Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Hai, 2020, 09:14:51 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 91 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:16:12 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

XXII

        Nói thật ra thì An-đơ-rây có phần thất vọng sau khi nói chuyện với các đại diện của trung tâm bí mật. Anh chờ đợi một cái gì to lớn. Anh muốn được thực sự đấu tranh, được chấp hành những nhiệm vụ phức tạp, có nguy hiểm, anh mơ ước những sự nghiệp anh hùng. Thế mà người ta lại đề nghị anh làm một việc đơn giản nhất: giúp bọn xanh tiêu khiển. An-đơ-rây không nhìn thấy lợi ích đặc biệt của việc này. Thôi được, anh sẽ tham gia « những trận đấu quyền Anh ». Anh sẽ đem hết sức lực và hiểu biết của mình ra giành thắng lợi. Chỉ có thế thôi. Và không còn gì hơn nữa. Chẳng có nguy hiểm. Cũng chẳng có đấu tranh. Kể ra cũng có mạo hiểm. Bọn xanh cũng có thể phát khùng lên và làm cho anh phải vào lò thiêu xác. Nhưng chẳng ai được đảm bảo không phải vào lò thiêu xác. Như thế là người ta đã trao cho anh vai trò một thằng hề. Trong khi ấy anh lại đang chờ đợi...

        Nhưng dù sao, nhiệm vụ vẫn là nhiệm vụ. Mà nhiệm vụ thì phải hoàn thành. Hơn nữa, chỗ nào An-đơ-rây cũng thấy các đồng chí quan tâm chăm lo đến mình. Anh được chuyển sang một công việc nhẹ nhàng nhất: anh trở thành người thường trực chính thức trong khối. Nhiệm vụ của anh hoàn toàn không có gì đáng kể : giữ cho trong khối sạch sẽ, ngăn nắp. Buổi sáng anh em đi làm việc, An-đơ-rây quét sàn, cọ sàn bằng bàn chải, rửa các bàn ăn, đánh thật bóng các thùng đựng xúp, ấm đun nước và có thế nghỉ ngơi một hai giờ.

        Ngay hôm đầu An-đơ-rây đã luyện tập. Nhưng nào có ra luyện tập? Nhà thể thao đói khát, kiệt quệ phần nhiều chỉ cố giữ cho mình khỏi mệt quá mức. Trong hoàn cảnh ăn uống tồi tệ như thế này thì bị mệt quá mức có thể biến ngay thành tập quá sức. Mà tập quá sức thì có nghĩa là bị loại khỏi vòng chiến đẩu. Vì thế, sau mỗi buổi tập, An-đơ- rây đều lau mình bằng nước ẩm và nằm ngủ thiếp đi chừng một giờ, một giờ rưỡi. Theo kinh nghiệm của chính mình, An-đơ-rây biết rằng giấc ngủ lấy lại sức lực. Nhưng ngoài việc ngủ, cơ thể còn đòi hỏi phải có dinh dưỡng tốt. Nhưng tình hình ăn uống lại hoàn toàn chẳng có gì sáng sủa. Thật ra, ngày nào anh em cũng kiếm thêm cho An-đơ-rây một suất bánh mì và một bát xúp cải củ, nhưng cảm giác bị đói vẫn cứ là bạn đường trung thành của chàng võ sĩ.

        Đã là tháng chín. Mùa thu ở nước Đức có nắng, khí trời ấm áp. Những đám mây thưa thớt rập rờn trên trời, mạng nhện bay trong không khí. Anh em cảm thấy hơi thu đặc biệt rõ ràng sau dây thép gai của trại tập trung, có nhợt nhạt nhú ra ở vài chỗ qua kẽ đá và nhựa đường. Vài cây sồi hiếm hoi gầy hẳn đi, những chiếc lá vàng nhạt hiện ra trong những tán lả xanh xẫm. Những chiếc lá vàng ấy xuất hiện đột ngột, trong một đêm, như những sợi tóc bạc. Hình như những điều khủng khiếp trong trại tập trung cũng không tha những cái cây.

        An-đơ-rây thường hay ngắm những dũng sĩ hùng vĩ của rừng : những cây dẻ gai và những cây du. Những cây đó làm anh nhớ tới miền Nam, miền Trung Á thân yêu. Tại đấy, ở nhà, trong những ngày oi bức, anh thích nghỉ dưới những cây tiêu huyền hay diệp du lá to. Thời ấy thật là xa xôi !

        Có một cái cây : một cây sồi già to chắc, được mọi người trong trại tập trung đặc biệt tôn trọng. Nghe nói một trăm năm trước đây, nhà thơ lớn Gớt thích ngồi nghỉ dưới gốc cây này. Anh em tù, nhất là những người Đức, thường buồn rầu chỉ cho những người mới đến cày sồi này và kể cho họ nghe những truyền thuyết. Một trong những truyền thuyết ấy nói rang Gớt đã chỉ cây sồi mà nói với công tước Các Áp-gút : «Cây sồi này còn thì nước Đức còn !». Bọn SS cũng tôn kính cây sồi lịch sử, chỉ có điều là chúng nó tôn kỉnh theo kiểu chúng nó. Chúng nó bao giờ cũng tổ chức những cuộc tra tấn và hành quyết hàng loạt dưới gốc sồi.

        Bọn tù hình sự cũng trù tính tổ chức những «trận đấu quyền Anh» dưới gốc những cây này.

        Ba ngày trước khi bắt đầu cuộc « thi đấu », Ca- ri-môp nói với An-đơ-rây : « Hôm nay khối trưởng gọi cậu lên chỗ đồng chí ấy. Cậu đi đi. Các đồng chí đã chuẩn bị quà tặng cho cậu rồi đấy ». Nói xong Ca-ri-mốp cùng với nhóm của anh đi làm việc. Trung tâm bí mật đã sắp xếp cho Ca-ri-môp đến làm việc tại nhà máy Hút-lốp ở bên cạnh trại tập trung. An-đơ-rây thật tình ghen với người đồng hương của anh. Ở đấy, trong nhà máy quân sự, những người tù binh Nga đã liều mạng phá những bàn máy, làm cho những thiết bị quý không dùng được nữa. Tại đấy, trong nhà máy, người ta đang đấu tranh. Đấy là mặt trận. Ca-ri-mốp kể rằng tháng qua, mức phế phẩm đã tăng nhiều phần trăm. Bọn SS hoạt động lồng lộn nhưng không tìm ra nguyên nhân gây ra những phế phẩm ở qui mô lớn như thế. Các nhà chuyên môn (cũng là anh em tù) khăng khăng nói rằng nguyên nhân gây ra tất cả là chất lượng thép « kém ».

 92 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:14:37 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
     
        Vài trận đánh máy bay địch đi phóng Shrike mang tính chất điển hình.

        1- Trận đánh ngày 17/2/1972 của tiểu đoàn 89, trung đoàn 274.

        Khoảng 13 giờ, có một máy bay A6A vào khu vực trận địa của tiểu đoàn 89. Tiểu đoàn 89 vào cấp 1, lúc đó máy bay đã quá gần, không kịp sử dụng đài rađa nhìn vòng của tiểu đoàn. Đài điều khiển tên lửa phát sóng, phát hiện ngay mục tiêu ở cự ly 14km đang bay ra. Đạn được phóng ngay hai quả ở cự ly 15km và 16km. Máy bay A6A bay ra nên tên phi công không phát hiện được đạn tên lửa của ta đã bắn lên, lượn vòng lại và bắn loại tên lửa chống rađa kiểu AGM-78. Điểm có cự ly xa nhất vòng lượn của máy bay là 16km và máy bay đã từ cự ly đó bay vào chuẩn bị bắn tên lửa AGM-78. Tên lửa của ta đã phóng từ trước đó, bay khoảng 28 giây và gặp máy bay ở cự ly 14km khi máy bay đang lao về phía trận địa, có nhiễu nhẹ không đáng kể, đạn có điều khiển, quả một nổ tốt, quả hai vượt mục tiêu. Khi quả một gần gặp mục tiêu (cách 2-3km) thấy tín hiệu phản xạ của AGM-78 được phóng đi từ máy bay, trên màn hiện sóng góc tà, tín hiệu phản xạ của AGM-78 có góc tà cao hơn góc tà mục tiêu một ít. Sau khi quả đạn 1 nổ tốt, mục tiêu bị tiêu diệt, lúc đó AGM-78 còn cách đài điều khiển lOkm, kíp trắc thủ kịp thời chuyển sang tương đương (năng lượng phát của rađa không được phát ra ngoài) và quay lệch ăng-ten đi, AGM-78 rơi ra ngoài trận địa, lệch sang phải l km.

        Trong trận đánh của tiểu đoàn 89 ngày 17/2/1972, tôi cũng có mặt trong đài điều khiển tên lửa, có nhận xét như sau:

        • Đây là trường hợp máy bay đi lẻ, tìm trận địa tên lửa Phòng không để đánh nên thường bay vào tầm hỏa lực Phòng không, nhử cho rađa ta phát sóng, dùng phương pháp bắn thẳng.

        • Trong trường hợp tốp lẻ tìm đánh trận địa rađa, địch muốn bắn loại tên lửa chống rađa phải dùng phương pháp bắn thẳng, phải hướng về phía trận địa. Nếu trên đường bay mà địch thu được tín hiệu phát sóng của rađa thì thế nào máy bay cũng bay vòng lại. Trường họp xảy ra đối với tiểu đoàn 89 ngày 17/2/1972 là như vậy. Nếu ta bắt đầu bắn khi địch bay ra là đã tranh thủ thời gian bắn trước địch và khi địch bay vòng trở lại, đạn của ta đã gần gặp mục tiêu, lúc đó địch mới phóng được tên lửa. Do đó, đạn ta gặp địch trong điều kiện rất thuận lợi, tiêu diệt địch khi Shrike còn cách đài điều khiển đến 10km, đủ thời gian xử lý an toàn và làm cho Shrike mất cơ sở để điều khiển, rơi chệch ra ngoài trận địa.

        • Đây là một trận đánh điển hình có hiệu suất chiến đấu cao, bắn rơi chiếc máy bay đi tìm diệt trận địa tên lửa Phòng không bằng tên lửa chống rađa và bảo vệ mình. Chiếc máy bay đi tìm diệt tên lửa lại bị chính tên lửa đó tiêu diệt.

        Qua các kết quả theo dõi của ta và những lời thú nhận của giặc lái đi phóng Shrike, địch cũng gặp những khó khăn và tên lửa chống rađa cũng có những điểm yếu của nó:

        • Khi đi phóng tên lửa chống rađa, người lái khó xác định chính xác cự ly từ máy bay đến đài rađa, nhất là khi thời tiết xấu hoặc ban đêm, không thấy được điểm kiểm tra nên dễ vượt cự ly, do chọn không đúng góc kéo lên trước khi phóng để đưa Shrike vào cánh sóng rađa. Còn về hướng bắn thì có dễ hơn nhung cũng có hạn độ.

        • Tên lửa chống rađa cũng có thể bị nhiễu. Nhiễu bởi máy gây nhiễu của bản thân (khi phóng phải tắt máy gây nhiễu), cũng như các máy gây nhiễu của các máy bay bên cạnh, nhiễu bởi nhiều đài rađa khác của đối phương cùng phát sóng.

        Vì vậy, chọn được thời điểm phóng tốt cũng không phải dễ và lúc đó thường bị hỏa lực Phòng không bắn rơi.

        • Tên lửa chống rađa kích nổ bằng vô tuyến điện nên nếu đài rađa ngừng phát sóng thì sẽ không có nguồn kích nổ, phải sử dụng chạm nổ và đó là tình huống dễ bị chệch, không đánh trúng ngay được đài thu phát của rađa.

        Để bắn các loại máy bay địch đi phóng tên lửa chống rađa, có mấy vấn đề mấu chốt cần quan tâm:

        • Rađa không nên phát sóng quá sớm, khi máy bay địch còn ở xa.

        • Phát sóng nhiều lần, thời gian ngắn đủ để theo dõi địch.

        • Thành thạo đánh nhanh, đánh gần, phát sóng bắt được mục tiêu, đánh ngay được, tranh thủ bắn trước khi địch kịp thời chỉnh hướng phóng tên lửa.

        • Chọn thời điểm phát sóng bắt mục tiêu, thời điểm phóng đạn thích hợp để đạn của ta gặp địch, tiêu diệt địch trước khi tên lửa địch đến đài rađa một thời gian đủ để quay ăng-ten đi và chuyển sang tương đương (hoặc tắt cao thế).

        • Quá trình đánh địch, chú ý quan sát màn hình để phát hiện địch phóng tên lửa. Có thể kết hợp với hệ thống PA-00 để quan sát trên không, khi địch phóng tên lửa chống rađa và kịp thời báo cho kíp trắc thủ trong rađa.

        Tất cả các điều kiện đó cần được quán triệt, vận dụng một cách lỉnh hoạt, sáng tạo để đạt yêu cầu tiêu diệt địch cao nhất và bảo vệ mình.

        2- Trận đánh ngày 6/8/1972 của tiểu đoàn 79, trung đoàn 257.

        Máy bay của hải quân Mỹ thường dùng loại nhiễu xung trả lời, không dùng loại nhiễu tạp ngụy trang nên muốn đánh địch nhất thiết phải phát sóng. Máy bay của hải quân Mỹ sử dụng tên lửa chống rađa đi săn lùng tên lửa phòng không phổ biến hơn máy bay của không quân Mỹ.

        Máy bay hải quân Mỹ vào đánh khu vực cầu Diễn, Ngã tư Canh, tiểu đoàn 79 dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Nguyễn Vân Chiến, rađa tên lửa phát sóng bắt được mục tiêu gây nhiễu xung trả lời. Tiểu đoàn đã sử dụng hệ thống quang học PA-00 hỗ trợ báo động có Shrike. Sau khi tiêu diệt được máy bay, kíp trắc thủ xử lý chống Shrike khiến Shrike nổ cách xa trận địa 400m.

        Thành công của bộ đội Phòng không - Không quân trong việc đối phó với tên lửa chống rađa của quân đội Mỹ là điều rất ấn tượng. Tuy nhiên, có không ít khó khăn, phức tạp. Đánh giá tỷ lệ bắn trúng các đài rađa của ta bằng tên lửa chống rađa của Mỹ chưa được kiểm chứng. Thời gian đầu, ta có bị thiệt hại nhiều hơn nhưng càng về sau do ta đã có kinh nghiệm thì hiệu suất đánh trúng của địch có bị giảm nên có người cho tên lửa Shrike là tên lửa "Văng sai". Tuy nhiên, tên lửa chống rađa vẫn là một loại vũ khí đáng gờm. Đối với các loại máy bay đi tìm trận địa rađa của ta để phóng tên lửa Shrike, ta đã có những phương án đối phó có hiệu quả nhưng đối với các loại máy bay lợi dụng khi ta tập trung đánh tốp máy bay cường kích hoặc đánh B-52 để phóng Shrike thì đó là điều khó khăn hơn. Trong 12 ngày đêm B-52 ném bom Hà Nội, máy bay Mỹ đã 53 lần sử dụng Shrike đánh vào các trận địa rađa cao xạ, dẫn đường, đo cao, tên lửa của ta và đã phá hủy 6 xe thu phát của các bộ khí tài tên lửa. Sau chiến tranh Việt Nam, có tin Mỹ phát triển loại tên lửa chống rađa có tốc độ nhanh có tên là tên lửa HARM (High Speed Anti Radar Missile). Trong chiến tranh tương lai, thủ đoạn sử dụng loại tên lửa chống rađa sẽ còn được dùng phổ biến ở các cuộc tập kích đường không mà chúng ta không thể chủ quan và coi thường được.

 93 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:13:58 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
           

Hình 40 - Tên lửa chống rađa AGM-78 (Standard).

        Cách sử dụng:

        • Cách thứ nhất: Cùng bay trong đội hình cường kích vào đánh mục tiêu. Các máy bay mang Shrike vào trước, chế áp các trận địa tên lửa của ta. Có trường hợp dùng điểm nổ của Shrike để chi điểm trận địa tên lửa Phòng không của ta, các máy bay cường kích khác xúm vào ném bom trận địa.

        • Cách thứ hai: Bay theo đội hình 1 đến 2 chiếc, nhử cho tên lửa ta phát sóng để bắn Shrike. Cách này thường hay dùng vào ban đêm.

        Tấm ảnh kỳ diệu

        Ngày 22/12/1968, khi đội Nhiễu cơ động bố trí làm nhiệm vụ trinh sát nhiễu ở nông trường Đông Hiếu, Nghệ An, tôi và anh La Văn Sàng bám sát chiến đấu với tiểu đoàn tên lửa 67, trung đoàn 236. Khoảng 12 giờ đêm, có hai A6E của hải quân Mỹ đi tìm và đánh các trận địa tên lửa phòng không của ta bằng Shrike. Tiểu đoàn 67 hồi đó do đồng chí Biên chỉ huy rất chững chạc, rađa tên lửa phát sóng, bắt được mục tiêu ở cự ly 23km phóng hai đạn. Chúng tôi phân công nhau, mỗi người chụp ảnh trên một màn hiện sóng trong đài điều khiển suốt quá trình trắc thủ bám sát mục tiêu và điều khiển đạn. Tôi liên tục lên phim, bấm máy ảnh mong sao chụp được nhiều kiểu ảnh nhất. Trong 20 giây tôi đã chụp được bảy kiểu ảnh. Khi có tiếng nổ của quả Shrike do địch phóng về trận địa, cách trận địa vài chục mét, tôi mới bừng tỉnh. Kết quả đêm đó, máy bay địch bị trúng đạn và rơi tại chỗ. Đạn tên lửa của ta gặp mục tiêu trước khi Shrike đến được trận địa ta và bị chệch ra ngoài trận địa, do rađa đã tắt máy phát sau khi máy bay địch bị tiêu diệt, nên Shrike mất cơ sở để tự dẫn.

        Sáng hôm sau về sở chỉ huy của đội Nhiễu, chúng tôi tráng cuộn phim mà tôi đã chụp được, những ảnh nối tiếp nhau phản ảnh rất trung thực diễn biến chiến đấu. Thật bất ngờ, trong đó có một kiểu ảnh có tín hiệu phản xạ Shrike của địch khi bắt đầu rời máy bay, lao về phía trận địa ta. Chúng tôi, cả các chuyên gia nghiên cứu nhiễu của Liên Xô, rất vui mừng về tấm ảnh này.

        Qua đó, chúng tôi đã rút ra kết luận:

        1/ Nếu quan sát kỹ trên màn hiện sóng đài điều khiển tên lửa, trắc thủ hoàn toàn có thể thấy được tín hiệu phản xạ của Shrike cùng với tín hiệu phản xạ của máy bay nếu chiếc máy bay đó là máy bay đi phóng Shrike và sử dụng phương pháp phóng thẳng.

        2/ Nếu ta chọn cự ly phát sóng và cự ly phóng đạn thích hợp  thì không những có thể tiêu diệt được máy bay địch trước khi Shrike đến được trận địa ta mà còn tránh được Shrike.

        Tấm ảnh trên được rửa và gửi đến tất cả các tiểu đoàn tên lửa, làm tài liệu huấn luyện, góp phần ổn định tư tưởng cho kíp trắc thủ phòng tránh Shrike của địch. Chúng tôi đặt tên cho tấm ảnh đó là tấm ảnh kỳ diệu. Nói nó là tấm ảnh kỳ diệu vì hồi đó có hai khuynh hướng, có người cho là có thể thấy được tín hiệu phản xạ của Shrike nhưng cũng có người lại cho là không thể thấy được. Điều này rất quan trọng vì nó có liên quan đến biện pháp xử lý chống Shrike và tấm ảnh đó đã làm sáng tỏ là có thể thấy được tín hiệu phản xạ của Shrike, góp phần vào các biện pháp xử lý chống Shrike.

        Tấm ảnh đó dù có kỳ diệu nhưng lại gây cho tôi một tình huống rắc rối. Vào dịp mùa hè năm 1970, khi sư đoàn 367 bố trí để đánh máy bay địch ở nam Quân khu 4, Tư lệnh Quân chủng  Lê Văn Tri sau khi đi kiểm tra sư đoàn về có cho gọi tôi lên gấp, (lúc đó tôi là phó phòng Quân báo kiêm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn Nhiễu) và lệnh cho tôi phải vào ngay sư đoàn 367, báo cáo với sư đoàn trưởng Dương Hán về khả năng thấy được phản xạ Shrike trên màn hiện sóng tên lửa và không quên nhắc tôi nhớ mang theo tấm ảnh có tín hiệu phán xạ Shrike. Lúc đó, tôi đang bị viêm họng, người ngây ngấy sốt nhưng không dám báo cáo vì nhiệm vụ đi vào chiến trường mà. Tôi được cấp một mình một xe con để vào sư đoàn 367, việc này cũng hiếm thấy xảy ra.

        Vào đến nơi, tôi không được gặp sư đoàn trưởng ngay và được thông báo là sư đoàn trưởng chưa bố trí được thời gian! Những ngày chờ đợi này thật phát ngán và rất mệt vì bệnh viêm họng vẫn chưa buông tha tôi nên ăn ngủ rất khó khăn và chểnh mảng. Tôi cảm giác như sư đoàn trưởng cố ý kéo dài thời gian. Đến ngày thứ tư tôi mới được gặp, tôi đem bộ ảnh đã chụp được tín hiệu Shrike ra giới thiệu và trình bày không quá 20 phút. Sư đoàn trưởng chẳng nói gì, khoát ngang tay (tôi rất hiểu anh Dương Hán, vì 6-7 năm trước tôi đã từng là trợ lý của anh, lúc đó là trưởng phòng huấn luyện của Bộ Tham mưu Quân chủng và động tác khoát ngang tay, là tác phong riêng của anh) như là đồng ý cho tỏi ra về. Thực ra, những tấm ảnh đó cũng đã có ở các đơn vị của sư đoàn 367 rồi. Tôi phân vân và tìm hiểu sự việc thì nghe đâu, trước đó giữa tư lệnh Quân chủng và sư đoàn trưởng 367 đã có tranh luận xung quanh việc chống Shrike và sức chiến đấu của sư đoàn.

        Tôi rời sư đoàn ra về, trong lòng thấy buồn, phải đi một chặng đường rất dài, chờ đợi bốn ngày và chỉ được làm việc chưa đầy 20 phút. Nhưng cũng tự an ủi mình, vì đã làm tròn trách nhiệm là người hòa giải giữa các thủ trưởng cấp trên.

 94 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:12:09 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Những thiệt hại trên đối với tên lửa như vậy là đáng kể. Lúc này vấn đề đối phó với Shrike, bảo vệ tên lửa phòng không của ta đã trở thành cấp bách và quan trọng hơn lúc nào hết. Toàn Quân chủng phải tìm cách đối phó với Shrike. Anh em trong phòng Khoa học Quân sự và phòng Nghiên cứu Kỹ thuật của Quân chủng đã tập trung bám sát chiến đấu ở các tiểu đoàn tên lửa để rút kinh nghiệm về phòng chống Shrike và tiến hành mọi công việc có thể, để nhằm tới việc xây dựng các biện pháp đối phó.

        Bây giờ, yên ổn hòa bình thì nói thế nào cũng được, nhưng trong chiến tranh, trước cái sống và cái chết, đố ai mà không phải suy nghĩ, chỉ có điều người đó có nói ra hay không, và có nói thật lòng mình hay không. Chúng tôi, những người làm công tác khoa học kỹ thuật quân sự, thường xuyên phải bám sát chiến đấu, rất biết mình nghĩ gì nên rất hiểu tâm lý của các trắc thủ trong chiến đấu khi mà lúc nào cũng phải đối đầu với loại tên lửa tự dẫn theo cánh sóng. Chúng tôi càng thấy hết trách nhiệm của mình trong việc cùng mọi người tìm cách đối phó lại tên lửa Shrike, trên tinh thần như chính ủy Đặng Tính đã nói: “Tiêu diệt địch là cách tốt nhất để bảo vệ mình”.

        Từ các mảnh vỡ của Shike và một quả tên lửa shrike khá hoàn chỉnh, chưa nổ, thu được từ máy bay Mỹ bị bắn rơi, được sự giúp đỡ của Viện Kỹ thuật Quần sự, Bộ Quốc phòng, từ thực tiễn chiến đấu kết hợp với lấy cung giặc lái máy bay Mỹ bị bắn rơi, cơ quan Nghiên cứu Kỹ thuật của Quân chủng đã tổng hợp và nghiên cứu nguyên lý làm việc của Shrike, cách sử dụng Shrike của địch, để kịp thời tìm cách đối phó lại Shrike.

        Về tính năng: Ở đây chúng tôi chỉ nêu lên một số tham số có nhiều liên quan đến việc tìm cách đối phó của ta như: tần số làm việc của Shrike là 2.600-3.500MHZ - Tốc độ tên lửa cuối đoạn có lực đẩy là 1,7M - Phương pháp điều khiển: đơn xung so sánh biên độ - Phương pháp tự dẫn: thụ động trực tiếp - Góc mở cánh sóng ăng-ten khi dẫn tên lửa: +3,5 độ -  Phương pháp kích nổ: thụ động bằng vô tuyến điện và chạm nổ (bộ phận an toàn kích nổ được đưa vào hoạt động khi tên lửa hết lực đẩy) - Bộ phận chiến đấu: thuốc nổ ốctôgen trộn lẫn viên thép vuông (5x5x5)mm3, có khoảng 7.000 đến 8.000 viên, bán kính phá hoại mục tiêu có hiệu quả là 15-20m - Cự ly phóng xa nhất 40-45km, cự ly phóng gần nhất 5-9km, cự ly phóng hiệu quả: 18km - Shrike có loại đạn chỉ điểm được nạp khói thay thuốc nổ.
Về thủ đoạn bắn: Có thể sử dụng máy thu trinh sát báo động trên các loại máy bay cường kích hoặc hệ thống ILS (hệ thống hạ cất cánh) để ngắm bắn. Phương pháp bắn: có thể bắn thẳng và bắn cầu vồng. Bắn thẳng thì máy bay phải nằm trong cánh sóng rađa, bắn cầu vồng thì máy bay thường bay thấp ngoài cánh sóng và phóng ngược lên.

        Máy bay sử dụng: Ngoài tên lửa Shrike (AGM-45A), Mỹ còn đưa vào trang bị tên lửa AGM-78. Tên lửa AGM-78 có tên là tên lửa Standard, với sức công phá lớn hơn AGM-45A, và ta nghi ngờ là loại tên lửa này có bộ phận tích nhớ để có thể đánh được vào các loại rađa nhìn vòng như rađa cảnh giới, rađa dẫn đường của ta.

        Không quân Mỹ dùng máy bay F-105F, F-105G, phổ biến là mang tên lửa Shrike (cũng có trường hợp sử dụng máy bay F4). Nếu mang tên lửa Shrike thì mỗi máy bay F-105 F/G mang bốn quả; nếu chọn mang tên lửa AGM-78 thì mỗi máy bay chỉ mang hai quả; còn nếu mang cả tên lửa AGM-45A và AGM-78 thì chỉ mang ba tên lửa AGM-45A và một tên lửa AGM -78.

        Hải quân Mỹ dùng máy bay A4F, A6B, A7B/E, thường mang hai AGM-78, nếu mang thêm bom thì chỉ mang một AGM-45A. Máy bay của hải quân Mỹ đi tìm diệt tên lửa SAM-2 thường bay ở ngoài biển cách bờ 20-25km, khi phát hiện SAM-2 phát sóng thì bay vào phóng tên lửa chống rađa.


Hình 39 - Tên lứa chống rađa AGM-45A (Shrike).

 95 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:08:32 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Với những bước đi khập khiễng, do trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, một y tá khi tiêm thuốc sốt rét vào mông anh, đã đụng phải đường gân nên anh ấy bị như vậy. Thế mà anh chẳng kêu ca gì, coi như một tai nạn nghề nghiệp của đồng đội. Hình ảnh đi lại khó khăn của anh nhưng vẫn nâng nổ gần gũi với chiến sĩ, luôn có mặt ở những nơi tác chiến ác liệt nhất, đã đi vào trái tim khối óc của bộ đội. Họ kính trọng quý mến, tin yêu chính ủy Đặng Tính như một người cha, người anh gần gũi thân thương của mình.

        Anh Đặng Tính có một cô con gái tên là Đặng Thị Nhu, tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về tham gia quân đội, công tác tại Ban thông tin khoa học, phòng Nghiên cứu Kỹ thuật mà ở đó tôi làm trưởng phòng. Anh rất gương mẫu và nghiêm khắc, không hề có một chút nào thể hiện ra, để con có thể dựa dẫm. Anh còn nhắc nhở tôi phải để cho cô ấy tự mình phấn đấu mà đi lên. Cô Nhu rất giống bố về mọi mật, là một sĩ quan chăm chỉ, nghiêm túc làm việc, chân thành đoàn kết và giúp đỡ mọi người. Trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn, cô đã sưu tầm được nhiều tư liệu quý giúp cho việc nghiên cứu kỹ thuật của địch, góp phần tích cực vào nhiệm vụ nghiên cứu nhiễu, cải tiến kỹ thuật để chống nhiễu của phòng Nghiên cứu Kỹ thuật chúng tỏi.

        Anh Đặng Tính rất quan trọng đối với Quân chủng Phòng không - Không quân, nhất là khi anh ấy thay anh Phùng Thế Tài đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân chủng để anh Phùng Thế Tài lên làm phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (6/1967).

        Sau này (4/1973), khi tôi được tin anh Đặng Tính hy sinh trên đường vận chuyển chiến lược, lúc anh làm chính ủy Đoàn 559, tội lặng đi, rất thương tiếc một người cấp trên đã in đậm trong trái tim mình và tôi tự nhắc nhở mình phải noi gương anh.

        Đến tháng 8/1965, địch lại sử dụng Shrike đánh vào một rađa COH-9A ở Nam Định. Hồi đó tôi cũng có mặt ở Nam Định, nhưng theo yêu cầu của trung đoàn tôi vừa rời đại đội về trung đoàn bộ để báo cáo tình hình. Được tin, tôi đã xuống ngay đại đội. Trước sự hy sinh của đồng đội tôi vô cùng xúc động, không kìm được nước mắt. Chỉ mới ngày hôm qua, tôi vừa ở đó, sinh hoạt ăn ở và tham gia huấn luyện chiến đấu cùng anh em.

        Quán triệt lời căn dặn của chính ủy Đặng Tính, tôi quyết tâm nghiên cứu và cố gắng hoàn thành một tài liệu hướng dẫn các biện pháp đối phó với Shrike cho đài rađa COH-9A, thống nhất với các trợ lý rađa trong phòng huấn luyện và thông qua Bộ Tư lệnh Quân chủng để thành văn bản chính thức hướng dẫn thao tác cho đài rađa COH-9A. Chúng tôi đã tổ chức làm 3 khu vực, phân công nhau đi phổ biến cho đơn vị. Tôi đi một khu vực, anh Tam trợ lý rađa trong tổ đi một khu vực, anh Hồ, giáo viên trường Phòng không được trưng tập về, đi một khu vực. Đi đến đâu cũng phải báo cáo tỉ mỉ nội dung cụ thể cho đảng ủy và thủ trưởng trung đoàn, tranh thủ sự chỉ đạo của trung đoàn vì đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn là vấn đề tư tưởng phải được sự lãnh đạo chặt chẽ về tư tưởng kết hợp với nội dung kỹ thuật.

        Với bốn biện pháp đối phó lại Shrike của rađa COH-9A, các đơn vị đã luyện tập thành thạo. Theo nguồn tin địch lúc bấy giờ, địch đã phải công nhận các biện pháp đối phó của ta đã làm cho chúng khó bắn Shrike và khiến Shrike chệch mục tiêu nhiều.

        Ngày 7/11/1965, tiểu đoàn 62, trung đoàn 236 bố trí trận địa ở Đồng Giao, Ninh Bình bị trúng Shrike.

        Từ năm 1966, địch bát đầu sử dụng phổ biến Shrike đánh vào đài điều khiển tên lửa SAM-2 và sau đó là các đài rađa dẫn đường, rađa đo cao làm việc ở dải sóng 10cm.

        Ngày 11/5/1966, tiểu đoàn 73, trung đoàn 285 bị địch dùng Shrike bắn trúng làm hỏng ăng-ten xe thu phát. Ngày 19/7/1966 tiểu đoàn 71, trung đoàn 285 cũng bị Shrike bắn trúng trận địa. Ngày 2/10/1966, anh Nguyễn Quang Tuyến, Tham mưu phó Quân chủng, là một trong ba trung đoàn trưởng bộ binh được củ đi học chuyển binh chủng pháo phòng không 88mm tại Thẩm Dương - Trung Quốc, nguyên là trung đoàn trưởng trung đoàn 236, trung đoàn tên lửa đầu tiên của Quân đội ta, đi kiểm tra tiểu đoàn 92, trung đoàn 278 bố trí ở trận địa Mậu Đức. Có tài liệu nói là anh Tuyến bị tên lửa Bullpup bắn vào trận địa và bị thương nặng, nhưng thật ra theo tôi biết thì quả tên lửa đó là tên lửa Shrike, không trúng đài điều khiển nhưng lại vào giữa trận địa tiểu đoàn, trong lúc rađa đang phát sóng bắt mục tiêu. Một viên bi vuông của Shrike đã nằm trong đầu anh Tuyến, làm anh mất hoàn toàn trí nhớ (nếu là mảnh đạn của Bullpup thì nó sẽ phạt ngang đầu chứ không thể chỉ bị nhẹ như thế). Tôi đã nhiều lần vào thăm anh Tuyến tại bệnh viện của Quân chủng, trông thấy trạng thái mất trí của anh ấy, thật rất thương tâm. Nguyên Tham mưu phó Quân chủng Nguyễn Quang Tuyến đã ra đi vài năm sau đó.

 96 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 12:08:14 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
 
Chương XI

CÓ THẬT SỰ SHRIKE THÀNH “VĂNG SAI”?

        Anh hùng Nguyễn Viết Xuân đã nói một câu bất hủ: “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”. Vận dụng tư tưởng này vào việc đánh các máy bay Mỹ đi phóng tên lửa Shrike quả là rất cần thiết và thích hợp. Tên lửa Shrike, có ký hiệu là AGM-45A (Air Ground Missile), là loại tên lửa không đối đất của Mỹ, tự dẫn theo cánh sóng rađa. Mỹ còn gọi tên lửa này là loại tên lửa chống rađa (ARM-Anti Radar Missile). Muốn đánh địch, rađa phải phát sóng mà phát sóng thì Shrike có cơ sở để phóng vào.

        Đối phó với Shrike là một sự đối đầu khó khăn phức tạp. Shrike là một loại vũ khí đã gây tâm lý mạnh đến kíp trắc thủ rađa của ta. Đối phó với Shrike phải rất dũng cảm vì kíp trắc thủ đứng trước một quả tên lửa đang lừng lững lao về phía mình theo trục cánh sóng của chính rađa mà mình đang thao tác.

        Ta có thể hình dung như hai người đấu súng, nhưng ở đây không phái là rút thăm xem ai bắn trước ai bắn sau mà là ai đã khôn ngoan hơn, tranh thủ được điều kiện bắn trước, ai chịu đựng sự gan lỳ hơn ai. Hai quả tên lửa hướng vào nhau, cự ly cách nhau cứ nhỏ dần. Chúng ta phải làm sao, để vừa tiêu diệt địch vừa bảo vệ mình. Hai mặt đó, có quan hệ mật thiết với nhau, tiêu diệt địch để bảo vệ mình và bảo vệ mình để tiêu diệt địch. Trong thực tiễn chiến đấu, có khi chỉ thực hiện được một yêu cầu, người chiến sĩ quân đội nhân dân phải hạ quyết tâm một cách chính xác. Trắc thủ rađa, nếu sợ địch mà không phát sóng thì coi như thủ tiêu chiến đấu, nhưng nếu phát sóng ẩu để địch diệt ta, thì sự hy sinh đó có đáng không? Chúng ta dám đánh là đúng rồi nhưng còn phải biết đánh thắng mọi kẻ thù mới là điều quan trọng.

        Bộ đội Phòng không - Không quân đứng trước trách nhiệm phải tìm được cách đánh, đối với các máy bay sử dụng Shrike và đã cố gắng để thực hiện được yêu cầu đó ớ mức cao nhất.

        Tuy vậy, không phải lúc nào cũng được toại nguyện như ta mong muốn. Không ít rađa của ta đã bị đánh hỏng, không ít đồng đội của chúng ta đã phải hy sinh. Thủ đoạn sử dụng tên lửa Shrike của Mỹ song hành với thủ đoạn gây nhiễu, đã tạo thêm nhiều khó khăn cho ta.

        Đài rađa đầu tiên bị địch đánh bằng tên lửa Shrike là đài rađa COH-9A của đại đội 1, trung đoàn 230 vào ngày 30/4/1965, khi đang bố trí bảo vệ cầu Hàm Rồng. Ngay ngày hôm sau, tôi được đi cùng đoàn cán bộ của Quân chủng do chính ủy Quân chủng Đặng Tính dẫn đầu. Thành phần trong đoàn có thêm Tham mưu phó và phó Chủ nhiệm chính trị Quân chủng.

        Khi đến trận địa, đài rađa bị đánh hỏng đã được kéo đi rồi, nhưng dưới nền đất còn nồng nặc mùi máu, rất nhiều viên bi vuông, các chi tiết điện tử vương vãi còn dính máu ba trắc thủ trong đài rađa đã hy sinh, còn trắc thủ số 3, cũng ngồi trong máy, người giữ liên lạc với đại đội trưởng trong chiến đấu thì bị thương ở chân. Đồng chí đó tên là Đào Đức Viết, đồng hương với tôi, con trai của một vị lão thành Cách mạng là ông Đào Văn Thiên, một trong những đảng viên đầu tiên của chi bộ đảng Cộng sản Đông Dương ở xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây, nguyên thứ trưởng Bộ Lương thực. Ông đã gương mẫu động viên người con trai độc nhất của mình nhập ngũ.

        Trước thương vong của đồng đội, tôi vô cùng xúc động, thấy mắt mình cay cay và có gì đó nghẹn nơi cổ họng. Đến hôm nay, tôi vẫn còn nhớ như in lời cản dặn của chính ủy: “Địch sử dụng loại vũ khí mới, ta không nên coi thường, phải nghiêm túc nghiên cứu tìm được các điểm yếu của nó, quan tâm giáo dục chính trị cho bộ đội, và tìm biện pháp đánh chúng. Phải quán triệt tư tưởng tiêu diệt địch để bảo vệ mình. Tiêu diệt địch là biện pháp tốt nhất để bảo vệ mình".

        Chính ủy Đặng Tính, nguyên là cán bộ Cách mạng tiền khỏi nghĩa, đã từng là bí thư huyện ủy Nam Sách, bí thư tỉnh ủy Hải Dương trước khi nhập ngũ cuối năm 1946. Anh đã tham gia chiến đấu chống Pháp ở mặt trận đường 5, Liên khu 3, Quân khu Tả Ngạn và đã từng công tác ở cục Tác chiến, một cơ quan chiến lược của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh là cục trưởng đầu tiên của cục Hàng không dân dụng Việt Nam và sau đó là cục trưởng cục Không quân, Bộ Quốc phòng. Anh Đặng Tính là một cán bộ chính trị - quân sự song toàn, một nhà tư tưởng mà tôi rất ngưởng mộ, anh rất mẫu mực, sâu sát cơ sở, thương yêu chiến sĩ. Đối với đồng cấp và cấp trên, anh rất tôn trọng và chân thành. Phó chính ủy Quân chủng Nguyễn Xuân Mậu là một người rất chặt chẽ và nguyên tắc, nhưng đã không tiếc những lời tốt đẹp khi nói về người cấp trên của mình. Trong hồi ký Bảo vệ bầu trời, rất nhiều đoạn anh Nguyễn Xuân Mậu nói về anh Đặng Tính với những lời lẽ rất kính trọng và cảm động. Anh còn ghi nhận về anh Đặng Tính: “Một con người trông bề ngoài thật giản dị, mộc mạc nhưng chứa đựng bên trong một tình cảm mãnh liệt, sâu sắc, trong sáng và chân thành”.

 97 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 08:34:01 AM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Trận địa phục kích dài 2 km (từ km 93 – 95). Bộ phận chặn đầu ngoài lực lượng hỏa lực của Tiểu đoàn 93 còn có Trung đội công binh tỉnh. Ban chỉ huy trận đánh do đồng chí Giáp Văn Cương – Phó Tư lệnh Quân khu 5 và đồng chí KPă Thìn – Tỉnh đội trưởng Gia Lai chỉ huy, đích thân giao cho đồng chí Glia trung đội phó công binh tỉnh người dân tộc BahNar chỉ huy bộ phận chặn đầu đoàn xe. Bộ phận công binh có 9 đồng chí, chia thành 3 tổ, vũ khí mỗi tổ có một “mìn đòn gánh”.

Mìn đòn gánh làm bằng khúc nứa to dài độ 1,5 mét chẻ đôi, bên trong đặt khối bộc phá mạnh, đấu với hai viên Pin, khi đoàn xe xắp đến đoạn chặn đầu, từng tổ 3 người ôm “mìn đòn gánh” lao nhanh ra mặt đường; mỗi cây mìn đặt ngang qua đường cách nhau 30 đến 40 mét xếp chênh nhau, khi xe chạy đến, bánh xe dậm phải “cây mìn” thì mìn nổ.

Kết quả thực hiện đúng theo kế hoạch, lần lượt 3 xe đi đầu đều bị nổ tung, bốc cháy, khói ngút trời, xác xe lăn giữa đường, tạo thành vật cản, buộc toàn bộ đoàn xe ở phía sau ùn đến tạo mục tiêu tập trung để các hỏa điểm của bộ đội ta từ hai bên đường tiêu diệt. đây là cách đánh mìn đầy linh hoạt, thông minh của các chiến sỹ công binh dân tộc gan góc dũng cảm.

Phía Nam đường 19, Đại đội 2 bộ binh của tỉnh làm nhiệm vụ đối diện. Ra quân trận này Đại đội có 110 tay súng (quân số đại đội lúc này là 185 đồng chí), trang bị hỏa lực mạnh. Khi bộ phận chặn đầu và cánh phía bắc đường số 19 nổ súng, đội hình đại đội đã yếm sẵn kín đáo sẵn sàng bắn diệt những tên địch tháo chạy sang nam đường. Khi có lệnh xung phong toàn Đại đội dũng cảm xông ra mặt đường diệt nốt số địch còn lại bám vào thành xe chống cự. Riêng đại đội 2 thu được 19 súng (có một đại liên Browning). Toàn trận đánh thu 31 súng, bắt 2 tù binh, bộ đội ta giải thích chính sách của Mặt trận, phóng thích tại chỗ, trận đánh này đại đội 2 được Ban chỉ huy Mặt trận biểu dương.

Lập thành tích chào mừng Đại hội liên hoan chiến sỹ thi đua Quân khu 5 tổ chức tại Trung tâm căn cứ tỉnh. Đại đội 2 đánh trận giao thông trên đường 7 đoạn Mỹ Thạch đi Kon gôh, tiêu diệt gọn đoàn xe 8 chiếc, có một xe bọc thép, thu 16 súng (có 2 trung liên). Phát huy thành tích, tháng 10-1964, đại đội phối hợp với Huyện đội 6 tập kích đánh rã Đại đội bảo an ở dinh điền Nhơn Thọ (tây cầu Ayun) thu 37 súng, giải phóng gần 100 đồng bào Kinh bị cưỡng ép di cư lập dinh điền trở về quê cũ ở đồng bằng.

Tính đến cuối năm 1964, Quân và dân tỉnh Gia Lai phối hợp với bộ đội chủ lực của trên phát động quần chúng phá 135 khu dồn, ấp chiến lược như ấp Cham Yang ở Đé Ar – Kon thụp (Nam Mang Yang), ấp làng Yịt (Chưprông) Khu dồn Chư Nghéh (Chư Păh), giải phóng được 50 ngàn dân đưa số dân lên thế làm chủ toàn tỉnh là 16 vạn người. Vùng căn cứ được mở rộng từng mảng lớn tiếp giáp biên giới CamPuChia, xã liền xã, huyện liền huyện, hình thành thế bao vây, uy hiếp thị trấn, thị xã.

Phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân nông thôn với địch của hơn 40.000 đồng bào, vận động đào rã ngũ 1951 lính bảo an, dân vệ, có 3 Trung đội mang về nạp cho chính quyền cách mạng 67 súng. Cơ sở nội tuyến các làng Kinh và làng dân tộc ven thị xã được xây dựng, hoạt động có hiệu quả.

Hai lực lượng, ba thứ quân được xây dựng và củng cố, tăng số lượng và chất lượng. Bộ đội tỉnh có tiến bộ, đánh diệt gọn Đại đội địch ngoài công sự, diệt từng đoàn xe 6 – 8 chiếc, thu được vũ khi trang bị cho ta. Đã diệt được chốt bảo an giữ “ấp chiến lược” hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy phá ấp. Du kích chiến đấu tiêu hao rộng rãi địch càn quét, bảo vệ căn cứ. Vùng ven Thị xã du kích đã phối hợp trinh sát, đặc công tiêu diệt Trung đội dân vệ, phá cầu cống phát triển cơ sở trong công nhân các đồn điền, rút được thanh niên ra bổ sung cho lực lượng Thị.

Vùng mới giải phóng đã được tổ chức, xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang cơ sở. Nhân dân các dân tộc, vùng căn cứ hăng hái phấn khỏi tăng gia sản xuất, bình quân mỗi lao động vùng giải phóng trỉa từ 15 – 20 kg lúa giống, trồng từ 500 – 1.000 gốc sắn (mì) góp phần động viên lương thực nuôi quân trên địa bàn tỉnh.

Việc mở mạng lưới giao lưu mậu dịch ở vùng giải phóng của tỉnh giáp đến ranh giới các tỉnh đồng bằng mở cửa khẩu mua nhu yếu phẩm, dụng cụ sản xuất phục vụ yêu cầu sinh hoạt cho nhân dân, cơ quan, cung cấp cho hoạt động quân sự, đã góp phần cải thiện một phần đời sống nhân dân vùng giải phóng, phá thủ đoạn của địch bao vây phá hoại kinh tế ta.

Sau một năm nỗ lực, có chi viện của trên, phong trào cách mạng Gia Lai đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, trụ bám địa bàn, sát cơ sở, tạo điều kiện thuật lợi tiếp tục đưa phong trào tiến lên.

 98 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 08:32:01 AM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Cơ quan chính trị tập trung hướng dẫn giáo dục quán triệt tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới cho các lực lượng vũ trang, gắn chặt tác chiến tiêu diệt địch với phát động quần chúng phá ấp giành dân. Có tiêu diệt được lực lượng kìm kẹp làm tan rã địch từng bộ phận mới hỗ trợ cho quần chúng bung ra phá banh các ấp chiến lược, giải phóng dân mới tạo điều kiện để tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Làm tốt hai nhiệm vụ trên là làm thất bại biện pháp chiến lược của địch.

Tỉnh phát động phong trào thi đua “giết giặc giành dân, xây dựng quân đội”, phong trào “bắn máy bay rộng khắp”, “diệt xe tăng, xe bọc thép” đến tận các đơn vị dân quân du kích.

Khí thế thi đua sôi nổi trong tỉnh, trong các lực lượng Đại đội 1 bám trụ hoạt động vùng Lệ Chí, đồn điền Đăk Đoa, tiến công binh vận Trung đội bảo an đóng ở ấp Hà Bầu, Đại đội đặc công tỉnh mấy lần đột nhập vào trung tâm huấn luyện đồi 810, một mũi sắc nhọn, luồn sâu áp sát diệt địch phía tây Nam thị xã. Ta kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động quân sự và tấn công binh vận đưa đồn trưởng đồn Đăk Đoa cùng một lính tề về với cách mạng(1). Trung đội 14 (huyện Kơ Bang) đánh địch trên đường Cửu An đi Kan Nak diệt một số tên, buộc chúng không dám sục vào vùng căn cứ.

Hướng nam, Đại đội 2, bộ đội Khu 7 cùng du kích liên tục bám đánh địch càn quét vào dọc sông Ba, từ 19 tháng 02 đến 29 tháng 03 năm 1964 đã tiêu hao diệt nhiều tên địch của Sư đoàn 9 ngụy càn vào khu vực suối PTó.

Để mở rộng thế kìm kẹp của địch, đầu năm 1964 các trung tâm huấn luyện biệt kích do các cố vấn Mỹ trực tiếp điều hành đã đổ quân cắm sâu hoặc sát vùng căn cứ của ta. Chúng đóng các đồn: Ktõh ở khu 7, đồn Kuãi (DoLim) ở khu 6, đồn PleiMe ở khu 5 và đồn Đức Cơ, Chữ Nghéh ở khu 4. Tiếp sau chúng đóng thêm đồn Plei Mơ Rông và Plei Djrăng nhằm ngăn chặn, cắt phá hành lang của ta từ đông đường số 1 lên giáp sông Pô Kô (T30).

Những trại biệt kích này rất thâm độc, vừa gây áp lực về quân sự vừa hoạt động chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, lôi kéo cán bộ cách mạng, đánh phá cơ sở trong nhân dân vùng giải phóng và vùng căn cứ.

Để củng cố vùng căn cứ, phá tan âm mưu thủ đoạn trên của địch, Đại đội 2 tỉnh được thực hiện kế hoạch vây đánh bọn biệt kích Mỹ ở đồn Ktõh. Ngày 25 tháng 04 năm 1964, Đại đội có một tiểu đội của huyện đội 7 phối hợp phục kích toán xe địch trên đường số 7 đoạn Krông Đung về Ktõh. Đây là vùng trắng dân, đồng bào đã chuyển sâu vào suối Hơ Wây lập làng chiến đấu, địa hình đoạn đường trung bình, rừng non nhiều cây gai quýt mọc dầy, đường lượn theo bờ sông Ba, lâu nay du kích ít hoạt động. Ta nắm chắc quy luật xe địch đi và về.

Đúng 14 giờ đoàn xe 7 chiếc chờ lính biệt kích và cố vấn Mỹ từ An Khê về đã lọt vào trận địa phục kích của bộ đội ta. Toàn đội hình, đồng loạt nổ súng 3 xe chạy trước bốc cháy,. Bộ đội vận động xung phong ra đường diệt nốt 4 xe còn lại. Toàn bộ 45 tên biệt kích cùng 7 tên cố vấn Mỹ ngoan cố chống lại phải đền mạng. Ta thu 20 súng các loại, có một đại liên mỹ Browning, một súng M79, toàn bộ quân trang, thực phảm và thu được 3,4 lượng vàng. Địch ở An Khê, các chốt gác trên đường số 19 không kịp phản ứng. Bọn biệt kích còn lại trong đồn Ktõh co lại phải chờ đến đêm mới dám xuống sông Ba lấy nước tắm giặt.

Hướng Tây Liên đại 45 cùng Đại đội khu 5 và khu 4 liên tục tổ chức đánh phá trục giao thông đường 19 (Tây). Các đoàn xe vận chuyển của địch từ Bàu Cạn, Thanh Giáo, Thanh Bình lên Đức Cơ, Móc Đen đều bị tiến công, tiêu diệt.

Hè năm 1964 Tây Nguyên bắt đầu mùa mưa. Những cơn mưa như trút nước kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Đất bazan lầy lội, không có dép, không có ni lông; bộ đội, du kích phải chặt lá chuối rừng che khỏi ướt. Quần áo thiếu thốn. Tiểu đội trưởng Bơr của Đại đội 2 cắt đội chiếc khố đang mặc chia cho đồng đội. Gian nan, vất vả, nhưng không một ai kêu ca.

Ngày 01 tháng 07 năm 1964 trên quốc lộ 19, đoạn suối Đăk Pơ, nơi xưa đã chôn vùi toàn bộ Binh đoàn cơ động Pháp số 100 (GIM 100) năm 1954 lại diễn ra một trận đánh giao thông lớn. Tiểu đoàn 93 thuộc Trung đoàn 2 bộ binh Quân khu 5, những chiến sỹ vừa từ quê hương Nghệ Tĩnh vào chiến trường lần đầu tiên xuất trận cùng phối hợp có 2 Đại đội bộ binh và Trung đội công binh của tỉnh đánh trận phục kích tiêu diệt đoàn quân vận của Quân đoàn 2 ngụy, tiêu diệt 41 xe quân sự và một Đại đội Cộng hòa hộ tống thu 31 súng các loại. Đây là trận đánh phối hợp đẹp của bộ đội tỉnh với chủ lực Quân khu. Trong trận này đã thể hiện trình độ chiến đấu, trí thông minh và quả cảm của cán bộ, chiến sỹ bộ đội tỉnh, phần đông là anh em dân tộc.


(1) Ông Siu Teo đồn trưởng Đăk Đoa ra căn cứ cách mạng, sau được bầu làm Ủy viên Mặt trận dân tộc giải phóng tỉnh Gia Lai.

 99 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 08:31:04 AM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Trong lúc trên địa bàn tỉnh địch còn có nhiều ưu thế hơn ta về mặt quân sự, vấn đề muốn đánh thắng chúng thì ta phải tạo cho được sức mạnh tổng hợp lớn hơn địch. Do đó ba thứ quân của ta phải được xây dựng tổ chức hợp lý và nâng cao chất lượng chiến đấu, đồng thời phải xây dựng lực lượng chính trị đông đảo của quần chúng nhân dân có đội ngũ chặt chẽ, có khả năng tiến công địch với nổi dậy phá ấp giành dân để xây dựng và mở rộng vùng căn cứ thành hậu phương vững chắc tạo nên địa bàn tỉnh là chiến trường tiêu diệt lớn sinh lực địch.

Đến cuối năm 1963 kế hoạch Stalây-Taylơ tuy phải kéo dài thêm một năm nhưng vẫn không thực hiện được. Cuộc đảo chính “thay ngựa giữa dòng” vẫn không cứu vãn được tình thế. Địch vẫn phải tiếp tục quốc sách gom dân lập “Ấp chiến lược” với mức độ tàn bạo, ác liệt hơn.

Trước tình hình trên Trung ương Đảng họp lần thứ 9 (khóa III) tháng 12 năm 1963 ra Nghị quyết “… Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang một cách linh hoạt lâu dài… Đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang đều đóng vai trò rất cơ bản và rất quyết định, nhưng đấu tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh tan lực lượng quân sự của địch, chỗ dựa của nền thống trị của chúng, làm cho cách mạng thắng lợi…” Vì vậy điều quan trọng nhất, quyết định nhất là trong bất cứ trường hợp nào vẫn phải nỗ lực tăng cường lực lượng quân sự…”

Nhiệm vụ trước mắt của lực lượng vũ trang phải đạt mục tiêu chủ yếu là tiêu diệt từng bộ phận quân địch tạo điều kiện tiến lên làm tan rã lực lượng quân sự của chúng, hỗ trợ đắc lực cho quần chúng nổi dậy phá phần lớn các “Ấp chiến lược”, giành nhân, vật, tài lực cho cách mạng, làm chủ núi rừng, đánh bại kế hoạch gom dân lập ấp của địch.

Ngày 01 tháng 05 năm 1964, Mặt trận Tây Nguyên (B3) thành lập. Sự ra đời của Mặt trận là một yêu cầu khách quan do điều kiện địa lý, nhân văn, kinh tế của Tây Nguyên và nhất là do vị trí chiến lược quan trọng của nó trong thế trận chiến tranh nhân dân của ta ở Miền Nam và khu vực Nam Đông Dương. Đây là sự phát triển tất yếu của cuộc chiến tranh giải phóng chống Mỹ cứu nước nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu diệt lớn, đẩy mạnh chiến tranh chính quy phát triển(1).

Tỉnh Gia Lai nằm trong địa bàn hoạt động của Mặt trận. Do vậy Gia Lai đã thực sự là chiến trường đánh tiêu diệt vừa và lớn quân địch, thu hút và giam chân các đơn vị chủ lực cơ động của Mỹ - Ngụy.

Để thực hiện các chủ trương kế hoạch của Trung ương, phối hợp với chiến trường, Tỉnh ủy chủ trương động viên toàn Đảng, quân và dân trong tỉnh ra sức đấu tranh đưa phong trào chuyển lên một bước mạnh mẽ góp phần đẩy địch vào thế sa lầy, lúng túng, thất bại nặng nề hơn trước về quân sự và chính trị. Ra sức giữ vững và mở rộng căn cứ Miền núi, tạo thành hậu phương lớn an toàn cho khu 5.

Cuối năm 1963 đầu năm 1964, Tỉnh thành lập Liên đại 45 (tiểu đoàn thiếu) gồm Đại đội 3 cũ của tỉnh (anh em Ja Rai), một Đại đội bộ binh anh em Kinh 34 đồng chí của Trung đoàn 3 (QK5) chuyển về và một Đại đội bổ sung ở Miền Bắc về, có trang bị hỏa lực mạnh (ĐKz 57, cối 81 ly). Đơn vị đứng chân tại khu 5 (ChưPrông) hoạt động hướng khu 4, 5 và tây thị xã Pleiku.(2)

Các Đại đội độc lập của tỉnh, các Trung đội tập trung của huyện được bổ sung quân số, trang bị đầy đủ một số súng chống xe tăng như B40 cũng được chuyển về một số trang bị cho bộ đội tỉnh. Ngoài ra ta thu được vũ khí của địch trang bị tương đối đầy đủ cho bộ đội tỉnh và huyện.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ cũng được quan tâm đúng mức, chỉ đạo chặt chẽ. Đại đội cho chi bộ Đảng lãnh đạo, chi bộ Đại đội đông nhất có 50 Đảng viên (Đại đội 2) tỷ lệ lãnh đạo 27% quân số. Cơ quan tỉnh đội, các huyện đội, đặc biệt là Ban dân quân, Ban quân giới tỉnh được tăng cường cán bộ để chuyên lo chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang trong cơ sở.

Các phân đội trực thuộc: Thông tin, trinh sát, công binh được bổ sung quân số thành Đại đội đủ. Tỉnh thành lập xưởng quân giới chuyên dập lại đạn cho súng Trung liên (24 – 29) và sản xuất mìn tự tạo trang bị cho du kích.


(1) Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Những sự kiện quân sự Viện lịch sử Việt Nam – Bộ Quốc Phòng – Trang 111
(2) Liên đại 45 ngày đầu thành lập do đồng chí Lương Bá Tân và đồng chí Nguyễn Đức Phổ chỉ huy.

 100 
 vào lúc: 14 Tháng Hai, 2020, 08:28:22 AM 
Tác giả macbupda - Bài mới nhất gửi bởi macbupda
Chiến tranh du kích ngày càng được đẩy mạnh, làng chiến đấu được xây dựng đánh địch càn quét gom dân có hiệu quả, nhân dân bố phòng sáng tạo bằng mọi cách, đủ các loại chông: chông hầm, chông đòn, chông bẫy, chông treo, chông kết hợp với gài thò, gài lựu đạn và gài cả súng. có những tuyến chông liên hoàn dài hàng 500 mét đến vài ba chục km. Có nơi du kích sử dụng vũ khí tự tạo kết hợp bố phòng chông.

Nhiều đội du kích thôn, xã qua bố phòng chiến đấu đã trưởng thành nhanh chóng, độc lập chiến đấu đánh địch giữ làng.

Xã chiến đấu A1 (nay thuộc xã Yang Bắc – An Khê) là xã xuất sắc trong bố phòng đánh địch.

Xã có 7 làng hình thành thế bố trí liên hoàn, quanh xã có tuyến chông dài hàng chục ki-lô-mét. Từng làng có hầm trú ẩn cho dân. Các cuộc học tập, sinh hoạt đều ở dưới hầm. Rẫy phát phân tán, có chừa nhiều cây cao để chống trực thăng đổ quân. Nhiều cuộc càn quét của địch bị thất bại vì lính bị thương chông thò quá nhiều. Trong 4 tháng đầu năm 1963 xã A1 đã đánh bại 3 cuộc càn quét lớn của địch. Đội du kích xã A1 đã liên tục vây quét buộc địch phải rút bỏ đồn Ktõh và đồn Krong Đung.

Năm 1963, xã A1 được Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam tuyên dương là xã chiến đấu xuất sắc toàn miền.

Nhân dân trong tỉnh gọi công thò là những “chiến sỹ” kiên cường chịu đựng nắng mưa, không ăn, không nói, nhưng biết giết giặc Mỹ và tay sai bảo vệ bản làng.

Phụ nữ vùng Bỏ Năm (dân tộc BahNar) tháo vòng đồng đưa cho du kích đúc chông bố phòng đánh địch. Năm 1963 toàn tỉnh bố phòng trên 450 triệu cây chông, đặt 23.000 mũi thò, đào hàng ngàn bẫy các loại.

Phong trào bắn máy bay địch cũng được phát động rộng rãi toàn tỉnh. Anh Hà-Ri người dân tộc BahNar, xã đội phó xã Tây Nam (huyện Kơ Bang) đang cõng con đi làm rẫy thấy máy bay trinh sát (L19) quần lượn theo hành lang Trung ương, anh đã dùng súng trường bắn rơi ngay chiếc máy bay, một tên lái sĩ quan Mỹ chết.

Dân quân du kích vùng giáp ranh giữa Gia Lai và Kon Tum chống địch càn quét vào vùng căn cứ Kon Hà Nừng giết và làm bị thương 300 tên lính sư đoàn 9 Bộ binh ngụy, bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

Phong trào thị xã cũng có bước chuyển biến mới. Đồng bào Kinh vùng Lệ Chí, Lệ Cần, Biển Hồ, Nhơn Thọ xây dựng được nhiều cơ sở nội và ngoại tuyến, lập các ban án sự quần chúng hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch lập ấp chiến lược, khu dồn; tên mật thám ở Lệ Cần lên mặt đàn áp bị nhân dân trừng trị.

Năm 1963 cuộc chiến tranh xâm lược của Đế quốc Mỹ ở Miền Nam Việt Nam đã đi vào con đường hầm không có lối thoát. Mâu thuẫn nội bộ địch ngày càng gay gắt, ngày 01 tháng 11 năm 1963 một nhóm tay sai thân Mỹ do Dương Văn Minh cầm đầu đã làm đảo chính lật Diệm để cứu vãn cố gắng chiến tranh của chúng.

Trải qua những năm tháng chiến đấu hết sức gian khổ trong những điều kiện vô cùng khó khăn phức tạp, phong trào cách mạng trong tỉnh vẫn vững chắc tiến lên, mặc dù so sánh lực lượng giữa ta và địch vẫn còn nhiều chênh lệch. Quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công nắm vận dụng phương châm đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang trên ba vùng chiến lược, quân và dân trong tỉnh đã cùng chiến trường từng bước làm thất bại những âm mưu thủ đoạn của địch. Đã phát động và tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân, căn bản thực hiện được nhiệm vụ xây dựng và củng cố căn cứ địa của tỉnh.

Chiến tranh có quy luật riêng của nó. Khi phong trào du kích chiến tranh phát triển đến một trình độ nhất định, nếu không kịp thời đẩy trình độ tác chiến tập trung lên quy mô thích hợp thì chẳng những tác chiến tập trung không phát triển mà du kích chiến tranh cũng không phát triển cao hơn được.

Vấn đề cơ bản là: Muốn tiêu diệt được nhiều sinh lực địch thì đấu tranh vũ trang phải ngày càng giữ vai trò quan trọng và có lúc quyết định. Vì vậy các lực lượng vũ trang cách mạng phải được xây dựng, tổ chức và huấn luyện trang bị tốt hơn để đủ sức tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, mới tiến lên đánh bại được các thủ đoạn chiến thuật của chúng.

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM