Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Mười Hai, 2019, 10:42:00 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris  (Đọc 168273 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #330 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2009, 10:07:23 AM »

Phía Mỹ còn đòi ngừng bắn vô thời hạn - Ta ghi là ngừng bắn lâu dài và vững chắc - Cuối cùng thoả thuận trong văn bản tiếng Anh ghi như danh từ Mỹ đề nghị - còn bản tiếng Việt ghi theo đề nghị của ta.

Trong việc chấm dứt ném bom ở miền Bắc, từ kinh nghiệm năm 1968, lần này ta đòi ghi: chấm dứt mọi hành động vi phạm chủ quyền an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Trong việc tháo gỡ mìn ở các cửa sông, Mỹ đồng ý sẽ làm, nhưng đòi phía Việt Nam phải hợp tác, điều mà ta không chịu. Mỹ lại đưa ra một câu vu vơ không rõ trách nhiệm của ai. Cuối cùng Kissinger đồng ý Mỹ sẽ tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam.

Trong việc rút quân, hai bên thoả thuận thời hạn là sáu mươi ngày. Lúc đầu Mỹ không chịu nhận rút các nhận viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, nhân viên quân sự phụ trách bảo quản vũ khí, nhưng sau họ cũng nhận. 

Về thay thế vũ khí, lúc đầu ta muốn để hai bên miền Nam bàn trong từng thời gian nhưng phía Mỹ đòi ghi cụ thể là hai bên được thay thế vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết. Họ đòi không những thay thế vũ khí bộ binh mà còn cả phương tiện chiến tranh của các binh chủng khác. Ta đòi nguyên tắc ngang nhau - trên cơ sở một đổi một - và chủ yếu là vũ khí của bộ binh. Hai bên không thoả thuận được đành gác lại.

Riêng vấn đề tù dân sự là vấn đề mất nhiều thời gian nhất, trong phiên họp này không giải quyết được - mà phiên họp sau nữa cũng chưa xong - mặc dầu Lê Đức Thọ đã nói rõ nhiều lần về trách nhiệm của người Mỹ về đạo lý, về lương tâm con người cũng như về chính trị. Kissinger tuy đuối lý nhưng vẫn tìm cách đổ trách nhiệm cho Chính quyền Sài Gòn và chỉ hứa “Mỹ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa" đối với Sài Gòn và tin rằng có thể mang lại một sự ân xá nào đó. Và vấn đề này cũng phải để lại.

Trong vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, Mỹ cũng chấp nhận không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào, không tìm cách áp đặt một Chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn.

Về tên gọi, ta đề nghị: một cơ cấu Chính quyền lấy tên là Hội đồng Tối cao Hoà hợp Dân tộc. Kissinger đề nghị Hội đồng Tối cao Hoà hợp Dân tộc chấp nhận chữ cơ cấu, còn chữ “chính quyền” sẽ suy nghĩ thêm.

Cuối cùng thì thoả thuận: lập một “cơ cấu chính quyền” lấy tên là “Hội đồng Quốc gia Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc” và giao cho hai bên miền Nam hiệp thương với nhau để lập các “Hội đồng cấp dưới” trong vòng ba tháng.

Về chức năng Hội đồng này, tranh cãi lâu là chữ “đôn đốc”. Yêu cầu của ta là Hội đồng này phải “đôn đốc và giám sát” hai bên thi hành Hiệp định. Phía Mỹ cho rằng với chức năng “đôn đốc”, tổ chức này sẽ có quyền lực cao hơn hai Chính quyền hiện nay ở miền Nam - Họ muốn dùng chữ thúc đẩy.

Cuộc tranh luận về chức năng - nhất là về chữ “đôn đốc” đã trở thành một giai thoại trong cuộc đàm phán. Tất cả thành viên trong đoàn Mỹ dù không biết tiếng Việt cũng biết rõ chữ “đôn đốc” này. Tuy cuối cùng vẫn thoả thuận: “đôn đốc”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #331 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2009, 10:08:33 AM »

Về tuyển cử, ta đòi "Tổng tuyển cử" - với ý nghĩa là tuyển cử trong toàn quốc. Mỹ chỉ nói tuyển cử, sau họ cũng đồng ý tổng tuyển cử, và thêm: có tuyển cử địa phương mà hai bên miền Nam thoả thuận. Ta chấp nhận. Ta còn đòi thông qua tổng tuyển cử nhân dân miền Nam sẽ quyết định chế độ chính trị của miền Nam. Mỹ không nghe, đề nghị dùng danh từ "tương lai chính trị” vì theo họ đề nghị của Hà Nội có hại cho Sài Gòn. Cuối cùng thì thoả thuận: “Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra, sẽ do hai bên miền Nam qua hiệp thương mà thoả thuận”.

Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam cũng là vấn đề tranh cãi kéo dài.

Từ nhiều năm nay, ta luôn luôn bác bỏ yêu cầu rút quân miền Bắc khỏi miền Nam. Dự thảo của Mỹ vẫn ghi vấn đề này do “các bên Việt Nam bàn bạc giải quyết”. Ta đòi ghi rõ “các bên Nam Việt Nam” bàn bạc giải quyết và đề xuất việc giảm quân số và phục viên. Trước thái độ kiên quyết của Lê Đức Thọ, Kissinger chấp nhận và đề nghị ghi:

“Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đã giảm”.

Công thức này không khác công thức ta đưa ra nhiều lắm - nhưng có vẻ lùng nhùng hơn, có thể giải thích quanh co hơn - và thực tế sau này sẽ xảy ra như vậy.

Đến đây thì cuộc họp đã hoàn thành về cơ bản Hiệp định. Cả Lê Đức Thọ và Kissinger đều tỏ ra vui mừng.

Kissinger vạch ra hai thời gian biểu chênh nhau một ngày.

Ngày 17 tháng 10: gặp lại.

Ngày 18 tháng 10: Kissinger đi Sài Gòn.

Ngày 21 tháng 10: Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc.

Ngày 22 tháng 10: Kissinger vào Hà Nội. .

Ngày 26 tháng 10: công bố Hiệp đính.

Ngày 29 tháng 10 hoặc 30 tháng lo: ký Hiệp định tại Paris.

Ông ta đưa ra một lịch công tác khác mà Lê Đức Thọ nhắc lại:

Ngày 17 tháng 10: gặp lại nhau

Ngày 22 tháng 10: Kissinger đi Sài Gòn.

Ngày 27 tháng 10: công bố Hiệp định.

Ngày 30 hoặc 31 tháng 10: ký Hiệp định.

Đây là một kế hoạch cốt để lừa ta. Kissinger sau này viết rằng: “Hà Nội giữ vững nó - và tôi không bao giờ tìm cách thúc đẩy quá trình đó” (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1418).
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #332 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:44:33 PM »

Hai vấn đề: thay thế vũ khí và tù dân sự ở Nam Việt Nam sẽ giải quyết hôm 17 tháng 10. Lê Đức Thọ báo cho Kissinger biết sẽ về Hà Nội để đón ông ta. Còn Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẽ gặp ông ta hôm 17 tháng 10.

Lê Đức Thọ vui vẻ nói:

- Cuộc đàm phán của chúng ta đã kéo dài bốn năm cũng là cuộc đàm phán dài nhất trong lịch sử đàm phán thế giới. Chúng tôi đã cố gắng nhiều và các ông cũng đã cố gắng nhiều. Hôm nay chúng ta đã thoả thuận được nhiều vấn đề tuy chưa hoàn thành Hiệp định vì còn hai vấn đề. Nhưng nếu chúng ta cố gắng nhất định chúng ta sẽ đạt tới việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình.

Ông Thọ chúc Kissinger sang thăm Hà Nội bình yên, Kissinger đáp lại:

- Tôi đã thương thuyết vấn đề Việt Nam từ 1967 và với ông Cố vấn đặc biệt từ năm 1969. Chúng ta đã qua nhiều giai đoạn gay go, nhưng chúng ta đã vượt qua những giai đoạn đó. Và cả hai bên chúng ta cũng như hai dân tộc chúng ta đều nhận thức được rằng hoà bình là mục đích quan trọng nhất...

Trong khi chúng ta đi từ quan hệ đối địch sang quan hệ hữu nghị, chúng ta phải nhớ rằng hai bên đã trải qua đau khổ nhiều, chúng ta không nên đặt vấn đề nói cuộc chiến tranh này bên nào thắng lợi bên nào thất bại... Thắng lợi thật sự của chúng ta bây giờ là quan hệ lâu dài giữa chúng ta. Khi chúng tôi và đồng sự của chúng tôi đến Hà Nội, chúng tôi tỏ lòng kính trọng nhân dân Bắc Việt Nam anh hùng và bắt đầu thời kỳ mới trong quan hệ giữa chúng ta. Chúng tôi biết các ông theo đuổi hoà bình với sự kiên quyết như khi các ông tiến hành chiến tranh.

Về kết quả cuộc gặp riêng này, Kissinger báo cho Nixon rằng “Lê Đức Thọ đã trình bày một đề nghị mới đáp ứng hầu hết các đòi hỏi chủ yếu của chúng ta": ngừng bắn, lấy được tù binh, lực lượng Bắc Việt rút khỏi các nước láng giềng, và quan trọng nữa là giữ được Chính quyền Sài Gòn.

R. Nixon cho rằng có ba vấn đề lớn trong đối ngoại: Trung Quốc, Liên Xô và Việt Nam. Đến nay chúng ta mới thành công được hai: mở cửa với Trung Quốc và bước vào mối quan hệ mới với Liên Xô. Còn mục tiêu thứ ba: giải quyết chiến tranh Việt Nam: vẫn lẩn tránh chúng ta. Bây giờ, Kissinger nói: “xem ra chúng ta có thể đạt được cả ba. Lê Đức Thọ đã đưa ra một đề nghị mới đáp ứng tất cả yêu cầu lớn của chúng ta". Nixon kể ra các yêu cầu đó và kết luận: "Tất cả những điều quy định là tương đương với một sự đầu hàng hoàn toàn của kẻ thù. Họ đã chấp nhận một giải pháp theo điều kiện của chúng ta" (R. Nixon. Hồi ký Sđd, tr 691, 692).

Washington có lý do để vui mừng.

Còn ta, sau đợt đấu tranh này, đoàn báo cáo về Hà Nội: Ta đã đạt được bốn yêu cầu (Mỹ chấm dứt dính líu quân sự; - ngừng bắn miền Nam, miền Bắc, rút quân; - công nhận hai Chính quyền, hai Quân đội, hai vùng kiểm soát; - công nhận quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam; - công nhận các quyền tự do dân chủ ở miền Nam). Ngoài ra Mỹ còn nhận đóng góp để xây dựng lại sau chiến tranh.

Tuy nhiên, đoàn vẫn cho rằng còn nhiều dấu hiệu Mỹ muốn vượt tuyển cử mà không ký kết - ta phải hết sức cảnh giác. Đoàn đề nghị nắm chắc thế chủ động về thời điểm và cách đàm phán. Không cho Mỹ kéo dài các vấn đề tồn tại. Đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để nếu Mỹ không chịu ký kết thì ta kịp thời chuyển sang tấn công công khai.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #333 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:45:25 PM »

Nixon: Hiệp định xem như đã hoàn thành.

Cuộc họp ngày 17 tháng 10, phía ta có thêm Lưu Văn Lợi, mà Kissinger đoán “chắc ông này là người dạy luật giáo hội", phía Mỹ có thêm W. Sullivan, cựu đại sứ Mỹ ở Lào, có vai trò đối với Kissinger, theo như Kissinger nói, như vai trò của Phan Hiền đối với Xuân Thuỷ. 
Chủ trương của ta là không để phiên họp kéo dài.

Nhưng phía Mỹ, cùng với những thủ đoạn xảo trá đã gây thêm những vấn đề mới.

Ngày 13, họ gửi cho ta một công hàm nói rằng Tổng thống chấp nhận bản dự thảo làm cơ sở Hiệp định, trừ một số vấn đề kỹ thuật và thay đổi thực chất thì phía Mỹ có thể chấp nhận được. Những thay đổi họ yêu cầu là ở ngay trong dự thảo của Hoa Kỳ.

Trong trả lời, đoàn ta vạch ra rằng việc Hoa Kỳ đòi thay đổi thực chất là nhằm thay đổi nội dung của hai điều khoản đã thoả thuận. Đó là trái với nguyên tắc không bên nào được sửa đổi nội dung đã thoả thuận. Ta cho rằng Mỹ đặt thêm điều kiện và gây khó khăn cho đàm phán.

Trong công hàm ngày 14 tháng 10 gửi cho Mỹ, ta nói về những người dân sự bị bắt như sau:

“Theo luật pháp quốc tế, trong cuộc chiến tranh khi chiến sự đã chấm dứt, thì tất cả những người của các bên bị bắt phải được trao trả ngay. Hơn thế nữa, với tính chất của cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam thì sau khi ngừng bắn việc trao trả những người dân sự cũng như việc trao trả những người quân sự của các bên bị bắt giữ là một nghĩa vụ mà không bên nào được thoái thác và trì hoãn.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho rằng trong vấn đề phía Hoa Kỳ bênh vực cho một lập trường rất sai trái để một bên có thể tiếp tục giam giữ những người dân sự của bên kia. Đó là trái đạo lý không công bằng và vô nhân đạo".

Phía Mỹ nhận rằng vấn đề này có ý nghĩa rất lớn và liên quan đến những tình cảm thiêng liêng nhất và sẽ hết sức tìm một giải pháp.
Nhưng khi vào họp, Kissinger lại nói rằng phía Hoa Kỳ chưa thuyết phục được Sài Gòn và đề nghị "Hai bên Nam Việt Nam sẽ thực hiện điều khoản này càng sớm càng tốt, làm hết sức mình để giải quyết trong ba tháng sau khi ngừng bắn".

Như vậy lại thêm vấn đề mới. Ngoài danh từ “thường dân vô tội” mà Mỹ vẫn bám giữ, họ còn kéo dài thêm thời hạn mà hai bên đã thoả thuận từ hai tháng lên ba tháng.

Kissinger giải thích thêm khó khăn của Hoa Kỳ ở hai điểm sau đây: .

- Một là các ông muốn Mỹ đồng ý để tất cả lực lượng của các ông ở lại Nam Việt Nam, điều đó đã là khó khăn lớn của Hoa Kỳ đối với Sài Gòn rồi. Hoa Kỳ chưa bao giờ đồng ý việc đó.

- Hai là thêm vào đó các ông đòi Sài Gòn phải thả 30.000 người của phía các ông một khi số người đó được thả ra họ sẽ tham chiến chống lại Sài Gòn.

Xuân Thuỷ:

- Tôi thấy lý do ông đưa ra là không đứng vững được. Thế thì Chính phủ Cách mạng Lâm thời có nên thả những người bị bắt ra không. Ngay những phi công Mỹ bị bắt chúng tôi cũng thả ra và không nghi ngại gì. Chúng tôi không đòi điều gì khác ngoài điều chúng ta đã thoả thuận là những người hai bên bị bắt phải được thả ra song song với thời hạn rút quân.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #334 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:46:17 PM »

Kissinger vẫn nhắc lại sự phản đối của Sài Gòn và nói ý định của Mỹ không phải là không chịu thả trước ba tháng mà dự định trước khi ký Hiệp định, Mỹ sẽ cho ta biết một số chắc chắn những người được thả coi như ân xá và sau đó Mỹ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để giải quyết toàn bộ vấn đề một cách nhanh chóng - như vậy là trong thời gian hai tháng sẽ có một số lớn người được thả như nói trong Hiệp định, còn lại chúng tôi sẽ dùng ảnh hưởng tối đa để họ được thả trong ba tháng.

Xuân Thuỷ đưa ra công thức đã nói trong Hiệp định Genève năm 1954 là:

"Việc trao trả người của hai bên bị bắt và bị giam giữ vì đã tham gia bằng mọi cách vào cuộc chiến tranh chính trị và vũ trang giữa các bên sẽ được tiến hành song song và hoàn thành cùng một ngày với việc rút quân nói ở điều ... " .

Kissinger thừa nhận rằng mối quan tâm của ta là hợp lý nhưng vẫn nói vấn đề này thuộc thẩm quyền của Sài Gòn và thêm: Một là ở đây hai bên có thể thoả thuận được điều gì, hai là ông ta đi Sài Gòn rồi sẽ trở lại đây để hai bên có thể thoả thuận thêm. Ông ta tin rằng những đề nghị của Mỹ sẽ được Sài Gòn chấp nhận:

“Nếu các ngài muốn thì chúng tôi có thể giảm bớt thời hạn ba tháng xuống hai tháng".

Hai bên chỉ có thể làm như vậy, nếu Việt Nam muốn Hoa Kỳ làm hơn nữa thì chỉ có cách ông ta mang đề nghị của Hà Nội đi Sài Gòn rồi tuần tới trở lại thảo luận thêm. Và như vậy chương trình làm việc sẽ hoãn lại ba đến sáu ngày - có lúc ông ta nói tám ngày.

Xuân Thuỷ đưa ra một công thức khác gần giống như công thức trước nhưng Kissinger vẫn không chịu và nói lại là Hoa Kỳ chỉ có thể làm được một trong hai việc: cam kết sẽ có một số lớn người được thả song song với việc rút quân; cam kết thứ hai là sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của Hoa Kỳ để giải quyết thoả đáng trong hai tháng.

Ông ta lại đề nghị tách vài khía cạnh của vấn đề này để giải quyết sau mặc dầu làm như vậy ông ta công nhận là đau khổ. 

Xuân Thuỷ: 

- Chúng ta muốn chấm dứt chiến tranh, muốn nhân dân miền Nam Việt Nam không có hận thù với nhau, thế nhưng đã ngừng bắn rồi, đã ký Hiệp định rồi mà Chính quyền Sài Gòn vẫn giữ một số người không thả, bên Chính phủ Cách mạng Lâm thời cũng không thả hết, thậm chí còn giữ một số người của Mỹ thì kết quả sẽ như thế nào? Kết quả là nuôi mầm hận thù xung đột, điều đó có gì tốt đâu.

Kissinger nói chắc chắn là các nhân viên quân sự của Bắc Việt Nam, của Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ được thả và một số lớn số người dân sự cũng sẽ được thả, số còn lại sẽ có một cố gắng lớn để thả không những thông qua thương lượng của các bên Nam Việt Nam mà còn thông qua việc Mỹ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để thực hiện việc đó. Rồi ông ta nhắc lại hai cách đã nói: công thức của Mỹ hoặc đem công thức của Việt Nam đi Sài Gòn rồi tuần sau gặp lại.

Xuân Thuỷ vạch rõ trách nhiệm việc này là của Hoa Kỳ, phê phán cách giải quyết của Hoa Kỳ là không công bằng và vô nhân đạo. Vấn đề này tạm gác lại.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #335 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:47:12 PM »

Sang vấn đề thay thế vũ khí, Kissinger đưa ra công thức giống công thức của Hiệp định Genêve năm 1954 là hai bên được thay thế vũ khi đạn dược, dụng cụ chiến tranh bị phá huỷ, hư hỏng, hao mòn hoặc dùng hết sau khi ngừng bắn trên cơ sở một đổi một, cùng chủng loại và đặc điểm tương tự.

Xuân Thuỷ không đồng ý - vì lý do đơn giản: Mỹ sẽ đưa vào cho Sài Gòn một số lượng lớn hơn nhiều so với số vũ khí chính phủ Cách mạng Lâm thời được thay thế. Xuân Thuỷ vẫn giữ nguyên tắc ngang nhau.

Kissinger lại viện ra việc Quân đội miền Bắc không phải rút trong khi đó (việc thay thế vũ khí cho Chính phủ Sài Gòn) lại bị Việt Nam phủ quyết.

Xuân Thuỷ đưa ra đề nghị mới: cả hai vấn đề tù dân sự và thay thế vũ khí đều viết theo công thức của Hiệp định Genêve năm 1954... và thay chữ nguyên tắc ngang nhau thành nguyên tắc bình đẳng. Kissinger vẫn không chịu.

Cuối cùng Xuân Thuỷ đề nghị:

- Về hai vấn đề này - việc trao trả những người bị bắt và thay thế vũ khí - ông đi Sài Gòn rồi ông vào Hà Nội như ta đã định với nhau. Và ở Hà Nội ông sẽ trao đổi hai vấn đề này với các nhà lãnh đạo chúng tôi, chắc chắn có thể giải quyết một cách thoả đáng.

Kissinger đề nghị sau khi ông ta đi Sài Gòn sẽ có cuộc gặp với Lê Đức Thọ ở Viêng Chăn để giải quyết tất cả vấn đề, sau đó ông ta sẽ đi Hà Nội. Kissinger nói một cách lấp lửng rằng sẽ cố gắng thực hiện điều đã thoả thuận nhưng thời điểm và cách giải quyết phải phụ thuộc vào hoàn cảnh.

Thấy rõ âm mưu của Mỹ là cố kéo dài, Xuân Thuỷ phê phán ngay. Cuộc họp kết thúc một cách nặng nề không rõ ràng.

Buổi họp hôm ấy ngoài hai vấn đề trên cũng giải quyết được các bất đồng về câu chữ mà các chuyên viên đã nêu ra từ phiên họp 12 tháng 10. Phía Mỹ còn nêu ra vấn đề mới: đòi Cộng hoà Triều Tiên tham gia Uỷ ban Quốc tế và Hội nghị Quốc tế, nhưng đã bị bác bỏ.

Ngay sáng 18 tháng 10, đoàn Mỹ gửi cho ta một công hàm nhân danh Tổng thống Hoa Kỳ:

1- Tổng thống cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ đã đến rất gần một sự thoả thuận.

2- Tổng thống không thể đồng ý về một cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger hoặc về một cuộc ngừng bắn đơn phương một số hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trừ phi trong khuôn khổ của một thỏa thuận đã hoàn thành.

3- Vì những bất đồng về những điều khoản 7 và 8 và vì tính chất không được thoả đáng của một vài tuyên bố đơn phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên thời gian cho cuộc đi thăm như thế chưa chín muồi.

Công hàm đề nghị thêm một cuộc gặp riêng khác trong vòng hai hoặc ba ngày và đề nghị thời gian biểu sau đây: Ngày 22, 23, và nếu cần thì thêm ngày 24 tháng 10, Kissinger và Lê Đức Thọ gặp nhau ở Viêng Chăn. Ngày 25 và 26 tháng 10 (hoặc 26 và 27 tuỳ thuộc vào thời gian dài ngắn của cuộc gặp ở Viêng Chăn), Kissinger đi Hà Nội để thảo luận kế hoạch sau chiến tranh với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 27 hoặc 28 tháng 10, Kissinger về Washington; ngày 28 hoặc 29 tháng 10 công bố điều khoản thỏa thuận cuối cùng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #336 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:48:27 PM »

Ngày 19 tháng 10, hồi hai mươi giờ, nhân danh Thủ tưởng Chính phủ, đoàn Việt Nam trả lời cho Mỹ:

“2- Để tỏ thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí của mình, phía Việt Nam Dân chú Cộng hoà làm hết sức mình để gạt bỏ những trở ngại cuối cùng nhằm hoàn thành bản Hiệp định, bảo đảm ngày Tiến sĩ Henry Kissinger vào Hà Nội và ngày ký chính thức Hiệp định như đã thỏa thuận.

Do đó phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý công thức do phía Hoa Kỳ đưa ra vấn đề thay thế vũ khí nói trong điều 7 và những đề nghị của Tiến sĩ Henry Kissinger về điều 8 trong cuộc gặp ngày 17 tháng 10 năm 1972".

Như vậy, ta chấp nhận việc thay thế vũ khí trên cơ sở một đổi một cùng đặc điểm và tính năng (điều 7).

Còn vấn đề nhân viên dân sự bị giam giữ ở miền Nam, ta cũng chấp nhận “sẽ có các bên miền Nam giải quyết trong vòng ba tháng". Nhưng cũng ghi nhận lời cam kết đơn phương của Kissinger: “Mỹ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa để làm cho số lớn được trao trả trong hai tháng, và số còn lại được trao trả hết trong ba tháng”.

Ta khẳng định rằng những trở ngại cuối cùng đã được giải quyết nên đòi thực hiện thời gian biểu mà hai bên đã thoả thuận ngày 11 tháng 10 năm 1972:

Mỹ chấm dứt ném bom và thả mìn miền Bắc Việt Nam ngày 21 tháng 10. Kissinger vào Hà Nội ngày 22 và 23 tháng 10 và ký Hiệp định chính thức tại Paris đúng ngày 30 tháng 10 năm 1972.

Mỹ trả lời ta rất nhanh chóng. Sáng hôm sau, 20 tháng 10, hồi mười giờ, nhân danh Tổng thống Mỹ gửi công hàm cho Thủ tướng Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có đoạn:

“1- Phía Hoa Kỳ hoan nghênh thiện chí và thái độ nghiêm chỉnh của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thể hiện trong công hàm ngày 19 tháng 10 năm 1972. với hai điều khoản trong điều 7 và 8 mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thoả thuận trong công hàm của mình, văn bản của Hiệp định bây giờ có thể xem là đã hoàn thành” (người trích gạch dưới).

Công hàm còn nêu thêm nhiều vấn đề nữa mà Mỹ quan tâm: vấn đề tù binh ở Lào và Campuchia, vấn đề ngừng bắn ở Lào và vấn đề chấm dứt các hoạt động quân sự ở Lào và Campuchia (điều 15b). trong công hàm, phía Mỹ còn trích những tuyên bố của Lê Đức Thọ trong các cuộc gặp riêng hồi tháng 9 và tháng 10, coi đó là cam kết của ta. Để tỏ ra công bằng và có thiện chí, công hàm cũng nêu ra các cam kết của Hoa Kỳ dưới hình thức “hiểu biết" (understanding) - chấm dứt hoạt động trinh sát ở miền Bắc; việc đậu các tàu sân bay xa bờ biển Việt Nam, còn vấn đề trách nhiệm của Hoa Kỳ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh “sẽ được thảo luận trong cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger ...".

Công hàm còn viết:

“4- Một khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xác nhận những hiểu biết này... thì Hiệp định có thể coi là hoàn thành" .
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #337 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:49:25 PM »

Tiếp đó phía Hoa Kỳ đề nghị một thời gian biểu mới, thay đổi hai mươi tư tiếng đồng hồ về thời gian ký Hiệp định:

Ngày 24 tháng 10, Kissinger tới Hà Nội và rời Hà Nội ngày 26 tháng 10. 

Ngày 27 tháng 10, hồi hai mươi mốt giờ, giờ Washington, đưa tin về Hiệp định.

Ngày 31 tháng 10, ký Hiệp định tại Paris.

Trước đó ngày 23 tháng 10, Hoa Kỳ sẽ chấm dứt ném bom và thả mìn ở Bắc Việt Nam vào chiều tối hôm đó.

Công hàm nói tiếp có vẻ khẳng định:

“Ngay sau khi nhận được những lời xác nhận thì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể tin là phía Hoa Kỳ sẽ tiến hành theo thời gian biểu đề nghị trên”.

Công hàm kết thúc bằng việc nói rằng kết thúc chiến tranh nay đã đến rất gần sẽ đưa lại một thời kỳ mới trong quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 21 tháng 10, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trả lời công hàm của Tổng thống Mỹ.

Công hàm phê phán Hoa Kỳ gây thêm phức tạp mới làm trở ngại cho việc ký Hiệp định Paris đúng thời gian hai bên thỏa thuận và cho phía Mỹ biết:

“2- Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ làm đúng những điều đã tuyên bố với phía Hoa Kỳ và không có gì thay đổi. Song, cần phải nói rõ rằng vấn đề Lào và Campuchia là thuộc chủ quyền của người Lào và người Campuchia. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Hoa Kỳ đều có nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của Lào và Campuchia như hai bên đã cam kết trong điều 15 của Hiệp định về Việt Nam đã thoả thuận".

Công hàm cũng xác nhận lại các tuyên bố của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và cho Mỹ biết:

“Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được Mặt trận Lào yêu nước thông báo rằng họ sẵn sàng thoả thuận với phía bên kia về một cuộc ngừng bắn ở Lào trong vòng một tháng kể từ ngày 31 tháng 10 năm 1972 hoặc sớm hơn, và những người Hoa Kỳ bị bắt ở Lào sẽ được thả ngay trước ngày 30 tháng 12 năm 1972”.

Về Campuchia, công hàm viết:

“Sau khi chiến tranh ở Việt Nam chấm dứt, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tích cực góp phần vào việc lập lại hoà bình ở Campuchia. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà biết rõ rằng không có người Hoa Kỳ nào bị bắt ở Campuchia".

Công hàm cũng xác nhận lại:

“Mọi 1ực 1ươhng vũ trang nước ngoài, gồm các 1ực 1ượng vũ trang của Hoa Kỳ, của Thái Lan và của các bên Việt Nam sẽ chấm dứt hoạt động quân sự, rút hết và không đưa trở lại hai nước nói trên quân đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh...”

Ta cũng chấp nhận thời gian biểu mới do Mỹ đề nghị. Hai mươi ba giờ ngày 20 tháng 10 năm đó, Mỹ gửi thông điệp cho ta nói:

"Tổng thống ghi nhận và hoan nghênh công hàm của Thủ tướng (Việt Nam Dân chủ Cộng hoà), công hàm đó thoả mãn tất cả những điều Tổng thống nêu ra vấn đề Lào và Campuchia cũng như vấn đề tù binh Hoa Kỳ".

Nhưng công hàm cũng nói đến việc phía Việt Nam lộ bí mật cho nhà báo Mỹ Arnand Borchgrave và yêu cầu ta không có hành động công khai...

Đến đây Việt Nam thấy rõ âm mưu của Mỹ là không chịu ký kết Hiệp định như thời gian biểu mà chính họ đề nghị với một lý do giả tạo.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #338 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:50:19 PM »

Thiệu cản đường. Nixon lật lọng

Mười lăm giờ ngày 23 tháng 10 năm 1972, Tổng thống Mỹ thông báo cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà việc khẩn cấp sau đây:

“Hoa Kỳ đã tiến hành công việc với lòng chân thành... Nhưng đã có những khó khăn sau đây: Trước hết Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tìm cách làm việc với một tốc độ quá mức. Thứ hai, cuộc phỏng vấn giữa Thủ tướng Phạm Văn Đồng với phóng viên báo Newsweek (Tin trong tuần - Tác giả) đã có ảnh hưởng rất tai hại vào một lúc quyết định ở Sài Gòn. Những cuộc Hiệp thương tế nhị có thể bị phá hoại do việc có thể coi là việc loan báo về một Hiệp định vẫn còn đương được thảo luận và bằng những việc công kích vào cơ cấu và những người mà Hiệp định đó vẫn duy trì. Thứ ba, có vấn đề là... lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam. Thứ tư, có nhiều vấn đề kỹ thuật đã xuất hiện..”.

Công hàm lại đề nghị một cuộc gặp riêng nữa ở Paris và hoãn chuyến đi Hà Nội của Kissinger.

Thái độ lật lọng của Nixon đã rất rõ, và những lý do mà họ nêu là không chính đáng. Sự thật là Mỹ muốn nuôi dưỡng Thiệu, làm Thiệu mạnh hơn nữa khi Mỹ rút đi. Thiệu biết điều đó nên cố đòi Mỹ thêm nữa và gây cản trở cho Washington. Năm 1968, Thiệu đã cản trở được Johnson, nay cũng hy vọng diễn lại vở kịch đó.

Với bản chất cực kỳ hiếu chiến và phát xít, Thiệu phản đối Mỹ nói chuyện với miền Bắc, phản đối việc chấm dứt ném bom miền Bắc, phản đối giải pháp chính trị. Với một lực lượng quân sự hơn hẳn lực lượng vũ trang của cách mạng miền Nam được trang bị vũ khí tối tân, Thiệu hy vọng sẽ chiếm được tất cả các thành phố lớn nhỏ, làm chủ các địa bàn chiến lược, các đường giao thông chủ yếu, kìm kẹp được đa số nhân dân miền Nam, Thiệu cho rằng nếu Mỹ ở lại một thời gian nữa thì ông ta có thể tiêu diệt được cách mạng miền Nam và “Hà Nội có thể phải đầu hàng vô điều kiện”.

Thiệu cũng không muốn tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị vì đó là "Vùng nước nguy hiểm đối với đồng minh dễ bị tổn thương của chúng ta (tức Hoa Kỳ - Tác giả) ở Sài Gòn" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1379, 1373, 1404.).

Tóm lại, đứa con đẻ này của Washington đã quá lớn rồi từ khi nó ra đời nhưng vẫn không muốn rời cái rốn của mẹ Mỹ.

Còn Mỹ, tình thế bắt buộc phải rút khỏi Việt Nam trong danh dự và Hiệp định đã thoả thuận đảm bảo cho Mỹ điều kiện đó. Nhưng Thiệu biết cái yếu của Mỹ là không dám bỏ rơi mình nên tìm cách thọc gậy bánh xe. Trong quá trình nói chuyện ở Paris, Mỹ luôn thông báo cho Thiệu, và Thiệu có lúc đã đồng ý không đòi quân miền Bắc rút đi (H.Kỉssinger. Ở Nhà Trắng, Sđd tr. 1404.).

Nhưng ngày 23 tháng 9 tại Huế, Thiệu tuyên bố công khai rằng không có kẻ nào có quyền thương lượng hay chấp nhận một giải pháp ngoài nhân dân Nam Việt Nam.

Ngày 4 tháng 10, khi tướng Haig, đại diện của Nixon đến Sài Gòn thuyết phục, Thiệu chống lại tất cả các đề nghị của Mỹ. Ông ta đã khóc trước mặt Haig và sau này cả trước mặt Kissinger. Haig báo cáo về Washington rằng Thiệu bác bỏ toàn bộ các phản đề nghị của Hoa Kỳ

Sau khi họp với Xuân Thuỷ hôm 17 tháng 10, Cố vấn Nhà Trắng đi miền Nam trong năm ngày. Khi Kissinger đến Sài Gòn, Thiệu từ chối không thảo luận nội dung Hiệp định mà Nixon cho là “đã hoàn hảo”. Có lần Cố vấn Nhà Trắng và đại sứ Mỹ Bunker vào phòng làm việc của Thiệu mà ông ta không thèm chào. Hôm ấy Nixon đã gửi cho Thiệu một bức thư nói rằng Hoa Kỳ không có giải pháp nào hợp lý hơn là chấp nhận Hiệp định đó (R.Nixon. Hồi ký. Sđd, tr. 696). Tất nhiên, Kissinger còn được Nixon cho phép bảo đảm với Thiệu rằng Thiệu có thể tin tưởng tuyệt đối Nixon sẽ ủng hộ ông ta trong những ngày tới.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #339 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:51:07 PM »

Khi Kissinger làm việc với Trần Văn Lắm, Tổng trưởng Ngoại giao của Thiệu, Lắm đòi sửa 23 điểm trong Hiệp định đã thoả thuận trong đó có những vấn đề rất quan trọng như vấn đề “cơ cấu Chính quyền". Lắm đòi Hội đồng Quốc gia hoà hợp và hoà giải dân tộc chỉ là cơ quan bầu cử; Lắm đòi xoá bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời, đòi rút quân miền Bắc... Tóm lại, Thiệu đòi miền Nam Việt Nam là một Quốc gia riêng biệt.

Tối 22 tháng 10, khi gặp Kissinger, Thiệu đòi Mỹ hãy từ bỏ việc kinh doanh (enterprise) ở Paris (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1437, 1438.). Kissinger viết: “Chúng tôi trở thành tù binh của lịch công tác mà chúng tôi đã đề ra” (R.Nixon. Hồi ký. Sđd, tr. 700.).

Nixon tỏ ra bực bội và đã có lúc phải tính đến việc ký Hiệp định riêng rẽ với kẻ thù. Có lúc Nixon gửi thư cho Thiệu nhấn mạnh rằng: “quyết định của ông (Thiệu) sẽ có hậu quả nghiêm trọng đến khả năng duy trì sự ủng hộ của tôi (Nixon) cho ông và cho Chính phủ Nam Việt Nam" (R.Nixon. Hồi ký. Sđd, tr. 700.).

Nhưng Nixon không thể bỏ rơi được đứa con của bốn đời Tổng thống ở xứ xa xôi này. Ông ta còn tin vào sự thắng lợi ở cuộc bầu cử sắp tới. Ông ta lo sợ một sự tan vỡ công khai với Thiệu trước tuyển cử hơn là sợ Việt Nam công bố Hiệp định mà ông ta cho là dễ trang trải với dư luận Mỹ, nên đã chỉ thị cho Kissinger không gây nên sự đổ vỡ ở Sài Gòn mà cần có sự thoả thuận hoàn toàn với Thiệu.

Trong khi trì hoãn việc ký Hiệp định vào thời hạn đã thoả thuận, ngày 24 tháng 10, Mỹ lại gửi công hàm cho ta đề nghị có cuộc gặp gỡ riêng thêm nữa để thoả thuận ba loại vấn đề thuộc về vấn đề kỹ thuật và thực chất, trong đó có "việc thảo luận thêm về sự bố trí quân đội bên ngoài Hiệp định”, "việc ngừng bắn gần như đồng thời ở Đông Dương".

Ngày hôm sau họ lại gửi công hàm nhắc lại đề nghị có thêm các cuộc gặp riêng nữa và đe doạ: 

“Sẽ tuỳ thuộc ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quyết định xem có nên hy sinh tất cả những cái đã thực hiện được bằng một chính sách thoá mạ ở nơi công khai và không nhân nhượng trong gặp riêng hay không".

Cùng với đề nghị này, Mỹ tăng cường vận động qua Liên Xô và Trung Quốc gây sức ép buộc Việt Nam chấp nhận đề nghị đó.

Nhưng cả Liên Xô và Trung Quốc đều ép Mỹ ký Hiệp định vào 31 tháng 10 năm 1972. Liên Xô còn ép Kissinger đi Hà Nội nhưng cũng thường xuyên truyền đạt ý kiến của Mỹ cho ta và gợi ý ta gặp lại theo đề nghị của Mỹ. Riêng trong ngày 25 tháng 10, đại sứ Liên Xô ở Hà Nội đã hai lần gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng (Một lần vào lúc 2 giờ sáng) về việc này. Đại diện Liên Xô nói: 

“Ban lãnh đạo Liên Xô mong các đồng chí Việt Nam hãy làm tất cả những gì có thể làm được để cho những thoả thuận đã đạt được không tan thành mây khói. Việt Nam nên quyết định cử đồng chí Lê Đức Thọ đi Paris...".

Ta không cắt cầu, nhưng không chấp nhận họp lại theo yêu cầu của Mỹ, ta vẫn đòi Mỹ ký văn bản đã thoả thuận đúng 31 tháng 10.

Trong công hàm ngày 23 tháng 10 gửi đoàn Mỹ, một lần nữa ta vạch rõ Hoa Kỳ đã viện cớ không chính đáng để vi phạm một cách rất nghiêm trọng những điều đã thoả thuận. Ta bác bỏ việc gặp lại và cảnh cáo:

“Nếu phía Hoa Kỳ cứ viện cớ này cớ khác để kéo dài đàm phán, trì hoãn việc ký kết thì nhất định chiến tranh Việt Nam sẽ tiếp tục và phía Hoa Kỳ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm... Lời tuyên bố này của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là rất nghiêm chỉnh, phía Hoa Kỳ phải chú ý thật đầy đủ”.

Hôm sau ta báo cho phía Mỹ rằng: Hiệp định đã hoàn thành, Hà Nội “sẵn sàng đón Kissinger vào để ký tắt Hiệp định, đảm bảo ký chính thức vào 31 tháng 10 năm 1972”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM