiên tiến nhất sang Việt Nam để học tập kinh nghiệm. Tuy nhiên, họ chiến đấu kém, tổn thất nặng nề, hầu như không giúp gì được cho Không Quân Việt Nam. (Nghĩa trang Liệt sĩ Phi công Triều Tiên ở Bắc Giang là một chứng tích như thế).

        MiG-17 được nhân dân và phi công Việt Nam yêu mến gọi tên là "én bạc". Máy bay cổ đến mức gọi là "out of date" được phi công Việt Nam sử dụng xuất sắc, nhiều lần bắn hạ loại F-4 không chiến, máy bay hiện đại nhất của Mỹ. Họ tìm được những ưu thế của súng, làm cho Mỹ phải cải tiến F-4, trang bị trở lại súng mà trước đây F-4 đã bỏ.

        Cuộc chiến của Không Quân Việt Nam kéo dài, qua nhiều thăng trầm, nhiều thời kỳ khó khăn, nhưng người Việt Nam không ngừng sáng tạo, đưa ra và thử nghiệm nhiều chiến thuật mới. Người Mỹ cũng liên tiếp sáng tạo chiến thuật và vũ khí.

 99 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:46:47 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Về động cơ của MiG-17

        Các loại máy bay từ MiG-9 đến MiG-19 sử dụng nhiều loại động cơ. Các động cơ này có ba nguồn gốc. Dòng động cơ đầu tiên được sản xuất lớn là RD-20, RD-21. Đây là động cơ sao chép và cải tiến từ động cơ phản lực Đức trong chiến tranh BMW-003. Động cơ này dễ chế tạo, nhưng lực đẩy nhỏ (dưới một tấn) và tuổi thọ thấp. Loại này có máy nén dọc trục nhiều tầng. Áp suất đốt từ 3atm-4atm, buồng đốt hình trụ có lưới cách nhiên lỗ nghiêng.

        Loại động cơ áp dụng nhiều nhất là RD-45, sau được mở rộng thành VK-1. Ban đầu, Liên Xô đặt hàng nhà thiết kế Nene, hãng Rolls-Royce, Anh Quốc thiết kế và chế tạo động cơ cho máy bay chiến đấu. Hai sản phẩm là Nene-1 và Nene-2. Tiếp sau Liên Xô mua bản quyền chế tạo. Nhưng sau đó, chiến tranh lạnh xuất hiện, buộc Liên Xô phải tự sản xuất theo mẫu Nene và mở rộng. Đây là loại động cơ có một tầng máy nén ly tâm, áp suất đốt 4atm. Buồng đốt ưu việt hơn hẳn các loại động cơ khác.

        Bay lần đầu ở mẫu thử máy bay MiG-15 I-310 S-2, ngày 27 tháng 5 năm 1948. Loại động cơ Liên Xô cải tiến đầu tiên là RD-45F, lực đẩy 2270kg, năm 1948 (thực chất, chỉ là Nene-1 vẽ lại theo các đơn vị đo lường Liên Xô, Nene-2 cũng không khác gì nhiều). I-310 (máy bay thử nghiệm MiG-15) có ba bản, S-l dùng Nene-1, S-2 dùng RD-45 và S-3 dùng Nene-2. Động cơ 2700kg VK-1 được sử dụng cho MiG-15bis để nâng cao tính năng máy bay khi chiến tranh lạnh bắt đầu. Động cơ VK-1A năm 1952 lực đẩy 3.200kg. Động cơ VK-1F năm 1954 có đốt lần hai lực đẩy 3.700kg. VK có áp suất đốt trung bình trên RD một chút.

        Loại động cơ do Liên Xô tự phát triển từ năm 1938 Lyulka TR-1 được trang bị lần đầu cho MiG-9. Động cơ TR-3 trang bị cho máy bay I-350. các loại động cơ này chỉ được sản xuất thử nghiệm, không đạt độ tin cậy. Chỉ đến MiG-25, hậu duệ của chúng là R-15 mới được sản xuất lớn. Loại động cơ này có lượng gió thông qua lớn, máy nén đồng trục số tầng nén thấp và tốc độ vòng quay cao. Sau này, hãng Lyulka là nhà cung cấp chính động cơ cho máy bay chiến đấu Liên Xô và Nga.

        Tất cả các động cơ trên đều là động cơ phản lực tuôc- bin (turbine) một luồng khí Turbojet. Các máy bay cánh xuôi sau Liên Xô gặp nhiều vấn đề về động cơ. Ví dụ như AM-5 ra đời rất chậm là nhiều máy bay sử dụng nó bị đình hoãn, trong đó có các phương án hai động cơ của MiG-17. Điều này thể hiện giới hạn của động cơ kiểu Nene. Sau này, Turmasky chế tạo động cơ hai trục lồng nhau R-ll, máy bay chiến đấu Liên Xô mới có động cơ ổn định, bắt đầu từ MiG-21. Kết cấu này ngày nay thường được dùng làm lõi của các động cơ máy bay chiến đấu.

        Một vấn đề nữa hạn chế dòng máy bay cánh xuôi sau, là hiện tượng chấn động cửa hút gió khi máy bay gần tốc độ âm thanh. Ở tốc độ này của máy bay, gió trong cửa hút có tốc độ cao hơn, đạt tốc độ âm thanh. Sóng âm chuyển động bằng vận tốc của gió, xuất hiện tình trạng tích lũy năng lượng và nổ gây chấn động, làm tắt hoặc hỏng động cơ. Loại MiG-15 đã gặp rất nhiều tai nạn do dừng đột ngột động cơ khi bổ nhào mà mãi sau này mới giải thích được nguyên nhân. Các máy bay trên thế giới sau đó khắc phục bằng cửa hút gió hẹp gấp khúc, như MiG-21, SU-22 hay SR-71. Máy bay MiG-17 cũng gặp trở ngại này nhiều hơn, do vẫn dùng cửa hút gió của MiG-15 và tốc độ cao xấp xỉ tốc độ âm thanh.

 100 
 vào lúc: 30 Tháng Mười Một, 2019, 05:46:17 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Về đặc điểm cánh xuôi sau và nhiệm vụ?

        Không phải chỉ riêng MiG-17 có cánh xuôi. Trong dòng máy bay MiG, ba loại MiG-15, MiG-17 và MiG-19 cùng trong lớp máy bay cánh xuôi sau đuôi ngang treo cao. Chúng ra đời ở giai đoạn các máy bay trên thế giới tăng tốc độ do các nhà kỹ thuật cải tiến động cơ phản lực.

        Trước MiG-15, máy bay MiG-9 được coi là kiểu trung gian giữa phản lực và cánh quạt, step mode. MiG-9 có vị trí động cơ, trọng tâm và các cánh khí động tương tự như các máy bay cánh quạt. Máy bay cánh xuôi sau phát triển tốc độ từ 900km/h đến 1900km/h. Sau đó, các máy bay cánh tam giác và các tứ giác có tốc độ từ xấp xỉ М2 và cao hơn nữa. Các máy bay MiG-15, MiG-17 và MiG-19 chỉ khác nhau một chút về hình dáng cánh. Đuôi ngang càng ngày càng thấp xuống từ MiG-15 đến MiG-19, theo phát triển tốc độ tăng lên.

        MiG-15 và MiG-17 là các máy bay đánh chặn (interceptor). Trong cơ cấu máy bay Liên Xô và Đức hồi thế chiến 2, đây là các máy bay chuyên nghiệp không chiến, nhỏ, linh hoạt và có số lượng lớn. Nó đánh mọi thứ bay trên trời. Ngày đó, chiến đấu trên không cần những máy bay gọn nhẹ để linh hoạt hỗn chiến (dogfight). Cũng vì yêu cầu gọn nhẹ, nên các máy bay đánh chặn kém khả năng mang bom, và cần hai loại máy bay riêng, ném bom bổ nhào và đánh chặn. Chỉ đến khi kỹ thuật điện tử phát triển, việc không chiến cần những máy bay to mang vũ khí khí tài lớn, thì máy bay không chiến và ném bom bổ nhào Liên Xô mới hòa vào nhau, trong dòng MiG là chiếc MiG-23.

        Người Mỹ chế tạo những mẫu máy bay vừa không chiến, vừa tấn công mặt đất được. Từ mẫu ban đầu đó, họ chế tạo những loại đa năng thiên về từng nhiệm vụ, gọi là máy bay chiến đấu fighter. Do đó, cơ cấu máy bay Mỹ rất ít máy bay chiến đấu chuyên nghiệp interceptor. Đừng cho rằng máy bay MiG-17 tốc độ chậm, không thỏa mãn nhiệm vụ chiến đấu với máy bay không chiến. Thực tế, MiG-17 trở thành máy bay không chiến chủ lực của Liên Xô vào thời của nó. Lúc đó là thời kỳ động cơ phản lực tiến bộ rất nhanh, có nhiều loại máy bay nghiên cứu thử nghiệm tốc độ cao hơn, nhưng so sánh với các máy bay chiến đấu được trang bị thực tế lúc đó thì MiG-17 là một trong những máy bay nhanh nhất.

        Tuy nhiên, giống như các máy bay thời kỳ động cơ phát triển chóng mặt, thời của MiG-17 không kéo dài. Cách cơ cấu của Liên Xô và Đức có một nhược điểm là cần đội máy bay rất đông, nhưng số máy bay có khả năng làm một nhiệm vụ cụ thể lại ít. Ưu điểm của cơ cấu này là tính năng của máy bay chiến đấu chuyên nghiệp mạnh và rẻ, nên sản xuất được nhiều. Cơ cấu máy bay này xuất hiện từ những kinh nghiệm chiến trường của chiến tranh Tây Ban Nha, đạt tỷ lệ và số lượng máy bay chiến đấu lớn trong chiến tranh Xô - Đức thuộc thế chiến 2, phục vụ cho những chiến dịch quân sự lớn hồi đó.

        Các máy bay phản lực được sản xuất nhiều nhất đến nay là ba loại máy bay loại không chiến chuyên nghiệp tầm ngắn Liên Xô MiG-15, MiG-17, MiG-21. Máy bay MiG-19 không gặp may, máy bay hai động cơ này dựa vào một loại động cơ phát triển quá chậm, trong thời kỳ kỹ thuật phát triển chóng mặt, khi đủ điều kiện chế tạo hàng loạt thì MiG- 21 đã xuất hiện. Vì vậy, MiG-19 ở Liên Xô không được sản xuất nhiều như các MiG khác, mà được sản xuất nhiều ở Trung Quốc và một vài nước. Việt Nam chỉ có loại MiG-19

        Trung Quốc, có phần kém tính năng so với nguyên bản, cũng tham chiến ở Việt Nam nhưng kết quả chung rất thấp. MiG- 21 là máy bay trung gian còn MiG-15 và MiG-17 là những máy bay hỗn chiến (dogfight) bằng súng điển hình.

        Trong phát triển, MiG-15 và MiG-17 được trang bị radar phục vụ mục tiêu chiến đấu mọi thời tiết, nhưng radar hồi đó yếu. MiG-17 có khả năng ngắm bắn bằng radar nhưng trên tực tế, hầu như phụ thuộc vào mắt phi công.

        Về thử nghiệm chế tạo và phân loại MiG-17?

        Mikoyan chế tạo song song hai loại máy bay, một động cơ và hai động cơ cánh xuôi sau. Máy bay một động cơ bắt đầu từ I-310, chính là MiG-15. Mẫu thử nghiệm SI (hay là I- 330) được đưa vào sản xuất với tên gọi MiG-17 có một động cơ. Ký hiệu SI chỉ rằng máy bay cải tiến thân so với MiG-15 ( các mẫu thử ký hiệu S). Máy bay được thiết kế trong năm 1949, song song với máy bay MiG-15bis (máy bay MiG-15 dùng động cơ mới). I-330 mang động cơ V.Klimov VK-1. Vũ khí tương tự MiG-15, gồm 3 súng, một khẩu 37mm và 2 khẩu 23mm. Mẫu thử nghiệm đầu tiên cất cánh ngày 13 tháng giêng 1950, đây là máy bay chiến đấu đầu tiên của Liên Xô vượt âm thanh, đạt tốc độ 1,03 lần tốc độ âm thanh, rơi tháng 3 năm đó. sản xuất hàng loạt bắt đầu từ tháng 6 năm 1950. Máy bay một động cơ được chọn sản xuất do mẫu thử I-340 hai động cơ AM-5, mà động cơ này rất chậm phát triển. Sau này, I-340 được cải tiến thành I-360 và thành MiG-19. Dòng máy bay hai dòng máy bay hai động cơ bắt đầu từ I-320, bố trí hai động cơ bậc thang theo chiều dọc, cái này trước cái kia, cái trước đặt dưới. Đến I-240 mới lắp hai động cơ ngang nhau.

        Máy bay I-350 (M-l, M-2, MT) dùng động cơ Lyulka TR-3A (AL-5) lực đẩy 4700kg, thiết kế giữa năm 1950, bay năm 1951. Máy bay có ba biến thể, M-l, M-2 và MT. máy bay có cánh xiên sau hơn I-330, đạt 55 độ. Thân dài hơn và có gờ cánh, tăng cường ổn định ở tốc độ cao. Tốc độ cao hơn MiG-17 I-330 một chút, vượt âm khi bay ngang độ cao thấp. Máy bay rỗng nặng 6124kg, trọng lượng cất cánh thông thường 8170kg. M-l dùng radar Izumrud(lắp môi trên cửa hút gió) còn M-2 dùng radar Korshun (lắp giữa cửa hút gió). MT là máy bay huấn luyện hai chỗ ngồi, nhưng không được chế tạo. Ngày 16-6 năm 1951, máy bay bay chuyến đầu, chuyến thứ 5 kết thúc tháng 8 và chương trình dừng. Nguyên nhân không thể hoàn thiện hệ thống cung cấp nhiên liệu cho động cơ. Ngay lần thử đầu tiên, máy bay đã hỏng động cơ, hệ thống thủy lực dừng theo, phi công thử nghiệm suất sắc Grigory Sedov cứu được máy bay. Do yêu cầu của bác sĩ, A.I.Mikoyan được thông báo là thử nghiệm thành công cho đến khi ông khỏi bệnh. Động cơ được thiết kế lại với tên TR- 3A, nhưng vẫn không đạt yêu cầu.

        SP-2, máy bay sử dụng radar tìm kiếm tiên tiến Korsun (Kite), các biến thể khác chỉ có radar ngắm bắn. Bỏ súng 37mm, năm 1951. sản xuất với số’ lượng hạn chế. MiG- 17PM (PFU) mang tên lửa R-5, đây là loại tên lửa tầm quang, dùng đèn chiếu quan học dẫn đường. Loại tên lửa này chỉ dùng trong thời gian ngắn. Các máy bay MiG-15, MiG-17 và MiG-19 có 3 cấu hình radar. Cấu hình đầu tiên là không radar, loại thứ hai có một radar ngắm bắn giữa cửa hút gió. Loại nữa mang radar tìm kiếm ở môi trên cửa hút gió hoặc mang cả radar tìm kiếm và radar ngắm bắn sử dụng chung một màn hình. Radar của MiG-17 nhỏ và yếu, trong chiến tranh Việt Nam, một phi công chiến đấu đêm đã phải bỏ radar bắn mắt thường theo đèn máy bay địch. Nguyên nhân là hai máy bay địch tiến lại gần nhau rồi tách, làm máy tính tương tự của radar bị treo.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM