Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Bảy, 2024, 11:47:39 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 13634 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #310 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 09:59:01 pm »

3. Tổ chức lực lượng tác chiến

Tổ chức lực lượng tác chiến chiến lược căn cứ vào các giai đoạn chiến tranh, vào khả năng của ta, vào yêu cầu phát triển của chiến tranh và vào tài thao lược của Bộ Tổng tư lệnh.

Trong điều kiện lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, trong giai đoạn đầu của chiến tranh chống xâm lược, tổ chức lực lượng của ta là các đơn vị nhỏ cỡ tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn. Trong kháng chiến chống Pháp, ta chỉ tổ chức các đơn vị tiểu đoàn, trung đoàn. Đến giai đoạn giữa và cuối của cuộc chiến tranh, ta mới tổ chức đến cấp sư đoàn. Chưa có đơn vị lớn thì phổ biến là đánh nhỏ, đánh du kích một cách rộng rãi và đánh tập trung một cách có chọn lọc.


Trong kháng chiến chống Mỹ, ngay trong giai đoạn đầu, ta đã tổ chức các đơn vị sư đoàn. Đến giai đoạn giữa của cuộc kháng chiến, ta đã tổ chức đơn vị cấp quân đoàn. Có tổ chức đơn vị lớn mới đánh tiêu diệt lớn, giải phóng đãt đai và bảo vệ các địa bàn trọng yếu.


Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, quân đội chính quy đã được xây dựng ngay từ đầu và được huấn luyện, nên đã tổ chức được các đơn vị lớn ngay từ giai đoạn đầu của chiến tranh. Triều Lý đã có những đơn vị lớn nên Lý Thường Kiệt đã tổ chức trận phòng ngự lớn (chiến dịch phòng ngự chiến lược) ở tuyến sông Như Nguyệt để ngăn chặn Quách Quỳ, rồi phản công tiêu diệt.


Trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai, Hồng quân Liên Xô đã tổ chức ra các tập đoàn quân và phương diện quân gồm khoảng 80 vạn quân. Phương diện quân của Nguyên soái Giu-cốp khi đánh Béc-lin có biên chế tới 5 tập đoàn quân binh chủng hợp thành và 2 tập đoàn quân xe tăng, quân số khoảng hơn 1 triệu người. Còn phát xít Đức xâm lược thì tổ chức ra các tập đoàn quân và cụm tập đoàn quân - cụm tập đoàn quân thường có khoảng 1 triệu quân. Mùa hè năm 1941, khi phát xít Đức tiến công Liên Xô, cụm tập đoàn quân Trung tâm đánh vềhướng Mát-xcơ-va có tới 50 sư đoàn.


Chiến tranh ngày nay là chiến tranh sử dụng công nghệ cao, tác chiến điện tử. Tổ chức quân đội ngày nay phải tăngcường các quân binh chủng. Bộ đội chủ lực có thể tổ chức bộ binh hợp lý, nhưng phải tăng cường các quân binh chủng, tăng cường các đơn vị bộ đội kỹ thuật. Đặc biệt, phải tăng cường bộ đội phòng không để đánh trả các cuộc tiến công hỏa lực đường không của quân địch bằng máy bay và tên lửa hành trình. Phải tăng cường súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không các loại, các cỡ, loại cố định và loại cơ động. Bộ đội xe tăng và bộ đội pháo binh cần có biên chế, trang bị các loại súng, pháo, tên lửa phòng không để bảo vệ cho bản thân mình và được đặt trên xe bánh xích, hoặc xe bánh lốp. Dân quân tự vệ được huấn luyện đánh chặn tên lửa hành trình và máy bay bay thấp.


Nga có tên lửa SAM-6 cơ động trên xe bánh xích và tên lửa phòng không hiện đại tiên tiến S-300, cơ động trên xe bánh lốp. Tên lửa phòng không S-300 tiên tiến hơn loại tẽn lửa phòng không Pa-tơ-ri-ốt của Mỹ. Nga còn có loại tên lửa phòng không mới nhất là S-400 tiên tiến hơn loại S-300. Từ tư thế hành quân chuyển sang tư thế chiến đấu, S-300 chỉ mất 5 phút, còn Pa-tơ-ri-ốt của Mỹ mất 15 phút. Đây là loại vũ khí phòng không ta cần có để trang bị cho bộ đội Phòng không - Không quân.


Ở nước ta, tổ chức đánh trả cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch là rất quan trọng. Do đó ta phải xây dựng tổ chức lực lượng phòng không mạnh; coi trọng xây dựng tổ chức các lực lượng tên lửa phòng không và các loại súng, pháo phòng không cho cả ba thứ quân. Tuy lực lượng không quân của ta còn hạn chế, nhưng nếu sức mạnh phòng không của ba thứ quân mạnh thì cũng có thể đối phó được sức mạnh tiến công hỏa lực đường không của đối phương; mà sức mạnh tiến công hỏa lực đường không hiện nay là một mũi nhọn của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #311 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 10:00:11 pm »

4. Tìm chọn địa bàn, mục tiêu tác chiến, hướng tiến công chủ yếu

Xác định đúng thì thắng lợi. Tùy từng giai đoạn chiến tranh, lúc đầu ta chưa mạnh lắm thì chọn địa bàn nơi địch yếu. Nhưng nếu khi cần, mà ta có khả năng chiến đấu thì có thể chọn theo yêu cầu chiến lược. Lý Thường Kiệt đã chọn tuyến sông Như Nguyệt để ngăn chặn Quách Quỳ, rồi tổng phản công tiêu diệt địch bảo vệ kinh đô Thăng Long. Cần chọn địa bàn địch yếu, nhưng là nơi hiểm yếu của nó, lại có cái thế phát triển và địch khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Trong kháng chiến chống Pháp ta chọn đánh Điện Biên Phủ, dịch tuy mạnh nhưng cũng khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược.


Trong chiến cục mùa Xuân 1975, mưu kế chiến lược của ta là kìm địch ở hai đầu nam, bắc chiến tuyến là Sài Gòn và Huế - Đà Nẵng để địch bị sơ hở ở Tây Nguyên. Ở Sài Gòn và Huế - Đà Nảng địch phải để lực lượng tổng dự bị. Tây Nguyên là nơi địch yếu. Ta chọn Tây Nguyên là nơi địch cũng khó sử dụng lực lượng dự bị chiến lược; ta dễ thắng lợi và sau đó cũng dễ phát triển xuống đồng bằng ven biển cực nam Trung bộ. Chọn mục tiêu và hướng tiến công chủ yếu cũng tùy theo giai đoạn chiến tranh, tùy theo so sánh lực lượng và yêu cầu của chiến lược. Có lúc chọn nơi địch yếu, có lúc chọn nơi địch tương đối mạnh hoặc mạnh, nghệ thuật chọn địa bàn, mục tiêu là kiểm chế một hoặc vài mục tiêu để đánh một mục tiêu. Phòng ngự ở một địa bàn để tiến công ở một địa bàn khác.


Trận đầu, chiến dịch đầu, nên chọn địa bàn nơi địch yếu, hướng, mục tiêu địch yếu và ta dễ phát triển. Chọn nơi địch yếu thì địch mạnh cũng sẽ trở thành yếu, vì nó không còn thế liên hoàn nữa. Cũng giống như một cái hình, nếu mất một cạnh, một góc thì cái hình không còn được hoàn chỉnh nữa. Các cạnh khác, góc khác cũng sẽ yếu đi. Trong chiến cục mùa Xuân năm 1975, địch mất Tây Nguyên thì Huế - Đà Nẵng có mạnh cũng sẽ trở thành yêu.


Đó là vấn đề thế trận và hình trận.


5. Sử dụng đội tổng dự bị và đánh phản kích

Đây cũng là vấn đề nguyên tắc và nghệ thuật chỉ huy.

Đội dự bị, tổng dự bị là quả đấm nguyên vẹn, sung sức, là con dao sắc sử dụng vào những tình huống, thời cơthen chốt để tăng thêm sức mạnh, để đối phó có hiệu quả với những tình huống khó khăn, để phát triển thắng lợi lớn, nhanh chóng hoặc để cứu vãn tình thế.


Người chỉ huy không nên sử dụng hết toàn bộ lực lượng. Trong chiến đấu thường diễn ra những điều mà người chỉ huy không lường hết được. Do đó, cần phải có đội dự bị đê sẵn sàng ứng phó với những tình huống thuận hay nghịch.


Chiến cục Xuân 1975, đội tổng dự bị chiến lược của ta là Quân đoàn 1, ta có thể sử dụng vào chiến trường Huế - Đà Nẵng. Nhưng Quân đoàn 2 của ta và lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên không cần dùng đến đội tổng dự bị chiến lược. Đến chiến dịch Hồ Chí Minh, ta mới sử dụng Quân đoàn 1 để nhanh chóng giải phóng Sài Gòn, để địch không kịp có kế hoạch đối phó.


Chiến cục xuân-hè 1972, địch đã sử dụng đội tổng dự bị chiến lược là sư đoàn dù có hiệu quả. Sư đoàn dù đã cứu được An Lộc đang bị nguy khốn; và sau đó nó lại cứu được Quảng Trị cũng trong tình cảnh nguy khốn. Đội tổng dự bị chiến lược của địch (sư đoàn dù) làm được nhiệm vụ đó là vì nó cơ động bằng máy bay trực thăng.


Sức cơ động nhanh (máy bay trực thăng) tạo ra lực lượng, thời gian, không gian và thời cơ, tình huống. Chiến cục Xuân 1975, đội tổng dự bị chiến lược của địch sử dụng không hợp lý. Sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến của địch lại phân tán sử dụng vào trực tiếp chiến đấu ở tuyến một và một phần làm dự bị cho chiến dịch hoặc chiến lược. Về phía ta, đội tổng dự bị chiến lược được tổ chức thành một lực lượng mạnh và tập trung. Đội tổng dự bị của ta là một quân đoàn (Quân đoàn 1), mạnh hơn đội tổng dự bị chiến lược của địch. Đội tổng dự bị chiến lược của ta được sử dụng tập trung vào những thời điểmthen chốt, thúc đẩy cho tác chiến phát triển và có tínhquyết định. Quân đoàn 1 của ta được sử dụng vào chiến dịch quyết chiến chiến lược để giải phóng Sài Gòn một cách nhanh chóng.


Về đánh phản kích, trong giai đoạn cuối của chiến dịch Quảng Trị năm 1972, ta chưa tổ chức được đội tổng dự bị chiến lược để đánh bại địch phản công, về đánh phản kích trong chiến dịch, ta đã thành công trong việc đánh bại sư đoàn 23 của địch định đi ứng cứu Buôn Ma Thuột trong chiến dịch Tây Nguyên năm 1975; do đó ta đã tạo ra đột biến chiến dịch. Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn đã sử dụng đội tổng dự bị chiến lược đê tiêu diệt hết tàn quân của Liễu Thãng chạy từ Chi Lăng về Bắc Giang. Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai, trong chiến dịch Xta-lin-grát, Hồng quân Liên Xô đã dùng lực lượng tổng dự bị chiến lược của tướng Ma-li-nôp-xki để đánh bại cuộc phản kích của thống chế Đức Von Manh-xi-tanh định đi cứu 33 vạn quân Đức bị bao vây ỏ Xta-lin-grát, buộc thống chế Đức Von Pao-lut-sơ đang bị vây hãm phải đầu hàng. Đây là lần đầu tiên trong chiến tranh thế giới thứ 2, thống chế Đức Von Manh-xi-tanh đã từng chỉ huy các binh đoàn xe tăng Đức làm mưa, làm gió một thời trên đất Pháp, đã bị đánh bại và một thống chế khác bị bắt làm tù binh.


Những ví dụ trên đã cho thây đội dự bị, tổng dự bị chiến lược có vị trí, vai trò quan trọng như thế nào trong chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #312 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2023, 10:03:02 pm »

6. Vận dụng "thế", "thời" trong tác chiến

Vận dụng "thế", "thời" là nét đặc sắc về nghệ thuật khởi nghĩa và chiến tranh của Việt Nam. Trong tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh đã vận dụng thế và thời một cách tài tình, nên đã đưa cuộc tổng khởi nghĩa đến thắng lọi nhanh chóng, ít tổn thất và đã lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa. Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 1945,cả nước ta đã sôi sục khí thế khởi nghĩa. Tình thế tiền khởi nghĩa đã diễn ra khắp nước. Nhân dân ở nhiều vùng nông thôn đã nổi dậy cướp kho thóc của Nhật. Trước tháng 8 năm 1945, quân du kích cách mang ở nhiều nơi đã lập ra các chiến khu, và đã đánh một số đồn bốt. Như thế là Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chiến đấu chống phát xít, phối hợp với Hồng quân Liên Xô và quân đôi Đông minh. Nhưng thơi cơ tổng khởi nghĩa chưa chín muồi.


Ngày 8 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô phát động cuộc tiến công đạo quân Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu. Ngày 13 tháng 8 năm 1945, Hồng quân tiến vào trung tâm Mãn Châu. Biết quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh vào 12 giờ trưa ngày 13 tháng 8 năm 1945, 11 giờ đêm cùng ngày lãnh tụ Hồ Chí Minh cùng Tổng bộ Việt Minh phát lệnh khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa.


Cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra khi quân Nhật đã mất hết tinh thần và sức chiến đấu, và lúc đó quân Đồng minh chưa kịp tiến vào Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Đó là thời cơ thuận lợi nhất để đưa cách mạng đến thành công và lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trước khi quân Đồng minh vào. Nếu khởi nghĩa nổ ra chậm, khi quân Đồng minh đã vào và chính phủ thân Đồng minh được lập ra thì ta sẽ khó bề xoay xở. Sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi quân Đồng minh vào, ta đã ở một vị thế là Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra tiếp đón quân Đồng minh vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật.


Trong trận Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán cũng vận dụng thế, thời một cách tài tình. Cọc dưới lòng sông Bạch Đằng là "thế", thủy triều là "thời". Do vận dụng thế, thời một cách tài tình nên Ngô Quyền đã giành thắng lợi, chiến tranh chỉ diễn ra trong có mấy ngày. Đây là cuộc chiến tranh ngắn nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Trong chiến cục Xuân 1975 của cuộc kháng chiến chống Mỹ, thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến (ở Huế - Đà Nẫng và Sài Gòn), để hở quãng giữa (miền Trung và Tây Nguyên). Ta kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng bằng Quân đoàn 2 và Quân đoàn 1 là tổng dự bị chiến lược ở đằng sau Quân đoàn 2. Ta cũng kim giữ địch ở Sài Gòn bàng Quân đoàn 4, đứng chân ở phía bắc Sài Gòn. Do ta bcT trí ba quân đoàn như thế ở hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến, nên dịch cũng đặt sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ở Huế: Đà Nẵng và Sài Gòn để sẵn sàng đối phó. Địch sợ nhất là mặt trận Huế - Đà Nẵng. Vì ở đây ta có lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân của Quân khu Trị - Thiên và Quân khu 5. Ngoài ra, ta lại có Quân đoàn 1 đứng chân ở phía bắc vĩ tuyến 17.


Khi đã giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến của địch cắm chân ở các vị trí chiến lược then chốt đó, ta đã tạo được thời cơ để phát động chiến dịch tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa là, để phá vỡ thế trận phòng ngự của địch ở Tây Nguyên một cách nhanh chóng, ta đã bí mật tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa. Ở Tây Nguyên, từ hai sư đoàn đã tăng lên thành bốn sư đoàn. Một quả đấm mạnh thứ ba được hình thành ở Tây Nguyên. Như vậy, khi ta đã kìm chân được địch ở hai đầu chiến tuyến; lực lượng tổng dự bị của địch đã bị dính chặt ở những nơi ta định kìm chân chúng, thì ta vẫn có một lực lượng mạnh đểphá vỡ địch ở nơi ta chọn. Do đó mà lực lượng của địch nhanh chóng bị đập tan. Tài thao lược, mưu kế chiến lược của ta là kìm địch ở hai đầu để phá ở quãng giữa.


Thế trận chiến lược của ta là căng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến, tạo ra sơ hở ở Tây Nguyên. Do đó mà ta dễ phá vỡ địch ở Tây Nguyên. Thế trận chiến lược của ta như thế là đẹp. Thế trận chiến lược đã tạo điều kiện tốt cho trận mở đầu Buôn Ma Thuột giành thắng lợi nhanh chóng. Thời cơ chiến lược là khi ta đã kìm chân được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến ở Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn, cùng lúc ta phát động cuộc tiến công ở Tây Nguyên. Khi ta đánh địch ở Tây Nguyên, thì tổng dự bị của địch không đi cứu được. Do đó, mặt trận Tây Nguyên bị phá vỡ một cách nhanh chóng và tạo ra đột biến. Thời ởđây cũng hay - nghệ thuật thế và thời ở đây cũng được vận dụng một cách sáng tạo, hợp lý.

   Mưu sinh ra thế,
   Kế đẻ ra thời.
   Đánh bằng mưu kế,
   Thắng bằng thế thời.

Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều nói, nước nhỏ đánh một nước lớn tìi phải dùng "thế" và "thời".

   Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết:
   "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ,
   Ít địch nhiều thường dùng mai phục''.

Trong Quân trung từ mệnh tập, Nguyễn Trãi viết: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy".

   Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nói về thế và thời đã viết:
   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí.
   Gặp thời một tốt cũng thành công".

Và: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi. Thế ta thắng đã rõ ràng. Thế địch thua đã rõ ràng...."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 455). Vận dụng thế, thời là một nghệ thuật cao trong tác chiến, đặc biệt là trong trường hợp dùng một lực lượng nhỏ để đánh lại một lực lượnglớn hơn, mạnh hơn. Có thể nói:
   Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
   Kế hay nhất là kế điều địch.
   Lừa địch là tạo ra bất ngờ,
   Điều địch là tạo ra chủ động.
   Bất ngờ và chủđộng là mạch sống của tác chiến.
   Thế trận càng phức tạp, thì tình huống diễn ra càng giản đơn.
   Đánh bằng nhiều thế, bảo đảm cho một thế thắng để đi đến toàn thắng.
   Chia địch ra để đánh, căng địch ra mà diệt.
   Đánh quân yếu trước, quân mạnh sau.
   Đánh vận động trước, đánh công sự sau.
   Kết hợp chặt chẽ giữa đánh quân đường bộ với quân đổ bộ đường không.
   Phòng ngự dùng quân ít, hợp lý để dành lực lượng cho tiến công và phản công.
   Vận dụng mưu lược chính kỳ một cách biến hóa. Cố gắng đánh vu hồi và đánh thọc sâu. Như Trần Hưng Đạo đã dạy: "Bậc thánh võ trị đời đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa bay trên không, lập nên các cuộc đời vô sự"1 (Trần Hưng Đạo: Binh thư yếu lược, Nxb Khoa học xã hội, H. 1970,tr. 39).

"Chính, kỳ" là nghệ thuật tác chiến của tổ tiên ta ngày xưa. Đó là một nghệ thuật quân sự đạt đến trình độ cao.

Trần Hưng Đạo nói: "Bỏ chỗ thực, đánh chỗ hư, đó là cái diệu của việc binh", và "Kỳ, chính đều dùng cả là tướng giúp nước vậy". (Binh thư yếu lược, tr. 147, 190). Và Nguyễn Trãi cũng viết:
   "Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị.
   Dĩ quảđịch chúng, thường thiệt phục dĩ xuất kỳ".

Tạm dịch:
   "Yếu đánh mạnh hay đánh khi không phòng bị,
   Ít địch nhiều thường mai phục để đánh bất ngờ".
(Bình Ngô đại cáo)

"Chính", "kỳ" là kết hợp giữa mũi tiến công chính và mũi đánh bất ngờ nhằm nhanh chóng đánh bại kẻ địch. Vì phải đối phó ở nhiều nơi, địch phải phân tán lực lượng. Địch tập trung đối phó với hướng chính thì ta bất ngờ đánh vào một hướng khác để giành thắng lợi nhanh chóng, địch đối phó không kịp.


"Chính" là mũi tiến công chính, "kỳ" là mũi đánh bất ngờ phối hợp với mũi tiến công chính, lợi dụng tác động của mũi tiến công chính mà địch phải tập trung đối phó để bất ngờ đánh vào quân địch đang sơ hở, giành thắng lợi một cách nhanh chóng, quyết định.


Quang Trung - Nguyễn Huệ đánh ở hướng chính Hạ Hồi, Ngọc Hồi; còn Đặng Tiến Đông (Đô đốc Long) đánh vu hồi vào hướng Đống Đa, bất ngờ đánh thẳng vào Tây Long Cung, đánh bại Tôn Sĩ Nghị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #313 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:02:23 pm »

Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ hai (1285), Trần Hưng Đạo đã giải phóng thành Thăng Long một cách nhanh chóng. Trận Chương Dương - Thăng Long của Trần Hưng Đạo năm 1285, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên không nói rõ chi tiết. Vậy Trần Hưng Đạo đã vận dụng tư tưởng và nghệ thuật quân sự như thế nào để có thể chiếm được thành Thăng Long nhanh chóng như thế. Có thể suy đoán một thế trận thể hiện tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Trần Hưng Đạo như sau: Trần Quang Khải đã dùng một bộ phận đánh vây hãm Chương Dương để nhử Thoát Hoan ở thành Thăng Long đem đại quân ra cứu Chương Dương. Trên đường từ Thăng Long đến cứu Chương Dương, Thoát Hoan đã bị Trần Quang Khải đánh bại. Trong khi đó, các tướng của ta là Trần Thông, Nguyễn Khả Lạp, Nguyễn Truyền lợi dụng sơhở của thành Thăng Long, đánh chiếm thành một cách bất ngờ, có tính chất như mũi kỳ binh. Khi Thoát Hoan bị đánh thua, định rút vào thành Thăng Long nhưng thành đã bị quân ta chiếm, nên hắn buộc phải tháo chạy qua sông Hồng.


Có thể nói, Trần Hưng Đạo thường chủ trương đánh vận động, ít chủ trương đánh thành và thường dùng mưu để đánh địch.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi mũi tiến công chính của ta đang đánh ở phía đông, thì mũi thọc sâu của ta bất ngờ đánh vào sở chỉ huy của địch, bắt sống Đờ Ca-xtơ-ri. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, khi các cánh quân tiến công chính của ta đang đánh địch ở các mục tiêu đã định, thì mũi thọc sâu của ta bất ngờ đánh thẳng vào dinh Độc Lập, bắt sốngtổng thống của chính quyền ngụy Sài Gòn.


Vì thế, "chính", "kỳ" là một nghệ thuật hay, ta cần vận dụng nhiều trong tác chiến.

Từ nghệ thuật "chính", "kỳ", ta có thể mở rộng và phát triển nó một cách sinh động, Trong tác chiến bao giờ cũng có mũi đánh chính và các mũi đánh phối hợp. Từ nguyên lý mũi đánh chính và mũi đánh phối hợp, từ nguyên lý "chính", "kỳ" ta có thể vận dụng một cách sáng tạo trong tình hình phát triển mới. Mũi đánh chính bao giờ cũng có; còn mũi đánh phối hợp thi có thể có ít hoặc nhiều; mỗi mũi có một tác dụng nhất định như: mũi tạo thế, mũi nghi binh, mũi chia cắt, mũi phối hợp hỗ trợ, v.v... Tác chiến là tổng hợp của nhiều mũi đánh một cách hữu cơ, có mối liên hệ tác động lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau để giành thắng lợi. Kết quả của tác chiến là biết tìm ra mối liên hệ một cách biện chứng, vận dụng các mũi phối hợp với nhau một cách mưu lược để lừa địch để đạt được cái đích cuối cùng cao nhất là chiến thắng.


Trong trận Buôn Ma Thuột năm 1975, ta có các mũi chia cắt để tạo thế, mũi nghi binh tạo điều kiện cho mũi đánh chính vào thị xã Buôn Ma Thuột và trong trận đánh này, cácmũi đánh chính đã kết hợp với mũi thọc sâu, vu hồi để đánh bại địch một cách nhanh chóng.


Đánh địch có hỏa lực mạnh và cơ động cao thì ta phải đánh bằng nhiều mũi, đánh vào nhiều mục tiêu và bằng nhiều thế. Các mũi có tác dụng khác nhau mới phân tán được hỏa lực của địch, phân tán được sự đối phó của địch, phân tán sức cơ động của địch và có đòn lừa địch để địch bị bất ngờ.


"Chính", "kỳ" cần được vận dụng trong điều kiện mối và có những sáng tạo mới. "Chính", "kỳ" phải hỗ trợ cho nhau một cách hữu cơ. Có lúc "chính" đánh, "kỳ" thắng. Có lúc "kỳ" đánh, "chính" thắng. Có lúc "chính", "kỳ" biến hóa vô cùng. Sự vận dụng "chính", "kỳ" là sự vận dụng phối hợp giữa các mũi trong tác chiến, nhằm tạo ra sức mạnh một cách sinh động và lừa địch để đánh thắng địch một cách bất ngờ và nhanh chóng.


Chỉ huy tác chiến là sự phối hợp giữa các mũi tác chiến một cách hữu cơ trên địa hình trước quân địch, trên cơ sở "thế", "thời" và "chính", "kỳ" một cách mưu lược và tránh đi các nước cờ sai về chính trị, về chiến lược.


Tóm lại, chính, kỳ là mũi đánh chính và mũi đánh lừa, đánh bất ngờ làm cho địch mắc sai lầm để giành thắng lợi nhanh chóng, đánh quân địch có hỏa lực mạnh và sức cơ động cao, bao giờ cũng phải đánh lừa, đánh bất ngờ phối hợp với mũi đánh chính thì mới có thể thắng địch. Nghi binh là lừa địch, tạo ra bất ngờ, làm cho địch mắc sai lầm. Vu hồi, thọc sâu là làm cho địch bị đánh bất ngờ và bị thua nhanh.


Trong chiến dịch Tây Nguyên mùa hè 1972 ta đã lừa đội tổng dự bị của địch là sư đoàn dù của Sài Gòn ra đối chọi với quân ta ở ngoại ô thị xã Kon Tum. Ta đánh tiêu hao sư đoàn dù và giữ chân sư đoàn này ở Kon Tum một thời gian để tạo thế cho mũi đánh chính của ta cơ động triển khai một cách an toàn và đánh căn cứ 42, tiêu diệt hai trung đoàn và bộ chỉ huy nhẹ của sư đoàn 22 quân Sài Gòn và đánh chiếm Đắc Tô - Tân Cảnh.


Trong tác chiến chiến lược, điều cốt yêu là tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch. Lực lượng chiến lược của địch là công cụ chính để tiêu diệt đối phương và đánh chiếm đất đai hoặc giữ vững địa bàn chiến lược.


Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch có thể ở trong công sự và ngoài công sự. Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch ở trong công sự là quan trọng hơn; nếu trong đó có cả bộ thống soái thì càng quan trọng.


Trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, Hồng quân Liên Xô đã tiêu diệt tập đoàn chiến lược của phát xít Đức ở thủ đô Béc-lin, tên trùm phát xít Hít-le phải tự sát và bộ thống soái của địch bị bắt sống, buộc nước Đức phải đầu hàng vô điều kiện.


Tiêu diệt tập đoàn chiến lược của địch ở ngoài công sự cũng dẫn tới thắng lợi của chiến tranh. Năm 1288, Trần Hưng Đạo đã tiêu diệt tập đoàn quân chiến lược của Ô Mã Nhi trên sóng Bạch Đằng, buộc Thoát Hoan ở Vạn Kiếp phải bỏ chạy về nước trong điều kiện không còn tiếp tế lương thực. Trong trận Bạch Đằng năm 1288, Trần Hưng Đạo đã lừa Ô Mã Nhi cả về chiến thuật và chiến dịch. Trần Hưng Đạo chỉ tiêu diệt một tập đoàn chiến lược trong đánh vận động ở ngoài công sự, bộ thống soái của địch cùng tập đoàn chiến lược khác ở trong công sự (Vạn Kiếp) phải bỏ chạy. Đó là điều kiện hoàn cảnh chiến tranh lúc đó. Đây cũng là một hiện tượng chiến tranh cần nghiên cứu.


Lê Lợi - Nguyễn Trãi tiêu diệt tập đoàn chiến lược của Liễu Thăng ngoài công sự, nhưng tập đoàn chiến lược của Vương Thông vẫn còn ở Đông Đô nên đã đàm phán hòa bình buộc họ rút quân về nước.


Hồ Chí Minh tiêu diệt tập đoàn chiến lược ở Điện Biên Phủ, nhưng tập đoàn chiến lược ở Hà Nội cùng với bộ thống soái của Pháp còn ở đó, nên đã đàm phán hòa bình đê Pháp rút khỏi một nửa nước ta.

Chiến cục Xuân 1975, ta phải tiêu diệt các tập đoàn chiến lược của địch ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và sau cùng phải tiêu diệt tập đoàn chiến lược ở Sài Gòn cùng bộ thống soái của địch thì mới giành được toàn thắng.


Cần nghiên cứu nhiều hiện tượng chiến tranh khác nhau để tìm hiểu về thế - thời và chính - kỳ để tìm ra quy luật của chiến tranh. Phải căn cứ vào điều kiện chủ quan, khách quan, về chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý của hai bên đối địch mà vận dụng quy luật một cách sinh động. Quy luật của chiến tranh là tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch. Trên cơ sở đó mà chiếm lĩnh đất đai hoặc giữ vững đất đai.


Có nhiều cách tiêu diệt lực lượng chiến lược của địch khác nhau. Loại hình chiến tranh là muôn hình, muôn vẻ, nhưng cần nắm vững quy luật là có tiêu diệtlực lượng chiến lược của địch thì mới giành được thắng lợi. Cần có quan điểm biện chứng, phương pháp luận đúng đắn mới nhận thức được chiến tranh và chỉ đạo được chiến tranh. Điều quan trọng là bao giờ cũng phải lừa địch, làm cho địch mắc sai lầm thì mới có thể đánh thắng địch. Chính, kỳ là ở chỗ đó.


Trong nghệ thuật quân sự Việt Nam, sức mạnh của ta là tác chiến du kích kết hợp với tác chiến chính quy của ba thứ quân trong chiến tranhnhân dân và vận dụng những nét độc đáo của nghệ thuật "thế", "thời" và "chính", "kỳ".


Nghệ thuật quân sự Việt Nam là nghệ thuật của "mưu", "kế", "thế", "thời" và "chính", "kỳ".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #314 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:04:14 pm »

7. Phương pháp luôn trong vận dụng nghệ thuật tác chiến và chiến tranh

Tác chiến và chiến tranh vận động rất sinh động và linh hoạt. Nhận thức về chỉ đạo tác chiến và chiến tranh phải có quan điểm biện chứng và thực tiễn, không máy móc, rập khuôn và giáo điều. Tác chiến và chiến tranh thể hiện ra muôn hình, muôn vẻ; tất nhiên là chúng có nguyên tắc, cóquy luật. Lúc thì mạnh thắng yếu, to thắng nhỏ, nhiều thắng ít; nhưng cũng có lúc yếu thắng mạnh, nhỏ thắng lớn, ít thắng nhiều. Cái đó tùy theo điều kiện của hai bên đối địch, do điều kiện của thiên thời, địa lợi, nhân hòa, mà quan trọng nhất là điều kiện nhân hòa và tài thao lược. Ít đánh nhiều, nhỏ đánh lớn không theo quy luật thông thường thì phải có các điều kiện đặc biệt. Phần này muốn nghiên cứu các vấn đề về chiến dịch chiến lược - đòn chiến lược, chiến cục và việc vận dụng các vấn đề đó như thế nào? Các nhà quân sự tiền bối của dân tộc ta đã vận dụng như sau:


Lý Thường Kiệt đã có đủ sức và có khả năng phòng ngự. Ông đã tổ chức phòng ngự chiến lược ở tuyến sông Cầu để chặn Quách Quỳ, không cho quân Tống tiến vào chiếm Thăng Long. Sau đó, ông tổ chức phản công để đánh tan quân xâm lược. Trần Hưng Đạo do không đủ sức để giữ Thăng Long, nên phải tạm thời rút lui, bỏ kinh thành để giữ gìn lực lượng. Sau đó ông phản công giải phóng Thăng Long. Hồ Quý Ly thì không đủ sức phòng ngự và tổ chức phòng ngự không tốt mà để mất nước. Lê Lợi, Nguyễn Trãi thì dùng mai phục để diệt Liễu Thăng, rồi thu phục lại Đông Đô (Thăng Long) bằng đàm phán hòa bình, để cho Vương Thông rút quân về nước. Thời đại Hồ Chí Minh, ta tập trung lực lượng đánh tan quân địch ở Điện Biên Phủ để giành lại Hà Nội, và sau đó đánh thẳng vào Sài Gòn để giải phóng Tổ quốc, thống nhất đất nước.


Tác chiến chiến lược là phải có các đòn chiến lược. Có đòn chiến lược thì mới thúc đẩy được chiến tranh phát triển, tạo ra bước ngoặt của chiến tranh hoặc kết thúcchiến tranh. Chiến tranh nhân dân là phải có tác chiến rộng khắp của ba thứ quân trên toàn bộ chiến trường và trên cơ sở đó, hình thành các chiến dịch và các đòn chiến lược có chọn lọc. Thời kỳ đầu chiến tranh, trên cơ sở tác chiến của ba thứ quân, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, đánh cai xen kẽ với địch, phân tán, chia cắt địch, đánh cảở trước mặtđịch lẫn đằng sau lưng địch; có thể tiến hành tiến công nhỏ, vừa và phòng ngự nhỏ, làm cho địch bị tiêu hao và làm chậm bước tiến của địch vào sâu trong nội địa ta. Trong kháng chiến chống Pháp, trên cơ sở tác chiến rộng khắp của ba thứ quân trên khắp chiến trường, ta đã tổ chức các đòn chiến dịch có chọn lọc ở một số chiến trường và tổ chức đòn chiến lược quyết chiến ở Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, ở chiến cục mùa Xuân năm 1975, ta tổ chức ra ba đòn chiến lược: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong kháng chiến chống Nguyên - Mông năm 1285, Trần Hưng Đạo đã tổ chức ra hai đòn chiến lược đồng thời, đồng loạt tiến công hai tập đoàn chiến lược của địch: Trần Quang Khải tiến công đạo quân chủ chổt của chủ tướng Thoát Hoan ở Thăng Long và Trần Nhật Duật tiến công đạo quân của Toa Đô ở Tây Kết. Hai tập đoàn chiến lược đó của địch đồng thời bị xóa sổ chỉ cách nhau có mấy ngày. Vì thế, cuộc tổng phản công chiến lược của Trần Hưng Đạo nhanh chóng giành được thắng lợi.


Trên cơ sở tác chiến của ba thứ quân mà tiến hành các hoạt động tác chiến, các chiến dịch nhỏ, vừa, lớn và các chiến dịch chiến lược (các đòn chiến lược). Chiến cục thể hiện các hoạt động tác chiến tập trung của tác chiến chiến lược. Nó gồm các hoạt động tác chiến trên chiến trường. Trên cơ sở đó mà tổ chức các chiến dịch, chiến dịch chiến lược theo một kế hoạch thống nhất, thời gian thống nhất theo mục đích thống nhất có sự phối hợp về tình huống chiến lược, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển, đạt mục đích của yêu cầu chiến lược, của bước ngoặt chiến tranh. Có thể có một đòn chiến lược để kết thúc chiến tranh, như trận Điện Biên Phủ trong kháng chiến chống Pháp, trận sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt. Có thể có mấy đòn chiến lược để kết thúc chiến tranh như năm 1285 Trần Hưng Đạo tiến hành hai đòn: một ở Thăng Long và một ở Tây Kết. Trong chiến cục Xuân 1975 của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân ta đã tiến hành ba đòn chiến lượcđể giải phóng miền Nam Việt Nam: Đòn chiến lược thứ nhất tiến hành ở Tây Nguyên; đòn chiến lược thứ hai tiến hành ở Huế - Đà Nầng; đòn chiến lược thứ ba - đòn quyết chiến chiến lược - được tiến hành ờ Sài Gòn. Tiến hành ba đòn chiến lược kế tiếp nhau thắng lợi, ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam một cách nhanh chóng chỉ trong 55 ngày đêm.


Như vậy, đến thời kỳ tổng phản công, tổng tiến công thì thường là phải có các đòn chiến lược, các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược, hoặc các chiến dịch chiến lược.

Đòn chiến lược và chiến dịch chiến lược là thực hiện nhiệm vụ chiến lược, là tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến lược đối vớiquân địch và giữ vững địa bàn chiến lược hoặc giải phóng một địa bàn chiến lược trọng yếu, một mục tiêu chiến lược trọng yếu hoặc có tính chất quyết định (chiến dịch quyết chiến chiến lược).


Ý nghĩa của chiến dịch chiến lược là tiêu diệt lực lượng chiến lược của đối phương và giải phóng đất đai, giải phóng hoặc giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng. Chiến dịch chiến lược Tây Nguyên (1975) ta đã tiêu diệt một tập đoàn chiến lược của địch (một quân khu - quân đoàn) và giải phóng sáu tỉnh (ba tỉnh Tây Nguyên và ba tỉnh đồng bằng duyên hải miền Trung), chiến dịch chiến lược Huế - Đà Nẵng cũng diễn ra như vậy. Trong chiến tranh, có lúc chỉ tiêu diệt một lực lượng chiến lược, một mục tiêu chiến lược then chốt có tính quyết định, ở một địa bàn chiến lược chưa phải là then chốt, như trong một hoàn cảnh, tình huống chiến lược mà trên cơ sở thất bại đó, khó khăn của địch trên toàn bộ chiến trường cả về quân sự lẫn chính trị thì cũng có thể dẫn đến thắng lợi của chien tranh, như trận Điện Biên Phủ. Nội dung của chiến dịch chiến lược là tiêu diệt lực lượng chiến lược trọng yếu của đối phương và giải phóng địa bàn chiến lược trọng yêu hoặc giữ vững địa bàn chiến lược trọng yếu, trong đó việc tiêu diệt lực lượng chiến lược trọng yếu là quan trọng nhất, vì nó là công cụ chủ yếu của tác chiến chiến lược, của chiến tranh, làđộng lực của tác chiến và chiến tranh. Chiến dịch chiến lược làm nhiệm vụ chiến lược, trực tiếp làm thay đổi về chất của chiến lược. Còn chiến dịch thường chỉ làm thay đổi về lượng của chiến lược. Nếu tác chiến tạo ra đột biến về chiến lược thì nó làm thay đổi về chất của chiến lược của chiến tranh một cách đột ngột, nhảy vọt.


Nhận thức chiến tranh cũng phải có quan điểm biện chứng, tùy theo các điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Chiến tranh có thể dài, có thể ngắn: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung chỉ tiến hành trong mấy tháng là giải quyết được chiến tranh; Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh phải kéo dài 9 - 10 năm; nhưng Ngô Quyền chỉ có mấy ngày - một cuộc chiến tranh nhanh nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.


Tiến hành chiến tranh có thể bằng đánh đuổi địch ra khỏi đất nước và cũng có thể bằng đàm phán hòa bình để địch rút quân về nước. Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến tranh: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".


Tác chiến chiến lược, chiến tranh cũng có thể phòng ngự chiến lược ngay từ thời kỳ đầu chiến tranh như Lý Thường Kiệt, Hồng quân Liên Xô, cũng có thể phải rút lui chiến lược như Trần Hưng Đạo hoặc phải đánh nhỏ và không có phòng ngự chiến lược như Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, muốn phòng ngự chiến lược phải có quân đội chính quy có đủ sức để phòng ngự. Còn bắt đầu từ đánh du kích và đánh vận động thì không đủ sức để phòng ngự chiến lược ngay từ giai đoạn đâu chiến tranh. Ở đây cũng cần nghiên cứu một vấn đề có tính quy luật: Khi một nhà nước độc lập đã xây dựng được một đội quân chính quy thì có thể tổ chức phòng ngự ngay từ đầu. Từ khởi nghĩa mà tiên lên chiến tranh, chưa xây dựng được nhà nước độc lập, chưa có quân đội chính quy đủ sức tiến hành tác chiến phòng ngự thì thời kỳ đầu chiến tranh chưa thể phòng ngự và phòng ngự chiến lược. Trường hợp có nhà nước độc lập rồi, có quân đội chính quy rồi, nhưng địchmạnh quá thì cũng phải tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi phản công đánh chiếm lại sau.


Vận dụng phương pháp luận trong nhận thức và chỉ đạo tác chiến chiến lược và chiến tranh là một nghệ thuật cao, phải nghiên cứu các hiện tượng trong lịch sử chiến tranh đông tây, kim cổ, diễn ra trong các điều kiện thực tiễn khác nhau để thấy sự vận động của quy luật và thấy sự muôn hình muôn vẻ của nó.


Phương pháp tiến hành chiến tranh của nhân dân ta là vừa có chiến tranh du kích, vừa có chiến tranh chính quy. Hai phương pháp đó kết hợp với nhau hình thành phương thức chiến tranh nhân dân Việt Nam. Quy luật của chiến tranh nhân dân Việt Nam là phương thức kết hợp hai phương pháp tác chiến: du kích và chính quy; nếu đi trật phương thức này là thất bại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #315 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:05:31 pm »

8. Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

Chiến tranh ngày nay là chiến tranh công nghệ cao và tác chiến điện tử rộng rãi.

Bên tiến công có thể đánh chiếm đất đai để xâm lược và cũng có thể dùng chiến tranh để ép buộc đối phương phải chấp nhặn một đường lối cường quyền mà họ đưa ra.

Dù chiến tranh xâm lược hay áp đặt đường lối thì chiến tranh ngày nay cũng bắt đầu bằng tiến công hỏa lực đường không, do máy bay và tên lửa hành trình tiến hành. Sau giai đoạn tiến công hỏa lực đường không đạt được kết quả như dự kiến, rồi mới đến giai đoạn đưa quân bộ và quân đổ bộ đường không vào đánh chiếm đất đai (như ở I-rắc). Cũng có trường hợp chỉ có tiến công hỏa lực đường không, mà không có quân bộ vào đánh chiếm đất đai như ở Cô-xô-vô. Trường hợp này, mục đích của chiến tranh có bị hạn chế. Ta phải dự kiến cả hai trường hợp, hai tình huống. Dự kiến và có kế hoạch đối phó với tình huống khó nhất. Trường hợp chiến tranh nào thìđầu tiên là phải đánh trả, đối phó với cuộc tiến công hỏa lực đường không của địch. Nếu đối phó có hiệu quả tốt thì tình huống thứ hai có thể không xảy ra. Đó là gạn lọc tình huống. Quân địch rất sợ bị thương vong và bị sa lầy; vì thế ta phải tiến hành chiến tranh nhân dân bằng ba thứ quân để đánh trả cuộc tiến công hỏa lực đường không bằng máy bay và tên lửa hành trình. Lực lượng chính là các loại súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không. Súng, pháo phòng không và tên lửa phòng không là lực lượng chủ lực (12 ngày đêm tháng 12 năm 1972 ở Hà Nội và Hải Phòng đã cho ta những kinh nghiệm quý báu).


Ngoài súng, pháo, tên lửa phòng không là lực lượng chủ lực ra, ta phải có không quân để phối hợp.

Dân quân tự vệ là lực lượng rộng rãi để đánh máy bay bay thấp, tên lửa hành trình và máy bay trực thăng. Chỉ có bộ đội chủ lực thì không đủ sức mạnh để đánh tên lửa hành trình và máy bay trực thăng. Trong chiến tranh phá hoại đánh máy bay Mỹ ở miền Bắc, dân quân tự vệ đã bắn rơi được máy bay F.111 của Mỹ. Cần tăng cường các loại, các cỡ tên lửa phòng không cho bộ đội chủ lực, có sức cơ động cao và tăng cường cho dân quân tự vệ súng máy để đánh tên lửa hành trình, máy bay bay thấp và máy bay trực thăng. Biên chế cho các binh chủng súng, pháo phòng không để có sức tự bảo vệ. Các loại súng, pháo phòng không hoặc tên lửa phòng không vác vai biên chế cho bộ đội xe tăng cần đặt trên bệ xích; cho bộ đội pháo binh và cho bộ đội vận tải thì đặt trên xe bánh lốp và trên xuồng máy. Phòng không là nhiệm vụ tác chiến đặc biệt quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Nếu không khống chế được trên không, không hạn chế được sức mạnh trên không của đối phương thì cũng khó hoạt động trên mặt đất. Cần thấy rằng, không quân và tên lửa hành trình là mũi nhọn tác chiến ngày nay của kẻ xâm lược. Ngoài đánh địch trên không ra, cần sản xuất các loại súng, pháo phản lực (mang vác hiện đại) để đánh vào đằng sau lưng chúng. Địch tiến công ta, ta cũng tiến công lại vào các mục tiêu trong hậu phương địch. Tổ chức các đội chuyên trách của ba thứ quân để đánh yào các căn cứ, sân bay, kho tàng, nơi tập trung quân, buộc địch cũng phải phân tán lực lượng, làm giảm sức mạnh tiến công. Tiến công vào hậu phương địch là rất quan trọng. Địch sẽ bị sa lầy giữa tiến công và phòng giữ.


Ngoài vấn đề đánh trả, việc phòng tránh cũng rất quan trọng. Có phòng tránh tốt mới đỡ thiệt hại, mới bảo toàn được lực lượng, mỏi có sức để đánh trả. Phòng tránh và đánh trả cũng quan trọng như nhau. Phòng tránh tốt để cuối cùng tạo điều kiện cho đánh trả tốt. Ít vũ khí tiến công thì phải có vũ khí đánh trả.


Muốn đánh trả tốt, cần phải đối phó được với tác chiến điện tử, tin học. Cần có cách ngụy trang, nghi binh mới. Cần có nhiều biện pháp chống tác chiến điện tử, cần có kỹ thuật ra-đa tốt. Người chỉ huy ngày nay cần có những hiểu biết cần thiết về kỹ thuật quân sự để chỉ huy bộ đội trong chiến tranh công nghệ cao. Người chỉ huy phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, phải thành thạo về nghệ thuật quân sự và phải hiểu biết về kỹ thuật quân sự. Điều khiển chiến tranh sau này phải có người chỉ huy và người kỹ sư hoặc hợp nhất người chỉ huy và người kỹ sư. Người chỉ huy biết chỉ huy đánh địch trên mặt đất chưa đủ mà còn phải biết chỉ huy đánh địch trên không. Quân tiến công trên bộ cũng phải dựa vào sức mạnh trên không, đặc biệt là đối vớiquân đội đi xâm lược. Sức mạnh trên không có nhiều ưu việt. Nó đánh nơi nào cũng được, kể cả nơi mà quân bộ không tới được. Xu hướng của chiến tranh ngày nay là phát triển sức mạnh chiến đấu trên không. Không trung và mặt đất cũng như mặt biển đã thống nhấtvới nhau trong chiến đấu. Cái hướng mới nữa là phát triển các loại vũ khí điều khiển từ xa. Nhưng muốn chiếm lĩnh đất đai thì vẫn phải có quân đổ bộ lên mặt đất. Nếu không có quân để chiếm lĩnh đất đai thì mục đích của chiến tranh cũng bị hạn chế. Bộ đội mặt đất cũng phải phát triển mạnh các binh chủng, đặc biệt là binh chủng, quân chủng chiến đấu trên không. Trên mặt đất, có thể tiến công nhỏ, vừa và phòng ngự nhỏ để làm chậm bước tiến của địch; đánh cả đằng trước mặt và đằng sau lưng địch làm cho chúng bị sa lầy; đánh cài xen kẽ với địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng giữ căn cứ, hậu phương.


Để bảo vệ Tổ quốc, ta phải phát triển tên lửa phòng không và súng, pháo phòng không; sau đó đến máy bay và hải quân. Nếu không phát triển được máy bay và hải quân thì không đánh được vào các căn cứ trên đất liền và trên biển - những nơi xuất phát của máy bay và tên lửa hành trình. Ngoài ra, phải tăng cường sức mạnh trên biển để chiến đấu trên biên, trên đảo. Nước ta bờ biển dài, có nhiều hải đảo và tài nguyên, cần phát triển hải quân cận đại dương. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ ngày càng phát triển; con đường tiến lên tất yếu phải phát triển các loại vũ khí điều khiển từ xa.


Trong chiến tranh, sức mạnh chính trị tinh thần là chính, nhưng không nên coi nhẹ kỹ thuật. Có tinh thần và kỹ thuật, công nghệ mới thì hiệu suất mới cao. Cần huy động nhân tài, các nhà khoa học hàng đầu quốc gia hợp tác cùng quân đội tham gia nghiên cứu cải tiến, sản xuất vũ khí, đặc biệt là tên lửa phòng không và vũ khí tối tân. Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã động viên lòng yêu nước nồng nàn của Thiếu tướng anh hùng Trần Đại Nghĩa, cha đẻ của súng Ba-dô-ca Việt Nam, là một minh chứng điển hình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #316 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:06:29 pm »

9. Nhân tố thắng lợi trong chiến tranh

Tại làm sao ta lấy nhỏ đánh lớn, ít đánh nhiều, yếu đánh mạnh mà lại giành được thắng lợi? Đó là như thế nào? Cần nghiên cứu những nguyên nhân nào dẫn đến thắng lợi? Nguyên nhân thắng lợi của chiến tranh thì có nhiều, nhưng có mấy nhân tố cơ bản quyết định: Nhân tố thứ nhất là sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc. Toàn dân đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh, quyết tâm đứng lên dám đánh và quyết đánh, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh thì mới có sức mạnh. Điều cốt lõi là dám đánh. Dám đánh, quyết đánh, dám đấu tranh thì mới có đấu tranh, mới có kháng chiến. Có đấu tranh, có kháng chiến thì mới thoát khỏi được ách lầm than, nô lệ, được độc lập tự do. Một người đấu tranh thì không có sức mạnh. Phải toàn dân đoàn kết kháng chiến, kiến quốc thì mới có sức mạnh to lớn. Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân đoàn kết kháng chiến, kiến quốc, không phân biệt người già, người trẻ, gái, trai, dân tộc, tôn giáo, đảng phái. Đã là người Việt Nam thì phải cùng nhau đoàn kết lại, đứng lên kháng chiến để cứu Tổ quốc. Trần Hưng Đạo cũng nói: "Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức; khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc là thượng sách giữ nước". Thể hiện sức mạnh này trong kháng chiến là phải tổ chức thành ba thứ quân để chiến đấu: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Thời xưa, nước ta đã có quân triều đình, quân các lộ và hương binh, đó là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc cứu nước. Sự thống nhất lợi ích giữa nhân dân và Nhà nước càng cao, càng chặt chẽ, càng tốt bao nhiêu thì chiến tranh nhân dân càng phát triển cao bấy nhiêu.


Nhân tố thứ hai là tài thao lược Việt Nam. Cơ quan lãnh đạo chiến tranh của ta đã biết vận dụng phương pháp luận để tìm ra phương pháp lãnh đạo chiến tranh phù hợp, đúng đắn. Ta đã biết kết hợp hai phương pháp chiến tranh: chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, hình thành phương thức chiến tranh Việt Nam là chiến tranh nhân dân, rất phù hợp và có sức mạnh; rất thích hợp với một nước nhỏ đánh một nước lớn. Nhỏ thắng lớn thì phải có nghệ thuật chiến đấu, nghệ thuật đó là vận dụng thế và thời. Thế và thời là đặc trưng của nhỏ đánh lớn và đó cũng là trường phái quân sự Việt Nam trong học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam. Quân địch rất khó tiêu diệt chiến tranh du kích. Địch đã mắc vào cái lưới của chiến tranh du kích thì sẽ bị tiêu hao,bị sa lầy. Nhưng nếu không có chiến tranh chính quy, thì không tiêu diệt lớn được quân địch và không giành được thắng lợi có tính chất quyết định. Phương thức chiến tranh nhân dân Việt Nam là sự kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, là một phương pháp luận hay trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh.


Nhân tố thứ ba là sự ủng hộ của quốc tế. Nhân dân tiến bộ trên thế giới đều ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa thì ủng hộ cả tinh thần và vật chất. Nhân dân tiến bộ trong các nước đi xâm lược cũng ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta, phản đối chiến tranh xâm lược, phi nghĩa của giới cầm quyền.


Trên đây là ba nhân tố có thể nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Về chiến tranh hiện đại, chúng ta cần nghiên cứu thêm kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, vì các thứ đó sẽ làm cho hiệu suất chiến đấu cao hơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #317 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:07:04 pm »

KẾT LUẬN


Trong chiến tranh công nghệ cao, tác chiến điện tử rộng rãi, chiến tranh du kích vẫn phát triển cùng với chiến tranh chính quy. Chiến tranh du kích cần được trang bị vũ khí tương đối hiện đại và hiện đại; vũ khí mang vác phải là vũ khí mang vác hiện đại. Bộ đội chủ lực cần được trang bị vũ khí hiện đại tiên tiến và tôi tân, có thể chiến đấu trên mặt đất, trên không và trên biển. Chiến đấu trên không và mặt đất gắn chặt với nhau. Đánh đau, đánh nặng, đánh bại được sức mạnh trên không thì sẽ có điều kiện đánh bại địch trên mặt đất, hoặc sẽ không có chiến đấu trên mặt đất. Ngoài ra còn phải chiến đấu với các loại vũ khí điều khiển từ xa.


Người chỉ huy cấp chiến dịch - chiến lược vừa phải biết điều khiển chiến tranh du kích, lại vừa phải biết điều khiểnchiến tranh chính quy. Muốn chuyển biến chiến lược tạo ra bước ngoặt của chiến tranh thì cần phải tiến hành các đòn chiến lược, các chiến dịch chiến lược trong một cái khung tác chiến thống nhất là chiến cục.


Trong chỉ đạo tác chiến chiến lược cần gây ra các đột biến về chiến lược để tạo ra các bước ngoặt đột ngột, nhảy vọt của chiến tranh.

Người điều hành tác chiến chiến lược ngoài việc nắm vững các nghệ thuật quân sự truyền thống là thời, thế, cần nắm vững các kỹ thuật quân sự hiện đại tiên tiến của chiến tranh nhân dân trong thời đại chiến tranh công nghệ cao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #318 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:10:11 pm »

II
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ


1. Nghiên cứu khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự, ta cần lấy phép biện chứng làm hạt nhân. Chiến tranh vận động rất sinh động. Nó căn cứ vào các điều kiện khách quan, chủ quan của hai bên đối địch, của thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tài thao lược của hai bên để vận động.


Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung đã tiến hành cuộc chiến tranh đánh đuổi địch ra khỏi đất nước. Còn Lê Lợi, Hồ Chí Minh thì đàm phán để địch rút quân về nước. Liên Xô thì đánh sang tận sào huyệt địch đế dập tắt lò lửa chiến tranh. Trần Hưng Đạo, Hồ Chí Minh thì không có phòng ngự chiến dịch (đối với quân xâm lược nước ngoài). Lý Thường Kiệt thì có phòng ngự chiến lược (chiến dịch phòng ngự chiến lược) ở tuyến sông Cầu để bảo vệ kinh thành Thăng Long.


Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung chỉ đánh trong mấy tháng là thắng lợi, đặc biệt Ngô Quyền chỉ có mấy ngày. Lê Lợi, Hồ Chí Minh chín đến mười năm. Cho nên nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự là phải nghiên cứu lịch sử chiến tranh trong nước và thế giới. Cần dùng quan điểm biện chứng để nhận thức và chỉ đạo chiến tranh. Sự vận động của chiến tranh rất đa dạng. Do đó, tất nhiên nó phải có quy luật.


2. Trong nghiên cứu, phân tích sự vật cần tìm ra mâu thuẫn trong sự vận động, phát triển của sự vật và thấy cách, tìm cách giải quyết mâu thuẫn đó để cho sự vật phát triển.

Lịch sử chiến tranh chống xâm lược của Việt Nam là lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn, và cuối cùng giành thắng lợi. Đó là một mâu thuẫn rất lớn, rất gay gắt. Ông cha ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nhận thức được mâu thuẫn đó. Họ đều biết cách giải quyết mâu thuẫn đó để giành thắng lợi.


Cần thấy những mâu thuẫn trong chiến tranh cũng như các đấu tranh khác và biết cách giải quyết mâu thuẫn. Đó cũng là cách nghiên cứu, phân tích sự vật. Như thê mối thấy sự vật một cách đúng đắn.



Muốn giải quyết mâu thuẫn trong nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều thì phải phát huy sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân, dám đánh và quyết đánh và phải có tài thao lược. Phải khoan thư sức dân và quân đội phải như cha con một nhà (Trần Hưng Đạo). Phải:

"Bốn phương dân cày tập hợp. Rượu hòa nước,
   Dưới trên đểu một bụng cha con".

(Nguyễn Trãi)

   Và: "Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ;
   Ít địch nhiều thường dùng mai phục"
(Bình Ngô đại cáo)

Hoặc như ngày nay thì:

Dân làm chủ. "Du kích như cá, dân chúng như nước"1 (Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 470).

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa hiện nay chúng ta phải phát động chiến tranh nhân dan chính nghĩa chống xâm lược, toàn dân đoàn kết một lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm quật khởi đứng dậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, dám đánh và quyết đánh, phát huy sức mạnh chính trị tinh thần của toàn dân. Dân quân du kích tự vệ được trang bị vũ khí tương đối hiện đại và hiện đại; bộ đội chủ lực được trang bị vũ khí công nghệ cao, giăng thế trận thiên la địa võng, cộng với tài thao lược thì không một kẻ thù nào có thể thắng nổi.


Trong nghiên cứu để có các giải pháp, bước đi, chúng ta cũng gặp rất nhiều mâu thuẫn, trong đó có mâu thuẫn giữa yêu cầu với khả năng.

Cần căn cứ vào khả năng, điều kiện với một tinh thần tích cực để giải quyết yêu cầu. Tránh duy ý chí và tránh bảo thủ, đồng thời cũng phải tránh tham ô, lãng phí. Phải phát huy tinh thần siêng năng, chắt chiu, cần cù. Đó cũng là nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn.


3. Trong nghiên cứu nghệ thuật quân sự, chúng ta cần tìm ra cái chất cấu thành nghệ thuật lấy ít đánh nhiều, lấy nhỏ đánh lớn. Cần đi sâu tìm hiểu, phân tích nghệ thuật đó. Đó là vấn đề "thế" và "thời" trên cơ sở mưu kế.

Trận Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền đã áp dụng kế nghi binh, lừa địch mà vận dụng "thế, thời". Bãi cọc Bạch Đằng là một "thế" biến hóa, khi ẩn, khi hiện do tác động của nước thủy triều. Trên cái "thế" đó mà Ngô Quyền lúc lừa dử địch, lúc diệt địch.


Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh cũng từ cái "thế" nổi dậy của nhân dân, quần chúng mà chớp thời cơ tiến hành cách mạng đúng lúc và thành công.

Lúc Nhật chưa đầu hàng thì chưa phải là "thời". Mà để quân Đồng minh vào thì là mất "thời", lỡ "thời". Cuộc cách mạng nổ ra đúng lúc Nhật sắp đầu hàng và quân Đồng minh chưa kịp vào. Chữ "thời" ở đây là tuyệt vời.


Cuộc Tổng tiến công chiến lược năm 1975 cũng đúng "thế" đúng "thời" sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, từ hai năm rút xuống còn một năm. Sau chiến thắng Huế - Đà Nẵng từ một năm rút xuống trước mùa mưa năm 1975.


"Thế" của cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 cũng rất kỳ lạ. Nó thể hiện tài thao lược Việt Nam. Hai quân đoàn của ta đứng chân ở phía Bắc và Nam chiến tuyến, buộc địch phải nằm im ở Sài Gòn, ở Huế và Đà Nẵng, không dám cơ động đi đâu, để ta tự do tung hoành ở Tây Nguyên.


Có nghiên cứu lịch sử thực tiễn mới thấy được sự vận động phát triển rất sinh động của chiến tranh, mới thấy được sự phong phú của nghệ thuật, và có đi vào nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích các chất cấu thành sự vật mới thấy được chiều sâu của sự vật, của nghệ thuật, của lý luận.


Nguyễn Trãi nói: "Được thời, có thế thì mất biến thành còn; nhỏ hóa ra lớn. Không thời, mất thế thì mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy..." (Quân trung từ mệnh tập).

Hồ Chí Minh cũng nói: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực..."1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Sđd, tr. 455). Đó là một câu rất hay, thậm chí có thể hay hơn những câu nói của một số danh tướng trên thế giới.


4. Trong nghiên cứu khoa học, cần đúc kết thực tiễn và lịch sử để nâng lên thành lý luận và từ lý luận khái quát thành quy luật và nguyên lý hoặc có tính chất nguyên lý. Chỉ từ thực tiễn và kinh nghiệm mới có thể đúc kết thành lý luận thì mới là sáng tạo.
"Mưu cao nhất là mưu lừa địch,
   Kế hay nhất là kế điều địch".
   Và: "Đánh bằng mưu kế,
   Thắng bằng thế thời".

Nêu quy luật, nguyên lý thành văn vần thì dễ nhớ, dễ thấm vào lòng người.
   Hồ Chí Minh nói: "Không có việc gì khó,
            Chỉ sợ lòng không bền,
            Đào núi và lấp biến,
            Quyết chí ắt làm nên"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000, tr. 95).

Hay:   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí.
      Gặp thời một tốt cũng thành công"

Nguyễn Trãi nói:
      "Ngẫm xưa, nghiệm nay,
      Xét cùng mọi lẽ hưng vong.
      Trải biến nhiều thì suy nghĩ sâu,
      Tính việc xa thì thành công lọ "
(Phú núi Chí Linh)


5. Nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự là nêu ra được sự đấu tranh giữa hai bên hoặc là sự đấu tranh, sự phức tạp của các sự vật, của những vấn đề. Vấn đề rất quan trọng là nghệ thuật xử trí, đối phó với các tình huống. Nó là cái hồn của để tài, của luận án, của công trình nghiên cứu. Lý luận chung chung chỉ là bộ xương. Trên cơ sở lý luận mà đề ra được cách xử trí, đối phó các tình huống, các giải pháp, bước đi, các phương án thực nghiệm thì mới thể hiện được rõ trình độ, năng lực bản thân.

Trong cách xử trí tình huống, giải pháp, bước đi, cần đề ra được các mô hình bằng sơ đồ, bản đồ, bảng biểu hoặc phương án thực nghiệm. Có thế mới dễ nắm vấn đề và dễ chứng minh kết quả, và có thế mới thể hiện được trình độ sâu của đề tài của luận án; thể hiện được phương pháp tổng hợp cao.


Xử trí, đối phó với tình huống, đối chọi tình huống, đề ra giải pháp, bước đi, thực nghiệm là cái hay nhất và cũng khó nhất của công trình nghiên cứu, của đề tài, luận án khoa học. Các nhà khoa học, các nghiên cứu sinh cần tập trung tinh lực vào vấn đề này.


Nghiên cứu khoa học là để vận dụng thực hiện. Các công trình khoa học cần có tính hiện thực, khả thi. Nâng cao lý luận cũng là nhằm mục tiêu đó.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #319 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2024, 09:11:58 pm »

III
LỰC VÀ THẾ TRONG CHIẾN TRANH


Bất cứ sự việc gì cũng phải có lực. Có lực thì mới hành động được. Lực là cơ sở của mọi hoạt động. Người nhỏ, yếu thì mang được một vật nhẹ. Người to, khỏe thì mang được một vặt nậng. Nhưng cũng có trường hợp ngược lại. Điều đó do đâu? Đó là do hoàn cảnh, điều kiện giúp đỡ.


Lực lượng vũ trang ta nhỏ, bé hơn lực lượng vũ trang của thế lực đế quốc xâm lược, nhưng ta vẫn đánh bại được chúng.

Từ những việc ngày thường cho đến việc đại sự quốc gia, nguyên lý này vẫn được vận dụng.

Trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta chỉ có 5.000 đảng viên, một đội Tuyên truyền giải phóng quân, vài đội cứu quốc quân và mấy đội du kích. Mỗi đội chỉ có mấy chục người, vũ khí thô sơ, thế mà ta đã tổng khởi nghĩa thắng lợi. Đó là do có cái thế của toàn dân, sôi sục, hừng hực, tràn đầy khí thế cách mạng, nổi dậy đánh Nhật, đánh Pháp giải phóng khỏi ách nô lệ lầm than; và cũng được cái thế chiến thắng phát xít Đức của Hồng quân Liên Xô động viên, cổ vũ.


Từ sự kiện đó, ta mới thấy mối quan hệ hữu cơ giữa lực và thế mới thấy cái thế vô cùng quan trọng. Lực ít, thế tốt, thế lợi thì thế sẽ làm chuyển biến lực. Lực ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn. Nếu thế bất lợi thì lực nhiều hóa ít. Thế là cả hoàn cảnh, điều kiện và cả tinh thần, ý chí đều là những yếu tố rất quan trọng. Trần Hưng Đạo gọi đó là khí thế.


Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực của ta - một nước nông nghiệp lạc hậu kém xa nước Pháp là một nước công nghiệp, lại được Mỹ chi viện rất nhiều. Thế mà ta đánh thắngđược Pháp. Đó là do ta có cái thế lợi của lực, biết vận dụng lực một cách hợp lý. "Thế" đó là cả toàn dân đứng dậy đoàn kết, thống nhất ý chí quật cường bất khuất quyết tâm chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. "Thế" đó là cái thế chính nghĩa chống xâm lược của nhân dân ta được các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ toàn thế giới, trong đó có nhân dân Pháp, ủng hộ, cổ vũ, chi viện cả tinh thần và vật chất. Do có cái "thế" tốt, thuận lợi như thế cho nên lực ta tăng lên gấp bội, lại có tinh thần, ý chí cao và tài thao lược Việt Nam, kế thừa tinh hoa truyền thống của tổ tiên, nên ta đã thắng được quân Pháp.

Hồ Chủ tịch đã nói:
   "Nay tuy châu chấu đấu voi,
   Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2000,tr. 164).

Đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, "lực" ta lại kém Mỹ rất nhiều. Mỹ mạnh hơn Pháp nhiều. Nhưng ta vẫn có thể thắng vì thế và lực của ta mạnh hơn trước. Lực và thế có quan hệ với nhau. Chúng ta không nên có quan niệm siêu hình, duy ý chí, và cũng không nên duy vật chất tầm thường. Phải có lực, nhưng vận dụng lực như thế nào để phát huy lực một cách tốt nhất, mạnh nhất, làm cho lực ít hóa nhiều, nhỏ hóa lớn. Nếu không biết vận dụng tốt thì lực nhiều mà ra ít, to mà thành nhỏ. Bộ đội ta ít nhưng biết dựa vào dân, đoàn kết phát động toàn dân cùng tham gia chiến đấu thì quân địch có nhiều cũng phải phân tán mỏng ra các nơi, luôn phải đối phó, căng thẳng mệt mỏi. Ta lại có điều kiện tập trung đánh từng đòn quyết liệt.


Ta ít nhưng ta lại có nghệ thuật hay, biết cách đánh thì ít cũng có thể đánh nhiều. Người có võ giỏi thì tuy bé nhưng cũng có thể đánh người to hơn. Trong chiến dịch Điện Biên Phu, pháo của ta ít hơn địch, nhưng ta lại ở trên cao, tronghầm, nên pháo ta thắng được pháo địch, ở chiến trường Tây Nguyên, một khẩu pháo của ta ở trên cao và vào gần có sức mạnh hơn ba khẩu đặt ở dưới thấp mà bắn lên trên cao. Như thế thì cao là lợi hơn thấp, và gần thì mạnh hơn xa. Đó là cái thế của lực, là điều kiện, hoàn cảnh để cho lực vận động, tác động và phát huy tác dụng.


Vật chất (lực) vận động trong điều kiện này, điều kiện khác, có thể biến đổi, và chịu tác động bỏi điều kiện này, điều kiện khác. Cho nên ta không nên thấy lực lớn mà sợ; đừng thấy lực nhỏ mà coi thường. Đó là quan điểm biện chứng.


Ngô Quyền chỉ có một đội quân nhỏ mà trong mấy ngày đã đánh tan đội quân xâm lược Nam Hán lớn mạnh hơn. Đội quân nhỏ của Ngô Quyền đã biết dùng thế và thời để chiến thắng.

Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Hồ Chí Minh cũng đều biết vận dụng thế, thời một cách tài tình để phát huy sức mạnh của lực mà giành thắng lợi.

Ngày nay, nếu có điều kiện ta cần phát huy lực tốt hơn nữa. Lực càng tốt thì kết hợp với thế càng tốt. Và lực cần phù hợp với điều kiện hoạt động của nó. Trong chiến tranh, lực cũng phải luôn luôn phát triển theo sát với sự tiến bộ của vật chất kỹ thuật của hai bên đối địch. Chiến tranh ngày nay, sức mạnh chiến đấu trên không ngày càng kết hợp chặt chẽ với chiến đấu trên mặt đất. Có khi nó chi phối mặt đất. Cho nên ta cũng phải có lực chiến đấu trên không. Lực chiến đấu trên không là máy bay, súng pháo cao xạ, tên lửa phòng không và cả súng bộ binh. Nếu ta có ít máy bay thì phải tăng cường súng pháo cao xạ, tên lửa phòng không, và tạo ra cái thế, cái lợi toàn dân cả nước trên mọi miền, mọi địa hình đều đánh máy bay, bắn tên lửa hành trình thì cũng tạo ra được sức mạnh chiến đấu trên không để bảo vệ mặt đất và chiến đấu trên mặt đất. Muốn chiến đấu trên không được tốt thì phải tác chiến điện tử. Lực trong điều kiện mới cũng phải pháttriển theo thời đại. Lực ta dù có phát triển cũng vẫn kém địch. Nên ta vẫn phải dùng thế và thời, trí thông minh, tài thao lược để thắng địch.


Lực ít, thế tốt thì thành mạnh. Có lúc lại phải kết hợp với thời và mưu thì lực dựa vào thế đó càng mạnh.

Thế cọc Bạch Đằng của Ngô Quyền nếu không kết hợp với thời là lúc nước thủy triều xuống thì thắng lợi cũng không thật lớn. Cách mạng tháng Tám năm 1945 nếu không kịp thời lợi dụng lúc Nhật vừa đầu hàng và quân Đồng minh chưa vào thì thế tổng khởi nghĩa đó cũng không thật đẹp. Việc ký kết Hiệp định Pa-ri để Mỹ rút quân mà không kết hợp với việc B.52 của Mỹ bị đánh bại ở miền Bắc thì thắng lợi của ta cũng không thật lớn.


Tổ tiên ta đã tiến hành chiến tranh nhân dân, dùng nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều, vận dụng thế thời và tài thao lược để chiến thắng kẻ thù to mạnh hơn mình nhiều lần.

Nguyễn Trãi viết: "Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn. Không thời mất thế thì to hóa ra nhỏ, mạnh hóa ra yếu, an lại thành nguy"1 (Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, H. 1976, tr. 132)...

Hồ Chí Minh viết:
   "Lạc nước hai xe đành bỏ phí,
   Gặp thời một tốt củng thành công"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 287)

Và: "Quả cân chỉ một ki-lô-gam, ở vào thế lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm ki-lô-gam. Đó là thế thắng lực. Ta đánh Mỹ, lấy ít thắng nhiều được là nhờ cái thế của ta rất lợi..."3 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđđ. tập 12, tr. 455)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM