Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Ba, 2024, 03:46:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 8502 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #90 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:06:19 pm »

2. Một số bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị rút ra từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng

Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi có sự đóng góp to lớn của hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, qua đó để lại nhiều bài học quý:

Một là, công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch luôn chú trọng và tăng cường yếu tố chính trị của từng đơn vị và mỗi cá nhân, đó là việc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương và các cấp ủy Đảng thông qua việc quán triệt sâu sắc quan điểm, các nghị quyết của Trung ương Đảng, nghị quyết của Quân ủy đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu bảo đảm cho chiến dịch thắng lợi.


Hai là các cấp ủy Đảng trong chiến dịch đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, làm cho mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch, âm mưu, thủ đoạn và ý đồ của địch, thấy được thuận lợi, khó khăn trong tổ chức phòng ngự; quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào anh em cùng chiến đấu chống kẻ thù chung; trên cơ sở đó xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường, tinh thần đoàn kết hiệp đồng chiến đấu, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau giữa ta và bạn.


Ba là, công tác đảng, công tác chính trị trong tác chiến chiến dịch đã chú trọng thực hiện dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên trong xây dựng và tìm ra cách đánh hiệu quả để giành thắng lợi. Thực tiễn chiến dịch, liên quân chiến đấu Việt Nam - Lào chưa có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến phòng ngự. Vì vậy, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị các cấp đã chú trọng lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ việc quán triệt cách đánh địch trong chiến dịch phòng ngự, từ đó mọi cán bộ, chiến sĩ hiểu, nắm chắc, tự giác thực hiện và vận dụng linh hoạt, sáng tạo.


Bốn là, kịp thời động viên, khích lệ, biểu dương những đơn vị, cá nhân có sáng kiến và thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng, bố trí lực lượng cũng như trong chiến đấu. Công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách trước, trong và sau chiến dịch đà xác định đúng nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp với nhiệm vụ, đặc điểm, điều kiện tác chiến phòng ngự. Đã tiến hành tốt công tác dân vận đối với nhân dân nước bạn Lào và công tác địch vận; giáo dục, động viên bộ đội chấp hành chính sách và kỷ luật chiến trường; đề cao cảnh giác giữ gìn bí mật, phòng gian, đảm bảo an toàn cho bộ đội trong chiến dịch. Xây dựng tình đoàn kết chiến đấu giữa ta và bạn, mọi người, mọi đơn vị thuộc quân đội hai nước đều đồng tâm hiệp lực động viên, giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.


3. Vận dụng bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị hiện nay

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó dự báo; nhiệm vụ xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quồc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 158). Quân ủy Trung ương xác định: “Để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng giao cho”2 (Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW “về phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới ”, Hà Nội, 2021, tr. 1), trong đó, xác định tập trung xây dựng chất lượng tổng hợp của Quân đội, đặc biệt chú trọng xây dựng chất lượng chính trị. Đó vừa là yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn, vừa là yêu cầu khách quan đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội ta. Những bài học kinh nghiệm công tác đảng, công tác chính trị được rút ra trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho thấy: Để có sức mạnh chiến đấu, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống, trước hết từng đơn vị tham gia chiến dịch phải thực sự vững mạnh về chính trị; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp; sự tin tường, kiên định của bộ đội, quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, cách đánh, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu kiên cường, phòng ngự tích cực, chủ động cho bộ đội; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ; giữ vững mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, tăng cường đoàn kết hiệp đồng chiến đấu với quân đội và nhân dân Lào. Trong thời kỳ mới, vận dụng những bài học đó vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cần thực hiện tốt các nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn điện của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện của các cấp ủy và tổ chức đảng là vấn đề cơ bản hàng đầu, quyết định đến chất lượng và hiệu quả xây dựng Quân đội về chính trị hiện nay. Toàn bộ hoạt động của bộ đội diễn ra ở các đơn vị trong toàn quân, vào mọi thời điểm, phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy và tổ chức đảng các cấp.


Từ bài học rút ra của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã khẳng định rõ, các cấp ủy và tổ chức đảng phải luôn là hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động ở đơn vị, huy động được mọi tổ chức, mọi lực lượng tham gia xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị. Muốn vậy, cấp ủy và tổ chức đảng ở mỗi đơn vị phải thường xuyên chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp, tính chiến đấu, tính tiền phong gương mẫu và năng lực lãnh đạo đối với đơn vị, bảo đảm ở đâu có hoạt động của bộ đội thì ở đó có sự lãnh đạo của tổ chức đảng, khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hay khoán trắng các nhiệm vụ quân sự cho người chỉ huy. Đặc biệt, khi có những tình huống phức tạp, cấp ủy và tổ chức đảng phải thực sự tỉnh táo, là chỗ dựa tinh thần vững chắc để bộ đội đặt niềm tin vào tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cấp ủy và tổ chức đảng ở các đơn vị cần chủ động xác định chủ trương, xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung, phân công, phân cấp rõ ràng cho từng cấp ủy viên, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp ủy và tổ chức đảng đối với từng nhiệm vụ, từng đối tượng, từng thời gian. Nắm vững và đánh giá đúng tình hình của đơn vị mình, thấy rõ chỗ mạnh, chỗ yếu và chiều hướng phát triển tư tưởng trong đơn vị; nắm vững tâm tư, nguyện vọng, thái độ chính trị, trách nhiệm của mỗi người đối với các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, từ đó có nội dung, biện pháp tích cực, chủ động, nhạy bén để lãnh đạo. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Quân đội cần quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt Kết luận số 21-KL/TW ngày 25 tháng 10 năm 2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện ‘‘tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Thực hiện tốt Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28 tháng 12 năm 2021 của Quân ủy Trang ương “Về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ", kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”.


Thứ hai, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phù hợp với tình hình cách mạng, nhiệm vụ của Quân đội, đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ chủ trì, nhất là chính ủy, chính trị viên


Trong Quân đội, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng là một bộ phận hợp thành công tác đảng, công tác chính trị, có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đường lối quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ của Quân đội; trang bị cho cán bộ, chiến sĩ thế giới quan, phương pháp tư duy biện chứng và những kiến thức cần thiết, xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, bảo vệ và phát triển các giá trị văn hóa, tinh thần, phát huy phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”.


Thực tiễn Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho thấy: Nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị - tư tưởng mà bộ đội luôn quán triệt tốt quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quân ủy Trung ương, xác định rõ nhiệm vụ, nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn lấn chiếm của địch, thấy được khó khăn, thuận lợi, xây dựng quyết tâm chiến đấu để giành thắng lợi. Sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới đất nước, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng Quân đội hiện nay đã và đang có những bước phát triển mới, do đó, nội dung, hình thức công tác giáo dục chính trị - tư tưởng trong Quân đội ta phải thường xuyên được đổi mới theo hướng: Mở rộng nội dung một cách toàn diện, gắn với thực tiễn, tăng chiều sâu, đa dạng, phong phú về hình thức. Nội dung công tác giáo dục chính trị - tư tưởng phải xuất phát từ mục đích của công tác giáo dục, luôn bảo đảm tính khoa học, thiết thực và khách quan. Nội dung công tác giáo dục chính trị - tư tưởng ở các đơn vị trong Quân đội phải trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, bám sát nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ Quân đội và từng đơn vị. Đồng thời, phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh cho cán bộ, chiến sĩ, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở mọi lúc, mọi nơi.


Người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên là cán bộ chủ trì của đơn vị. Bản lĩnh, ý chí, quyết tâm chiến đấu của đội ngũ cán bộ chủ trì có tác động lớn đến bản lĩnh, ý chí, trình độ và phẩm chất của bộ đội. Do đó, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị hiện nay phải luôn đề cao và phát huy tốt vai trò của cán bộ chủ trì. Cán bộ chủ trì ở từng đơn vị phải thực sự là người năng động, sáng tạo, nắm vững tình hình, nắm vững đơn vị, tổ chức tốt công tác giáo dục chính trị, quản lý và giải quyết tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ. Chính ủy, chính trị viên phải luôn thấm nhuần và thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tư cách của chính trị viên có ảnh hưởng rất quan trọng đến bộ đội. Người chính trị viên tốt, thì bộ đội ấy tốt. Người chính trị viên không làm tròn nhiệm vụ, thì bộ đội ấy không tốt”; “Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công binh như một người anh, hiểu biết như một người bạn”1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5 (1947 - 1948), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 484); tích cực tu dưỡng, rèn luyện, thực sự là tấm gương sáng để bộ đội noi theo.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #91 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:07:16 pm »

Thứ ba, tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc, truyền thống Quân đội, đơn vị, truyền thống quê hương, truyền thống đoàn kết keo sơn giữa Quân đội ta với Quân đội Lào

Đây là một nội dung rất quan trọng, góp phần xây dựng niềm tin, niềm tự hào, động lực tinh thần của mỗi quân nhân trong thời bình cũng như khi chiến tranh xảy ra. Trong công cuộc giữ nước, truyền thống yêu nước, ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết... đã được hun đúc qua bao thế hệ, trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính truyền thống đó đã nuôi dưỡng, vun đắp và khơi dậy cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta viết tiếp truyền thống kiên cường, anh dũng, vượt mọi khó khăn, bách chiến bách thắng, tận trung với Đảng, tận hiếu với dân. Vì vậy, cần đẩy mạnh giáo dục các giá trị truyền thống cho cán bộ, chiến sĩ, nhất là giáo dục truyền thống của dân tộc, quân đội, đơn vị và địa phương để xây dựng trong mỗi quân nhân niềm tự hào về dân tộc, tự hào về Quân đội, đơn vị và quê hương mình, ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện góp phần xây dựng đơn vị, quc hương, đất nước, quyết tâm bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Trong bối cảnh tình hình mới hiện nay, càng phải luôn giữ gìn và xây đắp ngày càng bền chặt mối quan hệ đoàn kết đăt biệt Việt Nam - Lào. Cần làm cho mọi quân nhân luôn nhận thức đúng và phát huy truyền thống tốt đẹp quan hệ gắn bó, keo sơn giữa Đảng, Nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam với Đảng Nhân dân và Quân đội nhân dân Lào trong những năm tháng chiến đấu bên nhau chống kẻ thù chung và trong công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước của mỗi quốc gia hiện nay, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lào và Việt là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết... Đoàn kết chặt thì lực lượng to. Lực lượng to thì quyết thắng lợi”1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4 (1945 - 1946), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 161); “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 8 (1953 - 1954), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 105).


Thứ tư, tổ chức thực hiện tốt vấn đề dân chủ, kỷ luật, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái, thù địch

Dân chủ rộng rãi, kỷ luật nghiêm minh là một truyền thống thuộc về bản chất của Quân đội ta. Bài học sâu sắc rút ra từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cho chúng ta thấy, một trong những tiền đề quan trọng để liên quân Việt Nam - Lào có nhiều cách đánh hay, sáng tạo, bất ngờ đối với quân địch là do chúng ta đã mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của mọi quân nhân trong xác định cách đánh địch và giữ nghiêm kỷ luật chiến trường. Từng đơn vị, mỗi quân nhân luôn là chủ thể của mọi hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa... có ý thức giác ngộ chính trị sâu sắc, đoàn kết nhất trí, thương yêu nhau, cùng nhau bàn bạc, góp mưu hiến kế, tìm mọi cách thực hiện triệt để chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên; thực hiện dân chủ rộng rãi, kỷ luật nghiêm minh trong Quân đội là nhân tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, tiếp tục phát huy bản chất tốt đẹp và truyền thống vẻ vang của “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay phải phát huy hơn nữa quyền làm chủ của cán bộ và chiến sĩ, chăm lo xây dựng và phát huy nhân tố con người để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của Quân đội; đồng thời, tăng cường và giữ nghiêm kỳ luật quân sự, tạo ra ý thức tự giác chấp hành kỷ luật của mọi quân nhân. Đề cao vai trò của tổ chức quần chúng và Hội đồng Quân nhân trong thực hiện dân chủ, tham gia giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chủ trương, biện pháp lãnh đạo của tổ chức đảng, mệnh lệnh của người chỉ huy. Tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội, kiên quyết đập tan âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” Quân đội; đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết Việt Nam - Lào, đẩy mạnh phòng chống suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Quân đội.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là thắng lợi của tinh thần, ý chí và nghệ thuật quân sự đặc sắc của Việt Nam; của tình đoàn kết, gắn bó, cùng chung một chiến hào chống kẻ thù chung của quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Thắng lợi của chiến dịch đã để lại nhiều bài học quý, còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ những bài học đó, cho thấy: Bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản cần được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp. Đây là cơ sở, tiền đề để Đảng và Nha nước hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng Quân đội, bảo đảm cho Quân đội nhân dân Việt Nam luôn thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng Nhà nước và nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #92 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:09:20 pm »

CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972 THÀNH CÔNG VỀ CHỈ ĐẠO TÁC CHIẾN CỦA BỘ TỔNG THAM MƯU


Trung tướng PHÙNG SĨ TẤN
Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam


Cách đây 50 năm, liên quân Việt - Lào chủ động tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của địch trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho hai chiến dịch tiến công Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam Việt Nam. Sau gần 6 tháng chiến đấu liên tạc, liên quân Việt - Lào thực hiện đánh 244 trận, trong đó có nhiều trận phản đột kích quan trọng; loại khỏi vòng chiến đấu hơn 5.759 tên địch, đánh thiệt hại và thiệt hại nặng các binh đoàn cơ động chiến lược của chúng, giữ vũng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum và sự liên kết giữa các vùng căn cứ của bạn Lào; đồng thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta. Thành công của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là thành quả của nhiều nhân tố hợp thành, trong đó công tác tham mưu, chỉ đạo tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu giữ vai trò rất quan trọng.


1. Nghiên cứu, đánh giá đúng về địch, vị trị chiến lược của Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chủ động xây dựng kế hoạch, kịp thời tham mưu cho Quân ủy Trung ương mở chiến dịch phòng ngự, giành thế chủ động trên chiến trường

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường Đông Dương, nhất là sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn ờ Đường 9 - Nam Lào năm 1971, quân Mỹ và tay sai lâm vào thế bị động chiến lược, buộc phải chuyển vào phòng ngự nhằm duy trì cho cục diện chiến trường khỏi bị đảo lộn, đồng thời xúc tiến tìm một giải pháp chính trị có lợi trên bàn Hội nghị Pari. Trong lúc quân đội Sài Gòn phải co lại phòng ngự thì Mỹ thúc quân ngụy Lào và Campuchia đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc cho các chiến trường, hòng chặn đứng các cuộc tiến công quy mô lớn của ta trong năm 1972.


Trong khi Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972 của liên quân Việt Nam - Lào còn đang tiếp diễn, ngày 26 tháng 1 năm 1972, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Tổng Tham mưu phó, người trực tiếp theo dõi và chỉ huy chiến dịch về Hà Nội, báo cáo kết quả, ưu điểm, thiếu sót của đợt đầu chiến dịch với Thường vụ Quân ủy Trung ương, về phương hướng nhiệm vụ sắp tới ở khu vực Cánh Đồng Chum, đồng chí đề nghị: “Tiếp tục tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng hoàn toàn vùng Loong Chẹng đến Nậm Ngừm. Trước mắt, cần tập trung giữ vững tuyến trung gian, những điểm cao có lợi gần Loong Chẹng, đánh bại các cuộc phản kích của địch, đồng thời tích cực chuẩn bị chu đáo về mọi mặt để giải quyết nhanh, gọn việc giải phóng Loong Chẹng. Sau đó, giữ vững vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, để các vùng này trở thành căn cứ địa vững chắc của bạn”1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 411,412).


Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, có địa hình phức tạp: Rừng rậm, núi cao hiểm trở xen kẽ những thung lũng rộng, bằng phẳng. Đây là địa bàn có giá trị chiến lược cả về quân sự, chính trị và kinh tế của nước bạn Lào. Về quân sự, khu vực này vừa có thế tiến công, phòng thủ vững chắc, vừa bảo đảm cho cách mạng Lào phát triển; đồng thời, ảnh hưởng đến tuyến chi viện chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường ba nước Đông Dương. Vì thế, ngay sau khi ta và bạn tổ chức chiến dịch tiến công và làm chủ toàn bộ khu vực này, địch đã tăng cường lực lượng, do Mỹ trực tiếp chỉ huy và chi viện không quân hòng bao vây, chiếm lại địa bàn đã mất.


Phân tích về vị trí chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Bộ Tổng Tham mưu nhận thấy có hiện tượng đã thành quy luật là: Mùa khô ta giành quyền làm chủ, đến mùa mưa, do khó khăn về đường giao thông và tiếp tế, ta buộc phải rút bớt lực lượng thì địch lấn chiếm trở lại. Do đó, ngay sau khi liên quân Việt Nam - Lào giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và phát triển sâu vào Sảm Thông - Loong Chẹng, ta và bạn thống nhất chủ trương tổ chức phòng ngự một cách chủ động, quyết không để địch tái chiếm lại địa bàn chiến lược quan trọng này trong mùa mưa năm 1972.


Quán triệt quyết tâm chiến lược của Trang ương Đảng Lao động Việt Nam và Trang ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, tháng 2 năm 1972, Hội nghị Quân ủy Trung ương Việt Nam xác định: Phải giành thắng lợi lớn, tạo nên so sánh lực lượng và cục diện mới có lợi cho ta, buộc địch phải chấm dứt chiến tranh trong năm 1972 theo điều kiện của ta, đồng thời có sự chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh mạnh hơn nữa vào mùa khô 1972 - 1973 nếu địch còn ngoan cố kéo dài chiến tranh1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 21). Chấp hành chủ trương đó và trên cơ sở thực tiễn của chiến trường Lào, ngày 13 tháng 2 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu hoàn thành soạn thảo Mệnh lệnh về tổ chức chiến dịch phòng ngự khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và Sảm Thông - Loong Chẹng. Mệnh lệnh nêu rõ:

Căn cứ vào tình hình trên, nhiệm vụ quân sự của Bộ Tư lệnh 959 là cùng với bạn xây dựng vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành một khu vực phòng thủ vững chắc lâu dài, toàn diện, tạo thế bất khả xâm phạm cho vùng căn cứ địa cách mạng của bạn, đồng thời là bàn đạp xuất phát tiến công của ta về hướng Tây và Tây Nam. Về phương châm chỉ đạo tác chiến: Kết hợp chặt chẽ cơ động tiến công với chốt giữ khu vực, lực lượng cơ động là thành phần chủ yếu, chốt là thành phần quan trọng. Lấy tác chiến hiệp đồng binh chủng là phương án tác chiến chủ yếu, đồng thời tổ chức phòng thủ tác chiến có trọng điểm. Vận dụng tổng hợp nhiều hình thức chiến thuật, nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 57, 58). Chủ trương tổ chức chiến dịch phòng ngự khu vực chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng được Quân ủy Trung ương ta và bạn nhanh chóng thống nhất. Tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đã nhận được chỉ thị sơ bộ: Sau chiến dịch tiến công, liên quân Lào - Việt sẽ chuyển sang phòng ngự chiến dịch2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Sđd, tr.415).


Đến đầu tháng 4 năm 1972, địch liên tục điều động lực lượng, đưa tổng số quân ở Quân khu 2 lên tới 18.400 tên, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh (có 18 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh quân Thái Lan) và nhiều phương tiện chiến tranh nhằm chuẩn bị mở cuộc tiến công giành lại địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vào mùa mưa. Trước tình hình trên, ngày 1 tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương ta chỉ đạo Đảng ủy - Bộ Tư lệnh 959 và các lực lượng tác chiến ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng sử dụng bộ phận lực lượng tiếp tục hoàn thành đánh chiếm những địa hình có lợi, ra sức củng cố chỗ đứng chân, đồng thời đẩy mạnh việc triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum theo chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu. Đồng thời, Thường vụ Quân ủy Trung ương chỉ rõ: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi bao gồm cả khu trung gian; kiên quyết đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng của ta, trên cơ sở đó xây dựng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum thành căn cứ địa cách mạng vững mạnh. Tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng chiến lược của địch, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng của bạn khi co giải pháp chính trị, đồng thời thu hút lực lượng và sự chi viện của không quân Mỹ, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoạt động thuận lợi; tích cực đánh địch bằng nhiều hình thức, khống chế khu tung thâm Loong Chẹng, Buôm Loọng, buộc địch phải đối phó trong suốt mùa mưa1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cảnh Đông Chum mùa mưa năm 1972, 1977 tr. 29).


Trong ngày 1 tháng 4 năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Bộ Tư lệnh Mặt trận Cánh Đồng Chum - Mường Sủi nêu rõ: Trong khi chờ phái viên sang trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của Bộ, cần tập trung lực lượng Sư đoàn 312 và Sư đoàn 316 (các đơn vị đang chiến đấu ở khu vực Phu Mộc, Nậm Chà, Ta Can) kiên quyết tiêu diệt quân địch phản kích vào các chốt của ta. Đây là nhiệm vụ chính, vì thế, cần có kế hoạch và hướng dẫn đầy đủ cho các đơn vị trên thực hiện tốt nhiệm vụ. Cần tăng cường cán bộ xuống trực tiếp kiểm tra, đôn đốc và giúp đỡ cấp dưới về các mặt tổ chức, chỉ huy và cách đánh. Ngay lập tức cần tổ chức một số phân đội có nhiệm vụ đánh nhỏ quân địch ở trong tung thâm và phía sau Loong Chẹng, các phân đội này luân phiên hoạt động trong suốt mùa mưa. Lực lượng mỗi phân đội từ 1 đến 2 trung đội bộ binh, từ 1 đến 2 đội đặc công, cán bộ và chiến sĩ đều được chọn lọc, giáo dục nhận thức rõ nhiệm vụ, bồi dưỡng kỹ thuật, chiến thuật tốt, trang bị gọn nhẹ nhưng mạnh (B40, Ẹ41, cối 60mm, cối 82mm, súng bộ binh, mìn...), thông tin bảo đảm1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập 4 (1969 - 1972), Sđd, tr.417). Đầu tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trang ương hai nước ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đồng chí Vũ Lập được chỉ định làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy; phía bạn Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn - Tư lệnh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh về quân sự2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 335, 766, 866 quân tình nguyên và 463, 565 chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 203).


Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng khẩn trương tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng ngự chiến dịch. Khu vực phòng ngự được xây dựng trong phạm vi tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (khoảng 300km2), bố trí thành 5 khu vực: Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu, đánh địch trên hướng Nam và Tây Nam; Hin Tặng là khu vực phòng ngự cơ bản; Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là những khu vực tác chiến phối hợp đánh địch từ xa nhằm bảo vệ sườn Tây Bắc và sườn Đông của Cánh Đồng Chum.


Để phát huy sức mạnh lực lượng vũ trang hai nước, hai bên đã thống nhất: Các đơn vị Việt Nam phụ trách khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt; các đơn vị Lào phụ trách khu vực Xiêng Khoảng và khu vực Mường Sủi1 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, Sđd, tr. 38). Về tổ chức phòng ngự, tại các khu vực trọng yếu xây dựng trận địa liên hoàn, hình thành hệ thống các khu vực vững chắc, nhiều tuyến, có chiều sâu. Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 2 thành phần chiến đấu2 (Sau chiến dịch tiến công khôi phục lại Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, Sư đoàn 312 và một số đơn vị chủ lực ta rút về làm nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam. Đến đầu tháng 5 năm 1972, lực lượng ta tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng còn các trung đoàn 148 và 174 thuộc Sư đoàn 316; 2 trung đoàn độc lập 866 và 335, 2 tiểu đoàn đặc công (27 và 41), Tiểu đoàn Pháo binh 42, 2 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 2 tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 và 14,5mm, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp, 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng bạn tham gia chiến dịch có 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo xe kéo, 1 đại đội pháo mang vác, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh, 4 đại đội bộ đội địa phương và du kích): Lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động. Lực lượng phòng ngự gồm: Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) và Trung đoàn 866, được tăng cường 1/3 xe tăng - thiết giáp và 1/4 số pháo chiến dịch, mỗi trung đoàn cũng tổ chức lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động; lực lượng cơ động chiến dịch gồm: Trung đoàn 148 (Sư đoàn 316) và Trung đoàn 335 (đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C). Quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch về thời gian hoàn thành công tác chuẩn bị: Khu trung gian và khu Mường Sủi, xong trước ngày 20 tháng 5; khu trung tâm Cánh Đồng Chum, Noọng Pẹt, Xiêng Khoảng, xong trước ngày 15 tháng 7.


Cùng với tổ chức phân công lực lượng chốt giữ trên từng khu vực, ta và bạn thống nhất xác định khu vực tiếp giáp giữa hai bên để làm cơ sở xây dựng kế hoạch hiệp đồng. Đây là một trong những nét sáng tạo nổi bật trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Với cách tổ chức này, các lực lượng chiến dịch vừa có thể chủ động đánh địch trên các hướng, vừa có thể chi viện, hỗ trợ lẫn nhau trong suốt quá trình tác chiến; đồng thời, thuận tiện cho việc chỉ huy, phát huy sở trường của từng lực lượng mỗi bên.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #93 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:11:43 pm »

2. Khẩn trương chỉ đạo xây dựng hệ thống công sự, trận địa liên hoàn, vững chắc, tạo sức mạnh đánh bại các đợt tiến công quy mô lớn của địch

Do thời điểm chuẩn bị chiến dịch đúng vào mùa mưa (5.1972) nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng trận địa và vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật. Hơn nữa, việc phải tổ chức nhiều khu vực phòng ngự khiến khối lượng đào đắp công sự, hầm hào, đường cơ động,... tăng cao. Trước tình hình đó, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với bạn, tích cực xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự và vận chuyển vật chất hậu cần, kỹ thuật phục vụ chiến dịch. Trong đó nhấn mạnh: “Ngay từ lúc này, phải chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị bộ đội, làm cho các cấp quán triệt quyết tâm, tổ chức huấn luyện theo phương án tác chiến nhưng phải bảo đảm giữ bí mật...”1 (Bộ Tổng Tham mưu kết luận nhiệm vụ tác chiến và xây dựng lực lượng của Bộ Tư lệnh Mặt trận 316 tại Lào, số 179/VP-TM (Dẫn theo: Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Sđd, tr. 269)). Thực hiện chỉ đạo, chỉ trong thời gian ngắn, các lực lượng chiến dịch đã củng cố, làm mới được khoảng 300km đường, bảo đảm vận chuyển và cơ động lực lượng chiến đấu được thông suốt. Riêng Trung đoàn 148 làm mới 2 tuyến đường dài 40km với 80 chiếc cầu nhỏ. Trung đoàn 866 làm được nhiều đường cơ động và bắc cầu dây cáp qua suối Nậm Khô2 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, Sđd, tr. 51-52). Hệ thống thông tin liên lạc được tổ chức hoàn chỉnh bằng cả 3 phương tiện: Hữu tuyến điện, vô tuyến điện và thông tin vận động. Riêng về hữu tuyến điện, đã tăng cường tuyến đường dây cáp ngầm từ Bộ Tư lệnh Chiến dịch qua Phu Tâng, Phu Seo vào đến khu vực trung gian và phát triển trên 197km dây điện thoại, bảo đảm cho cấp chiến dịch nắm trực tiếp các trung đoàn cơ động, các phân đội hỏa lực, các trận địa phòng ngự then chốt. Lực lượng công binh đã giải quyết xong đường cơ động cho xe tăng, pháo binh, thậm chí còn làm ngầm qua suối, phòng khi mưa lũ.


Trước khi chiến dịch chuyển vào phòng ngự, một lượng lớn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm và các loại nhu yếu phâm cần thiết đã được đưa vào địa bàn chiến địch, bảo đảm đủ đánh địch từ 3 đến 4 tháng. Hệ thống công sự, trận địa chiến dịch được xây dựng vững chắc, nhiều tầng, nhiều lớp, giao thông hào nối liền giữa các cứ điểm, tạo thế liên hoàn, vững chắc, hiểm hóc. Đặc biệt, ta và bạn đã làm 658m đường hầm xuyên núi ở Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học và nhiều công sự kiên cố ở các chốt và cụm chốt trọng yếu ở khu trung gian, trong các cứ điểm quan trọng, bảo đảm vừa hạn chế sát thương, vừa cơ động chiến đấu kịp thời1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 37)... Do chuẩn bị tốt công sự, đường sá, hệ thống thông tin nên lực lượng tham gia chiến dịch nhanh chóng cơ động, triển khai đón đánh địch kịp thời, hiệu quả. Trong hai ngày 21 và 22 tháng 8, khi các hướng đang triển khai đánh địch tiến công từ ngoài vào, địch bất ngờ sử dụng máy bay trực thăng đổ 2 binh đoàn cơ động (21, 26) xuống khu vực Đông Bắc Phu Keng, định đánh bất ngờ vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Song, nhờ vận dụng phương thức phòng ngự linh hoạt, Trung đoàn 335 đã phối hợp với 1 tiểu đoàn (có xe tăng đi cùng) của Quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức trận phản đột kích, tiêu diệt hơn 650 tên, bẻ gãy hoàn toàn mũi tiến công bằng đổ bộ đường không của địch vào khu vực phòng ngự.


3. Chỉ đạo hiệp đồng chặt chẽ giữa ta với bạn, đánh địch rộng khắp, thực hiện thắng lợi các trận then chốt, tiêu diệt lớn sinh lực địch, giữ vững địa bàn chiến lược

Thực hiện kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dụng lực lượng thông thuộc địa bàn, nhất là lực lượng vũ trang tại chỗ của bạn để tổ chức luồn sâu nắm tình hình ngay từ khi địch chuẩn bị tiến công; từ đó, tổ chức lực lượng cơ động đánh địch trên các hướng, phá vỡ thể tiến công, làm giảm áp lực tiến công của chúng vào các trận địa phía trước. Dưới sự chỉ huy, điều hành thống nhất của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, các đơn vị bộ đội Việt Nam và Lào đều chủ động đánh địch theo phạm vi đảm nhiệm, kiên quyết đẩy lùi mọi đợt tiến công, tạo thế trận đánh địch rộng khắp, nhất là trên hướng phòng ngự chủ yếu của chiến dịch. Đồng thời, tạo thời cơ để chiến dịch tập trung cả binh lực và hỏa lực đánh trận then chốt, then chốt quyết định tiêu diệt lớn sinh lực địch. Khi đánh địch ở khu vực tiếp giáp giữa ta và bạn, hai bên đã hiệp đồng chặt chẽ trong từng tình huống tác chiến, bảo đảm bọc lót, chi viện cho nhau trong suốt quá trình chiến đấu, tạo hiệu ứng lớn về tiêu diệt địch, giữ vững trận địa.


Theo dõi sát diễn biến chiến trường, Bộ Tổng Tham mưu luôn có những chỉ đạo kịp thời, ngày 31 tháng 8, Tổng Tham mưu trường gửi điện yêu cầu cùng với chủ động, tích cực đánh địch, phải đánh với tinh thần hét sức tiết kiệm, ít tổn thất nhất. Phải hết sức coi trọng việc giữ gìn lực lượng bộ đội và vật chất của ta để đủ sức đánh địch từ nay đến mùa khô và đánh bại cuộc hành quân lấn ra của địch, cần phát huy sức mạnh lực lượng tại chỗ, chủ động đánh địch ngay khi chúng mới đến, diệt cho được quân luồn lách, trực thăng và chỉ huy các cấp của địch. Đồng thời, phải nắm thật chắc lực lượng cơ động, tránh xé lẻ phân tán ra đối phó hoặc sử dụng sớm đánh vào những mục tiêu không phải quyết định làm sức ta mệt mỏi, tiêu hao trong lúc lực lượng cơ động và thê đội 2 của địch còn nhiều và chưa xuất hiện1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên sự kiện Bộ Tổng Thạm mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975, Tập VIII (1972), Sđd, tr. 363).


Thực hiện chỉ đạo của Bộ Tổng Tham mưu, ta và bạn đã đẩy lùi mọi đợt tiến công của địch. Trong đó, bạn tập trung lực lượng đánh địch tiến công, bảo vệ phía bên phải và phía bên trái của khu vực chiến dịch, còn ta đánh địch phía chính diện, bảo vệ phía sau, đồng thời chi viện cho bạn đánh địch ở khu vực tiếp giáp. Sự phối hợp này đã liên tiếp đánh bại 4 đợt tiến công của địch, thực hiện thắng lợi ba trận then chốt trong các đợt 2, 3 và 4. Đặc biệt, trong trận phản đột kích thứ 3, địch sử dụng các binh đoàn cơ động (23, 30 và 31),... đồng loạt mở cuộc tiến công từ hướng Nam lên Phu Huột, Bản Xưa, Điểm cao 1172 (phía bên trái đội hình) và vào Cha Ho, Phu Tây (phía bên phải đội hình), hòng đánh vào trung tâm phòng ngự của ta. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến, tổ chức sử dụng lực lượng một cách linh hoạt, đón đánh địch trên các hướng. Trong đó, việc phối hợp của liên quân Việt Nam - Lào, nhất là sự phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp giữa lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động đã tạo sức mạnh tổng hợp, đánh thiệt hại nặng lực lượng chủ yếu của địch (GM 23) tại khu vực trung gian phía Nam Cánh Đồng Chum, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi trận then chốt quyết định và của cả chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #94 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:12:28 pm »

Như vậy, với vai trò cơ quan tham mun chiến lược, Bộ Tổng Tham mưu đã hoàn thành nhiệm vụ giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chỉ đạo liên quân Việt Nam - Lào tiến hành thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, góp phần vào thắng lợi cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Thắng lợi này củng cố thêm một bước quan hệ gắn bó giữa hai Đảng, hai dân tộc, hai quân đội trong nhiệm vụ chung là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ kết quả này, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng về chỉ đạo tác chiến chiến lược hiện nay, đó là:

Thứ nhất, cần quán triệt và thực hiện thắng lợi các chủ trương, đường lối, quan điểm, nghị quyết của Đảng về công tác quân sự, quốc phòng

Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu phải quán triệt và triển khai thực hiện thắng lợi đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, các nghị quyết của Quân ủy Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tiếp tục quán triệt thực hiện hiệu quả Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia... Nắm chắc tinh thần cốt lõi của Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XIII của Đảng: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa. Nỗ lực để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 155-157). Cụ thể hóa các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị đó, Bộ Tổng Tham mưu phải chủ động nghiên cứu, nâng cao chất lượng, phân tích, đánh giá và dự báo chính xác tình hình trong nước, khu vực và trên thế giới, kịp thời tham mưu, đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn những vấn đề liên quan đến quân sự, quốc phòng.


Thứ hai, nắm vững âm mưu, hành động của địch và khả năng tác chiến của Quân đội, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược cho Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, phương án tác chiến chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa


Trong tác chiến nói chung, tác chiến chiến lược nói riêng, thế trận luôn là nhân tố quan trọng, cùng với các yếu tố khác làm thay đổi cục diện chiến trường, chiến tranh. Đây là hoạt động đầu tiên, cần thiết trong lập thế trận nhằm tạo ra các điều kiện, hoàn cảnh có lợi cho tác chiến chiến lược trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Bởi, thông qua hoạt động tạo thế, chúng ta mới có thể phá được thế trận tiến công của địch, tạo cơ sở cho việc bày thế để hoàn chỉnh thế trận ban đầu có lợi cho tác chiến.


Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực luôn chứa đựng nhiều diễn biến phức tạp, tác động trực tiếp đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, Bộ Tổng Tham mưu phải nắm vững âm mưu, hành động của địch và khả năng tác chiến của Quân đội, nắm bắt kịp thời những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nghệ thuật quân sự mới; tiếp tục thực hiện tốt chức năng là cơ quan tham mưu chiến lược trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, nhất là kịp thời tham mưu, đề xuất “đúng, trúng” các kế hoạch, phương án tác chiến chiến lược. Để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, Bộ Tổng Tham mưu cần chủ động tham mưu, đề xuất thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án, chương trình, kế hoạch về quân sự, quốc phòng; xây dựng và hoàn thiện phương thức đấu tranh quốc phòng, lý luận về tác chiến chiến lược, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện nghiêm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; chủ động xây dựng, điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn kiện tác chiến cũng như điều chỉnh bố trí lực lượng phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ; tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, nội địa, địa bàn trọng điểm và không gian mạng, sẵn sàng chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.


Thứ ba, tiếp tục tham mưu và chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng tinh, gọn, mạnh; tăng cường tiềm lực quốc phòng, tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc.


Đây là nhiệm vụ rất quan trọng, đòi hòi Bộ Tổng Tham mưu phải tập trung rà soát, hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu tổ chức Quân đội theo Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 17 tháng 1 năm 2022 của Bộ Chính trị về “Tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo”; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW ngày 2 tháng 4 năm 2022 của Quân ủy Trung ương lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Kế hoạch của Bộ Quốc phòng thực hiện Nghị quyết số 230; xây dựng và ban hành biểu biên chế tổ chức mới; thông tư, quyết định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong toàn quân. Tham mưu đẩy mạnh hiện đại hóa các lực lượng, quân, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức; cùng với đó, đưa ra các giải pháp chiến lược trước mắt và lâu dài phát triển công nghiệp quốc phòng; sản xuất, mua sắm vũ khí trang bị hiện đại, phù hợp với tổ chức biên chế, khả năng tác chiến và phương án tác chiến mới của Quân đội trong tình hình mới. Đồng thời, tiếp tục triển khai và thực hiện tốt Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22 tháng 9 năm 2008 của Bộ Chính trị khóa X “Vc tiếp tục xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 21/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 2 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về “Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh”; nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng và an ninh xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân”1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 157). Đây là sự kế thừa, phát triển tư tưởng “lo giữ nước từ sớm từ xa, từ lúc nước chưa nguy” của dân tộc trong tình hình mới nhằm phòng ngừa, xử lý có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Bộ Tổng Tham mưu phải chủ động nghiên cứu kịp thời điều chỉnh lực lượng, thế trận, hình thành thế bố trí chiến lược, liên hoàn vững chắc; chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân duy trì nghiêm chế độ, nền nếp trực sẵn sàng chiến đấu; làm tốt công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý chặt chẽ vùng biển, vùng trời, biên giới, hải đảo; xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống quyết tâm kế hoạch, phương án tác chiến, chủ động phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với Công an nhân dân và các lực lượng khác, xử lý kịp thời hiệu quả các tình huống quốc phòng, an ninh, không để bất ngờ về chiến lược.


Thứ tư, nắm chắc tình hình, kịp thời chỉ đạo toàn quân, nhất là những đơn vị đóng quân trên địa bàn trọng yếu, chiến lược xử trí linh hoạt, kịp thời các tình huống

Trước yêu cầu đòi hỏi cao của nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia cả trên bộ, trên không, trên biển và không gian mạng, Bộ Tổng Tham mưu phải làm tốt công tác tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, giải pháp, kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi, hóa giải các nguy cơ chiến tranh, xung đột, không để bị động, bất ngờ, nắm chắc tình hình, tích cực chỉ đạo các đơn vị trong toàn quân, nhất là địa bàn trọng yếu, chiến lược nắm chắc diễn biến tình hình, những vấn đề phức tạp mới nảy sinh; từ đó đánh giá, dự báo đúng, kịp thời xử trí linh hoạt, đúng đắn các tình huống; kiên quyết không để bị động, bất ngờ; đồng thời, phát huy tốt năng lực lãnh đạo của cấp ủy Đảng, trình độ tổ chức chỉ huy, điều hành, khả năng phối hợp, hiệp đồng làm tham mưu cho chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể Trung ương và địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược, đề án quốc phòng, an ninh, trọng tâm là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng,... phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của từng lực lượng, từng địa bàn trọng yếu, chiến lược.


Như vậy, sau gần 6 tháng chiến đấu liên tục, ta và bạn đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ từ chủ trương đến công tác chuẩn bị và thực hành chiến dịch, giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thắng lợi đó càng củng cố mối quan hệ đặc biệt, gắn bó keo sơn giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội hai nước Việt - Lào. Lần đầu tiên bộ đội ta tiến hành một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh, giành thắng lợi lớn về nhiều mặt, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, góp phần làm phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch Việt Nam. Những thành công và bài học kinh nghiệm trong tham mưu chỉ đạo, điều hành, chỉ huy tác chiến của Bộ Tổng Tham mưu trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đến nay vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn, cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng trong công tác tham mưu chỉ đạo tác chiến chiến lược, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #95 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:14:16 pm »

TÌNH ĐOÀN KẾT CHIẾN ĐẤU ĐẶC BIỆT GIỮA HAI TỈNH NGHỆ AN VÀ XIÊNG KHOẢNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC


TS THÁI THANH QUÝ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An


Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông, có quan hệ truyền thống lâu đời, được hình thành và tôi luyện trong những năm tháng khó khăn gian khổ, kề vai sát cánh bên nhau chống ách đô hộ của thực dân vì độc lập, tự do của mỗi dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng, phát triển của mỗi nước hiện nay. Cùng với sự phát triển của quan hệ giữa hai nước, các tỉnh có chung đường biên giới Lào - Việt Nam đã không ngừng đẩy mạnh quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt.


Hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng gần gũi về địa lý, có vị trí địa - chiến lược, nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi đê đầy mạnh sự hợp tác. Trong từng giai đoạn lịch sử, quan hệ giữa hai tỉnh luôn giữ vị trí quan trọng và có tác động to lớn đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của hai tỉnh, cũng như quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Từ quan hệ “láng giềng thân thiện” trong buổi đầu lịch sử và “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung, Nghệ An - Xiêng Khoảng đã xác lập “quan hệ hữu nghị đặc biệt” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước. Phát huy thành quả hợp tác trong các thời kỳ kháng chiến, Nghệ An và Xiêng Khoảng tiếp tục phối hợp chẽ trong các lĩnh vực chính trị - quân sự, bước đầu hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, nhất là giúp đỡ vùng giải phóng của Lào khôi phục kinh tế, văn hóa, hàn gắn vết thương chiến tranh để ổn định sản xuất và đời sống cho nhân dân. Tình đoàn kết đó thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, phối hợp trong xây dựng, bảo vệ căn cứ địa, phát triển lực lượng cách mạng Lào

Thực hiện Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Lào (1954), sau khi Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào, lực lượng kháng chiến Lào tập kết về các tỉnh do Vương quốc Lào quản lý, phái hữu ra sức khủng bố, mua chuộc, lôi kéo nhân dân... khiến cho tình hình Lào trở nên nghiêm trọng. Tình thế cách mạng Lào rất khó khăn. Công tác xây dựng căn cứ địa và lực lượng cách mạng ở 10 tỉnh do Vương quốc Lào quản lý đặt ra một cách cấp bách. Trước yêu cầu đó, ngày 29 tháng 6 năm 1954, Bộ Tư lệnh Thượng Lào (Việt Nam) ra chỉ thị về việc đem hết khả năng giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang1 (Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Thượng Lào ngày 29 tháng 6 nom 1954 về việc đem hết khả năng giúp Lào xây dựng lực lượng vũ trang, bán vũ trang, in trong sách: Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Văn kiện, Tập II, 1946 - 1955, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2012, tr. 481). Theo đó, Nghệ An đã cử cán bộ sang Xiêng Khoảng trực tiếp giúp bạn phát động phong trào quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng căn cứ địa và sẵn sàng phối hợp hành động khi cần thiết. Nắm vững quan điểm “có dân là có tất cả”, các đội công tác của Nghệ An đã phối hợp với cán bộ nòng cốt cách mạng Lào đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng vũ trang cách mạng Lào, tăng cường công tác tuyên truyền, dân vận trong nhân dân các bộ tộc Lào. Nhờ đó, lực lượng trung lập ở khu vực Trung Lào có nhiều chuyển biến tích cực về lập trường chống Mỹ và tay sai, nhân dân Lào có quan hệ tốt với vũ trang cách mạng và Quân tình nguyện Việt Nam. Mặt khác, Xiêng Khoảng là địa bàn có căn cứ quân sự đầu não Loong Chẹng của tướng phỉ Vàng Pao, cũng là trung tâm chỉ huy chiến lược của CIA tại Lào. Xác định đây là địa bàn hét sức quan trọng, tháng 8 năm 1960, Nghệ An đã phối hợp với lực lượng Quân khu 4 đưa các đội công tác vũ trang (đội vận động quân chúng, đội trinh sát bí mật, đội vũ trang chiến đấu) phát động phong trào đấu tranh. Từ sự giúp đỡ của Nghệ An, căn cứ địa kháng chiến ở Xiêng Khoảng ngày càng được mở rộng, cơ sở cách mạng ngày càng vững chắc, nhiều tiểu đoàn được thành lập, vận động được nhiều binh lính trở về với nhân dân. Nhiều thanh niên các bản, làng hăng hái gia nhập du kích. Cuối năm 1962, hầu hết các địa bàn ở đây đã có cơ sở cách mạng.


Trong bảo vệ, mở rộng các tuyến giao thông huyết mạch, trước yêu cầu chi viện cho chiến trường Lào và miền Nam Việt Nam việc bảo vệ và mở thêm các tuyến đường là hết sức cần thiết. Với địa bàn Nghệ An - Xiêng Khoảng, Đường số 7 đóng vai trò chủ yếu để đưa người và vật chất từ miền Bắc qua Nghệ An sang Xiêng Khoảng, nối thông lên căn cứ Sầm Nưa. Năm 1968, 1.000 dân công Nghệ An cùng với Trung đoàn 271, Tiểu đoàn 42, Tiểu đoàn 43, các đại đội 21, 18, 19, 52, 212 của Quân khu 4, quân và dân Xiêng Khoảng ngày đêm bám sát trận địa bảo vệ tuyến đường này, bảo vệ kho, trạm để đảm bảo chi viện cho Chiến dịch 139 (còn gọi là Chiến dịch Toàn Thắng hay Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng), bảo vệ cửa ngõ vào Xiêng Khoảng. Tháng 9 năm 1974, Nghệ An huy động hàng nghìn dân công và các đơn vị vũ trang phối hợp với quân dân Xiêng Khoảng tu sửa Đường số 7, xây dựng các kho hàng ở Bản Ban Nậm Căn để vận chuyển hàng hóa giúp vùng giải phóng Lào.


Hai là, phối hợp chiến đấu chống lực lượng Vàng Pao chống chiến tranh phá hoại của Mỹ

Tỉnh Xiêng Khoảng có vị trí địa chiến lược đối với cách mạng Lào. Đường số 7 (quốc lộ) từ Nghệ An sang Xiêng Khoảng được coi là “cửa ngõ” đi vào căn cứ địa Sầm Nưa từ phía Nam. Nếu địch kiểm soát được Xiêng Khoảng, sẽ tạo hướng bao vây, chia cắt Sầm Nưa từ hướng Nam. Nếu cách mạng Lào kiểm soát được Xiêng Khoảng sẽ nối thông căn cứ địa Sầm Nưa với Việt Nam qua địa bàn Nghệ An. Nhận thức vị trí quan trọng của Nghệ An và Xiêng Khoảng đối với cục diện chiến trường Đông Dương, Mỹ đã chỉ đạo chính quyền Sài Gòn và chính quyền Viêng Chăn tổ chức các hoạt động quấy phá vùng giáp biên giữa hai tỉnh. Cuối năm 1954, phái hữu mở chiến dịch khủng bố, cấu kết với quân đội Sài Gòn tổ chức các hoạt động gián điệp xâm nhập vào phía Tây Nghệ An kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc ít người nhằm chia rẽ đoàn kết Lào - Việt, phá hoại công cuộc xây dựng của miền Bắc Việt Nam. Tháng 8 năm 1955, địch lôi kéo 32 gia đình với 236 người ở Na Ngoi, Mường Lống (Nghệ An) chạy sang Lào. Ngày 19 tháng 10 năm 1955, 160 tên phỉ tiến công cướp phá vùng Keng Đu, hỗ trợ nhóm phỉ Lê Văn Giáo, Lò Văn Thi hoạt động phá hoại... Tình hình trên đặt ra cho Nghệ An yêu cầu bảo đảm an toàn biên giới phía Tây, giúp Lào xây dựng các căn cứ địa dọc biên giới hai nước để tiếp nhận viện trợ từ Việt Nam. Tỉnh ủy Nghệ An đã phối hợp với Quân khu 4 triển khai lực lượng chốt giữ các cửa khẩu sang Lào và tiến công tiêu diệt thổ phỉ.


Sau khi chính quyền Viêng Chăn bị thất bại trong bầu cử, ngày 4 tháng 5 năm 1958, Mỹ và tay sai điên cuồng đẩy mạnh các hoạt động quân sự, quyết tâm tiêu diệt lực lượng chủ lực của cách mạng Lào. Tháng 5 năm 1959, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, quân đội Viêng Chăn đã huy động lực lượng bao vây Tiểu đoàn 2 của quân chủ lưc Pathét Lào ở Cánh Đồng Chum. Trước tình thế hiểm nguy của bạn, tháng 6 năm 1959, lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp với các lực lượng của Quân khu 4 khẩn trương tiến công địch, giúp Tiểu đoàn 2 phá vây, về tập kết an toàn tại Tương Dương (Nghệ An). Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp vào Nghệ An chỉ đạo Quân khu 4 và nhân dân Nghệ An xây dựng kế hoạch giúp đỡ Tiểu đoàn 2. Thực hiện chủ trương, Trung tâm Đào tạo cán bộ Xuân Thành (Phủ Quỳ - Nghệ An) đã giúp bạn huấn luyện và bô sung quân số, phát triển thành 3 tiểu đoàn (1, 2 và 4), trang bị đầy đủ. Đây là những đơn vị chủ lực đầu tiên của cách mạng Lào trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ được xây dựng và phát triển trên địa bàn Nghệ An. Việc giải cứu Tiểu đoàn 2 và thành lập trung tâm huấn luyện bộ đội Pathét Lào đã đập tan âm mưu tiêu diệt lực lượng Pathét Lào của địch. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đến tận Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Quân khu 4 và Tỉnh ủy Nghệ An cảm ơn cán bộ, chiến sĩ Quân khu 4 và nhân dân Nghệ An.


Tháng 12 năm 1960, trong kế hoạch giải phóng Cánh Đồng Chum, Quân khu 4 phối hợp với Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 2 Pathét Lào mở cuộc tiến công giải phóng Noọng Hét (Xiêng Khoảng). Trong cuộc tiến công này, Nghệ An được giao nhiệm vụ huy động lực lượng dân công hỏa tuyến làm công tác hậu cần và lực lượng vũ trang địa phương làm nhiệm vụ bảo vệ cho quân chủ lực hành quân. Sau 3 ngày chiến đấu, toàn bộ khu vực Noọng Hét đã được giải phóng, mở đầu cho thắng lợi của liên quân Lào - Việt tại Cánh Đồng Chum. Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1962, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An phối hợp với Lữ đoàn 324 và quân dân Xiêng Khoảng giải phóng đồn Noọng Hét và Bản Ban, diệt và bắt 230 tên địch, giam chân và tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, tạo điều kiện cho Chiến dịch Nậm Thà giành thắng lợi, bảo vệ vững chắc Đường số 7, cửa ngõ từ Nghệ An vào Xiêng Khoảng. Tháng 7 năm 1964, khi các toán phỉ tiến công xã Bảo Nam, Kỳ Sơn (Nghệ An), lực lượng vũ trang Nghệ An và Quân khu 4 phối hợp với quân dân Xiêng Khoảng loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch, giữ vững vùng giải phóng, bảo vệ nhân dân. Năm 1968, trong khi quân và dân miền Nam Việt Nam tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy, thì trên chiến trường Lào, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương của Tỉnh đội Nghệ An phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Xiêng Khoảng giải phóng các xã Tài Xiêng, Tham Tác, Khu Khẹ, Tổng Khư (Mường Pẹc).


Từ năm 1969, thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào, Mỹ tăng cường viện trợ cho Vàng Pao vũ khí, tiền bạc xây dựng căn cứ kiên cố ở Mường Mộc (Xiêng Khoảng) hòng cắt đứt thế liên hoàn của vùng giải phóng Bắc và Trung Lào, uy hiếp miền Tây Nghệ An. Quân ủy Trung ương giao cho Quân khu 4 và Tỉnh đội Nghệ An phối hợp tiêu diệt căn cứ này. Nghệ An đã huy động Tiểu đoàn 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội 211 của huyện Tương Dương và 170 dân công hỏa tuyến tham gia chiến đấu. Ngày 16 tháng 2 năm 1969, hai căn cứ quan trọng của Vàng Pao ở Mường Ngát và Tham Tạt đã bị xóa sổ. Sau thắng lợi này, lực lượng vũ trang Nghệ An tiếp tục tiến công vào Nâm Mộ, cửa ngõ vào trung tâm Mường Mộc. Để giành lại thế chủ động trên chiến trường Lào, tháng 8 năm 1969, Mỹ và lực lượng thân Mỹ tập trung binh lực mở cuộc hành quân Cù Kiệt đánh chiếm Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiểm soát Đường số 7 để bịt cửa ngõ vào Xiêng Khoảng từ hướng Nghệ An sang. Trước âm mưu của địch, ta và bạn phối hợp mở chiến dịch phản công ở Cánh Đồng Chum với mật danh là “Chiến dịch 139” do Quân khu Tây Bắc (Việt Nam) tổ chức. Phối hợp với Chiến dịch 139, lực lượng vũ trang Nghệ An và Quân khu 4 cùng với lực lượng của bạn tác chiến hướng Đường số 7 gồm: Tiểu đoàn 42, Tiểu đoàn 43, Đại đội 211, Đại đội Đặc công 18, Đại đội Trinh sát 19, Đại đội Cao xạ 52, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 271, Đại đội 212, lực lượng đặc công của Quân khu 4 và 1.800 dân công Nghệ An phục vụ chiến đấu. Qua 3 tháng (10 - 12.1969) phối hợp tác chiến, một loạt cứ điểm quan trọng như Xa Nọi, Keo Hom, Mường Mộc được giải phóng; ta và bạn tiêu diệt 253 tên phỉ, giải phóng 1.600 dân, phối hợp hiệu quả với Chiến dịch 139, góp phần đưa cách mạng Lào phát triển.


Năm 1971, phối hợp với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, quân và dân Nghệ An đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ hậu cần cho chiến dịch, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.

Mùa mưa năm 1972, theo kế hoạch phối hợp cùng Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trong khuôn khổ Chiến dịch 972 do Quân khu 4 tiến hành tại chiến trường Trung Lào, Nghệ An đã điều động 2 tiểu đoàn bộ binh 40 và 43, 1 đại đội súng côi 81mm, 1 trung đội súng máy phòng không 12,7mm, Đại đội Đặc công 18 và Đại đội 211 của huyện Tương Dương cùng 1.000 dân công hỏa tuyến trực thuộc Mặt trận 772. Hoạt động này của các lực lượng tỉnh Nghệ An đã phối hợp hiệu quả, thực sự “chia lửa”, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cùng với những thắng lợi của các chiến dịch khác trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam, đã tạo điều kiện quan trọng để cách mạng hai nước Việt Nam, Lào tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vào năm 1975. Thắng lợi của cách mạng Lào trước hết là nhờ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Mặt trận Lào ycu nước, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm của quân và dân các bộ tộc Lào. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dân hai nước Việt - Lào, trong đó có đóng góp không nhỏ cả về sức người, sức của của quân và dân Nghệ An.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #96 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:15:33 pm »

Ba là, hợp tác xây dụng chính quyển, phát triển sản xuất, ổn định kinh tế - xã hội

Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cùng với phối hợp chiến đấu trên các chiến trường, Xiêng Khoảng và Nghệ An còn hợp tác trong các lĩnh vực khác, nhất là hỗ trợ, giúp đỡ vùng giài phóng ở Xiêng Khoảng khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Hội nghị công tác miền Tây Thanh - Nghệ - Tĩnh (6.1958) tổ chức ở Nghệ An không chỉ tập trung bàn biện pháp xây dựng Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, phát triển kinh tế, văn hóa..., nhằm xây dựng ba tỉnh thành căn cứ địa trực tiếp của miền Nam và Lào, mà còn “đề ra phương hướng, kế hoạch cụ thể đề triển khai công tác viện trợ và giúp vùng giải phóng Lào khôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Nxb Nghệ An, 2007, tr. 112). Theo đó, Nghệ An viện trợ lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cử chuyên gia sang vùng giải phóng của Xiêng Khoảng giúp bạn ổn định đời sông, phát triển sản xuất.


Trước âm mưu chia rẽ, triệt phá các vùng giải phóng, Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng Nhân dân Lào (4.1961) đề ra nhiệm vụ cần kíp động viên quân dân Lào ra sức xây dựng các khu giải phóng thành căn cứ địa cách mạng phát triển về mọi mặt2 (Bộ Quốc phòng Lào - Cục Khoa học - Lịch sử quân sự, Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân và lực lượng vũ trang các tỉnh Trung Lào (1945 - 1975), Viêng Chăn, 2012). Để giúp bạn thực hiện chủ trương này, hàng nghìn dân công hỏa tuyến của tỉnh Nghệ An đã sang tu sửa đường sá, cầu cống, vận chuyển vũ khí, hàng hóa, dụng cụ sản xuất giúp nhân dân Xiêng Khoảng xây dựng và phát triển quê hương. Những năm 1961 - 1965, dù đang ra sức phấn đấu thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và chi viện chiến trường miền Nam nhưng Nghệ An vẫn ưu tiên chi viện và giúp đỡ vùng giải phóng của Xiêng Khoảng. Sau năm 1965, cùng với việc giúp đỡ xây dựng vùng giải phóng Lào, Nghệ An còn phối hợp đón nhân dân Lào sang sơ tán và là tỉnh tổ chức đón sớm nhất và nhiều nhất. Trong 4 năm (1969 - 1972), tỉnh đã đón gần 20.000 đồng bào Lào sơ tán3 (Nguyễn Thế Trung, Quan hệ đặc biệt giữa tỉnh Nghệ An (Việt Nam) với tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), in trong sách: Đảng Nhân dân cách mạng Lào - Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 1930 - 2007, Bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 379-398). Sau khi Chính phủ kháng chiến Lào chuyển về Sầm Nưa, vùng giải phóng Lào ngày càng được mở rộng, Đảng Nhân dân Lào quyết định xây dựng khu giải phóng theo mô hình của một quốc gia thu nhỏ. Nghệ An cử chuyên gia nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, văn hóa, giáo dục và y tế sang giúp nhân dân vùng giải phóng ở Xiêng Khoảng giải quyết khó khăn về lương thực, y tế và giáo dục. Tháng 3 năm 1967, Tỉnh ủy Nghệ An quyết định thành lập Ban C (Ban miền Tây) với nhiệm vụ “tham mưu cho Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh các chủ trương, biện pháp vun đắp tình hữu nghị và hợp tác giữa Nghệ An với các tỉnh của Lào, trước hết là tỉnh Xiêng Khoảng”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Dưới sự chỉ đạo của Ban C, tháng 12 năm 1967, Nghệ An cử đoàn chuyên gia gồm 37 người, chia làm 8 tổ sang giúp đỡ các địa phương của Xiêng Khoảng: 2 tổ ở Mường Pẹc; 4 tổ ở Mường Khăm; 2 tổ ở huyện Noọng Hét2 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Sang năm 1968, có 49 chuyên gia Nghệ An, chia làm 20 tổ tiếp tục sang công tác ở 4 huyện (Mường Pẹc, Mường Khăm, Noọng Hét và Mường Mộc). Trong 20 tổ có 13 tổ nông nghiệp, 1 tổ lâm nghiệp, 2 tổ công nghiệp, 1 tổ thủy văn, 1 tổ giáo dục, 2 tổ y tế3 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữu nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 119, 120, 120-121). Thời gian này, các tỉnh Trung Lào bị mất mùa cộng thêm sự đánh phá ác liệt của địch trên các tuyến đường, hàng từ Việt Nam sang gặp khó khăn nên xảy ra nạn đói trong nhân dân Lào. Nghệ An đã hỗ trợ, vận chuyển gạo, muối, vải, nông cụ, hạt giống, giúp nhân dân Xiêng Khoảng vượt qua nạn đói, tạo niềm tin vào sự nghiệp kháng chiến của Đảng Nhân dân Lào, Trung ương Neo Lào Hắc Xạt và niềm tin vào Bộ đội Việt Nam.


Tháng 12 năm 1968, đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng sang thăm và làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Nghệ An. Hai bên đã ký kết nghĩa và thống nhất phương án hợp tác, giúp đỡ nhau trong thời gian tới: “Nghệ An sẽ giúp Xiêng Khoảng các mặt nông nghiệp, thủy lợi, giao thông vận tải, thương nghiệp, y tế, văn hóa giáo dục, bằng hình thức cử cán bộ chuyên gia và một khối lượng giống, vật tư, thiết bị, kỹ thuật... tạo điều kiện cho Xiêng Khoảng phát triển”1 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữii nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 121, 126). Những năm 1969- 1975, công tác viện trợ và quan hệ kinh tế, văn hóa, giáo dục giữa hai tỉnh ngày càng được tăng cường. Nghệ An đã cử 12 đợt chuyên gia, viện trợ hơn 40 triệu đồng bằng hiện vật (lương thực, xăng dầu, nông cụ...) giúp nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng ổn định sản xuất và đời sống2 (Trần Kim Đôn (Chủ biên), Biên niên sự kiện hữii nghị và hợp tác Nghệ An - Xiêng Khoảng, Sđd, tr. 121, 126).


Nghệ An đã bồi dưỡng cấp tốc cán bộ quản lý vùng giải phóng, nhận hàng trăm học sinh Lào sang học tập tại các trường dân tộc nội trú của tỉnh. Sau khi học xong tiếng Việt và văn hóa cơ bản, học sinh Lào được cử tiếp đi đào tạo tại các trường chuyên nghiệp của tỉnh hoặc các trường đại học khác. Hầu hết các trường chuyên nghiệp ở Nghệ An như Trung cấp Y tế, Trung cấp Sư phạm miền núi, Trung cấp Kinh tế, Cao đẳng Sư phạm và Đại học Sư phạm Vinh đều có lưu học sinh Lào theo học. Dù chưa thể đáp ứng đủ yêu cầu về giáo dục - đào tạo của bạn nhưng Nghệ An đã góp phần quan trọng giúp Xiêng Khoảng kịp thời giải quyết tình trạng thiếu cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn cho các vùng giải phóng.


Sự phối hợp chiến đấu và phục vụ chiến đấu trên chiến trường cũng như sự giúp đỡ về kinh tế, văn hóa - giáo dục của Nghệ An dành cho Xiêng Khoảng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự tiếp nối truyền thống đoàn kết gắn bó lâu đời giữa hai tỉnh. Đó là những biểu hiện cụ thể của “tình đoàn kết đặc biệt, liên minh chiến đấu” trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, là cơ sở quan trọng cho quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai tỉnh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Bước ra khỏi chiến tranh, hai tỉnh tiếp tục củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện trong thời kỳ mới - thời kỳ hợp tác đặc biệt trên tất cả các lĩnh vực theo tinh thần Nghị quyết số 251-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 1976 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam “về tăng cường đoàn kết, giúp đỡ và hợp tác với cách mạng Lào trong giai đoạn mới”. Nghệ An đã tăng cường trao đổi ý kiến, kinh nghiệm về chủ trương, đường lối cách mạng, đào tạo bôi dựỡng đội ngũ cán bộ giúp Xiêng Khoảng; giúp tỉnh này về vốn, về chuyên gia, kỹ thuật, về quốc phòng - an ninh, giao thông - vận tải... Thành công lớn nhất của quan hệ hợp tác hai tỉnh giai đoạn này là tập trung giải quyết thành công những vấn đề biên giới liên quan đến hai tỉnh.


Sang thời kỳ đổi mới, quan hệ giữa Nghệ An và Xiêng Khoảng có điều kiện phát triển và được triển khai toàn diện giữa các tổ chức các ngành và các cấp tương đương, thông qua các hình thức kết nghĩa, ký kết hợp tác hằng năm, hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là lĩnh vực an ninh, quốc phòng, “đối ngoại nhân dân”. Đầu năm 2022, Nghệ An đã phối hợp với Xiêng Khoảng tổ chức kết nghĩa 18 cặp xã đồn biên giới. Hợp tác kinh tế ngày càng được chú trọng, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai tỉnh qua cửa khẩu Nậm Cắn trong năm 2021 và quý I năm 2022 đạt gần 38,6 tỷ đồng. Các chương trình phối hợp giữa các ngành quân sự, công an, tư pháp, các tổ chức, Đoàn Thanh niên... hai tỉnh được ký kết thường niên, góp phần thể hiện sinh động chủ trương “đối ngoại nhân dân” và đường lối đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.


Hiện nay, trong bối cảnh mới, sự hợp tác trên lĩnh vực kinh tế hai bên cùng có lợi ngày càng trở thành xu thế chủ đạo, là hướng hợp tác cơ bản, lâu dài. Vì vậy, để nâng mối quan hệ lên một tầm cao mới, hai tỉnh cần đưa ra những bổ sung điều chỉnh nội dung, phương thức, cơ chế hợp tác thích hợp. Trong đó ưu tiên sự hợp tác toàn diện trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và ý thức độc lập, tự cường, phát huy thế mạnh của mỗi nước trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, đồng thời dành sự ưu tiên, ưu đãi hợp lý cho nhau. Không ngừng gắn bó, thắt chặt mối quan hệ để cùng nhau vun đắp, giữ vững tình đoàn kết đặc biệt, tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách đối ngoại nhân dân, bảo vệ an ninh an toàn khu vực biên giới; cùng hợp tác tương trợ bảo vệ trật tự, an ninh, kịp thời đập tan các âm mưu của các thế lực chống phá, các hoạt động buôn lậu, vượt biên trái phép. Bên cạnh đó, công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, kinh tế ngày càng phát triển thì nhu cầu bổ sung thế mạnh cho nhau giữa hai tỉnh càng lớn, đòi hỏi cơ chế, chính sách ưu tiên cho nhau giữa hai bên càng cao. Là hai địa phương liền kề, nhiều tiềm năng phát triển của hai tỉnh được khơi dậy, trở thành yếu tố thúc đẩy nhau cùng phát triển, là cửa ngõ thông thương, bổ sung thể mạnh giúp nhau cùng phát triển và giữ mối quan hệ truyền thống, nâng quan hệ hai tinh lên tầm cao mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #97 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:17:57 pm »

NHÂN TỐ CHÍNH TRỊ - TINH THẦN GÓP PHẦN QUAN TRỌNG LÀM NÊN CHIẾN THẮNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972


Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO
Giám đốc Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng


Cách đây nửa thế kỷ, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của liên quân Việt - Lào nhằm chống lại quân ngụy Lào và quân đánh thuê Thái Lan diễn ra trên một địa bàn chiến lược quan trọng, rộng 3.000km2. Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào với cách đánh sáng tạo, hiệu quả cao. Sau 4 đợt chiến đấu tiến công, phản kích, phản đột kích, với ý chí quyết tâm cao độ và tinh thần chiến đấu kiên cường, liên quân Việt - Lào đã thực hiện 244 trận đánh (Quân tình nguyện Việt Nam đánh 170 trận, quân và dân Lào đánh 74 trận), diệt và làm bị thương hơn 5.600 tên địch, bắt và buộc ra hàng 1.137 tên; bắn rơi và phá hùy 130 máy bay, thu 136 khẩu pháo và cối. Riêng quân và dân Lào diệt gần 400 tên địch, bắt 139 tên, gọi hàng 230 tên, đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, giải phóng 3 huyện, thu nhiều vũ khí, trang bị và quân trang, quân dụng của địch... Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi đã giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa các vùng căn cứ địa cách mạng của bạn và kịp thời phối hợp với các hoạt động khác trên chiến trường ba nước Đông Dương, trực tiếp là cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam năm 1972. Có được chiến thắng vang dội trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 chính là nhờ sức mạnh tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố chính trị - tinh thần được phát huy cao độ, góp phần quan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Từ đây có thể theo Đường số 6 đi tới căn cứ cách mạng Lào ở Hủa Phăn, theo Đường số 7 về phía Đông sang Việt Nam. Phía Tây có Đường số 13 nối Luông Phabăng với Viêng Chăn. Đây là khu vực tác chiến trọng yếu bảo vệ tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường miền Nam, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đối với cách mạng Lào, lãnh đạo Neo Lào Hắc Xạt từng đánh giá nước Lào như một con voi trắng, khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là đầu voi, ai cưỡi được trên đầu voi thì người đó làm chủ nước Lào1 (Vi Say Chăn Tha Mạt, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - vị trí chiến lược quân sự quan trọng, liên minh chiến đấu Lào - Việt Nam trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2009, tr. 93). Mỹ coi Cánh Đồng Chum “là chìa khóa của nước Lào” và chọn đây làm nơi thí điểm học thuyết Níchxơn với công thức chiến tranh: “Quân ngụy Lào + quân Thái Lan + không quân, hậu cần, cố vấn Mỹ”.


Để giành thắng lợi trong chiến tranh, bên nào cũng phải chiếm giữ những vị trí chiến lược quan trọng. Cách mạng phải giữ đất, giữ dân, đối phương cũng phải giành dân, giành đất. Do vị trí địa quân sự rất quan trọng của Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nên trong những năm Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1960 - 1968) và chiến lược “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” (1969 - 1973) ở Lào, Mỹ chỉ đạo phái hữu Lào luôn chú trọng bố trí ở đây một lực lượng quân sự mạnh quyết chiếm giữ địa bàn. Do vậy, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trở thành trung tâm của những trận giao tranh ác liệt, nơi diễn ra cuộc đấu trí, đấu lực vô cùng quyết liệt giữa các lực lượng kháng chiến Lào phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam chống lại quân ngụy Lào và quân Thái Lan. Đây là khu vực ta và địch giành giật quyết liệt. Ta chưa đủ sức giữ, còn địch thì quyết chiếm lại, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1969 đến tháng 12 năm 1971 đã diễn ra tình trạng có tính quy luật: Mùa khô ta đánh địch, giành quyền làm chủ, nhưng mùa mưa địch lại nống ra chiếm lại vùng mới giải phóng.


Bước vào năm 1972, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chủ trương giành thắng lợi quyết định trên chiến trường miền Nam Việt Nam và tạo ra bước chuyển căn bản về chiến lược trên chiến trường Đông Dương. Vì thế, cùng với tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam, ngày 1 tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam chỉ đạo Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Đoàn 959 chủ động chuyển vào tác chiến phòng ngự sau khi chiến dịch tiến công mùa khô kết thúc. Theo đó, Liên quân Việt - Lào tập trung mọi nguồn lực, xây dựng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành khu vực phòng ngự, đánh bại các cuộc hành binh lấn chiếm của địch, bảo vệ khu vục Cánh Đồng Chum, củng cố vùng căn cứ giải phóng của bạn, phục vụ cho yêu cầu đấu tranh chính trị trong tình hình mới và chia lửa với chiến trường khác. Tháng 4 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Chiến dịch do Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Lê Linh làm Chính ủy. Phía bạn Lào, đồng chí Xiphon Phalikhăn, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh Chiến dịch. Sở Chỉ huy Chiến dịch đặt tại Phu Nhu.


Nhiệm vụ chiến dịch là hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Mường Sủi - Xiêng Khoảng, trong bất kỳ tình huống nào cũng phải kiên quyết bảo vệ vững chắc khu vực Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian; kiên quyết đánh bại mọi cuộc tiến công quy mô lớn của địch trong mùa mưa 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, trên cơ sở đó xây dựng Cánh Đồng Chum thành một địa bàn chiến lược, căn cứ địa vững chắc.


Căn cứ vào nhiệm vụ và trên cơ sở nghiên cứu địa bàn, tình hình địch Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ động, khẩn trương tổ chức xây dựng khu vực phòng ngự trong phạm vi tứ giác Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng (chiều dài 60km, chiếu rộng 50km), bố trí thành 5 khu vực: Cánh Đồng Chum (khu trung tâm) là khu vực phòng ngự chủ yếu, đánh địch trên hướng Nam và Tây Nam; Hin Tặng (khu trung gian) là khu vực phòng ngự cơ bản; Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu; Mường Sủi va thị xã Xiêng Khoảng là những khu vực tác chiến phối hợp đánh địch từ xa nhằm bảo vệ sườn Tây Bắc và sườn Đông của Cánh Đồng Chum.


Lực lượng ta tham gia chiến dịch được tổ chức thành 2 bộ phận: Bộ phận chốt giữ trận địa1 (Gồm 2 trung đoàn bộ binh (174 và 148) của Sư đoàn 316 được tăng cường 1/3 lực lượng xe tăng và 1/4 lực lượng pháo binh chiến địch) và bộ phận cơ động đánh địch trong và ngoài khu vực phòng ngự2 (Lúc đầu gồm 2 trung đoàn bộ binh tình nguyện độc lập (866 và 335) của Quân khu Tây Bắc, 2/3 xe tăng, 3/4 pháo binh chiến dịch; đến tháng 10 năm 1972, Bộ Tổng Tư lệnh tăng cường thêm Trung đoàn Bộ binh 88 thuộc Sư đoàn Bộ binh 308C). Lực lượng địch ở khu vực Quân khu 2 (Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) vào thời điểm bắt đầu chiến dịch (5.1972) có 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh. Trong đó lính đánh thuê có 18 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn pháo binh. Lực lượng tăng cường từ Quân khu 1, Quân khu 3 có GM 10B9, GM 30; đồng thời tại khu vực Sa La Phu Khun có 2 trung đoàn thuộc Sư đoàn 1 Bộ binh, 2 tiểu đoàn quân trung lập; 1 tiểu đoàn đặc biệt; 1 đại đội pháo binh. Tại sân bay ở Loong Chẹng có 2 phi đội T-28 với 9 máy bay, riêng không quân Mỹ chi viện từ 50 - 70 lần chiếc/ngày, trong đó có cả máy bay chiến lược B-521 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 16-17).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #98 vào lúc: 23 Tháng Hai, 2023, 02:19:21 pm »

Trước khi bước vào chiến dịch, trên cơ sở phân tích các hoạt động của địch, ta nhận thấy một quy luật là chúng thường mở cuộc tiến công lấn chiếm vào lúc ta kết thúc hoạt động mùa khô, gặp khó khăn về vận chuyển, tiếp tế, cơ động. Mặt khác, vào thời điểm 1972, quân đội Mỹ và tay sai muốn giành thắng lợi quân sự trên chiến trường Đông Dương để tạo “thế mạnh” trên bàn đàm phán và giành ưu thế cho đảng cầm quyền trong năm bầu cử tổng thống Mỹ. Vì thể, địch sẽ mở cuộc hành binh quy mô lớn, đánh chiếm lại khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Trong cuộc tiến công này, địch có nhiều lợi thế: Lực lượng đông vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại (cả máy bay B-52), chủ động về thời gian và mục tiêu tiến công. Ngoài ra, địch cũng đã đánh chiếm được một số địa bàn, vị trí quan trọng. Tuy nhiên, lực lượng Hoàng gia Lào và quân Thái Lan có những điểm yếu cốt tử. Đó là trình độ tác chiến hạn chế, tinh thần chiến đấu giảm sút, khả năng hỗ trợ của không quân Mỹ cũng có hạn và rất sợ phải tác chiến trong thời gian dài, địa bàn rộng... Về phía ta, có những thuận lợi cơ bản: Tinh thần đoàn kết và trình độ tác chiến cao nhất là kinh nghiệm vận động tiến công ở khu vực này. Đồng thời ta cũng gặp một số khó khăn: Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên, thời gian kéo dài, trên phạm vị rộng lớn lại diễn ra trong mùa mưa nên kinh nghiệm trong tổ chức phòng ngự còn hạn chế, bảo đảm tiếp tế hậu cần, kỹ thuật khó khăn; một số ít cán bộ chiến sĩ có tâm lý lo ngại tác chiến kéo dài, ác liệt, gian khổ hy sinh... Nhận rõ tình hình này, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Chiến dịch đặc biệt chú trọng công tác xây dựng sức mạnh chính trị - tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp thời chỉ đạo các đơn vị tổ chức làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quán triệt sâu sắc tình hình, nhiệm vụ, làm cho bộ đội nhận thức rõ những điểm mạnh tạm thời, những điểm yếu không thể khắc phục của địch và điểm mạnh cơ bản, khó khăn nhất thời của ta. Nhờ đó, lực lượng tham gia chiến địch không những chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, tư tưởng, nêu cao ý chí, tinh thần quyết chiến quyết thắng, mà còn khắc phục được những biểu hiện chủ quan, thỏa mãn, đánh giá thấp về địch (cho rằng chúng vừa bị thua đau trong mùa khô 1971 - 1972 không còn khả năng tiến công lớn). Các lực lượng nhanh chóng chấp hành mệnh lệnh, chuyển vào phòng ngự, chủ động xây dựng phương án tác chiến, tiến công địch.


Với ý chí quyết tâm cao độ, ngay sau khi kết thúc chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972, liên quân Việt - Lào đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt, thiết lập các cụm điểm tựa có hệ thống công sự, hầm hào; bố trí vật chất dự trữ chiến đấu ở từng khu vực; hình thành thế trận phòng ngự liên hoàn, vững chắc, có chiều sâu, đảm bảo tác chiến dài ngày. Trong gần 2 tháng (5.4 - 21.5.1972) khẩn trương chuẩn bị, ta và bạn tổ chức đào 500 hầm trú ẩn ven các đường cơ động, 50km hào giao thông, làm hơn 600km đường cơ động cho xe cơ giới, bắc 100 cầu vượt suối để vận chuyển trong mùa mưa. Nhân dân Xiêng Khoảng ủng hộ hàng nghìn cây tre, gỗ, hàng trăm tấm tôn để bộ đội làm công sự và làm cầu...


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra hết sức ác liệt, kéo dài gần 6 tháng với 4 đợt. Trong quá trình thực hành phòng ngự, để Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng giành thắng lợi, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng tiến công của Đảng, không để bị động, phụ thuộc vào hành động của địch. Đồng thời, kiên quyết chấp hành triệt để nhiệm vụ chiến lược là giữ vững khu vực, mục tiêu chủ yếu. Cho nên, mặc dù là chiến dịch phòng ngự, nhưng cấp ủy và chỉ huy các cấp luôn luôn quán triệt cho bộ đội nắm vững tư tưởng phòng ngự tích cực, nêu cao tinh thần chủ động, tích cực tiến công, lấy tiến công tiêu diệt địch, kiên quyết chiến đấu giữ vững trận địa làm mục tiêu phấn đấu và phương châm hành động.


Trước những diễn biến phức tạp diễn ra trong các đợt của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch kịp nhận thấy một số khó khăn nảy sinh. Đó là, mật độ bom pháo của địch dày đặc (có ngày địch sử dụng lực lượng không quân chiến thuật từ 80 đến 100 lần chiếc và từ 20 đến 25 lần chiếc B-52 tập trung đánh phá), bộ đội ta chưa có kinh nghiệm trong tác chiến phòng ngự, thời tiết khắc nghiệt (mùa mưa) và nhất là do tính chất vô cùng ác liệt, gian khổ, hy sinh tổn thất diễn ra hằng ngày, hằng giờ dẫn tới ý chí quyết tâm, niềm tin của một bộ phận cán bộ, chiến sĩ vào thắng lợi của chiến dịch chưa cao. Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã kịp thời, chủ động trong tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, kết hợp với nhiều biện pháp đồng bộ như bảo đảm ăn, nghi, sinh hoạt hằng ngày, điều cán bộ có năng lực, trình độ xuống trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các đơn vị chiến đấu..., ta đã dần khắc phục được những hạn chế về chính trị tư tưởng, xây dựng được tinh thần quyết chiến, quyết thắng, yếu tố then chốt, quan trọng nhất, quyết định thắng lợi của chiến dịch. Chính nhờ đó, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với quân và dân Lào, làn lượt đánh bại các cuộc tiến công của địch, kết hợp giữa tiến công với phản kích, phản đột kích, đánh những trận then chốt hiệu quả cao. Nổi bật là những trận chiến đấu ác liệt ở Phu Kụt1 (Phu Kụt là vị trí tiền tiêu của Cánh Đồng Chum), xứng đáng với danh hiệu “Phu Kụt anh hùng” và tên gọi “Điểm tựa thép”. Đây cũng chính là một điển hình về tình đoàn kết và sự liên minh chiến đấu đặc biệt, kề vai sát cánh cùng chung chiến hào của hai quân đội Việt Nam và Lào đã kiên cường thực hiện các đợt chiến đấu đầy mưu trí và hết sức oanh liệt để ngăn chặn có hiệu quả các đợt tiến công ác liệt của địch, bảo vệ vững chắc trận địa Phu Kụt. Hay như Tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn 174, do Đại úy, Tiểu đoàn trưởng Đào Trọng Lịch chỉ huy đã phát huy truyền thống của tiểu đoàn “đã ra quân là đánh thắng”, khắc phục khó khăn, kiên quyết, sáng tạo, cơ động linh hoạt, thực hiện nhiều trận phản kích hiệu quả cao, góp phần đánh bại các đợt tiến công của địch...


Để nâng cao sức mạnh chính trị - tinh thần, củng cố và tăng cường niềm tin vững chắc cho bộ đội vào khả năng và sức mạnh thực tế trong tác chiến phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch còn chỉ đạo các đơn vị tổ chức huấn luyện, diễn tập các phương án tác chiến ngay trong khu vực phòng ngự. Qua đó, rút kinh nghiệm, tìm ra những bài học hay, bổ sung, hoàn thiện từng phương án tác chiến, nhằm xử lý có hiệu quả với mọi tình huống có thể xảy ra. Ngoài ra, ta thường xuyên tổ chức thay phiên, đổi và bổ sung quân ở những chốt, những khu vực phải bám trụ, chốt giữ dài ngày, tạo cho bộ đội tâm lý thoải mái, được nghỉ ngơi dưỡng sức, giảm bớt căng thẳng, sẵn sàng bước vào trận đánh mới.


Cùng với những vấn đề quan trọng trên, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khàng là chiến địch có thời gian tương đối dài đã đặt ra cho công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật phải luôn chủ động, chu đáo, hiệu quả. Đây là một trong những yếu tố tác động rất lớn đến ý chí quyết tâm, tinh thần chiến đấu của bộ đội. Nếu chuẩn bị tốt sẽ bảo đảm đời sống, vũ khí trang bị cần thiết cho tác chiến và tạo sự yên tâm, lòng tin cho bộ đội, theo đó ý chí quyết tâm chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu không chuẩn bị tốt, dẫn tới trong chiến đấu phòng ngự dài ngày, nhất là diễn ra trong mùa mưa, bộ đội sẽ gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ, tổn thất, hy sinh... ảnh hưởng lớn tới tinh thần chiến đấu và niềm tin vào thắng lợi. Nhận thức đúng vấn đề này, trong quá trình diễn ra chiến dịch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo lực lượng hậu cần bảo đảm 3.918 tấn vật chất: 2.876 tấn lương thực thực phẩm (73,4%), 442 tấn đạn (11,3%), 400 tấn nhiên liệu (10,2%), 200 tấn vật chất khác (5,1%)1 (Dẫn theo: Công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1972 của Đại tá Trần Đình Quang (Phòng Khoa học quân sự Tổng cục Hậu cần)). Quân y chiến dịch đã tăng cường lực lượng cho các đơn vị phòng ngự, nâng cao khả năng cứu chữa tại chỗ, do đó, đã tổ chức thu dung, điều trị thương binh, bệnh binh chu đáo, làm tốt công tác vệ sinh phòng dịch góp phần bảo đảm sức khỏe và sức chiến đấu của bộ đội trong suốt mùa mưa.


Bằng những hoạt động thường xuyên, toàn diện, tích cực, kịp thời, phù hợp của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Chiến dịch và cấp ủy, chỉ huy các cấp trực thuộc, cùng sự phối hợp, giúp đỡ hiệu quả của quân, dàn Lào trong suốt quá trình chuẩn bị và thực hiện 4 đợt của chiến dịch đã làm cho sức mạnh chính trị - tinh thần của bộ đội không ngừng củng cố, tăng cường. Đây là nhân tố hàng đầu góp phần quan trọng làm nên chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, loại hình chiến dịch phòng ngự chi chiếm một tỷ lệ nhỏ, nhưng đều là những chiến dịch có tính ác liệt, quy mô lớn, dài ngày và thương vong tương đối lớn. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972 đã vượt qua được những khó khăn, thử thách đó và giành thắng lợi, trong đó có yếu tố chính trị - tinh thần. 50 năm đã trôi qua, thắng lợi đó tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của V.I. Lênin và nhắc nhở chúng ta cần thực hiện tốt điều dạy bảo của Người về tăng cường sức mạnh chính trị - tinh thần trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, rằng: “Trong mọi cuộc chiến tranh rốt cuộc thắng lợi đều tuỳ thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường. Lòng tin vào cuộc chiến tranh chính nghĩa, sự giác ngộ rằng cần phải hy sinh đời mình cho hạnh phúc của những người anh em, là yếu tố nâng cao tinh thần của binh sĩ và làm cho họ chịu đựng được những khó khăn chưa từng thấy”1 (V.I. Lênin toàn tập, Tập 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 147).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #99 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2023, 09:04:26 am »

V
HẬU QUẢ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH
XÂM LƯỢC VIỆT NAM ĐỐI VỚI ĐẾ QUỐC MỸ


Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã để lại cho đế quốc Mỹ biết bao hậu quả tai hại. Nó đã trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn tới sự suy yếu về mọi mặt của đế quốc Mỹ. Hậu quả của nó không chỉ biểu hiện ở sự suy yếu trước mắt mà còn tiếp tục "ngấm" sâu vào lục phủ ngũ tạng của nước Mỹ.

1. Suy yếu về kinh tế.

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đánh một đòn nặng nề vào nền kinh tế Mỹ. Sự suy yếu về kinh tế đó là một hậu quả tai hại nhất cho nước Mỹ. Riêng cái giá về tiền của mà nước Mỹ đã phải trả cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là bao nhiêu? Cho đến nay, chưa ai tính tổng quát hết được. Theo con số chính thức do giới cầm quyền Mỹ công bố, Mỹ đã mất cho cuộc chiến tranh này 240 tỷ đô la, khoảng 36 vạn binh lính, sĩ quan chết và bị thương, hơn 8.600 máy bay các loại, v.v... Nhiều chính khách Mỹ đưa ra con số 350 tỷ đô la, trong lúc đó có nhà kinh tế học Mỹ đã tính toán là: nếu cộng cả những chi tiêu gián tiếp khác, cuộc chiến tranh Việt Nam đã ngốn mất của nước Mỹ trên 600 tỷ đô la. Nếu so với giá trị khối lượng vàng dự trữ của nước Mỹ chỉ trên 10 tỷ đô la, đây thật là những con số khổng lồ. Nếu so sánh với con số ngân sách quốc phòng Mỹ năm 1956 là 40,7 tỷ đô la, hoặc ngay cà ngân sách quốc phòng Mỹ năm 1974 là 82,6 tỷ đô la (với giá đồng đô la sụt giá hiện nay), thì càng thấy rõ ý nghĩa của số tiền 600 tỷ đô la nói trên.


Trong lịch sử nước Mỹ, xét về mặt tốn kém về tiền của và tổn thất về sinh mạng, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam chỉ đứng sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt hậu quả về kinh tế tài chính mà nói cuộc chiến tranh thế giới thứ hai là một dịp để cho bọn tư bản độc quyền Mỹ tha hồ trục lợi. Bước ra khởi cuộc chiến tranh này, chủ nghĩa đế quốc Mỹ trở thành tên trùm của chủ nghĩa đế quốc thế giới, nước Mỹ trở thành một nước giàu mạnh nhất trong thế giới tư bản, đóng vai trò kẻ cho vay, đỡ đầu cho hàng loạt nước tư bản đàn em và tự cho mình đóng vai trò "sen đầm quốc tế" với thế lực quân sự và kinh tế trong tay. Trong những năm cuối của những năm 40, trong những năm 50 cho đến ngày đế quốc Mỹ dấn thân vào cuộc phiêu lưu quân sự ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đang ở trên đỉnh cao của sức mạnh của chúng về quân sự và về kinh tế. Gần mười năm qua, từ 1965 đến 1973, đến khi quân đội Mỹ phải cuốn cờ rút ra khỏi Việt Nam trong tư thế nhục nhã của một đội quân chiến bại, thì cũng là lúc mà những từ ngữ lạm phát, suy thoái của nền kinh tế Mỹ ngày càng đậm nét trên các bản tin tức hàng ngày trong nước Mỹ cũng như trên thế giới.


Với cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc đang làm rung chuyển nước Mỹ, trở thành một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra những xáo động về xã hội và chính trị trong xã hội Mỹ. Cuộc khủng hoảng này được thể hiện qua một số nét như: ngân sách liên bang bị thiếu hụt nặng nề và kéo dài, nạn lạm phát giấy bạc liên tục và ngày càng trầm trọng, các món nợ mà chính phủ liên bang nợ của "công chúng" dưới nhiều dạng, trong đó có dạng phát hành công trái mà nhiều giới tư bản tài chính mua để lấy lãi, ngày càng chồng chất. Dưới đây là một vài ví dụ:


Về công trái, cuối năm 1964 số công trái của chính quyền liên bang phát hành trị giá 318,7 tỷ đô la. Tháng 11 năm 1972 trị giá này tăng lên đến 444,7 tỳ, tức là trong gần 8 năm đã tăng 136 tỷ, gấp hơn 3 lần mức tăng trong suốt 19 năm trước đó. Gánh nặng về công trái này đáng lẽ phải giảm bớt, trái lại đã ngày càng tăng thêm theo năm tháng, gây ra tình trạng lãi mẹ đẻ lãi con hết sức nguy hiểm đối với sự cân bằng thu chi của những ngân sách liên bang Mỹ hiện nay và trong tương lai.


Về ngân sách, có năm Mỹ đã phải chi cho cuộc chiến tranh Việt Nam đến 30 tỷ đô la nếu chỉ tính theo các khoản chi mà bộ quốc phòng Mỹ phải gánh chịu và lên đến 50 tỷ đô la, nếu tính cả các khoản chi "bổ sung" mà ngân sách liên bang phải gánh chịu. Các khoản chi lớn đó đã khiến cho ngân sách liên bang Mỹ suốt từ năm 1965 cho đến nay luôn luôn lâm vào tình trạng thiếu hụt. Riêng từ năm 1965 đến 1972, ngân sách liên bang Mỹ đã hụt đến 85 tỷ đô la. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho chính phủ Mỹ phải vay nợ. Mặt khác, các khoản chi lớn về chiến tranh đã ảnh hưởng lớn đến mức độ cân đối cần thiết nhất định của sự phát triển các ngành kinh tế trong nước. Trong khi nhiều ngành công nghiệp sản xuất vũ khí bành trướng quá mức, thì nhiều ngành công nghiệp phục vụ cho đời sống xã hội lại ngày càng suy sụp. Những ảnh hưởng qua lại không thể tránh khỏi giữa các ngành sản xuất khác nhau trong một cơ cấu kinh tế chung đã đẩy nển kinh tế Mỹ vào một tình trạng suy thoái ngày càng nghiêm trọng. Chính vì thế, do mâu thuẫn về quyền lợi suốt từ năm 1965 đến nay, ngày càng có nhiều nhân vật có tên tuổi trong giới chính trị, quân sự, học đường, tôn giáo Mỹ đã lên tiếng phản đối đường lối đẩy mạnh, cuộc chạy đua vũ trang, tiếp tục mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam và Đông Dương.


Nếu trong những năm 50 và đầu 60, đồng đô la được xem là đồng tiền chúa tể của thế giới tư bản thì từ đầu những năm 70, đồng đô la lại là nguồn lo âu hàng giờ, hàng ngày của những ai cầm nó trong tay vì trị giá của nó ngày càng sút theo đà đi xuống liên tục. Đây là một hậu quả của nạn lạm phát, một cơn ác mộng đang bao trùm nước Mỹ ngày nay. Câu nói đầu lưỡi của Giôn-xơn, Ních-Xơn trước kia và của Pho ngày nay đều là: "Sẽ chiến thắng nạn lạm phát", nhưng ngày này qua ngày khác, nạn lạm phát cứ bành trướng lên mãi và đang trở thành bóng đen của một tai họa bao trùm lên Nhà trắng, Lầu năm góc, cũng như tất cả các mái nhà lớn, nhà của mọi người công dân Mỹ. Chỉ tính từ cuối năm 1964 đến tháng 11 năm 1972, số giấy bạc lưu hành ở Mỹ đã tăng thêm 25 tỷ đô la (từ 39,6 tỷ cuối năm 1964 lên 65,1 tỷ cuối tháng 11 năm 1972, gấp 2 lần mức tăng 11,1 tỷ trong thời gian từ 1947 đến năm 1964). Đến năm 1974, con số này đã lên đến 70 tỷ. Tỷ lệ lạm phát hiện đang ở mức hàng năm 12,2%. Đây thật là một cái giá phải trả cho cuộc chiến tranh Việt Nam mà giới cầm quyền Oa-sinh-tơn ỷ vào sự "giàu có" của nước Mỹ, đã không ngờ đến được. Cuộc chiến tranh Việt Nam đã đập nát cái khẩu hiệu "thừa súng lại thừa bơ" mà giới cầm quyền hiếu chiến Mỹ đã từng có thời kỳ huênh hoang nêu ra. Nạn lạm phát bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân sâu xa về tài chính và kinh tế trong chính chế độ tư bản Mỹ. Những số tiền khổng lồ mà Mỹ đã vung phí trong cuộc chiến tranh Việt Nam - nếu tính cả những chi phí gián tiếp lên đến trên 600 tỷ đô la, là một trong những yếu tố quyết định đưa đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng hiện nay trong nước Mỹ. Một trong những hậu quả tất nhiên của nạn lạm phát là giá sinh hoạt tăng. Từ năm 1966 đến năm 1972, giá sinh hoạt ở Mỹ đã tăng lên đến 32% tức là 22% cao hơn mức tăng trong 6 năm trước đó. Năm 1974, giá hàng tiêu dùng tăng 12,2%. Riêng giá lương thực tăng 21%. Một số mặt hàng như đường và dầu tăng 400%. Giá sinh hoạt tăng đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của những người dân Mỹ, nhất là của nhân dân lao động Mỹ. Cũng vì thế, từ năm 1966 cho đến nay, liên tục xảy ra nhiều cuộc đình công rất rộng lớn của hàng triệu công nhân Mỹ đấu tranh đòi tăng lương, giảm giá hàng và các quyền lợi sống còn hàng ngày khác. Phong trào đấu tranh đòi quyền lợi sống còn đó ngày càng mang theo một nội dung chính trị sâu sắc và tác động mạnh mẽ đến đời sống chính trị của nước Mỹ. Giữa cuộc chiến tranh Việt Nam, nạn lạm phát, nạn suy thoái kinh tế và cuộc khủng hoảng "thể chế" chính trị của nước Mỹ hiện nay, có những quan hệ tác động qua lại chặt chẽ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM