Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:15:25 PM



Tiêu đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:15:25 PM
Tên sách: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Tác giả: Lưu Văn Lợi - Nguyễn Anh Vũ
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh, Sao Vàng

"Cuộc chống Mỹ, cúu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.
Trích Di chúc của Chủ tịch HỒ CHÍ MINH


LỜI TỰA CHO LẦN TÁI BẢN

Chúng tôi đã xuất bản cuốn “Tiếp xúc bí mật Việt Nam - Hoa Kỳ” trước Hội nghị Paris (năm 1990, tái bản năm 2000) và cuốn “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris” (năm 1996). Theo yêu cầu của nhiều bạn trong và ngoài nước, nay chúng tôi tái bản hai cuốn thành một tập duy nhất với những bổ sung cần thiết để người đọc có thể có bức tranh liên hoàn của quá trình chuyến biến ngoại giao từ chiến tranh sang hoà bình ở Việt Nam. Cuộc chiến tranh đến nay đã kết thúc gần ba mươi năm, mộ các chiến sĩ đã xanh bất chấp lòng người chưa vơi bớt nhớ thương.

Trong thời gian đó, ông Mac Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng của Tổng thống L.B. Johnson, suy nghĩ ngày đêm để tìm xem có cơ hội hoà bình nào ở Việt Nam bị bỏ lỡ hay không. Ông bà cùng nhiều tướng tá Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam và nhiều nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu Mỹ sang Việt Nam trao đổi ý kiến với các cựu đối thủ của họ với lòng mong muốn cùng nhau tìm sự xác nhận rằng bên này hay bên kia đã bỏ lỡ những cơ hội kết thúc cuộc chiến tranh. Là người cùng dự hội thảo với họ, tôi thấy họ đã phân tích mọi tài liệu có thể có, lật đi lật lại các vấn đề, xem xét mọi khía cạnh trong những cuộc tranh luận cởi mở, thẳng thắn. Rất tiếc, sau nhiều cuộc gặp nhau, các nhà nghiên cứu Mỹ đi đến kết luận “tranh cãi không cùng" (argument without end).

Vấn đề đúng là phức tạp, lô-gích của người Việt Nam và lô-gích của người Mỹ dùng là khác nhau, nhưng chỉ có một sự thật,sao mà khó tìm thế.

Chúng tôi nghĩ như mọi người rằng chiến tranh là chiến tranh và nó có quy luật của nó. Khi Johnson quyết định đưa lính Mỹ sang trực tiếp chiến đấu ở miền Nam Việt Nam và cho máy bay Mỹ trực tiếp ném bom miền Bắc Việt Nam, ông tuyên bố tại Baltimore "sẵn sàng thương lượng không điều kiện" với Hà Nội, hay khi ông quyết định đưa 500.000 quân Mỹ sang miền Nam Việt Nam, ông mở chiến dịch ngoại giao lớn nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông, có phải ông thật sự muốn chấm dứt chiến tranh không? Trước Chúa, chắc ông cũng không dám nói thật, địch thủ của ông làm sao tin được. Nhưng dư luận Mỹ cũng như dư luận thế giới cũng hiểu rằng ông cần tỏ thiện chí hoà bình đế che giấu ý đồ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam sau khi "chiến tranh đặc biệt" thất bại.

Khi chiến tranh lớn bắt đầu giữa nước Việt Nam nhỏ bé và lạc hậu và nước Mỹ siêu cường hùng mạnh, so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía Mỹ và người ta gọi đó là cuộc đấu tranh giữa David và Goliath của thế kỷ. Tất nhiên nhân dân Việt Nam phải chống lại xâm lược bằng mọi khả năng, kể cả việc tập hợp lực lượng hoà bình thế giới và Mỹ đồng tình và ủng hộ với cuộc chiến đấu tự vệ chính đáng của mình và khi đó tất nhiên họ không thể tin những "sáng kiến hoà bình" của Nhà trắng. Bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào khi chiến tranh mới nổ ra, tất cả các bên tham chiến đều tìm thêm đồng minh, tranh thủ thêm sự đồng tình làm cho so sánh lực lượng thay đổi có lợi cho mình, đó là điều tất nhiên, là nhu cầu cần thiết vì như một tướng Mỹ đã nói "trong chiến tranh không gì thay thế được chiến thắng". Nhưng cao quý hơn, đúng ra là tối cần thiết hơn chiến thắng là hoà bình, hoà bình giữa các Quốc gia, hữu nghị giữa các dân tộc. Khát vọng hoà bình của con người sâu sắc đến mức người ta cho rằng "một nền hoà bình tồi còn tốt hơn chiến tranh".



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:15:35 PM
Người ta có lý do, có thể nói bằng chứng, rằng trong những năm 60 thế kỷ trước, những người cầm quyền ở Mỹ luôn nói hoà bình nhưng khi hoà bình nằm trong tầm tay họ thì họ lại vứt bỏ. Hiệp định Genève năm 1954 nhằm chấm dứt chiến tranh Đông Dương hoàn toàn phù hợp với giải pháp bảy điểm mà Tổng thống Eisenhower đã thoả thuận với Thủ tướng Churchin ngày 29 tháng 6 năm 1954 nhưng ngày 23 tháng 10 năm 1954 chính Eisenhower lại gửi thư cho Ngô Đình Diệm báo rằng Mỹ sẽ cung cấp viện trợ kinh tế và quân sự cho Ngô Đình Diệm, Chính phủ và quân đội của ông ta để xây dựng miền Nam Việt Nam thành một Quốc gia độc lập và chống cộng.

Năm 1962, Mỹ ký Hiệp định Genève về trung lập của Vương quốc Lào nhưng ngay sau đó lại bác bỏ một đề nghị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam về việc chấm dứt chiến tranh và đưa miền Nam Việt Nam vào con đường hoà bình trung lập theo mô hình Lào. Một lần nữa, Washington đã bác bỏ một giải pháp mà chính họ đã chấp nhận. Chẳng phải đó là hai cơ hội hoà bình mà Mỹ đã bỏ lỡ đó sao?

Từ thực tế đó người ta buộc phải đặt câu hỏi họ muốn gì, hoà bình hay chiến tranh, khi họ nói thiện chí hoà bình. Chỉ kể từ Westphalie, cái gì bảo đảm hoà bình giữa các Quốc gia, từ khi có Liên Hiệp Quốc cái gì bảo đảm an ninh thế giới? Ai cũng hiểu rằng đó là sự tôn trọng chủ quyền của các Quốc gia, đó là sự từ bỏ sử dụng vũ lực trong quan hệ giữa các Quốc gia. Ông Mac Namara muốn chấm dứt chiến tranh nhưng quyền tiếp tục hay chấm dứt chiến tranh nằm trong tay Tổng thống Johnson, việc ông rời bỏ Lầu Năm Góc là chuyện dễ hiểu. Mà chừng nào ông Johnson còn ảo tưởng chặn được chủ nghĩa cộng sản ở vĩ tuyến 17 Việt Nam thì ông còn chưa chịu xem xét mọi cơ hội hoà bình ở Việt Nam. Ngay ông Nixon đã ở trong tình thế phải chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, chịu rút quân Mỹ về nước rồi mà vẫn còn muốn duy trì Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu để Thiệu tiếp tục chiến tranh với vũ khí và Cố vấn Mỹ. Rõ ràng chừng nào những người cầm quyền Mỹ còn nghĩ có thể chiến thắng Việt cộng thì không làm gì có cơ hội hoà bình trừ trường hợp Việt cộng chịu chấm dứt chiến tranh theo điều kiện của Mỹ.

Cái gốc của vấn đề không phải là có hay không có cơ hội hoà bình, là chấp nhận hay khước từ cơ hội, mà là tôn trọng hay không tôn trọng chủ quyền của nhau, là sử dụng hay không sử dụng vũ lực trong quan hệ với nhau, đơn giản là tôn trọng hay không tôn trọng hoà bình, an ninh thế giới.

Có người Mỹ đã nhắc đến bài thơ của thi sĩ Samuel Taylor Coleridge về người thuỷ thủ già giết con hải âu, con chim thành kính mang điềm lành tới người đi biển, để rồi con tàu gặp không biết bao nhiêu gian nan, hiểm hoạ. Đó chính là bài học của chiến tranh Việt Nam về xử lý quan hệ ngoại giao giữa các Quốc gia.

Việc tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam đã kéo dài, đầy khó khăn và trở ngại. Nhưng

“Đến khi kết thúc mọi sự tìm kiếm
Ta sẽ tới nơi mà chúng ta đã bắt đầu.”
T.S. Eliot 

Cuối cùng chiến tranh đã chấm dứt ở Việt Nam. Chúng ta vui mừng là hai nước đã khép lại quá khứ, ra sức lấp bằng cái hố ngăn cách mà chiến tranh đã khơi ra, bình thường hoá quan hệ với nhau. Một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên hữu nghị và hợp tác, bắt đầu vì hoà bình và phát triển.

Hà Nội, mùa Xuân năm 2002
Lưu Văn Lợi



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:16:25 PM
PHẦN MỘT
CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT VIỆT NAM - HOA KỲ TRƯỚC HỘI NGHỊ PARIS

CHƯƠNG 1
DI SẢN CỦA BỐN ĐỜI TỔNG THỐNG

Tổng thống L.B. Johnson đã quyết định tiến hành cuộc chiến tranh hạn chế ở miền Nam Việt Nam và cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc Việt Nam. Đương nhiên ông phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Nhưng chịu trách nhiệm đưa nước Mỹ vào cuộc chiến tranh Việt Nam đâu phải chỉ có riêng ông. Còn phải kể các vị tiền nhiệm của ông, những người từng bước đã tăng cường sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, dù đã có mặt ở Phi-líp-pin từ năm 1898, nước Mỹ nói chung vẫn chấp nhận sự thống trị của Pháp ở Đông Dương. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa quân phiệt Nhật sụp đổ, chủ nghĩa thực dân Pháp thất bại, phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Dương giành những thắng lợi đầu tiên cơ bản. Nước Mỹ, kẻ chiến thắng chủ yếu trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương, ngày càng chú ý đến tình hình Đông Dương. Với chủ trương "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản”, bao vây Liên Xô và Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, sự chú ý đó ngày càng tăng, đã đưa nước Mỹ đến cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài ba năm và sau đó dính líu ngày càng sâu vào Lào và Việt Nam.

Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt đã nhiều lần chê Pháp thực hiện một chính sách thực dân làm cho đời sống nhân dân các nước Đông Dương ngày càng tồi tệ hơn trước khi Pháp đến.

Trước triển vọng chiến thắng ba nước "Trục", tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945, Roosevelt đưa ra đề nghị thiết lập sự uỷ trị ở Đông Dương dưới hình thức một hội đồng quản trị gồm đại biểu Pháp, đại biểu người Đông Dương, đại biểu Phi-líp-pin, đại biểu Trung Quốc, đại biểu Liên Xô. Nhưng đề nghị đó bị Anh phản đối và sau Hội nghị Yalta gần hai tháng, Roosevelt chết.

Lên thay Roosevelt trong bối cảnh phong trào cách mạng sôi sục của những năm 1944 - 1945 ở Đông Á, Truman chủ yếu lo giúp chế độ Tưởng Giới Thạch, chống lại những thắng lợi trong cuộc đấu tranh của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Ông ta đã đồng ý để quân Tưởng Giới Thạch giải giáp quân Nhật ở Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở lên (quân Anh làm nhiệm vụ đó từ vĩ tuyến 16 trở xuống) với ý đồ giúp họ lật đổ Chính quyền nhân dân do Việt Minh dựng lên để đưa những phần tử thân Tưởng vào làm "những con ngựa thành Troie".

Nhưng do cuộc chiến tranh ở Trung Quốc ngày càng phát triển và sự kiểm soát của Việt Minh lan ra toàn quốc Việt Nam, Chính quyền Truman phải lùi một bước, chịu để thực dân Pháp trở lại Đông Dương. Giữa năm 1950, phái đoàn Cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được đưa sang Việt Nam. Trong tài khoá năm 1954, viện trợ của Mỹ cho các cố gắng chiến tranh của Pháp ở Đông Dương tăng lên một tỷ đô-la. Phái đoàn MAAG đã có ba trăm bốn mươi hai sĩ quan và binh lính Mỹ.

Sau khi Hiệp định đình chiến ở Triều Tiên được ký ngày 26 tháng 7 năm 1954, Tổng thống Eisenhower lần đầu tiên chính thức trình bày thuyết Domino dự đoán Mianma, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a sẽ bị uy hiếp nếu cộng sản thắng ở Đông Dương. Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã cho biết thế nào là một cuộc chiến tranh trên lục địa châu Á đối với Mỹ, dù Mỹ là một cường quốc hàng đầu, Chính quyền Eisenhower sợ một cuộc chiến tranh thứ hai với Trung Quốc, nhưng vẫn chủ trương răn đe và ngăn chặn Trung Quốc ở phía Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:17:05 PM
Chính sách của Washington là đe doạ Trung Quốc, động viên và tìm cách giúp đỡ Pháp tiếp tục chiến tranh. Ngày 12 tháng 1 năm 1954, J.F.Dunes tuyên bố học thuyết "trả đũa ồ ạt", hàm ý răn đe Trung Quốc. Tướng Paul Ely, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Pháp, được phái đi nắm tình hình Điện Biên Phủ sau khi Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh chiếm hai cứ điểm kiên cố ở ngoại vi phía Bắc của khu Trung tâm Điện Biên Phủ ngày 13 và 14 tháng 3 năm 1954.

Sau đó, Paul Ely sang Washington yêu cầu Mỹ viện trợ bổ sung để tăng cường lực lượng không quân Pháp. Tổng thống Eisenhower phê chuẩn kế hoạch của đô đốc Radford, Chủ tịch Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đề nghị Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, giúp Pháp cứu vãn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Theo Radford, hai trăm máy bay của không quân Mỹ sẽ cất cánh từ các hàng không mẫu hạm đậu dọc bờ biển Việt Nam tấn công các căn cứ Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm ngăn chặn việc bao vây Điện Biên Phủ. Các máy bay hạng nặng đóng trên đất Phi-líp-pin sẽ phối hợp. Tán thành chủ trương không để Đông Dương rơi vào tay cộng sản, Tổng thống Eisenhower quyết định nếu không có cách nào khác để ngăn chặn điều đó, Mỹ sẽ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng chỉ can thiệp nếu có được hai điều kiện sau đây:

1. Được sự ủng hộ của các nước Đồng minh, trước hết là Anh.

2. Pháp phải trao hoàn toàn độc lập cho các nước Đông Dương.

Eisenhower còn tuyên bố nếu Quốc hội không tuyên chiến thì sẽ không can thiệp.

Đầu tháng 4 năm 1954, khi tướng Navarre báo cáo Điện Biên Phủ có thể mất nếu không có cuộc oanh tạc của không quân Mỹ, Chính phủ Pháp chính thức yêu cầu Mỹ can thiệp, nhưng Washington đã quyết định không can thiệp. Dunes muốn thuyết phục Pháp tiếp tục chiến đấu với một liên minh chống cộng do Mỹ cầm đầu, nghĩa là ông ta muốn quốc tế hoá cuộc chiến tranh Đông Dương. Ý ông ta là lôi kéo Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Thái Lan, Phi-líp-pin, Campuchia, Lào phối hợp với Mỹ và Chính phủ Bảo Đại trong một hành động thống nhất để giữ Đông Dương không rơi vào tay cộng sản. Anh sợ rằng một hành động như vậy sẽ làm hỏng thời cơ đem lại hoà bình ở Hội nghị Genève (từ tháng 2 năm 1954, bốn nước lớn: Mỹ, Anh, Pháp và Liên Xô họp tại Berlin đã thoả thuận sẽ có một Hội nghị Quốc tế về Đông Dương).

Mặc dầu sự phản đối kiên quyết của Anh, một số quan chức Mỹ vẫn còn muốn can thiệp bằng không quân và hải quân Mỹ vào chiến tranh Đông Dương với điều kiện là các Cố vấn Mỹ ở Việt Nam phải được giữ trách nhiệm to lớn trong việc huấn luyện các lực lượng của Chính phủ thân Pháp và được chia sẻ trách nhiệm trong việc vạch kế hoạch quân sự "với người Pháp". Tuy không muốn kéo dài chiến tranh, Pháp cũng không muốn chia sẻ trách nhiệm với Mỹ.

Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954, Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ.

Ngày 8 tháng 5, Hội nghị Genève về Đông Dương khai mạc. Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 6, Eisenhower và Dunes đã có cuộc họp quan trọng với Churchin và Eden tại Washington. Họ đã thoả thuận về một kế hoạch giải quyết chiến tranh Đông Dương: ngừng bắn ở Đông Dương, lực lượng Việt Nam rút khỏi Lào và Campuchia; ít nhất phải giữ nửa Nam Việt Nam, không loại trừ khả năng thống nhất Việt Nam bằng biện pháp hoà bình; có một Uỷ ban Quốc tế để giám sát việc thi hành hiệp nghị. Pháp được thông báo về kết quả đó và cũng đồng ý. Về kế hoạch sau khi hiệp nghị được ký kết, Mỹ làm áp lực để chính phủ Bảo Đại chấp nhận Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng (cũng trong tháng 6 này) mà Ngô Đình Diệm thì ai cũng rõ là con bài mà Mỹ đã dự trữ từ lâu. Mặt khác, từ tháng 7, Dunes tích cực vận động thành lập khối liên minh phòng thủ Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:18:18 PM
Vào những giờ đầu của ngày 21 tháng 7, các hiệp nghị đình chỉ chiến sự riêng về mỗi nước Việt Nam, Lào, Campuchia được ký kết. Về Việt Nam, hiệp nghị quy định nước Việt Nam tạm thời chia làm hai miền lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời, giữa hai miền có một khu phi quân sự ở hai bên vĩ tuyến 17. Miền Bắc Việt Nam do Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quản lý, miền Nam Việt Nam do Quốc gia Việt Nam quản lý. Trong vòng ba trăm ngày, các lực lượng kháng chiến sẽ rút về Bắc Việt Nam, các lực lượng dưới sự chỉ huy của Pháp sẽ rời Bắc Việt Nam để vào miền Nam. Dân thường được phép đi lại giữa hai miền Việt Nam trong ba trăm ngày đầu của Hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Không bên nào được phép tăng cường lực lượng quân sự trong khu vực mình quản lý hoặc cho phép nước ngoài thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ mình. Một Uỷ ban Quốc tế gồm đại diện Ấn Độ, Ba Lan, Canađa (do Ấn Độ làm chủ tịch) sẽ giám sát và kiểm soát việc thực hiện hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Ở Campuchia không có chia cắt, lực lượng kháng chiến Khơ-me không có khu vực riêng. Ở Lào, lực lượng kháng chiến rút về hai tỉnh Phông Xa Lỳ và Sầm Nưa trong khi chờ đợi tổ chức tổng tuyển cử trong phạm vi cả nước. Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia và Lào. Ở mỗi nước đó cũng có một Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát riêng, với thành phần như ở Việt Nam.

Cùng ngày 21, Hội nghị Genève thông qua bản Tuyên bố cuối cùng công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia: độc lập, chủ quyển, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Về việt Nam, bản tuyên bố khẳng định việc chia cắt chỉ là tạm thời và hai miền Bắc-nam sẽ được thống nhất sau khi có một Chính phủ được bầu ra bằng tổng tuyển cử tự do tổ chức dưới sự giám sát của Uỷ ban Quốc tế. Việc chuẩn bị tổng tuyển cử sẽ do nhà đương cục có thẩm quyền hai miền tiến hành một năm sau hiệp nghị đình chỉ chiến sự. Cuộc bầu cử chính thức sẽ được tổ chức vào tháng 7 năm 1956.

Mỹ ra một tuyên bố riêng, chấp nhận mười hai trong số mười ba điều của tuyên bố cuối cùng, tức là chấp nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, chấp nhận nước Việt Nam sẽ được thống nhất bằng tổng tuyển cử tự do năm 1956. Điều cuối cùng của tuyên bố mà Mỹ có ý kiến khác là cách xử lý khi có vi phạm Hiệp nghị ngừng bắn.

Chính trong lúc đại diện Mỹ tuyên bố tại Hội nghị Genève rằng Hoa Kỳ sẽ không xâm phạm đến việc thi hành Hiệp nghị Genève vừa được ký kết, bằng vũ lực hay đe doạ dùng vũ lực, Tổng thống Eisenhower tuyên bố trắng ra rằng: “Bản thân Hoa Kỳ đã không phải là một bên đương sự trong các quyết định tại Hội nghị và không bị các quyết định đó ràng buộc" (Tài liệu Lầu Năm Góc, Thượng nghị sĩ M. Graven xuất bản, Bi-cơn Trét, Boston, tập 1, tr. 605.).

Mặt khác, ngày 8 tháng 9 năm 1954, chưa đầy hai tháng sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Mỹ đã cùng Anh, Pháp, Australia, New Zeeland, Phi-líp-pin, Thái Lan, Pa-ki-xtan ký Hiệp ước Manila thành lập khối SEATO, trong đó các nước ký kết "Hành động để đối phó với nguy cơ chung, phù hợp với các tiến trình hợp hiến" trong trường hợp một trong số các nước này bị vũ trang xâm lược. Hiệp ước quy định một khu vực bảo hộ của nó, bao gồm toàn bộ lãnh thổ của các nước châu Á tham gia Hiệp ước, mở rộng sự bảo hộ tới Campuchia, Lào và Việt Nam. Sau này Vương quốc Campuchia và Vương quốc Lào đều bác bỏ sự bảo hộ đó.

Ngày 1 tháng 10 năm 1954, Tổng thống Eisenhower gửi cho Ngô Đình Diệm một công hàm (được công bố ngày 23 tháng 10 năm 1954) cam kết sự ủng hộ hoàn toàn và sự viện trợ của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam.

Đây là cơ sở pháp lý và chính trị của sự dính líu của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam. Ý nghĩa lớn không che giấu của nó là Mỹ ủng hộ hoàn toàn một Chính phủ chống cộng ở miền Nam Việt Nam. Tác dụng trước mắt của nó là cảnh cáo các lực lượng thân Pháp, các giáo phái rằng Ngô Đình Diệm đã được Washington chọn làm công cụ của chính sách của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:18:56 PM
Về phía mình, Ngô Đình Diệm đã biết công khai đáp lại cam kết của Mỹ bằng lời tuyên bố nổi tiếng: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17".

Tướng Lowton Conins được Eisenhower cử làm đại sứ đặc biệt với những quyền hạn rất rộng để phối hợp các hoạt động của các tổ chức Mỹ ở miền Nam (phái đoàn viện trợ quân sự MAAG, phái đoàn viện trợ kinh tế USOM, phái đoàn hành chính Michigan), thực hiện kế hoạch loại trừ ảnh hưởng của Pháp, kể cả Hoàng đế Bảo Đại, giành lấy trách nhiệm về quân sự ở miền Nam Việt Nam.

Trong khuôn khổ nhiệm vụ đó, ngày 13 tháng 12 năm 1954, Conins đã ký với tướng Paul Ely, cao uỷ Pháp ở miền Nam Việt Nam một hiệp ước quy định Mỹ thay thế Pháp về mặt quân sự ở miền Nam Việt Nam. Quân đội Sài Gòn được giảm từ hai trăm bảy mươi nghìn người xuống chín mươi nghìn người (để giảm những lực lượng thân Pháp) trước khi xây dựng những đơn vị mới mà Mỹ kiểm soát được. Pháp phải giảm quân đội viễn chinh của họ ở miền Nam từ một trăm năm mươi nghìn người xuống ba mươi nghìn người. Tháng 4 năm 1956, Pháp tuyên bố rút khỏi Đông Dương, mặc dầu về pháp lý họ vẫn còn trách nhiệm đối với Hiệp nghị Genève.

Ngô Đình Diệm không chịu đáp ứng các đề nghị của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc tổ chức cuộc tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp nghị Genève năm 1954 để thống nhất nước Việt Nam, thậm chí khước từ cả việc lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền về kinh tế, văn hoá. Diệm tổ chức tuyển cử riêng rẽ, dựng lên ở miền Nam Việt Nam một Quốc gia riêng biệt gọi là Việt Nam Cộng hoà.

Với chính sách từ bỏ Đông Dương của Pháp và sự thất bại của các lực lượng thân Pháp ở miền Nam Việt Nam, Tổng thống Eisenhower có nhiều lý do để tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử năm 1956 rằng thế giới tự do đã có "một chỗ đứng vừng chắc" ở Đông Dương và các nước không cộng sản tại đây đang được đặt dưới sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn” (Peter Pooler. Nước Mỹ và Đông Dương từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 71.)

Sự thật là với sự ủng hộ mạnh mẽ đãnh cho Ngô Đình Diệm, Eisenhower đang đưa miền Nam Việt Nam vào một cuộc khủng hoảng ngày càng trầm trọng.

Ngay sau khi Hiệp nghị Genève có hiệu lực và mặc dầu chưa kiểm soát được hoàn toàn miền Nam Việt Nam, Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình hoan nghênh đình chiến và thống nhất đất nước, bắt bớ và giam cầm những người yêu nước, yêu hoà bình. Sau khi đã củng cố chính quyền, nhất là sau khi khước từ tổng tuyển cử tự do trong phạm vi cả nước và biến miền Nam thành một Quốc gia riêng biệt, chống cộng, thì họ thi hành ráo riết chính sách trả thù những người kháng chiến cũ - một chính sách được nâng lên thành quốc sách.

Chính sách tàn bạo đó làm dấy lên phong trào đấu tranh ngày càng mạnh của đồng bào miền Nam. Ngày 20 tháng 12 năm 1960, những người yêu nước ở miền Nam thuộc những xu hướng chính trị, những tôn giáo khác nhau đã thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với cương lĩnh hoà bình, độc lập dân chủ, trung lập. Nhiều vùng nông thôn rộng được giải phóng. Các tầng lớp nhân dân ở thành thị ngày càng bất bình. Thế của Chính quyền Ngô Đình Diệm ngày càng lung lay.

Khi Eisenhower rời Nhà trắng năm 1960, ông đã để lại cho Tổng thống Kennedy một gánh nặng, một bài toán nan giải ở miền Nam Việt Nam. Nói đúng ra, Eisenhower đã để lại hai gánh nặng: vấn đề miền Nam Việt Nam và vấn đề Lào.

Đối với Kennedy cũng như đối với người tiền nhiệm của ông, vấn dề Lào là vấn đề an ninh của Thái Lan theo thuyết đôminô. Từ khi lực lượng cánh hữu làm đảo chính lật đổ thủ tướng trung lập Souvanna Phouma, tình hình Vương quốc Lào càng rõ. Quân trung lập của tướng Song Le phối hợp với quân Pathét Lào đánh bại quân của tướng Phu Mi Nô Sa Văn, uy hiếp Luông Prabang, Viên Chăn.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:19:33 PM
Lầu Năm Góc muốn Mỹ can thiệp mạnh hơn nữa vào Lào, nhưng Tổng thống Kennedy tán thành tham dự một Hội nghị quốc tế nhằm bảo đảm nền trung lập của Lào. Hội nghị Genève về Lào khai mạc ngày 16 tháng 5 năm 1961 phải kéo dài vì ba hoàng thân Lào không thoả thuận được với nhau về việc lập Chính phủ liên hiệp ba phái.Việc Pa thét Lào đánh chiếm Nậm Thà được coi như một Điện Biên Phủ của nước Lào buộc Mỹ phải gây sức ép với phái hữu để giải quyết cho xong việc lập Chính phủ liên hiệp, mặc dầu Mỹ đưa năm nghìn quân chiến đấu Mỹ vào Thái Lan và đưa hạm đội 7 vào Vịnh Thái Lan. Cuộc khủng hoảng ở Lào chỉ là tạm thời giải quyết vì sau khi ngoại trưởng trung lập Quinim Pholsena bị lực lượng thân Mỹ ám sát, nước Lào lại rơi vào một cuộc xung đột mới.

Trong khi đó, Kennedy đứng trước một miền Nam Việt Nam đang rung chuyển cả về quân sự và chính trị, ông đề ra chủ trương đưa một lực lượng đặc biệt "chống nổi dậy" và một trăm cố vấn quân sự sang miền Nam Việt Nam để ngăn chặn cộng sản thống trị miền Nam Việt Nam. Mặc dầu được CIA báo cáo rằng từ tám mươi đến chín mươi phần trăm số Việt cộng ở miền Nam được tuyển lựa ở địa phương và hầu hết vũ khí của họ là do họ tự kiếm lấy, Kennedy cuối cùng lựa chọn kiểu "chiến tranh đặc biệt" với công thức vũ khí và chỉ huy Mỹ cộng với quân đội Sài Gòn. Kế hoạch Stanley-Taylor mà ông phê chuẩn bao gồm ba giai đoạn:

1. Bình định miền Nam Việt Nam trong mười tám tháng, xây dựng các cơ sở ở miền Bắc Việt Nam.

2. Tăng cường quân sự, khôi phục kinh tế ở miền Nam Việt Nam và tăng cường các hành động phá hoại ở miền Bắc Việt Nam.

3. Phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam và tấn công miền Bắc Việt Nam.

Về quân sự, Washington lập một Bộ chỉ huy tác chiến ở Sài Gòn giao cho tướng Paul D.Harkin phụ trách. Từ chín trăm bốn mươi tám người tháng 11 năm 1961, số cố vấn quân sự tăng lên hai nghìn sáu trăm người tháng 1 năm 1962 và mười một nghìn ba trăm người tháng 12 năm 1962. Trong năm tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm 1961, viện trợ tăng lên hai trăm tám mươi bảy triệu đô-la so với hai trăm lẻ chín triệu đô-la năm trước. Năm 1963 viện trợ ba trăm bảy mươi sáu triệu đô-la.

Về chính trị, các cố vấn Mỹ giúp Ngô Đình Diệm xây dựng hệ thống ấp chiến lược mà mục đích quân sự là cắt nguồn tiếp tế và nguồn tuyển quân của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và mục đích chính trị là kiểm soát chặt chẽ người dân. Chính quyền Ngô Đình Diệm dự định đưa hai phần ba số dân nông thôn vào ấp chiến lược và thực tế đã đưa được ba mươi ba phần trăm số đó vào tháng 10 năm 1962. Mỗi “ấp chiến lược" thật ra là một trại tập trung với hệ thống đồn bất và lớp lớp dây thép gai chung quanh. Chính sách ‘ấp chiến lược" gieo rắc căm giận vào lòng người dân chỉ mong muốn làm ăn yên ổn và càng thúc đẩy họ nghe theo tiếng gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đến năm 1963, "chiến tranh đắc biệt" đã bị thất bại. Chính quyền Sài Gòn vẫn không kiểm soát được nông thôn miền Nam.

Trong khi đó, ở Sài Gòn và các thành thị lớn khác nhiều nhóm chính trị đấu tranh đòi dân chủ, hoà bình và trung lập. Những phát súng mà quân đội Diệm nổ vào những Phật tử không vũ trang biểu tình hoà bình ở Huế ngày 8 tháng 5 năm 1963 đã làm cho sự chống đối của cộng đồng Phật tử ở miền Nam bùng nổ với sức mạnh không gì ngăn cản nổi. Yêu sách của họ không có gì quá đáng: nếu những người Thiên chúa giáo được trương cờ tôn giáo trong buổi lễ của họ thì những Phật tử cũng được phép trương cờ Phật giáo như thế.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:20:24 PM
Phong trào phản đối Diệm – Nhu phân biệt tôn giáo, giết hại Phật tử bùng cháy như một vệt thuốc súng từ Huế đến Sài Gòn và các tỉnh khác, nhanh chóng được các tầng lớp nhân dân rộng rãi ủng hộ, trước hết là sinh viên. Thượng toạ Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 10 tháng 6 năm 1963 châm lửa không phải chỉ vào thể xác mình mà vào cả một thùng thuốc súng, làm rung chuyển xã hội miền Nam Việt Nam và kích động phong trào phản chiến ở ngay nước Mỹ.

Nói cho đúng, Kennedy không tán thành việc đàn áp Phật tử của Ngô Đình Diệm nhất là sau này vào tháng 8 các đơn vị quân sự của Diệm đã tấn công vào các chùa lớn ở miền Nam và bắt giam hàng trăm nhà sư, kể cả những người lãnh đạo phong trào phản đối. Ở nhiều nơi, Phật tử đã cầm súng chống lại quân đội. Ngô Đình Diệm không chịu hoà giải với những Phật tử. Đại sứ Cabot Lodge, một nhà ngoại giao sành sỏi, đã từng là ứng cử viên Phó Tổng thống của Đảng Cộng hoà năm 1960, được cử sang thay đại sứ Nolting với những quyền hạn rộng rãi để đối phó với cuộc khủng hoảng. Ông ta cũng không thuyết phục được Diệm thay đổi chính sách và cuối cùng đã ủng hộ cuộc đảo chính của Dương Văn Minh, đưa đến cái chết của anh em Diệm - Nhu ngày 2 tháng 11 năm 1963.

Ngay từ ngày 12 tháng 12 năm 1961, Tổng thống Kennedy tuyên bố với các nhà báo: "Chúng ta không thấy đoạn cuối của đường hầm nhưng tôi phải nói rằng tôi không nghĩ là nó đen tối hơn so với năm trước, mà có phần sáng sủa hơn" (Pi-tơ A.Pu-lơ. Sđd, tr. 116.)

Nhưng việc ủng hộ nhóm đảo chính Dương Văn Minh và việc lật đổ tập đoàn Diệm - Nhu (mà lúc đầu Kennedy đã hết sức giúp đỡ) đã không mang lại sự thay đổi nào trong tình hình miền NamViệt Nam như ông mong muốn. Ngược lại, nó chỉ làm cho tình hình trầm trọng thêm, bế tắc hơn. Chưa tìm được giải pháp cho cuộc khủng hoảng toàn diện ở miền Nam Việt Nam sau cái chết của Diệm - Nhu, Kennedy chỉ biết tiếp tục các cố gắng quân sự cho đến khi, hai mươi ngày sau cái chết đó, ông bị ám sát tại Dalas.

Thất bại trong chính sách ủng hộ Ngô Đình Diệm và chiến tranh đặc biệt, Kennedy đã để lại cho Phó Tổng thống L.B.Johnson, người thay thế ông nắm quyền tối cao của nước Mỹ một miền Nam đen tối hơn cuối năm 1961, với những thất bại mới trên chiến trường, những rắc rồi mới trong tình hình chính trị ở Sài Gòn. Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Lầu Năm Góc tranh cãi ráo riết về một sự lựa chọn, về kế hoạch sắp tới ở miền Nam Việt Nam, hoặc đúng hơn là ở Việt Nam và Lào. Nhưng tất cả đều bối rối, dù họ là “diều hâu" hay "bồ câu”

Nhận xét tình hình đó, hãng UPI ngày 7 tháng 3 năm 1964 viết: “Vấn đề không còn phải là xem xét có phải là ta đang thua cuộc chiến tranh hay không, mà là xem xét Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đang thua cuộc chiến tranh với tốc độ nào và liệu còn có một hy vọng mỏng manh nào đế cứu vãn tình hình không" (Vụ thông tin báo chí Bộ Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Hai mươi năm can thiệp và xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, tiếng Pháp, Hà Nội, 1965.).

Đương nhiên, Tổng thống mới của nước Mỹ, với những trách nhiệm cao cả của mình, không thể dễ dàng đồng tình ngay với nhận xét đó. Ông còn phải đánh giá lại tình hình miền Nam Việt Nam và tình hình Đông Dương nói chung, xét duyệt tất cả các phương án của các cố vấn quân sự và dân sự, cân nhắc tác động đối nội và đối ngoại của mỗi sự lựa chọn có thể có, thăm đó Quốc hội và tranh thủ sự đồng tình của Quốc hội, thăm dò đồng minh Trung Quốc và các đối thủ trực tiếp của mình là Bắc Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:22:10 PM
CHƯƠNG 2
HAI CHUYẾN CÔNG CÁN CỦA ĐẠI SỨ J.B.SEABORN TẠI HÀ NỘI

Ngày 18 tháng 6 năm 1964. Thế là đại sứ J.B. Seaborn tới Hà Nội sau biết bao nôn nóng và sau chặng dừng chân ngắn tại Phnôm Pênh và Viêng Chăn.

Chiếc ô tô màu trắng của Uỷ ban Quốc tế giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève về Việt Nam đưa ông rời sân bay Gia Lâm. Phong cảnh ở đây khác với phong cảnh ở Canađa, thậm chí khác với phong cảnh Sài Gòn mà ông cũng mới biết lần đầu trong đời. Những thửa ruộng mới gặt kế tiếp nhau chạy vùn vụt, lửa rực cháy trên ngọn các cây phượng bên đường, một phố ngoại ô bé nhỏ và xơ xác. Tuy mới đến Hà Nội lần thứ nhất, ông nhìn phong cảnh mà không để ý lắm, vì ông đang nghĩ đến nhiệm vụ mà ông phải hoàn thành.

Tưởng cũng cần nhắc rằng sau nhiều giờ thảo luận sôi nổi, thậm chí cả những cuộc thảo luận hàn lâm về hai từ giám sát và kiểm soát, các thành viên của Hội nghị Genève về Đông Dương đã thoả thuận thành lập một Ủy ban Quốc tế có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát việc thi hành Hiệp nghị Genève tại mỗi nước Đông Dương. Theo sự dàn xếp được nhất trí chấp nhận, Ủy ban gồm một đại diện cho các nước xã hội chủ nghĩa là Ba Lan, một đại diện cho các nước phương Tây là Canađa và một chủ tịch là Ấn Độ, một nước lớn theo con đường hoà bình, trung lập, đại diện cho các nước đang phát triển.

Ông Seaborn đến Việt Nam lần này với tư cách đại diện cho Canađa trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Từ khi Hiệp nghị Genève về Việt Nam có hiệu lực và từ tháng 8 năm 1954, Uỷ ban Quốc tế bắt đầu công việc của mình, Canađa xứng đáng là đại diện cho phương Tây. Đại diện của họ ủng hộ lập trường của Chính quyền Ngô Đình Diệm. Ở miền Nam Việt Nam, họ làm ngơ trước việc nhà cầm quyền vi phạm các quyền tự do dân chủ, đàn áp những người trước đây đã tham gia kháng chiến chống Pháp và trước việc đưa trái phép vào miền Nam Việt Nam những cố vấn quân sự và vũ khí, vật tư chiến tranh của Mỹ.

Ở miền Bắc Việt Nam, họ ủng hộ việc cưỡng bức những người công giáo đi di cư vào miền Nam, cố lùng sục xem có vũ khí, đạn dược của các nước xã hội chủ nghĩa được đưa trái phép hay không. Trong các cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế họ đóng vai "người biện hộ" cho Sa tăng luôn luôn chống lại mọi quan điểm và lý lẽ của đồng sự Ba Lan, do đó gây nhiều khó khăn cho ông chủ tịch Ấn Độ.

Vốn là một tham tán của sứ quán Canađa tại Mát-xvơ-va, lần này Seaborn được giao trọng trách là trưởng đoàn Đại biểu Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Ông có thể hài lòng với sự bổ nhiệm đó ở một địa bàn chiến lược nhằm ngăn chặn nguy cơ cộng sản từ vĩ tuyến 17. Nhưng suốt từ khi rời Sài Gòn cho đến lúc này, chân đã đặt trên mảnh đất Hà Nội, thủ đô Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà ông chỉ mới biết tên sau Điện Biên Phủ, ông bận tâm đến một nhiệm vụ khác mà ông có những lý lẽ riêng và lý lẽ chung để cho là quan trọng hơn nhiều so với nhiệm vụ đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế.

Khi ông mới được chọn vào cương vị này, ngày 1 tháng 5 năm 1964 tại Ottawa, Ngoại trưởng Mỹ D.Rusk và W.Sunivan đã cùng Thủ tướng L.Pearson và Ngoại trưởng P.Martin của Canađa bàn về nhiệm vụ đặc biệt của ông. Người ta yêu cầu ông "Lưu lại Hà Nội nhiều thời gian hơn các tiền nhiệm của ông. Ông cần tìm cách gặp được Cụ Hồ và đồng nghiệp của Cụ, báo cho họ biết một cách đầy đủ quyết tâm của Hoa Kỳ đi đến cùng trong vấn đề này". Ông biết rõ Hoa Kỳ “chắc chắn sẽ chọn con đường mở rộng các hoạt động quân sự”. Trừ phi Hà Nội chấm dứt chiến tranh, nếu không Hoa Kỳ sẽ dùng không quân và hải quân đánh Bắc Việt Nam cho đến khi Hà Nội chấm dứt chiến tranh (Xem: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tập văn kiện về thương lượng của Tài liệu Lầu Năm Góc do Gioóc-giơ. C.Hearing xuất bản, Phòng báo chí Trường Đại học Texas, Austin 1983 trang 16 và 23, sau đây gọi tắt là ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam. W.Sunivan lúc đó là Chủ tịch Liên ban công tác về Việt Nam ở Bộ Ngoại giao Mỹ, sau này là Đại sứ Mỹ ở Lào và phụ tá của Kissinger).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 25 Tháng Tám, 2009, 08:23:13 PM
Ngày 28 tháng 5 năm 1964, tại Niu Oóc, Tổng thống Hoa Kỳ L.B.Johnson đã gặp Thủ tướng Canađa Pearson. Nội dung cuộc trao đổi, báo chí khi đó không nói đến, nhưng chính Tổng thống Johnson sau này đã nhắc lại trong cuốn hồi ký Cuộc đời Tổng thống của tôi. Trong điện văn số 2133 gửi ngay sau đó cho đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Bộ Ngoại giao Mỹ đã viết rõ ràng:

"Tổng thống đã nói với ông Pearson rằng ông muốn Hà Nội biết rằng Tổng thống, trong khi là người của hoà bình, không có ý định cho phép người Bắc Việt Nam tiếp quản Đông Nam Á. Tổng thống cần một người đối thoại tin cẩn và có trách nhiệm để chuyển cho Hà Nội một thông điệp về thái độ của Mỹ. Trong khi vạch ra những nét đại cương về lập trường của Hoa Kỳ, đã có thảo luận về củ cà rốt và cái gậy... Sau khi biểu thị lòng mong muốn đóng góp thiện chí vào cố gắng đó, ông Pearson đã bày tỏ nỗi lo ngại. về tính chất của cái gậy... Ông nói rằng ông hết sức dè dặt về việc sử dụng vũ khí nguyên tử, nhưng cho rằng việc tiến công trừng phạt bằng bom vào các mục tiêu có phân loại một cách rõ ràng sẽ là một việc khác... Ông nói rằng cá nhân ông muốn biết về phương sách của chúng ta để đi tới các biện pháp đó nếu thông điệp chuyển qua đường Canađa thất bại, không tạo được việc làm giảm sự xâm lược của Bắc Việt Nam, và Canađa muốn chuyển thông điệp trong bối cảnh đó" (M.M.McLear: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, Nhà xuất bản Thêm Me-tu-en Luân Đôn, 1982, tr.131).

Cũng trong thời gian có cuộc họp cấp cao Mỹ - Canađa tại Ottawa, W.Sunivan và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Paul Martin làm việc với ông Seaborn. Ông được trao cho một đề cương những điều cần nói với Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng và được biết thêm rằng “Người Mỹ không chỉ muốn Canađa chuyển một thông điệp mà còn muốn có một sự đánh giá về mặt tình báo khả năng chiến tranh của Bắc Việt Nam" (M.M.McLear: Sđd, tr.132.).

Ông Seaborn vui lòng nhận các điều kiện làm việc và khẩn trương thu xếp công việc để đi Việt Nam. Ông cần nhận thức rõ sứ mệnh của mình khi chính Tổng thống Johnson đã nói chuyện với ông trước khi ông lên đường để tỏ lòng tin cậy ông và nhấn mạnh hai nhiệm vụ chuyển thông điệp và nắm tình hình Bắc Việt Nam

Đến Sài Gòn, ông nắm thêm tình hình qua tiếp xúc với các đồng sự Ấn Độ, Ba Lan, với đại sứ Hoa Kỳ và ông phấn khởi được Hà Nội trả lời là Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận tiếp ông. Ông đã được hai ngoại trưởng Dan Rusk và Martin dặn đó. Ông lại được Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trang bị cho một bản mười ba điểm chi tiết hoá các nhiệm vụ mà ông được giao, trong đó đặc biệt có điều bốn:

"Ông Seaborn thông qua các lý lẽ, biện luận và quan sát thái độ của người Bắc Việt Nam để hình thành một sự đánh giá trạng thái tinh thần của Bắc Việt Nam. Ông cần rất nhạy bén về:

a. Sự khác biệt liên quan đến sự chia rẽ về chiến tranh.

b. Thất vọng hoặc mỏi mệt về chiến tranh.

c. Dấu hiệu về việc Bắc Việt Nam muốn nói chuyện với phương Tây.

d. Dấu hiệu về phe phái trong Đảng và Chính phủ.

đ. Dấu hiệu về mẫu thuẫn giữa phái quân sự và phái chính trị.

Người ta còn yêu cầu ông khai thác bản chất và ưu thế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Bắc Việt Nam và đánh giá thực chất và ảnh hưởng của người Xô Viết. Điều mười hai còn nói: ông có thể xem lại môi tương quan về sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam và tài nguyên mà Trung cộng có thể sử dụng ở Đông Nam Á. (Xem G.C. Hearing: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 22.).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:40:47 PM
Seaborn cần vạch rõ qua kiểm tra xem có phải cụ Hồ Chí Minh tự đánh giá mình quá cao mà lao vào cuộc chiến hay Cụ cảm thấy rằng đồng minh Trung Quốc sẽ ủng hộ mình đến cùng. Chúng ta cần biết có phải quyết tâm hăng say hiện nay của Cụ là do áp lực của những phần tử thân Trung Quốc trong hàng ngũ Việt Nam hay do chính những tham vọng của Cụ thúc ép. Nhà báo M.Mclear gọi nhiệm vụ của ông Seaborn là một nhiệm vụ chủ yếu mang tính chất gián điệp" (M.M.Mclear: Sđd, tr. 137-138.).

Washington ngoài cái gậy còn trao cho ông một củ "cà rốt":

Nếu Hà Nội chấm dứt chiến tranh Hoà Kỳ sẽ:

Một: Hành động để nối lại buôn bán giữa Bắc và Nam Việt Nam “giúp vào việc thiếu lương thực của Bắc Việt Nam hiện nay”.

Hai: Viện trợ thực phẩm cho Bắc Việt hoặc bán cho Bắc Việt lấy tiền địa phương.

Ba: Bỏ sự kiểm soát của Hoa Kỳ đối với tích sản của Bắc Việt Nam và giảm kiểm soát của Hoa Kỳ trong buôn bán Hoa Kỳ - Bắc Việt Nam.

Bốn: Thừa nhận Bắc Việt Nam về ngoại giao và trao đổi đại diện ngoại giao.

Năm: Rút quân đội Hoa Kỳ xuống còn ba trăm năm mươi cố vấn, số lượng khi ký Hiệp nghị Genève và được Hiệp nghị này cho phép.

Sáu: Sẽ cho phép Hà Nội rút bất kỳ nhân viên Việt Cộng nào muốn rời khỏi Nam Việt Nam... Chính phủ Nam Việt Nam sẽ ân xá cho các phiến quân thôi không chống lại quyền lực của Chính phủ
(Xem G.C.Heanng: Ngoại giao bí mật trong chiến tranh Việt Nam, tr. 23.).

Ông vững lòng lên đường ra Hà Nội và lúc này đây, khi đang leo những bậc thềm đá cao của Phủ chủ tịch, ông càng vững lòng, tuy không khỏi một chút phân vân về kết quả chuyến công cán.

Thượng tá Mai Lâm, Phó trưởng phái đoàn liên lạc Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam bên cạnh Uỷ ban Quốc tế, đón ông ở bậc cuối cùng với nụ cười hữu nghị. Hai người rẽ về bên phải tới phòng khách phía Tây, nơi Thủ tướng thường tiếp các đại sứ.

Ông Seaborn hơi bối rối trước sự giản dị của phòng khách và nhất là trước sự khiêm tốn niềm nở của một nhà chính trị lớn, một nhà ngoại giao có tiếng luôn luôn biểu lộ một sắc thái phương Đông.

Sau những lời chúc mừng và thăm hỏi lễ tân, ông Seaborn bày tỏ niềm vui mừng được thay mặt nước ông làm việc trong Uỷ ban Quốc tế vì hoà bình ở Đông Dương và khu vực. Ông nói những đóng góp của Canađa trong Uỷ ban Quốc tế và nếu những điều ông mới được biết về những khó khăn mà Uỷ ban Quốc tế nói chung, đoàn Canađa nói riêng, đang gặp phải trong lúc này và nói tiếp:

Canađa luôn luôn quan tâm theo dõi sự phát triển ở vùng này và thấy rằng tình hình ngày càng nghiêm trọng. Canađa quan tâm đến hoà bình và mong muốn đóng góp cố gắng của mình theo hướng đó".

Thưa Ngài Thủ tướng, Ngài biết quan hệ giữa Canađa và Hoa Kỳ là hữu nghị và rất chặt chẽ. Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi hiểu một cách sâu sắc những suy nghĩ của Hoa Kỳ, rằng Tổng thống Johnson là con người của hoà bình. Ông ta muốn tránh một sự đụng độ giữa các cường quốc lớn nhưng cũng quyết tâm không để Đông Nam Á rơi vào sự kiểm soát của cộng sản thông qua các hoạt động lật đổ và chiến tranh du kích".

Đến đây ông dừng lại - một cái dừng lại đầy kịch tính - và xin phép chuyển một thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ cho Chính phủ Việt Nam. Ông lại dừng lại nhìn Thủ tướng - một cái dừng của người tình báo để đó xét.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:42:16 PM
Về phía Thủ tướng; không một dấu hiệu nào phản đối hay khước từ. Ông Seaborn đọc một bản đánh máy:

Một: Hoa Kỳ biết rõ là Hà Nội nắm quyền kiểm soát đối với Việt cộng ở miền Nam Việt Nam và đó là nguyên nhân gây ra tình hình nguy hiểm hiện nay trong khu vực này;

Hai: Hoa Kỳ có lợi ích phải chống đối lại một thắng lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam;

Ba: Hoa Kỳ quyết tâm kiềm chế Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong phạm vi lãnh thổ do Hiệp nghị Genève quy định; .

Bốn: Hoa Kỳ bảo đảm với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Hoa Kỳ không tìm cách lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc đặt căn cứ quân sự ở Nam Việt Nam;

Năm: Tham vọng của Hoa Kỳ là có giới hạn nhưng sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ đã trở nên hết sức mỏng manh;

Sáu: Nhiều nước cộng sản đã được lợi về kinh tế do có quan hệ chung sống hoà bình với Hoa Kỳ như Nam Tư...
".

Ông Seaborn nhấn mạnh rằng ông lo sợ một sự leo thang chiến tranh và nghĩ rằng điều đó chẳng có lợi cho ai "nếu Bắc Việt Nam bị tàn phá nặng nề".

Cuối cùng, ông hỏi Hà Nội có thông điệp gì muốn chuyển cho Tổng thống Johnson.

Từ đầu, Thủ tướng chăm chú nghe ông Seaborn trình bày, không một lần ngắt lời ông, cũng không lúc nào tỏ ra đồng tình hay chấp nhận những lời ông nói.

Khi nghe ông đại sứ hỏi có thông điệp gì chuyển cho Tổng thống Hoà Kỳ không, Thủ tướng liền trả lời:

- Không! Không! Lúc này không!

Và nói tiếp :

- Chúng tôi vui mừng được thấy Canađa trong Uỷ ban Quốc tế. Chính phủ chúng tôi và bản thân tôi có quan hệ tốt, hợp tác với Uỷ ban Quốc tế cũng như với Canađa trong mười năm qua vì chúng tôi thi hành Hiệp nghị Genève đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Nhưng người Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam, cản trở sự thống nhất đất nước Việt Nam. Họ đã thất bại trong chính sách phiêu lưu của họ nhưng hiện nay họ đang đẩy sự can thiệp đầy tội ác, vô cùng nguy hiểm lên một bước mới, gây nên tình hình rất nghiêm trọng ở Đông Nam Á.

Chúng ta phải học tập để cùng tồn tại trong hoà bình, tìm ra một giải pháp cho vấn đề đã làm tổn hại chúng ta, nhưng đó phải là một giải pháp đúng đắn! Phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp nghị Genève! Người Mỹ phải rút đi! Phải để công việc của miền Nam Việt Nam cho người Việt Nam giải quyết! Việc này cần có sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, không có nhóm nào đại diện cho quyền lợi của quảng đại quần chúng miền Nam Việt Nam như Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Cần có một giải pháp đúng đắn cho vấn đề thống nhất nước Việt Nam. Chúng tôi muốn thống nhất đất nước một cách hoà bình, không có áp lực bên ngoài. Chúng tôi muốn có thương lượng quanh bàn Hội nghị một cách thành thật, thoả mãn yêu cầu của nhau với sự thu xếp thuận lợi cho cả hai bên. Chúng tôi không vội vã. Chúng tôi muốn nói chuyện nhưng chúng tôi sẽ chờ đợi cho đến khi miền Nam Việt Nam sẵn sàng. Tôi thấy đó là điều khó chấp nhận đối với Hoa Kỳ. Tôi thấy rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ cho Chính phủ miền Nam Việt Nam. Họ có thể đưa thêm nhiều nhân viên quân sự nữa vào. Tôi rất đau lòng khi thấy chiến tranh sẽ tiếp diễn, mở rộng và tăng cường. Nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu và nhất định sẽ thắng
!”


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:43:28 PM
Thủ tướng từ từ uống một ngụm nước chè rồi nói tiếp:

- Các ông phương Tây, các ông không thể hiểu, hoàn toàn không thể hiểu, sức mạnh của một dân tộc khi họ đã quyết tâm đứng lên kháng chiến vì độc lập và tự do của Tổ Quốc. Cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam chúng tôi vượt xa mọi sự tưởng tượng. Họ làm cho cả chúng tôi phải ngạc nhiên.

Ông hãy nhìn lại tình hình miền Nam Việt Nam từ sau khi ám sát Diệm. Phong trào đấu tranh của nhân dân đã phát triển mạnh như một dòng thác lũ. Triển vọng cho Hoa Kỳ là không có lối ra. Tăng cường quân sự cho Nguyễn Khánh sẽ chẳng giúp được gì. Nhân dân miền Nam Việt Nam đã quá rõ bộ mặt của chúng, cần có một Chính phủ liên hợp dân tộc. Chính phủ liên hợp dân tộc ở Lào là một ví dụ. Chúng tôi không có quân ở Lào nhưng Hoa Kỳ đã can thiệp vào. Hàng ngày máy bay Mỹ từ hướng Lào sang xâm phạm vùng trời chúng tôi. Những đơn vị biệt kích đã thâm nhập lãnh thổ chúng tôi đế tiến hành phá hoại
.

Thủ tướng nhấn mạnh:

- Nếu Hoa Kỳ tăng cường chiến tranh ở miền Nam Việt Nam thì sẽ là một cuộc chiến đấu quyết liệt đến cùng, Hoa Kỳ không bao giờ giành được thắng lợi bất cứ trong tình huống nào.

Thủ tướng nhắc lời của nhà báo Mỹ Walter Lipmann: Mỹ chưa thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Đại sứ Seaborn hứa sẽ chuyển về Washington những điều nói trên.

Thủ tướng:

- Ông có thể không tin những điều tôi nói, nhưng tôi bảo đảm với ông những gì tôi nói đều xuất phát từ lòng chân thành và thẳng thắn.

Ông Seaborn:

- Như Ngài vừa nói, có phải một điều kiện để lập lại hoà bình là trước hết miền Nam Việt Nam phải trung lập không?

- Không - Thủ tướng ngắt lời đại sử - Tôi không nói đến vấn đề trung lập như là bước đầu tiên. Miền Nam Việt Nam trung lập bao nhiêu lâu là do nhân dân miền Nam quyết định. Tôi không dự đoán!

Ông Seaborn:

- Mặt trận Dân tộc Giải phóng đại diện cho một lực lượng ở miền Nam Việt Nam nhưng không phải là tất cả và cũng không phải là đa số. Tôi hoan nghênh Mặt trận sẽ được tham gia vào một liên hiệp sẽ xuất hiện, nhưng tôi sợ rằng việc liên hiệp sẽ sớm mở đường cho Mặt trận tiếp quản Nam Việt Nam, điều đó đã xảy ra ở một vài nơi.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:44:45 PM
Thủ tướng không trả lời câu này và có ý định chuyển câu chuyện sang hướng khác. Thủ tướng nói: .

- Tôi vui mừng qua thông điệp của Hoa Kỳ thấy Hoa Kỳ không có ý định đánh chúng tôi.

Ông đại sứ nói ngay:

- Hoa Kỳ không muốn đưa chiến tranh ra Bắc Việt nhưng sẽ bị buộc phải làm việc đó nếu bị đẩy quá xa. Sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ không phải là không có giới hạn.

Chậm rãi, Thủ tướng nói:

- Nếu chiến tranh bị đẩy ra miền Bắc Việt Nam, miền Bắc sẽ chiến đấu. Chúng tôi có các bạn bè của chúng tôi. Ông biết đấy, chúng tôi là một nước xã hội chủ nghĩa, là một thành viên trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Nhân dân chúng tôi sẽ đứng lên tự vệ. Chúng tôi không có hành động gì đẩy Hoa Kỳ đi vào con đường đó, chúng tôi không khiêu khích Hoa Kỳ.

Đại sứ Seaborn xin cáo từ. Thủ tướng nói thêm:

- Tôi chờ đợi có cuộc nói chuyện thêm nữa với ông đại sứ. Lần sau ông sẽ gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lần này Người đi nghỉ. Người có gửi lời chào ông.

Chuyến công cán của ông Seaborn tại Hà Nội theo yêu cầu của Washington đã hoàn thành, ông Seaborn trở về ngay Sài Gòn. Tại đây ông đã làm báo cáo gửi đồng thời cho Ottawa và Washington. .

Cuộc nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng được tường thuật rất đầy đủ.

Khi nói về Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Seaborn viết: "Ông Phạm Văn Đồng trong suốt câu chuyện đã cố gắng gây cảm giác thành thật, nhận thức tính nghiêm trọng của những điều chúng ta đã thảo luận, và không có gì tỏ ra hung hăng và hiếu chiến” .

Khi nói về ý kiến của những người ông đã gặp ở Hà Nội, ông viết: Không một người Việt Nam nào tôi đã gặp nói đến Liên Xô và Trung Quốc. Ông Đồng chỉ nói một cách gián tiếp rằng nước ông là thành viên của nhóm nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ khả năng Hoa Kỳ đưa chiến tranh ra miền Bắc".

Người Pháp cho tôi biết rằng Bắc Việt Nam lo ngại về một sự chia rẽ hoàn toàn giữa Liên Xô và Trung Quốc làm cho họ rơi vào sự kiểm soát của Trung Quốc, điều mà họ hết sức chống lại càng lâu được chừng nào càng tốt”

Về sự chia rẽ trong nội bộ Bắc Việt Nam, Seaborn nhấn mạnh tính ôn hoà trong lời nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông nói: Cụ Hồ Chí Minh có uy tín vô cùng to lớn và được sùng bái như một vị á thánh, đứng trên mọi phe phái. Các đại diện không cộng sản ở Hà Nội chống lại ý kiến cho rằng có thể có phe có nhóm ở Hà Nội. Họ thấy lòng tự hào dân tộc rất cao trong những lời tuyên bố dứt khoát của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và trong lời kêu gọi tự lực tự cường của Hà Nội.

Về tình trạng có dấu hiệu mỏi mệt vì chiến tranh hay không, Seaborn cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy dấu hiệu đó, và rõ ràng mọi người Việt Nam đều nhấn mạnh quyết tâm chiến đấu chừng nào còn cần thiết. Cũng không thấy người dân ở Bắc Việt buồn hay lo lắng như người Nam Việt Nam. Các sĩ quan Canađa trong tổ (của Uỷ ban Quốc tế ở địa phương) cũng không thấy một bằng chứng nào về sự bất bình trong nhân dân (M.M.Mclear: Sđd, tr 147-148.).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:45:23 PM
Chuyển được thông điệp của Nhà Trắng cho lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, biết được câu trả lời trước mắt của Hà Nội đối với thông điệp của Washington, nắm được tinh thần người dân Bắc Việt Nam trước nguy cơ chiến tranh lớn có thể xảy ra, có những tin tức đầu tiên về quan hệ của Bắc Việt Nam với Liên Xô, Trung Quốc, đó là những kết quả của chuyến công cán đầu tiên của đại sứ Seaborn tại Hà Nội. Chuyến đi này được Bộ Ngoại giao Mỹ đánh giá cao, vì đây là người đầu tiên của Mỹ sau gần hai mươi năm được trực tiếp nói chuyện với những nhà lãnh đạo Hà Nội để tìm hiểu tình hình chiến lược theo yêu cầu của Mỹ.

Trong bản báo cáo gửi Ottawa và Washington sau chuyến công cán đầu tiên tại Hà Nội, ông J.B.Seaborn đã ngỏ ý muốn được tiếp tục nhiệm vụ liên lạc với Hà Nội và sẽ "hoan nghênh bình luận của Bộ Ngoại giao Canađa và của Washington về bất kỳ gợi ý nào cho cuộc nói chuyện lần sau”

Nhưng trong chuyến máy bay riêng của Uỷ ban Quốc tế ra Hà Nội ngày 10 tháng 8 năm 1964, ông suy nghĩ và thấy sự việc chuyển biến quá nhanh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, tàu khu trục US Maddox của Hải quân Hoa Kỳ bắn phá hai đảo Hòn Mê, Hòn Ngư của Bắc Việt Nam.

Ngày 4 tháng 8, hai tàu khu trục US Maddox và C.TurnerJoy thuộc phân đội đặc nhiệm 72.1 bị tàu phóng ngư lôi của hải quân Bắc Việt Nam chặn đánh trong lãnh hải Việt Nam.

Ngày 5 tháng 8, máy bay Mỹ ném bom trả đũa vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt Nam.

Ngày 7 tháng 8, Quốc hội Mỹ, với tuyệt đại đa số phiếu (chỉ có hai phiếu chống), thông qua một nghị quyết về "Sự kiện Vịnh Bắc Bộ" cho phép Tổng thống "thi hành mọi biện pháp cần thiết bao gồm cả việc sử dụng lực lượng vũ trang" để giúp đỡ thành viên nào hoặc các nước bảo vệ của tổ chức hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ bảo vệ tự do.

Theo yêu cầu gấp rút của Mỹ, Seaborn lại ra Hà Nội gặp các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam.

Hà Nội nhộn nhịp chuẩn bị đi vào chiến đấu: đường phố bắt đầu có những ụ súng phòng không, những hố cá nhân, những hầm trú ẩn công cộng, nhà ga, bến xe chật ních phụ nữ, trẻ em đi sơ tán. Một không khí nghiêm trang nhưng không hốt hoảng. Tác động trực tiếp của tình hình mới đối với ông là lần này ông không được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp ngay như lần trước, mà phải đợi đến ngày 13 tháng 8.

Khi ông tới Phủ chủ tịch, Thủ tướng đang đợi ông. Ông xin lỗi về sự chậm trễ do có báo động và đi ngay vào câu chuyện. Ông xin phép được chuyển tới Thủ tướng một thông điệp của Hoa Kỳ theo chỉ thị của Chính phủ Canađa. Thủ tướng im lặng, vẫn bình tĩnh, lịch sự.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 26 Tháng Tám, 2009, 12:46:32 PM
Ông đại sứ đọc một bản viết:

"Một: Bắc Việt Nam nói tàu chiến Mỹ bắn phá đảo Hòn Ngư và đáo Hòn Mê là không đúng. Sự thật tàu US Maddox không hề tấn công hai đảo đó, vì lúc sự việc xảy ra cũng như ngày hôm sau, nó ở cách xa đấy một trăm hải lý về phía Nam, gần vĩ tuyến 17. Cuộc tấn công của Bắc Việt ngày 2 tháng 8 Chính phủ Hoa Kỳ có thể chấp nhận được là do tính toán sai.

Hai: Nhưng lý do của cuộc tấn công của Bắc Việt đêm 4 tháng 8 vào hai tàu khu trục Mỹ thì không thể hiểu được. Chỉ có thể coi đó là một cuộc tấn công có tính toán trước. Cuộc công kích xảy ra một cách vô cớ cách bờ biển sáu mươi hải lý. Chỉ có thể coi đó là một mưu toan nhằm chứng minh rằng Mỹ là con hổ giấy hoặc khiêu khích Mỹ.

Ba: Hoa Kỳ đã trả lời bằng cuộc bắn phá tàu ngư lôi cùng căn cứ và thiết bị của nó. Đó là cuộc đánh trả hạn chế và thích đáng Chính sách của Hoa Kỳ là yêu cầu Bắc Việt phải hạn chế tham vọng của mình ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ quyết tâm giúp Nam Việt Nam chống xâm lược và lật đổ. Hoa Kỳ không có ý định thiết lập các căn cứ quân sự ở miền Nam hoặc lật đổ Chính phủ Hà Nội.

Bốn: Hoa Kỳ biết rõ Hà Nội đang lãnh đạo du kích ở miền Nam và phải chịu trách nhiệm về việc đó. Hà Nội cũng kiểm soát cả Pa thét Lào và can thiệp vào Lào.

Năm: Hoa Kỳ duy trì quan hệ bình thường và có nhiều kết quả với một số nước xã hội chủ nghĩa. Các nước đó được lợi về mặt kinh tế do có quan hệ hữu nghị với Hoa Kỳ.

Sáu: Sau những sự kiện xảy ra, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua quyết định hầu như nhất trí tán thành các biện pháp của Chính phủ Hoa Kỳ. Điều đó chứng tỏ Chính phủ và nhân dân Mỹ kiên quyết chống lại các cố gắng của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhằm lật đổ Chính phủ Nam Việt Nam và Chính phủ Lào. Hoa Kỳ cho rằng vai trò của Bắc Việt Nam ở Nam Việt Nam và Lào đã làm cho tình hình trở nên nguy kịch


Theo cách ông đọc thì hình như thông điệp đó đến đây là hết. Nhưng sau này, khi các tài liệu của Lầu Năm Góc được công bố, người ta mới biết là ông ta, không hiểu vì sao, đã không đọc một đoạn nữa như sau: “Nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp tục đường lối hiện nay thì họ có thể tiếp tục phải chịu những hậu quả.Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần biết mình phải làm gì nếu muốn hoà bình được lập lại" (Tài liệu Lầu Năm Góc, thời báo New York xuất bản, 1971, tr. 289.).

Ông Seaborn chờ đợi, mắt chợt thấy các cửa kính của phòng khách đều có dán những mảnh giấy cắt để đề phòng bom nổ gần. Thủ tướng không để ông chờ lâu:

Tôi rất tiếc đã tiếp ông vì những lời ông nói không đáng nghe. Tôi tiếp ông là tiếp một đại sứ trong Uỷ ban Quốc tế chứ không phải để nghe và trả lời những luận điệu giả dối và bịa đặt. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có quan hệ hết sức tốt với Uỷ ban Quốc tế. Tình hình đang nguy kịch, đáng lẽ phải cộng tác với nhau để làm được một cái gì, Uỷ ban Quốc tế và mỗi thành viên của nó cần giúp sức vào việc thi hành Hiệp nghị Genève, duy trì hoà bình. Hoà bình đang bị đe doạ. Mỹ có hành động xâm lược đối với miền Bắc là điều nhất định sẽ xảy ra. Các chính khách Mỹ đã nhiều lần tuyên bố mở rộng chiến tranh ra miền Bắc đề gỡ thế bí ở miền Nam. Đó là nguyên nhân của cuộc tấn công ngày 5 tháng 8. Cuộc bầu cử (ở Hoa Kỳ) là lý do thứ hai, Johnson phải tỏ ra cao giọng hơn đối thủ của mình. Và lý do nữa: Hoa Kỳ muốn Quốc tế hoá chiến tranh".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:04:58 PM
Một phút dừng. Thủ tướng nói tiếp:

“Tương lai sẽ ra sao?”.

Rồi nói ngay: “Nguyên nhân dẫn đến cuộc tấn công ngày 5 tháng 8 vẫn còn nguyên, do đó Chính phủ Mỹ sẽ có những hành động xâm lược mới. Tình hình đã rất nguy hiểm”.

“Chủ trương của chúng tôi là làm mọi việc để cố duy trì hoà bình nhưng Hoa Kỳ đã không tán thành Hiệp nghị Genève, can thiệp và xâm lược miền Nam, đến nay sa lầy vào thế bí, không có lối thoát, lại muốn mở rộng chiến tranh ra miền Bắc để gỡ thế bí đó. Đó là một tính toán sai lầm. Chúng tôi muốn duy trì hoà bình ở miền Bắc, bây giờ việc đó trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Mỹ gây chiến tranh, chúng tôi buộc phải tự vệ. Chiến tranh có thể xảy ra. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là yêu nước. Cả thế giới ủng hộ chúng tôi...".

Với giọng nghiêm nghị, Thủ tướng nói tiếp:

“Khác với Triều Tiên là một bán đảo khuất nẻo, nếu chiến tranh lan ra miền Bắc Việt Nam, có thể sẽ lan ra cả vùng Đông Nam Á. Nếu Mỹ gây chiến, Mỹ sẽ thất bại to lớn, không có kết quả nào khác".

“Với ông, một Đại biểu trong Ủy ban Quốc tế, yêu cầu ông tìm cách ngăn ngừa không để xảy ra những sự kiện nghiêm trọng hơn. Tình hình đã quá nghiêm trọng rồi. Uỷ ban Quốc tế có nhiệm vụ ổn định tình hình để đi đến một giải pháp, giải pháp đó là trở lại Hiệp nghị Genève. Tổng thống De Gaune cũng cho rằng giải pháp cho vấn đề Việt Nam là Hiệp nghị Genève. Ủy ban Quốc tế có vai trò quan trọng, cần chuẩn bị cho vai trò đó, không phải bằng cách đi theo lập trường của Hoa Kỳ mà theo lập trường của Hiệp nghị Genève”.

Thấy Thủ tướng dứt lời, đại sứ Seaborn nói ngay:

“Tôi xin lỗi phải làm nhiệm vụ theo chỉ thị của Chính phủ tôi. Vai trò trung gian là vai trò nhiều khi bạc bẽo vì phải nói những điều khó lọt tai người nghe, nhưng đã là người lính thì phải làm đúng chỉ thị. Thưa Thủ tướng không nên bắn vào người đưa thư."

“Trong những sự kiện đã xảy ra cũng có những chi tiết khó tin nhưng điều quan trọng là tìm ra được cách không để tình hình nguy hiểm tái diễn. Có một điều tôi tin là Hoa Kỳ không muốn đầu độc bầu không khí, không để xảy ra chiến tranh thế giới và cũng không phải là điên rồ”.

Về cuộc công cán thứ hai, đại sứ Seaborn nhận xét: "Tôi dè dặt mà nói rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước những tuyên bố công khai (của Mỹ) và các cuộc vận động bằng các công hàm mà tôi đã chuyển, đã không bị thuyết phục..." phải từ bỏ quyết tâm trong việc theo đuổi đường lối của họ.

Sau này, khi cục diện chiến tranh đã thay đổi thuận lợi rõ ràng cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ông còn nói:

“Sau chuyến công cán thứ hai sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ - một sự kiện lạ lùng - Hà Nội tin một cách chính đáng rằng họ không cần phải nhượng bộ. Hà Nội có lý do để tỏ ra không mềm dẻo. Họ hoàn toàn tin chắc rằng nếu họ giữ thái độ cứng rắn càng lâu bao nhiêu thì họ sẽ tạo ra được những khả năng mà họ mong muốn và lịch sử đã chứng minh rằng họ đúng" (M.MMcLear: Sđd tr.162).

Trong một bị vong lục về chuyến .công cán thứ hai của ông Seaborn tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã viết: “Đây là thời cơ thứ hai bị bỏ lỡ. Nội dung thương lượng của chuyến công cán đã bị cản trớ hoàn toàn do thời điểm sắp xếp nó và do việc tập trung vào các sự kiện mới xảy ra trước đó hơn là vào các vấn đề rộng rãi đã được đề cập đến một cách xa xôi trong cuộc gặp gỡ tháng 6" (M. M. McLlear: Sđd, tr.162-16 3.Xem thêm: Gioóc-giơ C. Hearing: Sđd Công cán của Xi-bo-nơ tại Hà Nội. Từ trang 4 đến trang 44) .

Về phần mình, Tổng thống L.B.Johnson cho rằng hai chuyến công cán của đại sứ Seaborn là những gợi ý hoà bình đầu tiên của mình và ông đã yêu cầu ông Seaborn thăm đó "cơ hội hoà bình". Sau chuyến công cán thứ hai, ông viết trong hồi ký "Cuộc đời Tổng thống của tôi ":

“Hà Nội không quan tâm gì đến một giải pháp hoà bình hay một sự thoả hiệp nào. Họ đã đóng sầm cánh cửa đối với đề nghị hoà bình của Hoa Kỳ. Và sau chuyến công cán tháng 8 của ông Seaborn., họ càng đóng cánh cửa một cách gay gắt hơn" (L.B.Johnson: Cuộc đời Tổng thống của tôi, tiếng Pháp, Nhà xuất bản Buchet Chastel, Paris, 1972, tr. 91).

Bộ Ngoại giao Mỹ nói đúng khi cho rằng Washington đã bỏ lỡ một thời cơ thương lượng, nhưng đã nói không đúng khi cho rằng nguyên nhân thất bại của chuyến công cán tháng 8 của đại sứ Seaborn là thời điểm, nghĩa là sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ, vì đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng sự kiện đó là nhằm chuẩn bị dư luận cho việc mở rộng và tăng cường chiến tranh.

Nhận xét của Tổng thống Johnson hoàn toàn không đúng sự thật, vì cái gọi là sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã được xác minh là một sự kiện được dựng lên, một sự dối trá, nhiệm vụ giao cho đại sứ Seaborn tại Hà Nội sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và cuộc ném bom ngày 5 tháng 8 thực chất chỉ là sự hăm doạ tăng cường chiến tranh, không thể gọi là một gợi ý hoà bình. Chính bom Mỹ đã bịt cánh cửa thương lượng với Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:06:56 PM
CHƯƠNG 3
KẾ HOẠCH CHIẾN TRANH CỦA MỘT ỨNG CỬ VIÊN HOÀ BÌNH

Trên đường từ Danas trở về Washington, Tổng thống mới L.B.Johnson, như ông đã viết trong hồi ký, tâm niệm một điều: Tôi nguyện dành mỗi ngày, mỗi giờ của nhiệm kỳ dở của Giôn Kennedy để đạt những mục tiêu mà ông đã đề ra”

Ngày 25 tháng 11 năm 1963, trước Quốc hội và cũng như trước nhân dân Mỹ, ông đã thề: "Chúng ta sẽ giữ những cam kết của chúng ta từ Nam Việt Nam đến Tây Bá Linh". (L.B.Johnson: Sđd, tr. 39) Đây là quyết định quan trọng đầu tiên của ông về Việt Nam.

Ông Johnson lên làm Tổng thống trong những điều kiện bi thảm của nước Mỹ, sau buổi lễ tuyên thệ giản dị nhất, ngắn nhất trước vị thẩm phán của Danas, bà Sara Hugles. Sang năm 1964 là năm bầu cử Tổng thống. Với tầm vóc của nó, Hoa Kỳ có hàng loạt vấn đề ở ngay trong nước và khắp nơi trên thế giới, nhưng đối với ông Johnson, vấn đề cấp bách là trúng cử Tổng thống mà vẫn tiếp tục can thiệp quân sự vào Việt Nam.

Khi đó, tình hình Nam Việt Nam đang trong một giai đoạn cực kỳ nghiêm trọng: về quân sự, chiến tranh đặc biệt đã thất bại; về chính trị, chế độ Sài Gòn sau khi Ngô Đình Diệm bị sát hại đang bị các cuộc đảo chính và tranh giành quyền lực làm rung chuyển đến tận gốc có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Các nhân vật chính trị, quân sự Mỹ ở Sài Gòn đều yêu cầu gây sức ép quân sự ngay với Bắc Việt Nam, nhằm buộc Bắc Việt Nam chấm dứt viện trợ cho Việt cộng ở miền Nam Việt Nam.

Sau cuộc viếng thăm miền Nam Việt Nam từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 12 năm 1963. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara báo cáo: “Xu hướng hiện nay, trừ trường hợp đảo ngược tình hình trong hai ba tháng tới, tốt nhất sẽ dẫn tới một sự trung lập hoá (miền Nam Việt Nam) và chắc chắn hơn là tới sự kiểm soát tình hình mới bởi những người cộng sản " (LB.Joknson: Sđd, tí. 86.).

Từ tháng 6 năm 1965, Uỷ ban Đối ngoại của Thượng nghị viện Mỹ bắt đầu nghe các cuộc điều trần Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ một nghị quyết đã được đa số áp đảo của Thượng, Hạ nghị viện biểu quyết và người đặt vấn đề nghi ngờ tính chân thật của bản nghị quyết đó là thượng nghị sĩ bang Arkansas Winiam Fulbright, người đã giới thiệu nghị quyết đó với Thượng nghị viện hơn mười tháng trước. Những nhân vật chủ yếu đã lần lượt ra điều trần trước Uỷ ban, kể cả Ngoại trưởng Dan Rusk và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mac Namara và được các hệ thống truyền hình đưa tin rộng rãi. Cuối cùng người ta được biết là các tàu khu trục Mỹ đã xâm phạm vùng biển của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, không có bằng chứng nào về việc tàu chiến Bắc Việt đã bắn vào tàu chiến Mỹ và dự thảo Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ đã được chuẩn bị từ rất lâu trước khi xảy ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Giá trị của Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ đã bị phá sản.

Nhưng vào thời điểm tháng 8 năm 1964 khi dựng lên việc các tàu khu trục Mỹ bị tàu chiến Bắc Việt tấn công trong vùng biển quốc tế ở Vịnh Bắc Bộ để có cớ đánh trả đũa các căn cứ Hải quân Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường và Bãi Cháy, Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ có ý nghĩa rất lớn đối với bản thân ông Johnson.

Chính Johnson đã nói: ra lệnh ném bom trả đũa sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và tranh thủ một nghị quyết ủng hộ chính sách Đông Nam Á của Nhà Trắng là quyết định quan trọng thứ hai của ông trong vấn đề Việt Nam. Ông coi sự kiện Vịnh Bắc Bộ là sự thách thức đối với nước Mỹ cũng như sự thách thức ở Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Berlin, Triều Tiên, Liban và Cu Ba, nhưng lại hạn chế sự trả đũa bằng một cuộc ném bom. Với tất cả những ai định khuyến khích hay mở rộng sự xâm lược, ông nói: “Người ta không thể đạt tới hoà bình bằng xâm lược, sự trả đũa không có miễn dịch" để tỏ ra là con người không hiếu chiến.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:07:31 PM
Với Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ, ông được Quốc hội cho phép sử dụng sức mạnh vũ trang ở Đông Nam Á. Trước đây, Tổng thống Truman khi tiến hành chiến tranh Triều Tiên (1950) đã không yêu cầu Quốc hội ủng hộ nên về sau gặp khó khăn. Rút kinh nghiệm sai lầm của Truman, Tổng thống Johnson lần này quyết tâm tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội trong chính sách đối ngoại cũng như đối nội. Với Nghị quyết của Quốc hội về Vịnh Bắc Bộ, ông ta đã giành được quyền chủ động tăng cường can thiệp vũ trang vào Việt Nam.

Tuy được quyền như thế, Johnson luôn luôn tỏ ra biết kiềm chế trong việc lựa chọn mức độ trả đũa Bắc Việt Nam.

Trong Đại hội Đảng Dân chủ ở Atlanta City, Johnson được chỉ định làm ứng cử viên Tổng thống liên danh với Hebert Humphrey. Cuộc vận động bầu cử của Johnson có thể có hai trọng tâm trúng vào lòng mong mỏi của đại đa số nhân dân Mỹ lúc bấy giờ. Về Việt Nam, ông nói rằng mục tiêu duy nhất của ông là hoà bình ở Việt Nam và tự do của nhân dân ở đó, miền Nam Việt Nam có nguy cơ bị chủ nghĩa cộng sản đánh bại, nên Mỹ phải giúp đỡ đồng minh, nước Mỹ sẽ không để con em mình đi chết thay cho con em châu Á. Về các vấn đề đối nội, ông tỏ ra quan tâm hơn: chương trình xây dựng “xã hội vĩ đại" nhằm động viên cả nước vào cuộc chiến tranh chống nghèo nàn, bảo đảm điều kiện học tập cho trẻ em, thuốc men cho người già, giữ nguồn nước uống và không khí trong lành, xây dựng nhà ở. Những ý định của Johnson đã đem lại cho ông ta cái tiếng là vị Tổng thống của giáo dục và y tế. Chính Johnson đã vạch ra sự khác nhau giữa ông và Bary Goldwater, Thượng nghị sĩ bang A-ri-giông-na, ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng hoà:

“Gold Water yêu cầu cử tri uỷ nhiệm cho mình thủ tiêu bảo hiểm xã hội, tôi yêu cầu họ uỷ quyền cho tôi mở rộng bảo hiểm xã hội theo luật chăm sóc y tế. Gold Water kêu gọi trở lại chính sách “Hãy tự giúp mình thì trời sẽ giúp" đối với người nghèo, tôi kêu gọi có một chương trình của Chính phủ rộng hơn để xoá bỏ nghèo nàn. Gold Water yêu cầu tăng thêm quyền hạn cho các bang, tôi yêu cầu có sự bảo hộ lớn hơn của liên bang đối với các quyền công dân. Gold Water tán thành một nền kinh tế có thể nói không có ràng buộc, tôi chủ trương những chính sách thuế khoá và tiền tệ độc đáo có khả năng thủ tiêu tình trạng những thời kỳ bột phát và suy thoái xen kẽ nhau" (L.B.Johnson: Sđd, tr. 134.)

Cuộc vận động tranh cử đã làm nổi Johnson như là một ứng cử viên hoà bình, Bary Goldwater như là một ứng cử viên chiến tranh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1964, liên danh Johnson – Humphrey đã giành được sáu mươi mốt phần trăm số phiếu bầu và bốn trăm tám mươi sáu phiếu đại cử tri. Đa số phiếu bầu đó không chỉ bù lại sự thất bại của Đảng Dân chủ năm 1956, mà còn là đa số phiếu bầu lớn nhất trong lịch sử bầu cử của nước Mỹ.

Danh nghĩa ứng cử viên hoà bình cần đối với Johnson tới mức ông ta quyết định không trả đũa việc sân bay quân sự Biên Hoà bị pháo kích ngày 1 tháng 11 năm 1964. Nếu theo lập luận của ông ta thì đây cũng là một sự thách thức nước Mỹ, một sự thách thức thật sự không như sự kiện Vịnh Bắc Bộ, đã làm chết bốn người Mỹ, phá huỷ sáu máy bay B.57. Nhưng ông ta đã nhắm mắt bỏ qua, vì sự kiện đó chỉ cách ngày bầu cử Tổng thống có hai ngày.

Ngay sau khi lên thay John Kennedy và trong suốt cuộc vận động tranh cử năm 1964, Johnson, với những thủ đoạn khôn khéo sở trường, vẫn không ngừng gây sức ép quân sự với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tích cực chuẩn bị kế hoạch mở rộng chiến tranh ở Việt Nam.
Ngày 26 tháng 11 năm 1963, nghĩa là bốn ngày sau khi nhậm chức Tổng thống, Johnson họp với các cố vấn và chỉ thị rằng việc vạch kế hoạch về Việt Nam cần phải bao gồm nhiều mức độ tăng cường hoạt động và trong mỗi trường hợp cần đánh giá một số yếu tố như khả năng gây thiệt hại cho miền Bắc Việt Nam, khả năng Bắc Việt Nam trả đũa lại và các phản ứng quốc tế khác. Trong phiên họp này cũng đề ra việc vạch một kế hoạch tiến hành những hoạt động quân sự ở Lào cùng với những kế hoạch chính trị nhằm thu hẹp phản ứng quốc tế đối với một hành động như thế.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:08:19 PM
Tháng 2 năm 1964, Johnson thông qua một kế hoạch bí mật gồm ba phần: Kế hoạch hành quân 34-A (OPLAN 34-A) nhằm do thám Việt Nam bằng máy bay U.2, bắt cóc công dân Bắc Việt Nam để thu thập tin tức, dùng các đội nhảy dù phá hoại miền Bắc Việt Nam, tiến công Bắc Việt Nam từ biển bằng biệt kích; kế hoạch tiến công Lào bằng máy bay của hãng Hàng không Mỹ do CIA điều khiển; kế hoạch DESOTO cho tàu khu trục vào Vịnh Bắc Bộ để thu thập tin tức, yểm trợ hoạt động của hải quân Sài Gòn và phô trương lực lượng.

Tháng 3, W.Rostow trình Tổng thống một cơ cấu lý thuyết về leo thang đối với miền Bắc Việt Nam.

Tháng 6, các Cố vấn chủ chốt của Nhà Trắng họp tại Honolulu để bàn kế hoạch ba mươi ngày mới của Tổng thống, bao gồm một loạt các biện pháp quân sự, chính trị thực hiện trong vòng ba mươi ngày nhằm gây sức ép với miền Bắc Việt Nam. Trong cuộc họp này, danh sách chín mươi tư mục tiêu ném bom ở Bắc Việt Nam đã được thông qua.

Cuối tháng 7, Tổng thống quyết định tăng thêm năm nghìn nhân viên quân sự cho miền Nam Việt Nam.

Ngày 7 tháng 8, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ.

Ngày 10 tháng 9, Johnson cho phép tàu hải quân trở lại Vịnh Bắc Bộ, máy bay làm nhiệm vụ ở Lào và chỉ thị cho Sài Gòn xúc tiến các cuộc tiến công biệt kích theo kế hoạch 34-A.

Ngày 27 tháng 11, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ thông qua kế hoạch hai bước: bước một tăng cường các hoạt động chiến tranh bí mật tiến công bờ biển, tiến công bằng không quân ở Lào, mở nhiều cuộc tiến công trả đũa vào Bắc Việt Nam; bước hai là bắt đầu chiến tranh không quân ở miền Bắc Việt Nam.

Trong cuộc họp tại Nhà Trắng ngày 1 tháng 12, có mặt DanRusk, Macnamara, đại sứ Maxwen Taylor, Johnson đã thông qua bước một kế hoạch của Hội đồng An ninh Quốc gia, với việc ném bom ở Lào, gọi là cuộc hành quân Barrel Ron; chuẩn y trên nguyên tắc bước hai của kế hoạch của Winiam Bundy (ném bom siết dần ở “vùng cán xoong" Lào, tiến dần từng giai đoạn vào BắcViệt Nam).

Ngày 14 tháng 12, cuộc hành quân Barrel Ron bắt đầu.

Trong thông điệp đọc trước Quốc hội ngày 20 tháng 1 năm 1965, điều làm người ta ngạc nhiên là Johnson hoàn toàn làm ngơ vấn đề Việt Nam và chỉ nói một cách mơ hồ: “Chúng ta không mong cái gì thuộc về người khác. Chúng ta không tìm cách thống trị đối với con người nhưng tìm sự thống trị của con người với chuyên chế và nghèo nàn" (Giô-dép A.Am-tơ. Lời phán quyết về Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội, 1985, tr. 129. ).

Ai cũng hiểu tình hình Việt Nam rất khẩn trương đòi hỏi ngay một sự lựa chọn của Washington. Kế hoạch chiến tranh đã được thông qua nhưng còn phải tạo những điều kiện chính trị để thực hiện. Tổng thống Johnson làm bộ như bỏ qua vấn đề Việt Nam trong thông điệp chính sách là lúc đang phải giải quyết những vấn đề liên quan tới các điều kiện đó.

Có ba vấn đề đặt ra với Johnson:

- Phải đạt tới sự nhất trí về chính sách ngay trong đội ngũ Cố vấn thân cận của Tổng thống;

- Phải ổn định và kiểm soát được tình hình miền Nam Việt Nam;

- Phải làm yên lòng nhân dân Mỹ, đồng minh của Mỹ và nhân dân thế giới về chính sách tăng cường chiến tranh ở Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 01:09:11 PM
Bộ phận tham mưu của Johnson gồm hầu hết là những người ủng hộ chính sách của ông về Việt Nam. Phó Tổng thống H.Humphrey chấp nhận mọi quyết định của Tổng thống; W.Rostow, là người đã đề ra kế hoạch leo thang ném bom miền Bắc Việt Nam và do đó trở thành con người được Tổng thống tín nhiệm. G.Bundy lúc đầu không hoàn toàn tin rằng ném bom miền Bắc Việt Nam là cần thiết, nhưng sau chuyến đi công cán ở miền Nam Việt Nam về ông thấy tận mắt Việt cộng bắn súng cối vào trại lính Mỹ ở Plây-cu, ông thấy cần phải gây ức ép liên tục với Hà Nội.

Dan Rusk trước sau vẫn là con người đáng tin cậy của Tổng thống trên cương vị ngoại trưởng. Tuy vậy, có một số người khác không tin rằng ném bom miền Bắc Việt Nam sẽ đem lại thắng lợi và họ lần lượt rời khỏi chức vụ của mình, trong đó có Roger Hilsman, Averen Hamman, M. Forrestal v.v... Chỉ có George Bon, Thứ trưởng Ngoại giao, không tin ở thuyết Domino và chống lại việc ném bom miền Bắc Việt Nam. Tuy vậy, ông ta vẫn còn ở lại, mặc dầu ý kiến của ông chống leo thang không được Tổng thống hay Ngoại trưởng chú ý.

Một thời gian ngắn sau khi nhậm chức Tổng thống, Johnson có thể yên tâm với một đội ngũ những cộng sự tin cậy.

Vấn đề ổn định ê-kíp lãnh đạo Chính quyền Sài Gòn thì không đơn giản. Cái khó là tìm được những người có khả năng mà Mỹ tin tưởng được. Cái dễ là hầu hết những nhân vật của chế độ Sài Gòn đều do Mỹ dựng lên và sống nhờ viện trợ Mỹ. Từ cuối năm 1963 đến đầu năm 1965, thời điểm chính thức đẩy mạnh chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, tình hình chính trị ở Sài Gòn trải qua nhiều biến động.

Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh làm đảo chính gạt tướng Dương Văn Minh. Trần Văn Hương được đưa lên làm Thủ tướng thay Nguyễn Khánh. Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng, Khánh chỉ còn giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng tướng lĩnh. Hương đưa bốn tướng lên để làm chỗ dựa mà không hỏi ý kiến Khánh. Khánh phản đối và cuối cùng Hương phải rời chức Thủ tướng. Khánh chọn Phan Huy Quát để thay Hương, nhưng Quát lại không được lòng Washington vì ông ta có xu hướng thương lượng để kết thúc chiến tranh.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, Washington đưa hai tướng trẻ Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ lên lãnh đạo Chính quyền Sài Gòn và từ đó cho đến tháng 4 năm 1975, Washington có một Chính quyền có thể kiểm soát được. Đó là sự kiện rất quan trọng để Johnson triển khai kế hoạch chiến tranh của mình.

Nhưng việc làm yên lòng nhân dân Mỹ tuỳ thuộc vào nhận thức của họ về cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Những cuộc ném bom trả đũa sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ theo một màn kịch bản lừa gạt thật sự đã không gây phản ứng đáng kể trong công chúng Mỹ. Thậm chí, trong cuộc tuyển cử năm 1964, Johnson đã giành thắng lợi vang dội. Điều đó chứng tỏ nhân dân Mỹ tin tưởng ở ứng cử viên hoà bình của mình biết bao. Ngay cả đối với các cuộc ném bom Bắc Việt Nam đầu năm 1965, cũng có ít hoặc không có sự chỉ trích nào của nhân dân Mỹ.

Khi cuộc chiến tranh bằng không quân bắt đầu đối với Bắc Việt Nam và những đơn vị lính Mỹ đầu tiên đổ bộ lên miền Nam Việt Nam, vì bị lừa gạt như vậy nên nhiều người Mỹ không còn ủng hộ nữa. Một số cuộc biểu tình nhỏ ở nơi này nơi kia hồi tháng 3, tháng 4 không gây được tiếng vang lớn. Sự phản đối phát triển thành một phong trào toàn quốc là chuyện sau này. Nhưng người ta có thể coi như bước đầu phát động chiến tranh của Johnson tháng 2 năm 1965 là thuận lợi dưới con mắt của nhân dân Mỹ.  

Tác động của mọi hành động chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đối với tình hình quốc tế là vấn đề mà Tổng thống L.B.Johnson và Bộ tham mưu của ông phải mất nhiều thì giờ để nghiên cứu và đối phó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 04:19:03 PM
Ngay từ năm 1963, sự thất bại của cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam đã làm cho giới chính trị và báo chí nghi ngờ sự cần thiết Mỹ phải can thiệp sâu vào công việc nội bộ của người Việt Nam và bình luận nhiều về giải pháp mà Nhà Trắng sẽ phải lựa chọn để thoát khỏi sự bế tắc. Mỹ sẽ dùng những phương tiện lớn để ở lại miền Nam Việt Nam với bất cứ giá nào, hoặc Mỹ sẽ rút lui?

Những tin tức đầu tiên về việc mở rộng chiến tranh ở miền Nam Việt Nam đã tới tai các nhà báo; từ Mỹ đến châu Âu và các nơi khác, dư luận đã tỏ ra lo ngại trước nguy cơ Mỹ mở rộng chiến tranh ở Việt Nam. Chính sách đối ngoại của Washington tập trung biện minh cho việc ném bom Bắc Việt Nam hồi đầu tháng 8 năm 1964, nêu rõ quyết tâm của Mỹ là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, giúp đồng minh Việt Nam giữ tự do của minh, để cho cộng đồng quốc tế và đồng minh của Mỹ (từ khối SEATO, khối ANZUS đến khối NATO), nếu không ủng hộ thì cũng làm ngơ trước các sáng kiến quân sự, chính trị của Mỹ.

Với những lập luận khéo léo, những chứng cứ giả tạo và sự tự kiềm chế trong ném bom, cả năm 1964 công khai chỉ có trận ném bom Bắc Việt Nam ngày 5 tháng 8 và cũng chỉ nhằm một số mục tiêu quân sự hạn chế, trong buổi đầu Johnson nhìn chung đã đạt được mục tiêu ấy. Nhưng ngay từ khi quyết định ném bom ngày 5 tháng 8, ông ta đã lo lắng đến phản ứng của Liên Xô và Trung Quốc. Nếu mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ dè chừng phải đụng đầu với Trung Quốc, có khi với cả Liên Xô, hoặc ít nhất cũng sẽ làm cho Liên Xô, Trung Quốc hoà hợp với nhau.

Trước khi xuất hiện trên Đài truyền hình để thông báo cho nhân dân Mỹ biết tin máy bay đã lên đường ném bom trả đũa Bắc Việt Nam, Johnson có hai ý nghĩ: phải chọn giờ báo tin thế nào để Bắc Việt Nam không hiểu lầm.

“Chúng ta biết rằng khi các máy bay của chúng ta còn đang bay, ra-đa của Trung cộng cũng như của Hà Nội đã phát hiện được rồi. Tôi không muốn các nhà lãnh đạo Bắc Kinh ngộ nhận lý do tại sao máy bay của ta lại bay trên Vịnh Bắc Bộ. Cần làm cho họ hiểu rằng đây là những hành động trả đũa Bắc Việt Nam, và chỉ Bắc Việt Nam thôi, chứ không phải đối với Trung Hoa nhân dân, và mục tiêu của chúng ta là hạn chế..." (L.B.Johnson: Sđd, tr. 151.).

Sự lo sợ đụng chạm với Trung Quốc trong một cuộc chiến tranh trên bộ là kết luận mà tướng Mac Ác-tơ đã rút ra sau cuộc chiến tranh Triều Tiên những năm 50 mà cho đến nay vẫn còn ám ảnh các nhà lãnh đạo Mỹ. Trước nguy cơ hiển nhiên một sự thất bại ở miền Nam Việt Nam, các Cố vấn diều hâu cho rằng cần có hành động ngay, và có người lập luận rằng "Trung cộng chỉ nhảy vào cuộc chiến tranh nếu miền Bắc Việt Nam bị xâm lược, hay khi Chính phủ Hà Nội có nguy cơ bị lật đổ”.

Sau trận ném bom đầu tháng 8 vào một số mục tiêu của Bắc Việt Nam, Johnson vẫn còn phải cân nhắc hai ẩn số: Liên Xô và Trung Quốc, nhất là Trung Quốc trước khi có quyết định lớn.

Các nhà chiến lược Mỹ đã từng tính đến khả năng Trung Quốc đưa ba mươi mốt sư đoàn xuống Đông Nam Á và trong trường hợp đó, Mỹ sẽ dùng từ năm đến bảy sư đoàn Mỹ là đủ để đối phó với tình hình, kể cả việc chiếm đóng Bắc Việt Nam. Nhưng trước sau Mỹ vẫn không muốn có sự đụng độ như vậy với "biển người” Trung Quốc. Tổng thống Johnson muốn có một thông tin có thể tin cậy được của Bắc Kinh nếu như Mỹ tiến hành leo thang đánh phá miền Bắc Việt Nam.

Chủ tịch Mao Trạch Đông từ những ngày chưa giành được chính quyền đã có nhiều dịp gặp gỡ người Mỹ như nhà báo EdgarSnow, John Service, Cố vấn chính trị của viên tư lệnh quân đội Mỹ ở mặt trận Trung - Miến - Ấn, đồng thời là Bí thư thứ hai của đại sứ quán Mỹ tại Trùng Khánh, Harison Foman... lần nào Chủ tịch Mao cũng đều nói rằng lợi ích của Trung Quốc và Mỹ giống nhau và liên quan với nhau.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 04:23:32 PM
Cuối năm 1964, Edgar Snow được mời sang thăm Trung Quốc. Edgar Snow là nhà báo Mỹ đầu tiên, từ năm 1936, đã đến khu giải phóng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã sống tại đây nhiều tháng và khi trở về Mỹ đã viết cuốn “Sao đỏ trên đất Trung Quốc". Đặc biệt là E.Snow đã có nhiều cuộc nói chuyện với Chủ tịch Mao tại Diên An (bắc tỉnh Thiểm Tây) về nhiều đề tài, kể cả triển vọng quan hệ Trung - Mỹ. Việc mời E.Snow trong bối cảnh Mỹ chuẩn bị về chính trị và quân sự) để mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, tự nó đã mang một ý nghĩa chính trị rất to lớn.

Chủ tịch Mao đã trao đổi cởi mở với Edgar Snow như với người bạn cũ. Đặc biệt, ông đã tuyên bố. "Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để chiến đấu. Đó là điều hoàn toàn rõ ràng. Chỉ khi nào Mỹ tấn công, người Trung Quốc mới chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng. Người Trung Quốc rất bận công việc về nội bộ của mình. Đánh nhau ngoài biên giới nước mình là phạm tội ác. Tại sao người Trung Quốc phải làm như vậy? Người Việt Nam có thể đương đầu với tình hình" (Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1980, tr. 46.).

Trong tờ New Republic tháng 2 năm 1965, Edgar Snow còn tường thuật thêm lời của Chủ tịch Mao: "Trung Quốc ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc nhưng không phải bằng cách gửi quân đội. Khi có một cuộc chiến tranh giải phóng, Trung Quốc sẽ đưa ra tuyên bố và kêu gọi biểu tình ủng hộ cuộc chiến đấu đó. Chính các tuyên bố đó làm mất lòng đế quốc”.

Có thể hiểu là Mỹ làm gì thì làm, miễn là không đụng đến Trung Quốc, nếu Mỹ đụng đến Trung Quốc thì người Trung Quốc sẽ phải chiến đấu. Phải chăng như vậy là không rõ ràng?

Tổng thống Johnson thấy rõ mình có thể tiến hành mở rộng chiến tranh ở hai miền Việt Nam. Tuy vậy, ông ta hành động ra vẻ tự kiềm chế lắm.

Đêm 6 rạng ngày 7 tháng 2 năm 1965, Quân giải phóng miền Nam tấn công doanh trại quân Mỹ ở Plây-cu và căn cứ trực thăng trại Holoway.

Chiến dịch ném bom trả đũa đầu tiên gọi là “Mũi tên rực cháy 1" (Flaming Dart) được thực hiện: bốn mươi chín máy bay của Hải quân Mỹ đánh Đồng Hới và Vĩnh Linh.

Ngày 10 tháng 2, quân Mỹ ở Quy Nhơn bị tấn công và ngày 11 Mỹ thực hiện chiến dịch ném bom trả đũa “Mũi tên rực cháy 2" cũng các khu vực trên.

Ngày 13 tháng 2, Johnson ra lệnh chuyển máy bay chiến lược B.52 từ Gu-am về O-ki-na-oa, sẵn sàng can thiệp vào Việt Nam. Ông cũng thông qua kế hoạch “Sấm Rền" (Rolling Thunder) ném bom từng bước và liên tục Bắc Việt Nam

Ngày 2 tháng 3, chiến dịch “Sấm Rền" bắt đầu đợt một: một trăm lẻ bốn máy bay của không lực Hoa Kỳ tấn công xóm Bông, mười chín máy bay của không lực Sài Gòn ném bom căn cứ Hải quân Bắc Việt Nam ở Quảng Khê (Quảng Bình).

Ngày 6 tháng 3, máy bay Mỹ lần đầu tiên ném bom xuống vùng dân cư Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 04:24:07 PM
Tại miền Bắc Việt Nam, các cuộc ném bom của chiến dịch “Sấm Rền" dần dần được mở rộng.

Mỗi đợt “Sấm Rền" kéo dài từ một đến bảy ngày. Những cuộc tấn công lúc đầu giới hạn vào các cầu, trạm ra-đa, kho tàng quân sự giữa vĩ tuyến 17 và vĩ tuyến 19. Sau đó các cuộc ném bom leo thang lên vĩ tuyến 20, rồi trên 20 và mở rộng ra mục tiêu dân sự, các khu dân cư.

Tuy đã được lời tuyên bố của Chủ tịch Mao với Edgar Snow trước khi bắt đầu các đợt ném bom "Sấm Rền”, Washington vẫn còn lo ngại sự hiểu lầm của Bắc Kinh. Trong cuộc hội đàm tại Vasava ngày 24 tháng 2, đại diện Mỹ là đại sứ John Gronowski đã chính thức thông báo cho đại diện Trung Quốc:

“Tôi được chỉ thị khẳng định lại chính sách của Mỹ ở Việt Nam là luôn luôn giúp đỡ miền Nam Việt Nam duy trì tự do, độc lập chống lại sự xâm lược của cộng sản được Hà Nội ủng hộ và lãnh đạo.

Chừng nào Việt cộng do Hà Nội lãnh đạo và ủng hộ với sự giúp đỡ của phía các ông tiếp tục tấn công miền Nam Việt Nam, thì Hoa Kỳ thấy cần phải giúp đỡ Chính phủ miền Nam mọi sự cần thiết.

Người Việt Nam ở miền Bắc đã gây áp lực với miền Nam qua biên giới, điều đó không thể tha thứ được. Chúng tôi cần phải và sẽ có hành động cần thiết đế chấm dứt việc đó".

Ngày 17 tháng 2, Tổng thống Johnson đã nhắc lại là:

"Chúng tôi không có tham vọng gì ở Đông Dương, chúng tôi không muốn mở rộng chiến tranh nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục bảo vệ tự do và có hành động thích đáng và cần thiết trước sự xâm lược của kẻ khác.

Tôi muốn nhấn mạnh là chúng tôi không có ý định xấu đối với lãnh thổ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, không có ý định lật đổ nhà cầm quyền ở Hà Nội.

Chúng tôi hy vọng rằng Hiệp nghị Genève năm 1954 cho phép các Chính phủ ở Đông Dương tồn tại trong hoà bình, nhưng người Bắc Việt Nam đã xé bỏ Hiệp nghị Genève năm 1954 trong việc cố gắng lật đổ Chính phủ miền Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 28 Tháng Tám, 2009, 04:24:17 PM
Hà Nội đã cung cấp cho Việt cộng lãnh đạo, huấn luyện nhân viên và trang bị. Xin đưa một số ví dụ chính xác hơn: có chứng cớ là đa số nòng cốt sĩ quan Việt cộng, nhân viên chuyên môn như giao thông liên lạc, vũ khí hạng nặng là do miền Bắc đưa vào. Chúng tôi biết những trung tâm huấn luyện chính ở miền Bắc, con đường chính để xâm nhập vào miền Nam. Chính phủ miền Nam đã bắt được sĩ quan quân đội, công an của miền Bắc đưa vào miền Nam.

Chúng tôi sẽ sung sướng nếu tất cả các bên hữu quan đều tôn trọng Hiệp nghị Genève năm 1954 và như vậy thì sẽ có giải pháp thoả đáng về vấn đề Việt Nam. Bất cứ dấu hiệu nào của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trở lại Hiệp nghị đó sẽ được hoan nghênh.

Xin ông chuyển phần chủ yếu trong nhận định của chúng tôi cho nhà đương cục của ông. Nếu Hà Nội có nghi ngờ gì về lập trường của Mỹ thì xin ông chuyển giúp lập trường của chúng tôi cho Hà Nội" (Một bản sao thông điệp này cũng được đại sứ Canađa, Seaborn chuyển cho Hà Nội tháng sau.).

Và cái mà Tổng thống Johnson gọi là “chính sách trả đũa" từng bước và liên tục cứ thế mà tiếp diễn với những tổn thất ngày càng lớn về máy bay và phi công Mỹ và những tàn phá nặng nề, những vụ giết hại dân thường hàng loạt đối với Bắc Việt Nam.

Trong khi đó, Tổng thống Johnson quyết định tăng thêm vũ khí, máy bay, xe tăng cho Quân đội Việt Nam Cộng hoà và nhất là gửi lực lượng chiến đấu Mỹ sang Nam Việt Nam. Còn phải kể cả các lực lượng quân sự Nam Triều Tiên, Thái Lan, Phi-líp-pin, Australia, New Zeeland thật sự giúp quân Việt Nam Cộng hoà chống lại Việt cộng.

Tất cả bắt đầu ngày 8 tháng 3 năm 1965, một buổi sáng mưa phùn. Dưới quyền chỉ huy của tướng Federik J.Karch, sau sáu lần lênh đênh từ Nhật Bản ra đi, các tàu Mount Kinley, Henrico Union và Vancouver đã đậu trước bãi biển Đà Nẵng. Ngay người Mỹ cũng tự hỏi tại sao Bộ Tư lệnh Mỹ không cho quân Mỹ đổ bộ xuống sân bay Đà Nẵng, nhưng rồi họ cũng tìm được câu trả lời: căn cứ không quân khi đó còn quá nhỏ và Mỹ lại muốn phô trương lực lượng, không những đối với Bắc Việt Nam mà đối với cả Liên Xô, Trung Quốc để tỏ quyết tâm của Mỹ không để miền Nam lọt vào tay cộng sản. Trong hơn một giờ ba nghìn năm trăm quân của lữ đoàn viễn chinh lính thuỷ đánh bộ (MEB) đã đổ bộ xong, với những vũ khí hạng nặng như súng cối 105, xe tăng M.48, xe chiến đấu Ontas trang bị mỗi xe sáu khẩu pháo không giật 106 mm. Người ta nói rằng số quân đó được phép bắn trả khi bị tấn công, nhưng đây thật sự là lính chiến đấu của Mỹ. Cho tới lúc đó, ở miền Nam Việt Nam, Mỹ đã có hai mươi ba nghìn lính Mỹ đủ loại (cố vấn, lực lượng đặc biệt, nhân viên của không lực mà lý thuyết thì chỉ làm nhiệm vụ huấn luyện Quân đội Sài Gòn).

Cho không quân ném bom Bắc Việt Nam, đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, dù che đậy dưới những từ “hạn chế”, “phòng thủ”, vẫn là cuộc chiến tranh mà Tổng thống Johnson đã đưa nước Mỹ vào, với những hậu quả mà mười năm sau mới được phơi bày ra ánh sáng.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:52:13 PM
CHƯƠNG 4
VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ TRƯỚC VIỆC MỸ GÂY CHIẾN TRANH LỚN Ở CẢ HAI MIỀN

Toàn bộ chính sách chuẩn bị chiến tranh của Mỹ ở cả miền Nam Việt Nam và ở Lào nhất là cuộc chiến tranh đặc biệt ở cả miền Nam Việt Nam và Lào đã báo động thế giới vì những phát triển nguy hiểm tiếp theo. Nhân dân Việt Nam, mục tiêu trực tiếp của chính sách đó, càng không thể làm ngơ trước những gì Mỹ đang làm và dự định làm ở miền Nam Việt Nam.

Hội nghị toàn thể lần thứ 9, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đánh giá tình hình miền Nam Việt Nam sau cuộc đảo chính tháng 11 năm 1963:

Ta đã mạnh hơn địch về chính trị nhưng còn yếu hơn địch về quân sự".

Hội nghị dự kiến có hai khả năng phát triển tình hình miền Nam:

Một: Có thể Mỹ tham gia đến mức như hiện nay hay hơn một chút nghĩa là vẫn giữ chiến tranh đặc biệt.

Hai: Mỹ đưa quân Mỹ và quân của Đông Nam Á vào miền Nam, biến chiến tranh ở miền Nam thành chiến tranh cục bộ (Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, Nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, 1980, tr. 168- 178.).

Trước âm mưu của Mỹ, tình hình các nước lớn muốn duy trì nguyên trạng ở Việt Nam, diễn biến phức tạp của phong trào cộng sản thế giới, đặc biệt là mâu thuẫn gay gắt giữa Liên Xô và Trung Quốc. Đảng Lao động Việt Nam cũng đã dự tính cách mạng miền Nam có thể phải qua những bước quá độ với những hình thức và phương pháp đấu tranh phức tạp mới đi đến thắng lợi hoàn toàn

Cuối năm 1963 sau khi Ngô Đình Diệm bị giết hại, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã đề nghị:

Các phái hữu quan ở miền Nam cùng nhau thương lượng để đến ngừng bắn và giải quyết vấn đề trọng đại của đất nước" (Những sự kiện lịch sử Đảng, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, tr. 277-293)

Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tình hình miền Nam Việt Nam vẫn trong khủng hoảng chính trị, quân sự trầm trọng. Ngày 8 tháng 2 năm 1964, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam kêu gọi:

Các phe phái, các lực lượng miền Nam cùng nhau đàm phán để tìm một giải pháp hợp lý cho đất nước trên cơ sở thực hiện hoà bình, độc lập, dân chủ và trung lập ở miền Nam Việt Nam" (Những sự kiện lịch sử Đảng, Nhà xuất bản Thông tin Lý luận Hà Nội.).



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:52:20 PM
Trước khi Johnson quyết định đẩy mạnh chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã cho rằng;

Đối với chúng ta, vấn đề đặt ra là ta phải đánh thế nào cho Mỹ ngụy phải thua, đồng thời hạn chế ở mức thấp nhất, đi đến loại trừ khả năng địch thay đổi chiến lược, chuyển “chiến tranh đặc biệt" thành “chiến tranh cục bộ".

Ngay đầu năm 1965, trong bức thư gửi các đồng chí lãnh đạo ở miền Nam, Tổng Bí thư Lê Duẩn đã cho rằng tình hình có khả năng chuyển biến mau lẹ; có thể xuất hiện một mặt trận trung lập và dưới ngọn cờ mặt trận trung lập đó, nhân dân sẽ nổi lên, thành lập một Chính quyền trung lập:

Chính quyền mới sẽ đề ra các yêu cầu:

- Đình chỉ chiến sự. Đặt vấn đề giao thiệp công khai với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam để bàn việc chấm dứt chiến tranh.

- Thực hiện chính sách trung lập. Giao thiệp với Pháp, Mỹ và đặt vấn đề yêu cầu Quân đội Mỹ rút.

Yêu cầu hai Chủ tịch Hội nghị Genève năm 1954 triệu tập ngay Hội nghị để bàn vấn đề bảo đảm trung lập cho miền Nam và đình chỉ chiến sự
" (Lê Duẩn - Thư vào Nam, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1985, tr. 88.).

Qua kịch bản này người ta có thể thấy kịch bản giải quyết vấn đề Lào năm 1962. Điều này phù hợp với chủ trương đưa Nam vào con đường hoà bình trung lập mà Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã đề ra khi mới thành lập và lời kêu gọi của Mặt trận sau cuộc đảo chính giết hại Ngô Đình Diệm. Đó là cơ hội có thể mang lại hoà bình ở miền Nam Việt Nam, ngăn ngừa chiến tranh lớn xảy ra. Rất tiếc rằng Chính quyền Johnson quá lo sợ về bóng ma "Domino" đã không đáp ứng lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và tiếp tục ủng hộ các tướng lĩnh thân Mỹ, kéo dài cuộc khủng hoảng chính trị, quân sự ở miền Nam.

Tình hình miền Nam ngày càng căng thẳng. Ngày 7 tháng 2 năm 1965, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, ngày 8 tháng 3 năm 1965 tiểu đoàn thuỷ quân lục chiến đầu tiên của Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng.

Cuối tháng 3 năm 1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị toàn thể để đánh giá tình hình mới và ra nghị quyết:

Tình hình một nửa nước có chiến tranh, một nửa nước có hoà bình đã biến thành tình hình cả nước có chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miền" và hiện nay "miền Nam vẫn là tiền tuyến lớn, miền Bắc vẫn là hậu phương lớn”, “phải tiếp tục xây dựng miền Bắc, kết hợp chặt chẽ xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, kiên quyết bảo vệ miền Bắc, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại và phong toả bằng không quân và hải quân của địch, chuẩn bị sẵn sàng để đánh bại địch trong chiến tranh cục bộ cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ra sức động viên lực lượng của miền Bắc chi viện cho miền Nam, ra sức giúp đỡ cách mạng Lào”.

Trung ương Đảng cũng quyết định chuyển hướng nền kinh tế miền Bắc từ thời bình sang thời chiến, chuyển hướng về tư tưởng và tổ chức cho phù hợp với tình hình cả nước có chiến tranh, tăng cường và mở rộng lực lượng vũ trang (Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, Sđd, tr. 212-214.).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:53:26 PM
Trong cuộc Hội nghị cán bộ từ ngày 2 đến ngày 8 tháng 7 năm 1965, đồng chí Lê Duẩn lại tuyên bố.

Đảng ta là một đảng đã trưởng thành, biết đánh giá đúng đắn sự giúp đỡ của các nước anh em, biết giữ vững quyền độc lập tự chủ của mình, mọi hành động của chúng ta đều là vì lợi ích của cách mạng nước ta cũng như của cách mạng thế giới. Đảng Lao động Việt Nam hoàn toàn chủ động lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chúng ta biết khởi sự chiến tranh cách mạng thì biết kết thúc chiến tranh đó vào lúc nào có lợi cho cách mạng nước ta và cách mạng thế giới" (Ta nhất định thắng, địch nhất định thua, Bài nói chuyện của Tổng Bí thư Lê Duẩn với cán bộ ngày 2 đến ngày 8 tháng 7 năm 1965.).

Ngày 20 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước:

Dù phải chiến đấu năm năm, mười năm, hai mươi năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” (Hồ Chí Minh tuyển tập, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1985 tập II, tr. 364.).

Trong bài phát biểu trước Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người đã khẳng định rõ ràng lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà:

Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, không ai được xâm phạm đến quyền thiêng liêng ấy của nhân dân ta. Đế quốc Mỹ phải tôn trọng Hiệp nghị Genève, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Phải chấm dứt ngay những cuộc tiến công vào miền Bắc. Đó là biện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam để thực hiện Hiệp nghị Genève năm 1954, để bảo vệ hoà bình của các nước Đông Dương và Đông Nam Á, không có cách nào khác. Đó là trả lời của nhân dân và Chính phủ ta cho đế quốc Mỹ" (Hồ Chí Minh tuyển tập, Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1980 tập II, tr. 364.).

Cùng dịp này, trước Quốc hội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhắc lại lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tôn trọng nghiêm chỉnh Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam và đề ra bốn điểm làm cơ sở cho một giải pháp chính trị đúng đắn cho vấn đề Việt Nam:

Lập trường trước sau như một của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tôn trọng nghiêm chỉnh Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam, thi hành đúng đắn những điều khoản cơ bản của Hiệp nghị ấy thể hiện cụ thể ở mấy điểm sau đây:

"Một: Xác nhận những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam: hoà bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Theo đúng Hiệp nghị Genève, Chính phủ Mỹ phải rút quân đội, nhân viên quân sự và các loại vũ khí Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, triệt phá những căn cứ quân sự Mỹ ở miền Nam, xoá bỏ “liên minh quân sự" với miền Nam. Chính phủ Mỹ phải đình chỉ chính sách can thiệp và xâm lược đối với miền Nam. Theo đúng Hiệp nghị Genève, Chính phủ Mỹ phải đình chỉ hành động chiến tranh đối với miền Bắc, hoàn toàn chấm dứt mọi hoạt động xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Hai: Trong lúc chờ đợi thực hiện hoà bình thống nhất nước Việt Nam, trong lúc nước Việt Nam còn tạm thời bị chia làm hai miền, thì phải triệt để tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam như: hai miền đều không có liên minh quân sự với nước ngoài, không có căn cứ quân sự, quân đội và nhân viên quân sự của nước ngoài trên đất mình.

Ba: Công việc miền Nam do nhân dân miền Nam tự giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Bốn: Việc thực hiện hoà bình thống nhất nước Việt Nam do nhân dân Việt Nam ở hai miền tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài
".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:54:27 PM
Lập trường đó chắc chắn được mọi Chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình và công lý trên thế giới đồng tình và ủng hộ.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho rằng lập trường trình bày trên đây là cơ sở cho một giải pháp chính trị đúng đắn về vấn đề Việt Nam sẽ có điều kiện tiến hành thuận lợi và mới có thể tính đến việc họp lại một cuộc Hội nghị quốc tế theo kiểu Hội nghị Genève năm 1954 về Việt Nam.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố rằng mọi giải pháp trái với lập trường trình bày trên đây đều không thích hợp; mọi giải pháp muốn dùng Liên Hợp Quốc để can thiệp vào tình hình nước Việt Nam cũng đều không thích hợp, bởi vì những giải pháp như vậy về cơ bản trái với Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam.

Lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được đưa ra ngay sau tuyên bố Baltimore của Tổng thống Johnson. Đúng thế, tối ngày 7 tháng 4 năm 1965, tại Trường Đại học Johnson Hopskin, Johnson đã đọc một bài diễn văn quan trọng về tình hình Việt Nam. Khi đó, các máy bay Mỹ đang ném bom miền Bắc Việt Nam và đã leo tháng đến vĩ tuyến 20, ngoài lữ đoàn viễn chinh, lính thuỷ đánh bộ đã đổ bộ lên Đà Nẵng. Lữ đoàn không vận 173, lực lượng can thiệp nhanh đã đến bảo vệ căn cứ không quân Biên Hoà, lữ đoàn không vận 101 đã đến tăng cường cho vùng Sài Gòn.

Để làm dịu dư luận đang kịch liệt phản đối Mỹ ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đưa quân Mỹ vào trực tiếp chiến đấu ở miền Nam, Johnson đã bào chữa những hành động chiến tranh của Mỹ, và đưa ra đề nghị: “sẵn sàng thương lượng không điều kiện " và cử Eugene Black đại diện nước Mỹ để thương lượng ngay với miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Để thêm sức thuyết phục dư luận, Johnson hứa sẽ viện trợ một tỷ đô-la để xây dựng Đông Nam Á, trong đó có Bắc Việt Nam.

Dư luận có người tin thiện chí của Johnson, có người không tin, nhưng dư luận chung thấy một bên đã nói “sẵn sàng thương lượng không điều kiện”, một bên lại đưa ra nội dung giải pháp. Bất kể thế nào, sự trùng hợp đó là điều thuận lợi để cứu vãn hoà bình ở Việt Nam.

Lập trường bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là một giải pháp dựa trên Hiệp nghị Genève năm 1954 và Thủ tướng đã nói rõ đây là “cơ sở để giải quyết vấn đề Việt Nam". Nhưng các nhà ngoại giao Mỹ và các nhà báo lại phân biệt chi li từ "reonnize" (thừa nhận) với từ “accept" (chấp nhận). Nghe nói có nhà ngoại giao giở đủ thứ từ điển để tra cứu bốn điểm của ông Phạm Văn Đồng và điều đó cũng là tất nhiên vì họ phải hiểu ý đồ của Hà Nội về chủ trương, phương pháp. Họ không những chỉ thị cho các sứ quán tìm hiểu mà còn tìm người trung gian trực tiếp hỏi các nhà ngoại giao Hà Nội.

Mỹ vui mừng có một thuận lợi là có sẵn mối quan hệ với J.B.Seaborn đại sứ Canađa trong Uỷ ban Quốc tế đã hai lần ra Hà Nội thăm dò tình hình và quan điểm. Theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông Seaborn tới Hà Nội ngày 3 tháng 6 năm 1965.

Lần này ông không được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng như hai lần trước. Ông được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tiếp .
Sau mấy câu lễ tân, Seaborn đi ngay vào vấn đề:

Chính phủ Canađa tỏ ra lo ngại đến tình hình nghiêm trọng đang diễn ra ở Việt Nam có liên quan trực tiếp đến tình hình thế giới. Chính phủ Hoa Kỳ có gửi một bức công hàm mật cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đến nay, Chính phủ Canađa chưa được biết phản ứng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà? Chúng tôi rất mong muốn được nói chuyện với Ngài về vấn đề đàm phán thương lượng tìm cơ sở cho một giải pháp hoà bình ở Việt Nam. Chúng tôi sẵn sàng làm người trung gian, tuy nhiệm vụ trung gian nhiều lúc rất bạc bẽo.
Trước khi tôi ở Sài Gòn ra đây, tôi được chỉ thị chuyển một thông điệp miệng của Chính phủ Hoa Kỳ nếu ngài đồng ý, tôi xin đọc...”.


Đến đây, đại sứ dừng lại.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:55:49 PM
Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh cảm ơn ông đã tỏ sự quan tâm đến tình hình nghiêm trọng ở Việt Nam và nêu rõ nguyên nhân của tình hình là việc Mỹ mở rộng chiến tranh. Bộ trưởng nhấn mạnh: Mỹ đang theo đuổi chính sách “cái gậy và củ cà rốt" và nói tiếp:

Chắc đại sứ đã rõ nhân dân Việt Nam ở miền Nam và miền Bắc đã trả lời như thế nào đối với chính sách của Mỹ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói rõ lập trường của chúng tôi! Chúng tôi nghĩ rằng với Canađa là một thành viên trong Uỷ ban Quốc tế, chúng tôi mong rằng Ngài làm tròn nhiệm vụ trong Uỷ ban Quốc tế với hết khả năng của mình".

Seaborn:

Trong việc đánh giá tình hình giữa Chính phủ chúng tôi và Chính phủ Ngài có những điều không giống nhau, nhưng Chính phủ chúng tôi luôn thành thật trong khi làm nhiệm vụ Uỷ ban Quốc tế...Tôi đã đọc, đã nghiên cứu và tìm hiểu bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng vì đấy là sự mở đầu quan trọng. Tôi nghĩ, với ý kiến cá nhân, trong bốn điểm đó có những điểm đáng chú ý. Tôi thấy có nhiều điểm đối phương có thể chấp nhận được nhưng cũng có điểm mà hiện nay Chính phủ Mỹ không sẵn sàng chấp nhận.

Chúng tôi thấy có điều cần được rõ thêm là có phải việc chấp nhận bốn điểm đó là điều kiện tiên quyết để đàm phán hay bốn điểm đó là những vấn đề sẽ đưa ra bàn để giải quyết dần trong quá trình đàm phán?”


Nguyễn Duy Trinh:

Báo cáo của Chính phủ chúng tôi đã nêu rõ đó là cơ sở để giải quyết vấn đề Việt Nam, nghĩa là vấn đề Việt Nam phải giải quyết bằng cách như vậy.

Nhân dân chúng tôi đang phải chiến đấu để giành các quyền dân tộc cơ bản của mình như Hiệp nghị Genève đã quy định. Bản báo cáo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng có nói: Thi hành bốn điểm đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán.

Diễn văn của Tổng thống Johnson ở Baltimore tuy nói thương lượng không điều kiện nhưng thực ra đã đưa ra những điều kiện: Mỹ không từ bỏ xâm lược miền Nam Việt Nam, không thừa nhận nước Việt Nam thống nhất, không thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đối chiếu với Hiệp nghị Genève, rõ ràng Hiệp nghị Genève đã không được Mỹ để ý đến...

Bốn điểm của chúng tôi là cơ sở để giải quyết vấn đề Việt Nam, thực hiện bốn điểm đó mới trở lại Hiệp nghị Genève
”.

Seaborn:

Trong bốn điểm có điểm nói Mỹ phải rút quân khỏi Nam Việt Nam. Như vậy là Mỹ phải rút trước khi đàm phán hay là việc Mỹ rút sẽ được thu xếp trong khi đàm phán?”.

Nguyễn Duy Trinh:

Vấn đề là thái độ của Mỹ đối với tất cả bốn điểm đó như thế nào Đáng tiếc thực tế không phải là Mỹ rút mà Mỹ còn đang tăng số quân ở miền Nam, tăng cường chiến tranh. Nhân dân Việt Nam kiên quyết chiến đấu và đòi Mỹ cút".

Bộ trưởng dừng lại.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:57:12 PM
Seaborn ngập ngừng:

"Tôi có đem theo đây thông điệp miệng của Chính phủ Hoa Kỳ. Nếu ngài thấy quan điểm của Mỹ đã rõ ràng thì không nhất thiết phải đọc ra đây, nhưng nếu ngài cho phép, tôi xin đọc".

Nguyễn Duy Trinh:,

Tôi không phản đối, nếu ngài muốn đọc”.

Seaborn:

Chính phủ tôi chỉ thị cho tôi chuyển thông điệp này của Chính phủ Hoa Kỳ tới Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Quan điểm của Mỹ trong thông điệp cũng đã được nói với đại diện của Bắc Kinh và Mát-xcơ- va.

Một: Chính phủ Hoa Kỳ biểu lộ quyết tâm trong việc bảo vệ tự do của Việt Nam Cộng hoà. Hoa Kỳ sẽ có những biện pháp cần thiết như Hoa Kỳ đã giải thích, nếu sự xâm lược của người khác vẫn tiếp tục.

Hai: Diễn văn ngày 7 tháng 4 năm 1965 của Tổng thống Johnson và trả lời của Chính phủ Hoa Kỳ đối với lời kêu gọi của mười bảy nước không liên kết xác định một lần nữa là Hoa Kỳ sẵn sàng thương lượng không điều kiện cũng như nói rõ mục đích và hành động tiếp theo của Mỹ để giải quyết hoà bình ở Việt Nam.

Ba: Chính phủ Hoa Kỳ thất vọng thấy những hoạt động ở miền Nam Việt Nam được Hà Nội ủng hộ và điều khiển vẫn tiếp tục không thay đổi mà lại tăng cường. Chính phủ Hoa Kỳ thấy Hà Nội không biểu lộ sự sẵn sàng hưởng ứng lời kêu gọi của mười bảy nước không liên kết, trả lời tiêu cực với đề nghị mới đây của Ấn Độ, ngay cả việc coi đó làm cơ sở để đàm phán.

Bốn: Chính phủ Hoa Kỳ đã báo cho Hà Nội ngày 12 tháng 5 năm 1965 là Hoa Kỳ tạm ngừng oanh tạc trong một thời gian nhiều ngày. Tiếc rằng Hà Nội không hưởng ứng dưới bất kỳ hình thức nào. Chính phủ Hoa Kỳ buộc phải cùng với Chính phủ Việt Nam Cộng hoà tiếp tục oanh tạc lại và tiếp tục xét khả năng tìm một giải pháp mà cả hai bên cùng thực hiện được.

Năm: Chính phủ Hoa Kỳ cần phải nói rõ rằng nếu không có những hoạt động, những cuộc đàm phán dẫn tới giải pháp chính trị, Mỹ sẽ có bất cứ biện pháp nào thấy cần thiết để chống lại những hoạt động tấn công được miền Bắc ủng hộ và điều khiển nhằm chống lại Việt Nam Cộng hoà và chống lại những hoạt động của Hoa Kỳ trợ giúp Việt Nam Cộng hoà
".

Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh tỏ ra kiên nhẫn nghe đại sứ trình bày, rồi thong thả nói:

"Nhân dân Việt Nam quyết tâm đánh trả lại bọn xâm lược Mỹ. Các vấn đề miền Nam Việt Nam phải do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam giải quyết. Còn đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà...Chúng tôi kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền của chúng tôi, chúng tôi không thể nào nhận được những điều kiện của bọn xâm lược. Ngài cũng vui lòng làm người trung gian truyền đạt tới họ quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh bại sự xâm lược của Mỹ trên đất nước chúng tôi”.

Seaborn:

Cám ơn Ngài đã kiên nhẫn vui lòng cho tôi thực hiện chỉ thị của Chính phủ chúng tôi, tuy trong thông điệp đó tôi cũng thấy có điểm không được dễ nghe lắm. Tôi hứa sẽ truyền đạt trung thành những ý kiến của Ngài về Chính phủ tôi để Chính phủ tôi chuyển cho Chính phủ Hoà Kỳ”.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:58:27 PM
CHƯƠNG V
HOA THÁNG NĂM
(MAY FLOWER)

Đây là mật hiệu của đợt ngừng ném bom đầu tiên của cuộc chiến tranh Việt Nam và cũng là đợt ngừng ném bom ngắn nhất. Tuy là đợt ném bom ngắn nhất, nó thể hiện tất cả phương pháp lý luận và cá tính của Johnson trong khi điều hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Vì sợ dư luận nước Mỹ và thế giới phản đối là mở rộng chiến tranh, Johnson cố tình che giấu sự thật. Khi máy bay Mỹ bắt đầu đánh miền Bắc, ông trả lời dư luận là "đây là một bước để đánh bại xâm lược" mà không leo thang chiến tranh. Cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara gọi đây là một "tuyên bố không thành thực”, vì đây là “chiến dịch Sấm Rền" kéo dài ba năm và khối lượng bom thả ở Việt Nam đã lớn hơn ở toàn châu Á trong chiến tranh thế giới thứ hai (Robert S.Macnamara - Nhìn lại quá khứ - Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam (bản dịch), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1995, tt. 178.). Về sau, các cuộc ném bom miền Bắc leo dần từng vĩ tuyến nhưng Johnson vẫn không tuyên bố rõ ràng chính sách về miền Nam, Johnson tăng quân dần dần, mới đầu là ba lữ đoàn rồi từ 28 tháng 7 là triển khai ồ ạt quân Mỹ cho tới hơn năm trăm nghìn. Việc đưa ngay bảy mươi lăm nghìn quân Mỹ vào miền Nam là để đưa quân số ở đây lên một trăm hai mươi lăm nghìn và còn lên hơn thế nữa.

Đó chỉ là phần đầu kế hoạch chiến lược hai năm giành thắng lợi mà Macnamara đã chuẩn bị và Johnson đã phê chuẩn. Ngoài phần quân sự, kế hoạch này còn gồm một phần chính trị ngoại giao dưới đây:

"Cùng với hoạt động quân sự, chúng ta cần có sáng  kiến về chính trị để đặt cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi bằng cách nói rõ mục tiêu của chúng ta và thiết lập các con đường liên lạc. Đồng thời trong lúc chúng ta tiến hành các bước để thay đổi chiều hướng ở miền Nam Việt Nam, chúng ta cần có những cuộc vận động lặng lẽ qua các con đường ngoại giao để.

a. Mở đường đối thoại với Mát-xcơ-va và Hà Nội và có thể với cả Việt cộng nữa.

b. Giữ cho Liên Xô đừng đi sâu vào con đường quân sự trên thế giới cho đến khi hoàn thành một giải pháp.

c. Củng cố sự ủng hộ của công chúng đối với chính sách của Mỹ và hạn chế sự phản đối của dư luận thế giới ở mức độ chịu đựng được. Cố gắng của chúng ta có thể không thành công cho đến khi chiều hướng bắt đầu thay đổi
" (Tài liệu Lầu Năm Góc, C.E. tập IV, tr. 173, 352, 535.).

Macnamara giải thích: 

Tôi không tin rằng lúc này Hà Nội hay Việt cộng sẽ đáp ứng các đề nghị hoà bình của ta vì so sánh lực lượng chưa phải là bất lợi cho họ. Nhưng có những việc có thể làm để tăng triển vọng.

Một: Cần tiến hành các biện pháp để tăng thêm lòng tin vào các cử chỉ hoà bình của ta trong tâm lý đối phương và dư luận thế giới. Có hai cách: Mặc nhiên ngừng ném bom là mãi mãi hay tạm thời Hà Nội sẽ không bằng lòng thương lượng cho đến khi họ đòi được chấm dứt ném bom không điều kiện. Ta sẽ thấy điều đó diễn ra và Mỹ sẽ tự ném bom trở lại.

Xen kẽ việc ném bom: lúc ném bom vùng phía Bắc quanh Hà Nội, Hải Phòng đến biên giới Trung Quốc, lúc chuyển sức mạnh của Mỹ xuồng phía Nam của Bắc Việt Nam. Cách lựa chọn này có nhiều hấp dẫn. Nó cung cấp cho Bắc Việt Nam một yếu tố để giữ thể diện... và cần làm ngay cho họ tin rằng chúng ta sẽ rút quân một khi Bắc Việt Nam chấm dứt xâm lược.

Hai: Tìm cách chia rẽ Việt cộng với Hà Nội.

Ba: Tiếp xúc với bên ngoài để họ tăng sức ép với Hà Nội, với Liên Xô và các nước khác.

Bốn: Phải thảo ra một kế hoạch nói rõ vai trò của Việt cộng sau chiến tranh trong Chính phủ Quốc gia. Chương trình này cần tỏ ra hợp lý nếu không phải với Hà Nội thì ít ra cũng là đối với dư luận thế giới
". (Tài liệu Lầu Năm Góc, Sđd.)


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 12:59:39 PM
Ba tháng sau khi bắt đầu ném bom Bắc Việt Nam, mặc dầu cuộc vận động ngoại giao rầm rộ, áp lực đòi Nhà Trắng chấm dứt ném bom ngày càng tăng, nhất là trong tháng 4 và tháng 5 năm 1965.

Ngày 3 tháng 3 năm 1965, Tổng thống Tito gửi thư cho Tổng thống Johnson yêu cầu ngừng ném bom không điều kiện. Ngày 8 tháng 3, Tổng thư ký U Thant đề nghị họp Hội nghị các nước lớn và hai miền Nam Bắc Việt Nam để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ngày 17 tháng 3, Hội nghị cấp cao mười bảy nước không liên kết họp tại Bêograd kêu gọi lên án sự can thiệp của nước ngoài dưới mọi hình thức và kêu gọi thương lượng không điều kiện tiên quyết để giải quyết vấn đề Việt Nam. Ngày 24 tháng 4. U Thant kêu gọi đình chỉ ném bom ba tháng để đạt tới thương lượng. Các đại diện Đảng Dân chủ trong Quốc hội Mỹ đòi ngừng ném bom ba tháng để đòi Hà Nội rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Tổng thống Ấn Độ Radhakrisnan đề nghị ngừng chiến theo vĩ tuyến 17 và lập một hàng rào ngăn cách bằng lực lượng Á Phi. Một số nhà khoa học Mỹ yêu cầu rút hết mọi sự can thiệp của Mỹ ở châu Á khởi đầu bằng việc ngừng ném bom Bắc Việt Nam. Sinh viên đã chặn trang trại của L.B.Johnson đòi chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam.

Tổng thống Johnson bằng một thái độ có vẻ nhũn nhặn là khước từ mọi gợi ý ngừng ném bom:

Có những người luôn nói về đàm phán và thoả thuận chính trị và nói rằng đó là cách mà họ cho rằng chúng ta nên theo, và tôi đã làm như vậy, tôi bảo: hoan nghênh các bạn gia nhập câu lạc bộ tôi muốn đàm phán. Tôi muốn nói chuyện hơn là đánh nhau nhiều và tôi nghĩ mọi người đều như vậy. Hãy mời bất cứ ai bạn muốn tôi đàm phán, tôi đã tìm kiếm ngang dọc khắp nơi, và tôi là một chàng chăn bò biết điều tốt bụng. Nhưng tôi không thể trói ai đó lại bắt họ phải muốn nói chuyện và giải quyết điều đó bằng đàm phán. Tất cả các nguồn tin tình báo của chúng ta đều nhất trí ở một điểm rằng họ (đối phương) không thấy cần phải đàm phán. Họ nghĩ rằng họ đang thắng và tại sao họ phải ngồi với chúng ta và cho chúng ta một cái gì đó và cùng chúng ta giải hòa” (Grauel Editii, Tài liệu Lầu Năm Góc, Sđd, tr. 363. ).

Trong lúc Tổng thống tìm cách trấn an dư luận như thế thì ông liên tiếp nhận được những báo cáo đen tối về tình hình Việt Nam.

Ngày 4 tháng 5, đại sứ M.Taylor báo cáo rằng: dù các cuộc ném bom có hạn chế thâm nhập của Bắc Việt vào Nam, các lực lượng Việt cộng vẫn duy trì các hoạt động tại chỗ dù có phải chấp nhận những thiệt hại do bị ném bom trong khi các mâu thuẫn giữa các tướng vẫn tồn tại, sự nghi ngờ giữa các nhóm tôn giáo vẫn duy trì, do đó Hà Nội có khả năng mở rộng hoạt động quân sự ở miền Nam: “những hành động này mở ra một thắng lợi cơ bản về quân sự có khả năng loại trừ việc áp dụng không lực của Mỹ và Việt Nam Cộng hoà. Những thắng lợi như vậy sẽ mở rộng phạm vi kiểm soát của Việt cộng và có thể dẫn tới sự sụp đổ chính trị ở miền Nam Việt Nam".

Ngày 22 tháng 4, Hội đồng các nhà dự báo Quốc gia gửi Tổng thống một giác thư với một đánh giá đen tối về tình hình Việt Nam: nếu Mỹ dấn sâu can thiệp của mình vào cuộc chiến và tăng cường lực lượng không quân thì các nhà tình báo tin rằng Việt cộng, Bắc Việt và Trung Quốc sẽ chủ động trong cố gắng loại bỏ việc tăng cường của kẻ thù qua việc hỗ trợ nổi dậy từng bước và tăng cường nhân lực và thiết bị cần thiết. Họ sẽ khai thác lợi thế về thời gian và gây áp lực để các lực lượng Mỹ lún sâu từng phần trong các điều kiện có thể bị sa lầy trong cuộc chiến du kích với hy vọng đưa Mỹ vào thế bị xé lẻ.

Đô đốc Raborne, khi mới nhậm chức Giám đốc CIA, đã báo cáo tình hình miền Nam Việt Nam, đề nghị nên có một đợt ngừng ném bom để có cớ tăng cường ném bom vì ông cho rằng phía Việt Nam vẫn tăng cường chiến đấu dự bị ném bom, và nhấn mạnh: "Chúng ta nên nhớ luôn về khả năng cho một đợt ngừng ném bom tại một thời điểm nào đó thích hợp để có thể kiểm nghiệm về ý định của cộng sản và khai thác những khác biệt của họ".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:00:48 PM
Vấn đề tạm ngừng ném bom không những là một khả năng kiểm nghiệm thái độ của phía Việt Nam mà còn có khả năng rõ ràng làm dịu sức ép của những người đòi chấm dứt ném bom và đó là mặt hấp dẫn của vấn đề.

Thế là tối 10 tháng 5 năm 1965, Johnson gửi cho đại sứ Taylor bức điện tối khẩn:

Tôi được Bộ trưởng Macnamara cho biết rằng chiến dịch Sấm Rền tuần này sẽ kết thúc vào trưa thứ tư giờ Washington. Việc này cùng với ngày lễ Phật đản sẽ là một cơ hội tuyệt vời để tạm ngừng tấn công không quân. Cho tới tuần sau và tôi sẽ có thể gây được ấn tượng tốt đối với thế giới.

Kế hoạch của tôi là sẽ không tuyên bố việc tạm ngừng ném bom này mà chỉ lưu ý riêng với Hà Nội và Mát-xcơ- va và sẽ theo dõi sát sao xem họ có bất cứ phản ứng nào không. Kế hoạch hiện nay của tôi là thông báo về việc chúng ta đã làm cho công luận sau khi việc tạm ngừng ném bom chấm dứt.

Ông có thể gặp Quát (tức Phan Huy Quát, Thủ tướng Sài Gòn ND) vào thứ ba và xem liệu có thể thuyết phục ông ta tham gia vào kế hoạch này của tôi. Tôi mong muốn ông ta dự phần vào quyết định này, nếu có thể được, nhưng cũng sẽ chấp nhận nếu ông ta chỉ xuất hiện mà không có phản ứng chống lại quyết định này của tôi. Nói chung, tôi cho rằng quan trọng là ông ta và tôi nên cùng tham dự vào những việc như thế nào, nhưng tôi cũng không muốn làm khó nếu ông ta bị khó xử về mặt chính trị nếu tham dự tích cực vào cuộc tạm ngừng ném bom nhân dịp lễ Phật đản này.

Chúng tôi đã lưu ý ông, nhưng chưa nhận được đánh giá của ông, về hiệu quả chính trị của việc hành động nhân dịp Phật đản ở Sài Gòn. Theo quan điểm của tôi, có thể lấy ngày Phật đản làm ngày đầu tiên ngừng ném bom nếu việc này mang lại được thuận lợi cho Quát về mặt chính trị. Tôi cho rằng chúng ta nên lôi kéo Tổng giám mục và phái viên của Giáo hoàng để dẹp yên bên Thiên chúa giáo.

Ông nên hiểu rằng dự định của tôi trong kế hoạch này là bắt đầu dọn đường hoặc hướng tới khôi phục hoà bình, tăng cường hoạt động quân sự, tuỳ theo phản ứng của cộng sản. Chúng ta đã thể hiện ý định và cam kết của chúng ta quá nhiều trong hai tháng qua và bây giờ tôi mong muốn có một sự linh động nào đó.

Tôi biết rằng đây thật là một nhiệm vụ thật khó khi chỉ nói tóm tắt thế này, nhưng không ai có thể làm việc này được tốt hơn ông. Tôi giữ kín kế hoạch này trong phạm vi tại đây thôi và mong ông chỉ thông báo với Alexis Johnson (phó đại sứ - ND) thôi. Sau khi nhận được báo cáo của ông về phản ứng của Quát, tôi sẽ ra quyết định cuối cùng và sẽ thông báo ngay cho các quan chức cao cấp có liên quan
”.

Sau khi biết Quát phản đối, Johnson xác nhận lại với Taylor là sẽ ngừng ném bom như kế hoạch đã định. Để giữ bí mật gần như tuyệt đối, từ ngày 12 tháng 5 chiến dịch này mang mật hiệu Hoa Tháng Năm, Những người được biết chiến dịch này là William Sulivan, đại sứ ở Viêng Chăn, Foy Kohler, đại sứ ở Mát-xcơ-va, Willthrop Brown, đại sứ ở Seoul (để thông báo Tổng thống Park Chung Hee sắp đi Mỹ).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:02:00 PM
Chiều ngày 11 tháng 5, Ngoại trưởng Dean Rusk điện báo cho đại sứ Kohler yêu cầu gập đại sứ Nguyễn Văn Kính của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để chuyển bức thông điệp sau đây cho nhà cầm quyền Bắc Việt Nam:

Người cầm quyền cao nhất của Chính phủ này yêu cầu tôi báo cho Hà Nội rằng sẽ không có tấn công bằng không quân trên miền Bắc Việt Nam trong một thời gian bắt đầu từ trưa (giờ Washington) thứ tư ngày 12 tháng 5 cho đến đầu tuần sau.

Trong quyết định này, Chính phủ Hoa Kỳ đã chú ý đến những gợi ý liên tiếp của nhiều phía, kể cả những tuyên bố của đại diện Hà Nội, rằng sẽ không có tiến bộ đi tới hoà bình trong khi còn các cuộc bắn phá bằng không quân ở Bắc Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ tin ràng nguyên nhân cơ bản của tình hình rối loạn ở Đông Nam Á là hành động vũ trang chống nhân dân và Chính phủ Việt Nam bởi các lực lượng do Hà Nội chi phối.

Hoa Kỳ sẽ theo dõi một cách chặt chẽ xem trong thời gian tạm ngừng đó có sự giảm bớt đáng kể trong các hoạt động vũ trang của lực lượng đó không. Hoa Kỳ cần phải nhấn mạnh rằng con đường dẫn tới việc chấm dứt các cuộc tấn công vũ trang chống lại nhân dân và Chính phủ Việt Nam là con đường cho phép Chính phủ Việt Nam (và Chính phủ Hoa Kỳ) chấm dứt vĩnh viễn các cuộc tấn công trên miền Bắc.

Với hành động này, Hoa Kỳ biết rất rõ rằng việc tạm ngừng ném bom có thể bị hiểu lầm là một dấu hiệu của thế yếu và do đó tôi thấy cần nhấn mạnh rằng nếu cuộc ném bom này bị hiểu lầm như vậy, bởi bất kỳ bên nào, thì cần phải chỉ ra một cách rất rõ ràng hơn bất kỳ lúc nào rằng sau khi ngừng ném bom chấm dứt, Hoa Kỳ quyết không chấp nhận sự xâm lược mà không bị giáng trả lại ở Việt Nam.

Tuy vậy, Hoa Kỳ cần nhấn mạnh rằng quyết định chấm dứt các cuộc không tập để thử thách trong thời gian này là một quyết định có thể tự do đảo ngược lại, nếu bất cứ lúc nào trong những ngày tới phía bên kia ở những có hành động cần được đối phó ngay.

Nhưng Chính phủ tôi hy vọng rằng sẽ không có một sự hiểu lầm như vậy và cuộc ngừng không tập đầu tiên này có thể được đáp ứng, cho phép kéo dài hơn việc ngừng loại hoạt động quân sự này với lòng mong đợi rằng sẽ có các hành động xây dựng tương ứng như vậy của phía bên kia
’ (Xem thêm tài liệu Lầu Năm Góc, G.E, tập III, tr. 369.).

Mặt khác, Dean Rusk mời đại sứ Liên Xô Anatoli Dobrynine đến Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo miệng nội dung thông điệp trên, nhưng có trao cho Dobrynine một bản dịch.

Theo tinh thần khẩn trương của Washington, sáng ngày 12 tháng 5, ông Kohler cử tham tán của mình gọi dây nói cho sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị có ngay cuộc gặp trong ngày giữa đại sứ Kohler và đại sứ Nguyễn Văn Kính, vì có chuyện quan trọng. Nhân viên sứ quán Việt Nam cho biết đại sứ Việt Nam từ chối không tiếp đại sứ Mỹ nên gửi công hàm quan trọng và bí mật đó cho Chính phủ Liên Xô với tư cách là đồng Chủ tịch Hội nghị Genève năm 1954.

Kohler báo ngay cho Bộ Ngoại giao Mỹ, xin chỉ thị mới và đề nghị một trong hai cách giải quyết sau: chuyển bức thông điệp bằng công hàm cho người mang tới sứ quán Việt Nam hoặc tìm gặp quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô để chuyển thông điệp.

Bộ Ngoại giao Mỹ trả lời ngay: hành động đồng thời theo hai cách, nếu người Liên Xô không muốn làm trung gian thì yêu cầu họ chuyển thông điệp cho đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà theo gợi ý của họ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:02:59 PM
Kohler chuyển thông điệp "miệng" cho đại sứ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kèm một thư mang chữ ký của ông ta. Thư đó như sau:

Phù hợp với gợi ý do một thành viên của cơ quan tham mưu của ông đưa ra hôm nay, tôi đang cố gắng để gặp quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô tối nay.

Do không thể kịp được và vì sự quan trọng của văn kiện, tôi xin gửi kèm đây bức thông điệp mà tôi đã hy vọng chuyển sớm hơn hôm nay tới ông
" (Kohler).

Một nhân viên sứ quán Mỹ trao tay cho một nhân viên sứ quán Việt Nam Dân chủ cộng hoà, nhưng nó đã bị trả lại sáng hôm sau trong một chiếc phong bì không có tiêu đề sứ quán Việt Nam và chỉ ghi đại sứ quán Hoa Kỳ.

Cùng thời gian, quyền Bộ trưởng Kouznetsov (thay mặt Bộ trưởng Gromyko đi vắng) khi đó cũng bận, nên Kohler xin gặp Thứ trưởng Firiubin. Ông ta trình bày ý nghĩa, nội dung của thông điệp và yêu cầu Liên Xô chuyển thông điệp đó cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Firiubin nói sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không yêu cầu Liên Xô làm việc đó. Kohler nói đã cố gắng tự mình chuyển thông điệp đó cho sứ quán Việt Nam ở Mát-xcơ-va và cuối cùng người ta gợi ý chuyển cho Liên Xô với tư cách là đồng Chủ tịch Hội nghị Genève năm 1954.

Firiubin lúc đầu nói sẽ báo cáo việc này lên Chính phủ mình. Sau đưa một mảnh giấy cho trợ lý Konienko đang cùng dự tiếp khách. Konienko đi ra và trở lại với mảnh giấy mà Firiubin đọc rất kỹ. Sau đó, Firiubin nói rằng Liên Xô không nhận chuyển thông điệp cho Việt Nam vì Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không yêu cầu Liên Xô làm việc đó. Phía Liên Xô cũng nói với phía Mỹ nên tìm con đường khác để chuyển thông điệp cho Hà Nội

Đến đây, Kohler thấy cuộc gặp gỡ mà ông mong muốn với đại sứ Nguyễn Văn Kính không thành. Trong báo cáo gửi ngay sau đó về Washington, Kohler đề nghị nhờ lãnh sự Anh ở Hà Nội chuyển, đồng thời đề nghị rút ngắn và sửa lại thông điệp vì thấy tính chất và cách viết của nó không thích hợp. Bộ Ngoại giao đã gạt bỏ đề nghị thứ hai của Kohler.

Ngày 13 tháng 5, ông E.F.Wood, lãnh sự Anh ở Hà Nội gửi cho Trưởng phòng Ngoại vụ của Uỷ ban Nhân dân Thành phố một bức thư có kèm theo bức thông điệp của Hoa Kỳ mà đại sứ Kính đã không chịu nhận và Bộ Ngoại giao Liên Xô không chịu chuyển. Nhưng hôm sau, bức thư đó cũng đã được trả lại cho lãnh sự Anh.

Bộ Ngoại giao Mỹ tính những con đường khác.

Họ lợi dụng cả Pierre Salinger, một nhà kinh doanh đang có mặt ở Mát-xcơ-va lúc đó về vấn đề sản xuất phim. Nhân một bữa cơm do Mikhail Sagatanwan mời, người mà Salinger đã quen biết ở Washington khi ông ta làm Giám đốc Hãng thông tấn TASS ở đây và lúc bấy giờ đang làm ở hãng TASS Mát-xcơ-va, Salinger nêu vấn đề thông điệp với Sagatenwan. Sagatenwan tỏ ra quan tâm đến thông báo của Salinger và muốn biết thêm quan điểm của Mỹ về một số vấn đề như Hoa Kỳ có tuyên bố công khai hay không về ngừng ném bom, vấn đề ngừng bắn, vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, vấn đề Hội nghị quốc tế...


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:03:28 PM
Ngày 15 tháng 5, khi gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Gromyko tại dinh Thủ tướng Áo Klaus, Bộ trưởng Dean Rusk đã nêu vấn đề Liên Xô viện trợ cho Việt Nam, nhưng Bộ trưởng Gromyko tỏ thái độ dứt khoát, Liên Xô không thương lượng về vấn đề Việt Nam, Mỹ phải quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Tài liệu Lầu Năm Góc, G.E, tập III, tr. 371-378.).

Hai đại sứ Kohler và Kính chẳng gặp được nhau và bức thông điệp của "người cầm quyền cao nhất" nước Mỹ đi kèm với cuộc ngừng ném bom đầu tiên kéo dài năm ngày - từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 5 đã qua nhiều con đường nhưng không con đường nào đưa nó tới người nhận. Tuy vậy, kế hoạch “Hoa Tháng Năm" đã đạt được yêu cầu mong muốn của Johnson, Johnson đã nói trong bức điện gửi đại sứ Taylor ngày 10 tháng 5: mục đích của kế hoạch này là đặt Bắc Việt Nam phải lựa chọn hoặc là bắt đầu dọn con đường cho một giải pháp chính trị khôi phục lại hoà bình theo điều kiện của Mỹ hoặc là để Mỹ tăng cường các hoạt động quân sự.

Theo Johnson, những yếu tố chính của một nền hoà bình công bằng là: một Nam Việt Nam độc lập được người ta bảo đảm an ninh và có thể đặt các quan hệ với tất cả các nước khác, không bị sự can thiệp của nước ngoài, không tham gia một liên minh ràng buộc nào và không bị sử dụng làm căn cứ quân sự của bất kỳ nước nào. Trong quan niệm kiểu hoà bình đó, không một câu nào nói đến việc rút quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam; việc chấm dứt vĩnh viễn ném bom miền Bắc Việt Nam, việc bảo đảm tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam như Hiệp nghị Genève năm 1954 đã quy định.

Bức thông điệp ngày 11 tháng 5 nhằm: hoặc Bắc Việt Nam chấp nhận kiểu hoà bình như trên, hoặc Mỹ sẽ tăng cường chiến tranh ở cả hai miền. Rất hợp với kiểu đe doạ chiến tranh đó là một giọng nói trịch thượng, không chỗ nào nói tới thương lượng, thậm chí không chỗ nào nói đến Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là người đối thoại của mình.

Nếu tính thêm các cuộc tăng quân vào miền Nam Việt Nam trong thời điểm đó thì rõ ràng tất cả đã được chuẩn bị, xếp đặt sao đối phương không thể chấp nhận được mục tiêu thứ nhất của Nhà Trắng. Như vậy, chỉ còn lại khả năng thứ hai: Mỹ đã tỏ được sự mềm dẻo hơn và có thêm cớ để đưa thêm quân vào miền Nam Việt Nam và leo những bước thang mới trong việc oanh tạc miền Bắc Việt Nam.
Hoa Tháng Năm. Một cái tên đẹp cho một sáng kiến hoà bình, nhưng một bình phong quá nhỏ để che đậy hàng vạn quân Mỹ đang rầm rập tiến vào miền Nam và hàng nghìn máy bay bay đen bầu trời Việt Nam gieo rắc tàn phá và chết chóc. Sau khi ném bom trở lại, Mỹ ra sức giải thích và đổ vấy trách nhiệm cho Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:04:24 PM
CHƯƠNG VI
XYZ

Tổng thống Johnson đã vạch ra chiến lược hai gọng kìm để kết thúc chiến tranh Việt Nam. Gọng kìm chính là cuộc chiến tranh trên bộ nhằm làm cho Hà Nội và Việt cộng thấy rằng họ không thể giành được miền Nam Việt Nam. Gọng kìm phụ (ném bom miền Bắc Việt Nam) nhằm làm giảm ý chí và khả năng hỗ trợ Việt cộng của Hà Nội và cũng nhằm tăng cái giá mà họ phải trả để thực hiện được việc đó. Hai gọng kìm sẽ đưa đến một giải pháp.

Trên cơ sở chiến lược hai gọng kìm của Tổng thống, tướng Westmoreland vạch ra chiến lược tác chiến ba giai đoạn:

Giai đoạn một: Chặn các bước tiến của Cộng sản và kéo dài đến 31 tháng 12 năm 1965.

Giai đoạn hai: Từ 1 tháng 1 đến 30 tháng 6 năm 1966 tấn công các lực lượng Cộng sản và mở rộng chương trình bình định nhằm “giành trái tim tình cảm" của công dân Việt Nam.

Giai đoạn ba: Từ ngày 1 tháng 7 năm 1966 đến 31 tháng 12 năm 1967 “phá tan hay làm mất hiệu lực" của các đơn vị có tổ chức còn lại của Việt cộng và các khu căn cứ của họ.

Westmoreland cho rằng bình định và ném bom miền Bắc sẽ ngăn chặn Cộng sản bù đắp lại những thiệt hại do Quân đội Mỹ và Nam Việt Nam sẽ gây ra cho họ thông qua việc tuyển quân ở miền Nam Việt Nam và chi viện từ miền Bắc.

Ngày 7 tháng 6 năm 1965, Westmoreland đã gửi một báo cáo bi quan về tình hình Việt Nam và đề nghị cho thêm bốn mươi mốt nghìn quân chiến đấu và sau đó cần thêm năm mươi hai nghìn quân, đưa tổng số quân Mỹ từ tám mươi hai nghìn quân lên một trăm bảy mươi lăm nghìn quân.

Quyết định ngày 28 tháng 7 củaTổng thống Johnson là để bước đầu đáp ứng yêu cầu của Westmoreland. Không yên tâm, ông thành lập một nhóm các nhà chính trị, quân sự nổi tiếng trong đó có Dean Acheson, kiến trúc sư chính trị tạo nên chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, Arthur Dean, người đã từng tham gia cuộc đàm phán về Triều Tiên, Robert Lovett, cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Truman... để cho ý kiến. Tất cả nhóm, trừ một người đều nhất trí cho rằng cần đưa thêm quân vàoViệt Nam. Những người bảo thủ trong Quốc hội gây sức ép đòi tăng chi phí Quốc phòng để hỗ trợ cho kế hoạch bổ sung đang được thực hiện và các kế hoạch tương lai. Tổng thống cử Bộ trưởng Macnamara đi bàn kế hoạch với tướng Westmoreland ở miền Nam Việt Nam.

Trong khi đó Tổng thống cử Averell Harriman đi Mát-xcơ-va thăm dò Liên Xô về khả năng họp lại Hội nghị Genève năm 1954. Ông lại giao cho George Ball thực hiện kế hoạch XYZ.

Thật ra từ tháng 5, Nhà Trắng đã có ý định mở kênh Paris qua Mai Văn Bộ, Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Theo kế hoạch này, có ba bước: thứ nhất qua Chính phủ Pháp; tiếp đó cuộc nói chuyện riêng với một công dân Mỹ; qua một đại diện được phép nhưng không chính thức của Hoa Kỳ. Cuộc tiếp xúc Mai Văn Bộ với người Pháp và nội dung thông điệp để chuyển cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là hai điểm quan trọng nhất. Pháp yêu cầu Mai Văn Bộ gặp cuộc gặp sáng ngày 18 tháng 5 năm 1965 trước khi Mỹ ném bom trở lại (trong kế hoạch Hoa Tháng Năm) nhưng lúc hẹn gặp nhau, do chênh lệch giờ Sài Gòn với giờ Washington, lại xảy ra tám tiếng sau khi đã có lệnh ném bom trở lại vì thế cuộc gặp không thành. Người Mỹ cho rằng Hà Nội đủ thì giờ chỉ thị cho Mai Văn Bộ dừng tiếp.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:05:11 PM
Ngày 29 tháng 7, một nhà kinh doanh Mỹ thông báo cho Bộ Ngoại giao Mỹ về khả năng thiết lập mối quan hệ với Mai Văn Bộ, Tổng thống Johnson giao cho trợ lý bộ trưởng Bộ Ngoại giao George Ball thực hiện dự án này. George Ball chọn Edmund Gullion, một nhà ngoại giao có kinh nghiệm, nói tiếng Pháp thành thạo và đã phục vụ ở Việt Nam những năm 50.

Gullion xin gặp Mai Văn Bộ với tư cách cá nhân vì Ball cho rằng như thế giữ được sự linh hoạt tối đa trong đàm phán để Chính phủ Mỹ có thể từ bỏ cuộc nói chuyện nếu có vấn đề gì xảy ra. Để đảm bảo bí mật tối đa, dự án này mang mật hiệu là XYZ, X là Gullion, Y là Sturm và Mai văn Bộ là Z, mọi thông tin đều chuyển qua kênh tuyệt mật của sứ quán mà chỉ riêng đại sứ Mỹ biết thôi.

Mục tiêu chính nhiệm vụ của Gullion là thăm dò ý nghĩa những tuyên bố chung và riêng của Hà Nội nhằm xác định xem còn có khả năng nào cho cuộc thương lượng thật sự không. Gullion được hướng dẫn cố gắng xây dựng cơ sở cho một cuộc thương lượng dựa trên "bốn điểm" của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà không thoả hiệp về vị trí của Chính quyền Nam Việt Nam.

Gullion xin gặp Mai Văn Bộ ngày 6 tháng 8 năm 1965.

Mai Văn Bộ chấp nhận.

Mở đầu, Gullion bày tỏ mối quan tâm về sự chết chóc do chiến tranh gây ra và tỏ vẻ lo ngại chiến tranh có thể mở rộng. 

Ông nói: Tổng thống Johnson đang đứng trước áp lực lớn đòi mở rộng chiến tranh. Ông được đa số nhân dân Mỹ ủng hộ nên phải mở rộng chiến tranh và sẽ thắng trong bầu cử tới. Nếu hai bên cứ tiếp tục đánh nhau sẽ không tránh khỏi chiến tranh mở rộng, cho nên phải đàm phán ngoại giao.

Khi đồng chí Mai Văn Bộ nhắc lại âm mưu và lên án sự xâm lược của Mỹ, nói rõ lập trường bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhấn mạnh đó là cơ sở để giải quyết vấn đề,

Gullion.

- Cơ sở là thế nào? Một hay nhiều cơ sở? Rút quân Mỹ trước hay thương lượng rồi mới rút? Bắc Kinh nói Mỹ rút quân là vấn đề tiên quyết, có phải như vậy không?

Trong khi đồng chí Mai Văn Bộ chưa trả lời thì ông ta đã lấy một tờ giấy viết sẵn và đọc:

Một: Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cần tiến hành ngay các cuộc thương lượng không điều kiện tiên quyết và những cuộc thương lượng tiếp theo để bàn biện pháp đưa đến sự công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ như Hiệp nghị Genève năm 1954 đã quy định. Nội dung các cuộc thương lượng đó là: phương thức và giai đoạn rút nhân viên quân sự và nửa quân sự, vũ khí nước ngoài ra khỏi miền Bắc và miền Nam Việt Nam. Sẽ thảo luận việc phá huỷ những căn cứ quân sự nước ngoài, thủ tiêu mọi hiệp nghị và liên minh trái với Hiệp nghị Genèue, việc tập kết, việc bố trí các lực lượng bản xứ.

Hai: Việc tuân thủ nghiêm chỉnh các điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève phải được hoàn thành theo đúng chương trình và bảo đảm thích hợp sẽ được thoả thuận trong các cuộc thảo luận hay thương lượng nói trên.

Ba: Những vấn đề nội bộ của Việt Nam ở miền Bắc và miền Nam do nhân dân Việt Nam ở mỗi miền tự giải quyết, không có sự can thiệp của bên ngoài.

Bốn: Vấn đề nội bộ của Việt Nam được giải quyết một cách hoà bình trên cơ sở quyết định tự do của miền Bắc và miền Nam, không có sự can thiệp của nước ngoài
”.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:06:02 PM
Gullion nói rằng những điều trên đây của Mỹ cũng như lập trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể là cơ sở để thảo luận. Các nước tham gia vào Hội nghị sau này có thể đưa ra cơ sở khác nữa.

Cuối cùng, E.Gullion nói chính sách của Mỹ là muốn thấy một nước Việt Nam thống nhất không có sự can thiệp của Mỹ, Pháp hay Trung Quốc.

Trong cuộc gặp lần thứ hai ngày 13 tháng 8 năm 1965, ông Gullion đọc hai bài báo nói về Johnson bị áp lực phải đẩy mạnh chiến tranh rồi tỏ vẻ lo ngại tình hình sẽ ra sao nếu Johnson không cưỡng nổi áp lực đó. Sau đó ông hỏi ý kiến Mai Văn Bộ về những điểm ông ta đã đưa ra hôm trước.

Mai Văn Bộ nói: Mỹ phải tôn trọng và thi hành Hiệp nghị Genève, thừa nhận lập trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đồng chí cũng nói rằng ý kiến của Gullion chưa đáp ứng lập trường của Hà Nội.

Gullion hỏi ý kiến của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về quyền đại diện của miền Nam Việt Nam. Mai Văn Bộ nêu rõ: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ phải công nhận Mặt trận; Mỹ sẽ thất bại trong âm mưu chia cắt Việt Nam.

Gullion liền thanh minh ngay rằng Mỹ không có âm mưu đó, Mỹ chỉ mong Việt Nam độc lập thống nhất, việc nội bộ Việt Nam do nhân dân Việt Nam giải quyết theo chế độ nào cũng được miễn là không lệ thuộc nước ngoài. Mỹ mong muốn rút khỏi Việt Nam một cách vinh dự. Nếu miền Bắc rút quân (khỏi miền Nam) thì Mỹ sẽ rút ngay. Ông kết luận rằng còn quá khó khăn...Miền Bắc đòi Mặt trận là đại diện duy nhất cho miền Nam ...Mỹ phải chấp nhận trước bốn điểm như vậy còn gì danh dự cho Mỹ, mà lại không có Điện Biên Phủ.

Sau khi hỏi Mai Văn Bộ rằng Trung Quốc có chịu thương lượng không, Gullion nói là ông ta bi quan vì lập trường của Việt Nam quá cứng và doạ “chiến tranh mở rộng thì ghê gớm lắm”

Tưởng câu chuyện đó chấm dứt nhưng ngày 18 tháng 8, E.Gullion lại đến.

Lần này, ông lấy bài báo của nhà sử học Pháp Philippe Devillers phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên tờ Le Monds của Pháp, hỏi lại đồng chí Mai Văn Bộ về quyền đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Khi được trả lời như lần trước, ông lắc đầu cho rằng quan điểm của Việt Nam là không thực tế. Ông hỏi:

- Phía các ông thừa nhận một miền Nam Việt Nam độc lập, trung lập có quan hệ thương mại, đi lại với miền Bắc cho đến khi nào hai bên đồng ý thống nhất bằng phương pháp hoà bình nhưng tại sao lại nói theo cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và cương lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc?

Nhưng ông khách Mỹ thật ra không quan tâm lắm đến sự trả lời cho câu hỏi đó, mà nói rằng câu trả lời của miền Bắc về ba vấn đề sau đây là quan trọng hơn cả: ngừng bắn phá miền Bắc, ngừng chiến tranh ở miền Nam và rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Ông hỏi:

- Ba vấn đề này đặt ngang nhau, thi hành cùng một lúc hay có cái trước cái sau. Rút quân Mỹ có phải là điều kiện tiên quyết hay việc rút quân sẽ được giải quyết trong thương lượng và rút như thế nào?


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:07:20 PM
Bình luận về lập trường của ta, Gullion nói: Mỹ phải thừa nhận bốn điểm, công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng và ngừng bắn phá miền Bắc mà không có dấu hiệu gì đáp lại ở miền Nam thì khó mà đồng tình với nhau được

Ngày cuối cùng của tháng 8 năm đó, ông lại đến cơ quan Tổng đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trịnh trọng tuyên bố với Mai Văn Bộ rằng: Bốn điểm ông ta trình bày đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Dean Rusk xác nhận trong tuyên bố với báo chí: thừa nhận thi hành các điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève năm 1954, thừa nhận tổng tuyển cử ở Việt Nam, Mỹ sẽ ngừng bắn phá miền Bắc nếu có dấu hiệu đáp lại.

Ông lại hỏi vấn đề rút quân, rút trước hay rút sau khi thương lượng. Ông nói hai bên phải cùng rút quân, chẳng hạn miền Bắc rút sư đoàn 325 khỏi miền Nam và hỏi thêm: phía Việt Nam Dân chủ cộng hoà có nhận sự kiểm soát quốc tế ngoài Liên Hợp Quốc không?

Ông ta còn đọc một thông điệp của Chính phủ Mỹ gửi các nước, trong đó nói Mỹ không từ bỏ khả năng ngừng bắn phá Bắc Việt Nam dài hơn với điều kiện là Hà Nội có một dấu hiệu rõ ràng ngừng việc đưa người và vũ khí vào miền Nam, nhất là ngừng rõ rệt mức độ hành động quân sự và hoạt động khủng bố ở miền Nam do sự ủng hộ của miền Bắc gây ra.

Sau khi Tổng đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phản đối Gullion dịu giọng và nói.

- Mỹ không đòi miền Bắc có hành động tương xứng như ngừng mọi hoạt động, mà chỉ yêu cầu có dấu hiệu nào đó như giảm bớt hoạt động khủng bố hay hành động nào đó để cho hai bên có thể từng bước cùng xuống thang đến mức như ở Algéri thì có thể từng bước nói chuyện với nhau mà không ai mất mặt cả.

Trước khi về, Gullion còn nói là cả Tổng thống Johnson và Ngoại trưởng Dean Rusk đều cố gắng tìm cách này hay cách khác để đi đến giải quyết bằng thương lượng mà các ông cứ nói ngang như vậy thì làm sao đi đến thương lượng được?

Ông xin gặp lại vào ngày 7 tháng 9 năm 1965, nhưng Mai Văn Bộ từ chối.

Trong cả bốn lần gặp Mai Văn Bộ, Gullion đều nói đến vấn đề Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng chính trong thời gian đó Washington liên tiếp đưa nhiều đơn vị chiến đấu Mỹ vào miền Nam nước ta. Hoạt động của ông ta chỉ là bộ phận của kế hoạch vận động ngoại giao nhằm che giấu việc tăng quân của Mỹ.

Đầu tháng 11, ông Sturm, một nhà ngoại giao Mỹ nguyên lãnh sự Mỹ ở Hà Nội từ 1952 đến 1954 yêu cầu gặp Mai Văn Bộ. Ông này trước đây đã ủng hộ mạnh mẽ việc Mỹ can thiệp vào chiến dịch Điện Biên Phủ, đặc biệt là về gợi ý đổ bộ quân Mỹ xuống đồng bằng Bắc Bộ.

Khi gặp đồng chí Võ Văn Sung, Bí thư thứ nhất cơ quan ta, ông đưa thư của Gullion đề nghị gặp lại Tổng đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Khi đó, Mai Văn Bộ đã về nước báo cáo.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 01 Tháng Chín, 2009, 01:07:29 PM
Câu chuyện của Sturm xoay quanh sự sẵn sàng thương lượng không điều kiện của Mỹ, lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông ta hỏi: Mỹ làm thế nào để thừa nhận bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà? Thừa nhận bằng cách nào? Theo ông, Mỹ đã đồng ý ba trong bốn điểm: các điểm một, hai và bốn. Còn điểm ba thì khó quá. Mỹ phải nhìn trước nhìn sau. Phía Việt Nam hình dung thế nào về diễn biến tình hình sau khi Mỹ nhận cả bốn điểm? Có phải công nhận khi hai bên còn đánh nhau không? Sau khi hai bên gặp nhau có thể đi đến đàm phán không?

Lúc đầu, câu chuyện được dẫn dắt để người nghe tưởng như Mỹ đã nhận ba trong bốn điểm của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau cùng, Sturm nói: Mỹ sẽ ngừng ném bom miền Bắc nếu Hà Nội chấm dứt thâm nhập vào miền Nam và rút quân về miền Bắc.

Chung quy vẫn là câu chuyện phải có dấu hiệu đáp lại việc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, phải có đi có lại, nghĩa là Mỹ có thể nói chuyện nhưng phải có điều kiện trước.

Sang tháng 1 năm 1966, Sturm lại đề nghị gặp đồng chí Võ Văn Sung nhưng tình hình lúc này đã có diễn biến mới.

Đây là lần đầu tiên một quan chức Mỹ (có thẩm quyền nhưng không chính thức" gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Gullion được chỉ thị ban đầu là “phải vừa mềm dẻo vừa gây áp lực” nói một cách đơn giản và chung chung để thực hiện việc tiếp xúc, X cần tỏ ra mong muốn cho Việt Nam được hoà bình, tự do độc lập và thống nhất, X cần nói rằng việc kéo dài chiến tranh sẽ đưa đến việc Mỹ tăng sức ép và Trung Quốc kiểm soát Bắc Việt Nam, X cần nhấn mạnh rằng không có gì ép được Mỹ rút đi, sức ép đòi mở rộng chiến tranh ở Mỹ đang tăng lên và rất khó mà kiềm chế được.

Và sau mỗi cuộc họp, X lại được chỉ thị cho cuộc tiếp xúc sau.

Mục đích của Mỹ là đánh giá đối phương xem có ý định thương lượng không, có thể tiếp xúc với R được không? Tìm hiểu bốn điểm, điều kiện và thời gian rút quân, cơ sở cho thương lượng, thời gian thống nhất và tổng tuyển cử, thăm dò thái độ của Bắc Việt Nam về đề nghị của Ấn Độ, thái độ đối với Trung Quốc và Liên hiệp quốc, việc dùng vấn đề Lào và Campuchia làm con bài đổi lấy việc thương lượng.

Tháng 11, Y (Sturm) đến gặp đại diện ta với chỉ thị: Y cần nhấn mạnh:

Một: Áp lực ngày càng tăng ở Mỹ đòi mở rộng chiến tranh.

Hai: Dùng chiến thuật chia rẽ Trung Quốc.

Ba: Mở rộng khái niệm về phát triển kinh tế.

Bốn: Hỏi thêm về bị vong lục của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 23 tháng 9 năm 1965.

Washington cho rằng Gullion đã "thực hiện nhiệm vụ một cách nghiêm túc".

Tuy nhiên ông không thuyết phục được Hà Nội đi vào thương lượng trên thế mạnh của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:45:54 PM
CHƯƠNG VII
PHÁI ĐOÀN HOÀ BÌNH CỦA KHỐI LIÊN HIỆP ANH VÀ SỨ GIẢ CỦA TỔNG THỐNG N.KRUMAH

Anh là một trong hai Chủ tịch Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương có nhiệm vụ theo dõi việc thi hành Hiệp nghị Genève về Việt Nam cũng như về Lào và Campuchia.

Nhưng Anh đồng thời là đồng minh của Mỹ, gắn bó mật thiết với Mỹ không những bởi truyền thống ăng-lô - xắc-xông mà còn bởi cái mà người ta gọi là "tình hữu nghị Đại Tây Dương".

Trong việc thi hành Hiệp nghị Genêve về Việt Nam, quan điểm công khai của Luân Đôn là ủng hộ chính sách dính líu của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, ủng hộ Chính quyền Sài Gòn, tán thành duy trì việc chia cắt nước Việt Nam. Họ đã cử R.G.K.Thompson, chuyên gia số một về chống du kích ở Mã Lai sang giúp Chính quyền Sài Gòn chống du kích của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Đương nhiên, họ đã làm ngơ trước việc nhân viên quân sự và vũ khí Mỹ đổ vào miền Nam Việt Nam.

Đầu năm 1965, khi cuộc chiến tranh bắt đầu được Mỹ hoá ở miền Nam Việt Nam, mở rộng ra miền Bắc dưới hình thức một cuộc chiến tranh bằng không quân, Washington phải tiến hành rộng rãi việc biện minh và thuyết phục bằng cách đổ lỗi cho Bắc Việt Nam và tuyên bố “sẵn sàng thương lượng không điều kiện".

Từ sau tuyên bố Baltimore của Tổng thống Johnson, hoạt động ngoại giao của Luân Đôn hướng mạnh mẽ vào việc "tìm kiếm hoà bình" ở Việt Nam.

Từ ngày 14 tháng 4 đến ngày 4 tháng 5 năm 1965, P.G.Walker, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh đi thăm một loạt nước Đông Nam Á nhằm nghiên cứu khả năng giải quyết vấn đề Việt Nam. Trong dịp này, E.F.Wood lãnh sự Anh ở Hà Nội gửi Trưởng phòng Ngoại vụ Thành phố bức thư sau đây:

Chủ tịch Anh của Hội nghị Genève năm 1954 yêu cầu ông báo cho ông Phạm Văn Đồng rằng ông P. G. Walker đại diện đặc biệt của Chủ tịch Anh sẽ đi thăm Đông Nam Á... Xét tính chất nghiêm trọng của những vấn đề ở Đông Dương, đặc biệt là ở Việt Nam, Chủ tịch Anh cho rằng đại diện đặc biệt cần đi thăm Bắc Việt Nam trong chuyến đi này.

Chủ tịnh Anh mong rằng ông Walker sẽ có dịp thảo luận với ông Phạm Văn Đồng về những vấn đề làm cho Chủ tịch Anh quan tâm và khả năng giải quyết những vấn đề đó
".

Bức thư còn viết thêm:

Anh sẽ góp ý kiến với các thành viên của Hội nghị Genève về khả năng tới hoà bình ở Việt Nam".

Cuối cùng, ông Wood xin thị thực nhập cảnh cho ông Walker và người cùng đi để họ tới Hà Nội ngày 26 tháng 4 năm 1965.

Khi đến Viêng Chăn, Walker cho người đến sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lấy thị thực nhưng phía Việt Nam khước từ. Chính phủ Hà Nội không nhận tiếp ông ta vì thấy rằng một cuộc tiếp xúc với ông ta sẽ không mang lại lợi ích gì cho hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương khi chính Thủ tướng Wilson vừa mới tuyên bố ngày 13 tháng 4 trong một cuộc họp báo tại Liên Hợp Quốc: “Hoà bình chỉ có thể lập lại được ở Việt Nam bằng cách tiêu diệt Việt cộng". Tuyên bố đó lộ liễu đến mức là hãng UPI, khi đưa tin này, đã bình luận rằng: "Wilson đứng vững vàng đằng sau chính sách của Mỹ ở Đông Nam Á”.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:47:29 PM
Ngày 17 tháng 6, trong Hội nghị các nguyên thủ các nước khối Liên hiệp Anh tại Luân Đôn, Thủ tướng Wilson đưa ra sáng kiến hoà bình về Việt Nam. Ông đề nghị cử một phái đoàn đặc biệt do ông lãnh đạo đi Mát-xcơ-va, Bắc Kinh, Hà Nội, Sài Gòn và Washington nhằm mục đích “Đánh giá một cơ sở chung có thể có được và những điều kiện triệu tập một Hội nghị quốc tế dẫn tới việc lập lại hoà bình lâu dài ở Việt Nam". Phái đoàn sẽ gồm có nguyên thủ hoặc Thủ tướng các nước Anh, Nigeria, Ghana, Trinnidad Tobago. Đề nghị đó không được toàn thể Hội nghị tán thành vì nó không có tính đại diện cho khối Liên hiệp Anh. Cũng nên nhắc ở đây rằng tính đến 14 tháng 6, theo Hãng thông tấn AP của Mỹ, đã có nhiều nước châu Phi phản đối chính sách của Mỹ ở Việt Nam: Ghana, Zambia, Malawi, Tanzania, Sierra Leone, Ouganda...

Hãng thông tấn Roi-tơ ngày 17 tháng 6 đưa tin: "Tổng thống Johnson đã được báo trước về kế hoạch lập phái đoàn này và đồng ý”. Đài BBC ngày 18 nhận xét: "Chắc chắn Wilson đã không thành lập phái đoàn này nếu không có sự tán thành trước của Mỹ”.

Tổng thống Tanzania Nyerere cho rằng phái đoàn này chỉ phục vụ mục đích tuyên truyền, nước ông phản đối phái đoàn đó và tin rằng nó sẽ thất bại.

Đầu tháng 6, Ngoại trưởng Anh Steward đưa ra kế hoạch sáu điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam trong đó có việc: "Tổ chức Hội nghị Quốc tế để thương lượng ngừng bắn và bảo đảm cho miền Nam Việt Nam khỏi sự xâm lược của miền Bắc”.

Một buổi sáng cuối tháng 6, ông Nguyễn Văn Sao, phóng viên báo Cứu quốc, cơ quan của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam - thực tế là đại diện của Hà Nội tại Luân Đôn được mời đến văn phòng của ông H.Davies, Bộ trưởng, nghị sĩ Công đảng Anh ở Quốc hội. Ông Davies trước đây đã đến thăm Hà Nội và đã được đón tiếp tử tế. Cuối năm 1964, theo đề nghị của ông và nghị sĩ W.Warbey, Hà Nội đồng ý mời hai ông sang Việt Nam. Tháng 1 năm 1965 chỉ có ông Warbey đi. Ông Davies không đi, với lý do bận việc chính quyền. Ông Warbey đã được Chủ tích Hồ Chí Minh tiếp.

Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam đồng ý tiếp ông với tư cách cá nhân. Nhưng ngày 8 tháng 7, khi gặp Phan Tử Nghĩa, Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Uỷ viên Trung ương Đảng Xã hội Việt Nam ra đón ông tại sân bay Gia Lâm, ông lại nói ông đến Việt Nam để thực hiện nhiệm vụ do ông Wilson trao.

Chiều và tối hôm đó, báo chí và đài phát thanh phương Tây đưa tin ầm ĩ rằng Davies sang Hà Nội với danh nghĩa là phái viên của Thủ tướng Wilson để chuẩn bị cho phái đoàn Liên hiệp Anh và sang Hà Nội là do lời mời của Hà Nội, không phải do ông yêu cầu, Hà Nội có vẻ xuống giọng

Hôm sau, tại trụ sở Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, các ông Trần Hữu Duyệt, Tổng thư ký Mặt trận; Phạm Hồng, Phó chủ nhiệm Uỷ ban liên lạc văn hoá với nước ngoài; Phan Tử Nghĩa, Trần Trọng Quát, cựu phóng viên báo Cứu quốc tại Luân Đôn, đã niềm nở đón tiếp ông Davies.

Trần Hữu Duyệt bày tỏ niềm vui mừng được cùng các bạn bè đón tiếp một người bạn cũ và cảm ơn ông về những hoạt động ủng hộ Việt Nam sau chuyến đi năm 1957.

Ông Davies cũng tỏ ý sung sướng được gặp lại các bạn Việt Nam và cảm ơn Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam một lần nữa đã mời ông. Ông nói tiếp:

Mong các ông hiểu cho, tôi là Bộ trưởng trong Chính phủ Anh, phải được phép của Chính phủ Anh mới sang được đây và tôi đã được ông Wilson cho phép".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:49:24 PM
Trần Hữu Duyệt tỏ ý ngạc nhiên với việc ông nói là đại diện cho Chính phủ Anh, chứ không phải với tư cách cá nhân. Davies thanh minh và nói tiếp:

Các ông hãy tin tôi. Ông Wilson không lừa dối các ông... Ông Wilson không tham khảo trước ý kiến của Mỹ về phái đoàn này. Hội nghị Thủ tướng các nước khối Liên hiệp Anh đã tạo điều kiện thuận lợi đi đến một giải pháp cho vấn đề Việt Nam và đã kêu gọi các bên hữu quan hãy kiềm chế những hoạt động quân sự để tiến tới ngừng bắn.

Phái đoàn muốn gặp các bên hữu quan và tìm biện pháp nhích gần lại lập trường bốn điểm mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nêu. Lập trường của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng được chú ý.

Chúng tôi thành thật tin rằng nhân dân thế giới đang tìm mọi cách khuyên khích mở các cuộc thương lượng hoà bình, vì tình hình Việt Nam ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống của nhân dân thế giới.

Tôi có thể nói thẳng với các ông rằng bác bỏ cuộc gặp gỡ này là sai lầm... Mục đích của phái đoàn này không có gì khác là tìm ra một biện pháp hoà bình. Phái đoàn sẵn sàng nghe ý kiến Bắc Việt Nam, nghe Mỹ, mà Mỹ sẽ khó mà bác được các điều phái đoàn đã chấp nhận với Bắc Việt Nam
”.

Ông Davies cho rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiếp phái đoàn dù chỉ hai ngày ở Hà Nội thì bản thân sự kiện đó cũng đã có ý nghĩa chính trị. Ông nhấn mạnh:

Đây là cơ hội để thực hiện tối đa mục tiêu của các ông bằng hoà bình. Nếu các ông bác bỏ thì nhiều năm nữa mới có cơ hội đàm phán nhưng sau một cuộc chém giết lớn. Tình hình hiện nay đặc biệt nghiêm trọng, nên phải xem xét vấn đề một cách thận trọng... Phải có đàm phán trước khi bùng nổ một cuộc chiến tranh hạt nhân. Nếu hàng triệu người Việt Nam chết thì thắng lợi có ý nghĩa gì! Tất nhiên không phải các ông gây ra chiến tranh hạt nhân, nhưng sự việc cứ xảy đến nếu không ngăn chặn được".

Khách quan mà nói, khi đó dư luận phương Tây rất lo sợ Việt Nam sẽ không thể chống lại sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ, nhất là khi bọn "diều hâu” đe doạ đưa Bắc Việt Nam "trở về thời đồ đá”. Washington đã lợi dụng tâm lý đó để lôi kéo dư luận ủng hộ thủ đoạn "thương lượng không điều kiện" của Johnson.

Các bạn Việt Nam đã nói rõ về âm mưu và hành động xâm lược của Mỹ, những tội ác ghê tởm do bom đạn Mỹ gây ra, về lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Giải pháp đúng đắn là Hiệp nghị Genève năm 1954 phải được thi hành nghiêm chỉnh, Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc, để nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình. Đồng thời các bạn Việt Nam cũng đã phê phán thái độ của ông Wilson ủng hộ chính sách của Mỹ ở Việt Nam.

Tất cả những lời thanh minh, thuyết phục, đe doạ của ông Davies đều tỏ ra vô hiệu. Hai ngày tiếp theo là hai ngày khắc khoải mong đợi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp. Tối ngày 11, thấy không còn hy vọng được gặp Thủ tướng, ông Davies yêu cầu gặp Trần Trọng Quát.

Ông hỏi:

- Liệu Thủ tướng Phạm Văn Đồng có biết tôi đang ở Hà Nội không?

- Tôi tin là Thủ tướng biết qua tin tức của báo, đài.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:50:43 PM
Nghe câu trả lời đó, ông Đa-vít đã hiểu tình hình là thế nào. Ông chuyển sang nói với đồng chí Quát một số vấn đề mà ý định khá rõ của ông là để đồng chí Quát báo cáo lên Thủ tướng.

"Chúng tôi thừa nhận rằng vấn đề miền Nam Việt Nam phải được giải quyết trong khuôn khổ hiệp nghị Genève năm 1954. Trong các cuộc đàm phán tương lai, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ có đoàn Đại biểu riêng. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam tiếp Thủ tướng Wilson thì Vương quốc Anh sẽ công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên thực tế và hai bên sẽ đặt quan hệ ở cấp Tổng lãnh sự. Nếu Thủ tướng Wilson thống nhất ý kiến được với Việt Nam thì Tổng thống Johnson không phản đối được. Ghalla nói với Mỹ, Mỹ sẽ không nghe. Tôi có thể ở lại Hà Nội thêm ít ngày nếu lãnh đạo Việt Nam tiếp tôi”.

Nhưng ngày 13 tháng 7, Davies rời Hà Nội, tất nhiên không vui vẻ lắm.

Ngày 19 tháng 7 trước Quốc hội Anh, Thủ tướng Wilson đã bênh vực chính sách của Tổng thống Johnson về Việt Nam và tuyên bố.

Chiến tranh sẽ được đẩy mạnh; Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm về việc đó... Mỹ sẽ đánh Việt Nam mạnh hơn đế trừng phạt những người không chịu ngồi vào bàn thương lượng”. (Tin Reuter, UPI.)

*
*   *

Như trên đã nói, trong phái đoàn mà Wilson dự định thành lập người ta dự kiến có Tổng thống Ghana N.Krumah. N.Krumah là một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng ở châu Phi, đã lãnh đạo phong trào độc lập của nhân dân Ghana. Ông là người bạn của nhân dân Việt Nam, luôn luôn ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt Nam. Khi Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, đưa quân Mỹ vào miền Nam, ông đã ủng hộ lập trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đặc biệt là đã quyết định đặt quan hệ ngoại giao ở cấp đại sứ với nước ta. Dư luận thế giới coi đây là một hành động dũng cảm.

Tổng thống N.Krumah nhận tham gia phái đoàn Liên hiệp Anh với lòng mong muốn chân thành đóng góp vào việc lập lại hoà bình ở Việt Nam và cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dânViệt Nam.

Khi ông Davies sang Hà Nội, Tổng thống đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu những suy nghĩ của ông về vấn đề Việt Nam. Ông viết:

Tôi tin rằng một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam có thể dẫn tới việc thực hiện những mục tiêu mà nhân dân Việt Nam đang chiến đấu và hy sinh”. Và "Có khả năng hợp lý để thực hiện việc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam bằng thương lượng". Ông cho rằng ít nhất cũng nên thử xem "việc đó có thực hiện được không” vì “nếu thực hiện được mà không đổ máu hơn nữa và không phải thoả hiệp một chút nào các nguyên tắc và mục tiêu đấu tranh của nhân dân Việt Nam thì điều đó không chỉ có lợi cho nhân dân Việt Nam mà cho cả hoà bình thế giới”.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời bức thư trên, các cuộc ném bom của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam đã vượt quá vĩ tuyến 20. Chủ tịch vạch rõ thực chất của cái gọi là cuộc vận động hoà bình của Mỹ:

Chính trong lúc đó, Tổng thống Mỹ Johnson và những người ủng hộ ông ta như Thủ tướng Wilson ráo riết đẩy mạnh cái gọi là vận động hoà bình của họ để che đậy việc tăng cường xâm lược Việt Nam và đánh lừa dư luận".

Người còn nêu những nước trong Liên hiệp Anh đang tham gia cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam:

Về Liên hiệp Anh, ngoài Thủ tướng Wilson là người trước sau ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam còn có Australia, New Zealand, là hai nước đã đưa quân sang giúp Mỹ đánh lại nhân dân Việt Nam.

Trong điều kiện như vậy thì làm sao người ta có thể tin tưởng phái đoàn gọi là hoà bình của Liên hiệp Anh được
".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:51:32 PM
Tuy vậy, thể hiện tình hữu nghị của nhân dân Việt Nam đối với Tổng thống và nhân dân Ghana, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ngỏ lời mời Tổng thống:

Nếu Tổng thống N.Krumah có dịp sang thăm hữu nghị đất nước Việt Nam thì tôi sẽ rất hoan nghênh và vui lòng thảo luận vấn đề với Tổng thống".

Tổng thống N.Krumah cử ngay Bộ trưởng K. Armah, cao uỷ Ghana tại Luân Đôn, sang Hà Nội với nhiệm vụ tìm hiểu tình hình và thu xếp chuyến đi thăm hữu nghị Việt Nam của Tổng thống. Mười ngày sau, đặc phái viên của Tổng thống đã tới Hà Nội. Cùng đi với ông Bộ trưởng có tiến sĩ J.Bosman, đại sứ Ghana tại Pari, ông Fred Arhut, Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Ghana. Cuộc đón tiếp phái đoàn đơn sơ trong hoàn cảnh chiến tranh, nhưng hữu nghị và chân thành.

Ngay hôm sau, ngày 26 tháng 7 năm 1965, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tiếp ông Armah. Hai bên đã trao đổi ý kiến về tình hình Việt Nam và về chuyến đi thăm Việt Nam sắp tới của Tổng thống N.Krumach.

Về mục đích chuyến đi thăm Việt Nam của đoàn, ông Ac-ma nói: Trước tình hình đặc biệt nghiêm trọng hiện nay ở khu vực, sự quan tâm của dư luận thế giới, của các nước Á Phi và của Tổng thống chúng tôi càng trở nên sâu sắc.

Lập trường của Ghana từ trước tới nay trong vấn đề Việt Nam là phải triệt để thi hành Hiệp nghị Genève, tức là thực hiện ba nguyên tắc mà hầu hết các nước Á Phi ủng hộ là độc lập, thống nhất và chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Đánh giá tình hình Việt Nam hiện nay, ông nói đại ý: Nhân dân Việt Nam đang tiến hành một cuộc đấu tranh không khoan nhượng, vô cùng oanh liệt. Nhân dân Ghana cũng như nhân dân Á Phi hết sức ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa đó. Nhân dân Việt Nam ở hai miền đã giành được nhiều thắng lợi. Việt Nam đang ở thế mạnh. Mỹ đã thấy không thể đè bẹp được ý chí của nhân dân Việt Nam. Mỹ muốn trở lại Hiệp nghị Genève năm 1954 bằng một hiệp nghị khác. Hiện nay lập trường của Việt Nam và Mỹ không xa nhau. Việt Nam gắn bó với Hiệp nghị Genève, Mỹ cũng muốn thi hành Hiệp nghị đó.

Nhân dân Á Phi có thể làm trung gian để tiến hành đàm phán, thử lòng thành thật của Mỹ trong việc kêu gọi hoà bình.

Sau khi trình bày âm mưu chiến lược của Mỹ ở Đông Dương và Đông Nam Á từ sau Hiệp nghị Genève năm 1954, Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh đã vạch rõ: Mỹ nói thương lượng không điều kiện nhưng thực tế đặt ra nhiều điều kiện. Sau đó, Bộ trưởng trình bày lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và lập trường năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Ngày 27 tháng 7, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Bộ trưởng Armah và các vị cùng đi tại Phủ chủ tịch (Những lời Hồ Chủ tịch nói chuyện với Bộ trưởng Armah trong chương này được tác giả viết theo "Lược ghi biên bản tiếp xúc Hồ Chủ tịch – Ác-ma" của Nguyễn Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch của Bộ Ngoại giao.). Tình hình Hà Nội lúc này chưa bị ném bom nhưng rất căng thẳng. Mỗi ngày có hàng chục lần báo động. Thực tế trong tháng 7 máy bay Mỹ đã đánh vào thành phố dệt Nam Định, cách Hà Nội chưa đến một trăm km và liên tục đánh hệ thống đường sắt Tây bắc Hà Nội. Từ cách tổ chức làm việc đến cách chiếu sáng ban đêm, nhịp sống ngoài đường phố, tất cả là thời chiến.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:52:50 PM
Phủ chủ tịch trang nghiêm, vắng vẻ. Phòng tiếp khách của Chủ tịch như một ốc đảo yên tĩnh giữa một thành phố đang chờ cơn bão lửa có thể ập đến bất cứ lúc nào. Với một câu chào bằng tiếng Anh và cái bắt tay thân mật, Người đã làm cho các vị khách cảm thấy thoải mái.

Người hỏi thăm sức khoẻ của Tổng thống N.Krumah và cảm ơn Tổng thống đã cử các vị đến đây. Người cảm ơn các vị đã sang thăm Việt Nam, mang tình hữu nghị của nhân dân Ghana đến cho nhân dân Việt Nam. Mong các vị mạnh khoẻ, vui vẻ, thoải mái.

Người nói:

Các vị đã đi rất xa từ Ghana đến Việt Nam, tính trên bản đồ là một phần ba trái đất. Tuy nhiên, xa thì xa, nhân dân Việt Nam và nhân dân Ghana có nhiều điểm giống nhau. Nhân dân Ghana phải phấn đấu lâu năm mới giành được độc lập. Nhân dân Việt Nam cũng phải đấu tranh gần một trăm năm. Tổng thống Ghana và Người nói riêng cũng có nhiều cái giống nhau, vì cùng phấn đấu, cùng ở tù như nhau. Vì vậy, hai nước chúng ta có cảm tình đặc biệt với nhau.

Chắc các vị sang Việt Nam cũng muốn tìm hiểu tình hình Việt Nam cho rõ hơn
(các vị khách gật đầu).

Hôm qua, đế quốc Mỹ đã hoan nghênh các vị bằng cách cho bốn mươi chuyến máy bay leo thang ra miền Bắc. Để tỏ tình quyến luyến với họ, chúng tôi đã hạ sáu máy bay, bắt sống ba phi công. Từ nay đến hết chiến tranh, chúng tôi sẽ phải nuôi họ, Chính phủ Mỹ không phải trả tiền”.

Nhân đây Người trình bày tóm tắt lập trường của Việt Nam.

Chúng tôi biết nhân dân Ghana đồng tình, ủng hộ chúng tôi và có cảm tình với chúng tôi. Tuy nhiên, về tình hình Việt Nam cũng có người biết, có người không biết, cho nên tôi cũng xin kinh qua các vị để giải thích cho anh em Ghana.

Trước hết, xin nêu một ví dụ. Khác với Chính phủ Nhật, nhân dân Nhật ủng hộ chúng tôi. Có một tu sĩ Nhật gặp một người Việt Nam. Đó là một người có đạo đức, yêu chuộng hoà bình. Người đó hỏi người Việt Nam: Là một người Nhật, tôi hết sức ủng hộ nhân dân Việt Nam. Theo báo chí của Chính phủ Nhật, tôi thấy Mỹ đã mười ba lần tìm biện pháp để đi tới hoà bình nhưng tại sao Việt Nam lại từ chối?. Như thế nghĩa là thế nào? Người thầy tu Nhật đó có lòng tốt nhưng ông ta không hiểu rõ tình hình. Ông ta chỉ xem báo chí của Chính phủ Nhật thôi. Vì vậy, ông ta cho là Mỹ muốn hoà bình, còn Việt Nam thì hiếu chiến. Sau khi người Việt Nam giải thích, ông ta rõ, ông ta khóc và ôm hôn người Việt Nam


Tôi nhắc lại câu chuyện đó để nói rằng nhân dân cả thế giới đều ủng hộ chính nghĩa của chúng tôi, nhưng không phải là mọi người đều hiểu rõ bản chất của vấn đề, đồng thời để tự phê bình tuyên truyền của chúng tôi ra nước ngoài làm còn kém. Chắc ở Ghana cũng như ở nước bạn châu Phi không có nhiều tài liệu về cuộc kháng chiến của Việt Nam (các vị khách gật đầu).

Miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Việt Nam, nòi giống, văn hoá, tiếng nói đều là Việt Nam. Hiệp nghị Genève năm 1954 nói nước Việt Nam phải được thống nhất, nhưng Mỹ đã cản trở việc thống nhất nước Việt Nam nhằm biến miền Nam thành một thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Mỹ đã can thiệp vào miền Nam, lúc đầu chúng dùng bọn tay sai, nhưng trước sự đấu tranh của nhân dân miền Nam, Mỹ chưa thấy đủ vì bọn tay sai ngày càng suy yếu và tan rã, nên chúng trực tiếp nhúng vào.

Miền Nam mới là nửa nước Việt Nam mà chúng đã thất bại, nay chúng lại leo thang ra miền Bắc hòng gỡ thế bí ở miền Nam. Đánh một nửa nước Việt Nam chúng đã sa lầy, nay chúng định đưa chiến tranh ra cả nước Việt Nam, chúng càng sa lầy thêm. Một kẻ địch chúng đã không chống cự nổi mà chúng còn muốn gây ra hai kẻ địch. Chúng xâm lược, chúng lại nói miền Bắc xâm lược miền Nam, không ai có thể tin rằng miền Bắc Ghana đi xâm lược miền Nam Ghana..
.”


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:54:11 PM
Armah

Nói như thế là không lô-gích.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Đó là cái lô gích của họ. Mỹ xa cách Việt Nam hơn cả Ghana thế mà Mỹ đã đưa quân đội, đưa cả bộ máy chiến tranh, đưa cả chó ngao sang Việt Nam. Một con chó ngao Mỹ ăn một ngày 1,2 đô - la Mỹ, trong khi đó một lính Sài Gòn chỉ được 0,2 đô -la. Điều đó chứng tỏ văn minh của bọn đế quốc.

Gần đây, Chính phủ Mỹ nói rất nhiều đến hoà bình. Tổng thống Johnson, Ngoại trưởng Dean Rusk tuần nào cũng nói. Họ nói rằng người Việt Nam hiếu chiến, người Việt Nam không muốn hoà bình, còn Mỹ thì muốn. hoà bình, nhưng bây giờ Mỹ ồ ạt đưa lính vào miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh ở đó và cho máy bay ngày đêm bắn phá miền Bắc Việt Nam. Chúng tôi là người trong cuộc mà có lẽ người trong cuộc nghĩ không đúng. Vậy tôi xin hỏi các vị: Mỹ nói hoà bình trong hoàn cảnh như thế có phải thật sự Mỹ muốn hoà bình không
?”

Armah :

Thưa Chủ tịch, trong ván cờ mà một bên là Việt Nam, một bên là đế quốc Mỹ, chúng tôi là một nước Á Phi có liên quan gián tiếp đến vấn đề. Chủ tịch hỏi Mỹ có thành thật không khi nói đến hoà bình. Nếu được phép trình bày thiển ý của tôi thì tôi xin nói: toàn thể châu Á và châu Phi đều chống sự xâm lược của Mỹ: Ghana không cần đợi giải thích rồi mới lên án cuộc xâm lược đó. Nhưng một tình hình mới đã xuất hiện.

Hôm qua, ông Phó Thủ tướng có nói Mỹ muốn đạt được ở Hội nghị những cái mà họ không đạt được trên chiến trường. Nhưng nhân dân Á Phi và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới không để cho họ thực hiện được mục đích của họ tại bàn Hội nghị. Toàn thế giới đều biết những thắng lợi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Á Phi thấy rằng nên thăm dò khả năng thương lượng không phải vì nhân dân Việt Nam đang ở thế yếu.


Trái lại, chúng tôi cho rằng nhân dân Việt Nam đang ở thế mạnh. Điều này đã được chứng tỏ bởi những thắng lợi của Mặt trận ở Biên Hoà, Bình Giã, Plây-cu, Quy Nhơn và gần đây ở Ba Gia. Nhân dân miền Bắc tính đến nay đã hạ được bốn trăm mười hai máy bay Mỹ. Thế mạnh của Mặt trận còn được chúng minh bởi việc Mặt trận đã giải phóng được ba phần tư đất đai và mười trong số mười bốn triệu dân. Do đó, không ai nghĩ rằng nếu chúng ta thăm dò khả năng hoà bình là chúng ta xuất phát từ thế yếu.

Tướng Taylor chủ trương một cuộc chiến tranh toàn diện ở miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Giới ngoại giao phương Tây đều cho rằng việc cử Cabot Lodge thay Taylor có nghĩa là một sự thay đổi hoàn toàn về chính sách. Mỹ đã thấy không thể dùng quân sự để thắng trong chiến tranh được. Sở dĩ chúng tôi nghiêng về thăm dò khả năng hoà bình vì thấy rằng những thắng lợi rất to lớn của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và của nhân dân Việt Nam đã đẩy Mỹ vào thế bị động phòng ngự. Họ chỉ còn có thể tăng cường quân sự nhưng họ không thể thắng bằng quân sự được. Họ phải nói đến hoà bình để tránh cho địa vị của họ khỏi bị sụp đổ hoàn toàn. Họ bắt buộc phải chấp nhận điều đó
.

Không ai có thể trách nhân dân Việt Nam đấu tranh để giành quyền lợi của mình. Chúng tôi lo lắng trước việc Mỹ dùng chất độc làm ba mươi nghìn người bị nhiễm độc, năm mươi nghìn người bị chết, tám trăm nghìn người bị tàn phế và bốn trăm nghìn người bị tù đầy... Chúng tôi lo lắng trước việc máy bay Mỹ ném bom bắn phá làng mạc, bệnh viện, trường học ở miền Bắc. Không nghi ngờ gì nữa, toàn thể nhân dân Á Phi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:54:59 PM
Như tôi đã nói ở trên, chúng ta thăm dò khả năng hoà bình không phải là vì thế yếu. Mỹ không thể thắng được Việt Nam, nhiều lắm là họ có thể tạo ra một tình thế hoàn toàn bế tắc cho cả hai bên, trong một thời gian dài. Thực tế là như vậy. Nếu chúng ta có thể tạo nên một tình thế bảo đảm được độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, không làm gì tổn hại đến các nguyên tắc và mục tiêu của nhân dân Việt Nam và bảo đảm cho Hiệp nghị Genève năm 1954 được thi hành triệt để, nếu chúng ta tạo nên được một tình thế cho tất cả các nước Á Phi cùng với Việt Nam đến bàn Hội nghị và nói với Mỹ: "Các anh không có việc gì làm ở đây’, thì chắc chắn sẽ có ảnh hưởng lớn, vì đây không phải là sự phản đối của từng nước riêng lẻ. Nếu chúng ta thực hiện được những nguyên tắc và mục tiêu của chúng ta không chút thoả hiệp nào, lại đỡ tổn thất nhất thì chúng tôi cảm thấy nên thăm dò khả năng đó. Chúng ta không thể trông cậy vào Anh với tư cách là một trong hai Chủ tịch Hội nghị Genève. Chúng tôi muốn rằng trong việc thực hiện trên cơ sở của Hiệp nghị Genève, nhân dân Á Phi được nói lên tiếng nói của mình. Chúng tôi cho rằng các nước phương Tây không thể nào cưỡng lại được áp lực ngoại giao của các nước Á Phi.

Tổng thống N.Krumah cho rằng cuộc xung đột hiện nay là do âm mưu của chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ không thể nào phá hoại được ý chí của nhân dân Việt Nam đang đấu tranh chính nghĩa để giành tự do và độc lập. Tổng thống đã đánh giá tình hình một cách thực tê, thấy rằng nếu Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam thì chế độ bù nhìn sẽ sụp đổ, các lực lượng giải phóng sẽ tiếp quản. Các Chính phủ nối tiếp nhau ở miền Nam Việt Nam đã chứng tỏ điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà đến nay đã có hai chục lần thay đổi Chính phủ. Nếu ta có thể thực hiện được bằng thương lượng việc Mỹ rút khỏi Việt Nam mà không làm tổn hại gì đến những nguyên tắc và những mục tiêu của nhân dân Việt Nam thì điều đó sẽ có lợi cho nhân dân Việt Nam và cho hoà bình thế giới.

Tổng thống chúng tôi đã nói cho thế giới biết Tổng thống ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Nhưng tại sao Tổng thống lại nhận lời tham gia phái đoàn hoà bình của Liên hiệp Anh. Trong Liên hiệp Anh, Australia, Neu Zeeland có quân đội đang tham chiến cùng với Mỹ ở miền Nam Việt Nam, điều đó làm cho người ta hết sức nghi ngờ phái đoàn. Tổng thống chúng tôi tham gia vì muốn ngăn không cho Anh tiếp tục ủng hộ sự xâm lược của Mỹ và tranh thủ sự ủng hộ của hai mươi mốt nước trong Liên hiệp Anh đối với việc thừa nhận vai trò quan trọng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Như Chủ tịch đã biết, ngày 7 tháng 4 năm 1955, Tổng thống Johnson đã tuyên bố rằng Mỹ không thừa nhận Mặt trận và sẽ không tiếp xúc với Mặt trận. Tổng thống N.Krumah đặt điều kiện là phải tiếp xúc, phải thừa nhận Mặt trận. Các nước Liên hiệp Anh đã chấp nhận điều kiện đó. Đây là một thắng lợi của lẽ phải, một thắng lợi của nhân dân Á Phi và Việt Nam.

Tổng thống N.Krumah cho rằng nói đến đàm phán không phải là ủng hộ đế quốc. Tổng thống chúng tôi ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống đế quốc. Chủ trương của miền Bắc Việt Nam là muốn giải quyết vấn đề phải thừa nhận các quyền cơ bản của nhân dân Việt Nam (hoà bình, độc lập thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ), phải tôn trọng các điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève, việc hoà bình thống nhất Việt Nam phải do nhân dân hai miền tự giải quyết lấy, không có sự can thiệp của nước ngoài. Đó cũng là lập trường của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đòi dân chủ cho nhân dân, thành lập Chính phủ liên hiệp, thi hành Hiệp nghị Genève. Chúng tôi thấy cần bàn đến lập trường của Mỹ như thế nào so với lập trường của miền Bắc và Mặt trận.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:55:44 PM
Như tôi đã nói, các giới ngoại giao phương Tây cho rằng Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh và rút lui. Chúng tôi có cảm tưởng rằng sau khi Mỹ rút, cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam sẽ được bảo đảm tự do. Miền Nam sẽ không có quân đội, căn cứ quân sự nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự, hai miền sẽ trung lập. Quan hệ giữa hai miền sẽ do nhân dân tự giải quyết. Như vậy lập trường của miền Bắc Việt Nam và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cũng không xa lập trường của Mỹ lắm, mà trái lại gần nhau. Căn cứ vào đó có thể tìm ra được một giải pháp làm cho nhân dân Việt Nam không mất gì, không phải thoả hiệp gì cả.

Như tôi đã nói, hiện nay Mỹ muốn thương lượng. Nhân dân các nước Á Phi, nhân dân Ghana đều tin rằng Việt Nam quyết giành độc lập, thà hy sinh tất cả chứ không chịu làm nô lệ. Đó cũng là quyết tâm của Tổng thống N.Krumah. Ghana cũng như Việt Nam sẵn sàng chịu mọi hậu quả để giành tự do. Chúng tôi đã từng đấu tranh, tổng bãi công. Nhiều người trong chúng tôi bị tù đầy hy sinh, nhiều người, đỗ đạt trong tù. Chúng tôi thấy vinh dự, phẩm giá là ở tinh thần đấu tranh giải phóng độc lập, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Chúng tôi đã trải qua một trăm năm bị thống trị. Chúng tôi không phải là hạng người thoả hiệp với bọn đế quốc. Sở dĩ chúng tôi nói đến các nước Á Phi đứng ra làm trung gian để tiến tới một cuộc Hội nghị là vì chúng tôi thấy chiến tranh đã diễn ra lâu rồi, dù triển vọng thắng lợi của bên này hay bên kia như thế nào đi nữa, qua các dấu hiệu, hiện thấy có rất ít khả năng giải quyết được cuộc xung đột bằng quân sự. Về điểm này Việt Nam có thể có ý kiến ngược lại.

Chúng tôi nghĩ cần để cho Mỹ rút mà không có cảm tưởng bị làm nhục. Chúng tôi cũng nghĩ rằng tính chất vĩ đại của một nước không phải là ở chỗ đất đai rộng hẹp mà là ở tinh thần nhân dân nước đó. Theo ý kiến chúng tôi, Mỹ không thể nào bị tống cổ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà nhân dân miền Nam Việt Nam không bị tổn thất nhiều về người, về của. Chúng tôi không nói nhân dân Việt Nam không có khả năng đuổi cổ Mỹ đi, nhưng việc đó sẽ dẫn tới những phá hoại to lớn. Nếu chúng ta có thể tránh được mà vẫn thực hiện được mục đích, không tổn hại gì đến mục tiêu và nguyên tắc đã đề ra là độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam thì nên thăm dò khả năng đó. Một cuộc Hội nghị có thể đưa lại kết quả như thế.

Chúng ta thăm dò khả năng thương lượng không phải vì sợ sệt hoặc vì yếu. Nhân dân Việt Nam đã có một thành tích rất rực rỡ mà cả thế giới đều biết. Nhân dân Á Phi nhận thức rõ cần chấm dứt chiến tranh để cho nhân dân Việt Nam có thể kiến thiết nhanh chóng. Nếu có một cuộc Hội nghị, chúng ta sẽ không mất gì cả mà trái lại sẽ giành được đất nước Việt Nam, hoà bình sẽ được duy trì và chúng ta sẽ được tự do.

Chúng tôi hành động theo ý muốn tự do của chúng tôi, không bị ai thúc ép cả. Ghana cũng như tất cả các nước Á Phi đều muốn nhân dân Việt Nam thực hiện những mục tiêu của mình mà không phải đổ máu thêm. Những đau khổ của nhân dân Việt Nam cũng là đau khổ của nhân dân Á Phi. Chúng tôi đến đây không phải để làm tổn hại đến lập trường của Việt Nam. Nếu lập trường của Việt Nam bị tổn hại thì sẽ là một tai hoạ lớn mà nhân dân Á Phi không thể tha thứ được. Chúng tôi nghĩ đất nước sẽ không phát triển được nếu không được yên ổn. Đó là điều chúng tôi đưa đến để trình bày với Chủ tịch. Ý kiến của tôi có thể sai. Tổng thống N.Krumah mà Chủ tịch coi là anh em đã tỏ tình đoàn kết với Việt Nam và sẽ đến đây ngay khi nào có thể đến được. Nếu có sự trả lời của Chủ tịch, chúng tôi sẽ mất độ nửa tuần để trở về Ghana. Tổng thống chúng tôi sẽ đến vào lúc nào mà Chủ tịch thấy thuận tiện.

Chúng tôi sẽ rất sung sướng nếu được thư trả lời của Chủ tịch để mang về cho Tổng thống chúng tôi.

Chúng tôi hết sức cảm động trước lòng mến khách đã được biểu lộ đối với chúng tôi từ khi đến Hà Nội.

Chúng tôi đã thấy quyết tâm của nhân dân Việt Nam và sẽ báo cáo với Tổng thống N.Krumah. Các đại diện của Việt Nam: ông Sao ở Luân Đôn, đại sứ Việt Nam ở Mát-xcơ-va, Pra-ha, Bắc Kinh đều tỏ thái độ rất hợp tác. Chúng tôi rất sung sướng thấy Việt Nam sẽ có đại sứ ở Acra. Đại sứ chúng tôi ở Bắc Kinh sẽ tới đây. Chắc chắn là quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ được thắt chặt thêm



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:56:44 PM
Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Ở đây chúng ta nói chuyện với nhau như những người anh em, cho nên, tôi nói thật, ý kiến dù không khớp cũng nói.

Một lần nữa tôi xin nói: nhân dân Việt Nam cảm ơn Tổng thống N.Krumah và nhân dân Ghana anh em đã lo lắng sự lo lắng của nhân dân Việt Nam, buồn phiền sự buồn phiền của nhân dân Việt Nam, vui mừng trước những thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

Có lẽ anh em Ghana, trong đó có vị trong phái đoàn, không hiểu về Mỹ. Các vị đã lấy lòng người quân tử để xét đoán bụng dạ của kẻ tiểu nhân.

Vấn đề phái đoàn của Wilson không cần nhắc đến nữa. Sau khi Davies sang đây, họ nói Việt Nam hiếu chiến cần phải xử phạt, họ đe doạ chúng tôi. Cách đây mấy năm, Đa-vít có đến đây, ông ta là một người thuộc cánh tả của Công đảng Anh, là một người đấu tranh cho hoà bình, cho công lý và chống đế quốc. Cho nên trước đây chúng tôi tiếp đón ông ta rất tử tế. Lần này, ông ta sang đây có hai mặt. Khi xin thị thực, ông ta nói sang với tư cách cá nhân, nhưng trên đường đi ông ta lại nói có sứ mạng của Wilson nên chúng tôi không tiếp.

Các vị nói Mỹ không muốn rút khỏi miền Nam Việt Nam như bị đuổi ra. Chúng tôi nghĩ Mỹ đến như thế nào thì cứ việc rút ra như thế ấy. Chúng tôi sẵn sàng hoan tống họ. Tổng thống Johnson nói: Mỹ đã đưa danh dự của mình cam kết ở Việt Nam. Tôi không hiểu ông ta muốn nói gì. Phải chăng danh dự của Mỹ là ở bom na-pan, bom lân tinh, bom hơi độc và chó ngao? Hay là nên nói danh dự của một nước lớn như Mỹ là ở chính nghĩa. Nếu họ hiếu danh dự đúng như chúng ta hiểu thì họ cần nói rằng quân đội Mỹ đã gây ra sự phá hoại, chết chóc nhiều rồi, giờ đây nên quay đầu trở lại.

Mỹ nói Mỹ muốn hoà bình, chúng tôi cho đó là dối trá. Một ví dụ: có một bọn cướp vào làng, Việt Nam cũng có những làng như Ghana, chúng cướp của giết người, bố trí canh gác các nơi, sau đó chúng bảo người trong làng: thôi ta nói chuyện hoà bình đi! Làm sao có thể tin chúng được. Đó chính là tình hình hiện nay ở Việt Nam.

Ông Bộ trưởng vừa nói: nếu chúng ta ngồi lại với nhau, có đại diện các nước Á Phi họp thành một khối ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ thì sức mạnh ủng hộ càng tăng lên. Điều đó rất đúng. Nhưng ngồi lại ở đây không phải một bên là Mỹ, một bên là chúng tôi có các nước Á Phi bên cạnh. Mong rằng nước Ghana anh em hiểu và tiếp tục vận động tất cả các nước Á Phi cùng nhau ủng hộ Việt Nam chống Mỹ.

Về hoà bình, có lẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng nhân dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình và căm ghét chiến tranh hơn bất kỳ nhân dân nước nào khác. Vì sao? Vì nhân dân Việt Nam đã trải qua gần một thế kỷ bị thực dân áp bức, nhân dân Việt Nam bị tổn thất trong chiến tranh thế giới thứ hai, tiếp đó lại trải qua mười năm chống Pháp, thiệt hại người và của, giờ đây lại chống Mỹ. Nhân dân Việt Nam muốn hoà bình để tổ chức lại đời sống của mình. Mấy năm trước khi Mỹ leo thang, ở miền Bắc đã bắt đầu xây dựng nông nghiệp, công nghiệp, văn hoá... trong lúc đó ở miền Nam Việt Nam vì đế quốc Mỹ mà chết người hại của
.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 02 Tháng Chín, 2009, 11:57:49 PM
Đến đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói một số thành tích về khắc phục khó khăn, về giáo dục ở miền Bắc, Người nói tiếp:

Vì lý do đó, chúng tôi muốn hoà bình nhưng hoà bình theo giá nào, cách nào. Chúng tôi muốn có hoà bình nhưng đồng thời phải có độc lập. Như Tổng thống N.Krumah có nói trong thư trước, nếu chiến tranh kéo dài thì tổn thất về người về của càng nhiều và khi đánh được Mỹ ra khỏi Việt Nam thì chúng tôi bị thiệt hại nhiều. Chúng tôi tin rằng nhân dân Việt Nam có thể đánh được Mỹ. Chúng tôi đã có kinh nghiệm đối với đế quốc Pháp: trước khi rút đi, chúng phá hoại nhiều lắm, nhưng chúng tôi thấy dù phải hy sinh nhiều mà đánh được Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam thì đó chẳng những là làm cho sau này nhân dân Việt Nam không phải làm nô lệ cho Mỹ mà còn góp phần làm cho nhân dân các nước thấy Mỹ không có gì đáng sợ. Một dân tộc đã đoàn kết nhất trí thì không có gì phải sợ đế quốc cả và Mỹ đã thua ở Việt Nam thì ở nơi khác cũng không thể thắng được. Nếu chiến tranh kéo dài, chúng tôi sẽ phải hy sinh nhiều, nhưng đó là chúng tôi làm nghĩa vụ đối với dân tộc, đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế đối với nước bạn.

Nói tóm lại, chúng tôi muốn hoà bình, chúng tôi không muốn làm nhục Mỹ nếu Mỹ cũng trọng danh dự chính đáng của họ, nếu Mỹ tôn trọng ý nguyện của nhân dân Việt Nam, nếu Mỹ thi hành đúng Hiệp nghị Genève thì chúng ta có hoà bình. Như ông Bộ trưởng đã nói, chúng ta cùng chung một mục đích là độc lập và hoà bình, cùng chung một nguyện vọng là không những Việt Nam và Ghana mà tất cả các nước đều hợp tác và hữu nghị với nhau.

Chúng tôi không ngần ngại hợp tác với nhân dân Mỹ vì kỹ thuật họ cao, kỹ thuật của Việt Nam thấp, họ có thể giúp. Ngược lại chúng tôi có những cái có thể giúp người Mỹ.

Những củ cà rốt của Johnson hứa viện trợ một tỷ đô-la không lừa bịp được chúng tôi. Trong khi chúng tàn phá đất nước chúng tôi ở miền Bắc và ở miền Nam thì chúng tôi không thể tin vào củ cà rốt của chúng được
.”

Về việc Tổng thống N.Krumah thăm Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói Người rất mong muốn được gặp Tổng thống vì hai người chưa gặp nhau bao giờ, nhưng tiếc rằng chưa thể mời và đón tiếp Tổng thống được vì tình hình chiến tranh. Người nói:

Tôi nhờ các vị trình bày với Tổng thống N.Krumah: lòng tôi có mâu thuẫn, một mặt muốn gặp Tổng thống ngay nhưng mặt khác không dám mời Tổng thống. Xin các vị chuyển đến nhân dân Ga-ma anh em lòng biết ơn và tình đoàn kết của nhân dân Việt Nam. Một khi Mỹ không gây gổ ở miền Nam Việt Nam cũng như ở các nơi khác nữa, tôi cũng muốn được đi thăm Ghana. Lần trước tôi đến Ghana tên khác, lần này Ghana tên khác, cái gì cũng là khác, nhất là con người đã khác trước rất nhiều.

Cảm ơn các vị đã đến thăm Việt Nam, cảm ơn các vị đã chịu khó nghe tôi nói nhiều
”.

Armah:

Xin cảm ơn Chủ tịch. Chúng tôi đến đây là một dịp được học tập rất nhiều. Những cuộc thảo luận của chúng ta tỏ ra rất bổ ích. Chúng tôi đã hiểu rõ tình hình và sau này sẽ ủng hộ Việt Nam mạnh hơn trước nhiều. Chúng tôi đánh giá cao những nhận xét của Chủ tịch đối với ý kiến chúng tôi. Chủ tịch là người có kinh nghiệm tại chỗ còn chúng tôi ở rất xa. Chúng tôi thành thật đưa ra đề nghị, có lẽ những đề nghị đó cũng giúp ích phần nào. Chúng tôi đánh giá rất cao những lời giải thích của Chủ tịch về tình hình. Trở về Ghana, chúng tôi có thể nói về Việt Nam một cách am tường hơn.

Tôi tin rằng nhân dân Ghana cũng như toàn thể nhân dân Á Phi sẽ ủng hộ nhân dân Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng. Tôi thông cảm trước hoàn cảnh của Chủ tịch đã buộc phải thay đổi những sự sắp xếp cho cuộc đi thăm Tổng thống chúng tôi
.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

Tôi hiểu rằng có một người anh em ở xa, trong hoàn cảnh như Việt Nam, Tổng thống N.Krumah muốn đến xem xét tình hình và xem có cách gì giúp đỡ được nhiều hơn. Tôi cũng biết Tổng thống không sợ gì, vì đã trải qua nhiều sóng gió, vì đã hiến cả sinh mệnh của mình cho nhân dân thì không còn phải sợ gì nữa. Nhưng chính vì hiểu rõ như vậy mà tôi rất áy náy. Nhờ các vị trình bày với Tổng thống tình hình và tình cảm của tôi.”

Ông Armah rời Hà Nội với bức thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo tin từ Acra, đầu tháng 8, Ngoại trưởng Ghana đi Washington để chuyển tới Johnson bức thư của N.Krumah kêu gọi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam.

Chuyến viếng thăm miền Bắc Việt Nam của Tổng thống N.Krumah không thành vì một nhóm quân nhân đã làm đảo chính lật đổ ông, khi ông đang trên đường đi Hà Nội tháng 12 năm 1966.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:01:01 PM
CHƯƠNG VIII
GIORGIO LA PIRA:
HY VỌNG VÀ THẤT VỌNG CỦA CHUYẾN ĐI HÀ NỘI

(Trong chương này, những lời Hồ Chủ tịch nói được tác giả viết theo "Lược ghi biên bản tiếp xúc Hồ Chủ tịch - La Pira" của Nguyễn Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch của Bộ Ngoại giao.)


Bộ Ngoại giao Việt Nam phân vân khi nhận được đề nghị của giáo sư Giorgio La Pira. Đây là một sáng kiến cá nhân hay là một hành động phối hợp với Chính phủ Italia, thậm chí với Chính phủ Mỹ?

Ở Hà Nội, người ta biết khá rõ về con người và hoạt động của La Pira, một nhân vật có tên tuổi ở Italia. Là giáo sư luật, hơn mười năm là thị trưởng Thành phố Firenze nổi tiếng. Ông đã tham gia cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít những năm 30 và trong chiến tranh thế giới thứ hai, đã đóng góp tích cực vào việc thành lập Đảng Dân chủ thiên chúa giáo, Đảng cầm quyền ở Italia. Vốn có tư tưởng tiến bộ, ông cũng tham gia các hoạt động vì hoà bình và công lý, vì dân chủ xã hội.

Năm 1965, ông đã mời thị trưởng các thành phố lớn trên thế giới đến họp tại thành phố quê hương để ký một công ước hoà bình. Ông đã đứng ra tổ chức Hội nghị hoà bình về vấn đề Trung Đông lần thứ nhất. Năm 1958, ông đã tổ chức Hội nghị về vấn đề Algéri và đã có những hoạt động trung gian giữa Pháp và ban lãnh đạo kháng chiến Algéri, tạo điều kiện để đi tới Hội nghị Viên. Ông đã ủng hộ chính sách của Tổng thống Kennedy và tin rằng Johnson sẽ đi theo đường lối của Kennedy như ông này đã tuyên bố.

Nhưng việc máy bay Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam đã làm cho ông cũng như bao nhiêu người khác kinh hoàng. Ông liền lên tiếng phản đối các cuộc ném bom đó, ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Với sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động chính trị khác ở Italia và của Đảng cộng sản Italia, La Pira đã đứng ra tổ chức Hội nghị chuyên đề về Việt Nam ở Florence ngày 26 tháng 4 năm 1965. Là một diễn đàn quan trọng, tập hợp nhiều nhà hoạt động chính trị, xã hội nhiều nước châu Âu, Đại biểu cho nhiều tổ chức hoà bình trên thế giới, Hội nghị đã thông qua nghị quyết ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam và lời kêu gọi triệu tập lại Hội nghị Genève về Việt Nam và có các giải pháp chính trị cho cuộc chiến tranh Việt Nam.

Khi được Mỹ thông báo về chủ trương "thương lượng không điều kiện" của Tổng thống Johnson, ông Amintore Fanfani, Ngoại trưởng Italia không thể bỏ qua một con người có quá trình chính trị, uy tín quốc tế như La Pira. Ông ta mời La Pira đến gặp và đề nghị ông này đi Hà Nội thăm dò hoà bình. Lúc này ông La Pira đã thôi làm thị trưởng và đang dạy luật La Mã tại Trường Đại học Florence.

La Pira nhận lời ngay. Cùng đi với ông còn có các nhà toán học Mario Primicheri.

Sau khi được Bộ Ngoại giao Việt Nam trả lời đồng ý, ngày 20 tháng 10, hai ông La Pira và Mario Frimicheno lên đường đi Hà Nội. Hai ông qua Ba Lan, Liên Xô, trên đường đi Bắc Kinh phải dừng lại Irkoust hai ngày vì thời tiết quá xấu. Ngày 8 tháng 11, hai ông tới Hà Nội.

Các bạn Việt Nam đã dành thì giờ cho hai ông nghỉ sau chuyến đi khá mệt nhọc và nghe đại tá Hà Văn Lâu, Trưởng phái đoàn liên lạc Quân đội Nhân dân Việt Nam giới thiệu về tình hình thi hành Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam, sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; thất bại của chiến tranh đặc biệt của Mỹ; tình hình chiến trường sau khi Mỹ đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, cho máy bay ném bom miền Bắc, lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:05:59 PM
Ngày 11 tháng 11, hai ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tại Phủ chủ tịch. Cùng dự với Người có Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Sau những lời chào mừng thường lệ, ông La Pira xin được nói trước. Ông nói:

Tôi đã gặp ông Fanfani ngày 7 tháng 9. Ông Fanfani nói với tôi rằng: ông đã tổ chức Hội nghị Florence, đã hoạt động cho Việt Nam, ông nên đi Việt Nam. Ông yêu cầu tôi nói với Chủ tịch rằng chúng tôi sẵn sàng phục vụ hoà bình và công lý. Vấn đề Việt Nam hiện nay là vấn đề của thế giới. Hội nghị Florence đã có nhiều chính khách quan trọng tham gia, đó là chất men kích thích phong trào thế giới. Tôi đã viết thư cho R.Kennedy và nhiều nhà chính trị khác của Mỹ. Hiện nay phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ gồm nhiều nhà chính trị quan trọng như Fulbright, Móc-xơ, nhiều giáo sư và sinh viên. Đây là lần đầu tiên tôi đi Hà Nội. Trước đây tôi đã đi Mát-xcơ-va. Lần này tôi qua cả Vasava, Mát-xcơ-va, Bắc Kinh, Hà Nội.”

Chủ tịch Hồ Chí Minh vui vẻ nói:

- Ông đi lại với Cộng sản nhiều quá chăng?

Không khí trở nên thân mật. Ông La Pi ra nói:

- Chúng tôi đặt quan hệ giữa người với người. Tôi thấy đã đến lúc phải ngừng ném bom. Khi đến Mát-xcơ-va, tôi đã gửi cho ông Fanfani một bức điện về việc này (ông đọc bức điện bằng tiếng ltalia).

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi:

- Vậy là lần này ông mang cành ô-liu đến Việt Nam? Vậy ông Fanfani yêu cầu ông nói gì với chúng tôi

- Nói rằng chúng tôi đã sẵn sàng. Việt Nam được hoà bình, thế giới sẽ hoà bình. Vấn đề khó nhất là bước đi đầu tiên. Hiện nay sinh viên Mỹ đang đấu tranh chống Lầu Năm Góc. Tham gia phong trào đó có rất nhiều người công giáo có tổ chức chặt chẽ.

Chủ tịch tiếp lời:
- Các anh Morisson và La Postorte (Hai thanh niên Mỹ này tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam) cũng là những người công giáo. Các anh đó rất dũng cảm, nhưng những kẻ phải chết cháy chính là Johnson và Macnamara.

- Hiện nay có phong trào mạnh mẽ đòi hoà bình, cần giúp đỡ phong trào đó và gây áp lực với Chính phủ Mỹ, phải bao vây Johnson lại.
Vấn đề quan trọng là bước đầu phải làm gì để đẩy phong trào lên, làm gì để chấm dứt đau khổ của nhân dân. Chỉ có hai con đường: hoặc là hoà bình hoặc là trái đất sẽ bị huỷ diệt. Hoà bình hiện nay là ở Hà Nội
.

Chủ tịch Hồ Chí Minh liền hỏi:

- Nếu ở địa vị ông thì ông phải làm gì?

- Vấn đề sẽ được giải quyết khi người ta cùng ngồi uống nước trà với nhau. Đó là việc lớn, là hữu nghị. Tại sao lại giết nhau. Thế giới đã thay đổi, tinh thần công lý hiện nay đã được dùng cho hòa bình thì sẽ làm được nhiều việc.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng, từ đâu vẫn ngồi nghe một cách chăm chú, bây giờ lên tiếng:

- Nếu ở vào địa vị người Mỹ thì ông phải làm gì?

- Sẽ gặp nhau uống trà mà không giết nhau nữa - La Pira trả lời.

Thủ tướng hỏi tiếp:

- Và người Việt Nam sẽ hỏi: Mỹ sang Việt Nam đế làm gì? Mỹ chỉ có việc về Mỹ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:09:06 PM
Ông La Pira nói:

- Đúng, nói như vậy tốt. Cứ nói, nhưng nói giữa hai người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Mỹ đã đến Việt Nam gây chiến, giết hại nhân dân Việt Nam, còn nhân dân Việt Nam chỉ muốn Mỹ rút. Như ông nói, bước đầu là quan trọng, vậy thì bước đầu chúng tôi có đánh vào Washington đâu? Ai đã đến Việt Nam giết hại nhân dân Việt Nam?

- Mỹ! - ông La Pira trả lời ngay.

- Vấn đề là ở chỗ đó! Vậy thì Mỹ phải rút như lời Chúa dạy.

Ông La Pira dừng một chút rồi nói:

- Nhưng cũng có vấn đề kỹ thuật trong việc rút... Tôi là giáo sư về luật La Mã. Luật La Mã nói rằng khi có một cuộc tranh chấp thì nên chia ra hai giai đoạn: bước đầu là hai bên ngừng lại, bước sau là vận dụng luật La Mã để phân xử. Vì vậy tôi nghĩ trước mắt phải ngừng ngay bạo lực lại sau đó sẽ đem đối chiếu luật pháp và thực tế.

Thủ tướng nhận xét:

- Như vậy phải cho bọn kẻ cướp vào tù rồi đem xử sau.

- Nhưng phải có thời gian, phải vận động, phải đẩy phong trào lên. Hiện nay đã đến lúc, thời cơ đã chín muồi - La Pira nói.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi:

- Vấn đề quan trọng là bước đầu. Chính Mỹ đã ném bom bắn phá và hiện nay hàng ngày đang đánh phá chúng tôi. Vậy ai vi phạm luật lệ của Chúa

- Và ai vi phạm luật lệ của người - Thủ tướng hỏi tiếp – ông cho ai là kẻ có tội?

Không đợi khách trả lời, Thủ tướng nói:

- Tôi xin cảm ơn ông về đề nghị của ông là ngồi vào bàn nói chuyện với Mỹ, nhưng ông có cho rằng Mỹ có đồng ý ngồi vào bàn không?

La Pira :

- Trước đây vì quần chúng chưa hiểu, còn bị tinh thần chống cộng làm sai lạc, mặc dù thế, lịch sử tiến lên. Từ ba tháng nay, phong trào nhân dân Mỹ lại phát triển một cách mạnh mẽ. Lực lượng tiến bộ đang có triển vọng thắng thế, phải ủng hộ các lực lượng đó. Chúng tôi hoàn toàn phản đối việc ném bom, kể cả ném bom các nước cộng sản. Thời cơ đã đến, nên mở cửa cho Mỹ vào, nên nói chuyện với đại diện của Chính phủ Mỹ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:10:35 PM
Thủ tướng:

- Giải pháp duy nhất là Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Mỹ phải rút về Mỹ.

- Việc đó sẽ giải quyết trong lúc uống trà.

- Muốn nói chuyện, - Thủ tướng phân tích - phải có người để nói. Vậy Mỹ có muốn nói chuyện không? Không! Chúng vẫn mở rộng chiến tranh ở miền Nam, ném bom bắn phá miền Bắc. Chúng muốn bắt chúng tôi, muốn chúng tôi phải nhận thứ hoà bình Mỹ. Nhưng việc đó chúng tôi không thể chấp nhận được. Chúng tôi tha thiết với hoà bình. Đêm chúng tôi không ngủ, ngày chúng tôi suy nghĩ rất nhiều phải làm gì. Hoà bình trong công lý là lập trường bốn điểm mà chúng tôi đã đưa ra.

La Pira:

- Muốn có hoà bình thì phải gặp nhau, phải nói chuyện với nhau rồi Mỹ mới rút. Về bốn điểm, Mỹ đã nhận gần hết. Nếu Mỹ không nói bốn điểm mà chỉ nói một điểm là Hiệp nghị Genève trong đó bao gồm những vấn đề là lập trường bốn điểm đã nêu ra thì các ông có đồng ý không? Có nhận không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ và rắc hoa cho Mỹ rút. Nhưng nếu Mỹ không rút thì phải đánh đuổi Mỹ đi. Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ. Nhưng với Johnson và Macnamara thì hoặc là trải thảm đỏ hoặc là đá đít ra khỏi cửa. Tất nhiên là chúng tôi muốn hoà bình, chúng tôi sẵn sàng giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam. Chúng tôi không muốn trẻ em bị giết và nhà cửa bị đốt. Chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với kẻ xâm lược, nhưng trước hết, kẻ xâm lược phải ngừng xâm lược. Nhờ ông nói với Tổng thống Johnson và Macnamara hoặc thông qua ông Fanfani mà nói với họ rằng: Hồ Chí Minh chỉ muốn hoà bình. Ai là kẻ gây chiến? Ai là kẻ không muốn chấm dứt chiến tranh? Đó chính là Mỹ! Mỹ phải rút khỏi Việt Nam rồi Tổng thống Johnson đến đây nói chuyện cũng được, hoặc ông ta có mời tôi qua Washington tôi cũng sẵn sàng! Nhưng trước hết Mỹ phải để chúng tôi yên. Mỹ phải chấm dứt ném bom!

- Nếu Mỹ còn xâm lược thì chúng tôi còn đánh. Chén trà sẽ có sau - Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm.

- Cần phải pha trà sẵn - La Pi ra nói.

- Đồng ý - Thủ tướng trả lời .

Cuộc nói chuyện về hoà bình ở Việt Nam đến đây chấm dứt, một cuộc nói chuyện cởi mở, thẳng thắn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi chuyện khách về tình hình chính trị ở Italia, cho khách biết Người đã ở Florence một thời gian trong một nhà hàng không sang trọng lắm, ông chủ xem Người như người nhà. Người kể là: đã từng ở Thành phố Naple hai tháng đi thăm Pompei và núi lửa Vésuve, còn Thủ đô Rô-ma thì Người chỉ đi qua hai giờ đồng hồ. Người còn hỏi về tình hình ăn ở của khách, hỏi khách có mãn nguyện đối với nhiệm vụ trong chuyến đi thăm Việt Nam không. La Pira nói rằng ông rất mãn nguyện và cho đây là chuyến đi quan trọng nhất của ông trong mười năm qua. Cuối cùng, chủ tịch Hồ Chí Minh ngỏ lời mời ông trở lại Việt Nam khi nào thuận tiện.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:11:45 PM
*
*   *

Nhận được thư của giáo sư La Pira tóm tắt cuộc nói chuyện về vấn đề Việt Nam với Chủ tịch Hồ chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ông Fanfani, khi đó đang ở New York, là Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khoá 20, đã gửi thư cho Tổng thống Johnson. Thư đề ngày 20 tháng 11, nội dung chủ yếu như sau:

Trong cuộc hội kiến mà Ngài đã có nhã ý dành cho tôi hồi cuối tháng 5, Ngài đã luôn luôn nhắc lại ý định vững chắc của Ngài kiên trì tìm kiếm một giải pháp thương lượng cho cuộc xung đột ở Việt Nam.

Tôi xin thông báo với Ngài việc sau đây:

Ngày thứ năm, 11 tháng 11 ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã bày tỏ với hai người quen của tôi ý muốn tha thiết tìm một giải pháp hoà bình cho cuộc xung đột ở Việt Nam và đã tuyên bố tóm tắt như sau, theo như hai người đã viết cho tôi:

Để cho cuộc nói chuyện hoà bình có thể thực hiện được sẽ cần phải:

a. Ngừng bắn trên không, trên biển, trên đất liền, trong toàn lãnh thổ Việt Nam (Bắc và Nam Việt Nam), chấm dứt mọi cuộc hành quân đối địch (bao gồm cả việc đưa thêm quân Mỹ vào);

b. Tuyên bố rằng Hiệp nghị Genève năm 1954 sẽ được dùng làm cơ sở cho cuộc thương lượng, tuyên bố cần nói đến bốn điểm của Hà Nội - các điếm này thực chất là việc giải thích Hiệp nghị Genève - theo đó có thể gom gọn lại thành một điểm, nói một cách khác: thi hành Hiệp nghị Genève.

Chính phủ Hà Nội đang chuẩn bị mở cuộc thương lượng mà không đòi quân Mỹ phải rút trước.

Cụ Hồ Chí Minh đã nói: sẵn sàng đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai.
..”.

Bức thư có những điểm khác với lập trường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với ông La Pira và ông Prinmicherio, đặc biệt là có một số ý kiến của Người đã được trình bày lại gần giống lời lẽ của Johnson.

Cũng trong dịp này, ông Fanfani đã gặp đại sứ Arthur Goldberg, đại diện Mỹ tại Liên Hợp Quốc, rồi Ngoại trưởng Dean Rusk để thông báo về kết quả chuyến đi Hà Nội của La Pira và Pnrimichirio.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:13:50 PM
Ngày 4 tháng 12, Dean Rusk gửi thư cho Fanfani, nói:

1. Như đã nhiều lần tuyên bố, Hoa Kỳ sẵn sàng đi vào các cuộc thảo luận hay thương lượng với bất cứ Chính phủ nào, vào bất cứ lúc nào, không có bất cứ điều kiện tiên quyết nào.

2. Mặc dù có ít nhiều điều chưa rõ ràng trong tuyên bố về lập trường của Hà Nội các nguồn tin của Ngài hình như chỉ ra rằng Hà Nội đồng ý là các cuộc thương lượng sẽ được tiến hành trên cơ sở Hiệp nghị Genève năm 1954 không có phân biệt hoặc điều kiện. Về phần chúng tôi, chúng tôi cũng mong muốn đi vào thương lượng trên cơ sở đó, không có phân biệt hoặc điều kiện.

3. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không đồng ý với luận đề cho rằng bốn điểm của Hà Nội đưa ra là một sự giải thích chân chính Hiệp nghị Genève năm 1954. Các yếu tố trong bốn điểm, nhất là cương lĩnh của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng không có cơ sở trong Hiệp nghị Genève và việc Hà Nội nhấn mạnh một cách rõ ràng phải có tuyên bố trước chấp nhận bốn điểm, đã tỏ ra vừa không nhất quán với Hiệp nghị mà còn đòi một điều kiện quan trọng cho việc thương lượng. Tuy nhiên, chúng tôi sẵn sàng xem xét bốn điểm trong bất cứ cuộc nói chuyện hoà bình nào cùng với bất cứ đề nghị nào mà Hoa Kỳ, Nam Việt Nam và các nước khác mong muốn đưa ra.

4. Nếu có sự giảm bớt hoặc đình, chỉ chiến sự trước khi thương lượng, hiển nhiên điều đó phải trên một cơ sở công bằng và có đi có lại

5. Chính phủ Hoa Kỳ ghi nhận thông điệp gửi cho chúng tôi rằng Bắc Việt Nam sẽ không nhấn mạnh việc rút lực lượng Mỹ trước khi bắt đầu thương lượng. Tuy vậy việc làm sáng tỏ điểm này dù không phải không có ý nghĩa... vẫn để lại các vấn đề ở điểm hai và ba nói trên.
Vì vậy chúng tôi còn xa mới tin rằng những lời tuyên bố của cụ Hồ Chí Minh và ông Phạm Văn Đồng là dấu hiệu của lòng mong muốn thật sự về thương lượng không điều kiện" (Bộ Quốc phòng Mỹ: Quan hệ Mỹ - Việt Nam 1945-1967, Washington, 1971, Phần VI-B, Quyển 12, tr. 22-23.).

Ngày 13 tháng 12, Fanfani báo cho Dean Rusk biết rằng ông đã tóm tắt ý kiến trên của Mỹ để gửi cho Hà Nội ngày 8 tháng 12. Ông nghĩ rằng hôm nay ngày 13 tháng 12, các văn kiện đó đã đến địa chỉ cuối cùng.

Hà Nội đã nhận được thư của ông Fanfani đề ngày 6 tháng 12 với tiêu đề Chủ tịch Đại hội đồng (Liên Hợp Quốc) cá nhân và mật.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:16:48 PM
Bức thư như sau:

Kính thưa Ngài Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thưa Chủ tịch,

Hai người Italia đã nói chuyện với Ngài và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 11 tháng 11 vừa qua đã thông báo cho tôi ngày 19 tháng 11 rằng trong buổi nói chuyện về cuộc xung đột ở Việt Nam, phía các Ngài có lẽ đã đưa ra những điểm sau đây - mà tôi đã viết lại bằng tiếng Anh - nghĩa là trong ngôn ngữ mà tôi đã dùng để chuyển đi:

1. Để tạo khả năng cho thương lượng hoà bình gồm:

a. Ngừng bắn (trên không, trên biển và đất liền) trong toàn lãnh thổ Việt Nam (Bắc và Nam) một cuộc ngừng bắn - có nghĩa là ngừng tất cả cuộc hành quân (bao gồm cả việc chấm dứt việc đổ bộ thêm quân Mỹ).

b. Tuyên bố rằng Hiệp nghị Genève năm 1954 sẽ được dùng làm cơ sở cho việc thương lượng - tuyên bố cần nói đến bốn điểm của Hà Nội - thực ra các điểm đó là sự giải thích văn bản Hiệp nghị Genève và thực chất là thi hành Hiệp nghị Genève.

2. Những người đối thoại với Ngài cũng nói thêm rằng họ đã nhận được những dấu hiệu cho thấy Chính phủ Cộng hoà Dân chủ của Bắc Việt Nam sẵn sàng mở các cuộc thương lượng mà không nhấn mạnh vào việc rút quân của Mỹ trước.

3. Cũng những người đối thoại đó nói thêm rằng Ngài có lẽ đã nói Ngài “sẵn sàng đi bất cứ đâu, gặp bất cứ ai" nếu việc đó có lợi cho sự nghiệp hoà bình.

Vì những người đối thoại đó đã nói rõ ràng Ngài muốn các điều nói trên sẽ được chuyển một cách bí mật cho Chính phủ Mỹ qua tôi, ngày 20 tháng 11 vừa qua, tôi cho rằng mình có bổn phận chuyển các ý kiến đó đến Tổng thống Hoa Kỳ một cách trực tiếp và dè dặt trong văn bản bằng tiếng Anh mà tôi vừa chuyển cho Ngài.

Trong những ngày tiếp theo, tôi đã nhận được những lời cảm ơn của Tổng thống Johnson về thông báo của tôi và bảo đảm rằng trong một thời gian ngắn người ta sẽ gửi đến tôi quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

Quan điểm mà người ta đã nói cho tôi ngày 29 tháng 11 vừa qua, hôm nay, ngày 6 tháng 12 tôi đã nhận được. Được sự cho phép của lời thông báo cá nhân và bí mật đó, tôi xin báo với Ngài một việc sau đây:

1. Như đã nhiều lần tuyên bố, Hoa Kỳ sẵn sàng đi vào các cuộc thảo luận hay thương lượng với bất kỳ Chính phủ nào, bất kỳ lúc nào, không có bất cứ điều kiện tiên quyết nào. Người ta thêm rằng "Chính phủ Mỹ xác nhận lại lòng mong muốn đó”.

2. Washington có cảm giác rằng có một sự không rõ ràng nào đó trong cách diễn đạt quan điểm của Bắc Việt như hai người đối thoại với Ngài đã chuyển lại. Thực vậy, hình như Washington cho rằng “Hà Nội đồng ý rằng cuộc thương lượng sẽ phải dựa trên cơ sở Hiệp nghị Genève năm 1954 không có phân biệt hoặc điều kiện”, và người ta cũng thừa nhận về phía Washington lòng mong muốn đi vào thương lượng trên cơ sở đó, không có phân biệt hoặc điều kiện.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:16:57 PM
3. Vì vậy Hoa Kỳ không thể đồng ý với luận đề rằng bốn điểm trong tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ở miền Bắc là một sự giải thích chân chính Hiệp nghị năm 1954. Người ta cũng thêm rằng các yếu tố trong bốn điểm, nhất là cương lĩnh của cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng không có cơ sở trong Hiệp nghị Genève.

Từ đó, người ta diễn giải rằng việc Hà Nội nhấn mạnh phải nhận bốn điểm trước là không phù hợp với Hiệp nghị, bởi vì việc đó đòi hỏi "những điều kiện đáng kể cho cuộc thương lượng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng sẵn sàng đưa bốn điểm đó vào xem xét trong bất kỳ cuộc nói chuyện hoà bình nào cùng với các điểm mà Hoa Kỳ, Nam Việt Nam và các Chính phủ khác có thể đưa ra".

4. Tham chiếu các điều mà những người đối thoại của Ngài đã nói về việc ngừng bắn và những biện pháp áp dụng trước khi bắt đầu thương lượng, người ta nhấn mạnh ở Washington rằng Hoa Kỳ sẵn sàng thương lượng mà không áp đặt bất kỳ điều kiện nào như vậy. Tuy nhiên, nếu cần thu xếp một sự giảm bớt chiến sự trước cuộc thương lượng thì tất nhiên điều đó phải trên cơ sở công bằng và có đi có lại. Nếu có sự đình chỉ một số hoạt động quân sự nào đó của bên này thì cũng phải có sự đình chỉ tương đương như vậy của phía bên kia.
Và người ta cũng thêm rằng trong thông báo của những người đối thoại của Ngài "Các công thức mà Hà Nội đưa ra chưa đáp ứng tiêu chuẩn đó, thí dụ nó không bó buộc một sự hạn chế nào cho việc tiếp tục đưa lực lượng và trang bị từ Bắc vào Nam Việt Nam”.

5. Về những thông báo của những người đối thoại với Ngài rằng Chính phủ Việt Nam ở miền Bắc không nhấn mạnh việc rút quân Mỹ trước khi bắt đầu thương lượng, người ta nhận xét rằng “Lời tuyên bố về điểm này, mặc dầu nó không phải không có ý nghĩa dưới ánh sáng của các tuyên bố mâu thuẫn nhau của Hà Nội về vấn đề đó, vẫn còn là việc thảo luận trong điểm hai và ba nói trên ".

Sau khi báo cho Ngài biết những tin tức mà Chính phủ Mỹ đã cho tôi hay - và tôi tin rằng Ngài sẽ sử dụng nó một cách tốt nhất và bí mật cho sự nghiệp hoà bình - tôi nghĩ bổn phận của tôi là phải thêm rằng những thông tin mà những người đối thoại của Ngài đã không thuyết phục được Washington về ý muốn thật sự của Bắc Việt Nam mở các cuộc thương lượng không điều kiện tiên quyết. Tuy vậy, tôi cũng phải thêm rằng Chính phủ Mỹ, trên cơ sở những đánh giá nói trên và có lẽ dưới ánh sáng của những cuộc thăm dò hơn nữa các nguồn tin của ông, cần gặp Hà Nội để thảo luận thêm vấn đề với ông.

Khi trình bày với Ngài những điều trên đây, tôi hy vọng rằng việc đó cần được khuyến khích để đi sâu hơn. Cuộc nói chuyện sơ bộ đó có mục đích sớm đạt được một cách nhìn và những ý định rõ ràng đế đi đến bắt đầu thương lượng.

Cũng bằng con đường mà tôi đã dùng (mà Ngài cũng đã gợi ý với những người đối thoại) để chuyển các tin tức, tôi hy vọng rằng có thể nhận được sự trả lời của Ngài có thể giúp vào việc thiết lập hoà bình mà mọi người đều mong muốn. Tôi thêm rằng tôi sẽ rất sung sướng nếu tôi có thể giúp đỡ Ngài trong vấn đề tối quan trọng này như sự giúp đỡ mà do đó tôi đã nhận được sự biết ơn và lời cảm tạ của Chính phủ Hoa Kỳ.

Kết thúc bức thư này, Thưa Chủ tịch, tôi xin được lưu ý Ngài về một tình hình đòi hỏi tất cả mọi người có trách nhiệm phải hết sức sáng suốt trong sự xét đoán và cả lòng dũng cảm trong những quyết định cần có sau này. Và điều này để tránh mọi việc có thể thoát ra khỏi sự kiểm soát.

Xin Chủ tịch nhận lấy những lời chào trân trọng nhất.
Amintosre Fanfani

(Thư bằng tiếng Pháp. Những đoạn ghi trong ngoặc kép là bằng tiếng Anh.)


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:17:46 PM
Dù qua trung gian, ít nhất Hà Nội và Washington một lần nữa đã trao đổi được ý kiến về lập trường của mỗi bên. Fanfani và các ông La Pira, Primicherio tưởng chừng như quá trình tiếp xúc đã được khởi động. Nhưng sự thật lại tồi tệ hơn họ tưởng.

Ngày 15 tháng 12, nhiều tốp máy bay "thần sấm" ném bom nhà máy điện Uông Bí, một cơ sở dân dụng cách Hải Phòng bốn mươi ki lô mét. Đây là cơ sở công nghiệp đầu tiên của Bắc Việt Nam bị đánh phá. Những ngày sau, các máy bay Mỹ tiếp tục đánh phá nhà máy điện Uông Bí và đánh rộng ra nhiều điểm dân cư thuộc vùng Quảng Ninh.

Ngày 16 tháng 12, Macnamara họp báo nói rằng "Việc đánh phá Uông Bí và cơ sở công nghiệp ở vùng này là thích hợp đối với các hoạt động khủng bố ở Việt Nam và đó là loại tấn công mà Mỹ sẽ tiếp tục sau này".

Ngày 17 tháng 12, Bộ Ngoại giao Mỹ tiết lộ các tin tức và công bố các thư trao đổi giữa ông Fanfani và Johnson cho tờ Tin nhanh Bưu điện Xanh Lui.

Dư luận Mỹ và quốc tế xôn xao.

Đại sứ Arthur Goldberg ở Liên Hợp Quốc tìm cách giảm nhẹ bước leo thang đột nhiên đánh phá nhà máy điện Uông Bí. McCloskéy, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ, cũng tìm cách xoa dịu dư luận: "Bây giờ là tuỳ thuộc ở Hà Nội, muốn đưa vấn đề từ chiến trường đến bàn thương lượng không? Mỹ hoan nghênh một sự bày tỏ trực tiếp về quan điểm của Hà Nội. Chúng tôi đợi phản ứng của Hà Nội". (Xem thêm Đa-vít Cráxlô và Xtia H.Lu-ri: Cuộc bí mật tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam. Ran-đơn haodơ, N.Y. 1968, tr. 126-135. )

Ngày hôm sau Thông tấn xã Việt Nam tuyên bố.

"Việt Nam Thông tấn xã được phép tuyên bố rằng những tin tức do Bộ Ngoại giao Mỹ tung ra đó (tức là sự thăm dò thương lượng của Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Tác giả) là hoàn toàn bịa đặt, vô căn cứ”.

Trong nhiệm kỳ đại sứ tại Roma (1978-1982), Nguyễn Anh Vũ đến thăm Florence nhiều lần và thăm giáo sư Primicherio. Trong dịp lễ thành lập Tổ chức La Pira, đồng chí đã đến thăm nơi ở và làm việc của giáo sư La Pira, một biệt thự nhỏ ở ngoại vi thành phố, gần tu viện nổi tiếng San Mao. Cùng trong dịp này, đồng chí đã hỏi thêm về chuyến đi Hà Nội của La Pira và Primicherio năm 1965. Cuộc nói chuyện này đã cho biết thêm một số chi tiết.

Sau khi thông báo cho Fanfani biết kết quả chuyến đi Hà Nội, La Pira không biết những gì diễn ra ở New York và Washington. Nhưng La Pira nghĩ rằng cần phải cho nhiều người bạn của ông biết nội dung cuộc gặp gỡ ở Hà Nội để cùng gây sức ép với Johnson. Ông gọi điện thoại cho một số bạn trong phong trào chống chiến tranh ở Mỹ, trong đó có luật sư Peter Wise, người đã dự Hội nghị về Trung Đông theo sáng kiến của ông. Ông Wise đã qua Pháp. Qua điện thoại, ông liên lạc được với Wise và ngay ngày hôm sau 5 tháng 12, Peter Wise và vợ bà Cora Wise đến Florence. Ông bà Wise và hai ông La Pira và Primicherio đều thấy rằng việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã dành nhiều thì giờ tiếp hai người bạn Italia là một điều rất quan trọng và hứa hẹn là khác nữa.

Ông La Pira còn nhắc lại rằng ông nhớ mãi câu nói cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Trước hết Mỹ hãy để chúng tôi yên, Mỹ phải chấm dứt ném bom". Vậy cần phải cảnh cáo ngay Mỹ mở rộng ném bom thì mọi khả năng hoà bình sẽ dập tắt. La Pira yêu cầu Peter Wise thông báo ngay cho nhiều người Mỹ, trong đó có thượng nghị sĩ Fulbright, Robert Kennedy, Cố vấn Nhà Trắng M.G.Bundy. Bản thân La Pira cũng làm việc đó. Trong thư gửi đại sứ Arthur Goldbert ông nói rõ: "Cụ Hồ Chí Minh sẽ không thảo luận hoà bình với Hoa Kỳ nếu vùng Hà Nội, Hải Phòng bị ném bom". Trong thư gửi Lacouture, ông nhấn mạnh: "Cụ Hồ Chí Minh là con người cởi mở, cởi mở với hoà bình ở trong nước ông, ở châu Á và tôi có thể nói trên toàn thế giới nữa" (Jean Lacoutuna: Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Séuicle, Paris, 1967, tr. 24.).

Nhưng ngay sau khi biết nội dung cuộc nói chuyện ở Hà Nội, Mỹ tiến một bước leo thang mới, đánh phá các cơ sở công nghiệp. La Pira cho Mỹ là không nghiêm chỉnh, không thành thật muốn hoà bình. 

Tình hình nội bộ Italia khi đó càng làm ông phiền lòng. Sau khi các thư trao đổi giữa Tổng thống Johnson và Fanfani được Bộ Ngoại giao Mỹ công bố, dư luận Italia bàn tán sôi nổi. Nhiều nghị sĩ Quốc hội chất vấn Fanfani rằng tại sao Chính phủ và bản thân ông Fanfani đã xen vào công việc không phải của Italia. Các đối thủ chính trị đả kích kịch liệt Fanfani, tìm cách phỏng vấn giáo sư La Pira. Trong bài trả lời, ông đã có những lời rất chua cay đối với Chính quyền Johnson. Ông cho Dean Rusk là một người chẳng biết gì, một con người không muốn biết gì cả.

Ông tiếp tục là người bạn của nhân dân Việt Nam và không ngừng hoạt động trong phong trào chống chiến tranh Việt Nam.

Ông xứng đáng với những tình cảm chân thành của nhân dân Việt Nam đối với ông cũng như các bạn bè khác trên thế giới.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:19:03 PM
CHƯƠNG IX
PINTA

Như trên đã nói, ngày 28 tháng 7 năm 1965, Tổng thống Johnson đã quyết định đáp ứng các yêu cầu của Westmoreland, đưa tổng số quân Mỹ lên một trăm bảy mươi lăm nghìn người cuối năm 1965. Nhưng đầu tháng chín, Westmoreland đề nghị tăng thêm ba mươi lăm nghìn quân nữa, nâng tổng số từ một trăm bảy mươi lăm nghìn lên hai trăm mười nghìn quân vào cuối năm. Giữa tháng 10, Westmoreland báo cáo những yêu cầu sửa đổi quân số năm 1966. Thay cho con số hai trăm bảy mươi lăm nghìn vào tháng 7 năm 1966, ông ta yêu cầu ba trăm hai mươi lăm nghìn quân với khả năng sau này còn tăng nữa và không bảo đảm là đạt được những mục tiêu của mình.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara lo ngại đây là khởi đầu một cam kết không giới hạn và tình hình đang tuột dần ra ngoài sự kiểm soát của lãnh đạo. Theo đề nghị của ông, Johnson chỉ định một nhóm chuyên gia do Tommy Thomson phụ trách. Nhóm này kết luận là leo thang chiến tranh bằng không quân sẽ gây ra phản ứng mạnh mẽ của Trung Quốc và Liên Xô và gợi ý ngừng ném bom một thời gian dài để thử mối quan tâm của Hà Nội đối với vấn đề đàm phán. Macnamara đề nghị Tổng thống chuẩn y con số ba trăm năm mươi nghìn người cho cuối năm 1966, ngừng ném bom một tháng và cố gắng bắt đầu đàm phán...

Johnson còn hoài nghi các ý kiến của Macnamara thì tháng 11, Westmoreland lại xin thêm hai trăm nghìn quân cho năm 1966, gấp hai lần dự tính hồi tháng 7 của ông ta . Như vậy tổng số quân Mỹ ở Việt Nam sẽ tăng lên bốn trăm mười nghìn vào cuối năm 1966 trái với dự tính ban đầu là hai trăm bảy mươi lăm nghìn quân..

Từ đầu tháng 12 năm 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng ra lệnh cho các đơn vị quân đội của mình ngừng tấn công các đơn vị quân Mỹ và Sài Gòn trong dịp lễ Giáng sinh và Tết dương lịch 1966.

Sau khi đi Sài Gòn nắm tình hình một lần nữa, Macnamara trình Tổng thống hai phương án: một là đi đến một giải pháp thoả hiệp thấp hơn mục tiêu, hai là đáp ứng những yêu cầu của Westmoreland và tăng cường ném bom miền Bắc Việt Nam.

Sau nhiều cuộc tranh luận của các cố vấn và cân nhắc của Tổng thống, ngày 23 tháng 12, Tổng thống với sự đồng ý của Sài Gòn, tuyên bố một cuộc ngừng bắn ba mươi giờ, kể cả ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ đêm Giáng sinh. Buổi sáng lễ Giáng sinh, Johnson quyết định kéo dài thêm một hoặc hai ngày nữa. Đến ngày 27, ông lại quyết định kéo dài lệnh ngừng bắn ném bom vô thời hạn và tăng cường nỗ lực ngoại giao để đưa Hà Nội đến bàn đàm phán.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:20:25 PM
*
*   *

Để kết hợp với chiến dịch ngừng ném bom, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố kế hoạch mười bốn điểm dưới một tiêu đề phụ là: "Các đóng góp của Mỹ vào cái giỏ hoà bình” .

Một: Hiệp nghị Genève năm 1954 và 1962 là một cơ sở thích hợp cho hoà bình ở Đông Nam Á.

Hai: Chúng tôi hoan nghênh một cuộc Hội nghị về Đông Nam Á hay về bất cứ phần nào của Đông Nam Á.

Ba: Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thương lượng không điều kiện tiên quyết như mười bảy nước đề ra.

Bốn: Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thảo luận không điều kiện như Tổng thống Johnson đề nghị.

Năm: Ngừng bắn có thể là điểm đầu tiên trong thương lượng hoặc là vấn đề trong thảo luận sơ bộ.

Sáu: Bốn điểm của Hà Nội có thể được thảo luận cùng với các điểm của người khác.

Bảy: Chúng tôi muốn không có căn cứ quân sự ở Đông Nam Á.

Tám: Chúng tôi không muốn duy trì quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam sau khi hoà bình được bảo đảm.

Chín: Chúng tôi ủng hộ tuyển cử ở Nam Việt Nam để cho nhân dân có quyền lựa chọn.

Mười: Vấn đề thống nhất nước Việt phải do nhân dân Việt Nam giải quyết thông qua quyết định tự do.

Mười một: Các nước Đông Nam Á có thể không liên kết hay trung lập.

Mười hai: Hoa Kỳ mong muốn sử dụng tài nguyên của mình xây dựng lại Đông Nam Á. Nếu có hoà bình, Bắc Việt Nam có thể được lợi ích trong số một tỷ đô-la mà Hoa Kỳ sẽ đóng góp.

Mười ba: Tổng thống đã nói rằng: Việt cộng không có khó khăn gì trong việc cử đại diện và trình bày quan điểm của họ khi Hà Nội quyết định chấm dứt xâm lược. Đó không phải là trở ngại không vượt qua được.

Mười bốn: Chúng ta sẽ chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam xem như là một bước tiến tới hoà bình như không có dấu hiệu hay gợi ý của phía bên kia cho thấy họ sẽ làm gì một khi chấm dứt ném bom
."

Hoa Kỳ vốn là một nước lớn, có nhiều nhà ngoại giao giỏi, những kinh nghiệm ngoại giao phong phú. Nhưng bản tuyên bố về lập trường mười bốn điểm này có vẻ buồn cười hoặc ít nhất cũng là vá víu. Nó ghi chép tất cả những gì người ta nói về một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam: lập trường bốn điểm của Hà Nội, đề nghị của mười bảy nước không liên kết ở Beograd, đề nghị của Liên Xô về một Hội nghị quốc tế về Campuchia. Mục đích của nó hình như là để tỏ vẻ Mỹ coi trọng ý kiến của tất cả các phía, miễn là đạt tới hoà bình, do đó thu nhỏ cái gậy nhưng phóng to củ cà rốt.

Ngày 7 tháng 1, Mac Closkey, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Mỹ ít nhất lần này cũng tỏ ra thành thật: Mỹ bỏ tất cả mọi thứ trong cái giỏ hoà bình, trừ sự đầu hàng của Nam Việt Nam.

Johnson đã đánh giá các hoạt động ngoại giao trong đợt ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam là một trong những cuộc vận động ngoại giao rộng nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:21:45 PM
Trong thông điệp tình hình liên bang đọc trước Quốc hội ngày 12 tháng 1 năm 1966, tức sau hai mươi ngày ngừng ném bom và vận động ngoại giao, ông đã tuyên bố.

Những người phát ngôn có kinh nghiệm và thông thạo nhân danh Hoa Kỳ đã đi tới bốn mươi nước. Chúng ta đã thảo luận với một trăm Chính phủ, một trăm mười ba nước có quan hệ với chúng ta và một số nước khác mà chúng ta chưa có quan hệ. Chúng ta đã lên tiếng ở Liên Hợp Quốc và yêu cầu tất cả các thành viên của Liên Hợp Quốc làm tất cả những gì trong phạm vi quyền hạn của họ để góp phần giành hoà bình.

Chúng ta cũng đã nói rõ từ Hà Nội đến New York rằng chúng ta không định một gia hạn độc đoán cho việc tìm kiếm hoà bình. Chúng ta tôn trọng các Hiệp nghị Genève năm 1954 và 1962. Chúng ta sẽ ngồi vào bất kỳ bàn Hội nghị nào, chúng ta sẽ thảo luận mọi đề nghị thể hiện trong bốn điếm, mười bốn điểm hay bốn mươi điểm và chúng ta sẽ coi trọng mọi ý kiến của bất kỳ nhóm nào. Chúng ta phấn đấu cho một cuộc ngừng bắn ngay hôm nay hay khi các cuộc thảo luận bắt đầu. Nếu những người khác hạn chế việc sử dụng vũ lực chúng ta cũng sẽ làm như thế và sẽ rút binh lính của chúng ta khi Nam Việt Nam đã nhận được những bảo đảm dứt khoát về quyền được quyết định tương lai của mình
" (L.B.Johnson - Hồi ký, Sđd, tr. 292-293.).

Lời tóm tắt của Tổng thống không có cái dặm dà của David Kraslow và Stuart H.Loory

Trong khi Byroade (đại sứ Mỹ tại Rangoon - ND) đang phát triển một kênh trực tiếp ở Rangoon một cách lặng lẽ thì Tổng thống đã vén bức màn "fandagle" hoà bình của ông ta. Trước khi tất cả mọi người nhận thức ra được điều đó thì Avrell Harriman đã ở trên chiếc Boeing 707 của Tổng thống đến Vacsava. Hành động này làm tất cả mọi người ngạc nhiên, kể cả đại sứ quán Mỹ ở Vacsava và Chính phủ Ba Lan. Đại sứ John Gronouski đang đi thăm hội chợ thương mại ở Poznan. Chiếc máy bay đã ở trên không thì bí thư của Gronouski Albert W. Sherer Jr mới nhận được những chỉ dẫn từ Washington để thông báo với Chính quyền Ba Lan về người khách sắp đến của họ. Sherer và Micezylslaw Sieradski, Vụ phó Vụ Bắc Mỹ của Bộ Ngoại giao Ba Lan đã làm việc suốt ngày đêm để chuẩn bị cho Harriman. Trong khi đó, bị dựng dậy khỏi giường ở Poznan và được lệnh quay trở lại Vacsava, ông ta bắt chuyến tàu đêm trở về thủ đô vừa kịp thời gian để rửa mặt trước khi ra sân bay đón Harriman. Chỉ khoảng hai giờ trước khi chiếc máy bay hạ cánh, Sherer và Sieradski mới hoàn tất mọi dàn xếp. Cùng với chiếc máy bay của Harriman bay ngang quần đảo Bornholmn trên biển Baltique và chỉ vài phút trước đó không lực Ba Lan mới gửi lời nhắn tới các căn cứ xa xôi của nó là không cất cánh chống lại chiếc máy bay không nhận dạng được đang tiến vào bờ biển ...

Hầu như ngay lập tức sau khi hạ cánh, Harriman cùng với Gronouski đã mời Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dam Rapacki, Jerzy Michalowski, một trong các thứ trưởng của Rapacki ngồi vào bàn nói chuyện. Bức thông điệp của Harriman, cùng giống như tất cả các phái viên khác đang lan truyền khắp thế giới là một Hợp chủng quốc Hoa Kỳ muốn nói chuyện với Việt Nam. Đó là sự mong muốn nói chuyện trên hầu hết như bất cứ điều kiện nào. Trong vòng vài ngày, Nhà Trắng sẽ đưa các bức thông điệp này ra công khai trong một tuyên bố với tiêu đề: "Trung tâm vấn đề ở Việt Nam”. Tuyên bố này liệt kê ra mười bốn điểm dưới một tiêu đề phụ "Các đóng góp của Mỹ vào cái giỏ hoà bình” ...

Việc trình bày của Harriman trước những người Ba Lan có tính thuyết phục. Và ông ta có cơ hội làm điều đó không chỉ với Rapacki mà cả với Wladyslaw Gomulka, Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Ba Lan. Thông thường, Gomulka cũng giống như tất cả những người lãnh đạo cộng sản khác, không thể tiếp cận được với những nhà ngoại giao và chính khách phương Tây. Nhưng Harriman đã có kinh nghiệm làm việc lâu dài với thế giới cộng sản bao gồm việc phục vụ như là một đại sứ ở Mát-xcơ-va trong chiến tranh thế giới thứ hai. Đối với Harriman, Gomulka đã thông cảm. Những cuộc họp như vậy hiếm đến nỗi mà buổi họp với Harriman là thời gian duy nhất Gronouski gặp người thật sự điều hành Ba Lan.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:23:18 PM
Khi Harriman nói tại sao ông ta đến, Gomulka trả lời, theo các nguồn tin cộng sản, "Các ông là kẻ cướp nhưng chúng tôi muốn làm việc với kẻ cướp để chấm dứt cuộc chiến tranh này " (David Kraslow và Stuart H.Loory - Cuộc tìm kiếm bí mật hoà bình ở Việt Nam, Nhà xuất bản Ran dom House, Chương 4, Phần II.).

Harriman bay tiếp đến Nam Tư rồi tiếp tục hoàn thành chuyến đi ba mươi nghìn dặm tới mười nước trong vòng mười bảy ngày và đến Sài Gòn ngày 15 tháng giêng.

Ngoài Harriman ra, Johnson còn huy động nhiều phái viên nữa, Phó Tổng thống Hubert Humphrey đi Tokyo để nói chuyện với Thủ tướng Eisaka Sato và đã đưa cho ông ta một tài liệu có chi tiết về một trăm chín mươi cuộc nói khác nhau mà ngoại trưởng Dean Rusk đã nói về chủ đề đàm phán hoà bình với các nhà ngoại giao khác nhau và người khác nhau. Nhân dịp lễ tang Thủ tướng Ấn Độ Shastri, ông đã trình bày lập trường của Mỹ với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kossighin và nhiều vị Thủ tướng khác lúc đó cũng đang có mặt ở New Delhi. Đại sứ Goldberg đi Rôm, Paris, Luân Đôn cũng như giải thích lập trường của Mỹ cho nhiều vị trưởng đoàn ngay tại Liên Hợp Quốc. Mc. George Bundy đi Ottawa. Thomas Mann, Thứ trưởng về các công việc ở châu Mỹ đi Mêhicô. Manuel William, Thứ trưởng về châu Phi đêm giao thừa đi Maroc và sáu nước khác trong bảy ngày.

Chưa bao giờ nước Mỹ cùng một lúc cử đi nhiều phái viên đến thế và đi vội vã đến thế. Tổng thống Johnson đã nói đúng: đây là cuộc vận động ngoại giao lớn nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông.

PINTA

Đây là mật hiệu của cuộc tiếp xúc giữa đại sứ Mỹ Byroade và Tổng lãnh sự Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Vũ Hữu Bỉnh tại Rangoon trong đợt ném bom ba mươi bảy ngày.

Trước khi có cuộc tiếp xúc này và trước khi công bố lập trường mười bốn điểm, ngoại trưởng Dean Rusk đã gặp Ianôt Radvani, đại biện lâm thời Hung-ga-ri tại Washington và giới thiệu quan điểm của Mỹ về vấn đề Việt Nam, thực chất là nội dung mười bốn điểm sẽ công bố ngày 29 tháng 12 với ý định mở kênh Budapest liên lạc với Hà Nội. Do việc này xem ra không có kết quả, ngày 29 tháng 12, Bộ Ngoại giao Mỹ chuyển sang hướng khác và chỉ thị cho đại sứ Henry Byroade tại Rangoon tiếp xúc bí mật với Tổng lãnh sự Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Vũ Hữu Bỉnh.

Nhận được chỉ thị, ngay trong ngày 29, Byroade gọi điện thoại cho Vũ Hữu Bỉnh nói rằng ông có một thông điệp của Chính phủ Mỹ cần chuyển tận tay ông Tổng lãnh sự.

Buổi chiều, tự lái lấy xe riêng không có quốc kỳ Mỹ, Byroade đến trụ sở Tổng lãnh sự quán Việt Nam số 40 đường Komin-Kochin.

Trước hai cốc bia, hai vị cựu sĩ quan, hai nhà ngoại giao ngồi đối diện nhau. Byroade nhắc lại lý do cuộc viếng thăm và chuyển cho ông Bỉnh bức thông điệp của Chính phủ Mỹ mà ông có nhiệm vụ chuyển và tỏ ý mong sẽ được một trả lời thuận lợi. Vũ Hữu Bỉnh nhận thông điệp và hứa sẽ chuyển ngay về Hà Nội.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, giản dị nhưng lại có ý nghĩa: lần đầu tiên hai đại diện ngoại giao hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ gặp nhau, tuy không chính thức nhưng lại chính thức chuyển một thông điệp của Chính phủ Mỹ. Nội dung thông điệp giống như Dean Rusk đã nói với Radvani, điều khác là yêu cầu có hành động có đi có lại.

Thấy lâu chưa có trả lời, ba tuần sau Byroade lại đến Tổng lãnh sự quán Việt Nam. Ông được đón tiếp lịch sự, nhưng vẫn chưa có trả lời của Hà Nội. Ý kiến cá nhân của ông Tổng lãnh sự: đây là một tối hậu thư của Mỹ làm ông phiền lòng.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 03 Tháng Chín, 2009, 10:23:26 PM
Trong lúc đó tại Paris, P.Stum lại đề nghị gặp Tổng đại diện Việt Nam Mai Văn Bộ ngày 13 tháng 1 năm 1966. Mai Văn Bộ đi vắng, Võ Văn Sung tiếp Stum nói là được chỉ thị của Chính phủ Mỹ hỏi ý kiến Việt Nam về thông điệp ngày 29 tháng 12 năm 1965 mà đại sứ Byroade đã trao cho đại diện Việt Nam ở Rangoon. Cả Rangoon, Paris đều chưa có trả lời của Hà Nội. Theo chỉ thị của Bộ Ngoại giao Mỹ, ngày 24 tháng 1 năm 1966 tại Mát-xcơ-va, đại sứ P.Kohler đến gặp đại biện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Lê Trang để trao một công hàm với nội dung tương tự thông điệp đã trao cho Việt Nam ở Rangoon. Lần này Kohler đề nghị phía Việt Nam xem xét có khả năng giảm bớt hoạt động quân sự hay không? ông còn nói:

- Mỹ đề nghị có cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Cuộc gặp sẽ diễn ra bí mật.

Lê Trang nói: Chưa có trả lời.

Ý định của Hà Nội trì hoãn việc trả lời chính là để tìm hiểu thêm về ý đồ Mỹ kéo dài việc ngừng ném bom Bắc Việt Nam

Trong lúc Mỹ đi tìm hoà bình khắp nơi thì họ vẫn tích cực tăng cường hoạt động quân sự ở Nam Việt Nam. Cuối tháng 12, họ tăng thêm bốn nghìn quân cho Pleiku, vào giữa tháng giêng tối thiểu đã tăng thêm bảy nghìn quân làm cho tổng số quân Mỹ ở Nam Việt Nam đã lên tới một trăm bảy mươi nghìn. Ngày 8 tháng giêng, tám nghìn quân Mỹ, Nam Việt Nam, Australia, New Zeeland tấn công vùng Củ Chi ở Tây Bắc Sài Gòn, Tam giác sắt. Nếu tính toán chiến dịch Tìm Diệt mùa khô 1965-1966 thì Mỹ huy động hai nghìn quân thiết giáp với sự hỗ trợ của quân Sài Gòn và quân Nam Triều Tiên.

Ngày 21 tháng giêng, U Than kêu gọi Mỹ tiếp tục ngừng ném bom và đề nghị Mặt trận Dân tộc Giải phóng có vai trò trong Chính quyền, mặt khác cũng kêu gọi Mỹ kéo dài ngừng ném bom, tối thiểu kéo dài đến sau Tết. Các thượng nghị sĩ Fulbright và Mike Mansfield đề nghị Tổng thống tiếp tục ngừng ném bom.

Ngày 28 tháng giêng, Đài Tiếng nói Việt Nam công bố thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nước khác. Cùng ngày, Tổng thống Johnson quyết định tiếp tục ném bom.

Tuy vậy, ngày 19 tháng 2, Byroade lại đến Tổng lãnh sự Việt Nam trao một bị vong lục cho phía Việt Nam. Với lời lẽ mềm dẻo, văn kiện này nhắc lại: Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, sẽ rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam "dưới ánh sáng của các hành động của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc rút quân miền Bắc khỏi miền Nam Việt Nam". Bị vong lục còn nhấn mạnh:

Theo thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng là hoàn thành độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập ở miền Nam tiến tới thống nhất, nếu đúng như vậy thì điểm ba không phải là trở ngại cho thương lượng. Nhưng nếu đòi cho Mặt trận được độc đoán tham gia vào một Chính phủ Liên hiệp trước hoặc không có tuyển cử thì điểm ba là trái với mục tiêu đó và không đúng với Hiệp nghị Genève.

Quan điểm cơ bản của Hoa Kỳ là cơ cấu chính trị tương lai của Nam Việt Nam phải do nhân dân Nam Việt Nam quyết định thông qua tuyển cử thật sự tự do. Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận kết quả của cuộc tuyển cử thật sự tự do đó”.
Cuối cùng bị vong lục đua ra bốn điểm giống như bốn điểm mà ông Gullion đã đưa cho Mai Văn Bộ tháng 8 năm 1965 ở Paris để “làm cơ sở có thể chấp nhận được trong thảo luận ".

Vũ Hữu Bỉnh nói: "Tôi sẽ báo cáo về Hà Nội nhưng các ông đã ném bom lại miền Bắc, cuộc tiếp xúc của chúng ta không còn ý nghĩa gì”.

Và Pin ta đã kết thúc như thế đấy.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:01:55 PM
CHƯƠNG X
MIKHALOWSKI Ở HÀ NỘI

(Trong chương này, lời Hồ Chủ tịch được tác giả trích trong "Lược ghi biên bản tiếp xúc Hồ Chủ tịch – Mi-khai-lốt-xki ngày 6-1-1966" của Nguyễn Hữu Ngô, Vụ trưởng Vụ Liên Xô - Đông Âu, Bộ Ngoại giao.)


Trong hồi ký, Tổng thống Johnson kể một cách đơn giản rằng ông cử Harriman đi Ba Lan giải thích lập trường của Mỹ, nhưng không ngờ sau đó lại là một loạt màn kịch bất ngờ.

Sáng sớm ngày 30 tháng 12 năm 1965, đại sứ Ba Lan tại Hà Nội, J.Siesleski xin gặp gấp Thủ tướng Phạm Văn Đồng vì có điện khẩn cấp.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận tiếp ngay đại sứ Siesleski.

Chưa hết xúc động vì những gì đã nhận được, đại sứ trình bày ngay với Thủ tướng: "Đột nhiên đêm qua Washington yêu cầu Ba Lan cho phép ông Harriman theo chỉ thị của Tổng thống Johnson vào Ba Lan ngay bằng máy bay riêng của Tổng thống để hội đàm với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đam Rapacki. Chúng tôi đã trả lời cho Mỹ biết rằng mục đích của việc liên hệ như thế để bàn vấn đề Việt Nam là không nên. Nhưng vì Harriman đã bay đến Tây Đức để đợi trả lời và một sự từ chối của Ba Lan có thể bị lợi dụng mà ta có thể đoán trước một cách dễ dàng...

Bức điện, hoặc đúng hơn là phần đầu của bức điện, mà đại sứ đọc mới đến đó. Tiếp đó, đồng chí trao cho Thủ tướng một bức thư và đề nghị Việt Nam có ý kiến giải quyết những trường hợp tương tự nên nhận hay không nên nhận.

Ngay tối hôm đó, đại sứ Siesleski lại xin gặp Thủ tướng để thông báo tiếp nội dung trao đổi giữa Ngoại trưởng Repacki và phái viên Harriman. Đại sứ nói:

"Phía Mỹ nói Mỹ đã ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ ngày 24 tháng 12 và việc ngừng ném bom sẽ kéo dài ra ngoài Tết dương lịch nếu không có sự tăng cường quan trọng các hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mỹ nói rằng việc tham gia thật sự của phía Việt Nam vào việc giải quyết hoà bình vấn đề xung đột sẽ làm thuận lợi cho kéo dài ngừng ném bom. Mỹ cho rằng để có thể đi đến thương lượng cần phải có thời gian cho tình hình dịu đi và yên tĩnh trở lại. Việc ngừng ném bom một thời gian nhất định đã được thực hiện. Mỹ mong phía Việt Nam đáp lại bằng những cử chỉ tương tự. Việc đáp lại theo kiểu đó sẽ dẫn đến con đường thương lượng... Mỹ thấy cần thiết phải có thời gian cho phía Việt Nam nghiên cứu, nhưng lưu ý rằng Chính phủ Mỹ có khó khăn vì Quốc hội Mỹ sắp họp".

Harriman cũng nhắc lại lời tuyên bố của Johnson sẽ không có khó khăn gì cho Mặt trận Dân tộc Giải phỏng trình bày lập trường và quan điểm của mình trong trường hợp có thương lượng. Nhưng Mỹ không công nhận Mặt trận là một Chính phủ. Ông ta cũng nói cuộc đàm phán sau này có thể có hình thức khác, lập trường của Mỹ rất linh hoạt. Mỹ sẵn sàng nghiên cứu mọi khả năng, thương lượng trong mọi điều kiện và trong bất kỳ thành phần nào kể cả sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nếu có đàm phán phía Mỹ sẵn sàng thảo luận cả bốn điểm cũng như mọi đề nghị khác của các bên kể cả của Sài Gòn”.

- Theo ý kiến riêng tôi - Đại sứ nói tiếp - Mỹ phải hành động như vậy là để tranh thủ dư luận. Mỹ rất sợ dư luận.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: .

- Đồng ý với nhận xét của đồng chí đại sứ. Mỹ đang bị cô lập nên đưa vấn đề này ra. Đồng thời Mỹ muốn thăm dò chúng tôi. Chúng tôi sẽ nghiên cứu.

Chúng ta cũng chấp nhận gợi ý của bạn mời một phái viên của Ba Lan sang Hà Nội để nắm rõ ý kiến của Harriman.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:03:33 PM
Ba ngày sau J.Mikhalowki, Thứ trưởng kiêm Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Ba Lan đã có mặt ở Hà Nội. Mikhalowski khá quen biết với nhiều đồng chí lãnh đạo nước ta, vì từ tháng 8 năm 1954, ông là đại sứ Trưởng đoàn Ba Lan đầu tiên trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Ông lại là người được dự cuộc nói chuyện giữa Rapacki và Harriman ở Vasava vừa qua. Bộ Ngoại giao Ba Lan cố giữ bí mật chuyến đi này cho nên giải thích rằng ông Tổng thư ký bị ốm nên không dự các cuộc chiêu đãi và tiếp khách nhân dịp đầu năm mới. Nhưng dư luận lại hiểu rằng đó là cái bí mật của anh hề xiếc.

Buổi làm việc đầu tiên là với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trình.

Mikhalowski nói:

Mỹ đã ngừng ném bom miền Bắc và cử Harriman đến gặp lãnh đạo Ba Lan để xem xét vấn đề. Cố gắng của Mỹ có thành công hay không? Nếu như cử chỉ hoà bình của Mỹ không được đáp ứng, Mỹ sẽ ném bom trở lại với cường độ mạnh hơn. Johnson bị áp lực của giới quân sự phải leo thang chiến tranh. Chìa khoá hoà bình là ở Hà Nội... Mỹ không thể ngừng ném bom lâu được. Nếu như Chính phủ Việt Nam xét tới giải pháp hoà bình thì Harriman mong rằng sẽ có một cử chỉ thực tế về quân sự, lúc đó Mỹ sẽ đáp lại bằng một cử chỉ quân sự khác. Như vậy nhiệt độ của tình hình sẽ giảm đi và sẽ có thể đưa đến đàm phán chính trị.

Ba Lan cho rằng có hai khả năng: hoặc là Mỹ thấy thất bại rồi và hiện nay cũng không tốt đẹp gì trong việc leo thang nên nghĩ đến việc trả một giá nào đó để tránh phải leo thang. Nếu thế thì rất quan trọng. Và để thử xem Mỹ sẵn sàng nhân nhượng những gì thì ngoài đàm phán ra không có cách nào khác. Hoặc là cuộc tiến công hoà bình của Mỹ là bịp bợm, là màn khói, một âm mưu đánh lừa thế giới. Nếu như vậy thì cũng không có cách nào khác ngoài việc ngồi với Mỹ để vạch mặt Mỹ.

Trong khi thảo luận, Mỹ sẽ đưa giá quá cao, sau sẽ hạ xuống, ta cũng sẽ mặc cả xem họ bán hàng như thế nào. Chúng tôi sợ rằng Mỹ đang đứng trước một quyết định quan trọng, Mỹ sẽ không giữ mức độ chiến tranh như hiện nay vì như vậy sẽ thất bại. Cho nên Mỹ sẽ tăng cường chiến tranh. Thiệt hại của nhân dân Việt Nam sẽ rất lớn. Mỹ định đưa hai mươi hay ba mươi vạn quân nữa vào miền Nam Việt Nam, Mỹ sẽ khó xuống thang, khó rút quân. Nếu không đàm phán bây giờ thì sau này sẽ rất khó. Nếu Mỹ tăng thêm quân, cuộc chiến đấu của các đồng chí sẽ không thuận lợi như bây giờ. Mỹ đã ngừng ném bom. Nếu có dấu hiệu nào đó, Mỹ sẽ kéo dài việc ngừng bắn. Có dấu hiệu thôi, không có gì ràng buộc phía Việt Nam cả”.

Chúng tôi cho rằng Mỹ thành thật, rằng Mỹ đang ở ngã ba đường. Mỹ đã nói rằng họ bị sức ép, họ muốn có dấu hiệu đó sẽ giảm căng thẳng và rất có triển vọng
”.

Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh hỏi thêm về một số điểm trong lập trường của Mỹ.

Chiều hôm đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp Mikhalowski. Sau khi thăm hỏi sức khoẻ Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Mikhalowski đi ngay vào vấn đề.

Mikhalowski:

- Tôi chắc rằng đồng chí đã được thông báo về cuộc đi thăm của Harriman ở Vasava. Đồng chí Gomucka đã có một cuộc nói chuyện lâu với ông ta, một cuộc nói chuyện căng thẳng, khó khăn. Chúng tôi cho rằng việc chúng tôi đến đây là điều bổ ích để các đồng chí biết một cách cụ thể những điều rất quan trọng của cuộc gặp gỡ đó. Tôi được trao nhiệm vụ chuyển đến đồng chí một thông điệp miệng của đồng chí Gômulka mà tôi đã thận trọng ghi lại (đọc thông điệp, nội dung giống như đã trình bày ở trên).

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đồng chí Hồ Chí Minh và các thành viên trong Chính phủ chúng tôi cảm ơn đồng chí Gômulka và các đồng chí lãnh đạo Ba Lan về những gợi ý đó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:05:04 PM
Mikhalowski:

- Đây không phải là những gợi ý. Đấy là ý kiến của chúng tôi để trình bày với các đồng chí.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi xin cảm ơn các đồng chí về việc đó. Đó là biểu hiện của tình cảm, sự ủng hộ của các đồng chí đối với chúng tôi. Chúng ta cần gắn bó với nhau. Cuộc đấu tranh của chúng tôi cũng là cuộc đấu tranh của các đồng chí. Chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta đứng trước một kẻ thù chung. Các đồng chí lại là thành viên trong Uỷ ban Quốc tế. Đó là lý do nữa đế các đồng chí quan tâm đến vấn đề.

Chúng tôi luôn luôn hướng về vấn đề đó. Đó là những vấn đề rất quan trọng. Chúng tôi biết thế nào là chiến tranh. Các đồng chí cũng biết điều đó nhất là ở miền Nam cuộc chiến đấu vẫn diễn ra với một cường độ rất ghê gớm. Ngày đêm chúng tôi nghĩ đến hoà bình không sao ngủ được.

Mikhalowski:

- Nếu chúng tôi đề xuất ý kiến đó thì cốt nhằm làm dễ dàng các quyết định của các đồng chí. Tất nhiên trong các vấn đề quân sự, chúng tôi không thể xét đoán được. Chúng tôi không có ý kiến.

Chúng tôi hiểu rất rõ nước Mỹ. Chúng tôi hiểu tình hình các nước khác trong lúc các đồng chí hiện nay rất bị cô lập. Có lẽ các đồng chí có khó khăn để hiểu một số chi tiết. Chúng tôi có tiếp xúc rộng lớn hơn các đồng chí, chúng tôi thấy có trách nhiệm bày tỏ ý kiến về một số vấn đề.

Chúng tôi muốn nói kỹ thêm về cuộc nói chuyện với Harriman, như vậy rõ ràng hơn là trong thông điệp. Tất nhiên đó là những ý lớn rất quan trọng và tôi không đi vào chi tiết của trận đánh mà chúng tôi đã có với ông ta. Đồng chí Gomucka đã nói với ông ta: "Các anh là bọn cướp
".

Vấn đề là phải xem Mỹ muốn gì? Tôi nghĩ rằng họ thành thật và đang ở ngã ba đường. Mỹ đang bị nhiều tổn thất và không thể cứ cư xử như hiện nay được. Có thể bản thân họ không muốn thế, nhưng họ phải nghĩ đến tương lai. Mỹ muốn leo thang để tạo khả năng cho giải pháp chính trị. Họ đang đi sâu vào con đường đó. Đó là một chính sách phiêu lưu đã bị lên án.

Điều thứ hai cụ thể hơn, ông ta (Harriman) nói là Mỹ bị sức ép, Mỹ muốn có một dấu hiệu nào đó. Thí dụ, các đồng chí xem xét một cách nghiêm túc các đề nghị của Mỹ. Họ nói đến nay vẫn chưa được một dấu hiệu nào như vậy và điều đó để họ đổ hết trách nhiệm không chịu thương lượng cho các đồng chí để leo thang, không phải cân nhắc mười bốn điểm mà cân nhắc về con đường dẫn tới hoà bình. Họ sẵn sàng chờ đợi. Vậy bây giờ phải làm gì? Cần có câu trả lời cho vấn đề đó, một dấu hiệu nào đó.

Thứ ba, nếu chúng ta chuyển cho họ dấu hiệu đó thì sẽ giảm căng thẳng và nhiều triển vọng. Sau khi làm sáng tỏ qua thăm dò, người ta sẽ biết các điều kiện làm cơ sở cho một giải pháp trong tương lai. Harriman nói: thí dụ như trong cuộc thăm dò sau một cử chỉ nào đó của phía các đồng chí, nhiệt độ sẽ hạ xuống và làm dễ dàng cho thương lượng, cho việc giải quyết các vấn đề khác và họ sẽ giảm nhiệt độ và tạo ra giải pháp chính trị.

Điều nữa là các hình thức thương lượng có thể có. Harriman nói Mỹ rất linh hoạt. Họ sẵn sàng tìm mọi cách để thương lượng - tay đôi, trực tiếp hay qua trung gian, họ sẵn sàng tìm mọi khả năng... Có vấn đề quan trọng là sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Harriman nói là Mỹ chấp nhận sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng như kiểu ở Genève. Nếu chúng ta sáng tạo ra một hình thức thương lượng nào đó cho Mặt trận, Mặt trận sẽ có uy thế nhất định.

Rồi còn bốn điểm của đồng chí, bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà trên thế giới người ta coi như là kế hoạch Rapscki, Harriman nói họ chấp nhận bốn điểm, rằng bốn điểm là một cơ sở nhưng không phải là cơ sở duy nhất. Harriman cũng nhấn mạnh mười bốn điểm của Mỹ không phải là điều kiện để thương lượng. Đó là những đề nghị cũ được sắp xếp chung lại với nhau. Ông ta yêu cầu xem xét chứ không phải trả lời mười bốn điểm. Theo ý kiến chúng tôi nếu thời kỳ ngừng ném bom kéo dài thì dù sao cũng có lợi cho các đồng chí
.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tất nhiên.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:05:50 PM
Mikhalowski:

- Đứng về mặt thuần tuý sách lược, tôi nghĩ nếu các đồng chí cho tín hiệu rằng các đồng chí nghiên cứu một cách nghiêm túc ý kiến của Mỹ thì sẽ kéo dài thời kỳ yên tĩnh trên đất nước các đồng chí mà không bị ràng buộc gì. Đó là điều quan trọng. Các đồng chí sẽ có thời gian để tập hợp lực lượng, chấn chỉnh lại và làm nhiều việc khác.

Các đồng chí có nói mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao phải đi đôi với nhau. Cuộc đấu tranh quân sự sẽ được đấu tranh chính trị này ủng hộ và trợ lực.

Chúng tôi sợ rằng nếu các đồng chí bác bỏ thẳng thừng những đề nghị đó thì sẽ là một thất bại trên mặt trận chính trị của các đồng chí...

Dư luận thế giới những người tiến bộ, những người cộng sản ở phương Tây cũng sẽ không hiểu các đồng chí. Đó cũng là điều không hiểu được đối với những người Mỹ không cộng sản đang đòi hoà bình. Đó sẽ là dịp tốt cho bộ máy tuyên truyền của Mỹ... Khi dư luận đã không hiểu các đồng chí thì đó sẽ là thất bại chính trị của các đồng chí. Tôi không nghĩ rằng các phương tiện giải thích của chúng ta có thể chống lại được sự thay đổi dư luận đó.

Chúng tôi nghĩ dù sao cũng phải đưa ra một sáng kiến cụ thể bằng một hành động tiếp cận với những đề nghị của Mỹ và có một số cố gắng để đi tới thương lượng.

Các đồng chí có nói rằng đã nghĩ đến thương lượng nhưng bây giờ chưa chín muồi, chiến thắng chưa đủ mức. Tôi sợ rằng Mỹ sẽ chọn con đường leo thang như vậy sau này sẽ rất khó thương lượng, khi số quân Mỹ đông hơn, việc rút lui càng khó khăn hơn cho một cường quốc như Mỹ. Họ sẽ mất mặt... Tình hình sẽ phức tạp thêm...

Lúc này con đường rút của Mỹ chưa bị cắt... Chúng tôi nghĩ khả năng đó, cơ hội đó còn quan trọng hơn là một thời gian leo thang lớn.... Lúc này cần tìm ra con đường cho các giải pháp hoà bình. Chúng ta có thể có thế mạnh để làm suy yếu kẻ thù... Khi một người lính được tin là có nói chuyện hoà bình, anh ta không muốn chết nữa. Việc đó sẽ đem lại cho các đồng chí thời gian để chấn chỉnh lực lượng. Tiếp đó, ta tìm ra khả năng tìm kiếm sự nhượng bộ của Mỹ. Họ phải trả giá cho hoà bình, cho việc rút quân để gỡ thể diện. Rồi với nhượng bộ đó - không quá xa với các nguyên tắc của các đồng chí - Chúng tôi nghĩ là điều đó có thể được. Có lẽ một vài nhượng bộ của các đồng chí là cần thiết. Chúng tôi nghĩ đạt được việc rút lui của Mỹ trong năm năm không có chiến tranh còn hơn là có hoà bình sau năm năm chiến tranh.

Sau cùng, chúng tôi nghĩ với việc nói chuyện, việc thăm dò, chúng ta chỉ có lợi. Chúng ta không có gì để mất trong cuộc thăm dò nào đó hoặc trong nói chuyện trực tiếp, gián tiếp hoặc dưới hình thức nào đó mà ta sẽ nghĩ ra như qua trung gian của Uỷ ban Quốc tế, qua hai Chủ tịch Hội nghị Genève hoặc với sự tham gia của các nước bạn.

Cần phải có một sáng kiến. Phải tiến lại với những ý kiến chứng tỏ chúng ta muốn hoà bình, và qua đó các đồng chí sẽ tranh thủ được dư luận thế giới về mình. Nếu các đồng chí đề nghị một cái gì đó mà Mỹ bác bỏ thì Mỹ không còn được xem như những thiên thần của hoà bình nữa
.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:06:54 PM
Đồng chí Mikhalowski tỏ ý sẵn sàng cung cấp mọi tin tức mà phía Việt Nam muốn biết cũng như mọi ý kiến của Vasava. Cuối cùng, Mikhalowski nhấn mạnh rằng phía Ba Lan "nghĩ có thể tạo ra cho Việt Nam khả năng tiến hành một cái gì đó trên con đường có lợi cho Việt Nam. Đồng chí cũng giới thiệu cho Thủ tướng một người Mỹ mà đồng chí rất quen biết, một người Mỹ tốt có vị trí và ảnh hưởng nhất định: ông N.Cơ-xin (Mục sư Đạo Tin Lành, Chủ bút tạp chí Thứ bảy.). Đồng chí nói: phía Việt Nam có thể sử dụng con người đó không chỉ trong cuộc thảo luận chung chung. Ba Lan sẵn sàng giúp đỡ.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn sự quan tâm và cố gắng của bạn. Rồi Thủ tướng nói:

- Từ lâu chúng tôi đã suy nghĩ rất nhiều về tất cả những điều đồng chí nói... Mà cốt lõi liên quan đến việc đi thăm của Harriman, đối với chúng tôi để biết rõ tình hình và nhất là lối chơi của kẻ địch không phải là không tốt.

Chúng tôi lại đang ở trong tình trạng chiến tranh với đế quốc Mỹ và chúng tôi biết thế nào là chiến tranh. Chúng tôi luôn nghĩ đến lúc nào đó phải kết thúc chiến tranh với Mỹ. Đó không phải là việc đơn giản chút nào. Chúng tôi nghĩ đến hoà bình vì chiến tranh là điều tàn khốc, nhất là ở miền Nam; rất ác liệt và có lẽ sẽ ác liệt hơn nữa. Vì vậy chúng tôi suy nghĩ không ngừng đến việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình.

Nhưng, thưa đồng chí, chúng tôi đòi hỏi một cái gì.

Chúng tôi đòi độc lập, giải phóng miền Nam, thống nhất có lẽ phải một thời gian dài - nhưng mà phải thống nhất Tổ Quốc. Đó là những đòi hỏi sống còn của chúng tôi. Tất cả những điều đó gắn chặt với bốn điểm, các điều này lại gắn chặt với Hiệp nghị Genève.Bốn điểm không phải là để thảo luận. Đó là kế hoạch để giải quyết vấn đề. Mỹ và tất nhiên Harriman nữa đã đưa ra mười bốn điểm để thảo luận... Có thể chúng còn phải thay đổi... Chắc chắn là như vậy. Còn chúng tôi, không thể làm như vậy được
.

Thủ tướng nói một cách ngắn gọn bốn điểm. Mikhalowski cho rằng: Mỹ đã nói đến việc chấp nhận các điểm đó và thêm đó là vấn đề có thể thăm dò.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói tiếp:

- Chúng tôi xem xét cuộc tấn công hoà bình của Mỹ hiện nay như thế nào. Tôi đang nghiên cứu vấn đề rất khó khăn này.

Cần có nhiều thời gian và cố gắng. Chúng tôi sẽ xem xét một cách tổng hợp, không thể bác bỏ ngay lập tức. Đó là những vấn đề đầu tiên được thảo luận trong Đảng và Chính phủ chúng tôi.

Vấn đề đặt ra hiện nay là liệu Chính phủ Mỹ đã sẵn sàng đi vào hoà bình chưa? Tôi không nghĩ rằng lúc này Mỹ đã sẵn sàng đi vào con đường hoà bình theo đòi hỏi hợp lý của chúng tôi. Có hai lý do:

Một: Thực chất Mỹ đang nghiên cứu các biện pháp tăng cường chiến tranh... Mỹ hiểu không thể đạt được hoà bình theo các điều kiện của chúng trong lúc này. Vì vậy, để cho khách quan phải nói Mỹ phải tăng cường chiến tranh.

Hai: Về nguyên tắc, Mỹ chưa bao giờ tuyên bố thuận lợi đối với bốn điểm... chưa bao giờ Mỹ chấp nhận Mặt trận bằng cách này hay cách khác. Điều đó nghĩa là Mỹ vẫn theo đuổi chính sách cũ ở miền Nam
.

Mikhalowski:

- Nếu không đạt được hoà bình, Mỹ phải tìm cách tiếp tục chiến tranh. Có nghi vấn trong vấn đề này. Tôi nghĩ Mỹ sẽ phải nhượng bộ. Tôi nghĩ rằng Mỹ là những lái buôn mà lái buôn thì không chấp nhận giá hàng mà không mặc cả. Chúng chỉ chấp nhận trước khi đàm phán. Có lẽ cuối cùng rồi chúng phải nhận bốn điểm.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:08:07 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đó là điều tất nhiên. Tôi cố gắng tìm hiểu ý đồ sâu xa của Mỹ. Nếu Mỹ chấp nhận thì tại sao lại có cuộc tấn công hoà bình này?

Chúng tôi cho rằng Mỹ có nhiều khó khăn lớn nhất là ở miền Nam Việt Nam. Chúng đang bị đánh tơi bời... đang đứng trước những vấn đề nan giải về quân sự và hậu cần... Lính Mỹ là những chàng công tử... Chiến sự trên bộ rất ác liệt đối với chúng... Còn chiến tranh bằng không quân, không giải quyết được vấn đề. Mỹ có nhiều khó khăn trong nước...

Đồng chí có lý để nói ở ngã ba đường. Chính vì vậy mà chúng muốn thứ hòa bình nào đó, một kiểu thương lượng nào đó, không phải thứ hoà bình như chúng tôi quan niệm mà hoà bình kiểu Mỹ, kiểu La Mã hai nghìn năm trước đây
.

Mikhalowski:

Không thể cho chúng nó được.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Trong cuộc tấn công hoà bình này, Johnson muốn đứng trên thế mạnh. Chúng muốn áp đặt chúng tôi một số điều kiện. Nếu Chúng tôi chấp nhận những điều kiện đó, chúng sẽ sẵn sàng thương lượng. Nhưng chúng tôi không chấp nhận. Chúng tôi làm chủ chiến lược của mình. Tương lai sẽ chứng minh điều đó.

Trở lại cuộc tấn công hoà bình hiện nay của Mỹ, chúng tôi có nghiên cứu các vấn đề họ đưa ra. Làm gì bây giờ? Không chấp nhận điều kiện của kẻ thù, chúng tôi đã có tuyên bố hôm qua. Về vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc chúng tôi đã nói lên điều kiện của chúng tôi. Bây giờ là tuỳ Mỹ xác định thái độ. Vấn đề như vậy đã đảo ngược. Sẽ rất nguy hiểm đi vào con đường mà kẻ thù đã lựa chọn.

Về nguyên tắc đồng chí đã nói rất đúng: Đừng đế cho kẻ thù nắm ngọn cờ hoà bình mà chúng ta phải có sáng kiến hoà bình. Tranh thủ dư luận về ta, dồn kẻ thù vào chân tường. Tôi hứa với đồng chí sẽ nghiên cứu kỹ về ý kiến của đồng chí.


Đồng chí Mikhalowski nhắc lại rằng phía Ba Lan không gợi ý một nhân nhượng nào về nguyên tắc cả mà cho rằng bằng vận động chính trị, người ta có thể hoàn thành việc rút quân Mỹ theo điều kiện Mỹ nêu ra.

Mikhalowski nói tiếp:

- Sẽ không rơi vào trò chơi của chúng. Chỉ có điều là đưa vào lối chơi của chúng những tuyên bố qua đài phát thanh thì sẽ không có hiệu quả... mà phải hành động. Harriman trong khi nói chuyện với chúng tôi đã nói: Hà Nôi cần có hành động. Cần phải suy nghĩ kỹ. Chúng ta có thể thảo luận bất cứ hình thức nào mà chúng tôi chưa biết. Không nên bác bỏ ý kiến về một giải pháp chính trị trên một chỉ dẫn chung.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói rằng rất khó mà thắng được kẻ địch chỉ bằng sức mạnh của lời nói, và nhắc lại sẽ nghiên cứu kỹ ý kiến của Ba Lan ...

Đồng chí Mikhalowski đặt nhiều hy vọng vào cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:09:15 PM
Ngày 6 tháng 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đồng chí Mikhalowski. Cuộc trao đổi đã diễn ra thẳng thắn, có lúc căng thẳng.

Mikhalowski:

- Tôi được uỷ nhiệm của các đồng chí lãnh đạo chúng tôi đến tìm hiểu ý kiến của các đồng chí về việc này. Chúng tôi phải nói điều gì đó với Tổng thống Mỹ. Tôi muốn biết là chúng tôi phải nói như thế nào. Tôi nghĩ rằng nếu Tổng thống Mỹ thấy các đồng chí bác bỏ khả năng đàm phán thì chỉ còn con đường đẩy mạnh chiến tranh.

Chúng tôi cho rằng trong tình hình hiện nay chúng ta cũng cần có thăm dò xem chúng ta có thể đàm phán theo nhũng điều kiện nào, có thể buộc Mỹ phải trả một giá nào đó để có đàm phán hoà bình. Có thể Mỹ buộc phải nhận lập trường của các đồng chí. Nếu Mỹ chỉ nhằm mục đích lừa bịp để đẩy mạnh chiến tranh thì trong trường hợp này ta cũng cần làm thế nào cho Mỹ không thành công được. Ta cần làm cho nhân dân thế giới rõ là ta mong muốn hoà bình. Nếu Mỹ bác bỏ thì Mỹ sẽ thất bại về chính trị. Ở châu Âu châu Phi có nhiều người không phải là cộng sản mà họ cũng mong muốn hoà bình. Ta cần làm cho họ hiểu chúng ta. Nếu ta bác bỏ mọi thăm dò, mọi tiếp xúc thì họ sẽ không hiểu chúng ta được. Như vậy ta sẽ thất bại to lớn. Ngay cả ở nước chúng tôi cũng có người không thể hiểu được. Mỹ là một cường quốc, nó khó mà chấp nhận một thất bại nặng nề. Trái lại nếu ta tiến hành thăm dò đàm phán thì tôi nghĩ rằng đó là một thắng lợi chính trị cho ta.


Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Xin hỏi đồng chí một câu; Có phải chúng tôi không tha thiết với hoà bình không? Có nhiều lý do để chứng tỏ điều đó. Ai là kẻ xâm lược? Không ai lại cho chúng tôi là kẻ xâm lược. Không bao giờ họ lại nghĩ như vậy, kể cả những người không phải là cộng sản. Hơn ai hết, chúng tôi mong muốn hoà bình. Thế thì tại sao chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu? Chỉ có một lý do: Chúng tôi phải tự vệ, chúng tôi buộc phải đấu tranh vũ trang. Chỉ có đấu tranh hoặc hạ vũ khí.

Tại sao Mỹ phải đi gõ cửa khắp nơi? Chính Mỹ gửi quân đội Mỹ đến đây, bây giờ Mỹ phải đình chỉ xâm lược, như vậy vấn đề sẽ giải quyết. Mỹ phải cút đi! Chúng tôi trải thảm đỏ cũng được, nhưng Mỹ phải cút đi! Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Johnson miệng nói hoà bình tay lại ký những lệnh điều động quân. Chúng tôi không bác bỏ gì hết, nhưng nhân dân chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gút-bai! (Good bye)

Chúng tôi đã chiến đấu với Pháp, đã đau khổ nhiều. Không phải chúng tôi đuổi Pháp để kết quả ngày nay chúng tôi nhận sự thông trị của Mỹ. Chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng. Nó vào tận nhà chúng tôi, nó giết hại con cháu chúng tôi. Vậy thì chúng hãy cút đi. Làm gì mà nó phải đi gõ cửa khắp nơi? Nó gây chiến với chúng tôi thì nó phải cuốn gói đi. Như thế, mọi việc sẽ ổn
.

Mikhalowski:

- Mỹ là kẻ xâm lược mạnh. Nó muốn thống trị nước các đồng chí. Nó không muốn cuốn gói đi, vì nó mạnh. Trong cuộc chiến tranh này, các đồng chí khó mà đạt được chiến thắng quân sự. Nó sẽ tiếp tục gửi quân đội và máy bay sang. Chúng tôi rất rõ khả năng quân sự của Mỹ, thí dụ: nó có thể sản xuất năm trăm máy bay một ngày. Mỹ có bộ máy chiến tranh to lớn. Chiến tranh ghê gớm sẽ kéo dài năm năm, mười năm. Trong khi đó tại sao không vận dụng chiến thuật chính trị để đạt được kết quả tương tự? Rất có thể là Mỹ bây giờ cũng muốn rút lui theo một phương thức nào đó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:10:43 PM
Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Mỹ có mạnh hơn Pháp, nhưng ngày nay chúng tôi cũng mạnh hơn trước kia. Lịch sử đã chứng tỏ là chúng tôi đã chiến thắng kẻ xâm lược gấp mười lần, nhất định chúng sẽ bị thất bại. Khi chống Pháp, chúng tôi có một mình, bây giờ có cả phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ và giúp đỡ chúng tôi.

Mikhalowski:

- Nhưng phe xã hội chủ nghĩa của chúng ta không nhất trí. Chỉ có các đồng chí là đổ máu. Giá phải trả sẽ rất cao. Nếu chiến tranh cứ kéo dài thì không còn ai để giải phóng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh: .

- Đồng chí thật là sai lầm. Dù Mỹ có tăng thêm quân bao nhiêu cũng không làm gì được chúng tôi. Nhân dân Việt Nam không sợ. Nếu đời chúng tôi không hoàn thành thì con cháu chúng tôi sẽ hoàn thành.

Mikhalowski:

- Mỹ nói đã nhận bốn điểm. Ta cần xem xét Mỹ suy nghĩ thế nào. Ta có thể hỏi: bao giờ các anh rút. Đó là những cuộc thăm dò để làm dễ dàng giải quyết vấn đề, mang lại kết quả tương tự mà không phải tổn thất. Về mặt này, ý kiến chúng tôi là ta không nên từ chối thăm dò, vì thăm dò có lợi về mặt chính trị và các đồng chí không thiệt hại gì. Chỉ có Mỹ thiệt hại. Như vậy là đáng công thăm dò.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Chưa phải lúc thăm dò thương lượng. Điều kiện chưa chín muồi. Chúng tôi đã có kinh nghiệm với thực dân Pháp.

Mikhalowski:

- Mỹ đang đứng trước ngã ba đường. Nếu ta thử tiến hành đàm phán lúc này, Mỹ nhận rút lui dễ dàng hơn sau này. Nếu kéo dài thì sau này sẽ khó khăn hơn bây giờ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Nhưng mà chưa đến thời cơ.

Đến đây, đại sứ Sielecski cùng tham dự cuộc nói chuyện nói:

- Nếu chúng ta có sức mạnh, chúng ta có thể nói chuyện với bọn cướp được chứ?

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Nhưng bọn cướp chưa yếu lắm. Nó còn có súng lục trong tay. Thời cơ chưa tới. Chúng tôi không phải là người câm điếc đâu.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 04 Tháng Chín, 2009, 03:12:04 PM
Mikhalowski:

- Nhưng chúng tôi nên nói với Mỹ như thế nào?

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Các đồng chí cử nói với Mỹ rằng Mỹ hãy cút khỏi Việt Nam.

Mikhalowski: .

- Nhưng có khả năng có dấu hiệu nào tỏ ra các đồng chí xem xét đề nghị của Mỹ không? Mỹ nói là sẽ đợi nếu Việt Nam có dấu hiệu đó.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Có nhiều khả nằng, nhưng tuỳ thuộc ở phía Mỹ. Mỹ có mười bốn điểm, chúng tôi có bốn điểm. Thật là rõ ràng ý kiến hai bên còn khác nhau. Thời cơ chưa tới. Chúng tôi không thể tin lời nói của nhà cầm quyền Mỹ được. Chúng tôi phân biệt đế quốc Mỹ và nhân dân Mỹ.

Mikhalowski:

- Nhưng nhân dân Mỹ không thể hiểu được thái độ của các đồng chí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Đồng chí sai lầm rồi. Đồng chí đã đánh giá thấp sự thông minh của nhân dân. Nếu ta giải thích nhân dân sẽ hiểu hết.

Sau cuộc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mikhalowski có gặp lại Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh trao đổi về việc gặp N.Cơ-xin. Bộ trưởng cho biết là phía Việt Nam không từ chối tiếp ông ta và N.Cơ-xin có thể gặp đại diện Việt Nam ở nơi nào thuận tiện cho ông ta. Lúc này Mặt trận Dân tộc Giải phóng chưa có đại diện thường trú ở Ba Lan. Bạn giục ta nói với Mặt trận cử người sang gấp. Ý bạn muốn thu xếp cuộc gặp giữa N.Cơ-xin với đại diện hai miền tại Vasava. Nhưng việc này không thành, vì sau lần thông báo thứ hai của bạn, Hà Nội thấy quan điểm của ông N.Cơ-xin không khác đường lối của Washington.

Ngoài các cuộc gặp gỡ trên, đồng chí Mikhalowski còn thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nội dung cuộc gặp này đại để như cuộc gặp Thủ tướng.

Ngày 31 tháng 1 năm 1966, đồng chí Mikhalowski lên đường về nước, với chặng dừng chân đầu là Viêng Chăn. Cùng ngày hôm đó Harnman tới Viêng Chăn sau một chuyến đi tìm kiếm hoà bình dài ba mươi lăm nghìn dặm qua mười nước từ châu Âu sang châu Á đến châu Đại Dương.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:30:32 PM
CHƯƠNG XI
RONNING

Thủ tướng Canađa L.Pearson, cũng như sáu mươi nguyên thủ Quốc gia và Thủ tướng Chính phủ, đã nhận được thư ngày 24 tháng 1 năm 1966 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Canađa vốn không đồng tình với việc ném bom Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và khó chịu với việc máy bay Mỹ ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam sau đợt ngừng ném bom Nô-en năm 1965. Trước sau, Canađa vẫn nghĩ mình là một thành viên của Uỷ ban Quốc tế, cần và có thể đóng một vai trò trong việc gìn giữ hoà bình ở Việt Nam cũng như ở Lào.

Thủ tướng Canađa thấy trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn: "Nếu Chính phủ Mỹ thật muốn giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam thì họ phải công nhận lập trường bốn điểm của Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và chứng tỏ điều đó bằng việc làm thật sự, phải chấm dứt vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Như vậy thì mới có thể tính đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam".

Chìa khoá của vấn đề có thể nằm trong câu này. Sau khi trao đổi ý kiến đầy đủ với Washington, Chính phủ Canađa quyết định cử ông Chester Ronning đi Hà Nội thăm dò khả năng giải quyết vấn đề Việt Nam.

Lý do đi là mang thư sang Hà Nội trả lời thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ronning là một nhà ngoại giao giàu kinh nghiệm, một chuyên gia về các vấn đề châu Á và năm đó đã bảy mươi mốt tuổi. Ông đã từng là Trưởng đoàn Đại biểu Canađa tại Hội nghị Genève năm 1961 - 1962 về Lào, đã là quan sát viên ở Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương. Ông có thể nói với một số bạn cũ Việt Nam bằng tiếng Trung Quốc không cần đến tiếng Pháp. 

Ngày 10 tháng 3 năm 1966, ông Ronning được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp.

Ông nói:

- Điều khuyến khích Chính phủ Canađa cử tôi sang Hà Nội là lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và bức thư ngày 24 tháng 1 năm 1955 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi sang Hà Nội là để đem thư trả lời của Thủ tướng Canađa Lester Pearson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mục đích chuyến công du của tôi là trình bày nỗi lo lắng của Canađa trước tình hình Việt Nam. Tôi tin rằng có thể làm sáng tỏ quan điểm của Mỹ, vì Canađa là một nước láng giềng, một nước bạn của Mỹ, có nhiều mối liên hệ với Mỹ.

Chính sách của Canađa không giống chính sách của Mỹ, thí dụ Canađa đề nghị Mỹ ngừng ném bom miền Bắc và lấy làm tiếc rằng Mỹ đã ném bom trở lại. Chúng tôi muốn biết Canađa có thể làm được gì để làm sáng tỏ lập trường của Mỹ và cho rằng có khả năng tiến tới đàm phán và tiến tới một giải pháp hoà bình.


Ông tự giới thiệu rằng ông sinh ra ở Trung Quốc, tiếng nói đầu tiên của ông là tiếng Trung Quốc, ông có thiện cảm với cuộc cách mạng ở châu Á. Trước đây, ông có ghé thăm Hà Nội và Sài Gòn. Ông nói tiếp.

- Vì thấy rõ cảm tình của tôi với cách mạng châu Á cũng như đối với các cố gắng để phục hồi đất nước ở vùng này nên tôi được Chính phủ cử sang đây. Mục đích của tôi là làm sáng tỏ lập trường của hai bên xem có điều kiện nào hai bên có thể nhân nhượng được. Phía Mỹ có điểm có thể nhân nhượng được, còn phía các ông trong 4 điểm có điểm nào Hà Nội sẵn sàng thảo luận để nhân nhượng qua tiếp xúc chính thức hoặc không chính thức, trực tiếp hoặc không trực tiếp, để rồi tiến tới Hội nghị chính thức.

Tôi xin hỏi thêm về hai điểm cụ thể: việc Mỹ rút quân và vấn đề đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở bàn Hội nghị. Mỹ tuyên bố không chấp nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng vào bàn Hội nghị với tư cách là đại diện cho Chính phủ của miền Nam Việt Nam như phía Việt Nam đã nói, mà sẵn sàng để đại diện Mặt trận vào bàn thương lượng với tư cách khác. Canađa tự hỏi rằng hai bên có thể thoả thuận với nhau về vấn đề này được không?



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:31:35 PM
Về việc rút quân Mỹ, Việt Nam đòi việc rút quân này là điều kiện tiên quyết cho đàm phán. Còn Mỹ tuyên bố sẵn sàng thảo luận toàn bộ vấn đề rút quân tại bàn Hội nghị và Canađa tin là Mỹ sẽ thực hiện ý định đó. Mỹ sẵn sàng rút quân khỏi miền Nam tương đương với việc rút các lực lượng và sự hỗ trợ quân sự cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Canađa tin rằng Mỹ không muốn ở lại miền Nam Việt Nam với tư cách là lực lượng quân sự. Canađa sợ chiến tranh mở rộng. Đó cũng là cái lo của cả Việt Nam và thế giới nữa. Canađa hiểu rằng không thể thông qua biện pháp quân sự để đạt mục đích chính trị. Do đó, chúng tôi muốn đàm phán trước hết là không chính thức để hạn chế mức cao của chiến tranh. Canađa muốn hỏi xem có thể dùng ảnh hưởng của mình như thế nào, hay là sử dụng Uỷ ban Quốc tế là khâu nối liền Hiệp nghị Genève năm 1954 cho đến nay. Uỷ ban có điều kiện đi lại giữa hai miền và hai miền đều nói là trở lại Hiệp nghị Genève năm 1954.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi hoan nghênh ông đến Hà Nội và nghĩ rằng ông là người có thiện chí, Thủ tướng Pcarson là người có thiện chí. Nhưng không nhất thiết vì chúng ta là những người có thiện chí mà chúng ta có thể giải quyết được vấn đề.

Ronning:

- Đúng, chúng tôi cũng nghĩ vậy.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Vì một lẽ là Mỹ chưa có thiện chí. Họ đang leo thang chiến tranh, tăng cường chiến tranh. Điều đó, chúng tôi biết và Canađa cũng biết.

Ronning:

- Tôi biết điều đó. Mỹ có tăng thêm quân ở đây và chúng tôi lo sợ rằng một nước lớn như Mỹ khi chiến tranh đã đến cao độ thì càng thêm khó khăn để thực hiện đàm phán. Nhưng tôi tin rằng Mỹ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam và Việt Nam sẽ đạt được mục đích Mỹ rút quân hoàn toàn ra khỏi nước mình. Đến nay, Việt Nam chưa chặn được Mỹ tăng cường quân sự. Chính phủ Canađa thấy rằng bây giờ có khả năng làm được việc đó nên cử tôi đến đây. Canađa tin rằng Mỹ không có tham vọng đất đai, không có tham vọng thống trị nước nào ở châu Á nên có thể...

Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngắt lời:

- Tôi xin lỗi ông, cái lô-gích của ông trong vấn đề này không ai chấp nhận được. Cái lô-gích đó là Mỹ tăng cường quân đội để đi đến rút quân, Mỹ tăng cường chiếm đóng để rồi không chiếm đóng, Mỹ tăng cường chiến tranh để rồi đàm phán! Dư luận thế giới đã hiểu chính sách của Mỹ như vậy và cái gọi là cuộc tấn công hoà bình của Mỹ từ năm 1965 đến nay đã thất bại.

Ronning im lặng.Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói tiếp:

- Một điều chứng tỏ Mỹ chưa có thiện chí là Mỹ chưa bao giờ công nhận lập trường bốn điểm của chúng tôi. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh họ không hề biết đến. Tóm lại, Việt Nam có thiện chí còn Mỹ thì như vậy. Biết làm sao được. Theo chúng tôi Mỹ sẽ đánh mạnh hơn nữa, leo thang hơn nữa, nhưng chúng tôi đã chuẩn bị. Họ là người xâm lược. Lịch sử chứng minh rằng họ là người xâm lược, luật pháp quốc tế chứng minh rằng họ là người xâm lược, nhân dân bình thường cũng coi họ là người xâm lược. Họ đánh chúng tôi, chúng tôi phải đánh lại. Họ leo thang vì họ thất bại. Tới cuối năm 1966, họ có thể có bốn trăm nghìn quân ở miền Nam. Họ có thể dùng những thủ đoạn chiến tranh dã man hơn phát xít Đức, nhưng họ sé thua nặng hơn, nhân dân miền Nam sẽ mạnh hơn. Nhân dân Việt Nam nhất định đánh thắng. Nhân dân Việt Nam cho rằng không ai có quyền ủng hộ Mỹ đánh chúng tôi. Canađa cũng không nên ủng hộ Mỹ. Chúng tôi muốn độc lập, tự do, được yên ổn. Mỹ ở bên kia Thái Bình Dương việc gì họ phải mang quân sang đây để giải quyết tốt vấn đề, phải trở lại chân lý người Mỹ trở về Mỹ, bên kia Thái Bình Dương! Ai dám phản đối chân lý đó!.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:32:53 PM
Ông Ronning:

- Chúng tôi có cảm tình và ủng hộ một số điểm trong mục tiêu mà các ông định đạt tới: độc lập, không có sự can thiệp của nước ngoài. Chúng tôi tin rằng tiếp theo ngừng bắn sẽ có một Hội nghị quốc tế để các cường quốc có liên quan đến tình hình ở đây bảo đảm những điều đó. Chúng tôi chỉ mong muốn một điều là một bên là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và bên kia là Mỹ ngồi bàn không chính thức với nhau trong khi đó chiến tranh vẫn tiếp tục, như ở Bản Môn Điếm (Triều Tiên). Lúc nào thấy có cơ sở đàm phán toàn bộ, lúc đó thực hiện ngừng bắn, triệu tập Hội nghị quốc tế. Nếu không có khả năng làm như vậy thì cũng có thể làm như Hội nghị quốc tế  về Triều Tiên (tức là phần đầu Hội nghị Genève năm 1954 - Tác giả.) là không ký hiệp ước gì cả. Nếu như hai bên chấp nhận được các vấn đề thảo luận thì (mặc nhiên) thi hành, nhưng nếu như quân Mỹ rút lui vì có một hiệp nghị thì các ông đã đạt được mục tiêu mà không phải lo lắng gì về chiến tranh, về "leo thang" cả.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tất cả đều phụ thuộc vào một điều kiện là người bạn Canađa có thuyết phục được Mỹ tỏ thái độ đúng đắn với lập trường bốn điểm của chúng tôi hay không. Chúng tôi chờ những người bạn Canađa.

Ronning:

- Những người bạn Canađa rất sung sướng làm việc này nếu như Thủ tướng rọi một vài tia sáng vào các điều có thể thoả thuận, có thể thay đổi để Canađa có lý do thuyết phục người Mỹ đế họ thực hiện điều mà Thủ tướng mong muốn Mỹ làm.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi không thể thay đổi một chút nào, cả bốn điểm là quyền lợi tối cao của nhân dân Việt Nam, không thể nào thêm bớt, không thể nào thay đổi. Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 1 là một bước mới. Nó đề ra điều kiện: Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống miền Bắc. Đó là cái lẽ đơn giản nhất. Cả thế giới cũng thừa nhận điều đó

Ronning nói nhỏ (như tự nói với mình):

- Có thể làm được chút gì đây? Tôi nghĩ thế. Đây là thời cơ của Canađa (rồi ông nói to hơn) Thủ tướng Pearson đã tuyên bố đòi chấm dứt ném bom miền Bắc để đàm phán và đã tỏ ý tiếc về việc Mỹ ném bom trở lại.

Nếu Chính phủ Mỹ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, nếu đó là yêu cầu của phía Bắc Việt Nam - thì việc đó có thể làm cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đàm phán không chính thức, nói chuyện không chính thức, trực tiếp hoặc không trực tiếp hay không? Mỹ sẽ thực hiện như vậy. Mỹ đã đảm bảo với Canađa như thế. Canađa biết và tin Mỹ sẽ làm như thế. Mỹ sẽ cử một đại diện để gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, thảo luận bất cứ vấn đề gì trong số các vấn đề chia rẽ chúng ta. Nếu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc, các ông có sẵn sàng nói chuyện không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi trả lời Chính phủ Mỹ phải tuyên bố đình chỉ mọi sự đánh phá, mọi hành động quân sự vĩnh viễn và không điều kiện đối với Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:34:32 PM
Ronning:

- Tôi xin hỏi điều này rất quan trọng: Có phải là các ông yêu cầu Mỹ đình chỉ mọi hành động khiêu khích đối với miền Bắc Việt Nam không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Cần nói thêm: không điều kiện, vĩnh viễn và phải tuyên bố. Về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ xem xét thái độ của Mỹ với tất cả mọi sự hiểu biết. Chúng tôi nói rõ để ông biết: Mỹ lấy việc đánh phá miền Bắc làm một con bài. Không được đâu! Tuyệt đối khôngđược đâu! Phải tuyên bố vĩnh viễn và không điều kiện. Về phần chúng tôi, chúng tôi biết sẽ phải làm gì.

Ronning:

- Điều mà Thủ tướng vừa nói có phải chỉ hạn chế trong phạm vi miền Bắc không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đúng!

Ronning cúi xuống ghi vội mấy chữ vào sổ tay với vẻ mặt hân hoan. Ông hỏi tiếp về Mặt trận Dân tóc Giải phóng miền NamViệt Nam .

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói:

- Trong vấn đề Việt Nam có một vấn đề mà cũng có hai vấn đề. Người có thẩm quyền trong vấn đề miền Nam Việt Nam là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hai bên đánh nhau nhiều năm rồi, đánh nhau lớn, đánh nhau lâu nữa. Người Mỹ không muốn biết đến Mặt trận là không được đâu!.

Ronning:

- Đó có phải là điều kiện trước khi đàm phán không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Lập trường của Việt Nam có nhiều mặt, tóm lại là bốn điểm và Mỹ vĩnh viễn đình chỉ đánh phá miền Bắc. Điều sau phải nói rõ: Mỹ phải tuyên bố đình chỉ đánh phá miền Bắc vĩnh viễn và không điều kiện. Nếu không như vậy thì không có giá trị.

Ronning:

- Bắc Việt Nam, chỉ hạn chế trong Bắc Việt Nam phải không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đúng!

Kết thúc cuộc nói chuyện, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói thêm:

- Chúng tôi không phản đối cố gắng của Canađa để có sự đóng góp. Nếu Canađa thuyết phục được Mỹ thì đó là điều tốt, nhưng chúng tôi không nhờ Canađa đâu.

Ronning:

- Và chúng tôi cũng không xung phong.

Hai người cùng cười.

Ronning ra về với một thông điệp rõ ràng của Hà Nội: Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc thì có thể mở đường đi tới nói chuyện. Ông đã báo cáo Chính phủ Canađa, đã thông báo cho nhiều nhân vật của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó có Wilham Bundy. Các quan chức Mỹ nói rằng sẽ ngừng ném bom miền Bắc khi nào Hà Nội nhận sẵn sàng có đi có lại.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:35:22 PM
Ngày 29 tháng 4 năm 1966, Thủ tướng Pearson đề ra một kế hoạch hoà bình mới: ngừng bắn và từng bước rút quân như là những bước tiến tới hoà bình. Ngừng bắn là phần đầu của một khuôn mẫu rộng lớn về thương lượng hoà bình không có điều kiện trước. Và cùng với sự tiến triển của thương lượng, Bắc Việt Nam và các Chính phủ khác cùng rút quân từng đợt tương đương khỏi Nam Việt Nam dưới sự giám sát của quốc tế. Đồng thời, cần có những sắp xếp để có thể bảo đảm cho Nam Việt Nam có thể lựa chọn hình thức Chính phủ là làm sao cho việc rút quân không tạo nên một lỗ trống về chính trị mà chủ nghĩa khủng bố sẽ tiếp tục. Ông cũng gợi ý các việc trên đây sẽ thông qua Hội nghị Genève và Uỷ ban Quốc tế (Bộ Quốc phòng Mỹ: Sđd, Phần VI-A, tr. 21.).

Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1966, có một số cuộc trao đổi ý kiến giữa Ottawa và Washington về khả năng nói chuyện giữa Bắc Việt Nam và Mỹ. Với sự ủng hộ của Chính phủ Mỹ, Canađa quyết định cử Ronning sang Hà Nội một lần nữa với mục đích xác định xem Hà Nội có nhận một vài sự có đi có lại nào không để đi tới ngừng ném bom miền Bắc.

Ông Ronning tới Hà Nội ngày 14 tháng 6 năm 1966. Trước hết, ông xin gặp một người quen cũ đã cùng dự Hội nghị Genêve năm 1962 về Lào và khi đó đang là một người trong lãnh đạo Bộ Ngoại giao nước ta. Trong cuộc gặp này, ông đã chuyển một thông điệp của Mỹ. Thông điệp nói:

Mỹ không thể chấp nhận một gợi ý như thế, nghĩa là Chính phủ Mỹ phải đồng ý chấm dứt vĩnh viễn việc ném bom Bắc Việt Nam coi như một điều kiện tiên quyết đơn phương không được đáp lại để đi đến đàm phán.

Mỹ có thể sẵn sàng tiến tới thương lượng trên cơ sở hai bên cùng giảm chiến sự ở Việt Nam mà việc chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam sẽ là một yếu tố trong sự giảm bớt đó
".

Cuộc nói chuyện với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh khá căng thẳng, vì lần này rõ ràng ông Ronning đến Hà Nội mang theo quan điểm của Mỹ. Nguyễn Duy Trinh đã kịch liệt phê phán việc Mỹ đòi có đi có lại, và cũng có lời chê trách ông Ronning. Ông thanh minh và buồn bã ra về ngày 18 tháng 6.

Ông điện báo một bản báo cáo đầu tiên cho Ngoại trưởng Canađa Paul Martin. Canađa chuyển báo cáo đó cho Washington và yêu cầu không nên leo thang ném bom cho đến khi Ronning xong nhiệm vụ vì Johnson đã định leo thang bước mới, đánh Hà Nội và Hải Phòng từ ngày 7 tháng 6. Trong lúc đang công tác ở châu Âu. Ngoại trưởng Dean Rusk cũng sửng sốt về tin này, như bức điện ông gửi cho Macnamara chứng tỏ:

Tôi hết sức buồn phiền về sự phát triển đột ngột của tình hình thế giới và có lẽ cả những sự kiện lớn nhất ở trong nước nếu chúng ta tiến hành một việc sẽ phá hoại sứ mệnh của ông Ronning, một sứ mệnh mà ta đã đồng ý. Tôi hiểu sự băn khoăn day dứt mà việc này đã gây ra cho tất cả chúng ta. Chúng ta có thể có ngay báo cáo về chuyến đi của Ronning. Nếu ông ta mang về một báo cáo tiêu cực như chúng ta mong đợi thì đó là một cơ sở chắc chắn hơn nữa cho hành động mà chúng ta trù tính" (Tài liệu Lầu Năm Oóc G.E. tập IV, tr. 104.).



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:36:39 PM
Ông Dean Rusk sợ máy bay Mỹ đánh Hà Nội lúc ông Ronning đang ở đó, chứ không phải ông chống lại việc đánh Hà Nội vì Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ đều mong muốn chuyến công du của Ronning không đạt kết quả tích cực.

Trước khi bước lên cầu thang chiếc Stratoliner cũ kỹ dành riêng cho Uỷ ban Quốc tế, Ronning nói với người phụ trách lễ tân của ta đi tiễn:

- Nếu các ông chỉ nhấn mạnh một điều là Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc thì sẽ khiến người Mỹ hiểu đây là điều quan trọng và các ông bị đánh đau nên tha thiết đòi điều đó, Mỹ sẽ càng đánh mạnh hơn

Ông Ronning đã nói một điều mà người ta đã cho ông biết trước.

Ngày 29 tháng 6, mười ngày sau khi ông Ronning rời Hà Nội, cuộc oanh tạc đầu tiên vào kho dầu Đức Giang, cách trung tâm Hà Nội năm ki lô mét, đã bộc lộ ý định thật của Nhà Trắng đồng thời cũng thiêu huỷ luôn "thời cơ của Canađa".

Để hiểu sự thất vọng của Ottawa cũng cần nói thêm rằng bước leo thang đánh Hà Nội, thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hải Phòng, cảng duy nhất cho các tàu Liên Xô tiếp tế cho Bắc Việt Nam, là cực kỳ nghiêm trọng, đến mức là Mỹ vẫn e ngại một phản ứng của Bắc Kinh. Từ ngày 17 tháng 4, Dean Rusk đã nhắn tin tới Bắc Kinh:

Mỹ đã hành động một cách kiềm chế trong chiến tranh ở Việt Nam và hy vọng rằng người Trung Quốc thấy rõ điều đó và sẽ chỉ đạo hành động của họ theo hướng đó".

Và Washington đã hài lòng với câu trả lời của người Trung Quốc:

Trung Quốc sẽ không phát động chiến tranh với Mỹ. Quân đội Mỹ sẽ bị tiêu diệt ở Trung Quốc nếu Mỹ tấn công Trung Quốc" (Tuyên bố của Thủ tướng Chu Ân Lai (Trung Quốc) ngày 10 tháng 5 năm 1965.).

Washington có thể yên lòng tính đến một bước leo thang mới.

Sau này trong cuốn "Hồi ký về Trung Quốc từ cuộc nổi dậy của Nghĩa hoà đoàn đến Cộng hoà Nhân dân" C.Ronning viết: "Tôi chưa bao giờ làm việc vất vả và dùng nhiều lý lẽ như vậy để diễn đạt một cách đẹp đẽ nhất sự can thiệp của Mỹ vào cuộc nội chiến ở Việt Nam với những người tôi nói chuyện nhằm cố gắng đi vào thương lượng chấm dứt chiến tranh". Nhưng ông cảm thấy đã bị lợi dụng. Hoa Kỳ nắm lấy sự bác bỏ (của Hà Nội) để biện hộ cho việc leo thang (Xem thêm: Giócgiơ C.Hearing: Sđd, tr. 159-161)



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:37:38 PM
CHƯƠNG XII
NHỮNG PHÁI VIÊN CỦA PARIS

Tổng thống Pháp De Gaulle đã kiên trì theo đuổi một chính sách độc lập về nhiều mặt đối với Mỹ, tuy rằng Pháp và Mỹ vẫn là hai nước đồng minh.

Là nước đã cai trị Việt Nam cũng như Lào và Campuchia trước đây, Pháp đặc biệt quan tâm đến tình hình Việt Nam, nhất là miền Nam, kể từ khi rút khỏi Đông Dương năm 1956 để Mỹ thay thế. Trước hết là vì Pháp còn quyền lợi ở Việt Nam và sau nữa Pháp vẫn muốn có vai trò, muốn phát huy ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Từ khi Mỹ tăng cường can thiệp vào miền Nam Việt Nam, Pháp đã chứng kiến những thất bại liên tiếp của Mỹ: sự sụp đổ của chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm, sự phá sản hoàn toàn của cuộc chiến tranh đặc biệt.
Với kinh nghiệm thất bại trong cuộc chiến tranh chống du kích ở Đông Dương mặc dầu có cả viện trợ của Mỹ, ngay từ đầu, Pháp đã cảm thấy Mỹ không thể thắng được và sớm muộn cũng phải rút lui. Khi cuộc chiến tranh đặc biệt bị sa lầy, Pháp thấy Mỹ có thể thua, do đó cho rằng cần phải có một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam có lợi cho cả Mỹ, Pháp và phương Tây.

Từ năm 1963, Tổng thống De Gaulle đã gợi ý rằng Bắc và Nam Việt Nam cần được thống nhất và nước Việt Nam cần trung lập hoá; tất cả các lực lượng nước ngoài phải rút đi. Nhưng ngày 2 tháng 9 năm 1963. Tổng thống Kennedy cho rằng gợi ý đó không thể chấp nhận được và tuyên bố một câu nổi tiếng:

Điều làm cho người Mỹ đương nhiên hơi sốt ruột là sau khi mang cái gánh nặng đó trong mười tám năm và chúng ta hài lòng nhận được những lời khuyên chúng ta thích được giúp đỡ hơn chút nữa, một sự giúp đỡ thật sự. Nhưng trong trường hợp nào chúng ta cũng sẽ biết trách nhiệm của chúng ta.

Chúng ta nào có tiến gì hơn khi nói: nói cho cùng, tại sao chúng ta trở về nước, phó mặc thế giới cho những kẻ thù của chúng ta?"
(L.B Johnson: Sđd, tr. 87.).

Khi Mỹ bắt đầu ném bom nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam, Pháp càng lo ngại và tăng cường hoạt động ngoại giao. Ngoại trưởng Couve de Murvilde đi Mát-xcơ-va. Bộ trưởng André Malraux, người có quan hệ từ lâu với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, đi Bắc Kinh để trao đổi ý kiến về một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam. Ông Jean Chauvel cùng đi Hà Nội với nhiệm vụ tương tự.

Jean Chauvel, Phó trưởng đoàn Đại biểu Pháp trong Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương, quen biết nhiều nhân vật chính trị Việt Nam, trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng khi cùng dự Hội nghị Genève.

Khi đi qua Bắc Kinh, Jean Chauvel được gặp Thủ tướng Chu Ân Lai. Hai người đề cập vấn đề Trung Quốc vào Liên Hợp Quốc và vấn đề Việt Nam là vấn đề mà Chauvel quan tâm hơn.

Tại Hà Nội, Chauvel được đồng chí Phạm Văn Đồng tiếp ngày 11 tháng 12 năm 1965, mười tháng sau khi bắt đầu các đợt "Sấm Rền" ném bom miền Bắc Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:38:46 PM
Ông Chauvel nói đại ý: Chiến tranh Việt Nam có nguy cơ lan rộng. Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh mà họ cũng không muốn. Chính sách leo thang hiện nay của Mỹ là một bước tiến về vũ lực. Có thể nói là nhân dân Mỹ ít am hiểu các vấn đề quốc tế đang ủng hộ Johnson. Sự phản đối của giới trí thức là không đáng kể vì trí thức ít ảnh hưởng ở Mỹ. Hiện nay, Mỹ tăng quân đến hai trăm nghìn người vào miền Nam, họ đánh ra miền Bắc, chiến tranh có thể lan rộng. Điều đó có thể đưa lại những hậu quả không thể lường được. Ở Mỹ còn hai năm nữa mới đến bầu cử Tổng thống. Từ nay đến đó phải làm gì. Tôi không hiểu rõ các điều kiện tiên quyết, thí dụ như việc Mỹ rút quân. Hồi ở Genève, hai bên đã họp với nhau trong khi còn đang đánh nhau.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói:

- Hiện nay Mỹ đang đưa thêm quân vào miền Nam để tiếp tục chiến tranh chứ không phải để lập lại hoà bình. Có thể họ sẽ ném bom Hà Nội. Khi Mỹ đã dùng vũ lực thì nhân dân Việt Nam bắt buộc phải đánh trả và nhất định Mỹ sẽ thất bại.

Chauvel:

- Chúng tôi hiểu quyết tâm của nhân dân Việt Nam. Nhưng tôi cho rằng song song với quá trình chiến tranh, cần tiến hành một quá trình hoà bình cho đến khi hai quá trình đó gặp nhau.

Về phần Pháp, chúng tôi có thể làm một việc gì đó, thí dụ đưa ra một dự án cho các bên hữu quan, lẽ dĩ nhiên không lấy lại lập trường bốn điểm của Việt Nam, vì đó là của riêng Việt Nam. Nhưng có thể đưa ra một dự án mà nội dung là Hiệp nghị Genève, và sau đó trình bày ra cho các bên. Sau khi có thoả thuận về nguyên tắc, có thể nói đến vấn đề thủ tục. Có điều thuận lợi là có thể làm như hồi ở Genève năm 1954, nghĩa là mỗi bên có thể đưa ra một danh sách mời những người bạn của mình. Sau đó có thể thoả thuận một chương trình nghị sự.


- Ngừng bắn (chứ không phải đình chiến);

- Điều kiện để giải quyết;

- Điều kiện rút quân;

Và cuối cùng có thể ngồi vào bàn thương lượng.

Tôi thấy ở Hà Nội các ông không cường điệu vấn đề như là tai hoạ đến nơi, nhưng ở nước láng giềng phương Bắc của các ông, cái gì cũng tưởng như báo hiệu sắp tận thế
.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng ta đang ở Hà Nội. Chúng tôi quan tâm theo dõi các cố gắng của Pháp. Nước Pháp có lợi ích ở khu vực này. Là một bên ký Hiệp nghị Genève, Pháp có vai trò góp phần ổn định tình hình trong khu vực. Có một thời gian Pháp bỏ rơi trách nhiệm của mình. Nay Tổng thống De Gaulle thấy rõ vấn đề hơn. Còn về phía chúng tôi, chúng tôi tiếp tục chiến đấu ở miền Nam và ở miền Bắc. Chúng tôi tiến hành chiến tranh nhưng cũng tìm cách hạn chế chiến tranh không để nó mở rộng. Chúng tôi cũng biết cách lập lại hoà bình khi cần thiết. Chúng tôi không cản trở công việc của Pháp.

Đúng là Pháp có tư cách để làm một việc đó. Pháp hãy đóng vai trò của mình. Còn về phần chúng tôi ư? Chúng tôi phải thắng trên chiến trường. Pháp cần nói cho đồng minh Mỹ của mình biết rằng nếu họ cứ dùng vũ lực với chúng tôi thì đó là dịp tốt để Việt Nam mau chóng thông nhất bằng con đường chiến tranh. Ông đại sứ điểm lại xem ai có thể đóng góp vào hoà bình. Ông cho rằng người Anh thì hiện nay không được vì Anh còn bận vấn đề Malaysya, vả lại Anh không được tự do hành động. Canađa có quan tâm hơn, Ấn Độ thì đang có vấn đề với Trung Quốc. Liên Xô có thể có một cái gì. Họ muốn bình thường hoá tình hình ở đây, nhưng họ có vẻ ngập ngừng. Những yếu tố thuận lợi là thế đấy, có việc gì đó có thể được tiến hành.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:39:36 PM
Ông đại sứ nói tiếp:

- Nhưng quan hệ giữa Pháp và Mỹ gặp khó khăn và điều khó khăn nữa là làm sao cho Mỹ hiểu được vấn đề. Thí dụ, họ cứ khăng khăng coi Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam là hai Quốc gia riêng biệt. Hiệp nghị Genève coi giới tuyên quân sự chỉ là tạm thời và bản Tuyên bố cuối cùng của Hiệp nghị Genève đã nói rõ nước Việt Nam là một, nhưng người Mỹ không muốn hiểu điều đó.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi đánh giá cao những sáng kiến của Pháp. Pháp hiểu đồng minh của mình. Chúng tôi chúc Pháp may mắn. Chúng ta phải trở lại Hiệp nghị Genève mỗi bên trên vị trí của mình.

Quan điểm đó của Thủ tướng phù hợp với quan điểm mà Tổng thống De Gaulle phát biểu ngày 8 tháng 2 năm 1966 trong thư trả lời thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 24 tháng 1 năm 1966: trở lại Hiệp nghị Genève năm 1954 và trung lập hoá Việt Nam. Trong thư đó Tổng thống nói: "Chúng tôi gạt bỏ bất kỳ giải pháp quân sự nào và không tán thành người ta lấy cớ giành thắng lợi cho giải pháp đó để kéo dài hay mở rộng chiến tranh. Pháp quan tâm dùng ảnh hưởng của mình tác động theo chiều hướng mong muốn để sớm chấm dứt cuộc xung đột và tích cực tham gia giải quyết cuộc xung đột đó khi có điều kiện. Để đạt được mục đích đó, Pháp sẵn sàng duy trì Chính phủ ngài mọi sự tiếp xúc xét ra bổ ích” (Xem thêm Jean Laccuture: Sđd, tr. 245.).

*
*   *

Ngày 24 tháng 2 năm 1966, Tổng thống De Gaulle gặp ông Jean Sainteny, Bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh trong Chính phủ trước và lúc đó chưa nhận công tác gì khi chờ thành lập Chính phủ mới, và giao cho ông nhiệm vụ đi Hà Nội thăm dò khả năng một giải pháp về vấn đề Việt Nam. De Gaulle yêu cầu ông sẵn sàng lên đường cuối tháng 4 đầu tháng 5 và phải giữ bí mật. Nhưng chỉ mấy ngày sau, tin đó đã lộ ra ngoài, nên chuyến đi phải tạm hoãn lại. Ngày 13 tháng 6, như đã yêu cầu trước qua bà Sainteny, Henry Kissinger, khi đó là chuyên viên Bộ Ngoại giao Mỹ đến gặp Sainteny về chuyến đi Hà Nội sắp tới của ông. Trong cuộc nói chuyện này, Kissinger khẳng định rằng Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam nếu đạt được một cuộc ngừng bắn đi đôi với một bảo đảm rằng ít nhất trong tám năm Bắc Việt Nam sẽ không mưu toan xâm chiếm Nam Việt Nam. Đó là cái mà sau người ta gọi là thuyết “thời gian phải chăng” (decent interval). Kissinger yêu cầu giữ bí mật kể cả với sứ quán Mỹ ở Paris về ý kiến ông ta đã phát biểu với Sainteny.

Sainteny là nhân vật đã ký bản Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946 giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đã là đại diện của Pháp tại Hà Nội từ năm 1954 đến năm 1957, do đó rất quen biết ở Việt Nam. Việc chọn lựa ông là thích hợp để thực hiện hai mục tiêu:

Trước hết là khôi phục lại quan hệ của Pháp với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, cố gắng chấm dứt tình trạng lạnh nhạt trong quan hệ giữa hai nước từ năm 1958 và tạo mọi gạch nối giữa tướng De Gaulle và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Sau là thăm dò ý định của các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam cũng như các nhà lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhằm cố gắng đánh giá xem trong phạm vi nào họ có thể sẵn sàng tìm một giải pháp thương lượng cho cuộc chiến tranh đang tiếp diễn.

Ông tới Hà Nội ngày 1 tháng 7 năm 1966. Ông đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp. Ông cũng đã gặp Bộ trưởng Bộ Văn hoá thông tin Hoàng Minh Giám, một người quen cũ từ năm 1946, và ông Bộ trưởng Bộ Ngoại thương Phan Anh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:40:35 PM
Về mục tiêu thứ nhất, chính Sainteny cho là "Hoàn toàn đã đạt”. Ở đây chỉ nói về các cuộc nói chuyện liên quan tới mục tiêu thứ hai.

Ngày 4 tháng 7, Sainteny gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cùng đi với ông có ông De Quirielle, Tổng đại diện Nước Cộng hoà Pháp. Về phía Việt Nam có ông Nguyễn Cơ Thạch, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Nguyễn Thanh Hà, Vụ trưởng Vụ châu Âu. Cuộc nói chuyện bắt đầu lúc mười tám giờ tại Nhà khách chính phủ.

Sau một vài câu chuyện thân tình, Thủ tướng hoan nghênh cuộc viếng thăm của ông Sainteny và coi đó là một dấu hiệu của sự nối lại quan hệ có lợi cho cả hai nước. Thủ tướng tỏ lời cảm ơn thái độ của tướng De Gaulle và Chính phủ Pháp trong cuộc chiến tranh Việt Nam.

Và Thủ tướng Phạm Văn Đồng hỏi:

- Thế ông muốn tôi nói gì nào?

Jean Sainteny:

- Xin Thủ tướng hãy nói cho tôi như mọi khi những điều Thủ tướng nghĩ trong lòng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng: .

- “Trước hết, tôi cần thông báo cho ông một việc hết sức nghiêm trọng vừa xảy ra cách đây vài ngày: Mỹ đã ném bom Hà Nội.
Không có khả năng Mỹ xuống thang. Chúng tôi biết Mỹ đang chuẩn bị cái gì và chúng tôi đã chuẩn bị đối phó với cái mà họ sẽ làm. Mỗi lần họ thua ở miền Nam là họ phải leo thêm một nấc thang để gỡ thế bí, tìm cách giành lại vị trí tốt hơn. Cũng không có gì tỏ rằng Chính quyền Mỹ muốn thay đổi chiều hướng chính sách của họ. Nước Việt Nam quyết tâm đối phó với mọi cuộc tấn công mới. Chúng tôi biết kết cục của cuộc xung đột là ở chiến trường và phải tìm kết cục đó trên chiến trường. Nếu năm 1965, chúng tôi có nhiều lo ngại cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng trước cuộc đồ bộ ồ ạt quân Mỹ thì nay không như thế nữa. Việc Mặt trận đã có thể chống lại quân Mỹ mà không chịu khuất phục, tự nó đã là một chiến thắng. Ở miền Bắc, sự đe doạ rất lớn nhưng dù người Mỹ san bằng Hà Nội cũng không thể làm nhụt ý chí kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Hãy để cho bọn quái vật Wheeler, Rostow trổ hết tài. Chúng tôi sẽ chiến đấu. Từ trước tới nay, Mỹ nói hoà bình đế làm chiến tranh. “Những nguyện vọng hoà bình" của họ không thể tin được. Mỹ chỉ nhận thương lượng trên thế mạnh, nghĩa là trên cơ sở các điều kiện của họ. Quan điểm của Mỹ không thể chấp nhận được
.”

Jean Sainteny:

- “Cuộc chiến tranh này sẽ gây nhiều hy sinh cho nên các Chính phủ trực tiếp dính líu cần tìm mọi cách để chấm dứt nó. Chúng tôi rất hiểu rằng Việt Nam không chịu khuất phục trước một số đòi hỏi của Mỹ, nhưng chúng tôi nghĩ rằng cũng không nên đình chỉ việc tìm kiếm hoà bình trong lúc đang chiến đấu với hết sức mình. Nước Mỹ mới dùng sức mạnh của họ ở Việt Nam một cách rất hạn chế và nếu họ dùng rộng rãi hơn sức mạnh đó thì những thiệt hại gây ra cho nhân dân Việt Nam sẽ không thể tính được. Dư luận Mỹ có khả năng chuyển hoá. Hiện nay nó còn bị chia rẽ, khi nào họ hiểu hơn thực trạng của cuộc chiến tranh Việt Nam, khi đó họ sẽ tán thành một giải pháp thương lượng. Các đề nghị hoà bình của Mỹ không phải chỉ là những gợn sóng, dù Washington chưa sẵn sàng nhân nhượng. Người ta không thể phê phán chính sách và ý đồ của Mỹ ở Việt Nam chỉ trên cơ sở hành động quân sự của họ vì hành động quân sự này chỉ là phản ánh một mặt của chính sách.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:41:54 PM
Mỹ đang đi tìm một giải pháp để khỏi mất thể diện và chính Việt Nam mới ở thế thắng. Mỹ đã bị đánh bại, không thực hiện được ý đồ. Đối với một nước nhỏ mà làm cho Mỹ không thực hiện ý đồ là đã ở trong thế thắng rồi. Việt Nam đang ở trong thế mạnh, thế của người chiến thắng. Nếu là đấu quyền Anh thì Việt Nam đã thắng điểm rồi.

Cần tìm ra một giải pháp, nhất thiết phải tìm ra một giải pháp. Mỗi bên muốn có điều kiện lợi cho mình là lẽ đương nhiên. Cần làm cho các lập trường gần nhau, không đối lập nhau quá xa để có thể dung hoà được lẫn nhau. Không phải là tất cả các điều kiện của một trong hai bên đều được chấp nhận cả. Nước Pháp rất quan tâm đến vấn đề Việt Nam và Đông Dương. Điều quyết định là ý kiến của Việt Nam.

Trong số các nhà chiến lược chính trị ở Mỹ, có những người muốn chiến đấu đến cùng, muốn phiêu lưu, có những người cực đoan nhưng họ không phải là đa số, quyết định không phải ở họ. Tuy còn hai năm nữa nhưng đã gần ngày bầu cử (Tổng thống) rồi, họ buộc phải chú ý đến điều đó. Quan điểm của một số người Mỹ đã bắt đầu chuyển biến xuống giọng
.”

Về giải pháp, ông Sainteny hoàn toàn không nói gì đến ý kiến của Kissinger nói với ông trước khi đi. Ông nói tiếp:

- “Cần nghĩ đến chiến tranh nhưng cũng cần nghĩ đến hoà bình. Một ngày nào đó sẽ phải thương lượng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng cần phải lên tiếng. Mặt trận Dân tộc Giải phóng phải đang tiến hành chiến tranh trong những điều kiện gian khổ không những đối với các chiến sĩ mà đối với cả nhân dân. Tất cả các lực lượng thiện chí cùng chung sức phấn đấu để đi tới một giải pháp hoà bình trong thương lượng. Dư luận Mỹ đã có dấu hiệu mệt mỏi. Cần sẵn sàng lật quân bài xuống bàn, nói rõ mình muốn gì. Điều đó sẽ nhanh hơn các ông tưởng. Pháp đã sẵn sàng...”

Ông Sainteny bỗng nhiên ngừng lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất hiện, hồng hào, tươi cười. Người bắt tay khách xong, Người nói:

- "Tôi biết ông ở đây, nhưng tôi không đợi đến cuộc viếng thăm chính thức ngày mai nên đến thăm ông". Người hỏi thăm sức khoẻ ông Sainteny, gửi lời thăm bà Sainteny và các con của ông phải ở lại Phnôm Pênh vì Mỹ ném bom Hà Nội.

- Thôi để ông tiếp tục.

Trước lúc lui chân, Người nói thêm với ông Sainteny:

- “Nếu ông có gặp người Mỹ, ông hãy nói cho họ rằng chúng tôi không sợ Mỹ, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng, dù có phải hy sinh tất cả. Mỹ rút đi thì mọi việc sẽ được giải quyết. Nếu họ muốn, chúng tôi có thể mang hoa tặng họ. Nhưng chừng nào còn một tên lính Mỹ trên đất nước chúng tôi, chúng tôi còn tiếp tục chiến đấu”.

Cuộc nói chuyện của Thủ tướng và ông Bộ trưởng tiếp tục.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- “Chúng tôi biết chiến tranh là thế nào, nhưng điều thiết tha hơn, thiêng liêng hơn đối với chúng tôi là độc lập dân tộc. Pháp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuyết phục Chính phủ Mỹ đi vào con đường ít nguy hiểm hơn cho họ và thế giới. Chúng tôi có nghĩ đến giải pháp hoà bình vì chiến tranh kết thúc sớm hơn một ngày nào là hạnh phúc cho chúng tôi ngày ấy.”



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:43:21 PM
Bất thình lình, ông Sainteny hỏi:

- “Ở miền Nam Việt Nam có thể thành lập một Chính phủ liên hiệp dân tộc trung lập không?”

Thủ tướng Phạm Văn Đồng: .

- Có thể. Đó là mục tiêu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Jean Salnteny:

- Các ông còn đợi gì nữa mà chưa thành lập?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi tiếc là không thể có một câu trả lời thoả đáng vì đó là vấn đề của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, Mặt trận có chính sách riêng.

Jean Sainteny:

- Sau khi Chính phủ liên hiệp dân tộc được thành lập, dư luận Mỹ sẽ thấy rõ tính ngu xuẩn và vô ích của cuộc chiến tranh này.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- “Tiến tới thành lập một Chính phủ là quyết tâm phấn đấu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng...”

Jean Sainteny:

- “Việc tất cả các lực lượng chính trị đều quy tụ vào Mặt trận cần dẫn tới một cái gì khác hơn là tăng cường chiến tranh. Cần chứng minh rằng Mặt trận là người đối thoại có giá trị. Việc thành lập một Chính phủ liên hiệp dân tộc và trung lập ở miền Nam cộng với những thất bại nặng nề của Mỹ có thể đưa tới việc thức tỉnh dư luận.”

Còi báo động rú vang trong đêm tối, máy bay Mỹ đến gần Hà Nội. Cuộc nói chuyện giữa Thủ tướng và ông Sainteny ngừng ở đây.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:44:49 PM
Hôm sau, ngày 5 tháng 7.

Mười bảy giờ, ông Sainteny được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tại Phủ Chủ tịch (Theo lời kể của Nguyễn Cơ Thạch, nguyên Thứ trưởng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.). Dự cuộc tiếp có Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thanh Hà. Sainteny trao Chủ tịch Hồ Chí Minh bức thư của tướng De Gaulle, Tổng thống nước Cộng hoà Pháp và bày tỏ những tình cảm kính trọng đối với Người. Sau khi Nguyễn Cơ Thạch và Nguyễn Thanh Hà rút lui, cuộc nói chuyện tay đôi rất thoải mái. Đại để nội dung vẫn là các đề tài mà ông Sainteny đã trao đổi hôm trước với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Người nhấn mạnh:

- “Chúng tôi hiểu đế quốc Mỹ. Chúng tôi biết sức mạnh của họ. Họ có thể san bằng Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Bắc Ninh và các thành phố khác. Chúng tôi đã chuẩn bị. Điều đó không hề làm yếu quyết tâm chiến đấu đến cùng của chúng tôi. Chúng tôi đã có kinh nghiệm” (Xem thêm Claude Dulong: Ngôi chùa cuối cùng, Nhà xuất bản Gra-xê, Paris,1989, tr. 146, 147 và 159.).

Nhưng Người cũng nói nguyện vọng hoà bình của nhân dân ta và khả năng đi tới một giải pháp thương lượng. Người nói tiếp: "Chỉ có một cách đi tới giải pháp đó là Mỹ rút đi. Chúng tôi không muốn làm cái gì xấu đối với họ, chúng tôi sẵn sàng đem nhạc và hoa tiễn  họ và mọi thứ khác họ thích; nhưng, ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của nước ông: “qu’ils foutent le camp!" (Thì họ hãy cút đi.!).

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh rút lui, Thủ tướng và ông Sainteny tiếp tục hội đàm. Cuộc nói chuyện xoay quanh các đề tài: khả năng một giải pháp thương lượng, vấn đề Mặt trận Dân tộc Giải phóng và nguy cơ Mỹ tăng cường can thiệp ở Lào, tương lai các quan hệ Việt - Pháp.

Về vấn đề giải pháp, Thủ tướng nói rằng nếu Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, Hà Nội sẽ có cử chỉ đáp lại: "Tôi hứa với ông, chúng tôi sẽ làm một cái gì đó để tỏ thiện chí của chúng tôi". Sau đó Thủ tướng nói: "Chúng tôi không phản đối một giải pháp thương lượng nhưng, chúng tôi không muốn người ta đưa chúng tôi đến một Munich”.

Về vấn đề Mặt trận, ông Sainteny tỏ ý lo ngại rằng Mặt trận không có độc lập, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định:

- “Mặt trận Dân tộc Giải phóng tự do quyết định chính sách của mình; sau thắng lợi, Mặt trận sẽ thành lập một Chính phủ theo ý mình, không có bất cứ sự can thiệp nào. Chúng tôi không có ý định can thiệp vào công việc riêng của Mặt trận".

Trong bản báo cáo về chuyến công cán của mình ở Hà Nội, Sainteny viết: "Từ các cuộc nói chuyện mà ta đã tiến hành ở Hà Nội từ ngày 2 đến ngày 8 tháng 7, tôi thấy rằng các nhà lãnh đạo của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà biểu thị một sự cứng rắn và một quyết tâm mà họ muốn là không có rạn nứt. Nhưng có lẽ họ không phản đối một giải pháp thương lượng sẽ giữ thể diện cho họ".

Ý kiến riêng của ông Sainteny là thăm dò các khả năng bằng việc trở lại "thi hành trung thực" các Hiệp nghị Genève năm 1954, như vậy Mỹ có thể rút quân mà không mang tiếng là theo điều kiện của đối phương, đồng thời thành lập một Chính phủ dân chủ, đại diện rộng rãi cho nhân dân miền Nam Việt Nam và thừa nhận giá trị của Hiệp nghị Genève năm 1954 (Xem Claude Dulong; Sđd, tr. 258-266.l).



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:45:49 PM
*
*   *

Cũng trong chuyến đi này, tại Phnôm Pênh, ông Sainteny đã có hai cuộc nói chuyện với ông Trần Bửu Kiếm, đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, ngày 29 tháng 6 khi đến Phnôm Pênh và ngày 10 tháng 7 khi từ Hà Nội trở lại. Cuộc nói chuyện chủ yếu về vai trò và chính sách của Mặt trận, về quyền lợi kinh tế mà Pháp còn có ở miền Nam Việt Nam.

Washington biết tin Sainteny đã được đón tiếp nồng nhiệt ở Hà Nội và cuộc tiếp xúc giữa ông ta và các nhà lãnh đạo Việt Nam được đánh giá là một cuộc tiếp xúc có giá trị. Washington tìm cách khai thác.

Ngày 9 tháng 9, Henry Kissinger từ Mỹ sang Pari gặp Sainteny. Quan hệ Mỹ - Pháp lúc đó đang căng thẳng do bài diễn văn ngày 1 tháng 9 của Tổng thống De Gaulle đọc tại Phnôm Pênh, phản đối việc ném bom miền Bắc Việt Nam và yêu cầu Mỹ đề ra một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Kissinger cho rằng phía Việt Nam vẫn khăng khăng đòi Mỹ rút quân rồi mới thương lượng thì: "Làm thế nào thuyết phục Hà Nội tin rằng Mỹ có thiện chí? Chỉ có ông là có thể thuyết phục được họ. Vấn đề tin cậy lẫn nhau là cái nút của việc này". Không đi đến kết quả cụ thể gì, cuộc nói chuyện tuy vậy vẫn để ngỏ một cái cửa cho sự hợp tác.

Ngày 2 tháng 12, A.Harriman cùng John Dean, Bí thư thứ nhất sứ quán Mỹ ở Paris bí mật đến gặp Sainteny ở nhà riêng với tư cách đặc phái viên của Tổng thống Johnson. Harriman nêu với Sainteny câu hỏi: “làm thế nào khởi động một cuộc thương lượng?” Cuộc tiếp xúc bí mật này sau bị tiết lộ ra ngoài, làm cho nhiều người tin rằng Washington thật sự tìm kiếm hoà bình.

Ngày 8 tháng 1 năm 1967, Raymond Guest, đại sứ Mỹ ở Ai-xơ-len mời Sainteny đến ăn cơm tại nhà riêng của ông ở Paris. Trong bữa ăn, Guest hỏi Sainteny: "ông có nhận gặp Tổng thống Johnson tại trang trại riêng của tôi không? Tôi quen thân  Tổng thống và có thể mời Tổng thống tới trang trại của tôi” .

Ngày 17 tháng 1, C. L.Cooper từ Washington tới gặp Sainteny tại nhà riêng. C.L.Cooper trong chiến tranh thế giới thứ hai làm tại cơ quan tình báo của Mỹ ở Trung Quốc (OSS) đã tham gia Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương và Hội nghị Genève năm 1962 về Lào; từ năm 1964 rời CIA để gia nhập bộ tham mưu của Nhà Trắng do Mc George Bundy đứng đầu. Là một chuyên gia về vấn đề Việt Nam, thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia, lúc đó là một cộng sự đắc lực của Harriman, Cooper mang theo một thư do Harriman ký yêu cầu Sainteny trở lại Hà Nội càng sớm càng tốt để thăm dò các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam xem họ sẽ làm gì để đáp lại việc chấm dứt ném bom và quan niệm thế nào về một giải pháp trong danh dự. Cooper nói sẽ ở lại Paris để chờ trả lời. Sainteny báo cáo Tổng thống De Gaulle ngày 20 tháng 1 nhưng Tổng thống dứt khoát không đồng ý để Sainteny chấp nhận đề nghị của Harriman.

Đối với Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, tình hình lúc này rất khẩn trương. Trên chiến trường quân Mỹ đã lên tới gần bốn trăm nghìn người đang trực tiếp chiến đấu trong những cuộc hành quân Tìm và Diệt. Nhà Trắng triển khai một kế hoạch Tìm kiếm hoà bình rộng lớn, không phải chỉ từ Paris mà còn từ Luân Đôn và Mát-xcơ-va. Sự từ chối của Sainteny chỉ có nghĩa là tạm thời đóng cửa "con đường liên lạc qua Pháp". Cuộc vận động hoà bình của Thủ tướng Anh Harold Wilson sắp bắt đầu và “Bông cúc vạn thọ” (người Mỹ không muốn gọi là chiến dịch hay kế hoạch Bông cúc vạn thọ) đang tiếp diễn.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:17:19 AM
CHƯƠNG XIII
BÔNG CÚC VẠN THỌ.
(MARIGOLD)

“Bông cúc vạn thọ" (Marigold) đã được nhiều người biết đến và viết:

Trong cuốn “Việc tìm kiếm bí mật hoà bình ở Việt Nam”, David Kroslow và Stuart H.Loory đã dành cả phần đầu cuốn sách cho Bông cúc vạn thọ trước khi đề cập đến những sáng kiến khác, dù có trước, của Nhà Trắng.

Trong Hồi ký của mình, Tổng thống Johnson cho biết từ mùa hè năm 1966 Jannsz Lewandowskí, đại diện Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế, sau khi đi Hà Nội về, bắt liên lạc với đại sứ Mỹ Cabot Lodge ở Sài Gòn. Từ đó, các cuộc nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa hai người được chuyển về Nhà Trắng dưới mật danh "Bông cúc vạn thọ" và kéo dài trong sáu tháng. Ông cho rằng cuộc đối thoại đó và các cuộc vận động ngoại giao có liên quan chắc sẽ được các nhà viết sử ngoại giao quan tâm nghiên cứu. Ông đổ trách nhiệm cho người Ba Lan nên không có cuộc nói chuyện giữa người Việt Nam và người Mỹ lúc bấy giờ: “Không những người Ba Lan đã đặt cái cầy trước con bò, mà hơn thế nữa, nói cho cùng họ cũng chẳng có con bò nào cả". Để củng cố cách lý giải của mình, ông còn trích một câu của nhà báo Australia Burchett trả lời báo Washington Post hai năm sau: “ý kiến đó do nhũng người bạn của Hà Nội thật sự có ý định tốt nghĩ ra để cho trắng đen rõ ràng là Mỹ có thể chấp nhận được gì rồi đề nghị với Hà Nội" (L.B.Johnson: Sđd, tr. 306-307.).

Vậy các nhà viết sử ngoại giao vẫn cần làm sáng tỏ vấn đề "Bông cúc vạn thọ" để xem đó là sáng kiến của Hà Nội hay của Mỹ.

Người đầu tiên thường được nêu tên là Lewandowski. Năm 1966, Lewandowski là một đại sứ trẻ, mới ba mươi lăm tuổi, là Trưởng đoàn Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Tuy trẻ, ông đã từng được giao nhiều chức vụ quan trọng trước khi sang Việt Nam: thành viên của phái đoàn Ba Lan tại Liên Hợp Quốc; đại biện lâm thời Ba Lan tại Tan-da-ni-a. Mới sang miền Nam Việt Nam một thời gian ngắn, nhờ tiếp xúc rộng rãi với đoàn ngoại giao và nhiều nhân vật của chế độ Sài Gòn, ông đã nắm bắt được tình hình, nhận thấy thế chiến thắng của Việt Nam, thế thất bại của Mỹ.

Nhà ngoại giao đầu tiên mà Lewandowski đến thăm là đại sứ Italia G.D’Orlandi khi đó là Trưởng đoàn ngoại giao ở Sài Gòn. Một thời gian sau, ông đến chào lễ tân đại sứ Mỹ Cabot Lodge. Như đại sứ Ba Lan tại Hà Nội. Siecleski đã thông báo cho Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Văn Tiến ngày 12 tháng 7 năm 1965, Lodge đã đề nghị gặp Lewandowski tại nhà D’Orlandi ngày 9 tháng 7. Trong cuộc gặp này, Lodge nói là theo chỉ thị của Tổng thống Johnson, ông ta muốn trình bày vấn đề sau đây:

Mỹ mong muốn rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thông báo là Mỹ muốn có giải pháp chính trị chung cho cuộc khủng hoảng Việt Nam và sẵn sàng bàn bạc cơ sở cho giải pháp đó. Nếu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đồng ý bàn bạc thì Chính phủ Mỹ muốn nhận được câu trả lời cho những câu hỏi sau đây:

“Một: Khi nào, ở đâu, hoặc với ai có thể bàn bạc được?

Hai: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ có phản ứng gì hoặc không có phản ứng gì đối với việc ngừng ném bom?

Ba: Người Việt Nam có sẵn sàng cam kết là giữ hoàn toàn bí mật về giai đoạn đầu của cuộc đàm phán không?

Việc bàn bạc những cơ sở cho một giải pháp chính trị cần phải hiểu theo nghĩa rộng như cuộc đối thoại về những ý kiến của mình đối với giải pháp chính trị.

Cần hiểu rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng có thể là một bên khi có đàm phán không có ý nghĩa là một bên duy nhất, nhất là việc giải quyết hiện nay bao gồm cả việc ngừng hoạt động quân sự, đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
".



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:18:25 AM
Lodge giải thích thêm về điểm hai là không phải chỉ việc ra tuyên bố mà phải giảm bớt một cách thực sự và rõ ràng các hoạt động của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong việc chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Thực tế đây cũng chỉ là một phần thăm dò với tinh thần cuộc vận động tháng 5 năm 1955 của Washington. Nhưng Johnson đã hủy ý nghĩa cuộc thăm dò đó ngày 28 tháng 7 khi ông ta quyết định "lao đến cùng vào con đường chiến tranh".

Một kết luận cần rút ra từ câu chuyện này là: Từ tháng 7 năm 1966, Lốt đã sử dụng Đoóc-lan-đi làm trung gian để có liên lạc với Hà Nội qua vị đại sứ mới của Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế. Không biết sau đó có bao nhiêu cuộc gặp gỡ giữa D’Orlandi và Cabot Lodge về vấn đề Việt Nam, chỉ biết rằng đầu tháng 11, D’Orlandi được chỉ thị trở về Roma. Sau khi trở lại Sài Gòn, ông ta mời Leuwandowski ngày 14 tháng 11 đến nhà riêng để nói chuyện. Khi Leuwandowski đến thì Cabot Lodge đã ở đó. Cuộc nói chuyện giữa Cabot Lodge và
Leloandowski bắt đầu với sự hiện diện của D’Orlandi Trong buổi làm việc với đại tá Hà Văn Lâu, Trưởng phái đoàn liên lạc ngày 20 tháng 11, Leuwandowski đã thông báo nội dung cuộc nói chuyện với Cabot Lodge như sau:

“Sau vài câu xã giao, Cabot Lodge nói ông muốn gặp tôi nói chuyện về vấn đề Việt Nam. Tôi nói nhiệm vụ chính thức và duy nhất của tôi là đại diện Chính phủ Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế mà công việc là giám sát việc thi hành Hiệp nghị Genève và những vấn đề có liên quan đến việc thi hành Hiệp nghị đó, đối với công việc của Uỷ ban thuộc phạm vi công tác của tôi, tôi sẵn sàng bình luận.

Cabot Lodge nói hoàn toàn hiểu vị trí của tôi. Mục đích của ông ta là làm sáng tỏ lập trường của Mỹ cho bản thân tôi biết rõ thôi.

Cabot Lodge bắt đầu nói về Hội nghị Manila không làm thay đổi gì tình hình bằng cách phân chia trách nhiệm về vấn đề Việt Nam cho tất cả những thành viên của Hội nghị. Mỹ vẫn được hoàn toàn tự do tiếp tục cố gắng của mình đề tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Sau khi nhắc lại rằng Mỹ luôn luôn cố gắng tìm đến một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam. Ông nói những vấn đề sau đây:

Mỹ đi đền kết luận là mọi cố gắng để xuống thang không phản đối. Không có kết quả gì. Vì vậy hiện nay Mỹ cố gắng tìm đến một giải pháp toàn diện hơn.

Washington đang hoạt động để tìm ra một giải pháp như vậy tức là làm sao có được một cơ cấu ngừng bắn và tất cả những vấn đề còn lại, kể cả việc rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam.

Mỹ không nghĩ rằng nếu như tuyên bố công khai về biện pháp như vậy thì không phải là cách thích đáng phù hợp với tình hình và điều kiện của đối phương. Vì vậy, Mỹ không có ý định công bố tài liệu nào hay tuyên bố công khai về kế hoạch này.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:18:33 AM
Vấn đề của Mỹ hiện nay là Mỹ không biết liệu một đề nghị nào đó của Mỹ đưa ra có được xét đến hay không? Có nhiều người đã nói hoặc đã tỏ ra mình có thể đại diện cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng và họ nói có những con đường thích hợp. Bây giờ Mỹ nhận thấy những người này thật ra không có cương vị gì mà chỉ là vì lợi ích riêng của họ, hoặc là để quảng cáo thôi.

Cabot Lodge hiện muốn biết rằng nếu một đề nghị như trên được thảo ra thì liệu có thể chuyển đạt được đến người thích hợp hay không? Và lời bình luận đề nghị đó có thể chuyển cho Mỹ được không? Người thích hợp là người hiểu biết rõ ràng về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân. tộc Giải phóng.

Với ý định như thế, Mỹ sẵn sàng xét và bình luận một cách bí mật bất cử đề nghị nào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cùng đưa ra hay đưa ra riêng rẽ.

Bây giờ Mỹ nhận thấy là trước khi bất cứ hình thức trao đổi nào có thể bắt đầu được thì việc ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là điều cần thiết. Mỹ bây giờ sẵn sàng làm như vậy nếu như việc đó có tác dụng trực tiếp. Mỹ không chờ đợi tác dụng đó sẽ xảy ra ngay lập tức. Mỹ không đề ra một điều kiện tiên quyết nào. Mỹ chỉ muốn có sự bảo đảm là việc đó sẽ dẫn đến những cố gắng thực tế để có đàm phán nhằm tìm ra giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam.

Mỹ bây giờ hiểu là Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không đồng ý đàm phán để đổi lấy việc ngừng ném bom. Mỹ không muốn gây cảm tưởng là việc nói chuyện trực tiếp hay gián tiếp đã bắt đầu là do Mỹ đã ngừng ném bom. Vì vậy, Mỹ sẵn sàng làm theo cách sau đây:

Giai đoạn A: Ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và trong thời gian đó không có hành động gì thêm.

Giai đoạn B: Tất cả những việc còn lại, nghĩa là trực tiếp hay gián tiếp trao đổi những đề nghị thực tế về mọi vấn đề quan trọng.

Cabot Lodge yêu cầu tôi bình luận về lời tuyên bố của ông ta. Tôi trả lời là không được phép bình luận gì về lời tuyên bố của ông ta vì tất cả những điều tôi nói ra chỉ là quan điểm của cá nhân. Tôi nói tiếp: nếu Mỹ thật sự cần phải ngừng ngay lập tức và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ phải ngừng ngay mọi hành động đối địch với nhân dân miền Nam Việt Nam trên đất, trên biển, trên không. Mỹ cần phải rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam và thanh toán các căn cứ quân sự của Mỹ. Mỹ cần phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng là đại diện duy nhất, chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ cần công nhận và không được gây trở ngại gì trên con đường của nhân dân Việt Nam tiến tới thống nhất nước Việt Nam.

Cabot Lodge không bình luận gì câu trả lời của tôi".

Cuộc nói chuyện đến đây chấm dứt.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:19:33 AM
Tối hôm đó, Lewandowski và D’Orlandi lại gặp nhau trong cuộc chiêu đãi do sứ quán Nhật Bản tổ chức nhân dịp Bộ trưởng Bộ Kinh tế Nhật Bản đến miền Nam Việt Nam. D’Orlandi cho Lewandowski biết là Cabot Lodge muốn gặp Lewandowski để nói một điều rất quan trọng liên quan đến cuộc nói chuyện vừa qua. Lewandowski trả lời đồng ý.

Hôm sau, ngày 15 tháng 11, Lewandowski gặp lại D’Orlandi tại nhà riêng của D’Orlandi và D’Orlandi cũng có mặt trong cuộc gặp này. Về nội dung của cuộc nói chuyện thứ hai này, Lewandowski nói với Hà Văn Lâu như sau:

"Cabot Lodge nói rằng ông muốn gặp lại tôi vì hôm qua tôi đã nhắc lại lập trường chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Như vậy, ông ta cho rằng nếu như thế thì tôi không thể thấy được hoặc khước từ nhìn thấy khả năng trao đổi ý kiến giữa các bên hữu quan.

Lodge còn cảm thấy rằng việc tôi từ chối không chịu bình luận nội dung lời tuyên bố của ông, dù với tư cách cá nhân không chính thức, có nghĩa là tôi cho rằng lập trường của Mỹ và lập trường của các bên hữu quan khác là hoàn toàn đối lập nhau,

Sau khi đã suy nghĩ, Lodge đi đến kết luận là cần nói thật rõ cho tôi biết là lập trường như thế của tôi không gạt bỏ khả năng trực tiếp hay gián tiếp trao đổi ý kiến với nhau được. Ông muốn bình luận thêm như sau:

Một: Mỹ sẵn sàng ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nếu như việc ấy có thể mở đường cho một giải pháp hoà bình. Mỹ không đòi hỏi bất cứ lời tuyên bố nào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc thâm nhập hay công nhận sự có mặt của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam hiện nay hay trước đây.

Hai: Mỹ đã tuyên bố sự sẵn sàng của Mỹ rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam và thanh toán các căn cứ của Mỹ trong sáu tháng (như Tuyên bố Manila).

Ba: Mỹ sẵn sàng chấp nhận Chính phủ miền Nam Việt Nam được bầu ra một cách dân chủ, với sự tham gia của tất cả mọi người dưới sự giám sát quốc tế.

Bốn: Việc thống nhất đất nước phải do chính người Việt Nam quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài. Vì lý do đó, cần phải lập lại hoà bình và thành lập một cơ quan đại diện để có thể biết chắc được nguyện vọng của nhân dân (Đây là ghi theo lời của Lốt, tôi không hỏi rõ thêm).

Năm: Mỹ muốn đi khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng Mỹ không thể rút lui chỉ để nhường chỗ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sáu: Mỹ sẵn sàng chấp nhận một cách đầy đủ và trung thành một miền Nam Việt Nam trung lập.

Bảy: Mỹ sẵn sàng trao đổi ý kiến. trực tiếp hay gián tiếp về tất cả những vấn đề được đề cập hoặc chưa được đề cập trong cuộc nói chuyện này.

Mỹ cần nói rõ là không thực tế nếu yêu cầu Mỹ tuyên bố đơn giản chấp nhận bốn điểm hay năm điểm”.
Leuwandowski chỉ nghe và không bình luận, Cabot Lodge còn nói thêm rằng ông ta bảo ý kiến nói với Leuwandowski là ý kiến của cấp trên, của giới quyết định của Mỹ



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:21:19 AM
Lãnh đạo Việt Nam ta trả lời Lewandowski như sau:

"Đồng chí lấy danh nghĩa của mình nói với đại sứ Cabot Lodge rằng nếu Mỹ thấy cần xác nhận những điều mà ông ta đã nói với đồng chí thì phía Mỹ có thể trực tiếp nói với đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava".

Ngày 2 tháng 12, khi gặp lại Lewandowski, Cabot Lodge tán thành cuộc gặp gỡ ở Varsava và nói sẽ điện ngay về cho Tổng thống Johnson. Ngày 3 tháng 12, Cabot Lodge cho Lewandowski biết rằng Johnson sẽ chỉ thị cho đại sứ Mỹ ở Varsava đến gặp đại diện nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava vào ngày 6 tháng 12 năm 1966.

Sau khi được thông báo rằng Mỹ sẽ đến gặp đại sứ Việt Nam tại Varsava ngày 6 tháng 12, Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ thị cho đại sứ Đỗ Phát Quang sẵn sàng tiếp đại sứ Mỹ Gronouski vào ngày đó. Bộ cũng cử một nhà ngoại giao trẻ, đồng chí Nguyễn Đình Phương (hiện nay là đại sứ ở Thuỵ Điển) cấp tốc đi Varsava với một kế hoạch hướng dẫn đại sứ Đỗ Phát Quang. Trước khi Nguyễn Đình Phương lên đường, Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch còn dặn:

Dù máy bay có rơi mà đồng chí có chết thì trước khi chết cũng phải huỷ cho được bản kế hoạch này”.

Nhưng ngày 3 và 4 tháng 12, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội. Bộ Ngoại giao Ba Lan yêu cầu đại sứ Mỹ giải thích tại sao lại có những cuộc oanh kích Hà Nội trước khi có cuộc gặp gỡ giữa đại sứ Việt Nam và đại sứ Mỹ tại Varsava. Grô-nốt-xki thanh minh rằng việc ném bom Hà Nội là tác chiến bình thường, rằng hoạt động quân sự ở hai miền Nam và Bắc Việt Nam không liên quan đến cuộc nói chuyện.

Mặc dầu vậy, đại sứ Đỗ Phát Quang cả ngày 6 tháng 12 vẫn sẵn sàng tiếp Gronouski, nhưng ông ta không đến. Sau này Mỹ giải thích rằng ông ta lại đợi đại sứ Đỗ Phát Quang ở sứ quán Mỹ. Còn Tổng thống Johnson thì lại nói rằng người Ba Lan đã hứa sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ này, nghĩa là cuộc gặp không thành là do trách nhiệm của phía Ba Lan.

Đại sứ Mỹ không chịu đến gặp đại sứ Việt Nam ngày 6 tháng 12 như đã thoả thuận. Hơn năm mươi máy bay Thần sấm và Con ma của Mỹ đã lần đầu tiên tấn công Thủ đô Hà Nội trong hai ngày liên tiếp trước khi cuộc gặp gỡ bắt đầu. Ngày 13 và 14 tháng 12 Mỹ lại ném bom trung tâm Hà Nội. Việt Nam chỉ có thể hiểu rằng Washington không muốn có cuộc nói chuyện đó.

Ngày 28 tháng 12 năm 1966, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh mời đại sứ J.Siclecki đến và nói như sau (Những lời phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng được ghi theo lời kể của Nguyễn Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch Bộ Ngoại giao.)

"Chúng tôi đã nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh những gợi ý của các đồng chí. Hôm nay tôi xin trình bày ý kiến của chúng tôi.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:21:27 AM
Ngày 20 tháng 11 năm 1966, đồng chí Lelvandoloski đã thông báo cho chúng tôi ý kiến của Cabot Lodge. Chúng tôi có suy nghĩ về ý kiến đó.

Ngày 5 tháng 11, đồng chí Phạm Văn Đồng đã gợi ý đế đồng chí Lelvandolvski nói với Lodge: “Nếu phía Mỹ cần xác nhận lại với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà những điều mà Lodge đã nói với Leuwandowski thì Mỹ có thể trực tiếp nói với đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava". Câu nói đó coi như ý kiến của bản thân đồng chí Leuwandowski chứ không phải ý kiến của chúng tôi. Tất nhiên, nếu Mỹ có xin gặp và chúng tôi có tiếp thì đó cũng chỉ là một hoạt động ngoại giao bình thường, không phải là cuộc gặp gỡ bắt đầu cho việc thảo luận đàm phán. Các đại diện của chúng tôi ở nước ngoài vẫn tiếp những người, kể cả người Mỹ, đến sứ quán chúng tôi trình bày quan điểm của họ, hoặc hỏi rõ lập trường của chúng tôi về vấn đề Việt Nam.

Nhưng Mỹ đã lật lọng, trước sau nói khác nhau. Chúng lại tăng cường ném bom miền Bắc. Nghiêm trọng hơn nữa chúng đã ném bom cả Hà Nội, chỉ trong hai tuần lễ đã bốn lần đánh vào nội thành Hà Nội.

Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 12, chúng tôi đã nói với đồng chí Sieclacki rằng chúng tôi phải xem xét lại việc đại sứ chúng tôi tiếp đại sứ Mỹ tại Varsava nếu họ yêu cầu. Chúng tôi cũng đã chỉ thị điều đó cho đại sứ của chúng tôi ở Ba Lan.

Nhưng từ đó, Mỹ vẫn như không hiểu và tiếp tục nhờ các đồng chí Ba Lan chuyển ý kiến của họ. Âm mưu của Mỹ vẫn là “thương lượng không điều kiện". Họ đòi chúng tôi phải có hành động cụ thể đáp ứng trong giai đoạn B (thì chúng mới thực hiện giai đoạn A). Thủ đoạn của Mỹ là leo thang để thúc ép, mỗi lần leo thêm một bậc thang, Mỹ lại đòi chúng tôi trả giá. Họ còn mặc cả việc ngừng ném bom Hà Nội.

Chúng tôi kiên quyết bác bỏ những đề nghị có tính chất kẻ cướp đó của Mỹ. Các đồng chí lãnh đạo Ba Lan đã tán thành thái độ đó của chúng tôi. Chúng tôi hoan nghênh các đồng chí đã phê phán Mỹ một cách mạnh mẽ. Trước tình hình hiện nay, chúng tôi thấy không thể để cho Mỹ thực hiện âm mưu “trao đổi trực tiếp hay gián tiếp" trong khi Mỹ vấn tiếp tục ném bom miền Bắc. Vì vậy chúng tôi sẽ không xét tới những lời của Gronouski nếu ông ta cứ tiếp tục trình bày với các đồng chí”.

“Câu chuyện coi như đã chấm dứt".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:22:15 AM
Trong câu chuyện "Bông cúc vạn thọ", Lewandowski đã cho ta thấy rõ vai trò của đại sứ Italia D’Orlandi. Trong hồi ký củamình, Tổng thống Johnson không một lần nào nhắc đến tên ông D’Orlandi trong vấn đề Bông cúc vạn thọ. Nhưng trái với lời hứa và lòng mong muốn giữ bí mật của Cabot Lodge, báo chí Mỹ đã tung Bông cúc vạn thọ ra với nhiều chi tiết hấp dẫn.

Ngày 3 tháng 2 năm 1967, phóng viên báo Washington Post tại Liên Hợp Quốc đưa tin:

"Tháng 12 vừa qua, Bắc Việt Nam đã dứt khoát chấp nhận một gợi ý của Mỹ về nói chuyện trực tiếp đế giải quyết chiến tranh.

Cuộc thu xếp đã đi quá đà đến mức chỉ định Varsava làm địa điểm nói chuyện. Nhưng sau cuộc ném bom vào Hà Nội ngày 13 và 14 tháng 12 (mà Hà Nội lên án đã giết hại nhiều dân thường), Bắc Việt Nam đã rút sự chấp thuận đó, tố cáo Mỹ là không trung thực. Nguồn tin phương Tây nói trên tiết lộ tin này sau khi Tổng thống Johnson quả quyết rằng không hề có dấu hiệu nghiêm chỉnh nào về ý muốn nói chuyện hoà bình của cộng sản. Sự phủ nhận của Tổng thống gây ra sự nghi ngờ lớn ở đây (Liên Hợp Quốc - Tác giả) về ý muốn của Tổng thống trong số những người biết rõ chi tiết của cô gắng đã thất bại này” .

Một số báo khác cũng đưa tin rằng:

"Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Italia Fanfani nói với khách rằng việc ném bom đó là sai lầm.Fanfani đã cho khách biết rằng ông ta đã cảnh cáo Chính phủ Mỹ về tai hại của việc ném bom ngay sau hai lần ném bom ngày 3 và 4 tháng 12 và trước việc ném bom ngày 13 và 14" (David Kraslos và Stuart H.Loosry: Sđd, tr. 77.).

Dư luận tỏ ra bất bình với Nhà Trắng.

Trong cuộc họp báo ngày 9 tháng 2, bị chất vấn về vấn đế này, Ngoại trưởng Dean Rusk không dám xác nhận hay phủ nhận.

Ngày 8 tháng 5 năm 1967, hãng A.P phát một bài dài kể tỉ mỉ về Bông cúc vạn thọ. Trước ngày đó, Ngoại trưởng Mỹ hứa với các nhà báo là sẽ công bố việc này, nhưng sau khi có bài của hãng A.P người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không bình luận. Khi công bố chính thức sự kiện về Bông cúc vạn thọ. Bộ Ngoại giao Mỹ làm như chính phía Việt Nam đã chủ động đề ra việc tiếp xúc và đàm phán bí mật với Mỹ khi Mỹ vẫn ném bom miền Bắc Việt Nam. Họ cũng làm như chính phía Ba Lan (sau khi Lewandowski đi Hà Nội về ngày 26 tháng 6 năm 1966) đã được sự đồng ý của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã đưa ra một kế hoạch mười điểm làm cơ sở đàm phán và gặp đại sứ Italia nói là "Có một đề nghị hoà bình rất cụ thể”' dẫn tới thoả hiệp chính trị giải quyết vấn đề Việt Nam. Họ nói điều kiện đàm phán của Hà Nội là Mặt trận Dân tộc GIải phóng tham gia thương lượng và một cuộc ngừng ném bom miền Bắc và phía Mỹ đã thoả thuận cuộc gặp gỡ ở Varsava từ ngày 6 tháng 12 năm 1966. Ý nghĩa của cách trình bày như thế là phía Việt Nam đã đồng ý đưa ra mười điểm làm cơ sở để thảo luận, (qua Lewandowski) và phía Mỹ đã có thiện chí chấp nhận.

Cũng trong dịp này, ngày 9 tháng 5, tờ Unita cơ quan của Đảng Cộng sản Italia cho biết:

"Chính đại sứ D’Orlandi đã cho Lewandowski biết rằng ông ta muốn ghi trên giấy tờ một điều có thể dẫn đến khả năng hai bên hữu quan đồng ý. Sau đó, chính D’Orlandi đã gặp đại sứ Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế để xây dựng kế hoạch mười điểm. Kế hoạch này được trao cho Cabot Lodge, trong đó nêu rõ Mỹ không có ý đồ đối với Việt Nam nói chung và Hà Nội không có ý đồ thôn tính Nam Việt Nam. Tờ Unita nhận xét là: Trên thực tế trở lại Hiệp nghị Genève năm 1954, Lốt đồng ý chuyển cho Johnson.

Hãng A.F.P khi đưa tin này từ Roma nhận xét rằng Unita không nêu rõ nguồn tin nhưng các nhà quan sát ở Roma nhắc lại rằng Ngoại trưởng Italia Fanfani đã hai lần nói trước Quốc hội là đại sứ Italia ở Sài Gòn đã thu xếp những cuộc tiếp xúc và việc đó đã đưa đến kết quả tốt nhất chưa từng có nước nào thu được.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:22:56 AM
Ngày 10 tháng 5, Bộ Ngoại giao Italia xác nhận nguồn tin của Unita.

“Theo David Kraslou và Stuart H.Loory, D’Orlandi biết rõ lập trường của Mỹ và Bắc Việt Nam quá xa nhau, tuy vậy, ông ta vẫn suy nghĩ làm sao hai bên có thể ngồi lại trong hoàn cảnh đó để cố tìm ra một giải pháp. Ông nói suy nghĩ của mình với đại sứ Leuwandouwski trong Ủy ban Quốc tế. Hai người có ý nghĩ chung là làm sao đưa đại diện của hai bên đến một địa điểm nào đó gặp nhau để có thể trao đổi ý kiến về một loại giải pháp lâu dài cho Nam Việt Nam. Mùa hè năm 1966, qua một số người Mỹ mới thăm Hà Nội về, Mỹ cho rằng Hà Nội bị đánh đau, giao thông bị tắc nghẽn và có dấu hiệu rõ là Hà Nội muốn thương lượng. Lốt đề nghị với Johnson đẩy mạnh ném bom miền Bắc hơn nữa để ép Hà Nội đi vào bàn Hội nghị theo điều kiện của Mỹ, Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ thấy con đường do D’Orlandi mở ra đáng được khai thác.

Các cuộc ném bom Bắc Việt Nam ngày càng ác liệt, pháo đài bay B.52 rải thảm bom ở khu phi quân sự, quân Mỹ tiếp tục được ồ ạt đưa vào miền Nam. Trong bối cảnh đó, gợi ý của D’Orlandi rơi vào lãng quên. Hội nghị Manila ngày 24 và 25 tháng 10 năm 1966, với sự tham gia của bảy nước châu Á và Thái Bình Dương, thực chất là nhằm động viên thêm tiềm lực đế đấy mạnh chiến tranh ở Việt Nam, nhưng đế che đậy mục đích chiến tranh của nó, Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố về bốn mục tiêu của tự do và đặc biệt là việc rút quân của các bên tham chiến ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng sáu tháng khi Bắc Việt Nam rút quân về phía Bắc.

Sau Hội nghị Manila, Averen Harriman đến Roma. Ngày 2 tháng 11, Ngoại trưởng Fanfani tổ chức chiêu đãi ông, trong cuộc chiêu đãi này có mặt đại sứ D’Orlandi được gọi từ Sài Gòn về. Nhân dịp này, Harriman đã bàn bạc lâu với D’Orlandi, sau đó Harriman điện về Washington đề nghị thông báo cho Lốt biết lập trường thương lượng của Mỹ để Lốt trao đổi với Lewandowski. D’Orlandi cũng trở về ngay Sài Gòn. Khi đó Lewandowski chuẩn bị ra Hà Nội theo chương trình của mình đã dự định trước. D’Orlandi yêu cầu Lewandowski hoãn chuyến đi một tuần, sau đó tổ chức các cuộc gặp ngày 14 và 15 tháng 11 giữa Cabot Lodge và Lewandowski, với sự có mặt của D’Orlandi như trên đã nói" (David Kraslowvà Stuart H.Loory: Sđd, tr. 14-21.).

Chúng ta cứ cho là khi câu chuyện được nêu ra D’Orlandi đã có ý nghĩ là tìm cách gì cho hai bên gặp nhau, trao đổi ý kiến để tìm ra một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Nhưng sau khi ý kiến đó biến thành những cuộc trao đổi, bàn bạc giữa ông ta và đại sứ Lodge thì rõ ràng không còn là câu chuyện riêng của D’Orlandi nữa, nhất là sau cuộc bàn bạc với Harriman tại Roma. Kế hoạch giai đoạn A và giai đoạn B mà Cabot Lodge nói với Lewandowski, với sự có mặt của D’Orlandi ngày 14 và 15 tháng 11 để chuyển cho Hà Nội là lập trường của Mỹ không hơn không kém. Nhưng tại sao Johnson khi nói về Bông cúc vạn thọ lại không nhắc đến tên đại sứ D’Orlandi? Nếu chỉ nhắc đến như trên thì có gì là hại cho Mỹ? Johnson im lặng ở đây chỉ là để không chịu nhận những gì Cabot Lodge đã nói với Lewandowski đã đưa ra với sự đồng ý của Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ để cuối cùng nói rằng chính Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đề ra việc gặp gỡ với Mỹ nhưng rồi sau lại không đến cuộc gặp đó. Việc Mỹ nói rằng Lewandowski đã đưa ra mười điểm làm cơ sở thảo luận ở Vasava (Johnson gọi là dự án Lewandowski) là hoàn toàn sai. Bằng chứng rõ ràng nhất là chính Lewandowski cũng không biết mười điểm đó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 07 Tháng Chín, 2009, 10:23:43 AM
Khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 6 tháng 5 năm 1967, đúng năm tháng sau cuộc gặp bất thành ở Varsava, Lewandowski đã nói:

"Vấn đề này đã cũ nhưng gần đây báo Bưu điện Washington lại đưa tin có mười điểm của Mỹ mà Cabot Lodge nói với ông ta là:

Một: Hoa Kỳ thành thật muốn giải quyết cuộc xung đột ở Việt Nam bằng con đường thương lượng hoà bình.

Hai: Cuộc thương lượng hoà bình nhằm mục đích giải quyết toàn bộ vấn đề cuộc xung đột ở Việt Nam. Ở miền Nam Việt Nam sẽ bảo đảm quyền lợi của bên đang đánh nhau với Hoa Kỳ” (Sách: Ngoại giao bí mật chiến tranh Việt Nam của G.C.Herring trang 279 cũng nói đây là mười điểm do Lewandowski đưa ra. Điểm hai này có thêm câu đầu “Các cuộc thương lượng này không được giải thích như là thương lượng về sự đầu hàng của những người chống lại Hoa Kỳ ở Việt Nam”.)

Ba: Hoa Kỳ sẽ không nhấn mạnh việc đòi duy trì lực lượng vũ trang và căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam và sẽ thực hiện rút quân như đã nói trong thông cáo Manila.

Bốn: Hoa Kỳ sẵn sàng đưa ra đề nghị xây dựng và thảo luận với Đại biểu các bên đang đánh nhau với Mỹ ở miền Nam Việt Nam đế giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam bao gồm vấn đề ngừng bắn và vấn đề rút các lực lượng Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Các cuộc nói chuyện sẽ tiến hành bí mật.

Năm: Trong khuôn khổ giải pháp chung, Hoa Kỳ không phản đối việc thành lập một Chính phủ Nam Việt Nam đúng với ý chí của nhân dân và có sự tham gia của các bên đang đánh nhau với Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận một sự kiểm soát quốc tế thích đáng đối với cuộc tuyển cử đó. Hoa Kỳ cam kết hoàn toàn tôn trọng kết quả của cuộc bầu cử.

Sáu: Hoa Kỳ cho rằng vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết lấy sau khi hoà bình được lập lại và có những cơ quan đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam.

Bảy: Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và hoàn toàn tôn trọng nền trung lập của miền Nam Việt Nam.

Tám: Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc nếu việc đó có thể làm dễ dàng cho việc tìm ra một giải pháp hoà bình. Để có việc ngừng ném bom này, không cần thiết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải nhận hoặc xác nhận các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã hoặc đang thâm nhập miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẵn sàng tránh gây ấn tượng cuộc thương lượng đã bắt đầu dưới sự đe doạ của bom đạn hoặc để đổi lấy việc ngừng ném bom.

Chín: Hoa Kỳ không loại trừ khả năng thống nhất nước Việt Nam nhưng không đồng ý thống nhất dưới áp lực quân sự.

Mười: Tuy Hoa Kỳ sẵn sàng tìm kiếm một giải pháp hoà bình nhưng không nên trông chờ Hoa Kỳ tuyên bố bây giờ hay sau này là Hoa Kỳ chấp nhận bốn điểm hay năm điểm".

Chỉ có bình luận câu sau đây của C.L Cooper, một phụ tá thân cận của Averen Harnman đã có mặt trong cuộc chiêu đãi của Fanfani tại Rô-ma tháng 11 năm 1966, là chân thành và thẳng thắn:

Hồi tưởng lại, thêm nhiều quan chức ở Washington hồi đó nghĩ rằng toàn bộ diễn biên sự việc ở Varsava đối với người Ba Lan cũng như đối với Hà Nội là cốt cho Hà Nội một lúc xả hơi. Cuối năm 1966 và đầu năm 1967, Chính quyền Mỹ không quan tâm đến thương lượng. Các sáng kiên ngoại giao không được xen vào làm cản trở các hoạt động quân sự.

Quan điểm chỉ đạo lúc đó của Nhà Trắng là đánh và đánh mạnh hơn nữa!" (C.L.Cooper: Sđd, tr. 341-342).

Sự thật về Marigold là thế đó?

Marigold của Johnson đã chẳng "Thức giấc với những giọt lệ đầm đìa" như Marigold của Winiam Shakespear mà đã chết thảm hại. Ngày 23 tháng 12 năm 1966, Johnson ra lệnh tạm ngừng ném bom trong một vòng tròn bán kính mười dặm quanh Hà Nội để đại sứ Gronouskicó cớ đến gặp Ngoại trưởng Rapcaki ngày 30 tháng12 với hy vọng Bắc Việt Nam sẽ xem xét lại thái độ "cứng rắn" củahọ. Nhưng cả những cố gắng đó của Nhà Trắng để làm "sống lại" Marigold đều là vô ích (Xem thêm: Giócgiơ C.Hearing: Sđd, tr. 211-370.)


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 08:46:53 PM
CHƯƠNG XIV
NHÀ BÁO MỸ ĐẦU TIÊN ĐẾN BẮC VIỆT NAM

Đó là Harisson Salsbury, trợ lý Tổng biên tập Nelv York Times. Ông đến Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 1966.

Trong những ngày lưu lại Bắc Việt Nam, ông đã tiếp xúc với nhiều quan chức Bộ Ngoại giao và nhiều nhân vật trong đó có ông Nguyễn Văn Tiến đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông cũng đã đi thăm một số nơi ở trung tâm Hà Nội bị ném bom, thăm thị xã Phủ Lý và thành phố Nam Định bị bom Mỹ tàn phá nặng nề.

Có thể nói sau mỗi ngày làm việc, ông đều có bài gửi về toà soạn. Trong năm bài đầu ông đã khẳng định máy bay Mỹ không phải là đánh vào bê tông và sắt thép mà thật sự đã đánh vào trung tâm Hà Nội, đánh những mục tiêu dân sự, và những cuộc ném bom đó không mang lại những kết quả mà Lầu Năm Góc mong đợi.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tiếp ông Salsbury ngày 2 tháng 1 năm 1967. Dưới đây trích phần chủ yếu cuộc nói chuyện.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi muốn nói chuyện vó ông một cách bình thường. Ông có gì cần nói thì cứ nói hết. Tôi cũng vậy. Bây giờ thì ai bắt đầu nào?

Salsbury:

- Có lẽ là Ngài.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi nghiên cứu những câu hỏi của ông, cả những câu hỏi ông hỏi tôi và hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Salsbury:

- Nó cũng tương tự như nhau.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi nghĩ nên nói hai vấn đề chính: thứ nhất là chiến tranh, thứ hai là giải pháp.

Phải nói về chiến tranh trước, từ đó mà thấy vấn đề giải pháp.

Về chiến tranh thì có thể quan điểm của tôi và của ông có khác nhau. Nếu không hiểu đúng về cuộc chiến tranh thì cũng không thể hiểu đúng được những vấn đề có liên quan đến chiến tranh. Về cuộc chiến tranh, điều cơ bản nhất là nguồn gốc của chiến tranh, nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh, cụ thể là ai gây ra chiến tranh. Về vấn đề này, quan điểm của chúng tôi rất rõ rệt và dần dần có nhiều người trên thế giới đồng ý với chúng tôi. Ông có đọc lời phát biểu nhân dịp năm mới của Tổng thống De Gaulle không (Salsbury trả lời: có). De Gaulle nói cuộc chiến tranh này do Mỹ gây ra và là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đáng ghét. Từ đó ông ta rút ra kết luận: Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Về điểm này ông có ý kiến gì?


Salsbury:

- Ý kiến riêng của tôi thì cách nhìn như vậy là đúng. Rất tiếc đó không phải là ý kiến của Chính phủ tôi.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:16:16 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Như vậy là tốt, tôi không mong gì hơn. Nếu ông đồng ý những điều đó thì người cầm quyền Mỹ cũng sẽ phải đồng ý.

Salsbury:

- Tôi cũng hy vọng như vậy, nhưng không dám chắc. Còn phải chờ xem.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Về phía tôi thì chắc, vì trước sau cũng phải đi đến kết luận đó. Nếu bây giờ người ta chưa đồng ý thì sau này phải đồng ý. Nếu phái này mà không đồng ý thì phái khác phải đồng ý. Vì nếu những người cầm quyền Mỹ không đồng ý những điều này thì họ sẽ mắc sai lầm nữa, đến một lúc nào đó, họ phải hiểu sự thật và rút ra kết luận này. Ông có đồng ý với tôi về điểm đó không?

Salsbury:

- Tôi còn nghi ngờ. Tôi không muốn nói “có" khi tôi không chắc. Muốn được như vậy, có thể còn phải mất nhiều thời gian nữa. Có thể là Ngài đúng mà tôi thì sai.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đó là vấn đề.

Salsbury:

- Đây có vấn đề chính trị và cũng có vấn đề cá nhân.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Cố nhiên, nhưng chủ yếu là chính trị.

Salsbury:

- Tôi cũng nghĩ vấn đề chính trị là chính.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Vừa rồi ông tỏ ý hoài nghi cũng có chỗ đúng. Nhưng tôi nghĩ những người như ông phải có cống hiến và làm cho sự thật sáng tỏ. Vì đây là vấn đề rất lớn, có liên quan đến chúng tôi và liên quan đến các ông. Trước sau thì những người cầm quyền Mỹ phải nhìn nhận thấy sự thật. Vì sự thật ngày càng sáng tỏ và buộc người ta phải thừa nhận.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:17:03 PM
Thủ tướng nhắc lại quá trình can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam từ sau Hiệp nghị Genève năm 1954 những thất bại liên tiếp của Mỹ ở miền Nam nhất là thất bại của "chiến tranh đặc biệt" , tình hình nghiêm trọng của đội quân viễn chinh Mỹ sau hai mùa khô. Ở miền Bắc Việt Nam chính sách leo thang đánhphá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng đang thất bại.

Thủ tướng nói tiếp:

- Tình hình hiện nay đối với quân đội viễn chinh Mỹ khó khăn hơn bao giờ hết. Họ đang đứng trước một bước đường tiến thoái lưỡng nan. Họ sẽ làm gì? Đánh ở đâu. Đánh thế nào? Làm thế nào để có thể thắng được? Đó là những câu hỏi mà quân nhân Mỹ không giải đáp được. Nếu ông hỏi tướng Westemoreland, cũng chẳng chắc ông ta đã trả lời được. Trước đây một năm, ông ta trả lời được nhưng bây giờ thì không trả lời được. Có lẽ phải nhắc đến bốn điểm của tướng Oét-mo-len. ông có cần tôi nhắc lại bốn điểm đó không

Một: Đánh bại lực lượng quân giải phóng.

Hai: Bình định. .

Ba: Củng cố ngụy quân ngụy quyền.

Bốn: Cắt miền Nam với miền Bắc.

Với điểm thứ nhất, đến bây giờ thì rõ ràng là không thể nào thực hiện được. Người Mỹ không dám thừa nhận điều đó. Họ còn nói là họ thực hiện được điểm một, nghĩa là có thể đánh bại được quân giải phóng. Nhưng tôi, tôi nói với ông là họ không làm được điểm một. Trái lại, lực lượng vũ trang giải phóng càng tăng cường mạnh hơn là người Mỹ tưởng.

Về điểm thứ hai, tôi nói thẳng là họ thất bại và họ cũng không thể không thừa nhận điều đó.

Về điểm thứ ba, họ không muốn nhận, nhưng cũng buộc phải thừa nhận là ngụy quân ngụy quyền sụp đổ.

Về điểm thứ tư, rõ ràng là họ không làm được.

Tóm lại, toàn bộ kế hoạch đã bị thất bại. Hơn nữa, trong thời gian tới họ không có khả năng làm hơn được cái gì họ đã làm,nghĩa là người Mỹ đang ở trong một tình trạng bế tắc ở miền Nam.Ở đây tôi với ông, nếu cần, nên nói chuyện nhiều về điểm này, vì có rất nhiều người tưởng rằng sức mạnh vật chất, sức mạnh vũ khí của Mỹ sẽ thắng ở miền Nam. Tôi cho họ nghĩ như vậy là không đúng và nguy hiểm nữa, nhất là đối với những người Mỹ.

Mấy năm qua, nhà cầm quyền Mỹ leo thang vì họ nghĩ rằng sức mạnh vật chất sẽ thắng. Thua một nấc, họ nghĩ nếu tăng cường lục lượng họ sẽ thắng, đến nấc thứ hai, họ thua, họ tưởng đến nấc thứ ba sẽ thắng, đến nấc thử ba, thứ tư họ cũng nghĩ vậy, đến nấc này, họ còn nghĩ như vậy nữa không? Đó là vấn đề.

Chúng tôi quả quyết với ông là họ không thể thắng. Từ đó, tôi muốn nói với ông về bản chất của cuộc chiến tranh vì đó là vấn đề mấu chốt. Trong những câu hỏi của ông với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có một số câu hỏi tôi muốn nói ở đây.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:35:51 PM
Ông hỏi chúng tôi so sánh giữa tướng Mỹ với tướng Pháp như thế nào? Giữa lính Mỹ với lính Pháp như thế nào? Vấn đề không phải ở đó, vấn đề là ở chỗ cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh gì đối với người Mỹ? đối với người Mỹ, đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa, không có lẽ phải và ở một vùng mà người Mỹ không thể nào giành được những điều kiện thuận lợi. đối với chúng tôi, đó là một cuộc chiến tranh thiêng liêng. Đó là độc lập, tự do, đời sống của chúng tôi, đối với chúng tôi là tất cả, cho thế hệ hiện nay và cho cả thế hệ tương lai. Cho nên chúng tôi quyết chiến quyết thắng. Và thắng lợi bắt đầu từ trong ý chí của mỗi người Việt Nam. Thắng lợi từ quyết tâm và từ đó chúng tôi giải quyết được tất cả các vấn đề. Điều này các ông khó hiểu lắm. Không phải chỉ đối với các ông tôi mới nói như vậy, mà cả với những người bạn khác ở châu Âu, những người bạn rất gần của chúng tôi. Người ta không hiểu, người ta sợ lực lượng của Mỹ. Người ta nghĩ làm thế nào có thể chống lại đội quân viễn chinh hai trăm nghìn người với những vũ khí hiện đại, với hạm đội 7 ở bên cạnh. Người ta không tin là chúng tôi đánh thắng, đến bây giờ chúng tôi làm được. Chúng tôi đánh thắng. Chúng tôi nói với những người bạn của chúng tôi là chúng tôi sẽ thắng lợi hoàn toàn. Người ta đã phải thừa nhận đó là sự thật, nhưng người ta vẫn chưa hiểu, đối với ông, tôi không có hy vọng thuyết phục được ông, nhưng tôi phải nói điều này vì nó là một điều rất quan trọng.

Về khả năng của tướng Mỹ tôi muốn nói thêm. Ở miền Nam có những sĩ quan và binh lính nguy. Đó là người Việt Nam. Chúng là nửa triệu người. Chúng có vũ khí tốt. Nhưng chúng đã làm được gì trong lúc lực lượng vũ trang giải phóng ít hơn, vũ khí tất nhiên xấu hơn, mà họ lại đánh rất giỏi. Tất cả đều là người Việt Nam, nhưng vì sao một bên thì là tồi, một bên thì thật là tài trí tuyệt vời, chưa hề có. Từ trước đến nay trong lịch sử, chưa có một cuộc chiến tranh nhân dân nào đánh tài như vậy. Người Mỹ cũng phải thừa nhận điều đó. Vì ở miền Nam, chúng tôi là chính nghĩa, do đó chúng tôi sẽ thắng Mỹ. Chúng tôi đã thắng người Mỹ vì lẽ đó. Bây giờ đang thắng. Nếu cần sang năm sẽ thắng. Nếu phải đánh thêm ba mươi năm nữa cũng sẽ thắng vì lẽ đó.

Tôi nói thêm một điều rất quan trọng mà người Mỹ chưa thấy. Hiện nay, nhiều quân nhân Mỹ lý luận như thế này: họ có bốn mươi vạn quân mà không giải quyết được vấn đề, họ tưởng tăng lên năm mươi vạn quân thì có thể giải quyết được, có người nói đến sáu mươi vạn, có người nói nếu cần thì tăng thêm nữa. Nhưng như tôi đã nói, căn bản của vấn đề không phải ở chỗ đó. Đây là một vấn đề quan trọng. Lính Mỹ càng vào miền Nam càng gây ra những hậu quả không lường được. Thứ nhất, họ mang lại chiến tranh. Đó là một điều rất nguy hại đối với họ về mặt chính trị. Ngụy quân ngụy quyền từ trước đến nay còn lừa dối được một số người bây giờ không lừa dối được ai. Và người Việt Nam ở miền Nam rõ ràng thấy Chính phủ Mỹ đang tiến hành một cuộc chiến tranh thuộc địa dã man nhất trong thế kỷ này. Ông có nhận thấy điều đó không?


Salsbury:

- Tôi khó mà trả lời được câu hỏi của Ngài. Nếu Ngài hỏi chiến tranh có dã man không thì tôi sẽ trả lời tất cả các cuộc chiến tranh đều dã man cả. Có thể nói đây là một cuộc chiến tranh rất dã man.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đó là một điều rất quan trọng.

Điều thứ hai là đội quân viễn chinh Mỹ vào đã làm đảo lộn toàn bộ nền kinh tế ở miền Nam. Nạn lạm phát rất ghê gớm. Người ta không thể nào sống được.

Thứ ba là binh lính Mỹ đã gây những hiện tượng rất xấu xa về mặt văn hoá và xã hội. Ông cũng biết người ta gọi Sài Gòn là một nhà chứa khổng lồ không? Cả con gái những người ở tầng lớp trên cũng đi làm đĩ cho sĩ quan Mỹ.

Từ những điều đó thì thấy quân đội Mỹ càng vào đông chừng nào càng gây ra những căm phẫn ghê gớm trong nhân dân miền Nam. Do đó, ở các đô thị miền Nam đang diễn ra một tình hình rất mới là phong trào đô thị phát triển mạnh mẽ, như những cuộc đấu tranh của công nhân bến tàu ở Sài Gòn mấy hôm nay. Rồi đây phong trào càng rộng lớn mạnh mẽ, lôi cuốn tất cả các tầng lớp trên, trí thức, tư sản, tôn giáo, công chức trong bộ máy ngụy quyền. Đó là những diễn biến chính trị mà các ông không lường hết được. Đó là một mặt trận cực kỳ quan trọng đi đôi với những thắng lợi trên mặt trận quân sự, trên cơ sở sự sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền. Đó là những điều người Mỹ phải nhìn thấy. Tôi nghĩ có thể có những người Mỹ sáng suốt ở Sài Gòn bắt đầu thấy. Như vậy thì đưa quân vào nhiều, các ông làm được gì? Dù các ông tăng quân trong lúc ngụy quân, ngụy quyền sụp đổ thì làm được gì? Đó là những điều cơ bản về tình hình chính trị ở miền Nam Việt Nam. Về điểm này ông với tôi có thể thảo luận thêm.




Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:36:50 PM
Về miền Bắc, mấy hôm nay đi thăm, ông đã thấy đại thể tình hình. Điều quan trọng nhất là cuộc chiến tranh bằng không quân đối với người Mỹ là một sự thất bại. Dư luận thế giới đã thấy là thất bại. Thất bại ở chỗ không bắt buộc được chúng tôi đầu hàng và hơn nữa không ảnh hưởng gì đến tình hình miền Nam. Trái lại, tình hình miền Nam lại càng thuận lợi hơn cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và nguy khốn hơn cho người Mỹ.

Về phía chúng tôi, trong mấy năm chiến đấu với loại chiến tranh mới này, chúng tôi thấy thêm mấy điểm:

Một là tiềm lực quân sự và quốc phòng của chúng tôi tăng lên rõ rệt và đây là một điều rất may mắn. Lực lượng phòng không tăng lên, nói chung là lực lượng vũ trang tăng lên và sẽ tăng lên một cách vững chắc vì chúng tôi đã vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất, đã trải qua những bước ngập ngừng lúc đầu.

Bây giờ là lúc phát triển rộng và nhanh. Ở đây lực lượng chủ yếu là thanh niên, rất quan trọng và rất dũng cảm. Chắc là ông có nghe nói đến sức mạnh, lòng dũng cảm, khả năng to lớn của tuổi trẻ. Rõ ràng trong cuộc chiến tranh, chúng tôi thấy sáng tỏ những khả năng của họ. Ba triệu thanh niên đã đăng ký sẵn sàng và họ đã chứng tỏ khả năng của họ trên các chiến trường. Trong tất cả các cuộc cách mạng đều là như vậy.

Hai là về mặt kinh tế. Trong các câu hỏi của ông, ông có hỏi về vấn đề này. Ở đây phải thấy hai mặt: một mặt là sự tàn phá của cuộc chiến tranh bằng không quân, điều đó là tất nhiên. Nhưng có mặt khác, mặt chúng tôi tìm cách đế phát triển tiềm lực kinh tế cho thích hợp với điều kiện chiến tranh và có thể tránh được sự phá hoại của bom đạn Mỹ. Trong thời gian qua, chúng tôi đã rút được kết luận về vấn đề đó. Chúng tôi tiếp tục làm những cái gì chúng tôi có thể bảo vệ được, về nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải và tất cả các ngành khác. Đây là những kinh nghiệm cực kỳ quý báu. Trên cơ sở đó, có khả năng phát triển tiềm lực kinh tế cho thích hợp với điềụ kiện chiến tranh, chuẩn bị chiến tranh lâu dài.

Bây giờ đến một điểm lớn trong những câu hỏi của ông là: triển vọng của cuộc chiến tranh. Ông hỏi là chiến tranh sẽ kéo dài trong bao lâu? Về phần chúng tôi, chúng tôi chuẩn bị chiến tranh lâu dài, vì chiến tranh nhân dân tất nhiên phải lâu dài. Không ai biết nó sẽ héo dài bao lâu. Điều này khó nói. Lúc nào hết quân xâm lược mới thôi. Thực sự chúng tôi chuẩn bị như vậy. Trong ý nghĩ của chúng tôi là như vậy. Trong người dân Việt Nam nào cũng là như vậy. Ông không có thì giờ để nói chuyện với những người dân Việt Nam chúng tôi. Đây là điều mà người nước ngoài hay hỏi chúng tôi, câu hỏi làm chúng tôi ngạc nhiên, đối với bất cứ một người dân Việt Nam bình thường nào cũng vậy. Chúng tôi làm sao quyết định được khi nào sẽ kết thúc chiến tranh, vì chúng tôi không thể đem quân sang đánh bẹp các ông trên đất Mỹ. Cho nên, chúng tôi chuẩn bị đánh lâu dài. Mỹ còn xâm lược, còn đánh. Bao nhiêu năm? Mười năm, hai mươi năm đã vừa chưa? Nếu chưa vừa thì còn dài nữa. Tôi thường nói với các bạn nước ngoài: thế hệ trẻ của chúng tôi, nếu cần phải tiếp tục chiến đấu, sẽ chiến đấu giỏi hơn chúng tôi, thậm chí cả những trẻ em ít tuổi. Vì họ cũng đã được chuẩn bị tốt.

Tình hình là như vậy. Tôi nói đây không phải để uy hiếp ai, để gây ấn tượng với ai. Đó là hậu quả lô-gích của tình hình. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc tự hào. Cả lịch sử của nó là lịch sử của một dân tộc tự hào. Giặc Mông Cổ đến, chúng tôi đánh cho một lần thua, lần thứ hai đến, chúng tôi lại đánh thua. Lần thứ ba đến, chúng tôi lại đánh thua nữa. Bây giờ các ông muốn đánh mấy lần? Ông hỏi phải đánh bao nhiêu lâu, tôi phải trả lời như vậy. Đó là tuỳ các ông chứ không phải tuỳ chúng tôi.

Vấn đề thứ nhất tôi muốn nói với ông là như vậy.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:37:38 PM
Tôi nói đến vấn đề thứ hai là vấn đề giải pháp. Ông hỏi nhiều câu về giải pháp. Tất nhiên ông chú ý nhiều về giải pháp. Tôi hiểu và rất muốn nói chuyện với ông về điều đó. Nhưng tôi nghĩ muốn nói chuyện được với nhau về giải pháp thì phải xuất phát từ tình hình tôi vừa nói với ông. Đối với chúng tôi, giải pháp rất dờn giản. Vì đây là một cuộc chiến tranh xâm lược, thuộc địa, phi nghĩa, thì giải pháp là làm sao chấm dứt xâm lược. Giản đơn lắm, rất lô-gích, rất hoàn hảo và không thể bác bỏ được. Ông có đồng ý không?

Salsbury:

- Trên thế giới có rất nhiều điều không lô-gích mà chúng ta vẫn phải chịu.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đúng, tôi hiểu như vậy. Chúng ta đang phải sống trong một thế giới như vậy. Nhưng không phải như vậy là chúng ta không phấn đấu cho cái gì mình cho là đúng đắn, là thiêng liêng. Đối với chúng tôi, cuộc chiến đấu là độc lập, tự do. Tất cả các giải pháp đều phải xuất phát từ điều đó và phải đưa đến vấn đề đó. Đối với chúng tôi, đó là một điều không thể nào động đến được. Tất nhiên đó là một vấn đề rất khó.

Theo quan điểm của chúng tôi, tốt nhất là những người xâm lược Mỹ phải chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của họ. Tất cả vấn đề là ở đó. Chừng nào họ chưa tính đến việc này thì chưa thể có giải pháp cho cuộc chiến tranh được. Họ còn đánh chúng tôi,  chúng tôi còn phải đánh lại họ. Có cách nào làm họ hiểu điều đó, tôi nghĩ đó là việc của các ông. Những người như ông có trách nhiệm làm việc đó.

Ở đây người ta thường nói đến một điều không đúng. Người ta nói đến danh dự của nước Mỹ. Danh dự của nước Mỹ ở chỗ nào? Tôi nghĩ danh dự chính đáng của nước Mỹ là không làm chiến tranh phi nghĩa, và nếu đã làm chiến tranh phi nghĩa thì thôi đừng nói đến danh dự của nước Mỹ nữa. Không có cách nào khác. Tôi nghĩ làm như vậy là đúng. Trong lịch sử đã có nhiều tiền lệ là nước Pháp đối với Algéri. Tại sao người Mỹ không làm được như thế? Còn phía chúng tôi, chúng tôi phải làm một cuộc chiến tranh yêu nước. Tất nhiên, chúng tôi không nghĩ đến việc làm nhục nước Mỹ vì nước Mỹ là một nước lớn. Nước Mỹ trọng danh dự của nước Mỹ. Chúng tôi cũng trọng danh dự của nước chúng tôi. Và lúc nào giới cầm quyền Mỹ chấm dứt cuộc chiến tranh thì chúng ta có thể tôn trọng lẫn nhau và giải quyết mọi vấn đề. Vì sao chúng tôi không tính được như vậy? Chỗ này tôi muốn biết ý kiến ông.

Vì quan điểm của chúng tôi là như vậy nên lập trường của chúng tôi là bốn điểm. Bốn điểm đó là cơ sở đế giải quyết vấn đề chiến tranh. Không nên coi đó là điều kiện. Đó là chân lý, là lẽ phải. Đó là điều giản đơn, chẳng qua chỉ là thừa nhận những điều khoản của Hiệp nghị Genève. Các giới cầm quyền Mỹ không chịu thừa nhận bốn điểm đó, như vậy là họ chưa muốn giải quyết vấn đề Việt Nam. Và nhất là không muốn thừa nhận điểm ba là muốn bám lấy miền Nam Việt Nam, tức là họ còn muốn chui vào đường hầm. Thế là chịu, ai làm sao được! Cho nên phải đi đến giải quyết vấn đề trên cơ sở bốn điểm. Anh muốn đi đường nào cũng được,nhưng cuối cùng cũng phải đi đến bốn điểm. Dư luận thế giới thừa nhận điều này. Bên cạnh bốn điểm, chúng tôi còn đề ra một điểm nữa, đòi Chính phủ Mỹ phải đình chỉ vĩnh viễn và vô điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh đối với miền Bắc. Điều này có tính chất quan trọng. Dư luận thế giới ủng hộ điểm này chứng tỏ nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đến nay thế giới người ta đòi Mỹ phải thừa nhận điểm này. Cho nên ông U Than, tướng De Gaulle cũng đòi như vậy. Vì lẽ gì? Tôi không cần nói nhiều vì hình như ông cũng thừa nhận điểm này. Nhưng các giới cầm quyền Mỹ và Lầu Năm Góc chưa bằng lòng đâu. Tất nhiên đối với họ còn khó lắm, đối với chúng tôi thì rất rõ ràng và giản đơn, vì những lẽ phải lớn rất giản đơn.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:39:20 PM
Về giải pháp thì lập trường của chúng tôi rất rõ rệt và có bốn điểm. Đối với miền Nam có điểm thứ ba trong bốn điểm. Lát nữa tôi sẽ nói rõ, vì nó liên quan đến vấn đề thống nhất đất nước. Về giải pháp, tôi nói thêm một điều là từ trước đến nay phía Chính phủ Mỹ chưa có một thiện chí nào. Trong một cuộc chiến tranh phức tạp như thế này mà không có thiện chí nào thì không giải quyết được gì. Chúng tôi biết rất rõ và không khi nào bị lừa đâu. Vì chúng tôi biết là giới cầm quyền Mỹ và Lầu Năm Góc trong khi nói đến hoà bình vẫn tiếp tục tăng cường chiến tranh. Còn các giới chính trị và dư luận thế giới lúc đầu có thể hiểu lầm, nhưng dần dần người ta cũng hiểu. Chúng tôi nghiệm rằng mỗi lần bọn xâm lược Mỹ muốn leo thang thì họ lại trùm lên họ cái áo hoà bình, từ bài diễn văn ở Baltimore cho đến nay, cho đến lúc này. Tất nhiên tôi hiểu điều này hơn ông vì có nhiều cái tôi không nói với ông được. Nhưng như vậy không có kết quả gì tốt cho Mỹ đâu. Dư luận đâu đâu cũng nói Tổng thống Johnson là kẻ nói dối... Tôi đọc rất nhiều bài báo đều nói như vậy, ông ấy làm như vậy đề làm gì? Đánh lừa được ai? Cho nên, muốn thực sự có giải pháp thì trước hết phải có thiện chí. Tất nhiên, về phía chúng tôi đã sẵn sàng. Chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì nếu Mỹ có thiện chí. Nếu họ chấm dứt cả cuộc chiến tranh, chúng tôi biết chúng tôi phải làm gì. Nếu họ chấm dứt động chạm đến miền Bắc, chúng tôi cũng biết chúng tôi phải làm gì. Về giải pháp, chúng tôi chỉ nói bấy nhiêu, có gì ông nói thêm.

Bây giờ tôi nói về vấn đề miền Nam và vấn đề thống nhất. Chúng tôi nghĩ là về vấn đề miền Nam, và tất cả những vấn đề của miền Nam. Cương lĩnh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng rất đầy đủ. Cương lĩnh đó thể hiện trong bốn từ: hoà bình, độc lập, dân chủ, trung lập. Đó là một cương lĩnh sáng suốt và thông minh, rất thích hợp với tình hình miền Nam hiện nay, được nhân dân miền Nam rất đồng tình và nay mai sẽ trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn thể nhân dân miền Nam, không những ở nông thôn mà cả ở đô thị. Đó là điều mà tình hình đòi hỏi. Vì lẽ Mặt trận là người lãnh đạo sáng suốt nên Mặt trận được sự ủng hộ lớn lắm trong nhân dân miền Nam. Ở đây phải nói là giới cầm quyền Mỹ rất mù quáng không chịu thừa nhận tình hình đó. Ở miền Nam, họ đánh ai? Họ đánh với Mặt trận. Họ không thừa nhận Mặt trận, đó là điều không thể được. Họ muốn giải qnyết những vấn đề của miền Nam thì phải nói chuyện với ai? Tất nhiên phải thừa nhận Mặt trận và nói chuyện với Mặt trận. Nhất định tình hình sẽ diễn ra như vậy. Có thể là giới cầm quyền Mỹ sẽ đứng trước những sự đau đớn bất ngờ đối với họ nếu họ mù quáng không chịu thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Ở đây có một vấn đề tôi muốn nói với ông, đó là vấn đề quan hệ giữa Mặt trận với chúng tôi. Việt Nam là một nước, một dân tộc Nhưng có Hiệp nghị Genève, có tình hình thực tế hiện nay, vàở miền Nam có Mặt trận, người lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng ở miền Nam. Chúng tôi rất yêu thương đã đành rồi, chúng tôi còn kính trọng đồng bào chúng tôi ở miền Nam và càng kính trọng vì đồng bào chúng tôi trong đó đang làm một cuộc chiến tranh cực kỳ gian khổ và cực kỳ anh dũng. Chúng tôi kính trọng những chủ trương của Mặt trận. Tình hình miền Nam là do Mặt trận giải quyết. Vấn đề chiến tranh ở miền Nam là do Mặt trận giải quyết, cả trước mắt và trong tương lai. Đó là một chính sách rất lớn của chúng tôi.

Vấn đề thống nhất sẽ giải quyết như thế nào? Đây là một câu hỏi của ông. Chúng tôi đã nói rất nhiều lần quan điểm của chúng tôi, Mặt trận cũng đã tuyên bố rất nhiều lần. Nhất định chúng tôi phải thống nhất. Chúng tôi đã từng nói: trên thế giới này không có lực lượng nào có thể chia cắt đất nước nhân dân chúng tôi. Vì dân tộc Việt Nam rất thống nhất. Tôi là một người quê ở miền Nam. Nhưng thống nhất thế nào? Chúng tôi chủ trương thống nhất trên cơ sở độc lập dân tộc, bằng phương pháp hoà bình. Điều đó có nghĩa là hai miền bàn với nhau trên tinh thần anh em để làm thế nào cho tốt nhất. Bằng phương pháp gì? Bằng những bước nào? Người ta thường hiểu nhầm điều này. Người ta nói chúng tôi sẽ lấn áp, thôn tính miền Nam. Chúng tôi không làm những điều ngu xuẩn và tội lỗi như vậy. Trái lại, chúng tôi rất tôn trọng ý kiến của đồng bào và của Mặt trận. Ở miền Nam. Vì vậy, chúng tôi ủng hộ lẫn nhau và cùng chiến đấu chống kẻ thù chung. Chắc ông biết khi Hà Nội bị ném bom thì miền Nam đã phản ứng rất nhanh. Khẩu hiệu của miền Nam là bọn xâm lược Mỹ đụng đến Hà Nội thì nhân dân miền Nam sẽ đánh hai, ba, năm, mười lần mạnh hơn. Đây không phải là điều nói huênh hoang đâu. Trong khi miền Nam nói “Hà Nội là trái tim của cả nước”, điều đó là đúng sự thật. Cho nên thế nào chúng tôi cũng phải thống nhất, nhưng chúng tôi sẽ tính toán với nhau, xem xét tình hình, làm thế nào thuận lợi nhất, vững chắc nhất và chúng tôi không vội. Vấn đề thống nhất không có gì mới, tôi chỉ nói vắn tắt như vậy.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:39:27 PM
Cuối cùng tôi muốn nói với ông một điều. Chúng tôi là một nước độc lập. Chúng tôi có chính sách độc lập, tự chủ của chúng tôi. Chúng tôi làm chủ vận mệnh của chúng tôi, làm chủ chính sách của chúng tôi từ cái nhỏ đến cái lớn. Điều này rõ lắm. Làm một cuộc chiến tranh như thế này nếu không làm chủ thì không làm được. Không có chính sách vững vàng thì không thể làm được. Do đó phải nói là chúng tôi độc lập tự chủ trong tất cả các vấn đề ngoại giao của chúng tôi. Từ trước đến nay là như vậy, từ nay về sau cũng như vậy. Tôi nói với ông điều này vì các giới chính trị Mỹ hay hiểu lầm điều này lắm. Và hiểu lầm điều này là đi rất sai. Tôi không muốn họ đi sai, vì giới cầm quyền Mỹ mà sai thì tình hình sẽ có những cái không tốt. Trong phạm vi nào đó, nó có quan hệ đến chúng tôi.

Về các câu hỏi của ông, có một câu hỏi nhỏ tôi cần trả lời ông. Ông hỏi lúc nào chúng tôi nhận quân tình nguyện. Tôi trả lời với ông là tuỳ Chúng tôi đã chuẩn bị và không thiếu người tình nguyện, nhưng lực lượng vũ trang tình nguyện cũng có và những người dân thường tình nguyện cũng có. Chúng tôi cần thì có thể có rất nhiều. Đây là một chỗ dựa quan trọng của chúng tôi. Và điểm này cũng chứng tỏ chính sách độc lập của chúng tôi.

Tôi nghĩ là tôi đã giải thích về cơ bản những điều tôi muốn nói với ông. Bây giờ thì ông với tôi nói chuyện. Câu hỏi của tôi là tôi nói như vậy ông có điều gì không đồng ý? Vì lúc nãy tôi đã nói là tôi nói chuyện với một người Mỹ có thiện chí. Nếu hôm nay ta nói chuyện chưa xong thì mai ta lại nói.


Salsbury:

- Tôi xin nêu lên một số nhận xét và ý kiến của tôi. Tôi bắt đầu từ điểm này: tôi rất mong muốn giữa Việt Nam và Mỹ có hoà bình. Cũng như nhiều người Mỹ và nhiều người khác trên thế giới, tôi rất phiền muộn vì cuộc chiến tranh đang tàn phá đất nước Ngài. 

Tôi nghĩ rằng tôi hiểu rất rõ tinh thần độc lập và dũng cảm đang thúc đẩy nhân dân Việt Nam đấu tranh. Đối với một người Mỹ, việc hiểu điều đó không khó khăn gì. Cách đây rất lâu, chúng tôi là một dân tộc thuộc địa lúc đó rất nhỏ yếu phải đương đầu với một nước thực dân rất to lớn. Chúng tôi đã phải tiến hành một cuộc chiến tranh rất gian khổ đế chống lại nước đó. Chúng tôi đã chiến đấu rất dũng cảm và cuối cùng chúng tôi đã giành được độc lập. Sau chiến tranh, chúng tôi đã trở nên những người bạn rất thân với nhau, tôn trọng lẫn nhau. Tôi và nhiều người Mỹ cũng mong rằng cuộc chiến tranh này sẽ kết thúc với tình hình như vậy. Tôi mong rằng các ngài sẽ được độc lập, có chủ quyền, khi đó chúng ta sẽ cùng tôn trọng lẫn nhau và là những người bạn của nhau.

Cuộc xung đột này có hai khả năng phát triển. Một là, nó sẽ tiếp tục và lâu dài. Các ngài cũng đã chiến đấu hai mươi, ba mươi năm. Thời gian vậy là rất lâu rồi. Tôi hiểu rằng khó có thể nói được là chiến tranh sẽ kéo dài bao nhiêu lâu nữa. Có thể là mười năm, hai mươi năm nữa, và như vậy là một thời gian rất dài đối với đời sông của một con người.

Lúc nãy, Ngài có hỏi tôi rằng: đây có phải là một cuộc chiến tranh dã man nhất trong lịch sử không? Thật khó có thể nói được, vì chiến tranh rất khủng khiếp. Nó đã gây cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu đau khổ, chết chóc, tàn phá. Tôi nghĩ là bất cứ ai đã nhìn thấy những sự việc đó đều thấy cần phải chấm dứt cuộc chiến tranh mà vẫn đạt được những mục tiêu đã theo đuổi, cần phải có giải pháp như thế nào để cho người Mỹ nói chung và người Mỹ trong Chính phủ có thể thừa nhận được. Tôi cũng muốn tìm mọi cách để góp phần chấm dứt chết chóc.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:55:36 PM
Tôi nghĩ rằng có hai mặt để giải quyết vấn đề chiến tranh. Về phía các ngài, các ngài không tin người Mỹ. Các ngài cho rằng Mỹ đang muốn lừa bịp các ngài để thắng các ngài. Nếu chúng ta muốn tìm cách nói chuyện bình tĩnh với nhau thì có thể người Mỹ sẽ cho đó là dấu hiệu yếu đuối. Ngài nói mỗi khi Mỹ nói đến hoà bình là một lần họ chuẩn bị một bước leo thang mới. Tôi sang đây có mang theo một bài xã luận của tờ New York Times trong đó chúng tôi cũng đã viết như vậy. Đó là vì chúng tôi căn cứ vào những điều họ đã làm. Cho nên chúng tôi không ngạc nhiên và chúng tôi nghĩ rằng các ngài không có cách suy nghĩ nào khác. Chiến tranh ảnh hưởng đến quyền sống dân tộc của các ngài. Cho nên các ngài không thể chịu mất được. Và đúng là các ngài đang phải chiến đấu chống lại một kẻ thù to lớn mạnh mẽ. Nếu ở vào địa vị các ngài thì tôi cũng sẽ làm như vậy.

Mặt khác, tôi muốn nói đến lập trường của người Mỹ. Tôi rất khó nói, vì tôi có nhiều điều đồng ý với lập trường đó. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu lập trường của Mỹ là thế nào. Trong Nhà Trắng và Lầu Năm Góc cũng có những người muốn chấm dứt xung đột nhưng họ cũng nói rằng không tin được Việt Nam, vì người Việt Nam là một kẻ địch rất nguy hiếm. Họ nói nếu họ tỏ ra muốn nói chuyện thì các ngài sẽ không ngừng đâu. Tôi hiểu được vì họ đang chiến đấu chống lại các ngài và họ biết các ngài là những chiến sĩ chiến đấu rất mạnh mẽ. Họ biết các ngài hơn ai hết.

Cho nên, khi có một người nào đó, như tôi chẳng hạn, muốn tìm cách tiến đến có những cuộc tiếp xúc thì thật khó khăn, vì cả hai bên đều cho là bên kia không muốn tiếp xúc với mình. Riêng tôi thì tôi không thể nói thay được cho ai cả vì tôi chỉ là một nhà báo. Một nhà ngoại giao Mỹ không đến đây được và một nhà ngoại giao của các ngài cũng không thể đến Mỹ được. Tôi lấy ví dụ: Nguyên tắc giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam nên như thế nào. Tôi cho lập trường của các ngài là hợp lý. Tôi cũng cho rằng nếu ở vào địa vị của các ngài thì mục tiêu của chúng tôi cũng vậy. Nhưng đối với người Mỹ rất khó nhận điều đó. Hợp lý nhưng khó khăn. Những nhà lãnh đạo Mỹ đã đưa ra hết tuyên bố này đến tuyên bố khác. Các ông tướng còn nói nhiều hơn. Vì các tướng còn có vấn đề bảo vệ danh dự của họ. Họ nói cho họ thêm ba tháng hoặc cho họ thêm ba trăm nghìn quân nữa thì họ sẽ giải quyết được vấn đề. Đó là cách nói của các ông tướng. Trong chiến tranh nào cũng vậy. Cho nên vấn đề là phải làm thế nào để thoát khỏi tình trạng bế tắc đó, vì nó làm cho chiến tranh kéo dài, chết chóc, tàn phá. Tôi không nghi ngờ khả năng của các ngài chiến đấu mười, hai mươi năm. Tôi không nghi ngờ các ngài được sự ủng hộ của bạn bè các ngài. Tôi cũng không nghi ngờ khả năng của Nhà Trắng có thể động viên thêm quân, sản xuất thêm máy bay và bom đạn. Tôi không nghĩ rằng việc đó có thể làm Mỹ thắng được chiến tranh. Nhưng như vậy thì chiến tranh sẽ kéo dài thêm nhiều năm nữa. Cuối cùng thì những người chiếm đóng cũng không thể thắng được. Nhưng phải làm thế nào chấm dứt chiến tranh cho nhân dân đỡ đau khổ.

Hiện nay trên thế giới có những lực lượng muốn chấm dứt chiến tranh, cả ở Mỹ cũng vậy. Việc tôi đến thăm miền Bắc đã khuyên khích một số người muốn chấm dứt chiến tranh. Cho nên có khả năng động viên dư luận, tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh một cách hợp lý. Bản thân tôi rất lạc quan. Ngài cũng tỏ ra rất lạc quan. Ngài phải là người lạc quan mới có thể chiến đấu cho nhân dân, cho đất nước của mình như vậy. Tôi tin Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người lạc quan, vì có như thế mới có thể cống hiến được cả cuộc đời mình cho dân tộc.

Trong tình hình hiện nay, có một số yếu tố làm cho những người biết lẽ phải thấy có thể tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh. Tôi nghĩ về phía các ngài cũng như về phía Mỹ nên thăm dò để khai thác tình hình. Tôi biết đây là một vấn đề tế nhị. Tôi đã nói chuyện với một số cán bộ Việt Nam, tôi nghĩ rằng rất tốt nếu có một cuộc nói chuyện rất lặng lẽ, kín đáo giữa hai bên, ở bất cứ một nước nào trên thế giới. Làm như vậy thì có thể có sơ sở để tin cậy nhau hơn, và có thể tìm ra được biện pháp thực tế nhằm giải quyết cuộc chiến tranh.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 08 Tháng Chín, 2009, 09:56:17 PM
Ngài nói phải chấm dứt ném bom trước khi nói chuyện. Đó là một điều hợp lý. Ngài nói nếu Mỹ đồng ý điều đó thì về Ngài, Ngài cũng biết sẽ phải làm gì. Tôi nghĩ không lầm nếu tôi cho rằng nếu một bên tỏ ra thiện chí thì bên kia cũng phải tỏ ra như vậy. Cả hai bên đều cùng tỏ ra thiện chí. Không bên nào tỏ thiện chí, nếu còn nghi ngờ lẫn nhau. Điểm này về phía Mỹ khó hơn các ngài. Vì đối với các tướng, cam kết bỏ leo thang là một vấn đề rất lớn. Westmoreland và các tướng khác nói họ đang thắng ở miền Nam. Nhưng bức tranh họ vẽ cho Johnson khác hẳn tình hình như Ngài vừa nói với tôi. Tôi chưa tới Sài Gòn. Nhưng tôi có nhiều người bạn làm báo hoặc làm ngoại giao ở Sài Gòn.

Họ nói: gần đây các tướng ở đó rất tin tưởng và cho là tình hình có tiến bộ phần nào. Họ nghĩ rằng nếu có thêm một trăm nghìn, hai trăm nghìn, ba trăm nghìn quân nữa thì họ sẽ thắng. Họ cho rằng việc ném bom miền Bắc đã gây khó khăn rất lớn cho các ngài. Trong đời tôi đã có nhiều kinh nghiệm về việc này. Tôi đã ở Anh trong đại chiến thứ hai, khi không quân Đức định ném bom đè bẹp nước Anh. Nhưng cái mà không quân Đức làm được là họ đã gây căm thù và động viên tinh thần của nhân dân Anh. Tôi cho rằng ở đây cũng vậy. Tôi biết những người lãnh đạo không quân Anh, Mỹ khi ném bom Đức. Việc đó làm cho họ mất nhiều người và nhiều máy bay, đã giết được nhiều trẻ em và tàn phá từng thành phố một. Nhưng sau chiến tranh; khi tổng kết lại kết quả của việc ném bom chiến lược, người ta thấy rằng trong suốt thời gian máy bay Anh, Mỹ ném bom Đức, nền công nghiệp Đức lại mạnh hơn trước. Cho nên có lẽ việc ném bom lại giúp cho Đức đứng vững. Vì vậy tôi không bị mắc lừa với việc người ta công bố kết quả việc ném bom miền Bắc. Tôi biết có nhiều người bị chết, nhiều thành phố bị tàn phá và gây nhiều khó khăn cho các ngài. Tôi hiểu tình hình thực tế. Nhưng không may là những người chủ trương "ném bom thì sẽ thắng" lại là những người có thế lực. Mọi người đều thấy rằng Mỹ sẽ tiếp tục leo thang. Muốn chấm dứt chiến tranh và có giải pháp hoà bình thì phải có một cuộc đấu tranh rất mạnh ở Mỹ. Nhưng tôi tin là ở nước tôi ngày càng có nhiều người tán thành tìm giải pháp hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Và chắc chắn là những lực lượng này sẽ ngày càng mạnh.

Có một điều quan trọng. Rất khó cho tôi cũng như cho bất cứ một người nào khác nếu muốn đưa ra một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam. Nếu chúng tôi đưa ra vấn đề chấm dứt ném bom và ngừng đưa thêm quân Mỹ và miền Nam, coi đó là những điều kiện tối thiểu để đi đến đàm phán, trong khi đó về phía các ngài thì chúng tôi không thấy dấu hiệu các ngài tỏ ra sẵn sàng làm gì để hưởng ứng, đó là không công bằng, một bên muốn mà một bên không. Tôi không chờ phía các ngài nói sẵn sàng làm những gì, nhưng tôi xin góp ý là nếu Mỹ ngừng ném bom và đưa quân vào thì các ngài cũng đừng đưa quân vào miền Nam để giữ tình trạng tương quan như hiện nay. Hoặc là các ngài có thể làm việc gì khác tương tự như vậy. Có những việc có thể đưa đến thương lượng để chấm dứt chiến tranh mà các ngài vẫn thực hiện được mục tiêu của các ngài.

Có thể là tôi sai. Nhưng tôi là một người Mỹ rất quan tâm đến vấn đề này. Tôi biết vấn đề này rất khó khăn và nguy hiểm nữa, nhưng dù sao cũng nên xem xét một cách nghiêm túc. Thời điểm hiện nay là thời điểm đặc biệt tốt để làm việc này. Chắc ngài cũng biết rằng trong chiến tranh, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh này, có những sự tiến triển từng thời kỳ, nghĩa là nó phát triển lên rồi lại dừng lại, lại phát triển lên rồi lại dừng lại. Đây không phải là một điều bí mật: Lầu Năm Góc có những kế hoạch A, B về leo thang. Cho nên tôi nghĩ trước khi chiến tranh tiếp sang một giai đoạn mới, ta có thể tìm ra được biện pháp đề chấm dứt nó hay không? Tôi không biết những nhận xét này của tôi có đúng không, nhưng tôi xin trình bày với lòng tin của cá nhân tôi, lòng tin tưởng và tôn trọng đối với nhân dân Việt Nam và biết là nhân dân Việt Nam đã hy sinh rất lớn.

Tôi buộc phải nói như một nhà ngoại giao mà thực tế tôi chỉ là một nhà báo, nếu có gì sai thì xin Ngài lượng thứ.!”



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:35:45 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- “Về những điểm. Ông vừa gợi ý, có một điểm về cơ bản chúng tôi không tán thành. Về điểm này chúng tôi đã chính thức nói rõ quan điểm của mình. Hôm nay cũng muốn nói thêm với ông. Ông gợi ý đối với một việc phía Mỹ sẽ làm đối với miền Bắc, chúng tôi phải có một hành động gì đáp lại. Quan điểm của chúng tôi là đặt vấn đề như vậy không được. Chính phủ Mỹ làm chiến tranh xâm lược bằng không quân đối với miền Bắc, trái với tất cả các luật pháp. Đây là một hành động chiến tranh cực kỳ nghiêm trọng của hành động này. Ông có thể nào tưởng tượng được rằng nước ông có thể bị một nước khác dùng không quân đánh không? Và trong trường hợp đó thì thái độ của những người Mỹ như thế nào? Thế rồi nước tiến công nước Mỹ của các ông đòi ngừng ném bom và đòi người ta phải có gì trả lại. Ông có thể trả lời tôi câu ấy được không?”

Salsbury:

- “Tôi có thể trả lời được. Tôi không nghĩ rằng các ngài phải trả gì cả nếu chúng tôi chấm dứt tấn công. Tôi không nghĩ rằng gợi ý của tôi bao hàm ý các ngài phải làm gì cho Mỹ mà chỉ là để tạo điều kiện dễ dàng cho cả hai bên. Tôi nghĩ rằng cách ném bom không thể bắt người ta đầu hàng được. Nếu nước chúng tôi bị ném bom thì nhân dân chúng tôi cũng sẽ làm như các ngài thôi. Nhưng nếu có cái gì ngài xem có thể làm được thì đó là ý của ngài. Đó là một hành động độ lượng về phía các ngài đối với vấn đề này như thế nào. Tôi cho là phải có một biện pháp nào đó để tạo điều kiện thuận lợi, dù chỉ là một biện pháp nhỏ để có thể đi đến những biện pháp khác. Tôi biết các ngài có những lực lượng chính trị rất to lớn. Các ngài có thứ vũ khí rất mạnh chưa dùng đến, hành động của ngài sẽ là một hành động rất mạnh. Cho nên trên tinh thần đó tôi muốn đề nghị các ngài có một việc làm gì đó để tạo ra hoà bình”.

Trả lời gợi ý về việc Việt Nam nên có một hành động độ lượng, Thủ tướng nói:

- “Về ý kiến của ông nói rằng chúng tôi cần có một hành động độ lượng, nếu xuất phát từ ý tốt thì điều đó đòi hỏi chúng tôi phải suy nghĩ. Đó là một đòi hỏi quá lớn đối với chúng tôi. Thực ra, đó là một đòi hỏi mỉa mai. đối với ông thì chúng ta có thể nói chuyện được Nhưng đối với người khác thì tôi không dung thứ, tôi nói thật vậy. Dầu sao thì đây là những vấn đề đáng suy nghĩ”.

Thủ tướng nhắc lại rằng Mỹ phải chấm dứt vô điều kiện và vĩnh viễn mọi hành động tấn công miền Bắc, phía Việt Nam sẽ có hành động thích đáng.

Ông Salsbury cho rằng người của hai bên ngồi lại với nhau để trao đổi vấn đề thì vẫn có ích. Đã đến lúc chín muồi và hy vọng thời kỳ hoà bình bắt đầu lóe ra trên đất nước Việt Nam.

Lúc chia tay Salsbury nói:

- “Tôi rất cám ơn Thủ tướng đã cho tôi có dịp được nói chuyện với Ngài. Trong cuộc nói chuyện này, tôi đã đi quá công việc của người làm báo. Đáng lẽ người làm báo phải nghe nhiều hơn nói, nhưng tôi đã nói nhiều’.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- “Tôi cũng không nghĩ nói chuyện với một nhà báo. Nếu nói chuyện với một nhà báo thì tôi không nói như vậy. Những điều tôi vừa nói với ông nếu là nhà báo thì chắc ông không đăng được. Đó là câu chuyện giữa hai người với nhau, không phải là với nhà báo. Như vậy thì tốt hơn. Nếu cần nói với nhà báo thì tôi sẽ nói khác. Và sẽ không có gì đáng nói cả.”

Các bài viết và nhất là cuộc nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, các bức ảnh về sự tàn phá của bom đạn Mỹ ở Hà Nội mà ông Xôn-xbơ-ri gửi về nước đã gây tiếng vang lớn ở Mỹ và trên thế giới.

Từ ngày 28 tháng 12, Bộ biên tập New York Times đã điện nhắc Salsbury cần thận trọng trong việc đưa tin và bài. Phải chăng đó là sức ép của Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc?


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:37:15 PM
CHƯƠNG XV
TÔI MỜI TỔNG THỐNG JOHNSON ĐẾN ĐÂY UỐNG TRÀ

(Trong chương này, những lời Hồ Chủ tịch nói được viết theo bản ghi tốc ký của Nguyễn Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch Bộ Ngoại giao.)

Ngày 7 tháng 1 năm 1967, hai người Mỹ ông H.S.Ashmore và W C.Baggs đến Hà Nội. Ông H.S.Ashmore là giáo sư, chủ bút tờ A-can-sát nhật báo, Phó chủ tịch Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ (CSD); ông W.C.Baggs là nhà báo, chủ bút tờ Tin Mai-a-mi một thành viên của CSD. Cùng đi với hai ông còn có một người không phải của CSD: ông Do Luis Quintanila người Mêxico, giáo sư, nhà văn, nhà báo và đã từng là đại sứ tại Mát-xcơ-va và Washington.

Từ khi Johnson bắt đầu đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam và ném bom Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, các nhà lãnh đạo của CSD đã lo ngại rằng việc tăng cường chiến tranh như thế sẽ phá vỡ quan hệ hoà hoãn Đông - Tây mong manh mới được thiết lập. Vì lẽ đó, với sự khuyến khích của nhiều nhà hoạt động chính trị ở một số nước và ở Liên Hợp Quốc, họ mong muốn tổ chức một Hội nghị đặt tên là "Hoà bình trên trái đất" mời các bên tham chiến đến dự để gặp nhau, tìm cách lập lại hoà bình. Qua một số bạn người Pháp, họ gửi tới Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị có tiếp xúc giữa Hà Nội và Trung tâm. Tháng 8 năm đó, họ nhận được trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói rằng việc tiếp xúc vào lúc này chưa thuận lợi. Tuy vậy, con đường liên lạc với Hà Nội của Trung tâm đã mở.

Tháng 10 năm 1966, ông Do Luis Quintamla khi đó đang dạy tại Trường Đại học Mêxico, sang thăm Hà Nội. Ông đã dừng chân tại Bắc Kinh khi đó đang sôi sục trong cuộc Đại cách mạng văn hoá vô sản, có lẽ để có một cái nhìn chung về cuộc cách mạng đó đồng thời để sau này xem tác động của nó đối với Hà Nội và cũng để xem Hà Nội phụ thuộc Bắc Kinh đến đâu. Ông được đi thăm một số nơi, gặp một số nhân vật và được cả Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp. Ông thông báo là cuộc Hội nghị "Hoà bình trên trái đất" sẽ được tổ chức vào tháng 5 năm 1967 và chuyển lời của Trung tâm (CSD) mời Việt Nam cử Đại biểu tới dự. Hà Nội trả lời thuận lợi và sẵn sàng tiếp các đại diện của Trung tâm CSD để trao đổi thêm. Do đó ông Do Lui Quintanila đã giới thiệu hai ông Ashmore và Baggs.

Bộ Ngoại giao Mỹ đồng ý để hai ông này sang Hà Nội, nhưng yêu cầu hai ông tìm hiểu thái độ của Hà Nội về một số vấn đề mà họ quan tâm, kể cả vấn đề những phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam. Người ta được biết trước khi Ashmore và Baggs lên đường họ đã có ít nhất hai cuộc thảo luận trong tháng 11 và 12 với Bộ Ngoại giao Mỹ về lập trường của Mỹ. Các quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ còn yêu cầu họ giữ bí mật, và cũng là để giữ bí mật, họ chỉ được thị thực đi Hà Nội khi đến Hồng Kông. Nhưng do một sự ngẫu nhiên, bí mật của chuyến đi ngay từ đầu đã không giữ được: Trợ lý Tổng biên tập New York Times trên đường từ Hà Nội trở về đã nhìn thấy tên hai người trong vận đơn của chiếc máy bay của Uỷ ban Quốc tế phụ trách liên lạc giữa Sài Gòn - Hà Nội.

Trong thời gian ở Hà Nội, Ashmore, Baggs và Quimtamola đã có những cuộc gặp gỡ với Hội nhà báo Việt Nam, Uỷ ban liên lạc văn hoá với nước ngoài, Uỷ ban điều tra tội ác của đế quốc Mỹ. Họ đã đi thăm một số nơi bị máy bay Mỹ ném bom trong tháng 12, đặc biệt là Trường trung học Việt Nam - Ba Lan hoàn toàn bị san bằng, nhìn thấy tận mắt những hố to do bom một nghìn bảng Anh đào quanh trường, mặc dầu trường này cách xa các cơ sở công nghiệp hay quân sự. Tại thành phố Nam Định bị tàn phá nặng nề, thường dân đi sơ tán cả, nhưng nhà máy dệt vẫn hoạt động. Trên đường đi, họ qua thị xã Phủ Lý hoàn toàn bị san phẳng.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:38:38 PM
Họ cũng gặp em Thái Bình Dân, 13 tuổi, bị bom na-pan ở một làng thuộc tỉnh Long An miền Nam Việt Nam, khắp người chằng chịt những vết sẹo, và đã nghe em kể lại cuộc ném bom đã đốt cháy rụi nhà em và các nhà trong xóm. Họ lặng đi. Em Dân đề nghị họ về Mỹ tố cáo tội ác do máy bay Mỹ gây ra. Họ gật đầu và khi chia tay chúc em khoẻ mạnh, may mắn.

Họ đã nghe đại tá Hà Văn Lâu nói về tình hình chiến sự ở cả hai miền, đã có nhiều giờ trao đổi với đồng chí Hoàng Tùng, Tổng biên tập báo Nhân dân, Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam về nguồn gốc và triển vọng phát triển của cuộc chiến tranh Việt Nam, về lập trường của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và của Mỹ.

Nhưng điều gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với họ là cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh, sâu sắc đến mức mà trong cuốn Công cán tại Hà Nội kể lại chuyến đi này, họ đã dành cả một chương về Người với những lời trân trọng nhất.

Cuộc gặp gỡ diễn ra vào hồi mười bảy giờ ngày 12 tháng 1 năm 1967 tại Phủ chủ tịch. Về phía Việt Nam, có ông Hoàng Tùng, ông Nguyễn Đình Phương giúp việc phiên dịch cho Chủ tịch, ngoài ra còn có ông Tố Hữu đến làm việc với Chủ tịch và được lưu lại cùng nghe.

Mở đầu câu chuyện, Hồ Chủ tịch nói với ông Quintanila bằng tiếng Pháp tỏ vẻ vui mừng gặp lại ông. Quay sang hai ông khách Mỹ, Người dùng tiếng Anh, tỏ ý tiếc là vì có nhiều người không biết tiếng Anh nên phải nhờ phiên dịch.

Ông Ashmore hỏi thăm sức khỏe Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng ta nhớ là năm đó Người đã bảy mươi bảy tuổi. Như hai ông Ashmore và Baggs đã viết sau này, Người "nhìn khách một cách hóm hỉnh như chỉ ra rằng Người biết câu hỏi đó là điều mà Bộ Ngoại giao Mỹ cũng như nhiều trung tâm quyền lực trên thế giới rất quan tâm”.

Người đáp:

- Tôi vẫn khoẻ mạnh. Tôi chỉ có một thói xấu là hút thuốc lá, hút liên tục.

Người đưa điếu thuốc lá lên và nói tiếp:

- Bây giờ tôi đã quá già để tiếp tục hút nữa, vì nó làm hại sức khoẻ của tôi.

Và với giọng tâm sự, tự nhiên; Người nói:

- Tôi chưa có thời gian nào để lấy vợ và lập gia đình. Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng họ là con cháu tôi, vì vậy tôi sống rất bình yên và giản dị. Tôi ngủ rất ngon, ngay cả khi có việc ném bom của các ông.

Bất thình lình, Người chuyển sang nói bằng tiếng Anh:

- Thôi hãy bỏ thủ tục đi. Các bạn hãy xem như ở nhà mình. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau một cách chân tình và bí mật được chứ?


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:40:48 PM
Baggs nói trịnh trọng:

- “Thưa Chủ tịch, chúng tôi rất sung sướng được đến thăm đất nước Ngài và rất vinh dự được Ngài tiếp. Chúng tôi xin bảo đảm với Ngài rằng chúng tôi sẽ hết sức giữ bí mật. Chúng tôi sẽ báo cáo một cách đầy đủ cho các quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ là những người mà chúng tôi đã nói chuyện trước đây.

Ashmore nói thêm:

- Chúng tôi không có quy chế chính thức, không có thẩm quyền thương lượng hoặc hành động như nhân viên của Chính phủ chúng tôi. Nhưng chúng tôi nghĩ là mình có thể báo cáo một cách đầy đủ quan điểm đang chiếm ưu thế ở Washington và chuyển đến họ một cách chính xác ý kiến của Ngài khi chúng tôi về.

Baggs:

- Thưa Chủ tịch, trong số các nhân vật cấp cao của chính giới Mỹ có nhiều người đã thấy cuộc chiến tranh này là xấu xa tàn bạo. Chiến tranh còn tiếp diễn thì còn nhiều thanh niên, sinh viên bị giết cho nên cần chấm dứt ném bom, chấm dứt chiến tranh.

Không thể chấm dứt bất kỳ cuộc chiến tranh nào nếu đại diện bên tham chiến không ngồi lại nói chuyện với nhau về cách làm cho chiến tranh chấm dứt
.

Ashmore:

- Thưa Chủ tịch, chúng tôi nghĩ rằng nếu đại diện Mỹ và đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gặp nhau không chính thức để thăm dò khả năng tiến tới một cuộc họp chính thức thì điều đó có thể có ích. Mục đích cuộc gặp gỡ là bàn về vấn đề rút quân và ngừng bắn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Muốn chấm dứt chiến tranh phải đặt ra một câu hỏi: Ai gây ra chiến tranh? Ai là nạn nhân? Người nào gây ra chiến tranh, gây ra thảm hoạ, người đó phải chấm dứt trước.

Máy bay Mỹ đang giết hại nhân dân miền Bắc, quân đội Mỹ đang tàn sát đòng bào chúng tôi ở miền Nam, trong điều kiện như vậy làm sao mà có cuộc nói chuyện được?

Ashmore:

- Chúng tôi hoàn toàn thông cảm rằng do những hành động của Mỹ, Việt Nam có sự nghi ngờ là Mỹ không thành thực. Muốn có nói chuyện chúng tôi nghĩ trước hết Mỹ phải ngừng ném bom miền Bắc, sau đó hai bên sẽ thoả thuận về ngừng bắn ở miền Nam. Chúng tôi hy vọng rằng việc Mỹ ngừng ném bom sẽ là bước mở đầu nhằm tiên tới việc Mỹ rút quân.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:42:06 PM
Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Chúng tôi đang sống yên lành, Mỹ đến ném bom rồi lại nói: nếu muốn Mỹ ngừng ném bom thì Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải trả giá nào đó. Như thế có khác gì một tên cướp ở Chicago xông vào nhà đánh và doạ giết chủ nhà rồi lại bảo nếu muốn để nó ra thì chủ nhà phải trả giá.

Hiện nay Washington nói hòa bình nhưng đồng thời lại đưa thêm quân vào miền Nam và tăng cường ném bom miền Bắc. Từ trước đến nay, mỗi bước leo thang chiến tranh của ông Johnson bao giờ cũng kèm theo điều kiện hoà bình giả.


Đến đây, Chủ tịch Hồ chí Minh nhắc lại lời Tổng thống F.Roosevelt nhiều lần tuyên bố rằng ông không có ý định để các nước Đông Dương trở lại dưới ách thực dân, nhưng sau đó lại ủng hộ quyết định của các đồng minh để quân Tưởng Giới Thạch và quân Anh vào chiếm đóng Việt Nam, mở đường cho Pháp trở lại. Người cũng nhắc lại lời tuyên bố của đại diện Chính quyền Eisenhower cam kết trong việc thi hành Hiệp nghị Genève, nhưng sau đó là một loạt hành động của Mỹ ủng hộ Ngô Đình Diệm, cản trở thống nhất nước Việt Nam và nay đưa quân xâm lược ViệtNam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói tiếp:

- Chúng tôi đã học được bài học lịch sử nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã dạy chúng tôi phải là người yêu nước. Nhân dân chúng tôi là người có lý trí biết suy nghĩ, yêu hoà bình. Chúng tôi muốn kết thúc cuộc chiến tranh này nhưng nền độc lập, tự do của Việt Nam không bao giờ lại bị đưa ra thương lượng một lần nữa.

Tình hình hiện nay là: .

Một: Mỹ vẫn ném bom miền Bắc.

Hai: Quân đội Mỹ đang càn quét ở miền Nam.

Chúng ta đều biết Mỹ đã đưa vào miền Nam gần bốn trăm nghìn quân. Chính phủ Mỹ phải chấm dứt chiến tranh và đưa họ ra, sau đó mới xét được. Việc Chính phủ Mỹ phải làm là chấm dứt không điều hiện việc ném bom miền Bắc, sau đó có nói chuyện gì mới nói được. Nếu điều kiện đó được đáp ứng thì sẽ không còn trở ngại nào cho cuộc thương lượng có thể đi tới hoà bình.

Chính phủ các ông phải hiểu điều đó. Chúng tôi không đánh nước Mỹ. Chúng tôi không phạm phải một hành động đối địch nào vào Lãnh thổ của các ông. Chúng tôi đang ủng hộ cuộc chiến tranh giải phóng của đồng bào chúng tôi ở miền Nam, đó là vấn đề của người Việt Nam với nhau, không phải là tấn công vào nước Mỹ. Còn máy bay chiến đấu của các ông đang hàng ngày đánh phá đất nước chúng tôi, tàu chiến của các ông xâm phạm vùng biển của chúng tôi, pháo binh của các ông đang pháo kích chúng tôi qua khu phi quân sự. Không một Quốc gia nào quý trọng độc lập của mình lại tha thứ cho những hành động đó.

Trong khi những hành động chiến tranh đó còn tiếp diễn thì các ông đừng mong đợi chúng tôi đến bàn thương lượng. Làm như vậy không phải là thương lượng một giải pháp mà đó là đi xin hoà bình, là đầu hàng. Đó là điều chúng tôi không bao giờ làm.

Khi nào chấm dứt ném bom, cuộc nói chuyện sẽ bắt đầu. Nếu Mỹ muốn nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ các ông biết phải làm gì: chấm dứt ném bom.

Mỹ làm rùm beng về việc Bắc Việt Nam tiếp tục đưa người và hàng tiếp tế vào Nam cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cho rằng điều đó sẽ làm cho thế và lực của quân thù của họ được tăng cường và đe doạ các lực lượng Mỹ. Chính người Mỹ cũng làm như vậy. Họ vẫn đưa người và vũ khí vào miền Nam trong lúc đó ngừng ném bom. Nếu Mỹ muốn nói chuyện về việc giảm dần lực lượng ở miền Nam thì Mỹ phải chấm dứt việc đưa quân vào miền Nam trước đã và nếu điều đó được thực hiện thì có nhiều việc để nói chuyện với nhau.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 09 Tháng Chín, 2009, 06:43:04 PM
Trả lời câu hỏi về việc rút quân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

- Tôi ghi nhận rằng Tổng thống Johnson đã cam kết rằng Mỹ không có tham vọng để lại lực lượng quân sự ở miền Nam Việt Nam. Thực tình mà nói, tôi thấy điều đó khó tin khi người ta thấy việc xây dựng rất quy mô các căn cứ Mỹ ở miền Nam; và qua kinh nghiệm của chúng tôi, điều kiện về tuyển cử tự do là một cách thường dùng trước đây để kéo dài sự can thiệp.

Tuy vậy, về phía chúng tôi, chúng tôi cũng thấy không thể chấm dứt cuộc chiến, và đưa một lực lượng quân sự đồ sộ như vậy ra khỏi miền Nam một sớm một chiều.

Chúng tôi cho rằng phải có thời gian cho Mỹ rút sau khi có ngừng bắn.


Baggs hỏi:

- Như vậy Chủ tịch sẵn sàng xem xét việc rút quân từng giai đoạn như Tổng thống Johnson đã gợi ý?

Chủ tịch Hồ Chí Minh: '

- Các ông có thể gọi nó là như vậy, từ ngữ không quan trọng. Quan trọng là việc làm thật sự. Nhân dân Việt Nam phải được bảo đảm quyền giải quyết các công việc nội bộ của mình, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Ashmore:
- Thưa Chủ tịch, xin Chủ tịch tin rằng chúng tôi rất kín đáo trong mọi việc liên hệ với Bộ Ngoại giao Mỹ. Chủ tịch có cho phép chúng tôi sau khi trở về sẽ thông báo không chính thức cho các bạn của chúng tôi ở Bộ Ngoại giao Mỹ biết rằng: Nếu Mỹ ngừng ném bom miền Bắc và ngừng đưa thêm quân vào miền Nam thì có thể yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tham dự cuộc họp không chính thức với phía Mỹ không?

Có thứ bệnh địa phương gần như hoang tưởng nghi ngờ thái độ của Việt Nam. Chúng tôi muốn có một tuyên bố dứt khoát và rõ ràng của Chủ tịch.

Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Tôi không muốn bảo đảm điều gì trong điều kiện hiện nay. Tôi là một người đa nghi và tôi có lý do để ngờ vực. Người Mỹ các ông ít nhiều đều là nhà kinh doanh. Tôi cũng là nhà kinh doanh, đối với người kinh doanh chưa thấy mặt hàng thì chưa thể định giá được. Khi việc ném bom chấm dứt, cuộc nói chuyện bắt đầu. Ta sẽ xem mặt hàng.

Trong cuộc nói chuyện, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói nhiều đến lập trường bốn điểm. Nhưng các vị khách cũng tự hiểu rằng bốn điểm không phải là điều kiện cho việc bắt đầu nói chuyện, đó là những vấn đề sẽ thảo luận tại bàn Hội nghị.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:12:51 AM
Về câu hỏi có phải phía Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh đòi hỏi có đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tham gia vào cuộc nói chuyện giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

- “Không có điều kiện nào khác cho cuộc nói chuyện giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ khi Mỹ chấm dứt ném bom. Tôi hiểu Mỹ có vấn đề thể diện, do những cam kết với Chính quyền Sài Gòn và các đồng minh khác, nhưng phía chúng tôi cũng có những vấn đề tương tự.

Nước Việt Nam là một, Việt Nam sau này phải được thống nhất lại dưới sự lãnh đạo của một Chính phủ duy nhất, một Chính phủ tập hợp những người đại diện của hai miền. Nhưng trong một thời gian, miền Nam không có lý do gì lại không thể có một Chính phủ riêng, một Chính phủ mang tính đại diện rộng rãi không phải như chế độ Sài Gòn hiện nay. Chính phủ đó sẽ không có khó khăn gì trong việc hợp tác với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và tôi tin rằng vào một thời gian thích hợp nào đó, hai chế độ ở hai miền sẽ xây dựng nên một khối thống nhất đoàn kết thật sự bền vững.


- Thế chủ tịch quan niệm "thời gian thích hợp" là thế nào?

- Có thể là mười năm hay lâu hơn nữa. Điều đó không quan trọng. Chừng nào nhân dân Việt Nam được tự do quyết định số phận của mình thì họ sẽ xem xét việc đó. Tôi không thể sống tới ngày đó, nhưng tôi không nghi ngờ việc thống nhất đó sẽ đến. Lịch sử dân tộc chúng tôi đòi hỏi như vậy
.

Phần trao đổi chính trị đã đến lúc kết thúc.

Ashmore:

- Chúng tôi rất cảm động về sự tiếp đón thân mật của Chủ tịch và tất cả đồng bào của Chủ tịch đã dành cho những người Mỹ chúng tôi, kể cả những người hiện nay là nạn nhân của việc ném bom của Mỹ.

Khách tỏ vẻ muốn đứng dậy. Chủ tịch Hồ Chí Minh giơ hai tay giữ lại và nói:

- Tôi kính trọng nhân dân Mỹ. Nhân dân Mỹ là những người thông minh, là những người yêu hoà bình và dân chủ. Lính Mỹ hiện nay đang bị đẩy sang đây để đi giết người và để bị giết. Nhưng nếu họ đến đây giúp đỡ chúng tôi như những nhà kỹ thuật thì chúng tôi rất hoan nghênh họ như những người anh em. Còn bây giờ họ đến đây để giết người và để bị bắn chết. Đó là sự sỉ nhục đối với các ông, các ông khó mà tin được rằng tôi lấy làm đau lòng không những khi nhân dân Việt Nam bị giết hại mà tôi cũng rất buồn phiền khi lính Mỹ bị giết. Tôi thông cảm nỗi đau buồn của cha mẹ họ. Vì vậy chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi rằng họ phải sẵn sàng hoan nghênh nhân dân Mỹ không phải khi họ đến như hiện nay với những người lính mang vũ khí – nhưng khi họ đến một lần nữa trong tương lai để giúp đỡ xây dựng lại đất nước chúng ta.

Nếu điều đó tỏ ra xa lạ với các ông thì các ông hãy nhìn lại mối quan hệ giữa chúng tôi với Pháp. Khi chiến tranh chấm dứt ở Điện Biên Phủ, mối quan hệ chặt chẽ và thân thiết đã phát triển giữa Paris và Hà Nội. Người Pháp hiện nay là người bạn nhiệt tình của chúng tôi và chúng tôi cũng tự hào có hương vị Pháp trong nền văn hoá hiện tại của chúng tôi.

Các ông hãy tin tôi khi tôi nói rằng tôi sẽ rất sung sướng được đón tiếp Tổng thống Mỹ đến đây một cách hoà bình. Chúng tôi chìa bàn tay hữu nghị ra với bất kỳ Quốc gia nào thừa nhận Việt Nam là một nước tự do và độc lập.”


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:14:02 AM
Chủ tịch Hồ Chí Minh:

- Ông Hoàng Tùng sẽ rất sung sướng được nghe bất cứ điều gì mà các ông nói, nhưng nếu các ông có một thông điệp cho tôi sao không gửi thẳng cho tôi? nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có đại diện ở Pháp, ở Algéri, ở các nước xã hội chủ nghĩa và nhiều nơi khác trên thê giới. Nếu Chính phủ Mỹ muốn có bất cứ cuộc tiếp xúc chính thức nào thì cơ quan ngoại giao của chúng tôi ở nước ngoài đều có thể thu xếp được.

Tôi xin thêm một điều, chúng tôi rất muốn hoà bình nhưng nếu Chính phủ Mỹ không muốn hoà bình và cứ tiếp tục chiến tranh thì chúng tôi kiên quyết chiến đấu đến cùng để giành độc lập tự do chứ quyết không chịu ách nô lệ của đế quốc Mỹ. Một nước đi gây chiến tranh xâm lược một nước khác là xấu. Mỹ là một nước lớn. Mỹ đi xâm lược một nước nhỏ như Việt Nam cho nên việc đó càng xấu.
Cuối cùng xin nhờ các ông chuyển đến nhân dân Mỹ lời chào của những người bạn Việt Nam
”. (Xem thêm H.S.Ashmore và W.C.Baggs: Công cán tại Hà Nội, Nhà xuất bản Pút-man'x. New York, 1986, tr. . 45-52.)

Theo như hai ông đã kể lại trong cuốn Công cán tại Hà Nội, sau khi trở về Mỹ, Ashmore và Baggs đã dành hai ngày báo cáo chuyến công cán ở Hà Nội cho Nicolos Kazenbach, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, William Bundy trợ lý Bộ trưởng về vấn đề Viễn Đông và Thái Bình Dương, Averen Harriman và một số quan chức khác. Họ còn gặp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara để trình bày nhận xét của mình về các cuộc ném bom của Mỹ ở Bắc Việt Nam. Họ cho là không có kết quả (Cả hai ông trong chiến tranh thế giới thứ hai đều là phi công, riêng H.S.Ashmore đã là trung tá trong không quân Mỹ). Họ cho rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đáp ứng tất cả các điều kiện mà Mỹ đã từng tuyên bố công khai và như vậy con đường đã mở rộng để thăm dò thêm qua hai ông hay qua con đường ngoại giao.

Những nhận xét của Chủ tịch Hồ Chí Minh gây ấn tượng và các yếu tố trong đề nghị rất đơn giản: Chúng ta ngừng ném bom và Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ đi vào nói chuyện. Hai ông không nhận lời ra điều trần trước Uỷ ban Đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ, nhưng đã thông báo chuyến đi và kết quả cho Chủ tịch Uỷ ban này là Fulbright và qua Fulbright, Tổng thống Johnson cũng đã biết chuyến đi Hà Nội của họ.

Hơn hai tuần sau khi báo cáo với Bộ Ngoại giao Mỹ, Ashmore và Baggs lại được mời tới Bộ Ngoại giao. Hôm đó có thượng nghị sĩ Fulbright dự. Các quan chức ngoại giao bàn về một bức thư của hai ông gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thứ trưởng Katzendech duyệt lần cuối cùng lá thư đó và trao cho Ashmore ký tên và gửi đi. Ngày 7 tháng 2 năm 1967, Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Phnôm Pênh nhận được bức thư đó. Trong thư có đoạn viết:

Họ (Bộ Ngoại giao Mỹ - Tác giả) đặc biệt chú ý đến gợi ý của Ngài với chúng tôi là có thể bắt đầu nói chuyện riêng miễn là Mỹ ngừng ném bom nước Ngài và chấm dứt việc đưa thêm quân vào miền Nam. Họ bày tỏ ý kiến cần một sự qua lại hạn chế nào đó để chứng tỏ không bên nào có ý định lợi dụng cơ hội để giành lợi thế về quân sự".

Bức thư cũng nói đến việc lấy Hiệp nghị Genève năm 1954 làm cái khung cho một giải pháp và cuộc thảo luận sẽ đề cập đến tất cả các vấn đề cho một giải pháp.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:15:27 AM
Bức thư vẫn dựa trên yêu cầu "có đi có lại" của Nhà Trắng, nhưng ít nhất cũng là một bức thư ký tên ông Ashmore và được Bộ Ngoại giao Mỹ duyệt từng câu, từng chữ, một lập trường còn lấy Hiệp nghị Genève năm 1954 làm khung cho một giải pháp chính trị về Việt Nam. Ông Ashmore thật sự tin rằng Chính phủ Mỹ muốn hoà bình và tỏ ý muốn trở lại Hà Nội một lần nữa. Nhưng ngày 8 tháng 2 năm 1967, Tổng thống Johnson gửi bức thư đầu tiên cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với lập trường cứng rắn hơn tất cả các lời tuyên bố trước như: Mỹ chỉ ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam khi Hà Nội bảo đảm trước sẽ chấm dứt đưa quân vào miền Nam Việt Nam hoặc không hề nói đến việc lấy Hiệp nghị Genève năm 1954 làm cơ sở thương lượng. Rất kiên nhẫn, ông Baggs đợi đến ngày 18 tháng 9 năm đó mới viết bài đăng trên tờ Tin Maiami giới thiệu một cách chi tiết cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông nhấn mạnh "thái độ hoà giải" của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phê phán thái độ cứng rắn, không muốn thương lượng của Johnson. Ông đặc biệt công phẫn về thái độ của nhà cầm quyền Mỹ, ông viết:

“Tại sao Johnson lại chọn thời điểm đó (lúc hai ông vừa gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh) để gửi cho Hà Nội bức thư nói trên. Nếu coi thư của Ashmore là không quan trọng, tại sao Bộ Ngoại giao (Mỹ) lại cho gửi đi? ... Không thể hiểu cái lôgích: một thư của Bộ Ngoại giao, một thư của Nhà Trắng mà nội dung hai thư lại mâu thuẫn nhau...".

Ông Baggs kết luận, hơi nhẹ nhàng so với những câu chất vấn của ông: Johnson vừa xoa dịu phái bồ câu vừa nhân nhượng phái diều hâu ...

Nhưng Ashmore thẳng thừng hơn trong bài “Quan hệ công khai về hoà bình” đăng trên tạp chí của Trung tâm nghiên cứu các thể chế dân chủ ở Mỹ. Ông tố cáo Johnson là dùng thủ đoạn hai mặt thô lỗ và "trò chơi trí trá".

Cùng ngày 18 tháng 9, Bộ Ngoại giao Mỹ phải ra tuyên bố xác nhận có bức thư ngày 5 tháng 2 năm 1967 của Ashmore gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng lại cố thanh minh rằng từ tháng 1, Mỹ đã thiết lập được quan hệ trực tiếp với Hà Nội qua Mát-xcơ-va mà Ashmore và Baggs không biết. Bản tuyên bố đó đã lờ đi hoặc không giải đáp câu hỏi: Tại sao Bộ Ngoại giao đầu tháng 2 đã thông qua thư của Ashmore gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh lời lẽ mềm mỏng còn thư Tổng thống Johnson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng trong thời điểm đó lại cứng rắn và bác bỏ thiện chí của Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Và thiện chí đó, ngay thượng nghị sĩ Fulbright cũng đã thấy. Ông cảm thấy Mỹ có thể nói chuyện hoà bình với Bắc Việt Nam nếu Mỹ xét tới bất kỳ cái gì, trừ việc đầu hàng của Bắc Việt Nam. Thái độ của Bắc Việt Nam có thể dẫn tới đàm phán (Tin AP, UPI, Oa-sinh-tơn, ngày 18 tháng 9 năm 1967.).

Sự thật là Johnson tỏ vẻ muốn thương lượng hoà bình là nhằm che đậy ý định tìm một thắng lợi trên chiến trường để chuẩn bị năm bầu cử Tổng thống.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:15:36 AM
*
*   *

Năm ngày sau khi tiếp hai ông Ashmore và Baggs, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn "Những người tình nguyện vì hoà bình", Đoàn gồm ba vị: .

Cụ A.J.Muste, tám mươi tuổi, mục sư Đạo Tin Lành, người Mỹ

Ông Abraham Feinbarg, sáu mươi bảy tuổi, mục sư Đạo Do Thái, người Mỹ sống ở Canađa.

Ông Enbrose Reeves, sáu mươi bảy tuổi, linh mục nhà thờ Anh giáo, người Anh.

Trong thời gian ở Hà Nội, ba vị đã thăm khu đông dân Phúc Xá và một số phố khác của Hà Nội bị ném bom nặng trong những ngày tháng 12 năm 1966, thăm Bệnh viện Saint-Paul và gặp một số phi công Mỹ bị bắt.

Ba vị đã được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, có cả Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng dự. Cuộc nói chuyện thật là thân mật, thoải mái. Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn ba vị từ ngàn dặm xa xôi bỏ công đến thăm đất nước Việt Nam đang bị xâm lược và chịu những hy sinh to lớn. Người nói: đối với nhân dân Việt Nam không có gì quý hơn độc lập, tự do. Thật vất vả cho những người ở tuổi các cụ khi tiến hành một chuyến đi như vậy. Người cũng nói Người đã bảy mươi bảy tuổi rồi. Người nhắc lại rằng Người đã ở Anh, từng làm đầu bếp trong một khách sạn, đã đến khu da đen Harlem ở New York, nhưng chưa được đến Canađa, và đã là lính thuỷ nên đã qua nhiều cảng. Người mời các cụ dùng nước chè,  uống cả rượu nho.

Các vị khách kể lại đã đi thăm nhiều nơi của Hà Nội bị máy bay Mỹ đánh phá. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

- “Tổng thống Johnson đã nói rằng ông ta sẽ gặp bất cử ai, ở đâu và bất cứ lúc nào để nói chuyện hoà bình. Tôi xin mời ông Johnson đến Hà Nội như là khách của chúng tôi. Ông hãy đến với vợ và con gái, người thư ký, người bác sĩ và người đầu bếp của mình. Nhưng đừng mang theo tướng lĩnh và đô đốc! Tôi xin bảo đảm rằng Tổng thống sẽ an toàn tuyệt đối” (Xem thêm: Hà Nội Diary của mục sư Feinberg, Alongmarm Book, Canađa,1968, tr. 205.).

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chụp ảnh chung với ba vị khách. Người đã tặng mỗi vị một cái ba-toong. Riêng đối với mục sư Feinberg là người kém mắt, Người đã tặng chiếc ba-toong sơn từng đoạn đen, trắng, một kỷ niệm của Người sau chuyến đi thăm nước Cộng hoà In-đô-nê-xi-a.

Thời bấy giờ, các công dân Mỹ không được sang thăm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trừ những trường hợp ngoại lệ. Căn cứ vào luật đó người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố. Ông Feinberg đi Bắc Việt Nam mà không được phép của Chính phủ Mỹ thì có thể bị truy tố.

Khi ông Feinberg về đến Anh, sứ quán Mỹ đã cho người đón ông về trụ sở và yêu cầu ông kể lại những điều đã thu lượm được khi sang Hà Nội. Về đến New York, ông đã có nhiều cuộc gặp gỡ khác với Bộ Quốc phòng Mỹ về các tù binh Mỹ mà ông đã gặp ở HàNội, với Bộ Ngoại giao. Ông còn nói chuyện trực tiếp với đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Arthur Goldberg và yêu cầu đại sứ chuyển lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới Tổng thống Johnson. Goldberg lưỡng lự rồi giao cho thư ký ghi lại yêu cầu đó. Những thông tin ông đưa về Hà Nội và được các báo đăng rộng rãi, làm xôn xao dư luận.

Nhưng khi Feinberg trở về nơi cư trú ở Canađa một tháng sau lãnh sự Mỹ ở Canađa đã thu lại hộ chiếu của ông.

Về "Những người tình nguyện về hoà bình" chuyển lời Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Tổng thống Johnson sang thăm Hà Nội mà không được đáp ửng cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Trước đó không lâu, Johnson đã nói với thượng nghị sĩ Fulbright, khi thượng nghị sĩ đề nghị Tổng thống tiếp hai ông Ashmore và Baggs:

“Tôi rất muốn gặp họ, nhưng ngài biết đấy, tôi không thể nói chuyện với người đã ở đấy về và đã nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh ".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:17:22 AM
CHƯƠNG XVI
HOA HƯỚNG DƯƠNG
(SUNFLOWER)

Đây là mật danh một cuộc vận động ngoại giao lớn (tháng 1 đến tháng 4 năm 1967) bao gồm một phần tại Mát-xcơ-va giữa Mỹ và Việt Nam, một phần tại Luân Đôn giữa Thủ tướng Anh H.Wilson và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Kossi guine (?)

*
*   *

Ngày 6 tháng 1 năm 1967, ba giờ chiều, Hoàng Mạnh Tú, Bí thư thứ nhất sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Liên Xô, nhận được một thư do một cán bộ sứ quán Mỹ đưa tới. Thư viết:

“Thưa ông đại sứ

Tôi được chỉ thị chuyển tới cá nhân ông một công hàm của Chính phủ tôi. Vì mục đích đó tôi sẵn sàng đến thăm ông vào một buổi gần nhất thuận lợi đối với ông. Mong ông cho biết khi nào ông có thể vui lòng tiếp tôi. Xin gửi ông lời chào trân trọng.
John Guthrie,

Đại biện lâm thời sứ quán Hoa Kỳ”

Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh đã lên đường về nước khi hết nhiệm kỳ. Lê Trang, tham tán công sứ đại biện lâm thời sứ quán Việt Nam được chỉ thị của Hà Nội tiếp ông vào ngày 10 tháng 1.

Guthrie năm đó khoảng ngoài năm mươi tuổi và làm công tác tại sứ quán Mỹ ở Mát-xcơ-va lần thứ hai. Trước đó ông đã từng công tác tại Băng Cốc, Hồng Kông, Trung Quốc.

Qua cổng sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại đường Pirogoskaia, ông đến cửa phía sau phòng khách. Đồng chí Lê Trang đón ông. Cuộc gặp gỡ được bắt đầu bằng câu chuyện khá ly kỳ của ông để đi từ sứ quán Mỹ đến sứ quán Việt Nam. Không dùng chiếc xe mọi ngày, ông tự lái một chiếc xe khác, đi loanh quanh ra mãi ngoại ô rồi gần một giờ sau mới trở về trung tâm Mát-xcơ-va và đi đến sứ quán Việt Nam.

- Các ông thông cảm cho. Tôi phải giữ bí mật, tránh các con mắt tò mò hay soi mói của các nhà báo của chúng tôi. Nhiều khi họ làm hỏng việc.

- Tôi nghĩ nếu chúng ta thành thật thì việc gì phải giấu giếm - Đồng chí Lê Trang cười nói.

Guthrie đọc thông điệp:

- “Chính phủ Hoa Kỳ đặt ưu tiên cao nhất cho việc tìm ra những thu xếp hoàn toàn có bảo đảm mà hai bên có thể thoả thuận với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về khả năng hoàn tất một giải pháp cho cuộc xung đột ở Việt Nam. Nếu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng mong muốn tìm kiếm những khả năng như vậy với Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ tìm cách đáp ứng mọi gợi ý mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ đưa ra liên quan đến thời gian và địa điểm của cuộc thảo luận đó và chúng tôi sẵn sàng nhận các tin tức như vậy trực tiếp từ phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà qua con đường ngoại giao ở bất cứ thủ đô nào mà cả hai bên đều có cơ quan thường trực”.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 10 Tháng Chín, 2009, 11:18:22 AM
Một tuần sau, Guthrie được mời đến sứ quán Việt Nam. Đồng chí Lê Trang đề nghị phía Mỹ giải thích thêm một số điểm: thế nào là thu xếp hoàn toàn có bảo đảm, lập trường cụ thể của Mỹ là gì? Một cuộc gặp mặt ngắn ngủi.

Trong cuộc gặp đồng chí Lê Trang ngày 20 tháng 1, ông Guthrie đáp ứng các yêu cầu của phía Việt Nam:

- Mỹ muốn giữ thật bí mật các cuộc thảo luận giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ. Mỹ sẵn sàng gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bất cứ ở đâu. Mỹ sẵn sàng xem xét bất cứ vấn đề nào mà phía Việt Nam đề ra.

Tới đây, Guthrie đưa ra một danh mục các vấn đề làm thí dụ: Ngừng bắn hoặc giảm chiến sự, rút lực lượng bên ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, quyền tự do quyết định của miền Bắc và miền Nam Việt Nam về vấn đề thống nhất Việt Nam, vấn đề độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của hai miền hoặc cả nước Việt Nam nếu như nhân dân Việt Nam đồng ý thống nhất, vị trí quốc tế, cơ cấu chính trị của miền Nam Việt Nam và cuối cùng là biện pháp bảo đảm những điều khoản đã thoả thuận.

Các vấn đề Mỹ nêu ra chỉ là danh mục làm ví dụ, chưa phải là lập trường của Mỹ để giải quyết vấn đề Việt Nam. Thực chất đây vẫn là "lập trường thương lượng không điều kiện" đã đưa ra hai năm trước, vẫn là ngừng ném bom có điều kiện. Rõ ràng Mỹ muốn đưa Việt Nam vào con đường tiếp xúc bí mật trong khi Mỹ tiếp tục ném bom miền Bắc, vừa tỏ thiện chí hoà bình, vừa đẩy mạnh chiến tranh ở cả hai miền, vừa thăm dò khả năng có một giải pháp có lợi cho Mỹ.

Trong lúc Mỹ làm ra vẻ bí mật đi tìm cách tiếp xúc với Hà Nội để thăm dò một khả năng dẫn tới cuộc nói chuyện với Hà Nội thì toàn thế giới đều biết lập trường của Hà Nội về khả năng đó. Ngày 2 tháng 1, tức là bốn ngày trước khi Guthrie yêu cầu gặp Lê Trang, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tuyên bố rõ ràng lập trường bốn điểm là cơ sở cho một giải pháp chứ không phải là điều kiện tiên quyết. Đó cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với hai ông Ashmore và Baggs.

Ngày 27 tháng 1, Lê Trang trao cho ông Guthrie một bị vong lục của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nêu rõ lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là cơ sở cho một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam và nhấn mạnh:

"Chỉ sau khi Mỹ ngừng không điều kiện việc đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì mới có thể trao đổi với Mỹ về địa điểm và thời gian hai bên tiếp xúc như Mỹ đề nghị trong công hàm ngày 10 tháng 1 năm 1967".

Guthrie hỏi lại xem có phải bản bị vong lục này là trả lời công hàm ngày 10 tháng 1 năm 1967 không? Lê Trang cho ông biết cách hiểu như vậy là đúng và nói:

- Lời bình luận về các vấn đề ông nêu lên hôm 20 tháng 1 sẽ được đưa ra vào thời gian thích hợp.

Guthric biểu lộ một nỗi vui mừng kín đáo.

Ngày 28 tháng 1, trả lời phỏng vấn của nhà báo Australia W.Bớc-sét, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố càng rõ ràng hơn:

"Mỹ đã có lần tuyên bố cần có những cuộc nói chuyện trực tiếp hay tiếp xúc giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nếu quả thật Mỹ muốn nói chuyện thì trước hết Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ mới có thể nói chuyện được với nhau”.

Như vậy, quan điểm của Hà Nội về vấn đề nói chuyện với Mỹ, từ chỗ mới nói riêng với hai ông Ashmore và Baggs, với ông Salsbury đã được các nhà lãnh đạo có trách nhiệm Việt Nam đưa ra chính thức và công khai. Khi đó nhiều đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở nước ngoài như Phnôm Pênh, Cai ro v.v... đã họp báo tuyên bố rõ ràng "sẽ" nói chuyện chứ không phải "có thể" nói chuyện với Mỹ. Các đại diện ngoại giao của các nước tại Hà Nội cũng đã được thông báo về tuyên bố đó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:39:55 AM
Đưa tin về việc này, tờ Thời báo (Mỹ) ngày 20 tháng 2 viết: Tuy lời lẽ rất có điều kiện và ít hoà giải nhưng nhiều Chính phủ có lãnh sự quán ở Hà Nội đã được những người cộng sản báo cho biết "tuyên bố đó là đầy tín hiệu”. Vì vậy các Chính phủ đó chuyển lại đến Washington lời ngụ ý rằng một cuộc ngừng ném bom miền Bắc có thể đưa đến cuộc nói chuyện hoà bình.

Cùng ngày Guthric trao cho Lê Trang một công hàm của Bộ Ngoại giao Mỹ lời lẽ tỏ ra mềm mỏng trong đó có đoạn đáng chú ý như sau:

"Hoa Kỳ mong muốn duy trì cuộc nói chuyện trực tiếp với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà... mong Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chỉ đưa ra các tuyên bố hoàn toàn bí mật qua con đường này... Hoa Kỳ đã thi hành một bước xuống thang từ hơn một tháng nay: không ném bom phạm vi mười dặm kể từ trung tâm Hà Nội. "Việc chấm dứt ném bom sẽ được tiến hành như một hành động đơn phương có trước. Trước khi làm việc đó, Hoa Kỳ mong muốn có sự hiểu biết riêng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về những bước tiếp theo sẽ được thực hiện để giảm bớt các hành động đối địch một cách công bằng và có đi có lại ".

Cuối cùng Mỹ đề nghị sử dụng việc ngừng bắn trong dịp Tết sắp tới là thời cơ đặc biệt thuận lợi cho việc thảo luận và mong được trả lời sớm, vì Tết đã đến nơi rồi. Hôm đó là ngày 23 tháng Chạp ta (Xem thêm George Herring: Sđd, tr. 417 đến 426.).

Đây vẫn chỉ là kế hoạch hai giai đoạn trong vụ Bông cúc vạn thọ.

Hai giờ sáng ngày 8 tháng 2 năm 1967, Guthrie vội đến sứ quán ta trao cho Lê Trang thư của Tổng thống Johnson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thư có đoạn viết:

Tôi sẵn sàng ra lệnh ngừng ném bom nước Ngài và chấm dứt việc tăng quân Mỹ và Nam Việt Nam ngay khi nào tôi nhận được bảo đảm rằng các việc thâm nhập bằng đường bộ và đường thuỷ vào Nam Việt Nam đã chấm dứt".

Nhiều vấn đề quan trọng không được nói đến: vấn đề rút quân Mỹ, vấn đề thi hành Hiệp nghị Genêve v.v...

Towsent. Hoopes, nguyên Thứ trưởng không lực Mỹ, đã bình luận trong cuốn Những giới hạn của sự can thiệp:

“Đó là một bức thư cốt bảo đảm tạo ra một câu trả lời tiêu cực” (Towsent Hoopes: Sđd, tr. 122.)

Lúc này Chính quyền Johnson đang tích cực thực hiện "chiến lược chiến thắng" để chuẩn bị bước vào năm bầu cử với phương châm "tìm và diệt" của tướng Westmoreland và tin công khai cho biết chiến dịch ATTLEBORO, bắt đầu ngày 14 tháng 9 năm 1966 và kết thúc với những kết quả to lớn đánh vào cơ quan lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tại tỉnh Tây Ninh và cuộc tấn công Cedar Fall, đánh vào khu "tam giác sắt" ở cửa ngõ Sài Gòn ngày 8 tháng 1 năm 1967 đang gây nhiều tổn thất cho Việt cộng. Tiếp đó là chiến dịch Junction City lớn nhất trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Đông Nam Á một lần nữa lại đánh tỉnh Tây Ninh. Họ tỏ ra quyết tâm lao vào chiến lược đó nên hoạt động ngoại giao, mọi cố gắng thăm dò chỉ nhằm phục vụ thắng lợi hoặc buộc phía bên kia thương lượng theo điều kiện của họ.

Johnson đã không đợi trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ngày 14 tháng 2, sau bảy ngày ngừng ném bom trong dịp Tết Đinh Mùi, ông ta đã ra lệnh ném bom trở lại miền Bắc. Thật ra nếu có chờ thư của Chủ tịch thêm thời gian cũng không phải là lâu lắm vì ngày 15 tháng 2 trả lời đó đã được chuyển cho Johnson qua sứ quán Mỹ ở Mát-xcơ-va.

Ngày 21 tháng 3, Hà Nội cho công bố cả bức thư ngày 8 tháng 2 của Tổng thống Johnson và bức thư trả lời ngày 15 tháng 2 của Chủ tịch Hồ Chí Minh để dư luận thấy rõ ai có thiện chí, ai không có thiện chí.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:42:43 AM
Ngày 6 tháng 4, sứ quán Mỹ tại Mát-xcơ-va cho người mang tới sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bức thư thứ hai của Tổng thống Johnson gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh, một bức thư bỏ ngỏ. Nội dung có nói đến Hiệp nghị Genève năm 1954, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, vấn đề thống nhất nước Việt Nam, nhưng lại không nói gì đến việc rút đội quân viễn chinh Mỹ ra khỏi miền Nam. Vấn đề nói chuyện giữa hai bên vẫn trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại

Trả lời của phía Việt Nam: Sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã trả lại bức thư đó cho sứ quán Mỹ. 

Đợt thăm dò của Mỹ ở Mát-xcơ-va đến đây đã chấm dứt.

Trong thời gian có các cuộc tiếp xúc đầu tiên giữa hai đại diện Lê Trang và Guthrie tại Mát-xcơ-va, Thủ tướng Anh Wilson cũng tiến hành thăm dò theo yêu cầu của Nhà Trắng trong những điều kiện không ngờ là bi kịch.

Ai cũng biết rằng ngay từ đầu, cuộc chiến tranh của Johnson ở Việt Nam đã được sự ủng hộ không che giấu của Chính phủ Công đảng Anh. Nếu nói rằng có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Washington và Luân Đôn cũng không có gì quá đáng.

Khi Mỹ vi phạm các nguyên tắc lớn và các điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève năm 1954, tuy là một Chủ tịch của Hội nghị Genève về Đông Dương. Anh đã làm ngơ. Khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam và đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Anh công khai bênh vực lập trường của Mỹ. Khi Mỹ bắt đầu đưa thủ đoạn "thương lượng không điều kiện", Anh đã nhiều lần và dưới nhiều hình thức hưởng ứng các cố gắng của Mỹ trong lĩnh vực này.

Ngày 23 tháng 2 năm 1966, khi đi thăm Liên Xô, Thủ tướng Anh Wilson đã cử một thành viên trong đoàn của ông, Huân tước Chalfont, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đến sứ quán Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Mát-xcơ-va nhằm thuyết phục Việt Nam đi vào nói chuyện với Mỹ.

Đại biện Lê Trang đã tiếp ông. Sau khi nghe ông trình bày thiện chí của Anh trong việc thi hành Hiệp nghị Genève về Việt Nam, đồng chí đã nêu vai trò tích cực của Chính phủ Anh trong Hội nghị Genève năm 1954 nhưng cũng chỉ rõ rằng Chính phủ Anh về sau đã không làm đúng nhiệm vụ của một đồng Chủ tịch Hội nghị đó.

Ông Chalfont cố thanh minh và sau đó đã chuyển cho phía Việt Nam ý kiến của Thủ tướng Wilson đại ý như sau:

Anh đã sẵn sàng nhận thông điệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Nữ hoàng Anh với thái độ nghiêm chỉnh và Thủ tướng Wilson đề nghị có tiếp xúc cá nhân với đại diện cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Mát-xcơ-va. Chính phủ Anh mong muốn và tin rằng Chính phủ Mỹ cũng như Chính phủ Anh mong muốn giải quyết cuộc xung đột ở Việt Nam bằng con đường thương lượng.

Lập trường của Bắc Việt Nam và lập trường của Mỹ là những lập trường khó có thể phù hợp với nhau được. Chúng tôi hy vọng rằng bằng phương pháp gặp gỡ cá nhân và bí mật chúng ta có thể tìm ra cơ sở này hay cơ sở khác cho phép chúng ta bắt đầu cuộc thương lượng.
Thủ tướng uỷ nhiệm cho tôi nói rõ một số điểm trong thông điệp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi cho Nữ hoàng Anh ngày 24 tháng 1 năm 1966

Điểm thứ nhất có liên quan đến việc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia vào cuộc thương lượng với điều kiện là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ có đại diện tham gia thương lượng ngang với các Chính phủ miền Bắc và miền Nam Việt Nam thì Thủ tướng chúng tôi sẵn sàng chuyển đề nghị đó cho Chính phủ Mỹ. Còn nếu như gạt Chính phủ miền Nam Việt Nam ra khỏi phòng Hội nghị thì Thủ tướng chúng tôi thấy rằng Chính phủ Mỹ sẽ không bao giờ tán thành điều đó và bản thân Thủ tướng sẽ không sẵn sàng đề nghị như vậy.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:43:56 AM
Điều thứ hai có liên quan đến điểm 1 trong bốn điểm của ông Phạm Văn Đồng: Nếu như điều đó có nghĩa là tất cả các lực lượng vũ trang của Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam trước khi bắt đầu thương lượng hoặc điều đó có nghĩa là khi bắt đầu thương lượng, Mỹ phải cam kết hoàn toàn rút quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam trước một thời hạn nhất định nào đó mặc dù chưa biết trong quá trình thương lượng có đạt được thoả thuận hay không, thì theo ý kiến của Thủ tướngg chúng tôi, không nên chờ đợi Chính phủ Mỹ sẽ tiếp nhận những ý kiến như vậy và bản thân Thủ tướng sẽ không có thể khuyên nên tiếp nhận những điều kiện như thế.

Còn nếu như điều đó có ý nghĩa là Mỹ cần phải rút quân đội trong một thời hạn nhất định sau khi đã đạt được một hiệp nghị qua con đường thương lượng và với điều kiện là tôn trọng mọi bảo đảm trong hiệp nghị thì Thủ tướng chúng tôi sẽ rất lấy làm cảm ơn đối với sự giải thích thêm về vấn đề này.

Điều thứ ba có liên quan đến điểm 3 của ông Phạm Văn Đồng. Nếu như điều đó có nghĩa là Chính phủ Mỹ trước khi tiến hành thương lượng phải nhận để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trở thành Chính quyền tối cao ở miền Nam Việt Nam mặc dù chưa biết kết quả của thương lượng ra sao, thì Thủ tướng chúng tôi không thấy một khả năng nào để tán thành được điều đó

Còn nếu như điều đó có nghĩa là vai trò tương lai của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một trong những điểm được quyết định trong một hiệp nghị đạt được do kết quả thương lượng thì Thủ tướng chúng tôi lấy làm cảm ơn đối với lời giải thích thêm về vấn đề này.

Điểm thứ tư có liên quan đến lời Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đình chỉ những cuộc oanh tạc và tất cả những hành động quân sự khác chống lại Bắc Việt Nam.

Nếu như việc đó sẽ chỉ là nhượng bộ một chiều của phía Mỹ thì Thủ tướng chúng tôi cho rằng điều đó sẽ là một trở ngại nghiêm trọng cho việc tiên hành thương lượng sau này.

Còn nếu như Chính phủ Bắc Việt Nam về phía mình cũng sẵn sàng có một nhượng bộ thích ứng nào cho Chính phủ Mỹ. Thủ tướng chúng tôi chỉ định làm việc đó với danh nghĩa là người trung gian. ..”.


Đại biện Lê Trang hứa sẽ chuyển những ý kiến của Thủ tướng Anh về Hà Nội.  

Sau khi trở về Luân Đôn, Thủ tướng Anh tuyên bố rằng Hà Nội nắm chắc chìa khoá hoà bình, có nghĩa là Việt Nam chịu trách nhiệm về hoà bình hay tiếp tục chiến tranh ở Việt Nam.

Khi Mỹ leo thang đánh phá thủ đô Hà Nội và cảng Hải Phòng, ngày 1 tháng 7, Thủ tướng Wilson tỏ ý tiếc về việc ném bom đó nhưng lại nêu lại cách nhìn trên: cơ hội chấm dứt chiến tranh đã mở cho Hà Nội. Trách nhiệm tiếp tục chiến tranh cũng là ở Hà Nội.

Ngày 22 tháng 9, đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc Arthur Goldberg đưa ra đề nghị ba điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam. Nội dung tóm tắt là Mỹ sẵn sàng rút quân khỏi miền Nam Việt Nam làm nhiều đợt nếu Bắc Việt Nam chấp nhận rút quân đồng thời. Ngày 6 tháng 10, tại Hội nghị hàng năm của Công đảng Anh. Ngoại trưởng Anh George Brown đưa ra kế hoạch hoà bình sáu điểm thực tế là nêu lại đề nghị tăng cường Uỷ ban Quốc tế bằng một lực lượng gìn giữ hoà bình như ở Síp để bảo đảm cho việc thi hành giải pháp đó.

Ngày 25 tháng 10, Hội nghị Manila tuyên bố các nước phía Mỹ tham chiến ở miền Nam Việt Nam sẽ rút quân trong vòng sáu tháng nếu Bắc Việt Nam cũng rút quân thì ngày 30 tháng 12 Chính phủ Anh kêu gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mỹ và Chính quyền Sài Gòn họp lại để sắp xếp việc đình chỉ chiến sự, Mỹ và Bắc Việt Nam rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:44:36 AM
Đầu tháng 2 năm 1967, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N.Kossiguine sang thăm Vương quốc Anh. Liên Xô và Anh là hai đồng chủ tịch của Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương thì đương nhiên với tư cách đó Chủ tịch Kossiguine, và Thủ tướng Wilson sẽ bàn về tình hình Việt Nam.

Nhà Trắng đã cử C.L.Cooper, cộng sự thân cận của Averell Harriman sang Luân Đôn giới thiệu kế hoạch Giai đoạn A và Giai đoạn B để chuẩn bị cho Wilson hội đàm với Kosssiguine. Xin phép nhắc lại rằng theo sự giải thích của Johnson trong hồi ký, Giai đoạn A liên quan đến vấn đề Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, Giai đoạn B liên quan đến vấn đề giảm bớt mức chiến sự ở miền Nam Việt Nam và các vấn đề khác; Mỹ sẽ đồng ý ngừng ném bom miền Bắc (giai đoạn A) chỉ sau khi hoàn toàn thoả thuận với Bắc Việt Nam những biện pháp lớn sẽ áp dụng nhằm giảm bớt chiến sự (giai đoạn B). Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa lập trường của Việt Nam và Mỹ: Việt Nam đòi Mỹ chấm dứt ném bom trước rồi hai bên mới nói chuyện, Mỹ đòi Việt Nam thoả thuận cùng giảm mức chiến sự trước thì mới ngừng ném bom và đi vào nói chuyện. Yêu cầu của Việt Nam để đi vào nói chuyện là Mỹ chấm dứt ném bom, còn yêu cầu của Mỹ là việc chấm dứt ném bom phải trên nguyên tắc có đi có lại.

Giả thiết kế hoạch hai Giai đoạn A và B được chấp nhận, có một vấn đề thực tế cần đề cập và giải quyết thoả đáng: khoảng cách giữa hai giai đoạn đó là bao lâu? Nếu vấn đề đó được giải quyết thì vấn đề thời cơ không có khó khăn, vì hai bên đã chấp nhận trên thực tế ngừng bắn trong dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, với thời cơ đó không bên nào sợ mất mặt cả. Năm đó Tết cổ truyền vào ngày 8 tháng 2 năm 1967.

Cooper kể: khi ông rời Washington đi Luân Đôn, ông được biết là các nhà vạch kế hoạch Mỹ nói chung đã thoả thuận với nhau là khoảng cách giữa hai giai đoạn là ba tuần hay hơn một chút. Ông ta còn được xem bức thư đề ngày 2 tháng 2 năm 1967 mà Tổng thống dự định gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức thư đó sau này được sửa lại hoàn toàn để trở thành bức thư cứng rắn ngày 8 tháng 2 năm 1967 mà mọi người đã biết.

Cooper đã làm việc tỉ mỉ với Wilson và Ngoại trưởng G.Brown ông ta nói đã được uỷ nhiệm nhân danh Johnson để khẳng định đây là kịch bản đã được vạch ra.

Wilson tỏ ra rất lạc quan.

Trong cuộc hội đàm với Kossiguine, Wilson nêu vấn đề Việt Nam đầu tiên. Chủ tịch Kossiguine nêu bước thứ nhất là Mỹ phải chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam. Bước đó là cần thiết, như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nói, để tạo ra khả năng nói chuyện giữa Mỹ và Việt Nam. Điều đó cũng phù hợp với thực tế. Sau khi có tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh, ngày 30 tháng 1, đại sứ Liên Xô tại Việt Nam I. Cherbacop chuyển ý kiến của lãnh đạo Liên Xô tới Thủ tướng Phạm Văn Đồng: Trong tình hình hiện nay Việt Nam nên tăng cường đấu tranh ngoại giao vấn đề Việt Nam, mũi nhọn tập trung vào việc đòi Mỹ đình chỉ ném bom miền Bắc và tiếp xúc với Mỹ; sau khi tiếp xúc sẽ chuyển sang giai đoạn mới để giải quyết các vấn đề chính trị cơ bản, ý kiến đó phù hợp với chủ trương của Việt Nam khi chuẩn bị đợt tiến công ngoại giao. Khi đó chủng ta dự kiến tình hình có thể diễn ra theo ba khả năng:

Một: Mỹ bác bỏ thẳng thừng và tiếp tục leo thang.

Hai; Mỹ đưa ra điều kiện để mặc cả, sau đó có thể hoặc là xuyên tạc lập trường của ta, đổ lỗi cho ta để tiếp tục leo thang, hoặc là có thể ngừng ném bom trên thực tế để đi vào nói chuyện.

Ba: Mỹ nhận điều kiện của ta và ngừng ném bom để đi vào nói chuyện .

Chúng ta cho khả năng thứ hai là có triển vọng nhất. Cho nên, ngày 4 tháng 2, ta trao cho phía Liên Xô một bị vong lục nói lên nhận định và chủ trương của chúng ta tiếp tục đấu tranh về mọi mặt và đề nghị Liên Xô ủng hộ lập trường của Việt Nam và hưởng ứng tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giaoNguyễn Duy Trinh. Kossiguine trong thời gian ở thăm Anh luôn luôn nhắc đến tuyên bố của Nguyễn Duy Trinh, coi đó là con đường thoát cho tình trạng bế tắc không có nói chuyện hiện nay.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:45:13 AM
Thủ tướng Wilson căn cứ vào các lời tuyên bố công khai của Tổng thống Johnson thấy rằng tuyên bố ngày 28 tháng 1 của Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh là một dấu hiệu mà Johnson nói là mong đợi từ lâu ở Hà Nội.

Wilson hài lòng thấy các cuộc hội đàm giữa ông và Kossiguine có chiều thuận lợi. Tuyên bố của Johnson ra lệnh ngừng bắn bốn mươi tám giờ trong dịp Tết Việt Nam càng củng cố sự lạc quan của ông.

Wilson và Cooper cùng thảo ra một văn bản về các điều đã thoả thuận với Liên Xô theo yêu cầu của Liên Xô và cũng là phù hợp với các tuyên bố công khai của Mỹ. Một bản được trao cho Chủ tịch Kossiguine; một bản gửi về Washington. Đại sứ Mỹ tại Luân Đôn D.Bruce, người đã tham gia thảo văn kiện, hết sức hoan nghênh và đánh giá hành động của Thủ tướng Wilson là "một đòn ngoại giao lớn nhất trong thế kỷ này" (W.Burchetl:Sđd, tr.340.).

Hai ngày trôi qua yên ổn, cả Wilson và Cooper đều tin rằng mọi việc đã ổn thoả. Thật ra, đây mới là khởi đầu của những rắc rối.
Đêm hôm thứ hai, Cooper xin gặp Thủ tướng Wilson và Ngoại trưởng Brown vì có việc khẩn. Số là lúc Cooper đang ngủ thì được đánh thức dậy để nói điện thoại với Rostow, Cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ. Rostow cho biết "đang soạn một văn bản mới hoàn toàn khác với bản Wilson đã đưa cho Kossiguine và sẽ thay thế cho bản đó". Sau này Cooper viết: "Tim tôi như rụng xuống. Chúng tôi đang đi vào một cuộc chơi hoàn toàn mới" (Xem C.L.Cooper: Sđd, tr. 361, 363.).

Theo cách diễn đạt mới, Washington sẽ chấm dứt ném bom và ngừng đưa quân vào miền Nam sau khi được bảo đảm rằng Hà Nội đã chấm dứt thật sự việc thâm nhập vào miền Nam Việt Nam. Và như thế, kịch bản trong Giai đoạn A và Giai đoạn B bị đảo ngược, toàn bộ công thức bị biến dạng. Đó là một đề nghị hoàn toàn trái với sự giải thích của Dean Rusk về lập trường mười bốn điểm vừa mới công bố hôm trước. Cooper hết sức bực bội. Wilson giận dữ. Ông ta giải thích cho Cooper rằng công hàm mới của Washington làm cho ông ta lúng túng và hại cho ông ta (Xem C.L.Cooper: Sđd, tí. 361, 363.l).

Lý do Johnson đưa ra việc thay đổi đột ngột này là trong lúc ngừng bắn dịp Tết, sự vận chuyển người và phương tiện rất lớn hướng về phía Nam đã diễn ra trước khu phi quân sự.

Yêu cầu của Washington là sửa lại ngay lập tức bản thoả thuận với Liên Xô trước khi nó tới Mát-xcơ-va hay ít nhất cũng trước khi lời hứa của Wilson tới Hà Nội.

Năm giờ sáng ngày 10, một phụ tá của Wilson phóng ô tô ra ga xe lửa, chạy thục mạng qua cửa ga, gặp hết người này đến người khác. Chủ tịch sắp lên xe lửa đi thăm sứ Ê-cốt. Với vẻ mặt lúng túng, khổ sở, ông ta đề nghị với Chủ tịch Kossiguine cho xin lại bản thoả thuận mà Thủ tướng Anh đã đưa cho Chủ tịch, trước sự ngạc nhiên và khó chịu của Chủ tịch và những người cùng đi.

Tối ngày 12, ngày cuối cùng của chuyến đi thăm Anh của đoàn Đại biểu Chính phủ Liên Xô, sau tiệc chiêu đãi, hai vị Thủ tướng chia tay nhau lúc gần nửa đêm để sáng hôm sau Chủ tịch Kossiguine rời Luân Đôn về


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:46:19 AM
Mọi việc tưởng như đã ổn đối với Wilson. Không ngờ lúc một giờ sáng ngày 13, tức là hai giờ sau khi chia tay tại tiệc chiêu đãi, ông lại cùng Ngoại trưởng Brown vội vã đến biệt thự Kossiguine ở. Ông nói là vừa mới nói chuyện xong với Johnson và Johnson yêu cầu ông chuyển ngay cho Hà Nội một thông điệp mới:

Hoa Kỳ sẽ thôi không ném bom lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nghĩa là đồng ý kéo dài ngừng bắn trong dịp Tết, với điều kiện là Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tuyên bố bí mật trực tiếp với Mỹ, hoặc qua Wilson, hoặc qua Chủ tịch Kossiguine, rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không chuyển người và hàng tiếp tế vào miền Nam Việt Nam. Như vậy thì việc ngừng ném bom sẽ kéo dài vô thời hạn và sau đó mấy ngày Hoa Kỳ sẽ đình chỉ việc tăng quân vào miền Nam và trong trường hợp đó Hoa Kỳ hy vọng có thể bắt đầu cuộc thương lượng".

Mỹ đặt điều kiện là Hà Nội phải trả lời trước mười giờ sáng ngày 13 tháng 2 (giờ Luân Đôn). Nếu tới lúc đó mà chưa có trả lời thì Wilson sẽ nói với Johnson kéo dài thêm vài giờ nữa.

Theo như Cooper kể lại, trước khi đến gặp Kossiguine lúc nửa đêm cả Wilson, Brown và Cooper đều thấy rằng thời hạn buộc Hà Nội trả lời trước mười giờ sáng hôm sau là không thích hợp. Muốn chấm dứt thâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam ít nhất phải mất nhiều ngày có khi cả tuần lễ mới có thể làm được. Cooper gọi điện thoại cho Rostow. Wilson dùng đường dây nóng nói chuyện với Washington. Cooper không rõ Wilson đã gặp ai nhưng hai giờ trôi qua mà không có tin tức gì. Cuối cùng, Wilson phải làm cái mà người ta gọi là "sứ mệnh nửa đêm", đến gặp Chủ tịch Kossiguin. Đại sứ Brurce cũng gọi điện thoại cho Bộ trưởng Rusk và nói thẳng thời hạn cuối cùng đó là lố bịch, cần phải nhiều ngày cho Hà Nội trả lời, do đó ông đề nghị Rusk gặp Tổng thống và xin thêm thời hạn. Cooper không biết câu trả lời của Rusk thế nào nhưng ông “đọc thấy nó trên nét mặt của đại sứ”. Bất thình lình Rusk chúc Bruce ngủ ngon và yêu cầu Bruce đừng gọi lại ông ta về việc này nữa (C.L.Cooper: Sđd, tr. 339, 366, 367.).

Chiều ngày 13 tháng 2, Wilson họp báo tuyên bố.

Tôi tin rằng con đường đi tới giải pháp đã mở, ngay dù chúng ta thất vọng trong dịp này thì cũng không có lý do gì một lúc khác con đường đó lại không mở lại" .

Nửa giờ sau khi Wilson họp báo, Johnson ra lệnh tiếp tục chiến sự trên toàn lãnh thổ Việt Nam, chấm dứt đợt ngừng bắn bảy ngày trong dịp Tết Việt Nam năm 1967.

Nhà Trắng đưa ra một thông cáo:

Bất chấp các cố gắng của chúng ta và của những bên thứ ba, không có sự đáp ứng nào của Hà Nội... Nhưng cửa vẫn mở và chúng ta sẵn sàng bất cứ lúc nào đi quá nửa đường để đáp ứng một đề nghị công bằng của phía bên kia".

Trong hồi ký, Johnson thanh minh rằng ông đã nói cho Wilson biết trước đề nghị của ông "thay cho kế hoạch hai giai đoạn A và B đã đề nghị trước đây với người Anh và đã đề nghị với Hà Nội". Johnson viết:

"Người Anh giao cho ông ta (Kossiguine) một tài liệu không được sự đồng ý cụ thể của Washington. Đó là một sai lầm, mặc dù tôi tin họ làm việc đó với thiện chí. Kết quả là một mớ bòng bong về ngoại giao mà chúng ta phải chịu một phần trách nhiệm"(L.B.Johnson: Sđd, tr. 309-310.)

Lời tự chỉ trích quá nhẹ nhàng đó của Johnson làm sao giải thích được việc phái Cooper sang trình bày lập trường của Mỹ cho Wilson, chuẩn bị cho ông đi vào hội đàm với Kossinguine, việc Cooper đã cùng Wilson và Brown thảo ra bản thoả thuận đã được đưa cho Kossiguine? Chính Wilson sau này đã viết trong một cuốn sách của ông:

"Trả lời thư của tôi là một văn bản mới của Washington do Rostsw thảo đưa ra nhiều điều kiện mới, một sự đảo ngược hoàn toàn chính sách của Mỹ đã đưa ra. Một lý do tôi không muốn tin là Nhà Trắng đã đánh lừa tôi và do đó đánh lừa cả ông Kossiguine. Lý do thứ hai chắc chắn nhất là bọn diều hâu đã tiến hành một sự tiếp quản thành công”.

Các tác giả Cuốn Cuộc bí mật tìm kiếm hoà bình ở Việt Nam đánh giá khách quan hơn:

"Cuộc nói chuyện Wilson - Kossiguine là một việc làm vô ích và bối rối. Nó là một tấn bi kịch".

Gióc-giơ C.Herring, giáo sư chủ nhiệm tạp chí Lịch sử ngoại giao, chuyên gia về quan hệ quốc tế nhận xét về vụ Hoa Hướng dương (mật danh mà Mỹ dành cho cuộc tiếp xúc của Guthrie - Lê Trang ở Mát-xcơ-va và cuộc hội đàm Kossinguine - Wilson ở Luân Đôn đầu năm 1967) viết: “Đây là câu chuyện về một âm mưu phức tạp lộn xộn, mập mờ".



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:47:40 AM
CHƯƠNG XVII
PENSYLVANIA

Từ năm 1967, Nhà Trắng mở một kênh liên lạc với Việt Nam qua người Pháp và đặt cho nó mật danh là Pensylvania.

*
*   *

Sự tàn lụi của kế hoạch Marigold có nghĩa là bỏ lỡ cơ hội tiếp xúc chính thức đầu tiên giữa hai bên. Nhưng sự tàn lụi của Kế hoạch Hoa Hướng Dương, lại có nghĩa là mọi đường liên lạc của Washington với Hà Nội đã bị cắt đứt. Trong cả hai trường hợp, nguyên nhân là Washington đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng không chờ trả lời đã ném bom ác liệt trung tâm Hà Nội. 

Từ đó, Washington lại trông chờ một cơ hội nối lại liên lạc trực tiếp hay gián tiếp với Hà Nội. Từ tháng 7, Chính quyền Johnson yêu cầu Tiến sĩ Henry Kissinger làm công việc của người trung gian để khởi động một quá trình thương lượng.

Ngày 5 tháng 6 năm 1967, nổ ra cuộc chiến tranh giữa Israel và Ai Cập. Quân Ai Cập tiến vào sa mạc Sinai, đóng cửa vịnh Aqaba. Quân Israel tiến vào Sinai, Jordarni, chiếm thành phố Jérusalem cổ, tấn công vịnh Aqaba. Nhiều nước Arập như Ai Cập, Algéri, Syri, Iraq, Xu Đăng, Yemen cắt quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ. Tình hình Trung Đông rất nghiêm trọng.

Dư luận thế giới, nhiều tổ chức quốc tế bày tỏ sự lo lắng, trong số đó có Prugwash. Prugwash là một tổ chức chống chiến tranh hạt nhân, gồm nhiều nhà khoa học nhiều nước như Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp v.v... Khi xảy ra cuộc chiến tranh Ai Cập và Israel, Tổng thư lý Prugwash, giáo sư Rodblat triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của tổ chức tại Paris từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 6 để bàn việc tỏ thái độ với cuộc chiến tranh đó. Tham gia kỳ họp có Henry Kissinger. Nhưng khi cuộc họp bắt đầu thì cuộc chiến tranh đã kết thúc. Hội nghị quay ra bàn vấn đề Trung Đông và vấn đề Việt Nam. Người ta nhất trí thử nghiệm dùng hai nhà khoa học Pháp làm "sứ giả" giữa Washington và Hà Nội, với mục tiêu tiến tới sự gặp gỡ giữa người đại diện có thẩm quyền của hai Chính phủ Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trước hoặc sau việc ngừng ném bom Bắc Việt Nam: Mỹ chấm dứt ném bom, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhận tiến hành thương lượng.

Giáo sư người Pháp Herbert Marcovich, nhà sinh học phân tử làm việc tại Viện Pasteur Paris và giáo sư người Pháp D’astier de La Vigérie, một nhân vật thuộc cánh tả phái De Gaulle, được nhất trí cử đi. Nhưng D'astier phải từ chối vì lý do sức khỏe. Sau đó người ta mời giáo sư Raymond Aubrac là người Pháp. Ông Aubrac đã quen Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1946 thời Hội nghị Fontainebleau. Ông đã từng được tướng De Gaulle giao nhiệm vụ tổ chức "đội quân ngầm" ở miền Nam nước Pháp trong vùng bị phát xít Đức kiểm soát. Sau khi nước Pháp được giải phóng năm 1944, ông được cử làm Uỷ viên Cộng hoà ở Marseille. Ông đã chăm lo đời sống cho số người Việt Nam làm trong các công binh xưởng và bị tập trung ở Marseille từ năm 1940.

Khi sang Pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm ơn ông, sau đó lại có thời gian đến ở nhà ông ở ngoại thành Paris. Quan hệ của ông Aubrac với Chủ tịch Hồ Chí Minh trở nên thắm thiết và Chủ tịch đã nhận đỡ đầu cháu Elisabeth, con thứ ba của ông bà Aubrac.

Để giữ bí mật, Marcovich và Aubrac xin sang Việt Nam, với nhiệm vụ công khai là phái viên của Viện Pasteur Paris sang làm việc với Viện Vệ sinh dịch tễ Hà Nội, đồng thời nghiên cứu khả năng tổ chức ở Phnôm Pênh một Hội nghị khu vực bàn những vấn đề hợp tác quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực y tế và phòng bệnh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:48:29 AM
Rời Paris ngày 18 tháng 7 năm 1967, dừng chân tại Phnôm Pênh, hai ông tới Hà Nội ngày 21, sau đó làm việc với Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch và đi thăm một số bệnh viện. Ngày 24, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người bạn cũ tại nhà sàn. Lúc đó Chủ tịch đang nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi thăm bà Lucie Aubrac và các cháu, nhất là cháu Elisabeth. Người rất hài lòng nhận quả trứng bằng đá quý mà Elisabeth gửi tặng Người. Sau câu chuyện hàn huyên, ông Aubrac nói về cuộc họp của Pugwash ở Paris, giới thiệu Pugwash là gì và nói ông có nhiệm vụ chuyển tới Chủ tịch một thông điệp của Tổ chức này nhằm tìm một giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Chủ tịch nói về lịch sử Việt Nam, cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân ta và yêu cầu Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì sẽ nói chuyện.

Ông Aubrac cảm thấy có dấu hiệu mới mẻ cần thông báo cho Johnson. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói nếu ông có thể làm được thì Người không phản đối.

Nói tới đây, Chủ tịch quay sang phía đồng chí Phạm Văn Đồng và nói:

- Ngày mai chú tiếp ông Aubrac và bạn của ông, chú giải thích tình hình và giải đáp các câu hỏi của họ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho ông Aubrac món quà gửi Elisabeth, ôm hôn ông thắm thiết để chia tay. 

Cùng ngày 24 và ngày hôm sau 25 tháng 7, hai ông Aubrac và Mácvôvích đến làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Cùng dự với Thủ tướng có Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch. Dĩ nhiên nội dung các cuộc nói chuyện chủ yếu về tình hình Việt Nam và cách đi tới một giải pháp.

Cần nói thêm rằng ông Aubrac đã hai lần từ chối làm trung gian: trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và trong cuộc chiến tranh lần này ông cũng đã từ chối đi với La Pi ra sang Việt Nam.

Aubrac nói về lý do tại sao hai ông tới Hà Nội và Marcovich nói thêm rằng công việc này rất bí mật - ở Mỹ chỉ có vài người biết như Johnson, Macnamara, Dean Rusk, Harriman... - Và ở Pháp, De Gaulle dặn không cho Bộ Ngoại giao biết. Cuộc nói chuyện đi vào vấn đề chủ yếu:

Aubrac: 

- Đây là một kịch bản vạch ra từ những nét lớn của một cách giải quyết mà một số người, với tư cách cá nhân, cho là có thể chấp nhận được. Kissinger đã nói với tôi: "Tôi bảo đảm chín mươi phần trăm là có sự đồng tình của Washington". Trước khi lên đường tôi đã gọi điện thoại cho ông ấy ở Mỹ, ông ấy lại nói: bảo đảm chín mươi tám phần trăm. Kịch bản này dự kiến:

- Đình chỉ các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam.

- Giữ mức chi viện quân sự cho toàn miền Nam Việt Nam như trong thời kỳ còn ném bom.

- Thương lượng sau một thời gian nào đó.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:49:47 AM
Marcovich:

- Việc Mỹ ném bom đã hạn chế chi viện của miền Bắc đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở một mức nào đó, không phải dễ dàng nâng lên... Mức đó, độ mười phần trăm các ông cứ duy trì sau khi không có ném bom nữa. Sau một thời gian, không lâu lắm, có thể đi vào thương lượng. Do đó đề nghị: 

- Giữ mức chi viện của miền Bắc cho miền Nam.

- Không tăng cường lực lượng Mỹ ở miền Nam.


Bây giờ tôi xin nêu thêm một vài chi tiết. Ở Marienbad cách đây một tháng rưỡi, Uỷ ban thường trực của Pugwash đã quyết định họp một Hội nghị để thảo luận về hiệp ước không phổ biến (vũ khí nguyên tử). Chúng tôi họp vào lúc vịnh Aqaba bị đóng cửa. Chúng tôi quyết định gửi thư tới Tổng thống Nasser. Thứ hai, ngày 5 tháng 6 chiến tranh nổ ra giữa Israel và người Ai Cập. Chúng tôi nhận thấy các quyết định của chúng tôi đã lỗi thời và chúng tôi quyết định họp một cuộc Hội nghị khác để thảo luận các vấn đề Trung Đông và Việt Nam. Đại diện Xô Viết đồng ý. Ngày 16 tháng 6 là phiên họp đầu tiên với sự hiện diện của Aubrac, Kissinger, Francis Perrier... Tổ chức Pugwash gồm những người có thiện chí tin cậy lẫn nhau.

Aubrac:

- Trước khi lên đường, tôi đã nói với Kissinger rằng tai hại sẽ lớn nếu trong khi chúng tôi đang vận động lại có một đợt leo thang mạnh của Mỹ. Kissinger đã bảo đảm với tôi rằng ông ấy sẽ hết sức cố gắng để không có leo thang, nhưng nếu chẳng may điều đó xảy ra thì đó là điều đã được quyết định từ trước rất lâu.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi xin cảm ơn các bạn đã đến đây. Cũng xin cảm ơn các thông tin của các bạn. Đây là vấn đề cực kỳ mật. Đây là vấn đề nói chuyện. Tôi sẽ trình bày lập trường của chúng tôi, sau đó các bạn làm gì thì tuỳ.

Marcovich:

- Chúng tôi chỉ làm cái gì mà Việt Nam vui lòng.

Aubrac:

- Có một điểm chúng tôi đã quên không nêu: đó là vấn đề kiểm soát.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi có nghĩ đến.

Marcovich:

- Thủ tướng biết rất rõ các vũ khí mà Mỹ có ở Việt Nam. Người Mỹ có những máy bay có thể chụp ảnh các đường giao thông để xem số lượng xe tải có tăng lên không. Do đó, chúng tôi đã đề nghị sẽ không có kiểm soát trong bước một. Mỗi bên sử dụng những phương tiện riêng của mình. Sẽ không có kiểm soát tại chỗ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:50:51 AM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Điều cơ bản là xem vấn đề thương lượng giữa Việt Nam và Mỹ được đặt ra thế nào. Mỹ phải chấm dứt không điều kiện ném bom miền Bắc Việt Nam, đó là vấn đề cơ bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng tôi sẽ không thương lượng dưới bom đạn". Nếu thế vì hai lý do: Mỹ là kẻ xâm lược, làm cho lương tri của mọi người công phẫn. Thứ hai đây là một vấn đề phẩm cách, trung thực và hiệu quả. Chúng tôi đề cập vấn đề một cách giản dị và trung thực. Chúng tôi tán thành thương lượng. Nhưng cũng phải có một số điều kiện. Những điều kiện đó do hoàn cảnh, do bản thân vấn đề đặt ra. Không phải là chúng tôi tìm cách áp đặt điều kiện của chúng tôi. Không thể có thương lượng dưới áp lực của bom đạn. Cần phải chấm dứt không điều kiện.

Aubrac: 

- Chúng tôi đã gợi ý Mỹ ngừng ném bom không điều kiện, còn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam được giữ ở mức hiện nay. Đó là một việc ngừng ném bom không điều kiện có châm chước.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi cho rằng chúng tôi phải trình bày lập trường của chúng tôi một cách kiên quyết nhất. Chúng tôi không chấp nhận bất cứ sự có đi có lại nào. Cần phải chấm dứt không điều kiện. Chúng tôi biết các bạn. Chúng tôi tôn trọng cuộc vận động của các bạn. Giữa chúng ta không có sự hiểu lầm nào. Nhưng khi Mỹ phạm tội xâm lược nước chúng tôi, chúng tôi nói: Không! Cần phải chấm dứt không điều kiện. Sau đó sẽ tính.

Marcovich: 

- Điều chúng tôi mong muốn là giúp đỡ phái bồ câu. Thủ tướng biết đấy: năm nghìn giáo sư Đại học đã ký một kiến nghị. Họ xấu hổ hơn thế nữa. Họ có món nợ đối với nước Việt Nam. Cần phải giúp những người Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. Chúng tôi tự đặt câu hỏi: làm thế nào giúp những phần tử có thể lui tới Nhà Trắng đánh bại được những Rostolo, Macnamara, Dean Rusk?.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi quyết tâm tiếp tục chiến tranh và chiến thắng. Chúng tôi quyết tâm chiến đấu đến cùng và biết làm thế nào để chiến thắng. Có một số điều không thể thoả hiệp. Họ hãy chấm dứt không điều kiện việc ném bom! Không thể nói cả hai bên phải chấm dứt chiến tranh, mỗi bên năm mươi phần trăm.

Chúng tôi vẫn ở nước chúng tôi, việc leo thang là tự họ, không phải chúng tôi. Họ hãy xuống thang đi, chúng tôi sẵn sàng chĩa cái sào cho họ. Cái sào đó là thương lượng. Nhưng họ phải chấm dứt ném bom. Không thể có điều kiện chúng tôi chấm dứt năm mươi phần trăm chiến tranh. Nếu như chúng tôi đã đem chiến tranh đến nước họ thì sẽ chấm dứt chiến tranh năm mươi phần trăm ở giữa Thái Bình Dương. Họ là người đã đến đây. Họ hãy cút đi! Đó là lô gích sơ đẳng nhất. Cần phải xuất phát từ những nguyên tắc. Tôi nói với sự xúc động, vì chúng tôi làm việc với nhau con người như Johnson, Macnamara, Westmoreland... Với bầy sói, phải cư xử như sói! Nhưng chúng tôi không phải sói. Chúng tôi và họ sẽ nhìn lại nhau như những người bạn.

Có hai loại vấn đề. thương lượng và giải pháp. Muốn có thương lượng, chúng tôi đứng trên lập trường nguyên tắc của chúng tôi: phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc mới có thể thương lượng. Trong quá trình thương lượng, chúng tôi biết chúng tôi phải nói gì. Mỹ hãy chuẩn bị về phía họ
!


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:52:17 AM
Aubrac:

- Thế nào là việc ngừng ném bom không điều kiện

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi muốn là họ ra một tuyên bố. Nhưng chúng tôi không quá khó tính.

Marcovich

- Có lẽ là một việc ngừng ném bom trên thực tế, không tuyên bố.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi không khó tính về điểm này. Điều chủ yếu là ngừng không điều kiện. Chúng tôi sẽ không nói chuyện dưới sự đe doạ của bom đạn.

Aubrac: 

- Cái gì đảm bảo là các cuộc ném bom ngừng lại? Có cần một thời gian nào không để đảm bảo việc ngừng ném bom đã thực sự chứ không phải vì lý do thời tiết. Liệu một thời gian sáu tháng có đủ không?

Marcovich: .

- Các ông làm thế nào biết được việc ném bom đã chấm dứt? Bao nhiêu lâu sau khi ngừng ném bom thì các cuộc nói chuyện có thể bắt đầu?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Lập trường của chúng tôi rất đơn giản. Phải ngừng ném bom thật sự. Không cần thiết có một bài diễn văn của Johnson. Có rất nhiều con đường để Mỹ thông báo cho chúng tôi quyết định của họ. Nhưng họ chưa tới chỗ đó đâu.

Họ nói những điều mà chúng tôi không thể chấp nhận được. Họ là kẻ xâm lược. Họ hãy chấm dứt đi! Họ đã đưa ra những cái làm cho vấn đề rối rắm quá chừng. Lúc này tôi có nghĩ đến vấn đề kiểm soát. Ngay dù việc đó được thực hiện vẫn có thể dẫn tới những điều phức tạp. Chúng tôi đã có kinh nghiệm.

Cần phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc nếu họ muốn nói chuyện về vấn đề Việt Nam. Nói cho cùng mục tiêu của họ là miền Nam. Nếu họ muốn thương lượng, đó là do tình hình ở miền Nam. Cần sự có mặt của đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng.


Macrcovich:

- Kissinger đã nói với tôi rằng việc Mặt trận Dân tộc Giải phóng có đại diện là việc bình thường.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 11 Tháng Chín, 2009, 10:53:23 AM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tìm ra một giải pháp, việc đó khác với việc ngồi lại để nói chuyện. Không phải bao giờ cũng chắc chắn là nói chuyện sẽ dẫn đến một cái gì. Cần phải xét các yếu tố của giải pháp đó. Chúng tôi đã đưa ra bốn điểm. Tóm lại đó là việc Hoa Kỳ thừa nhận các quyền dân tộc của chúng tôi. Họ hãy chấm dứt chiến tranh ở miền Bắc, miền Nam và rút quân của họ về. Vấn đề thật đơn giản. Họ đã bắt đầu hiểu rằng họ đã lao vào một cuộc chiến tranh không lối thoát. Họ đã phạm những tính toán sai lầm ghê gớm. Họ hãy rút ra những kết luận! Họ hãy chấp nhận để chúng tôi yên ổn. Họ đừng bám lấy miền Nam nữa! Họ muốn thương lượng với những bù trừ. Họ muốn chia cắt nước chúng tôi. Muốn có một giải pháp phải chăng, hiệu quả và ổn định, họ phải chấm dứt chiến tranh, rút đi và để miền Nam Việt Nam tự quyết định vận mệnh của mình. Trong những điều kiện như vậy, mọi việc sẽ ổn thoả. Nếu Nhà Trắng và Lầu Năm Góc quyết định thi hành một chính sách như thế, mọi việc tự nó sẽ được giải quyết.

Chúng tôi quyết tâm tiếp tục chiến đấu và chiến thắng. Đây là vấn đề các quyền dân tộc của chúng tôi. Chúng tôi có phương tiện để giành thắng lợi. Chúng tôi có đường lối chính trị khôn ngoan. Chúng tôi không hề muốn làm cho vấn đề rắc rối. Chúng tôi không làm những việc vô ích. Nếu Mỹ chấp nhận một cách trung thực rút đi thì chúng tôi có thể nói chuyện để việc rút lui đó được thực hiện trong điều kiện tốt nhất. Vấn đề thể diện có thể được giải quyết. Chúng tôi biết Hoa Kỳ là một cường quốc. Chúng tôi biết tỏ thái độ đúng mức nhất có thể được đối với họ. Họ phải chấm dứt chiến tranh và rút quân của họ. Đó là vấn đề cơ bản, không có nó thì tất cả chỉ là thủ đoạn. Họ có một bộ máy ghê gớm làm hòng lừa gạt chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã quen chiến đấu. Chúng tôi sẽ không sa vào những thủ đoạn giả tạo của họ
.

Macrcovich:  

- Hoa Kỳ không muốn chịu mất thể diện. Kissinger đã nói với chúng tôi: làm thế nào giúp họ rút đi. Người ta có nói đến thảm đỏ nhưng thảm đỏ nào? Nếu đi đến đình chỉ chiến sự trong một năm tới thì bọn diều hâu sẽ không làm được gì. Cần phải tìm cách giúp những người Mỹ không cầm quyền tác động đến những người Mỹ đang cầm quyền. Sắp tới sẽ có bầu cử ở Mỹ và trong một nước sắp có bầu cử, người ta có thể có những quyết định quá đáng.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Vấn đề như các bạn đặt là có ích đối với các bạn và nhất là cánh tả. đối với chúng tôi, thật rất khó nêu một vài gợi ý nào với các bạn ngoài lập trường của chúng tôi và một số tình cảm đối với nhân dân Mỹ. Chúng tôi không làm gì có thể hiểu là một sự xúc phạm đối với nước Mỹ. Về điểm này, chúng tôi có lập trường nguyên tắc của chúng tôi.

Chiến tranh không thể kết thúc trước khi địch dùng hết các phương tiện của nó. Chúng tôi đã ra sức hạn chế chiến tranh trong biên giới nước chúng tôi. Nhưng chúng ta đứng trước những con người như Rostow, Curtis Lemay... Cần phải sáng suốt. Chúng tôi giữ một lập trường trước sau như một. Nếu Hoa Kỳ hạn chế chiến tranh thì họ có hai khả năng: tăng cường tiềm lực ở miền Nam và tăng cường ném bom miền Bắc. Từ bây giờ đến sang năm có lẽ đội quân viễn chinh của họ lên tới sáu trăm nghìn người. Họ còn yêu cầu các nước chư hầu gửi thêm quân. Tất cả những cái đó sẽ không giải quyết được vấn đề gì. Từ hai tháng nay, báo chí Mỹ bắt đầu nhìn thấy cái gốc của vấn đề.

Có một điều mà mọi người, nhất là các bạn Mỹ của chúng ta cần hiểu. Bọn diều hâu nói rằng chúng tôi muốn đánh thắng cuộc chiến tranh không phải ở đây, ở Việt Nam mà ở Washington, đối với một số nhà báo nêu câu hỏi đó, tôi đã trả lời: Cần phải đấu tranh chống lại luận điệu tuyên truyền đó. Luận điệu đó cực kỳ có hại. Các bạn cần phải làm điều cần làm. Muốn huy động dư luận, cần xác định một số điểm nguyên tắc làm lập trường, bằng không thì không thể dẫn dắt dư luận đến chỗ giác ngộ được. Chính phủ Mỹ là người chịu trách nhiệm. Nếu các bạn che lấp sự thật đó thì các bạn sẽ không làm được gì, hoà bình hay chiến tranh là tuỳ thuộc điều đó.

Tướng De Gaulle đã nói: Tình hình chưa chín muồi để thương lượng. Khách quan mà nói, điều đó đúng. Lầu Năm Góc muốn kéo dài chiến tranh, tăng thêm tiềm lực của đội quân viễn chinh ở miền Nam, Họ sẽ leo vài nấc thang. Ngày nào người Mỹ yêu cầu chấm dứt chiến tranh và rút đi thì chúng tôi biết sẽ làm gì để không ai có điều gì phải tiếc
.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 10:54:53 PM
Aubrac: .

- Vấn đề thật phức tạp. Liệu Thủ tướng có cảm tưởng rằng cuộc vận động của chúng tôi là một việc làm của Chính phủ Mỹ và khách quan mà nói, chúng tôi là một công cụ của Bộ Ngoại giao Mỹ?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Không! Nếu vậy các bạn đã chẳng có mặt ở đây. Chúng tôi không có thói quen nói những điều mà chúng tôi không nghĩ. Vấn đề này rất phức tạp. Hoa Kỳ là một trong những nước mạnh nhất. Họ có một tiềm lực ghê gớm. Họ phạm những sai lầm ghê gớm trong tính toán.

Aubrac:

- Tiếp theo việc chấm dứt ném bom không điều kiện là thương lượng. Mục đích của cuộc thương lượng sẽ là gì? Có phải bàn đến cùng tất cả các vấn đề hay chỉ bàn vấn đề ngừng bắn thôi?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi không muốn nói cụ thể khi không có đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Aubrac:

- Sự có mặt của Chính phủ Sài Gòn là có thể hay không có thể?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi sẽ thảo luận vấn đề này với Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Aubrac:

- Tất nhiên. Mục đích của bước một là xác định phạm vi và ý nghĩa các cuộc thảo luận. 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Rất khó mà thấy trước sự việc diễn biến thế nào. Ngồi lại với nhau chung quanh một cái bàn là một chuyện. Giải pháp là chuyện khác.

Aubrac:

- Việc lập chương trình nghị sự sẽ là một vấn đề phức tạp.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Đó là một vấn đề mà hai bên sẽ giải quyết. Chúng tôi sẵn sàng thảo luận tất cả.

Marcovich:

- Theo những cái tôi đã thấy ở đây, tôi tin rằng nếu họ muốn thắng cuộc chiến tranh này thì họ phải ném bom huỷ diệt mọi sự sống.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 10:56:22 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng có thể tăng cường ném bom và đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Điều đó sẽ gây thiệt hại, nhiều thiệt hại cho chúng tôi. Hoa Kỳ là một cường quốc... Nhưng phương tiện của họ không phải là vô tận. Họ chuẩn bị chưa tốt. Binh lính của họ chết rất nhiều. Đó là một tội ác khác của Johnson.

Chúng tôi đồng ý thương lượng để hạn chế và chấm dứt chiến tranh trên cơ sở công nhận các quyền dân tộc của chúng tôi. Chúng tôi đã đưa ra bốn điểm ngày 8 tháng 4, một ngày sau diễn văn Baltimore. Các cuộc thương lượng chỉ có thể được tiến hành trên một số nguyên tắc, một số điều tiên quyết, nếu không thì chẳng có kết quả gì. Chúng tôi không muốn dân tộc chúng tôi lơ là chiến tranh. Chúng tôi không muốn các cuộc thương lượng là một bước hụt. Chúng tôi phải hết sức cảnh giác. Chúng tôi không được bước hụt. Tóm lại, để có thể đi tới thương lượng, cần chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc. Và chấp nhận sự có mặt của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Chấm dứt chiến tranh và rút quân Mỹ là những yếu tố của một giải pháp. Hội nghị của Tổ chức Pugwash chúng tôi biết rất ít. Chúng tôi cần được bảo đảm về sự trung thực của một số điều.


Marcovich: 

- Tổ chức Pugwash đã có hành động khi Hiệp nghị Mát-xcơ-va về cấm thử vũ khí nguyên tử được ký kết. Chúng tôi đã đề nghị một số cuộc Hội nghị bí mật lúc xảy ra vụ Cu Ba trước khi có các cuộc trao đổi ý kiến giữa Mỹ và Liên Xô. Người Nga khi đó sẵn sàng đi Luân Đôn để thảo luận vào thời điểm cao độ của vụ này. Chúng tôi là những người rất trung thực.

Tất cả việc này được giữ tuyệt đối bí mật. Chúng tôi sẵn sàng chuyển mọi thông điệp mà các ông muốn gửi cho Mỹ. Ở Paris cách đây ít lâu tôi có thể liên hệ với cơ quan đại diện của các ông nhưng chúng tôi không dám làm. Thưa Thủ tướng, liệu Thủ tướng có thể giới thiệu cho chúng tôi một người nào ở Paris để tôi có thể liên lạc tự do như với Thủ tướng.


Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Chúng tôi có Tổng đại diện của chúng tôi ở Paris, đồng chí Mai Văn Bộ. Tôi sẽ trực tiếp nói chuyện này với đồng chí ấy. 

Thủ tướng nói qua về quan hệ Việt Nam với Pháp rồi tiếp: 

- Tình hình đang chín muồi do hai yếu tố: cuộc chiến đấu của chúng tôi, cuộc chiến đấu của các bạn và cuộc chiến đấu của nhân dân thế giới ủng hộ chúng tôi. Các bạn chiến đấu bằng phương tiện và kiểu cách riêng của bạn. Lựa chọn phương tiện nào là tuỳ các bạn. Điều cốt yếu là không bước hụt. Người Mỹ biết tất cả các yếu tố của vấn đề nhưng họ không muốn giải quyết. Họ chưa có xu hướng tìm kiếm một giải pháp.

Tôi xin nhắc lại mối quan hệ của chúng tôi với Pháp. Năm 1946, chúng tôi sẵn sàng thương lượng với nước Pháp về độc lập của chúng tôi trong Liên hiệp Pháp. Nước Pháp không muốn, thế là chiến tranh nổ ra. Đó là một sự tính toán tồi. Lẽ ra có thể tránh được chiến tranh.
Đối với Mỹ, vấn đề cũng thế. Nếu họ không lao vào con đường chiến tranh và nếu Hiệp nghị Genève thực hiện năm 1956, tình hình có thể đã khác. Nếu họ muốn chấm dứt chiến tranh năm 1960, đó là thời cơ tốt nhất. đến năm 1964, tình hình đã xấu. Bây giờ thì tồi tệ. Trong hai năm nữa, càng tồi tệ hơn đối với họ. Họ đã bắt đầu hiểu điều đó.


Ông Marcovich tỏ ý sẵn sàng đi Washington để chuyển bất kỳ ý kiến nào của Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời: Không có gì để nói cả. Ông ta lại nói: Có thể đi Mỹ để chuyển cảm tưởng của mình sau khi trực tiếp đi thăm Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời: Tuỳ ông.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 10:57:55 PM
Hôm sau, ngày 25, các cuộc nói chuyện lại tiếp tục. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nêu vắn tắt quá trình vấn đề Việt Nam từ 1954 cho đến hiện nay, giới thiệu lập trường của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và khẳng định lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về vấn đề thương lượng như đã nói hôm trước. Ông cũng tỏ lòng mong muốn hai ông khách cùng nhân dân thế giới tích cực ủng hộ Toà án Bertrand Russell đang chuẩn bị việc xét xử tội ác xâm lược của Chính quyền Mỹ. Ông nói: chính Mỹ bắt đầu thấy các cuộc ném bom miền Bắc không ngăn cản nổi sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam, còn ở miền Nam, về mặt chiến đấu, quân Mỹ không thể sánh với quân Koubilai và Gongis Khan, nhưng Mỹ vẫn cứ muốn bám lấy miền Nam Việt Nam.

Hai ông Aubrac và Marcovich tìm hiểu thêm ý định của phía Việt Nam. Cách lập luận của hai ông là ở Mỹ có phái bồ câu và phái diều hâu.

Marcovich:

- Vấn đề đặt ra cho phái bồ câu là: Hành động thế nào để làm cho Lầu Năm Góc chấp nhận ý kiến bắt đầu xuống thang để đi tới rút hết lực lượng Mỹ ở Việt Nam. Họ đồng ý để việc ngừng ném bom không điều kiện là cái cớ cho phái diều hâu của Lầu Năm Góc nói rằng tiềm lực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ tăng lên đến mức quân Mỹ sẽ buộc phải rút lui dưới bom đạn.

Rồi ông nêu một số câu hỏi:

- Nếu người Mỹ ngừng ném bom không điều kiện, thời gian phải chăng để ngồi nói chuyện với một số đối phương có tư cách là bao nhiêu? Phải chăng là sau ngày thứ nhất, ngày thứ hai hay ngày thứ ba?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Hai bên phải thoả thuận về vấn đề này. Bây giờ mà ấn định cái gì thì chẳng có tác dụng gì. Nếu hai bên bàn với nhau thì rất dễ thoả thuận. Điều khó khăn đối với họ là ngừng không điều kiện việc ném bom.

Marcovich:

- Tôi không nghĩ là khó khăn, nếu họ có thể nói với Lầu Năm Góc: các ông sẽ không gặp khó khăn về quân sự vì ngừng ném bom. Chúng tôi nghĩ rằng việc ngừng ném bom không thể kéo dài nếu các cuộc thương lượng bắt đầu quá chậm. Tôi có ý kiến thế này: Nếu người ta bắt đầu cái đó không điều kiện thì cái gì đó phải nhanh chóng đi ngay vào bước hai. Một vài người Mỹ mà tôi quen biết, từ một năm nay tìm cách chấm dứt chiến tranh nghĩ rằng tình hình đã chín muồi.

Thủ tướng Phạm Vàn Đồng:

- Họ có thể có lý. Cần đợi thêm một thời gian ngắn nữa để khẳng định là họ có thật sự có lý không. Về điểm thứ nhất mà ông vừa nêu, chúng tôi không thể làm được gì. Về điểm thứ hai, vấn đề tự nó sẽ giải quyết. Nhưng đối với họ còn khó khăn lắm mới chấm dứt không điều kiện việc ném bom.

Aubrac:

- Câu trả lời duy nhất người ta có thể nói với bọn diều hâu là: chúng tôi sẽ thương lượng khá nhanh chóng



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 11:00:15 PM
Marcovich:

- Tất nhiên sau khi ngừng ném bom là có tiếp xúc chính thức. Nhưng ai là người đề ra việc tiếp xúc đó: một quan chức Việt Nam hay một quan chức Mỹ. Ai là người đại diện? Có cần một người thứ ba không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Điều đó có thể giải quyết một cách dễ dàng. Kinh nghiệm chỉ rõ rằng mỗi khi Mỹ muốn tiếp xúc với chúng tôi, bao giờ họ cũng làm được... Họ biết nên gõ cửa nào. Nếu họ muốn mời chúng tôi họ sẽ mời, không có khó khăn gì cả.

Macrcovich:

- Như vậy nếu tôi đã hiểu vấn đề thì có nghĩa là sau khi ngừng không điều kiện việc ném bom, người Mỹ có thể báo cho các ông là họ muốn nói chuyện. Có cần một tuyên bố công khai không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Lập trường của chúng tôi là cần có một tuyên bố chính thức. Sau đó, mọi việc sẽ tiến hành công khai.

Marcovich

- Sự tiếp xúc diễn ra sau một tuyên bố công khai?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Cần phải có một tuyên bố công khai chính thức. Chúng tôi không thích lối ngoại giao bí mật. Tuy vậy, chúng tôi không phải là tuyệt đối trong vấn đề này. Nếu Mỹ chỉ có thể chấp nhận chấm dứt ném bom trên thực tế thì đó là điều sẽ xét.

Marcovich:  

- Có phải đó là một điều kiện không có không được để đi tới thương lượng không?

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Không! Miễn là điều đó dẫn tới một cái gì

Marcovich:

- Phái diều hâu có một lá chắn: quân viễn chinh sẽ gặp khó khăn do việc ngừng ném bom, trong thời gian thương lượng. Như vậy lá chắn đó có thể oi là cất bỏ được không?Các cuộc ném bom có thể chấm dứt mà không gây thiệt hại (cho quân Mỹ) mà tiềm lực quân sự miền Nam không tăng quá mức hiện nay?



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 11:02:01 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi đã không có ý định làm phiền các bạn. Nhưng chúng tôi không chấp nhận sự có đi có lại. Kịch bản hay sơ đồ mà các bạn mới trình bày, nếu xét cho kỹ, không đáp ứng điều gì. Nó chỉ là cách nhìn của người tìm cách làm rối vấn đề. Làm sao có thể đặt ra một sự trùng hợp nào đó giữa việc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc và những gì xảy ra ở miền Nam?.

Marcovich:

- Vấn đề là làm sao cho bọn diều hâu không phản đối xuống thang. đối với họ ngừng ném bom là bất lợi nghiêm trọng cho đội quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Đó là điều hiển nhiên.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Các bạn hiểu rõ lập trường của chúng ta. Tôi nghĩ rằng tôi đã trả lời. Người Mỹ có nhiều phương tiện nhưng những phương tiện đó không có hiệu quả. Các vị ở Lầu Năm Góc, các con diều hâu, vẫn nghĩ rằng có mối liên hệ nhân quả nào đó khi nói đến những phương tiện đó. Nếu tôi có một lời khuyên đối với họ thì sẽ nói: "Các ngài cứ thủng thỉnh và khi các ngài chấm dứt thì hãy chấm dứt không điều kiện. Các ngài hãy đợi đến lúc mà tình hình đến mức các ngài cần phải lựa chọn". Giữa chúng ta, tôi xin nói là cái kịch bản ghê gớm đó chẳng đi tới đâu, nó vô hiệu. Đó là con ngựa chiến của họ, đó là một trong những cơn ác mộng của họ. Đó là những người mang trong đầu những ý nghĩ kỳ cục. Họ không hiểu nổi cái gì đang diễn ra ở miền Nam.

Vấn đề đã đặt không đúng. Không! Sẽ chẳng đi đến đâu cả, nếu họ không tìm một cách nhìn khác.


Marcovich: 

- Bây giờ tôi có một nghi vấn. Chúng tôi xuất phát từ nguyên tắc là các cuộc ném bom cản trở ghê gớm việc chi viện. Tôi ngờ nguyên tắc đó không có giá trị. Nghi vấn đó có lý không? Nếu chúng tôi đi đến thuyết phục người Mỹ rằng các cuộc ném bom chỉ giảm được mười phần trăm số chi viện thì điều khoản đó của kịch bản trở thành vô ích.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Không ai có thể thuyết phục được người Mỹ.

Cuối buổi nói chuyện, hai vị khách khen ngợi công tác y tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong điều kiện chiến tranh ác liệt và cho rằng các lĩnh vực khác cũng tốt cả.”

*
*   *

Rời Hà Nội ngày 26 tháng 7, ông Aubrac và Marcovich hài lòng về kết quả chuyến đi Hà Nội: được biết lập trường chính thức của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về vấn đề thương lượng, đồng thời mở được con đường liên lạc trực tiếp giữa Mỹ và Hà Nội qua Tổng đại diện Việt Nam ở Paris, con đường mà Nhà Trắng gọi là đường hẻm Pensylvania.

Sau khi gặp Mai Văn Bộ lần đầu từ khi đi Hà Nội về, hai ông thật quả không bỏ phí con đường liên lạc đó và thật sự đã làm một "con đường điện thoại nóng" giữa Hà Nội và Washington, như hai ông đã nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Hen-ri Kissinger, mà Johnson đã trao cho việc trao đổi này, cũng tỏ ra rất tích cực, khi thì đến Paris, khi thì trong lúc dừng chân ở Pan, khi gặp hai ông trực tiếp, khi qua điện thoại. Trong vòng hai tháng từ ngày 17 tháng 8 đến 17 tháng 10, thật sự đã hình thành và duy trì các cuộc tiếp xúc bí mật giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ.

Trong thời gian đó, có ba thời điểm đáng được chú ý.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 11:03:02 PM
Ngày 25 tháng 8, Aubrac và Marcovich đến cơ quan Tổng đại diện Việt Nam trao thông điệp ngày 25 tháng 8 năm 1967 của Chính phủ Mỹ gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thông điệp như sau:

Hoa Kỳ sẵn sàng chấm dứt ném bom, bắn phá bằng không quân và hải quân ở miền Bắc Việt Nam với sự hiểu biết rằng việc đó sẽ nhanh chóng đưa tới những cuộc thảo luận có hiệu quả giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để tiến tới giải quyết những vấn đề đang làm hai nước chống đối nhau. Trong khi các cuộc thảo luận được tiến hành, công khai hoặc bí mật, Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không lợi dụng việc ngừng ném bom bắn phá này. Bất cứ hành động lợi dụng nào của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tất nhiên không phù hợp với mọi hoạt động nhằm giải quyết những vấn đề giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà đó cũng là mục đích của cuộc thảo luận.

Hoa Kỳ sẵn sàng tiến hành thảo luận hoặc công khai, hoặc bí mật. Tuy nhiên, khó có thể giữ được bí mật về những cuộc thảo luận đó mỗi khi có việc chấm dứt ném bom bắn phá hoàn toàn. Vì lẽ đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể lựa chọn một cách giải quyết khác là một sự giảm quy mô và phạm vi của các cuộc ném bom và bắn phá trong khi các cuộc thảo luận bí mật được tiến hành.

Hoa Kỳ sẵn sàng có tiếp xúc riêng ngay với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để xem xét về cách làm trên đây hoặc từ bất cứ gợi ý nào theo hướng đó mà Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra


Marcovich cho biết: theo Kissinger thì Tổng thống Johnson đã đích thân “duyệt từng chữ" của thông điệp này.

Ngày 11 tháng 9, Mai Văn Bộ trao cho Aubrac và Marcovich thông điệp trả lời của Hà Nội:

Những đề nghị của Mỹ thực chất là ngừng ném bom có điều kiện. Việc Mỹ ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một hành động bất hợp pháp. Mỹ phải chấm dứt việc ném bom mà không được đòi hỏi bất cứ một điều kiện nào.

Thông điệp của Mỹ đã được trao sau một cuộc leo thang đánh phá Hà Nội và ví sự đe doạ liên tục đánh phá Hà Nội. Rõ ràng đó là một tối hậu thư đối với nhân dân Việt Nam.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà kiên quyết bác bỏ những đề nghị trên đây của Mỹ.

Lập trường của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là Mỹ phải chấm dứt vĩnh viễn và không điều kiện việc ném bom và bất cứ hành động chiến tranh nào khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ phải rút quân và quân chư hầu khỏi miền Nam Việt Nam, thừa nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam để cho nhân dân Việt Nam tự giải quyết công việc nội bộ của mình. Chỉ sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và bất cứ hành động chiến tranh nào khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ mới có thể có những cuộc nói chuyện
".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 11:04:39 PM
Kissinger yêu cầu được gặp Mai Văn Bộ để được là "Người Mỹ đầu tiên đã tiếp xúc được với Hà Nội", nhưng không được. Ngày 16 tháng 9, ông ta nhờ Aubrac và Macovich chuyển cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà thông điệp ngày 13 tháng 9 năm 1967 của Chính phủ Mỹ. Toàn văn như sau:

Chính phủ Hoa Kỳ nghĩ rằng thông điệp của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 11 tháng 9 có thể dựa trên một sự hiểu sai về đề nghị của Hoa Kỳ ngày 25 tháng 8. Đề nghị của Hoa Kỳ không chứa đựng điều kiện hay đe doạ nào và không thể bị bác bỏ vì những lý do đó.

Lúc đó, Chính phủ Hoa Kỳ hiểu rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có lẽ muốn tiến hành nhanh chóng thương lượng có hiệu quả và đưa đến hoà bình khi những cuộc đánh phá bằng không quân và hải quân chấm dứt. Chính phủ Hoa Kỳ tìm cách xác nhận sự kiện đó trong đề nghị ngày 25 tháng 8 của mình mà Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có trong tay. 

Để chứng minh thiện chí của mình và để tạo không khí tốt nhất cho việc xét đề nghị của mình, Hoa Kỳ đã tự ý ngừng ném bom Hà Nội từ ngày 25 tháng 8, ngày mà đề nghị được chuyển cho Hà Nội. Sự hạn chế này đã được duy trì không thời hạn, mặc dù những hoạt động của lực lượng đối phương ở miền Nam thực tế đã tăng lên từ ngày 25 tháng 8. Đề nghị của Chính phủ Hoa Kỳ ngày 25 tháng 8 vẫn giữ nguyên giá trị
”.

Sau khi Kissinger và Mai Văn Bộ, qua Aubrac và Marcovich, trao đổi thông điệp miệng chung quanh vấn đề thương lượng, tối 4 tháng 10, Kissinger nhờ Marcovich chuyển cho phía Việt Nam một “kịch bản mới" đại để như sau:

Một: Chính phủ Hoa Kỳ gửi một thông điệp cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông báo rõ ràng, một cách không nhầm lẫn được, việc Hoa Kỳ chấm dứt ném bom không điều kiện.

Hai: Sau khi thực hiện chấm dứt ném bom, Chính phủ Hoa Kỳ sẽ gửi thông điệp thứ hai đề nghị ngày giờ và địa điểm nói chuyện.

Đêm 6 tháng 10, Wallner, công sứ toàn quyền của sứ quán Mỹ ở Paris, trao cho Marcovich một dự thảo thông điệp của Chính phủ Hoa Kỳ gửi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà Kissinger sẵn sàng trao cho phía Việt Nam chính thức hoặc không chính thức. Nếu Tổng đại diện Việt Nam đồng ý, Kissinger sẽ sang Paris trao tận tay thông điệp đó. Dự thảo thông điệp đó như sau:

Chính phủ Hoa Kỳ hiểu rằng lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là: Ngay khi Mỹ chấm dứt mọi hình thức đánh phá nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà không nói đến điều kiện, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể nhanh chóng tiến hành thảo luận có kết quả với Hoa Kỳ. Những thảo luận này có thể nhằm mục đích giải quyết những vấn đề giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Giả thiết cách hiểu trên đây là đúng với lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Hoa Kỳ sẵn sàng, thể theo thông điệp ngày 25 tháng 8, chuyển đến trước cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày tháng chính xác việc ném bom Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể chấm dứt và gợi ý ngày tháng và địa điểm cho việc bắt đầu thảo luận
" (Xem thêm: Mai Văn Bộ: Tấn công ngoại giao và tiếp xúc bí mật, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1985, tr. 149-150.).



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 12 Tháng Chín, 2009, 11:04:47 PM
Ông Aubrac nói đã rất ngần ngại khi đưa dự thảo thông điệp này. Khi đưa cho Mai Văn Bộ rồi, ông nói không biết từ nay chúng tôi còn có nên tiếp tục chuyển thông điệp của Mỹ không khi mà chính bản thân chúng tôi cũng thấy được là "vẫn có điều kiện". Có lẽ chúng tôi phải cắt đứt với Mỹ, nếu không Hà Nội sẽ nghĩ gì về chúng tôi.

Không, Hà Nội vẫn coi các ông là những người bạn có thiện chí, nhưng cho rằng các cuộc tiếp xúc bí mật với Mỹ đến đây là quá đủ.

Trong bức thư của Marcovich và Aubrac gửi Kissinger đầu tháng 11 năm 1967, có đoạn nói:

Chúng tôi nghĩ - và chúng tôi cần nói lên rõ ràng nhà cầm quyền của ông phạm sai lầm lớn, có lẽ sai lầm đó làm cho sự hoạt động của chúng tôi không đạt được kết quả nào, bằng việc liên tiếp ném bom chiếc cầu và thành phố Hà Nội ngày 15 tháng 8 và những ngày 21, 22, 23 tháng 8 trong khì, qua con đường của ông, ngày 17 tháng 8 Chính phủ Mỹ yêu cầu chúng tôi chuyển thông điệp đã được thảo ra sau khi chúng tôi từ Hà Nội trở về. Chúng tôi không có cách nào làm cho người Việt Nam hiểu rằng sự trùng hợp của hai sự tiên triển, sự leo thang mới và nghiêm trọng bằng việc ném bom đánh phá lần này thủ đô của họ và việc gửi một thông điệp tìm con đường thương lượng là ngẫu nhiên. Và thành thật mà nói, ông Henry thân mến, thật khó mà tin như vậy, khi báo chí về phần họ, cũng như chúng ta về phần chúng ta đều chỉ rõ rằng hai chuyến giao hàng đều do một người gửi - nếu ông cho phép tôi gọi người đứng đầu nước ông như thế?.

Sau những sự can thiệp của ông, một khi Hà Nội được loại ra khỏi danh sách mục tiêu ném bom - chúng tôi mong Hà Nội sẽ vĩnh viễn không bị ném bom nữa - thì những cuộc ném bom lại tăng cường đánh phá Hải Phòng, trong lúc chúng tôi và ông đang tìm cách xác định rõ thêm những con đường đưa tới thương lượng
".

Trong bức thư gửi Kissinger ngày 15 tháng 12 năm 1967, Mác-vô-vích viết:

"Nếu tôi được biết có vụ Marigold (Bông Cúc vạn thọ) chắc là tôi đã từ chối việc tiếp xúc từ cuối tháng 8"  (Mai Văn Bộ: Sđd, tr. 200-201).

Hai ông Aubrac và Marcovich đã tự mình rút kết luận về thái độ của các nhà cầm quyền Mỹ trong vấn đề "thương lượng không điều kiện" và sự "sẵn sàng tiếp xúc".   


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:16:37 PM
CHƯƠNG XVIII
CÔNG THỨC SAN ANTONIO:
CUỘC TIẾP XÚC BÍ MẬT CUỐI CÙNG

Để tỏ thiện chí, trong lúc các cuộc hành quân "tìm và diệt" được đẩy mạnh ở miền Nam Việt Nam và không quân leo thang đánh vùng mỏ Cẩm Phả - Quảng Ninh, một mục tiêu bị hạn chế trước đây, ngày 2 tháng 9 năm 1967, đại sứ Hoa Kỳ Althur Goldberg, đề nghị Hội đồng Bảo an thông qua một nghị quyết nêu năm nguyên tắc chủ yếu về vấn đề Việt Nam:

Một: Ngừng bắn phá hoàn toàn đi đôi với sự giảm cam kết quân sự.

Hai: Rút tất cả các lực lượng và từ bỏ tất cả các căn cứ không nằm dưới quyền kiểm soát của Bắc Việt Nam hay Nam Việt Nam.

Ba: Tôn trọng một giới tuyến và một khu phi quân sự giữa hai miền.

Bốn: Một giải pháp hoà bình để giải quyết vấn đề thống nhất do nhân dân Bắc và Nam Việt Nam quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài.

Năm: Có sự kiểm soát quốc tế đối với vấn đề đó.


Dự thảo nghị quyết đã bị bác bỏ.

Ngày 21 tháng 9, đại sứ Goldberg tuyên bố trong bài phát biểu tại phiên khai mạc khoá hai mươi ba Đại hội đồng Liên Hợp Quốc:

Hoa Kỳ sẽ hài lòng xem xét thảo luận mọi đề nghị có thể nhanh chóng dẫn tới các cuộc thảo luận có hiệu quả có thể mang lại hoà bình trong khu vực" (Bộ Quốc phòng Mỹ: Sđd, Phần VI-B, tr. 751.).

Người ta cho biết bài phát biểu này đã được phái đoàn Mỹ tại Liên Hợp Quốc, Bộ Ngoại giao và Nhà Trắng cùng soạn.

Đây là dấu hiệu của một điều gì Johnson sắp đưa ra.

Ngày 29 tháng 9 năm 1967 trước Hội nghị lập pháp toàn quốc ở San Antonio (Texas), Johnson đọc một bài diễn văn quan trọng, trong đó có đoạn:

Nhiều người hỏi tôi: Tại sao không thương lượng bây giờ? Câu trả lời là chúng ta và các đồng minh Nam Việt Nam của chúng ta đã chuẩn bị sẵn sàng để thảo luận ngay tối nay.

Tôi sẵn sàng nói chuyện với Cụ Hồ Chí Minh và Quốc trưởng nước khác có liên quan.

Tôi sẵn sàng cử Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Rusk đi gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của các vị ấy ngày mai.

Tôi sẵn sàng cử một đại diện có thẩm quyền của nước Mỹ đi bất cứ nơi nào trên trái đất để nói chuyện công khai hay bí mật với người phát ngôn của Hà Nội
".



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:17:38 PM
Tiếp đó, Johnson đã nêu những điều kiện cho việc ngừng ném bom:

Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng mọi hành động bắn phá bằng không quân và hải quân chống Bắc Việt Nam khi việc này ngừng nhanh chóng dẫn tới những cuộc thảo luận có hiệu quả. Chúng ta, đương nhiên, giả định rằng trong khi các cuộc thảo luận được tiến hành Bắc Việt Nam không được lợi dụng việc chấm dứt hạn chế ném bom” (Tài liệu Lầu Năm Góc: G.E, tập n7 tr. 206.).

Các nhà quan sát thấy bản tuyên bố này, - mà từ đó người ta gọi là công thức San Autonio không có gì mới, kể cả thứ văn chương hùng hồn của Johnson. Như Johnson đã nói, ông chỉ làm cái việc tiết lộ nội dung thông điệp ngày 25 tháng 8 năm 1967 đã chuyển cho Hà Nội qua tay các ông Aubrac và Marcovich.

Giải thích công thức San Autonio, Johnson viết:

Công thức đó phần nào mềm dẻo hơn đề nghị của chúng ta với Cụ Hồ Chí Minh hồi tháng 2. Chúng ta không đòi hỏi họ hạn chế hoạt động quân sự trước khi ngừng ném bom và khi việc ném bom đã chấm dứt, chúng ta không nhấn mạnh họ chấm dứt ngay cố gắng chiến tranh của họ mà chỉ đòi hỏi không tăng cường cố gắng đó. Do các nhà lãnh đạo Hà Nội hình như cảm thấy khó chấp nhận những cam kết về mặt quân sự, chúng ta nói rõ rằng chúng ta sẵn sàng hiểu họ sẽ không lợi dụng việc ngừng ném bom. Tất cả điều chúng ta đòi là việc ngừng ném bom nhanh chóng dẫn tới các cuộc nói chuyện về hoà bình và các cuộc nói chuyện đó phải có hiệu quả" (L.B.Johnson: Sđd, tr. 325.).

Đúng là lời lẽ có phần mềm dẻo hơn thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh hồi tháng 2 năm 1967, nhưng điều mà dư luận, trước hết là ở Mỹ trong mùa thu nóng bỏng năm 1967, không thể chấp nhận được vì trước sau đây vẫn là những cuộc thương lượng có điều kiện tức là đòi hỏi có đi có lại: ngừng ném bom đổi lấy nói chuyện, không được lợi dụng ngừng ném bom. Đây là những "cuộc nói chuyện không điều kiện" phát đi từ giảng đường Trường Đại học Johns Hopkin từ ngày 7 tháng 4 năm 1965.

Johnson đã thành công trong việc trình bày mềm dẻo hơn một lập trường cứng rắn. Sở dĩ như vậy vì các báo cáo của các quan chức Mỹ ở Sài Gòn quân sự cũng như dân sự đều tô vẽ tình hình miền Nam lúc bấy giờ là lạc quan. Về chính trị mâu thuẫn giữa Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã được coi là dàn xếp ổn thoả. Về quân sự, các chiến dịch "tìm và diệt" của Westemoreland đã giáng những đòn nặng nề vào các căn cứ của Việt cộng. Quân đội Sài Gòn có khả năng bảo đảm an ninh của Sài Gòn và vùng chung quanh. Khi Johnson hỏi Macnamara xem có phải tình hình quân sự ở miền Nam Việt Nam là không có lối ra như một số nhà quan sát nói không? Macnamara đã trả lời dứt khoát: "Không có bế tắc về mặt quân sự. Đó cũng là báo cáo chung của Macnamara, Thứ trưởng ngoại giao Katzenbach và tướng Wheeler sau khì đi nắm tình hình miền Nam tháng 7 năm 1967. Như vậy, trong năm bản lề trước cuộc bầu cử Tổng thống, việc thực hiện chiến lược chiến thắng được coi như rất thuận lợi.

Johnson sau này thừa nhận là lúc đó ông không biết rằng Việt cộng đang chuẩn bị chiến dịch quân sự rộng lớn nhất và nhiều tham vọng nhất trên toàn miền Nam Việt Nam.

Bộ máy ngoại giao Mỹ được huy động để giải thích và tuyên truyền cho công thức San Antonio, nhất là trong khi phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ mang tính chất quần chúng rộng rãi và đạt đỉnh cao từ khi nổ ra chiến tranh và trên thế giới thì sự thức tỉnh của lương tri loài người biểu thị một sức mạnh mới tại khoá họp thứ hai của Toà án Bertrand Russell khai mạc tại Copenhagen ngày 20 tháng 11 năm 1967.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:18:45 PM
*
*   *

Trong phụ lục VII cuốn Hồi ký của Johnson có ghi "Do sáng kiến của Ru-ma-ni: tiếp xúc ở Hà Nội từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 2 năm 1968”.

Tháng 1 năm 1967, khi các cuộc tiếp xúc giữa Lê Trang và Guthrie bắt đầu tại Mát-xcơ-va, đại sứ Mỹ ở Bucarest đã gặp Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Ru-ma-ni và yêu cầu chuyển cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông điệp sau đây: Mỹ muốn gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một cách bí mật. Mỹ cũng sẵn sàng thảo luận với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Mỹ sẵn sàng lấy Hiệp nghị Genève năm 1954 và lập trường bốn điểm của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và lập trường năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng làm cơ sở thảo luận. Mỹ sẽ chấm dứt không ném bom miền Bắc Việt Nam nếu có dấu hiệu... Hà Nội đã không đáp ứng yêu cầu này vì khi đó Guthrie đã gặp Lê Trang ở Mát'xcơ-va.

Ru-ma-ni cho rằng Mỹ muốn rút khỏi miền Nam Việt Nam còn phía Việt Nam cũng muốn chấm dứt chiến tranh.

Bộ Ngoại giao Ru-ma-ni đã mời đại sứ Mỹ David tại Bucarest đến và nói ý kiến của Ru-ma-ni là trong tình hình hiện nay, Mỹ nên đi bước trước ngừng ném bom không điều kiện và vĩnh viễn Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhấn mạnh rằng đây là hoạt động ngoại giao bình thường của Ru-ma-ni, không phải là lời nhắn của Hà Nội.

Nhận được báo cáo của David, Bộ Ngoại giao Mỹ cử ngay Averell Harriman đi Bucarest ngày 27 tháng 11. Trong các cuộc tiếp xúc với các quan chức Ru-ma-ni, Harriman giải thích lập trường của Mỹ theo công thức San Autonio và quả quyết rằng ông ta được Tổng thống Johnson cho phép tuyên bố là Mỹ sẵn sàng chấp nhận các gợi ý của Việt Nam và trao đổi với phía Việt Nam những tuyên bố công khai hay bí mật, sẵn sàng tiếp nhận những gợi ý bổ sung làm cho công thức San Autonio tốt hơn. Cuối cùng, Harriman yêu cầu phía Ru-ma-ni thông báo lập trường này cho Hà Nội và cho phía Mỹ biết mọi điều kiện của phía Việt Nam.

Bucarest cử G.Macovescu, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao sang Hà Nội. Ngày 17 tháng 12, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tiếp Macovescu.

Sau khi trình bày thông báo của Harriman, Macovescu nói nhận xét của mình, đại ý:

Mỹ bị sức ép của dư luận nên phải tìm một giải pháp thoát ra khỏi chiến tranh, những điều kiện đã được tạo ra để tiến tới thương lượng. Phía Việt Nam cần tìm một cử chỉ chính trị nào đó tất nhiên với điều kiện là việc ném bom miền Bắc phải được chấm dứt và cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn ở miền Nam. Ngay dù các tuyên bố đó của Mỹ chỉ là một âm mưu thì cũng cần tạo ra các điều kiện cần thiết để vạch mặt Mỹ, tố cáo trước dư luận thế giới sự gian dối của họ, đập tan các luận điệu của Mỹ nói rằng chỉ Mỹ muốn thương lượng còn Việt Nam thì không. Nếu ta không có cử chỉ nào theo hướng thương lượng thì dư luận thế giới hiện nay đang thuận lợi cho Việt Nam có thể thay đổi có lợi cho Mỹ. Họ sẽ nói họ muốn thương lượng nhưng không nhận được dấu hiệu của phía bên ta.

Ở Liên Hợp Quốc, Đại biểu của tất cả các nước quan tâm ngày càng sâu sắc đến việc chiến tranh kéo dài ở Việt Nam, việc chưa tìm thấy một giải pháp hoà bình cho cuộc xung đột. Rất có thể Mỹ sẽ tăng cường chiến tranh ở Việt Nam. Theo Harriman, Johnson bị sức ép phải tăng cường chiến tranh. Hãy cho Johnson, cho phái bồ câu và những người có đầu óc thực tế một cơ hội tìm giải pháp cho chiến tranh và thương lượng với người Việt Nam
”.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:19:36 PM
Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói:

- Mỹ vẫn tiếp tục chính sách hai mặt: một mặt tiếp tục và tăng cường chiến tranh mặt khác, dưới sự thúc ép của dư luận thế giới và phong trào chống chiến tranh ở Mỹ buộc phải có hành động lừa bịp và xoa dịu dư luận. Vì vậy bên cạnh hành động chiến tranh của Mỹ có hành động lừa bịp về thương lượng hoà bình. Nhưng chính sách của Mỹ bây giờ là tiếp tục và tăng cường chiến tranh.

Trong đề nghị của Harriman đáng chú ý là ông ta đã nói Mỹ sẽ ngừng ném bom vĩnh viễn. Ngày 28 tháng 1 năm nay chúng tôi đã đòi Mỹ ngừng ném bom không điều kiện. Chữ vĩnh viễn có nghĩa lắm, nhưng Mỹ lại đề ra điều kiện cho việc ngừng ném bom; phải nói chuyện nghiêm chỉnh và có hiệu quả, và không tăng thêm viện trợ cho miền Nam nên lời nói của ông Harriman mất ý nghĩa, không có gì mới so với trước.

Việt Nam đã nói rõ lập trường của mình nhiều lần: cơ sở để giải quyết vấn đề là bốn điểm đề ra từ ngày 8 tháng 4 năm 1965; để nói chuyện thì có tuyên bố ngày 28 tháng 1 năm 1967 của đồng chí Nguyễn Duy Trinh. Đó là lập trường nguyên tắc không có nhân nhượng. Việt Nam không phản đối nói chuyện, phải có nguyên tắc. Mỹ phải chấm dứt đánh phá miền Bắc không điều kiện. Sau khi ngừng ném bom một thời gian để thử thách lòng thành thật của Mỹ sẽ có nói chuyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Việt Nam không bao giờ nói chuyện với Mỹ dưới bom đạn hay dưới sự đe doạ của bom đạn. Dư luận thế giới ngày càng đồng tình với lập trường đó. Nói chuyện hay không là tuỳ Mỹ, Việt Nam đã sẵn sàng.

Chúng tôi đồng ý là cần vận động dư luận ủng hộ Việt Nam, hơn nữa, cần giúp cho phái bồ câu tiến lên nữa. Đó là chính sách đúng đắn, khôn ngoan cần phải làm. Vì vậy, đến một lúc nào đó thì Việt Nam có thể tiếp xúc với Mỹ. Và khi đã nói chuyện là phía Việt Nam nghiêm chỉnh, còn nói chuyện có kết quả hay không là do phía Mỹ. Không ai có thể nói trước là nói chuyện sẽ có kết quả hay không có kết quả.
Johnson rất lúng túng, chỉ muốn phía Việt Nam để cho Mỹ vượt qua được năm khó khăn trước tuyển cử, còn lập trường của Mỹ vẫn là lập trường chiến tranh. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh này, nếu Mỹ chịu ngừng ném bom không điều kiện thì Việt Nam cũng nhận lời nói chuyện, dù biết rằng Mỹ chưa thành thật. Còn Mỹ muốn làm chiến tranh thì Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu
”.

Đầu tháng Giêng năm 1968, một quan chức ngoại giao cao cấp Ru-ma-ni sang Washington để trực tiếp trao trả lời của Hà Nội cho Mỹ. Phía Mỹ cho rằng không có gì mới trong lập trường của Hà Nội và không có gì khác với điều họ đã nói trước đây nhưng đánh giá thông báo của Ru-ma-ni là rất chính xác và khách quan. Tháng hai, Ru-ma-ni lại chuyển cho Bộ Ngoại giao Mỹ trả lời cho Hà Nội qua con đường ngoại giao. Johnson vẫn cho rằng mọi cố gắng bắt liên lạc với Hà Nội và nói chuyện về hoà bình là "vô ích".

Đến đây chấm dứt các cuộc tiếp xúc bí mật giữa Mỹ và Việt Nam.

Hơn hai mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt, nhiều nhà học giả Mỹ nêu lên vấn đề "Những cơ hội hoà bình bị bỏ lỡ". Cách đặt vấn đề của họ là: trong thời gian 1965-1967, Mỹ đã nhiều lần "ngừng ném bom", tìm cách tiếp xúc với Hà Nội nhằm đi tới nói chuyện, nhưng hai bên không đi tới nói chuyện. Liệu có cơ hội nào bỏ lỡ không?

Cuối năm 1996, ông Macnamara sang Hà Nội để bàn việc tổ chức hội thảo Mỹ - Việt về "những cơ hội bị bỏ lỡ’. Chúng ta biết ông Macnamara là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Johnson và sau xin từ chức, tách ra khỏi ê-kíp Johnson vì bất đồng ý kiến về vấn đề chiến tranh Việt Nam. Năm 1995, đúng hai mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, ông công bố cuốn hồi ký nổi tiếng nêu những sai lầm của Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Ta hoan nghênh ý kiến của ông Macnamara và tháng 6 năm 1997, các nhà nghiên cứu hai nước gồm những quan chức đã tham gia hoạch định chính sách thời chiến tranh, các tướng lĩnh đã từng chỉ huy ở Việt Nam, các nhà sử học, một số nhân chứng đã họp tại Hà Nội. Kết quả lớn nhất đạt được là hai bên càng hiểu nhau thêm.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:20:13 PM
Nói là có tiếp xúc bí mật nhưng cũng có những cuộc tiếp xúc qua trung gian. Các nhà học giả Mỹ đã nêu những trường hợp Mỹ ngừng ném bom miền Bắc mà cuốn sách này đã kể lại: Hoa tháng năm, Bông Cúc vạn thọ, Hoa Hướng dương, XYZ, Pin ta, Pensylvania. Các sáng kiến hoà bình này của Mỹ được đưa ra từ tháng 4 năm 1965 đến hết năm 1967. Thời kỳ này là thời kỳ Mỹ phát động cuộc chiến tranh lớn đối với cả hai miền Việt Nam và ngày càng đẩy mạnh chiến tranh nhằm giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968.

Để hình dung được mức độ chiến tranh, chỉ cần nhớ lại rằng đến cuối năm 1967, tổng số quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã lên tới năm trăm nghìn người. Chính Johnson đã nói trong Hồi ký của ông rằng kế hoạch chiến tranh của ông bao giờ cũng có phần hoạt động ngoại giao, chính trị đi kèm. Bản tuyên bố Baltimore nói Mỹ sẵn sàng "nói chuyện không điều kiện" và sẽ đóng góp một tỷ đô-la để phát triển Đông Nam Á kể cả Bắc Việt Nam chỉ là để các nhà ngoại giao Mỹ đi khắp thế giới nêu "thiện chí hoà bình" của Johnson.

Đợt ngừng ném bom ba mươi bảy ngày là để Johnson tiến hành cuộc vận động ngoại giao có tầm cỡ hành tinh, cuộc vận động ngoại giao lớn nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông. Ngoại giao của Johnson chỉ là để giải thích việc đưa quân Mỹ trực tiếp chiến đấu ở miền Nam Việt Nam và che giấu việc tăng cường chiến tranh sau đó. Cái gọi là "nói chuyện không điều kiện" chỉ có nghĩa là nói chuyện theo điều kiện của Mỹ. Cái gọi là "các sáng kiến hoà bình" chỉ là nhằm che giấu âm mưu mở rộng chiến tranh.

Khi quân Mỹ trắng trợn chà đạp lãnh thổ Việt Nam, ném bom bắn phá miền Bắc, làm sao người Việt Nam có thể tin ngay luận điệu "nói chuyện không điều kiện", "các sáng kiến hoà bình". Trong thời gian đầu của chiến tranh, hai bên tham chiến còn nghi ngờ nhau, còn phải tìm hiểu nhau, cố giành ưu thế là chuyện tất nhiên. Lùi hai mươi năm, nhìn lại các "sáng kiến hoà bình" của Johnson trong thời kỳ đầu chiến tranh, người ta dễ hiểu tại sao nó không gây được tiếng vang nào về phía Việt Nam. Các sáng kiến đó đã bị thất bại chứ không bị bỏ lỡ.

Nếu phía Mỹ thật sự mong muốn có quan hệ hữu nghị, hoà bình và bình đẳng đối với Việt Nam thì trái lại chính là có cơ hội mà Mỹ đã bỏ lỡ.

Cơ hội Mỹ bỏ lỡ đầu tiên là sau cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi đó Việt Nam đã hợp tác với đồng minh trong chiến tranh chống Nhật Bản, không những Việt minh giúp đỡ Mỹ về tin tức cứu hộ các phi công Mỹ mà ngay Mỹ cũng đã cử một bộ phận sang khu giải phóng làm việc với Việt minh, cung cấp một số vũ khí cá nhân, điện đài cho Việt minh. Việt minh đã lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, giành lại Chính quyền từ tay phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần kêu gọi Mỹ và đồng minh công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, giúp Việt Nam giữ vững độc lập. Nhưng các nhà lãnh đạo Mỹ không đáp ứng yêu cầu của Chính phủ Việt Nam mà còn công nhận Pháp có "chủ quyền" ở Đông Dương và giúp Pháp tái chiếm Việt Nam, Lào, Campuchia, cột Mỹ vào cuộc chiến tranh Đông Dương cho đến Điện Biên Phủ. Ai biết tình hình Đông Dương sẽ diễn biến thế nào nếu Mỹ công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và không viện trợ cho thực dân Pháp. Ít nhất Mỹ cũng tránh khỏi "dính líu” vào Việt Nam và giữ được bộ mặt đẹp đẽ trong lòng người Việt Nam.

Cơ hội bỏ lỡ thứ hai là không thi hành Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam. Mỹ đáng lẽ phải hiểu hơn ai hết rằng chính Mỹ, sau khi Hội nghị đã họp rồi, vẫn ngăn cản Anh, Pháp sớm đi đến kết thúc chiến tranh Đông Dương và chỉ sau khi Thủ tướng Anh Winston Churchill và Ngoại trưởng Anthony Êden đến Washington bàn với Mỹ ngày 24 tháng 6 năm 1954 và hai bên thoả thuận giải quyết vấn đề Đông Dương theo bảy điểm sau này được ghi trong một bản bị vong lục gửi Pháp. Hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 đã đáp ứng yêu cầu của Mỹ trong bảy điểm đó. Như vậy Hiệp định Genève là một Hiệp định quốc tế đã được sự đồng ý của cả năm nước lớn: Anh, Mỹ, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:21:04 PM
Từ ngày 18 tháng 6, Pháp đã chịu để Ngô Đình Diệm, người của Mỹ, về Sài Gòn làm Thủ tướng thay Hoàng thân Bửu Lộc. Phía Việt Nam đã chấp nhận giải pháp Genève dù có điều chưa thoả mãn và quyết tâm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định như thực tế sau này chứng tỏ.

Tại sao Mỹ không chịu ký Hiệp định Genève và ngay ngày bế mạc Hội nghị tuyên bố không bị Hiệp định Genève ràng buộc? Mỹ đã dùng Ngô Đình Diệm phá hoại việc thi hành Hiệp định đó, phá hoại việc tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam, biến miền Nam thành Việt Nam Cộng hoà, một Quốc gia riêng rẽ. Cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi mốt năm mà Mỹ phải nai lưng ra gánh chính là bắt nguồn từ sự sai lầm tày trời này. Đây là hơn một sự sai lầm, mặc dầu cũng là một sự bỏ lỡ.

Cơ hội bỏ lỡ thứ ba là đề nghị của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam về việc đưa miền Nam Việt Nam vào con đường hoà bình, trung lập. Cơ hội này vào thời điểm chính sách can thiệp và ủng hộ Ngô Đình Diệm đã thất bại nghiêm trọng: chế độ Ngô Đình Diệm tàn ác đến mức toàn dân miền Nam và cả nhiều tầng lớp thành thị đều phẫn nộ, miền Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng chính trị, quân sự triền miên. Nhà Trắng phải tính chuyện "thay ngựa giữa dòng".

Thấy sự sa lầy của Mỹ, nhiều nhà chính trị của Mỹ người thì khuyên nên rút lui khỏi miền Nam Việt Nam, người thì khuyên nên biến miền Nam và cả Đông Nam Á thành trung lập. Tướng De Gaulle cũng khuyên để miền Nam đi vào hoà bình trung lập. Ngay từ khi được thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cũng đã nêu việc xây dựng miền Nam hoà bình trung lập. Sau khi nổ ra cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 khiến anh em Diệm-Nhu bị sát hại, Mặt trận lại đề nghị các đảng phái chính trị miền Nam thành lập Chính phủ Liên hiệp Dân tộc và đưa miền Nam tiến lên theo con đường hoà bình trung lập. Khi đó Việt Nam và Mỹ đều thống nhất quan điểm về trung lập theo các quy định của Hiệp định Genève năm 1962 về Lào, mà Việt Nam và Mỹ đều đã ký. Như thế Mỹ không những giữ được một Chính quyền hoàn toàn thân Mỹ nhưng lại vẫn bảo vệ quyền lợi của Mỹ, trước mắt tránh cho Mỹ một cuộc chiến tranh không thể thắng được.

Không tán thành ổn định miền Nam bằng một chính phủ đoàn kết dân tộc, Mỹ lại ủng hộ các phe quân sự, chính trị, khiến miền Nam Việt Nam phải trải qua hơn một chục cuộc đảo chính trong vòng hơn một năm của Chính quyền Johnson trong hai năm đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam, dù có tạm ngừng hay không tạm ngừng ném bom, chỉ là những sáng kiến để che giấu việc đẩy mạnh chiến tranh ở cả hai miền Việt Nam và tất nhiên không được đáp ứng tích cực, do đó cũng không thể là những cơ hội bỏ lỡ.

Những cơ hội mà Mỹ đã bỏ lỡ nằm trong khoảng thời gian trước khi Mỹ dính líu sâu vào miền Nam, Hoặc phải có những thay đổi so sánh lực lượng quan trọng mới có cơ hội cho Việt Nam và Mỹ ngồi vào bàn thương lượng và bàn bạc nghiêm chỉnh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:21:46 PM
CHƯƠNG XIX
CUỘC TIẾP XÚC CÔNG KHAI

Trước sự thất bại trong các cố gắng của Bucarest về công thức San Antonio, Johnson lại phải suy nghĩ về câu hỏi mà Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Macnamara đã nêu hồi tháng 9 năm 1967: Nếu việc tăng thêm quân không cải thiện được tình hình Việt Nam thì làm gì? ông cũng cảm thấy nhưng không tìm được câu trả lời. 

Cuối tháng 10 năm 1967, khi ăn cơm với Tổng thống, Macnamara lại tuyên bố rằng: Theo ông nghĩ, việc Mỹ theo đuổi hành động của mình ở Đông Nam Á là nguy hiểm, tốn kém và không thoả mãn lòng dân. Theo yêu cầu của Tổng thống, ông đã gửi Tổng thống một bản báo cáo viết để trình bày quan điểm của ông. Ông cho rằng các tướng lĩnh Mỹ ở miền Nam Việt Nam sẽ bị những tổn thất mới và sẽ có những yêu cầu mới như mở rộng đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Nhưng vấn đề là trong trường hợp đó Mỹ có duy trì được cố gắng của mình ở Nam Việt Nam trong thời gian cần thiết để đạt các mục đích của Mỹ hay không.

Ông nêu những giải pháp thay thế có thể có được nhưng lại bác bỏ từng giải pháp một với lý do nó sẽ dẫn tới những hậu quả mở rộng chiến tranh. Ông cho rằng các giải pháp thay thế nằm trong việc ổn định các cuộc hành quân của Mỹ ở miền Nam (với việc thương vong của Mỹ) và hoạt động không quân của Mỹ ở miền Bắc cũng như việc chứng tỏ rằng các cuộc oanh kích của Mỹ không ngăn cản các cuộc thương lượng dẫn tới một giải pháp hoà bình.

Ông kiến nghị ngừng ném bom miền Bắc từ nay đến cuối năm. Ngừng ném bom như vậy có hai điều lợi: hoặc là Hà Nội có đáp lại, nghĩa là song song giảm hoạt động tiến công của họ hay đưa ra một sáng kiến gì đó dẫn tới nói chuyện hoà bình hay cả hai. Nếu Hà Nội không phản ứng thì cũng rõ là Hà Nội chứ không phải Mỹ ngăn cản một giải pháp hoà bình.

Macnamara kết luận báo cáo của ông bằng ba kiến nghị: thông báo ý định của Mỹ là ổn định cố gắng của mình (tức là ấn định một mức quân số - tác giả) và không phát triển các cuộc hành quân ở miền Nam, miền Bắc quá mức đã dự định; ngừng ném bom trước cuối năm 1967 và lại nghiên cứu các cuộc hành quân ở miền Nam nhằm giảm bớt thương vọng của lính Mỹ và tăng thêm trách nhiệm của quân đội Sài Gòn để tự đảm nhiệm an ninh của họ.

Đề nghị của Macnamara đánh dấu sự bất đồng ý kiến sâu sắc của ông với Tổng thống và còn kéo dài cho tới khi ông từ chức. Đối với Johnson đó là vàn đề sẽ còn theo đuổi, ám ảnh ông có lẽ cho đến khi tiếng súng Tết Mậu Thân buộc ông phải có sự lựa chọn. Ông hỏi ý kiến tất cả các Cố vấn của ông ở Nhà Trắng, ngoài Nhà Trắng và các tướng lĩnh chỉ huy ở miền Nam Việt Nam. Ngoại trưởng Dean Rusk đồng ý với Macnamara là nên cố định quân số ở một mức nào, đồng ý để các quan chức Sài Gòn có nhiều trách nhiệm hơn đối với an ninh của quân Sài Gòn, không tin việc ngừng ném bom dài ngày có thể có kết quả nhưng đồng ý nên giảm bớt ném bom vùng Hà Nội, Hải Phòng. Cố vấn an ninh Nhà Trắng Rostow, bấy giờ là Cố vấn của Tổng thống, cho gợi ý của Mácnamara là một "chiến lược thụt lùi". Clark Clifford sau này sẽ thay Macnamara làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cho rằng đó là một kế hoạch sẽ làm chậm khả năng chấm dứt xung đột, không tán thành ấn định quân số. Tướng Westmoreland kiên quyết phản đối ngừng ném bom miền Bắc, hy vọng mức quân số năm trăm hai mươi lăm nghìn sẽ không phải vượt và tin rằng từ nay đến cuối năm 1969 Mỹ có thể bắt đầu rút lực lượng Mỹ và sau đó giảm bớt cam kết của Mỹ một cách có kế hoạch. Đại sứ Ellsworth Bunker cho rằng vấn đề ấn định quân số tuỳ thuộc Hà Nội có phát triển thêm hoạt động quân sự không, và phản đối thả mìn các cảng và đánh phá đê điều.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:22:37 PM
Johnson dành hàng tuần suy nghĩ về đề nghị của Macnamara và ngày 18 tháng 12 năm 1967, ông thảo một bị vong lục để đưa vào lưu trữ trong đó ông ghi ý kiến của ông về đề nghị của Macnamara:

- Ngừng ném bom đơn phương và hoàn toàn vào lúc này là một sự sai lầm nhưng không loại trừ một đợt ngừng ném bom tương lai nếu chúng ta có lý do để tin là chúng ta tiến lại gần hoà bình.

- Phản đối thông báo rằng chúng ta ấn định mức quân số. Không có lý do gì tăng thêm quân Mỹ và đồng ý với đề nghị của Macnamra về việc Mỹ giảm các cuộc hành quân đề giảm thương vong về lính Mỹ.

Như chính Johnson đã viết trong Hồi ký, đây là một "quyết định đặc biệt" trong nhiệm kỳ Tổng thống của ông. Quyết định đó nêu sự lúng túng của nhà cầm quyền Mỹ trong việc ra một quyết định về Việt Nam trong bối cảnh năm 1967.

Sau khi đi Australia và miền Nam Việt Nam, cuối tháng 12 năm 1967, Johnson đi Vatican thăm Giáo hoàng Paul VI để trình bày chính sách Việt Nam của Mỹ, yêu cầu Giáo hoàng quan tâm số phận các tù binh Mỹ ở Việt Nam. Ông hài lòng là chuyến đi vòng quanh thế giới của ông "đã được trả công đích đáng".

Khi đó Tết âm lịch Việt Nam sắp đến. Tình báo Mỹ cho biết cuộc tấn công mùa đông của Việt cộng sẽ xảy ra vào dịp Tết. Khoảng một tuần trước cuộc tấn công của Việt cộng, tướng Westmoreland báo có khả năng vùng 1 chiến thuật trong đó có cố đô Huế bị tấn công và lưu ý rằng căn cứ Khe Sanh giống căn cứ Điện Biên Phủ trước đây và cần đề phòng địch tập trung cố gắng đánh chiếm chớp nhoáng Khe Sanh để tuyên truyền; Quảng Trị và Đà Nẵng cũng có thể bị tấn công.

Trong diễn văn về tình hình liên bang đọc trước Quốc hội ngày 17 tháng 1 năm 1968, Tổng thống Johnson nói về tình hình Việt Nam mọi việc như không có gì đặc biệt. Về sau này ông nói rằng ông đã "quá cẩn thận", sợ hé điều gì thì kẻ địch sẽ hiểu là chúng ta nắm được kế hoạch của họ.

Sự giải thích đó rõ ràng không đúng với thực tế vì nó không giải thích sự bàng hoàng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc khi cuộc tấn công Tết Mậu Thân bùng nổ. Khi Bộ Tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn đề phòng một Điện Biên Phủ ở Khe Sanh và chuẩn bị đối phó với Việt cộng ở vùng chiến thuật 1 thì các cuộc tiến công nổ đồng loạt khắp miền Nam, ở ngay Sài Gòn, ngay trong sứ quán Mỹ.

Trong lúc Nhà Trắng và Lầu Năm Góc tung quân Mỹ đi "tìm và diệt" Việt cộng và ra sức leo thang đánh phá miền Bắc, họ đã bị mất nhiều máy bay trên miền Bắc còn ở miền Nam thì các chiến dịch đầu tiên của quân Mỹ đều bị thất bại.

Sau mùa khô 1965-1966, rồi mùa khô 1966-1967, cục diện chiến trường đã xoay chuyển có lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu gây cho Mỹ một thất bại quân sự lớn trong lúc này thì không những cục diện chiến trường tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam mà còn tác động mạnh mẽ vào tình hình nước Mỹ đang tiến tới cuộc bầu cử Tổng thống cuối năm 1968.

Từ nhận định đó, Bộ Chính trị và Hội nghị Trung ương lần thứ XIV quyết định: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ thắng lợi quyết định", dùng phương pháp Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Nguyên đán.

Kế hoạch là: Cùng với đòn tiến công của bộ đội chủ lực vào chiến trường chính hướng đường 9 - Khe Sanh nhằm thu hút giam chân lực lượng chiến lược của địch, một đòn tiến công của chiến lược đánh vào thị xã, thành phố quy mô trên toàn miền Nam, kết hợp với nổi dậy đồng loạt của quần chúng nông thôn và đô thị, mở đầu cho Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa, lấy chiến trường chính là Sài Gòn - Gia Định và Trị Thiên-Huế, trọng điểm là Sài Gòn, Huế và các thành phố lớn miền Nam .


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:23:14 PM
Thực hiện kế hoạch trên, đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1 năm 1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân), lực lượng vũ trang của ta đồng loạt tiến công địch, đánh thẳng vào thành phố, thị xã, các quận lỵ, căn cứ, kho tàng, sân bay, sở chỉ huy địch. Tại Sài Gòn ta tiến công vào các cơ quan đầu não của Mỹ - Nguỵ: đại sứ quán Mỹ, Bộ Tổng tham mưu, Đài Phát thanh, Bộ Tư lệnh biệt khu Thủ đô, Bộ Tư lệnh hải quân, Sân bay Tân Sơn Nhất, Tổng nha Cảnh sát, khu kho Nhà Bè, Trại thiết giáp Phù Đổng, Xưởng quân cụ 80, Trại pháo binh Cổ Loa, Trung tâm huấn luyện Quang Trung, Căn cứ truyền tin Phú Lâm, suốt từ Quảng Trị đến Cà Mau địch đều bị đánh. Johnson xác nhận ba mươi sáu trong số bốn mươi nhăm thị xã, năm trong sáu thành phố lớn, hai mươi lăm phần trăm các quận lỵ bị tiến công, riêng Huế bị chiếm trong hai mươi sáu ngày. Nhiều vùng nông thôn được giải phóng. Tin Reuter cho biết “chương trình bình định" bị thiệt hại nặng ở mười ba tỉnh, thiệt hại vừa ở mười sáu tỉnh.

Choáng người vì cuộc Tổng tiến công bất ngờ trên toàn miền Nam, Johnson lại càng bối rối trước tình hình chung của nước Mỹ lúc bấy giờ. Một đội đặc công Bắc Triều Tiên thâm nhập Hàn Quốc nhằm mưu sát Tổng thống Pac Chung Hi; rồi Bắc Triều Tiên lại chiếm chiếc tàu do thám của Mỹ Pueblo, tống giam toàn bộ đoàn thuỷ thủ. Johnson phải gọi mười bốn nghìn quân dự bị thuộc hải quân và không quân để củng cố các vị trí của Mỹ tại Hàn Quốc và số quân này không lấy trong số quân cần gửi sang miền Nam Việt Nam.

Tình báo lại báo cáo Tây Berlin có nguy cơ một cuộc khủng hoảng mới. Hệ thống tiền tệ quốc tế bị khủng hoảng nặng. Ngân sách Mỹ thâm hụt nghiêm trọng nhất từ 1950 đến nay. Kế hoạch xây dựng "xã hội vĩ đại" mà Johnson đã hứa trong cuộc vận động bầu cử thiếu tiền, nay Johnson muốn thúc đẩy nó lên, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, chống tội phạm và bảo vệ người tiêu thụ nhưng vẫn chưa có ngân sách.

Tin tức, phóng sự, hình ảnh về Sài Gòn và sứ quán Mỹ tác động mạnh mẽ đến người dân Mỹ, họ thấy đó là những hình ảnh rõ ràng của sự thất bại. Nếu đầu năm 1967 Salsbury gửi loạt bài từ Hà Nội, người dân Mỹ mới thấy sự ác liệt của chiến tranh và những tội ác của bom đạn Mỹ ở miền Bắc Việt Nam thì đầu năm 1968 vô tuyến truyền hình đưa vào từng nhà người Mỹ hình ảnh cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam. Các tổ chức phản chiến tăng cường hoạt động đòi chấm đứt chiến tranh, đòi chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam, đòi thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Johnson gọi đó là cuộc pháo kích hàng ngày để gieo rắc chủ nghĩa bi quan.

Johnson đối phó khá dễ dàng với tình hình bán đảo Triều Tiên, bao gồm cả việc tăng cường thêm hải quân và không quân. Nhưng tình hình Việt Nam đòi hỏi giải quyết nhiều vấn đề và không vấn đề nào là dễ giải quyết cả. Trước hết có yêu cầu trước mắt của Tư lệnh chiến trường. Tướng Westmoreland khi đó có trong tay gần năm trăm nghìn quân trong tổng số hai trăm năm mươi hai nghìn đã phê chuẩn. Ông yêu cầu gửi gấp sáu tiểu đoàn, khoảng mười nghìn quân.

Trong khi đó, Nguyễn Văn Thiệu quyết định tổng động viên nhằm bắt ngay năm mươi sáu nghìn quân. Các chuyên gia bắt tay vào việc mới thấy vấn đề không đơn giản, trái lại với hàng loạt vấn đề chính trị, quân sự, tài chính như vai trò quân Sài Gòn đến đâu để định số quân Mỹ, có gọi lính dự bị không, tốn thêm bao nhiêu tiền và lấy tiền ở đâu? Johnson lập nhóm chuyên viên Clifford, người sẽ thay Macnamara làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng từ ngày 1 tháng 3 năm 1968 làm Trưởng đoàn và bao gồm những cộng sự tin cậy và tài ba của Johnson: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dan Rusk, Bộ trưởng Bộ Tài chính Fowler, Thứ trưởng Ngoại giao Nicôlas Katzenbach, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Paul Nitze, Giám đốc CIA Dick Helms, Cố vấn An ninh Walt.Rostow, Tướng Maxwell Taylor và một số nhân vật khác.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:24:15 PM
Mới đầu nhóm đề ra ba phương án: phương án một: Tăng bốn trăm nghìn quân với ngân sách bổ sung mười tỷ đô-la trong năm 1969; phương án hai: Tăng quân kết hợp với hạn chế ném bom tới Nam vĩ tuyến 20 để đề nghị hoà bình; phương án ba: Do Macnamara đưa ra là giữ quân số ở mức hiện nay và sửa đổi chiến lược chỉ bảo vệ các vùng chủ yếu và giảm bớt các cuộc hành quân trong các vùng ít dân. Clifford đề nghị phương án bốn: Tăng viện thêm từ năm trăm nghìn đến một triệu quân. Hỏi các tướng Wheeler và Westmoreland, họ cho rằng cần tăng viện hai trăm linh năm nghìn quân, nhưng trong hai tháng trước mắt tăng ngay một trăm linh tám nghìn quân. Ý kiến của hai nhân vật quan trọng nhất là của Tư lệnh ở miền Nam Wheeler và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Macnamara. Macnamara cho rằng không nên tăng quá mức mười lăm nghìn quân đã dự kiến và tăng thêm trách nhiệm tác chiến cho quân Sài Gòn. Wheeler cho rằng nên giữ ý kiến ông ta đưa ra trước mắt gửi hơn một trăm nghìn quân sang ngay miền Nam.

Trong lúc các cuộc bàn luận tiếp tục mà chưa đi đến kết luận gì có nhiều tin quan trọng tác động đến cách suy nghĩ của mọi người. Trước hết là báo cáo của Westmoreland cho biết Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu có một trăm mười tám tiểu đoàn sẵn sàng chiến đấu. Thứ hai là những tin liên tiếp từ U Than, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, nhiều nhà ngoại giao Đông Âu, nhiều đại sứ Mỹ ở nước ngoài cho biết Hà Nội sẽ nhận thương lượng với Mỹ nếu Mỹ chịu chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam.

Như vậy vấn đề tăng viện cho đội quân Mỹ ở miền Nam lại gắn với khả năng quân Sài Gòn thay thế quân Mỹ một chừng mực nào, với vấn đề Việt Nam. Dean Rusk kiên trì ý kiến cứ ngừng ném bom miền Bắc không cần tuyên bố, không cần đòi có đi có lại, nhưng do mùa mưa bắt đầu có thể chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trở lên, như vậy về quân sự cũng chẳng thiệt hại gì.

Cuối cùng nhóm Clifford kiến nghị tăng viện ngay cho miền Nam hai mươi ba nghìn quân, đòi Chính quyền Sài Gòn tăng thêm quân số, chuẩn y ngay việc động viên hai trăm bốn mươi lăm nghìn quân dự bị, nghiên cứu thêm những "chỉ thị mới về chính trị và chiến lược" về Việt Nam và không đề một sáng kiến hoà bình mới nào về Việt Nam.

Để có những ý kiến rộng rãi và khách quan, Johnson lại triệu tập các Cố vấn phi Chính phủ (thường gọi là các nhà quân sư) như cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dean Acheson, cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao George Ball, Tướng Omar Bradley, Mac George Bundy, Arthur Dean (người tham gia cuộc thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh Triều Tiên), cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Douglas Dillon, đại sứ Hen ri Cabot Lodge, nhà ngoại giao Robert Murphy, Tướng Mathew Ridway, cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Cyrus Vance. Ông cũng tham khảo ý kiến những nhân vật có thế lực trong Quốc hội.

Có nhiều công thức hoà bình được trình lên Tổng thống. Ridway đã đề nghị ngừng ném bom thực tế, không nêu bất cứ điều kiện hay giả định gì. Công thức của một nhà ngoại giao trung lập là: một Chính phủ trung lập hay một cường quốc nào khác mời Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Hoa Kỳ họp vào một ngày nào đó, một ngày trước khi họp các bên tham chiến sẽ giảm hoạt động quân sự bao gồm cả việc ngừng mọi cuộc hành quân tiến công quy mô; các thành viên trong Uỷ ban Quốc tế cũng sẽ được mời dự họp; không cần thoả thuận trước, đến ngày đã định cuộc họp cứ tiến hành dù các bên được mới có đến hay không.

Đại sứ Mỹ Arthur Goldberg đề nghị ngừng ném bom hoàn toàn miền Bắc trong thời gian cần thiết để xem Hà Nội có thật lòng mong muốn thương lượng không, không cần nói điều kiện hay thời hạn. Công thức của đại sứ Mỹ Chester Bowles tại Ấn Độ cũng là chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc nhưng trước khi chấm dứt hoàn toàn việc ném bom miền Bắc thông báo cho Ấn Độ, Anh, Liên Xô, Nhật Bản, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc biết và nói rằng Mỹ chỉ chấm dứt ném bom nếu các nước khác cam kết thúc đẩy các cuộc thương lượng có ý nghĩa là hứa hợp tác với Mỹ và các nước khác để vạch một kế hoạch phát triển kinh tế ở Đông Nam Á.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:25:09 PM
Những ý kiến không tán thành chấm dứt ném bom thì có những kiến nghị chấm dứt ở vĩ tuyến 20 hoàn toàn chấm dứt từ vĩ tuyến 20 trở lên, chấm dứt ở vĩ tuyến 17 hay phía Bắc khu phi quân sự v.v...

Theo Johnson, nhóm Cố vấn phi Chính phủ không nhất trí: sáu vị tán thành một kiểu xuống thang nào đó, một vị không tán thành mà cũng không phản đối, bốn vị phản đối. 

Còn một vấn đề nữa làm cho Johnson suy nghĩ rất nhiều là ông có nên rút khỏi danh sách ứng cử viên Tổng thống của Đảng Dân chủ không? Ngay khi trúng cử Tổng thống năm 1964, ông đã có ý định và sau đó đã nhiều lần nêu vấn đề này hỏi ý kiến các cộng sự thân cận nhất. Với sự phát triển bất ngờ của tình hình Việt Nam, từ sau Tết Mậu Thân, ông càng cân nhắc vấn đề rút lui việc ứng cử Tổng thống năm 1968.

Cho đến những ngày cuối tháng 3 năm 1968, Johnson đi đến bốn quyết định:

Một: Viện trợ cho Chính quyền Sài Gòn về số quân Mỹ, trang bị, tiền của không cần phải quá nhiều.

Hai: Đề nghị hoà bình của Dean Rusk là đề nghị tốt nhất.

Ba: Chính quyền Sài Gòn cần đảm nhiệm phần nhiều hơn trong chiến đấu để tự bảo vệ.

Bốn: Không ra ứng cử Tổng thống một khoá nữa.

Quyết định đó vào lúc nào? ông đã trả lời: chính xác vào hai mươi mốt giờ một phút ngày 31 tháng 3 năm 1968, khi ông đọc bài diễn văn trong phòng Bầu dục của Nhà Trắng. Trong bốn mươi nhăm phút, ông đã tả lại cuộc tấn công Tết Mậu Thân, âm mưu của Việt cộng? và nói nó đã thất bại ở những điểm nào, thông báo dự định của Chính quyền tăng cường quân đội Sài Gòn. Tiếp đó, ông nói đã đến lúc lại nói về hoà bình và ông sẵn sàng đi bước trước trên con đường xuống thang.

Tối nay tôi đã ra lệnh cho các máy bay và tàu chiến của chúng ta không tiến hành cuộc tiến công nào chống Bắc Việt Nam, trừ khu vực nằm ở Bắc khu phi quân sự là nơi địch đang có những cuộc chuẩn bị liên tục, trực tiếp đe doạ các vị trí tiền tiêu của đồng minh và là nơi cuộc vận chuyển của các đoàn người và đoàn tiếp tế chỉ làm tăng thêm sự đe doạ đó”.

Sau cùng ông nói:

Khi tôi nhìn con em nước Mỹ đi chiến trường xa, khi tôi thấy tương lai nước ta bị đe doạ ngay bên trong biên giới của nước ta và khi tôi nghĩ đến những hy vọng hoà bình của chúng ta và của toàn thế giới, tôi không nghĩ mình có quyền dành một ngày, thậm chí một giờ, trong thì giờ của tôi ủng hộ những quyền lợi đảng phái hay bất cứ nhiệm vụ nào khác ngoài những nhiệm vụ nặng nề đặt trên vai vị Tổng thống nước các bạn. vì vậy tôi không mưu cầu và cũng không chấp nhận việc đảng tôi cử tôi ra ứng cử cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới" (L.B.John8on: sđd, tr. 443-525.).

Trong suốt hai tháng, tất cả các Cố vấn của Tổng thống, kể cả những tác giả của các công thức ngừng ném bom hoàn toàn hay hạn chế, đều không tin là lần này Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ đáp ứng tích cực một đề nghị hoà bình mới của Johnson.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:26:16 PM
Trong chính giới, một số nghị sĩ có tên tuổi nghi ngờ tác dụng lời tuyên bố ngày 31 tháng 3 của Johnson. Thượng nghị sĩ William Fulbright nói: Tuyên bố đó chỉ là một sự thay đổi hạn chế chính sách hiện hành của Mỹ, rằng chấm dứt ném bom như thế sẽ không thúc đẩy Hà Nội đi vào thương lượng hoà bình. Thượng nghị sĩ Frank Lausche cho rằng: Làm sao Cụ Hồ Chí Minh có thể có một câu trả lời khẳng định trong khi Fulbright và nhiều người khác đả kích Chính phủ trước khi kẻ địch trả lời.

Bản thân Johnson cũng băn khoăn về điều đó. Cho nên tối ngày 31 tháng 3 ngay trước khi ngủ, ông đã cầu nguyện để Hà Nội nghe thấy lời kêu gọi của ông sẽ đáp lại.

Chúa đã nghe thấy lời thỉnh cầu của Tổng thống Johnson chăng?

Từ cuối năm 1966, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quyết định chủ trương tạo điều kiện thực hiện cục diện vừa đánh vừa đàm và đã có nhiều biện pháp để thực hiện chủ trương đó.

Ngày 3 tháng 4 năm 1968, trong một tuyên bố chính thức, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã chỉ rõ: "Rõ ràng Chính phủ Mỹ chưa đáp ứng nghiêm chỉnh và đầy đủ đòi hỏi của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, của dư luận tiến bộ Mỹ và dư luận thế giới. Tuy nhiên về phía mình, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố sẵn sàng cử đại diện mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện.

Hà Nội chính thức chấp nhận nói chuyện với Mỹ nhưng bước đầu đại diện hai bên tiếp xúc với nhau để bàn việc tổ chức nói chuyện về thực chất, sau đó sẽ là Hội nghị chính thức.

Tối ngày 4 tháng 4, sứ quán Mỹ ở Viêng Chăn chính thức báo cho sứ quán Việt Nam là Mỹ đề nghị cuộc tiếp xúc sẽ diễn ra ở Geneve. Hà Nội đề nghị lấy Phnôm Pênh với dụng ý là có một địa điểm gần chiến trường miền Nam Việt Nam và có thể có tác động cổ vũ và củng cố tình đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương. Washington không chấp nhận và đề nghị bốn địa điểm khác: New Delhi, Jakarta, Viêng Chăn, Rangoon. Hà Nội đề nghị Varsava. Lúc đầu, Washington chấp nhận Varsava nhưng họ khó chịu về việc tin đó bị tiết lộ ra ngoài. Họ lại đưa ra một danh sách mười địa điểm: Colombo, Kathmandou, Kualumpur, Rawalpindi, Kaboul, Tokyo, Bruxelles, Helsinski, Vienne, Roma. Cuộc trao đổi ý kiến qua đại dương về địa điểm tiếp xúc diễn ra trong gần một tháng đã có sức cuốn hút dư luận.

Cuối cùng, ngày 2 tháng 5, bỏ qua bước tiếp xúc trù bị, Hà Nội đề nghị lấy Paris làm địa điểm họp chính thức, cử Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đề nghị phiên họp đầu tiên vào ngày 10 tháng 5 năm 1968 hay một vài ngày sau đó. Washington chấp nhận.

Johnson cử Averell Harnman và C.Vance, hai nhà ngoại giao có tài, làm Trưởng và Phó trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Mỹ. Sau khi thoả thuận các vấn đề thủ tục trong ngày 10 và 11 tháng 5, cuộc nói chuyện chính thức bắt đầu ngày 13 tháng 5.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:26:24 PM
Lập trường của Mỹ trong thời kỳ đầu của cuộc nói chuyện tập trung vào ba vấn đề chủ yếu: Các cuộc nói chuyện sau khi Mỹ chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom cần có sự tham gia của Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự không đưa quân đi qua hay đóng tại khu đó, không bắn pháo vào phía Nam từ khu đó; Bắc Việt Nam và Việt cộng không bắn pháo tay hay tên lửa vào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phản đối những đòi hỏi đó coi đó là những điều kiện cho việc chấm dứt ném bom, và đòi phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và phải để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia cuộc nói chuyện.

Đến tháng 10, đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ động gỡ tình hình bế tắc. Trong một cuộc gặp riêng, đồng chí Xuân Thuỷ hỏi: Nếu Việt Nam chấp nhận cho Chính quyền Sài Gòn tham gia giai đoạn tiếp theo của cuộc nói chuyện thì phía Mỹ có chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam hay không? Hariman nói: Cần phải hỏi Washington. Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thoả thuận mọi vấn đề liên quan tới việc ngừng ném bom và giai đoạn của cuộc nói chuyện, Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã nêu thêm nhiều vấn đề, nhiều lý lẽ để phản đối việc chấm dứt ném bom miền Bắc vào ngày 1 tháng 11 năm 1968. Buộc phải từ bỏ ý định làm một bản tuyên bố chung Mỹ - Sài Gòn, Tổng thống Johnson đã đọc bản tuyên bố với nhân dân Mỹ lúc hai mươi giờ ngày 31 tháng 10 năm 1968. Sau khi phân tích sự diễn biến rất quan trọng của tình hình tìm kiếm hoà bình từ tuyên bố ngày 31 tháng 3 đến các cuộc nói chuyện ở Paris, ông nói:

- Bây giờ, do tình hình như vậy, tôi ra lệnh chấm dứt kể từ tám giờ (giờ Washington) sáng thứ sáu tất cả các cuộc oanh kích bằng không quân, hải quân và đại bác đối với Bắc Việt Nam".

Đồng thời, Johnson thông báo là sẽ bắt đầu các cuộc nói chuyện ở Paris vào tuần sau. Chính phủ Sài Gòn tự do quyết định tham gia hay không, còn đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam sẽ tham gia nhưng điều đó không bao hàm ý nghĩa công nhận dưới bất cứ hình thức nào Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Johnson nói thêm là các cuộc nói chuyện không thể tiếp tục nếu phía bên kia lợi dụng việc chấm dứt ném bom, nếu các thành phố lớn ở miền Nam Việt Nam bị pháo kích và khu phi quân sự bị xâm phạm. 

Bốn tuần lễ sau, Chính phủ Sài Gòn mới quyết định cử một đoàn Đại biểu đi Paris, và Trưởng đoàn này mãi ngày 8 tháng 12 mới tới. Ngày 18 tháng 1 năm 1969, mọi vấn đề thủ tục đã được giải quyết. Ngày 25 tháng 1, phiên họp thứ nhất của Hội nghị bốn bên ở Paris bắt đầu, năm ngày sau khi Tổng thống Johnson rời khỏi Nhà Trắng.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:29:30 PM
CHƯƠNG XX
THAY LỜI KẾT (PHẦN MỘT)

Từ ngày 1 tháng 11 năm 1968, máy bay và tàu chiến Mỹ nói chung không oanh kích nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhưng thỉnh thoảng còn đánh phá phần phía Nam, máy bay trinh sát, đặc biệt U.2, tiếp tục ngày đêm trinh sát nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Chiến tranh vẫn tiếp diễn ở miền Nam Việt Nam trong lúc tại Paris, công khai và bí mật, người Mỹ và người Việt Nam đối thoại để đi tới chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Mặc dầu sau này Chính quyền Nixơn cho máy bay ném lại miền Bắc cả bằng B.52, việc chấm dứt ném bom hạn chế năm 1968 có ý nghĩa rõ ràng là cuộc chiến tranh leo thang bằng không quân và hải quân của Tổng thống Johnson đã thất bại.

Sau khi trúng cử Tổng thống thứ ba mươi sáu của Hoa Kỳ, từ đầu năm 1965, Johnson đã có hai quyết định cực kỳ quan trọng đối với nước Mỹ: đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam và dùng không quân ném bom Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Phải chấp nhận sự thách thức đó, nhân dân Việt Nam đồng thời chống cuộc chiến tranh cục bộ giải phóng miền Nam và cuộc chiến tranh leo thang ở miền Bắc, buộc Mỹ phải xuống thang từng bước, tiến tới thống nhất Tổ Quốc.

Với lời tuyên bố nổi tiếng "Mỹ sẵn sàng thương lượng không điều kiện" ở Baltimore ngày 7 tháng 4 năm 1965, Johnson dù thành thật hay không thành thật, đã chỉ ra con đường thực hiện giải quyết vấn đề Việt Nam, do đó thật sự lúc đầu đã gieo hy vọng trong lòng nhiều người, nhất là những người yêu chuộng hoà bình. Nhưng cho đến khi đưa ra công thức San Antonio, trong ba mươi tháng, con đường mà ông đã đi lại theo một chiều ngược lại. Trên các diễn đàn quốc tế, xưa nay biết bao nhà chính trị đã nói một đằng làm một nẻo, cho nên việc Johnson đặt điều kiện rồi mới chịu đi vào thương lượng là không có gì đáng ngạc nhiên.

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ông ta muốn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thương lượng theo điều kiện của Mỹ. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên là trong một vấn đề đã làm đau đầu những Tổng thống tiền nhiệm của ông và tiếp tục là vấn đề nan giải của bản thân ông, ông vẫn muốn vừa thắng cuộc chiến tranh Việt Nam vừa thắng cuộc bầu cử Tổng thống năm 1968. Do quá tin ở sức mạnh của Hoa Kỳ hay do đánh giá quá thấp kẻ địch? Hy vọng sẽ lại giành sự thắng lợi lịch sử năm 1964 hay do đánh giá sai tác động của chiến tranh Việt Nam tới cử tri? Có thể nói trong suốt ba mươi tháng đó, hễ Johnson nói sẵn sàng thương lượng với Hà Nội là nói đến điều kiện, thậm chí còn theo tối hậu thư.

Trong vụ Marigold, lần đầu tiên do sự trung gian của Ba Lan, cái cầu quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã được bắc, nhưng Washington đã phủ nhận những điều mà đại diện của họ đã nói với đại diện Ba Lan và Italia tại Sài Gòn, đã ném bom trung tâm Hà Nội hai ngày trước khi có cuộc gặp tại Varsava giữa đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Mỹ như thoả thuận. Họ phá cuộc gặp gỡ và phá luôn cả cái cầu



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 14 Tháng Chín, 2009, 11:29:38 PM
Cái cầu Lê Trang - Guthrie mới bắc được ở Mát-xcơ-va thì ở Luân Đôn, cũng trong thời gian đó, Nhà Trắng phủ nhận những điều mà Thủ tướng Anh Wilson, với sự đồng ý của đặc phái viên Tổng thống Mỹ C.Cooper, đã thoả thuận với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kossiguine khi đó đang ở thăm Vương quốc Anh. Họ đã đòi Hà Nội phải chấp nhận những điều khác với những thoả thuận đó trước một thời hạn mà ngay Cooper và đại sứ Mỹ tại Luân Đôn cũng thấy đó là quá đáng để có cớ ném bom thủ đô Hà Nội. Sự tiếp xúc giữa Washington và Hà Nội lại bị cắt đứt.

Với sự trung gian của hai ông Aubrac và Marcovich, cuộc tiếp xúc giữa Hà Nội và Washington kéo dài hai tháng và đi tới cả việc trao đổi thông điệp giữa hai bên. Nhưng về sau, Washington vừa đưa công hàm vừa ném bom Hà Nội, khiến cả hai người trung gian cũng không hiểu Nhà Trắng muốn gì. Đây là cái mà ông Marcovich gọi là hai món hàng khác nhau cùng một người giao hàng gửi cho một người nhận.

Qua kinh nghiệm thực tế, Hà Nội cho cái gọi là "sáng kiến hoà bình”, “thương lượng không điều kiện" của Johnson là lừa bịp. Dư luận, kể cả ở Mỹ, cho rằng đó là chính sách hai mặt của ông ta, ông ta không thật lòng muốn thương lượng. Ít nhất, có một điều có thể khẳng định được là Johnson muốn tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam giành thắng lợi quyết định để bước vào năm bầu cử Tổng thống; trong khi đó có thể tiếp xúc với Hà Nội - chưa phải là thương lượng - để thăm dò ý kiến giải quyết toàn bộ vấn đề của phía Việt Nam, và có thể ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam với điều kiện Hà Nội tuyên bố không lợi dụng ngừng ném bom để tăng cường chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Vì thế, lúc nào Johnson cũng nêu điều kiện dưới hình thức này hay hình thức kia. 

Phải đợi đến sự rung chuyển miền Nam Việt Nam và cả nước Mỹ sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân thì Johnson mới buộc phải có một lựa chọn phù hợp với tình hình. Đã đến lúc phải đưa nước Mỹ vào thương lượng trực tiếp với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trước kia, Washington đòi Bắc Việt Nam trước hết phải bảo đảm không lợi dụng ngừng ném bom, nay không đòi nữa, trước kia không chấp nhận Mặt trận dân tộc giải phóng tham gia thương lượng, nay chấp nhận dù không coi việc đó là công nhận Mặt trận. Và hơn thế, vì những lợi ích đảng phái, ông ta tuyên bố không ra ứng cử Tổng thống một khoá nữa, chấm dứt sự nghiệp chính trị của bản thân ông. 

Nếu ta nhớ lại rằng Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói rất rõ với đại sứ C Ron-ninh từ tháng 3 năm 1966 rằng chỉ cần Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc là hai bên có thể nói chuyện ngay; nếu ta nhớ lại rằng Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh từ ngày 28 tháng 1 năm 1967 đã chính thức nói rằng sau khi Mỹ ngừng ném bom không điều kiện miền Bắc sẽ có nói chuyện giữa Mỹ và Việt Nam, thì thấy rằng cuộc gặp gỡ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ còn có khả năng diễn ra sớm hơn. Một số người còn đi xa hơn và tự hỏi: biết đâu đã chẳng tránh được Tết Mậu Thân và Johnson có thể không phải rút lui khỏi vũ đài chính trị.

Mặc dù Johnson đã coi vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam là "biện pháp bức thiết phải có". Nhưng như Tướng Abram, Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam nói: ông đã trả một giá rất đắt cho nước Mỹ, cho bản thân ông vì một chính sách mù quáng, phiêu lưu, vì cuộc chiến tranh của Johnson.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:38:37 AM
PHẦN HAI
CÁC CUỘC THƯƠNG LƯỢNG LÊ ĐỨC THỌ - KISSINGER TẠI PARIS

CHƯƠNG 1
1968: CHẤM DỨT NÉM BOM MIỀN BẮC VÀ HỘI ĐÀM BỐN BÊN

Hội nghị Paris bắt đầu

Hãy cho phép chúng tôi nhắc lại một sự kiện mà thế hệ thanh niên hôm nay không biết đến nhưng cách đây hơn một phần tư thế kỷ đã đưa hình ảnh chiến tranh Việt Nam đến từng nhà người dân Mỹ, làm nức lòng bạn bè của Việt Nam nhưng đã làm điên đầu các vị lãnh đạo Nhà Trắng và Lầu Năm Góc: Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân (1968).

Sau cuộc tiến công đó, Tổng thống Johnson gửi 20.000 quân tăng viện cho tướng Westmoreland. Ngày 31 tháng 3 tuyên bố đình chỉ các hoạt động của không quân, hải quân Mỹ chống Bắc Việt Nam, trừ khu vực giáp khu phi quân sự, và khước từ việc Đảng Dân chủ cử ông ra ứng cử cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới. Ông nhắc lại đề nghị sẵn sàng đi bước trước trên con đường thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Đó là sự thất bại rõ ràng của kế hoạch chiến lược hai năm của Mac Namara mà ông đã thông qua nhằm đảo ngược tình hình miền Nam Việt Nam và bước vào năm bầu cử Tổng thống 1968 với một chiến thắng lẫy lừng.

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không để Nhà Trắng chờ đợi lâu, và ngày 3 tháng 4 đã chính thức tuyên bố.

"Rõ ràng Chính phủ Mỹ chưa đáp ứng nghiêm chỉnh và đầy đủ đòi hỏi chính đáng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, của dư luận tiến bộ Mỹ và dư luận thế giới. Tuy nhiên về phía mình, Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố sẵn sàng cử đại diện của mình tiếp xúc với đại diện Mỹ nhằm xác định với phía Mỹ việc Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu cuộc nói chuyện" (Báo Nhân dân, Cơ quan Trung ương Đảng Lao động Việt Nam ngày 4 tháng 4 năm 1968.).

Gần một tháng trôi qua mà hai bên không thoả thuận được về vấn đề đỉa điểm họp. Cuối cùng Hà Nội đề nghị họp ở Paris đồng thời cử Bộ trưởng Xuân Thuỷ làm trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Washington chấp nhận và cử Averell Harriman, nhà thương lượng có tiếng của Hoa Kỳ, rất thông thạo các vấn đề của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa, đã từng tham gia các cuộc hội đàm cấp cao của các nước Đồng minh chống phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai.

Chính phủ Pháp đã có nhã ý dành Trung tâm các Hội nghị Quốc tế tại đại lộ Kléber cho các cuộc thương lượng Việt - Mỹ.

Khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành nỗi trăn trở của cả loài người, vấn đề lương tri của thời đại, thì không có gì ngạc nhiên là từ tất cả các nước người ta mong chờ, hướng về Hội nghị Paris này. Hàng nghìn nhà báo, điện ảnh, nhiếp ảnh, đã đổ về Hội trường Kléber, đông hơn bất kỳ Hội nghị Quốc tế nào từ nhiều năm nay. Ngày 13 tháng 5 năm 1968, ngày chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh mới giữa Việt Nam và Hoa Kỳ; cuộc chiến tranh quanh tấm thảm xanh trong lúc bom vẫn nổ trên chiến trường. Nhiều người nghĩ: người Việt Nam đã lần lượt làm thất bại các kế hoạch chiến tranh của Mỹ, không thể nghi ngờ tài năng quân sự của họ, nhưng rồi đây chiến lược ngoại giao của họ liệu có đạt hiệu quả như chiến lược quân sự hay không?

Điều chắc chắn là hai bên đã đi vào trận với đội ngũ mạnh, báo hiệu một cuộc giao tranh ít nhất cũng là quyết liệt.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:39:26 AM
Phía Mỹ, ngoài Harriman còn có Cyrus Vance, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao của Tổng thống Jimmy Carter, Philippe Habib, một chuyên gia kỳ cựu về vấn đề Việt Nam, W.Jordan, một nhà ngoại giao năng động, tác giả văn kiện "Vì sao có vấn đề Việt Nam" của Bộ Ngoại giao Mỹ để giải thích vì sao Nhà Trắng phải ném bom Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà và đưa quân Mỹ sang chiến đấu ở miền Nam Việt Nam.

Phía Việt Nam có Xuân Thuỷ, một chiến sĩ cách mạng lão luyện, một nhà báo, nhà thơ, đã từng giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Phó trưởng đoàn là đại sứ Hà Văn Lâu, nguyên Cục trưởng cục Tác Chiến Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, thành viên Đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Genève năm 1954 về Đông Dương, tại Hội nghị Genève 1961-1962 về Lào. Ngoài ra còn có Phan Hiền, một luật gia, Vụ trưởng Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao và sau này là Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Nguyễn Thành Lê, Phó Tổng biên tập nhật báo Nhân dân, cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam. Cả Nguyễn Minh Vỹ và Nguyễn Thành Lê đều đã tham gia Hội nghị Genève 1961-1962 về Lào. Lần này, Nguyễn Thành Lê là người phát ngôn của Đoàn Việt Nam.

Xuân Thuỷ bắt tay Harriman (ông đã biết từ Hội nghị Genève 1961 - 1962 về Lào), với nụ cười đôn hậu và tươi tắn. Báo chí đều nói đến cái bắt tay "lịch sử”. Kể cũng là lịch sử thật vì đây là lần đầu tiên đại diện chính thức của hai bên tham chiến ngoan cường đang chiến đấu quyết liệt bằng tất cả khả năng của mình để giành chiến thắng tiếp xúc với nhau. Nhưng ý nghĩa của cái bắt tay chỉ có thể thật sự là "lịch sử” khi các cuộc thương lượng mang lại một giải pháp cho cuộc chiến tranh.

Các cuộc tranh cãi lúc đầu "nảy lửa", phân tích các khía cạnh của cuộc chiến tranh với những con số mới lạ, những sự việc người ta chưa biết và cũng còn quá sớm để cho phép có một kết luận nào, dần dần trở thành tẻ nhạt. Những nhà báo mong sớm có một sự thoả thuận nào đó cũng rút dần.

Ông Xuân Thuỷ nêu khái quát nguyên nhân cuộc chiến tranh là chính sách can thiệp và xâm lược của Hoa Kỳ, phá hoại Hiệp nghị Genève năm 1954 về Việt Nam, phá hoại các điều khoản về tổng tuyển cử để tái thống nhất nước Việt Nam, xây dựng miền Nam Việt Nam thành một Quốc gia riêng, xây dựng ngụy quân, nguỵ quyền làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới. Hoa Kỳ đã đưa máy bay ném bom Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng thời đưa quân Mỹ vào chiến đấu ở miền Nam Việt Nam, gây nên rất nhiều tội ác. Lập trường giải quyết vấn đề Việt Nam là bốn điểm của Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ phải chấm dứt chiến tranh, rút quân Mỹ về nước, để nhân dân Việt Nam giải quyết công việc của mình, trước mắt là chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện các cuộc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để có thể bắt đầu bàn về một giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

Ông Harriman tố cáo Bắc Việt xâm lược miền Nam, đã vi phạm qui chế khu phi quân sự, khẳng định Hoa Kỳ không có tham vọng gì ở Đông Dương, không muốn mở rộng chiến tranh nhưng sẽ tiếp tục bảo vệ tự do và có hành động thích đáng và cần thiết trước sự xâm lược của kẻ khác. Hoa Kỳ không có ý định xấu đối với lãnh thổ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, không có ý định lật đổ nhà cầm quyền Hà Nội. Hoa Kỳ chỉ muốn giúp đỡ miền Nam Việt Nam duy trì tự do, độc lập, chống lại sự xâm lược do cộng sản Hà Nội chi viện và lãnh đạo. Hoa Kỳ sẽ sung sướng nếu tất cả các bên hữu quan tôn trọng Hiệp nghị Genève năm 1954 và như vậy thì sẽ có giải pháp thoả đáng về vấn đề Việt Nam. Bất cứ dấu hiệu nào của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn trở lại Hiệp nghị đó sẽ được hoan nghênh.

"Đường gươm" của hai ông Xuân Thuỷ, Harriman vẫn là: “Mỹ xâm lược Việt Nam và miền Bắc xâm lược miền Nam.”


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:40:35 AM
Khi bước vào nói chuyện với phía Mỹ, Đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã xác định ba mục tiêu: tranh thủ sự đồng tình của dư luận đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, phân hoá và cô lập đối phương phục vụ chiến đấu trên chiến trường; đòi Mỹ chấm dứt ném bom bắn phá miền Bắc Việt Nam; tìm hiểu ý đồ của Mỹ. Sau một tháng "đọ gươm" ở Hội trường Kléber, phía Việt Nam thấy mặt tuyên truyền có đạt được một số kết quả nhưng chưa tìm hiểu được thêm ý đồ của Mỹ.

Ngày 3 tháng 6, Nguyễn Duy Trinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, chỉ thị cho Đoàn:

Tiếp tục làm tốt việc đấu tranh công khai và chuẩn bị lúc nào thuận lợi thì vừa nói chuyện công khai vừa nói chuyện hậu trường. Nói chuyện hậu trường khác với nói chuyện bí mật của Mỹ. Nhưng không cho Mỹ dùng việc nói chuyện hậu trường để lừa bịp, gây ảo tưởng trong dư luận” .

Ngày 15 tháng 6. Bộ Chính trị nói rõ thêm :

Ta chủ trương tiếp xúc riêng đế thăm dò, chưa mặc cả”.

Cuối phiên họp ngày 12 tháng 6, Nguyễn Thành Lê, người phát ngôn của đoàn Việt Nam nhận lời mời đi ăn cơm của Jordan, người phát ngôn của đoàn Mỹ. Sự ngăn cách bắt đầu được khai thông. Liền sau đó, Hà Văn Lâu, Phó trưởng đoàn Việt Nam nhận lời gặp riêng Cyrus Vance, Phó tưởng đoàn Mỹ.

Ngày 12 tháng 6, người ta thấy xuất hiện trong đoàn Đại biểu Việt Nam một gương mặt mới: Lê Đức Thọ, Cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Xuân Thuỷ. Những người quan tâm đến tự hỏi con người đó là ai, nhưng cơ quan tình báo Pháp và Mỹ có hồ sơ đầy đủ. Ông là một nhà hoạt động cách mạng từ khi còn đi học, tên thật là Phan Đình Khải, quê ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Từ nhà pha Hoả Lò ở Hà Nội đến nhà tù Sơn La, ngục Côn Đảo, ông đã trải nhiều năm tháng trong lao tù. Cuộc sống đã rèn luyện ông thành một chiến sĩ cộng sản kiên cường và sớm đưa ông vào hàng ngũ những nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Năm 1968 ông đang là Uỷ viên Bộ Chính trị, ông được coi là người có mưu lược, vững vàng, biết quyết đoán khi cần thiết. Sau Tết Mậu Thân, ông được điều vào miền Nam Việt Nam tăng cường cho Trung ương cục để phát huy kết quả của đợt tiến công Tết. Cuối đợt hai của cuộc tổng tiến công bắt đầu từ ngày 4 tháng 5, Hồ Chủ tịch gọi ông ra Hà Nội và cử ông làm Cố vấn đặc biệt cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ.

Sự có mặt của ông trong đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chứng tỏ phía Việt Nam muốn đẩy các cuộc thương lượng đi tới. Và cũng từ những ngày tháng 6, tiếp xúc riêng trở thành diễn đàn chính song song và quan trọng hơn diễn đàn đại lộ Kléber.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:43:22 AM
Cấp Phó trưởng đoàn: Thăm dò

Cuộc tiếp xúc đầu tiên diễn ra tối 26 tháng 6 năm 1968, tại nhà riêng của Đoàn Việt Nam, ở Vitry-sur-seine. Cyrus Vance đến với Philíppe Habib. Phía Việt Nam, cùng tiếp với Hà Văn Lâu có Nguyễn Minh Vỹ.

Sau những câu trao đổi lễ tân, Vance rút trong túi ra một tờ giấy đánh máy và đọc: 

Hoa Kỳ sẽ chấm dứt các cuộc ném bom trên toàn miền Bắc vào một ngày sẽ được thông báo cho phía Việt Nam biết trước. Trước ngày đó hai bên sẽ thoả thuận về “hoàn cảnh" (circonstances) sẽ được thực hiện sau khi chấm dứt ném bom. Đó là cách vượt qua những trở ngại trên đường đi của chúng ta. Tôi nghĩ điều đó có thể thoả mãn gợi ý của các ông đề ra cũng như thoả mãn đòi hỏi của chúng tôi. Chúng tôi có thể chấm dứt ném bom mà không làm tổn hại đến tính mệnh binh lính Mỹ và đồng minh”.

Ông cũng nói hai bên sẽ thảo luận về "hoàn cảnh" và giữ bí mật, không công bố.

Đại sứ Hà Văn Lâu nhắc lại đòi hỏi của ta, như đã trình bày ở hội trường Kléber. C.Vance nói rằng một trong những vấn đề sẽ phải thảo luận là "hành động chiến tranh khác". Habib thêm: "Việc chấm dứt ném bom không đặt ra nữa vì ngày chấm dứt ném bom sẽ được định trước".

Trả lời câu hỏi thế nào là "hoàn cảnh", Vance nhắc lại vấn đề khu phi quân sự và nói Hoa Kỳ lo ngại về các việc sau đây: “Bắn pháo từ khu phi quân sự và từ miền Bắc Việt Nam vào quân Mỹ và quân đồng minh, tấn công bằng bộ binh qua khu phi quân sự”. Habib thêm: "và từ trong khu phi quân sự”.

C Vance tiếp:

- Việc tăng cường lực lượng ồ ạt vào miền Nam Việt Nam và việc tấn công vào dân thường ở thành phố miền Nam như Sài Gòn... Đó là những điều phải bàn đến khi nói chữ “hoàn cảnh".

Hà Văn Lâu bình luận:

- Không có đề nghị gì mới trong lập trường của Mỹ - có chăng là ở chỗ thêm việc định ngày chấm dứt ném bom.

Habib:

- Có những điều mới khác: “Hoàn cảnh" chỉ thực hiện sau khi chấm dứt ném bom, như vậy không thành điều kiện để chấm dứt ném bom, như thế là thoả mãn cả yêu cầu của Việt Nam và của Hoa Kỳ. Điều mới thứ ba là ngay từ bây giờ Hoa Kỳ không đòi Việt Nam phải làm gì cả mà chỉ đòi Việt Nam phải làm gì sau khi ngừng ném bom.

C. Vance cố gắng thuyết phục các nhà thương lượng Việt Nam về tính hợp lý của đề nghị đó và cho rằng:

- Việc lập lại khu phi quân sự đối với thế giới là hành động liên quan đến cả hai bên... không liên quan đến việc chấm dứt ném bom... Lập lại khu phi quân sự tiếp sau việc chấm dứt ném bom không phải là điều kiện.

Hà Văn Lâu:

- Đề nghị của Hoa Kỳ vẫn là có đi có lại. Nếu cuộc thảo luận không đi đến thoả thuận thì thế nào?

Vance:

- Hoa Kỳ sẽ không chấm dứt ném bom. 

Cuộc trao đổi đầu tiên này chấm dứt lúc quá nửa đêm sau hai giờ làm việc.

Điều đáng chú ý là mặc dầu Hà Văn Lâu lên án mạnh mẽ việc Mỹ xâm lược, Vance không trả lời mà chỉ tập trung vào vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:44:26 AM
Giữa tháng 7, hai đại sứ gặp nhau lại. Ông C.Vance cũng đọc trong một tờ giấy chuẩn bị sẵn:

"Hoa Kỳ sẵn sàng chấm dứt ném bom vào một ngày cụ thể không có hành động có đi có lại, nếu chúng ta có thể có hiểu biết về những hành động chung sau khi Hoa Kỳ chấm dứt ném bom".

Tiếp đó ông trình bày một kế hoạch hai giai đoạn cách nhau độ một tháng - khoảng cách càng ngắn càng tốt. Ông nói:

Trước khi chấm dứt ném bom Hoa Kỳ cần biết rõ những điều gì sẽ xảy ra ở giai đoạn hai - nghĩa là những biện pháp thích hợp cho cả hai bên.

Rồi ông vẽ một sơ đồ trên giấy, tóm tắt như sau:

Giai đoạn 1: Hoa Kỳ chấm dứt những cuộc ném bom bắn phá bằng không quân, hải quân và pháo binh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cùng tất cả các hành động liên quan đến việc dùng vũ lực ở trên và trong Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trước đó hai bên sẽ thảo luận về những vấn đề liên quan mà mỗi bên sẽ thực hiện sau khi chấm dứt ném bom.

Giai đoạn 2: Hai bên sẽ thực hiện:

1. Khôi phục khu phi quân sự theo qui chế đề ra năm 1954 (không có nhân viên quân sự hay thiết bị quân sự để bên trong hay vận chuyển qua khu này, mời ủy ban quốc tế trở lại và mở rộng hoạt động để giám sát việc thực hiện, không bắn pháo qua khu phi quân sự, không tập trung lực lượng trong khu này).

2- Không tăng thêm lực lượng của Hoa Kỳ cũng như của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà quá mức hiện có sau khi chấm dứt ném bom.

3- Bắt đầu thảo luận những vấn đề về thực chất. Hoa Kỳ cũng như Việt Nam có thể nêu bất cứ vấn đề gì liên quan đến giải pháp hoà bình.

Trong cuộc thảo luận đó phía Hoa Kỳ sẽ gồm có đại điện của Việt Nam Cộng hoà. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể có bất kỳ đại diện nào mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muốn mời tham dự.

4- Hoa Kỳ sẵn sàng xét các vấn đề tương tự mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể nêu ra.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không có tấn công không phân biệt vào Sài Gòn - Đà Nẵng - Huế.

Ý  kiến Mỹ đưa ra chỉ thêm một vài điểm mới về hình thức và danh từ như đề ra giai đoạn 1, giai đoạn 2, dùng chữ "biện pháp" thay chữ “hoàn cảnh", còn thực chất vẫn đặt điều kiện cho việc chấm dứt ném bom.

Hà Văn Lâu:

- Nếu thảo luận vấn đề của giai đoạn 2 mà không thoả thuận được thì Hoa Kỳ có chấm dứt ném bom không?

C Vance không trả lời "Không chấm dứt" như lần trước, mà nói:

- Cứ thảo luận đi, biết đâu là có thể thoả thuận được. Thảo luận trước có mất gì?


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:45:06 AM
Đầu tháng 8, trước khi về Mỹ, C.Vance lại yêu cầu gặp Hà Văn Lâu. Trong cuộc họp hôm 4 tháng 8 có lẽ ông ta muốn tìm hiểu ý đồ Việt Nam để giúp cho Washington lượng định bước đi trong những tháng tới, lúc cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đang đến gần. Lần này ông giải thích nhiều về các biện pháp ở giai đoạn 2 mà lần trước ông nói chưa đủ liều, và nhắc lại đề nghị của Mỹ đưa ra không có vấn đề có đi có lại.

Ngày 19 tháng 8, Hà Văn Lâu và Cyrus Vance lại gặp nhau. Hà Văn Lâu muốn nghe xem người đối thoại của mình sau khi đã gặp các nhân vật cấp cao ở Washington - và các ứng cử viên hai đảng: Dân chủ (H.Humphrey) và Cộng hoà (R.Nixon) - có mang theo gì mới đến Paris không?

Là con người cẩn thận, C.Vance lại đọc một bài chuẩn bị sẵn, đại ý nói rằng: Hoa Kỳ đã xem lại các cuộc gặp trước, và đi đến kết luận rằng "chưa có hiểu nhau về khía cạnh" đề nghị của Hoa Kỳ. Đó là vấn đề tham dự thêm sẽ trở nên cần thiết nếu có đàm phán nghiêm chỉnh sau khi chấm dứt ném bom. Hoa Kỳ cho rằng đàm phán nghiêm chỉnh cần có sự tham gia của đại diện của Việt Nam Cộng hòa. Điều thiết yếu là phải có sự tham gia đó nếu muốn có đàm phán nghiêm chỉnh về tương lai của Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Chính phủ Hoa Kỳ không đòi Chính phủ ngài công nhận Việt Nam Cộng hoà là Chính phủ chân chính... Đây là tham gia chứ không phải công nhận... cũng như Hoa Kỳ không công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng nhưng đồng ý sự tham gia của hai bên này... Hoa Kỳ thấy sự tham gia này là sự cần thiết đối với cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh.

Ông ta than phiền về tình trạng "nghẽn đường" hiện nay và nói có vẻ thành thật rằng ông ta rất bối rối - có phải Việt Nam không tán thành cho đại diện của Nam Việt Nam vào cuộc đàm phán không? Không biết ông hiểu lập trường của Việt Nam như thế có đúng không? ông ta nhấn mạnh đến mối quan tâm và tìm kiếm của Johnson là cái gì sẽ xảy ra ở chiến trường sau khi chấm dứt ném bom, và chờ đợi một lời nói trực tiếp hay gián tiếp việc gì sẽ xảy ra.

Hà Văn Lâu:

- Chúng tôi đã nói rõ lập trường của phía Việt Nam là Hoa Kỳ hãy chấm dứt ném bom đi thì hai bên sẽ đề cập đến mọi vấn đề liên quan đến giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam.

Nguyễn Minh Vỹ:

- Chấm dứt ném bom rồi sẽ có nói chuyện, nhất định sẽ có nói chuyện.

Qua mấy cuộc gặp này, Hà Nội thấy rõ Washington lúc đầu đặt vấn đề một cách toàn diện - cả ở miền Nam lẫn miền Bắc, ở Việt Nam và Lào, Campuchia, nay tập trung vào một vấn đề chấm dứt ném bom miền Bắc. Đó là điều tất yếu nếu muốn giải quyết hoà bình vấn đề miền Nam. Họ nêu ra nhiều điều kiện cho việc chấm dứt ném bom. Nhưng chúng ta cũng thấy Hoa Kỳ muốn có cuộc nói chuyện mở rộng ở giai đoạn hai. Họ chấp nhận trước việc tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tuy nêu rõ: không có nghĩa là công nhận, và muốn Chính quyền Sài Gòn tham gia như Mặt trận Dân tộc Giải phóng.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:45:49 AM
Cấp Trưởng đoàn: Đi vào thực chất

Ngày 21 tháng 8 năm 1968, phiên họp lần thứ 18 tại hội trường Kléber. Hai đoàn đang nghỉ uống cà phê. Harriman gợi ý gặp riêng Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ.

Lê Đức Thọ vui vẻ nhận lời.

Để hiểu yêu cầu của Harriman, cần nhìn lại tình hình chung cuộc chiến tranh Việt Nam và tình hình cuộc tranh cử Tổng thống ở Mỹ.

Sau đợt hai của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy tháng 5 không đạt kết quả lắm, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam tiến hành đợt ba Tổng tiến công với nhận thức rằng tổng tiến công và tổng khởi nghĩa là một quá trình tiến công liên tục, đợt này đến đợt khác để thực hiện quyết tâm đánh thắng quân Mỹ trong mọi tình huống. Chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định và miền Đông Nam Bộ. Nhưng chẳng những ta không thực hiện được ý đồ chiến lược tiến công vào Sài Gòn và một số thị xã khác thuộc các tỉnh đồng bằng Khu V, Tây Nguyên, Nam Bộ, mà thương vong lại tăng lên. Sức ép quân sự của ta không đủ mạnh để tạo điều kiện cho quần chúng nông thôn nổi dậy tổng khởi nghĩa như đã định (Viện Lịch sử, Bộ Quốc phòng. “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Tập 1. Nhà Xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1990. tr. 307. (Sau đây sẽ gọi: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ).).

Ở Mỹ, người ta hiểu rằng kế hoạch chiến lược giành thắng lợi để chuẩn bị năm bầu cử 1968 đã thất bại, các cuộc vận động ngoại giao trên cơ sở các công thức Baltimore, San Antonio kết hợp với các cuộc ngừng ném bom cũng đã thất bại.

Trên chiến trường Việt Nam, quân Mỹ đã phải từ bỏ chiến lược phản công, chuyển hẳn sang chiến lược phòng ngự, từ bỏ biện pháp chiến lược "tìm và diệt" chủ lực của Mặt trận Dân tộc Giải phóng chuyển sang chủ trương "quét và giữ”, "phi Mỹ hoá" chiến tranh. Trong cuộc tranh cử Tổng thống, ứng cử viên của Đảng Cộng hoà, và H.Humphrey, đương kim Phó Tổng thống, ứng cử viên của Đảng Dân chủ, vận động với một chương trình cơ bản giống nhau. Cương lĩnh đảng Dân chủ nhấn mạnh việc chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam với điều kiện Hà Nội đáp ứng. Đảng Cộng hoà không đi vào nhưng vấn đề cụ thể nhưng phê phán việc đưa quân Mỹ vào Đông Nam Á là một sai lầm. Humphrey vẫn cứ gắn với Tổng thống chiến bại, còn Nixon nhấn mạnh phải có lãnh đạo mới có khả năng suy nghĩ và hành động theo kiểu mới.

Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy uy tín của Humphrrey ngày càng sút kém so với uy tín của Nixon. Khi Johnson chấp nhận công thức hoà bình của Dean Rusk - ngừng ném bom Bắc Việt trên thực tế, không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì - ông ta đã tính đến việc kết hợp hoạt động quân sự ở Việt Nam với việc thương lượng, khi ông ta thấy cần tạo thêm điều kiện giành thắng lợi trong bầu cử trong khi không giành được thắng lợi quân sự, Johnson đã nghĩ đến tận dụng cuộc gặp gỡ ở Paris để tạo thuận lợi cho Humphrey.

Hà Nội không phải chỉ là những nhà chiến lược quân sự, mà trước hết còn là những nhà chiến lược chính trị, nên đã nắm bắt đúng lúc vị trí của vấn đề Việt Nam trong cuộc tranh cử Tổng thống ở Mỹ. Đầu tháng 8 năm 1968, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định: "Nếu Mỹ muốn giải quyết vấn đề Việt Nam theo lập trường tối thiểu của ta trước khi ta giành thắng lợi quyết định thì ta không để lỡ thời cơ”

Mọi việc nay càng rõ khi Harriman chủ động đề nghị có cuộc gặp với Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ. Ở đây, một con én có thể làm nên mùa xuân.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:47:27 AM
Cuộc gặp thứ nhất

Ngày gặp: Mồng 8 tháng 9 năm 1968. Về địa điểm, lúc đầu đoàn Mỹ đề nghị một biệt thự nhỏ, hẻo lánh ở phố Boileau, sau họ nhận họp tại nhà riêng của đoàn Việt Nam ở Vitry-sur-seine.  

Phía Việt Nam, ngoài các ông Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ, có Hà Văn Lâu và phiên dịch Nguyễn Đình Phương. Phía Mỹ, ngoài Harriman có Vance, Phihppe Habib.

Sau những câu chuyện xã giao giáo đầu, Harriman vào đề trước.

Ông ta nói nhiệm vụ của người đàm phán là tìm cách vượt qua khó khăn để đạt được thoả thuận và có cảm giác rằng những ý kiến của hai bên khác nhau là về hình thức hơn là về thực chất. Ví dụ hai bên cùng tán thành về vấn đề cơ bản là Hoa Kỳ chấm dứt ném bom rồi chuyển sang nói chuyện nghiêm chỉnh để tiến tới một giải pháp hoà bình. Hiện nay chỉ còn khác nhau ở chỗ thực hiện việc chấm dứt ném bom trong "hoàn cảnh" như thế nào, còn khác nhau ở cách hiểu chữ "nghiêm chỉnh" trong câu "nói chuyện nghiêm chỉnh".

Rồi ông ta nhắc lại, quan tâm lớn nhất của Tổng thống Johnson là cái gì sẽ xảy ra ở khu phi quân sự. Vấn đề "nói chuyện nghiêm chỉnh" là phải có đại diện của Chính phủ Sài Gòn, và cũng với tinh thần đó Việt Nam sẽ có đại diện của Mặt trận Dân tộc Giải phóng hoặc người nào khác tuỳ phía Việt Nam. Ông ta cũng nói không phản đối nói chuyện tay đôi về tương lai của hai nước, các vấn đề lợi ích lớn hiện nay và tương lai của Bắc Việt Nam.

Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại rằng thái độ của Việt Nam lúc nào cũng nghiêm chỉnh - ở Kléber hay trong gặp riêng - Bộ trưởng cũng xác nhận những tuyên bố của Hà Văn Lâu với Vance trong các cuộc gặp trước đây là quan điểm của Đoàn và Chính phủ Việt Nam. Tiếp đó Xuân Thuỷ nhường lời cho Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.

Lê Đức Thọ:

- “Hôm này tôi chưa đi vào cụ thể. Tôi chỉ phát biểu một số ý kiến tổng quát về tình hình thực tế của cuộc chiến tranh xâm lược mà các ông đã tiến hành chống lại đất nước chúng tôi, vì... có hiểu đúng và đánh giá đúng tình hình thực tế mới tìm ra được giải pháp đúng...”.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:47:34 AM
Trước hết ông nói về qui mô chiến tranh, một cuộc chiến tranh lớn nhất, tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ. Ông đem số dân miền Nam so sánh với số lượng quân Mỹ, số bom đạn Mỹ đã dùng, ngân sách Mỹ đã chi tiêu, thương vong của Mỹ, thất bại của Mỹ từ lúc ủng hộ Ngô Đình Diệm, đến chiến tranh đặc biệt và sau hai mùa khô vừa qua ... chỗ yếu của Mỹ và thế thua chắc chắn của Mỹ v.v. Sau đoạn tổng quát ngắn gọn - cũng mười trang đánh máy dày đặc, dài gần một giờ đồng hồ. Xuân Thuỷ thấy không khí có phần nặng nề bèn đề nghị tạm nghỉ.

Harriman vui lòng ngay:

- Bởi vì tôi đã có nhiều cái nhét vào trong đầu quá.

Trước khi nghỉ, ông Thọ còn nói:  

- Các ông phải đọc cho kỹ và hiểu cho kỹ những điều tôi nói để thấy rõ tình hình thực tế.

Gần nửa giờ nghỉ qua, mọi người trở lại phòng họp. Cố vấn Lê Đức Thọ lại nói về miền Bắc Việt Nam, về âm mưu và thất bại của Mỹ ở chiến trường Việt Nam, về ngân sách hao hụt, cán cân thanh toán mất thăng bằng, chảy máu vàng, nhân dân phản đối, binh lính chán ghét chiến tranh, cô lập trên thế giới, v.v... Ông không quên trích dẫn những nhận xét của nhiều chính khách Anh, Pháp, để chứng minh thất bại của Mỹ (tất cả thêm bốn trang đánh máy nữa). Cuối cùng ông nói:

- “Nếu Mỹ thật sự có thiện chí để giải quyết vấn đề Việt Nam thì phía Việt Nam cũng sẵn sàng cùng Mỹ giải quyết. Nếu Mỹ cứ tiếp tục theo đuổi chính sách thực dân mới thì sẽ không giải quyết được và trách nhiệm thuộc về Mỹ".  

Harriman bình tĩnh lắng nghe - không phải không sốt ruột và có lúc ông Thọ tạm dừng, bèn hỏi:

- Tôi sẽ đợi ông nói hết phần thứ hai rồi mới bình luận hay sao?

- Được để tôi nói hết rồi ông hãy bình luận - ông Thọ nói.

Nhưng cả sáng chủ nhật hôm đó, Harriman không có thì giờ bình luận. Hai bên định ngày cho phiên họp sau. Phía Mỹ muốn họp sớm vào thứ ba (10 tháng 9) nhưng sau đồng ý vào thứ năm, (12 tháng 9). Harriman còn đề nghị gặp riêng mỗi tuần hai lần. Lê Đức Thọ đồng ý về nguyên tắc. Harriman cám ơn lòng mến khách của chủ nhà và hy vọng có dịp đón đoàn Việt Nam tại chỗ ở của đoàn Mỹ, cũng vắng vẻ và kín đáo.  


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:49:22 AM
Cuộc gặp thứ hai: ngày 12 tháng 9.

Thành phần như cuộc họp trước.

Lê Đức Thọ:

- Hôm trước ông Harriman đã nói bị nhồi sọ nhiều, hôm nay tôi lại tiếp tục làm việc đó (ông cười). 

Xuân Thuỷ:

- Chịu khó nghe vậy.

Harriman: 

- Chúng tôi kiên nhẫn thôi.

Ông Thọ bắt đầu nói về chủ trương của Việt Nam và của Mỹ về giải pháp chính trị. Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện cho Mỹ ra khỏi Việt Nam một cách danh dự. Việt Nam có thiện chí - ông đưa ra ví dụ: Hà Nội đi vào nói chuyện ngay với Mỹ khi Mỹ chưa đáp ứng yêu cầu của Việt Nam mà mới chỉ hạn chế ném bom miền Bắc. Hai là, bốn tháng nói chuyện chưa chuyển biến nhưng đoàn Việt Nam vẫn nhận nói chuyện riêng. 

Ông nhắc đến lập trường cơ bản của Việt Nam là đòi độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; miền Nam Việt Nam độc lập hoà bình, trung lập, có quan hệ với Mỹ, miền Bắc cũng có thể quan hệ với Mỹ. Nhưng trước khi đi vào giải pháp chính trị thì Mỹ phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Ông tố cáo Mỹ hạn chế ném bom miền Bắc, nhưng lại tập trung lực lượng đánh vào khu vực “cán xoong" (vùng hẹp, phía nam Khu IV cũ) một cách ác liệt, phê phán hai giai đoạn do Vance đề ra, thực chất là có đi có lại, phê phán công thức Manila, theo đó việc rút quân của Mỹ sẽ hoàn tất sáu tháng sau khi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam, cho đó là không có đạo lý, là tìm cách đóng quân lâu dài ở miền Nam, củng cố lực lượng cho Thiệu - Kỳ để “phi Mỹ hoá " chiến tranh, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới.

- “Nếu các ông cứ giữ chủ trương một giải pháp theo yêu cầu của các ông thì chiến tranh sẽ tiếp diễn.. Các ông sẽ tăng cường chiến tranh ở miền Nam, ném bom trở lại miền Bắc, nhưng thế nào rồi cũng thất bại.

Mong phía Mỹ có thiện chí để giải quyết vấn đề
”.

Cuộc họp tạm nghỉ.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:49:29 AM
Khi trở lại phòng họp" Harriman cám ơn sự thẳng thắn của ông Cố vấn đặc biệt, nhưng trước khi trả lời, trưởng đoàn Mỹ nhắc lại đề nghị cũ là gặp riêng hai hoặc ba lần một tuần. Hai bên thoả thuận lần họp tới cũng ở Vitry-sur-seine, và sẽ định địa điểm cho kỳ họp tiếp theo. 

Đi vào nội dung, Harriman nói:

- Chúng ta đồng ý với nhau là muốn có nói chuyện tốt hơn phải chấm dứt tất cả các cuộc ném bom. Các ông đòi chấm dứt ném bom không điều kiện, chúng tôi chấp nhận điều đó. Nhưng chúng tôi có đưa ra là làm sao có "hoàn cảnh" để cho Hoa Kỳ có thể chấm dứt ném bom không điều kiện... Chúng tôi đã đưa ra những đề nghị cụ thể với đại sứ Hà Văn Lâu, nhưng hình như các ông không ưa lắm. Nếu các ông vui lòng nói chuyện điều đó thì chúng ta có thể bàn về hoàn cảnh để Tổng thống chúng tôi tiến bước lên.

Nhưng Harriman cũng nói hôm nay ông ta chưa thảo luận việc đó mà chủ yếu ông ta bình luận ý kiến của Lê Đức Thọ nói hôm trước!

- Trước hết tôi bác bỏ việc ông mô tả lịch sử như là có sự xâm lược của Hoa Kỳ. Tình hình chủ yếu là cơ sở trên sự xâm lược của Hà Nội... Cuộc chiến tranh này được vạch ra, khởi đầu và chỉ huy từ Hà Nội... là sự xâm lược của chủ nghĩa cộng sản chống chủ nghĩa Quốc gia ở miền Nam Việt Nam... Còn Mỹ vào miền Nam là "do nhân dân miền Nam Việt Nam yêu cầu để chống lại sự xâm lược của Hà Nội bằng vũ lực và khủng bố”

Ông ta cũng cho rằng chiến tranh Việt Nam không phải là tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ, chỉ khoảng từ 3 đến 3,5% giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ, còn chiến tranh Triều Tiên năm 1953 là 14% và chiến tranh thế giới năm 1945 là 50% giá trị tổng sản phẩm của Mỹ. Nhưng Harriman cũng thừa nhận đó là một gánh nặng không thích thú (unpleasant burden).

Về tình hình chiến sự gần đây, Trưởng đoàn Mỹ nói là: Bắc Việt Nam và Việt cộng đã thất bại - từ Tết đến nay đã mất mười bốn vạn người... không chiếm được một thành phố nào... không một căn cứ của Mỹ nào bị mất... quân Quốc gia ngày càng được tăng cường về khả năng chiến đấu và lòng tin. Chưa bao giờ Cộng hoà Việt Nam và đồng minh mạnh như lúc này... Cái gọi là khởi nghĩa đồng loạt cũng thất bại...

Về chính trị, Harriman nói:

- Chính phủ Nam Việt Nam là một thực tế mà các ông không thể lờ đi được. Chính quyền của nó, quân đội của nó cũng là những thực tế. Nó phải được tham gia vào bất cứ cuộc nói chuyện nào về tương lai chính trị của Nam Việt Nam. Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thành lập ở Hà Nội, là tay sai cho Bắc Việt ở Nam Việt Nam. Quân đội của nó do các sĩ quan Bắc Việt Nam chỉ đạo.




Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:50:14 AM
Harriman nhấn mạnh:

- Cả Hà Nội và Washington đều không có quyền định đoạt tương lai của Nam Việt Nam. Chúng ta cần tập trung tìm cách chấm dứt chiến tranh để nhân dân Nam Việt Nam quyết định tương lai chính trị của mình...

Nhân dân Mỹ muốn hoà bình nhưng là một nền hoà bình trong danh dự. Nhân dân Mỹ không chờ trải thảm đỏ hoặc được tặng hoa. Họ tìm kiếm thực chất của giải pháp.

Nghỉ một lát rồi Harriman tiếp:

- Chúng tôi tôn trọng và ủng hộ mạnh mẽ nguyện vọng Quốc gia, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới bất cứ hình thức nào, chống lại sự chiếm lấy đất nước bằng xâm lược cộng sản từ bên ngoài hay bất cứ sự xâm lược nào khác.

Nhắc tới lời của ông Thọ ủng hộ cương lĩnh Mặt trận Dân tộc Giải phóng chủ trương có sự độc lập cho Nam Việt Nam, Trưởng đoàn Mỹ nói:

- Nếu thế thì chúng ta có thể đạt được một giải pháp thực hiện mục đích đó. Có nhiều điểm trong cương lĩnh của Mặt trận cũng phù hợp với ý nghĩ của phía Mỹ.

Ông ta nói:

- Để đi tới thoả thuận về quyền tự quyết cho nhân dân Nam Việt Nam, chúng tôi đã yêu cầu có đại diện Chính phủ Cộng hoà Việt Nam ở phía chúng tôi. Còn chúng tôi hoàn toàn chấp nhận là phía các ông có đại diện của Mặt trận, của Liên minh hoặc người nào khác.

Ông cũng đồng ý với Lê Đức Thọ rằng cơ sở thoả đáng để đảm bảo hoà bình ở Đông Nam Á là Hiệp nghị Genêve năm 1954 và 1962 về Lào, và nhấn mạnh không có sự có mặt hoặc sức ép của các lực lượng quân sự ở bên ngoài hoặc những lực lượng lật đổ. Ở Nam Việt Nam cũng thế. Vì vậy các lực lượng nước ngoài phải rút khỏi các nước này.

Harriman nhấn mạnh:

- Chúng tôi sẵn sàng rút quân khi nào các ông rút quân của các ông. Hoa Kỳ sẵn sàng thảo luận về thời gian và thể thức của việc cùng rút quân đó.

Harriman cũng chia sẻ mong muốn của Lê Đức Thọ rằng Bắc Việt Nam và Hoa Kỳ có quan hệ hai bên cùng có lợi sau khi hoà bình lập lại để nhân dân Việt Nam quyết định tương lai của mình, kể cả vấn đề thống nhất.

Ông tỏ ý muốn giúp đỡ các nước trong khu vực, kể cả Bắc Việt Nam, xây dựng lại.

Cuối cùng Harriman nhắc lại:

- Cái gì sẽ xảy ra sau khi chấm dứt ném bom. Đó là điều rất quan trọng để hai bên cùng xuống thang, cùng giảm mức độ bạo lực để Tổng thống Mỹ có thể quyết định chấm dứt ném bom không điều kiện.

Cuối buổi họp, hai bên hứa nghiên cứu quan điểm của nhau.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 15 Tháng Chín, 2009, 10:56:38 AM
Cuộc gặp thứ ba: ngày 15 tháng 9 

Harriman mở đầu nói rằng đoàn Mỹ là phi chính trị, rằng ông ta làm nhiệm vụ về Đông Dương từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đã nhiều lần ông được giao trách nhiệm khuyên người Pháp đừng trở lại đó. Kể thì nhiều vấn đề đã được giải quyết rồi nếu chính sách đó đã được nghe theo.

Bình luận về phát biểu của Cố vấn đặc biệt, ông ta nói:

- Phía Hoa Kỳ rất quan tâm tới lời tuyên bố của ông Thọ nói rằng công việc nội bộ của Nam Việt Nam phải do chính nhân dân Nam Việt Nam giải quyết không có sự can thiệp của bên ngoài. Điều đó phù hợp với quan điểm của Hoa Kỳ.

Nhắc tới lời Lê Đức Thọ nói rằng trong khi chờ đợi thống nhất Việt Nam, những điều khoản của Hiệp nghị Genève năm 1954 cần được triệt để tôn trọng, “điều đó cũng phù hợp với quan điểm của Hoa Kỳ". Ông ta thấy rằng hình như cả hai lời tuyên bố này đều nhấn mạnh vào sự cần thiết của việc rút mọi quân đội bên ngoài ra khỏi Nam Việt Nam. Ông ta còn nói việc rút quân Mỹ là mấu chốt, nhưng việc rút tất cả quân đội bên ngoài cũng là mấu chốt. Hình như đó là lĩnh vực chung trên đó hai bên có thể đi tới thoả thuận.

Rồi Harriman đưa ra một tuyên bố về chính sách mà ông ta nói là quan trọng, đòi cả quân Mỹ và quân miền Bắc rút đồng thời ra khỏi miền Nam. Nhưng vì quân Mỹ đông hơn, nhiều trang bị, sẽ rút xong sáu tháng sau khi quân miền Bắc đã rút. 

Xuân Thuỷ chất vấn:

- Thế thì đồng thời ở chỗ nào?

Harriman:

- Tôi xin nói hết đã. Khi quân Bắc Việt Nam cũng như quân Hoa Kỳ đã rút xong thì sẽ không được đưa vào nữa. Trong công thức Manila (do Johnson và những người đứng đầu các nước có quân tham chiến ở Việt Nam đưa ra năm 1966 - Tác giả) có câu "khi mức độ bạo lực giảm". Câu này không nhằm nói đến bất kỳ sự bạo lực nào có thể xảy ra giữa người Nam Việt Nam với nhau khi quân miền Bắc đã rút."

Xuân Thuỷ: 

- Nghĩa là sau khi quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam Việt Nam, nếu ở miền Nam Việt Nam có bạo lực giữa người Nam Việt Nam thì là chuyện của họ?

Harriman:

- Đúng rồi, như vậy.

Xuân Thuỷ bác bỏ quan điểm của Mỹ thì Harriman nói rằng điều ông ta đưa ra không phải là một điều kiện, mà đó là bảo đảm có tính khẳng định là quân đội nước ngoài sẽ rút càng sớm càng tốt chậm nhất không quá sáu tháng.

Sang vấn đề chấm dứt ném bom, Harriman nói rằng một trong những nhân tố liên quan tới việc chấm dứt ném bom rất quan trọng mà Tổng thống Mỹ gần đây nhấn mạnh là vấn đề hoạt động quân sự ở bên trong hoặc xuyên qua khu phi quân sự và tập trung quân ở Bắc khu phi quân sự phải chấm dứt. Ông ta cũng nhắc lại sẵn sàng bàn việc giám sát quốc tế trong khu này, rồi yêu cầu giải thích câu mà Hà Văn Lâu đã nói với C.Vance: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà biết phải làm gì sau khi Mỹ chấm dứt ném bom.

Cuối cùng ông ta nêu lại việc chính quyền Sài Gòn và Mặt trận phải tham gia trong bất cứ cuộc thảo luận nào liên quan đến tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam.

Lê Đức Thọ lại nói một bài dài: Ai là kẻ xâm lược, ai phá hoại Hiệp nghị Genève, đến tính chất bù nhìn và thái độ hiếu chiến của Chính quyền Sài Gòn, nhắc lại quyền thiêng liêng của nhân dân Việt Nam bảo vệ đất nước của mình, đến thắng lợi của Mặt trận...

Trả lời về những điểm đồng nhất của hai bên mà Harriman nêu ra, ông Thọ nói cách hiểu của hai bên khác nhau, và thêm:

- Sau khi chấm dứt ném bom, các ông cùng chúng tôi sẽ đề ra các vấn đề thảo luận. Vấn đề quân đội nước ngoài rút khỏi miền Nam, sau khi chấm dứt ném bom sẽ thảo luận. Việc chấm dứt ném bom là không có điều kiện. Các ông đã nhận điều đó. Sau khi các ông chấm dứt (ném bom) chúng ta sẽ bước sang giai đoạn hai. Các ông sẽ đưa vấn đề của các ông, chúng tôi sẽ đưa vấn đề của chúng tôi. Hai bên sẽ bàn để đi tới chương trình nghị sự. Cái gì sẽ xảy ra sau khi chấm dứt ném bom mà ông Lâu nói là cái đó. Vấn đề có đại diện Việt Nam Cộng hoà (tham gia) sau khi chấm dứt ném bom, chúng ta sẽ bàn.

Xuân Thuỷ thêm: 

- Chúng tôi đã nghiên cứu, đã chiếu cố đến ý kiến các ông, các ông có đề ra hai giai đoạn, chúng tôi đồng ý là sau chấm dứt ném bom sẽ vào giai đoạn hai.

Điểm 2, sau chấm dứt ném bom chúng tôi đồng ý bàn chương trình nghị sự và toàn bộ vấn đề Việt Nam. Ông C.Vance có nói sau chấm dứt ném bom một thời gian mới sang giai đoạn hai, chúng tôi còn tích cực hơn nữa. Ngay. ngày hôm sau khi các ông chấm dứt ném bom, nếu cần chúng tôi sẽ bàn ngay các vấn đề khác. .

Harriman cho lời Xuân Thuỷ là quan trọng, nhưng vẫn nhắc lại vấn đề khu phi quân sự và “hoàn cảnh". Lê Đức Thọ nói chấm dứt ném bom là cái nút, chỉ chờ Mỹ làm việc đó để bàn các vấn đề

Harriman lấp lửng:

- Bước khó nhất là ném bom miền Bắc thì chúng tôi phải đi. Bước sau dễ hơn thì đến phần các ông. Mỗi bên phải được một cái gì. Đó là mấu chốt.

Qua phiên họp này, phía Mỹ đã có phần hạ giọng. Từ bốn điều kiện, Harriman chỉ nhấn mạnh vấn đề khu phi quân sự (không nói đến tấn công các thành phố miền Nam, mức độ thâm nhập). Còn vấn đề Chính quyền Sài Gòn và Mặt trận tham gia giai đoạn hai, Hà Nội đã trù liệu và xem như tất yếu nhưng chưa đưa ra.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:38:19 PM
Cuộc gặp thứ tư. ngày 20 tháng 9

Harriman vừa ở Washington trở lại Paris. Ông ta kể lại việc đã gặp những ai ở Washington và nhận xét rằng bầu cử ở Mỹ đã lôi cuốn sự chú ý của mọi người. Ông ta nói:

- Sau khi bàn chi tiết với các nhân vật chính trị quan trọng ở Mỹ, "chúng tôi đã quyết định là cuộc nói chuyện của chúng ta phải mềm dẻo hơn trước".

Tôi và đại sứ C. Vance đã đi tới kết luận là nếu như cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh bắt đầu thì về phía các ông cũng muốn cuộc nói cuộc nói chuyện đó phải có kết quả và mỗi bên đều có cho và có nhận được cái gì, "chúng tôi sẽ không thảo luận về tương lai chính trị về giải pháp chính trị của Nam Việt Nam nếu không có mặt của Việt Nam Cộng hoà và sẵn sàng nhận ở phía các ông có đại diện của Mặt trận hay của Liên minh tham gia


Harriman nhấn mạnh rằng sự thoả thuận này có thể là một yếu tố quan trọng làm dễ dàng cho việc quyết định chấm dứt ném bom.

Xuân Thuỷ hỏi:

- Hôm trước ông có nói về "hoàn cảnh" để chấm dứt ném bom. Đó là việc có đi có lại mà chúng tôi không đồng ý. Hôm nay ông lại đưa vấn đề Việt Nam Cộng hoà ra. Như thế ông rút vấn đề "hoàn cảnh" và thay vào vấn đề Việt Nam Cộng hoà hay vẫn giữ "hoàn cảnh" và thêm vấn đề Việt Nam Cộng hoà vào?

Harriman nói rằng ông ta có nêu hai vấn đề đó, rằng không bao giờ coi việc những người nào ở phía Mỹ tham gia đàm phán hoà bình là một điều kiện... đây chỉ là một bộ phận của chữ "nói chuyện nghiêm chỉnh".

Lê Đức Thọ hỏi:

1. Đây có phải là điều kiện duy nhất phải thoả thuận trước khi chấm dứt ném bom không?

2. Chỉ khi nào hai bên thoả thuận được vấn đề đó rồi các ông mới chấm dứt ném bom, có phải không?

Harriman trả lời câu thứ hai trước. Ông ta nói:

- Chúng tôi nghĩ rằng Chính phủ chúng tôi không đồng ý chấm dứt ném bom nếu chúng ta không thoả thuận được vấn đề này. Còn câu thứ nhất, chúng tôi không thể trả lời một cách dứt khoát được. Chúng tôi chỉ được chỉ thị trả lời là nếu thoả thuận được vấn đề thì có thể là yếu tố quan trọng làm dễ dàng cho việc quyết định chấm dứt ném bom.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:38:29 PM
Xuân Thuỷ hỏi lại vấn đề khu phi quân sự thì Harriman nói:

- Tổng thống chúng tôi muốn có một lời cam kết rõ ràng của các ông về vấn đề này, nhưng chúng tôi có cảm giác là các ông không muốn như vậy, vì vậy tôi không muốn nêu lại vấn đề này nữa.

Cả Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đều nhận xét rằng đại sứ Harriman mới ở Washington sang cũng không đem đến điều gì mới cả. Harriman phản ứng ngay: "Không đúng tí nào”, rồi nhắc lại tầm quan trọng Mỹ đặt vào việc Chính quyền Sài Gòn tham gia.

Lê Đức Thọ lại phê phán Mỹ cố bám lấy Thiệu - Kỳ, những kẻ không bao giờ nhận nói chuyện với Mặt trận, không nhận lập Chính phủ liên hiệp thì không giải quyết được vấn đề.

Harriman không sa vào tranh luận vấn đề này mà nói:

- Nếu như Chính phủ Hoa Kỳ quyết định chấm dứt ném bom không điều kiện thì Hoa Kỳ có quyền được biết là cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh có được tiến hành không? Hoa Kỳ hy vọng là phiên họp đầu tiên sau chấm dứt ném bom, khi vào bàn Hội nghị sẽ có đại diện Chính quyền Sài Gòn ở phía Mỹ. Nếu lúc đó phía Việt Nam từ chối không vào họp thì thành ra là một trò hề. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể có đại diện của Mặt trận, điều đó là cần thiết cho sự tiến bộ.

Xuân Thuỷ lại phê phán:

- Đó là vấn đề có điều kiện, mà điều kiện lại cao hơn cho việc chấm dứt ném bom.

Lê Đức Thọ hỏi thêm:

- Đó có phải là điều kiện duy nhất không?.

Harriman không nói đó là điều kiện mà chỉ nêu lại là:

- Nếu thoả thuận được vấn đề đó thì đã đi được một bước xa để Tổng thống chúng tôi quyết định chấm dứt ném bom, và yêu cầu đoàn Việt Nam xin chỉ thị của Chính phủ.

Sau khi nghỉ giải lao, Trưởng đoàn Mỹ cho rằng hai bên gần đi tới thoả thuận, rằng ông ta rất mong Việt Nam cho biết bao giờ Việt Nam chấp nhận yêu cầu đó. Ông ta mong có trả lời sớm.

Một lần nữa ông ta bác bỏ điều phía Việt Nam nói rằng yêu cầu đó là có đi có lại ông ta cũng cho rằng Hoa Kỳ có quyền muốn để ai tham gia vào phía Mỹ đó là việc của Hoa Kỳ. Ông ta cho thái độ của phía Việt Nam là một hành động phủ quyết.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:38:54 PM
Khi Xuân Thuỷ nói lại rằng đó là vấn đề có đi có lại cho việc chấm dứt ném bom thì vị đại sứ bảy mươi lăm tuổi của Hoa Kỳ không bình tĩnh được nữa. Ông nổi cáu, to tiếng:

- Tôi xin lỗi phải ngắt lời ông - Vì các ông nói là muốn có nói chuyện nghiêm chỉnh nên chúng tôi nói: muốn nói chuyện nghiêm chỉnh thì phải có đại diện Cộng hoà Việt Nam. Tại sao ông lại bác bỏ điều đó. Chính ông đã bác bỏ điều đó.

Xuân Thuỷ sẵng giọng:

- Tôi nói thẳng để ông biết, ngụy quyền Sài Gòn không phải là đại diện cho nhân dân Nam Việt Nam. Chúng tôi không thừa nhận bọn Thiệu - Kỳ, ông biết chưa?

Harriman:

- Ông xuyên tạc tất cả. Đây không phải là điều kiện. Nếu các ông muốn chiến tranh thì bom sẽ rơi trên đầu các ông.

Xuân Thuỷ:

- À! ông muốn ném bom trở lại miền Bắc ư? Chúng tôi sẵn sàng chống lại. Nhân dân chúng tôi đã quen chống lại bọn xâm lược rồi. Chúng tôi đã chiến đấu chống lại các ông hàng chục năm rồi. Ông định đưa chiến tranh ra doạ chúng tôi sao được.

Lê Đức Thọ cũng phê phán thêm.

Cuối cùng Harriman xin rút câu đó và thanh minh:

- Chúng tôi chỉ đề nghị các ông xin chỉ thị Chính phủ các ông. Chúng tôi muốn các ông hiểu ý định của chúng tôi và không phản đối. Tôi nói thành thật và điều đó là cần thiết.

Ông ta nhắc lại đề nghị đó. Lê Đức Thọ nói một câu bâng quơ:

- Không biết lúc nào có trả lời của Chính phủ chúng tôi.

Phiên sau Mỹ muốn họp sớm, nhưng chưa định ngày được vì còn chờ ý kiến của Hà Nội.

Qua cuộc họp này, rõ ràng Mỹ chỉ còn tập trung vào một vấn đề: sự tham gia của Chính quyền Sài Gòn vào giai đoạn hai. Họ muốn đi nhanh.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:39:01 PM
Trong phiên họp công khai thứ 23, ngày 25 tháng 9, Harriman lại đề cập đến vấn đề này. Ngày 2 tháng 10, cũng vào lúc uống trà, trong phiên 24, ông ta lại hỏi Xuân Thuỷ; Xuân Thuỷ nói:

- Chấm dứt ném bom đi đã sau đó sẽ bàn các vấn đề.

- Vấn đề thành phần mà các ông nêu ra muốn bàn đầu tiên cũng được.

Harriman:

- Mục 1 trong chương trình nghị sự?

Xuân Thuỷ: .

- Muốn thế cũng được

Harriman:

- Và ngay ngày hôm sau?

Xuân Thuỷ:

- Được chúng tôi vẫn giữ ý kiến cũ.

Trong phiên họp công khai thứ 25 - tức một tuần sau - Vance mới về Mỹ qua nói với Xuân Thuỷ rằng: việc để Chính quyền Sài Gòn tham gia sau chấm dứt ném bom là điều nhất thiết phải có, là điều tối cần thiết.

Ông nói:

- Mọi cuộc khủng hoảng đều được giải quyết bằng cách hai bên ngồi lại bàn bạc. Tình hình này tôi không thấy lý do gì lại khác thế.

Xuân Thuỷ nói rằng ở đây không đủ thời gian và hẹn một lúc khác

Harriman mừng rỡ:

- Tốt lắm.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:40:05 PM
CHƯƠNG II.
CHẤM DỨT NÉM BOM: MẶC KỆ THIỆU!

Cuối tháng 9, hoạt động quân sự của ta ở miền Nam đã ngừng lại. Sau một thời gian dài liên tục tấn công vào đô thị - chỗ mạnh của địch trong điều kiện chúng đã bố phòng, lực lượng ta bị tiêu hao, bổ sung không kịp, tiếp tế khó khăn, phải rút về củng cố. Sự uy hiếp qua khu phi quân sự cũng không còn nữa. Hơn nữa, ta lại để vùng nông thôn sơ hở kéo dài. Địch liên tiếp phản kích, tăng cường bình định, làm cho vùng giải phóng bị thu hẹp. Rõ ràng phía Việt Nam không còn khả năng giành thắng lợi quyết định trong năm 1968 nữa. Chính lúc này Mỹ cho rằng “Hà Nội đã chuyển từ chiến trường sang bàn Hội nghị" (L.B.Jonhson. Ma vie de President. Edition Buchet/Chastel Paris, 1972, tr. 619.).

Mặt khác Hà Nội cũng cho rằng Mỹ không thể thắng ở Việt Nam được và phải đi vào con đường chấm dứt chiến tranh để giải quyết những vấn đề trong chiến lược toàn cầu của họ. Nhưng dù phải kết thúc chiến tranh, Mỹ phải bảo vệ quyền lợi của họ cũng như bảo vệ quyền lợi của bọn tay sai và giữ cho miền Nam Việt Nam vẫn trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ. Đó là điều thống nhất giữa các tập đoàn thống trị Mỹ, giữa Đảng Cộng hoà và Đảng Dân chủ, giữa Humphrey và Nixon. Hà Nội cũng thấy rằng khả năng Humphrey trúng cử còn ít, mà Humphrey thất bại tức là Johnson thất bại, cho nên Johnson phải xuống thang thêm để giúp Humphrey trúng cử và để Johnson được tiếng là "Tổng thống vĩ đại của nước Mỹ".

Xuất phát từ thực tế chiến trường và nhận định trên, ngày 3 tháng 10, Nguyễn Duy Trinh điện cho đoàn đàm phán của ta ở Paris:

"Trong tình hình hiện nay phương hướng của ta là phải biết kéo Mỹ xuống thang để thắng họ, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị của ta. Ta cần lợi dụng đầy đủ chiều hướng chính sách của Mỹ, lợi dụng mâu thuẫn giữa các tập đoàn thống trị Mỹ, khéo vận dụng sách lược ép Chính quyền Johnson phải xuống thang thêm một bước quan trọng, chấm dứt đánh phá miền Bắc để có thể tìm lối thoát danh dự ra khỏi chiến tranh. ép được Mỹ thực hiện được bước xuống thang này là thắng lợi rất có ý nghĩa chiến lược của ta. Thời gian từ nay đến ngày bầu cử Tổng thống Mỹ là thời cơ thuận lợi để ta ép Mỹ xuống thang”.

Hà Nội chỉ cho Đoàn, 4 điểm đấu tranh trong nói chuyện với đối phương:

1. Phía Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tuyên bố lên điều đó.

2 - Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chấm dứt bắn pháo qua khu phi quân sự, tôn trọng khu phi quân sự.

3 - Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho rằng có thể họp một Hội nghị bốn bên để bàn về giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam, nhưng chính quyền Sài Gòn phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng, phải công nhận đường lối hoà bình trung lập, phải có thái độ tích cực đối với việc thành lập Chính phủ liên hiệp và phải có thiện chí.

4 - Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tiếp tục bàn với Mỹ về những vấn đề mà mỗi bên đã hoặc sẽ nêu lên. Trong lập trường này có vấn đề về nguyên tắc, có vấn đề về sách lược, có vấn đề lâu dài có thể để lại giai đoạn hai của cuộc nói chuyện, có yêu cầu đúng mức nhưng cũng có đòi hỏi quá cao, và có điểm đã lạc hậu so với diễn biến của cuộc hoà đàm. Vì vậy theo đề nghị của đoàn ta ở Paris, ngày 8 tháng 10, Hà Nội đồng ý để đoàn tuỳ tình hình mà đưa ra, nếu có điều gì chưa cần thì có thể chưa đưa ra, nhưng khẳng định bốn điểm sách lược trên là đúng mức.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:41:13 PM
Hà Nội mở đường

Cuộc gặp riêng, ngày 11 tháng 10 diễn ra tại nhà riêng của đoàn Mỹ ở phố Touraine, thị trấn Sceaux. Đây là một nhà nhỏ, ở một nơi vắng vẻ yên tĩnh, khách có thể từ trên ô tô bước xuống là vào thẳng trong nhà không ai trông thấy. Chỉ có một điều là không có buồng riêng nên lúc giải lao cũng như lúc hội đàm đều ở cả trong một phòng.

Bắt đầu cuộc gặp gỡ, hai bên trao đổi qua về bài diễn văn hôm qua của Tổng thống Johnson vận động tranh cử cho Humphrey. Sau đó Cố vấn Lê Đức Thọ đi vào thực chất của vấn đề:

- Bây giờ tôi muốn hỏi hai câu:

1- Có phải các ông yêu cầu cho Chính quyền Sài Gòn là một bên tham gia đàm phán và sau khi các ông đã biết rõ trả lời của chúng tôi đối với yêu cầu này thì các ông có chấm dứt ném bom không?

2- Có phải các ông biết trước được như vậy thì như thế chỉ để có lý do để chấm dứt ném bom chứ không phải là điều kiện có đi có lại cho việc chấm dứt ném bom?

Phía Mỹ cảm thấy có điều gì mới rất quan trọng mà họ chờ đợi từ lâu nên yêu cầu nhắc lại. Nghe xong, Harriman không giấu nổi sự vui mừng hiện trên nét mặt ông, nhưng nhường lời cho C Vance trả lời vì ông này vừa về Washington và đã gặp ông chủ Nhà Trắng. C.Vance trả lời câu thứ hai trước, khẳng định rằng đây không phải là điều kiện, không phải yêu cầu có đi có lại mà chỉ là định nghĩa chữ "nói chuyện nghiêm chỉnh" thôi.

Harriman quay lại hỏi Phó đoàn của mình:

- Ông đã được xác định điều này ở Washington chưa?

C.Vance trả lời xác nhận rồi và tiếp:

- Còn về câu hỏi một, chúng tôi phải báo cáo về cho Tổng thống và Chính phủ chúng tôi.

Rồi ông ta nhắc lại lần nữa rằng Hoa Kỳ không coi việc Chính quyền Sài Gòn tham gia đàm phán là điều kiện để chấm dứt ném bom, mà chỉ là để mô tả tình hình làm cho cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh có thể tiến hành được và làm cho việc chấm dứt ném bom có thể tiếp tục được.

Cả Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đều ghi nhận lời tuyên bố trên của Mỹ về chấm dứt ném bom không điều kiện. Ông Thọ nói thêm: 

- Nhưng chúng tôi muốn biết là giả sử như chúng tôi tán thành cho Chính quyền Sài Gòn là một bên tham gia đàm phán nhưng rồi các ông không chấm dứt ném bom thì sao? Ví dụ chúng tôi đồng ý thì các ông có chấm dứt ném bom không?

Harriman:

- Tôi chưa được phép trả lời câu đó ... Tôi cũng công nhận quan điểm của các ông là không có nói chuyện nghiêm chỉnh nếu không chấm dứt ném bom.

Cuộc gặp kéo dài độ một tiếng đồng hồ, Harriman cho rằng lời tuyên bố của ông Thọ là rất bổ ích và đưa món trứng cá ra mời khách nói rằng món này là của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Côxưghin tặng ông.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:42:44 PM
Một chỉ thị quá khó khăn với Lê Đức Thọ

Suốt buổi chiều hôm đó và cả ngày hôm sau, tất cả các cán bộ trong đoàn đàm phán của ta ở Paris đều phải làm việc vất vả, nhưng tỏ ra vui vẻ thoải mái hơn mọi ngày. Ai cũng thấy rằng triển vọng đàm phán trong giai đoạn đầu đã rõ ràng và rất hứa hẹn. Tuy phía ta chỉ nêu ra câu hỏi, mới dùng các ngôn từ giả sử... ví dụ ... nhưng không riêng gì phía Mỹ và tất cả mọi người ngồi nghe đều thấy rõ là phía ta đã chấp nhận yêu cầu của đối phương. Vấn đề còn lại là thảo luận việc Mỹ chấm dứt ném bom vào lúc nào, Hội nghị bốn bên họp lúc nào và các thể thức liên quan đến vấn đề này.

Bỗng chiều 13 tháng 10, Cố vấn Lê Đức Thọ nhận được chỉ thị của Hà Nội với nội dung:

1- Nếu Mỹ chấm dứt ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Việt Nam đồng ý họp Hội nghị bốn bên, nhưng Mỹ phải nói chuyện với Mặt trận và Chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách. Như vậy mới có Hội nghị bốn bên được. Vì vấn đề xâm lược và chống xâm lược ở miền Nam trước hết là giữa Mỹ và Mặt trận. Mỹ phải nói chuyện với Mặt trận và Mặt trận đồng ý họp Hội nghị thì mới có Hội nghị bốn bên được.

2 - Thời gian họp Hội nghị bốn bên phụ thuộc vào việc Mỹ bàn với Mặt trận. 

Đoàn Hà Nội chưa nên bàn với Mỹ về thời gian
”.

Nhận được chỉ thị, Lê Đức Thọ suy nghĩ rất nhiều. Ông đi đi lại lại trong phòng. Bộ trưởng Xuân Thuỷ và các thành viên trong đoàn từ buổi chiều đã họp để thảo luận việc thi hành chỉ thị này. Đòi Mỹ nói chuyện với Mặt trận, đòi Chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách trước khi họp Hội nghị bốn bên là quá cao, không thực hiện được... và có nguy cơ làm tan vỡ Hội nghị. Nhiều người nêu lên câu hỏi: Không hiểu ở nhà căn cứ vào yếu tố nào mà đề ra chủ trương đó. Ta cần đề cao vai trò và vị trí của Mặt trận, nhưng trong điều kiện còn trên nửa triệu quân Mỹ cùng với bảy trăm nghìn quân Nguỵ và hệ thống Chính quyền địch kiểm soát phần lớn miền Nam thì chủ trương đó rõ ràng không phản ánh tương quan lực lượng trên chiến trường. Ngay cả nguỵ quyền Sài Gòn cũng không chịu nói chuyện với Mặt trận nữa là Mỹ! Đòi Mỹ nói chuyện với Mặt trận như một điều kiện không có không được, rõ ràng là không thực tế. Và cứ theo chỉ thị trên thì sẽ không lợi dụng được thời cơ như chỉ thị trước, mà còn dồn đối phương vào đường cùng có thể chúng phải liều lĩnh.

Suốt trong đêm đó đoàn họp rất căng thẳng. Tất cả anh em đều rất băn khoăn... Làm thế nào... thời gian không còn bao lâu nữa. Nhiều ý kiến đề xuất cách giải quyết. Cần báo cáo hoả tốc về Hà Nội vì rõ ràng Hà Nội chưa có đủ thông tin. Nhưng làm sao có thể nói hết được tình hình. Ông đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề này. Và cuối cùng, Lê Đức Thọ đã quyết định về ngay Hà Nội. Còn kịp!

Tất cả anh em được huy động để thu xếp cho ông về gấp. Sứ quán Việt Nam ở Matxcơva và Bắc Kinh được điện tìm cách dành chỗ cho Lê Đức Thọ vào chuyến máy bay gần nhất.

Sáng 14 ông Thọ cấp tốc rời Paris. Tới Bắc Kinh, đã có một chuyên cơ chờ ông. Ngày 16 đã về tới Hà Nội. Đó là chuyến đi nhanh nhất của Cố vấn Lê Đức Thọ từ Paris về Hà Nội suốt trong thời gian đàm phán ở Paris.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:45:47 PM
Ngày chấm dứt ném bom và ngày bắt đầu nói chuyện

Tối 15 tháng 10, hai đoàn Việt Nam và Mỹ lại gặp riêng ở đường Touraine. Thấy vắng Lê Đức Thọ, Harriman hỏi:

- Hình như hôm nay ông Thọ đi gặp ông Côxưghin?

Xuân Thuỷ trả lời: 

- Phải

Harriman đọc chỉ thị của Washington để trả lời cho phía Việt Nam:

"Quan điểm của chúng tôi là việc chấm dứt ném bom không điều kiện sẽ chỉ được thực hiện và duy trì khi có các "cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh" và “hoàn cảnh" cần phải được duy trì cùng với cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh. Câu trả lời của chúng tôi nêu ra là tuỳ thuộc vào trả lời của các ông về vấn đề đại diện đó. Chúng tôi sẵn sàng ra lệnh chấm dứt ném bom và mọi hành động khác liên quan đến việc dùng vũ lực trên toàn lãnh thổ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nếu các ông đồng ý bắt đầu cuộc nói chuyện nghiêm chỉnh ngày hôm sau, sau khi Hoa Kỳ chấm dứt ném bom và trong những cuộc thảo luận đó, đại diện Chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ tham gia bên phía chúng tôi”.

Tuyên bố này còn được bổ sung bằng một đoạn viết tay như

Nếu các ông trả lời đồng ý về việc tham gia của đại diện của Chính phủ Nam Việt Nam thì chúng tôi có thể nói với ông rằng lệnh chấm dứt ném bom sẽ được ban hành một, hai ngày sau đó. Chúng tôi sẽ liên hệ để nói cho ông biết thời giở chính xác. Chúng tôi hy vọng là chiều mai (15 tháng 10)”.

Sau khi nhắc lại rằng hôm trước Hoa Kỳ đã tuyên bố việc chấm dứt ném bom là không có đi có lại, Xuân Thuỷ cũng đọc một tuyên bố viết sẵn:

Nếu Hoa Kỳ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì sau khi Hoa Kỳ làm việc đó chúng tôi đồng ý sẽ có đàm phán bốn bên, trong đó có đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, đại diện Chính phủ Hoa Kỳ, đại diện Chính quyền Sài Gòn, để bàn một giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam".

Bộ trưởng nhấn mạnh thêm:

"Hoa Kỳ phải nói chuyện với Mặt trận, và Chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách, phải tỏ ra thực sự muốn hoà bình, công nhận Mặt trận, công nhận miền Nam trung lập, nhận lập Chính phủ liên hiệp".

Cách nêu của Xuân Thuỷ cho thấy đây không phải là một điều kiện, mà chỉ là một yêu cầu.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:46:20 PM
Im lặng một phút. Harriman từ vui vẻ tỏ ra lưỡng lự. Ông ấy cho rằng phía Việt Nam đưa ra điều kiện mới là đòi họp bốn bên. Hai bên tranh luận về vấn đề này. Xuân Thuỷ nói có đại diện bốn bên thì gọi là Hội nghị bốn bên. Còn Harriman thì vẫn giữ ý kiến là họp hai bên, phía Mỹ có đại diện Chính quyền Sài Gòn, phía Việt Nam cho Mặt trận tham gia. Và điều đó sẽ xảy ra ngay hôm sau khi chấm dứt ném bom.

Xuân Thuỷ lại hỏi:

- Bao giờ các ông chấm dứt ném bom, ngày mai hay ngày kia?

Harriman:

- Tôi chưa thể bảo đảm chính xác được. Có thể là khoảng hai mươi tư giờ tới.

Về ngày họp, Harriman đòi họp ngay hôm sau vì ông cho việc đó sẽ gây ấn tượng sâu sắc với Johnson. Ở đây có một sự hiểu lầm của Mỹ về một tuyên bố của Xuân Thuỷ trước đây nói rằng: ngay sau khi chấm dứt ném bom thì Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ bàn các vấn đề có liên quan chứ không phải là họp ngay Hội nghị bốn bên. Sau khi nhắc lại như vậy, Xuân Thuỷ cho rằng việc Mỹ đòi họp Hội nghị bốn bên ngay hôm sau là một điều kiện mới.

Sự hiểu lầm này cũng nhanh chóng được giải quyết. Mỹ muốn biết thời gian nào họp Hội nghị mở rộng. Theo Harriman thì càng nhanh càng tốt, và trong buổi đầu, hai thành viên mới này chưa cần có một đoàn Đại biểu đầy đủ mà mỗi bên có một người đại diện cũng được. Chính quyền Sài Gòn đã có đại sứ ở Paris, còn Mặt trận nếu đại diện (phòng thông tin - Tác giả) ở Paris không đủ thẩm quyền thì đã có đại sứ ở một số nước châu Âu có thể đến ngay Paris được và như vậy là đủ rồi, là đã tượng trưng cho sự tiến bộ rồi. Ông tin là đại diện Chính quyền Sài Gòn sẽ đến họp Hội nghị mở rộng một cách nhanh chóng.

Còn phía Việt Nam thì đòi Mỹ cho biết ngày chấm dứt ném bom. Đoàn cần phải báo cáo về Hà Nội để Hà Nội liên hệ với Mặt trận. Phía Việt Nam cần có thời gian, nhưng cũng cho Mỹ biết là yêu cầu của họ sẽ được đáp ứng. Cuộc thảo luận về khoảng cách và tên gọi của hai việc chấm dứt ném bom và Hội nghị mở rộng, không giải quyết được. Hai bên thống nhất sẽ xin chỉ thị của Chính phủ mình.

Hôm sau, trong giờ giải lao phiên họp công khai thứ 26, Harriman trao cho Việt Nam trả lời, trong đó có đoạn:

Khi nào ngài cho chúng tôi biết ngày có thể bắt đầu cuộc nói chuyện với sự có mặt của Chính phủ Việt Nam (tức Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì chúng tôi sẽ chấm dứt ném bom hôm trước ngày đó”.

Ông nhắc lại rằng Hoa Kỳ thấy không nên để chậm và yêu cầu họp càng sớm càng tốt với đại diện tạm thời của Chính quyền Sài Gòn và Mặt trận cũng được.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:46:28 PM
Tối hôm sau, 17 tháng 10, trong một cuộc họp ngắn tại nhà riêng đoàn Mỹ, vẫn ở phố Touraine, Harriman nói rằng ông ta đã giải thích lại sự hiểu lầm vừa qua cho Washington, thì bây giờ ngày họp chính xác sau khi chấm dứt ném bom cũng không cứng nhắc như đã nói... “Nếu như các ông cho tôi biết ngày nhất định của cuộc họp sau khi chấm dứt ném bom thì Tổng thống chúng tôi sẽ cho lệnh chấm dứt ném bom hai, ba ngày trước đó”.

Xuân Thuỷ hứa báo cáo ngay về Hà Nội.

Trở lại việc Lê Đức Thọ về Hà Nội. Trong các ngày 17, 18 và 19 tháng 10, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội đã liên tục họp để nghe báo cáo và bàn bạc về tình hình đàm phán. Và chỉ thị gửi cho đoàn ở Paris ngày 20 tháng 10 như sau:

1 - Tranh thủ buộc Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc. Nếu Mỹ chịu chấm dứt không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác thì sẽ họp Hội nghị bốn bên, đối với các hành động chiến tranh khác gồm hoạt động liên quan đến việc dùng vũ lực, trinh sát, rải truyền đơn, thả hàng tâm lý chiến... nếu Mỹ chưa chịu thì sau này sẽ tiếp tục đấu tranh.

2 - Vấn đề đòi Mỹ nói chuyện với Mặt trận và đòi Sài Gòn thay đổi chính sách không phải là điều kiện bắt buộc Mỹ phải chấp nhận trước, sau này vào Hội nghị bốn bên ta sẽ tiếp tục đấu tranh.

3 - Về thời gian triệu tập Hội nghị trù bị bốn bên, ta chủ trương từ bảy đến mười ngày, nhưng khi ra đàm phán cần đi từng bước để Mỹ khỏi hiểu là ta chấp nhận dễ dàng. Có thể lúc đầu nêu càng sớm càng tốt, sau nêu mười lăm ngày, cuối cùng mới đưa ra thời gian nói trên.

4 - Về hình thức thoả thuận, dự kiến hai khả năng:

- Cố gắng đấu tranh để hai bên ra một thông cáo chung.

- Nếu Mỹ không chịu, ta ra tuyên bố riêng
".


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:49:08 PM
Ngày 26 tháng 10: cởi nút

Ngày 21 tháng 10, tại một địa điểm mới, nhà riêng của đoàn ta ở Le Vesinet, ngoại ô Paris, Xuân Thuỷ báo cho Harriman biết;

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sau khi đã trao đổi ý kiến với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng đồng ý rằng sau khi Hoa Kỳ chấm dứt hoàn toàn và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ có cuộc Hội nghị bốn bên gồm Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà, nhằm tìm một giải pháp chính trị đúng đắn cho vấn đề Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Muốn cho Hội nghị đó tiến hành được tốt, đại diện bốn bên cần họp trù bị càng sớm càng tốt".

Bộ trưởng cũng đưa ra một dự thảo thông cáo chung về sự thoả thuận giữa hai bên trong vấn đề này. Một phút im lặng rồi đoàn Mỹ xin nghỉ mười phút. Trở lại phòng họp, Harriman trịnh trọng nói với một giọng không vui:

- “Ông (Xuân Thuỷ) đã nêu lên một số vấn đề trong những ngày muộn mằn như thế này và chỗ đó là một điều không khôn ngoan”.

Cuộc tranh luận kéo dài gần bốn tiếng đồng hồ chung quanh các vấn đề:

Chấm dứt ném bom: Mỹ nhắc lại rằng việc chấm dứt đó là không có điều kiện (Without condition), còn ta nói là việc chấm dứt là không điều kiện (unconditionau).

Phía Mỹ và cả phiên dịch của ta cũng nói là hai chữ đó nghĩa giống nhau - nhưng Mỹ vẫn giữ ý của họ.

Về tên gọi Hội nghị mở rộng: Phía Mỹ vẫn nói rằng đó vẫn là Hội nghị hai phía, phía chúng tôi và phía các ông. Phía Mỹ có hai đoàn Đại biểu, một của Mỹ, một của Chính quyền Nam Việt Nam, nhưng Nam Việt Nam không phải là một bộ phận của đoàn Mỹ. Còn phía Việt Nam tổ chức thế nào là tùy Việt Nam.

Xuân Thuỷ nói:

- Chúng ta cứ gọi theo thực tế. Có bốn đoàn thì gọi là Hội nghị bốn đoàn. Phía Mỹ không phản đối nhưng cũng không thoả thuận. Rốt cục, Mỹ nói theo cách Mỹ, Việt Nam nói theo cách Việt Nam. 

Về ngày họp: Lúc đầu Xuân Thuỷ nói chưa định ngày cụ thế được còn chờ ý kiến Mặt trận, sau nói ít nhất vài tuần sau khi chấm dứt ném bom. Harriman muốn biết ngày cụ thể cho phiên họp đầu tiên. Ông lại đề nghị mời đại diện Mặt trận ở châu Âu sang để có thể bắt đầu sớm, hai hoặc ba ngày sau chấm dứt ném bom. Mỹ không muốn có họp trù bị như ta đề nghị mà đi ngay vào bàn các vấn đề thực chất.

Về thông cáo chung: Xuân Thuỷ nói rằng để tránh những cách hiểu khác nhau nên cần có thông cáo chung và thủ tục quốc tế cũng vậy. Phía Mỹ không đồng ý vì như vậy sẽ mất thời gian bàn cãi về câu chữ. Harriman nêu ra bốn hình thức để suy nghĩ:

- Mỗi bên cứ hành động theo như mình hiểu. 

- Hai là ra thông cáo chung. 

- Ba là mỗi bên cho bên kia xem nội dung những điều mà mình sẽ công bố

- Bốn là sẽ có một biên bản mà hai bên đều thoả thuận nhưng không công bố.

Phía Mỹ ngả về cách cuối cùng này.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:49:33 PM
Cuộc thảo luận hôm đó chưa giải quyết được. Găng nhất là hai vấn đề: Ngày chấm dứt ném bom và ngày họp phiên đầu tiên giai đoạn hai.

Ngày 24 tháng 10, Harriman gợi ý là ngày họp đầu tiên sau khi chấm dứt ném bom là ngày 2 tháng 11. Trong trường hợp đó phía Mỹ sẽ chấm dứt ném bom trước đó hai hoặc ba ngày tức là 31 hoặc 30 tháng 10. Ông cũng đề nghị khi công bố việc chấm dứt ném bom thì công bố cả ngày họp phiên đầu tiên của Hội nghị có bốn đoàn.

Xuân Thuỷ cứ đòi chấm dứt ném bom sớm.

- Các ông muốn họp sớm thì chấm dứt sớm. Nếu chỉ chấm dứt ném bom trước hôm họp có hai, ba ngày thì không đủ để cho Mặt trận thu xếp và không đủ để cho nhân dân Việt Nam tin rằng các ông đã chấm dứt ném bom thật sự hay chỉ vì thời tiết xấu.

Harriman cho rằng điều Xuân Thuỷ nói đó là quan trọng chẳng khác gì khi người ta nói "mua lợn khi lợn còn để trong bị".

Xuân Thuỷ đưa ra đề nghị khoảng cách mười ngày từ lúc chấm dứt ném bom đến ngày họp phiên đầu tiên giai đoạn hai.

Ngày 26 tháng 10, hai bên tiếp tục thảo luận về vấn đề trên dựa theo dự thảo một biên bản chung để hai bên sẽ ký. Dự thảo này do phía Mỹ chuẩn bị và thoả thuận được điểm thứ hai về tính chất Hội nghị. Còn lại là vấn đề khoảng cách. Xuân Thuỷ hạ mức từ mười ngày xuống còn tám ngày, và nói với Harriman:

- Nếu ngài chỉ muốn chấm dứt ném bom vào 30 thì ngày 6 hay 7 (tháng 11) mới họp được.

Harriman nói rằng đây không phải vấn đề mặc cả... buôn bán, thêm bớt với chúng tôi một vài giờ. Đây là đứng trước thực tế những vấn đề Tổng thống chúng tôi phải đối phó.

Cuối cùng Xuân Thuỷ nói:

- Nếu ngày 2 tháng 11 các ông muốn họp phiên đầu tiên thì ngày 27 tháng 10 các ông phải chấm dứt ném bom đi. Như vậy chỉ còn năm ngày thôi.

Đoàn Mỹ ngồi tính. Harriman đếm trên đầu ngón tay từ 27 tháng 10 đến 2 tháng 11, rồi nói: Là sáu ngày chứ.

Xuân Thuỷ:

- Ngài tính cả ngày đó nữa à?

Và mọi người cùng cười, trừ Harriman.

Harriman:

- Như thế là ngài muốn nói năm ngày trước ngày họp?

Xuân Thuỷ:

- Đúng thế. 

Kết thúc buổi họp, vị trưởng đoàn Mỹ vẫn nằn nì về việc họp bốn đoàn hai, ba ngày sau khi chấm dứt ném bom.

Cuối cùng hai bên thoả thuận được biên bản chung như sau:

1. Hoa Kỳ sẽ chấm dứt mọi cuộc oanh tạc bằng không quân, hải quân, pháo binh và mọi hành động khác liên quan tới việc dùng vũ lực trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu từ... giờ, giờ GMT ngày... tháng 10 năm 1968.

2. Một cuộc họp để tìm một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam sẽ được tiến hành ở Paris ngày...

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nói rằng sẽ có mặt của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; Hoa Kỳ đã nói rằng sẽ có mặt của Việt Nam Cộng hoà. 

Do đó cuộc họp sẽ gồm có Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hoà.
Phía Mỹ vui mừng thấy ta nhận không ghi chữ "không điều kiện" và “mọi hành động chiến tranh khác".

Về việc ký biên bản, C.Vance nói rằng Harriman và cả ông ta nữa sẽ thay mặt Chính phủ Mỹ ký; Phía ta, Bộ trưởng Xuân Thuỷ

Harriman hứa sẽ báo cho ta rất sớm ngày Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:51:36 PM
Thiệu chống Johnson .

Trong hồi ký L.B.Johnson viết: "Khi chúng ta đạt được sự sắp xếp với Hà Nội thì sự hoà hợp với Tổng thống Thiệu lại tan vỡ” (L.B.Johnson. sđd, tr. 621.)  

Suốt trong quá trình hội đàm ở Paris với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Washington đều thông báo cho Sài Gòn nội dung và diễn biến các cuộc nói chuyện. Mọi người đều thấy giữa Washington và Sài Gòn từ lâu đã có nhiều mâu thuẫn. Tháng 7 năm đó, Johnson và Thiệu đã gặp nhau ở Honolulu để bàn bạc và dàn xếp.

“Những người Nam Việt Nam (tức Thiệu) đã chấp nhận lập trường của chúng ta đến giữa tháng 10 và sau đó nữa” (L.B.Johnson. Maviede Président. sđd, tr. 621.).

Ngày 28 tháng 10, Thiệu còn nói với đại sứ Mỹ ở Sài Gòn rằng "không thể đòi hỏi hơn được nữa”. Nhưng hôm sau Thiệu đòi thêm thời gian và bảo đảm để họ có thể nói chuyện với Hà Nội chứ không phải với Mặt trận Dân tộc Giải phóng”.

“Hai đòi hỏi đó là không thực tế. Người Nam Việt Nam biết rằng chúng ta phải tuyên bố (về chấm dứt ném bom - tác giả) vào lúc 20 giờ ngày 31 tháng 10. Sau 19 giờ Bunker báo cho chúng ta rằng Thiệu còn đòi thêm hai điều kiện sửa đổi nữa. Chúng ta buộc phải đi một mình”.

Ai cũng biết rằng tập đoàn Thiệu - Kỳ không thể tiếp tục chiến tranh nếu mất sự chi viện tinh thần, chính trị và vật chất của Mỹ. Tại sao họ lại dám đi ngược lại chủ trương chấm dứt ném bom của Johnson? Là những người thực dụng, quen với những thủ đoạn lật lọng trong bầu cử, họ không phải không hiểu thế của Đảng Dân chủ trong năm bầu cử đã giảm sút sau Tết Mậu Thân, và họ tính toán đến người sẽ thay thế Tổng thống Johnson.

Ngay sau ngày 10 tháng 10 năm 1968, sau khi ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thuỷ tuyên bố không phản đối Sài Gòn tham gia các cuộc đàm phán hoà bình, ở cả Sài Gòn và Washington các Cố vấn quân sự và dân sự của Johnson đều thống nhất thúc giục phải nhanh chóng nắm lấy cơ hội này. Trong một bức thư bạn đọc đăng trên New York Times ngày 13 tháng 6 năm 1991, William Bundy, với tư cách trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á - Thái Bình Dương từ 1964 - 1969, Tổng biên tập tờ Foreign Affairs từ 1972 - 1974, đã tham gia các sự kiện hồi tháng 10 năm 1968, cho biết Tổng thống Johnson đã thông báo cho ba ứng cử viên Tổng thống là Nixon, Humphrey và Wallace biết thoả thuận mới về sự tham gia của Chính quyền Sài Gòn; Nixon khẳng định lại sự ủng hộ của ông ta đối với một thoả thuận trên cơ sở đó.

Clark Clifford, cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Johnson, cho biết Tổng thống đã biết qua nhiều bức điện của sứ quán miền Nam Việt Nam, đặc biệt là bức điện ngày 27 tháng 10, rằng bà An na Chennault - người Mỹ gốc Trung Quốc ủng hộ Nixon và quen biết Thiệu - đã chuyển qua Bùi Diễm, đại sứ của Thiệu, những bức thông điệp rõ ràng "có thẩm quyền của Đảng Cộng hoà" thúc giục Thiệu từ bỏ hoặc làm què quặt thoả thuận giữa Washington và Hà Nội bằng cách từ chối không tham gia.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã theo dõi bà Chennault và khẳng định các hoạt động của bà ta. Rõ ràng tính toán của Thiệu - Kỳ là đánh canh bạc phút chót để Nixon thắng cử. Họ không muốn cho Humphrey thắng lợi. Johnson viết: "Tôi có đầy đủ lý do để nghĩ rằng người ta đã yêu cầu họ hoãn việc tham gia vào cuộc nói chuyện ở Paris và người ta đã hứa với họ rằng họ sẽ đạt được nhiều điều kiện tốt hơn dưới Chính quyền Nixon” (B.Jonhson. Maviede Président, tr. 622, 624 )

Ở Paris, đoàn Mỹ mừng đã đạt được thoả thuận với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhưng rất lúng túng trước thái độ của Thiệu-Kỳ.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:51:46 PM
Đêm 29 tháng 10, Johnson phải gọi cấp tốc tướng Abrams về để tham dự cuộc họp bất thường với các Cố vấn thân cận của Nhà Trắng lúc hơn hai giờ sáng. Tại Paris, Cyrus Vance đã phải hoãn cuộc họp với Hà Văn Lâu hai lần - lúc đầu dự định vào mười sáu giờ, sau hoãn đến mười tám giờ, rồi đến hai mươi giờ. Đây là một cuộc họp khổ sở cho ông ta. Vừa bước vào phòng họp, ông ta đã yêu cầu Negroponte, thư ký, báo ngay số điện thoại nơi họp về sứ quán Mỹ. Ông tỏ ý tiếc phải hoãn cuộc họp và nói: "Tôi biết các ông bận mà chúng tôi cũng bận", rồi ngồi im đợi ta nói.

Hà Văn Lâu hỏi:

- Ngài đã có tin gì chưa?

C. Vance:

- Có, lần trước khi về chúng tôi đã điện ngay cho Chính phủ chúng tôi. Nhưng ông rõ. Mỗi bên chúng ta đều có chuyện phức tạp phải giải quyết. Chúng tôi có nhiều yếu tố phải giải quyết, nhiều sự trao đổi phải làm. Thời gian lại chênh nhau nhiều. Hôm nay tôi đang chờ chỉ thị. 

- Nghĩa là bây giờ ông chưa có tin?

- Vâng - C.Vance đáp rồi ngồi im. 

- Còn quá ít thời giờ - Hà Văn Lâu nhận xét. 

- Vâng, tôi hiểu - Đại sứ Vance đáp rồi lại im lặng.

Khi hỏi về việc ký biên bản, C.Vance nói ông hy vọng sẽ được tin vào đêm khuya nay - hoặc sáng sớm mai. Tôi không dám bảo đảm.

Rồi lại im lặng. Habib ngồi bên cạnh nhắc C.Vance cáo từ ra về Nhưng ông này hình như không nghe thấy gì.

- Vậy lúc nào thì ông có tin? - Hà Văn Lâu hỏi.

- Tôi không thể nào nói chính xác được - C.Vance ngừng lại - Washington đang làm việc rất khẩn trương - Rồi ngồi im.

Lần thứ hai Habib nhắc ông ra về. Ông ta vẫn ngồi đó.

- Nếu ông thấy khó khăn thì ông cho chúng tôi biết - ông Lâu nói. 

C vance ấp úng:

- Tôi hy vọng đêm nay hoặc sáng mai.

Cả Hà Văn Lâu và Nguyễn Minh Vỹ đều nói:

- Nếu các ông thật có khó khăn thì cứ cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ chiếu cố.

C.Vance và Habib cám ơn rơi rít và nói đó sẽ là một thoả thuận quân tử.

Hai mươi ba giờ, phía Mỹ xin gặp lại ta. Nửa giờ sau, Habib đến báo cho Hà Văn Lâu biết là Mỹ không thể chấm dứt ném bom vào 00 giờ giờ GMT ngày 30 tháng 10 được, và hôm sau cứ họp ở Kléber như thường lệ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 16 Tháng Chín, 2009, 08:52:52 PM
Mặc kệ Thiệu!

Thất vọng quá đáng (L.B.Jonhson: Maviede Président. Sđd, tr 626.) vì sự lần khân của Thiệu, Johnson không đợi được nữa. Nửa đêm 30 tháng 10 năm 1968, đoàn Mỹ xin gặp ta. Hơn nửa giờ sau, Harriman, C.Vance, Habib cùng những người giúp việc kéo đến nơi ở của đoàn ta, nhà số 11 phố Darthé, vùng Choisy le Roi. Cuộc họp bắt đầu hồi 1 giờ 35 và kết thúc sau đó một giờ.

Harriman đọc: .

"Tôi được phép tuyên bố với ngài rằng Tổng thống sắp sửa ra những mệnh lệnh vào buổi tối ngày 31 tháng 10, tức là 7 giờ hoặc 8 giờ, giờ Washington, theo giờ GMT là 24 giở GMT ngày 31 tháng 10, hoặc 01 giờ sáng ngày 1 tháng 11 để chấm dứt mọi cuộc oanh tạc bằng không quân, hải quân và pháo binh và mọi hành động khác liên quan đến việc dùng vũ lực chống toàn bộ lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Những mệnh lệnh đó sẽ hoàn toàn có hiệu lực 12 giờ sau đó.

Tống thống sẽ có một công bố về hành động này vào khoảng khi những mệnh lệnh này được ban hành...

Cuộc họp như đã thoả thuận sẽ không tiến hành trước ngày 6 tháng 11 năm 1968.

Hành động này được tiến hành trên cơ sở các cuộc nói chuyện chúng ta đã có, có tính đến những điều các ông đã nói và những điều chúng tôi đã nói
”.

Đoàn Việt Nam hội ý. Khi trở lại họp, Bộ trưởng Xuân Thuỷ đọc một bản chuẩn bị sẵn, tóm tắt công việc từ 6 tháng nay, nhấn mạnh rằng phía Việt Nam luôn đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và qua tuyên bố của Harriman, phía Việt Nam hiểu như vậy là không điều kiện.

“Các ngài đã nói thực chất không có một điều kiện có đi có lại nào và còn nói trong tất cả các tuyên bố của Hoa Kỳ không một chỗ nào có chữ “có điều kiện”. Như vậy chúng tôi khẳng định là Hoa Kỳ chấm dứt ném bom không điều kiện”.

Bộ trưởng còn phê phán thái độ kéo dài của Mỹ, không nhất quán trong việc làm biên bản, nói khác, viết khác, làm khác. Xuân Thuỷ tuyên bố không cần ký biên bản thoả thuận, đồng ý họp bốn bên không trước ngày 6 tháng 11 năm 1968 và đòi Mỹ phải thực hiện đúng những điều đã thoả thuận.

Xuân Thuỷ cũng chấp nhận yêu cầu giữ bí mật của Mỹ cho đến khi Johnson đọc diễn văn. Hai bên cùng trao đổi việc báo cho chủ nhà Pháp biết.

Hôm đó, chưa phải là buổi chia tay, nhưng Harriman cũng đã tặng Xuân Thuỷ quyển sách nhan đề "Nhân quyền" do ông ta viết, trong đó có trích dẫn một số thơ và lời đề tặng "Kính tặng Bộ trưởng Xuân Thuỷ, nhà thơ, Paris, ngày 31 tháng 10 năm 1968".

Mọi người đều vui vẻ.

Ngày 31 tháng 10, Johnson vẫn đợi, tuy không nhiều hy vọng, rằng Sài Gòn sẽ cùng tham gia với Mỹ vào bản tuyên bố chung. Nhưng Thiệu vẫn đưa ra những đòi hỏi quá đáng. Cuối cùng, đến 20 giờ ông ta đành phải đọc diễn văn về chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam.

Johnson hy vọng rằng con chủ bài này sẽ nâng cao hình ảnh của ông ta và uy tín của ứng cử viên Humphrey. Điều đó đúng. Nhưng đã quá muộn.

Ngày 6 tháng 11, Nixon, ứng cử viên Đảng Cộng hoà, đã trúng cử Tổng thống Mỹ, với 43,3% tổng số phiếu, còn Humphrey chỉ thua sát nút ông ta, 42,7%, kém Nixon 500.000 phiếu (0,6%).

Nếu như Johnson chấm dứt ném bom miền Bắc sớm hơn năm, bảy ngày thì có lẽ tình hình đã khác.

Đến đây kết thúc một giai đoạn của cuộc đàm phán Việt - Mỹ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:11:30 PM
CHƯƠNG III
ĐỂ KHỞI ĐỘNG HAI KẾ HOẠCH HOÀ BÌNH

Nixon trước hậu quả của thất bại Tết Mậu Thân

Tổng thống R.Nixon thừa hưởng của L.B.Johnson cuộc chiến tranh chết chóc ở Việt Nam cùng những vấn đề gây cấn khác. Ông coi cuộc chiến tranh ở Đông Dương là “vấn đề đối ngoại cấp bách nhất" và “một giải pháp ở Việt Nam là chìa khoá cho mọi chuyện” (R.Nixon. The memoirs of R.Nixon. Grosset + Dunlop - New York 1978, tr. 347-391.).

Trong khi Mỹ sa lầy ở Đông Nam Á thì những kẻ đối đầu cũng như đồng minh của Mỹ được rảnh tay và họ đã tăng cường tiềm lực một cách đáng kể. Liên Xô không còn thua kém Mỹ bao nhiêu trong lĩnh vực vũ khí chiến lược. Trung Hoa nhân dân đã giành nhiều tiến bộ trong lĩnh vực hạt nhân. Các đồng minh châu Á và châu Âu của Mỹ đã trở thành những kẻ cạnh tranh gay gắt với Mỹ trên thị trường quốc tế. Trong quan hệ với Nhật, ngoài vấn đề thâm hụt về cán cân thương mại, Nixon còn phải đương đầu với việc “đất nước Mặt trời mọc" đòi chủ quyền về quần đảo Okinaoa mà Mỹ chiếm từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Các đồng minh châu Âu trong khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) cũng đòi độc lập hơn với Mỹ, đòi hạn chế bớt quyền hành của Washington, nhất là từ khi tướng De Gaulle không chấp nhận nữa trụ sở khối NATO đóng trên đất Pháp. Rồi còn chính sách mở cửa sang phương Đông của Thủ tướng W.Brant ở Bon.

Tuy nhiên, về mặt nào đó, Tổng thống mới của Hoa Kỳ cũng gặp nhiều thuận lợi. Là kẻ thù không đội trời chung với chủ nghĩa cộng sản, Nixon có lý do để vui mừng trước mâu thuẫn gay gắt giữa hai nước xã hội chủ nghĩa lớn - Liên Xô và Trung Quốc - và đi đến chỗ xung đột ở trên sông Utxuri hai tháng sau khi Nixon lên cầm quyền. Trời đã cho ông ta một đồng minh không ngờ mà ông ta không thể không dùng đến để giúp ông giải quyết vấn đề Việt Nam. Trong cuộc xung đột không cân sức giữa hai lực lượng cộng sản đó có thể một ngày nào đó bên này hay bên kia phải tính đến vai trò của Hoa Kỳ nếu không được sự ủng hộ thì cũng tìm thấy một lực lượng đối trọng, nhất là Trung Quốc lúc này đang ở cao trào của cách mạng văn hoá, tức là ở bên bờ vực thẳm.

Ở Tây Âu, nếu như Hoa Kỳ phải đối phó với các yêu sách của các nước đồng minh trong "Liên minh khó khăn" thì Liên Xô từ sau khi Hồng quân vào Tiệp Khắc (1968) cũng phải đương đầu với xu hướng độc lập ngày càng tăng của các nước Đông Âu.

Sáu tháng sau khi lên cầm quyền, dừng chân trên đảo Guam trên đường thăm một số nước châu Á, Tổng thống Nixon phác hoạ ra chiến lược mới, học thuyết Nixon, hay còn gọi là học thuyết Guam. Ông nói rằng:

“Sau chiến tranh Việt Nam, chúng ta cần có một chính sách châu Á mới để đảm bảo không có một Việt Nam trong tương lai... Nhưng ngay từ lúc này về sau chúng ta chỉ cung cấp vật liệu và viện trợ quân sự, kinh tế cho những nước nào sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm cung cấp sức người để tự bảo vệ lấy mình" (R.Nixon. The memoirs ofr.Nixon, Sđd. tr. 395. ).

Ông nói rằng chính sách đó không phải là rút ra khỏi châu Á mà "đó là cơ sở vững chắc duy nhất để Hoa Kỳ ở lại đây". Hoa Kỳ vẫn là một cường quốc ở Thái Bình Dương.

Tóm lại, người ta có thể nói rằng học thuyết của ông là dựa trên các yếu tố, sức mạnh của Mỹ và chia sẻ trách nhiệm - chứ không phải một mình gánh lấy nhiệm vụ sen đầm quốc tế như trước đây. Lúc này đang có cuộc thương lượng giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ở Paris, cho nên người ta có thể thấy thêm một nhân tố khác của học thuyết Nixon: thương lượng trên thế mạnh?

Cũng như nhiều Tổng thống tiền nhiệm, Nixon có học thuyết riêng của mình là chuyện bình thường. Thực tế khách quan đã chỉ rõ cái học thuyết Guam nổi tiếng một thời đó là chiến lược xuất phát từ sự suy yếu, một học thuyết với “hình bóng thấp".

Trong vấn đề Việt Nam, Washington đổi danh từ "phi Mỹ hoá chiến tranh" thành "Việt Nam hoá chiến tranh", tức là biến cuộc chiến tranh của Mỹ thành cuộc chiến tranh giữa người Việt Nam với nhau. Nội dung chủ yếu của Việt Nam hoá là tăng cường sức mạnh mọi mặt cho quân nguỵ Sài Gòn, để Mỹ rút được quân về nước. Đó là việc áp dụng học thuyết Nixon ở Đông Dương. Nhưng như người ta thấy sau này, trong vấn đề Campuchia, chính Nixon cũng không theo đúng học thuyết của ông!

Trên lĩnh vực quân sự, sau thất bại của chiến lược "tìm và diệt" của tướng Westmoreland trước đây, Lầu Năm Góc Phương Đông (ở Sài Gòn) do tướng Abrams cầm đầu đã đề ra chiến lược mới "quét và giữ” cho phù hợp với yêu cầu của Việt Nam hoá chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:13:14 PM
Mặt trận Dân tộc Giải phóng trước những hậu quả của chiến thắng Tết Mậu Thân

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 của quân và dân miền Nam Việt Nam đã giành được thắng lợi lớn về chính trị và tâm lý, đánh mạnh vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải đi vào nói chuyện với ta ở Paris để giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam ... Nhưng ta cũng bị thiệt hại nặng nề.

Khi tổng tiến công chúng ta đã tung hết lực lượng... cho nên đến khi địch phản kích thì chúng ta không có lực lượng, chúng ta gần như mất thế, và đối phó phản kích rất khó khăn. Chúng ta lâm vào tình hình rất khó khăn trong những năm 1969, 1970, 1971" (Trần Độ. Tạp chí Lịch sử Quân sự - Bộ Quốc phòng - Tháng 2 năm 1988 tr. 47.).

Từ nửa cuối năm 1968, địch tập trung đánh phá ác liệt các vùng giải phóng nhằm tiêu diệt và đẩy lùi các đơn vị chủ lực ta ra khỏi các nơi đứng chân như Trị - Thiên, Khu V, Nam Bộ...

Chúng còn đánh phá ác liệt ven các căn cứ quân sự lớn "dùng xe cơ giới san ủi làng mạc ruộng vườn thành những vùng trắng rộng hàng chục kilômét vuông... Quân ngụy đóng thêm hàng nghìn đồn bốt".

Sáu xã ở Gò Nổi (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) bị xe tăng, xe ủi san phẳng. Nhiều xã ở phía Bắc huyện Củ Chi không còn một lùm cây nhỏ” (Bộ Quốc phòng, Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân - Sự Thật, 1991, tr. 311.)

Tháng 10, các đơn vị chủ lực của ta ở Trị - Thiên đã rút ra Quảng Bình để củng cố. Quần chúng mất chỗ dựa. Địch tập trung đánh phá, dồn dân quyết liệt, lập lại hầu hết các khu đã mất... Ở Nam Bộ, đến cuối năm 1968, địch lập lại số ấp chiến lược, khôi phục lại vùng tranh chấp" (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Tập 1, Sách đã dẫn, tr. 311.)

Lực lượng vũ trang bị tiêu hao không được bổ sung. Tiếp tế lương thực rất khó khăn. Ở Tây Nguyên, toàn bộ số gạo còn lại của năm 1968, chỉ còn một phần ba so với số lượng tồn kho năm 1967. Dự trữ lương thực đến giữa năm 1969 chỉ đủ nuôi bộ đội ta trong khoảng một tuần

Bước vào năm 1969 tại Đông Nam Bộ và Khu VI, địch lấn chiếm và hầu như kiểm soát toàn bộ vùng nông thôn bao quanh Sài Gòn và các tỉnh Phước Long, Bình Tuy và vùng đồng bằng các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận...

Cơ sở cách mạng bị tổn thất, lực lượng vũ trang bị tiêu hao và tiếp tục phải lùi dần lên rừng núi...

Sau khi nêu lên thắng lợi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân, Lê Đức Thọ đã nói:  

Cuộc tổng tiến công ấy đã mắc sai lầm là chủ quan đánh giá không đúng tương quan lực lượng giữa ta và địch, đánh giá quá cao về phong trào quần chúng nổi dậy và khởi nghĩa ở đô thị. Vì thế chúng ta đề ra lấy tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành Chính quyền toàn miền Nam... nhằm kết thúc chiến tranh. Đến cuối năm 1968, lực lượng ta đã tổn thất nhiều, yếu tố bất ngờ không còn nữa mà ta vẫn còn chủ quan sai lầm như hồi Tết Mậu Thân, vì thế, địch đã tập trung lực lượng bình định nông thôn gây cho ta khó khăn trong hai năm 1969, 1970. Từ khi đế quốc Mỹ trực tiếp đưa quân vào miền Nam Việt Nam, chưa bao giờ chúng ta gặp khó khăn như hai năm này, cơ sở ở nông thôn bị tổn thất, căn cứ bị thu hẹp ở nhiều nơi, chủ lực của ta bị tổn thất không còn chỗ đứng chân ở miền Nam, phải trú chân trên đất bạn” (Lê Đức Thọ. Tạp chí Lịch sử Quân sự Bộ Quốc phòng tháng 2 năm 1998 tr. 8-9.)

Cuộc hội; đàm ở Paris giữa ta và địch bắt đầu vào giai đoạn hai trong hoàn cảnh như vậy.  


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:16:14 PM
Câu chuyện cái bàn

Cuộc chiến tranh thành Troie bắt đầu từ quả trứng Lê đa (Trong thần thoại Hy Lạp - Tác giả). Cuộc đấu tranh ngoại giao ở Paris lại bắt đầu từ cái bàn.

Ngày 31 tháng 10 năm 1968, Mỹ chấm dứt ném bom Bắc Việt Nam. Ngày 3 tháng 11, đại diện Mỹ đã gặp ta đề nghị hai bên họp vào mồng 6 tháng 11 bàn sắp xếp cho "cuộc họp thực chất dưới hình thức mới". Ta chấp nhận nhưng lưu ý phía Mỹ rằng cuộc họp bốn bên vào ngày đó chưa được hai bên thoả thuận - và cuộc họp đó phải là cuộc họp bốn bên. Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng sẽ họp phiên đó. Nội dung cuộc họp đó là các bên sẽ bàn về thủ tục.

Đại diện Mỹ tỏ ra lúng túng vì lúc này đại diện Chính quyền Sài Gòn vẫn chưa cử người tham dự, tuy đại sứ Phạm Đăng Lâm của họ vẫn có mặt tại Paris - và sau này là trưởng đoàn chính thức của họ - Phía Mỹ nói bây giờ có vấn đề phức tạp về ngày khai mạc "phiên họp mở rộng" ngoài sự kiểm soát của họ. Hai hôm sau đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại thúc ép Mỹ và tuyên bố rằng ngày mai Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẵn sàng đến họp vào buổi sáng, buổi chiều hay buổi tối cũng được, tại hội trường phố Kléber. Đại diện Sài Gòn chưa đến thì họp ba đoàn, khi nào họ đến họ sẽ vào họp sau. Đại diện Mỹ lại thanh minh là họ có khó khăn tuy họ đã cố gắng để cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bắt đầu cuộc họp giai đoạn mới.

Cuộc tranh luận lại nổ ra chung quanh khái niệm này. Và hai bên gọi theo cách của mình. Ta gọi là cuộc họp bốn bên, còn Mỹ gọi là cuộc họp hai phía.

Về sắp xếp chỗ ngồi, phía Mỹ đề nghị nhờ Pháp thu xếp - Ta không đồng ý. Việt Nam cho rằng đi vào đàm phán bốn bên các đoàn phải bình đẳng, độc lập với nhau, thể hiện vai trò và vị trí của mỗi bên và phản ánh tương quan lực lượng trên chiến trường. Do yêu cầu đề cao vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ta đề nghị một bàn vuông, bốn đoàn ngồi bốn cạnh - hoặc một bàn hình thoi. 

Phía Mỹ có nhiều sáng kiến để thể hiện khái niệm hai phía của họ. Lúc đầu họ đề ra cái bàn chữ nhật: Phía Mỹ và Chính quyền Sài Gòn ngồi một bên, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng ngồi một bén.

Tiếp đó họ gợi ý ra ba kiểu bàn khác:

- Hai bàn hình cung đối diện nhau, không tách rời nhau.

- Hai nửa vòng tròn đối diện nhau, tách rời nhau.

- Hai nửa vòng tròn đối diện nhau, ở giữa có khoảng cách, hai đầu có hai bàn chữ nhật cho thư ký ngồi.

Phía ta đề nghị lấy kiểu thứ hai của Mỹ nhưng không tách ra mà ghép lại thành một bàn tròn.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:16:45 PM
Cứ như thế là đã mất hết hai tháng cuối năm 1968 rồi. Sang tháng giêng năm sau, Mỹ lại đề nghị ba kiểu bàn khác:

- Một bàn tròn liên tiếp có hai phần dành cho thư ký đối diện nhau - và hai phần đó tụt xuống thấp hơn, một nửa về phía Việt Nam, một nửa dành cho phía Mỹ.

- Một bàn trong có kê hai chiếc bàn cho thư ký đối diện nhau và dính sát vào bàn tròn.

- Hai bàn dài khép kín bằng hai nửa vòng tròn dành cho thư ký.

Họ cũng đề nghị không cờ, không có biển ghi tên các đoàn trước mặt họ. Ta không đồng ý hình thù cái bàn mà còn đòi họ theo đúng thủ tục quốc tế, có cờ, có biển ghi tên trước mặt các đoàn!

Phía Mỹ lại đưa ra sáng kiến mới: một bàn tròn có băng to bằng thảm đỏ ở giữa. Bị phản đối, họ thay cái băng thảm bằng một vạch nhỏ (trip).

Trong quá trình thảo luận, nước chủ nhà và đại diện Liên Xô ở Pháp, đại sứ Obôrencô có tham gia ý kiến. 

Ngày 15 tháng 1 năm 1969, hai bên chấp nhận gợi ý của Liên Xô:

- Về sắp xếp chỗ ngồi: sẽ là một bàn tròn phẳng lì, có hai bàn chữ nhật kê cách bàn tròn 0,45mét đặt ở hai địa điểm đối diện nhau; các bàn này dành cho thư ký.

- Không có cờ và biển. 

- Còn thứ tự phát biểu - cũng là vấn đề. Thông thường ở các Hội nghị Quốc tế, ai cũng muốn phát biểu đầu tiên, lúc các nhân vật quan trọng còn có mặt, chứ không ai đợi lúc chiều tà, chợ đã vãn mới nói vì ít người chú ý. 

Theo ý kiến của Liên Xô, thứ tự phát biểu trong Hội nghị này là nhờ Pháp rút thăm cầu may. Phía nào thắng sẽ phát biểu trước. Nếu ta thắng, có thể Bộ trưởng Xuân Thuỷ hay bà Nguyễn Thị Bình phát biểu trước. Phía Mỹ cũng vậy.

Hôm sau, đại diện ta vì muốn giải quyết cho xong vấn đề thủ tục, ta không câu chấp gì về thứ tự phát biểu, và nhường cho phía Mỹ phát biểu trước, nhưng nói rõ đó không phải là chấp nhận quan điểm "hai phía" của Mỹ. Ta cũng chấp nhận phiên họp đầu tiên bốn đoàn vào 18 tháng 1 năm 1969, như Mỹ đề nghị. Còn hai ngày nữa Tổng thống L.B Johnson rời Nhà Trắng nhưng Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu vẫn không muốn cho vị Tổng thống này của Hoa Kỳ dính dáng vào. Một tuần sau họ mới cử người đi họp. R.Nixon đã vào Nhà Trắng được năm ngày!

*
*   *

Ngày 10 tháng 1, đại sứ quán Mỹ ở Paris nhân danh Harriman gửi thư cho đoàn Việt Nam đề nghị gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ và Cố vấn Lê Đức Thọ để xem lại kết quả công việc sau 9 tháng đến Paris thảo luận về tương lai quan hệ hai nước. Phía Mỹ đề nghị họp ở nhà riêng của họ ở thị trấn Sceaux để cho cuộc gặp gỡ được lặng lẽ và hoàn toàn riêng tư. Thư có thêm một câu viết tay "Rất mong được gặp ngài với mọi sự tốt lành". Ký tên: Harriman.

Cuộc họp tiễn biệt đó diễn ra hôm 14 tháng 1 năm 1969 tại địa điểm trên. Đại sứ Mỹ thông báo cho ta biết là ông Cabot Lodge, người bạn cũ của Tổng thống Nixon, người đã hai lần làm đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn - sẽ cầm đầu phái đoàn Mỹ tại Paris. Ông Walsh, một luật gia có tên tuổi ở New York sẽ thay ông C.Vance. Ngoài ra còn có thêm ông M. Green, nguyên đại sứ Mỹ ở Inđônêxia.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:16:53 PM
Harriman muốn biết quan điểm của Việt Nam về tương lai cuộc đàm phán trước khi về Mỹ. Ông nói, và phía Việt Nam cũng thông cảm, rằng ông không thể nói về chính sách của Chính quyền mới ở Washington, nhưng ông nghĩ rằng quan điểm chung cũng giống như điều ông đã nói là làm sao xuống thang chiến sự, tôn trọng khu phi quân sự và cùng rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Về chính trị, người Việt Nam phải đứng hàng đầu trong cuộc nói chuyện với nhau để tìm một giải pháp. Lê Đức Thọ tỏ ý tiếc là đại sứ Harriman không ở lại Paris được, và điểm lại quá trình nói chuyện, ông nói:

“Nếu như chỉ hai, ba tháng các ngài đã chấm dứt ném bom thì tình hình bây giờ đã khác rồi".

Đề cập đến việc dư luận báo chí nói Nixon không muốn giải quyết chiến tranh, việc Sài Gòn đưa tướng Nguyễn Cao Kỳ sang làm Cố vấn cho đoàn họ là một dấu hiệu không hay, Lê Đức Thọ nêu ra ba khả năng:

1 - Trường hợp thứ nhất. Chúng tôi nghiêm chỉnh và có thiện chí, Chính quyền mới ở Mỹ và đoàn đàm phán mới của Mỹ ở Paris thật sự nghiêm chỉnh và có thiện chí có thể tiến lên giải quyết vấn đề.

2 - Nếu các ngài muốn dùng thế mạnh để ép chúng tôi, không coi trọng những quyền lợi dân tộc cơ bản của Việt Nam thì khó có thể giải quyết được và cuộc đàm phán sẽ kéo dài.

3 - Còn trường hợp thứ ba các ngài không muốn giải quyết mà tiếp tục đánh thì chúng tôi cũng sẵn sàng tiếp tục chiến đấu cho đến khi giành lại được các quyền dân tộc cơ bản của chúng tôi.

Tôi cho rằng trường hợp một là đúng đắn nhất, nhưng không biết rồi đây ông Nixon, ông Lodge có nghĩ như vậy không hay lại chọn trường hợp thứ hai và thứ ba. Nếu như vậy thì không phải lỗi ở chúng tôi.”


Lê Đức Thọ nhấn mạnh rằng khó khăn là do bọn Thiệu - Kỳ - Hương không muốn giải quyết vấn đề. Với thái độ như vậy thì ngồi vào cũng khó giải quyết được.

Còn quan hệ giữa Mỹ và miền Bắc sẽ là quan hệ bình thường, cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào nội bộ nhau.
Harriman nói rằng có thể loại bỏ khả năng thứ ba. Ông ta cũng nói rằng ông Nixon và ông Lodge sẽ nhìn vấn đề theo khả năng một và khả năng thứ hai. Vị đại sứ Mỹ còn hỏi thêm rằng nếu như ở miền Nam Việt Nam lập một Chính phủ muốn chấm dứt chiến tranh và có cảm tình với miền Bắc thì phía Việt Nam thấy thế nào? Ông ta cũng hỏi về thời gian thống nhất hai miền, Việt Nam sẽ thành một liên bang hay một Quốc gia thống nhất.

Ba hôm sau mới là cuộc từ biệt chính thức. Đại sứ Mỹ tặng mỗi người tham dự một bao diêm bằng giấy làm kỷ niệm và bộ trưởng Xuân Thuỷ tặng ông tập san "Nghiên cứu về Việt Nam” chuyên đề về văn học, và tặng ông C.Vance một cuốn về giáo dục ở Việt Nam bằng tiếng Pháp. Hôm ấy người ta chúc mừng nhau, không khí vui vẻ. Nhưng đại sứ Harriman không quên nhắc tới vấn đề giặc lái Mỹ bị bắt ở miền Bắc Việt Nam. Còn Lê Đức Thọ nêu lên nhận định của ông rằng "phi Mỹ hoá chiến tranh" của Mỹ sẽ thất bại như đã xảy ra trước khi quân Mỹ vào.

Chúng tôi có cả một dân tộc đứng lên chiến đấu... Chúng tôi biết đánh, chúng tôi cũng biết nói chuyện. Chúng tôi mong đạt được hoà bình chính đáng. Chúng tôi sẽ thảo luận với ông Lodge về vấn đề rút quân hoặc bất cứ vấn đề nào khác mà các ngài nêu ra... Nếu như các ngài không nhìn vào thực tế, tuy muốn giải quyết nhưng kéo dài việc rút quân bằng chờ đợi việc củng cố ngụy quân, ngụy quyền, gây sức ép với chúng tôi, điều đó không thể được đâu".

Harriman có vẻ bi quan, mong muốn thấy được hoà bình ở Việt Nam trước khi ông qua đời


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:18:19 PM
Hội nghị bốn bên bắt đầu

Mười giờ ba mươi phút sáng 25 tháng 1 năm 1969, khai mạc trọng thể Hội nghị bốn bên tại phòng lớn của Trung tâm Hội nghị Quốc tế phố Kléber.

Trước cửa của Trung tâm, đông đảo bà con Việt kiều ở Paris, tay cầm cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt trận đứng chật ních bên đường vẫy chào hai đoàn Đại biểu Việt Nam. Các phóng viên báo chí, vô tuyến truyền hình, các hãng thông tấn của nhiều nước trên thế giới đều có mặt để ghi lại hình ảnh ban đầu của sự kiện lịch sử này. Họ chú ý nhiều đến đoàn Mặt trận do ông Trần Bửu Kiếm dẫn đầu.

Sau phút náo nhiệt ban đầu, các đoàn lần lượt vào ngồi quanh chiếc bàn đường kính tám mét phủ thảm xanh - Các trưởng đoàn lần lượt phát biểu ý kiến và có tranh luận ngắn - sau đó người phát ngôn ra họp báo.

Lần lượt từ tháng này qua tháng khác, mỗi tuần một lần vào thứ tư, các bên đối địch nhau ngồi đối diện nhau tố cáo nhau gay gắt và quyết liệt Những vấn đề về nguồn gốc chiến tranh và giải pháp là những vấn đề lớn, bên cạnh những lời lẽ về thiện chí, nghiêm chỉnh được lặp đi lặp lại nhiều lần - một cuộc đấu lý kéo dài lại diễn ra như những tháng đầu của Hội nghị hai bên. Các Đại biểu ngồi ở đấy nhưng cái hy vọng chính của họ là ở chiến trường.

Một tuần sau phiên khai mạc, Trưởng đoàn Mỹ đưa ra một giải pháp ba điểm: Hai bên cùng rút quân, bảo đảm quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và thả tù binh - là vấn đề họ nhấn mạnh nhiều lần sau này - tố cáo phía Việt Nam vi phạm công ước Genève 1958 đối với bọn giặc lái bị bắt quả tang khi đang gây tội ác ở miền Bắc.

Phía Mỹ còn nói nhiều về việc ta vi phạm khu phi quân sự và đòi ta nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn.

Về phía Việt Nam: từ tháng 11 năm 1968, Hà Nội đã vạch ra phương hướng mới là: Đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận quân sự chính trị, ngoại giao giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi quyết định và mở đường cho một giải pháp bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ta mà đối phương có thể chấp nhận được.

Ngày 1 tháng 1 năm 1969, Nguyễn Duy Trinh lại thông báo cho đoàn Việt Nam ở Paris:

Tình hình ngày càng xác minh nhận định trước đây là đúng: chiều hướng của Mỹ là sớm chấm dứt chiến tranh. Nixon cũng phải theo chiều hướng đó. Nhưng Mỹ muốn rút trong danh dự. Nixon muốn đàm phán trên thế mạnh, rút quân Mỹ nhưng phải giữ được ngụy quân làm công cụ thi hành chính sách thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.”



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:18:33 PM
Đấu tranh ngoại giao phải kiên trì và tích cực tập trung vào 4 điểm chính sau đây:

1 - Đẩy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Mỹ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ.

2 - Khoét sâu mâu thuẫn khó khăn nội bộ Mỹ, nội bộ ngụy, mâu thuẫn Mỹ - Ngụy.

3 - Đề cao vai trò quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

4 - Tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ ta về vật chất và chính trị. Đồng thời tranh thủ sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và có hiệu quả của phong trào nhân dân thế giới bao gồm cả nhân dân Mỹ: đấu tranh đòi Mỹ rút nhanh, rút hết và không điều kiện khỏi miền Nam Việt Nam
”.

Về chủ trương "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, Hà Nội cũng nhìn thấy từ đầu tuy chưa đầy đủ và toàn diện tất cả sự thâm độc nguy hiểm của nó, nhưng cũng đã thấy chỗ yếu cơ bản trong bản thân chiến lược đó không thể nào khắc phục nổi. Trong tình thế đã thất bại phải xuống thang để rút lực lượng Mỹ, nhưng Mỹ lại muốn giao cho quân nguỵ một nhiệm vụ mà cả quân Mỹ và quân nguỵ trước đây không làm nổi. Chủ trương đó không tạo ra cho Mỹ thế mạnh cần thiết. Mỹ muốn giảm thương vong, giảm chi phí nhưng Việt Nam hoá không thể làm nhanh được, do đó Mỹ không thể rút quân nhanh, và thương vong tổn phí cho chiến tranh lại càng lớn, nhân dân Mỹ không chịu đựng nổi.

Mỹ muốn rút đi, Sài Gòn muốn Mỹ ở lại, do đó mâu thuẫn hai bên lại tăng lên. Trong chiến lược quân sự “quét và giữ” cũng có nhiều mâu thuẫn. Trước đây “tìm và diệt” đã không thành, lực lượng đối phương có bị tổn thất nhưng vẫn còn nhiều - và cũng không nằm im bị động

Tuy nhiên Hà Nội cũng tính đến hai khả năng:

- Có thể do bị tổn thất nặng và gặp khó khăn lớn, Mỹ phải kết thúc chiến tranh sớm bằng một giải pháp chính trị mà họ có thể chấp nhận được.

- Hai là nếu Việt Nam tiến công không đủ mạnh, Mỹ tạm thời khắc phục một phần khó khăn của Mỹ thì Mỹ còn cố gắng kéo dài chiến tranh ở miền Nam một thời gian.

Trong hai khả năng đó, để gây sức ép với ta trước khi kết thúc chiến tranh trong tình hình nào đó, Mỹ có thể ném bom bắn phá lại miền Bắc hoặc mở rộng chiến tranh trên đất Lào và Campuchia (Nghị quyết tháng 4 năm 1969. Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập III. Nhà xuất bản Thông tin Lý luận, Hà Nội, 1985, tr. 461-462.).

Trong khi ở Paris, các đoàn Đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận tố cáo mạnh mẽ kẻ địch thì ở miền Nam lực lượng giải phóng mở hai đợt tấn công: đợt mùa xuân từ 22 tháng 2 đến 30 tháng 3, và đợt tiếp vào mùa hè từ 11 tháng 5 đến 23 tháng 6, gây cho địch một số thiệt hại nhưng không tạo được chuyển biến gì đáng kể (Đại tướng Văn Tiến Dũng. Toàn thắng. Sđd, tr. 44). 

Khả năng thứ hai trong nhận định trên đã xuất hiện.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:20:24 PM
Cuộc gặp đầu tiên C.Lodge - Xuân Thuỷ

Ngày 8 tháng 3, hơn một tháng sau khi bắt đầu Hội nghị bốn bên và sau khi ta pháo kích vào căn cứ Mỹ ở Tân Sơn Nhất (22 tháng 2), một cuộc tấn công xảy ra trước ngày Tổng thống Nixon đi châu Âu "Làm mất khả năng trả đũa và làm nhục Tổng thông mới" ( H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Fayard, Paris 1979, tr. 252.) đại sứ Lodge đến gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ tại số nhà 11 phố Darthé.

Ông nói rằng ông không có ý định nói gì về tính chất, nội dung hoặc hoàn cảnh trình bày lập trường của Mỹ mà đây mới là bắt đầu một cách làm việc lặng lẽ và có hiệu quả để giải quyết những vấn đề của nhau. Nhưng đi vào chuyện ông đã nói ngay đến việc ta tấn công quân Mỹ ở Sài Gòn. Ông ta đọc ngay một bản đã chuẩn bị sẵn:

Chúng tôi không hành động một cách hấp tấp nhưng sự thật là việc chúng tôi tỏ ra kiên nhẫn không thể được coi là một dấu hiệu yếu đuối".

Rồi ông nói rằng sẽ không dung thứ những việc tiếp tục vi phạm các điều đã thoả thuận, không dung thứ những cuộc tấn công gây cho binh lính Mỹ thương vong hơn nữa

"... Tôi được chỉ thị của Chính phủ tôi nhấn mạnh vào tính chất nghiêm trọng của những trận pháo kích vào Sài Gòn vi phạm thoả thuận của chúng ta...".

Ông ta đe doạ cụ thể rằng sẽ có những hành động thích đáng đáp lại như Tổng thống chúng tôi đã tuyên bố.

Xuân Thuỷ:

- Mỹ đã vi phạm Hiệp nghị Genève năm 1954, đã gây ra chiến tranh ở Việt Nam. Thất bại, Mỹ phải đơn phương chấm dứt ném bom miền Bắc, nhưng lại muốn giải quyết vấn đề trên thế mạnh, tăng cường nguỵ quân, nguỵ quyền. Mỹ vẫn bắn phá miền Bắc: tháng 1 năm 1969: 11 lần, tháng 2: 26 lần.

Xuân Thuỷ bác bỏ điều mà Lodge nói về thoả thuận trước đây và nhấn mạnh Mỹ đã làm trái với điều đã cam kết: chấm dứt ném bom không điều kiện. Ông nói: làm thế nào để giải quyết vấn đề và nêu ra:

1 - Hoa Kỳ phải rút hết quân Mỹ và chư hầu không điều kiện.

2 - Hoa Kỳ phải từ bỏ Chính quyền Sài Gòn. Nếu Hoa Kỳ cứ bám lấy Chính quyền Thiệu - Kỳ - Hương, một Chính quyền phát xít và hiếu chiến, thì không nói chuyện hoà bình được.  

3 - Chiến sự đang diễn ra trên đất Nam Việt Nam. Hoa Kỳ phải nói chuyện với Mặt trận. Hoa Kỳ không nói chuyện với Mặt trận là không hợp lý và không giải quyết được vấn đề.

Tất nhiên Mỹ không chấp nhận và Lodge còn nói rằng: miền Bắc đã được hưởng lợi ích trước mắt và trực tiếp của việc ngừng ném bom - và phía Mỹ sẵn sàng thảo luận các đề nghị của phía Việt Nam.  

Xuân Thuỷ:

- Thử hỏi: nếu máy bay Việt Nam bay trinh sát trên bầu trời nước Hoa Kỳ, liệu Hoa Kỳ có để yên không? Nếu Quân đội Việt Nam đến quấy rối trên đất Hoa Kỳ, liệu Hoa Kỳ có để yên không? Cho nên quân và dân miền Nam phải chống lại quân Mỹ và chư hầu. Chúng tôi không có trách nhiệm về những việc xảy ra ở miền Nam.

Cuộc gặp đầu tiên giữa hai trưởng đoàn là như vậy. Lúc này, trên chiến trường ta gặp khó khăn. Một số đơn vị chủ lực phải tạm trú chân trên biên giới Campuchia - và vùng này đã trở nên đất thánh mà Mỹ chưa đụng chạm tới.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 18 Tháng Chín, 2009, 06:20:31 PM
Washington tính toán những lựa chọn khác nhau: Một là trả đũa ném bom trở lại miền Bắc - điều này sẽ đụng chạm đến phong trào phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ, và cũng không hứa hẹn một kết quả mong muốn - hai là ném bom các căn cứ hậu cần của Việt cộng trên đất Campuchia.

Và ngày 18 tháng 3 năm 1969, Mỹ đã cho máy bay chiến lược B52 làm việc đó. Lầu Năm Góc gọi đó là "Cuộc hành quân Thực đơn” (menu), đặc biệt vào căn cứ 353 ở vùng Lưỡi Câu - nơi mà theo họ là Chỉ huy sở của Việt cộng ở miền Nam Việt Nam.

Chiến dịch này của Mỹ kéo dài cho đến tháng 5 năm 1970, Những cuộc rải bom ác liệt vào dân thường sinh sống ở vùng này được Lầu Năm Góc gọi là "bữa ăn sáng", “ăn trưa" – “ăn chiều”,– “điểm tâm", v. v... (H.Kissinger: Ở Nhà Trắng, tr.258.)

Bốn ngày sau khi Washington mở "Chiến dịch Thực đơn", C Lodge lại gặp Xuân Thuỷ. Ông ta nói rằng muốn có cuộc họp này để trao đổi một cách thành thật. Ông ta nói Hoa Kỳ tin rằng những quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam phải được tôn trọng - Hoa Kỳ ủng hộ và tiếp tục ủng hộ ý muốn chính đáng của nhân dân Việt Nam là hoà bình, độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam... Hà Nội cũng như Washington đều không có quyền ép buộc nhân dân Nam Việt Nam tuân theo ý muốn của mình. Vì vậy Hoa Kỳ luôn luôn nhấn mạnh tính chất quan trọng của việc rút khỏi miền Nam Việt Nam tất cả lực lượng từ bên ngoài vào. Ông ta nói thêm: lực lượng bên ngoài là lực lượng không phải của Nam Việt Nam, là "lực lượng của hai chúng ta".

Sợ Xuân Thuỷ không hiểu, ông ta lại nói: là lực lượng miền Bắc và lực lượng của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa Kỳ. Lực lượng miền Bắc thâm nhập vào phải rút về miền Bắc - Cuộc rút quân có thể đồng thời càng sớm càng tốt. Rồi ông ta tuyên bố sẵn sàng bàn chi tiết về thời gian và các sắp xếp cho việc rút quân đồng thời đó.

Xuân Thuỷ nhận xét rằng lời lẽ của Lodge không có gì mới và nói:

- Ông Nixon đã nói đến hoà bình rất nhiều, nhưng việc làm thực tế thì rõ ràng ông Nixon không ngừng tăng cường chiến tranh... Số lượng quân nguỵ và quân chư hầu Mỹ được tăng thêm, việc triệt phá làng mạc gom dân lập ấp chiến lược ở miền Nam được đẩy mạnh, việc đánh phá miền Bắc cũng tăng lên.

Bộ trưởng cũng bác bỏ việc cùng rút quân mà Lodge đưa ra. Lodge trả lời rằng: phía Việt Nam đã không đạt được những thắng lợi quân sự khả dĩ đưa ra được yêu sách chỉ đòi quân Mỹ rút. Lodge còn đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn.

Lodge vui mừng thấy Xuân Thuỷ không nhắc gì đến việc Mỹ cho máy bay chiến lược ném bom Campuchia - điều mà ông ta và Washington muốn biết. Một điều khác có lẽ làm cho C.Lodge và cả Washington hơi bất ngờ là việc Xuân Thuỷ đề cập đến xung đột Trung - Xô mới xảy ra đầu tháng ba - và cảnh cáo Mỹ đừng lợi dụng sự bất đồng giữa các nước xã hội chủ nghĩa để kéo dài chiến tranh xâm lược Việt Nam. Về việc này Kissinger có thừa nhận lúc đó tại Washington mọi người còn bị lôi cuốn quá nhiều vào vấn đề Việt Nam để phản ứng trước sự kiện mà họ chưa hiểu rõ nguyên nhân (H.Kissinger: Ở Nhà Trắng tr. 180-181.)


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:04:27 AM
Giải pháp mười điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng: một bất ngờ đối với Mỹ

Trong mấy tháng đầu của cuộc đàm phán bốn bên, Việt Nam chưa có một lập trường giải pháp mới cho vấn đề Việt Nam. Đoàn ta ở Paris vẫn căn cứ vào lập trường bốn điểm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề ra từ ngày 8 tháng 4 năm 1965 khi Mỹ mới đưa quân vào miền Nam Việt Nam mà đấu tranh. Còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng thì căn cứ vào cương lĩnh đã công bố để đấu lý, chủ yếu là lên án Mỹ, đòi chấm dứt xâm lược, đòi rút hết quân Mỹ và đòi Mỹ từ bỏ Chính quyền Sài Gòn. 

Ngày 7 tháng 5 năm 1969, trong cuộc gặp riêng với Xuân Thuỷ, Lodge nói rằng ông ta muốn đề nghị một giải pháp mới. Ông ta đã nghiên cứu bốn điểm

(Tóm tắt bốn điểm ngày 8 tháng 4 năm 1965:

1. Thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Mỹ phải rút hết quân, tháo gỡ các căn cứ quân sự, huỷ bỏ liên minh quân sự với miền Nam.

2. Trong khi chờ đợi thông nhất Việt Nam, các điều khoản quân sự của Hiệp nghị Genève phải được thi hành: Không có quân đội, căn cứ quân sự nước ngoài, không liên minh quân sự ở hai miền.

3. Công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam phải giải quyết theo cương lĩnh của Mặt trận.

4. Hoà bình thống nhất Việt Nam.)

của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Rồi ông ta đưa ra từng điểm của lập trường đó, bình luận:

Về điểm 1 - Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam. Mỹ chỉ tìm cách tạo ra một tình hình trong đó Bắc Việt Nam chung sống với các nước láng giềng ở Đông Nam Á nhưng miền Nam Việt Nam không thể thực hiện được quyền cơ bản đó chừng nào còn có mặt của các lực lượng từ bên ngoài xâm nhập vào miền Nam Việt Nam. Ông ta đòi cùng rút quân.

Về điểm 2 - ông ta muốn bổ sung vấn đề khôi phục giới tuyến và khu phi quân sự. Ông ta còn nói đến tập kết quân và thả tù binh.

Ông ta đồng ý về điểm 4 - còn điểm 3 thì hơi khác nhau.

Nhưng ông ta thấy tuyên bố của ông Trần Bửu Kiếm trong phiên họp thứ 14 (ngày 26 tháng 4 năm 1969 - Tác giả) nói rằng tổng tuyển cử tự do có thể mở đường cho một cuộc thảo luận bổ ích, và đề nghị Mặt trận nói chuyện với Sài Gòn.

Trước khi nhận xét về phát biểu của Lodge, Xuân Thuỷ nói:

- Trước hết tôi muốn hỏi ông đại sứ rằng đối với cuộc gặp riêng ngày hôm nay, chúng ta có công bố hay không?

C. Lodge :

- Như lần gặp trước chúng ta không công bố bất kỳ điều gì về các cuộc gặp riêng.

Xuân Thuỷ:

- Tuy ông đại sứ nói như vậy nhưng Chính phủ Hoa Kỳ đã công bố về những cuộc gặp riêng như thế này. Ông Nixon ngày 6 tháng 4, ông Roger (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ - Tác giả) ngày 27 tháng 3 đều nói đến những cuộc gặp riêng này. Như thế là Hoa Kỳ đã không làm đúng những điều ông đại sứ đã nói với chúng tôi.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:04:36 AM
Xuân Thuỷ nói rằng đó là chỉ để lưu ý phía Mỹ là đã thoả thuận với nhau thì cần làm cho đúng, còn đối với ta, công bố hay không các cuộc gặp riêng cũng được.

C. Lodge ngồi lặng im - Xuân Thuỷ nhận xét về nội dung của điều Lodge nói không có gì mới - và nhắc lại ba điểm đã nói với C. Lodge hôm trước .

Hôm đó Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ cũng có mặt. Ông Thọ nói:

- Từ khi ông Nixon vào Nhà Trắng, ông nói nhiều về hoà bình ... nhưng giải pháp mà ông Nixon muốn tìm vẫn là giải pháp trên thế mạnh.

Tiếp đó Lê Đức Thọ nói đến chủ trương Việt Nam hoá chiến tranh, tăng cường nguỵ quân, nguỵ quyền của Mỹ ở miền Nam nhằm thực hiện chủ nghĩa thực dân mới, và kết luận:

- Những đề nghị của các ông cũng nhằm mục đích đó chứ không nhằm thiết thực giải quyết vấn đề. Do đó đã ba tháng rồi mà Hội nghị Paris vẫn giẫm chân tại chỗ.

Đến đây lại nổ ra cuộc tranh luận về nguồn gốc chiến tranh, ai là kẻ xâm lược, vai trò của Chính quyền Sài Gòn, của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Sáng hôm sau, vị trưởng đoàn Hoa Kỳ đến phiên họp toàn thể của Hội nghị bốn bên với phong thái dửng dưng xem như chẳng có gì quan trọng trong buổi họp như các kỳ trước. Bỗng dưng ông ta ngồi thẳng dậy và chú ý khi ông Trần Bửu Kiếm đưa ra đề nghị giải pháp mười điểm để giải quyết vấn đề Việt Nam. Đại diện Mặt trận đọc thong thả từng điểm một, gồm các mặt quân sự, chính trị, đối nội, đối ngoại của miền Nam Việt Nam sau này - và vấn đề thống nhất lại Việt Nam. Đại sứ Mỹ càng chú ý: mười điểm còn nói đến cả việc giải quyết hậu quả chiến tranh và giám sát quốc tế. Ông ta chú ý nhiều đến hai điểm chủ yếu của giải pháp là: Hoa Kỳ phải rút hết không điều kiện và lập Chính phủ Liên hiệp lâm thời để tổ chức tổng tuyển cử... (Ông Lodge đã rõ từ lâu) nhưng khi Trần Bửu Kiếm nói:

“Lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam do các bên miền Nam giải quyết" thì Lodge ghi vội vài dòng vào cuốn sổ của ông ta.

Thực ra đây là vấn đề có ý nghĩa nhất trong giải pháp mười điểm. Đề nghị này mở đường cho Mỹ rút trong danh dự mà vẫn có khả năng giữ được Chính quyền thân Mỹ. Lần đầu tiên Mặt trận đưa ra một giải pháp thực tế tỏ rõ thiện chí muốn có nói chuyện giữa những người Nam Việt Nam để giải quyết không những vấn đề quân sự mà cả vấn đề chính trị...

Giải pháp đó còn quá cao, đòi đuổi cả Mỹ và xoá cả nguỵ cùng một lúc, nhưng dư luận thấy rõ đó là cơ sở đầu tiên và rõ ràng có thể thúc đẩy cuộc nói chuyện tiến lên.

Cố vấn An ninh Quốc gia của Nhà Trắng, H.Kissinger sau này nhận xét rằng:

“Kế hoạch đó vừa hỗn láo trong lời nói và đơn phương trong nội dung. Tuy vậy, riêng việc tồn tại một kế hoạch hoà bình của cộng sản, mặc dù bản thân nó là một sự bất ngờ đã gây ra ngay lập tức sự phản ứng trong Quốc hội, trong các phương tiện truyền thông và trong dư luận công chúng. Họ gây sức ép với Chính phủ, đừng bỏ qua cơ hội đó". (H.Kissinger: Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 282.).



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:05:34 AM
Chính quyền Nixon ở trong tình thế bị động.

Trước đó hai tuần Bộ trưởng Xuân Thuỷ đã hỏi Lodge:

- Nếu Chính phủ Nixon đã chuẩn bị một kế hoạch hoà bình quan trọng như ông ta thường nói, tại sao ông ấy không đưa ra công khai kế hoạch đó?

Trước tình hình bị động đó, ngày 14 tháng 5, R.Nixon phải lên truyền hình và đưa ra kế hoạch đầu tiên về giải pháp cho vấn đề Việt Nam.

Trước tiên ông ta nói về thành công trong bốn tháng cầm quyền của ông như thế nào, rồi sau đó đưa ra kế hoạch hoà bình tám điểm. Ông ta nói Mỹ muốn rút quân nhanh chóng ra khỏi Nam Việt Nam, không muốn tìm kiếm căn cứ quân sự, không phản bội lại trách nhiệm của Tổng thống... Nhưng ông ta vẫn đòi hai bên cùng rút số lớn quân trong vòng 12 tháng sau khi có Hiệp định. Ông ta còn tuyên bố một cách trịch thượng rằng "Hoa Kỳ đồng ý để Mặt trận tham gia vào đời sống chính trị ở miền Nam Việt Nam, tham gia vào tổng tuyển cử tự do, có giám sát và kiểm soát quốc tế” (R.Nixon: Thememoirs.fr.Nixon. Sđd, tr39. và Bernard Kalb. Kissinger. (N.Y. Dell, 1975), tr. 59-63.). Tất nhiên ông ta không quên nói đến ngừng bắn, thả tù binh, đến Hội định Genève năm 1954 và 1962... Ông ta cũng không quên đe doạ dùng những biện pháp cứng rắn, nếu Bắc Việt Nam cho sự mềm dẻo của ông là sự suy yếu.

Đề nghị này cũng có những điểm trùng hợp với giải pháp mười điểm của Mặt trận, nhưng thực chất vẫn xem kẻ xâm lược và người bị xâm lược như nhau, vẫn giữ Chính quyền thân Mỹ và giảm nhẹ vai trò của Mặt trận. Do chênh lệch về thời gian giữa Paris và Washington, hôm ấy đoàn ta ở Paris được tin Nixon sẽ đọc diễn văn vào lúc hai giờ sáng 15 tháng 5 (giờ Paris), các cán bộ có trách nhiệm đã được động viên thức để theo dõi. Hơn một giờ sau, đoàn có văn bản đầy đủ để đánh giá và có biện pháp trả lời. Các cây bút phải thức suốt đêm để soạn bài phát biểu của Xuân Thuỷ... mười giờ sáng, khi bắt đầu làm việc ở Kléber, Bộ trưởng đã có một bài phân tích sơ bộ nhưng toàn diện tám điểm của Nixon trước sự ngạc nhiên của Lodge và đoàn Mỹ.

Loại trừ khẩu khí về ngôn từ trong đề nghị của hai bên, lần đầu tiên trên bàn đàm phán có hai kế hoạch giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam.

Hai điểm chủ yếu của Mỹ là: quân miền Bắc rút cùng quân Mỹ - và giữ Chính quyền Sài Gòn.

Còn phía Việt Nam đòi:

- Giữ quân miền Bắc ở lại miền Nam sau khi Mỹ rút.

- Xoá bỏ Chính quyền Sài Gòn. 

Đó là hai vấn đề then chốt mà hai bên mặc cả với nhau để đi tới thoả thuận sau này.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:07:09 AM
Cuộc gặp C.Lodge và Đức Thọ

Khi đó Mỹ đang có ưu thế ở miền Nam Việt Nam, và tất nhiên Mỹ muốn giải quyết vấn đề trên thế mạnh. Phía Việt Nam phải chờ đợi thời cơ. Chúng ta cần có thời gian để khôi phục lại tình thế cách mạng và chiến tranh nhân dân ở miền Nam. Ngay trong vấn đề "Chính phủ liên hiệp" đưa ra trong hoàn cảnh hạ tầng cơ sở của ta tan rã như lúc đó, nếu địch nhận ra thì có thể cũng là một khó khăn cho ta, giống như Chính phủ Hoà hợp Quốc gia lần thứ nhất năm 1957 ở Lào. (chỉ sau một năm tồn tại, phái hữu đã đảo chính bắt giam các đại diện Pathet Lào trong đó có Hoàng thân Suphanuvông).

Tất nhiên Việt Nam phải giữ kín ý đồ của mình, và sử dụng ưu thế về chính trị để tấn công địch trên mặt trận ngoại giao cũng như trong dư luận, phục vụ cho chiến trường. Đợt tấn công ngoại giao tháng 5 năm 1969 đã đạt mục đích mong muốn và có ý nghĩa riêng của nó.

Mỹ cũng nuôi hy vọng ép được Việt Nam trong lúc cách mạng miền Nam có khó khăn trên chiến trường.

Trong giờ nghỉ phiên họp công khai thứ mười chín, ngày 29 tháng 5, e. Lodge xin gặp riêng Lê Đức Thọ vào 31 tháng 5 tại nhà riêng của đoàn Mỹ vào mười giờ ba mươi phút. Ông Thọ đồng ý ngay. Lodge tỏ ra rất mừng.  

Vào cuộc họp, đại sứ Mỹ nói ngay ý định của ông là "thăm dò tìm ra cách nào tốt đẹp nhất cho cuộc thảo luận của chúng ta tiến triển".

Xuất phát từ các kế hoạch đã có, ông ta đề ra hai vấn đề cơ bản:

1- Việc rút khỏi miền Nam mọi lực lượng không phải Nam Việt Nam.

2- Giải pháp chính trị nội bộ ở miền Nam.

Ngoài ra ông ta còn đề ra một số vấn đề cụ thể khác nữa có thể thảo luận trên cơ sở hai kế hoạch của hai bên. Nhưng ông ta nhấn mạnh là vấn đề quân sự chỉ bàn giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ, còn vấn đề chính trị thì Chính phủ Việt Nam Cộng hoà và Mặt trận nên bàn với nhau. Hai cuộc thảo luận này có thể tiến hành song song.

Hôm đó Lê Đức Thọ cũng nói một số vấn đề khái quát, sau đó phát biểu một số ý kiến về tám điểm của Nixon, và cuối cùng đưa ra một số đề nghị.

Cũng như lần đầu gặp Harriman, vài ý tổng quát của Cố vấn đặc biệt là cả một bài dài về âm mưu của Mỹ từ sau chiến tranh thế giới thứ hai: bành trướng thế lực, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc ở Á-Phi-Mỹ Latinh... rồi thất bại của Mỹ ở Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, quá trình xâm lược của Mỹ vào Việt Nam đến Tết Mâu Thân, rồi kết luận:

- Các ông đã không thể chiếm được miền Nam Việt Nam bằng quân sự mà phải buông ra, nhưng lại muốn nắm lại miền Nam bằng phương pháp khác. Chủ trương nói trên của các ông thể hiện trong diễn văn ngày 14 tháng 5 của ông Nixon: vẫn duy trì cam kết với nguỵ quyền Sài Gòn, tăng cường nguỵ quân, đòi cái gọi là quân miền Bắc rút đi để làm suy yếu Mặt trận Dân tộc Giải phóng, không chấp nhận Chính phủ liên hiệp mà để Thiệu - Kỳ - Hương đứng ra tổ chức tuyển cử...



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:07:17 AM
- Với tất cả những điều nói trên thì làm sao chúng tôi và Mặt trận có thể chấp nhận được. 

Lê Đức Thọ lại nhắc lại những sai lầm của Mỹ và kết thúc bằng câu khẳng định:

- Việt Nam hoá của Mỹ nhất định thất bại.

Về đề nghị mới, ông nói: .

- Chúng tôi thấy cần thảo luận mười điểm của Mặt trận và tám điểm của các ông để đi tới một thoả thuận toàn bộ các vấn đề, sau đó đi đến ký kết hiệp nghị ngừng bắn.

C.Lodge liền hỏi ngay:

- Như vậy là có ký kết hiệp nghị ngừng bắn?

Lê Đức Thọ:

- Sau khi thoả thuận giải quyết toàn bộ vấn đề thì đi đến ký kết hiệp nghị ngừng bắn. Sau đó các bên sẽ thi hành tất cả các hiệp nghị được ký kết.

Về cách thức tiến hành thảo luận, ông Thọ đề nghị: Có những vấn đề liên quan đến hai bên, đến ba bên, và có những vấn đề liên quan đến bốn bên.

Hiện nay Mỹ chưa chịu nói chuyện với Mặt trận, còn Mặt trận thì chưa chịu nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn, như vậy làm sao mà tiến hành Hội nghị được?

Lê Đức Thọ lại lên án chính quyền Sài Gòn và kết luận Thiệu - Kỳ - Hương là trở ngại lớn nhất cho hoà bình, làm cho Hội nghị chưa tiến triển được. Nếu các ông muốn tiến hành chiến tranh, các ông cũng không thể giữ Thiệu - Kỳ - Hương được. Còn nếu các ông muốn giải quyết vấn đề thì các ông cũng không thể duy trì Chính quyền Thiệu - Kỳ - Hương được.

C. Lodge bào chữa và cải chính những lời lên án của ông Thọ và thúc giục Mặt trận nên nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn. Ông cũng đề nghị bốn bên gặp riêng, và trong các cuộc gặp riêng đó ai muốn nêu vấn đề gì thì nêu. Ông nói rằng Hoa Kỳ không phải người tạo nên những ông vua, nhưng bàn các vấn đề chính trị miền Nam Việt Nam thì Chính quyền Sài Gòn phải là một bên trong cuộc thảo luận đó.

Lê Đức Thọ nói lại:

- Giữ Thiệu - Kỳ - Hương là một sai lầm lớn của Mỹ. Còn những vấn đề thảo luận giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không phải chỉ thảo luận những vấn đề liên quan đến hai bên mà phải dựa trên cơ sở giải pháp mười điểm của Mặt trận mà thảo luận.

C. Lodge cho đó là ta đặt ra điều kiện mới nhưng cũng đồng ý là hai bên nghiên cứu quan điểm của nhau và sẽ gặp lại.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:11:22 AM
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam: Người đối thoại mới.

Ngày 8 tháng 6 năm 1969, Tổng thống Nixon gặp Nguyễn Văn Thiệu giữa Thái Bình Dương, không phải chỉ ở đảo Hawai như Johnson đã làm mà ở đảo Midway, xa đất liền Mỹ đang sôi sục các cuộc biểu tình phản chiến. Mục đích là động viên Thiệu chấp nhận đợt rút đầu 25.000 quân Mỹ trong kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh. Nixon rất hài lòng với thái độ biết điều của Thiệu và coi đó là một thắng lợi chính trị.

Không ngờ cũng trong thời gian đó, từ 6 đến 8 tháng 6 - sự trùng hợp ngẫu nhiên mà chua chát - tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành vùng giải phóng Tây Ninh, một địa điểm không xa Sài Gòn, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình Việt Nam ở miền Nam cùng các lực lượng yêu nước khác họp Đại hội Đại biểu quốc dân miền Nam để xem xét tình hình chống Mỹ - Thiệu và nhất trí bầu ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, và Hội đồng Cố vấn Chính phủ do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch. Đại hội ra lời hiệu triệu quân và dân miền Nam tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà. Chính phủ Cách mạng Lâm thời vạch chương trình hành động mười hai điểm và các mặt đối nội và đối ngoại, trong đó đáng chú ý là tinh thần hoà hợp dân tộc và đề nghị thành lập một Chính phủ liên hiệp dân tộc rộng rãi. 

Việc thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đánh dấu bước tiến mạnh mẽ của cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta, đồng thời biểu thị quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh bại kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh" của Nixon. Nó tạo ra tình hình mới sẽ gắn với các cuộc thương lượng ở Paris cho đến ngày kết thúc, thậm chí trở thành một vấn đề gay go hàng đầu trong thương lượng: sự xuất hiện hình thái hai Chính quyền song song tồn tại ở miền Nam Việt Nam. Không có gì đáng ngạc nhiên là ngay trong tháng 6 năm 1969, hai mươi ba nước đã công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong đó hai mươi mốt nước đặt quan hệ ngoại giao.

Chính phủ Cách mạng Lâm thời trở thành người đối thoại thật sự của Mỹ dù họ muốn hay không. Cuộc thương lượng chịu sự tác động của một yếu tố mới: học thuyết mà Nixon đã khởi xướng tại Guam tháng 7 năm 1969 và được hoàn thiện đầu năm 1970 làm phương hướng cho chính sách châu Á mới của Mỹ sau chiến tranh Việt Nam. Sau khi tuyên bố rút 25.000 quân Mỹ tại Midway, Nixon nói sẽ tiếp tục rút nữa dựa trên cơ sở ba tiêu chuẩn: tiến bộ trong việc huấn luyện và trang bị lực lượng vũ trang Sài Gòn, tiến bộ của các cuộc thương lượng ở Paris và mức độ hoạt động quân sự của địch.

Như vậy vấn đề rút quân Mỹ gắn với thái độ thương lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời và với khả năng chiến đấu của Quân đội Sài Gòn sau khi Mỹ rút quân. Có thể nói kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh" là việc thể nghiệm đầu tiên học thuyết Nixon trong chiến tranh Việt Nam.

Những tháng đầu vào Nhà Trắng, Nixon cho rằng chính sách Việt Nam của ông ta muốn đạt tới kết quả cần phải kết hợp sức ép quân sự với sức ép công khai và sức ép của ngoại giao. Kể ra đó cũng là cách suy nghĩ và hành động của Tổng thống Johnson trước đây. Đối với Nixon, sức ép quân sự đây là các cuộc ném bom bí mật bằng B52 xuống Campuchia để đánh thẳng vào “đất thánh". Sức ép ngoại giao đây là lợi dụng nhu cầu cải thiện quan hệ với Mỹ của Liên Xô để thúc ép Liên Xô cắt viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Ngày 30 tháng 4 năm 1969, đại sứ Liên Xô ở Hà Nội, I.Secbacôp gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng chuyển những ý kiến mà Nixon và Kissinger đã nói với đại sứ Liên Xô Đôbrinin ở Washington:

- Nixon muốn tìm ra một giải pháp danh dự có thể chấp nhận được nhưng Nixon không chấp nhận những điều kiện có tính chất đầu hàng. Nixon cố gắng một lần nữa, nếu thất bại thì tìm cách khác.

- Nixon đề nghị hai bên gặp nhau ở Matxcơva và sẵn sàng tiếp đại diện Việt Nam ở Washington, thảo luận trong vòng hai tháng và mong đạt được những thoả thuận về những nét chung của một giải pháp.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:11:37 AM
Nixon nêu hai vấn đề cụ thể:  

+ Cùng rút quân trên nguyên tắc bình đẳng và đình chỉ chiến sự.

+ Về chính trị, bảo đảm cho Mặt trận không bị chèn ép và có quyền tham gia vào đời sống chính trị và xã hội của đất nước đổi lấy việc Mặt trận và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ bỏ việc dùng sức mạnh. Miền Nam sẽ độc lập, tự chủ trong năm năm, sau đó sẽ không phản đối thống nhất Việt Nam. (Kissinger nói thêm: năm năm hay là thời hạn khác là vấn đề có thể thảo luận) (Kissinger: Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 278.).

Hoa Kỳ mong muốn đạt được thoả thuận trước tháng 8. Hoa Kỳ không thể dùng bạo lực để thay đổi những thủ lĩnh hiện nay ở Sài Gòn và thành lập Chính phủ liên hiệp với sự tham gia của Mặt trận. Nhưng nếu Mặt trận tham gia Chính phủ qua bầu cử thì Hoa Kỳ không phản đối.

Tóm lại Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận con đường chính trị mà sau thời gian nào đó miền Nam Việt Nam tự mình lựa chọn.  

Kissinger đề nghị giữ bí mật không để cho Sài Gòn biết nếu không thì Hoa Kỳ buộc phải hoàn toàn phủ nhận.

Lúc này Liên Xô và Mỹ đã thoả thuận bắt đầu mở cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí chiến lược (SALT). Ông C.Vance, sau khi rời Hội nghị Paris đã trở thành Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ. Ông được giao nhiệm vụ đi Matxcơva đòi Liên Xô "gắn việc mở đầu cuộc nói chuyện về SALT với giải pháp tổng quát về Việt Nam" như Kissinger đã nói (Xem thêm: Kissinger, ở Nhà Trắng, Sđd, tr. 278-279.).

Việc Nixon phải chịu đơn phương rút quân Mỹ bất kể vì động cơ ban đầu nào cũng thật sự mở đầu một quá trình không thể đảo ngược được và chứng tỏ ông không có con đường nào khác là đi theo chính sách phi Mỹ hoá chiến tranh của Tổng thống tiền nhiệm. Ông ta đã có nhiều sáng kiến, mở nhiều con đường, nhưng vẫn chưa thấy tín hiệu nào về phía Việt Nam nên càng sốt ruột. Những người Việt Nam, những nạn nhân trực tiếp của cuộc xâm lược của Mỹ, làm sao có thể tin dễ dàng khi Mỹ vẫn muốn duy trì Chính quyền tay sai sau khi rút quân Mỹ, làm sao họ có thể chấp nhận kiểu đàm phán trên thế mạnh, chưa đưa đề nghị đã tung lời đe doạ?

Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ký Hiệp nghị Genève về Đông Dương, ngày 17 tháng 7 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố.

“Nhân dân Việt Nam quyết đòi tất cả quân Mỹ và quân chư hầu của Mỹ phải rút hết sạch, chứ không phải chỉ rút 25.000 hoặc 250.000 hay là 500.000, mà phải rút hết toàn bộ không điều kiện. Chỉ có như thế giới lấy lại được danh dự của nước Mỹ và tránh cho hàng vạn thanh niên Mỹ tiếp tục phải chết một cách vô ích ở miền Nam Việt Nam, tránh cho hàng chục vạn gia đình Mỹ khỏi bị tang tóc đau thương" . (Hồ Chí Minh tuyển tập, Tập II. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1980, tr. 537-538.).

Nỉxon còn nghĩ đến mở một con đường tiếp xúc với Hà Nội, chính là con đường Kissinger - Lê Đức Thọ sẽ kéo dài đến khi Hiệp định về Việt Nam được ký kết.

Tháng 12 năm 1968, khi còn là Tổng thống đắc cử, ông Nixon đã chọn Henry Kissinger làm Cố vấn đặc biệt về An ninh Quốc gia của Nhà Trắng. Kissinger đã dạy tại trường Đại học Havard, còn là nhà ngoại giao có tài, hiểu sâu về vấn đề Việt Nam

Kissinger đã cải chính việc ông ta lấy C. Metternich (1773- 1859), nhà hoạt động chính trị áo nổi tiếng thế kỷ XIX - Tác giả) làm kiểu mẫu cho sự nghiệp của ông, "nhưng việc sử dụng giống như vậy của sự xảo trá và lừa dối, việc thao túng một cách vô lương tâm con người và sự kiện, việc dùng bạo lực và việc dựa vào sự bí mật là những bằng chứng rõ ràng" (Marvin Kalb và Bernard Kalb. Kissinger. (N. Y. Dell, 1975), tr. 59-63).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:12:05 AM
Khi chưa chính thức nhậm chức, ngày 22 tháng 12 năm 1968, Kissinger đã gặp R.Aubrac, người bạn cũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nói lên quan điểm của ông ta về vấn đề Việt Nam. (Abrac cho biết Kissinger nói với ông ta hôm 20 tháng 12 tại một khách sạn).
Aubrac đã nói lại với Mai Văn Bộ, đại diện Việt Nam ở Pháp:

1 - Chúng tôi (tức Hoa Kỳ - Tác giả) sẵn sàng nói chuyện rất nghiêm chỉnh với họ.

2 - Chúng tôi cho rằng trước hết nên đi vào thoả thuận trên nguyên tắc về một mục tiêu cấp bách thì có hiệu quả hơn là đi vào một chương trình nghị sự phức tạp, tuy nhiên chúng tôi sẵn sàng đi vào chương trình nghị sự nếu cần.

3 - Chúng tôi không có ý định làm xấu họ, chúng tôi thấy rằng bất cứ một giải pháp nào cũng đều chú ý đến sự tôn trọng và tinh thần anh dũng của họ.

4 - Chúng tôi mong rằng họ cũng tỏ thái độ tương tự như vậy đối với chúng tôi và họ sẽ thấy ông Nixon trong khi kiên quyết có một quan điểm mới về vấn đề này thì cũng đồng thời kiên quyết đi vào một giải pháp danh dự.

5 - Với tinh thần đó, nếu họ muốn thông báo cho chúng tôi một số ý kiến chung của họ thì chúng tôi sẽ nghiên cứu với thái độ xây dựng và triệt để bí mật. Chúng tôi mong họ có thái độ như vậy.”


Ngày 31 tháng 12 năm 1968, Mai Văn Bộ đọc cho Aubrac trả lời của Hà Nội:

1 - Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến Paris với thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí - Hoa Kỳ cũng phải nghiêm chỉnh và thiện chí.

2 - Cơ sở để giải quyết vấn đề (Việt Nam) là lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trong việc tìm giải pháp hoà bình. 

3 - Hội nghị bốn bên có họp được mới có thể thảo luận về những vấn đề thực chất tiến tới một giải pháp hoà bình - Nếu Mỹ muốn thông báo thêm ý kiến chung và cụ thể, Việt Nam sẵn sàng nghiên cứu
” ((H.Kissinger đã viết không hoàn toàn chính xác lời của R.Aubrac chuyển cho Mai Văn Bộ- và trả lời của Mai Văn Bộ. Xem H.Kissinger, Sđd, tr.269).

Bốn hôm sau, Aubrac lại đọc cho Mai Văn Bộ ý kiến của Mỹ:

1 - Chính quyền Nixon sẵn sàng thương lượng nghiêm chỉnh và có thiện chí.

2 - Chính quyền Nixon trịnh trọng khẳng định sẵn sàng rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, xem đó là bộ phận của một giải pháp danh dự. Giải pháp đó bao gồm cả việc rút quân miền Bắc Việt Nam.

3 - Chúng tôi tin rằng sự tiến bộ là tuỳ thuộc vào những đề nghị cụ thể thực hiện một nền hoà bình trong danh dự.

4 - Chúng tôi khẳng định lại chúng tôi sẵn sàng xem xét những ý kiến của Hà Nội một cách thận trọng, thiện chí và hoàn toàn bí mật.”


Aubrac nói:

- Kissinger bình luận thêm như sau: Thời gian bắt đầu của một Chính quyền là một dịp tốt hiếm có để làm những việc mà sau đó có thể khó khăn.

Con đường Aubrac vẫn được sử dụng cho đến sau khi Nixon đưa ra tám điểm ngày 14 tháng 5 năm 1969. Tháng 6, ông Aubrac lúc đó là một quan chức của Tổ chức Lương nông của Liên Hợp Quốc (FAO) - đi công tác ở Lào. Ngày 14 tháng 6 ông đến sứ quán Việt Nam ở Viêng Chăn dự định sang Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhưng lúc này Chủ tịch đã mệt không tiếp ông được. Ông đã thông báo cho ông Nguyễn Chân, đại biện Việt Nam ở Lào, những điểm mà Kissinger đã nói cho ông biết hôm 22 tháng 5 như sau:

1 - Tổng thống muốn nhắc lại lòng tin tưởng của ông rằng một nền hoà bình công bằng có thể thương lượng được.

2 - Tống thống muốn khai thác nhiều con đường khác ngoài khuôn khổ hiện nay của cuộc thương lượng. Thí dụ nếu có thể, các nhà thương lượng Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau ngoài khuôn khổ Paris để thảo luận những nguyên tắc chung của một giải pháp. Nếu các nhà thương lượng đặc biệt của Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể đạt tới thoả thuận về nguyên tắc thì những cuộc thương lượng về kỹ thuật cuối cùng có thể trở lại Paris.

3 - Chính phủ Hoa Kỳ tin rằng tất cả các bên liên quan đang ở ngã ba đường và những biện pháp đặc biệt là cần thiết để đảo ngược chiều hướng chiến tranh.”
(Xem thêm: R.Nixon, Thememoirs fr.Nixon Sđd, tr. 391.)



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:12:13 AM
Dưới thời Johnson, Washington đã dùng con đường Pháp để tiếp xúc với Việt Nam qua ông Jean Sainteny, người rất quen biết ở Việt Nam từ 1946 và năm 1966 đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

Lần này, Nixon gặp Sainteny (16 tháng 7 năm 1969) nhờ trao thư cho Hồ Chủ tịch và yêu cầu ông ta nói thêm rằng nếu từ nay đến 1 tháng 11 là hạn cuối cùng không có sự khai thông nào trong thương lượng, Mỹ sẽ dùng những biện pháp gây hậu quả lớn, những biện pháp mạnh mẽ.  

Ngày 19 tháng 7, Sainteny gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ chuyển thư của Nixon gửi Hồ Chủ tịch. Thư của Tổng thống Hoa Kỳ không đề ngày tháng, nhưng ông cho biết thư này gửi ngày 18 tháng 7 năm 1969.

Bức thư viết:
Thưa Chủ tịch!

Tôi biết rằng khó có thể thông cảm với nhau một cách có ý nghĩa qua cái hố của bốn năm chiến tranh. Nhưng chính vì cái hố đó mà tôi muốn nhân dịp này khẳng định lại một cách hết sức trịnh trọng ý muốn của tôi làm việc cho một nền hoà bình chân chính
”.

Thư nhắc lại đề nghị trong diễn văn ngày 14 tháng 5 của Nixon mà ông ta cho là "thích đáng cho các bên" và cũng nói đến “sẵn sàng thảo luận cả những kế hoạch khác", đặc biệt là mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Bức thư kết luận:

Đã đến lúc phải đưa bàn Hội nghị đến một giải pháp nhanh chóng cho cuộc chiến tranh bi thảm này. Ngài sẽ thấy chúng tôi sẵn sàng và cởi mở trong một nỗ lực chung để đem lại những lợi ích của một nền hoà bình cho nhân dân Việt Nam anh dũng. Hãy để cho lịch sử ghi lại rằng trong giai đoạn quyết liệt này hai bên đã hướng về phía hoà bình chứ không phải hướng về gây hấn và chiến tranh"

Ngày 25 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời:

Mỹ vẫn kéo dài chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam... gây nhiều tội ác với nhân dân miền Nam Việt Nam và làm cho nước Mỹ càng hao người tốn của. Tôi công phẫn về những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi. Tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam”.

Hồ Chủ tịch nói Kế hoạch mười điểm của Mặt trận là cơ sở lôgic và hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam.

Muốn có hoà bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường đế Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự".

Người kết luận:

Với thiện chí của phía ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam".

Đây cũng là văn kiện đối ngoại cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:11:16 PM
CHƯƠNG IV
VIỆT NAM HOÁ VÀ THƯƠNG LƯỢNG

Một diễn đàn mới

Trong cuộc gặp gỡ tháng 7 với Xuân Thuỷ, J.Sainteny nói rằng Tổng thống Mỹ nhờ ông hai việc. Thứ nhất là chuyển thư của Nixon gửi Hồ Chủ tịch, ông đã làm xong; việc này chỉ có ba người biết và bây giờ có thêm Xuân Thuỷ nữa. Phó Tổng thống Agnew và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng không biết. C. Lodge, trưởng đoàn Mỹ ở Hội nghị Paris cũng không biết. Thứ hai là bố trí cho H.Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông J. Sainteny đề nghị cuộc gặp giữa hai người sẽ vào ngày 4 tháng 8, hôm đó Kissinger sẽ từ Lon don đến. J.Sainteny còn sẵn sàng dành nhà riêng của ông ta cho cuộc tiếp xúc đó. Bộ trưởng Xuân Thuỷ đồng ý.

Cũng trong tháng 7 này, toàn thế giới nín thở nhìn Neil Amstrong, con người đầu tiên của Trái Đất, từ con tàu Apollo XI đặt bước chân đầu tiên xuống bề mặt Mặt Trăng. Ngày 23 tháng 7, Nixon đi tới Nam Thái Bình Dương để đón Amstrong đổ bộ xuống biển. Đây là cơ hội tốt để ông đi thăm một loạt nước: Guam, Philippin, Inđônêxia, Thái Lan, miền Nam Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Rumani và Anh. Trong dịp này, Kissinger sẽ bí mật qua Paris để gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ.

Cuộc gặp diễn ra tại nhà riêng của ông Sainteny, số 204 phố Rivoli. Chiều hôm đó, Kissinger cùng đi với Anthony La ke, người phụ tá thân cận, và tướng Vernon Walters, tuỳ viên quân sự của Mỹ, Xuân Thuỷ đi cùng Mai Văn Bộ và Nguyễn Đình Phương. Đây là lần đầu tiên Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông ta chưa gặp Xuân Thuỷ nhưng cũng đã nghe tiếng.

Ngay trong lần gặp đầu, cũng như sau này, Kissinger thấy sự đàng hoàng và sự tự tin của ông Xuân Thuỷ cũng như ông Lê Đức Thọ và các đồng chí khác của các ông đã gây ấn tượng sâu sắc đến ông ta. Họ là những người đánh du kích, sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài thất thường, chỉ xảy ra trong khuôn khổ những lần đấu tranh của họ. Mặc dầu vậy “khi họ đối diện với người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, họ tỏ ra tinh tế, kỷ luật và kiên nhẫn biết bao" (H.Kissinger Sđd, tr. 292.). Ít nhất khi tiếp xúc với các chiến sĩ Việt Nam, ông Kissinger đã thấy phẩm chất khác thường của họ làm cho người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới phải kiêng nể?

Vào câu chuyện, Kissinger hoan nghênh cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên như thế này. Nhìn Mai Văn Bộ hôm ấy làm phiên dịch cho Xuân Thuỷ, ông nói đã biết Mai Văn Bộ từ năm 1967 và rất tiếc khi đó tìm mọi cách mà không gặp được vì ông ta có mang theo thông điệp của Johnson. Ông nhắc lại quá trình theo dõi của ông ta về vấn đề Việt Nam và biết tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta nói rằng trong bất cứ cuộc thảo luận nào giữa hai bên đều được phía Mỹ tiến hành với sự kính trọng tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta hỏi là đã có thư trả lời cho bức thư của Nixon chưa? 

Xuân Thuỷ:

- Chúng tôi đã được ông Sainteny chuyển bức thư không đề ngày tháng của Tổng thống Nixon gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức thư đó đã được chuyển về Hà Nội.

Kissinger:

- Đó là lề lối làm việc quan liêu của Hoa Kỳ, không đề ngày tháng vào bức thư của Tổng thống. Tôi không biết lý do vì sao như vậy Nhưng ngày của bức thư đó là ba ngày trước khi bức thư đó được chuyển đến các ngài.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:12:26 PM
Tiếp đó Kissinger bắt đầu nói về một số vấn đề mà Tổng thống Nixon yêu cầu ông ta thông báo lại cho ta. Ông ta nói rằng ở Washington người ta đọc rất kỹ tất cả những lời phát biểu của Xuân Thuỷ, nhưng "chúng tôi khó mà đành giá là các ngài làm như vậy chỉ để đạt mục đích tâm lý hay các ngài thành thật nghĩ như vậy".

Sau khi nhắc lại Mỹ có thiện chí và thành thật muốn hoà bình, ông nói: Đến tháng 11 này thì cuộc đàm phán đã được một năm (ý ông ta muốn nói thoải mái chấm dứt ném bom miền Bắc - Tác giả). Trong thời gian đó, Hoa Kỳ đã làm những việc đơn phương rất có ý nghĩa: ngừng tăng quân, ngừng ném bom bộ phận rồi chấm dứt ném bom hoàn toàn, rút 25.000 quân chiến đấu Mỹ, đã tuyên bố chấp nhận kết quả bầu cử tự do ở miền Nam. Rồi ông ta phàn nàn: Hầu như chưa có đáp ứng có ý nghĩa nào. Ở cấp cao nhất có thể được và hết sức thành thật, Hoa Kỳ định có một cố gắng nửa để giải quyết cuộc tranh chấp này trên một cơ sở đúng đắn ... vào thời gian chấm dứt ném bom cách đây một năm, ngày 1 tháng 11.

Rồi ông ta xin phép đọc trả lời những điểm mà phía Việt Nam đã nêu lên nhiều lần, câu trả lời đã được đích thân Tổng thống thông qua:

- Hoa Kỳ sẵn sàng rút tất cả lực lượng của Mỹ không trừ một loại nào ra khỏi Việt Nam, xem đó như là một bộ phận của chương trình rút các lực lượng ngoại nhập.

“Tôi nói điều này hoàn toàn không có một sự bảo lưu nào".

- Hoa Kỳ không có ý định duy trì một căn cứ nào trên lãnh thổ Việt Nam.

"Điều này cũng hoàn toàn không có sự bảo lưu nào".

- Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ kết quả nào của một quá trình chính trị tự do.

Ông ta đưa ra một số ý kiến về quá trình chính trị đó:

- Quá trình chính trị hợp lý phải ghi nhận tương quan lực lượng hiện có... Không bên nào có thể đòi bên kia chấp nhận một cương lĩnh chính trị trên cơ sở những đề nghị tỏ ra bên kia thất bại mà không có sự phản đối ... Chúng tôi không đòi hỏi các ngài phải giải tán các lực lượng cộng sản, các ngài cũng không được đòi hỏi chúng tôi phải giải tán lực lượng không phải cộng sản.

Ông cũng nhắc lại sẵn sàng thảo luận mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các điểm khác của Mỹ. Ông ta cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ biết rằng để chứng tỏ thiện chí của Hoa Kỳ, từ nay đến ngày 1 tháng 11, Mỹ sẽ rút thêm một số quân nữa khỏi miền Nam, phần nào nhiều hơn số lượng lần trước... sẽ giảm bớt mười phần trăm số phi vụ của máy bay B52 và hoạt động của máy bay chiến thuật.

Ông ta tiếp:

- Để làm cho cuộc đàm phán được nhanh chóng, Tổng thống Hoa Kỳ sẵn sàng mở thêm một con đường tiếp xúc nữa với Việt Nam ... cử một phái viên cao cấp có thẩm quyền để đàm phán đi đến kết quả... Nếu cuộc đàm phán này có được thì Hoa Kỳ sẽ điều chỉnh các hoạt động quân sự để tạo ra một hoàn cảnh thuận lợi nhất để đi đến một giải pháp.

Người ta hiểu người phái viên cao cấp có thẩm quyền đó không phải ai khác mà chính là Kissinger. Ông ta nói tiếp:

- “Tổng thống cũng yêu cầu tôi nói với các ngài một cách hết sức trân trọng là nếu đến 1 tháng 11 không có sự tiến bộ quan trọng nào để đi đến một giải pháp thì chúng tôi buộc phải tiến hành một cách hết sức miễn cưỡng những biện pháp có hiệu quả lớn lao".

Ông Kissinger cải chính rằng cuộc chiến tranh này không phải là cuộc chiến tranh của Nixon vì nếu cuộc chiến tranh là của ông Nixon thì ông ta không thể tự cho phép mình không thắng trong cuộc chiến tranh đó.

Ông ta không quên phàn nàn về đặc điểm các cuộc tiếp xúc giữa hai bên ở Hội nghị Paris và cho rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận tình trạng đó quá thời hạn mà ông ta đã nói ở trên.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:13:27 PM
Xuân Thuỷ hỏi rõ thêm một số vấn đề như ý nghĩa và mối liên quan giữa việc rút thêm quân và giải quyết tất cả các vấn đề từ nay đến 1 tháng 11, vấn đề diễn đàn mới ngoài Kléber. Ông Cố vấn Nhà trắng giải thích thêm và nói rõ về điểm sau cùng này như sau:

Ông sẵn sàng đến Paris hoặc một nơi nào khác thuận tiện vào những ngày cuối tuần để thảo luận với Xuân Thuỷ hoặc một người nào khác, chẳng hạn Bộ trưởng Ngoại giao hoặc Thủ tướng của Việt Nam, miễn là có sự bảo đảm rằng các cuộc gặp gỡ đó dẫn đến một giải pháp nhanh chóng và giải quyết những vấn đề quan trọng nhất. Ông ta nhấn mạnh "Việc tôi tham gia là bí mật".

Xuân Thuỷ nói tóm tắt quá trình can thiệp và xâm lược của Mỹ, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, mục tiêu đấu tranh của ta hiện nay, giải pháp mười điểm của Mặt trận và thái độ của Việt Nam đối với Lào và Campuchia. Đồng chí nhấn mạnh: Mỹ phải rút quân, từ bỏ Thiệu- Kỳ-Hương, lập Chính phủ liên hiệp.

Kissinger ngắt lời Xuân Thuỷ:

- Chúng tôi sẵn sàng thảo luận giải pháp mười điểm nhưng chúng tôi không sẵn sàng thảo luận bất cứ giải pháp nào với tính chất như một học sinh đi thi phải hỏi vấn đáp về Thập Điều, chúng tôi cho rằng mười điểm là mười điểm chứ không phải là mười điều lệnh. Về vấn đề rút quân Hoa Kỳ không điều kiện ... ngài cũng như chúng tôi đều biết rằng cần phải có sự có đi có lại để thiết lập một mối tương quan lực lượng trong trường hợp có sự rút quân đó.

Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại việc rút quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ là không điều kiện. Còn lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam do các bên miền Nam Việt Nam giải quyết với nhau.

Nhắc đến tám điểm của Nixon, Xuân Thuỷ nói:

- Chúng tôi phải đặt câu hỏi tại sao Mỹ đưa quân đến nhanh được mà lại không rút nhanh được? Tại sao các ngài không đề ra năm hoặc sáu tháng rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam?

Kissinger:

- Tôi xin trả lời ngay, hay đợi ngài nói hết?

Xuân Thuỷ:

- Tôi xin nói hết đã. Mỹ nói rút 25.000 quân - 25.000 so với 540.000 quân Mỹ không có nghĩa lý gì. Dù nay mai Mỹ có rút thêm phần nào lớn hơn 25.000 quân nữa thì cũng không có nghĩa lý gì. Chính sách của các ngài là chính sách rút quân nhỏ giọt, kéo dài sự chiếm đóng quân sự của các ngài ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi nghi ngờ thiện chí của các ngài. Vấn đề thứ hai là chế độ ở miền Nam, Chính quyền ở miền Nam, tuyển cử ở miền Nam, ông Nixon chỉ nói phớt qua nhưng vấn đề quan trọng là ai đứng ra tổ chức tuyển cử. Tổng thống Nixon nói Chính quyền Sài Gòn hiện nay là hợp hiến, hợp pháp và tán thành đề nghị tuyển cử của Nguyễn Văn Thiệu. Nếu chúng ta ngồi ở đây nói chuyện với nhau một cách thẳng thắn và thực tế thì chúng ta không nên nói như thế, bởi vì cái hợp hiến, hợp pháp của Chính quyền đó như thế nào thì nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới đều biết.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:14:39 PM
Xuân Thuỷ tiếp tục lên án Thiệu-Kỳ-Hương là phát xít, không muốn hoà bình. Nếu Mỹ cứ duy trì Chính quyền đó thì không giải quyết được vấn đề - và đòi thay đổi con người và chính sách của Chính quyền đó.

- Chính quyền Sài Gòn còn lại - chúng tôi cũng thừa nhận nó là một thực tế, nhưng phải có một Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần đứng ra tổ chức bầu cử mới là hợp tình hợp lý...

Kissinger hỏi về những điểm khác so với những điều đã nói tại chỗ Kléber. Xuân Thuỷ nói:

- Điều khác hôm nay là tôi đã nói rõ với ngài về rút quân thế nào, thứ hai là Chính phủ liên hiệp lâm thời là thế nào, thành phần nó ra sao, nó không phải hoàn toàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời mà là nhiều thành phần: một bên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời, một bên là phần còn lại của Chính quyền Sài Gòn sau khi đã thay đổi Thiệu-Kỳ-Hương và thay đổi chính sách tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, hai bên sẽ thương lượng với nhau cùng với những người khác tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời.

Kissinger nhắc lại về vấn đề rút quân là kết quả của một giải pháp:

- “Các ngài có thể điều chỉnh tốc độ rút quân của chúng tôi bằng tốc độ rút quân của các ngài. Nếu các ngài không muốn xem lực lượng Mỹ và lực lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như nhau thì chúng ta có thể thảo luận một phương thức khác trong đó vẫn giữ được sự khác nhau".

Ông ta nhắc lại Hoa Kỳ sẽ không thay Thiệu hoặc Kỳ hoặc Hương, cũng như không đòi thay đổi người lãnh đạo nào đó của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, rồi ông nói rằng không có ý định giành ở bàn Hội nghị lợi thế nào cả mà Hoa Kỳ không thực hiện được trong chiến tranh, không có ý định làm nhục ai cả.

So sánh hai vấn đề quân sự và chính trị, Kissinger cho rằng phía Việt Nam cho Mỹ nói chưa thật chính xác về vấn đề rút quân, còn phía Mỹ lại cho rằng Việt Nam quá chính xác về vấn đề chính trị. Rồi ông kêu gọi đi vào vấn đề chứ không nói về các điểm nữa nếu muốn hoàn thành công việc vào 1 tháng 11.

Kissinger thừa nhận vấn đề chính trị là phức tạp hơn nhiều nhưng bây giờ chưa phải là lúc thảo luận. Ông ta nói rằng không thể đánh lừa ta đi vào một giải pháp không phù hợp và Hoa Kỳ cũng không chấp nhận một giải pháp mất thể diện.

Cuộc tranh luận còn kéo dài thêm, nhưng cuối cùng chấm dứt với sự thoả thuận giữ bí mật cuộc nói chuyện và có gì mới sẽ thông báo cho nhau. Theo yêu cầu của Việt Nam, ông ta để lại địa chỉ của tướng V.Walters để ta liên hệ. Phía ta giới thiệu Mai Văn Bộ.

Kissinger xin rút lui trước để ra sân bay đi Bỉ, nhưng Xuân Thuỷ và Mai Văn Bộ đã đứng dậy bắt tay những người đối thoại của mình và bước ra trước. Đây là lần đầu tiên đại diện có thẩm quyền cao nhất của Tổng thống Nixon chính thức trình bày quan điểm của họ một cách rõ ràng đồng thời đây là một cuộc thăm dò có ý nghĩa chiến lược mà Mỹ tiến hành trong lúc ta gặp khó khăn.

Cuộc gặp đầu tiên Xuân Thuỷ - Kissinger đã giúp hai bên trình bày quan điểm của mình. Điều quan trọng hơn là nó đã mở ra một diễn đàn mới, song song với diễn đàn Kléber, vạch con đường để đi tới một giải pháp cho vấn đề Việt Nam. 


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:15:32 PM
Đánh vào “đất thánh” Campuchia

Từ mùa hè đến cuối năm 1969, trên chiến trường miền Nam nhân dân ta tiếp tục gặp khó khăn. Hoạt động quân sự giảm, chủ yếu là pháo kích vào một số căn cứ địch, đợt mạnh nhất là vào tháng 11 nhưng ít kết quả. Trong khi đó "ở khu V, vùng giải phóng ở đồng bằng và giáp ranh bị thu hẹp”. Ở Nam Bộ, đến cuối năm 1969 địch đã lấn và chiếm gần hết vùng giải phóng của ta ở nông thôn đồng bằng Nam Bộ. Địch tăng tỷ lệ quân cơ động tại chỗ và lực lượng tổng dự bị chiến lược lên hơn hai lần... Hình thái cuộc chiến tranh đang xấu đi theo chiều hướng bất lợi cho cách mạng và chiến tranh cách mạng... Lịch sử đi vào một khúc quanh co (Đại tướng Văn Tiến Dũng. Toàn thắng Sđd, tr. 47-48.).

Trên toàn chiến trường địch lập 5800 ấp chiến lược, đóng 6964 đồn bốt kiểm soát 10.000.000 dân. Vùng giải phóng và làm chủ của ta từ 7.700.000 dân đầu năm 1968 nay tụt xuống còn 4.700.000 dân. Địch còn tăng cường đánh phá rất ác liệt các tuyến vận tải Bắc - Nam hòng cắt đứt việc tiếp tế hậu cần cho miền Nam  (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Tập II, tr. 40.)

Giữa lúc đó thì Hồ Chủ tịch qua đời, để lại di chúc thiêng liêng:

“Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa nhưng nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn".

Những lời tâm huyết đó không chỉ là niềm tin mà còn là tâm tư của Người lúc ra đi khi miền Nam còn gặp khó khăn.

Mỹ nuôi nhiều hy vọng. Họ tích cực tìm thắng lợi trên chiến trường. Trong cuộc gặp gỡ với Xuân Thuỷ hôm 18 tháng 7, C. Lodge nói: .

- “Chúng tôi nhận thấy các hoạt động quân sự và thâm nhập vào miền Nam Việt Nam ở mức độ thấp hơn trước. Nếu chúng tôi có thể tin chắc rằng sự thay đổi ấy là một khuynh hướng lâu dài thì Tổng thống Nixon sẽ chú ý tới điều đó trong khi quyết định về mức quân số và thời gian biểu của việc giảm bớt lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nếu ngài có thể bảo đảm với chúng tôi điều đó thì chúng tôi hoan nghênh”.

Để tăng sức ép với Việt Nam và tranh thủ dư luận, ngày 15 tháng 9, Nixon tuyên bố đợt rút quân mới 35.000 người và nhắc lại rằng: "Thời gian cho các cuộc thương lượng có ý nghĩa đã đến".

Hai hôm sau, trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ông ta lại nói "thời gian cho hoà bình đã tới" và kêu gọi Đại biểu 126 nước dùng các cố gắng tốt nhất về ngoại giao để thuyết phục Hà Nội đi vào nghiêm chỉnh thương lượng để chấm dứt chiến tranh (R.Nixon. Hồi ký. Sđd tr. 397-398.)

Washington còn gây sức ép với các nước có tàu chở hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam như Chypre, Malta, Singapor, Somalie. Nước nào không nghe thì Mỹ cắt viện trợ, Mỹ còn tung tin sẽ phong toả cảng Hải Phòng và tiến công miền Bắc nước ta.

Nếu như tình hình trên chiến trường tạm thời thuận lợi cho Washington thì tình hình chống chiến tranh Việt Nam ở trong nước làm ông ta rất lo ngại.

Trong sáu tháng đầu cầm quyền của Nixon, nhân dân Mỹ còn giữ thái độ chờ xem. Nhưng lúc nào họ đã thấy rằng không phải Bắc Việt Nam mà chính là Mỹ đang kéo dài chiến tranh. Vì vậy cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Mỹ nổi lên ngày càng mạnh.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:16:37 PM
Từ đầu tháng 7, Phụ nữ Đấu tranh cho hoà bình đã tổ chức đốt thẻ gọi quân dịch ở New York. Họ cử người sang Canada gặp Đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhiều thị trưởng gửi thư lên Nixon đòi đình chỉ gọi con em của họ sang Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh liên tiếp diễn ra trước Lầu Năm Góc. Tổ chức các nhà kinh doanh vì hoà bình ở Việt Nam báo cho Nixon biết là "tuần trăng mật" đã qua rồi. Nhiều cuộc biểu tình trước nhà riêng của Nixon tại miền Tây nước Mỹ đã xảy ra khi ông về nghỉ. Ngày 3 tháng 9, 250 nhà tâm lý học Mỹ biểu tình trước Nhà Trắng tố cáo cuộc chiến tranh là một sự điên rồ.

Các hoạt động trên được các báo chí Mỹ hết sức ủng hộ và đưa lên trang nhất. Sau khi Hồ Chủ tịch mất, phong trào lại rộ lên.

Sau kỳ nghỉ hè, các nghị sĩ ở hai Viện liên tiếp lên tiếng phản đối chính sách của Nixon ở Việt Nam. Họ nói kế hoạch hoà bình của Nixon là quá mập mờ và đòi ông có sáng kiến mới cho hoà bình sau cái chết của Hồ Chủ tịch. Họ tố cáo Chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính cho hoà bình. Có người đòi rút quân Mỹ trước cuối năm 1970.

Càng gần đến ngày "tạm ngừng hoạt động", các nghị sĩ chống chiến tranh càng đẩy mạnh hoạt động đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt các cuộc tấn công ở miền Nam chừng nào Việt cộng không lợi dụng tình hình. Nhiều nghị quyết đòi cắt kinh phí cho chiến tranh Việt Nam được đưa ra bắt đầu cuối năm 1970. Ngày 10 tháng 10, giám đốc của 79 Trường Đại học và Cao đẳng gửi thư cho Nixon đòi đưa ra một chương trình rút hết quân Mỹ về nước.

Ngày 15 tháng 10, bắt đầu đợt "tạm ngừng hoạt động", 20.000 người biểu tình ở New York, 30.000 người ở New Haven Green, 50.000 người trước Đài kỷ niệm Washington, 100.000 người ở Boston. Hàng ngàn cờ Mặt trận được giương cao. Tất cả đòi hoà bình ngay tức khắc.

Đó là hình ảnh của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về một cuộc chiến tranh “không ai muốn" mà Nhà Trắng rất đau lòng. Uy tín của Nixon giảm sút mạnh mẽ. Kissinger phải cay đắng mà nhận xét rằng:

“Các con chim bồ câu đã tỏ ra là một giống chim đặc biệt dữ tợn và những năm tháng qua đi đã không làm cho chúng hiền hơn" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd. tr. 308. ).

Nixon phải chống đỡ với tình hình nội bộ mà ông không kiểm soát nổi, nhưng vẫn theo đuổi ý đồ tìm chiến thắng trong chiến tranh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1969, Nixon đọc diễn văn bác bỏ tất cả các yêu sách của lực lượng chống chiến tranh. Ông nói rằng kế hoạch để chấm dứt chiến tranh của ông là chiến lược gồm hai mặt: Việt Nam hoá và thương lượng. Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh cho đến khi có một giải pháp hoà bình công bằng và danh dự và cho đến khi Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ được. Ông ta đưa ra thời hạn rút hết quân trong một năm. Tiếp đó kêu gọi "đa số thầm lặng” trong nhân dân Mỹ ủng hộ ông.

Mấy hôm sau, đại sứ Liên Xô ở Hà Nội thông báo cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

Diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon hoàn toàn không có nghĩa là để không muốn tiếp tục đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Paris hoặc ở một nơi nào khác, hoặc thông qua những nước khác”.

- Hoa Kỳ sẵn sàng thảo luận bất cứ đề nghị nào... nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam, sẵn sàng giải thích diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon nếu phía bên kia có vấn đề gì đặt ra liên quan đến bài phát biểu đó.

- Hoa Kỳ tiến hành thương lượng với thái độ nghiêm chỉnh và muốn tìm giải pháp thoả hiệp nếu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không đòi chỉ thảo luận mười điểm của họ và đòi thực hiện không điều kiện mười điểm đó. 

- Chính phủ Hoa Kỳ hy vọng rằng việc giảm thâm nhập của quân miền Bắc, giảm thương vong của Mỹ và giảm các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam trong thời gian qua là kết quả của một quá trình nào đó của Hà Nội bắt đầu từ khi Kissinger gặp Xuân Thuỷ ngày 4 tháng 8 đến nay.

- Chính phủ Hoa Kỳ sẽ hoan nghênh quá trình này (tức ba việc nói trên) nếu nó phù hợp với đường lối chính trị của nhà lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Washington hiểu như vậy không đúng và phía bên kia muốn xét lại quá trình đó thì Hoa Kỳ buộc phải có biện pháp trả đũa
". 


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:17:47 PM
Người Mỹ hy vọng Hà Nội thay đổi đường lối sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. 

Ngày 29 tháng 11, tướng Walters đến gặp Mai Văn Bộ, nói rằng Cố vấn về an ninh của Nhà Trắng, Tiến sĩ Kissinger mong được gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ vào ngày 13 hoặc 14 tháng 12 (H.Kissinger nói tướng Walters gặp Xuân Thuỷ là không đúng. Xem: H. Kissingcr. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 456.).

Mấy hôm sau, C. Lodge từ biệt Xuân Thuỷ vì ông không còn đảm đương trách nhiệm trưởng đoàn đàm phán của Mỹ ở Paris nữa - và cũng không nói ai sẽ thay ông ta.

Ngày 10 tháng 12, Hà Nội chỉ thị cho đoàn Việt Nam ở Paris:

"Xuất phát từ tình hình chung, nhất là sau diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon, ta tỏ thái độ cứng để tấn công lại Mỹ, không chịu sức ép của họ".

Ngày 12 tháng 12, Mai Văn Bộ trả lời cho tướng Walters:

Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường như trong diễn văn chiến tranh ngày 3 tháng 11 năm 1969 của ông Nixon. Hơn thế nữa, ông Nixon còn hạ thấp Hội nghị Paris về Việt Nam, đòi chúng tôi có đáp ứng thì mới cử người chính thức thay thế ông Lodge. Từ tháng 8 năm 1969, ông Nixon đã bác bỏ tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời: "Nếu Hoa Kỳ tuyên bố rút hết toàn bộ và không điều kiện quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam trong thời hạn sáu tháng thì các bên sẽ thảo luận về lịch rút quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ và vấn đề bảo đảm an toàn cho việc rút quân đó.

Rõ ràng Hoa Kỳ vẫn đòi chúng tôi phải trả giá cho việc thay thế ông Lodge và không chịu xem xét đề nghị của đối phương một cách nghiêm chỉnh mà chỉ đòi chúng tôi phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ... Hoa Kỳ vẫn cố tìm thắng lợi quân sự, chưa muốn giải quyết đúng đắn vấn đề Việt Nam bằng đàm phán. Vì vậy nếu có cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ như ông Kissinger đề nghị thì cũng không có gì bổ ích. Cho nên khi nào có hoàn cảnh thuận lợi, phía Hoa Kỳ có gì mới thì hai bên có thể sẽ lại gặp nhau
”.

Vào đầu năm 1970, trên chiến trường miền Nam Việt Nam lực lượng kháng chiến vẫn ở trong thời kỳ khó khăn lớn. Trái lại, Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn thu được những thắng lợi đáng kể trong chính sách Việt Nam hoá chiến tranh.

Nhưng họ cũng thấy rằng thắng lợi đó chưa vững chắc. Họ nhận định:

"Hà Nội tìm cách tranh thủ thời gian đến lúc quân Mỹ đã giảm đi một cách đủ cho họ đương đầu với quân lực Sài Gòn với các phương tiện cân bằng hơn " (H.Kissinger. Sđd, tr. 453.).

Tướng A.Haig, Cố vấn quân sự và phụ tá cho Kissinger trong đàm phán bí mật ở Paris, đã nhận xét sau mười ngày điều tra ở chín tỉnh miền Nam rằng. “Sự cải thiện đã chậm lại trong những tháng cuối năm 1969. Không có gì tin rằng đối phương đã bỏ cuộc...”.

Thực tế khách quan là các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam dọc biên giới Campuchia - Nam Việt Nam, nhất là ở vùng Mỏ Vẹt và Móc Câu, vẫn là một mối uy hiếp cho Sài Gòn. Mỹ phải tìm cách thanh toán mối đe doạ đó, bảo đảm cho Việt Nam hoá thắng lợi. Họ đang tính toán những nước cờ mới: Bảo vệ Sài Gòn từ xa.

Người Mỹ biết, vì sự thật là như thế, rằng Chính phủ Campuchia để cho Quân giải phóng qua lại và đóng quân trên đất Campuchia, đặc biệt là vùng căn cứ 353, tổng hành dinh của Trung ương cục miền Nam chính là vùng Mỏ Vẹt - Móc Câu.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 20 Tháng Chín, 2009, 11:18:20 PM
Thực hiện cái mà ông ta gọi là “điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam" của Chính quyền ông, Tổng thống Nixon ra lệnh cho máy bay B52 ném bom vùng Mỏ Vẹt-Móc Câu từ ngày 18 tháng 3 năm 1969. Nhưng Cơ quan Tình báo Mỹ thấy sau 3600 phi vụ B52 (tính đến ngày lục quân Mỹ đánh vào Campuchia), Trung ương cục miền Nam vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục chỉ đạo chiến tranh.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, lực lượng thân Mỹ do tướng Lon Non cầm đầu làm đảo chính lật đổ Hoàng thân Norodom Sihanouk. Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Nixon quyết định cho quân Mỹ tiến công lớn vào Campuchia, bất chấp sự phản đối của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao W.Roger và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng M. Laird. Phát biểu trên Đài truyền hình ngày 30 tháng 4 năm 1970, Nixon tuyên bố cuộc tiến công quân sự đó không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh sang Campuchia mà vì mục đích chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Tuy ông ta nói mạnh “đã dám chơi với lửa thì phải chơi đến cùng" (J.Amter. Vietnam Verdict - Continm, N. Y. 1982, tr. 197).

Trước sự phản đối ngày càng mạnh của dư luận Mỹ và thế giới, ngày 30 tháng 6, nghĩa là hai tháng sau khi đánh vào Campuchia, Nixon đã phải ra lệnh cho quân Mỹ rút khỏi Campuchia. Cũng nên nói thêm ở đây là ông còn phải trả giá đắt hơn nữa cho các cuộc ném bom B52 bí mật xuống Campuchia.

Trên chiến trường Lào, từ năm trước Mỹ đã tổ chức cuộc hành quân hỗn hợp Mỹ - Thái Lan và phỉ Vàng Pao đánh chiếm khu Cánh Đồng Chum tháng 9 năm 1969, và tháng 10 họ đã đánh rộng ra khu vực Xiêng Khoảng, tiến gần tới phía tây Nghệ An (Lịch Sử KCCM. t.II, tr. 42.). Nhưng sang đầu năm 1970, liên quân Lào - Việt đã tiến công mạnh vào vùng mới chiếm đóng của địch và tháng 2 năm 1970 toàn bộ địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum, căn cứ bọn phỉ Vàng Pao ở Long Chẹng bị uy hiếp

Các thương lượng bí mật của Kissinger ở Paris nhằm che giấu ý đồ tăng cường chiến tranh trong kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh", lợi dụng tình hình để thương lượng trên thế mạnh.

Tháng 1 năm 1970, Hà Nội cho rằng Chính quyền Nixon đang tập trung giải quyết vấn đề chủ yếu là số quân Mỹ cần và có thể rút và rút trong thời gian bao lâu để quân nguỵ miền Nam không đổ vỡ lớn, làm thế nào vấn đề miền Nam không còn là vấn đề gây cấn nhất trong cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới của Nixon vào năm 1972. Vì thế thời gian có tính chất quyết định là cuối năm 1970 và trong năm 1971 chúng ta phải đẩy mạnh tiến công toàn diện đập tan âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ (Văn Tiến Dũng. Sđd, tr. 53.).

Tháng 3 năm 1970, Ban lãnh đạo Hà Nội đề ra nhiệm vụ, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến... đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế kết hợp tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu địch xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định (Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, t.II. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1968, tr. 169.)


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:08:45 PM
Hiệp đầu Lê Đức Thọ - Kissinger

Đã năm tháng trôi qua mà không có cuộc gặp gỡ riêng nào giữa Mỹ và Việt Nam. Ngày 14 tháng 1 năm 1970, tướng V. Walters gặp Mai Văn Bộ đề nghị có cuộc gặp riêng giữa Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ ngoài khuôn khổ hiện nay "với mục đích tạo ra một khung cảnh cho một giải pháp nhanh chóng cho cuộc xung đột trên cơ sở công bằng cho tất cả”. Mỹ đề nghị cuộc gặp đó không trước ngày 8 tháng 2 vào cuối tuần.

Hơn một tháng sau, vào ngày 16 tháng 2, Mai Văn Bộ trả lời cho Walters rằng Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẵn sàng gặp Kissinger ngày 20 hoặc 21 tháng 2 năm 1970. 

Trong lúc uống trà, viên tướng Mỹ nói:

- Ông Kissinger cũng muốn gặp ông Lê Đức Thọ.

- Ông Cố vấn đặc biệt - Mai Văn Bộ đáp - có thể tham gia cuộc gặp này nếu ông Thọ còn ở Paris.

- Ồ thế thì tốt lắm.

Lúc ấy Lê Đức Thọ sang dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp đồng thời để chuẩn bị gặp Kissinger. Mỹ muốn thăm dò ý đồ chiến lược và quan điểm cụ thể của ta về giải pháp. Trong lúc chiến trường miền Nam im ắng, dự kiến phía Việt Nam có thể chuẩn bị các hoạt động Đông Xuân, họ cũng muốn tìm cách ngăn cản ta đẩy mạnh hoạt động ở miền Nam hoặc Lào. 

Cuộc họp diễn ra hồi mười giờ ngày 21 tháng 2 tại số nhà 11 phố Darthé, Choisy-le-roi.

Kissinger đến cùng với Richard Smyer, chuyên gia về vấn đề Việt Nam, Tong La ke, và tướng Walters. Xuân Thuỷ ra đón ông và dẫn vào phòng khách nhỏ bên phòng ăn. Đây là giây phút đáng gọi là lịch sử: Kissinger gặp Lê Đức Thọ lần đầu tiên, hai con người hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc xã hội, bản chất con người, lý tưởng chính trị, gặp nhau để rồi cùng nhau bàn cãi quyết liệt trong ba năm để tìm một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, và cuối cùng chia nhau giải Nobel về hoà bình. Kissinger đã tả phút đầu gặp gỡ này như sau: 

"Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán xám hoặc marông. Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp. Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng của ông một cách tận tuy và khéo léo... Lê Đức Thọ tiếp tôi với sự lễ phép có khoảng cách của con người mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như sự hạ cố" (H.Kissinger. Sđd, tr. 459.).

Phát biểu đầu tiên, Kissinger xin lỗi đến chậm và đề nghị giữ bí mật cuộc gặp này vì ông đến Paris bí mật. Ông ta nói vui mừng được gặp lại ông Xuân Thuỷ vì ông ta cho rằng ông ta hiểu Xuân Thuỷ hơn nhiều người trong đoàn Mỹ. Ông ta tỏ ý vui mừng được gặp Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.

Đi vào nội dung, ông ta nhắc lại ba khả năng mà ông Lê Đức Thọ đã nói với ông Harriman ngày 14 tháng 1 năm 1969, và khẳng định rằng Mỹ muốn tiến hành đàm phán trên cơ sở thiện chí và với thái độ nghiêm chỉnh. Ông ta biết rằng cuộc đàm phán là rất khó khăn vì một là khó xác định được mục đích của mỗi bên muốn đạt, thứ hai cũng rất khó khăn là làm thế nào đạt được mục đích đó... Cuộc đàm phán càng thêm khó khăn bởi vì có sự nghi ngờ rất lớn từ lâu trong lịch sử. Ông ta nhấn mạnh:

- Dù bây giờ khắc phục được sự nghi ngờ này có khó khăn đến đâu đi nửa thì một năm nữa, hai năm nữa nó còn khó khăn hơn nữa cho đến khi chúng ta đạt được hoà bình, vì sớm hay muộn thế nào chúng ta cũng phải lập lại hoà bình.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:11:18 PM
Ông ta cố gắng tỏ ra thành thật nói rằng Việt Nam đã bị đánh lừa năm 1956: 

- Bây giờ thì Hoa Kỳ không có lợi gì trong việc đánh lừa Việt Nam nữa, vì nếu Việt Nam cho rằng bị đánh lừa thì họ lại tiếp tục chiến đấu. Các ông gần Nam Việt Nam hơn Mỹ. Vì vậy Hoa Kỳ muốn tìm một giải pháp mà cả hai bên đều muốn đạt được. Nếu muốn đưa đàm phán đến thành công thì có hai yêu cầu:

- Phải nhất trí với nhau về những mục tiêu cần phải đạt được.

- Khi đã có mục tiêu rồi thì phải nhất trí với nhau về một chương trình làm việc để đạt mục tiêu đó.

Ông ta nhắc lại gợi ý hồi tháng 8 năm ngoái và cho rằng Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ vì tình hình của "các ngài không được cải thiện gì và dù có lâu hơn nữa nó vẫn không được cải thiện". Ông ta phân tích: tình hình nước Mỹ có lợi hơn cho Nixon, tình hình miền Nam hiện nay khó khăn cho Việt Nam hơn năm ngoái, trên thế giới vấn đề Việt Nam không còn là vấn đề trung tâm mà mọi người nhất trí chú ý. Phía Việt Nam không còn sự ủng hộ như trước nữa, kể cả một số nước vẫn ủng hộ Việt Nam.

Ông ta khen ông Xuân Thuỷ giỏi trong việc đưa ra những tuyên bố bí ẩn có hàm ý, rồi nói:

Tình hình có thể như thế này: Theo chúng tôi hình như các ngài muốn được bảo đảm - coi như một điều kiện cho đàm phán - là sẽ được ưu tiên chính trị, và lúc đó, chúng tôi phải tuỳ thuộc vào sự thành thật và sự kiềm chế của các ngài sau này. Có lẽ theo các ngài thì hình như chúng tôi muốn giành được ưu thế về quân sự và chúng tôi yêu cầu các ngài phải tin vào sự thành thật và sự kiềm chế của chúng tôi sau này. Hai là chúng tôi thừa nhận các ngài có vấn đề đặc biệt là đặt vấn đề quân đội của các ngài ở miền Nam Việt Nam trên cùng một cơ sở pháp lý như Quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam. Chúng tôi biết rằng chưa bao giờ các ngài chính thức thừa nhận rằng các ngài có quân đội ở Nam Việt Nam và không bao giờ thừa nhận quân đội đó là quân đội nước ngoài ở Nam Việt Nam. Chúng tôi thừa nhận vấn đề này, chúng tôi tôn trọng thái độ của các ngài về vấn đề này. Chúng ta thử tìm xem có thể có một giải pháp cho vấn đề đặc biệt khó khăn này không, một giải pháp thực tế chứ không phải một giải pháp có tính lý thuyết.

Về giải pháp chính trị, chúng tôi nghĩ rằng có hai cơ sở đế giải quyết: một là khi các lực lượng bên ngoài rút ra khỏi Nam Việt Nam rồi thì người Việt Nam giải quyết với nhau. Nhưng nếu việc giải quyết vấn đề này là một bộ phận của nội dung đàm phán của chúng ta thì chúng tôi xin nêu ra hai nguyên tắc dưới đầy:

- Bất cử giải pháp chính trị công bằng nào cũng phải phản ánh tương quan lực lượng chính trị hiện có ở Nam Việt Nam.

- Chúng ta phải thừa nhận rằng không một bên nào có thể cho rằng phía bên kia sẽ từ bỏ ở bàn đàm phán những gì mà họ không chịu bỏ ở chiến trường
".

Kissinger cũng đề ra hai cách làm việc: thảo luận cả mười điểm của Mặt trận và tám điểm của Nixon; hai là gạt mười điểm và tám điểm ra mà xác định với nhau những nguyên tắc chung. Khi đã thống nhất rồi thì để cho các đoàn ở Kléber giải quyết các chi tiết. Hoa Kỳ không cứng nhắc, Hoa Kỳ muốn chấm dứt chiến tranh một cách thực tế chứ không phải về lý thuyết. Ông nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của việc làm này tuỳ thuộc vào việc không có sự tăng cường bạo lực ở Nam Việt Nam. (xin hiểu là hoạt động quân sự của Việt cộng - Tác giả). Đó là điều không có lợi cho cả hai bên mà có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng... Ông nói Tổng thống Nixon còn cầm quyền bảy năm nữa, không phải là điều đáng mong muốn gì cho cả hai bên nếu muốn thử thách lòng dũng cảm của mình hơn nữa. (lời nói bao hàm một sự đe doạ không che giấu - Tác giả). Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mỹ sẽ sẵn sàng giúp nhân dân Việt Nam - toàn thể nhân dân Việt Nam - đổi mới và xây dựng lại... Một Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập phồn vinh và tự tin vào mình là phù hợp với quyền lợi Quốc gia của Hoa Kỳ, và trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là mối đe doạ cho nền độc lập của Việt Nam.

Ông ta kết thúc bằng cách xin lỗi đã nói dài, "nhưng là một giáo sư Trường Đại học Havard thì bao giờ cũng nói trong năm mươi nhăm phút".

Mọi người cùng cười rồi nghỉ.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:12:35 PM
Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại rằng tình hình đàm phán từ sau cuộc gặp riêng tháng 8 năm ngoái đã xấu đi. Mỹ nói muốn giải quyết nhanh trước ngày 1 tháng 11 năm 1969, nhưng không đưa ra nội dung cụ thể gì mà chỉ mở ra một diễn đàn mới với Cố vấn Kissinger.

Trong khi đó chúng tôi dưa ra hai nội dung cụ thể. Một là Mỹ rút hết quân và rút nhanh trong vòng năm, sáu tháng - Hai là lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần. Tổng thống Nixon trong diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1959 lại nhấn mạnh dùng Việt Nam hoá để giải quyết chiến tranh... chúng tôi cho rằng tin Việt Nam hoá sẽ thắng lợi là chủ quan và lừa dối dư luận".

Xuân Thuỷ phê phán việc Mỹ không cử trưởng đoàn mới ở Paris rồi nhấn mạnh rằng Mỹ nói thành thật nhưng phía Việt Nam không thấy điều đó. Bộ trưởng cũng phê phán việc Mỹ đẩy mạnh hoạt động quân sự ở Lào và miền Nam. Về lời đe doạ của Kissinger, Xuân Thuỷ nói:

- Chúng tôi không muốn đọ sức với Mỹ, chúng tôi chỉ muốn bảo vệ độc lập tự do của chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng ở tinh thần, ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam, không trông chờ ở phong trào chống chiến tranh ở Mỹ và thế giới. Mục đích đàm phán của chúng tôi là đạt được một nước Việt Nam hoà bình, độc lập thật sự.

Ông nhấn mạnh:

- “Chúng tôi muốn rằng đã giải quyết với nhau thì giải quyết toàn bộ vấn đề làm sao thật sự chấm dứt được chiến tranh, thật sự tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Còn về hình thức nói chuyện thì không phải là vấn đề khó khăn lớn”

Trả lời Xuân Thuỷ, Kissinger cho rằng đàm phán chưa tiến bộ thì mức độ của đoàn Đại biểu Mỹ hiện nay ở Paris là thích hợp, nếu đàm phán tiến bộ trên cơ sở mới thì phía Mỹ sẵn sàng cử sang một đoàn đàm phán mới.

Ông ta cũng cho rằng hai vấn đề: rút quân Mỹ và lập Chính phủ liên hiệp là hai vấn đề đã đặt ra trước khi ông ta đến, và hai đề nghị đó cũng không đòi hỏi sự có mặt của ông ta ở Paris.

Cuộc thảo luận buổi sáng gần kết thúc thì Xuân Thuỷ nhận xét là phía Mỹ đã tiết lộ bí mật cuộc gặp riêng. Kissinger bào chữa rằng "Không ai đánh lừa được các ông hai lần đâu".

Lê Đức Thọ :

- “Chúng tôi đã bị lừa nhiều nhưng không lừa được.”

Kissinger:

- Vấn đề bi đát không phải là sự thật phải đương đầu với sự dối trá mà bi đát là sự thật phải đương đầu với sự thật.  

Cuộc gặp gỡ buổi chiều bắt đầu bằng việc hai bên trả lời các câu hỏi của phía bên kia. Kissinger nhấn mạnh rằng Tổng thống Nixon đã đồng ý cho ông hành động như là một nhân vật chính trên cơ sở không chính thức để giải quyết những vấn đề cơ bản thật quan trọng trong các cuộc gặp nhau đều đặn với những nhân vật mà phía Việt Nam chỉ định. Nhưng vấn đề lớn đối với ông ta là phía Việt Nam có thật sự đàm phán như phía Hoa Kỳ hiểu chữ đàm phán không? "Quả thật đối với những người đã tỏ ra là những người dũng cảm tận tụy thì bây giờ cũng khó mà xem xét việc chấm dứt chiến tranh mà lại không được bảo đảm tất cả các mục tiêu đầu tiên của mình". Vì vậy mà ông ta cũng chưa đưa ra một danh sách đề nghị cụ thể cho Việt Nam mà chỉ nhắc lại thiện chí và sự mềm dẻo của Mỹ trong vấn đề rút quân không phải là Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:13:45 PM
Nhưng buổi chiều chủ yếu là phát biểu tổng quát của Cố vấn Lê Đức Thọ. Ông nói:

- Theo ông đánh giá về tình hình chúng tôi thì không đúng với thực tế chiến trường hiện nay. Đó là quyền của ông. Trong suốt mười lăm năm qua, khi đánh giá về tương quan lực lượng hai bên, các ông đã đánh giá rất sai về tình hình chúng tôi. Tôi muốn nhắc lại điều này để từ đó các ông có thể thấy phải đánh giá như thế nào cho đúng. Có đánh giá đúng thì giải quyết vấn đề mới đúng được.

Tiếp đó Lê Đức Thọ nêu lên bốn lần Mỹ đánh giá sai:

"Lần thứ nhất, khi Mỹ dựng lên Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm với một đội quân tàn sát nhân dân.

Lần thứ hai, việc Mỹ phát động chiến tranh đặc biệt ở miền Nam tưởng có thể đàn áp được nhân dân miền Nam bằng chính sách ấp chiến lược, nhưng đã không thực hiện được.

Lần thứ ba, Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, dùng một khối bom đạn có thể nói là cao hơn tất cả các cuộc chiến tranh từ trước tới nay của Mỹ.

Sau Tết Mậu Thân đến nay ông lại đánh giá tình hình không đúng. "Các ông nói Việt Nam hoá chiến tranh thắng lợi nhưng thực ra nó đã bắt đầu thất bại
".

“Các ông định mở thêm một chiến trường ở Lào để phối hợp với chiến trường miền Nam, nhưng bây giờ Cánh đồng Chum đã bị mất về tay Pathet Lào".

Cố vấn Lê Đức Thọ còn nói về phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ và điều này Kissinger tỏ ra bực bội và xót xa vì sự chia rẽ trong nước ông. Lê Đức Thọ nói đến phong trào thế giới ủng hộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời, đến ảo tưởng của Mỹ về sự thay đổi đường lối của Hà Nội sau khi Hồ Chủ tịch mất, và kết luận:

"Không phải chúng tôi không có hy sinh mất mát lớn và cũng có nhiều gian khổ nhưng chúng tôi đã thắng!".

- Đã thắng trong chiến tranh? - Kissinger hỏi.

- Chúng tôi đã thắng và các ông đã thất bại. Đến nay các ông chưa thấy sự thật khách quan. Các ông vẫn tin có thể dùng áp lực quân sự tối đa với chúng tôi trên chiến trường. Các ông chưa muốn giải quyết vấn đề một cách nghiêm chỉnh... Ông Nixon nói nhiều về Việt Nam hoá chiến tranh để thúc đẩy thương lượng. Có phải các ông định dùng Việt Nam hoá chiến tranh để làm sức ép ở bàn Hội nghị không?

Các ông định rút quân từng bước, rút quân chiến đấu đến mức nào đó mà nhân dân Mỹ có thể chịu đựng được về người và của. Sau đó các ông để lại một lực lượng hỗ trợ yểm trợ cho nguỵ quân, nguỵ quyền để kéo dài chiến tranh. Khi nguỵ quân, nguỵ quyền đã mạnh lên, các ông để lại một lực lượng Cố vấn và tiếp tục trang bị thêm cho nguỵ quân.

Nhưng thử hỏi nguỵ quân, nguỵ quyền có đảm nhận được gánh nặng chiến tranh không và bao giờ thì đảm nhận được việc đó?

Trước đây hơn một triệu quân Mỹ và quân ngụy mà các ông đã thất bại. Bây giờ các ông làm thế nào mà thắng nếu chỉ để cho quân đội bù nhìn một mình tiến hành chiến tranh và chỉ có sự yểm trợ của Mỹ không thôi làm sao các ông có thể thắng được?.

Lê Đức Thọ dừng một lát. Kissinger suy nghĩ. "Chỉ có sự yểm hộ của Mỹ không thôi làm sao các ông có thể thắng được ". Sau này ông viết trong Hồi ký rằng đó cũng là câu hỏi làm ông day dứt (H. Kissinger. Ở Nhà Trắng, Sđd, trang 462.).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:15:30 PM
Lê Đức Thọ nói tiếp:  Các ông đã doạ chúng tôi nhiều rồi. Chúng tôi đã đánh với các ông trong bao nhiêu năm, ông biết rồi. Dù các ông có tiếp tục chiến tranh như thế nào nữa thì cũng không thay đổi được chiều hướng cuộc chiến tranh này. Về đàm phán, Lê Đức Thọ tỏ vẻ nghi ngờ lòng thành thật của Mỹ, ông nói:

- Chúng tôi là một dân tộc đã bị người ta lừa gạt nhiều rồi. Muốn tạo điều kiện để giải quyết vấn đề thì phải thành thật. Các ông nêu điểm một là vấn đề rút quân. Ngay điều này đã cho chúng tôi thấy các ông không nghiêm chỉnh. Chúng tôi muốn thảo luận toàn bộ các vấn đề rồi ký kết Hiệp định và thực hiện Hiệp định. Toàn bộ vấn đề là mười điểm. Hai bên phát biểu ý kiến không bên nào bị ép phải nhận điều kiện phía bên kia đưa ra.

Về cách tiến hành Hội nghị, Lê Đức Thọ nói: có nói chuyện công khai và nói chuyện riêng, rồi hỏi Kissinger:

- Có phải ông Nixon cử ông sang đây nói chuyện riêng để giải quyết vấn đề hay thỉnh thoảng ông sang đây để thăm dò thế này thôi? Còn ở Hội nghị công khai thì các ông không chịu cử trưởng đoàn. Sau khi nói chuyện riêng giải quyết được vấn đề thì ở diễn đàn công khai cũng phải có người để nói chuyện chứ.

Còn vấn đề nữa là Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa chịu nói chuyện với Chính quyền Thiệu-Kỳ-Hương, một Chính quyền phát xít và đàn áp, không tán thành hoà bình. Làm sao mà giải quyết vấn đề với một chính quyền như vậy? Chúng tôi muốn nói chuyện với những người có thiện chí để tìm một giải pháp chứ không phải chúng tôi hoàn toàn phủ nhận nói chuyện với Chính quyền của các ông ở Sài Gòn đâu?

Trong khi chúng tôi và Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa chịu nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn thì chúng tôi và các ông thảo luận giải quyết toàn bộ vấn đề. Sau khi giải quyết các vấn đề cơ bản rồi thì sẽ thảo luận cụ thể ở Hội nghị bốn bên, nhưng các ông phải cử trưởng đoàn mới có thẩm quyền.

Kết luận, Lê Đức Thọ nói:

- Trong hai con đường hoà bình và chiến tranh, các ông nên chọn lấy một. Nếu các ông chọn con đường hoà bình thì chúng ta có thể giải quyết vấn đề một cách hoà bình, và như ông nói sau khi hoà bình lập lại, quan hệ hai nước chúng ta sẽ mở ra một trang sử mới.

Kissinger hoan nghênh sự thẳng thắn của Lê Đức Thọ và đặt ra một số câu hỏi. Hai bên nhanh chóng đồng ý về cách thảo luận mười điểm và tám điểm. Phía Mỹ hiểu thái độ của ta đối với Chính quyền miền Nam là phải thay người (Thiệu - Kỳ - Hương) và thay đổi chính sách. Đó là một điều kiện.

Về việc cử trưởng đoàn mới ở Hội nghị bốn bên, Kissinger nói: Điều này có thể sắp "ép được" ông ta nói: Hoa Kỳ không bỏ Hội nghị bốn bên tuy họ rút cả trưởng, phó đoàn đi và chỉ để lại P.Habib, người thứ ba, ở Paris - (Tác giả).

Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ cho Kissinger biết là nếu Mỹ không cử trưởng đoàn thì Xuân Thuỷ không ở lại Paris được, và ông Thọ với cương vị Cố vấn cũng không còn ở đây nữa.

Kissinger:

- Đây là ngài Bộ trưởng doạ tôi?

Xuân Thuỷ:

- Chính ông đe doạ tôi trước.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:20:50 PM
Cuộc thảo luận đã kéo dài. Ông Cố vấn Nhà Trắng thấy rằng hôm ấy không đi xa hơn được nữa. Ông sẽ nghiên cứu ý kiến của phía Việt Nam và sớm gặp lại nhau khi có dấu hiệu tiến bộ. Nhưng ông nhắc lại rằng Hoa Kỳ không thể thay đổi chính quyền Sài Gòn. Trả lời Lê Đức Thọ về vấn đề Lào, Kissinger nói:

- Chúng tôi quan sát thấy hầu hết quân Pathet Lào đều nói tiếng Việt cả.

Rồi ông ta kể:  

"Vào thế ký XIX, có một câu chuyện tương tự như vấn đề Lào xảy ra ở một tỉnh thuộc nước Đức. Bộ trưởng Ngoại giao Anh là Palmerston (Huân tước H. Palmerson, 1784 - 1785 - Tác giả nói vấn đề này phức tạp đến nỗi chỉ có ba người biết mà thôi. Một người thì đã chết, người thử hai đã điên, người thứ ba là bạn thân của ông Bộ trưởng Ngoại giao đó, nhưng ông ta đã quên mất rồi".

Hoá ra Kissinger muốn nhắc lại câu chuyện thời Bismark muốn lấy hai xứ Holstein và Schlewig đang thuộc Vương quốc Đan Mạch để thành lập nước Đức thống nhất. Ý ông ta không phải là muốn tỏ ra là người thứ tư biết bí mật về Lào mà chỉ muốn chế giễu rằng ai cũng biết Việt Nam có quân ở Lào. Kissinger nói thêm:

- Những điều tôi học tập về Lào vẫn chưa quên.

Xuân Thuỷ:  

- Tôi là người đàm phán ở Hội nghị Genève về Lào. Ông nhớ, tôi cũng nhớ.

- Thôi, chúng ta nghỉ.

Mọi người cùng cười.

Hai bên hẹn gặp lại nhau ba tuần sau vào thứ hai, 16 tháng 3 năm 1970.

Sau cuộc gặp ngày 21 tháng 2 này, Kissinger rất hy vọng. Về Mỹ, ông "báo cho Nixon rằng đây là cuộc gặp quan trọng chắc chắn là quan trọng nhất từ khi bắt đầu Chính quyền của ngài và quan trọng nhất kể cả từ khi bắt đầu cuộc nói chuyện năm 1958 (R.Nixon. Sđd. tr. 4461).

Về mặt ngoại giao, ông ta "tiếc đã nhận gặp vào ngày 21 tháng 2, nghĩa là theo lịch do Hà Nội ấn định. Đó là một bước lùi, chấp nhận một đòi hỏi vô lý, chúng ta đã gây nên một cảm giác vội vàng vô ích cho phép Hà Nội ghi một bàn thắng về tâm lý " mà họ vẫn kiên trì từ lâu " (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr.456.2).


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:23:48 PM
Cái chung chung: Không lêninit
Cái cụ thể: Không đồng ý


Ngày 16 tháng 3. Đến địa điểm họp, Kissinger kêu quá mệt vì phải hạ cánh xuống Tây Đức - Đúng thế, máy bay riêng của ông không xuống được sân bay quân sự Avord (miền Trung nước Pháp) vì trục trặc kỹ thuật mà phải hạ xuống một sân bay Đức rồi mới quay về Pháp.

Nghỉ một lúc, vào cuộc họp ông yêu cầu Lê Đức Thọ giải thích một câu đã nói lần trước rằng không bên nào buộc phía bên kia phải chấp nhận một giải pháp bằng áp lực. Khi được giải thích, Kissinger nói ngay:

- Trong khi chúng ta nói chuyện ở đây, nếu như một bên nào làm áp lực với phía bên kia hoặc ở Việt Nam hoặc ở một nước nào liên quan đến Việt Nam thì như vậy là không phù hợp với mục đích cuộc nói chuyện của chúng ta ở đây.

Lê Đức Thọ:

- Đây là ông đặt câu hỏi hay là ông phát biểu quan điểm? 

Kissinger:

- Tôi nói để xem có đúng ý kiến của ông Cố vấn đặc biệt không.

Lê Đức Thọ nhấn mạnh lại rằng trong đàm phán mỗi bên có lập trường và quan điểm của mình. Như vậy không phải chúng tôi cứ bắt các ông phải theo quan điểm của chúng tôi. Và các ông cũng không thể bắt chúng tôi phải theo quan điểm của các ông. Phải qua thảo luận rồi đi đến thoả thuận.

Kissinger:

- Tức là không bên nào làm áp lực quân sự thêm với bên kia để buộc bên kia phải chấp nhận sự thoả thuận.

Lê Đức Thọ:

- Câu nói của tôi là đối với một cuộc thương lượng với nhau. Còn điểm ông nói về áp lực quân sự lại là vấn đề khác. Mà vấn đề này chính các ông làm áp lực quân sự đối với chúng tôi.

Kissinger nói phía Mỹ muốn đi vào thực chất. Và ông đọc một chỉ thị của Nixon gửi cho ông ta trước khi qua Paris rằng phải nói với người Việt Nam “phải đi vào trung tâm của vấn đề”. Rồi ông ta trình bày hai vấn đề: việc rút quân Mỹ và thời gian biểu của việc rút quân đó.

- Chúng tôi sẵn sàng đàm phán về việc rút lui toàn bộ quân Hoa Kỳ, điều đó bao gồm rút tất cả quân và rút hết các căn cứ quân sự Hoa Kỳ mà không có điều ngoại lệ nào. Về thời gian biểu rút quân, căn cứ vào số quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam đến 15 tháng 4 năm 1970 là 422.000 người. Ông ta nói sẽ rút hết trong 16 tháng.

Tháng thứ nhất: 5000. Tháng thứ hai và thứ ba: mỗi tháng 10.000 Tháng thứ tư: 27.000. Năm tháng sau đó: mỗi tháng 35.000. Tháng thứ 10: 10.000. Tháng thứ 11: 15.000. Tháng thứ 12: 10.000. Tháng thứ 13, 14, và 15: mỗi tháng 40.000. Tháng thứ 16: 4.000. 

Ông ta giải thích một số điểm về kỹ thuật rút và nhắc lại rằng trong việc rút quân này “thực tế đòi hỏi phải có đi có lại chừng nào đó, và chính vì thế mà chúng ta có mặt ở đây để đàm phán"


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 21 Tháng Chín, 2009, 11:24:45 PM
Nhắc lại phía Việt Nam không thừa nhận có quân ở miền Nam, ông ta nói:

- Chúng tôi rất chú ý đến quan điểm đặc biệt này của các ông. Chúng tôi cũng đã có ý kiến cụ thể về vấn đề này. Nhưng tốt nhất là để các ông trình bày ý kiến của các ông. Như vậy lúc đó chúng ta có thoả thuận về hai kế hoạch, hai kế hoạch này cũng được thực hiện đồng thời nhưng không liên quan với nhau.

Kissinger còn nói về vấn đề kiểm soát và vấn đề thả tù binh. Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhận xét ngay rằng thời hạn rút quân mà Kissinger đưa ra không phù hợp với tuyên bố trước đây của Mỹ rút quân trong 12 tháng. Điều đó làm cho người ta nghĩ Mỹ kéo dài việc rút quân để gắn với kế hoạch Việt Nam hoá. Như vậy không giải quyết được vấn đề. Xuân Thuỷ cũng thúc giục Kissinger nói luôn ý kiến của ông ta về các lực lượng không phải Nam Việt Nam, vì ông ta đã có ý kiến cụ thể còn phía ta chưa có ý kiến. Bộ trưởng cũng lưu ý Kissinger là ông ta chưa nói gì đến vấn đề chính trị.

Kissinger lại giải thích mối liên quan giữa thương lượng và Việt Nam hoá, và nói thêm: thời gian rút quân vẫn có yếu tố mềm dẻo. Về việc rút quân miền Bắc, ông nói:

- Chúng tôi khó có thể nghĩ rằng Bộ trưởng Xuân Thuỷ và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lại chưa hề nghĩ đến một vấn đề liên quan đến Việt Nam như vậy.

Ông ta cười, rồi một lúc sau nói tiếp:

- Chúng tôi nghĩ rằng nếu như vì những lý do tinh thần, pháp lý, lịch sử mà các ông cho rằng nếu có hai chương trình song song với nhau thì dễ thực hiện hơn, chúng tôi vui lòng tán thành ý kiến đó. Chúng tôi đáp ứng yêu cầu của các ông. Trước hết chúng tôi phải nói ngay đến những lực lượng không phải Nam Việt Nam ở những khu vực gọi là “đất thánh" ở những nước có liên quan đến Việt Nam. Những lực lượng này có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến tranh ở Việt Nam thì những lực lượng đó cũng phải là một phần trong quá trình rút quân kia. Tôi muốn nói đến những trại ở dọc biên giới Nam Việt Nam.

Trước sự thúc giục của Xuân Thuỷ, Kissinger đề nghị: 25% các lực lượng không phải Nam Việt Nam phải hoàn thành trong 5 tháng. Sau 8 tháng rút hết 50%. Sau 12 tháng rút hết 75%. Sau 16 tháng rút hết hoàn toàn. Và những trại trên đất Campuchia và Lào và các con đường thâm nhập cũng phải rút.

Lê Đức Thọ nhận xét:

- Chúng tôi công nhận là ông đã đi vào một phần thực chất. Theo ông trình bày thì việc rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ là một nguyên tắc pháp lý. Còn việc rút quân mà các ông cho là của miền Bắc như ông nói thì không phải là một nguyên tắc pháp lý mà là một vấn đề thực tế và kỹ thuật. Nhưng khi ông trình bày về vấn đề rút quân mà các ông gọi là của miền Bắc cũng phải hoàn thành trong cùng một thời gian, như vậy thì thực chất cũng là đòi hai bên cùng rút quân và rút hết toàn bộ. Thế mà ông nói chỉ là vấn đề kỹ thuật. Chính cách trình bày của ông mới là kỹ thuật.

Lê Đức Thọ nói tiếp:

- Đề nghị về thời hạn rút quân là một bước lùi so với thời gian các ông nêu ra ở Kléber. Cách rút quân mà ông trình bày còn có tính chất nhỏ giọt hơn cả kế hoạch Việt Nam hoá. Có tháng chỉ có 5000 so với mỗi tháng trước các ông rút đến 10.000 mà chúng tôi đã nói là quá nhỏ giọt. Bởi vậy ông nói là đi vào thực chất và không nên mặc cả thì lời nói đó trái với thực tế này.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:42:28 PM
Cuối cùng Lê Đức Thọ nhấn mạnh:

- Các ông càng dùng áp lực quân sự với chúng tôi thì các ông càng thất bại hơn nữa. Các ông đã xé bỏ Hiệp định Genève về Lào và cuối cùng các ông cũng không thắng được Pathet Lào. Nếu các ông không rút bài học đó mà cứ muốn biến Campuchia thành một Lào thứ hai thì chính các ông cũng sẽ thất bại như ở Nam Việt Nam và Lào.

Lúc này chưa xảy ra đảo chính lật đổ Sihanuc ở Campụchia nhưng chúng ta cũng đã có nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Vì vậy Lê Đức Thọ cảnh cáo trước:

- Nếu các ông không tôn trọng những điều đã ký kết thì ba dân tộc chúng tôi sẽ đoàn kết chiến đấu và các ông nhất định thất bại.

Cố vấn Nhà Trắng bào chữa và nói rằng Mỹ đã giảm 25% hoạt động của không quân ở Campuchia. Riêng về vấn đề Lào thì đã nổ ra một cuộc tranh luận ai là kẻ phá hoại Hiệp định Genève về Lào. Phía Mỹ cũng thanh minh là không có ý định chiếm lại đất đai hiện nay do Pathet Lào kiểm soát. Nhưng lúc này “địch đang điều động cấp tốc lực lượng các Quân khu 1, 2, 3 ở Lào về tăng cường phòng thủ Long Chẹng, sào huyệt của bọn phỉ Vàng Pao ở Lào”. (Lịch sử KCCM, t I, Sđd, tr. 45.)

Kissinger cũng nói Mỹ không có cố gắng nào để buộc Campuchia từ bỏ chính sách trung lập. Ông ta nhắc lại: Lịch rút quân không phải là trở ngại không vượt qua được ông cũng xác nhận: lần sau, theo yêu cầu của Việt Nam, thảo luận cả vấn đề quân sự và chính trị: Phía Mỹ sẵn sàng thảo luận cả hai vấn đề đó cùng nhau.

Ông ta cũng yêu cầu lần sau phía ta phát biểu trước vì theo ông "Không thể tiến hành đàm phán theo khuôn khổ các ông là những nhà giáo hỏi học trò xem đã hiểu đúng lập trường của các ông chưa".

Lê Đức Thọ cải chính điều đó.

Hai bên hẹn gặp lại nhau vào ngày 4 hoặc 5 tháng 4 và sẽ đi vào cụ thể. Khi chào từ biệt, Kissinger đã ra ngoài một lúc rồi lại quay lại nói:

- Lênin nói: một bước lùi, hai bước tiến. Tôi học tập Lênin đấy.

Lê Đức Thọ:

- Chủ nghĩa Lênin phải vận dụng linh hoạt. Còn ông thì máy móc. 

Kissinger:

- Thế thì một vài phiên họp nữa chúng tôi sẽ học tập Lênin tốt hơn.

Kissinger báo cáo về cho Nixon rằng: Bắc Việt Nam có vẻ quan tâm đến thời hạn rút quân và kết luận là "thêm hai cuộc họp nữa sẽ rõ chuyện" (R.Nixon. Hồi ký Sđd, tr 446.).

Cuộc họp lần này diễn ra trong lúc Đông Dương chuyển sang một bước ngoặt.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:43:17 PM
Ở Lào, ngày 27 tháng 3, quân phái hữu cùng quân Thái, với sự hỗ trợ của không quân Mỹ mở đợt tấn công chung quanh Long Chẹng, chiếm lại khu vực Sảm Thông, tạo điều kiện cho Mỹ tiếp tế cho lực lượng Vàng Pao. Nhưng sự kiện nghiêm trọng hơn lại xảy ra trên đất Angko. Chỉ hai ngày sau cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Thọ - Xuân Thuỷ và Kissinger nói trên, các lực lượng thân Mỹ do Lonnol, Thủ tướng, và Sirik Maták, Phó Thủ tướng thứ nhất chỉ huy đã lật đổ Quốc trưởng Sihanuc và phát động chiến tranh chống Việt Nam. Đây là một đòn kinh khủng đánh vào ông Hoàng Campuchia, mở đầu trận bão tố kéo dài mấy thập kỷ qua xuống cái mà người ta tưởng là một "ốc đảo hoà bình" ở Đông Nam Á.

Từ sau Hiệp định Genève năm 1954, suốt trong mười lăm năm, vận dụng một cách khéo léo các lối chơi trong ván bài chính trị, Sihanuc đã giữ cho đất nước ông được hoà bình giữa xứ Đông Dương rực cháy. Nhưng ít lâu sau khi Mỹ bí mật thực hiện chiến dịch "Thực đơn" ném bom đánh phá Campuchia, Sihanuc lập lại quan hệ ngoại giao với Washington tháng 6 năm 1969, tưởng sẽ được yên ổn. Nhưng các lực lượng phản động trong nước ông càng đẩy mạnh hoạt động chống Việt Nam và hạ bệ ông.

Cuộc đảo chính xảy ra lúc ông đang từ Liên Xô đi thăm Trung Quốc sau khi chữa bệnh ở Pháp, Liên Xô vẫn duy trì sứ quán ở Phnom Pênh, Trung Quốc vẫn có cảm tình với Sihanuc. Tuy vẫn đón tiếp ông với cương vị Quốc trưởng nhưng còn dè dặt trước diễn biến của tình hình. Bắc Kinh báo cho ông biết:

Bắc Kinh sẽ tôn trọng một cách đầy đủ mọi quvết định của Hoàng thân Sihanuc hoặc chấm dứt cuộc đời chính trị... hoặc cầm đầu một phong trào “Quốc gia chống Mỹ" (N. Sihanuc. Tù binh Khơme đỏ. Hachette, Paris 1986, tr. 415. Xem thêm: Navan Chanda. Les frèrcs ennemis. CNRS, Paris 1987, tr. 70.). Hà Nội nhận định rằng cuộc đảo chính ở Phnom Pênh là một nấc thang mới của Mỹ nhằm dựng lên một Chính quyền tay sai ở Campuchia, xoá bỏ căn cứ và bàn đạp chiến lược của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cắt đứt tuyến tiếp tế hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam. Hà Nội chủ trương ủng hộ ông Sihanuc giúp đỡ cách mạng Campuchia

Ngày 21 tháng 3, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh bằng một chuyên cơ đặc biệt. Ngày 22, trong cuộc nói chuyện thẳng thắn và tình nghĩa, Thủ tướng đã mang lại cho Hoàng thân Sihanuc sự ủng hộ chân thành của nhân dân Việt Nam và khuyến khích Hoàng thân kiên quyết chống lại bọn đảo chính. Ngày 23 tháng 3, Sihanuc ra lời kêu gọi chống Mỹ gồm năm điểm trong đó có vấn đề lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Khơ Me (FUNK) và quân đội giải phóng.

Ngày 4 tháng 4, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố ủng hộ chủ trương kháng chiến của ông. 

Ngày 28 tháng 4, Sihanuc lập Chính phủ Kháng chiến Khơ Me (GRUNK).

Các đơn vị vũ trang của Việt Nam được chỉ thị phối hợp với bạn mở vùng giải phóng giành quyền làm chủ ở bảy tỉnh phía Đông - Đông Bắc và ba tỉnh phía Tây - Nam, xây dựng Chính quyền cách mạng, phát triển chiến tranh du kích.

Chỉ trong một thời gian ngắn, vùng nông thôn tỉnh Kratié... sáu huyện ở Takeo, Cămpôt... đã được giải phóng (Lịch sử KCCM, tI, tr 47 - 48.).

Mỹ vội vàng tăng cường viện trợ - 200 triệu đô la - cho bọn tay sai ở Campuchia, cố gắng đưa lực lượng của Lonnol từ 35.000 lên 60.000 người.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:44:40 PM
Ngày 28 tháng 4, các đơn vị quân nguy Sài Gòn mở chiến dịch "Toàn thắng 42" vượt biên giới Campuchia đánh vào vùng Mỏ Vẹt.

Ngày 30 tháng 4, Mỹ cho một lực lượng hỗn hợp gồm 50.000 quân Mỹ, 50.000 quân Sài Gòn tiến vào vùng Móc Câu, tiến sâu vào đất Campuchia từ 30 đến 40 ki-lô-mét. Đồng thời máy bay Mỹ ném bom miền Bắc nước ta ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh trong mấy ngày liền.

Cùng ngày 30 tháng 4, sau khi được tin quân Mỹ vào Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta điện cho Trung ương cục miền Nam: "Đông Dương đã trở nên một chiến trường “thống nhất”, và chỉ thị “Đánh cho quân ngụy ở miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia, đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam".

Việc mở rộng chiến tranh sang Campuchia là một sai lầm chiến lược của Nixon. Trong tình thế phải "phi Mỹ hoá”, rút dần quân Mỹ ra khỏi chiến trường chính, Mỹ lại đưa quân Mỹ sang Campuchia tạo nên một chiến trường mới, do đó bỏ trống cả miền Nam Việt Nam và giơ lưng cho đối phương đánh.

Họ đã tạo cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời thời cơ vừa giúp cách mạng Campuchia, vừa đưa lực lượng trở lại miền Nam, từng bước phá âm mưu của địch, tạo chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta.

Cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger hôm 4 tháng 4 năm 1970 trong bối cảnh một Đông Dương đang bị mây đen bao phủ.
Kissinger đến nơi họp - vẫn ở số 11 phố Darthé - khệ nệ mang theo nhiều hành lý. Trước con mắt ngạc nhiên của đoàn Việt Nam, ông ta vội giải thích: "Sau khi nói chuyện xong, chúng tôi phải đi thẳng ra sân bay". Hôm ấy là thứ bảy, Kissinger cười và nói thêm: "Tôi phải hy sinh ba ngày nghỉ vì sự nghiệp hoà bình". Lê Đức Thọ cũng cười và nói: "Như vậy ít quá, làm sao mà giải quyết được".

Đi vào nội dung, Kissinger bắt đầu nói về một số điều chính trong lịch rút quân ông đưa ra lần trước, nâng con số sẽ rút trong tháng thứ tư và thứ năm lên một chút. Xuân Thuỷ bác bỏ việc Mỹ đòi hai bên cùng rút quân trong thời gian mười sáu tháng của Mỹ là một bước thụt lùi - và phê phán Mỹ vẫn chưa cử trưởng đoàn mới ở Hội nghị công khai.

Nhắc lại các sự kiện ở Lào và Campuchia, Xuân Thuỷ nói:

- Chính các ông đang dùng áp lực quân sự và áp lực chính trị để hòng ép chúng tôi nhận những điều kiện của các ông.

Bộ trưởng ủng hộ đề nghị rút quân Mỹ trong sáu tháng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời và chuyển sang vấn đề chính trị:

- Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thừa nhận độc lập và trung lập của miền Nam Việt Nam. Cụ thể:

1 - Chúng tôi thừa nhận Chính quyền Sài Gòn là một thực tế nhưng phải thay đổi bọn cầm đầu hiện nay là Thiệu - Kỳ - Khiêm, kẻ đang cản trở việc giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam.

2 - Thành lập Chính phủ Lâm thời gồm ba thành phần: Những Đại biểu của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, những Đại biểu của Chính quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, và những Đại biểu các lực lượng chính trị ngoài hai lực lượng trên.

3 - Sau khi Mỹ rút, tổ chức tuyển cử bầu ra Quốc hội, thông qua Hiến pháp mới và tổ chức Chính phủ Liên hiệp chính thức.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:45:34 PM
Về vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, sau khi thoả thuận về vấn đề chính trị và quân sự trên, chúng tôi sẵn sàng thảo luận.

Kissinger thừa nhận rằng vấn đề chính trị là vấn đề khó khăn nhất trong cuộc đàm phán này. Đó là trung tâm vấn đề đối với người Việt Nam. Đó cũng là lý do làm cho có tình hình chiến tranh trong hơn ba mươi năm qua. Ông nhắc lại hai nguyên tắc đã nêu ra là: phải thoả thuận với nhau xem tương quan lực lượng hiện có giữa các lực lượng hiện nay thế nào và phải thoả thuận với nhau về quá trình chính trị phải thực hiện để phản ánh tương quan lực lượng đó.

Là những người lêninit, các ngài hiểu rõ luận điểm về quá trình chính trị không bao giờ ổn định cả. Và vì vậy phía Hoa Kỳ muốn tạo ra được một quá trình chính trị không loại trừ bất cứ kết quả nào, làm cho tất cả các nhóm chính trị đều có khả năng tham gia vào cuộc đấu tranh về các vấn đề chính trị Quốc gia. Chúng tôi đang tìm cách tách cuộc đấu tranh quân sự ra khỏi cuộc đấu tranh chính trị. Hoa Kỳ không chấp nhận một giải pháp bị ép buộc bằng quân sự, Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận kết quả của quá trình chính trị phản ánh nguyện vọng của nhân dân... Chúng tôi phản đối không phải các mục tiêu các ngài đề ra mà là tác dụng thực tế của các mục tiêu đó. Các ngài chỉ chọn những người mà các ngài cho là yêu chuộng hoà bình và đè bẹp tất cả các lực lượng chính trị có tổ chức của những người đối lập... chỉ thảo luận vấn đề chính trị đã có thể thay đổi thực tế chính trị rồi.

Lê Đức Thọ:

- Tôi thấy triết học của các ông quanh co, khó hiểu và khác với triết học macxit.

Kissinger:

- Tôi thấy khó thoả mãn những đồng sự người Hà Nội của tôi, vì nói cái gì chung chung thì các ngài bảo là không lêninit, nói cái gì cụ thể thì các ngài lại không ưa.

Rồi ông ta kể một câu chuyện vui: Có người hỏi Anatole France (nhà văn Pháp, 1844-1924 - Tác giả) là ông đã đọc triết học của Kant chưa? A.France trả lời: tôi mới đọc ít lắm, mới được có 9 cuốn thôi, nhưng tất cả cái gì quan trọng lại ở phần cuối

Lê Đức Thọ: 

- Thế thì bây giờ tôi đang chờ phần cuối đó.

Kissinger không nói phần cuối mà tiếp tục đưa ra thí dụ để minh hoạ ý kiến của ông ta. Thí dụ hai bên bàn về thay đổi bà Bình thì sẽ ảnh hưởng đến tinh thần bà Bình... rồi ông ta nói phía Việt Nam đòi thay thế một số người cầm đầu trong Chính quyền Sài Gòn hiện nay như là một tiền đề cho quá trình chính trị thì Mỹ không nhận được. Ông cũng thừa nhận ta có khúc mắc trong vấn đề tuyển cử, ai sẽ đứng ra tuyển cử.

Chúng tôi nghĩ rằng có nhiều mặt sáng tạo, thí dụ có ủy ban hỗn hợp tuyển cử, vì ủy ban này có thể đáp ứng rất xa những yêu cầu hợp lý của các ông!".

Lê Đức Thọ:

- Nó chưa nhích được một bước nào chứ không phải đi xa. Tôi chờ mãi câu chủ chốt nhưng rốt cục vẫn là ủy ban hỗn hợp như đã đề nghị ở Kléber.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:46:26 PM
Kissinger còn nói nhiều nữa rằng ông ta sẵn sàng bàn đến quan hệ giữa bầu cử tự do và phân chia quyền lực - việc bầu cử cơ quan hành pháp và trực tiếp hay gián tiếp - bầu Quốc hội, rồi Quốc hội bầu ra Chính phủ hay trực tiếp bầu ra Chính phủ... mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp và lập pháp, giữa các tỉnh và Sài Gòn, v.v... . rồi vấn đề quân sự như ngừng bắn ảnh hưởng đến quá trình chính trị như thế nào...

Kissinger tóm tắt các đề nghị của ông ta như sau:

1 - Chúng tôi đồng ý - về nguyên tắc phải rút toàn bộ quân Hoa Kỳ và quân đồng minh.

2 - Chúng tôi đã trình bày một kế hoạch chi tiết về việc rút quân đó và chúng tôi cũng đã nói rằng vấn đề thời gian rút quân là vấn đề mềm dẻo và sẽ không để nó thành một trở ngại cho việc giải quyết.

3 - Chúng tôi đã nói chúng tôi không cam kết duy trì một lực lượng chính trị nào trong Chính quyền một khi đạt được một giải pháp.

4 - Chúng tôi đã nói về phương pháp thích hợp để biết được ý muốn của nhân dân nhưng chúng tôi cũng sẵn sàng bàn những đề nghị khác về các vấn đề đó.

5 - Chúng tôi đã nói là chúng tôi không những sẵn sàng bàn vấn đề tuyển cử một cách trừu tượng mà còn sẵn sàng bàn mối liên quan giữa tuyển cử và quyền lực chính trị... mối liên quan giữa các vấn đề quân sự và chính trị, giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp, vấn đề bảo vệ các lực lượng thiểu số... Nói cách khác, chúng tôi không nói đến bầu cử một cách trừu tượng mà nói đến một cơ cấu chính trị cụ thể.

6 - Chúng tôi sẵn sàng xem xét vấn đề chính trị và vấn đề quân sự có liên quan với nhau không những một cách chung chung mà cả vấn đề cụ thể nửa, đặc biệt qua thảo luận vấn đề ngừng bắn.

Kissinger còn nói rằng Mỹ không có ý định dùng vấn đề Lào làm áp lực quân sự đối với Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ sẵn sàng tiến tới một giải pháp thực hiện trên cơ sở giữ nguyên trạng ở Lào... sẵn sàng thực hiện với ta một sự thoả thuận để bảo đảm nền trung lập của Lào và bảo đảm an ninh cho lực lượng của Việt Nam khỏi bị những hoạt động đối địch xuất phát từ Lào.

Về vấn đề Campuchia, ông nói Mỹ đã không dính dáng vào và đã không dùng vấn đề Campuchia làm áp lực với Việt Nam và tuyên bố sẵn sàng hôm nay thoả thuận với Việt Nam về những sự sắp xếp để bảo đảm nền trung lập của Campuchia không bị vi phạm ...

Hoa Kỳ không có ý định gây ra một tình hình tương tự (như ở Việt Nam) ở một nơi khác ở Đông Nam Á. Còn về phía Việt Nam, hình như đã tiến hành tiến công ở Nam Việt Nam bốn ngày trước khi ông đến đây để đàm phán một cách nghiêm chỉnh.

Cuối cùng ông nói, trong cuộc đàm phán hiện nay, Hoa Kỳ đã có đại diện đúng đắn rồi và chính ông đã bốn lần vượt đại dương sang đây đàm phán với Việt Nam một cách trung thực.

Xuân Thuỷ đề nghị nghỉ giải lao. Nhưng ông Cố vấn Nhà Trắng còn yêu cầu Bộ trưởng giải thích một câu ông nói rằng sẽ bàn rút quân của Việt Nam nếu hai bên đạt được thoả thuận.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:47:47 PM
Kissinger hỏi:

- Các ông sẽ bàn với ai?

Xuân Thuỷ: .

- Với ai thì sẽ liệu. 

Lê Đức Thọ: 

- Chưa thoả thuận được với nhau thì làm sao biết bàn với ai.

Kissinger:

- Tôi cho rằng Bộ trưởng còn khó tính hơn tôi?

Xuân Thuỷ:

- Từ khi gặp ông đến giờ, tôi sinh ra khó tính thế đấy. Tôi học cái tính của ông đấy. 

Kissinger:

- Ngay từ ngày đầu tiên gặp ông tôi đã thấy ông hắc lắm rồi.

Xuân Thuỷ:

- Không thế đâu. Chính là tôi cứ nghe cái triết lý quanh co của ông nên tôi mới trở nên khó tính.

Kissinger:

- Chúng tôi bất ngờ gặp phải các ông là đối phương chứ chúng tôi không lựa chọn. Nếu chúng tôi lựa chọn thì chúng tôi lựa chọn đối phương dễ tính hơn.

Sau khi nghỉ, Lê Đức Thọ phát biểu. Bằng lời lẽ mạnh mẽ, ông nói một cách thẳng thắn.

- Trong hai lần gặp vừa qua ông đều nói rằng các ông muốn giải quyết hoà bình, không muốn dùng áp lực quyết định, không muốn đàm phán trên thế mạnh, nhưng những việc làm thực tế của các ông làm cho chúng tôi không thể tin được những lời nói của ông.

Qua những sự kiện xảy ra ở Việt Nam, Lào và Campuchia, nhất là những sự kiện xảy ra ở Lào và Campuchia, chúng tôi cho rằng các ông vẫn tích cực thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, kéo dài và mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương...

Về Lào, trong hai, ba năm qua chiến sự vẫn diễn ra bình thường nhưng thử hỏi: Ai đã đánh chiếm Cánh Đồng Chum cho nên nhân dân Lào phải đánh trả lại và chiếm lại Cánh Đồng Chum, và bây giờ các ông lại đưa quân Thái vào Lào ném bom Cánh Đồng Chum rất ác liệt! 

Về Campuchia, ai đã tổ chức cuộc đảo chính ở Campuchia, đã xoá bỏ nền độc lập và trung lập của Campuchia và đưa một tập đoàn phản động ở đó lên cầm quyền? Không ai khác hơn là Mỹ. Các ông nói các ông không uy hiếp Việt Nam trong vấn đề Lào và các ông không dính dáng đến vấn đề Campuchia. Điều đó hoàn toàn không đúng sự thật. Phương ngôn Việt Nam có câu "Không thể lấy thúng úp voi được
".

Kissinger xen vào:

- Tôi thích câu nói ấy đấy.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:49:14 PM
Lê Đức Thọ tiếp tục lên án Mỹ định dùng lực lượng tay sai ở Campuchia phối hợp với lực lượng tay sai ở Nam Việt Nam tiêu diệt lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và phong trào cách mạng Campuchia, thực hiện học thuyết của Nixon: dùng người châu Á đánh người châu Á.

Rõ ràng các ông muốn dùng sức mạnh để giải quyết vấn đề và đàm phán trên thế mạnh, buộc nhân dân chúng tôi cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia phải khuất phục sức mạnh của các ông. Nhưng tôi cho đó chỉ là ảo tưởng... Các ông đã lầm to. Bao nhiêu sức mạnh của các ông cũng không thể nào khuất phục được nhân dân chúng tôi cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia... Các ông không đánh giá đúng và không lường được hết lực lượng của toàn dân tộc chúng tôi đứng dậy chống các ông. Bây giờ các ông lại muốn. mở rộng chiến tranh sang Campuchia và lại muốn bước vào những vết xe cũ. Các ông tưởng dùng một số phản động trong quân đội lật đổ Sihanuc thế là xong. Nếu nghĩ như vậy thì thật đơn giản quá. Chính việc làm đó của các ông đã tạo ra ở Campuchia một tình hình là quần chúng nhân dân đã đoàn kết chống lại các ông và bọn phản động. Họ đã theo lời kêu gọi của ông Sihanuc và của Mặt trận Thống nhất Dân tộc Campuchia ở đây nổi lên với tất cả tinh thần dũng cảm của họ để bảo vệ độc lập và trung lập của Campuchia. Chỉ trong mười ngày thôi mà tình hình đã biến chuyển rất nhanh. Đó là báo hiệu sự thất bại của các ông”.

Lê Đức Thọ nói rõ thái độ của ta là ủng hộ tuyên bố năm điểm của Sihanuc, và chừng nào Chính quyền Lonnol-Sỉrik Matăk còn ở Phnom Pênh thì không giải quyết được vấn đề Campuchia.

Ông nói tiếp:

- Trong tình hình các ông đang thất bại ở Việt Nam và Lào thì làm sao lại thắng ở Campuchia được. Các ông đã gieo gió thì các ông sẽ gặt bão. Các ông đã gây ra mối hận thù dân tộc giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia, nhưng nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã có truyền thống đoàn kết chống Pháp chín năm trước đây và đã gắn bó với nhau từ lâu, các ông không phá vỡ nổi sự đoàn kết đó. Ngày nay nhân dân ba nước Việt Campuchia - Lào càng kiên quyết chiến đấu và nhất định giành thắng lợi. Các ông nhất định sẽ thất bại lớn hơn nữa.

Vậy ngày nay có giải quyết được vấn đề hoà bình ở Việt Nam, Lào và Campuchia hay không, điều đó không tuỳ thuộc ở chúng tôi mà chính là tuỳ thuộc ở các ông.

Ông cũng nói đến hai khả năng giải quyết vấn đề Việt Nam: hoà bình hay chiến tranh, và tiếp:

- Chúng tôi vẫn để ngỏ cánh cửa cho một giải pháp hoà bình. Nhưng ông Nixon chưa muốn giải quyết vấn đề và còn nhiều tham vọng
Mong rằng giáo sư Kissinger có đầu óc nghiên cứu nắm vấn đề để giải quyết, hãy tỉnh táo nhìn vào thực tế.

Về tương quan lực lượng chính trị ở miền Nam Việt Nam, Lê Đức Thọ nhấn mạnh:

- Lực lượng Thiệu - Kỳ - Khiêm mà các ông nói, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Còn nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân miền Nam là hoà bình, trung lập. Chỉ có một thiểu số tướng tá là thích chiến tranh thôi ..

Khi Lê Đức Thọ kết thúc lời phát biểu của mình, Kissinger nhận xét ngay là Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nói đúng 55 phút không kém ông ta và hứa sẽ nghiên cứu ý kiến của ông Thọ.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 23 Tháng Chín, 2009, 10:50:31 PM
Kissinger nói đi nói lại rằng Mỹ không chủ mưu gây ra đảo chính ở Campuchia, rằng ông Thọ đã quá đề cao Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). (Sau này Kissinger cũng viết như vậy trong cuốn sách "Ở Nhà Trắng" của ông ta, và cũng ghi lại một số đoạn phát biểu của Lê Đức Thọ đã gây cho ông ta ấn tượng sâu sắc).

Kìssinger nói lại một cách lâm li, cố thuyết phục ông Thọ:

- Chúng ta phải chọn một trong hai điều: một là chúng ta vẫn tiếp tục nhưng chúng ta cứ trốn đằng sau những phức tạp của Việt Nam. Cả hai bên chúng ta đều có đủ thông minh, đặc biệt là các ông có tài về biện chứng, để kéo dài mãi mãi cũng được. Đó là một sự tập luyện về lý luận không dẫn tới đâu cả mà không cần sự tham gia của tôi. Hai là chúng ta cố gắng theo tinh thần của Bộ trưởng Xuân Thuỷ... là hai bên phải tìm cách đề cập đến những vấn đề cơ bản và đưa ra những đề nghị cụ thể mới để có thể chấm dứt chiến tranh trong năm nay.

Hai bên còn tranh luận thêm về vấn đề Lào và Campuchia và hứa nghiên cứu ý kiến của nhau.

Kissinger đề nghị có thêm một phiên gặp riêng nữa, nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ đề nghị hai bên nghiên cứu ý kiến của nhau, đến lúc nào đó thấy có gì mới sẽ gặp lại.

Hiệp đầu đàm phán giữa Lê Đức Thọ và Kissinger chấm dứt với phiên họp ngày 4 tháng 4. Trong đợt này hai bên có đi vào vấn đề thực chất, nhưng nói chung vẫn giữ quan điểm của mình. Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh, tuy có rút một số quân Mỹ nhưng mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tăng cường chiến sự ở Lào, họ chưa thật muốn bàn bạc nghiêm chỉnh một giải pháp.

Trong Hồi ký, ông Kissinger nhận định như sau:

Hiệp đầu đàm phán với Lê Đức Thọ thất bại vì ngoại giao bao giờ cũng phản ánh một so sánh lực lượng nào đó và Lê Đức Thọ không lầm lắm đâu. Ông ta đánh giá đúng dư luận công chúng ở Hoa Kỳ - và đặc biệt là thái độ các tổ chức lãnh đạo mà ông đã xác minh được. Những vấn đề do Việt Nam hoá đặt ra là có thật. Tình trạng thiếu kỷ luật trong Chính quyền Mỹ bộc lộ những bất đồng tư tưởng chia rẽ hành pháp. Trong những hoàn cảnh như thế, Lê Đức Thọ không có lý do gì để thay đổi yêu cầu rút quân Mỹ không điều kiện và đánh đổ Chính phủ Sài Gòn" (H.Kissinger. Ở Nhà trắng Sđd, tr. 485-486.).

Lúc chia tay với Kissinger, ngày 4 tháng 4, Lê Đức Thọ nói:

“Bây giờ quan điểm của hai bên còn xa nhau". 

Với sự thoả thuận của hai bên, các cuộc gặp riêng hoãn không thời hạn. Vả lại, không khí chính trị ở Mỹ, ở Đông Dương đang chuyển biến nhanh và phức tạp.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:51:36 PM
Giữa kẻ thù không chịu nổi và sự chống đổi bên trong cũng không chịu nổi

Tại Lào, ngày 1 tháng 5, liên quân Lào - Việt tiến đánh Atôpơ, giải phóng thị xã và vùng lân cận. Ngày 9 tháng 6 lại giải phóng tỉnh lỵ Saravan và khu vực chung quanh. Cả miền Nam Lào hầu như được giải phóng.

Một bộ phận liên quân Lào - Việt tiến sang đất Campuchia vào tỉnh Stung-treng, đánh tan một lực lượng đáng kể của quân Lonnol, giải phóng một số quận lỵ và thị xã, và tiến sát đến biên giới Thái Lan. Tỉnh lỵ Sêkông thuộc tỉnh Mônđukiri bị mất, quân Lonnol phải bỏ chạy khỏi Ratanakin.  

Ngày 5 tháng 6, Kratié rơi vào tay lực lượng giải phóng. Lực lượng giải phóng Campuchia, với sự giúp đỡ của Việt Nam, đánh chiếm nhiều vùng rộng lớn ở phía Nam và phía Bắc đường số 5, đánh Kôngpôngspơ và nhiều nơi khác. Từ tháng 5 năm 1970, Phnom Pênh đã bị cắt đứt với cảng Kôngpôngxom (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Sđd, tr. 50-51.).

Cuộc hành quân của Mỹ đánh vào vùng Móc Câu với mục tiêu chính là tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam cũng bị bẻ gãy.

Như vậy, trong hai tháng, Quân giải phóng Campuchia với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia: Kratié, Tung trong, Ratanakiri, Mondunkiri, Kôngpông Cham (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Sđd t.2, tr 5051.).

Trên chiến trường miền Nam, nhân lúc Mỹ -Ngụy bị hút sang Campuchia, các quân khu, các mặt trận kịp thời tiến công - chủ yếu bằng lực lượng đặc công và pháo binh - nhiều căn cứ Mỹ - Nguỵ ở nhiều thành phố và thị xã và phòng tuyến phòng thủ vành ngoài của chúng từ Trị - Thiên đến Quảng Nam - Đà Nẵng và Tây Nguyên, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của địch.

Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng Chính phủ Cách mạng Lâm thời bao vây bức rút 1000 đồn bốt, phá rã và phá lỏng gần 1600 ấp chiến lược và khu dồn dân của địch. Nửa đầu năm 1970, Mỹ - Nguỵ không dồn thêm được dân, lấn thêm được đất. Tình hình cách mạng miền Nam không còn quá khó khăn như năm 1969. Phong trào chống chiến tranh, chống Mỹ - Thiệu, đòi hoà bình, đòi Mỹ rút quân và thay Thiệu cũng phát triển ở các đô thị.

Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Hội nghị cấp cao của nhân dân ba nước Đông Dương - gồm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Hoàng thân Sihanuc, Hoàng thân Suphanuvông - được triệu tập ở Quảng Châu (Trung Quốc) đánh dấu một sự phát triển mới của sự đoàn kết chiến đấu chống đế quốc giữa nhân dân ba nước Đông Dương.

Tại Mỹ, trước sức ép của nhân dân và Quốc hội đòi rút thêm quân, ngày 20 tháng 4 năm 1970, Tổng thống Nixon công bố lệnh rút thêm 150.000 quân nữa, từ đó cho đến hết năm 1971. Ông hy vọng rằng đợt rút quân lớn này sẽ làm yên lòng nhân dân Mỹ, đồng thời tăng thêm sức ép Việt Nam. Nhưng việc đưa quân Mỹ sang Campuchia, dù ông gọi là "một hành động tạm thời và hạn chế " nhằm "chấm dứt chiến tranh Việt Nam" đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong nhân dân và Quốc hội Mỹ.

Cuối tháng 4 đã có biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ở hai trăm thành phố lớn nhỏ tố cáo Nixon leo thang chiến tranh. Các báo lớn ở Mỹ lên án ông nuốt lời hứa sẽ rút cam kết ở Đông Nam Á và đi sâu một cách nguy hiểm vào chiến tranh. Họ cho rằng cuộc hành quân của Nixon vào Campuchia là một sự lừa dối, một ảo tưởng. Các cuộc bãi công và biểu tình nổ ra ở khắp nơi trong ngày 1 tháng 5. Phong trào chống chiến tranh mạnh nhất là tại các Trường Cao đẳng và Đại học. Nhiều nơi đã xảy ra xô xát với cảnh sát



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:51:53 PM
Ngày 4 tháng 5, trong một cuộc tập hợp chống chiến tranh tại Trường Đại học Kent, cảnh sát đã bắn chết 4 sinh viên, đổ thêm dầu vào ngọn lửa phản chiến đang bốc cao trong toàn quốc. Hàng ngàn học sinh, sinh viên cùng các giáo sư tiến về Washington tố cáo việc leo thang điên rồ của Chính phủ. Chiều thứ bảy ngày 9 tháng 5, ngày phản đối toàn quốc, một cuộc mít tinh khổng lồ gồm hơn 100.000 người diễn ra cạnh Nhà Trắng. Chính quyền phải điều động quân đội và xe bọc thép đến bảo vệ. Ở các Trường Đại học trong toàn quốc sinh viên bãi khoá, biểu tình ngồi, đốt lửa cầu nguyện cho hoà bình. Nixon phải ra lệnh đóng cửa các trường Đại học. Theo Kissinger, ngay ở Bộ Ngoại giao, 250 viên chức đã ký một bản tuyên bố tỏ ý không tán thành chính sách của Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Wilham Roger, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird cũng không tán thành đưa quân vào Campuchia, Bộ trưởng Nội vụ Walter Hickel phản đối công khai.

Tại quốc hội Mỹ, ngày 26 tháng 4, đa số Đại biểu đã bỏ phiếu huỷ Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ tháng 8 năm 1964 cho phép Tổng thống đưa quân sang Đông Nam Á. Tiếp đó các cuộc tranh luận về chính sách của Nixon ở Đông Dương diễn ra rất gay gắt. Có dự luật đòi cắt viện trợ cho bọn Lonnol sau 30 tháng 6 năm 1971, có dự luật đòi chấm dứt ngân sách cho chiến tranh Đông Dương vào cuối năm đó hoặc chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 1971. Cay đắng nhất cho Nixon là Quốc hội Mỹ đã thông qua quyết định đòi Chính quyền rút quân khỏi Campuchia trước ngày 1 tháng 7 năm đó. Ngày 30 tháng 6, Nixon phải ra lệnh rút hết quân Mỹ khỏi Campuchia.

Sau này Nixon viết rằng "Những ngày sau sự kiện xảy ra ở Kent là những ngày đen tối nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của tôi. Tôi thấy vô cùng chán nản" (R . Nixon Hồi ký. Sđd, tr 457). 

Kissinger viết: "Chúng ta chấm dứt cuộc hành quân ở Campuchia mà không giải quyết được vấn đề trong một cuộc đấu tranh với một kẻ thù không chịu nổi cùng với một sự chống đối bên trong cũng không chịu nổi" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng Sđd, tr 532 ).

Mỹ đưa quân vào Campuchia, tiếp tục ném bom miền Bắc nhưng vẫn tỏ ra muốn thương lượng.   

Ngày 6 tháng 5 năm 1970, một tuần sau khi Mỹ đưa quân vào Campuchia, tướng V. Walters gọi điện thoại ba lần xin gặp Mai Văn Bộ nói là có công hàm của Washington.

Trong phiên họp công khai thứ 66 ngày hôm ấy, trước việc Mỹ ném bom bắn phá liên tục miền Bắc, cả đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra tuyên bố phản đối các hành động chiến tranh nói trên của Mỹ, vi phạm thoả thuận giữa hai bên ngày 30 tháng 10 năm 1968, rồi bỏ về. Bộ trưởng Xuân Thuỷ tuyên bố sẽ rời Paris về nước.

Ngày Bộ trưởng Xuân Thuỷ và bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời, rời Paris thì cũng là ngày Mai Văn Bộ tiếp tướng Walters.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:52:02 PM
Viên tướng Mỹ đọc thông điệp sau đây cho Mai Văn Bộ:

“Chính phủ tôi đã xem xét một cách đầy đủ những điều liên quan xảy ra từ cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng ta và cho rằng những cuộc thảo luận đó cũng như những sự kiện gần đây nêu rõ sự cần thiết phải có những đề cập mới có thể làm dễ dàng việc tiếp tục cuộc đối thoại có tính chất xây dựng trong diễn đàn này.

Xuất phát từ thái độ đó và từ lòng mong muốn đi tới chấm dứt nhanh chóng cuộc xung đột trên cơ sở công bằng, Chính phủ chúng tôi đề nghị một cuộc gặp nữa giữa Tiến sĩ Kissinger với Bộ trưởng Xuân Thuỷ và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ... từ sau ngày 6 tháng 5, vào bất cứ ngày cuối tuần nào thuận tiện đối với Bộ trưởng và Cố vấn đặc biệt".

Hà Nội không vồ vập. Gần một tháng sau, ngày 3 tháng 6, Mai Văn Bộ trao trả lời cho tướng Walters.

"Những lời nói hoà bình của Hoa Kỳ chỉ là lời nói suông, cho nên trong tình hình như vậy một cuộc gặp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ với Tiến sĩ Kissinger như đề nghị đầu tháng 5 của Hoa Kỳ sẽ không đem lại điều gì bổ ích. Tuy nhiên khi nào Hoa Kỳ từ bỏ việc dùng áp lực quân sự và có thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí thì Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẵn sàng gặp lại Cố vấn Kissinger để tìm một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam.".

Mỹ càng tỏ ra hiếu chiến và ngoan cố, ta càng tỏ thái độ vững vàng, cứng rắn. Nhưng ta không cắt cầu.

Tháng 7, sau khi rút quân khỏi Campuchia, theo đề nghị của Kissinger, Nixon cử David K.E. Bruce, khi đó bảy mươi hai tuổi, làm Trưởng đoàn Đại biểu Mỹ tại Hội nghị Kléber. Con một gia đình lớn ở Maryland, ông đã 30 năm trong ngành ngoại giao, đã từng là đại sứ ở Lon don, Paris, Bone. Kissinger thấy ở ông ta một con người có bản lĩnh, một con người "hiểu rằng danh dự một Quốc gia không phải là chuyện thường, người Mỹ không vượt các thế kỷ để phản bội những người đã tin vào lời hứa của Mỹ”. Ông cho rằng ông Bruce sẽ phải cùng đi một đoạn đường dài và gian khổ, nhưng tin rằng bên cạnh Bruce gánh nặng sẽ giảm nhẹ đi.

Ngày 5 tháng 7, tướng Walters chuyển cho Trần Viết Dung, đại diện lâm thời Việt Nam ở Paris, một công hàm của Mỹ đề nghị một cuộc gặp mới vào bất kỳ lúc nào sau 25 tháng 7.

Ngày 18 tháng 7, Trần Viết Dung được chỉ thị trả lời:

“Theo công hàm ông Walters nhờ ông Trần Viết Dung chuyển ngày 5 tháng 7 năm 1970 trong đó Chính phủ Hoa Kỳ đề nghị một cuộc gặp mặt mới... Bộ trưởng Xuân Thuỷ đồng ý gặp Cố vấn Kissinger vào 28 tháng 8 tại Paris”

Nhưng phía Mỹ có lẽ bị ám ảnh là nhận thời hạn do đối phương ấn định là bị động như hồi tháng 2, nên họ đề nghị lui ngày họp vào 7 tháng 9.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:56:59 PM
Cuộc họp vẫn ở 11 phố Darthé.

Kissinger tỏ vẻ vui mừng được gặp lại Xuân Thuỷ, gửi lời chào Cố vấn Lê Đức Thọ (vắng mặt hôm đó) và cho ta biết đại sứ D.Bruce, nhà ngoại giao có tài, người có đủ thẩm quyền đàm phán về mọi vấn đề, ông nhấn mạnh rằng việc cử Bruce cầm đầu phái đoàn Mỹ ở Hội nghị bốn bên là một việc có ý nghĩa, đáp ứng yêu cầu của ta, là dấu hiệu về thiện chí và đàm phán nghiêm chỉnh của Mỹ.

Đi vào nội dung cuộc gặp, ông ta nói Hoa Kỳ muốn chấm dứt chiến tranh nhanh chóng bằng đàm phán, nhưng vì Hoa Kỳ không làm cho phía Việt Nam đàm phán nghiêm chỉnh được nên Hoa Kỳ buộc phải đi theo con đường khác là rút quân dần dần đi liền với việc tăng cường quân đội Nam Việt Nam.

"Đối với chúng tôi các ngài có nghi kỵ sâu sắc. Sự nghi kỵ sẽ không giảm bớt nếu thời gian trôi đi ..."

"Chúng ta sắp sửa đến thời gian mà khả năng giải pháp có thể trôi qua. Vượt quá một mức nào đó thì các ngài sẽ đưa mình vào một cuộc đọ sức bằng vũ khí. Tôi thì không đoán trước được rằng một cuộc đọ sức như vậy với một quân đội Nam Việt Nam được tăng cường và được chúng tôi ủng hộ sẽ chấm dứt như thế nào và bao lâu mới chấm dứt được. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng một tuyên bố như vậy làm cho một giải pháp thương lượng với Hoa Kỳ càng khó khăn hơn. Thế thì hãy tìm cách đạt được một giải pháp khi còn thì giờ”.

Ông ta nêu ba diễn đàn để làm việc: diễn đàn thứ nhất có ông ta tham gia, diễn đàn thứ hai: gặp gỡ riêng giữa hai Trưởng đoàn, và diễn đàn ở Kléber. Kissinger lại kể ra những hành động thiện chí của Mỹ: chấm dứt ném bom miền Bắc, đã rút quân, đồng ý đàm phán có Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã tuyên bố sẽ rút hết quân Mỹ, và trong một năm rưỡi đã rút gần 200.000 quân... Rồi nói rằng hai điều kiện tiên quyết mà ta đặt ra là không phù hợp như đòi rút đơn phương toàn bộ quân Mỹ và đòi Mỹ gạt những người lãnh đạo Nam Việt Nam.

Nếu như Hoa Kỳ rút quân không điều kiện và các ngài muốn thay thế Chính phủ Nam Việt Nam thì đó là vấn đề của các ngài, không phải là vấn đề của chúng tôi nữa. Nếu như các ngài muốn đàm phán về vấn đề chính trị với chúng tôi thì các ngài phải bỏ các điều kiện tiên quyết đó đi".

Tiếp đó ông ta muốn đi vào thảo luận cụ thể và đưa ra lịch rút quân 12 tháng: Tháng đầu 5.000, tháng thứ 2 và thứ 3: mỗi tháng 10.000, tháng thứ 4: 45.000, tháng thứ 5: 35.000, tháng thứ 6: 44.000. Ba tháng tiếp theo mỗi tháng 60.000. Tháng thứ 10 và 11: mỗi tháng 20.000. Tháng thứ 12: 15.000.

Ông ta chấp nhận hai nguyên tắc rút quân toàn bộ và cả căn cứ quân sự, đã đưa ra lịch rút quân toàn bộ và nếu được đáp ứng bằng một sự có đi có lại thì có thể đi đến chấm dứt chiến tranh.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:57:06 PM
Về chính trị, ông ta nhắc lại ba nguyên tắc mà Nixon đã nói hôm 20 tháng 4 là phải phản ánh nguyện vọng của nhân dân Nam Việt Nam, phải phản ánh tương quan lực lượng hiện có, không có sự can thiệp từ bên ngoài, và Hoa Kỳ sẽ tôn trọng kết quả quá trình chính trị mà hai bên đã thoả thuận.

Ông ta thừa nhận nhiệm vụ như vậy là rất khó khăn, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải hiểu rõ những giới hạn trong lập trường của mỗi bên. Sự mềm dẻo của Hoa Kỳ là rõ nhưng Hoa Kỳ không nhận thay đổi trước các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam. Về Mặt trận, ông nói: dĩ nhiên đó là một thực tế hiện có, và nói chung điều chúng ta phải thoả thuận là phải thừa nhận rằng tất cả các lực lượng chính trị hiện có ở Nam Việt Nam là những thực tế.

Ông ta nhắc lại việc muốn tạo ra một quá trình chính trị, tạo ra các khả năng cho mỗi bên phát huy được sự ủng hộ của nhân dân Nam Việt Nam, "chứ chúng ta không thể bảo đảm rằng bên này hay bên kia sẽ thắng, và hai bên phải thoả thuận tôn trọng kết quả của quá trình đó".

Cuối cùng Cố vấn Kissinger nói rằng Hoa Kỳ không có ý định đánh lừa Việt Nam như hồi năm 1954 và kêu gọi thảo ra một chương trình làm việc để sớm kết thúc chiến tranh.

Bộ trưởng Xuân Thuỷ cũng tỏ ra vui mừng được gặp lại Kissinger, cũng đồng ý về ba diễn đàn như ông ta nêu ra, nhưng thấy rằng phần nói về lý do của Kissinger thì rất dài còn phần nói về thực chất thì quá ngắn.

Một lần nữa Xuân Thuỷ nói: Việt Nam là một nước nhỏ, chỉ muốn sống trong hoà bình và độc lập, tự do, nhưng lại bị xâm lược nên phải chống lại, bất kể đối phương lớn mạnh như thế nào. Không phải chúng tôi thích dùng vũ lực mà chính kẻ xâm lược buộc chúng tôi phải dùng vũ lực để bảo vệ đất nước và cuộc sống.

Bộ trưởng lên án Mỹ dùng vũ lực đẩy mạnh càn quét ở miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia để ép Việt Nam trên bàn đàm phán, nhưng Mỹ đã đẩy nhân dân Campuchia chống lại Mỹ, Mỹ sẽ sa lầy thêm. Thời gian sẽ trả lời.

Hai bên trình bày cách hiểu khác nhau về quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam, về vấn đề ai sẽ đứng ra tổ chức tuyển cử ở Nam Việt Nam, làm sao để có tuyển cử công bằng.

Kissinger nhấn mạnh hai điểm mới trong vấn đề rút quân của ông: thừa nhận rút toàn bộ kể cả căn cứ quân sự, và lần đầu tiên ông ta đưa ra một kế hoạch cụ thể từng tháng mà 4/5 quân số sẽ rút trong chín tháng. Ông ta cũng nói áp lực của Bắc Việt Nam là áp lực từ bên ngoài và sẵn sàng tìm ra những phương pháp làm cho nhân dân Nam Việt Nam có thể tự do phát biểu nguyện vọng của mình thông qua các tổ chức mà người ta có thể tìm; phía Việt Nam đã thiếu kiên nhẫn đối với quan niệm về Uỷ ban tuyển cử hỗn hợp; phía Mỹ không quan tâm người ta gọi cái đó là cái gì.

Ông ta đề nghị bàn cụ thể về việc thành lập Chính phủ như thế nào. Ông ta nói rằng ông tin vào sức thuyết phục của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với Chính phủ Cách mạng Lâm thời và phía Việt Nam hãy tin vào sức thuyết phục của Mỹ còn nhiều khi quân Mỹ còn đông, nếu như còn lâu mới đạt được một giải pháp thì sự có mặt của quân Mỹ ít đi, sức thuyết phục của Mỹ cũng ít đi.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:57:30 PM
Kissinger đề nghị bàn vấn đề rút quân trong một vài phiên họp nữa. Còn về chính trị nên bàn một cách chính xác việc tổ chức tuyển cử ở miền Nam như thế nào. Ông ta cho rằng nếu thoả thuận được về một cuộc bầu cử tự do thật sự thì việc Bộ trưởng Xuân Thuỷ đòi thay thế Thiệu - Kỳ - Khiêm chỉ còn là lý thuyết thôi.

Kissinger tiếp:

- Tôi xin hỏi Bộ trưởng, tôi có thể báo cáo với ông Nixon rằng cách đề cập tổng quát như vậy về nguyên tắc có thoả thuận được không?

Xuân Thuỷ không trả lời câu này mà nhắc lại việc lập Chính phủ liên hiệp theo ba bước đã nói trước đây, rồi thêm:

- Chúng tôi không sợ gì cả - đe doạ cũng không sợ - kéo dài hay mở rộng chiến tranh cũng không sợ, chỉ muốn giải quyết thế nào cho hợp lý.

Kissinger lại hỏi:

- Nếu ông Nixon hỏi tôi, và chắc chắn ông ta sẽ hỏi, là tôi sang đây đạt được gì, Bộ trưởng nói gì khác hơn ở Kléber, thì Bộ trưởng bảo tôi thế nào? 

Xuân Thuỷ vui vẻ trả lời:

- Khó gì đâu, ông hãy trả lời rằng: vì ông Tổng thống giao cho ông Cố vấn nhiệm vụ sang đây không nói gì mới, nhất là về vấn đề chính trị, nên Bộ trưởng Xuân Thuỷ cũng không nói gì mới. Tuy ông Xuân Thuỷ không nói gì mới nhưng sau khi trao đổi, ông Xuân Thuỷ giải thích rõ hơn và có lý hơn, cho nên vấn đề chính là Tổng thống phải thay đổi chính sách hiện nay. Còn về vấn đề quân sự, các ông để ra 12 tháng rút hết quân, bà Bình đề ra 6 tháng, phải xem cái nào hợp hơn.

Kissinger từ đầu đến giờ không nói gì đến việc rút quân miền Bắc liền đáp:

- Giải quyết vấn đề rút quân phải tuỳ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề khác. Nếu không phải giải quyết các vấn đề khác thì vấn đề rút quân cũng không giải quyết được. .

Ông lại hỏi Xuân Thuỷ:

- Có thể về lý thuyết có khả năng là sau khi nghiên cứu ý kiến của chúng tôi, Bộ trưởng thấy có một số điểm nào hợp lý thì Bộ trưởng có thay đổi gì không?

Hai bên phải nghiên cứu ý kiến của nhau. Về điểm Thiệu - Kỳ - Khiêm thì tôi không đồng ý với ông. Ông có thể nói với Nhà Trắng nhiều cách: ông nói là ông đã nói hết lý lẽ rồi, cũng có đe doạ một tý rồi, nhưng không hề làm cho ông Xuân Thuỷ lung lay. Sau đó thoả thuận là hai bên trở về nghiên cứu ý kiến của nhau.

- Tôi không bao giờ đe doạ Bộ trưởng đâu?



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 06:57:38 PM
Hai bên hẹn gặp lại nhau ngày 27 tháng 9. Kissinger nói thêm rằng:

- “Chúng tôi biết các ngài đã tồn tại hai ngàn năm không phải là do nhân nhượng và mềm dẻo đâu, và... tôi không tìm cách đánh lừa các ngài... Con đường này là con đường tốt nhất, duy nhất dề nhanh chóng chấm dứt chiến tranh".

Rồi ông ta kêu gọi phía Việt Nam hãy xem xét những điểm thay đổi đem lại sức sống và sự khẩn trương trong đàm phán. Về điểm này Bộ trưởng Xuân Thuỷ tán thành.

Trước khi ra về, nhân việc Xuân Thuỷ nói về Mỹ sa lầy, Kissinger kể một câu chuyện Nga:

- “Có một người hớt hơ hớt hải chạy vào làng kêu cứu ông Mikhailôvic vì ông đã ngập đến đầu gối rồi. Dân làng chạy ra và bảo: hốt hoảng gì vì ông ta mới ngập tới mắt cá chân. Nhưng khổ là ông ta đã ngả đầu chúc xuống vũng lầy, chứ không phải đi vào vũng lầy đâu!".

Xuân Thuỷ không bình luận về câu chuyện này, nhưng khi Kissinger yêu cầu giữ bí mật cuộc họp thì nói:

- Sẽ không bị sa lầy trong việc bị lộ.

Đây là lần đầu tiên Mỹ đưa ra lịch rút quân Mỹ trong 12 tháng mà không nói gì đến việc đòi miền Bắc rút thế nào, chỉ nói lấp lửng “đáp ứng" đồng thời lại nói có giải quyết được vấn đề khác (chính trị) mới giải quyết vấn đề rút quân. So với lần trước thì hình như có sự nhân nhượng và có phần mềm dẻo hơn, nhất là về quân sự. Đây là một cái bẫy. Tuy Mỹ còn nhiều khó khăn, nhưng lực lượng của họ còn mạnh, họ còn rất ngoan cố. Khó khăn chưa buộc Mỹ phải nhân nhượng mà tình hình chiến trường lại đang có lợi cho Mỹ để giải quyết trong lúc này, đồng thời giải quyết trong lúc này cũng có lợi cho Mỹ trong bầu cử Quốc hội.

Trước đây Kissinger nhấn mạnh hai bên cùng rút quân vì lúc đó chủ lực của ta còn nhiều ở miền Nam. Nay Mỹ biết rõ chủ lực ta đã rút đi nhiều và lực lượng du kích cũng yếu cho nên họ đặt vấn đề rút mà không nói rõ lực lượng ta phải rút - đồng thời lại nhấn mạnh giải quyết vấn đề chính trị. Đặt vấn đề như vậy rất có lợi cho họ vì so sánh lực lượng vẫn nghiêng và có lợi cho Mỹ sau khi rút quân Mỹ. Hơn nữa, sau khi ký kết hai bên sẽ không được tăng lực lượng, lực lượng ta ở Campuchia không trở lại miền Nam được và họ sẽ đặt vấn đề giải quyết cùng lực lượng nguỵ trong đàm phán riêng về Campuchia. Như vậy họ định lấy vấn đề ta rút quân để đổi lấy việc ta nhân nhượng họ về chính trị. Họ muốn có cả ưu thế quân sự và ưu thế chính trị.

Kissinger không nhắc đến vấn đề Lào và Campuchia, vì có thể muốn tìm cách giải quyết riêng ba vấn đề, sau đó có Hội nghị Quốc tế bảo đảm cho cả ba nơi.


Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 07:00:00 PM
Đợt tấn công ngoại giao tháng 9 của Chính phủ Cách mạng Lâm thời

Ngày 1 tháng 9 năm 1970, Quốc hội Mỹ lại thảo luận dự luật bổ sung của hai Thượng nghị sĩ Mc Govern và Hatfield đòi rút quân Mỹ khỏi miền Nam chậm nhất vào 31 tháng 12 năm 1971. Từ khi mới đưa ra, dự luật này đã được các nhà bình luận thời sự của các báo lớn ở Mỹ ủng hộ rộng rãi. Họ cho rằng với dư luận này sẽ chấm dứt lối bài bây của Chính quyền và nếu Chính quyền chống lại thì tự mình sẽ bỏ rơi mặt nạ hoà bình mà chỉ cốt tìm kiếm thắng lợi quân sự. Nếu dự luật đó được thông qua thì Chính quyền Nixon sẽ bị bó tay, Chiến lược Việt Nam hoá sẽ lâm nguy, Mỹ sẽ mất một sự ủng hộ của đồng minh đã gửi quân tham chiến ở Việt Nam, và thế thương lượng của Mỹ ở Paris sẽ bị suy yếu nghiêm trọng, và đối phương sẽ được cổ vũ thêm, càng quyết tâm hơn.

Dự luật đó đã bị bác bỏ với năm mươi lăm phiếu chống và ba mươi chín phiếu thuận, nhưng có tới ba mươi chín Thượng nghị sĩ ủng hộ là một con số không lấy gì làm vui cho Chính quyền Nixon. Chắc chắn con số đó sẽ tăng lên nếu chiến tranh kéo dài.

Đàm phán vẫn bế tắc, dư luận thế giới cũng đòi hỏi phải phá vỡ bế tắc ở Hội nghị Paris. Ở miền Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa đánh được những trận lớn, nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân các đô thị chống Mỹ - Thiệu, đòi Mỹ rút quân, lập lại hoà bình, phát triển. Trước tình hình đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời chủ trương mở đợt tấn công ngoại giao phục vụ cho chiến trường, tranh thủ dư luận và cô lập thêm Chính quyền Nixon.

Ngày 17 tháng 9, sau cuộc gặp Xuân Thuỷ - Kissinger, tại Hội trường Kléber, bà Bộ trưởng Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị tám điểm - nói rõ thêm về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Những điểm chủ yếu trong kế hoạch này là:

1 - Rút hết quân Hoa Kỳ và quân nước ngoài thuộc phe Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam trước ngày 30 tháng 6 năm 1971. Trong trường hợp đó, các lực lượng vũ trang giải phóng sẽ không đánh vào quân Mỹ đang rút và các bên sẽ thảo luận ngay.

Vấn đề bảo đảm an toàn cho quân Mỹ rút;

Vấn đề thả các quân nhân bị bắt.

2 - Thành lập ở Sài Gòn một Chính quyền không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, một Chính quyền tán thành hoà bình, độc lập, trung lập chăm lo cải thiện đời sống cho dân, thi hành các quyền tự do dân chủ, trả lại tự do cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị, giải tán các khu tập trung để nhân dân trở về quê cũ làm ăn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng nói chuyện ngay với một Chính quyền như vậy để tìm một giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.



Tiêu đề: Re: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris
Gửi bởi: SaoVang trong 27 Tháng Chín, 2009, 07:00:07 PM
Kế hoạch còn đưa ra công khai việc lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần đứng ra tổ chức bầu cử, thành lập Quốc hội, và bầu ra Chính phủ chính thức.

Còn các vấn đề khác như: giải quyết các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam, vấn đề thống nhất, bảo đảm ngừng bắn... Chính phủ Cách mạng Lâm thời nêu như trong mười điểm năm 1969.

Vấn đề rút quân và thả tù binh trong đó có phi công Mỹ bị bắt là hai vấn đề lớn được dư luận Mỹ quan tâm. Chính phủ Cách mạng Lâm thời còn tuyên bố sẵn sàng nói chuyện ngay với các lực lượng hoặc cá nhân thuộc mọi xu hướng chính trị, tôn giáo ở trong và ngoài nước để tiến tới một giải pháp nhanh chóng.

Đề nghị tám điểm nói rõ thêm được dư luận thế giới quan tâm. Nhiều báo Mỹ nhận thấy có điểm mới và lại yêu cầu Chính quyền Nixon nắm lấy cơ hội. Ở miền Nam Việt Nam nhiều báo trích đăng, có báo đăng toàn văn. Có Đại biểu trong Quốc hội Sài Gòn họp báo đưa ra tuyên bố trong đó có một số nội dung như tám điểm.

Các nước không liên kết cũng tỏ vẻ ủng hộ tám điểm - và ít lâu sau, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được mời đi dự Hội nghị cấp cao của phong trào không liên kết ở Lusaka.

Một sự kiện có nhiều ý nghĩa là Trung Quốc thay đổi thái độ. Trước đây Trung Quốc cho ta đã sai lầm khi nhận đàm phán với Mỹ thì ngày 23 tháng 9 năm đó, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang ở thăm Bắc Kinh rằng: “Đàm phán đã hai năm rồi, năm đầu chúng tôi lo các đồng chí mắc lừa địch. Nhưng bây giờ chúng tôi không lo nữa. Nói tóm lại một câu: ở tiền tuyến các đồng chí đánh tốt, trong đàm phán ngoại giao phương châm của các đồng chí là đúng".  

Ngày 27 tháng 9, diễn ra cuộc họp riêng mới giữa Xuân Thuỷ và Kissinger. Xuân Thuỷ trình bày rõ hơn tám điểm, nhấn mạnh lịch rút quân của Chính phủ Cách mạng Lâm thời dài hơn thời hạn đã đưa ra trước đây và nhấn mạnh Mỹ phải rút quân nhiều ngay từ đầu, rút quân chiến đấu trước, bao gồm bộ binh, pháo binh, không quân... Bộ trưởng lại phê phán việc Mỹ bám giữ Thiệu - Kỳ - Khiêm, nhắc lại ba bước lập Chính phủ liên hiệp ở miền Nam.

Kissinger đặt ra nhiều câu hỏi và nhận xét rằng đề nghị mới này có hậu quả thực tế là trở lại đề nghị rút quân sáu tháng trước đây mà Mỹ đã bác bỏ. Về vấn đề chính trị, ông nhận xét rằng khi Xuân Thuỷ nói gạt bỏ Thiệu - Kỳ - Khiêm thì không phải chỉ gạt bỏ ba người đó mà gạt cả lực lượng mà ba người đó đại diện. Ông cũng cho rằng phía Việt Nam giành quyền xác định ai là người tán thành hoà bình trung lập, tức là phía ta đã quyết định hai trong ba thành phần của Chính phủ liên hiệp và thực tế có thể nói là phía ta quyết định ba thành phần trong Chính phủ liên hiệp. Ông thuyết phục Xuân Thuỷ cứ tổ chức quá trình chính trị như ông đã nói để nhân dân Nam Việt Nam phát biểu sự lự