Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Mười, 2022, 10:59:21 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 7913 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #60 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:49:37 pm »


3. Bằng những đòn tiến công liên tiếp trên nhiều hướng chiến lược, ta đã buộc Bộ Thống soái Pháp phải phân tán khối cơ động chiến lược của Nava, tạo tiền đề thắng lợi cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng (12-1953-1-1954)

Ngay từ khi xác định phương hướng chiến lược Đông Xuân, ta đã từng dự kiến: nếu Tây Bắc bị uy hiếp, địch có thể sẽ tăng viện lên hướng này, mặc dù lúc đó (8-1953), ta chưa phán đoán được cụ thể địa điểm và thời gian. Một sô* đại đoàn chủ lực đứng chân trên địa bàn trung du chính là nhằm sẵn sàng hành động theo phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt". Điều đó giải thích vì sao việc địch nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ không hề làm cho kế hoạch tác chiến chiến lược của ta bị đảo lộn. ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trong khi Nava tiếp tục nuôi hy vọng đánh chiếm vùng tự do Liên khu V, thì quân ta vẫn chủ động triển khai kế hoạch tiến công chiến lược trên các hướng đã được xác định, kể cả kế hoạch đánh địch khi chúng mở cuộc hành binh Átlăng ở Liên khu V.

Như trên đã nói, yêu cầu đặt ra đối với ta trong việc lập kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 không chỉ nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai mà còn nhằm buộc địch phải phân tán lực lượng, làm thất bại âm mưu tập trung khối cơ động chiến lược của chúng, tạo điều kiện cho tác chiến quy mô lớn hơn, tiêu diệt địch ngày càng nhiều hơn.

Bằng đòn chiến lược đầu tiên, ta đã tiêu diệt trên 20 đại đội địch, giải phóng Lai Châu, buộc Nava phải tăng thêm lực lượng lên Điện Biên Phủ (đến cuối tháng 12-1953, lực lượng địch ở đây đã lên tới 10 tiểu đoàn).

Bằng đòn tiến công thứ hai, ta đã diệt bốn tiểu đoàn địch, phối hợp với bạn giải phóng nhiều vùng ở Trung Lào, phá tan "tuyến cấm" của địch ở vĩ tuyến 18, buộc địch phải điều năm tiểu đoàn lên, xây dựng tập đoàn cứ điểm Xênô.

Bằng đòn tiến công thứ ba ở Hạ Lào, ta cùng với bạn giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ vùng cao nguyên Bôlôven, buộc địch phải điều bốn tiểu đoàn lên xây dựng tập đoàn cứ điểm Pắcxế.

Bằng đòn tiến công thứ tư, ta đã giải phóng Kon Tum và vùng bắc Tây Nguyên, bước đầu làm thất bại cuộc hành quân Átlăng của địch, buộc Nava phải đình chỉ cuộc hành binh này và điều 14 tiểu đoàn đến Tây Nguyên xây dựng hai tập đoàn cứ điểm Plâycu và An Khê, khiến cho lực lượng của địch bị phân tán trên chiến trường Nam Trung Bộ lên tới 30 tiểu đoàn.

Phối hợp với các chiến dịch tiến công ở phía trước, lực lượng vũ trang vùng sau lưng địch, nhất là vùng châu thổ sông Hồng, đã nắm vững thời cơ, đẩy mạnh hoạt động. Hàng loạt vị trí bị tiêu diệt, các đường giao thông lớn bị uy hiếp, nhiều khu du kích và căn cứ du kích không ngừng được mở rộng. Địch buộc phải căng mỏng lực lượng ra để đối phó, khiến cho khả năng tăng viện cho chiến trường Điện Biên Phủ bị hết sức hạn chế.

Như vậy là trong đợt một của chiến cuộc Đông Xuân, ta đã phân tán 50% lực lượng cơ động của địch tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ (23/44 tiểu đoàn). Số quân cơ động còn lại bị căng mỏng và giằng xé trong vùng tạm chiếm ở châu thổ sông Hồng để đối phó với chiến tranh du kích đã phát triển rất sâu rộng. Kế hoạch tập trung lực lượng và kế hoạch "bình định" vùng đồng bằng của địch đều bị phá sản. Địch hầu như không còn lực lượng cơ động để tăng viện cho chiến trường Tây Bắc. Đó chính là thời cơ để quân ta bước vào cuộc đọ sức mới trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ.

Về phía địch, thả quân dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ, lúc đầu Nava hy vọng có thể yểm trợ cho Lai Châu, bảo vệ Thượng Lào đồng thời thu hút chủ lực của ta lên Tây Bắc, đỡ đòn cho đồng bằng. Nhưng ngay sau cuộc hành binh Chuột biển, Bộ Thống soái Pháp ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, một sự lựa chọn day dứt.

Hạ tuần tháng 11, những tin tức từ Pari cho thấy Hội đồng Quốc phòng không đáp ứng yêu cầu tăng viện mà còn nhắc nhở "hãy điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với khả năng phương tiện có trong tay", không một lời nói đến nhiệm vụ bảo vệ Thượng Lào. Cũng vào dịp này, tin tức cho thấy không phải chỉ một Đại đoàn 316 mà nhiều binh đoàn của đối phương sắp có mặt ở Tây Bắc trong thời gian tới. Rõ ràng là mấy tiểu đoàn đầu tiên ném xuống Điện Biên Phủ và lực lượng đồn trú ở Lai Châu đều đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Để đối phó với nguy cơ đó, Nava cho tổ chức "hành lang chiến lược" gồm sáu tiểu đoàn rải dọc sông Nậm Hu, nối liền Điện Biên Phủ - Mường Khoa - Luông Prabăng, nhằm sẵn sàng thực hiện kế hoạch Xênôphôn, bỏ Điện Biên Phủ chạy sang Thượng Lào khi tình thế bắt buộc.

Nhưng rồi Nava đã trải qua những ngày đắn đo "dùng dằng nửa ở nửa về". Kinh nghiệm Hoà Bình, Cánh Đồng Chum rồi Nà Sản cho thấy, liệu Việt Minh có đủ sức công phá tập đoàn cứ điểm?

Điện Biên Phủ đã thu hút chủ lực đối phương lên đây, sức ép ở đồng bằng đã giảm. Vậy thì tương kế tựu kế, hãy tổ chức Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, "một siêu Nà Sản", để nghiền nát chủ lực đối phương. Đó là quyết tâm chiến lược quan trọng của Bộ Thống soái Pháp, ngày 3-12. Ngay sau đó, hai tiểu đoàn Âu - Phi rút chạy trót lọt bằng máy bay từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Các loại trang bị được vội vã ném xuống cánh đồng Mường Thanh. Và điều đáng chú ý là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ càng phình ra bao nhiêu thì khối cơ động của địch ở đồng bằng Bắc Bộ càng teo đi bấy nhiêu. Từ chỗ Điện Biên Phủ không có trong dự kiến ban đầu, cái thung lũng này dần dần trở thành trung tâm của kế hoạch Nava.

Sự cân nhắc của Bộ Thống soái Pháp đã từng được Tổng Quân uỷ dự kiến giữa hai khả năng (địch rút hay chiếm đóng Điện Biên Phủ), dần dần Tổng Quân uỷ đã khẳng định khả năng thứ hai và từ tháng 12, đã hướng mọi công tác chuẩn bị chiến lược cho khả năng đó. Trung tuần tháng 12, khi cục diện chiến trường đang chuyển biến ngày càng có lợi cho ta (khối cơ động chiến lược của địch đang trong quá trình bị phân tán trên nhiều hướng), Bộ Chính trị đã thông qua quyết tâm của Tổng Quân uỷ: chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược.

Như vậy là, nắm vững phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt", ta đã "từ tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", đi đến chỗ tranh thủ thời cơ thuận lợi, chọn nơi mạnh nhất của địch là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tiêu diệt.

Đến cuối tháng 12, khi một số đại đoàn của ta đã hình thành thế bao vây, mọi khả năng rút chạy của địch từ Điện Biên Phủ qua Tây Trang - Mường Khoa sang Thượng Lào không còn nữa thì cuộc đọ sức giữa ta và địch trên lòng chảo Mường Thanh rõ ràng là không tránh khỏi. Điện Biên Phủ trở thành tiêu điểm của cuộc đấu trí giữa hai bộ thống soái của ta và của địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #61 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:50:52 pm »


4. Hai bên dốc sức tập trung mọi yếu tố cần thiết để đánh bại đối phương trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ (từ tháng 1 đến 12-3-1954)

Càng củng cố Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, Bộ Thống soái Pháp và các tướng lĩnh, chính khách Pháp - Mỹ càng tin rằng quân ta nhất định sẽ thất bại nếu "liều lĩnh" mở cuộc tiến công. Họ tin rằng ta không thể khắc phục nổi những khó khăn về mặt tiếp tế và trang bị. Họ tin vào sức mạnh và hiệu quả của hình thức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm nên quyết tâm xây dựng lòng chảo Mường Thanh thành một căn cứ không quân - lục quân để đọ sức với ta. Mọi yếu tố để giành thắng lợi đã được chuẩn bị ngày càng chu đáo: tăng cường binh lực và phương tiện "bằng mọi giá"; xin thêm không quân để yểm trợ chiến đấu và để tăng cường đánh phá, ngăn chặn tuyến hậu cần của ta, đưa thêm quân dù ra Bắc để sẵn sàng tăng viện cho Điện Biên Phủ.

Khách quan mà xét, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, mạnh hơn nhiều so với Nà Sản trước đây. Không những binh lực, hoả lực mạnh hơn gấp bội mà tổ chức phòng ngự cũng hiện đại hơn. Sai lầm của địch là đã nhấn mạnh một chiều những chỗ mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà không thấy hết chỗ yếu của nó. Từ đó, họ đi đến kết luận: Nếu quân đội ta không đánh được các tập đoàn cứ điểm Hoà Bình (1951) và Nà Sản (1952) thì đương nhiên là không đánh được Điện Biên Phủ. Cách đánh giá cứng đờ máy móc đó là một nguyên nhân dẫn đến thất bại của họ sau này.

Về phía ta, quá trình cân nhắc để hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là quá trình phân tích khách quan, khoa học tình hình ta và địch, yêu cầu khách quan của cuộc kháng chiến và khả năng chủ quan của quân và dân ta.

Quân đội ta cần phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới mở ra con đường phát triển của bộ đội, thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên, làm thất bại kế hoạch Nava và tạo được hậu thuẫn chắc chắn cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta ở Hội nghị Giơnevơ. Quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một quyết tâm chiến lược quan trọng, nhằm đáp ứng những yêu cầu chiến lược bức thiết trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.

Quân đội ta có thể tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vì quân địch tuy mạnh nhưng chúng bị cô lập trên chiến trường rừng núi, rất xa các căn cứ ở đồng bằng; lực lượng của chúng bố trí tương đối phân tán; vì bộ đội ta đã có những tiến bộ mới về chiến thuật, kỹ thuật, chiến đấu theo một phương châm tác chiến đúng đắn, với binh lực đã được tập trung ưu thế. Mặc dù ta còn những khó khăn về chiến thuật, về bảo đảm hậu cần, song những khó khăn đó đều có thể khắc phục được.

Mặc dù đợt một của chiến cuộc Đông Xuân đã lật ngược thế cờ, lực lượng cơ động của địch đã bị phân tán cao độ trái hẳn với dụ kiến của Nava, ta có những điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi trong cuộc đọ sức sắp tới, nhưng sau khi đã hạ quyết tâm, một vấn đề quan trọng đặt ra là làm thế nào để bảo đảm đánh chắc thắng, Tổng Quân uỷ đã đặc biệt coi trọng việc xác định phương châm chiến dịch, chọn cách đánh thích hợp để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ đầu tháng 12-1953, khi quân ta mới bao vây Điện Biên Phủ, lực lượng của địch chưa được tăng cường, bố trí của chúng còn tương đối sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố. Bởi vậy ta chủ trương "đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhằm tranh thủ thời gian, lợi dụng những điều kiện sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa để tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trong một trận khi quân ta còn đang sung sức. Điều lợi của cách đánh này là ở chỗ cuộc chiến đấu không kéo dài, hạn chế được sự tiêu hao, mệt mỏi và hạn chế được những trở ngại lớn về tiếp tế lương thực, đạn dược. Tuy nhiên, đánh nhanh, giải quyết nhanh cũng đặt quân đội ta trước một thực tế là: mặc dù đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng bộ đội chưa có kinh nghiệm thực tế, lần đầu tiên đánh tập đoàn cứ điểm lại gặp một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Sau hơn một tháng vừa tiếp tục theo dõi tình hình địch, vừa chuẩn bị theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", đến cuối tháng 1-1954, ta nhận thấy tình hình địch đã có nhiều thay đổi: Lực lượng của chúng đã được tăng cường, trận địa phòng ngự đã được xây dựng kiên cố, hệ thống phòng ngự đã được tổ chức khá vững chắc. Địch không còn ở vào tình trạng lâm thời chiếm lĩnh trận địa nữa. Nếu "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì không chắc chắn bảo đảm thắng lợi, khi trên một số mặt, công tác chuẩn bị của ta cũng chưa thật đầy đủ.

Trải qua suy nghĩ cân nhắc thận trọng mọi mặt, với quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã kiên quyết thay đổi phương châm thành "đánh chắc, tiến chắc" và chỉ đạo khẩn trương, chuẩn bị bổ sung đầy đủ về mọi mặt, nhất là nghiên cứu cách đánh cụ thể bảo đảm chắc thắng.

Theo phương châm này, ta sẽ tập trung binh lực, hoả lực đánh từng bước, giành thắng lợi trong từng trận, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm; ta sẽ hoàn toàn chủ động chọn thời gian và mục tiêu tiến công, vừa đánh vừa củng cố lực lượng; ta sẽ có thêm điều kiện khoét sâu khó khăn và nhược điểm của địch về mặt tiếp tế vận tải, dồn địch vào thế không thể kéo dài cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, theo phương châm này, ta phải có những biện pháp kiên quyết và tích cực, nhằm khắc phục rất nhiều khó khăn do chiến dịch kéo dài đặt ra: bộ đội tiêu hao mệt mỏi; vấn đề cung cấp vốn đã khó khăn nay càng trở nên khó khăn hơn; thời tiết không thuận lợi, mùa mưa sắp đến... Trong tất cả những khó khăn trên, nổi lên là khó khăn về vận tải tiếp tế, nhằm đáp ứng yêu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần so với dự kiến ban đầu1.

Với kinh nghiệm phát huy cả ba nguồn cung cấp (chi viện của hậu phương, động viên tại chỗ và lấy của địch đánh địch), ta đã từng bước vượt qua những khó khăn rất lớn về hậu cần, những khó khăn mà Bộ Thống soái Pháp tin rằng ta không thể nào khắc phục nổi.

Phía Pháp phán đoán ta sẽ bắt đầu tiến công vào đầu tháng 1-1954, nhưng đến cuối tháng không những thấy ta không tiến công mà họ còn phát hiện Đại đoàn 308 rút khỏi chiến trường Điện Biên Phủ sang hướng Thượng Lào. Bộ Thống soái địch đinh ninh rằng ta bỏ cuộc. Đúng ngày Tết Nguyên Đán, họ cho máy bay thả truyền đơn thách thức ta tiến công. Họ không ngờ rằng cuộc xuất quân bất ngờ, thần tốc, đánh địch trong hành tiến của Đại đoàn 308 đã đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu dài hàng trăm kilômét, nối liền Điện Biên Phủ với Mường Khoa xuống tận Luông Prabăng. Thắng lợi của ta không chỉ ở con số 17 đại đội địch bị tiêu diệt, mà sau khi "hành lang chiến lược" bị phá sập, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trở nên hoàn toàn bị cô lập. Hơn nữa, do nhận định rằng ta bỏ ý định tiến công Điện Biên Phủ (quay sang uy hiếp Thủ đô Lào), Bộ Thống soái địch vội vã điều một binh đoàn cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ sang Luông Prabăng và thiết lập thêm một tập đoàn cứ điểm ở đây. Một lần nữa, lực lượng dự bị chiến lược của Nava càng bị teo lại. Chỉ đến khi được tin Đại đoàn 308 đã quay trở lại Điện Biên Phủ (23-2-1954), Bộ Thống soái Pháp mới rút ra kết luận (quá muộn) là: 1. Đối phương vẫn giữ vững quyết tâm tiến công tập đoàn cứ điểm; 2. Điện Biên Phủ rõ ràng không thể là "cái chìa khoá" chặn đối phương tiến quân sang hướng Thượng Lào.

Ngày 12-3-1954, Nava cố vớt vát bằng đợt hai của Chiến dịch Átlăng (cuộc hành binh Axen, đổ bộ lên Quy Nhơn), Tổng Chỉ huy Pháp không ngờ rằng hôm sau quân ta nổ súng tiến công, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.
____________________________________________
1. Dự kiến tháng 12-1953 (tấn): gạo 4.200, thịt 100, đạn 300. Thực tế tiêu thụ (tấn): gạo 14.950, thịt 577, đạn 1.450.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #62 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:53:09 pm »


5. Những nước cờ cuối cùng trong 56 ngày đêm trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ (13-3-7-5-1954)

Như trên đã nói, thấy ta chưa nổ súng tiến công, phía Pháp cho rằng ta do dự trước tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Họ không hề biết rằng vào đầu trung tuần tháng 3, chung quanh lòng chảo Điện Biên, mọi công tác chuẩn bị của ta đã hoàn thành, bộ đội đã sẵn sàng nổ súng.

Nhiệm vụ đề ra trong đợt tiến công đầu tiên là tiêu diệt ba cứ điểm Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, "bóc vỏ" tập đoàn cứ điểm, mở cửa tiến xuống cánh đồng Mường Thanh. Để bảo đảm tập trung ưu thế binh hoả lực hơn hẳn địch, bảo đảm cho "trận đầu phải thắng thật giòn giã", Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định lần lượt tiêu diệt từng vị trí trong từng đêm.

17 giờ ngày 13-3, quân ta nổ súng tiến công, bắt đầu Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Sau này ta được biết, trong buổi giao ban cuối cùng (trước khi ta nổ súng), các cấp chỉ huy tập đoàn cứ điểm còn tỏ ra lạc quan: "chờ đợi những trận chiến đấu gay go, đồng thời cũng chờ đợi cả chiến thắng nữa"(Y.Gra). Nhưng rồi ngay từ đợt tiến công đầu tiên, quân ta đã đặt các tướng lĩnh Pháp trước những bất ngờ liên tiếp.

Từ chỗ đánh giá quá thấp khả năng pháo binh của ta họ sớm bị bất ngờ trước tính chính xác của binh chủng hoả lực trẻ tuổi Việt Nam. Ngay từ những trận đầu, pháo binh của ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một loạt sĩ quan chỉ huy các cứ điểm Him Lam, Độc Lập và phân khu trung tâm. Nhiều máy bay trên sân bay trung tâm và một kho xăng bị bốc cháy. Từ chỗ khoác lác "khoá mõm pháo binh Việt Minh ngay từ loạt đạn đầu" đến chỗ viên chỉ huy pháo binh địch bị bất ngờ vì "tỏ ra bất lực trong nhiệm vụ phản pháo". Còn không quân, một phần vấp phải hoả lực pháo cao xạ của ta, một phần bị lừa bởi các trận địa giả nên dù lồng lộn trên bầu trời, nhưng bom thả đều không trúng đích.

Từ chỗ đánh giá quá cao khả năng đề kháng của các cứ điểm được coi là "vững chắc nhất của tập đoàn cứ điểm" với những "đơn vị kiên cường thiện chiến và có tinh thần chiến đấu rất tốt" đến chỗ bất ngờ và không giải thích nổi vì sao "những đơn vị cự phách này lại có thể bị đè bẹp chỉ trong vòng vài giờ". Từ chỗ quá tin vào khả năng phản kích chiếm lại các cứ điểm đã mất, vậy mà sau khi được tăng viện hai tiểu đoàn "Đờ Cátxtơri vẫn phản ứng rất yếu ớt". Cả hai cứ điểm Him Lam và Độc Lập "không được cứu viện kịp thời... vì các trận phản kích không được dự kiến và chuẩn bị trước... Cuộc phản kích lên hướng cứ điểm Độc Lập của một tiểu đoàn và sáu xe tăng đã nhanh chóng bị đẩy lùi...".

Nava đặt hết lòng tin vào những sĩ quan được trao nhiệm vụ giữ tập đoàn cứ điểm, vậy mà chỉ sau hai tuần, viên đại tá cầm đầu tập đoàn cứ điểm đã "tỏ ra mệt mỏi và lo âu... để cho mình bị chìm đắm trong không khí bi quan và sự kinh hoàng". Còn Tham mưu trưởng Kenle thì "tinh thần nao núng đến mức bị đuổi về Hà Nội"... Tư lệnh pháo binh Pirôt đã "tự sát vì thất vọng, không thực hiện được lời cam kết của mình là làm câm họng pháo binh đối phương"...

Sau khi quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ, Nava vẫn đang lúng túng trước nguy cơ thất bại của cuộc hành binh Axen ở Quy Nhơn, còn Cônhi thì lo đối phó với hoạt động mạnh của ta ở đồng bằng sông Hồng. Vậy là Đờ Cátxtơri ở vào tình thế "phải tự mình xoay xở. Hắn ta không có những hoạt động đối phó với những thất bại đầu tiên... khiến người ta có cảm tưởng là hắn trút trách nhiệm chủ yếu của mình cho cấp dưới".

Nếu đối với ta, khi ba cứ điểm phía bắc bị tiêu diệt tức là quân ta mới mở toang cửa của tập đoàn cứ điểm để chuẩn bị tiến xuống cánh đồng thì phía Pháp đã vi cho rằng "trận giao chiến của quân viễn chinh có lẽ sẽ thất bại, trừ phi có một hành động giải toả từ bên ngoài tập đoàn cứ điểm". Bởi vậy, trong khi Tham mưu trưởng quân đội Pháp, tướng Êly bay sang Oasinhtơn để cùng những tên diều hâu Mỹ Đalét và Rátpho bàn kế hoạch can thiệp bằng không quân Mỹ vào Điện Biên Phủ (kế hoạch Diều hâu) thì ngày 19-3, Đờ Cátxtơri điện cho Cônhi: "Tôi cho rằng việc mất Điện Biên Phủ, mất phân khu nam Hồng Cúm là không thể tránh được trong một thời gian ngắn. Phải tính đến chuyện cử Lalăngdơ (chỉ huy phân khu nam Hồng Cúm) cố gắng đi tìm con đường sang Lào để rút lui"1.

Về phía ta, sau đợt tiến công thứ nhất, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận định: quân địch còn rất đông, pháo binh và không quân của chúng vẫn hoạt động mạnh. Trước mặt quân ta lúc này là gần 40 cứ điểm liên kết với nhau chặt chẽ trên cánh đồng bằng phẳng, dưới sự che chở của các vị trí trên các điểm cao chạy dài suốt phía đông. Trong hội nghị ngày 20-3, một vấn đề rất quan trọng được đặt ra để giải quyết là: Trong điều kiện nói trên, làm thế nào để tiếp cận địch và chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương nhanh chóng xây dựng trận địa bao vây và tiến công.

Thế là một quá trình chiến đấu mới bắt đầu. Các chiến hào từ trên các triền núi cao dần dần đổ xuống cánh đồng và không ngừng toả lan trên mặt ruộng. Trận địa càng tiến sát vị trí địch, chúng càng ra sức dùng pháo binh, máy bay phá hoại và dùng bộ binh xe tăng phản kích. Mặc dù phải liên tục chiến đấu gian khổ và căng thắng nhưng chỉ sau 10 ngày, vào hạ tuần tháng 3, chiến hào của quân ta đã dài khoảng 100 km, vây tròn lấy phân khu trung tâm (Mường Thanh) và khu nam (Hồng Cúm), cắt rời hoàn toàn hai khu này. Một số chiến hào đã bò đến giáp hàng rào của các điểm cao phía đông.

Sau này, chính người Pháp cũng phải thừa nhận rằng quân đội của họ "cố ngăn cản sự phát triển của mạng lưới hầm hào này đang bóp nghẹt Điện Biên Phủ, nhưng cả những loạt đạn pháo nổ trên không, cả những đợt súng cối bắn tập trung ban đêm... cũng không cản nổi các chiến hào của Việt Minh phát triển... Tập đoàn cứ điểm, sớm bị vây hãm từ xa bởi một "tập đoàn cứ điểm" khác đang ngày càng siết chặt chiếc thòng lọng của nó...” Việc đối phó với sự phát triển các chiến hào của ta đã thu hút lực lượng không quân Pháp đến mức chúng "phải huỷ bỏ các cuộc công kích vào đường giao thông... Không một quả bom nào được ném xuống đường trục tiếp tế trong suốt thời kỳ này (nửa cuối tháng 3), thời kỳ mà Việt Minh bổ sung các kho đạn dược của họ...".

Quân Pháp vừa cố ngăn chặn các chiến hào của ta phát triển vừa "lợi dụng tình trạng lắng dịu kéo dài" (giữa hai đợt tiến công của ta) để củng cố công sự, bổ sung trang bị, xây thêm những điểm tựa mới ở đông - bắc khu trung tâm, bổ sung cán bộ chỉ huy.

Nhưng khó khăn của Pháp về tiếp tế đã sớm bộc lộ. Sân bay trung tâm đã hoàn toàn nằm trong tầm hoả lực của ta, "cầu hàng không được xem như hoàn toàn bị gián đoạn... bắt đầu những cuộc thả dù bấp bênh và tốn kém, làm sai lạc mọi dự kiến về hậu cần... Vì hoả lực phòng không của Việt Minh trở nên dữ dội đến mức các máy bay phải thả dù từ độ cao lớn hoặc trong những điều kiện rất nguy hiểm...".

Về phía ta, sau đợt một và trong suốt nửa cuối tháng 3, Bộ Chỉ huy chiến dịch vừa củng cố bộ đội, vừa bổ sung trang bị, nghiên cứu kế hoạch tác chiến mới. Đó là kế hoạch mở đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm bằng cách tập trung lực lượng tiêu diệt toàn bộ quân địch trên các điểm cao phía đông. Những điểm cao này là khu vực phòng ngự then chốt của cả phân khu trung tâm, quyết định số phận toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Tiến công vào khu vực này là một trận công kiên to lớn chưa từng có của quân đội ta.
______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979, tr.378.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #63 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:54:24 pm »


Ngày 30-3, đợt tiến công thứ hai bắt đầu.

Nếu trong những giờ đầu, quân ta phát triển khá thuận lợi thì sau đó cuộc chiến đấu tiến triển chậm dần lại. Sau khi được tăng viện thêm một tiểu đoàn biệt kích dù, địch dồn toàn bộ lực lượng ứng chiến từ Mường Thanh lên phản kích, ra sức bảo vệ những điểm cao chúng còn chiếm giữ, đặc biệt là quyết tâm bảo vệ vị trí then chốt A1 bằng mọi giá.

Sau bốn ngày chiến đấu, quân ta đã chiếm được bốn trong năm điểm cao phía đông, thu hẹp thêm phạm vi chiếm đóng và không phận của địch ở phía tây và phía bắc vào tới giáp sân bay, nhưng quân ta chưa hoàn thành được đầy đủ nhiệm vụ đề ra cho đợt hai.

Đợt tiến công vừa qua không những đã làm bộc lộ một số nhược điểm của ta trước một cuộc chiến đấu quy mô lớn mà còn chứng tỏ thực lực ta chưa hơn hẳn địch. Chúng vẫn ưu thế tuyệt đối về không quân; hoả lực của chúng còn khá mạnh, pháo binh của chúng hoạt động ráo riết. Từ ngày 6-4, khi ta tạm ngừng đợt tiến công thứ hai, địch đã tổ chức lại việc phòng thủ.

Mặc dù Bộ Chỉ huy chiến dịch trước sau vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, nhưng một vấn đề cấp thiết lại được đặt ra: tiếp tục đánh địch bằng cách nào? Phải tìm ra cách đánh thích hợp với trình độ tác chiến và tình hình sức khoẻ (bắt đầu giảm sút) của bộ đội. Phải làm sao khoét sâu thêm nhược điểm của địch, hạn chế sức mạnh của chúng, giảm bớt thương vong của ta và đẩy dần quân địch đến chỗ nhất định bị tiêu diệt.

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng mọi mặt, Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương tiếp tục củng cố và phát triển trận địa tiến công và bao vây vào gần địch hơn nữa; tiếp tục đánh chiếm thêm một số vị trí của địch nhằm từng bước thắt chặt thêm vòng vây, tiến tới đánh chiếm sân bay nhằm triệt hẳn tiếp tế và tăng viện của địch, uy hiếp mạnh hơn nữa tung thâm của chúng và tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch.

Trong suốt 20 ngày cuối tháng 4, quân ta đã vận dụng nhiều hình thức hoạt động rất linh hoạt, sáng tạo và có hiệu quả để thực hiện chủ trương trên đây. Cụ thể là:

- Phát triển trận địa tiến công và bao vây vững chắc, ngày càng tiến sát gần địch, hạn chế uy lực máy bay và pháo binh của chúng.

- Phát triển mạnh chiến thuật đánh lấn, lần lượt tiêu diệt các vị trí chung quanh sân bay Mường Thanh, từng bước tiếp cận sân bay và cuối cùng, từ hai hướng đông và tây tiến vào cắt ngang và làm chủ sân bay.

- Tổ chức các đội thiện xạ, dùng hình thức bắn tỉa tiêu diệt bất cứ tên địch nào ló đầu ra khỏi cứ điểm, gây nên một nỗi khủng khiếp từng ngày, từng giờ đối với địch.

- Tìm mọi cách triệt nguồn tiếp tế và tăng viện của địch. Pháo cao xạ hoạt động tích cực và có hiệu quả, buộc máy bay địch phải thả dù tiếp tế ở độ cao lớn, khiến cho ngày càng nhiều dù rơi vào khu vực ta. Ta đã dùng hoả lực các cỡ ngăn chặn không cho địch ra nhặt dù, đồng thời phát động phong trào đoạt dù của địch, lấy lương thực, đạn được bổ sung một phần cho ta. Như sau này địch thú nhận, máy bay của chúng đã "tiếp tế" cho ta chừng 5.000 viên đạn lựu pháo 105 ly. Về tăng viện, do số quân bị loại khỏi vòng chiến mỗi ngày lên tới 100 - 120 người, yêu cầu tăng viện thay thế ngày càng lớn. Khu vực nhảy dù đã bị thu lại quá hẹp nên quân dù phải nhảy trực tiếp xuống những khoảng đất đã bị đạn pháo cày xới ngay trong phân khu trung tâm, đầy dây thép gai. Nhiều tên bị bạt ra khu vực của ta.

"Phương pháp vây hãm bằng hệ thống chiến hào cuối cùng hoàn toàn quấn chặt lấy từng điểm tựa, giống như con nhện bắt một côn trùng trong mạng nhện. Vị trí trở nên bị phong toả cô lập và nhanh chóng bị bóp nghẹt vì thiếu đạn dược, thực phẩm và nhất là thiếu nước", một tình trạng căng thẳng, khủng khiếp mà sau này (khi đã bị bắt làm tù binh), tướng Đờ Cátxtơri đã phải thú nhận là quân Pháp không còn có thể chịu đựng nổi.

Tuy nhiên, về phía ta, sau đợt hai, chúng ta cũng phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng do chiến dịch kéo dài đặt ra. Ngoài vấn đề cốt yếu là tiếp tục nghiên cứu cách đánh sao cho phù hợp với thế trận và so sánh lực lượng, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tập trung chỉ đạo khắc phục những trở ngại đối với việc giữ vững và phát huy sức mạnh và hiệu quả chiến đấu của bộ đội.

Khó khăn hàng đầu mà Bộ Chỉ huy chiến dịch đặc biệt quan tâm giải quyết là vấn đề tiếp tế. Do những trận mưa đầu mùa và do địch ra sức đánh phá đường tiếp tế cho nên có lúc công tác hậu cần trở nên nóng bỏng (có ngày, có khẩu pháo chỉ còn ba viên đạn; có đêm, gạo nhập kho mặt trận không được đầy một tấn). Trung ương Đảng lãnh đạo và động viên toàn dân dốc sức chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Riêng tại mặt trận, cán bộ ngành hậu cần đã phát huy tinh thần khắc phục những khó khăn vượt xa sức của mình. Cuối cùng, vấn đề tiếp tế đã được giải quyết một cách cơ bản trước khi quân ta bước vào đợt tiến công thứ ba.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #64 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:56:29 pm »


Về mặt chính trị tư tưởng, sau 5 tháng chuẩn bị và thực hành chiến đấu liên tục và căng thẳng, đúng vào lúc quân ta đang đứng trước một thử thách to lớn để giành thắng lợi hoàn toàn trong nhiệm vụ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì có "một số hiện tượng không bình thường bắt đầu xuất hiện trong việc chấp hành nhiệm vụ chiến đấu của cán bộ"1. Đảng uỷ mặt trận đã kịp thời phát động một đợt học tập nhằm quán triệt quyết tâm của Trung ương, khắc phục mọi tư tưởng mệt mỏi, mọi biểu hiện hữu khuynh tiêu cực, nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng của cán bộ và bộ đội, hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao.

Trải qua chừng ba tuần tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của đợt hai và chuẩn bị điều kiện bước vào đợt ba, quân ta đã tạo mọi yếu tố thuận lợi cần thiết cho đợt chiến đấu mới.

Như người Pháp sau này thú nhận, đợt tiến công thứ ba của ta bắt đầu vào thời điểm mà quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm chỉ còn chừng 3.000 quân đủ sức chiến đấu ở phân khu trung tâm và 1.200 tên ở phân khu nam (trong tổng số gần 10.000 quân còn lại đó), cùng với 3 xe tăng, 19 khẩu pháo 105 ly, 1 khẩu 55 ly, 15 khẩu cối 120 ly, với số đạn đủ cho hai, ba ngày chiến đấu liên tục. Đó là tất cả những gì còn lại sau 48 ngày chiến đấu của 16.200 quân, kể từ khi cuộc tiến công của ta bắt đầu.

Sau khi đợt tiến công thứ hai của ta chấm dứt, Nava chỉ thị cho Bộ Tham mưu Pháp chuẩn bị kế hoạch Chim ưng chừng 8.0 quân, do tướng Cônhi trực tiếp chỉ huy, vượt biên giới Việt Lào sang giải vây cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Tướng Đờ Cátxtơri được thông báo kế hoạch này vào ngày 14-4 khi mà vòng vây của ta đã siết chặt, quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm đã ở vào thế "trong không ra được, ngoài không vào được". Kế hoạch đánh tháo không thành, nhưng nhiều sĩ quan Pháp ở Điện Biên Phủ vẫn còn nuôi hy vọng. Người này chờ đợi mùa mưa sẽ chặn đứng cuộc tiến công của ta. Người khác hướng sang Thụy Sĩ, nơi Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương sắp họp. Riêng đại tá Lănggle, người nắm thực quyền chỉ huy lúc này, cho rằng "chỉ cần giữ vững một tháng nữa, thậm chí chỉ 20 ngày nữa là thắng". Sự cố gắng kéo dài trận chiến đấu đã trở thành cứu cánh cuối cùng của quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Về phía ta, quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch là tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trước mùa mưa, làm cho đế quốc Mỹ không kịp can thiệp, quân Pháp không còn khả năng rút chạy và để kịp phối hợp với cuộc đấu tranh ngoại giao ở Giơnevơ. Cuối tháng 4, mọi công tác chuẩn bị cho đợt tiến công mới đã hoàn tất. Đêm 1-5, đợt ba của chiến dịch bắt đầu.

Ngay trong đêm đó, bốn vị trí địch ở phân khu trung tâm bị diệt. Cứ như thế, từ ngày 2 đến ngày 6, vùng đất và vùng trời của địch không ngừng bị thu hẹp, quân số và tinh thần chiến đấu của chúng bị giảm sút nhanh chóng. Ngày 4-5, thêm một kế hoạch tháo chạy được phổ biến cho tướng Đờ Cátxtơri, kế hoạch Chim biển. Theo kế hoạch này, một tiểu đoàn dự bị chiến lược sẽ được ném xuống Điện Biên Phủ để cùng lực lượng tại chỗ giải vây rút chạy sang hướng Thượng Lào. Chừng sáu tiểu đoàn khác tạo thành một hành lang ở biên giới Việt - Lào để đón quân từ Điện Biên Phủ chạy sang. Nhưng ngày 6-5, tình thế của quân Pháp ở Điện Biên Phủ "đã ở vào đỉnh cao của sự tồi tệ". Chúng bị dồn trong 20 cứ điểm còn lại, dưới sự che chở không còn hiệu lực của vài điểm cao phía đông. Trong khi đó, về phía ta, việc chuẩn bị đường hầm để vào đặt khối thuốc nổ lớn nhằm phá hầm ngầm trong cứ điểm A1 đã hoàn thành. Đêm 6-5, khối bộc phá 1.000 kg đã phá sập điểm cao cuối cùng, "chiếc chìa khoá của tập đoàn cứ điểm" đã lọt vào tay quân ta.

Ngày 7-5, từ buổi sáng, nhiều triệu chứng cho thấy quân địch đã rối loạn. Ở một số nơi, đã có những lá cờ trắng xuất hiện. Rõ ràng tinh thần quân địch đã hoàn toàn tan rã. Quân ta được lệnh không chờ đến tối, chuẩn bị nắm ngay thời cơ thuận lợi, lập tức mở cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm. 17 giờ 30 quân ta đánh chiếm Sở Chỉ huy của địch. Đờ Cátxtơri và toàn bộ Bộ Tham mưu của hắn bị bắt sống. Ngay đêm đó, toàn bộ quân địch ở phân khu nam bị bắt trong lúc chúng đang tìm đường rút chạy sang Thượng Lào.

Quân ta đã giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ một ngày trước khi Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr.76.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #65 vào lúc: 02 Tháng Giêng, 2022, 09:57:30 pm »


*

*        *

Cuộc đấu trí cuối cùng giữa hai bộ thống soái đã dẫn đến kết quả có ý nghĩa quyết định: thắng lợi hoàn toàn thuộc về ta, thất bại hoàn toàn thuộc về địch.

1. Thắng lợi của ta và thất bại của địch trước hết là do phương pháp khác nhau về đánh giá tình hình

Bộ Thống soái địch luôn luôn chủ quan, đánh giá quá cao khả năng "chuyển bại thành thắng" của khối chủ lực mới được xây dựng, tính chất "bất khả xâm phạm" của tập đoàn cứ điểm, sức mạnh của vũ khí, trang bị, công sự kiên cố, khả năng tiếp tế và tăng viện. Họ đánh giá thấp khả năng hoạt động trên nhiều hướng chiến lược cũng như khả năng đánh công sự vững chắc của chủ lực ta, đánh giá sai khả năng khắc phục những khó khăn về vận tải tiếp tế của ta. Trong khi đó, chúng ta đánh giá khách quan đúng đắn chỗ mạnh, chỗ yếu cả về vật chất và tinh thần của địch, về khả năng của quân và dân ta, để tìm ra biện pháp hạn chế từng bước, tiến tới vô hiệu hoá mặt mạnh, khoét sâu mặt yếu của chúng, phát huy sức mạnh tổng hợp của ta cả ở tiền tuyến và hậu phương, cả trên chiến trường chính và chiến trường phối hợp... nhằm làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta để giành thắng lợi cả về chiến lược và chiến dịch.

2. Thắng lợi của ta và thất bại của địch còn là kết quả phán đoán đúng sai chủ trương chiến lược của đối phương

Trong thời gian dài, Bộ Thống soái địch đinh ninh rằng ta mở tiến công chiến lược vào đồng bằng trong khi ta đã sớm xác định chọn hướng chiến lược trên chiến trường rừng núi. Và mở hàng loạt chiến dịch tiến công trên hướng đó, làm cho khối dự bị chiến lược của địch bị chia năm sẻ bảy. Địch cho rằng ta do dự trước sức mạnh của tập đoàn cứ điểm nhưng thực ra, từ giữa tháng 12-1953 ta vẫn kiên trì quyết tâm chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược. Địch muốn "ra tay" trước để thăm dò động tĩnh của ta và buộc ta phải thay đổi kế hoạch chiến lược, nhưng ta vẫn để các binh đoàn chủ lực "ẩn lặng như tờ" không tung lực lượng ra đối phó bị động. Địch định giành bất ngờ chiến lược bằng cuộc hành quân Átlăng mà không hề biết rằng ta đã dự kiến đúng ý đồ chiến lược của chúng và đã có kế hoạch chỉ đạo chủ lực Khu V chủ động mở chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, phá kế hoạch tiến công của địch vào vùng tự do. Tiếp đó, cuộc tiến công của Đại đoàn 308 sang hướng Thượng Lào; sự xuất hiện trọng pháo ở mặt trận Điện Biên Phủ, việc đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch làm tê liệt các đơn vị "cơ động" còn lại của chúng ở đồng bằng sông Hồng... là những sự kiện hoàn toàn bất ngờ, ngoài tầm phán đoán của địch.

3. Thắng lợi của ta và thất bại của địch còn do khả năng vận dụng cụ thể nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến lược, chiến dịch của mỗi bên

Với kế hoạch Nava, trước mắt Bộ Thống soái địch nuôi hy vọng xây dựng được khối cơ động chiến lược mạnh, tránh giao chiến với ta trên chiến trường miền Bắc, thực hành tiến công chiến lược ở miền Nam. Nhưng trong thực tế, Nava không thoát khỏi những mâu thuẫn vốn có từ đầu cuộc chiến tranh. Đó là mâu thuẫn giữa quân số ngụy càng tăng thì chất lượng chiến đấu của địch càng giảm, mâu thuẫn giữa rải quân ra chiếm đóng đất đai và tập trung lực lượng, giữa tiến công và phòng ngự chiến lược, giữa củng cố chiến trường đồng bằng với chiếm đóng chiến trường rừng núi, giữa tham vọng lớn của Bộ Thống soái với tinh thần ngày càng bạc nhược của binh lính... Mặc dù rêu rao "tinh thần chủ động tiến công" nhưng khả năng thực tế không cho phép Nava "đảo lộn thế cờ" theo ý muốn.

Trong khi đó, mọi công tác chuẩn bị chiến lược của ta được triển khai rất sớm đều hướng vào mục tiêu "đập tan kế hoạch Nava". Bằng các đòn tiến công liên tục và xen kẽ trên nhiều hướng chiến lược trong đợt một của chiến cuộc Đông Xuân, bằng quyết tâm chọn điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, bằng phương châm chiến dịch đúng đắn và chỉ huy tác chiến chính xác (chọn thời cơ mở màn chiến dịch, cách đánh "bóc vỏ" trong đợt một, cách đánh linh hoạt sáng tạo sau đợt hai, biết chớp thời cơ chuyển sang tổng công kích trước thời gian dự kiến, cũng như sự chỉ đạo các chiến trường phối hợp "chia lửa" với mặt trận chính...), tất cả đều nói lên sự chỉ đạo, chỉ huy sắc sảo của Tổng Quân uỷ trong suốt chiến cuộc Đông Xuân cũng như riêng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #66 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2022, 10:37:01 pm »


TƯ DUY QUÂN SỰ NHỎ ĐÁNH LỚN
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1



Đại tá, TS. LÊ BẰNG
Truởng ban Tổng kết chiến lược Bộ Quốc phòng

Các nhà chiến lược Pháp và Mỹ đã đúng khi coi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một pháo đài bất khả xâm phạm. Từ Thủ tướng nước Cộng hoà Pháp Lanien, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp Eli cho đến Đại tướng Nava, Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đều thống nhất rằng "phòng giữ Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào".

Ngay tướng Ô. Đanien, người đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ một nước đến lúc này đã chi trả 80% chiến phí của nước Pháp ở Đông Dương, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, sau khi thị sát trận địa, cũng có chung một quan điểm như trên. Điều đó dễ hiểu. Vì Điện Biên Phủ hiện diện với những phát triển mới của phòng ngự hiện đại được đúc kết từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) – hệ thống phòng ngự bằng nhiều trung tâm đề kháng, bằng sự liên kết chặt chẽ giữa nhiều cụm cứ điểm, cùng hệ thống hoả lực và hệ thống lực lượng cơ động kết hợp chặt chẽ với các chiến trường có liên quan.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là tập đoàn phòng ngự mạnh nhất lúc bấy giờ ở Đông Dương. Tổ chức phòng ngự Điện Biên Phủ với diện tích rất lớn tới khoảng 126 km2 (18 km x 7 km). 49 cứ điểm được tổ chức thành nhiều cụm cứ điểm - "trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp", vừa có khả năng phòng ngự độc lập khá mạnh, vừa tạo thế phòng ngự liên hoàn khó chia cắt. Toàn thể trận địa phòng ngự, các "trung tâm đề kháng" lại được liên kết chặt chẽ bởi tổ chức phân khu; có ba phân khu: phân khu bắc gồm các cứ điểm ngoại vi, tiêu biểu là đồi Độc Lập, đồi Bản Kéo; phân khu trung tâm - Mường Thanh, châu lỵ Điện Biên Phủ; phân khu nam - phân khu Hồng Cúm. Hệ thống hoả lực mặt đất và trên không của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ khá mạnh. Hai tiểu đoàn pháo 105 ly, một đại đội pháo 155 ly, hai đại đội súng cối 120 ly, tổng cộng khoảng 40 nòng pháo và súng cối từ 100 ly trở lên, với hai căn cứ hoả lực cơ bản là Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay, sáu đến tám máy bay cường kích, sáu máy bay trinh sát - liên lạc, một máy bay lên thẳng khống chế hoàn toàn không phận Điện Biên Phủ và các vùng trời lân cận. Điện Biên Phủ có thể tiếp nhận từ 300 - 480 tấn hàng/ngày từ các sân bay trong vùng kiểm soát và được sự yểm trợ trên không của máy bay chiến đấu, ném bom cất cánh tại các sân bay của quân Pháp ở Bắc Bộ và Thượng Lào. Hơn một phần ba lực lượng cơ động của quân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ được bố trí tại Điện Biên Phủ (17/44 tiểu đoàn) gồm những đơn vị tinh nhuệ bậc nhất của tướng Nava...

Theo quan điểm của các nhà quân sự phương Tây và Bắc Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam không có khả năng tiến công tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm như Điện Biên Phủ. Trước hết vì Quân dội nhân dân Việt Nam không có những phương tiện tiến công tương ứng, như không có không quân để yểm trợ trên không, để oanh tạc sân bay, để vận chuyển lương thực, đạn dược từ hậu phương xa đến chiến trường. Không có cả xe tăng, xe bọc thép làm lực lượng đột kích chủ yếu khi công phá các cứ điểm, các cụm cứ điểm để dẫn bộ binh đánh chiếm lần lượt các cứ điểm, và đánh lực lượng đối phương phản kích; không đủ hoả lực pháo để khống chế toàn bộ hệ thống phòng ngự của đối phương, nhất là chế áp pháo binh của quân Pháp để chi viện cho bộ binh xung phong nhiều đợt với mật độ cao... Không có lực lượng phòng không đủ sức mạnh để bảo vệ đội hình chiến dịch, đánh trả có hiệu lực những cuộc tập kích hoả lực bằng không quân của đối phương...

Các nhà chiến lược ở Pari, Luân Đôn và Oasinhtơn lại càng đúng khi nói rằng, không thể tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, nếu Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương tiến công tập đoàn này theo nghệ thuật tiến công thông thường, nghệ thuật tiến công mà các học viện quân sự nổi tiếng ở châu Âu và Bắc Mỹ đã nghiên cứu, giảng dạy từ lâu. Chính vì thế mà Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chọn cách đánh khác cách đánh của mọi quân đội thông thường. Đó là cách đánh mà các học viện quân sự của Pháp, Mỹ cũng như Anh chưa từng nghiên cứu và giảng dạy – cách đánh của chiến tranh nhân dân, nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã từng có phương án tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Theo phương án này, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tập trung ưu thế binh lực và hoả lực, đồng thời tiến công vào tập đoàn phòng ngự của quân Pháp bằng nhiều hướng, hướng đông và hướng bắc là hướng chính, tiến công một mạch vào sâu trong tổ chức phòng ngự, chia cắt tập đoàn phòng ngự của địch, cô lập từng bộ phận của chúng, tập trung lực lượng và phương tiện đánh vào chỗ địch sơ hở và hiểm yếu nhất của tổ chức phòng ngự, nhằm tiêu diệt bộ phận lực lượng quan trọng của quân Pháp, tạo nên sự chuyển biến để hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch là tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Với phương án này, thời gian chiến dịch sẽ rút ngắn đi rất nhiều. Cuộc chiến đấu quyết liệt chỉ diễn ra khoảng ba đêm hai ngày. Do đó, bộ đội ta đang sung sức, có đủ sức khoẻ để chiến đấu tốt; lượng tiêu thụ đạn dược, lương thực không quá lớn, nên có thể bảo đảm tiếp tế được,...

Song về cơ bản, phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" không phù hợp với thực tế là kẻ địch đã được tăng cường và điều kiện của quân đội ta lúc đó. Vì thế, ngày 25-12-1953, Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch, trực tiếp là đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch, quyết định bỏ phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" và đề ra phương án "đánh chắc, tiến chắc".

Đương nhiên, thực hiện phương án "đánh chắc, tiến chắc" đâu có phải là giản đơn, càng không phải là "dễ dàng, thoải mái" hơn phương án "đánh nhanh, thắng nhanh". Trái lại, phương án "đánh chắc, tiến chắc" phản ánh một quá trình tư duy quân sự và xử lý thực tiễn vừa thống nhất vừa đầy mâu thuẫn, phức tạp và có liên quan đến toàn cục. Đó cũng là một quá trình tổ chức đầy sức sống, chặt chẽ và rộng lớn. Vì thế, nó là đỉnh cao của tư duy quân sự sáng tạo trong "15 phút đọ sức cuối cùng" của cuộc chiến tranh trường kỳ với bộ máy quân sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân.

Để đánh chắc, tiến chắc, phải làm cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ không nhận được sự tăng cường, nhất là tăng cường đột biến về binh lực của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nghĩa là phải phá vỡ và phân tán triệt để khối lực lượng cơ động của tướng Nava. Đây là quá trình chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kiên quyết và tài giỏi của Bộ Chính trị Đảng ta và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trên các chiến trường đã buộc địch phái phân tán lực lượng cơ động ra năm nơi: đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Xênô (Trung Lào), Plâycu - nam Tây Nguyên và Luông Prabăng (Thượng Lào). Rõ ràng, Bộ Chỉ huy của tướng Nava đã buộc phải hành động theo ý định của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam - phân tán khối lực lượng cơ động của mình, và bị tước đi khả năng tăng cường đột biến binh lực cho Điện Biên Phủ. Mà khối lực lượng cơ động chiến lược này là ước mơ của tướng Nava, là chủ bài của ông ta để lật lại thế cờ có lợi cho quân Pháp. Bị mất đi lực lượng cơ động chiến lược, Đại tướng Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp không thể thực hiện được ý định của mình là "luôn luôn chủ động", "luôn luôn tiến công" như lời tuyên bố của ông ta lúc mới nhậm chức. Có nghĩa là ông ta mất khả năng cứu giữ Điện Biên Phủ bằng cách tăng cường binh lực đột biến cho nó, hoặc mở chiến dịch tiến công lớn ở một hướng chiến lược nào đó, buộc Quân đội nhân dân Việt Nam phải rút lực lượng và phương tiện ở Điện Biên Phủ để đối phó. Đó cũng là sự phối hợp các chiến trường một cách kỳ tài. Phối hợp chiến trường Việt Nam với chiến trường Lào; phối hợp chiến trường miền Nam, miền Trung với chiến trường miền Bắc; phối hợp chiến trường vùng địch tạm kiểm soát với chiến trường tiến công trực diện; phối hợp chiến trường chính và chiến trường hỗ trợ, phối hợp chiến trường chiến tranh du kích với chiến trường chiến tranh chính quy. Điều đó đã khiến cho gần nửa triệu quân Pháp và nguỵ, cùng 500 máy bay các loại, gần 1.000 xe tăng và xe bọc thép, hàng trăm tàu chiến bị phân tán, dàn mỏng ra khắp Đông Dương, chịu để cho Quân đội nhân dân Việt Nam tập trung những lực lượng mạnh nhất của mình tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Điện Biên Phủ.
______________________________________________
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #67 vào lúc: 04 Tháng Giêng, 2022, 11:43:38 pm »


Đánh chắc, tiến chắc ở Điện Biên Phủ được thực hiện theo lối đánh gần độc đáo. Không nên hiểu đánh gần chỉ là đánh giáp lá cà, bò sát, chui vào hàng rào, đến đánh bộc phá vào các công sự và sử dụng hoả lực bắn thẳng, lựu đạn để tiêu diệt địch trong các trận chiến đấu. Đây là lối "đánh gần chiến dịch". Cách tiến công một tập đoàn cứ điểm khi ta không có những phương tiện tiến công địch từ xa, phương tiện đột kích mạnh như xe tăng, pháo tự hành, phương tiện cơ động hiện đại như máy bay, xe bọc thép, hoặc thiếu phương tiện hoả lực để khống chế và bảo vệ đội hình chiến dịch, chiến đấu từ trên không.

Nét đặc sắc của lối đánh gần độc đáo của Điện Biên Phủ là vây, lấn, chia cắt quân đối phương. Tập đoàn phòng ngự của quân Pháp ở Điện Biên Phủ là một hệ thống phòng ngự trận địa rộng lớn, có nhiều cứ điểm, chia thành nhiều cụm cứ điểm, nhiều phân khu. Đây là hệ thống phòng ngự vừa có sức đề kháng độc lập cao. vừa có thế liên hoàn chặt chẽ. Một cứ điểm nào bị đánh chiếm, các cứ điểm khác trong cụm có thể tổ chức đánh chiếm lại, một phân khu nào bị tiến công, các phân khu khác có thể chi viện cả bằng binh lực và hoả lực. Đặc biệt, đối phương có ưu thế tuyệt đối về không quân và xe tăng, xe bọc thép. Quân tiến công rất dễ dàng bị đánh bật khỏi vị trí mới chiếm được bởi lực lượng ưu thế trên đây của quân phòng ngự.

Song, cách đánh vây lấn, chia cắt và áp sát đội hình chiến dịch, chiến đấu của đối phương, đã tước bỏ khả năng trên của quân Pháp. Quân ta đã thực hiện bao vây Điện Biên Phủ bằng cả bao vây lớn - bao vây chiến dịch và bao vây nhỏ - vây, lấn chiếm, chia cắt từng cứ điểm và cụm cứ điểm. Khi ta tiến công các cứ điểm ngoại vi như Him Lam và Độc Lập, lực lượng ta đã vây chặt đường số 41 từ trung tâm Mường Thanh lên, và chặn đứng các lực lượng của địch ở phía bắc sân bay. Đồng thời dùng hoả lực pháo ngăn chặn các cuộc phản kích của địch từ trung tâm ra; bao vây uy hiếp luôn cứ điểm Bản Kéo, khiến chúng phải kéo một bộ phận ra hàng.

Sau khi diệt phân khu bắc và cứ điểm ngoại vi Him Lam, quân ta phát triển thế trận tiến công và bao vây vào sát phân khu trung tâm Mường Thanh. Điều nổi bật là, ta xây dựng cả trận địa tiến công và trận địa bao vây để thực hiện đòn tiến công thứ hai. Cả một hệ thống trận địa tiến công, đường hào, hầm ếch, công sự hoả lực, đến cơ động lực lượng, nơi ăn, ngủ, vệ sinh được xây dựng, phát triển và lấn dần vào phía cứ điểm của địch. Quân ta bao vây, tiếp cận các mục tiêu tiến công từng bước bằng đường hào, bằng công sự chiến đấu như những thòng lọng thít dần vào cổ họng đối phương. Điều đó vừa tạo nên thế uy hiếp, kiểm soát đối phương ngày càng lớn, vừa giảm hiệu lực của không quân và pháo binh địch vì khoảng cách giữa ta và địch ngày càng ngắn. Bằng hệ thống công sự chiến đấu, ẩn nấp, sinh hoạt, đường hào đi lại, quân ta ung dung chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm ngay trên một địa hình bằng phẳng.

Cũng bằng hệ thống trận địa tiến công và trận địa bao vây, quân ta đã chia cắt, cô lập cứ điểm này với cứ điểm khác, giữa cụm này với cụm khác. Điều "khác biệt" là, quân ta bao vây, chia cắt sân bay Mường Thanh - sân bay chính của tập đoàn cứ điểm không phải bằng không quân và hệ thống hoả lực phòng không dày đặc, mà bằng hệ thống trận địa bao vây. Chính bằng đường hào chiến đấu, quân ta đã cắt sân bay này thành hai mảnh bắc và nam không sử dụng được nữa. Cũng bằng hệ thống trận địa tiến công và trận địa bao vây, quân ta bao vây chặt phân khu nam - Hồng Cúm ra khỏi phân khu trung tâm, cô lập Điện Biên Phủ với Thượng Lào, với toàn Đông Dương...

Cách đánh vây, lấn, áp sát và chia cắt địch đã tạo ra thế uy hiếp lớn gấp đôi so với lực ta có, đã hạn chế đến mức tối đa chỗ mạnh của quân phòng ngự về không gian, cơ giới và pháo binh. Còn ta đã không tốn nhiều đạn (theo tiêu chuẩn tiến công trận địa) mà vẫn tiêu diệt cả một tập đoàn cứ điểm, bắt sống trên 10.000 quân địch.

Nét độc đáo của cách đánh gần ở Điện Biên Phủ còn là tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch, đập vỡ từng mảng phòng ngự của đối phương. Lần đầu tiên quân ta tiến công một tập đoàn cứ điểm của quân Pháp. Ta chưa có kinh nghiệm, đồng thời không có cả những phương tiện tiến công hiện đại như không quân, xe tăng, xe bọc thép. Ưu thế về bộ binh trong chiến dịch của quân ta so với đối phương chỉ là tương đối, và còn xa mới bằng ưu thế của các chiến dịch tiến công hiện đại. Cho nên ta đã lựa chọn cách đánh tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch, đập vỡ từng mảng phòng ngự của đối phương, tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Cách đánh đó cho phép ta vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, có lượng thời gian cần thiết để chuẩn bị tăng cường lực lượng, giành thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước, nhất là phù hợp với khả năng của quân ta, với so sánh lực lượng giữa ta và địch trong cuộc đọ sức cuối cùng. Trong chiến dịch này, ta thực hiện từng đợt tiến công, mỗi đợt tiến công nhằm giải quyết một phần quan trọng của mục đích chiến dịch.

Đợt tiến công thứ nhất diễn ra từ ngày 13-3-1954 đến 17-3-1954 tiêu diệt trung tâm để kháng Him Lam và phân khu bắc. Ngày 13-3-1954, quân ta tiến công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, cụm cứ điểm nằm cách Mường Thanh 2,5 km, ngăn chặn các cuộc tiến công của ta vào vùng vành đai của phân khu trung tâm. Ngày 15-3-1954, quân ta tiếp tục tiến công cứ điểm Độc Lập, uy hiếp cứ điểm Bản Kéo. Bị tiêu diệt một bộ phận lực lượng và tổ chức phòng ngự ở phía đông - bắc và tây - bắc bị phá vỡ, quân Pháp ở Điện Biên Phủ được tăng cường thêm hai tiểu đoàn dù.

Đợt tiến công thứ hai bắt đầu từ ngày 30-3-1954 đến khoảng trung tuần tháng 4-1954 nhằm đánh chiếm các ngọn đồi phía đông áp sát khu trung tâm, cắt hết đường tiếp tế, tiếp viện, vây chặt quân phòng ngự trong một vòng vây hẹp. 17 giờ ngày 30-3-1954, pháo binh mở đầu cuộc tiến công. Các cao điểm E, D1, D2 lần lượt rơi vào tay quân ta. Riêng điểm cao A1 và C1 quân ta và quân địch quần nhau quyết liệt, giành giật qua lại nhiều lần, cuối cùng, mỗi bên chiếm một nửa... Đợt tiến công này quân ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, tương đương sáu tiểu đoàn, trong đó có ba tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn. Điều quan trọng hơn là quân ta tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của đợt tiến công thứ hai, đã lấn chiếm khu vực phòng ngự của đối phương có nơi chỉ cách cứ điểm của chúng 10 - 15 m. Nhiều vị trí của địch bị ta uy hiếp quá mạnh phải bỏ chạy, sân bay bị ta đánh chiếm hoàn toàn. Toàn bộ phân khu trung tâm Mường Thanh phơi mình dưới hỏa lực của tất cả các vũ khí của ta từ tiểu liên đến pháo 105 ly. Thả dù là biện pháp duy nhất để tiếp tế cho quân phòng ngự. Có thế nói, đợt tiến công thứ hai diễn ra rất quyết liệt kéo dài, giành giật căng thẳng giữa hai bên.

Và đợt tiến công thứ ba mở đầu đúng ngày 1-5-1954, kết thúc 17 giờ 30 ngày 7-5-1954, khi toàn bộ Bộ Tham mưu và tướng Đờ Cátxtơri bị bắt sống, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp bị tiêu diệt hoàn toàn.

Các nước đế quốc to ở phương Tây và Bắc Mỹ ngỡ ngàng khi được tin Điện Biên Phủ thất thủ. Các nhà quân sự châu Âu không giải thích được làm cách nào Quân đội nhân dân Việt Nam tiêu diệt được tập đoàn phòng ngự lớn của đối phương khi họ không có máy bay, không có xe tăng, rất ít pháo cỡ lớn, lại xa căn cứ hậu phương? Những nghịch lý trong nghệ thuật quân sự của chiến tranh quy ước, cổ điển đã được Bộ Chỉ huy chiến dịch của ta xét đến và tạo nên bất ngờ cho đối phương bằng cách đánh sáng tạo, cách đánh của chiến tranh nhân dân, cách đánh lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #68 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2022, 11:36:27 pm »


CHUYỂN PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN
TỪ "ĐÁNH NHANH, GIẢI QUYẾT NHANH"
SANG "ĐÁNH CHẮC, TIẾN CHẮC"
1

Thượng tá TRẦN VĂN THỨC
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận đã ra một quyết định, theo ông đó là "quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình"2. Và, chính quyết định đó đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Theo hai học giả phương Tây G. Buđaren (Boudarel) và F. Caviliôli (F. Cavigllioli), quyết định đó "có tính chất lịch sử mà những hệ quả của nó đã mở ra tương lai của Việt Nam và đã thay đổi bộ mặt thế giới thứ ba"3. Đó chính là quyết định chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc".

Trong các ngày 20 đến 23-11-1953, sau khi phát hiện bộ đội chủ lực ta hành quân lên Tây Bắc, Nava vội vã cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, từng bước biến nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm. Và, chỉ hơn hai tuần sau đó, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp, sau khi nghe Tổng Quân uỷ báo cáo quyết tâm đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị là tập trung lực lượng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ theo nguyên tắc "đánh chắc, tiến chắc". Trước ngày Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận, trực tiếp chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Tổng Tư lệnh ra mặt trận. "Tướng quân tại ngoại". Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! Không chắc thắng, không đánh"4.

Theo tinh thần đó, tại hội nghị cán bộ chiến dịch, ngày 14-1-1954, ở Sở Chỉ huy lâm thời, hang Thẩm Púa, sau khi quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, những thuận lợi của ta, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã đưa ra hai phương châm tác chiến để hội nghị thảo luận. Một là, "đánh nhanh, giải quyết nhanh”, tức là tranh thủ khi địch mới chiếm đóng, chưa kịp củng cố về mọi mặt, bố trí lực lượng, trận địa chưa chặt chẽ, còn sơ sài dã chiến mà tập trung lực lượng đột phá các vị trí đóng quân của địch, có hướng đột kích chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng phối hợp, mạnh dạn đánh sâu vào tung thâm, chia cắt, xé lẻ tập đoàn cứ điểm rồi tập trung binh lực, hoả lực mạnh hơn địch, diệt bộ phận quan trọng nhất, sau đó diệt các bộ phận khác, hoàn thành việc tiêu diệt cứ điểm trong thời gian ngắn. Hai là, "đánh chắc, tiến chắc", tức là chia chiến dịch thành nhiều đợt, từng bước tập trung binh lực, hoả lực mạnh hơn địch, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, bảo đảm cho từng bước đánh chắc thắng, chiến dịch được tiến hành bằng một loạt đợt đánh công sự vững chắc, kế tiếp nhau để tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm trong thời gian tương đối dài.

Các đồng chí cán bộ dự hội nghị đã cân nhắc kỹ lưỡng cả hai phương án trên. Nếu thực hiện theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì thời gian của chiến dịch sẽ không kéo dài, việc bảo đảm tiếp tế lương thực, đạn dược có ít khó khăn hơn. Hơn nữa, do việc tổ chức phòng ngự của địch còn nhiều sơ hở, bộ đội ta sau chỉnh huấn chính trị và chỉnh huấn quân sự, tinh thần chiến đấu rất cao, trình độ chiến thuật, kỹ thuật tiến bộ, trang bị mới được tăng cường, có pháo binh và pháo cao xạ phối hợp. Bởi thế nên ta có thể thực hiện "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Tuy nhiên, kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm của ta còn rất hạn chế, do đó việc bảo đảm đánh "chắc thắng" là điều không dễ. Còn nếu ta thực hiện "đánh chắc, tiến chắc", thì sẽ bảo đảm chắc thắng, nhưng thời gian chiến dịch sẽ kéo dài, địch sẽ có thêm thời gian để tăng cường lực lượng, bố trí trận địa phòng ngự kiên cố, vững chắc. Phải chiến đấu dài ngày, gian khổ, sẽ gặp khó khăn về nhiều mặt, nhất là về hậu cần.

Trên cơ sở những cân nhắc, phân tích đó, "toàn thể hội nghị thống nhất ý kiến là nên đánh nhanh giải quyết nhanh, tất cả mọi người đều phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trong một trận"5. Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận thấy vào thời điểm giữa tháng 1-1954, quân Pháp ở Điện Biên Phủ lực lượng chưa đông, công sự còn dã chiến, do vậy phải tranh thủ thời cơ mà tiến công tiêu diệt địch theo phương châm ’’đánh nhanh, giải quyết nhanh". Theo đó, "kế hoạch tác chiến của ta là tập trung tuyệt đối ưu thế binh hoả lực từ phía tây, đột phá đánh nhanh vào tung thâm Mường Thanh, đồng thời từ phía đông giáp công. Trong bước đầu, nhanh chóng tiêu diệt quân địch ở tung thâm Mường Thanh và những cứ điểm ở phía tây và tây - bắc, sang bước thứ hai, giải quyết bộ phận địch còn lại ở phía đông - bắc và phía nam (hoặc đồng thời cả hai bước)"6. Đó là một quyết tâm có cơ sở, bởi vì khi địch còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời, thì "đánh nhanh, giải quyết nhanh" là cách đánh có thể vận dụng.
________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2004, tr. 45.
3. G. Buđaren và F. Caviglliôli: Tướng Giáp suýt thất bại trong trận Điện Biên Phủ như thế nào, Tạp chí Le Nouvel Observateur, số ra ngày 8-4-1983, Thư viện Quân đội dịch, 5-1983, tr. 1.
4. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 28.
5. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, t. III: Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1974, tr. 193.
6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 36, 37.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12336



« Trả lời #69 vào lúc: 06 Tháng Giêng, 2022, 11:38:43 pm »


Về quyết định của hội nghị ngày 14-1-1954, sau 35 năm sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Sau này, tôi mới biết có những đồng chí chỉ huy cảm thấy nhiệm vụ đơn vị quá nặng, lo phải đột phá liên tiếp, trận đánh kéo dài, không giải quyết được thương binh và tiếp tế đạn dược. Nhưng trước không khí chung, không ai nói những ý kiến thực của mình"1.

Dẫu kế hoạch đã được thông qua, song sự hoài nghi về khả năng không chắc thắng (nếu theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh") vẫn luôn canh cánh trong tâm trí Tổng Tư lệnh quân đội ta. Tuy nhiên vào thời điểm đó (14-1), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chưa thật đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh".

"Đánh nhanh, giải quyết nhanh" là vấn đề chớp thời cơ. Thời cơ thuận lợi là khi địch vừa mới chiếm đóng, phòng ngự còn nhiều sơ hở. Thời cơ xuất hiện, nhưng chớp được thời cơ là chuyện khác. Thời cơ thuận lợi để "đánh nhanh, giải quyết nhanh" qua đi ngoài ý muốn của chúng ta lúc bấy giờ.

Chúng ta biết rằng, kế hoạch mở đầu cuộc tiến công vào ngày 20-1 đã được chuẩn bị, nhưng còn phụ thuộc vào việc đưa pháo lớn chiếm lĩnh trận địa bắn đúng thời gian quy định hay không.

Để đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa, Đại đoàn 351 phải dùng xe kéo pháo theo đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, đến km 69 ngang qua bản Nham, pháo được tháo ra khỏi xe, bộ đội pháo binh, công binh dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Từ bản Nghịu đến Nà Nham dài 15 km, "con đường" này, cho đến ngày 14-1 vẫn chưa được cắm tiêu. Theo như báo cáo ban đầu thì "đường" không dốc lắm và chỉ độ hai ngày là có thể dưa pháo vượt qua quãng đường 15km đó. Nhưng trên thực tế, việc dùng sức người kéo pháo nặng cả tấn, vượt qua núi cao (có ngọn như Phasông cao 1.550m) lại có nhiều đèo (đèo thấp nhất cũng tới 600 - 700m) cùng với bảy sườn núi lô nhô, các dốc núi thường chếch 30° đến 40°, thậm chí trên 50°, có chỗ len lỏi giữa một bên là vách đá và một bên là vực thẳm... quả là cực kỳ khó khăn. Mặt khác, vượt qua Phasông là đến khu đát trống trải. Việc đưa pháo qua khoảng trống này chỉ có thể thực hiện được vào ban đêm, bởi từ đó tới lòng chảo Điện Biên Phủ đã rất gần, qua ống nhòm thấy rất rõ người đi lại trong thung lũng Mường Thanh. Với "đường" đi như vậy, tốc độ trung bình trên thực tế chỉ khoảng 150m/giờ. Thấy được khó khăn đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã lùi giờ nổ súng so với dự kiến ban đầu năm ngày (tức là ngày 25-1), nhưng với năm ngày gia hạn thêm đó, vẫn không thể kéo hết pháo vào trận địa.

Đến ngày 24-1, theo những tư liệu chắc chắn mới thu được, tình hình lực lượng và bố trí trận địa của địch đã có một số thay đổi. Phía tây không còn là nơi địch sơ hở nữa, bởi tại đó, chúng mới đóng thêm hai cứ điểm. Phía bắc cũng vậy, đồi Độc Lập trước đó chỉ là một vị trí tiền tiêu đã được tăng cường thành cứ điểm do một tiểu đoàn chốt giữ. Ở phía nam Hồng Cúm, nguyên là một cứ điểm đã được tổ chức thành một cụm cứ điểm, có sân bay và pháo binh, có thể cùng Mường Thanh yểm hộ lẫn nhau. Như vậy, tình hình bố trí lực lượng, trận địa địch đã thay đổi. Yếu tố thời cơ đã qua đi. Sự "chắc thắng" có thêm chứng lý để hoài nghi.

Ở một khía cạnh khác, có thể nói rằng, kế hoạch tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh" được quyết định trong ngày 14-1, gần giống với kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản cuối năm 1952, nhưng lớn hơn và mạnh hơn nhiều. Với Nà Sản, ta sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 thực hiện đánh chỗ yếu trước, đánh chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ mở mặt diện rồi đánh vào tung thâm, chuẩn bị đầy đủ và tác chiến liên tục. Tiến hành các trận mở đầu đợt ba với ý định tập trung lực lượng đột phá vào các điểm tựa vòng ngoài, từ đó khống chế sân bay, phát triển chiến đấu trong tung thâm, tạo thời cơ tiêu diệt toàn bộ các cứ điểm, trong thời gian một đến hai ngày. Còn kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" về đại thể như sau: Đại đoàn 308 có nhiệm vụ chủ yếu đột phá vào trung tâm Mường Thanh ở phía tây và tây - nam (phạm vi gồm khu vực Mường Thanh, Nà Noọng). Đại đoàn 316 (thiếu một trung đoàn) có nhiệm vụ từ phía đông, nhanh chóng tiêu diệt quân địch ở khu A, để phối hợp với hướng chính tiêu diệt quân địch ở trung tâm Mường Thanh. Đại đoàn 312 có nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt từng cứ điểm (Độc Lập, Bản Kéo, Căng Na) rồi đột nhập tiêu diệt quân địch trong khu vực sân bay gồm các cứ điểm 105, 106, 203, 204, 205, 206, 303 và 309... Thời gian trận đánh dự kiến là ba đêm hai ngày.

Hai kế hoạch này giống nhau ở chỗ lực lượng ta được chia ra nhiều hướng để thọc sâu vào trung tâm, chia cắt tập đoàn cứ điểm địch ra thành nhiều khu vực, nhanh chóng tiêu diệt chúng. Với cách đánh như vậy, ta đã không thành công trong trận tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản cuối năm 1952. Cũng được gọi là tập đoàn cứ điểm, nhưng Điện Biên Phủ lớn hơn Nà Sản rất nhiều. Có người ví Điện Biên Phủ là "Nà Sản luỹ thừa mười". Và, như vậy, rõ ràng phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", đến cuối tháng 2-1954, chứa đựng yếu tố không chắc thắng.

Đến ngày 26-1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: không thể đánh theo kế hoạch đã định... Nếu đánh là thất bại. Tại cuộc họp Đảng uỷ mặt trận, Đại tướng đã quyết định chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Theo đó hoãn cuộc tiến công vào ngày 26-1, bộ đội toàn tuyến được lệnh lui về vị trí tập kết, kéo pháo ra; mọi công tác chuẩn bị thực hiện theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc".

Ngay sau quyết định đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư hoả tốc gửi về báo cáo Bộ Chính trị và được Bộ Chính trị nhất trí cho đó là một quyết định hoàn toàn đúng đắn.

Thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", ở Điện Biên Phủ, ta tăng thêm lực lượng bộ binh và pháo binh nhằm bảo đảm ưu thế cả về binh lực, hoả lực; bố trí lại trận địa pháo binh và pháo cao xạ; xây dựng trận địa tiến công của bộ binh và trận địa cho pháo binh, bảo đảm chiến đấu dài ngày, chống bom, pháo địch, tuyệt đối giữ bí mật việc ta chuẩn bị đưa pháo 105 ly và pháo cao xạ 37 ly; tổ chức huấn luyện kỹ thuật xây dựng trận địa tiến công dưới tầm hoả lực địch, kỹ thuật, chiến thuật đánh ở chiến hào, giao thông hào, đánh địch phản kích, giữ trận địa... cho bộ binh; bảo đảm cấp dưỡng để tăng cường và duy trì sức mạnh của bộ đội cũng như việc bổ sung quân số, trang bị, vũ khí để chiến đấu được liên tục, dài ngày.

Đồng thời, để giải quyết tốt công tác chính trị tư tưởng cho bộ đội theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch đề ra phương án tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bằng một chiến dịch tiến công trận địa có quy mô lớn gồm một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc, tiếp diễn trong một thời gian khá dài.

Chuẩn bị theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", trận đánh đã lùi lại so với dự kiến ban đầu một tháng rưỡi. Ngày 13-3-1954, tiếng súng tiến công của ta ở Điện Biên Phủ mới chính thức bắt đầu. Ta đã buộc địch giao chiến vào thời gian do ta ấn định, đẩy địch từ thế chủ động sang thế bị động đối phó. Ta đã thực hiện tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, trung tâm đề kháng bằng cách đánh sở trường của ta, với thế mạnh áp đảo trong từng trận đánh, kết hợp siết chặt trận địa bằng hào giao thông, triệt nguồn tiếp tế, cuối cùng đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - hình thức phòng ngự kiên cố nhất lúc bấy giờ của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" là một quyết định rất quan trọng, có đầy đủ chứng lý khoa học, phù hợp với thực tế chiến trường lúc bấy giờ. Thực tế lịch sử đã kiểm nghiệm tính đúng đắn của phương châm "đánh chắc, tiến chắc”.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 36, 37.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM