Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tư, 2024, 12:36:02 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10022 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #170 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:24:19 am »

II. BA LẦN CHIẾN TRANH TỰ VỆ THỜI TRẦN CHỐNG NGUYÊN (1258-1285-1288)

Đầu thế kỷ thứ XIII, ở nước ta, triều Trần thay thế triều Lý. Kinh tế nông nghiệp phát triển, chế độ phong kiến trung ương tập quyền được củng cố vững chắc hơn trước.

Cũng thời gian này, nhà nước phong, kiến Mông Cổ đã hình thành và chỉ trong vài chục năm, đã phát triển thành một đế quốc lớn mạnh chưa từng thấy trong lịch sử thế giới từ trước đến giờ.

Chúng đã xâm lược rất nhiều nước ở châu Âu và châu Á. Phía châu Âu, vó ngựa của quân Mông Cổ đã đến Đức, Ba Lan, Hung-ga-ri và đến tận Vơ-ni-dơ (Ý), làm chấn động cả châu Âu. Phía nam, chúng chiếm Trung Quốc, Cao Ly... Một đế quốc rộng mênh mông được thành lập từ bờ biển Hắc Hải cho đến Thái Bình Dương. Quân Mông Cổ rất thiện chiến; đoàn quân kỵ binh nổi tiếng đánh đâu thắng đấy của chúng dong đuổi khắp nơi đã từng đánh bại nhiều quân đội các nước, kể cả những đoàn kỵ binh nổi tiếng đương thời.


Thế nhưng, ba lần xâm lược nước ta là cả ba lần bị ta đánh cho đại bại, gần 1 triệu quân bị đánh tan.

Lịch sử của dân tộc đã ghi thêm rất đậm nét những chiến thắng cực kỳ oanh liệt vẻ vang của thế kỷ thứ XIII.


1. Chiến tranh lần thứ nhất (1258)

Sau khi thống trị một nửa châu Âu và một phần châu Á, đế quốc Mông Cổ chuyển về đánh Trung Quốc (triều Nam Tống).

Từ nước Đại Lý (Vân Nam) một cánh quân do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, với danh nghĩa "mượn đường", định đánh lấy nước ta làm bàn đạp tiến vào Nam Tống, hội binh tại Ngạt Châu (Vũ Xương) với các cánh quân của Mông Kha và Hốt Tất Liệt từ phía bắc đánh xuống.


Biết được dã tâm của giặc, vua Trần và Trần Thủ Độ kiên quyết chống lại. Trước tiên cử một đạo quân lên biên giới chặn địch, còn đại quân theo đường thủy bộ sẽ tiến lên sau.

Đầu tháng Chạp âm lịch (1258), quân Mông Cổ vượt biên giới, sau vài trận giáp chiến ở khoảng đông nam Lào Cai ngày nay, trước quân địch còn sung sức, tiền quân của ta lui dần từng bước về Phú Thọ. Đại quân của ta cũng đang lúc kéo lên. Đại quân hai bên gặp nhau ở vùng Bạch Hạc. Sau trận đánh giữa hai đội tiền quân của hai bên, tướng Mông Cổ định chặn đường phía sau quân ta, cướp thuyền chiến, cắt đường rút lui của quân đội ta, rồi bao vây tiêu diệt.


Nhận thấy quyết chiến ngay không có lợi, ta chỉ để một bộ phận chặn đánh yểm hộ cho đại quân lui một bước về xuôi. Quân Mông Cổ vồ hụt, tràn xuống đuổi theo, tới Bình Lệ Nguyên (gần Hương Canh, Vĩnh Phú ngày nay), đại quân hai bên lại gặp nhau, tình thế bên ta rất không lợi, một lần nữa, ta quyết định lui quân về phía Hưng Yên. Kinh thành bỏ trống. Nhân dân quanh Thăng Long được lệnh làm kế "thanh dã", thực hiện vườn không nhà trống.


Sau khi vồ hụt lần thứ hai, quân Mông Cổ tiến vào Thăng Long không người. Chúng tàn phá kinh thành.

Lúc này, lương thảo mang theo đã cạn, xung quanh dân ta đã làm vườn không nhà trống, không cướp bóc được gì, sức mệt, sĩ khí sa sút, quân xâm lược Mông Cổ sa vào tình thế tiến, lui đều rất khó khăn.


Biết tình hình nguy khốn của giặc, nắm thời cơ có lợi, quân ta phản công. Đêm 24 tháng Giêng (1258) tức là chín ngày sau khi địch chiếm kinh thành, quân ta bí mật tiến lên Đông Bộ Đầu (phía đông thành Thăng Long), đánh úp mãnh liệt quân địch. Bị đánh bất ngờ, thua đau, địch bỏ Thăng Long rút chạy một mạch về Đại Lý. Qua Quỳ Hóa (Vĩnh Phú ngày nay) bị chủ trại Hà Bổng, thuộc dân tộc Mường, chỉ huy dân binh mai phục đánh thêm một trận nữa. Cuối tháng Giêng, địch hoàn toàn rút khỏi nước ta.


Thắng lợi của quân dân ta trong chiến tranh lần thứ nhất không những đã bảo vệ được nền độc lập dân tộc mà còn bẻ gẫy một gọng kìm của quân Mông Cổ định đánh vào miền Nam Trung Quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #171 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:26:01 am »

2. Chiến tranh lần thứ hai (1285)

Chiếm xong Trung Quốc, Cao Ly, quân Mông Cổ đang vào thời kỳ cực thịnh. Vua Mông Cổ Hốt Tất Liệt đổi quốc hiệu là Đại Nguyên, chuẩn bị những cuộc viễn chinh mới để thực hiện mưu đổ thống trị thế giới. Phía đông thì chuẩn bị đánh Nhật Bản, phía nam thì trước tiên chiếm các nước Đông nam châu Á rồi sẽ tiến sang đánh Ấn Độ phối hợp với một cánh từ Ba Tư đánh xuống.


Trong bước chiếm Đông nam châu Á, thì đánh Đại Việt là khâu chủ yếu, quyết định. Vì thế Hốt Tất Liệt đã chuẩn bị một đạo quân rất lớn gồm 60 vạn quân giao cho con trai là Thoát Hoan chỉ huy.

Kế hoạch của giặc là trước tiên dùng 10 vạn quân chiếm Chiêm Thành, sau đó cả 60 vạn quân sẽ từ hai mặt bắc, nam giáp công đánh tới, chỉ một đòn quyết định số phận nước ta.

Năm 1282, Toa Đô chỉ huy 10 vạn quân vượt biển chiếm Chiêm Thành. Nhưng bị người Chiêm chống cự quyết liệt, Toa Đô phải lui quân về chiếm châu Ô Lý và Việt Lý, giáp biên giới Đại Việt, chuẩn bị bàn đạp đánh sang ta.


Về phía ta, sau chiến tranh lần một (1258), nhà Trần vẫn cố gắng vừa mềm dẻo vừa kiên quyết duy trì quan hệ bằng ngoại giao bình thường với nhà Nguyên. Nhưng biết rằng trước sau quân Nguyên sẽ sang xâm lược nên từ lâu đã có những chuẩn bị tích cực đổi phó.


Tháng 10 (1282), vua Trần triệu tập hội nghị Bình Than cùng triều đình và các vương hầu bàn kế hoạch chống giặc. Trần Quốc Tuấn được cử làm Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn quân. Lực lượng quân sự được tăng cường. Trần Quốc Tuân thảo ra hai bộ binh thư Việt Nam đầu tiên là Binh thư yếu lược và Vạn kiếp bí truyền để huấn luyện tướng sĩ.


Tháng 8 (1282), trước tình hình chiến tranh sắp nổ ra, Trần Quốc Tuấn tập trung du quân (quân tập trung cơ động của triều đình), quân các lộ và các vương hầu về Đông Bộ Đầu, tổng cộng 20 vạn quân, duyệt binh, động viên tướng sĩ, rồi phân phối lực lượng để đóng giữ các nơi hiểm yếu.


Sau đó, vua Trần triệu tập các bô lão toàn quốc về kinh thành mở hội nghị Diên Hồng lịch sử, nhằm động viên sự nhất trí chống giặc trong nhân dân.

Câu trả lời "Quyết chiến" của các bô lão và hai chữ "Sát Thát" thích trên cánh tay quân sĩ đã nói lên ý chí sắt đá quyết một lòng giết giặc cứu nước của toàn thể quân dân ta.

Theo kế hoạch, quân ta chia quân bố trí đánh địch trên các hướng: Mặt bộ ở Lạng Sơn, mặt biển ở Quảng Yên, còn đại quân tập trung chủ yếu tại khu vực Lạng Giang, Vạn Kiếp, Bình Than. Phía nam, sát Biên Giới Chiêm Thành, cũng có 3 vạn quân của Trần Quang Khải có nhiệm vụ ngăn chặn địch.


Cuối năm 1284, Thoát Hoan bắt đầu tiến quân chia làm hai cánh đánh vào Tuyên Quang và Lạng Sơn. Mặt Lạng Sơn, sau khi đánh chặn địch từng bước, ta lui dần về Lạng Giang.

Thấy chủ lực ta tập trung ở khu vực Lạng Giang - Vạn Kiếp, Thoát Hoan tiến thành ba mũi từ trước mặt và hai bên sườn, định hợp vây tiêu diệt.

Nhưng Trần Quốc Tuấn đã nhận định "Nguyên binh khí nhuệ đang hưng, kíp đánh chẳng bằng kiên thủ chờ suy" và đã kịp thời cho đại quân rút lui theo hướng Thăng Long - Thiên Trường, một bộ phận rút về hướng Quảng Yên.


Vồ hụt quân ta ở Vạn Kiếp, Thoát Hoan thúc quân tiến đánh Thăng Long. Một bộ phận quân ta dựa vào bờ nam sông Hồng ngăn chặn địch, yểm hộ cho đại quân tiếp tục rút. Ngày 13 tháng Giêng (19-2-1285), quân Nguyên vượt sông tiến vào kinh thành bỏ trống. Nhưng những cuộc chiến đấu trong khu vực Thăng Long vẫn tiếp diễn đến cuối tháng giêng.


Tháng hai, địch cho quân tiến xuống Hưng Yên, Hà Nam. Ta có một số trận đánh úp. Khi mũi nhọn của quân Nguyên dừng lại ở Trường An (Ninh Bình) thì đại quân ta đã vượt qua dãy Tam Điệp về tập trung ở Thanh Hóa.


Phía nam, quân Trần Quang Khải cùng dùng lối đánh chặn từng bước và cuối cùng đã chặn đứng địch tại khu vực giáp Nghệ An và Thanh Hóa.

Đến tháng 3 (1285), sau ba tháng tác chiến, quân Nguyên đã chiếm được kinh thành và một bộ phận lớn đất nước ta nhưng chúng đã không diệt được chủ lực ta.

Quần chúng phải rải ra chiếm đóng các nơi, đặc biệt trên lưu vực Bỏng Hồng, xung quanh Thăng Long và trên đường giao thông liên lạc từ Thăng Long đến Nam Quan. Tuy đồn trú ở nhiều nơi nhưng tình hình vẫn không ổn định. Đi đôi với kế thanh dã, nhân dân ta cùng với dân binh và một bộ phận quân triều đình vẫn tích cực hoạt động, đánh lén, đánh úp, đánh tỉa, đánh phục các toán quân địch đi tiễu, sục sạo, cướp bóc, v.v... nhất là trong khu vực Thăng Long.


Do chủ quan tưởng thắng nhanh, quân Nguyên không tải theo nhiều lương thực, đến đâu dân ta cũng làm vườn không nhà trống, cướp bóc khó khăn; lực lượng lại bị phân tán, luôn luôn bị quấy rối tiêu hao; hai gọng kìm Thoát Hoan và Toa Đô bị tách xa nhau nên tuy đông quân mà sức tiến công bị giảm sút và cuối cùng lâm vào thế sa lầy nghiêm trọng.


Để gỡ thế bí, Thoát Hoan quyết định chuyển đạo quân Toa Đô ra Bắc để dựa vào nhau và có thêm sức tiếp tục tiến công.

Hiểu được ý định của giặc và cho rằng đó là thời cơ để đánh trả lại chúng, vua Trần và Trần Quốc Tuấn quyết định nhằm đạo quân Toa Đô hành quân xa, mệt nhọc, lại thiếu lương thực mà đánh trận phủ đầu.


Năm vạn quân ta - do Trần Nhật Duật chỉ huy - mai phục đón đánh địch ở của Hàm Tử (thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) và đã tiêu diệt được đạo quân tiền vệ của Toa Đô. Toa Đô phải lui lại cửa biển Thiên Trường, hoàn toàn mất liên lạc với Thoát Hoan.


Sau trận này, Trần Quốc Tuấn nhận định: "Quân ta mới thắng, khí lực đương hăng, mà quân Nguyên mới thua tất cũng chột dạ" và chủ trương "vậy nên nhân dịp tiến quân đánh Thoát Hoan để khôi phục kinh thành".


Thực hiện ý định trên, ta đã đánh một trận rất lớn, rất tài tình: trận Chương Dương - Thăng Long. Trận này, ta đã phối hợp các thứ lực lượng (quân triều đình, quân địa phương và dân binh quanh Thăng Long), dùng lối đánh úp thủy trại Chương Dương, kéo viện ở Thăng Long ra (trong đó có kỵ binh là lực lượng cơ động nòng cốt của địch) vừa mai phục diệt viện, vừa nhân lúc Thăng Long sơ hở mà đánh úp.


Ta diệt được rất nhiều địch, Thoát Hoan thoát chết vượt sông chạy sang Kinh Bắc thu quân còn lại và rút cả các đồn binh lẻ trên đồng bằng tập trung về đây.

Để liên tục phản công địch, ta điều tiếp đại quân từ Thanh Hóa ra hướng Tây Kết, nhân lúc Toa Đô liều đánh lên đó bắt liên lạc với Thoát Hoan, ta đã đánh một trận lớn nữa trên đoạn từ Thiên Trường tới Tây Kết, tiêu diệt toàn bộ 8 vạn quân của Toa Đô (bắt sống 5 vạn, chém chết Toa Đô).


Những đòn phản công liên tiếp trên đà thắng lợi hết sức rực rỡ, gần 20 vạn quân địch bị tiêu diệt (phần lớn là quân tinh nhuệ). Thăng Long và toàn bộ khu vực sông Hồng được giải phóng, quân dân ta đã thực hiện được bước ngoặt quyết định của chiến tranh.


Về phía địch, bị thất bại hết sức nặng nề, tinh thần sa sút nghiêm trọng, lương thảo càng thiếu thốn. Thoát Hoan quyết định lui quân về biên giới.

Nắm thời cơ có lợi, Trần Quốc Tuấn đã kịp thời dàn quân đánh đòn quyết định mới.

Một bộ phận quan trọng quân triều đình kết hợp với quân địa phương và dân binh phục sẵn trên các ngả chạy về biên giới (hướng Bắc Giang, Lạng Sơn, hướng Vạn Kiếp).

Cuối tháng 5, Trần Quốc Tuấn tiến công đại quân Thoát Hoan ở khu vực Bắc Giang, tiêu diệt một số lớn địch. Chúng bỏ chạy về Vạn Kiếp thì bị quân ta đã mai phục sẵn đánh một đòn lớn tiếp theo. Tới đây, quân Nguyên đã căn bản tan rã. Một số tán loạn bỏ chạy về biên giới cũng bị tiêu diệt gần hết ờ dọc đường, chỉ còn Thoát Hoan và một số tàn quân chạy được về nước.


Đầu tháng 6, trên đất nước ta không còn bóng một tên xâm lược, về căn bản 60 vạn quân Nguyên trong đó có nhiều tướng tài khét tiếng gian ác và các đạo kỵ binh thiện chiến của chúng đã bị tiêu diệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #172 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:27:17 am »

3. Chiến tranh lần thứ ba (1288)

Được tin Thoát Hoan thua nặng, Hốt Tất Liệt phải đình chỉ xâm lược Nhật Bản, chuyển quân và thuyền xuống phương nam tiếp tục đánh ta một lần nũa. Kể cả quân mới mộ, chúng có 30 vạn. Lần này chúng đặc biệt chú ý tới việc tải lương đi theo và đánh theo lối "tằm ăn dần dà".


Khi quân Nguyên chuẩn bị tiến công, Trần Quốc Tuấn nhận định "năm nay thế giặc dễ đánh" và chia quân chặn đánh địch ở các hướng Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Yên, Nghệ An; đại quân tập trung trên miền Hải Dương, Thái Bình.


Tháng 11 (1287), quân Nguyên bắt đầu tiến công. Trên các hướng tiến quân của giặc, ta đều bám đánh, gây cho chúng một số tổn thất như ở hướng biển đã đánh đắm 70 thuyền lương của Ô Mã Nhi và lui dần từng bước. Hướng Lào Cai, ta đã lui về chặn đứng cánh quân A Lỗ ở Tam Đại Giang (Việt Trì). Hướng Lạng Sơn, ta lui về khu Bắc Giang, Vạn Kiếp, để lại một bộ phận phân tán cùng quân địa phương, dân binh đánh nhỏ ở sau lưng địch.


Giữa tháng Chạp (1288) hai cánh quân thủy, bộ của địch đã hội binh tại khu vực Phả Lại - Chí Linh, lợi dụng địa hình và mạng đường thủy, bộ thuận lợi ở nơi đây, chúng xây dựng thành căn cứ vững chắc, làm chỗ dựa để tiến đánh các nơi.


Bị nghi binh thu hút, lầm tưởng chủ lực ta tập trung ở khu vực Thăng Long, địch tiến công về hướng Thăng Long. Sau khi đánh bật được một bộ phận quân ta ở Đại Than, ngày 29 tháng Chạp (tức ngày 2 tháng 2 năm 1288), Thoát Hoan tiến vào Thăng Long đã bỏ trống từ lâu. Nhân dân ta đã triệt để làm "thanh dã" cất giấu lương thực và tích cực chặn đánh địch đi sục sạo, cướp phá.


Ô Mã Nhi xuôi sông Hồng đuổi theo quân ta về phía Hưng Yên, nhưng giữa lúc ấy thì bị ta đánh mạnh ở phía sau. Phả Lại - một hậu cứ an toàn của địch - bị đánh úp, đường giao thông từ Từ Minh sang, từ mặt biển vào cửa Đại Bàng đều bị ta uy hiếp, cắt đứt. Thoát Hoan phải cấp tốc điều Ô Mã Nhi quay về cứu Phả Lại, Chí Linh.


Lúc này lại thêm nguy cơ thiếu lương thực. Đoàn thuyền Trương Văn Hổ chở lương đi tiếp sau chưa tới, đường giao thông bị cắt đứt, Thoát Hoan phải cử Ô Mã Nhi ra mở thông cửa Đại Bàng đón đoàn thuyền lương. Đối với quân Nguyên lúc này, tiến hay rút, công hay thủ, phụ thuộc phần lớn vào đoàn thuyền lương.


Nắm được điểm cốt tử của địch, Trần Quốc Tuấn lệnh cho Trần Khánh Dư chặn đánh. Ngày 13 tháng 2 năm 1288, tại cửa Lục Thủy Dương (Quảng Yên) ta đợi cho ô Mã Nhi vượt lên trước rồi mới xông ra tiến công đoàn thuyền lương. 70 vạn thạch lương và khí giới của giặc bị đắm hoặc lọt vào tay ta.


Để làm cho quân sĩ địch chóng "ngã lòng, bấy giờ mới phá dễ"1 (Lời của Trần Quốc Tuấn, Việt sử thông giám cương mục), ta thả tù binh báo tin thất trận cho Thoát Hoan. Trong khi đó quân dân ta tiếp tục hoạt động mạnh ở xung quanh Thăng Long. Trước tình hình ở không yên, lương thực lại mất, quân sĩ Nguyên hết sức ngã lòng và Thoát Hoan buộc phải lui quân về cố thủ ở Vạn Kiếp, Chí Linh (3-1288).


Tại đây, tình hình lại càng khốn đốn hơn, không giải quyết được lương thực, ta lại càng ngày càng đánh phá mạnh (đánh úp trại địch, đục thuyền, đánh địch đi cướp lương, v.v...). Cuối cùng Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường thủy, bộ.


Nhưng biết trước được thế giặc, ta đã chuẩn bị sẵn để không cho chúng chạy thoát. Đường bộ thì giăng một lưới phục kích trên 100 dặm từ Nội Bàng - núi Kỳ Cấp đến núi Ái Nữ Nhi, đường thủy thì mai phục ở sông Bạch Đằng, đại quân từ Thái Bình, Hải Dương cũng cơ động tới hướng đó.


Ngày 8 tháng 3 (ngày 9-1-1288), ta khéo léo dụ địch vào khúc sông cắm cọc và đã tiêu diệt toàn bộ cánh quân địch rút theo đường thủy, thu hơn 400 thuyền, bắt sống Ô Mã Nhi.

Mặt bộ, trận Nội Bàng và một số trận tiếp theo đã tiêu diệt gần hết đại quân của Thoát Hoan, chỉ còn y và vài ngàn quân chạy thoát được về nước.

Không đầy năm tháng, quân dân ta đã tiêu diệt 30 vạn quân Nguyên, đánh bại cuộc xâm lược lần thứ ba và cũng là lần chót của chúng. Không những thế, còn ngăn chận sự bành trướng của đế quốc Nguyên xuống Đông nam châu Á buộc chúng phải bỏ không đánh Nhật Bản.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #173 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:29:18 am »

III. CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN MINH CỦA NHÀ HỒ (1407)

Cuối thế kỷ XIV, xã hội phong kiến thời Trần lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng và tới năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần lên ngôi vua.


1. Một số cải cách của Qúy Ly

Ngay dưới triều Trần, từ khi nắm được quyền bính trong tay cho đến sau khi lên ngôi, Quý Ly đã thực hiện một loạt biện pháp về nhiều mặt: kinh tế, chính trị, quân sự, ván hóa... nhằm củng cố nhà nước phong kiến.


Những cải cách đó, có một số điểm về khách quan có tác dụng tốt (như việc chấn chỉnh lại chế độ thi cử, mở mang trường học, đề cao chữ nôm, v.v...) nhưng nhìn chung còn hạn chế chưa đáp ứng hoặc chưa phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, nhất là một số chính sách cơ bản như hạn điền, hạn nô.


Qua chính sách hạn điền, ruộng đất tập trung vào tay nhà nước: nông dân vẫn không được chia ruộng.

Chính sách hạn nô biến người gia nô thành công nô, người nông nô vẫn không được giải phóng thành nông dân tự do.

Thuế có điều chỉnh nhưng so với đầu thời Trần lại nặng hơn. Chính sách tiền giấy đã gây rối loạn về tiền tệ, gây phản ứng không những trong thương nhân, mà còn cả trong một số tầng lớp nhân dân khác nữa.


Cho nên nhà Hồ không được lòng dân, ngay cả với các tầng lớp trên cũng có nhiều mâu thuẫn. Sự cô lập của tập đoàn Quý Ly đã biểu hiện rõ trong câu nói của Hồ Nguyên Trừng: "Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân theo hay không theo mà thôi".


2. Nhà Hồ chuẩn bị kháng chiến

Biết rõ tham vọng cướp nước ta của nhà Minh, nhà Hồ đã tích cực chuẩn bị đối phó.

Trước hết là có một số quân đông như Quý Ly thường nói: "Ta làm thế nào để có trăm vạn quân thì địch nổi giặc Bắc".

Trang bị có nhiều cải tiến quan trọng như đúc súng thần công, đóng cổ lâu thuyên.

Thành lũy, chướng ngại được xây đắp, bố trí với quy mô lớn và trình độ kỹ thuật tương đối cao nhằm chặn địch dọc theo các hướng chúng có khả năng tiến công sang (như hướng Lào Cai, hướng Lạng Sơn, các cừa sông, cửa biển). Nhưng chủ yếu là chặn ngang địch ở trước đồng bằng dựa vào phòng tuyến sóng Hồng, kéo dài hơn 700 dặm, từ chân núi Tản Viên (Ba Vì) theo sông Đà lên Bạch Hạc và từ đó qua Đông Đô (Hà Nội) trở về xuôi. Trên phòng tuyến, có hai thành lớn là Đa Bang (Hà Tây) và Đông Đô.


Những công trình trên là bộ phận chủ yếu của kế hoạch phòng thủ của Hồ Quý Ly. Ngoài ra cùng thực hiện kế "thanh dã" ở một số nơi (thuộc vùng Lạng Sơn, Hà Bắc, Bắc Thái, Vĩnh Phu...).


3. Quân Minh kéo sang xâm lược

Năm 1406, nhà Minh quyết định đem quân sang xâm chiếm nước ta, núp dưới danh nghĩa "phù Trần, diệt Hồ".

Lực lượng có 21 vạn rưỡi, chưa kể một số đông dân binh và thổ binh tải lương đi theo1 (Hoàng Minh thực lục, dẫn theo An Nam sử nghiên cứu của Sơn bản đạt lang, Tokyo, 1950, quyển I), chia quân làm hai đạo:

- Một đạo do Trương Phụ chỉ huy, đi từ Bằng Tường (Quảng Tây) kéo vào Lạng Sơn.

- Một đạo do Trấn thủ Vân Nam Mộc Thạnh chỉ huy, đi từ Vân Nam tiến theo sông Hồng, sông Lô vào nước ta.

Kế hoạch của chúng là: một đội kỵ binh của Trương Phụ sẽ tiến trước đến Gia Lâm, hư trương thanh thế nghi binh như tập trung quân vượt sông ở đây, thu hút quân ta. Trong khi đó, hai đạo quân Minh sẽ bí mật hội quân ở miền thượng lưu sông Hồng, tìm chỗ nông để vượt qua rồi đánh xuống Đông Đô.


Về mặt chính trị, chúng kể "tội" Quý Ly, tuyên bố lập lại con cháu nhà Trần và dùng nhiều lời lẽ xảo trá để hòng lôi kéo các tầng lớp nhân dân ta.

Tháng 10 (11-1406), địch bắt đầu tiến công.

Quân tiên phong của Trương Phụ đã nhanh chóng hạ được ải Lưu Quan và Kê Lăng (Chi Lăng), hai vị trí quan trọng của ta có địa thế hiểm yếu và khá đông quân phòng giữ. Sau đó tiếp tục tiến về Cần Trạm (quãng Kép - Bắc Giang ngày nay).


Tới đây, chúng chiếm đóng vùng Xương Giang (Bắc Giang), Thị Cầu; kỵ binh tiến đến Gia Lâm làm nhiệm vụ nghi binh thu hút lực lượng ta; còn đại quân tắt qua những nơi bỏ trống tiến đến miền Đa Phúc, Lập Thạch bắt liên lạc với Mộc Thạnh. Dọc đường tiến quân, địch không vấp phải sức kháng cự nào đáng kể.


Phía Lào Cai, Hà Giang, quân Mộc Thạnh cũng hạ được nhiều đồn ải, đánh tan các bộ phận án ngữ của ta trên sông Lô, sông Hồng rồi theo sông tiến xuống Bạch Hạc.

Ngày 11 tháng 12 năm 1406, hai đạo quân Minh đã thực hiện được kế hoạch hợp binh ở bờ bắc sông Hồng, chuẩn bị thêm thuyền bè, khí giới để tiến công.

Quân nhà Hồ vẫn dựa vào phòng tuyến bờ nam sông Hồng kiên trì cố thủ, chờ địch đánh sang.

Trước tình hình đó, Thành Tổ nhà Minh sợ quân ta làm trì hoãn binh, chờ lúc quân Minh không hợp thủy thổ, ốm yếu rồi mới tiến công nên lệnh cho Trương Phụ tiếp đánh quân ta vào mùa xuân sang năm.


Trương Phụ, Mộc Thạnh quyết định tập trung lực lượng đánh thành Đa Bang, "điểm chốt" rất quan trọng của phòng tuyến. Từ lúc giặc vượt sông đến khi đánh vào thành, ta đều tích cực chống đỡ, có lúc phản kích lại quyết liệt, nhưng cuối cùng không giữ nổi, phải bỏ chạy.


Giặc thừa thế tràn xuống chiếm được Đông Đô (22-1-1407), một số quan lại quý tộc đã phản bội hợp với giặc đánh lại Quý Ly.

Quan nhà Hồ lui về Hoàng Giang (khúc sông Hồng thuộc địa phận Lý Nhân - Nam Hà), bị địch kéo tới đánh thua phải rút về Muộn Hải (Giao Thủy - Nam Hà) xây thành, đắp lũy, đúc súng, đóng thuyền, cố thủ. Nhưng lại bị quân địch đánh thua, phải lui về Đại An (cửa sông Đáy).


Đến lúc này, khoảng tháng 3, địch không chịu được thủy thổ. Muộn Hải lại là nơi ẩm thấp, sinh ốm đau nhiều chúng phải quay về Hàm Tử (Hưng Yên). Nắm thời cơ đó, quân nhà Hồ tập trung được 7 vạn quân tiến lên phản kích nhưng địch đã biết trước, mai phục sẵn, nên trận phản công bị thất bại nặng.


Quân nhà Hồ rút vào Thanh Hóa. Tháng 4, địch tiến đánh phải lui vào Hà Tình. Tới đây, sau trận đánh ở cửa biển Kỳ La (cửa Nhượng) quân nhà Hồ hoàn toàn tan vỡ.

Cuộc kháng chiến của nhà Hồ chấm dứt, nhưng ở nhiều nơi nhân dân ta vẫn tiếp tục nổi dậy chống quân Minh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #174 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:32:23 am »

IV. CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG THỜI LÊ CHỐNG MINH (1418-1427)

Cướp được nước ta, nhà Minh thi hành một chính sách thống trị cực kỳ tàn bạo, hòng khuất phục nhân dân ta và biến nước ta thành một quận huyện của chúng. Chúng đặt bộ máy cai trị, tổ chức ngụy quân, ngụy quyền, thiết lập một bộ máy thống trị khổng lồ để áp bức bóc lột, đàn áp nhân dân ta. Trên cả nước, chúng xây dựng gần 40 thành trì lớn làm trụ sở hành chính và căn cứ quân sự, hàng trăm thành lũy và hàng nghìn đồn nhỏ để kiểm soát các nơi.


Bị áp bức, bóc lột nặng nề tới mức chưa từng thấy, nhân dân ta đã kiên quyết đấu tranh, cuộc khởi nghĩa này bị đàn áp, cuộc khởi nghĩa khác lại nổ ra trong suốt những năm chiếm đóng của quân Minh.


Mùa xuân năm 1418, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phất cao cờ khởi nghĩa Lam Sơn, dấy lên một phong trào đấu tranh vũ trang mới nhằm "tiêu diệt quân Minh để đem lại cái phúc thái bình muôn thuở".

Từ 1418 đến 1424: vùa tấn công địch, vừa chống vây quét giữ vững được căn cứ - Tạm thời hòa hoãn.

Mới bắt đầu khởi nghĩa, toàn bộ nghĩa quân có hơn 600 người và 14 thớt voi.

Cờ khởi nghĩa vừa phất, địch đã đem quân đàn áp. Ta mai phục ở Lạc Thủy đánh thắng trận đầu tiên. Từ đó cho đến năm 1422 địch đã liên tục tổ chức những cuộc tiến công vây quét nhằm tiêu diệt nghĩa quân, đàn áp cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trung tâm của phong trào đấu tranh cả nước. Có những cuộc vây quét rất lớn, hàng chục vạn quân tham gia, kéo dài trên hai tháng. Không những huy động quản ở tây Đô (Thanh Hóa) và còn đưa quân từ Đông Quan (Hà Nội) vào, Nghệ An ra, kết hợp với bọn tù trưởng phản động Ai Lao từ phía sau đánh tới. Lúc thì đánh ồ ạt, thọc thẳng vào căn cứ, lúc thì vây nhiều tầng, tiến chắc, đánh dài ngày.


Trong những năm đấu tranh gay go ác liệt đó, nghĩa quân đã anh dũng đánh trả địch, với một tinh thần tiến công rất cao, với những cách đánh rất linh hoạt: lúc thì mai phục trong căn cứ, khi thì luồn ra ngoài đánh úp sau lưng; lúc thì phá vây, khi thì đem quân uy hiếp tận sào huyệt địch. Tuy có lúc tổn thất tạm thời, quân chỉ còn 100, lương đã cạn từ hai tháng, ba lần phải rút về Chí Linh, nhưng có quyết tâm chiến đấu cao, lại được dân giúp đỡ, nên nghĩa quân càng đánh càng mạnh, thắng được nhiều trận lớn, duy trì được cuộc đấu tranh vũ trang, đứng vững trên miền tây Thanh Hóa.


Cũng những năm đó, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta vẫn liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi khác từ vùng núi tới vùng xuôi, nhưng nói chung tới mùa thu năm 1421 thì địch đã tạm thời đàn áp được hết.

Năm 1424, căn cứ của nghĩa quân Lam Sơn được mở rộng, nhưng khó khăn còn nhiều, ta cần phải có thời gian để củng cố lực lượng, về phía địch, tuy có những cố gắng lớn, nhưng vẫn không sao tiêu diệt được nghĩa quân, trong nước cũng đang gặp nhiều khó khăn do cuộc chiến tranh với Mông Cổ, nên cũng muốn thay đổi chính sách, quay ra dụ dỗ Lê Lợi.


Do đó có cuộc tạm hòa hoãn 1423-1424. Tranh thủ cơ hội này, nghĩa quân tích cực củng cố và phát triển lực lượng, tập hợp thêm nhân tài các nơi, chuẩn bị đưa cuộc khởi nghĩa tiến lên một bước mới.

Từ 1424 đến 1426: Phát triển vào Nghệ An. Liên tục tiến công địch, vây các thành lớn, giải phóng Thanh - Nghệ và Tân Binh - Thuận Hóa

Nhận thấy phía ta đã ổn định mọi mặt, mà địch cũng rục rịch sắp tiến công, tháng 9 năm 1424, Lê Lợi - Nguyễn Trãi triệu tập các tướng lĩnh họp bàn kế tiến thủ trong thời kỳ tới. Mọi người đã nhất trí với đề nghị của Nguyễn Chích: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng người đông; tôi đã từng qua lại Nghệ An, nên rất thông thuộc đường đất, nay ta trước hãy đánh lấy Trà Long, chiếm lĩnh bình định cho được Nghệ An để làm chỗ đất đứng chân, rồi dựa vào đấy mà lấy tiền tài sức lực, sau sẽ quay cờ trẩy ra Đông Đô thì có thể tính xong được việc dẹp yên thiên hạ".


Theo phương sách trên, nghĩa quân di chuyển về hướng Trà Long (Con Cuông - Nghệ An). Vừa đi vừa đánh: hạ thành Đa Căng, diệt được các toán quân địch từ Tây Đô đuổi theo và từ Nghệ An tới chặn. Thành Trà Long cũng ra hàng sau hai tháng ta vừa vây hãm, vừa ngụy vận. Nhân dân địa phương (Kinh, Mường...) nhiệt liệt hưởng ứng phong trào, giúp đỡ nghĩa binh, 5.000 thanh niên đã gia nhập hàng ngũ; cả những người trước theo giặc, nay được khoan dung đều hết sức "cảm kích, nguyện ra sức lập công". Ta đã bước đầu xây dựng được căn cứ Nghệ An.


Biết quân Minh đã được tăng viện, đang chuẩn bị tiến công lớn, ta quyết định đánh trước, nhằm giành chủ động và "đứng vững chân" ở toàn phủ Nghệ An.

Từ thành Nghệ An, địch theo sông Lam tiến đến gần Khả Lưu đắp lũy trú quân. Ta khéo léo nghi binh nhử địch rời lũy tiến quân vào nơi đã mai phục sẵn và diệt được của chúng đến hàng vạn tên.

Nhưng địch còn đông, dừng lại dựng đồn, định nhử ta tới đánh. Biết mưu địch, nghĩa quân cho một bộ phận tiến về phía Thanh Chương hoạt động nhằm kéo địch về, còn đại quán bí mật vòng xuống sau lưng địch mai phục ở Bố Ái. Thấy ta xuất hiện ở phía sau, địch kéo quân về đánh, sa vào trận địa mai phục, bị ta tiêu diệt rất nhiều, đến nỗi "Thuyền giặc chặn ngang dòng, xác chết nổi lấp sông, khí giới chất đầy khe núi" (Lam Sơn thực lục).


Thừa thắng, ta liên tục đuổi địch trong ba ngày đêm và tiến về bao vây thành Nghệ An.

Trận Khả Lưu - Bố Ải là một trận đánh rất mưu trí, vận dụng một cách sáng tạo cách đánh "nhử người tới, chứ không để người nhử tới". Đồng thời còn đánh dấu một bước phát triển mới của nghĩa quân trên con đường tiến lên đánh quy mô lớn hơn, tập trung hơn.


Vừa vây Nghệ An, ta vừa cho quân đánh chiếm các phủ, huyện trong trấn. Đến đâu dân cũng hưởng ứng và giặc phải xin hàng (có nơi ngụy quân tự kéo quần đến xin hàng như tri phủ Ngọc Ma là Cầm Quý mang 8.000 quân tới theo Lê Lợi). Cho nên chỉ trong vòng ba tháng, toàn phủ đã được giải phóng (trừ hai thành cô lập: Nghệ An và Diễn Châu). Chính quyền mới được thiết lập, nhân dân sôi nổi ủng hộ, tham gia nghĩa binh.


Trước tình hình Nghệ An bị uy hiếp mạnh, tháng 5 năm 1425, địch từ Đông Đô theo đường biển tới cứu. Nhưng vừa lên bờ đã bị ta đánh cả quán tới cứu lẫn quân trong thành ra đón. Địch lại phải chui vào thành cố thủ.


Một bộ phận nghĩa quân tiến ra vây Diễn Châu, trong khi hãm thành đã diệt được một đoàn thuyền lương của giặc từ Đóng Quan vào tiếp tế.

Lúc này Lê Lợi - Nguyễn Trãi nhận định: "Quân giặc dồn hết về cứu thành Nghệ An, các nơi khác tất trống rỗng" nên chủ trương "bỏ chỗ cứng mà đánh chỗ hở, tránh chỗ chắc mà đánh chỗ hư". Một đạo quân tiến ra đánh Diễn Châu, vây Tây Đô, giải phóng Thanh Hóa, một đạo quân khác vào giải phóng Tân Binh - Thuận Hóa. Chỉ trong một thời gian ngắn, ta đã giải phóng được các nơi trên. Đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, lực lượng nghĩa binh được bổ sung đến vài vạn người.


Trong khi nghĩa quân liên tục tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng thì ở ngoài Bắc, nhân dân nhiều nơi lại nổi dậy đấu tranh, đặc biệt sôi nổi là ở miền thượng du và trung du (phong trào "nghĩa binh áo đỏ" của nhân dân thiểu số). Địch phải đối phó rất chật vật.


Sau gần tám năm chiến đấu gian khổ và anh dũng, nghĩa quân đã trưởng thành rõ rệt nhất là từ khi phát triển vào Nghệ An. Từ những đội quân nhỏ bé hoạt động du kích ở miền thượng du Thanh Hóa nay đã là một quân đội khá mạnh, đủ sức diệt những đạo quân lớn, vây những thành lớn của giặc. Từ căn cứ nhỏ hẹp ban đầu, nay đã có cả vùng giải phóng rộng lớn từ dãy Tam Điệp đến nam đèo Hài Vân, tạo thành một hậu phương vững chắc cho thời kỳ tiến công quyết liệt sắp tới.


Từ 1426 đến 1427: Tiến quân ra Bắc, hai lần đánh tan viện binh địch, giải phóng toàn bộ đất nước.

Nhận thấy sức ta đã mạnh, giặc thì suy yếu phải dựa vào thành cố thủ đợi viện binh sang, Lê Lợi - Nguyễn Trãi quyết định tiến công ra Bắc.

Tháng 9 năm 1426, ba đạo quân cộng trên 1 vạn người, phái ra trước với nhiệm vụ chung là chặn viện binh, "vỗ về nhân dân". Ta chia làm ba hướng hoạt động. Tới đâu cũng được nhân dân nô nức hưởng ứng, nổi dậy cùng nghĩa binh đánh giặc bao vây thành trại của chúng. Ngụy quyền tan rã nhanh chóng.


Bị uy hiếp mạnh, địch buộc phải kéo quân từ Đông Đô ra đối phó, bị ta tiêu diệt một bộ phận lớn ở Ninh Kiều (Chương Mỹ - Hà Tây). Phía Tam Giang, ta cũng diệt được một bộ phận trong số 1 vạn quân địch viện từ Vân Nam sang. Bọn còn lại phải chui vào thành Tam Giang cố thủ.


Bọn địch ở Đông Đô rất lo sợ, phải điều bớt quân ở Nghệ An ra cứu. Nhận định viện binh địch tất sẽ sang, Lê Lợi chuyển đại quân ra Thanh Hóa chuẩn bị đánh những đòn lớn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #175 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:33:32 am »

Tháng 10 năm 1426, Vương Thông theo đường Lạng Sơn dẫn được 5 vạn viện binh tới Đông Quan. Vừa tới nơi chúng đã hùng hổ ra quân, lực lượng tập trung được 10 vạn, dàn ra ba nơi: Cổ Sở (nay là An Sở trên sông Đáy, phía tây nam Phùng - Hà Tây), Sa Đôi (vùng Phú Đô). Giao Quang (thuộc Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội), Thanh Oai, mưu toan dùng binh lực lớn bao vây tiêu diệt nghĩa quân ở khu vực này.


Cho rằng ngồi chờ địch sẽ không chống nổi chúng, Lý Triện quyết định chủ động tiến công trước, mặc dầu ta ít hơn địch rất nhiều. Mục tiêu nhằm cánh quân Mã Kỳ ở Thanh Oai, tương đối yếu, sơ hở nhất. Bằng hành động khéo léo, ta đã dụ địch tới cầu Ba La (gần thị xã Hà Đông) nơi địa hình lầy lội, rồi phục binh đổ ra tiêu diệt gần toàn bộ. Ta định nhân cơ hội đó đánh úp sau lưng cánh quân Phương Chính (ở Sa Đôi), nhưng bọn này đã bỏ chạy cụm về gần cánh quản Vương Thông (ở Cổ Sở).


Ta lui về Cao Bộ (Chương Mỹ - Hà Tây), hợp thành với cánh quân của Đinh Lễ, Lê Xí từ Thanh Đàm kéo xuống.

Trong khi đó, Vương Thông cũng tiến xuống Ninh Kiều chuẩn bị tiến công. Kế hoạch của chúng là chia quân từ trước mặt, sau lưng rồi theo một tín hiệu thống nhất dồn ta lại bao vây tiêu diệt. Nắm được kế hoạch đó, ta tương kế tựu kế cho quân mai phục sẵn ở Chúc Động (hay Chúc Sơn, Chương Mỹ) và Tốt Động (hay Tụy Động, Chương Mỹ), nơi địch tất sẽ đi qua.


Diễn biến trận đánh đã đúng như dự kiến của ta: pháo hiệu do ta phát lên đã lừa địch vào nơi mai phục và bị ta giết hại vô kể (diệt trên 5 vạn quân địch).

Trận phản công lớn đầu tiên của địch đã thất bại nặng nề.

Lê Lợi quyết định đưa đại quân ra Bắc.

Về phía địch, sau những thất bại liên tiếp, chúng phải co vào các thành cố thủ và xin triều Minh tăng viện.

Ta chủ trương vây thành, cắt lương, cô lập địch và tiến hành địch vận.

Riêng Đông Quan, để uy hiếp mạnh Vương Thông, ta đã diệt hết các dinh trại ở vòng ngoài và tiến vào bao vây sát tận chân thành. Vương Thông rất lo sợ, có lúc đã dao động muốn hàng, nhưng với bản chất của kẻ đi xâm lược, hắn một mặt giả xin hòa một mặt vẫn bí mật xin viện binh. Cuộc giảng hòa giả dối đó tất nhiên không thành.


Ta vẫn tiếp tục bao vây chặt và kiên trì dụ hàng. Một số thành địch lần lượt xin hàng, như Điều Diêu (Gia Lâm), Thị Cầu, Bình Than, Diễn Châu, Nghệ An. Thời gian này địch ở Đông Quan có một vài cuộc xuất kích bất ngờ đánh úp ta, nhưng đều bị đánh lui.


Đi đôi với công tác bao vây địch vận, Lê Lợi - Nguyễn Trãi bắt tay vào xây dựng lại đất nước trên quy mô lớn, quy định các khu vực hành chính, tổ chức chính quyền từ cơ sở đến trung ương, kêu gọi nhân tài, tổ chức thi cử, tăng cường lực lượng quân sự.


Gặp nhiều khó khăn lớn (nhân dân chống đôi, nội bộ chia rẽ, Mông Cổ uy hiếp...) nhà Minh phải mất gần 8 tháng mới điều được quân tăng viện cho Vương Thông. Lực lượng gồm 15 vạn do Liễu Thăng và Mộc Thạnh chỉ huy.


Từ lâu đã phán đoán được tình thế, ta chuẩn bị sẵn sàng đánh viện. Một số thành nằm trên các trục đường tiến quân của giặc đã bị hạ hoặc bằng sức mạnh, hoặc bằng địch vận (Tam Giang, Khâu On). Riêng thành Xương Giang, địch ngoan cố chống cự, ta phải mất sáu tháng mới hạ xong vào ngày 8 tháng 9, tức mười ngày trước khi viện binh địch vượt biên giới.


Trong tình hình vừa có địch còn ở trong nước, vừa có địch từ bên ngoài tới, các lãnh tụ Lam Sơn vẫn chủ trương từ trước khi viện binh giặc tới, là: "Đánh thành là hạ sách, ta đánh thành lâu hàng tháng hàng năm không hạ được, quân ta sức mỏi mà khí nhụt, nếu viện binh giặc đến thì trước mặt, sau lưng đều có giặc, đó là con đường nguy. Không bằng nuôi dài, chứa sức để chờ viện, viện diệt thì thành phải hàng, thế là làm một mà được hai, kế vẹn toàn đấy".


Đầu tháng 9, viện binh địch đã sẵn sàng vượt biên giới; 10 vạn quân do Liễu Tháng chỉ huy sẽ tiến vào Lạng Sơn, 5 vạn do Mộc Thạnh chỉ huy sẽ tiến vào Hà Giang, cả hai cánh quân đều nhằm hướng chung là Đông Quan.


Trong nước ta, chúng còn khoảng 10 vạn đóng trong 4 thành trơ trọi (5 vạn ở Đông Quan, 5 vạn ở Chí Linh, Cổ Lộng (Nam Định) và Tây Đô).

Quân chủ lực của ta có khoảng 10 vạn.

Ta quyết định: dùng 1 vạn quân chặn Mộc Thạnh ở phía Lê Hoa (Hà Giang), diệt xong Liễu Thăng sẽ chuyển sang đánh Mộc Thạnh.

Bố trí lực lượng như sau:

- 1 vạn quân lên mai phục ở Chi Lăng, tiếp ứng cho cánh này có 2 vạn quân nữa sẽ tiến lên sau.

- Một bộ phận tiếp tục vây ở các thành.

- Đại quân thủy bộ tập trung ở mạn sông Thương.

Ngày 18 tháng 9 (8-10-1427), quân Liễu Thăng vượt biên giới. Ta vừa chặn vừa lui dần từng bước, dụ địch về phía Chi Lăng.

Ngày 20, Liễu Thăng rất chủ quan, dẫn đầu 1 vạn quân tiên phong tiến lên trước, sa vào trận địa mai phục bị ta tiêu diệt hoàn toàn. Liễu Thăng bỏ mạng bên sườn núi Mã Yên.

Địch còn đông vẫn tiếp tục đánh mở đường tiến lên. Đạo quân tiếp ứng của ta cũng vừa tới kịp, cùng phối hợp đánh thêm một số trận nữa trong ngày 25, 28 tiêu diệt được thêm 2 vạn địch.

Địch còn khoảng 8 vạn tên do Thôi Tụ, Hoàng Phúc chỉ huy tới được Xương Giang thì thấy thành đã mất, phải đóng quân giữa đồng, đắp lũy chống giữ và tìm cách liên lạc với Đông Đô, Chí Linh.

Sau một thời gian bao vây, hãm địch vào một tình trạng hết sức khốn đốn, ngày 15 tháng 10, ta bắt đầu công kích. Địch chống cự tuyệt vọng và đầu hàng (5 vạn bị giết, 3 vạn bị bắt sống trong đó có cả Thôi Tụ, Hoàng Phúc).


Chỉ trong 27 ngày, ta đã tiêu diệt toàn bộ 10 vạn viện binh địch.

Phía Hà Giang ta dùng cách báo cho Mộc Thạnh biết tin thất trận làm chúng phải rút lui và nhân cơ hội đó đánh một số trận ở Đan Xá, Lãnh Câu, tiêu diệt được một số lớn địch.
   
Viện binh đã bị tiêu diệt, liêu chống lại chỉ là vô ích, không còn cách nào khác, Vương Thông cuối cùng đã phải đầu hàng.

Cuối năm 1427, 86.000 tướng sĩ Minh theo đường thủy rút ra khỏi nước ta, được ta cấp ngựa, thuyền và lương thực đầy đủ.

Trước những thất bại hết sức nặng nề, triều Minh thực tế cũng không còn khả năng tiếp tục chiến tranh, đã buộc phải xuống chiếu bãi binh. Nhưng chiếu chưa tới thì bại quân của Vương Thông đã về tới Nam Ninh.


Ta cũng mềm dẻo, cử sứ bộ sang "cầu phong", tỏ ý thần phục. Trong số phẩm vật có cả chiếc song hổ phù, các ấn tín của Liễu Thăng và một số tướng khác, danh sách của hơn 2 vạn 7 ngàn tù binh.

Mang danh nghĩa "cầu phong" để giữ thể diện cho "thiên triều" nhưng thực ra đó là những sứ giả của một nước chiến thắng.

Chiến tranh giải phóng của dân tộc ta đã hoàn toàn thắng lợi. Từ trận Lạc Thủy đầu tiên năm 1418, đến chiến thắng Chi Lăng, Xương Giang năm 1427, toàn dân ta đã trải qua mười năm đấu tranh cực kỳ anh dũng, viết nên những trang sử chói lọi vinh quang.


Lê Lợi công bố bài Bình Ngô đại cáo kết thúc một thời kỳ đấu tranh quyết liệt và đánh dấu mở đầu một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử dân tộc ta.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #176 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:35:17 am »

V. CHIẾN THẮNG OANH LIỆT CỦA NGUYỄN TÂY SƠN TIÊU DIỆT QUÂN XÂM LƯỢC NHÀ THANH (1789)

Sau khi đánh đổ các tập đoàn phong kiến Nguyễn, Trịnh thống trị ở hai miền Nam Bắc, giành được chính quyền trong cả nước, thống nhất nước nhà, nghĩa quân Tây Sơn đã phải đương đầu ngay với một kẻ thù mới, khá hung hãn, xảo trá, đó là quân xâm lược Mãn Thanh.


1. Âm mưu xâm lược của nhà Thanh

Sẵn có dã tâm từ trước, nay lại được cớ bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống sang cầu cứu, vua Càn Long nhà Thanh vội bắt tay vào việc chuẩn bị xâm lược nước ta.

Hai mươi vạn quân của bốn tỉnh: Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quý Châu được đặt dưới quyền chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị, tổng đốc Lưỡng Quảng. Ngoài ra còn có một số lớn phu đi phục dịch, 70 kho quân lương được chuẩn bị ở các địa điểm xuất phát và sẽ rải ra trên các trục đường tiến quân.


Đồng thời, chúng còn xúi giục nhân dân ta nổi lên chống lại Tây Sơn và động viên bọn quan lại cũ của nhà Lê mộ quân "cần vương" hưởng ứng hiệp lực với quân Thanh.

Chiến lược của Càn Long rất quỷ quyệt, hắn muốn mượn tay Lê Chiêu Thống để đánh Tây Sơn, quân của chúng chỉ hỗ trợ ở phía sau, như vậy là "không khó nhọc mà thành công" và "đó là thượng sách".


2. Tình hình ta

Trước khi quân Thanh kéo sang xâm lược, chính quyền cả nước đã vào tay anh em Tây Sơn, những người lãnh đạo xuất sắc của cuộc khởi nghĩa nông dân to lớn nhất trong lịch sử phong kiến của dân tộc ta.


Quân đội Tây Sơn, con đẻ của phong trào nông dân, được quần chúng ủng hộ, trải qua đấu tranh đã sớm trưởng thành, có tinh thần chiến đấu cao, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật tốt. Trang bị so với đương thời chưa phải là tinh xảo, nhưng cũng đã có những cải tiến đáng kể, nhất là pháo binh và hạm thuyền. Tướng lĩnh gồm những người chỉ huy có tài, trong đó nổi bật lên Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự, một anh hùng dân tộc xuất thân từ người nông dân áo vải.


Tuy nhiên, tình hình lúc đó cũng có nhiều khó khăn. Trong Nam Bộ, Nguyễn Ánh đang âm mưu đánh chiếm lại Gia Định. Ngoài Bắc, bọn cận thần nhà Lê vẫn xúi giục nhân dân, chiêu mộ quân "cần vương" nổi dậy ở một số nơi. Dân chúng Bắc Hà bị địch lừa bịp chưa phải ngả hết về với Tây Sơn. Tình hình này đã có những chi phối nhất định tới việc bố trí lực lượng, tới ý định tác chiến của Tây Sơn trước và trong khi quân Thanh kéo vào xâm lược nước ta.


3. Quân Thanh kéo sang xâm lược. Quân ta tạm thời rút lui bào toàn lực lượng

Ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (25-11-1788), quân Thanh chia làm ba đạo, theo hướng Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, kéo vào nước ta, nhằm hướng chung là Thăng Long. Đạo quân Tôn Sĩ Nghị tiến theo đường Lạng Sơn là quân chủ lực.


Về phía ta, lúc này ngoài Bắc chỉ có 1 vạn quân do Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, được Nguyễn Huệ trao quyền thống lĩnh và tự liệu đối phó với địch lúc ban đầu. Còn Nguyễn Huệ và đại quân ở một vị trí trung tâm là Phú Xuân (Huế), tích cực chuẩn bị lực lượng để sẵn sàng đánh địch ở hướng nào nguy hại nhất.


Với số ít quân trong tay, địch lại ưu thế gấp bội đang hùng hổ tiến đánh, dân chúng phần chưa hiểu Tây Sơn, phần bị địch mê hoặc, lũng đoạn nên chưa thật ngả về Tây Sơn, các tưởng lĩnh Bắc Hà cho rằng giữ hay đánh đều không được và chủ trương lui quân bảo toàn lực lượng, quân thủy về Biện Sơn, quân bộ về Tam Điệp, thành thế nương tựa giữ lấy nơi hiểm yếu. Một mặt báo cáo về Nguyễn Huệ điều động đại quân, tùy theo tình hình mà quyết chiến.


Tinh thần kiên quyết nhưng lại rất linh hoạt mềm dẻo, không sợ địch nhưng lại không chủ quan của Tây Sơn đã biểu lộ rất rõ trong lời nói của Ngô Thì Nhậm sau đây:

"... Tướng giỏi đời xưa, lường thế giặc rồi mới đánh, nắm phần thắng rồi mới hành động, tùy theo tình thế thay đổi mà bày ra chước lạ. Giống như đánh cờ, trước thì chịu thua người một nước, sau mới được người ta một nước; đừng có đem nước sau làm nước trước, đó mới là tay cao cờ. Nay ta hãy bảo toàn lấy quân lực mà rút lui, không bỏ mất một mũi tên. Cho chúng ngủ trọ một đêm, rồi lại đuổi đi, cũng như ngọc bích của nước Tần đời xưa, vẫn nguyên lành chứ có mất gì".


Chủ trương rất sáng suốt trên đã tránh cho quân đội Tây Sơn khỏi giao chiến trong những điều kiện bất lợi, bảo toàn lực lượng, gây thêm chủ quan cho địch, giữ được địa hình có lợi. Tóm lại là đã tạo nên một số điều kiện thuận lợi cho cuộc phản công sau này. Chính Nguyễn Huệ, khi tới Tam Điệp đã xác nhận chủ trương này là đúng.


Trong khi thực hiện một số biện pháp để nghi binh và ngăn chặn địch, quân ta bí mật lui quân về Biện Sơn và Tam Điệp. Ngày 17 tháng 12 năm 1788 tới nơi. Cũng cùng ngày đó, quân Thanh lục tục kéo vào Thăng Long.


Đại quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi rộng hai bên bờ sông Hồng, giữa có bắc cầu phao. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại khu vực Khương Thượng. Đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị ở cung Tây Long. Quân "cần vương" của Lê Chiêu Thống đóng tại nội thành. Đạo quân Vân Nam đang trên đường tiến về đồn trú tại Sơn Tây.


Chiếm được Bắc Hà một cách dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị hí hửng chủ quan, cho quân dừng lại ở Thăng Long nghỉ ngơi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #177 vào lúc: 20 Tháng Bảy, 2023, 10:36:35 am »

4. Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh

Hôm trước, được tin quân Thanh tiến vào Thăng Long thì ngày hôm sau (22-12-1788), đại quân Nguyễn Huệ đã lên đường ra Bắc.

Ngày 26 tháng 12 tới Nghệ An, Nguyễn Huệ cho dừng lại, mộ thêm quân. Với số quân mới mộ thêm, Tây Sơn đã có được 10 vạn người và một đội tượng binh lớn gồm vài trăm voi chiến.

Sau khi phiên chế xong đội ngũ, tổ chức duyệt binh, động viên tướng sĩ, gửi thư cho Tôn Sĩ Nghị xin "bãi binh" để khiến giặc càng thêm kiêu ngạo, chủ quan, Nguyễn Huệ cho tiếp tục hành quân, 15 tháng 1 năm 1789 tới Tam Điệp.


Tới đây, ta dừng lại chuẩn bị chiến đấu thêm. Đồng thời truyền hịch kể tội quân Thanh, động viên nhân dân Bắc Hà đoàn kết, quyết tâm diệt địch.

Trong khi ta đang tích cực chuẩn bị phản công thì quân Thanh trái lại, rất lơi lỏng, chủ quan, "mặc cho quân lính các đồn tự tiện bỏ cả đội ngũ, đi lại lang thang, không có kỷ luật gì". Nhân dân một cổ đôi tròng, hết quân Thanh cướp bóc, hà hiếp, lại Lê Chiêu Thống khủng bố, trả thù, đời sống vô cùng cực khổ nên hết sức căm ghét chúng và mong đợi Tây Sơn. Một số quan lại nhà Lê, lo lắng trước tình hình, đề nghị quân Thanh mau sớm đánh, nhưng Tôn Sĩ Nghị vẫn huênh hoang đắc chí: "giặc gầy mà ta đang béo, hãy để chúng tự đến nộp thịt". Và hắn quyết định đợi sang xuân, mồng 6 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), sẽ bắt đầu xuất quân.


Tuy nhiên, để để phòng, hắn cũng chia quân đóng giữ một số đồn ở phía nam Thăng Long như Ngọc Hồi (huyện Thanh Trì), Hạ Hồi (huyện Thường Tín), Nhật Tảo (huyện Duy Tiên), v.v... một bộ phận quân Chiêu Thống giữ đồn Gián Khẩu làm tiền tiêu án ngữ đường tiến ra Thăng Long.


Nhìn chung đến lúc này, tình hình chính trị đã có lợi cho Tây Sơn. Về quân sự, địch tuy có để phòng nhưng cũng còn rất nhiều sơ hở chủ quan, đang nghỉ ngơi đợi tết. Đối với Tây Sơn, đó là một thời cơ rất tốt để tiến công tiêu diệt địch, nhưng thời cơ này cũng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn, vì ra Giêng địch sẽ tiến công.


Với quyết tâm rất cao, mau chóng nắm lấy thời cơ có lợi, Nguyễn Huệ quyết định mở cuộc tiến công chớp nhoáng nhằm tiêu diệt toàn bộ quân Thanh.


Kế hoạch như sau:

- Đạo quân thứ nhất (chủ lực), do Nguyễn Huệ trực tiếp chỉ huy có nhiệm vụ tiến công vào hệ thống phòng ngự chính của địch trên đường phía nam kinh thành Thăng Long.

- Đạo quân thứ hai do Đô đốc Bảo chỉ huy có nhiệm vụ theo đường Sơn Minh (huyện ửng Hòa) ra làng Đại Áng đánh vào sườn tây nam đồn Ngọc Hồi, vị trí quan trọng nhất của địch, phối hợp với đạo quân chủ lực.

- Đạo quân thứ ba do Đô đốc Long chỉ huy theo đường huyện Chương Đức (Chương Mỹ hiện nay) thật nhanh chóng vu hồi vào sườn địch, tiến công vào quân Sầm Nghi Đống, sau đó phát triển vào Thăng Long.

- Đạo quân thứ tư đi đường thủy, do Đô đốc Tuyết chỉ huy tiến vào sông Lục Đầu, tiêu diệt quân cần vương của nhà Lê ở Hải Dương, làm tiếp ứng cho các đạo quân khác tiến công dịch ở khu vực Thăng Long.

- Đạo quân thứ năm do Đô đốc Lộc chỉ huy cũng tiến theo đường trên, nhưng đi tới Lục Đầu sẽ đi gấp lên phía Phượng Nhỡn, Lạng Giang, Yên Thế chặn đường rút chạy của địch.

Nguyễn Huệ quy định 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (25-1-1789) là ngày xuất quân và tuyên bố trước quân sĩ là sẽ ăn tết Khai hạ ở Thăng Long vào ngày mồng 7 tháng Giêng.


Kế hoạch trên đã thể hiện lối đánh mạnh dạn nhưng chắc thắng của Nguyễn Huệ, dựa trên cơ sở quyết tâm cao, phát huy được khí thế hăng hái của nhúng người nông dân được phát động triệt để tận dụng được yếu tố bí mật bất ngờ, lợi dụng được những sơ hở của địch. Nó còn thể hiện được lối đánh từ nhiều hướng bao vây vu hồi, kiên quyết tiêu diệt gọn địch.


Ngày 30 tháng Chạp, quân chủ lực của Nguyễn Huệ vượt sông Gián Thủy, hạ đồn Gián Khẩu và tiếp tục tiến lên hạ một số vị trí khác. Ta đánh nhanh diệt gọn và êm, địch không biết tin tức gì về việc tiến quân của Tây Sơn.


Vào đêm 3 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (28-1-1789), ta vây chặt Hạ Hồi, hư trương thanh thế, uy hiếp địch và bắt chúng phải hàng.

Ngày 4 (29-1-1789), ta tiếp cận Ngọc Hồi chuẩn bị tiến công. Mất đồn Hạ Hồi, Tôn Sĩ Nghị mới biết, hắn rất hoảng sợ nhưng đang lo đối phó ở mặt nam thì ngay đêm đó (29-1), quân của Đô đốc Long đã đánh úp Khương Thượng tiêu diệt đạo quân Sầm Nghi Đông và nhanh chóng đánh vào Thăng Long, đồng thời thọc vào đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị.


Nghị vội vàng qua cầu phao, nhằm hướng bắc chạy trốn. "Tướng sĩ thấy vậy, tranh nhau qua cầu mà chạy, cầu đứt, lăn ngã cả xuống sông chết đến vài vạn người".

Sáng sớm mồng 6 (31-1), trừ một bộ phận tiếp tục đuổi địch, còn các đạo quân khác đều được nghỉ ngơi ăn tết Khai hạ (7 tháng Giêng), đúng như lời Nguyễn Huệ đã hứa trước quân sĩ ở Tam Điệp.

Một số lớn địch còn lại, hoặc tan tác dọc đường sau ra thú tội vài vạn người, hoặc chạy tới vùng Bắc Giang thì bị quân Đô đôc Lộc đón đánh tiêu diệt hết. Chỉ còn một số rất ít chạy thoát, trong đó có cả Tôn Sĩ Nghị.

Đạo quân Vân Quý ở Sơn Tây nghe tin thất trận cũng vội bỏ chạy từ ngày mồng 5.

Thế là không đầy một tuần lễ, hơn 20 vạn quân Thanh đã bị quét sạch khỏi đất nước ta, đại bộ phận bị tiêu diệt.

Với quyết tâm sắt đá và bước chân thần tốc của người lính Tây Sơn bôn tập nhanh chóng trên một chặng đường xa, nắm thời cơ có lợi nhất để bất ngờ bao vây tiến công địch, đánh nhanh diệt gọn, cuộc phản công chớp nhoáng của Nguyễn Huệ, nói một cách khái quát, có thể xem như một cuộc "tập kích lớn về chiến lược", đã thành công hoàn toàn.


Nền độc lập của dân tộc ta được giữ vững. Từ sau trận thua năm 1789 đến trước khi đế quốc Pháp xâm lược nước ta, phong kiến phương Bắc không còn dám tiến hành xâm lược nước ta nữa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #178 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:02:37 am »

Phần thứ hai
MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VỀ TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC TA


Những cuộc chiến tranh trên đây tuy diễn ra trong những hoàn cảnh khác nhau, nhưng đểu thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tập trung trên ba mặt chủ yếu sau đây:


I. TINH THẦN YÊU NƯỚC NỒNG NÀN TỰ LẬP, TỰ CƯỜNG, QUẬT CƯỜNG BẤT KHUẤT

Trong bản Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam tháng 2 năm 1951, Hồ Chủ tịch đã nói:

"Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xãm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.

Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dán ta. Chúng ta có quyền tự hào vì những trang lịch sử vẻ vang thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v... Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng"1 (Hồ Chí Minh - Về đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, H. 1970, tr. 239).


Toàn bộ lịch sử của dân tộc ta đã chứng minh chân lý sáng ngời đó, 40 thế kỷ qua là 40 thế kỷ đấu tranh kiên cường để dựng nước và giữ nước.

Mỗi trang sử của ta đều nói lên ý chí tự lập tự cường, kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ lòng yêu nước nồng nàn sâu sắc của mỗi một người dân Việt Nam.


1. Tinh thần yêu nước đó do đâu mà có?

Từ bao thế kỷ nay, để sống còn và phát triển, dân tộc ta đã kiên cường đấu tranh với thiên nhiên, với kẻ thù xâm lược, đã dựng nên một nước riêng biệt, giàu đẹp, có nền "văn hóa khá cao", có cương giới rõ ràng. Chính do gắn bó với đất nước quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, nơi mà đôi tay, bộ óc, trái tim đã tạo nền những thành quả lao động giàu đẹp và một nền văn hóa độc đáo nên nhân dân ta rất tha thiết yêu quê hương đất nước của mình, và đã không tiếc công sức, xương máu để xây dựng đất nước ta thành một quốc gia riêng và dùng mọi sức mạnh để bảo vệ nó.


Tình cảm và ý thức đó chính là lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc của dân tộc Việt Nam.


2. Tinh thần yêu nước nồng nàn đó gắn liền với tinh thần yêu tự do, độc lập

Tinh thần yêu nước của dân tộc ta gắn liền với tinh thần yêu tự do, độc lập, không chịu làm nô lệ, không chịu mất nước, không chịu bị áp bức bóc lột.

Tinh thần yêu nước đó là một tinh thần yêu nước rất cao, có một nội dung phong phú. Do đó mà dân tộc ta luôn luôn phát triển mạnh mẽ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #179 vào lúc: 28 Tháng Bảy, 2023, 10:04:31 am »

3. Yêu nước là phải tự lập, tự cường, phải kiên cường, bất khuất

a) Trong mấy nghìn năm trở lại đây, sự phát triển của lịch sử đã đặt nước ta, một nước đất không rộng, người không đông trong điều kiện thường xuyên bị các thế lực phong kiến lớn mạnh ở bên ngoài nhòm ngó. Cuộc sống độc lập tự chủ thường xuyên bị uy hiếp. Chính trong hoàn cảnh đó, lòng yêu nước rất cao đã làm cho dân tộc ta sớm có ý thức mạnh mẽ về quyền làm chủ đất nước, quyền làm chủ vận mệnh của mình, dó là tinh thần tụ lực, tự cường, tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất rất cao của dân tộc ta.


Tinh thần này biểu lộ rất rõ trong bốn câu thơ của Lý Thường Kiệt:
   "Nam quốc sơn hà Nam đế cư
   Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
   Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
   Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư ".


Dịch: "Nước Nam có vua nước Nam ở đó,
   Bờ cõi đã được ghi trên sách trời
   Cớ sao quân giặc còn dám lại xâm phạm
   Chúng bay sẽ bị đánh bại cho mà coi".


Trong đoạn mở đầu Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi:

   "Như nước Đại Việt, đất văn hiến xưa.
   Cõi bờ sông núi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác.
   Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, dựng nền độc lập,
   Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, đều chủ một phương.
   Tuy cường nhược có lúc khác nhau,
   Mà hào kiệt bao giờ cũng có...".


Trong lời tuyên bố của Nguyên Huệ, trước lúc xuất quân đại phá quân Thanh:

"... Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam phương Bắc chia nhau mà cai trị...".

Có tinh thần tự lập tự cường rất cao như vậy nên dân tộc ta tuy thường xuyên bị các nước lớn mạnh uy hiếp, xâm lược, nhưng không hề bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển được cho tới nay. Không những thế, còn hùng mạnh hơn bao giờ hết, như ngày nay. Mặc dầu trong lịch sử có những thời kỳ rất dài (trong hơn một nghìn năm), bị nước ngoài đặt ách thống trị nhưng rồi dân tộc ta vẫn quật khởi vùng lên, liên tục đấu tranh kiên quyết, đã giành được nền độc lập và giữ vững nó trong nhiều thế kỷ.


Đúng như lời đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét:

"... Nhân dân ta vốn có tinh thần tự lập, tự cường rất cao. Tinh thần ấy được giữ gìn và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử. Nó đã trở thành một truyền thống sâu sắc, một sức mạnh ưật chất kỳ diệu của dân tộc ta...".


b) Cầm vũ khí đấu tranh là con đường sống còn duy nhất của dân tộc ta.

Từ xưa đến nay, dân tộc ta luôn luôn bị những nước phong kiến và đế quốc lớn mạnh gấp rất nhiều lần uy hiếp và xâm lược, mưu toan vứt bỏ quyền làm chủ đất nước, thủ tiêu nền độc lập dân tộc, mưu toan đồng hóa dân tộc, làm tiêu tan tinh thần yêu nước, tình cảm dân tộc, mưu toan cướp bóc mọi của cải vật chất, chiếm đoạt những giá trị tinh thần của nhân dân ta.


Kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh đã làm cho tổ tiên ta nhận thức một cách rất sâu sắc rằng để sống còn và phát triển, muốn thoát khỏi cuộc sống nô lệ ngựa trâu cho cả nước, dân tộc ta không còn con đường nào khác là phải kiên cường bất khuất, phải cầm vũ khí vùng lên đấu tranh một mất một còn với kẻ thù xâm lược.


Đó là một vấn đề rất lớn, có quan hệ mất còn đối với vận mệnh dân tộc, mà Nguyễn Trãi, trải qua lịch sử, đã tổng kết trong hai câu mở đầu của Binh Ngô đại cáo:

   "Việc nhăn nghĩa cốt ở yên dân;
   Quân điều phạt trước là khử bạo...".

Muốn "yên dân" thì trước hết phải dùng "quân điếu phạt" để "khử bạo". Ngoài ra không còn con đường nào khác. Tất cả những hành vi đầu hàng, thỏa hiệp, tin tưởng ở sự "vỗ về của thượng quốc" cầu xin ở kẻ thù, v.v... đều là phản bội, là ảo tường, đều dẫn đến mất nước.


Trong lời kêu gọi tướng sĩ trước khi xuất quân đại phá quán Thanh, Nguyễn Huệ cũng đã nói:

"... Từ đời nhà Hán đến nay, chúng (tức phong kiến phương Bắc) đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc... Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước...".


Đó là kinh nghiệm, là truyền thống, là sự "lợi hại, được, mất" của dân tộc ta mà thực tiễn lịch sử đã chứng minh rất rõ rệt.

Sớm hiểu như vậy nên dân tộc ta rất kiên cường anh dũng, đã bao lần đúng lên cầm vũ khí kiên quyết đấu tranh đánh bại mọi kẻ thù đến xâm lược hoặc đang thống trị, vô luận đó là kẻ thù nào, dù là phong kiến phương Bắc, là đế quốc Mông Cổ khổng lồ và ngày nay là các đế quốc sừng sỏ trên thế giới (Pháp, Mỹ...).


Khi cầm vũ khí đứng dậy diệt giặc, nhân dân ta hiểu rằng chiến tranh đặt vấn đề mất, còn, chết, sống trước mọi người và trong chiến tranh sẽ không tránh khỏi những tổn thất nhất định, những hy sinh cần thiết. Nhưng vốn có tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần tự lập, tự cường rất cao và ý chí kiên cường bất khuất lại trải qua thực tế đấu tranh của bao thế kỷ, nhân dân ta đã nhận thức sâu sắc rằng: trước quân thù hung bạo, trước nguy cơ mất nước thì phải đặt sự mất, còn của đất nước, của cả dân tộc lên trên hết, phải chiến đấu vì sự sống còn của cả dân tộc, trong đó có sự sống còn của chính bản thân, của gia đình mỗi người dân. Cho nên nhân dân ta dám chịu mọi hy sinh, mọi tổn thất để giành lấy bằng được sự sống còn của cả dân tộc. Tinh thần dám hy sinh, dám xả thân vì nước, thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh" đã là động cơ thôi thúc mỗi một người dân ta trải qua bao thế kỷ cầm vũ khí xông lên kiên quyết chiến đấu chống quân thù.


Nhưng không những chỉ có quyết đánh, mà muốn giành và giữ vững độc lập, dân tộc ta còn phải quyết thắng một cách hết sức vẻ vang.

Trong suốt cả quá trình lịch sử, "nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh..."1 (Lê Duẩn - Thanh niên trong lực lượng vũ trang hãy vươn lên hơn nữa phấn đấu cho lý tưởng cách mạng, đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, Nxb Sự thật, H. 1969, tr. 12, 13). Các chiến thắng oanh liệt trên sông Cầu đời Lý, ở Vạn Kiếp, Bạch Đằng đời Trần, ở Chi Lăng, Xương Giang đời Lê, ở Ngọc Hồi, Đống Đa đời Tây Sơn đều bắt nguồn từ tinh thần anh hùng bất khuất của dân tộc ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM