Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:17:42 pm



Tiêu đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:17:42 pm

50 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ





ĐIỆN BIÊN PHỦ
Hợp tuyển công trình khoa học


















NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Hà Nội - 2005


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:20:02 pm

Tên sách: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2005
Số hóa: ptlinh, chuongxedap


HỘI ĐỔNG XUẤT BẢN

NGUYỄN KHOA ĐIỀM   Chủ tịch
LÊ VĂN DŨNG      Uỷ viên
HỔNG VINH       Uỷ viên
TRỊNH THÚC HUỲNH   Uỷ viên
ĐẶNG HỮU HẢI      Uỷ viên



XÂY DỰNG BẢN THẢO

TRỊNH VƯƠNG HỒNG (Chủ biên)
ĐINH XUÂN LÂM      BÙI ĐÌNH THANH
PHẠM CHÍ NHÂN      TRẦN ĐỨC CƯỜNG
TRÌNH MƯU         NGUYỄN VĂN KHÁNH
TRẦN VĂN THỨC      LÊ VĂN YÊN
TRẦN THỊ TỐN      LƯU TRẦN LUÂN



VỚI SỰ THAM GIA CỦA

VŨ QUANG HIỂN      PHẠM VĂN THẠCH
NGUYỄN MẠNH HÀ   NGUYỄN MINH ĐỨC
VÕ VĂN BÉ         LÊ THANH BÀI


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:27:26 pm

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Sau 9 năm chiến đấu với tinh thần "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", sức mạnh của dân tộc ta và của thời đại đã hội tụ về Điện Biên Phủ để làm nên một chiến thắng chấn động địa cầu, đuổi đội quân viễn chinh Pháp ra khỏi bán đảo Đông Dương, mở đầu sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Chiến công ấy là cột mốc bằng vàng của lịch sử dân tộc, như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa của thế kỷ XX.

50 năm qua, các chính khách, các nhà chính trị - quân sự và các nhà khoa học, đặc biệt là những người trực tiếp tham chiến ở Điện Biên Phủ đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu, luận giải tại sao quân Pháp thua trận ở Điện Biên Phủ? Tại sao một dân tộc nhỏ yếu với đội quân đầu trần, chân đất đã quật đổ một cách ngoan cường đến vậy đội quân tinh nhuệ nhà nghề, trang bị hiện đại, được đế quốc Mỹ giúp sức?

Để giúp bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cũng như thành tựu nghiên cứu về chiến công vĩ đại này trong nửa thế kỷ qua, chúng tôi cho xuất bản cuốn Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học nằm trong bộ sách lớn về Điện Biên Phủ dưới sự chỉ đạo của Hội đồng xuất bản do đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương làm Chủ tịch.

Các công trình nghiên cứu về Điện Biên Phủ rất phong phú và đa dạng, đặc biệt cứ sau 10 năm, 20 năm, 30 năm, 40 năm, 50 năm lại đạt được những thành tựu mới. Mỗi cuốn sách, mỗi bài báo khoa học tự thân nó đã là một tác phẩm hoàn chỉnh, rất khó sắp xếp theo một trật tự nhất định. Căn cứ vào nội dung chính của từng công trình khoa học và một số yếu tố khác, chúng tôi sắp xếp cuốn sách này thành năm phần:

Phần thứ nhất: Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 - Bối cảnh của trận quyết chiến chiến lược.

Phần thứ hai: Chiến thắng Điện Biên Phủ - đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Phần thứ ba: Ý nghĩa thắng lợi, tầm vóc thời đại, bài học kinh nghiệm.

Phần thứ tư: Các nước với Điện Biên Phủ.

Phần thứ năm: Biên niên sự kiện.

Việc tuyển chọn và sắp xếp như vậy cũng chỉ là tương đối, có thể còn một số hạn chế, nhược điểm nhất định, nhưng đây là cuốn sách tập hợp tương đối đầy đủ các tác giả, các công trình khoa học tiêu biểu trong 50 năm qua về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý cùng bạn đọc và mong nhận được những ý kiến đóng góp.

   
Tháng 8 năm 2004
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:42:38 pm

PHẦN THỨ NHẤT
CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
BỐI CẢNH CỦA TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC

 

BỐI CẢNH VÀ TÌNH HÌNH ĐỊA BÀN ĐIỆN BIÊN PHỦ*

I-BỐI CẢNH

Đến năm 1953, cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp tiến hành ở Việt Nam, Lào, Campuchia đã bước sang năm thứ tám.

Tình hình nguy khốn của quân Pháp trên chiến trường Đông Dương vào đầu năm 1953 đã buộc đế quốc Pháp phải có những phương sách mới, cấp thiết để cứu vãn tình thế. Chính phủ Pháp cho rằng phải tập trung mọi cố gắng tìm ra một "lối thoát danh dự", "lối thoát trong thắng lợi"; muốn đạt được mục tiêu đó, trước mắt cần ra sức đẩy mạnh chiến tranh, giành thắng lợi quân sự tương đối lớn.

Vào giữa năm 1953, được sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp chỉ định tướng Nava làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thay tướng Xalăng. Mặc dầu chưa nổi tiếng như tướng Đờ Lát Đờ Tátxinhi, nhưng Nava là một nhân tài quân sự trong hàng tướng trẻ của quân đội Pháp lúc bấy giờ, có tri thức quân sự và nhãn quan chiến lược. Sau một thời gian ngắn điều tra nghiên cứu chiến trường Đông Dương, Nava đã phác hoạ một kế hoạch chiến lược tương đối hoàn chỉnh nhằm cải biến tình hình, hòng chuyển bại thành thắng và trong một thời gian ngắn giành thắng lợi chiến lược có tính quyết định.

Về quân sự, Nava và các tướng tá Pháp - Mỹ nhận định rằng tình hình chiến sự ngày càng bất lợi đối với quân đội viễn chinh Pháp, quân đội của đối phương đã lớn mạnh hơn nhiều, có bộ đội chủ lực rất thiện chiến, bộ đội địa phương quen thuộc chiến trường, có lực lượng cơ động mạnh gồm nhiều đại đoàn trang bị tương đối tốt, tinh thần chiến đấu anh dũng, có khả năng mở những chiến dịch quy mô tương đối lớn.

Chiến tranh du kích phát triển cao đã giam chân và tiêu hao nhiều sinh lực của chúng. Trong khi đó lực lượng quân viễn chinh Pháp ngày càng lâm vào tình trạng phân tán và bị động. Phần lớn lực lượng phải làm nhiệm vụ phòng ngự trong hàng ngàn đồn bốt trên khắp các chiến trường. Lực lượng chiếm đóng địa phương đã suy yếu, lực lượng tổng dự bị càng suy yếu hơn, thiếu hẳn một lực lượng cơ động chiến lược mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của chủ lực ta, hoặc để mở những cuộc phản công giành lại quyền chủ động.

Từ tình hình thực tế đó, Nava thấy phải thay đổi tình thế, trên cơ sở xây dựng một "quân đoàn tác chiến" mạnh hơn chủ lực ta, lấy việc gấp rút tập trung một lực lượng cơ động chiến lược đủ sức tiến công và tiêu diệt chủ lực ta làm biện pháp chủ yếu để thoát khỏi tình trạng bị động phòng ngự, tiến tới giành thế chủ động. Biện pháp tăng cường lực lượng cơ động chiến lược của Nava là ráo riết tăng cường quân nguỵ thay thế quân chiếm đóng Âu – Phi, xin thêm viện binh, chấn chỉnh biên chế, rút gọn cơ quan.
__________________________________________
* Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ (13-3-7-5-1954), Hà Nội, 1991.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:48:13 pm

Theo kế hoạch của Nava thì quân đội Pháp trong Thu Đông năm 1953 sẽ tiến hành phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, đến mùa Xuân năm 1954, tiến công chiến lược ở miền Nam, tới Thu Đông năm 1954 sẽ chuyển lực lượng cơ động chiến lược ra Bắc Bộ thực hiện các đòn tiến công chiến lược, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng ta, giành thắng lợi quân sự to lớn, kết thúc chiến tranh trong vòng 18 tháng, buộc ta phải đàm phán trong tình thế có lợi cho chúng. Nếu không chấp nhận những điều kiện của Pháp thì chúng sẽ tiến công tiêu diệt chủ lực ta!

Kế hoạch Nava được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua ngày 24-7-1953 và được đánh giá cao trong chính giới Pháp - Mỹ hồi bấy giờ, được coi là một "kế hoạch táo bạo, kiên quyết, có cơ sở vững chắc", "cho phép hy vọng đủ mọi điều".

Ngày 1-8-1953, tướng Nava trở lại Đông Dương để triển khai thực hiện kế hoạch. Trong thư động viên binh sĩ ngày 25-8, Nava viết: Năm nay, năm 1953, trước khi một cuộc hành quân nữa mở màn, tôi cảm hứng về khẩu hiệu của Thống chế Đờ Lát Đờ Tátxinhi mà ban cho các bạn một khẩu hiệu: "Phải ra tay trước, phải hành động nhanh hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận". Khẩu hiệu đó là ''quyền chủ động".

Nava tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn (trên 50% lực lượng cơ động toàn Đông Dương) mở liên tiếp bốn cuộc hành quân lớn ra vùng Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình... hòng đẩy ta vào thế đối phó bị động, mất khả năng tiến công. Nổi bật là cuộc hành quân "Hải Âu" từ ngày 15-10 đến ngày 6-11-1953 với trên 30.000 quân, phần lớn là lính Âu - Phi có xe tăng, xe lội nước và không quân yểm trợ đánh ra tây nam Ninh Bình.

Sau cuộc hành quân "Hải Âu", Nava hí hửng cho rằng triển khai kế hoạch là thuận lợi và đã giành được những thắng lợi hiệp đầu. Chính phủ Pháp cũng hết sức lạc quan, tin tưởng thắng lợi của kế hoạch Nava. Tại Quốc hội Pháp, ngày 28-10-1953, Thủ tướng Lanien đã tuyên bố: "lực lượng của ta đang trên đà phát triển về người và trang bị, còn lực lượng của Việt Minh thì có vẻ không còn ở đỉnh cao của nó nữa".

Về phía ta, Trung ương Đảng đã dự đoán âm mưu mới của thực dân Pháp và Mỹ tăng cường lực lượng mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương, đã thấy rõ dần những nét chính trong kế hoạch Nava, kịp thời phân tích tình hình, nắm vững tư tưởng chỉ đạo và phương hướng chiến lược cơ bản, xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta, trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường địch hậu và tích cực chuẩn bị mọi sự cần thiết cho bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.

Từ chủ trương trên, Bộ Tổng tư lệnh đã đề ra kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 như sau:

- Sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch chiếm đóng Lai Châu, giải phóng toàn bộ khu vực Tây Bắc.

- Phối hợp với Quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tiến công ở Trung - Hạ Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng Lào.

- Đẩy mạnh chiến tranh du kích sau lưng địch ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, củng cố phát triển các căn cứ du kích, phối hợp chặt chẽ với các cuộc tiến công trên.

- Ở hướng Liên khu V, chỉ để lại một bộ phận chủ lực nhỏ cùng lực lượng vũ trang địa phương tích cực đối phó với âm mưu địch xâm phạm vùng tự do, sử dụng đại bộ phận chủ lực của Liên khu V mở cuộc tiến công lên hướng Tây Nguyên, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một bộ phận đất đai.

Lựa chọn hướng tiến công vào Tây Bắc, Trung - Hạ Lào, Tây Nguyên, là những hướng địch có nhiều sơ hở, ta sẽ có điều kiện thuận lợi để tiêu diệt chúng, ta sẽ kéo địch vào các hướng không có lợi cho chúng về địa hình, về sử dụng binh khí kỹ thuật, vận chuyển tiếp tế và cơ động lực lượng cũng như tăng viện.

Nếu điểm quan trọng trong kế hoạch Nava là tập trung binh lực, xây dựng khối cơ động chiến lược thật mạnh để đối phó với các cuộc tiến công của ta, và hơn thế nữa, để mở những cuộc tiến công lớn tiêu diệt chủ lực ta, thì điều mấu chốt trong trong kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 của ta là giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, phá vỡ khối cơ động tập trung của chúng, điều động từng bộ phận chủ lực của địch ra những hướng khác nhau, chọn những hướng thuận lợi để tiêu diệt chúng.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Mười Một, 2021, 10:51:38 pm

Trung tuần tháng 11-1953, sau khi Đại đoàn 320 giành thắng lợi trong chiến dịch phản công tây nam Ninh Bình, đánh thắng cuộc hành quân "Hải Âu" của địch, buộc chúng phải rút khỏi Nho Quan, quân và dân ta trên khắp các chiến trường toàn quốc chủ động tiến quân vào các hướng chiến lược đã xác định.

Ngày 15-11-1953, Đại đoàn 316 được lệnh hành quân lên Tây Bắc, mở cuộc tiến công giải phóng Lai Châu. Việc phát hiện sự di chuyển của chủ lực ta lên hướng Tây Bắc, đặt Bộ Chỉ huy quân Pháp trước những vấn đề mới: Chủ lực ta mở cuộc tiến công vào đồng bằng Bắc Bộ hay Tây Bắc? Nếu chủ lực ta mở cuộc tiến công vào Tây Bắc thì làm thế nào để bảo đảm an toàn cho lực lượng của chúng ở Lai Châu? Nhất là làm thế nào để bảo vệ Thượng Lào? Đây là sự bất ngờ lớn đối với địch, vì Nava vẫn chờ đợi một cuộc giao chiến với chủ lực ta trên thế mạnh của khối cơ động chiến lược đã được tập trung.

Sự điều quân của ta lên Tây Bắc buộc địch phải đối phó, Nava bị động cho sáu tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ vào ngày 20, 21-11-1953, Nava cho rằng chiếm Điện Biên Phủ làm bàn đạp có thể giữ vững được Lai Châu, bảo vệ được Thượng Lào, tiến công mở rộng ra vùng Tây Bắc. Việc chiếm đóng Điện Biên Phủ, không có trong kế hoạch Nava.

Địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, một tình huống mới xuất hiện, nhưng lại nằm trong phạm vi phán đoán của ta: nếu Tây Bắc bị quân ta uy hiếp, địch sẽ phải tăng viện lên hướng đó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động chiến lược lên hỗ trợ cho Tây Bắc, che chở cho Thượng Lào.

Ngày 23-11-1953, trong hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã phân tích tình hình và ý định đánh chiếm Điện Biên Phủ, rút ra kết luận quan trọng: "Vô luận rồi đây địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta. Nó bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa chiếm đóng đất đai với tập trung lực lượng, giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng"1  .

Ta chủ trương kiên trì kế hoạch tiến công giải phóng Lai Châu, tăng thêm lực lượng cho hướng Tây Bắc. Đại đoàn 316 đang hành quân được lệnh gấp rút tiến công tiêu diệt địch ở Lai Châu, đồng thời cho một cánh quân tiến nhanh về phía bắc Điện Biên Phủ nhằm chia cắt địch ở Điện Biên Phủ lên. Ngày 7-12-1953, Đại đoàn 308 được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Phát hiện lực lượng chủ lực ta tiến lên Tây Bắc, ngày 3-12, Nava quyết định rút bỏ Lai Châu, co lực lượng về Điện Biên Phủ. Theo Nava, Điện Biên Phủ có giá trị chiến lược tốt hơn, vừa để phòng thủ, vừa có sân bay khả dĩ tiếp nhận được các loại máy bay hiện đại ở Đông Dương. Nava lại cho rằng quân ta đã tiến lên Tây Bắc thì "tương kế tựu kế" thu hút lực lượng của ta vào Điện Biên Phủ và khi quân ta tiến công Điện Biên Phủ chắc chắn sẽ bị tổn thất nặng nề. Như vậy, đối với chúng, đứng vững chân ở Tây Bắc, Thượng Lào được an toàn, đồng bằng Bắc Bộ không bị tấn công. Thế là Nava hạ quyết tâm gấp rút tăng cường lực lượng, biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Đến ngày 15-12-1953, quân địch ở Điện Biên Phủ đã lên đến 12 tiểu đoàn, hình thành một hệ thống tập đoàn cứ điểm lớn tại vùng rừng núi Tây Bắc.

Trong những ngày đầu tháng 12-1953, tình hình cả địch và ta trên chiến trường Bắc Bộ có những diễn biến mau lẹ ảnh hưởng tới bước đi chiến lược của cả hai bên. Ngày 6-12, quân Pháp rút khỏi Lai Châu. Ngày 7-12 Bộ Chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh cho Đại đoàn 316 chặn đánh, tiêu diệt quân địch rút từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Sau 10 ngày chiến đấu, Đại đoàn 316 đã tiêu diệt 24 đại đội, giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu (chỉ còn 10 tên Pháp, 175 tên lính nguỵ chạy được về Điện Biên Phủ).

Cùng thời gian, ta cùng bạn mở mặt trận tiến công Trung Lào. Trung đoàn 10 diệt Tiểu đoàn 27 Angiêri, 1 đại đội pháo 105 ly, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 Marốc... làm rung chuyển hệ thống phòng ngự của địch ở Trung Lào. Trung đoàn 66 diệt 1 tiểu đoàn Marốc tại Pà Cuội. Tiếp đó, Trung đoàn 101 cùng lực lượng bạn đánh tan cụm quân địch từ cầu Bi Lan đến Bản Bay, giải phóng Nhommarát. Trên đường số 8, trước sức uy hiếp của Trung đoàn 101 và lực lượng bạn, Tiểu đoàn 9 Tabo hoảng sợ, đốt xe pháo rồi chạy, toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Khăm Muộn bị vỡ tung. Địch ở Thàkhẹt tháo chạy. Tỉnh Khăm Muộn được giải phóng. Trước tình hình đó, Nava vội vã điều hai binh đoàn cơ động và một số đại đội lẻ từ Bắc Bộ sang Trung Lào, lập tập đoàn cứ điểm Xênô.

Như vậy, đến lúc này, khoảng 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược của địch đã điều đi khỏi đồng bằng Bắc Bộ, phân tán đối phó với ta ở Tây Bắc và Trung Lào.

Sau khi phân tích tình hình mọi mặt của ta và địch, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ hạ quyết tâm: Tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực thiện chiến của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ, mở chiến dịch tiến công tiêu diệt những lực lượng tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương này. Mặt trận Điện Biên Phủ trở thành mặt trận quan trọng nhất vì chủ lực tinh nhuệ của địch đang bị kìm giữ ở đây. Quyết tâm mở chiến dịch tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 là một quyết tâm chiến lược lớn trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta nhằm đánh thắng những cố gắng cao nhất, hình thức phòng ngự mới nhất của địch, tạo ra cục diện mới trong cuộc chiến tranh Đông Dương. Thắng lợi của chiến dịch này sẽ mở đường cho quân đội ta trưởng thành thêm một bước, thúc đẩy cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân ta phát triển. Thắng lợi của chiến dịch này không những sẽ tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ của địch (1/5 lực lượng cơ động toàn Đông Dương lúc bấy giờ), giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, đánh thắng kế hoạch chiến lược của Nava, mà còn ảnh hưởng lớn đến tình hình quân sự và chính trị trong nước và trên cả chiến trường ba nước Đông Dương.

Cuối tháng 12-1953, các đại đoàn chủ lực của ta tiếp tục hành quân lên Điện Biên Phủ. Ngày 5-1-1954, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Tổng Tư lệnh, Bí thư Tổng Quân uỷ, được Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ trực tiếp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận, lên đường lên Điện Biên Phủ.
_______________________________
1. Điên Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.446.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 07:59:28 pm

II-TÌNH HÌNH ĐỊA LÝ QUÂN SỰ KHU VỰC ĐIỆN BIÊN PHỦ

Điện Biên Phủ thuộc tỉnh Lai Châu, nằm trong vùng rừng núi Tây Bắc gần biên giới Việt - Lào, cách Hà Nội 200km đường chim bay, cách Lai Châu 90 km, cách Luông Prabăng (Lào) 190km.

Đối với Pháp, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động giữa miền Bắc Việt Nam - Thượng Lào - miền Nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở Đông Nam Á.

Điện Biên Phủ nằm trong một thung lũng vốn là cánh đồng Mường Thanh, dài 18 km, rộng từ 6 đến 8 km, có diện tích đất trồng trọt lớn, dân cư đông đúc nhất trong bốn cánh đồng lớn ở Tây Bắc, với địa hình bằng phẳng, đồng ruộng khô ráo, xen kẽ một số bãi hoang như Sumnun, Cò Mỵ và Hồng Cúm. Xung quanh có rừng núi bao bọc; phía bắc là dãy Nà Phao, phía đông là dãy Pú Hồng, phía tây và phía nam là dải biên giới Việt - Lào. Núi có độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, có mỏm đột xuất cao tới 1.461m. Phía tây là dãy núi đá, rừng già rậm rạp kéo dài đến biên giới Việt - Lào. Phía đông, đồi núi liên tiếp, có rừng cây thưa bao phủ. Hai dãy núi đông và tây khép lại hai đầu nam - bắc, thành hình lòng chảo Điện Biên.

Giữa cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng lại nổi lên những đồi cao hơn mặt ruộng từ 8 đến 20 m, cá biệt có điểm cao tới 250m. Khu điểm cao Him Lam có giá trị án ngữ phía đông – bắc, trên đường 41 từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ.

Sân bay Mường Thanh có thể sửa chữa để máy bay vận tải và chiến đấu cánh quạt sử dụng. Đi vào lòng chảo Điện Biên Phủ, có ba đường chính: đường Lai Châu qua Nà Phao, Mường Pồn; đường Mường Lầm, Mường Luân và đường 41 (Tuần Giáo vào đường 41 có thể sửa chữa cho vận chuyển cơ giới). Còn có đường nhỏ từ Điện Biên Phủ đi Sốp Hao (Lào) dùng cho ngựa thồ.

Sông Nậm Rốm chảy theo chiều bắc - nam dọc cánh đồng Mường Thanh rộng 60m, mùa khô nước cạn qua lại dễ dàng, mùa mưa nước lũ phải qua bằng cầu Mường Thanh. Các khe suối từ các dãy núi xung quanh đều chảy vào sông Nậm Rốm, nước cạn cơ động dễ dàng.

Thời tiết Điện Biên Phủ chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Mùa khô, sương mù xuống sớm (từ 15 giờ), tan muộn (đến 9 giờ). Những ngày sương mù dày đặc, tầm quan sát rất hạn chế, thuận lợi cho những hoạt động quân sự của ta trong điều kiện đối phương có ưu thế về không quân. Mùa mưa thường kéo dài, gây lầy lội, sụt lở, nước lũ, cây đổ... ảnh hưởng đến cơ động và chiến đấu; độ ẩm lớn gây khó khăn cho việc bảo quản vũ khí, nhất là khí tài quan trọng, lương thực, thực phẩm.

Huyện Điện Biên hồi đó có chừng 21.000 người, gồm 11 dân tộc, sống trong 17 xã.

Năm 1952, huyện Điện Biên được giải phóng, chính quyền cách mạng được thành lập, lực lượng dân quân du kích được tổ chức ở các xã, đại đội địa phương được xây dựng ở huyện, nhưng trang bị kém, ít huấn luyện, thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Sau ngày giải phóng, nhân dân vùng thấp sản xuất khá, đời sống sung túc hơn đồng bào rẻo cao. Tuy thực dân Pháp cho là lúa gạo của Điện Biên Phủ có thể nuôi sống 20.000 đến 25.000 người, nhưng thực tế kinh tế tại chỗ rất nghèo nàn.

Sau khi đổ quân, địch đã lợi dụng các điểm cao giữa cánh đồng và sân bay để tổ chức phòng ngự, xây dựng hệ thống tập đoàn cứ điểm gồm nhiều trung tâm đề kháng, ngăn chặn ta từ xa, buộc ta muốn tiến đánh phải triển khai đột phá lần lượt từ ngoài trung tâm vào lòng chảo Điện Biên Phủ từ 10 đến 15km. Như vậy, chúng sẽ có điều kiện dùng pháo binh để sát thương ta và dùng xe tăng cơ giới phản kích ngăn chặn các mũi tiến công của ta.

Nhưng địch phòng ngự trong một thung lũng lòng chảo bốn bề núi cao, ta lại có điều kiện hình thành thế bao vây chiến dịch, tổ chức hoả lực từ trên cao bắn xuống khống chế khu trung tâm. Khó khăn lớn nhất của cả hai bên là xa hậu phương, xa các căn cứ, đường vận tải tiếp tế xa và xấu, khả năng hậu cần tại chỗ rất mỏng yếu, mọi nhu cầu nhân vật lực cho tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn đều phải huy động và vận chuyển từ xa, nên công tác bảo đảm chiến dịch rất khó khăn.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:10:59 pm

CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ*
(Trích)

Kế hoạch Nava, cố gắng chiến tranh cao nhất của Pháp và Mỹ ở Đông Dương hòng xoay chuyển tình thế, chuyển bại thành thắng

Tháng 5-1953, với sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp cử tướng Hăngri Nava, Tổng Tham mưu trưởng lục quân khối Bắc Đại Tây Dương, làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Sau một tháng khảo sát, tìm hiểu thực tế chiến trường, ngày 2-7-1953, Nava vạch ra được một kế hoạch toàn diện, có hệ thống để báo cáo với Chính phủ Pháp. Hội đồng Chính phủ và Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch quân sự của Nava.

Nhiệm vụ trung tâm của kế hoạch Nava là tổ chức khối chủ lực tác chiến tới năm 1954 gấp ba lần số binh đoàn hiện có.

Nava chia kế hoạch tác chiến thành hai bước:

Bước thứ nhất trong Thu Đông 1953 và Xuân 1954, giữ vững thế phòng ngự chiến lược ở 18 độ vĩ tuyến bắc trở ra; tiến công bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương; xoá bỏ vùng tự do Liên khu V.

Bước thứ hai, nếu đạt được bước một sẽ chuyển sang tiến công chiến lược miền Bắc, giành thắng lợi quân sự to lớn, buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho chúng.

Cả Pháp và Mỹ đều hy vọng trong vòng 18 tháng sẽ "chuyển bại thành thắng". Kế hoạch quân sự Nava là cố gắng cao nhất và cuối cùng của Pháp và Mỹ trong cuộc chiến tranh Đông Dương.

Thực hiện kế hoạch Nava, Pháp tăng viện quân viễn chinh, mở rộng khối quân cơ động, ráo riết bắt thanh niên vào lính nguỵ, phát triển phỉ vùng rừng núi. Suốt mùa Hè và mùa Thu 1953, địch mở hàng chục trận càn quét lớn nhỏ ở Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ, đánh phá ác liệt các căn cứ của ta. Tháng 7-1953, chúng cho quân nhảy dù tập kích Lạng Sơn. Tháng 8-1953. chúng rút lực lượng chiếm đóng Nà Sản về tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ.

Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh, từ đầu tháng 9-1953, Bộ Tổng tham mưu bắt đầu nghiên cứu tình hình các mặt vạch kế hoạch tác chiến. Để phá kế hoạch Nava, vấn đề mấu chốt là ta phải phân tán cho được khối cơ động chiến lược to lớn mới được dựng lên của địch. Muốn thế, ta phải đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, chiến tranh du kích ở mọi chiến trường (nhất là đồng bằng Bắc Bộ); phải nâng cao chất lượng chiến đấu của ba thứ quân, phải khoét sâu hơn nữa các mặt yếu của địch. Hướng tiến công để phân tán chủ lực địch dự định là Lai Châu, Tây Nguyên và Trung - Hạ Lào. Hướng kéo chủ lực địch tiến công ra để đánh tiêu diệt lớn dự định là Việt Bắc hoặc Tây Bắc, đồng thời nắm vững khối chủ lực làm lực lượng dự bị chiến lược và sẵn sàng đánh địch tiến công lên trung du (Thái Nguyên, Phú Thọ). Những ý kiến sơ bộ này đã được Tổng Quân uỷ báo cáo lên Bộ Chính trị.

Cuối tháng 9-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn về nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Trong hội nghị lần này, sau khi phân tích kỹ lưỡng âm mưu và phương hướng chiến lược cơ bản đã được đề ra ở Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 1-1953), Bộ Chính trị đã đi tới xác định chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 là: sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.

Theo phương hướng chiến lược và chủ trương tác chiến nói trên, Bộ Chính trị ra nghị quyết thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, giữ vững quyền chủ động, đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước và phối hợp trên toàn Đông Dương. Vì hành động của địch chưa rõ rệt, Bộ Chính trị nhấn mạnh phương châm: "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" và nhấn mạnh các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng.

Căn cứ vào chủ trương nói trên của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu đặt kế hoạch tác chiến cụ thể cho các chiến trường. Kế hoạch tác chiến này được Tổng Quân uỷ thông qua, và được Bộ Chính trị phê chuẩn. Các kế hoạch phối hợp tác chiến giữa ta với Lào, Campuchia cũng đã được bạn hoàn toàn nhất trí.

______________________________
* Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 1996.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:16:45 pm

Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1953 mở đường đi tới những thắng lợi lịch sử trong Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nghị quyết Bộ Chính trị được quán triệt tới các cấp, các ngành. Mọi việc chuẩn bị chiến trường, công tác tổ chức lực lượng được triển khai mạnh mẽ.

Sau đợt hoạt động Đông Xuân 1952-1953, thực hiện nghị quyết của Tổng Quân uỷ, từ tháng 5 trở đi các đơn vị trong toàn quân lần lượt triển khai chỉnh quân chính trị. Qua chỉnh quân, trình độ giác ngộ giai cấp của bộ đội đã được nâng cao thêm một bước, sức chiến đấu của bộ đội được tăng cường về mọi mặt.

Nhằm đẩy mạnh kháng chiến, Đảng ta chủ trương tiếp tục thực hiện các cuộc cải cách dân chủ bằng cuộc phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô tiến tới cải cách ruộng đất. Tháng 3-1953, Hội đồng Chính phủ thông qua các văn bản về chính sách ruộng đất và phát động quần chúng. Ngày 12-4, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành ba sắc lệnh về ruộng đất. Từ tháng 4-1953 đến tháng 7-1954, Đảng đã lãnh đạo nông dân tiến hành năm đợt giảm tô và một đợt cải cách ruộng đất ở một số vùng tự do. Tin thắng lợi của giảm tô và cải cách ruộng đất ở hậu phương dội đến tiền tuyến càng làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ ta, tăng thêm quyết tâm thi đua giết giặc lập công. Kết quả này góp phần quan trọng vào thắng lợi của Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đồng thời với việc tiến hành phát động quần chúng và chỉnh quân chính trị, Đảng và Chính phủ quan tâm chỉ đạo đẩy mạnh công tác cầu đường, giao thông vận tải và chi viện tiền tuyến.

Tháng 6-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị cho cấp uỷ các địa phương "phải tăng cường việc lãnh đạo công tác làm đường, cầu đường, điều động những cán bộ tích cực, có năng lực phụ trách các công tác ấy". Tại khắp các tỉnh thuộc vùng tự do Việt Bắc, Tây Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, v.v. “chiến dịch cầu đường” được triển khai tích cực, đúng thời hạn quy định.

Tháng 7-1953, Bộ Chính trị quyết định thành lập Ủy ban chi viện tiền tuyến nhằm huy động tối đa sức người, sức của của hậu phương vào việc chuẩn bị cho Đông Xuân đánh lớn.

Song song với các công tác chuẩn bị về mặt cầu đường, cung cấp trên đây, một công tác quan trọng được đặt ra lúc này là tiến hành tiễu phỉ ở Sơn La bảo vệ vùng giải phóng, nhanh chóng mở thông đường cho bộ đội chủ lực tiến lên Lai Châu. Nhờ dựa chắc vào dân, tiến hành tuyên truyền, vận động, kêu gọi ra hàng, kết hợp với tiến công, bao vây, triệt đường tiếp tế, ta đã quét sạch bọn thổ phỉ ở đây, đường giao thông từ Sơn La lên Lai Châu được mở thông.

Để phối hợp với cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, Đảng và Chính phủ ta đã chủ trương mở cuộc tiến công địch trên mặt trận ngoại giao. Tháng 10-1953, Quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ Chính phủ Lanien tìm giải pháp thương lượng để giải quyết cuộc chiến tranh bằng cách đàm phán trực tiếp với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 26-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ quan điểm của nhân dân ta: "... Cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam", "... Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Chính phủ Pháp"1 .

Chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ ta qua lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tiếng vang lớn trong nước và trên thế giới. Nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới đều tỏ thái độ đồng tình và hoan nghênh. Ngược lại, giới hiếu chiến trong bộ máy chiến tranh của cả Pháp và Mỹ rất lúng túng, bị động.

Trong khi ta đang tích cực chuẩn bị mọi mặt theo kế hoạch tác chiến thì ngày 15-10-1953, Nava sử dụng sáu binh đoàn gồm 22 tiểu đoàn bộ binh và một số binh chủng kỹ thuật mở cuộc hành quân Hải Âu (Mouete) đánh ra tây nam Ninh Bình, đồng thời hoạt động nghi binh làm như chúng sắp đánh chiếm Thanh Hoá và tung tin sẽ đánh lên Phú Thọ. Đây là lần đầu tiên, địch tổ chức sư đoàn cơ động chiến lược tiến công ta nhằm phá một bàn đạp ở trên hướng mà chúng nghi là hướng tiến công chủ yếu của ta. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Đại đoàn 320 và các lực lượng vũ trang địa phương tổ chức chiến dịch phản công đánh địch ngay từ khi chúng mới đến, đồng thời đẩy mạnh hoạt động ở vùng sau lưng địch, đánh vào hậu cứ các binh đoàn cơ động của chúng. Ngày 6-11-1953, địch buộc phải rút quân. Ta đã tiêu diệt và bắt trên 4.000 tên.

Theo kế hoạch tác chiến đã định, giữa tháng 11-1953, bộ đội chủ lực ta bắt đầu tiến quân lên Tây Bắc, một bộ phận tiến sang Trung Lào phối hợp chiến đấu với Quân giải phóng Lào. Được tin này, Nava quyết định điều một bộ phận lực lượng lên Điện Biên Phủ và một bộ phận khác xuống Trung Lào. Lúc đầu, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ với ý đồ ngăn chặn quân ta tấn công sang Thượng Lào, xây dựng một căn cứ quân sự để sau khi ta đã mệt mỏi thì từ Điện Biên Phủ tấn công chiếm lại Tây Bắc. Sau đó, Nava nhận định Điện Biên Phủ đối với ta quá xa hậu phương, tiếp tế khó khăn, sử dụng lực lượng có hạn và không thể dùng được pháo cơ giới, Nava chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Ngày 3-12-1953, Nava cho tăng lực lượng phòng giữ Điện Biên Phủ từ 6 tiểu đoàn lên 9 tiểu đoàn bộ binh và 3 tiểu đoàn pháo. Đây là một kế hoạch nằm ngoài dự kiến của Nava.
__________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 168, 169.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:29:30 pm

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 trên toàn Đông Dương với đỉnh cao là trận quyết chiến lịch sử Điện Biên Phủ, đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của Pháp và Mỹ

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp nghe Tổng Quân ủy báo cáo quyết tâm, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân uỷ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam được chỉ định trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Từ chọn nơi địch sơ hở mà đánh (9-1953), đến quyết định nhằm vào một chỗ mạnh nhất của địch để tiêu diệt là một chủ trương rất kiên quyết, linh hoạt, sáng tạo và kịp thời, là quyết tâm rất lớn của Bộ Chính trị. Bởi vì, ta có tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới phá được hình thức phòng ngự cao nhất của địch, mới phá được kế hoạch Nava, phá âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của chúng.

Để tạo thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tư lệnh ra lệnh cho các đơn vị chủ lực phối hợp mở đợt tiến công mạnh mẽ trên các chiến trường. Ta đã hình thành năm đòn tiến công chiến lược:

1. Tại Lai Châu ngày 10-12-1953, ta bắt đầu đánh vào thị xã và đánh quân địch rút lui. Trải qua 12 ngày đêm liên tục chiến đấu, truy kích, bao vây, tập kích trên vùng rừng núi hiểm trở, ta đã giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu, uy hiếp Điện Biên Phủ từ phía bắc.

Bị thiệt hại nặng ở Lai Châu và biết quân ta đang cơ động lên Điện Biên Phủ, Nava quyết định đưa thêm 6 tiểu đoàn lên tăng cường cho Điện Biên Phủ, đưa lực lượng ở đây lên 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh lẻ, 2 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội vận tải, với tổng quân số là 12.000. Ngoài đồng bằng Bắc Bộ ra, Điện Biên Phủ đã biến thành nơi tập trung binh lực lớn thứ hai của địch.

2. Ở Trung Lào lợi dụng chỗ yếu nhưng là vị trí hiểm yếu của địch, hạ tuần tháng 12-1953, ta phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào Trung Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng căn cứ, thu hút phân tán lực lượng địch, tạo điều kiện cho hướng khác tiến công tiêu diệt địch. Bị thất bại nặng, Nava buộc phải điều thêm lực lượng sang, cùng lực lượng tại chỗ thành lập một tập đoàn cứ điểm với hàng chục tiểu đoàn ở Xênô. Xênô trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ ba của địch ở Đông Dương.

3. Tại Hạ Lào và đông Campuchia, sau chiến thắng ở Trung Lào, bộ đội Lào - Việt tiếp tục phát huy thắng lợi tiến sâu xuống Hạ Lào giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven, một địa bàn chiến lược quan trọng1.

Thừa thắng, một đơn vị chủ lực của ta tiến xuống phía nam phối hợp cùng Quân giải phóng Ítxarắc của Campuchia giải phóng Vươn Sai, Xiêm Pang, uy hiếp Stung Treng, tiến xuống sông Sơ Lông. Trong khi đó, quân tình nguyện Việt Nam cùng Quân giải phóng Ítxarắc ở miền đông Campuchia hoạt động từ phía nam, giải phóng phần lớn Công Pông Chàm tiến lên sát sông Sơ Lông.

Căn cứ miền đông và đông bắc Campuchia được nối liền với vùng giải phóng Hạ Lào và Trung Lào.

4. Trên mặt trận Tây Nguyên, địch quyết định mở Chiến dịch Átlăng với lực lượng lúc đầu là 22 tiểu đoàn, sau tăng lên đến 40 tiểu đoàn theo đúng như kế hoạch Nava đã chuẩn bị từ trước nhằm mục đích chiếm toàn bộ vùng tự do của ta ở Liên khu V.

Chủ trương của ta chỉ sử dụng một bộ phận chủ lực đối phó với địch, bảo vệ hậu phương, còn đại bộ phận tập trung tiến công lên hướng chính ở đông bắc Kon Tum, hướng phối hợp trên đường số 10. Chiến dịch mở màn ngày 26-1-1954, kết thúc thắng lợi ngày 5-2-1954. Ta giải phóng thị xã Kon Tum, quét sạch quân địch ở bắc Tây Nguyên, tràn xuống phía nam sát đường số 19. Quân Pháp buộc phải ngừng cuộc tiến công ở đồng bằng Liên khu V, vội vã điều động 11 tiểu đoàn ở Nam Bộ và Bình - Trị - Thiên lên Tây Nguyên, tổ chức hai tập đoàn cứ điểm An Khê và Plâycu để đối phó với ta. Đây là nơi tập trung binh lực lớn thứ tư của địch2.

5. Tại Thượng Lào, để đánh lạc hướng phán đoán của địch, tiêu diệt thêm một bộ phận sinh lực địch và buộc chúng phải tiếp tục phân tán lực lượng, hạ tuần tháng 1-1954, quân ta phối hợp với Quân giải phóng Lào mở chiến dịch tiến công vào phòng tuyến địch ở khu vực sông Nậm Hu. Địch ở đây hoảng hốt tháo chạy. Ta và bạn tiếp tục truy kích địch đến cách Luông Prabăng 15km. Một bộ phận lực lượng ta và bạn phát triển lên phía bắc, giải phóng tỉnh Phông Xa Lỳ, bao vây Mường Sài.

Sợ ta đánh thẳng vào Kinh đô Lào, địch phải gấp rút tăng cường lực lượng cho Luông Prabăng 5 tiểu đoàn và Mường Sài 3 tiểu đoàn. Luông Prabăng, Mường Sài trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ năm của Pháp trên chiến trường Đông Dương.

Với năm đòn chiến lược trên, chẳng những ta tiêu diệt nhiều địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn mà còn làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Nava ở vùng đồng bằng, buộc chúng phải phân tán khắp nơi để đối phó với ta.

Đồng thời với năm đòn trên, ở chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quân và dân ta cũng đánh mạnh cả ở tuyến ngoài và sau lưng địch. Hầu hết các địa bàn xung yếu của địch đều bị đánh, phòng tuyến sông Đáy bị phá vỡ, nhiều sân bay bị tập kích, đường số 5 bị cắt đứt nhiều đoạn, có chỗ giao thông bị tê liệt hàng tuần. Khắp nơi, nhân dân nổi dậy phá tề trừ gian, nhiều đồn bốt địch bị vây hãm phải rút chạy hoặc đầu hàng.

Ở Bình - Trị - Thiên, nhiều cầu cống trên đường số 1 và số 9 bị phá huỷ, nhiều trận đánh địa lôi liên tiếp diễn ra ở Lăng Cô, Hương Thuỷ, Phú Ốc (Thừa Thiên). Sau khi bộ đội ta đánh tiêu diệt và bức rút nhiều đồn bốt, huyện Hướng Hoá và một phần huyện Cam Lộ (Quảng Trị) được hoàn toàn giải phóng.

Ở cực Nam Trung Bộ, ta tiến công địch kết hợp với phát động quần chúng phá tề, trừ gian, giải phóng hai huyện Lương Sơn và Tánh Linh.

Tại Nam Bộ, chấp hành Nghị quyết của Trung ương Cục "chuẩn bị đón lấy thời cơ mới", các địa phương đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị, kết hợp với "chiến dịch địch, nguỵ vận" để phối hợp với chiến trường chính.

Cùng với các đòn tiến công của bộ đội chủ lực ở chính diện, các hoạt động của quân và dân ta ở phía sau lưng địch cũng không ngừng phát triển. Đây là sự phối hợp chiến lược rộng khắp tạo điều kiện rất thuận lợi cho mặt trận Điện Biên Phủ.
________________________________
1.Trong Chiến dịch Trung - Hạ Lào, nhân dân Liên khu IV đã đóng góp 54.075 dân công (tính ra thành 1.974.800 ngày công), 2.217 xe đạp thồ, 9 xe ôtô, 1.429 thuyền và đã bảo đảm tiếp tế cho các đơn vị chủ lực sang phối hợp chiến đấu với bộ đội bạn 3.409 tấn gạo, 154 tấn muối, 2.102 trâu, bò, lợn, v.v…
2.Trong Chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, đồng bào Kinh, Thượng, Nam Trung Bộ đã đóng góp 200.000 dân công (tính ra thành 6 triệu ngày công), 2.000 xe đạp thồ, 1.000 ngựa thồ, hàng chục thớt voi, hàng nghìn thuyền bè, xe bò, xe ngựa và vận chuyển ra mặt trận, bảo đảm tiếp tẽ cho bộ đội hơn 1.000 tấn gạo, 50 tấn muối, hàng nghìn trâu bò, lợn, hàng chục tấn nhu yếu phẩm khác.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:43:49 pm

Từ đầu tháng 12-1953, công cuộc chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ được ráo riết tiến hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được"1.

Quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ đã biến thành ý chí và hành động chiến đấu cụ thể của quân và dân ta.

Với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" cả hậu phương hùng hậu, từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng ở Tây Bắc, đến vùng du kích và căn cứ du kích đồng bằng Bắc Bộ đã tập trung mọi sức lực, của cải cho mặt trận Điện Biên Phủ2.

Trong khi đó, quân địch cũng tập trung cố gắng tăng cường phòng thủ, đưa đến Điện Biên Phủ nhiều phương tiện, vũ khí mới. Tổng số binh lực địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ lúc cao nhất là 16.200 tên, bố trí trong 49 cứ điểm, chia thành ba phân khu: bắc, nam, trung tâm để yểm hộ lẫn nhau. Phân khu trung tâm, được các trung tâm đề kháng trên các ngọn đồi phía đông bảo hộ một cách đắc lực, có các lực lượng cơ động, các căn cứ pháo binh và cơ giới, có Sở Chỉ huy của địch. Sân bay chính của Điện Biên Phủ cũng ở ngay đấy. Toàn bộ tổ chức phòng ngự quy mô rộng lớn nói trên đều nằm trong công sự và giao thông hào chìm dưới mặt đất. Địch xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, cả Pháp lẫn Mỹ đều thống nhất đánh giá: đây là một "pháo đài khổng lồ không thể công phá", một "con nhím" hoàn hảo được tổ chức phòng ngự theo kiểu hiện đại (!).

Cuối tháng 1-1954, các đơn vị bộ đội chủ lực ta đã tới vị trí tập kết, bố trí xong trận địa và sẵn sàng chờ lệnh nổ súng tiến công theo phương châm tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh".

Trước tình hình mới do sự tăng cường của địch ở Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị chỉ thị cho Đảng uỷ mặt trận kiểm tra lại tình hình, bảo đảm đánh chắc thắng. Sau khi cân nhắc tình hình mọi mặt. Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy mặt trận đề nghị hoãn thời gian nổ súng, hạ quyết tâm thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang “đánh chắc, tiến chắc". Chuyến phướng châm tác chiến chiến dịch lúc tình hình địch đã thay đổi, lực lượng của chúng đã tăng cường, hệ thống phòng ngự được tổ chức vững chắc, là một chủ trương kịp thời, chính xác. Nó quán triệt tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chi Minh là đánh chắc thắng". Đối với Bộ Chỉ huy chiến dịch, đây cũng là một quyết định khó khăn nhất trong những quyết định về chủ trương tác chiến của ta trong Đông Xuân 1953-1954.

Để thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", về kế hoạch tác chiến, Bộ Chỉ huy chiến dịch xác định đây là một chiến dịch quy mô rộng lớn, diễn ra trong một thời gian khá dài và gồm cả một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc kế tiếp nhau cho đến khi quân địch bị hoàn toàn tiêu diệt. Vì vậy, về phương pháp chiến thuật, Bộ Chỉ huy chiến dịch nêu ra cách đánh từng bước, tập trung binh lực tạo ra ưu thế lớn để tiêu diệt từng trung tâm đề kháng của địch. Do tập đoàn cứ điểm của địch có hoả lực pháo binh, cơ giới và không quân mạnh, trong khi hoả lực pháo binh của ta có hạn, để giảm hoả lực của địch, phát huy sức mạnh hoả lực của ta, ta phải tổ chức xây dựng hệ thống giao thông hào, hệ thống trận địa tiến công và bao vây, tạo điều kiện cho bộ đội ta triển khai và vận động dưới hoả lực của địch; pháo binh của ta vận chuyển được vào gần để khống chế sân bay; pháo cao xạ đối phó có hiệu quả với không quân của địch. Bằng những phương pháp chiến thuật trên, ta sẽ ngăn chặn, dần dần đi đến triệt nguồn tiếp tế, tiếp viện của địch.

Sau khi mọi công tác chuẩn bị đã hoàn thành, ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ3.
_______________________________
1. Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đồng chí Võ Nguyên Giáp (tháng 12-1953).
2. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng bào các dân tộc Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV đã đóng góp hơn 260.000 dân công (tính ra thành 14.000.000 ngày công), 20.991 xe đạp thồ và hàng chục nghìn phương tiện vận chuyển thô sơ và nửa thô sơ.
Về bảo đảm vật chất, đồng bào đã đóng góp cho chiến dịch (số huy động tại gốc) 25.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt và hàng nghìn tấn thực phẩm khác. Chỉ tính riêng số vật phẩm đã vận chuyển được ra mặt trận là hơn 2 vạn tấn, trong đó có 14.950 tấn gạo, 266 tấn muối, 62,7 tấn đường, 577 tấn thịt và 565 tấn thức ăn khô.
Riêng đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã dồn hết sức mình tiẽp tế cho bộ đội 7.310 tấn gạo, 389 tấn thịt, 700-800 tấn rau xanh và đã đóng góp 31.318 dân công (tính ra thành 1.296.078 ngày công) làm công tác vận chuyển, sửa chữa cầu đường, dựng kho lán.

3. Lực lượng ta tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ gồm bốn đại đoàn bộ binh (thiếu Trung đoàn 66) và Đại đoàn công - pháo 351 (gồm Trung đoàn Lựu pháo 45, Trung đoàn sơn pháo 675, 4 đại đội súng côi, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn công binh công trình).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 13 Tháng Mười Hai, 2021, 08:52:47 pm

Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra thành ba đợt trong gần hai tháng.

Ngày 13-3, từ những trận địa tiến công và bao vây mới xây dựng, ta mở đợt tiến công thứ nhất đánh các cứ điểm vòng ngoài của địch ở phía bắc và đông - bắc. Chỉ trong bốn ngày, từ 13 đến 17-3, với hai trận đánh lớn then chốt đầu tiên là Him Lam và Độc Lập, quân ta đã đập vỡ hệ thống phòng ngự của phân khu bắc và một trung tâm đề kháng của phân khu trung tâm, giành thắng lợi giòn giã, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển.

Đợt tiến công thứ hai của ta diễn ra rất quyết liệt.

17 giờ ngày 30-3, cuộc tiến công vào các ngọn đồi phía đông bắt đầu. Tại đồi A1, cứ điểm quan trọng nhất ở phía đông, qua nhiều lần giành đi giật lại với nhau từng tấc đất, kết quả là ta và địch mỗi bên chiếm giữ một nửa quả đồi. Tại đồi C1, địch cho quân phản kích, đánh chiếm lại. Sau bốn ngày đêm chiến đấu, ta chiếm một nửa đồi, địch chiếm một nửa.

Như vậy là đợt hai chiến dịch đã giành được thắng lợi quan trọng nhưng chưa hoàn thành mục đích đề ra. Nhằm khắc phục hiện tượng hữu khuynh tiêu cực, Đảng uỷ chiến dịch phát động một đợt sinh hoạt chính trị đấu tranh với tư tưởng cầu an dao động, ngại gian khổ, hy sinh, nâng cao lòng tin tưởng vào thắng lợi và tinh thần quyết chiến quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận. Đây là một thành công nổi bật về công tác chính trị, tư tưởng của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở một thời điểm nóng bỏng của trận quyết chiến chiến lược cuối cùng.

Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ đạo tiếp tục củng cố và xây dựng trận địa, siết chặt vòng vây, bao vây đánh lấn, bắn tỉa làm cho phạm vi phòng ngự của địch bị thu hẹp, tiếp tế khó khăn.

Ngày 1-5, đợt tiến công thứ ba của quân ta bắt đầu. Trên cơ sở kết quả chiến đấu của hai đợt trước, quân ta tiếp tục đánh chiếm cứ điểm cuối cùng của địch ở phía đông và chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Về phía quân Pháp, đứng trước nguy cơ sắp mất Điện Biên Phủ, Bộ Chỉ huy quần đội Pháp đề ra nhiều biện pháp hòng cứu vãn tình hình ngày càng nguy ngập. Chúng định tiến công lên Việt Bắc để cắt đứt tiếp tế của ta nhưng không đủ quân thực hiện. Chúng định mở đường tháo chạy về Thượng Lào, nhưng thấy mạo hiểm, cũng không dám làm. Pháp hai lần cầu cứu Mỹ dùng máy bay oanh tạc hạng nặng ném bom xuống đội hình quân ta ở Điện Biên Phủ. Nhưng, vì phe đa số trong giới cầm quyền Mỹ, cũng như Chính phủ Anh không tán thành, đề nghị của Pháp bị bỏ qua.

Từ khi Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu nổ súng, hoạt động của các chiến trường phối hợp trên toàn quốc được đẩy mạnh lên ở mức độ cao. Nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công, bãi khoá, bãi thị của các tầng lớp nhân dân ở các đô thị đòi chồng con, chống giặc bắt lính và đòi hoà bình liên tiếp nổ ra. Chưa bao giờ đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị lại kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng như thời kỳ này.

Tại đồng bằng và trung du Bắc Bộ, các đường giao thông số 1, số 21, số 22, liên tiếp bị đánh. Đường số 5 thường xuyên bị cắt đứt. Các đơn vị chủ lực đánh những trận tập kích, phục kích quy mô vừa, diệt nhiều sinh lực địch. Nhiều trận đánh đồn bằng địch vận, bằng bao vây bức hàng, bức rút, bằng "hù doạ" đạt kết quả tốt.

Trước nguy cơ bị tiêu diệt và để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn của quân nguỵ, địch phải rút quân thu hẹp vùng chiếm đóng. Phần lớn đồng bằng Bắc Bộ được giải phóng.

Ở Bình - Trị - Thiên, quân ta đã đánh nhiều trận phục kích trên đường xe lửa, đánh nhiều trận tập kích, phục kích khá lớn ở An Hoà, Võ Xá, Ưu Điềm, Phò Trạch.

Tại miền Nam Trung Bộ, quân và dân Liên khu V chặn đứng đợt tiến công Atlăng 2 của địch, tập kích lần thứ hai vào thị xã Plâycu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Đặc biệt là trận phục kích đánh địch rút quân từ An Khê về co cụm lại ở Plâycu, ta tiêu diệt GM1001, diệt và làm bị thương hàng nghìn tên, thu nhiều xe cộ, vũ khí của chúng. Đây là thắng lợi to lớn của ta ở Liên khu V và Tây Nguyên.

Ở Nam Bộ, chiến tranh du kích được đẩy mạnh khắp nơi. Tiểu đoàn 307 tiêu diệt hệ thống đồn bốt khu An Biên. Bộ đội địa phương Cần Thơ đánh Rạch Chanh, Tràm Chẹt, bao vây địch ở Giồng Riềng. Tiểu đoàn 308 đánh Kế Sách. Ở Gò Công, chỉ trong một đêm, nhân dân và bộ đội hạ 132 đồn bốt và tháp canh địch.

Đợt vận động tiến công địch của quân, dân các địa phương ở Nam Bộ cũng đạt kết quả lớn. Hàng vạn binh lính nguỵ bỏ đồn bốt trở về với gia đình. Nguỵ quân, nguỵ quyền ở nhiều nơi tan rã. Một số vùng được giải phóng, nhiều căn cứ du kích, khu du kích được mở rộng và xây dựng thêm. Phong trào toàn dân đánh giặc và thế tiến công mới của quân và dân Nam Bộ ở thời kỳ này chẳng những đã làm thất bại âm mưu bình định miền Nam của địch, mà còn giam chân một bộ phận quan trọng quân cơ động của chúng, không cho chúng điều thêm lực lượng từ Nam Bộ để tiếp viện cho Điện Biên Phủ và các chiến trường khác.

Tại mặt trận Điện Biên Phủ, sau 56 ngày đêm2 liên tục chiến đấu, ngày 7-5-1954, quân ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, kết thúc oanh liệt cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của quân và dân ta.

Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh nhân dân thần kỳ, thật xứng đáng "được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc"3.

Sau này, khi nói về thất bại của Pháp trong cuốn Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Giuyn Roa đã thừa nhận: "Trên toàn thế giới, Oatéclô trước đây không gây tiếng vang bằng, Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây, báo trước sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng hoà. Tiếng sấm Điện Biên Phủ vẫn hãy còn vang vọng"4.
________________________________
1. Binh đoàn cơ động của quân đội Pháp từ chiến trường Triều Tiẽn mới được điều sang.
2. Chiến dịch Điện Biên Phủ tính từ khi mở màn (13-3-1954) đến khi kết thúc (7-5-1954) diễn ra trong 56 ngày 55 đêm.
3. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 90.
4. Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr. 579.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Mười Hai, 2021, 11:13:58 pm

CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ -
TÌNH HÌNH ĐỊCH VÀ CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN CỦA TA1
(Trích)

Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía tây vùng rừng núi Tây Bắc. Cánh đồng Điện Biên Phủ chiều dài khoảng 18km, chiều rộng từ 6 đến 8km. Đây là cánh đồng lớn nhất, giàu có nhất và dân cư đông đúc nhất trong bốn cánh đồng lớn ở Tây Bắc. Điện Biên Phủ ở gần biên giới Việt - Lào, nằm trên ngã ba nhiều đường lớn và đường nhỏ quan trọng, phía đông - bắc nối liền với Lai Châu, phía đông và đông - nam nối liền với Tuần Giáo, Sơn La, Nà Sản, phía tây thông với Luông Prabăng, phía nam thông với Sầm Nưa2. Đối với đế quốc Pháp - Mỹ, Điện Biên Phủ là một địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, là một vị trí chiến lược cơ động ở giữa miền Bắc Việt Nam, Thượng Lào và miền tây nam Trung Quốc, có thể trở thành một căn cứ lục quân và không quân có tác dụng rất lợi hại trong âm mưu xâm lược của chúng ở vùng Đông Nam Á.

Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ lúc đầu có khoảng sáu tiểu đoàn, sau tăng lên dần để đối phó với cuộc tiến công của ta. Khi quân ta bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng của chúng đã tăng lên đến 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh; trong quá trình chiến dịch, chúng tiếp tục tăng thêm 4 tiểu đoàn và 2 đại đội nhảy dù, tổng cộng là 17 tiểu đoàn bộ binh. Phần lớn các lực lượng này gồm các đơn vị Âu - Phi và các đơn vị nhảy dù tinh nhuệ. Ngoài ra, còn có ba tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, một đại đội xe tăng, một đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và một phi đội không quân thường trực có 14 chiếc3. Tổng số binh lực là 16.200 tên.

Lực lượng của địch ở Điện Biên Phủ được bố trí thành tập đoàn cứ điểm gồm ba phân khu yểm hộ lẫn nhau, tất cả có 49 cứ điểm. Mỗi cứ điểm đều có khả năng phòng ngự; nhiều cứ điểm được tổ chức lại thành những cụm cứ điểm gọi là "trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp", có lực lượng cơ động, có hoả lực của mình, có hệ thống công sự vững chắc, xung quanh có hào giao thông và hàng rào dây thép gai, có khả năng độc lập phòng ngự khá mạnh. Mỗi một phân khu gồm có nhiều trung tâm đề kháng kiên cố như vậy. Mỗi một trung tâm đề kháng cũng như toàn bộ tập đoàn cứ điểm đều được che chở bằng hệ thống công sự nằm chìm dưới mặt đất, bằng một hệ thống công sự phụ (hàng rào hoặc bãi dây thép gai, bãi mìn) và bằng một hệ thống hoả lực rất mạnh.

Phân khu quan trọng hơn hết là phân khu trung tâm ở ngay giữa làng Mường Thanh, tức là châu lỵ Điện Biên Phủ. Ở đây, tập trung gần 2/3 lực lượng của địch (tám tiểu đoàn gồm năm tiểu đoàn chiếm đóng và ba tiểu đoàn cơ động), có nhiều trung tâm đề kháng yểm hộ lẫn nhau và bao bọc lấy cơ quan chỉ huy, các căn cứ hoả lực và căn cứ hậu cần, đồng thời bảo vệ sân bay. Phía đông phân khu có cả một hệ thống điểm cao rất lợi hại, đặc biệt là các ngọn đồi A1, C1, D1, E1; những điểm cao đó là bộ phận phòng ngự quan trọng nhất của phân khu. Địch đã nhiều lần nhận định rằng Điện Biên Phủ là một pháo đài kiên cố, quân ta không thể nào công phá được. Chỉ lấy riêng phân khu trung tâm mà nói, thì lực lượng của địch đã khá mạnh, các điểm cao phía đông là những điểm cao quân ta khó lòng đánh được; chúng lại có sẵn một lực lượng pháo binh và cơ giới đủ sức đánh chặn mọi cuộc tiếp cận qua cánh đồng bằng phẳng, có sẵn một hệ thống công sự, dây thép gai và hào chiến đấu đủ sức tiêu hao và đánh lui mọi lực lượng tiến công, có sẵn một lực lượng cơ động gồm các tiểu đoàn nhảy dù sẵn sàng phối hợp với các trung tâm đề kháng để phản kích và tiêu diệt mọi lực lượng tiến công từ bên ngoài đến, có sẵn một lực lượng pháo binh cơ giới và không quân đủ sức ngăn chặn các lực lượng tiến công và tiêu diệt các căn cứ pháo binh của ta mà chúng cho là dễ phát hiện, vì buộc phải đặt ở sườn núi phía trong lòng chảo, còn nếu đặt ở phía ngoài thì lại quá tầm bắn cần thiết (khoảng cách từ những ngọn núi lớn khống chế Điện Biên Phủ đến sân bay là từ 10 đến 12 km).

Ở phía bắc, có phân khu bắc gồm các trung tâm đề kháng đồi Độc Lập và Bản Kéo. Đồi Độc Lập là một vị trí có nhiệm vụ án ngữ phía bắc, ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ hướng Lai Châu vào Điện Biên Phủ.

Him Lam, tuy thuộc khu trung tâm, nhưng cùng với các vị trí đồi Độc Lập và Bản Kéo là những vị trí ngoại vi đột xuất nhất của địch, có nhiệm vụ án ngữ phía đông - bắc, ngăn chặn cuộc tiến công của quân ta từ hướng Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Ở phía nam, có phân khu nam còn gọi là phân khu Hồng Cúm, có nhiệm vụ ngăn chặn quân ta tiến công từ phía nam lên, đồng thời giữ đường liên lạc với Thượng Lào.

Hoả lực pháo binh được bố trí thành hai căn cứ: một căn cứ ở Mường Thanh, một căn cứ nữa ở Hồng Cúm, có thể yểm hộ lẫn nhau và yểm hộ cho các cứ điểm xung quanh. Ngoài hoả lực chung của tập đoàn cứ điểm, mỗi trung tâm đề kháng còn có hoả lực riêng bao gồm nhiều súng cối các cỡ, súng phun lửa và các loại súng bắn thẳng bố trí thành một hệ thống hoả lực chặt chẽ yểm hộ cho bản thân mình và các cứ điểm xung quanh.

Điện Biên Phủ có hai sân bay. Ngoài sân bay chính ở Mường Thanh lại còn có một số sân bay dự bị ở Hồng Cúm, ngày ngày được nối liền với Hà Nội, Hải Phòng bằng một cầu hàng không, trung bình mỗi ngày có gần 100 lần chiếc máy bay vận tải tiếp tế khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù khoảng 100 đến 150 tấn. Như vậy là vượt khá xa những dự tính ban đầu của chúng4.

Máy bay trinh sát và khu trục của phi đội thường trực luôn luôn bay lượn trên vùng trời Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ bắn phá và oanh tạc quân ta để yểm hộ cho tập đoàn cứ điểm thì do máy bay địch xuất phát từ các căn cứ Gia Lâm hay Cát Bi đảm nhiệm, về sau có một bộ phận xuất phát từ tàu sân bay của Mỹ đậu ở vịnh Hạ Long.

Với lực lượng hùng hậu và cơ cấu phòng ngự vững chắc như trên, Nava đã từng nhận định rằng Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất chưa từng có ở Đông Dương, là một "pháo đài không thể công phá"5. Do nhận định chủ quan đó, mà địch đã phán đoán rằng quân ta có ít khả năng tiến công vào Điện Biên Phủ, và nếu quân ta mạo hiểm tiến công vào thì càng tốt, vì chắc chắn là quân ta không thể nào tránh khỏi thất bại. Chúng đã coi Điện Biên Phủ là một chiến trường được chuẩn bị sẵn để gây tổn thất nặng cho chủ lực ta. Đã có lần chúng láo xược thả truyền đơn thách thức quân ta tiến công Điện Biên Phủ.
_________________________________
1.  Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
2.  Do địa hình bằng phẳng, vào mùa khô thung lũng Điện Biên Phủ là một địa bàn thuận tiện cho việc sử dụng xe tăng, cơ giới. Sân bay do quân đội Nhật xây dựng trước đây trên cánh đồng Mường Thanh, có thể mở rộng thành một căn cứ không quân quan trọng. Đường số 41 là trục đường lớn duy nhất theo chiều từ bắc tới nam về hướng Luông Prabăng, kinh đô nước Lào. Phía đông và phía tây thung lũng là hai dãy núi chạy song song theo chiều bắc - nam và khép gần sát nhau ở hai đầu. Dãy Pú Hồng ở phía đông gồm những đỉnh núi cao, cây thưa, thoải dần về phía thung lũng. Dãy Pú Tà Cọ ở phía tây, núi cao, rậm rạp, dốc đứng về phía thung lũng.

Ngay sát thung lũng về phía đông - bắc, có một dải địa hình đặc biệt, gồm một số điểm cao nổi lên mặt cánh đồng trên dưới 30 m và hình thành một bức bình phong che chở cho thung lũng trên hướng Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.

3.  Ngoài vũ khí thông thường, quân địch ở Điện Biên Phủ còn được trang bị một số lớn khí tài đặc biệt như súng phun lửa, súng đại liên nhiều nòng, mìn đĩa, mìn napan chôn dưới đất, phương tiện chống đạn khói, máy hồng ngoại để quan sát và bắn đêm, V.V.; với khoảng 3.000 tấn dây thép gai, việc sử dụng dây thép gai của địch ở Điện Biên Phủ đã gấp ba lần mức bình thường của quân đội Pháp trên chiến trường Đông Dương.
4.  Theo kinh nghiệm rút ra từ tập đoàn cứ điểm Nà Sản, quân địch dự tính, để duy trì sức chiến đấu ở Điện Biên Phủ, đủ khả năng phòng ngự và chiến thắng được quân ta, mức tiếp tế yêu cầu mỗi ngày khoảng 70 tấn trong điều kiện chiến đấu thông thường và 90 tấn trong điều kiện chiến đấu ác liệt.
5.  Cho tới khi ta tiến công, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được tăng cường và bố trí với một binh lực tập trung mạnh mẽ chưa từng có: 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của địch gồm:

5/7 RTA, Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn Angiêri thứ 7.
3/3 RTA, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Angiêri thứ 3.
2/1 RTA, Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn Angiêri thứ 1.
1/4 RTM, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn Marôc thứ 4.
1/13 DBLE, Tiểu đoàn 1 thuộc bán Lữ đoàn lê dương thứ 13.
3/13 DBLE, Tiểu đoàn 3 thuộc bán Lữ đoàn lê dương thứ 13.
1/2 REI, Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn lê dương thứ 2.
3/3 REI, Tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn lê dương thứ 3.
1er BPC, Tiểu đoàn 81 dù thuộc địa.
8é BPC, Tiểu đoàn 81 dù thuộc địa.
2é BAT, Tiểu đoàn Thái thứ 2.
3é BAT, Tiểu đoàn Thái thứ 3.

Riêng về quân dù, địch đã đưa lên đây 7/10 tổng số quân dù ở Đông Dương, trong đó có 100% các đơn vị lính dù người Âu và lê dương. Có đơn vị như bán Lữ đoàn lê dương ngoại quổc thứ 13 đã có truyền thống hơn 100 năm. Các sĩ quan của địch cũng đều là loại cốt cán, khá bậc nhất của địch.

Các đơn vị pháo binh của địch gồm:
2/4 RAC, Tiểu đoàn 2 pháo 105 ly Trung đoàn 4 pháo thuộc địa.
RAC, Tiểu đoàn 3 pháo 105 ly Trung đoàn 10 pháo thuộc địa.
Một đại đội pháo 155 ly thuộc 4/4 RAC - Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 4 pháo thuộc địa và hai đại đội pháo cối 120 ly, tổng cộng 20 khẩu.

Máy bay của địch gồm bảy khu trục, sáu liên lạc trinh sát và một lên thẳng.

Hệ thống bố trí phòng ngự của địch có 49 cứ điểm, khoanh thành tám cụm, mỗi cụm mang tên một thiếu nữ.
1. Gabrien (Gabrielle) tức đồi Độc Lập.
2. Bêatrixơ (Béatrice) tức Him Lam.
3. An Mari (Anne Marie) gồm các cứ điểm ở tây bắc sân bay như Bản Kéo, Căng Na...
4. Huyghét (Huguete) cụm cứ điểm tây sân bay Mường Thanh, hữu ngạn sông Nậm Rốm.
5. Clôđin (Claudine) cụm cứ điểm nam sân bay Mường Thanh, hữu ngạn sông Nậm Rốm.
6. Êlian (Eliane) cụm cứ điểm phía đông, tả ngạn sông Nậm Rốm khu vực Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtri.
7. Đôminích (Dominique) cụm cứ điểm đông sân bay, tả ngạn sông Nậm Rốm.
8. Idaben (Isabelle) tức Hồng Cúm.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 08:22:52 am

Về phía ta, ngay sau khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, chúng ta đã nhận định rằng: dưới sự uy hiếp của chủ lực ta, quân địch có khả năng rút khỏi Điện Biên Phủ, đồng thời cũng có khả năng tăng cường phòng thủ ở đó, tổ chức Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm; và nếu khả năng thứ hai biến thành hiện thực thì đó là một cơ hội tốt để quân ta tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của chúng. Do dự kiến nói trên, nên trong khi chủ lực ta mở cuộc tiến công lên Lai Châu, ta đã cho một bộ phận cấp tốc tiến về phía tây, cắt liên lạc giữa Lai Châu và Điện Biên Phủ, tiến hành bao vây Điện Biên Phủ, bám sát địch, chuẩn bị chiến trường.

Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh. Tập đoàn cứ điểm là hình thức phòng ngự mới nhất của địch trên chiến trường Đông Dương lúc bấy giờ. Hình thức đó đã từng hình thành với một trình độ còn thấp ở Hoà Bình vào cuối năm 1951, đã từng xuất hiện ở Cánh Đồng Chum và Nà Sản vào năm 1952 và đầu năm 1953. Đứng trước hình thức phòng ngự mới nhất, mạnh nhất của địch, chúng ta đã từng đặt ra vấn đề nghiên cứu để giải quyết là nên trực tiếp tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm hay không nên.

Trước đây, khi bộ đội ta còn yếu, hình thức chiếm đóng và tác chiến của địch là cứ điểm nhỏ và đội ứng chiến nhỏ. Khi bộ đội ta đã đủ sức tiêu diệt viện binh nhỏ và cứ điểm nhỏ thì hệ thống bố trí của địch lại được phát triển và củng cố thêm một bước, dựa vào những cứ điểm lớn, có công sự ngày càng kiên cố, có binh lực và hoả lực ngày càng mạnh hơn, đồng thời dựa vào những đội quân ứng chiến tương đối lớn. Về sau, trước sự lớn mạnh của quân ta, khi một cứ điểm của địch lâm vào nguy cơ bị tiêu diệt thì chúng có hai cách đối phó: một là rút quân để bảo tồn binh lực, hai là tăng cường thêm binh lực và tổ chức phòng ngự theo hình thức tập đoàn cứ điểm.

Cách tổ chức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm không phải là một sáng kiến của quân đội xâm lược của đế quốc Pháp. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, bọn phát xít Đức đã từng vận dụng cách phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm, cũng gọi là "chiến lược con nhím", hòng ngăn chặn những cuộc tiến công như vũ bảo của Hồng quân Liên Xô tiến về hướng Béclin. Các tướng tá Pháp - Mỹ chỉ đem những kinh nghiệm của bọn phát xít Đức vận dụng vào chiến trường Đông Dương, hòng ngăn chặn những bước tiến của quân ta.

Đứng trước phương sách phòng ngự mới của địch, cách đánh của ta phải như thế nào để giành được thắng lợi lớn nhất, trong một tình hình nhất định về so sánh lực lượng giữa ta và địch, cần nhấn mạnh ở đây một lần nữa rằng trong khi giải quyết vấn đề cách đánh về chiến dịch cũng như về chiến thuật, bao giờ chúng ta cũng xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản về chỉ đạo tác chiến, tức là nguyên tắc tiêu diệt sinh lực địch và nguyên tắc đánh chắc thắng.

Xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản nói trên, khi hình thức tập đoàn cứ điểm mới xuất hiện, khả năng chiến đấu của quân ta về chiến dịch và chiến thuật còn có hạn, chúng ta đã từng chủ trương không nên trực tiếp đánh vào tập đoàn cứ điểm, mà chỉ tìm cách kiểm giữ chủ lực của địch trong tập đoàn cứ điểm, còn chủ lực của ta thì sử dụng đánh vào một hướng khác, ở đó địch tương đối yếu và sơ hở hơn, ta có nhiều điều kiện thuận lợi để tiêu diệt sinh lực địch hơn. Chúng ta đã từng vận dụng cách đánh đó trong Chiến dịch Hoà Bình. Địch tập trung lực lượng thành tập đoàn cứ điểm ở Hoà Bình thì hướng tiến công chủ yếu của quân ta không phải là Hoà Bình mà là ở những nơi khác; chúng ta đã từng tiêu diệt viện binh của địch và cứ điểm của địch ở ven bờ sông Đà và đã mở cuộc tiến công vào vùng sau lưng địch ở Bắc Bộ, thu được nhiều thắng lợi lớn. Về sau, khi địch tập trung lực lượng ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản thì sau khi tiến hành một hai cuộc chiến đấu ở đây, một bộ phận sinh lực địch bị tiêu diệt, nhưng lực lượng ta cũng bị tiêu hao, ta cũng lại chủ trương trước mắt không mở cuộc tiến công trực tiếp vào Nà Sản. Bộ đội tình nguyện Việt Nam lại phối hợp với Quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tiến công vào hướng Thượng Lào, phía tây - nam Nà Sản và đã thu được thắng lợi lớn.

Nhưng cách đánh trên đây không phải là cách đánh duy nhất. Chúng ta đã nhận định rằng, vấn đề trực tiếp tiến công vào tập đoàn cứ điểm, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm là một vấn đề nhất định phải được giải quyết, là một bước tất nhiên quân đội ta phải trải qua trong quá trình phát triển của cuộc đấu tranh vũ trang và trên con đường trưởng thành của quân đội. Thật vậy, chúng ta có tiêu diệt được tập đoàn cứ điểm thì mới đánh bại được hình thức đối phó mới nhất, cao nhất của địch, đánh bại được sự cố gắng lớn nhất của chúng trong bố trí phòng ngự, gây cho chúng một sự khủng hoảng mới, tạo nên cục diện mới, mở đường cho quân đội ta tiến lên và thúc đẩy cuộc đấu tranh vũ trang của ta phát triển.

Vì vậy, từ khi hình thức tập đoàn cứ điểm xuất hiện, chúng ta đã dày công nghiên cứu hình thức phòng ngự mới đó của địch, đánh giá và phân tích chỗ mạnh và chỗ yếu của nó, đề ra những nguyên tắc chiến thuật cũng như những yêu cầu về kỹ thuật và trang bị, những khó khăn cần được khắc phục, để rèn luyện cho quân đội ta, chuẩn bị cho quân đội ta tiến lên giải quyết thắng lợi nhiệm vụ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch. Và, có thể nói rằng bước vào Thu Đông 1953, thì quân đội ta đã được chuẩn bị để làm nhiệm vụ đó. Chính vì vậy mà khi phát hiện địch có khả năng tăng cường lực lượng lên Điện Biên Phủ và biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm thì Trung ương Đảng ta đã nhanh chóng hạ quyết tâm tranh thủ thời cơ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chúng ta đã căn cứ vào những khả năng mới của quân đội ta, đồng thời cũng căn cứ vào đặc điểm của chiến trường Điện Biên Phủ, căn cứ vào những điều kiện tác chiến trên quy mô lớn của ta cũng như của địch trên chiến trường này.

Trong quá trình diễn biến của tình hình chiến sự mùa Đông 1953, Điện Biên Phủ đã dần dần trở thành điểm trung tâm của kế hoạch Nava. Chúng ta có tiêu diệt được Điện Biên Phủ thì mới đập tan được âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của đế quốc Pháp - Mỹ. Tuy nhiên, sự cần thiết phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tầm quan trọng của Điện Biên Phủ không thể coi là cơ sở chủ yếu để hạ quyết tâm đánh Điện Biên Phủ. Vấn đề quyết định là, căn cứ vào sự so sánh lực lượng cụ thể giữa ta và địch lúc bấy giờ, căn cứ vào những khả năng mới của quân ta và những khả năng mới của địch, ta có thể bắt đầu vận dụng cách đánh trực tiếp vào tập đoàn cứ điểm bằng cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ hay không; nói một cách khác, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm rất mạnh, tiến công vào Điện Biên Phủ, ta có nắm chắc phần thắng lợi hay không.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 08:25:56 am

So với Nà Sản trước đây thì Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh hơn nhiều. Không những binh lực và hoả lực mạnh hơn gấp bội mà tổ chức phòng ngự cũng hiện đại hơn. Nếu Nà Sản là một tập đoàn cứ điểm quy mô nhỏ hơn, chỉ gồm những trung tâm đề kháng đơn giản, thì Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm quy mô lớn, gồm nhiều trung tâm đề kháng phức tạp. Nava và bọn tướng tá Pháp - Mỹ đã đánh giá rất cao những chỗ mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, coi đó là một hình thức tập đoàn cứ điểm theo kiểu phức tạp, tổ chức phòng ngự ở một trình độ cao. Chúng đã đi đến kết luận: nếu quân đội ta đã không đánh được Hoà Bình và Nà Sản thì đương nhiên là không thể nào đánh được Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ là một pháo đài không thể công phá được.

Nava và bọn tướng tá Pháp - Mỹ lại còn cho rằng, ưu thế của chúng ở Điện Biên Phủ còn do chỗ vị trí của tập đoàn cứ điểm này nằm ở giữa núi rừng Tây Bắc rất xa những căn cứ hậu phương của ta. Chúng ta muốn đánh Điện Biên Phủ thì phải sử dụng một lực lượng bộ đội khá lớn, phải tổ chức và duy trì những tuyến cung cấp rất dài trong một thời gian khá lâu. Chúng cho rằng, theo những kinh nghiệm chúng đã thu được thì ta hoàn toàn không có khả năng giải quyết vấn đề chi viện cung cấp theo một quy mô lớn, trong một thời gian dài như vậy. Đó là chưa nói đến những trở ngại và tổn thất rất lớn mà máy bay oanh tạc của chúng có thể gây ra cho việc chuyển quân và việc tiếp tế của ta. Còn như nói rằng, Điện Biên Phủ nằm ở giữa một thung lũng xung quanh đều có núi rừng bao bọc, thì thung lũng này là một thung lũng khá rộng, đường giao thông từ Tuần Giáo đi vào là những đường nhỏ, quân ta chắc chắn không thể vận chuyển pháo binh vào gần được, lại càng không thể giải quyết vấn đề tiếp cận qua cánh đồng bằng phẳng để tiến công vào tập đoàn cứ điểm. Như vậy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ lại càng không thể công phá được.

Nava đã căn cứ vào những lý do nói trên để hạ quyết tâm chiến lược: ra sức tăng cường Điện Biên Phủ, tiếp nhận cuộc chiến đấu với chủ lực của ta, cho Điện Biên Phủ là một chiến trường lý tưởng được lựa chọn để gây cho chủ lực ta những tổn thất hết sức nặng nề nếu ta dám mở cuộc tiến công mạo hiểm.

Những chỗ mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ do Nava nêu lên không phải là hoàn toàn không phù hợp với sự thực. Sai lầm của Nava là ở chỗ chỉ thấy chỗ mạnh của tập đoàn cứ điểm mà không thấy hết chỗ yếu của nó. Sai lầm cơ bản hơn nữa của y là, với cách nhìn của một nhà quân sự tư sản, y không thể thấy hết được những khả năng lớn lao của một quân đội nhân dân và của cả nhân dân một nước đang chiến đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, lại càng không hiểu và không thấy được quá trình phát triển tiến lên, những tiến bộ và cố gắng vượt bậc của quân đội ta và của nhân dân ta, không hiểu được và không đánh giá được những khả năng lớn lao của tinh thần đấu tranh bất khuất của một dân tộc, của tinh thần quyết chiến quyết thắng của một quân đội nhân dân.

Khi chúng ta hạ quyết tâm mở cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, chúng ta có thấy hết những chỗ mạnh của địch và những khó khăn, trở ngại mà chúng ta có thể gặp phải hay không? Những điều đó chúng ta đều nhận thấy. Nhưng đồng thời chúng ta lại thấy những chỗ yếu của địch mà quân ta có thể lợi dụng; hơn nữa chúng ta lại thấy khả năng to lớn của quân đội và nhân dân ta, có thể vượt qua mọi khó khăn, khắc phục những chỗ mạnh của địch để giành lấy thắng lợi.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ có đủ những yếu tố mạnh của mọi tập đoàn cứ điểm, lại có những chỗ mạnh đặc biệt của nó nữa. Nhưng do vị trí của nó nằm cô lập ở giữa núi rừng trùng điệp và mênh mông của miền Tây Bắc và Thượng Lào, rất xa những căn cứ hậu phương, nhất là những căn cứ không quân lớn của địch, mọi việc tăng viện hoặc tiếp tế đều hoàn toàn dựa vào đường không. Do đó, nếu đường hàng không bị hạn chế hay bị cắt đứt thì tập đoàn cứ điểm rất mạnh này sẽ ngày càng lộ rõ nhược điểm của mình, có thể mất dần sức chiến đấu và lâm vào thế bị động phòng ngự trong những điều kiện ngày càng khó khăn; trường hợp lâm nguy cũng khó lòng rút quân được toàn vẹn. Đó là chưa nói đến tinh thần chiến đấu của binh lính địch nói chung là bạc nhược, nếu gặp khó khăn thiếu thốn hoặc thất bại thì lại càng kém sút thêm.

Về phía ta, thì lực lượng ta là những đơn vị chủ lực tinh nhuệ có tinh thần chiến đấu cao, trình độ trang bị kỹ thuật có tiến bộ, hăng hái phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt địch. Chúng ta có thể tập trung ưu thế binh lực, hoả lực để đánh địch, quân ta lại đã có những kinh nghiệm nhất định về đánh địch trong công sự vững chắc, đã được bước đầu huấn luyện để đánh tập đoàn cứ điểm, có khả năng khắc phục khó khăn, giải quyết những vấn đề cần thiết để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm. Vấn đề cung cấp tiếp tế lương thực và đạn dược cho một lực lượng lớn ở xa hậu phương trong một thời gian dài đương nhiên có những khó khăn rất lớn, nhưng ta lại có sức mạnh của một hậu phương rộng lớn, có toàn dân, toàn Đảng, tập trung toàn lực để chi viện tiền tuyến, bảo đảm lương thực, đạn dược cho quân đội làm tròn nhiệm vụ.

Chúng ta cũng đã từng cân nhắc đến khả năng tăng viện của địch trong khi Nava còn có sẵn trong tay một lực lượng cơ động lớn. Do những cuộc tiến công mùa Đông của ta, khối cơ động đó đã bị phân tán rất nhiều. Chúng ta dự đoán, trong thời gian tới lực lượng địch có thể bị phân tán nhiều hơn nữa. Cho nên chúng ta đã đánh giá cao tác dụng của các chiến trường phối hợp, trong việc tạo điều kiện tốt cho chủ lực ta tiến công tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, hạn chế sự tăng viện của địch lên mặt trận Điện Biên Phủ.

Xuất phát từ sự phân tích trên đây, luôn luôn nắm vững nguyên tắc tiêu diệt sinh lực địch và đánh chắc thắng, Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Trong khi Nava chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với chủ lực ta thì chúng ta cũng chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với địch. Chúng ta hạ quyết tâm tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ của ta lên mặt trận Điện Biên Phủ để tiêu diệt những binh lực tinh nhuệ nhất của địch trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của chúng trên chiến trường Đông Dương1.

Quyết tâm rất lớn trên đây quán triệt phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt mà Trung ương đã đề ra cho việc chỉ đạo tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954.

Thật vậy, nắm vững phương châm tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt trong thời kỳ đầu của chiến cuộc Đông Xuân, chúng ta đã chủ trương dùng từng bộ phận của chủ lực ta mở nhiều cuộc tiến công vào những hướng địch tương đối sơ hở, trong khi đó thì ở Điện Biên Phủ quân ta giam hãm chủ lực địch để tạo điều kiện cho quân ta tiêu diệt địch trên các hướng khác, đồng thời tiến hành mọi công tác chuẩn bị cần thiết để mở cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Bước sang thời kỳ thứ hai của chiến cuộc Đông Xuân, công tác chuẩn bị trên mặt trận Điện Biên Phủ đã được hoàn thành, nhiều điều kiện thuận lợi mới đã được tạo ra do những chiến thắng liên tiếp của quân ta trên khắp các chiến trường, chúng ta đã mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Nếu chủ trương của ta trước đây là tránh những nơi địch mạnh, chọn những hướng chiến lược quan trọng mà địch tương đối yếu để tiến công tiêu diệt địch, thì bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã tập trung đại bộ phận chủ lực của ta tiến công vào tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch. Nếu trong các cuộc tiến công của ta trong thời kỳ đầu, hình thức tác chiến chủ yếu là đánh vận động và đánh công sự vững chắc nhỏ, thì bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, hình thức tác chiến là một trận đánh công sự vững chắc quy mô rất lớn có tính chất trận địa. Đứng về ý nghĩa quyết chiến chiến lược mà nói cũng như đứng về quy mô và hình thức của chiến dịch, cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã đánh dấu một biến chuyển mới, một sự phát triển mới trong sự lãnh đạo đấu tranh vũ trang của Đảng ta cũng như trong quá trình lớn mạnh của quân đội ta. Thắng lợi của chiến dịch to lớn này chắc chắn sẽ mở ra một cục diện mới cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

Thế là từ khi cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu, nhiệm vụ của chủ lực ta ở Điện Biên Phủ, lúc này đã trở thành mặt trận chính diện của cả nước, không phải là bao vây, giam giữ quân địch nữa mà là chuyển sang tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm của địch.

Nhiệm vụ của bộ đội ta trên các chiến trường cả nước là phối hợp hoạt động với Điện Biên Phủ, tiêu hao và tiêu diệt sinh lực địch, phân tán giam giữ lực lượng của chúng, giảm đến mức tối đa khả năng của chúng tăng thêm cho mặt trận Điện Biên Phủ.
_____________________________________
1. Ta sử dụng chín trung đoàn bộ binh (gồm 27 tiểu đoàn) và toàn bộ pháo binh, công binh, phòng không và một bộ phận pháo cao xạ (phương án tác chiến mùa Xuân năm 1954 - Báo cáo của Tổng Quân uỷ trình Bộ Chính trị ngày 6-12-1953).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 08:28:15 am

Sau khi đã hạ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, một vấn đề hết sức quan trọng được đặt ra là vấn đề tiêu diệt bằng cách nào. Đó là vấn đề phương châm của chiến dịch.

Đi vào phương châm chiến dịch của ta tại mặt trận Điện Biên Phủ, thì trong thời gian đầu khi quân địch mới nhảy dù xuống, quân ta mới thực hiện bao vây Điện Biên Phủ, lực lượng của địch chưa được tăng cường, bố trí của chúng còn tương đối sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố, ta đã có dự kiến tranh thủ thời gian, lợi dụng những điều kiện sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa để đánh nhanh, giải quyết nhanh.

Nếu tiến hành chiến dịch theo phương châm này thì sẽ tập trung ưu thế binh lực, hoả lực, chia làm nhiều hướng, có hướng chính, có hướng phối hợp, đánh sâu vào trong lòng địch, chia cắt tập đoàn cứ điểm ra từng bộ phận; tập trung ưu thế binh lực, hoả lực, đánh vào chỗ sơ hở nhất và quan trọng nhất của địch, lợi dụng sơ hở của chúng để tiêu diệt bộ phận quan trọng của chúng; tiếp đó, tiếp tục giải quyết những bộ phận còn lại, hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm.

Đánh nhanh, giải quyết nhanh có nhiều điều lợi: quân ta đang sung sức, cuộc chiến đấu không kéo dài nên ít ngại tiêu hao, mỏi mệt. Thời gian của chiến dịch không dài, nên vấn đề tiếp tế lương thực, đạn dược có thể bảo đảm chắc chắn, không gặp trở ngại lớn.

Tuy nhiên, đánh nhanh giải quyết nhanh lại có một điều bất lợi rất lớn là quân ta, mặc dầu đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật để đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng chưa có kinh nghiệm thực tế, lần này là lần đầu đánh tập đoàn cứ điểm, lại gặp một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Bởi vậy, trong khi tiến hành công tác chuẩn bị, ta đã tiếp tục theo dõi tình hình địch và kiểm tra lại khả năng của ta. Chúng ta đã phát hiện địch có tăng cường lực lượng, xây dựng trận địa phòng ngự, tổ chức hệ thống phòng ngự khá vững chắc. Ở phía bắc, lúc đầu cao điểm Độc Lập chỉ là một vị trí tiền tiêu, dần dần địch đã tăng cường lực lượng lên tới một tiểu đoàn Âu - Phi và xây dựng thành một cứ điểm mạnh. Cao điểm Him Lam ở phía đông - bắc án ngữ con đường lớn độc đạo từ Tuần Giáo tới Điện Biên Phủ cũng được tăng cường, củng cố trở thành một trung tâm phòng ngự kiên cố vào bậc nhất của địch ở Điện Biên Phủ. Hồng Cúm lúc đầu chỉ là một cứ điểm ở phía nam, địch đã phát triển dần thành một cụm cứ điểm, có sân bay dự bị, có trận địa pháo binh riêng, có thể cùng pháo binh ở phân khu trung tâm yểm hộ lẫn nhau. Địch cũng đã đóng thêm một số cứ điểm ở phía tây sân bay Mường Thanh. Các điểm cao lợi hại phía đông vẫn là nơi địch mạnh hơn cả. Chúng có thể dựa vào đó để kéo dài chiến đấu phòng ngự... Nắm vững nguyên tắc đánh chắc thắng, chúng ta đã nhận định rằng, trong tình huống tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố, không còn ở vào tình trạng lâm thời chiếm lĩnh trận địa nữa, nếu đánh nhanh giải quyết nhanh thì không mười phần bảo đảm thắng lợi. Do đó, chúng ta đã kiên quyết xác định phương châm của chiến dịch là đánh chắc, tiến chắc.

Theo phương châm đánh chắc tiến chắc, chúng ta quan niệm Chiến dịch Điện Biên Phủ không phải là một trận đánh địch trong công sự vững chắc quy mô rất lớn và tiếp diễn liên tục trong mội thời gian ngắn từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, mà là một chiến dịch tiến công trận địa, quy mô rất lớn, nhưng lại gồm một loạt nhiều trận đánh địch trong công sự vững chắc, tiếp diễn trong một thời gian khá dài, tập trung ưu thế binh lực tiêu diệt địch từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ cứ điểm. Tiến hành chiến dịch theo phương châm đánh chắc, tiến chắc đưa đến nhiều khó khăn, trở ngại mới. Chiến dịch càng kéo dài, địch càng tăng cường công sự, lại có thể đưa thêm viện binh. Về phía ta thì hoạt động kéo dài, bộ đội có thể bị tiêu hao, mỏi mệt, khó khăn lớn nhất là khó khăn về cung cấp và tiếp tế.

Nhưng đánh chắc, tiến chắc thì bảo đảm chắc thắng. Nhìn chung, so sánh lực lượng giữa địch và ta thì ta có ưu thế binh lực, nhưng đó chỉ là ưu thế tương đối; nếu đánh từng bước thì ta có thể tập trung ưu thế tuyệt đối binh lực, hoả lực vào từng cuộc chiến đấu, bảo đảm chắc thắng cho từng cuộc chiến đấu. Đánh như vậy lại hợp với trình độ bộ đội của ta. Bộ đội ta lúc đó mới có kinh nghiệm đánh địch trong công sự vững chắc, tiêu diệt từng cứ điểm độc lập, do hai, ba đại đội hoặc một tiểu đoàn địch phòng giữ, nay cần tiến lên một bước tiêu diệt mỗi lần một hay một số cứ điểm, một tiểu đoàn nằm trong tập đoàn cứ điểm, có thể vừa đánh vừa học, bằng một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc gay go phức tạp nhưng không lớn lắm, tiến tới hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt toàn bộ quân địch. Chính cách đánh nói trên đã tạo nên bước nhảy vọt làm cho bộ đội ta chỉ trong một thời gian ngắn đã tiến vượt bậc từ chỗ mới tiêu diệt được cứ điểm độc lập, một tiểu đoàn của địch đến chỗ tiêu diệt cả một tập đoàn cứ điểm lớn và kiên cố của chúng.

Đánh chắc tiến chắc, chúng ta lại giữ được chủ động hoàn toàn, muốn đánh lúc nào thì đánh, muốn đánh nơi nào thì đánh; lúc nào chuẩn bị đầy đủ và chắc thắng thì đánh, không thì không đánh hoặc chưa đánh; nơi nào cần giữ và có thể giữ thì giữ, không thì không giữ; đánh một trận rồi thấy nên tiếp tục đánh ngay thì đánh, cần nghỉ ngơi để chấn chỉnh lực lượng và chuẩn bị trận sau cho tốt thì vẫn có thể nghỉ ngơi.

Đánh chắc tiến chắc, chúng ta lại có thế khoét sâu nhược điểm lớn nhất của địch là vấn đề tiếp tế vận tải. Chiến dịch càng kéo dài thì địch càng bị tiêu hao nhiều về sinh lực cũng như về vũ khí, đạn dược, càng gặp khó khăn nhiều về tiếp tế vận tải. Nếu ta khống chế được sân bay và hạn chế được đường tiếp tế duy nhất của chúng, nếu ta ra sức thắt chặt vòng vây thì địch càng thêm khốn đốn.

Nhìn chung chiến trường cả nước, thì nếu Chiến dịch Điện Biên Phủ tiến hành trong một thời gian dài, các chiến trường khác càng có điều kiện thuận lợi để tiêu diệt thêm nhiều sinh lực địch, giải phóng thêm nhiều đất đai, đồng thời làm tốt nhiệm vụ phối hợp với chiến trường chính.

Vì những lý do nói trên, chúng ta đã kiên quyết xác định phương châm của chiến dịch là đánh chắc, tiến chắc. Quyết định đó đòi hỏi một quyết tâm rất lớn, quyết tâm nắm vững nguyên tắc đánh chắc thắng trong việc chỉ đạo tác chiến, quyết tâm động viên toàn lực khắc phục muôn nghìn khó khăn trở ngại để bảo đảm chắc thắng cho chiến dịch.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 08:29:53 am

Địch có thể tăng cường, chúng tăng cường thì quân ta phải tiến hành nhiều cuộc chiến đấu hơn và những cuộc chiến đấu gay go hơn mới tiêu diệt được toàn bộ quân địch. Giữa việc cần thiết phải tiến hành nhiều cuộc chiến đấu gay go mà chắc chắn thắng lợi với việc tiến hành ít cuộc chiến đấu mà không nắm chắc phần thắng, chúng ta đã chọn giải pháp thứ nhất. Tuy nhiên, địch có thể tăng viện, nhưng không phải là tăng viện bao nhiêu cũng được, nhất là trong khi quân ta đã hạn chế việc tiếp tế vận chuyển của chúng, trong khi trên khắp các chiến trường cả nước quân ta lại tích cực hoạt động. Chúng tăng cường thì một mặt có thêm lực lượng để đối phó với ta, nhưng mặt khác cũng tăng thêm khó khăn cho chúng.

Bộ đội ta có thể lo ngại vì bị tiêu hao và mỏi mệt, nhưng không phải không có cách nào để tránh hoặc giảm bớt sự tiêu hao mỏi mệt đó. Chúng ta phải hết sức chăm lo giữ gìn sức khoẻ cho bộ đội, săn sóc việc ăn uống nghỉ ngơi, tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh ở mặt trận, lại phải tích cực đào công sự, ẩn nấp kín, chuẩn bị đầy đủ việc bổ sung quân số và nhanh chóng chấn chỉnh lực lượng sau mỗi trận chiến đấu để bảo đảm tác chiến liên tục. Hoạt động dài thì dễ bị tiêu hao mỏi mệt, nhưng so với địch thì ta ở tuyến ngoài, tiến hay lui, đánh hay nghỉ, đều chủ động; còn địch thì ở tuyến trong và bị động; bất cứ lúc nào đều phải ở luôn dưới hầm, tinh thần căng thẳng, luôn luôn lo sợ quân ta tiến công. Vì vậy, chúng ta quyết không sợ tiêu hao mỏi mệt, quyết tìm mọi cách để khắc phục những hiện tượng đó, bảo đảm toàn thắng cho chiến dịch.

Thời gian hoạt động kéo dài, quả thật vấn đề cung cấp tiếp tế là một vấn đề hết sức khó khăn đối với ta. Trong các chiến dịch trước như Chiến dịch Tây Bắc chẳng hạn, mặc dầu quy mô nhỏ hơn, lực lượng bộ đội ít hơn, chiến trường lại gần hậu phương ta hơn, mà cũng đã có những ngày bộ đội phải ăn cháo, lại có những lúc hầu như do khó khăn về cung cấp không giải quyết được mà phải bỏ ý định tác chiến. Chiến trường Điện Biên Phủ, ở cách xa hậu phương ta hàng 400-500 km, các tuyến đường chi viện nhiều quãng hết sức hiểm trở, nếu không quân địch đánh phá, nếu thời tiết không thuận lợi, thì việc chi viện mặt trận chắc chắn sẽ gặp những khó khăn trở ngại hết sức lớn lao. Nhưng chúng ta quyết không thể vì muốn tránh những khó khăn về chi viện cung cấp, mà lại áp dụng một phương châm tác chiến không bảo đảm thắng lợi. Ngược lại, để giành toàn thắng cho chiến dịch, chúng ta phải nâng cao tinh thần vượt qua gian khổ của tất cả các cán bộ và chiến sĩ, nâng cao tinh thần phục vụ tiền tuyến của các đơn vị cung cấp, vận tải tiếp tế, của các tổ chức dân công. Với quyết tâm của Trung ương Đảng và Chính phủ, với sự hy sinh cố gắng to lớn của nhân dân hậu phương, chúng ta tin tưởng có thể tiến hành được việc chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Về mặt này, đối với địch thì cũng không phải mọi sự đều dễ dàng cả; nếu ta hạn chế hoặc cắt đứt được đường hàng không của chúng thì với nhu cầu lương thực, đạn dược rất lớn của chúng, với số thương vong ngày càng nhiều, với tinh thần bạc nhược của một quân đội đánh thuê, chúng sẽ gặp phải những khó khăn không thể lường được, không thể khắc phục nổi.

Một lo ngại nữa là, nếu thời gian chiến dịch kéo dài thì mùa mưa càng gần lại. Mùa mưa ở chiến trường rừng núi có thể gây ra tai hại lớn, đường sá bị hư hỏng, công sự bị ẩm ướt, sức khoẻ bộ đội và dân công có thể bị ảnh hưởng. Nhưng so với quân địch thì ta ở trên cao, địch ở dưới thấp, công sự của chúng có thể bị sập đổ, nước ngập đầy hầm, chúng cũng không thể tập trung lên chỗ cạn và trống trải vì sợ hoả lực của ta. Vì vậy thời tiết có thể gây khó khăn cho ta, nhưng đồng thời cũng gây những khó khăn lớn cho địch.

Để chủ động trong mọi tình huống, trong lúc tích cực chuẩn bị theo phương châm đánh chắc tiến chắc, chúng ta cũng dự kiến phương án chuyển sang đánh nhanh, giải quyết nhanh khi có thời cơ. Nếu ta chuẩn bị đầy đủ để đánh chắc, tiến chắc thì khi cần, chúng ta hoàn toàn có điều kiện thuận lợi để chuyển sang đánh nhanh, giải quyết nhanh.

Thực tiễn của Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng tỏ sự đúng đắn của phương châm đánh chắc, tiến chắc. Phương châm chỉ đạo đó đã đưa chiến dịch đến toàn thắng.

Thể hiện phương châm đánh chắc tiến chắc, nội dung kế hoạch tác chiến của ta ở Điện Biên Phủ gồm một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc, tiêu diệt mỗi lần một hay một số trung tâm đề kháng của địch, hình thành và thắt chặt vòng vây, hạn chế đi đến triệt hẳn nguồn tiếp tế và tiếp viện của địch, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Theo dự kiến, chiến dịch có thể gồm hai giai đoạn:

a. Một giai đoạn tác chiến nhằm tiêu diệt các trung tâm đề kháng ngoại vi, hình thành và thắt chặt trận địa tiến công và bao vây, thu hẹp phạm vi chiếm đóng, hạn chế đi đến triệt nguồn tiếp tế và tiếp viện của địch.

b. Khi mọi điều kiện đã được tạo nên đầy đủ thì chuyển sang thời kỳ tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Diễn biến chiến sự đại thể theo đúng phương hướng nói trên, nhưng đi vào cụ thể thì có phần phức tạp hơn.
______________________________________
1. Nắm vững phương châm "đánh chắc, tiến chắc", trong việc chỉ đạo công tác chuẩn bị ta đã chú trọng cả hai mặt: chuẩn bị đầy đủ và tranh thủ thời gian. Trước đây vì muốn tranh thủ thời gian nên chuẩn bị chưa đầy đủ. Lúc này đề ra chuẩn bị đầy đủ, chúng ta đã chú ý đề phòng khuynh hướng kéo dài, không tích cực khẩn trương để tranh thủ thời gian. Chúng ta đã đặc biệt coi trọng công tác chuẩn bị trên mọi mặt, nhất là việc chuẩn bị thêm đường mới cho pháo, chuẩn bị trận địa và kỹ thuật bắn của pháo binh, chuẩn bị thêm về vật chất và tinh thần, về kỹ thuật và chiến thuật cho bộ đội; đồng thời chúng ta cũng tiếp tục theo dõi, nghiên cứu tình hình địch, nhất là những thay đổi về binh lực và cách bố trí của chúng trong tung thâm.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 08:31:39 am

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 25 chiến thắng Điện Biên Phủ

Đối với mặt trận Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là: tập trung đại bộ phận chủ lực của ta mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch với sự phối hợp của các chiến trường; hay là chỉ tiếp tục bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giam chân chủ lực của địch ở đây, để tạo điều kiện cho quân ta tiêu diệt quân địch ở các hướng khác. Đó là vấn đề hướng chiến lược chủ yếu của chủ lực ta trong cục diện cụ thể lúc bấy giờ. Khi đã hạ quyết tâm mở cuộc tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì vấn đề đặt ra là phải đánh như thế nào để bảo đảm cho chiến dịch lịch sử này giành được toàn thắng. Đó là vấn đề nghệ thuật chiến dịch và vấn đề chiến thuật.

Chúng ta đều biết rằng, các vấn đề chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật nói trên chính là nội dung chủ yếu của nghệ thuật quân sự. Và nghệ thuật quân sự không phải cái gì khác là nghệ thuật tạo nên một sức manh áp đảo nhằm cuối cùng tiêu diệt quân địch, đánh thắng chúng mà ta thì hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất. Nghệ thuật tạo nên sức mạnh ấy bao giờ cũng phải tính đến điều kiện cụ thể của ta và của địch về binh lực và hoả lực, về địa hình của chiến trường, về bảo đảm hậu cần, bảo đảm kỹ thuật; phải tính đến điều kiện mọi mặt trên chiến trường chính và cả trên chiến trường phối hợp; lại còn nhất thiết phải tính đến ý đồ chiến lược của địch và những biện pháp chiến thuật và kỹ thuật mà địch có thể sử dụng để thực hiện ý đồ ấy.

Ngay sau khi chủ lực của địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ thì Trung ương Đảng ta đã hạ quyết tâm bám sát địch, bao vây địch, tạo điều kiện để tiêu diệt chúng. Cho đến khi lực lượng của địch ngày càng tăng thêm, bao gồm nhiều đơn vị tinh nhuệ của khối cơ động chiến lược của chúng, tập đoàn cứ điểm được xây dựng và củng cố ngày càng vững chắc, Trung ương Đảng ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Chúng ta đã căn cứ vào tình hình địch, ta như thế nào để hạ quyết tâm chiến lược quan trọng ấy.

Một là, vì chúng ta đã sớm xác định chiến trường chính là chiến trường Bắc Bộ, hướng tiến công chủ yếu của chủ lực ta phải là chiến trường miền núi, cụ thể lúc bấy giờ là chiến trường Tây Bắc. Chúng ta đã chọn hướng chiến lược chủ yếu như vậy là xuất phát từ nhiều lý do; một trong những lý do quan trọng là vì trong điều kiện địch có hoả lực không quân, pháo binh và cơ giới mạnh, quân ta trang bị và kỹ thuật còn kém hơn thì tác chiến ở địa hình rừng núi đối với ta tương đối có lợi hơn so với địa hình đồng bằng.

Hai là, vì kẻ địch ờ Điện Biên Phủ, tuy mạnh nhưng ở vào thế bị cô lập; việc tiếp tế và bảo đảm hậu cần bằng đường hàng không có thể bị ta hạn chế và cắt đứt. Đó là chỗ yếu chí mạng của chúng.

Ba là, vì bộ đội chủ lực của ta lúc bấy giờ đã có những tiến bộ lớn về chiến dịch và chiến thuật. Quân ta đã có kinh nghiệm đánh công sự vững chắc và đã được rèn luyện một bước để tiêu diệl địch trong tập đoàn cứ điểm.

Bốn là, vì tuy Điện Biên Phủ ở xa hậu phương ta, nhưng ta đã chuẩn bị một phần các tuyến đường nhằm sử dụng chủ lực trên hướng Tây Bắc; vấn đề tiếp tế hậu cần tuy khó khăn nhưng có thể giải quyết được.

Năm là, vì thế chiến lược chung ngày càng ở thế có lợi cho ta, lực lượng cơ động của địch ngày càng bị phân tán, quân ta đang tiếp tục đẩy mạnh hoạt động trên khắp các chiến trường.

Như vậy, nếu đối với các hướng chiến lược khác trên cả nước, chúng ta tiến công vào những nơi hiểm yếu mà địch tương đối sơ hở, thì trên hướng chiến lược Điện Biên Phủ, chúng ta đã hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch. Đó cũng là sự biểu hiện sinh động của sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Trung ương Đảng ta.

Trong chỉ đạo chiến tranh, có được một quyết định chiến lược chính xác là một nhân tố quan trọng vào bậc nhất. Nhưng khi đã có quyết định chiến lược chính xác, muốn bảo đảm giành được thắng lợi thì còn phải giải quyết đúng đắn các vấn đề nghệ thuật chiến dịch, về chiến thuật nữa.

Có thể nói rằng, trong một trận đánh, lực lượng hai bên ra trận như thế nào chỉ mới là điều kiện, là khả năng cho mỗi một bên để giành lấy thắng lợi. Thắng lợi ấy còn do cách đánh quyết định. Trước một kẻ địch nhất định, với một lực lượng nhất định của ta, đánh như thế này có thể thắng to, đánh như thế kia có thể thắng nhỏ, thậm chí có khi bị thất bại. Rõ ràng cách đánh có tầm quan trong quyết định để biến khả năng thắng lợi thành hiện thực.

Đứng về chiến dịch mà nói, trên mặt trận Điện Biên Phủ, lúc đầu chúng ta đã quyết định vận dụng phương châm đánh nhanh, thắng nhanh, tập trung toàn bộ chủ lực, tổ chức hiệp đồng giữa các binh chủng, mở cuộc tiến công từ một số hướng, tiêu diệt toàn bộ quân địch trong thời gian ba đêm hai ngày. Theo phương châm ấy, một kế hoạch tác chiến cụ thể đã được đề ra; mọi mặt công tác chuẩn bị đã được triển khai rất khẩn trương; các sư đoàn chủ lực của ta đã được giao nhiệm vụ; các đơn vị pháo binh đã được kéo vào trận địa; công tác bảo đảm hậu cần trên hỏa tuyến đã được đẩy mạnh; mạng thông tin liên lạc đã được tổ chức. Công tác chính trị đã động viên bộ đội và dân công nêu cao quyết tâm giành toàn thắng cho chiến dịch. Quân ta chỉ đợi lệnh là bắt đầu nổ súng.

Trong suốt thời gian chuẩn bị, chúng ta đã bám sát quân địch, theo dõi từng động tĩnh của chúng, phát hiện hệ thống phòng ngự của chúng ngày càng được xây dựng vững chắc hơn. Đến ngày 26-1-1954, khi kiểm tra lại tình hình địch, ta về mọi mặt thì chúng ta đi đến kết luận: tập đoàn cứ điểm của địch đã được củng cố rất nhiều so với trước; trong tình hình đó, kế hoạch đánh nhanh không thể bảo đảm chắc thắng được. Sáng ngày 26, vào lúc 11 giờ, ta quyết định thay đổi cách đánh, bỏ kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh chuyển sang phương châm đánh chắc, tiến chắc. Chiều ngày 26, toàn bộ lực lượng ta đã được lệnh rút ra khỏi trận địa, trở về nơi tập kết; các đơn vị pháo binh trước đây đã được lệnh kéo pháo vào đến nay lại được lệnh kéo pháo ra. Và để yếm trợ cho cuộc tạm thời thu quân, Sư đoàn 308 đã được lệnh phối kợp cùng Quân giải phóng Pathét Lào, lập tức mở cuộc tiến quân về hướng Luông Prabăng, vừa tiêu diệt sinh lực của địch, vừa thu hút hầu hết không quân của địch về hướng đó. Một công cuộc chuẩn bị mới với một khối lượng công tác tham mưu, chính trị và hậu cần rất lớn lại được triển khai. Cho nên khi mọi công tác chuẩn bị đã được hoàn thành, quân địch tưởng rằng ta đã bỏ ý định mở cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, thì ngày 13-3, quân đội ta mở đầu cuộc tiến công lớn vào tập đoàn cứ điểm. Thắng lợi của chiến dịch chứng tỏ rằng, sự thay đổi phương châm là hoàn toàn chính xác. Nó đã có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của chiến dịch.

Vận dụng phương châm đánh chắc, tiến chắc hoàn toàn không có nghĩa là khi điều kiện mọi mặt đã thay đổi có lợi cho ta, khi các thắng lợi liên tiếp của quân ta đã từng bước tạo nên thời cơ mới, thì ta không chuyển sang đánh nhanh, thắng nhanh. Thực tế, chiều ngày 7-5, khi tình hình địch đã có dấu hiệu rối loạn, tinh thần suy sụp, thì quân ta lập tức được lệnh nắm lấy thời cơ, vào 15 giờ đã mở cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm, đến 17 giờ 30 phút thì tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Ở đây, tôi muốn phân biệt rõ giữa một quyết định tác chiến chính xác với tinh thần kiên quyết chiến đấu của quân đội. Một quyết định tác chiến chính xác là một chủ trương tác chiến thế hiện đầy đủ tính cách mạng và tính khoa học, xuất phát từ một sự đánh giá đúng đắn và toàn diện về ta và địch. Còn tinh thần kiên quyết chiến đấu lại là quyết tâm chiến đấu anh dũng của quân đội, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ đã được giao cho. Phải nói rằng, tinh thần quyết chiến là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Nhưng chỉ có tinh thần quyết chiến cũng chưa đủ. Tinh thần quyết chiến chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng của nó trên cơ sở một kế hoạch tác chiến chính xác, một quyết tâm đúng đắn về chiến dịch, chiến thuật và những khả năng hiện thực về tổ chức và chỉ huy.

Khi đã có đường lối cách mạng đúng đắn thì phương pháp cách mạng là vấn đề quyết định. Khi đã có chủ trương tác chiến đúng đắn thì phương pháp tác chiến là vấn đề quyết định. Đó là một trong những nội dung chủ yếu của nghệ thuật chỉ huy.

Vấn đề phương pháp tác chiến đã được phát huy đến trình độ mới với nội dung hết sức phong phú và sáng tạo trong suốt những năm chống Mỹ, cứu nước sau này và là một trong những nhân tố đã đưa cuộc kháng chiến ấy đến thắng lợi cuối cùng.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 07:03:56 pm

ĐIỆN BIÊN PHỦ DƯỚI GÓC NHÌN DÂN TỘC HỌC - LỊCH SỬ1


TS. BÙI XUÂN ĐÍNH
Viện Dân tộc học - Viện Khoa học xã hội Việt Nam


Trước hết, dưới góc nhìn địa lý học, Điện Biên Phủ giữ một vị trí chiến lược hết sức quan trọng.

Điện Biên Phủ với tên gọi khởi nguyên "Mường Thanh" là một thung lũng rộng lớn, được bao bọc bởi vùng đồi núi điệp trùng với hai vòng rõ rệt.

- Vòng ngoài là vùng núi cao, từ 1.000 m trở lên, đỉnh cao nhất là Phu Huổi Luông (2.178m), toàn vùng có diện tích tự nhiên khoảng 200.000 ha, chiếm 65% diện tích toàn huyện Điện Biên cũ.

- Vòng trong là vùng đồi núi thấp với độ cao trung bình 700m, độ dốc từ 16 đến 20°, có tổng diện tích là 91.000ha, chiếm 27% diện tích toàn huyện.

Vùng thung lũng có diện tích 25.700 ha, chiếm 8% diện tích toàn huyện, bao gồm những thung lũng hẹp vây quanh cánh đồng Mường Thanh rộng hơn 4.000 ha ruộng nước. Đây là cánh đồng rộng nhất trong bốn cánh đồng nổi tiếng của vùng núi Tây Bắc "nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc". Mường Thanh, dưới con mắt của nhà bác học Lê Quý Đôn thế kỷ XVIII có "Thế núi vòng quanh, nước sông bao bọc, đồn sở ở giữa, ruộng đất bằng phẳng màu mỡ, bốn bên đến chân núi đều phải đi một ngày đường, công việc làm ruộng bằng nửa công việc các châu khác mà số hoa lợi thu hoạch lại gấp đôi. Thổ sản có sa nhân, sáp vàng, diêm tiêu, lưu hoàng và sắt sống"2. Xem thế đủ biết, Mường Thanh có tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế, trước hết là về sản xuất nông nghiệp.

Điện Biên nằm ở trung tâm, án ngữ những con đường giao thông huyết mạch của vùng Tây Bắc, tỏa đi những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa khu vực giáp ranh ba nước Việt - Trung - Lào. Từ trung tâm Mường Thanh theo quốc lộ 12, qua Mường Pồn, Mường Muôn lên tới Mường Lay (thị xã Lai Châu - 103 km). Ngược lại, theo quốc lộ 279 (quốc lộ 42 cũ) đến cửa khẩu Tây Trang nằm trên đường biên giới Điện Biên với nước bạn Lào, dài 172 km. Từ đây có thể đi Sầm Nưa - Luông Prabăng vùng Thượng Lào hoặc tới Phông Xa Lỳ ở Trung Lào. Con đường từ Điện Biên qua Mường Phăng đến Tuần Giáo được nối với quốc lộ 6 để xuống Sơn La - Thuận Châu - Hòa Bình và về Hà Nội.

Về đường thủy, từ Mường Thanh theo sông Nậm Rốm rẽ vào sông Nậm Nứa cập vào Pắc U để vào sông Nậm Hu dẫn đến sông Mê Công rộng lớn, tới Luông Prabăng. Vẫn từ Nậm Rốm ngược dòng đến Bản Lang - Nà Tấu, theo sông Nậm Cô vào sông Nậm Nứa, thuyền sẽ vào Nậm Mạ (sông Mã) vòng sang đất Lào để lại chảy về miền núi xứ Thanh của Việt Nam. Từ đất Mường Pồn (cách trung tâm Mường Thanh 20 km), có thể xuôi thuyền theo sông Nậm Mấc vào sông Đà, xuống Tạ Bú, Tạ Khoa - Chợ Bò về Hà Nội. Còn muốn lên phía bắc, khi đến sông Đà, theo thuyền ngược tới Mường Lay - Phong Thổ và sang tới Mường Là của Trung Quốc.

Với vị trí chiến lược, có nhiều tiềm năng về kinh tế trên đây, mảnh đất Mường Thanh - Điện Biên sớm có con người cư trú. Các truyền thuyết, các huyền thoại được lưu truyền trong dân gian hay được ghi lại trong một số tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc thiểu số như Sống trụ xôn xao, Quắm tố mướn, Chuyện kể bàn mường... phản ánh quá trình khai phá từ xa xưa của các nhóm cư dân ở vùng đất này. Giữa năm 1998, khi điều tra cơ bản để phục vụ cho việc xây dựng Dự án Nhà máy thủy điện Sơn La, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được ở Chiềng Lề một trống đồng loại II, cách ngày nay khoảng 2.000 năm. Trống hiện được lưu tại Bảo tàng tỉnh Điện Biên. Đây là phát hiện quan trọng nhất, minh chứng cho quá trình cư trú của con người tại vùng đất ngã ba biên giới này3. Các bộ sử cũ của ta như An Nam chí lược (đời Trần), Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Việt sử ký toàn thư (thời Lê), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục chính biên, Đại Nam nhất thống chí, Hưng Hóa ký lược (thời Nguyễn)... cũng như sử sách Trung Quốc từ đời Hán, đời Đường đều khẳng định hoặc ghi nhận, mảnh đất này có từ thời Hùng Vương, là bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam, tùy từng thời được cắt, chuyển vào các đơn vị hành chính khác nhau của nhà nước Việt Nam.

Theo các sách trên thì đời Hùng Vương, đất Điện Biên đã thuộc nước Văn Lang. Đến thời Bắc thuộc, thuộc quận Giao Chỉ. Thời Lý nằm trong đất của châu Lâm Tây. Thời Trần, cả nước chia làm 12 lộ thì Mường Thanh thuộc châu Ninh Viễn (sau là Ninh Biên), lộ Đà Giang.

Năm Nhâm Tý (1432) sau khi dẹp xong nạn cát cứ của Đèo Cát Hãn - một tù trưởng Thái trắng ở vùng Lai Châu. Lê Thái Tổ đổi châu Ninh Biên thành châu Phục Lễ (gồm cả đất Mường Thanh thuộc lộ Gia Hưng) 4. Năm Kỷ Sửu đời Quang Thuận (1469), Lê Thánh Tông chia nước ta làm 12 thừa tuyên, Mường Thanh thuộc phủ An Tây, thừa tuyên Hưng Hóa. Năm Ất Mùi niên hiệu Cảnh Hưng (1775), sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa nông dân Hoàng Công Chất, chúa Trịnh đặt châu Ninh Biên thuộc phủ An Tây với đất Điện Biên là trung tâm. Đầu đời Gia Long (1802-1819), lại lệ thuộc phủ Gia Hưng. Năm Tân Mão (1831), sau cuộc cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, phủ Gia Hưng nằm trong tỉnh Hưng Hóa.

Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), để bảo vệ miền Tây Bắc, chống lại sự xâm lấn của phong kiến Xiêm và Lào, cùng sự quấy rối của các toán giặc cỏ, nhà Nguyễn đặt ra phủ Điện Biên (bao gồm các châu: Ninh Biên, Tuần Giáo và Châu Lai), phủ lỵ đóng tại Chiềng Lề thuộc đất Điện Biên ngày nay.

Đầu thời Pháp thuộc, Điện Biên Phủ nằm trong đất thuộc đạo quan binh thứ tư, trong khu vực quân sự Vạn Bú (gồm phần lớn đất của hai tỉnh Sơn La và Lai Châu ngày nay), theo Nghị định ngày 6-1-1891 của Toàn quyền Pháp. Năm 1910, tỉnh Lai Châu được thành lập, Điện Biên thuộc phủ Điện Biên của tỉnh này. Thực dân Pháp duy trì chế độ quân quản tại đây trong một thời gian khá dài.

Sau khi Điện Biên Phủ được giải phóng, ta thành lập Khu tự trị Thái Mèo (sau đổi thành Khu tự trị Tây Bắc), không có đơn vị hành chính trung gian là tỉnh. Tất cả các châu huyện trong vùng trước đây, trong đó có châu Điện Biên đều trực thuộc Khu Tây Bắc.

Tháng 12-1962, kỳ họp thứ năm Quốc hội khóa III quyết định thành lập lại ba tỉnh Lai Châu, Sơn La và Nghĩa Lộ. Tỉnh Lai Châu có bảy huyện và một thị xã, trong đó có huyện Điện Biên.
______________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999. Tác giả có điều chỉnh các đơn vị hành chính theo sự thay đổi hiện nay.
2. Lê Quý Đôn: Kiến văn tiểu lục, Nxb. Sử học, Hà Nội, 1962, tr.359-360.
3. Tư liệu của PGS, TS. Nguyễn Khắc Sử (Viện Khảo cổ bọc).
4. Châu Phục Lễ tức Mường Lễ, tức tỉnh Lai Châu hiện nay.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 16 Tháng Mười Hai, 2021, 07:08:30 pm

Cho đến đầu năm 1992, huyện Điện Biên có 30 xã và 2 thị trấn. Ngày 18-4-1992, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định 130/HĐBT thành lập thị xã Điện Biên Phủ gồm thị trấn Điện Biên và xã Thanh Minh. Huyện Điện Biên còn lại 29 xã và thị trấn Nông trường Điện Biên.

Ngày 7-10-1995, Chính phủ ra Nghị định 59/CP chia huyện Điện Biên thành hai huyện là Điện Biên và Điện Biên Đông.

- Huyện Điện Biên có diện tích 180.161 ha, số dân 97.709 người, gồm 19 xã và thị trấn Nông trường Điện Biên.

- Huyện Điện Biên Đông có 121.799 ha, số dân 35.063, gồm 10 xã.

Theo Nghị quyết kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XI (từ ngày 20-10 - 26-11-2003), thị xã Điện Biên Phủ được chuyển thành thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên1. Thành phô Điện Biên gồm 7 phường: Tân Thanh, Him Lam, Noong Bua, Mường Thanh, Thanh Bình, Nam Thanh, Tân Trường và xã Thanh Minh.

Như vậy, từ huyện Điện Biên ban đầu, nay đã tách ra thành ba đơn vị hành chính, trong đó có thành phố Điện Biên Phủ - nơi diễn ra trận đánh lịch sử "Lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu" năm xưa, nay là tỉnh lỵ của tỉnh Điện Biên.

Nhiều học giả nước ngoài cho rằng, mảnh đất Điện Biên từng chứng kiến những luồng giao lưu giữa văn hóa của các cư dân trồng trọt bản địa với văn hóa của các cư dân du mục miền Trung Á xa xôi. Điện Biên còn nằm trên đường chuyển tải văn hóa từ Ấn Độ vào bắc Đông Dương và ngược lại. Điện Biên cũng là nơi gặp gỡ của nhiều tộc người mà nhiều thời kỳ "ai mạnh thì làm chúa". Những lớp cư dân đầu tiên chiếm lĩnh vùng đất Điện Biên là các cư dân thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme và người Lự.

Cho đến thế kỷ X, người Lự đã phát triển hưng thịnh ở Mường Thanh, mở rộng ảnh hưởng ra cả lòng chảo Điện Biên, Lai Châu (Tuần Giáo), xuống Sơn La; đẩy lùi các tộc người thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme (Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú) vào sâu các miền xung quanh lòng chảo.

Từ thế kỷ XI-XII, một bộ phận tổ tiên người Thái từ Mường Ôm, Mường Ai thuộc miền nam Vân Nam, giữa sông Nậm Hu và sông Hồng tiến xuống chiếm Mường Lò (Nghĩa Lộ) rồi lần lượt mở rộng ảnh hưởng ra các vùng Tú Lệ, Than Uyên, Văn Bàn thuộc tỉnh Yên Bái ngày nay. Đến đời chúa Lạng Chương, người Thái từ Nghĩa Lộ đẩy lùi các tộc người thuộc ngôn ngữ Môn - Khơme, tiến xuống Sơn La rồi tiến lên chiếm lĩnh cánh đồng Mường Thanh, nhưng vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của người Lự và các tộc người Môn - Khơme. Cuối cùng, người Thái để người Lự làm chủ miền bắc cánh đồng Mường Thanh, còn họ dựng mường trung tâm ở cánh đồng này (khu vực quanh đồi A1 hiện nay) và chia cho con cháu, tay chân cai quản. Đây cũng là thời kỳ nhà Lý hưng thịnh. Trong cố gắng nhằm nắm được các vùng tộc người thiểu số nơi biên viễn, nhà Lý đã buộc các tù trưởng Thái đen (mà có học giả đã cho rằng, đấy chính là ngươi Ngưu Hống được ghi trong sử cũ) thần phục.

Sau khi Lạng Chương chết một thời gian, nội bộ các chúa đất Thái bất hòa. Nhân cơ hội đó, người Lự tổ chức đánh bật người Thái khỏi Mường Thanh. Các chúa đất Thái phải hợp sức lại, bỏ mối bất hòa để chống lại người Lự. Cuộc tranh chấp liên miên giữa hai tộc người kéo dài suốt thế kỷ XIV với việc người Lự vẫn làm chủ Mường Thanh, còn người Thái mở rộng ảnh hưởng xuống vùng Thuận Châu và vùng đất dọc sông Hồng, sông Đà, sông Mã. Có thời kỳ, họ uy hiếp cả khu vực cư trú của người Mường khiến triều đình nhà Trần phải điều quân cản đánh lại2.

Sang thế kỷ XV, các vua nhà Lê (khởi đầu là Thái Tổ, Thái Tông và Thánh Tông) có nhiều cố gắng chấm dứt thái độ "ngả nghiêng" của các tù trưởng Thái khi muốn dựa vào nước Lào chống lại triều đình, lúc muốn dựa vào triều đình chống lại nước Lào, buộc họ phải quy phục. Biên giới Tổ quốc được bảo vệ, tình hình Tây Bắc tương đối yên ổn. Tuy nhiên, đất Mường Thanh lúc này vẫn do các chúa đất người Lự thống trị với trung tâm là thành Tam Vạn (nay thuộc xã Sam Mứn, huyện Điện Biên). Họ duy trì chính sách vừa thân Việt, vừa thân Lào. Khi triều đình Việt hưng thịnh (thời Lê sơ), họ quy phục và đã góp phần bảo vệ miền Điện Biên chống lại các đợt tấn công của các toán "giặc cỏ" từ tây nam Trung Quốc, Thượng Lào sang. Nhưng khi triều đình trung ương suy yếu hoặc bận lo giải quyết nhiều vấn đề trọng đại khác ở đồng bằng, các chúa Lự lại liên kết với ngoại bang để chống lại triều đình hoặc liên kết, tập hợp các phần tử bất mãn, đối lập người Thái để tranh chấp, uy hiếp phạm vi ảnh hưởng với các chúa đất Thái. Gần 20 đời các chúa Lự thống trị ở Mường Thanh, đất Điện Biên trở thành nơi tranh chấp giữa các tập đoàn chúa đất Thái - Lự.

Từ những năm 40 của thế kỷ XVIII, triều đình Lê - Trịnh bận lo đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân ở dưới xuôi, không còn điều kiện để quan tâm tới đất Tây Bắc. Nhân cơ hội đó, những đám giặc cỏ từ tây nam Trung Quốc và Thượng Lào tràn sang, đuổi người Lự khỏi cánh đồng Mường Thanh, tiến xuống vùng Sơn La. Triều đình Lê - Trịnh cử quân lên đánh dẹp, nhưng cũng chỉ đuổi "giặc cỏ" về cố thủ ở Mường Thanh rồi rút quân về xuôi. Mường Thanh lại nằm trong sự kiểm soát của giặc cỏ với bao tội ác man rợ với nhân dân trong vùng.

Năm 1751, lãnh tụ khởi nghĩa nông dân Hoàng Công Chất chuyển hoạt động lên vùng Tây Bắc. Được lực lượng nghĩa binh người Thái và các tộc người khác giúp đỡ, nghĩa quân Hoàng Công Chất đã đuổi "giặc cỏ" khỏi Mường Thanh, giải phóng Tây Bắc. Ông đã xây thành ở Chiềng Lề, đem lại cuộc sống hòa bình, ổn định cho nhân dân các dân tộc Tây Bắc. Từ đây đất Mường Thanh thật sự trở thành bộ phận khăng khít của Tổ quốc, một tiền đồn bảo vệ biên cương Tây Bắc. Sau khi Hoàng Công Chất mất (năm 1767), con là Hoàng Công Toan không đủ sức tập hợp các tướng lĩnh bảo vệ vùng Điện Biên và Tây Bắc. Nhưng chúa Trịnh sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa Hoàng Công Chất lại bỏ rơi vùng này, khiến cho Tây Bắc lại bị ngoại bang đe dọa. Mường Thanh rơi vào vòng ảnh hưởng của phong kiến Lào. Mãi đến năm 1775, do những biến cố trong nước, các vua chúa Lào mới trả lại vùng Mường Thanh. Từ đây, đất Mường Thanh được tạm yên. Sử cũ ghi lại, thời kỳ này, "các dân tộc Kinh, Hoa, "Xá" Lào, Thái ở xen kẽ hòa hợp trong vùng, chợ búa phủ lỵ đông vui. Người Ai Lao, Miến Điện, Trung Quốc đổ về buôn bán sầm uất". Đây có lẽ là thời kỳ bình ổn và phát đạt nhất của Mường Thanh từ thời điểm đó trở về trước. Tình hình này tiếp diễn đến nửa đầu thế kỷ XIX.

Nhưng từ thập kỷ thứ ba của thế kỷ XIX trở đi, Mường Thanh lại nằm trong tình trạng hỗn loạn. Hết những toán "giặc cỏ" giày xéo lại đến giặc Pháp xâm lăng. Từ cuối thế kỷ XIX, nhân dân các dân tộc Mường Thanh chịu sự áp bức, bóc lột hà khắc của thực dân Pháp và tầng lớp quý tộc người Thái. Cho đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) với chính sách "đoàn kết và bình đẳng dân tộc", đã tập hợp, lãnh đạo nhân dân các tộc người làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 và sau đó là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy khắp năm châu.

Nhìn lại lịch sử đất Mường Thanh - Điện Biên Phủ hơn một thiên niên kỷ vừa qua cho thấy, mảnh đất này luôn biến động bởi các cuộc tranh chấp giữa các tù trưởng các tộc người, bởi các cuộc xâm lấn của các thế lực phong kiến ngoại bang và các đám "giặc cỏ" từ bên kia biên giới, gây bao nỗi đau thương tang tóc cho nhân dân các dân tộc.

Lịch sử hơn một thiên niên kỷ qua cũng chứng tỏ, triều đình phong kiến Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc nắm giữ và bảo vệ Mường Thanh - Điện Biên, trung tâm của vùng Tây Bắc, "phên dậu" của Tổ quốc và nhân dân các dân tộc ở đây đã có nhiều thời kỳ sát cánh bên nhau chiến đấu chống quân thù đế bảo vệ dải đất này.

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lịch sử của đất Mường Thanh - Điện Biên Phủ là lịch sử nhân dân các dân tộc ở đây đoàn kết, chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, mở đầu cho thời kỳ sụp đổ của toàn bộ hệ thống chủ nghĩa thực dân kiểu cũ. Điện Biên trở thành biểu tượng cho ý chí và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt Nam. Tiếp đó là lịch sử các dân tộc ở đây chung sức chung lòng, làm thay đổi toàn diện và sâu sắc bộ mặt mảnh đất lịch sử này.

Ngày nay, cùng với cả nước, nhân dân các dân tộc Điện Biên Phủ bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với việc thị xã Điện Biên Phủ được nâng cấp thành thành phố Điện Biên Phủ, trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả tỉnh Điện Biên, quá trình đô thị hóa ngày càng được đẩy mạnh. Điện Biên sẽ nhanh chóng trở thành đô thị giàu đẹp của Tây Bắc. Tuy nhiên, trong quá trình đó, cần lưu ý tránh việc đô thị hóa dẫn đến lấn át các di tích lịch sử - văn hóa và tránh việc hiện đại hóa dẫn đến "đồng hóa" và "hòa tan" văn hóa các dân tộc. Nếu như trong lịch sử trước đây có hiện tượng các tộc người "chiến thắng" hủy hoại các dấu tích lịch sử văn hóa, "đồng hóa" về mặt văn hóa đối với các tộc người "chiến bại" thì ngày nay, trong công cuộc hiện đại hóa mảnh đất Điện Biên, các di tích lịch sử văn hóa cần được bảo vệ, các giá trị văn hóa của các dân tộc cần được bảo tồn và phát huy để Điện Biên trở thành trung tâm của vùng văn hóa Tây Bắc.

Vì những lẽ đó, chúng tôi kiến nghị với các ngành, các cấp:

1. Khoanh vùng lại để bảo vệ và đầu tư kinh phí để tôn tạo nâng cấp các điểm chính trong khu di tích Điện Biên Phủ (đồi A1, Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, sân bay Mường Thanh, hầm Đờ Cátxtơri...), biến nơi đây không chỉ là di tích lịch sử mà còn là điểm vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hóa và giáo dục truyền thống.

2. Khôi phục và tôn tạo lại các di tích lịch sử đã bị hoang phế hay có nguy cơ bị hoang phế như thành Bản Phủ, thành Tam Vạn...

3. Xây dựng một số làng bản của người Thái, người Mông, Khơ Mú theo đúng kiểu cách truyền thống để thành những điểm du lịch quanh khu di tích Điện Biên.

4. Tổ chức nghiên cứu để khôi phục lại một số lễ hội tiêu biểu của các dân tộc trong vùng để phục vụ du lịch văn hóa.

5. Đầu tư kinh phí cho các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu các vấn đề về lịch sử văn hóa các dân tộc ở Điện Biên.
____________________________________
1. Theo Nghị quyết này, tỉnh Lai Châu được chia thành hai tỉnh là Điện Biên và Lai Châu.
- Tỉnh Điện Biên gồm thành phố Điện Biên, các huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Lay, Mường Nhé, Tủa Chùa, Tuần Giáo và thị xã Lai Châu.
- Tỉnh Lai Châu gồm các huyện Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ, Tam Đường và Than Uyên.

2. Dẫn theo Đinh Xuân Lâm, Đặng Nghiêm Vạn: Điện Biên trong lịch sử, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1979.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 12:18:58 pm

SỰ LÃNH ĐẠO ĐÚNG ĐẮN, SÁNG TẠO
CỦA ĐẢNG VÀ BÁC HỒ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

GS,TS. TRỊNH NHU


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945 đập tan gông xiềng nô lệ của chế độ thuộc địa, phong kiến, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, lập nên kỳ tích đầu tiên của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX. Song với tham vọng của chủ nghĩa đế quốc, nhà cầm quyền Pháp không chịu từ bỏ Việt Nam, đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược từ cuối tháng 9-1945 và liên tục thực hiện nhiều kế hoạch xâm lược. Các kế hoạch đó đều bị thất bại trước sức mạnh của một dân tộc do Đảng ta và Bác Hồ lãnh đạo đã tự vùng lên "đem sức ta mà tự giải phóng cho ta" trong Cách mạng Tháng Tám, và đã quyết tâm "đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"2

Trước nguy cơ thảm bại, đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ dốc sức vào cuộc "giao chiến tổng lực" với quân và dân ta tại Chiến dịch Điện Biên Phủ.



I- ĐIỆN BIÊN PHỦ, TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC

Từ sau thất bại tại Chiến dịch Biên giới, quân đội Pháp lâm vào thế phòng thủ bị động. Đến đầu tháng 5-1953, do bị thất bại liên tiếp trong Chiến dịch Hoà Bình (từ tháng 12-1901 đến tháng 2-1952) và Chiến dịch Tây Bắc (từ tháng 10 đến tháng 12-1952), Chính phủ Pháp được Mỹ đồng ý quyết định chọn tướng Nava, khi ấy làm Tham mưu trưởng lục quân Khối NATO, sang làm Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Sử dụng nhãn quan chiến lược của một viên tướng nhiều năm làm nghề tình báo để xem xét cục diện chiến trường và đánh giá lực lượng đối phương, đầu tháng 7-1953, Nava vạch ra một kế hoạch chiến lược nhằm thực hiện ý đồ "chuyển bại thành thắng". Kế hoạch đó chia làm hai bước:

Bước thứ nhất, trong Thu Đông 1953 và Xuân 1954, giữ thế phòng ngự chiến lược ở vĩ tuyến 18 trở ra. Tiến công để ổn định miền trung và miền nam Đông Dương, trong đó có việc đánh chiếm Liên khu V.

Bước thứ hai, khi đã có ưu thế về quân cơ động, thì từ mùa Thu 1954, tiến công ở miền Bắc, để giành thắng lợi quân sự to lớn, đi tới đàm phán giải quyết chiến tranh có lợi cho chúng.

Thực hiện kế hoạch đã vạch ra, Nava tăng cường bắt lính, xây dựng thêm nhiều đơn vị nguỵ quân, đưa số quân nguỵ lên 319.000, tăng 71.000 so với năm 1952. Mùa khô năm 1953, Nava có 84 tiểu đoàn cơ động và tập trung đóng ở đồng bằng Bắc Bộ 44 tiểu đoàn, chiếm 52% số quân cơ động toàn Đông Dương.

Số quân và chiến phí ngày càng tăng kéo theo tư tưởng tiến công giành quyền chủ động trên chiến trường của Nava càng thêm phát triển. Tháng 10-1953, Nava huy động một lực Lượng lớn gồm 6 binh đoàn cơ động, 9 tiểu đoàn pháo binh và 3 tiểu đoàn thiết giáp, càn quét vùng tây nam Ninh Bình. Đây là một đòn tiến công quan trọng của địch ở đồng bằng Bắc Bộ hòng thực hiện mục tiêu trên, nhưng đã bị quân và dân ta chặn đánh, buộc Nava phải chuốc lấy thất bại.

Giữa tháng 11-1953, thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Bác Hồ mở nhiều hướng tiến công, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động và bị động đối phó, bộ đội ta tiến lên Tây Bắc và Trung Lào, phối hợp với quân và dân Lào cùng chiến đấu.

Vừa biết hướng tiến quân của ta, Nava quyết định chuyển quân lên Điện Biên Phủ và Trung Lào. Lúc này, Điện Biên Phủ được coi là một cứ điểm án ngữ, ngăn chặn quân ta đánh sang Thượng Lào và làm bàn đạp từ đây đánh bung ra, chiếm lại Tây Bắc khi xác lập được thế tiến công. Từ ý đồ ban đầu ấy, Nava tính đến những khó khăn nhiều mặt của ta, đã đi tới quyết định chọn Điện Biên Phủ làm nơi quyết chiến với quân ta. Những ngày đầu tháng 12-1954, địch rút quân từ Lai Châu về Điện Biên Phủ, càng thể hiện rõ chủ trương của Nava xây dựng tập đoàn cứ điểm này.

Về phía ta, trong tháng 11-1953, tại hội nghị cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên do Tổng Quân uỷ và Bộ Quốc phòng triệu tập để phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp kết luận: "Hướng chính là hướng Tây Bắc.

Nhiệm vụ là kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng vùng Lai Châu để củng cố và mở rộng căn cứ kháng chiến Tây Bắc, uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tác chiến sau này. Lực lượng sử dụng: từ hai đến ba đại đoàn.

Hướng phụ là hướng Trung Lào.

Lực lượng sử dụng là 2e.

Hướng phối hợp là hướng đồng bằng"3.

Ngày 6-12-1953, Hội nghị Bộ Chính trị quyết định tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Từ đây, trên bản đồ tác chiến của ta và địch, Điện Biên Phủ được đánh dấu là điểm quyết chiến chiến lược.
___________________________________
1. Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia: Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Điện Biên, ngày 7, 8-3-2004.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 557.
3. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 447-448.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 12:26:33 pm

II- TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VÀ BÁC HỒ LÃNH ĐẠO TOÀN ĐẢNG, TOÀN QUÂN, TOÀN DÂN
QUYẾT GIÀNH THẮNG LỢI TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Bước vào mùa Xuân 1953, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng vạch rõ phương hướng chiến lược “tạm thời "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Như thế để tạo điều kiện hoàn toàn giải phóng Bắc Bộ"1.

Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng xác định phương hướng tác chiến theo cách nhìn chủ động đáp ứng yêu cầu phát triển của kháng chiến "quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở; đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. Bất kỳ ở miền núi hay đồng bằng, quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch"2.

Phương châm tác chiến của quân chủ lực được nêu rõ: "vận động chiến là chính, công kiên chiến là phụ. Trên chiến trường sau lưng địch ở Bắc Bộ và các chiến trường ở Trung và Nam thì du kích chiến là chính"3. Trong Báo cáo trình bày tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), tháng 1-1953, Tổng Bí thư Trường Chinh giải thích rõ phương châm chỉ đạo kháng chiến của Đảng ta: "Ta không chủ quan, khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh. Nếu chủ quan, mạo hiểm mà một lần thua nặng, thì sẽ tai hại lớn".

Chiến trường của ta hẹp, người của ta không nhiều, nên nói chung ta chỉ có thắng chứ không được bại"4.

Công tác chỉnh quân "cần tiến hành về các mặt, chỉnh huấn chính trị, chỉnh huấn quân sự, chỉnh đốn tổ chức, xây dựng các đơn vị mới"5.

Một trong những nhân tố quyết định thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự trên là: "ra sức tăng cường quân đội ta về mọi mặt: về xây dựng và tác chiến cũng như về công tác chính trị, tham mưu và cung cấp. Phải đặc biệt chú trọng công tác chính trị, nâng cao giác ngộ chính trị cho cán bộ và chiến sĩ về ý thức giai cấp, về nhiệm vụ cách mạng của quân đội nhân dân"6. Đồng thời, phải rất coi trọng lãnh đạo công tác cung cấp cho bộ đội, công tác giao thông vận tải và quyết định thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận.

Nội dung và tinh thần ấy của Nghị quyết được Trung ương chủ động chỉ đạo các ngành, các địa phương triển khai thực hiện, vừa đáp ứng những nhiệm vụ trước mắt, vừa sẵn sàng ứng phó diễn biến mới trên chiến trường mà Trung ương Đảng đã bắt đầu dự kiến phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch.

Cùng với việc tổ chức chỉnh huấn chính trị, chỉnh đốn tổ chức quân đội, Trung ương Đảng chỉ đạo công tác làm cầu đường và giao thông vận tải. Tháng 6-1953, Ban Bí thư ra chỉ thị kiểm điểm nhiệm vụ công tác này, chỉ ra những khuyết điểm của các tỉnh và nêu rõ: Hiện nay, nhu cầu kháng chiến ngày càng nhiều, khối lượng hàng vận chuyển tăng lên rất nhanh. Nhưng cầu đường rất xấu. Vì thế Trung ương yêu cầu các địa phương phải làm những đường tốt cần thiết để bảo đảm việc vận chuyển quân sự, để sẻ bớt gánh nặng vận chuyển cho dân và đồng thời cũng để mở rộng việc vận chuyển kinh tế. Đầu tháng 11-1953, Trung ương Đảng lại nhấn mạnh: đường sá là vấn đề có tính chất quyết định thắng lợi của quân đội.

Trung ương giao nhiệm vụ cụ thể cho các cấp uỷ Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Liên khu III và các tỉnh uỷ phải tăng cường lãnh đạo công tác cầu đường, điều động những cán bộ có năng lực phụ trách công tác ấy để hoàn thành kế hoạch được giao.
_______________________________________
1, 2, 3, 4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t. 14, tr. 130, 131, 59, 131.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, 1.14, tr. 130-131.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 01:05:59 pm

Càng về cuối năm 1953, khi quân đội ta tiến hành những chiến dịch lớn và chuẩn bị khẩn trương cho nhiều chiến dịch mới sẽ diễn ra ở các chiến trường xa hậu phương hơn, do vậy việc cung cấp các loại vật phẩm cho bộ đội, cho tiền tuyến càng lớn hơn, cấp bách hơn. Thông tri của Ban Bí thư gửi các Liên khu Việt Bắc, Tây Bắc và Liên khu III, Liên khu IV ngày 9-11-1953 nêu rõ: "nhiệm vụ cung cấp cho bộ đội và cung cấp cho tiền tuyến phải mau chóng, cơ động, đầy đủ hơn"1. Trong các loại vật phẩm cung cấp, cần chú trọng gạo và thịt, các Liên khu Tây Bắc, Việt Bắc và Liên khu IV đảm nhiệm thực hiện đúng kế hoạch do Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương giao. Ban Bí thư chỉ đạo cụ thể việc tăng cường sử dụng các loại phương tiện: xe cộ, nhất là xe đạp, thuyền để bớt sức dân. Các khu không được sao nhãng việc sử dụng dân công, phải thực hiện đúng Điều lệ dân công, bảo vệ sức khoẻ dân công, làm tốt công tác giáo dục tư tưởng và lãnh đạo dân công vận chuyển đạt năng suất cao; đồng thời, phải đặc biệt chú trọng chống lãng phí, tham ô bằng cách giáo dục tư tưởng, đề cao tinh thần trách nhiệm và tăng cường tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.

Cùng với việc lãnh đạo hoạt động quân sự, tăng gia sản xuất và tiết kiệm, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) tháng 1-1953, quyết định trong năm 1953 một nhiệm vụ trọng tâm là cải cách ruộng đất, mà bước đầu là triệt để giảm tô, giảm tức từ Liên khu IV trở ra. Tiếp đó, tháng 11-1953. Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất (khoá II) của Đảng thông qua Cương lĩnh ruộng đất của Đảng. Tháng 12-1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua Luật cải cách ruộng đất.

Lý do tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến, Bác Hồ giải thích: "Muốn kháng chiến thắng lợi không những phải đánh đổ đế quốc mà còn đánh đổ cả phong kiến địa chủ"2. Trong Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Trường Chinh cũng đề cập tới yêu cầu cấp thiết của cải cách ruộng đất: "Trong mấy năm đầu kháng chiến ta chưa đủ điều kiện cải cách ruộng đất, thì đề ra chính sách giảm tô giảm tức và chỉ tịch thu ruộng đất của Pháp và Việt gian chia cho nông dân là đúng"3. Đến năm 1953, ta đã phá được thế bị bao vây, thế và lực của ta đã mạnh lên, vùng tự do của ta tương đối ổn định, ta có thể thoả mãn yêu cầu ruộng đất của nông dân "làm cho nông dân quyết tâm hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp kháng chiến. Vậy đã đến lúc vấn đề cải cách ruộng đất phải được đề ra và giải quyết kịp thời, đặng đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi"4.

Cuộc phát động quần chúng thực hiện chủ trương triệt để giảm tô, giảm tức và thí điểm cải cách ruộng đất được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 12-1953 tại 481 xã thuộc Liên khu Việt Bắc và Liên khu IV đạt kết quả tốt. Những tháng đầu năm 1954 đến khi kết thúc thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ, vẫn tiếp tục thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất.

Các chủ trương và biện pháp chỉ đạo trên của Trung ương Đảng và Bác Hồ đều hướng vào thực hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng". Các hoạt động đó thể hiện tính chủ động, sẵn sàng làm thất bại kế hoạch chiến tranh mới của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Hạ tuần tháng 9-1953, ta biết được kế hoạch Nava. Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp báo cáo kế hoạch đó của địch với Bác Hồ và nhận được ý kiến chỉ đạo của Người: "Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung quân cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán ra mà đánh".

Ý kiến chỉ đạo của Bác Hồ được quán triệt trong quá trình hoạch định kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tham mưu để phá kế hoạch Nava. Tháng 10-1953, tại Tỉn Keo (Việt Bắc), Bộ Chính trị họp, phân tích đánh giá tình hình địch, ta, vận dụng các phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến do Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đề ra. Hội nghị kết luận chủ trương tốc chiến Đông Xuân 1953-1954: "Sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch và tích cực tiến hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ"5.

Trong tình hình chiến trường lúc bấy giờ, địch chưa bộc lộ hành động quân sự cụ thể, Bộ Chính trị vừa xác định phương châm chung cho hoạt động quân sự của ta là "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" vừa xác định cụ thể các nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến: "Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta; đánh ăn chắc, đánh chắc thắng, đánh tiêu diệt; chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh; giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng"6.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: tại Hội nghị này, Bác Hồ đã thể hiện kế sách tiến công làm thất bại kế hoạch Nava, theo cách diễn đạt độc đáo của Người:

"Bác ngồi họp, thái độ bình thản, điếu thuốc lá kẹp giữa hai ngón tay. Đôi mắt Người chợt lộ vẻ chăm chú. Bàn tay Bác đặt trên bàn bỗng giơ lên và nắm lại. Người nói:

Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn. Bàn tay Bác mở ra, mỗi ngón tay trở về một hướng"7.

Quyết định của Bộ Chính trị và tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ định hướng cho kế hoạch tác chiến tại Chiến dịch Điện Biên Phủ.
_______________________________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr. 344, 141.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr. 51, 52.
5, 6. Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - Trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 192, 193.
7. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 24-25.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 04:46:57 pm

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị họp xem xét và quyết định phương án tác chiến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ do Tổng Quân uỷ báo cáo. Sau khi phân tích tình hình chiến trường Điện Biên Phủ từ khi Nava đưa quân nhảy dù chiếm đóng vị trí này ngày 20-11-1953, và cân nhắc những khả năng địch giữ Lai Châu và Điện Biên Phủ; rút khỏi Điện Biên Phủ; hoặc do bị quân chủ lực ta uy hiếp mạnh, địch sẽ tăng cường lực lượng biến Điện Biên Phủ thành một cứ điểm mạnh. Trong trường hợp này, Điện Biên Phủ sẽ là trận công kiên lớn nhất từ trước tới lúc bấy giờ.

Công tác chuẩn bị cho chiến dịch này "có nhiều khó khăn, cần ráo riết tập trung lực lượng mới làm kịp, nhưng nếu kiên quyết khắc phục khó khăn, hoàn thành được chiến dịch thì thắng lợi này sẽ là một thắng lợi rất lớn"1.

Tổng Quân uỷ trình bày cụ thể nhu cầu sử dụng binh lực, số lượng dân công, lương thực, thực phẩm, kế hoạch làm đường và phương tiện vận chuyển; thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày. Báo cáo nhấn mạnh: "Ta có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện chủ trương của Trung ương, nhưng đồng thời cũng có nhiều khó khăn, khó khăn lớn nhất vẫn là vấn đề cung cấp, mà chủ yếu là vấn đề đường sá"2.

Phương án tác chiến trên được Bộ Chính trị nhất trí thông qua và gấp rút chỉ đạo thực hiện.

Có thể thấy quyết định trên của Bộ Chính trị thể hiện rõ quyết tâm của cấp lãnh đạo cao nhất theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc" để giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày 1-1-1954, Bộ Chính trị thành lập cơ quan lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ chiến dịch.

Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, trên các chiến trường, hậu phương và vùng sau lưng địch, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dốc sức tiến hành nhiều hoạt động tổ chức lực lượng huy động sức người, sức của với tinh thần quyết tâm cao giành thắng lợi tại Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Các cuộc tiến công của quân, dân ta được mở ra trên năm hướng:

- Tại Lai Châu, trung tuần tháng 12-1953, ta tiến công địch, giải phóng Lai Châu, cô lập Điện Biên Phủ.

- Tại Trung Lào, hạ tuần tháng 12-1953, bộ đội ta phối hợp với Quân giải phóng Lào tiến công diệt một bộ phận địch, mở rộng vùng căn cứ. Nava phải vội tăng quân cho chiến trường này và lập một tập đoàn cứ điểm tại Xênô.

- Trên mặt trận Hạ Lào, đông Campuchia, bộ đội Lào - Việt đánh địch tại Hạ Lào, giải phóng thị xã Atôpơ và cao nguyên Bôlôven. Tiếp đó, bộ đội ta phối hợp với Quân giải phóng Ítxarắc giải phóng nhiều vùng thuộc miền đông và đông bắc Campuchia.

- Trên mặt trận Tây Nguyên, ta chủ trương phá kế hoạch của Nava dùng một lực lượng mạnh (40 tiểu đoàn) đánh chiếm vùng tự do Liên khu V, bằng cách chỉ dùng một bộ phận quân chủ lực bảo vệ hậu phương và tập trung lực lượng giải phóng thị xã Kon Tum, rồi mở rộng địa bàn tiến công địch ở phía bắc và nam Tây Nguyên. Chiến dịch diễn ra vào những ngày cuối tháng 1 đầu tháng 2-1954. Thắng lợi đó buộc địch không những không thể đánh chiếm vùng tự do Liên khu V, mà phải điều quân từ nhiều nơi tới, lập hai tập đoàn cứ điểm An Khê và Plâycu.

- Tại Thượng Lào, sau khi phát lệnh đình nổ súng vào ngày 26-1-1954, Đại đoàn 308 được điều sang Thượng Lào, phối hợp với Quân giải phóng Lào tiến công địch tại phòng tuyến sông Nậm Hu, địch thua chạy, bị quân ta truy kích đến sát Luông Prabăng. Bộ đội ta và Quân giải phóng Lào giải phóng tỉnh Phông Xa Lỳ và bao vây Mường Sài.

Cùng với năm mũi tiến công lớn đó, trên chiến trường Bắc Bộ, Nam Bộ, Bình - Trị - Thiên, cực Nam Trung Bộ, ta đều tiến hành nhiều hoạt động tiến công địch và thu nhiều thắng lợi, buộc Nava phải lún sâu vào thế bị động, phải phân tán lực lượng để đối phó đúng như dự đoán của Bác Hồ từ tháng 10-1953.

Trên mặt trận ngoại giao, qua trả lời một nhà báo Thụy Điển, ngày 26-11-1953, Bác Hồ nêu rõ ý chí của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, thiện chí hoà bình và lập trường của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà giải quyết cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp. Người nói: "Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó"3. Người cũng xác định rõ thành phần cuộc thương lượng đình chiến: "Việc thương lượng đình chiến chủ yếu là một việc giữa Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Chính phủ Pháp"4. Lời tuyên bố đó của Bác Hồ càng tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế và tác động tích cực đến phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp vì độc lập, dân chủ, hoà bình, đòi chấm dứt hành động chiến tranh của nhà cầm quyền Pháp tại Việt Nam; hỗ trợ cho cuộc chiến đấu của quân dân ta khi Chiến dịch Điện Biên Phủ sắp diễn ra.
______________________________________
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 14, tr.594, 598.
3, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 14, tr.517, 518.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 04:57:18 pm

Từ cuối tháng 11 đầu tháng 12-1953, công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ rất dồn dập và khẩn trương. Cũng lúc đó, đầu tháng 12-1953, Bác Hồ chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được"1.

Giữa lúc các đơn vị bộ đội tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ đang ra trận, Bác Hồ viết thư động viên cán bộ và chiến sĩ mặt trận Điện Biên Phủ: "Năm nay, sau những cuộc chỉnh huấn chính trị và quân sự, các chú đã tiến bộ hơn. Các chú phải chiến đấu anh dũng hơn, chịu đựng gian khổ hơn, phải giữ vững quyết tâm trong mọi hoàn cảnh:
Quyết tâm tiêu diệt địch,
Quyết tâm giữ vững chính sách,
Quyết tâm tranh nhiều thắng lợi"2.

Ngày 26-11-1953, một bộ phận tiền phương Bộ Tổng tư lệnh đi lên Lai Châu nghiên cứu tình hình chiến trường, chuẩn bị phương án tác chiến. Ngày 9-12-1953, đồng chí Hoàng Văn Thái, Phó Tổng tham mưu trưởng, phụ trách tham mưu cùng cố vấn tham mưu Mai Gia Sinh và một số cán bộ bàn cách đánh, sau khi xem xét thuận lợi, khó khăn về nhiều mặt khi đánh một tập đoàn cứ điểm mạnh như Điện Biên Phủ, đã nhất trí chọn phương án đánh nhanh, thắng nhanh. Dự kiến sẽ đánh trong ba đêm hai ngày.

Ngày 5-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt đầu lên đường tới Điện Biên Phủ. Trước lúc ra trận, Đại tướng đến chào Bác Hồ, Người dặn: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh. Không chắc thắng không đánh".

Chiều 12-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới Sở Chỉ huy ở hang Thẩm Púa và triệu tập Hội nghị Đảng uỷ mặt trận. Tại Hội nghị, các đảng uỷ viên đều nhất trí chọn phương án đánh nhanh, thắng nhanh với lý do quân ta đang sung sức, quyết tâm cao, có trọng pháo, cao xạ tham gia chiến đấu, việc cung cấp hậu cần có thể đáp ứng được nhu cầu chiến dịch. Còn đánh dài ngày, sẽ gặp nhiều khó khăn về cung cấp lương thực, thực phẩm (tại chiến trường Điện Biên Phủ, mỗi ngày dùng gần 50 tấn gạo. Từ Sơn La trở lên, mỗi ngày dùng 90 tấn cho bộ đội và dân công); đạn, thuốc chữa bệnh; bộ đội dễ phát sinh bệnh tật,...

Đại tướng không tán thành ý kiến đó, bởi cách đánh nhanh, thắng nhanh chưa đủ cơ sở để thực hiện phương châm "chắc thắng mới đánh" mà Bác Hồ đã dặn kỹ, phương án tác chiến do Tổng Quân uỷ trình, được Bộ Chính trị thông qua ngày 6-12-1953.   Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết: "Chính vào thời điểm ấy, như một linh cảm, hay đúng hơn là kết quả của một quá trình suy nghĩ theo tư tưởng đánh chắc thắng, theo lời dặn của Bác: "Trận này rất quan trọng phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh", tôi đã cho đi sâu theo dõi thực tiễn tình hình địch, đánh giá cho đúng mọi vấn đề trước giờ nổ súng.

Kết quả nghiên cứu thực tế chiến trường cho thấy: địch đã xây dựng hệ thống cứ điểm kiên cố, và phân tích ý kiến của đồng chí Phạm Kiệt về tình hình bảo vệ pháo tại trận địa: "Lúc này pháo vẫn phơi mình trên mặt đất, chỉ kịp làm công sự dã chiến, ban ngày địch mà phát hiện được thì thật nguy hiểm"3. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 báo cáo: "Nếu thực hiện cách đánh nhanh, quân của anh phải đột phá liên tục ba phòng tuyến rất khó khăn nhưng sẽ cố gắng"4 đã khiến Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: "Nếu đánh nhanh giải quyết nhanh thì tổn thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại"5.

Sau 11 ngày đêm suy nghĩ (từ 14-1, ngày hội nghị cán bộ phổ biến phương án đánh nhanh, thắng nhanh và nhiệm vụ của các đơn vị, các binh chủng, đến đêm 25-1-1954), sáng ngày 26-1-1954, trước giờ nổ súng, Đại tướng quyết định chọn phương án đánh chắc, tiến chắc. Trước khi công bố phương án này, Đại tướng trao đổi ý kiến với đồng chí Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc và nhận được sự tán thành. Tại cuộc họp Đảng uỷ mặt trận, khi thảo luận phương án tác chiến, vấn đề đặt ra là phương án đánh nhanh, thắng nhanh có chắc thắng trăm phần trăm không? Không có ai trả lời là chắc thắng.

Cuối cùng, Đại tướng kết luận: thực hiện phương án đánh chắc tiến chắc. Hoãn cuộc tiến công. Đồng chí coi đó là quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy quân sự của mình. Chuyển từ cách đánh ba đêm hai ngày sang cách đánh mới dài 55 ngày đêm kéo theo biết bao khó khăn, nhất là việc huy động lương thực, nhân lực vận chuyển để cung cấp cho hàng vạn chiến sĩ và dân công mà Đảng, Chính phủ và nhân dân phải gắng sức thực hiện.

Trong bức điện ngày 30-1-1954, báo cáo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh và Bộ Chính trị, đồng chí Võ Nguyên Giáp (ký mật danh Hưng) viết: Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước, trong giai đoạn đầu tiêu diệt sinh lực chúng ở ngoại vi, đồng thời, tìm cách tiêu hao chúng, khống chế sân bay để hạn chế hoặc triệt đường tiếp tế của chúng trong thời gian khá dài. Vì vậy, chúng tôi quyết định:

Tạm đình ngày nổ súng, điều chỉnh lại bộ đội cho hợp với kế hoạch mới, vận chuyển cao pháo, trọng pháo trở lại phía đông để sử dụng cơ động...

Bức điện báo cáo những công tác cần giải quyết: chuẩn bị tân binh, lương thực, làm đường cho pháo vào mặt trận và điều bộ đội sang tiến công phòng tuyến Nậm Hu... 6.

Bác Hồ, Tổng Bí thư Trường Chinh và Bộ Chính trị phê chuẩn ý kiến trên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đó phù hợp với tình hình thực tế chiến trường và phương châm tác chiến mà Trung ương Đảng và Bác Hồ đã nêu ra tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 1-1953, và nhiều lần Bác Hồ đã khẳng định.

Lãnh đạo thực hiện phương án đánh chắc, tiến chắc trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung ương Đảng và Bác Hồ hết sức quan tâm chỉ đạo quân đội, các ngành, các địa phương hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến dịch. Ngày 8-2-1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị gửi Tổng Quân uỷ, các liên khu uỷ và khu uỷ động viên quân đội và nhân dân tiếp tục đánh giặc, phục vụ tiền tuyến. Về nhiệm vụ của quân đội, Chỉ thị xác định: "Đảng ủy và cán bộ chỉ huy các cấp của quân đội phải nhận rõ tình hình, thấm nhuần sâu sắc chủ trương quân sự của Trung ương, nhận rõ nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang của quân đội, phát huy truyền thống khắc phục khó khăn, vượt mọi gian khổ, liên tục chiến đấu anh dũng, ra sức thực hiện chủ trương quân sự của Trung ương và kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy cho được thắng lợi"7.

Đối với đảng ủy các cấp, Bộ Chính trị nêu rõ các nhiệm vụ phải lãnh đạo thực hiện: "Cần phải nhận rõ chủ trương quân sự của Trung ương, phải đặt nhiệm vụ tác chiến và phục vụ tiền tuyến là nhiệm vụ trung tâm thứ nhất trong mọi công tác lúc này và phải quyết tâm huy động nhân lực, vật lực để phục vụ tiền tuyến. Đồng thời kết hợp chặt chẽ việc phục vụ tiền tuyến với việc phát động quần, chúng giảm tô, cải cách ruộng đất và việc tăng gia sản xuất"8.
______________________________________
1. Dẫn theo Ban tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 202.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr.550-551.
3, 4, 5. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ xưa và nay, Tạp chí Xưa và Nay số 2. tháng 5-1994.
6. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 562.
7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 15, tr.32.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 17 Tháng Mười Hai, 2021, 05:02:35 pm

Hai tuần sau, ngày 22-2-1954, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị Ra sức phá tan mưu mô đẩy mạnh chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp - Mỹ, nhấn mạnh: "Công tác trung tâm trước mắt của toàn thể quân và dân ta là tập trung lực lượng đánh thắng địch trong những trận sắp tới, tiêu diệt nhiều sinh lực địch hơn nữa"1.

Sau hai ngày quân ta nổ súng tấn công địch tại Điện Biên Phủ, ngày 15-3-1954, Trung ương Đảng và Bác Hồ gửi điện động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ tại mặt trận Điện Biên Phủ. "Trung ương và Bác được báo cáo về hai trận thắng đầu tiên của quân đội ta ở Điện Biên Phủ. Trung ương và Bác có lời khen các đồng chí. Chiến dịch này là một chiến dịch lịch sử của quân đội ta, ta đánh thắng chiến dịch này có ý nghĩa quân sự và chính trị quan trọng.

Địch sẽ ra sức đối phó, ta phải cố gắng, chiến đấu dẻo dai, bền bỉ, chớ chủ quan khinh địch, quyết giành toàn thắng cho chiến dịch này"2.

Sau hai đợt tấn công của quân ta ở mặt trận Điện Biên Phủ đều thắng lợi, nhưng cũng nảy sinh một số khuyết điểm trong đội ngũ cán bộ như chủ quan khinh địch, chủ quan tự mãn, ngại thương vong... Ngày 19-4-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết Về tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đề cao quyết tâm tích cực giành toàn thắng cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ của các cấp uỷ, các đảng viên và toàn thể cán bộ là phải: "Nhận rõ những thắng lợi của hai đợt tấn công của quân ta vừa qua, nhận rõ những khả năng của quân đội và nhân dân ta hiện nay có đủ điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch, đồng thời nhận rõ những khó khăn của ta về tư tưởng, về tác chiến, về cung cấp... Nhưng đó là những khó khăn ta hoàn toàn có khả năng khắc phục được.

Ra sức khắc phục tư tưởng hữu khuynh, củng cố và đề cao quyết tâm, đề cao tinh thần trách nhiệm trước nhân dân, quân đội và Đảng, kiên quyết sửa chữa những khuyết điểm vừa qua, tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đồng thời tích cực tranh thủ thời gian, triệt để chấp hành mệnh lệnh, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ, giành toàn thắng cho chiến dịch này"3.

Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm của toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ là: "nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"4.

Tinh thần Nghị quyết Bộ Chính trị được quán triệt và cụ thể hóa thành nhiệm vụ của các Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, Khu Tây Bắc, Liên khu III và IV tại Chỉ thị ngày 21-4-1954 của Ban Bí thư.

Để bảo đảm chiến dịch toàn thắng, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy đảng cần:

- Nhận thức đúng ý nghĩa rất quan trọng của chiến dịch này về quân sự, chính trị, quán triệt cho cán bộ, đảng viên nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến, đồng thời giải thích cho nhân dân, nghiêm chỉnh thi hành triệt để, nhanh chóng mọi mệnh lệnh động viên nhân lực, vật lực phục vụ tiền tuyến của Chính phủ và của Bộ Tổng tư lệnh ở địa phương mình.

- Kiểm tra, đôn đốc thật nghiêm chặt chẽ việc tổ chức, động viên nhân lực, vật lực, sửa chữa kịp thời tình trạng tổ chức không hợp lý, tác phong đại khái, qua loa và nạn lãng phí nhân lực, vật lực và thời gian.

- Các liên khu uỷ, tỉnh uỷ có nhiệm vụ phục vụ tiền tuyến phải có uỷ ban chuyên trách việc này cho đến khi hoàn nhiệm vụ.

Cùng ngày 21-4-1954, trong thư gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp, Ban Bí thư một lần nữa nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của ta là củng cố quyết tâm giành toàn thắng của quân đội, nhất là cán bộ các cấp, nắm vững phương châm "đánh chắc, tiến chắc", và bảo đảm cung cấp vật phẩm cho tiền tuyến.

Ban Bí thư cũng thông báo: Bộ Chính trị đã đôn đốc Hội đồng Cung cấp và các khu, các tỉnh thực hiện cho được việc động viên nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch. Các đồng chí Nguyễn Văn Trân được phái đi mặt trận, đồng chí Văn Tiến Dũng đi Khu IV, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đi Việt Bắc để kiểm tra, đôn đốc, đồng chí Lê Văn Lương đôn đốc chung. Ban Bí thư đề nghị đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo hằng ngày về Trung ương kết quả vận chuyển lương thực và đạn dược lên hoả tuyến.

Số vật chất và nhân lực do đồng bào Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III và Liên khu IV đóng góp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ là rất lớn, bảo đảm sức khoẻ cho bộ đội xây dựng trận địa và chiến đấu ròng rã trong nhiều tháng.

Sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ được thể hiện rõ trên chiến trường Điện Biên Phủ. Qua 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng anh dũng và gian khổ, quân dân ta đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã động viên cao độ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, ở tiền tuyến và hậu phương vào thời điểm cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và sự nghiệp kiến quốc đã phát triển đến trình độ cao. Tổng Quân uỷ, Bộ Tổng tư lệnh và Đảng uỷ mặt trận Điện Biên Phủ đã chỉ huy kiên quyết, vững vàng và đưa ra những quyết định chính xác, mà tiêu biểu là sự thay đổi cách đánh từ đánh nhanh, thắng nhanh sang đánh chắc, tiến chắc.

Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ đã phát huy ý chí quyết tâm tiêu diệt địch, vượt qua gian khổ hy sinh, anh dũng chiến đấu của bộ đội trên chiến trường Điện Biên Phủ và các lực lượng vũ trang trên các chiến trường phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ; đồng thời đã huy động được tối đa sự đóng góp sức người, sức của tại hậu phương phục vụ tiền tuyến.

Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Bác Hồ cũng tranh thủ được sự ủng hộ tích cực của nhân dân Lào, Campuchia và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới.

Tất cả các nhân tố trên đã đưa tới chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trong trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.
________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 15, tr.32.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.53, 88.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr. 88.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 09:07:13 am

PHƯƠNG CHÂM CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC
CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953 -1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

PGS, TS. NGUYỄN TRỌNG PHÚC
Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945 - 1954), Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những lần ở thời điểm đầy khó khăn thử thách đi đến những quyết định cực kỳ quan trọng ghi dấu ấn lịch sử. Đó là quyết định "toàn dân kháng chiến" ngày 12-12-1946 của Trung ương Đảng và Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19-12-1946 đưa cả dân tộc vào cuộc trường chinh hào hùng để giữ vững quyền tự do và độc lập. Đó là Chỉ thị ngày 15-10-1947: Phải phá cuộc tấn công mùa Đông của giặc Pháp dẫn tới chiến thắng Việt Bắc Thu Đông 1947. Quyết định của Trung ương và Chủ tịch Hồ Chí Minh về mở Chiến dịch Biên giới ngày 16-9-1950 dẫn tới chiến thắng Biên giới - sự phát triển nhảy vọt về chất của cuộc kháng chiến. Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương ngày 24-11-1951 Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hoà Bình của địch, mở Chiến dịch Hoà Bình, v.v.... Điểm lại một số sự kiện lịch sử đó để thấy rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo có ý nghĩa quyết định như thế nào đối với mỗi bước phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến. Phương châm chiến lược của Đảng trong kháng chiến chống thực dân Pháp là đánh lâu dài, đồng thời ra sức phát triển lực lượng để giành những thắng lợi lớn làm chuyển biến nhanh chóng so sánh lực lượng và cục diện trên chiến trường. Vì vậy trước năm 1953 quân và dân ta đã lần lượt làm thất bại kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh, kế hoạch Rơve (Revers), kế hoạch Đờ Lát Đờ Tátxinhi (De Lattre De Tassiny) của địch.

Từ mùa Hè 1953, thực dân Pháp được Mỹ tiếp sức đẩy mạnh quy mô và cường độ của cuộc chiến tranh xâm lược bằng kế hoạch quân sự Nava. Đó là một kế hoạch quân sự toàn diện, có hệ thống nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Kế hoạch Nava dự định tiến hành theo hai bước:

Bước thứ nhất, quân Pháp giữ thế phòng ngự chiến lược ở bắc vĩ tuyến 18, tránh đương đầu với chủ lực của Việt Minh; xây dựng khối chủ lực cơ động, đồng thời tiến công bình định ở miền Nam, miền trung Đông Dương xoá bỏ vùng tự do Liên khu V. Bước thứ nhất thực hiện cuối năm 1953 đầu năm 1954.

Bước thứ hai, khi đã có ưu thế về lực lượng cơ động thì từ mùa Thu 1954, chuyển lực lượng ra phía bắc, tiến công mãnh liệt, gây sức ép buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện có lợi cho chúng.

Phía Pháp hy vọng với kế hoạch Nava có thể "chuyển bại thành thắng" trong vòng 18 tháng.

Để thực hiện kế hoạch Nava, từ tháng 7-1953 địch mở rộng càn quét ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên và Nam Bộ, tập trung quân cơ động chiến lược ở Bắc Bộ. Sau khi rút quân ở Nà Sản về, tháng 8-1953 ở Bắc Bộ địch đã tập trung tới 90% lực lượng cơ động.

Tháng 9-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp ở Định Hoá, Thái Nguyên bàn nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953   - 1954, làm thất bại kế hoạch Nava của địch. Bộ Chính trị đề ra các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến là: Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh, giữ vững chủ động kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam đặt kế hoạch tác chiến trên bốn hướng: Tây Bắc và Thượng Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Trung, Hạ Lào và phát triển sang đông Campuchia, Tây Nguyên (Liên khu V). Từ giữa tháng 11-1953, quân chủ lực của ta bắt đầu tấn công theo các hướng đã định. Quân chủ lực của ta tiến lên Tây Bắc. Quân Pháp lập tức mở cuộc hành quân chiếm Điện Biên Phủ. Nava nhận định rằng, Điện Biên Phủ quá xa hậu phương của quân đội Việt Nam, lực lượng và vũ khí của quân đội Việt Nam còn hạn chế, vì vậy quân đội viễn chinh Pháp chấp nhận giao chiến với Quân đội nhân dân Việt Nam tại Điện Biên Phủ. Nava chủ trương xây dựng Điện Biên Phủ thành cứ điểm rất mạnh, sẵn sàng "nghiền nát" bộ đội chủ lực của Việt Nam.

Ngày 6-12-1953, tại Tỉn Keo xã Phú Đình, huyện Định Hoá, Thái Nguyên, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Để phối hợp và tạo thuận lợi cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, các đơn vị chủ lực Quân đội nhân dân Việt Nam đã hình thành năm đòn tiến công. Ngày 10-12-1953, quân ta tiến công thị xã Lai Châu. Qua 15 ngày chiến đấu, ta đã giải phóng toàn bộ khu vực Lai Châu và uy hiếp Điện Biên Phủ từ phía bắc. Tại Trung Lào, hạ tuần tháng 12-1953, Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào tiến công Xênô tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, thu hút, phân tán lực lượng của địch, tạo cho các hướng khác tiên công. Ở Hạ Lào và đông Campuchia, quân đội Việt - Lào tiến công giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ cao nguyên Bôlôven. Quân chủ lực Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Ítxarắc (Campuchia) giải phóng Viên Sai, Xiêm Pong, uy hiếp Stung Treng tiến xuống sông Sơlông. Quân tình nguyện Việt Nam cùng với Quân giải phóng Ítxarắc ở miền đông Campuchia giải phóng phần lớn Côngpôngchàm, tiến sát sông Sơlông. Tại Liên khu V, theo kế hoạch Nava, địch mở Chiến dịch Átlăng đánh Phú Yên hòng chiếm Liên khu V của ta. Quân chủ lực ta chủ động tiến công địch ở Tây Nguyên giải phóng thị xã Kon Tum, uy hiếp Plâycu. Quân địch buộc phải ngừng tiến công ở Phú Yên để điều lực lượng lên Tây Nguyên, xây dựng tập đoàn cứ điểm ở An Khê - Plâycu. Quân ta tiến công mạnh vào cứ điểm đó. Ở Thượng Lào, hạ tuần tháng 1-1954, Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào tiến công địch trên phòng tuyến sông Nậm Hu. Địch tháo chạy, bộ đội Việt - Lào truy kích địch đến cách Luông Prabăng 15km, tiếp đó tiến lên phía bắc giải phóng tỉnh Phông Xa Lỳ và bao vây Mường Sài. Trong năm đòn tiến công chiến lược, hướng Tây Bắc là hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp.

Như vậy, với năm đòn tiến công đó của ta, ý đồ của địch trong kế hoạch Nava tập trung quân cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ đã không thể thực hiện được. Địch buộc phải phân tán lực lượng lên Điện Biên Phủ, Trung và Hạ Lào, Tây Nguyên và Thượng Lào. Kế hoạch Nava đã rơi vào tình trạng bị động đối phó. Quân đội cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia đã quán triệt cả Đông Dương là một chiến trường, phối hợp tiến công địch và phân tán lực lượng của địch theo đúng những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến mà Bộ Chính trị đã đề ra.
____________________________________________
1. Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia: Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Điện Biên, ngày 7, 8-3-2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 09:10:14 am

Thực tế diễn biến trên chiến trường Đông Dương cuối năm 1953 và những ngày đầu năm 1954 đã chứng minh những nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến của Bộ Chính trị là đúng đắn, thể hiện tài thao lược của Ban lãnh đạo tối cao trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh cách mạng. Thành công nổi bật của Đảng là không đánh vào nơi địch tập trung quân với lực lượng mạnh là đồng bằng Bắc Bộ, nơi địa hình, địa thế không có lợi cho ta (điều này đã được tổng kết rút ra bài học khi ta mở các Chiến dịch Hà Nam Ninh, Trung du và Chiến dịch Đường số 18 cuối năm 1950 đầu năm 1951), mà tiến công địch ở những nơi địch sơ hở và tương đối yếu nhưng lại có vị trí chiến lược quan trọng buộc địch phải tăng cường lực lượng và cố giữ. Điều đó làm cho địch phải phân tán lực lượng và do đó đồng bằng Bắc Bộ cũng không còn là nơi địch có sức mạnh quân sự tối đa. Cùng lúc Đảng phát động chiến tranh du kích mạnh mẽ ở đồng bằng Bắc Bộ và các chiến trường sau lưng địch để phối hợp với các đòn tiến công đã định, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của địch, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó với ta trên khắp các chiến trường.

Âm mưu của địch là giành lại chủ động mà chúng đã mất từ sau Chiến dịch Biên giới với kế hoạch Nava nhưng ngày càng rơi vào thế bị động, đối phó. Trái lại, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục chủ động tiến công địch mạnh mẽ trên những hướng đã định với những đòn tiến công lớn và liên tiếp giành thắng lợi. Đảng cũng nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng chúng vẫn cố gắng kéo dài và mở rộng chiến tranh. Chúng ra sức càn quét ở vùng sau lưng và vùng du kích, đồng thời mở rộng hành quân đánh ra vùng tự do của ta, mục đích là phá hoại nhân lực, vật lực của ta, phá kế hoạch tác chiến của ta. Cuộc hành binh Hải Âu (Mouette) đánh ra tây nam Ninh Bình ngày 25-10-1953 chứng tỏ điều đó. Đảng cũng dự báo rằng, địch có thể tiếp tục các cuộc hành binh như thế vào dọc bờ biển Thanh - Nghệ - Tĩnh, hoặc những cuộc hành binh lớn đánh sâu vào hậu phương của ta như ở Lạng Sơn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hoà Bình, hoặc vùng tự do Liên khu V... Ngày 9-11-1953, Bộ Chính trị ra Chỉ thị Về tích cực chuẩn bị phá âm mưu địch đánh ra vùng tự do.

Bộ Chính trị đã phân tích và chỉ rõ, thế chủ động của ta là kết quả của cả một quá trình đấu tranh gay go giữa ta và địch, sở dĩ từ Chiến dịch Biên giới, địch đã thất bại trong mưu đồ định giành lại chủ động là vì chúng ta đã nắm vững đường lối quân sự, nắm vững phương châm quân sự, nắm vững phương châm "lấy tiêu diệt sinh lực địch làm chính" mà kiên quyết tập trung ưu thế binh lực ở hướng địch yếu và sơ hở mà đánh, chịu đựng một phần nào những khó khăn gây nên bởi việc địch đánh ra các hướng khác (như trong Chiến dịch Biên giới, địch đánh lên Thái Nguyên; trong Chiến dịch Tây Bắc, địch đánh lên Phú Thọ). Chỉ thị của Bộ Chính trị nhấn mạnh: "Chúng ta lúc nào cũng phải nắm thật vững phương châm tiêu diệt sinh lực địch là chính. Để cho chủ lực ta có thể tập trung ở một hướng địch yếu và sơ hở đặng tiêu diệt địch, bất luận trong khi địch đánh ra một nơi nào hay trong khi ta tấn công địch, các địa phương phải tích cực chuẩn bị về tư tưởng cũng như về tổ chức, lấy lực lượng địa phương là chính, có kế hoạch đối phó với địch khi địch đánh đến, tiêu diệt, hoặc tiêu diệt một bộ phận địch, hạn chế những thiệt hại do chúng gây nên, phối hợp với chủ lực tiêu diệt địch ở hướng chính. Có như thế ta mới luôn luôn nắm vững chủ động"1. Tinh thần chủ động tiến công địch trên các chiến trường phản ánh thế và lực của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam ngày càng phát triển và cũng thể hiện quyết tâm chiến lược của Đảng và nhân dân ta giành thắng lợi quyết định.

Trong khi nắm vững chủ động tiến công địch, làm thất bại kế hoạch Nava của địch, kiên quyết kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam cũng tán thành thương lượng nhằm mục đích giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam. Ngày 26-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời chủ bút báo Expressen (Thụy Điển) nêu rõ: "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam là do Chính phủ Pháp gây ra. Nhân dân Việt Nam phải cầm vũ khí anh dũng chiến đấu bảy, tám năm nay chống kẻ xâm lược chính để bảo vệ nền độc lập và quyền tự do được sống hoà bình. Hiện nay nếu thực dân Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược thì nhân dân Việt Nam quyết tâm tiếp tục cuộc chiến tranh ái quốc đến thắng lợi cuối cùng. Nhưng nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó"2. Người nhấn mạnh, cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam. Người nói: Đối với nhân dân Việt Nam "Hoà bình không thể tách rời độc lập dân tộc".

Trong Quốc hội Pháp khi đó có một số lớn người đã có ý muốn dàn xếp một cách hoà bình vấn đề chiến tranh ở Việt Nam bằng cách thương lượng trực tiếp với Chính phủ Việt Nam. Ý nguyện ấy cũng ngày càng rộng khắp trong nhân dân Pháp. Tuy nhiên, giới cầm quyền hiếu chiến Pháp vẫn lao sâu vào chiến tranh xâm lược với kế hoạch Nava đầy tham vọng. Việc kéo dài và mở rộng chiến tranh là từ phía thực dân Pháp.

Cùng với những đòn tiến công chiến lược của quân chủ lực ta, hoạt động ở vùng sau lưng địch của quân và dân ta trong khoảng thời gian cuối năm 1953 đầu năm 1954 cũng không ngừng phát triển. Điểm quyết chiến chiến lược đã hình thành ở Điện Biên Phủ. Quyết định của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh về mở Chiến dịch Điện Biên Phủ là hoàn toàn đúng đắn. Trước khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cho Đại tướng toàn quyền quyết định ở mặt trận và căn dặn: Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh.

Khi quân Pháp mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ (11-1953), ta chủ trương thực hiện phương châm tác chiến "đánh nhanh, thắng nhanh". Do lực lượng địch được tăng cường và ta cần có sự chuẩn bị tốt hơn nên trên cơ sở phân tích tình hình cụ thể trên, Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề nghị chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Đề nghị đó đã được Bộ Chính trị chuẩn y. Ngày mở màn chiến dịch được quyết định là 13-3-1954.

Cho đến đầu tháng 3-1954, lực lượng địch là 20 tiểu đoàn, phần lớn là lính Âu - Phi được bố trí ở 49 cứ điểm với sự hỗ trợ, tiếp tế của 80% số máy bay của Pháp ở Đông Dương.
_________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr.351.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7. tr.168.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 09:14:00 am

Ngày 13-3-1954, quân ta mở màn đợt thứ nhất tiến công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của địch. Từ ngày 13 đến ngày 17-3, quân ta phá vỡ hệ thống phòng ngự phân khu bắc và một ổ đề kháng của phân khu trung tâm, giành được thắng lợi to lớn. Đợt tiến công thứ hai quân ta đánh vào hệ thống phòng ngự phía đông của địch. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, ta giành thắng lợi quan trọng nhưng chưa đạt được mục tiêu đề ra. Đảng uỷ mặt trận lãnh đạo công tác tư tưởng thông qua đợt sinh hoạt chính trị nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Ngày 1-5-1954, bắt đầu đợt tiến công thứ ba, quân ta đánh chiếm cụm cứ điểm cuối cùng ở phía đông và chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngày 7-5-1954, sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cần nhấn mạnh về vai trò chủ động, năng động chỉ đạo sát với thực tế của Bộ Chỉ huy mặt trận trong việc chuyển từ phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc", đồng thời thấy rõ sự lãnh đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với diễn biến trên mặt trận. Khi đang diễn ra đợt tiến công thứ hai ở Điện Biên Phủ, ngày 19-4-1954, Bộ Chính trị đã ra nghị quyết chỉ đạo các chiến trường phối hợp chặt chẽ với Điện Biên Phủ. Nghị quyết nêu rõ: "Ở mặt trận Điện Biên Phủ quân ta đã mở rộng hai đợt tấn công thắng lợi, đã tiêu diệt hơn 5.000 quân địch, chiếm hầu hết những vị trí ở xung quanh và ở sát khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của địch. Quân ta hiện đang chuẩn bị hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch. Để thu được toàn thắng, quân ta phải thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc""1.

Ngày 21-4-1954, Ban Bí thư Trung ương Đảng trong thư gửi đồng chí Võ Nguyên Giáp đã truyền đạt ý kiến của Bộ Chính trị lưu ý âm mưu và hành động chống giữ của địch ở khu trung tâm, dùng máy bay và trọng pháo đánh phá trận địa của ta, phá hoại đường tiếp tế của ta hòng cố giữ đến mùa mưa và cho rằng quân ta "phải rút vì không khắc phục được những khó khăn về cung cấp". Bộ Chính trị và Ban Bí thư nhấn mạnh: ''Nhiệm vụ trước mắt của ta là một mặt củng cố quyết tâm giành toàn thắng của quân đội, nhất là của cán bộ các cấp, nắm vững phương châm "đánh chắc, tiến chắc ", mặt khác đảm bảo cung cấp cho tiền tuyến"2. Bộ Chính trị đã đôn đốc Hội đồng Cung cấp và các khu, các tỉnh thực hiện cho được việc động viên nhân lực, vật lực phục vụ chiến dịch.

Thành công nổi bật trong phương châm chỉ đạo chiến lược của Đảng trong toàn bộ chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ là không để địch tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ mà phân tán lực lượng của chúng để đánh, và khi đã phân tán lực lượng địch ra năm địa bàn đã chọn, hướng tiến công chính là Tây Bắc và Điện Biên Phủ. Trong khi tiến công hướng chính là Điện Biên Phủ, Đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo các chiến trường khác đồng loạt tiến công địch để phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ, tạo điều kiện giành thắng lợi quyết định ở Điện Biên Phủ. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ (6-12-1953) để sớm có sự chuẩn bị về mọi mặt. Sự chuẩn bị cho chiến dịch lớn này được tiến hành khẩn trương, có kế hoạch để bảo đảm chắc thắng, chuẩn bị chưa tốt thì hoãn thời điểm tiến công và đã đánh là chắc thắng. Đảng đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của hậu phương, sự chi viện mọi mặt của các khu, tỉnh và lập Hội đồng Cung cấp cho mặt trận. Việc chuyển từ phương châm: “đánh nhanh, thắng nhanh" sang phương châm: "đánh chắc, tiến chắc" là sự chỉ đạo đúng đắn, chính xác phù hợp với thực tế trên toàn chiến trường và tình hình cụ thể của mặt trận Điện Biên Phủ. Đề cao những nguyên tắc trong lãnh đạo của Bộ Chính trị, đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo của người chỉ huy trực tiếp ngoài mặt trận. Đó là những nét độc đáo, những vấn đề mang tính quy luật và lý luận của chiến tranh nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thất bại của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ là một thất bại chiến lược, vì kế hoạch đẩy mạnh chiến tranh giành lại thế chủ động trên chiến trường của địch đã bị phá tan. Kế hoạch Nava bị thất bại. Đối với quân đội và nhân dân Việt Nam là một thắng lợi lịch sử. "Thắng lợi này chứng tỏ quân ta tiến một bước vượt bậc về mặt chiến thuật, kỹ thuật, chỉ huy tác chiến và xây dựng quân đội, vì trận Điện Biên Phủ là một trận công kiên lớn chưa từng có trong lịch sử kháng chiến từ trước đến nay đã kết thúc bằng sự toàn thắng của ta". "Thắng lợi này cũng chứng tỏ sức cố gắng phi thường của nhân dân ta và Đảng ta về phục vụ tiền tuyến. Nó cũng chứng tỏ tổ chức phục vụ tiền tuyến của ta đã tiến bộ nhiều để đáp ứng với cuộc chiến tranh quy mô lớn và đang bắt đầu hiện đại hóa". "Chiến thắng ở Điện Biên Phủ cũng như ở các chiến trường toàn quốc năm nay chứng tỏ không những bộ đội chủ lực của ta tiến bộ lớn, mà bộ đội địa phương, dân quân du kích trên các chiến trường cũng tiến bộ nhiều. Từ trước đến nay chưa lúc nào quân ta phối hợp tác chiến rộng khắp và liên tục và thu nhiều thắng lợi như hiện nay"3.

Chiến thắng trên chiến trường toàn quốc Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ thể hiện sức mạnh và tính sáng tạo, độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam vừa kế thừa truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc suốt mấy ngàn năm lịch sử vừa phát triển cao về chiến thuật và kỹ thuật của một cuộc chiến tranh hiện đại mang tính chất cách mạng và giải phóng dân tộc một cách triệt để do đội tiên phong cách mạng là Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Thất bại của thực dân Pháp trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ là một kết cục tất yếu dành cho các thế lực xâm lược, hiếu chiến. Với dã tâm cướp nước ta một lần nũa, chúng đã nhen lên ngọn lửa chiến tranh tàn bạo, từ chối mọi thiện chí hoà bình của Chính phủ và nhân dân ta. Chính những hành động xâm lược của thực dân Pháp, sự ngoan cố, kéo dài và mở rộng chiến tranh đã dẫn họ tới thất bại bi thảm ở Điện Biên Phủ. Đó là một bài học của lịch sử.
____________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr. 90.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr. 93.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.100.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 11:00:40 pm

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

PGS, TS. LÊ VĂN TÍCH
Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Cuộc đấu tranh của hàng chục triệu người ở khắp các châu lục nhằm giải phóng chế độ thuộc địa là sự kiện có ý nghĩa thời đại trong thế kỷ XX. Trong đó, chiến công đánh thắng thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5-1954 là thắng lợi mở đầu cho sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi quốc tế. Với chiến thắng lịch sử ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành người đầu tiên kiến lập thành công sự nghiệp giải phóng thuộc địa trong thế kỷ XX. Vì vậy, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, cụm từ Việt Nam - Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh luôn luôn được thế giới ngưỡng mộ; và Việt Nam trở thành tấm gương cho các dân tộc bị áp bức trên con đường giải phóng thuộc địa. Từ đó, Việt Nam - Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh không chỉ là cụm danh từ được viết hoa mà còn là một giá trị; nó đồng nghĩa với chiến thắng và trở thành tương lai cho các dân tộc bị áp bức noi theo.

1. Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo nên giá trị Việt Nam trong thế kỷ XX

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là bằng chứng khẳng định trên thực tế tính đúng đắn luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về tính chủ động của cuộc cách mạng giải phóng thuộc địa: Nó có thể nổ ra và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Thành quả vĩ đại nhất của cuộc cách mạng này là chế độ thuộc địa do thực dân Pháp lập ra ở Việt Nam gần một thế kỷ trước bị đánh đổ, thay vào đó là sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam còn là sự tuyên chiến và chiến thắng đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với chế độ cai trị thực dân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Tuy nhiên, được đế quốc Anh ủng hộ nên ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp lại quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được. Cuộc đọ sức lần này là sự khẳng định vị thế của một Nhà nước Việt Nam độc lập trước âm mưu tái lập một chế độ thuộc địa thông qua con bài Bảo Đại cùng bọn bù nhìn với nhiều cuộc gặp gỡ và nhiều tổ chức do thực dân Pháp dàn dựng, có sự "giúp sức" của đế quốc Mỹ. Do đó, để giành thắng lợi trong cuộc đọ sức này, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm đặt ra và giải quyết đúng đắn hai nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, thấy rõ những thuận lợi, khó khăn của lực lượng kháng chiến, đồng thời vạch rõ âm mưu, kịp thời để ra đối sách thích hợp trước mọi âm mưu của thực dân Pháp và bọn bù nhìn.

Là lãnh tụ chính trị và nhà chiến lược quân sự thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cùng Trung ương Đảng xây dựng đường lối kháng chiến, mà còn sớm tiên đoán về một "trận chiến quyết liệt" kết thúc kháng chiến. Từ năm 1949, thông qua hàng loạt cuộc phỏng vấn của giới báo chí quốc tế, Hồ Chí Minh thấy cánh cửa đàm phán để đi đến kết thúc cuộc chiến. Tuy nhiên, Người không thụ động chờ kết cục kháng chiến, mà vẫn tích cực chuẩn bị lực lượng cho trận đánh cuối cùng!2. Đây là những cuộc thăm dò thái độ của Chính phủ Hồ Chí Minh về những điều kiện cho một thoả thuận để kết thúc cuộc đối đầu Việt - Pháp sắp tới. Trong trả lời các cuộc phỏng vấn, Hồ Chí Minh vừa mở rộng cánh cửa hoà bình, vừa giữ vững nguyên tắc: quyền độc lập, thống nhất của Việt Nam.

Như một nhà tiên tri, từ giữa năm 1949, Hồ Chí Minh đã mô tả bước đi cuộc kháng chiến qua truyện ký Giấc ngủ mười năm3 như đúng cục diện và kết cục của cuộc đọ sức Pháp - Việt tại Điện Biên Phủ. Đó là:

- Pháp được Mỹ viện trợ: "chúng tiếp được viện binh bằng máy bay. Quân ta bắn rơi mấy chiếc, xét ra không phải máy bay của Pháp, mà của một nước ngoài"4 (thực tế, đến cuối Chiến dịch Điện Biên Phủ, Pháp đã nhận viện trợ của Mỹ là hơn 70%..., trong đó 120 máy bay viện trợ hẳn và 49 máy bay Mỹ cho Pháp mượn).

- Đây là "trận đánh lớn cuối cùng", kết thúc cuộc kháng chiến. Pháp huy động "từng đoàn, từng lũ máy bay... tủa ra như ong... Chúng giội bom xuống như mưa. Tốp máy bay này về thì tốp khác tới, chúng thay nhau ném bom... Tiếng nổ long trời chuyển đất, khói lên nghi ngút như mây" - "Theo kế hoạch của giặc, thì trận này phải là một trận khủng khiếp nhất".

- Quân ta thắng lớn và Pháp buộc phải đàm phán với ta, Pháp công nhận quyền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam: "Quân địch bị ta vây kín. Chúng không thể cứu viện được nhau, bị quân ta tiêu diệt gần hết". "Kết quả trận đấy khủng khiếp thật, nhưng khủng khiếp cho giặc... hơn một vạn giặc chết và bị thương5 "; "Tin thất bại về đến Pháp, cả nước xôn xao, đòi lập tức giảng hoà với ta. Quốc hội Pháp đánh đổ Chính phủ cũ, bầu ra Chính phủ mới. Chính phủ này liền phái đại biểu qua thương lượng với Chính phủ ta6 "; Chính phủ Pháp không thể "cò kè bớt một thêm hai" mà phải công nhận "Việt Nam hoàn toàn thống nhất và độc lập, có Quốc hội riêng, Chính phủ riêng, quân đội riêng, ngoại giao riêng...". Thực tế kết cục cuộc kháng chiến và những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương khá trùng hợp với tiên đoán trong Giấc ngủ mười năm.

Một năm sau khi bắt đầu Giấc ngủ mười năm, trên đường đi Chiến dịch Biên giới năm 1950, Hồ Chí Minh lại nói với các chiến sĩ cùng hành quân: "Cuộc kháng chiến của chúng ta tuy rất gian khổ, nó có thể kéo dài bốn, năm năm nữa, nhưng cuối củng chúng ta nhất định thắng lợi"7. Là bậc thầy chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh luôn luôn vạch ra đường lối chính trị và quân sự thích hợp để dẫn đến thắng lợi trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Tại thời điểm năm 1950, Hồ Chí Minh chưa có thể dự đoán chính xác nơi sẽ diễn ra trận chiến cuối cùng của cuộc kháng chiến, nhưng ngay ở chính giữa thế kỷ XX, Người đã sớm nhìn thấy và chủ động tạo ra những yếu tố để xây dựng con đường đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ - sự kiện mang ý nghĩa thời đại, góp phần làm nên giá trị Việt Nam trong thế kỷ XX.
__________________________________________
1. Tỉnh uỷ - Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Chỉ trong năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn của nhiều nhà báo quốc tế: Nhà báo Mỹ Eli Mâysi (lần 2, tháng 5-1948), Hãng thông tấn Anh Roitơ (2-2-1949), báo France Soir (28-2-1949), nhà báo Mỹ Harôn Ixắc, nhà báo Standley Harrison (3-1949), Dân quốc Nhật báo (4-1949), Báo Tribune (20-4-1949), báo Franc-Tireur (6-1949)... Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, các trang 429, 564, 568, 571, 577, 581, 586, 646.
3. Ký tên: Trần Lực, Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc, 1949. Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 603-623.
4. Các đoạn trong ngoặc kép ở phần này được trích từ Giấc ngủ mười năm.
5. Thực tế quân số địch bị ta diệt và bắt sống là 16.200 tên.
6. Chính phủ mới do Biđôn làm Thủ tướng.
7. TL: Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.83


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 11:05:49 pm

2. Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - cơ sở hình thành đường lối kháng chiến, yếu tố quan trọng tạo nên chiến thắng Điện Biên Phủ

Ngay sau khi ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân vào trận chiến đấu mới. Đây là cuộc đấu tranh toàn diện nhằm phát huy ưu thế chính trị, xây dựng lực lượng để tăng cường thế và lực của kháng chiến.

Có nhiều yếu tố kết thành chiến thắng của quân và dân ta đối với thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự chỉ đạo của Người đối với kháng chiến là yếu tố cực kỳ quan trọng. Nó được thể hiện trong suốt tiến trình cuộc kháng chiến.

Có thể dễ dàng tìm thấy tư tưởng Hồ Chí Minh và sự quan tâm của Người trong từng giai đoạn, thậm chí ở từng trận đánh của cuộc kháng chiến. Điều đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh gắn bó mật thiết với đường lối kháng chiến, kiến quốc của Đảng trong suốt cuộc kháng chiến.

Trong Báo cáo trình bày tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) đầu năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ 10 nhiệm vụ để "Lãnh đạo kháng chiến và chính sách quân sự", trong đó nhiệm số 1 là: "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay"1.

Trên thực tế, tư tưởng này đã trở thành tư tưởng quân sự của Đảng ta, chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Pháp, góp phần tạo nên những bước tiến vững chắc cho kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5-1954.

Tư tưởng và nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh thể hiện rõ hơn tại cuộc họp Bộ Chính trị ở Tỉn Keo (Việt Bắc) đầu tháng 10-1953. Sau khi Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trình bày tình hình chung, cách thức chuyển quân, hoạt động của địch và nêu lên nhận xét: "Hiện nay, Nava đã tập trung một số lực lượng cơ động lớn chưa từng có khởi đầu chiến tranh, sẵn sàng chờ đón cuộc tiến công của ta..."2. Chủ tịch Hồ Chí Minh đang lắng nghe bình thản, bỗng giơ bàn tay lên, nắm lại rồi mở ra mỗi ngón trở về một hướng và nói rành rọt, đầy tự tin: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn"3. Sau khi nghe báo cáo thêm về kế hoạch Nava và các phương án tác chiến của Tổng Quân uỷ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi về phản ứng của địch nếu ta dự kiến đưa quân lên Tây Bắc và khả năng thu quân cơ động của địch khi ta mở các hướng khác, Người kết luận: "Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh ở đây là phải thiên biến vạn hoá"4.

Ở đây, không chỉ thấy sự nhất quán trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh từ Hội nghị Trung ương lần thứ tư đến cuộc họp này của Bộ Chính trị là "Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng của địch" mà còn thấy rõ quyết tâm tiêu diệt địch và sự sáng tạo của Người trong quá trình chỉ đạo kháng chiến. Với quyết định: "Hướng chuyển quân chính là hướng Tây Bắc" trên thực tế là ta chủ động chọn địa điểm cho trận chiến cuối cùng, chọn nơi đánh bại âm mưu chiếm đóng của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Mục tiêu kế hoạch Nava là làm xoay chuyển tình hình có lợi cho Pháp ở Đông Dương trong 18 tháng. Trong kế hoạch này, địa danh Điện Biên Phủ chưa được nhắc tới. Chỉ sau Hội nghị Tỉn Keo, với quyết định mang tính chiến lược của ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra: "Về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính" thì địch mới tập trung quân lên Điện Biên Phủ và đặc biệt là sau khi nhiều đơn vị, lực lượng của ta cũng chuyển lên hướng Tây Bắc thì Điện Biên Phủ mới trở thành nơi dồn dập tập trung quân Pháp. Điện Biên Phủ nhanh chóng trở thành nơi quyết chiến chiến lược của cả ta và địch. Rõ ràng, Điện Biên Phủ là sự đối phó bị động của địch. Nó đánh dấu sự phá sản bước đầu của kế hoạch Nava. Về phía ta, Điện Biên Phủ là sự lựa chọn chủ động, là quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta, đồng thời là bước phát triển mới để kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trên thực tế, Điện Biên Phủ thực sự là cuộc đọ sức của ta với thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (hơn 70% viện trợ của Mỹ). Để chiến thắng trong cuộc đọ sức này, chúng ta phải vượt qua nhiều khó khăn và không được phép mắc sai lầm, đặc biệt về quân sự. Vì vậy, tại mặt trận đã có lúc Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh, Chỉ huy trưởng mặt trận đã phải phân tích, suy ngẫm đầy gay cấn trước khi đi đến "quyết định khó khăn nhất trong đời chỉ huy" của mình là: Hoãn kế hoạch tấn công địch trong ba đêm hai ngày, "kéo pháo ra", thay đổi phương châm tiêu diệt địch: từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" tại cuộc họp Đảng uỷ mặt trận ngày 26-1-1954. Đây là quyết định lịch sử, tránh được sự tổn hại lực lượng, góp phần làm nên sức mạnh áp đảo quân Pháp trong trận tiến công của ta mở đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ sau đó 46 ngày5.

Sau nửa thế kỷ của "Điện Biên chấn động địa cầu", ngày nay mỗi khi nói và viết về quyết định lịch sử này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bao giờ cũng cho rằng cơ sở hình thành của nó chính là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh cùng với sự chỉ đạo tài tình của Người đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng như với toàn bộ tiến trình của cuộc kháng chiến. Đại tướng thường kể về những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò chân tình - những quân lệnh được vinh dự tiếp nhận trước khi ra trận: "Chiến trường ta hẹp, người của ta không nhiều, cho nên ta chỉ được thắng, không được bại, vì bại thì hết vốn"6, "Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh"7.

Tròn 40 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1994 Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói thêm về sự hình thành quyết định lịch sử ngày 26-1 như sau: "Ngay sau khi có quyết định thay đổi cách đánh, tôi xin ý kiến của Bác và anh Trường Chinh. Cũng như sự tin cậy của Trung ương đã giao phó trước khi vào chiến dịch. Tôi đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn"8. Rõ ràng những quyết định đúng đắn và sáng tạo tại chiến trường Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với tư tưởng quân sự của người thầy cách mạng Việt Nam - Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong đợt tiến công thứ hai (4-1954) khi lực lượng của ta đang tăng cường đánh lấn, bao vây, chia cắt và khống chế đường tiếp viện hàng không của địch, tại Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp và nói chuyện với nhà báo Ôxtrâylia W. Bớcsét về thế trận ở Điện Biên Phủ với quyết tâm chiến đấu và niềm tin chắc thắng. Người lật ngửa chiếc mũ cứng đặt trên bàn tre, đưa tay vòng quang vành mũ và giải thích: "Núi ở đây và chúng tôi ở đây". Rồi Người nắm tay lại, đấm vào lòng mũ và nói tiếp: "Còn đây là quân Pháp. Họ không thoát chỗ này được"9. Và sự thật là chỉ hơn một tháng sau đó, Điện Biên Phủ đã trở thành nấm mồ chôn chủ nghĩa thực dân Pháp và nơi đó như được khắc hoạ hình ảnh cây thập ác đánh dấu nấm mồ chôn mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương như chính một người Pháp ở tại Thủ đô Pari đã tiên đoán trước đó hơn ba thập kỷ khi nói về vai trò của Nguyễn Ái Quốc (tên của Hồ Chí Minh những năm 20 của thế kỷ XX - T.G).
___________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 13.
2, 3, 4. Võ Nguyên Giáp: Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Ban Khoa học xã hội Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, 1991, tr. 74-75, 75, 77.
5. Trận tiến công mở đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu từ 17h ngày 13-3-1954.
6, 7. Võ Nguyên Giáp: Thế giới còn đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Sđd, tr. 91, 79.
8. Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - xưa và nay, Tạp chí Xưa và Nay, số 2. V-1994, tr.8.
9. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr.179.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 11:10:47 pm

3. Nghệ thuật chỉ đạo và kết thúc cuộc chiến

Là người hiểu rõ những thiệt thòi và mất mát của nhân dân mình trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp nên sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách để ngăn chặn cuộc đối đầu Pháp - Việt. Nhưng sự đã không thành. Cho nên, ngay từ khi cuộc chiến mới nổ ra, Hồ Chí Minh đã tìm kiếm mọi cơ hội để đàm thoại, cứu vãn hoà bình. Thiện chí của Hồ Chí Minh đã được chính Tổng thống Pháp Ph.Míttơrăng thừa nhận trong dịp sang Việt Nam thăm Điện Biên Phủ năm 1993 là: "Tôi nhớ lại chuyến thăm của Hồ Chí Minh đến Pháp. Hôm trước diễn ra Hội nghị Phôngtennơblô, ông Hồ Chí Minh đã tìm kiếm những người đối thoại; không tìm được dù rất mong muốn đàm phán để hướng tới độc lập, ông Hồ Chí Minh đã bị đẩy vào cuộc chiến tranh. Việt Nam đã tiến hành một cuộc chiến tranh vì độc lập. Yếu tố dân tộc đã có tính quyết định hơn bất kỳ yếu tố hệ tư tưởng nào khác"1. Với ý định sang Việt Nam, thăm Điện Biên Phủ để "tư duy và cảm nhận" nên trong một cuộc trả lời phỏng vấn, người đứng đầu nước Pháp đã tự nhận trách nhiệm của họ đối với cuộc chiến tranh này là: "Chúng tôi đã có một cuộc chiến tranh ở Việt Nam khốc liệt như một cuộc chiến tranh... Theo tôi, cuộc chiến tranh này tôi nhớ đã có nhiều lần viết về nó... là một sự sai lầm. Công cuộc thực dân hoá của Pháp lúc đó cần phải thích nghi, sang trang"2.

Là người đã viết Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh hiểu khá rõ bản chất của bọn thực dân nên Người không ảo tưởng vào những trò chính trị do Pháp nặn ra, mà luôn nêu cao cảnh giác, đánh giá đúng ý nghĩa của thắng lợi trên chiến trường đối với đàm phán, tìm giải pháp cho cuộc chiến. Trong lớp chỉnh huấn cán bộ trí thức khi cuộc kháng chiến sắp bước vào thời kỳ quyết liệt, Người đã chỉ rõ: "Ta cũng phải đánh cho Pháp quỵ. Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu. Đừng có ảo tưởng. Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh. Phải đánh nó quỵ nó mới chịu"3.

Đáp ứng yêu cầu của mặt trận, hàng vạn dân công, hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực được vận chuyển từ hậu phương hướng lên Tây Bắc, tới rừng núi Điện Biên, tiếp sức cho bộ đội hun đúc quyết tâm "tiêu diệt Trần Đình". Từ hậu phương, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư, điện động viên khen ngợi thành tích chiến đấu của bộ đội ở Điện Biên Phủ. Cũng trong tháng 4-1954, trước khi lên đường dự Hội nghị Giơnevơ, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng có cuộc gặp gỡ với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người nói với đồng chí Phạm Văn Đồng: Bác sẽ có quà tặng cho Đoàn ta tại Hội nghị. Món quà vô giá ấy chính là tin chiến thắng Điện Biên Phủ, đã đến với đoàn ngay chiều hôm trước ngày Hội nghị Giđnevơ về Đông Dương khai mạc4.

Chiến thắng Điện Biên Phủ tạo ra lợi thế cho Việt Nam tại Hội nghị Giơnevơ. Tuy nhiên do lúc ấy quốc tế đang trong bầu không khí hoà hoãn nên vấn đề phát huy lợi thế của chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam trên bàn Hội nghị bị chi phối khá mạnh bởi ý đồ và quyền lợi thoả hiệp giữa các nước lớn.

Trong bối cảnh quốc tế như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã một mặt chỉ đạo đoàn đấu tranh thực hiện mục tiêu: Hoà bình, Độc lập, Thống nhất và Dân chủ thể hiện qua Đề nghị tám điểm của Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng đưa ra ngày 10-5-1954. Các điểm có nội dung gắn kết quân sự với chính trị, Việt Nam với Lào, Campuchia. Trong các cuộc gặp gỡ "vận động" Đoàn Việt Nam cố gắn với hai đoàn Liên Xô và Trung Quốc trên tinh thần xã hội chủ nghĩa anh em. Mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động tạo ra các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo hai nước anh em nhằm tìm kiếm hậu thuẫn cho những quan điểm của Việt Nam. Song, đây là công việc rất nhạy cảm, liên quan khá nhiều đến thái độ chủ quan của hai nước lớn anh em này. Cuối tháng 3-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua Bắc Kinh, sau đó cùng đồng chí Phạm Văn Đồng (đã đến Bắc Kinh từ ngày 20-3-1954) cùng đi Mátxcơva để luận đàm với các nhà lãnh đạo Liên Xô và đồng chí Chu Ân Lai (đang ở Mátxcơva). Kết quả tổng quát các cuộc hội đàm có thể tóm tắt: "Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không thể công khai ủng hộ Việt Nam trong trường hợp mở rộng xung đột khu vực".

Trong bối cảnh ấy, Việt Nam không đánh giá quá cao Hội nghị Giơnevơ nhưng không bỏ lỡ cơ hội, tiếp tục tạo ra những cuộc gặp gỡ tay đôi, đặc biệt với Liên Xô và Trung Quốc để tiếp tục tìm kiếm hậu thuẫn, chia sẻ lập trường, hình thành giải pháp thực thi tại hội nghị. Vì vậy, từ ngày 3 đến ngày 5-7-1954 Hồ Chí Minh hội đàm tại biên giới Việt - Trung với Chu Ân Lai trên đường công du của Chu Ân Lai từ Niu Đêli và Rănggun trở về Trung Quốc. Rất ít nội dung cuộc hội đàm dài ngày được công bố. Chỉ biết sau đó tin tức từ Bắc Kinh tiết lộ: Hai nhà lãnh đạo đã trao đổi quan điểm toàn diện về Hội nghị Giơnevơ, về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương và các vấn đề có liên quan; Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ ý kiến rằng năm nguyên tắc chung sống hoà bình hoàn toàn có thể áp dụng để củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam, Lào và Campuchia. Sau đó ba nghị định thư giữa Trung Quốc và Việt Nam được ký kết5.

Như vậy, mục tiêu và những giải pháp của Đoàn đại biểu Việt Nam nhằm kết thúc cuộc kháng chiến tại Hội nghị Giơnevơ là những đòi hỏi chính đáng của nhân dân ta. Tuy nhiên, do tương quan lực lượng và bối cảnh hoà hoãn nên không phải tất cả những thắng lợi Việt Nam trên chiến trường đã được đánh giá đúng như giá trị của nó tại hội nghị. Theo đó việc lấy vĩ tuyến 17 để làm giới tuyến tạm thời Bắc - Nam và thời hạn tổng tuyển cử là hai năm là một kết quả thực tế dành cho Việt Nam là có thể hiểu được. Đối với Việt Nam, Hiệp định Giơnevơ vẫn là một thắng lợi, là cơ hội nhằm củng cố lực lượng để chuyển sang một giai đoạn mới6.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là một sự kiện có tầm vóc lớn lao, có ý nghĩa trọng đại đối với Việt Nam và nhân loại. Nhà sử học phương Tây Giuyn Roa viết: Điện Biên Phủ "là nỗi kinh hoàng khủng khiếp, là nỗi thất bại lớn nhất của phương Tây, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và sự cáo chung của một nền cộng hoà Pháp"7. Còn tác giả G.Budaren và F.Cavi Giôliôli viết trên tờ Người quan sát cho rằng: "Điện Biên Phủ là một trong những trận giao chiến đã thay đổi số phận thế giới".

Đối với chúng ta, Điện Biên Phủ là sự thắng lợi đầu tiên của một dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân để mở đầu cho sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới. Đó là thắng lợi trên thực tế của tư tưởng Hồ Chí Minh về khả năng thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, là thắng lợi của tư tưởng, nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của Việt Nam đối với thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ đã khẳng định giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đây là thắng lợi mở đầu cho quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi thế giới. Thắng lợi ấy đã tạo nên một giá trị Việt Nam trong thế kỷ XX. Và lãnh tụ tối cao của dân tộc Việt Nam - Chủ tịch Hồ Chí Minh được thế giới thuộc địa ngợi ca là: người thầy giành tự do độc lập dân tộc; Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc công nhận là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.
__________________________________________
1, 2. Trả lời phỏng vấn của Tổng thống Pháp Ph. Míttơrăng trong chuyến thăm Việt Nam, 4 - 1993, Tạp chí Xưa và Nay, số 2 - 1993, tr. 9.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7. tr.113.
4. Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu, nước mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.119.
5. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Giơnevơ 1954, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1981, tr. 432-436.
6. Khắc Huỳnh: Hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương sau năm thập kỷ nhìn lại, Tạp chí Xưa và Nay, số 143, tháng 7-2003, tr.7
7. Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ xưa và nay, Tạp chí Xưa và Nay, số 2, V - 1994.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 11:20:40 pm

ĐIỆN BIÊN PHỦ - MỘT TẤT YẾU LỊCH SỬ1

Thiếu tướng, PGS, TS. TRỊNH VƯƠNG HỒNG
Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam


Trong kế hoạch tổng thể giải quyết chiến tranh Đông Dương do Đại tướng Nava lập ra, được Hội đồng Quốc phòng Pháp, mà đích thân Tổng thống Vanhxăng Ôriôn chủ trì họp thông qua ngày 24-7-1953, không hề coi Điện Biên Phủ như một vị trí chiến lược, chính trị - quân sự. Vậy mà chỉ hơn bốn tháng sau, vào ngày 3-12-1953, chính tướng Nava tuyên bố quyết định chấp nhận cuộc chiến đấu ở Tây Bắc Việt Nam, với trung tâm điểm là Điện Biên Phủ2.

Giải thích điều này như thế nào?

Trải qua gần tám năm chiến tranh, đến mùa Hè 1953, Pháp đã đổ vào Đông Dương hơn 2 ngàn tỷ phrăng, bị thu hút và giam chân hàng chục vạn quân chính quy. Cuộc chiến tranh hao người, tốn của làm cho người dân Pháp chịu nhiều khó khăn và chính giới Pháp lâm vào mâu thuẫn gay gắt. Trong khi đó, ở chiến trường Đông Dương, do mất quyền chủ động chiến lược từ sau năm 1950, quân Pháp càng lún sâu vào bế tắc về chiến lược quân sự sau thất bại ở Tây Bắc và Thượng Lào (1952-1953). Bởi thế, Chính phủ Pháp thấy cần phải cải tổ bộ máy chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, từ đó hoạch định lại chính sách mới, nhằm tìm cho nước Pháp “một lối thoát danh dự" ra khỏi cuộc chiến tranh. Đó là một yêu cầu cấp bách đối với Chính phủ Pháp.

Xuất phát từ yêu cầu đó và để cứu vãn tình thế, Hăngri Nava, một viên tướng tài năng của quân đội Pháp, được cử làm Tổng Chi huy quân đội Pháp ở Đông Dương.

Sau khi nghiên cứu kỹ thực trạng chiến trường Đông Dương và căn cứ vào ý đồ chính trị của Pari cùng thái độ của Oasinhtơn đối với cuộc chiến tranh Đông Dương, tướng Nava đã vạch ra một kế hoạch quân sự, phần tác chiến gồm hai bước:

- Trong chiến cục 1953-1954, nói chung giữ thế phòng thủ ở phía bắc vĩ tuyến 18 và tìm cách tránh giao chiến lớn. Trái lại, ở phía nam lại tiến công để ổn định miền trung và nam Đông Dương và để lấy được nhân vật lực. Đặc biệt phải thanh toán cho được Liên khu V.

- Khi đạt được ưu thế về quân cơ động, nghĩa là nếu có thể được thì từ mùa Thu 1954, thực hành tiến công ở phía bắc nhằm mục đích tạo ra một tình hình quân sự cho phép đưa ra một giải pháp chính trị thích hợp để giải quyết chiến tranh3.

Như thế, điểm mấu chốt trong kế hoạch của tướng Nava là tập trung được một lực lượng cơ động ưu thế hơn đối phương, sau khi giải quyết chiến trường phía nam, sẽ thực hành tiến công ở phía bắc, tạo ra tình hình quân sự có lợi làm cơ sở cho giải pháp chính trị kết thúc chiến tranh.

Trong khi đó, vào cuối tháng 9-1953, tại Tỉn Keo, dưới chân núi Hồng thuộc an toàn khu Định Hoá, Thái Nguyên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta mở hội nghị bàn nhiệm vụ quân sự Đông Xuân 1953-1954. Phân tích kỹ cục diện chiến tranh, tình hình các chiến trường và âm mưu mới của phía Pháp - Mỹ, Bộ Chính trị khẳng định kế hoạch Nava tuy có thể gây cho kháng chiến những khó khăn mới, nhưng bản thân nó là một sản phẩm bị động, nên chứa đựng nhiều mâu thuẫn và có nhiều nhược điểm không khắc phục được. Chủ trương tác chiến của Quân đội nhân dân Việt Nam trong Đông Xuân 1953-1954 là sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào hướng quân Pháp sơ hở, đồng thời bằng đánh vận động tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch khi quân Pháp đánh sâu vào vùng tự do. Điểm mấu chốt là tập trung nỗ lực tìm cách phân tán khối cơ động chiến lược của Pháp vừa được tổ chức, xây dựng. Chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hình ảnh để diễn đạt tư tưởng chỉ đạo chiến lược trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Người đưa bàn tay phải lên, nắm lại, xoè ra và nói: Bàn tay nắm lại thì thành quả đấm mạnh. Nếu duỗi ra thì dễ bị bẻ gãy từng ngón. Ta phải có cách buộc khối quân cơ động của địch phải chia ra làm năm, bảy mảng mà tiêu diệt, làm cho chúng thất bại hoàn toàn.
___________________________________________
1. Tham luận tại Hội thảo khoa học: 1954-2004 - Trận Điện Biên Phủ, giữa lịch sử và ký ức do Trường Đại học Tổng hợp Pari 1 Păngtêông - Xoócbon và Trung tâm Lịch sử quốc phòng Bộ Quốc phòng Cộng hoà Pháp phối hợp với Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tại Pari, ngày 21 và 22-11-2003.
2. Theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Nxb. Giuylia, Pari, 1963.
3. Theo H.Nava: Thời điểm của những sự thật, Nxb. Plông, Pari, 1979.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 21 Tháng Mười Hai, 2021, 11:23:07 pm

Tướng Nava dự kiến tập trung xây dựng 27 GM (Groupe mobile - binh đoàn) cơ động cho toàn chiến trường Đông Dương. Riêng ở Bắc Bộ, Pháp có 44 tiểu đoàn cơ động. Hậu quả của việc rút quân về xây dựng khối quân cơ động khiến lực lượng Pháp - nguỵ ở các chiến trường trở nên mỏng, yếu. Mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng vốn đã gay gắt lại càng gay gắt hơn. Quân đội Việt Nam đã triệt để khai thác điểm yếu này bằng cách phân tán chủ lực đánh vào các địa bàn chiến lược mà Pháp không thể bỏ, buộc họ phải xé lẻ khối cơ động đối phó và làm nhiệm vụ chiếm đóng.

Triển khai chủ trương trên, thấy rõ vị trí chiến lược của miền Tây Bắc, nơi có thể phát huy sở trường tác chiến của ta, trung tuần tháng 11-1953, Đại đoàn 316 (thiếu Trung đoàn 176) được phái lên Tây Bắc. Đây là đòn điểm đúng "huyệt hiểm" của Pháp. Bởi, với họ, Điện Biên Phủ - Tây Bắc "là một vị trí chiến lược quan trọng chẳng những đối với chiến trường Đông Dương, mà còn đối với miền Đông Nam Á"1, một "bàn xoay" có thể xoay đi bốn phía Việt Nam, Lào, Miến Điện, Trung Quốc và là "chiếc chìa khoá bảo vệ Thượng Lào"2. Quả nhiên, Pháp cấp tốc cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ vào các ngày 20, 21, 22-11, khi Đại đoàn 316 Quân đội Việt Nam đang trên đường hành quân lên Lai Châu. Đây là phản ứng hết sức nhạy cảm.

Khi nhận thấy tình thế chiến lược mới xuất hiện, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch: Đại đoàn 308 tách khỏi khối bốn đại đoàn (308, 312, 304 và 351) đang ở khu vực Phú Thọ - Yên Bái - Tuyên Quang, hành quân lên Tây Bắc. Điều này như chất xúc tác làm tăng nhanh quá trình "phản ứng hoá học" và đặt tướng Nava vào thế lúng túng: Sử dụng lực lượng đánh lên Phú Thọ, Yên Bái để kìm chân chủ lực Việt Minh hay đưa thêm quân lên Điện Biên Phủ, chấp nhận giao chiến ở đó, đồng thời vẫn triển khai kế hoạch Nava. Sau khi cân nhắc nhiều mặt, tướng Nava quyết định vừa đưa quân lên Điện Biên Phủ, chấp nhận giao chiến, vừa tiếp tục thực hiện kế hoạch tiến công ở miền Nam. Và, sau khi cho lực lượng đồn trú ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ, cho đến ngày 10-12-1953, số quân Pháp ở thung lũng nổi tiếng này lên tới 10 tiểu đoàn bộ binh và hai tiểu đoàn của bán Lữ đoàn lê dương thứ 13 (13è ĐBLE) mới được đưa lên.

Thế là, cùng với nhiều đòn tiến công của quân đội Việt Nam trên khắp các chiến trường, trong đó có cuộc hành quân lên Tây Bắc, Điện Biên Phủ, một cách không tự giác dần dần trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Nava, thành nơi Nava chọn cho cuộc đọ sức quyết định với quân đội và nhân dân Việt Nam. Pháp chọn Điện Biên Phủ để tạo một thắng lợi quân sự đột biến làm cơ sở cho cuộc thương lượng về chính trị cho cuộc chiến, chọn Điện Biên Phủ để bảo vệ Lào như hiệp ước họ vừa ký tháng 10 với Lào, và còn vì Điện Biên Phủ sẽ là chốt chặn Việt Minh phát triển sang Lào. Và, theo họ, việc tiếp tế của Việt Minh cho một lực lượng lớn là vô kế khả thi; Việt Minh không thể chiến thắng bởi họ chưa có cách gì đánh bại được hình thức phòng ngự kiên cố, liên hoàn như Điện Biên Phủ. Bài học Hoà Bình, Nà Sản còn đó, mà Điện Biên Phủ là "Nà Sản luỹ thừa 10". Vả lại, nếu bộ phận lớn chủ lực Việt Minh bị hút vào Điện Biên Phủ, thì họ còn đâu quyền chủ động chiến lược. Sau nữa là vấn đề tâm lý, chính họ không muốn Việt Minh bước vào bàn đàm phán trên thế thắng và hầu như mọi tướng lĩnh Pháp, Mỹ đều chủ quan tin chắc vào khả năng thắng lợi của họ.

Về phía Việt Nam, tác chiến ở chiến trường rừng núi là sở trường của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dụ được quân Pháp lên Tây Bắc là một thuận lợi. Trong phiên họp ngày 6-12-1953, Bộ Thống soái tối cao phân tích Điện Biên Phủ tuy là tập đoàn cứ điểm mạnh của quân Pháp nhưng lại bị cô lập, tiếp viện và tiếp tế phải dựa vào đường hàng không. Về phía Việt Nam, bộ đội có quyết tâm chiến đấu rất cao, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm và có tiến bộ về trang bị, kỹ thuật, có thể đánh được tập đoàn cứ điểm. Đường sá tiếp tế là một khó khăn rất lớn nhưng Việt Nam có hậu phương hùng hậu sẵn sàng tập trung toàn lực chi viện, bảo đảm cung cấp cho chiến dịch. Và như thế, Bộ Thống soái tối cao khẳng định quyết tâm tiêu diệt đối phương tại Điện Biên Phủ.

Suy cho cùng, Điện Biên Phủ bắt nguồn một cách lôgích từ tiến trình phát triển của cuộc chiến tranh mà ở đó, tính chính nghĩa, tài nghệ chỉ đạo của Bộ Thống soái kháng chiến và trí thông minh, lòng yêu nước của con người Việt Nam ngày càng toả sáng và phát huy tác dụng. Trong khi đó, chỉ huy quân viễn chinh Pháp vừa phạm những sai lầm chủ quan, vừa bị quy luật mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng khi đối phó với cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp hành hạ, mà không thể khắc phục được, khiến mất quyền chủ động chiến lược. Vả lại, kết thúc chiến tranh bằng một trận quyết chiến chiến lược, đã là cách giải quyết của hầu hết các cuộc chiến tranh. Điện Biên Phủ là hệ quả của những yếu tố trên và như thế, trở thành một tất yếu lịch sử.
________________________________________________
1. G. Xabachiê: Số phận Đông Dương. Kỷ niệm và tư liệu, 1941-1951, Nxb. Plông, Pari, 1952.
2. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Nxb. Plông, Pari, 1956.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:04:51 pm

ĐƯỜNG LỐI GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
VỚI CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

PGS. CAO VĂN LƯỢNG
Viện Sử học
Viện Khoa học Xã hội Việt Nam


Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật lên là đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ khi có Đảng, ngọn cờ bách chiến, bách thắng của cách mạng Việt Nam.

1. Cách mạng Việt Nam, như Chính cương vắn tắtLuận cương chính trị năm 1930 đã vạch rõ là phải trải qua hai giai đoạn cách mạng: Từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến thẳng lên cách mạng xã hội chủ nghĩa không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa2. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tuy chủ nghĩa xã hội chưa phải là mục đích trực tiếp, nhưng việc tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đã được Đảng ta xác định thành một đường lối dứt khoát, rõ ràng. Đảng ta đã "đặt toàn bộ công cuộc chống đế quốc và chống phong kiến trong quỹ đạo của cách mạng vô sản, từ đó chủ động, tự giác giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ sát với đặc điểm cụ thể của từng thời kỳ và dưới ánh sáng của triển vọng cách mạng"3.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đi đôi với việc dồn sức toàn dân vào nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc, Đảng ta đã từng bước giải quyết vấn đề dân chủ, vấn đề ruộng đất cho nông dân, ra sức xây dựng kinh tế, văn hoá, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta đã rất quan tâm đến việc xây dựng hậu phương, xây dựng chế độ mới để làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc kháng chiến lâu dài. Ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc. Bản Chỉ thị vạch ra những biện pháp toàn diện và cơ bản về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, nhằm thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: chống thực dân Pháp xâm lược và ra sức xây dựng chế độ mới. Ngày 12-12-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến. Bản Chỉ thị đề ra chương trình kháng chiến gồm 12 điểm mà những điểm cốt lõi nhất trong chương trình kháng chiến này vẫn là: vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới (Kiên quyết đánh bại bọn thực dân Pháp xâm lược, tiễu phỉ, trừ gian; cùng cố chế độ dân chủ nhân dân; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, xây dựng nền kinh tế kháng chiến...). Tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh (xuất bản tháng 9-1947), cũng đã quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược của Đảng: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới. Hai nhiệm vụ chiến lược này, có quan hệ khăng khít và tác động lẫn nhau. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Kháng chiến, phải đi đôi với kiến quốc. Kháng chiến có thắng lợi thì kiến quốc mới thành công. Kiến quốc có chắc thành công, kháng chiến mới mau thắng lợi"4.

Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa kháng chiến vừa xây dựng hậu phương, xây dựng chế độ mới, đó là quy luật phát triển tất yếu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đó là sự sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội trên cơ sở độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội ngay trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ của cuộc kháng chiến trường kỳ.

Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh. Từ những chỉ thị ban đầu: Kháng chiến, kiến quốc, Toàn dân kháng chiến, đến Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam do đồng chí Trường Chinh trình bày tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951) có thể coi là quá trình phát triển và hoàn chỉnh đường lối đó. Bản Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mục tiêu trước mắt của Đảng ta là "Đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội". Bản báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam vạch ra 12 chính sách lớn, biểu hiện sự kết hợp độc đáo, tài tình ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến thần thánh5. Dưới ánh sáng của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta vừa ra sức đánh giặc, cứu nước, vừa xây dựng kinh tế, văn hoá, củng cố, xây dựng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, và đã đạt được những thành tựu đáng kể.
______________________________________
1. Mấy vấn đề về chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.
2. Khái niệm "không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa" sau này Đảng ta dùng là "không qua giai đoạn phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa".
3. Lê Duẩn: Dưới ngọn cờ của Đảng, đưa đất nước lên ngang tầm cao thời đại. Tạp chí Xây dựng Đảng, tháng 2-1980, tr. 5.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 99.
5. Xem Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t. 1, tr.109-166.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:08:43 pm

Thực hiện từng bước chính sách ruộng đất, tiến tới thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng, tính đến năm 1953, Đảng ta đã đem 58.3% ruộng đất do địa chủ và thực dân chiếm hữu, chia cho nông dân không có hoặc thiếu ruộng. Cùng với việc tạm cấp ruộng đất cho nông dân, thực hiện giảm tô với mức ít nhất 25%, Đảng ta đã đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể trong các tổ chức sản xuất có tính chất mầm mống xã hội chủ nghĩa ở nông thôn. Tính đến đầu năm 1950, cả nước có 26.291 tổ đổi công và hợp công; 1.562 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp1.

Không những ở trong nông nghiệp mà cả ở trong công nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, Đảng ta cũng đã chú ý đến việc xây dựng và phát triển những cơ sở đầu tiên của thành phần kinh tế nhà nước: Trong công nghiệp, tính đến năm 1950, đã có 130 xưởng sản xuất vũ khí, 20 xưởng quân dược, 20 cơ sở quân nhu; đã có những cơ sở công nghiệp quốc doanh đầu tiên trong công nghiệp khai thác quặng mỏ, luyện kim, hoá chất, cơ khí... Trong thương nghiệp, tài chính đã thành lập các hợp tác xã mua bán, mậu dịch quốc doanh, Nha Tín dụng, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam... Trong giao thông vận tải, đã tổ chức Cục Vận tải thuộc Bộ Quốc phòng và Doanh nghiệp vận tải quốc gia...

Để có thể kháng chiến lâu dài, đánh bại kẻ thù hùng mạnh, giữ vững chính quyền nhân dân và xây dựng chế độ mới, ngay từ đầu và suốt trong quá trình cuộc kháng chiến, Đảng ta đã đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. Đảng ta quán triệt và vận dụng phương châm: vừa chiến đấu, vừa xây dựng lực lượng chiến đấu; lực lượng vũ trang về số lượng và chất lượng, trọng tâm là chất lượng: chính trị, quân sự, hậu cần, lấy chính trị làm căn bản, xây dựng cả ba thứ quân, nhưng trọng tâm là xây dựng bộ đội chủ lực, nhằm vừa bảo đảm việc xây dựng bộ đội chủ lực có chất lượng chiến đấu cao, vừa bảo đảm xây dựng lực lượng vũ trang địa phương thật mạnh.

Xây dựng theo phương hướng trên, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam ngày càng trưởng thành nhanh chóng. Từ 80.000 chiến sĩ (năm 1946), đến cuối năm 1952 đã có tới sáu đại đoàn bộ đội chủ lực, một đại đoàn công binh và pháo binh; mỗi liên khu có hai trung đoàn chủ lực; Nam Bộ có bốn trung đoàn chủ lực. Ngoài lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, còn có đông đảo lực lượng dân quân, du kích. Tính đến cuối năm 1949, tổng số dân quân, du kích trong cả nước là ba triệu người2.

Xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải chỉ ở trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự mà còn ở cả trong lĩnh vực văn hoá. Thực hiện nhiệm vụ vừa "đánh đổ văn hoá ngu dân, văn hóa xâm lược của thực dân Pháp", vừa "xây dựng một nền văn hoá dân chủ mới cho nước Việt Nam", nhân dân ta đã đạt được những thành tựu đáng tự hào. Từ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1950 đã có 14 triệu người thoát nạn mù chữ. Đến tháng 9-1953, đã có 10.450 lớp bổ túc văn hoá, gồm 335.946 học viên3. Hệ thống giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học dần dần được cải tổ, nhằm: "đào tạo con người mới, cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc".

Những thành tựu mà nhân dân ta đã đạt được về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, là con đẻ của đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, là cơ sở quan trọng để mở rộng và củng cố hậu phương kháng chiến vững chắc.

Nhờ hậu phương kháng chiến ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc, nên Đảng và Nhà nước ta càng có điều kiện huy động sức người, sức của của nhân dân phục vụ cho tiền tuyến. Từ năm 1950 đến năm 1953, ta mở liên tiếp nhiều chiến dịch lớn và đã giành được những thắng lợi hết sức vẻ vang: Chiến dịch Biên giới (năm 1950), Trần Hưng Đạo (năm 1951), Hoàng Hoa Thám (năm 1951), Quang Trung (năm 1951), Hoà Bình (đầu năm 1952), Tây Bắc (cuối năm 1952), Thượng Lào (đầu năm 1953).

Thắng lợi của các chiến dịch trên là thắng lợi của hậu phương kháng chiến dựa trên chế độ mới. Hậu phương đã huy động phục vụ bảy chiến dịch trên một khối lượng dân công khá lớn: gần 1.300.000 người với trên 29 triệu ngày công4.

Rõ ràng, mỗi một thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đều gắn liền với việc thực hiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng. Những thắng lợi liên tiếp mà quân dân ta đã giành được trong những năm 1950-1953 là kết quả của sự lãnh đạo của Đảng với đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tiến lên một bước mới, tạo điều kiện cho thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
______________________________________________
1. Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1966, tr.158.
2, 3. Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1981, t.1. tr.573, 645, 662.
4. Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Sđd, tr.358.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:12:51 pm

2. Từ năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược bước sang một giai đoạn mới, gay go, quyết liệt và phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta phải có những cố gắng và quyết tâm rất lớn.

Để đập tan kế hoạch xâm lược đầy tham vọng của Pháp-Mỹ (kế hoạch Nava) và đưa cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ đến thắng lợi, đi đôi với những chỉ đạo kịp thời, sáng tạo về chiến lược, chiến thuật quân sự, đòi hỏi Đảng ta phải có những chủ trương, chính sách đúng đắn, sát hợp về: chính trị, kinh tế, văn hoá, nhằm bồi dưỡng sức dân, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, cơ sở vững chắc của hậu phương kháng chiến. Lúc này hơn lúc nào hết, việc củng cố hậu phương kháng chiến và xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội càng trở nên cấp thiết. Bởi vì, hậu phương vững chắc dựa trên chế độ mới, chế độ nhân dân làm chủ đất nước, là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Quá trình củng cố, xây dựng, phát triển hậu phương kháng chiến và chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta, gắn liền với quá trình thực hiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Củng cố, xây dựng và phát triển chế độ dân chủ nhân dân trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, đó là nội dung quan trọng của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta. Và, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân về chính trị, kinh tế, có nghĩa là trước hết phải thực hiện nhiệm vụ dân chủ, tiến hành cải cách ruộng đất. Bởi lẽ, cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", chính là nội dung cơ bản của kinh tế dân chủ nhân dân Việt Nam; và vấn đề nông dân và ruộng đất là then chốt của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam. Không triệt để thực hiện nhiệm vụ dân chủ, không thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng", thì sẽ không những không xây dựng được chế độ dân chủ nhân dân, mà còn không thể tiến hành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Cách mạng muốn thắng lợi, sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc muốn thành công, thì phải dựa vào công nông, trong đó nông dân là lực lượng đông đảo nhất mà nguyện vọng tha thiết nhất của nông dân vẫn là "độc lập dân tộc" và "người cày có ruộng".

Chính vì nhận rõ vị trí quan trọng của vấn đề nông dân trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nắm vững đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên ngay trong những năm 1945-1953, Đảng ta đã tích cực, chủ động giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân, từ đó mà củng cố, tăng cường khối liên minh công nông vững chắc, làm cơ sở để mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tạo tiền đề chính trị cần thiết cho việc chuyển thẳng từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Tuy vậy, như đồng chí Trường Chinh đã chỉ ra rằng, đã có những lúc, chúng ta coi nhẹ vấn đề nông dân, không thấy hết tầm quan trọng của liên minh công nông, nên đã chậm giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Chậm giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân không những ảnh hưởng đến việc tăng cường củng cố khối liên minh công nông, mà còn ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Đồng chí Trường Chinh viết: "Chính sách ruộng đất không được thi hành đầy đủ đã ảnh hưởng đến toàn bộ công tác của chúng ta:

- Mặt trận dân tộc thống nhất chậm được mở rộng và củng cố trên cơ sở liên minh công nông vững chắc và nhiều nơi bị địa chủ lợi dụng.

- Quân đội tuy tiến bộ khá, nhưng vẫn chưa kịp với yêu cầu của tình hình.

- Chính quyền bên dưới, nhất là chính quyền cấp xã nhiều nơi bị địa chủ, cường hào lợi dụng, và tại những nơi đó nông dân lao động không thật sự nắm chính quyền ở nông thôn.

- Đảng chậm được củng cố, cơ sở của Đảng ở nông thôn có nơi phức tạp, quan hệ giữa Đảng và quần chúng chưa được chặt chẽ.

Đứng về mặt khác mà xét, việc không thực hiện đầy đủ chính sách giảm tô và chậm thực hiện cải cách ruộng đất đã hạn chế việc phát triển kinh tế và văn hoá của nước nhà"1.

Sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng khắc phục những thiếu sót kể trên và khẩn trương tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng". Tại Hội nghị lần thứ tư của Trung ương Đảng, ngày 25-1-1953. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc một bản báo cáo chính trị quan trọng. Người chỉ rõ: "Mấy năm trước, vì hoàn cảnh đặc biệt mà ta chỉ thi hành giảm tô, giảm tức, như thế là đúng.

Nhưng ngày nay, kháng chiến đã bảy năm, đồng bào nông dân hy sinh cho Tổ quốc, đóng góp cho kháng chiến đã nhiều và vẫn sẵn sàng hy sinh, đóng góp nữa. Song họ vẫn là lớp người nghèo khổ hơn hết, vì thiếu ruộng hoặc không có ruộng cày. Đó là một điều không hợp lý.

Muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân"2.

Hoàn toàn nhất trí với bản Báo cáo chính trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tư đã đề ra chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng" ngay trong kháng chiến.
____________________________________________
1. Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t.2, tr.327.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr.24.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:16:36 pm

"Thực hiện cải cách ruộng đất trong kháng chiến là một chủ trương rất đúng đắn và có tính chất sáng tạo của Đảng ta"1. Nhờ cải cách ruộng đất mà "tinh thần và lực lượng kháng chiến của hàng triệu nông dân được động viên mạnh mẽ, khối liên minh công nông được tăng cường, chính quyền nhân dân và Mặt trận dân tộc thống nhất được củng cố, sức chiến đấu của quân đội nhân dân tăng lên chưa từng thấy, mọi mặt hoạt động kháng chiến đều được đẩy mạnh. Cuộc vận động này đã góp phần quyết định vào chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại"2.

Nói một cách tổng quát, nếu không tích cực thực hiện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội và không tiến hành cải cách ruộng đất, thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ trước hết là thắng lợi của chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam đã đánh thắng chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.

Chiến tranh là một sự thử thách về mọi mặt toàn bộ lực lượng vật chất và tinh thần của mỗi chế độ xã hội. Tổng kết kinh nghiệm lịch sử, Lênin chỉ ra rằng, thắng lợi của chiến tranh chủ yếu là do chế độ bên trong của nước tham chiến quyết định. Chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam do giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo, dựa trên cơ sở của khối liên minh công nông vững chắc, là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một cuộc đọ sức lớn nhất, quyết liệt nhất, toàn diện nhất giữa ta và địch. Khi bước vào chiến dịch này, nhàn dân ta đứng trước muôn vàn khó khăn, tưởng chừng như không thể nào vượt nổi. Trong những khó khăn chồng chất đó, nổi bật lên là những khó khăn về hậu cần. Làm sao có thể cung cấp đầy đủ lương thực, vũ khí đạn dược cho một binh lực lớn, ở xa hậu phương hàng 500-700 km, trong một thời gian dài và trong những điều kiện đi lại hết sức khó khăn: phương tiện vận tải thiếu thốn, đường sá xấu, quân địch lại thường xuyên bắn phá. Thêm vào đó là những khó khăn về thời tiết: một trận mưa có thể gây ra trở ngại nhiều hơn một trận bom địch. Chính vì vấn đề vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực cho mặt trận Điện Biên Phủ khó khăn như vậy, lại thêm Điện Biên Phủ có công sự kiên cố, hoả lực mạnh, quân đông, bố phòng dày đặc, nên thực dân Pháp cho rằng quân đội ta không thể đánh nổi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và tập đoàn cứ điểm của chúng ở Điện Biên Phủ sẽ trở thành "một pháo đài bất khả xâm phạm".

Nhưng bọn chúng đã tính nhầm. Chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam, không ngừng được củng cố, phát triển trong suốt chín năm kháng chiến, đã cho phép huy động đến mức cao nhất sức người, sức của của nhân dân cho tiền tuyến, cho phép sử dụng sức mạnh tổng hợp của cả nước vào trận đánh lịch sử. Cả nước dồn sức cho chiến trường, cả một hậu phương rộng lớn của đất nước, từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng Tây Bắc đến vùng du kích và căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, vùng mới giải phóng ở Thượng Lào, đều dồn sức người, sức của cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. 261.453 dân công với trên 18.301.570 ngày công, 25.056 tấn gạo, 907 tấn thịt, 917 tấn lương thực khác, 20.991 xe đạp thồ, 11.800 mảng nứa và 500 ngựa thồ, đã được huy động phục vụ chiến dịch. Đồng bào Tây Bắc và nhân dân ở vùng Thượng Lào mới giải phóng cũng đã đóng góp nhiều sức người, sức của cho chiến dịch (Liên khu Việt Bắc đã đóng góp: 5.229 tấn gạo, 454 tấn thịt, 226 tấn thực phẩm khác, 36.519 dân công, 8.065 xe đạp thồ; Liên khu III: 1.712 xe đạp thồ; Liên khu IV: 9.052 tấn gạo, 640 tấn thực phẩm khác, 186.714 dân công, 11.214 xe đạp thồ; Khu Tây Bắc: 7.311 tấn gạo, 389 tấn thịt, 31.819 dân công, 11.800 mảng nứa và 500 ngựa thồ; lưu vực Nậm Hu, Thượng Lào: 2.000 tấn gạo3.
____________________________________________
1, 2. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Tạp chí Học tập, 2-1970, tr.31.
3. Xem Công tác hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ, Ban Khoa học Hậu cần, Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1979, tr.554.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:20:03 pm

Cả một dân tộc, từ đồng bào người Kinh đến đồng bào các dân tộc thiểu số, từ thanh niên, phụ nữ đến các người già, trẻ nhỏ, đều tham gia đánh giặc, cứu nước bằng trí tuệ và lòng dũng cảm, bằng mọi phương tiện sẵn có. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, cũng như trong các chiến dịch khác, truyền thống "cả nước một lòng", "toàn dân đánh giặc" đã được phát huy mạnh mẽ. Tên quan năm Pháp Lơpagiơ, chỉ huy Binh đoàn Thất Khê trong Chiến dịch Biên giới (năm 1950) sau khi bị bắt sống, đã thốt lên: "Các ông thắng là vì các ông có dân, không những nam giới mà cả phụ nữ cũng có mặt ở tiền tuyến". Tên sĩ quan cao cấp Pháp Ivon Panhinét cũng đã thốt lên sau khi Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc: "Than ôi! Máy bay của ta (tức của quân đội Pháp) lại thua đôi bồ dân công của Việt Minh (tức nhân dân Việt Nam)"1. Và trong tác phẩm: Trận Điện Biên Phủ, Giuyn Roa cũng đã viết: "... Không phải viện trợ Trung Quốc đã đánh bại tướng Nava mà là những chiếc xe đạp thồ, chở 200, 300 kg do người đẩy".

Đúng như vậy, chiến thắng Biên giới (năm 1950) cũng như chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) chứng minh rằng trong chiến tranh, trang bị vũ khí là quan trọng, nhưng không phải là nhân tố quyết định. Nhân tố quyết định là chế độ xã hội và con người cầm súng chiến đấu cho chế độ đó. Chế độ dân chủ nhân dân Việt Nam theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội, đã: "Khơi dậy và nhân lên bản lĩnh của cả dân tộc và của từng người Việt Nam"2, đã đào tạo nên một đội quân chiến đấu vừa đông đảo về số lượng, vừa có hiểu biết về khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật quân sự, vừa có trình độ giác ngộ cao về chính trị: thấm nhuần đường lối cách mạng của Đảng, sẵn sàng vùng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ruộng đất cho dân cày để mở đường tiến lên chủ nghĩa xã hội3. Hàng chục vạn chiến sĩ dân công từ khắp các nẻo đường của đất nước, đã vượt qua đèo cao, dốc núi, vượt qua máy bay bắn phá và bom nổ chậm để chuyển hàng chục vạn tấn lương thực, đạn dược cho bộ đội đánh giặc. Hàng vạn thanh niên xung phong ngày đêm phối hợp với các đơn vị công binh, anh dũng mở đường và phá bom nổ chậm của địch trên các tuyến đường giao thông vận tải dẫn đến trận địa. Chỉ trong một thời gian ngắn, hàng ngàn kilômét đường được xây dựng và sửa chữa, phục vụ chiến dịch4.

Trong cao trào chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở Điện Biên Phủ, đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu kiên cường, anh dũng, mưu trí và sáng tạo tuyệt vời. Các chiến sĩ Tô Vĩnh Diện và Nguyễn Văn Chức đã hy sinh thân mình để bảo vệ pháo; Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng; Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho toàn đơn vị tiến vào diệt địch. Và biết bao tấm gương chiến đấu và anh dũng hy sinh khác, làm rạng rỡ thêm truyền thống kiên cường, bất khuất, sáng tạo của dân tộc Việt Nam. Chính tinh thần quyết chiến, quyết thắng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì ruộng đất cho dân cày, và sức mạnh, sức sáng tạo của quân và dân ta trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vượt qua những khó khăn chồng chất để đi tới đích thắng lợi cuối cùng.

Như vậy, có thể nói, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại là thắng lợi của đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Suốt chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã không ngừng thực hiện chủ trương: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; vừa kháng chiến, vừa xây dựng kinh tế, văn hoá, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân theo hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó mà Đảng ta đã xây dựng được hậu phương vững mạnh, một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi trong chiến tranh, đã động viên, tổ chức được mọi lực lượng của dân tộc, kết hợp được sức mạnh của cả nước, của cả ba nước Đông Dương để tạo nên một sức mạnh tổng hợp nhằm đánh thắng kẻ thù.

Cũng nhờ nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã kết hợp được sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Từ năm 1950, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân đã công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam và lần lượt đặt quan hệ ngoại giao với nước ta. Các nước xã hội chủ nghĩa đã hết sức ủng hộ về tinh thần và giúp đỡ về vật chất cho nhân dân ta trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới đòi chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ cuối 1953-1954, một phong trào do Đảng Cộng sản Pháp lãnh đạo đòi chấm dứt chiến tranh, đòi thương lượng với Chính phủ Hồ Chí Minh dâng lên mạnh mẽ trong các tầng lớp nhân dân Pháp. Nhân dân các nước Angiêri, Marốc, Tuynidi đã lên tiếng đòi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Việt Nam. Công nhân Angiêri liên tiếp đình công không chịu khuân vác cho tàu Pháp chở vũ khí sang Đông Dương. Tháng 10-1953, Đại hội Công đoàn thế giới lần thứ III đã ra Nghị quyết tổ chức "Ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam anh hùng, tích cực đấu tranh đòi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương...".

Có sức mạnh to lớn ở trong nước, có sự ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của nhân dân thế giới, nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược với chiến công lừng lẫy ở Điện Biên Phủ.
___________________________________________
1. Xem báo Nhân Dân, ngày 7-5-1964.
2. Lê Duẩn: Dưới ngọn cờ của Đảng, đưa đất nước lên ngang tầm cao thời đại, Tạp chí Xây dựng Đảng, 2-1980, tr.5.
3. Trước khi bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã xây dựng được một lực lượng vũ trang hùng mạnh, gồm ba thứ quân. Ta đã huy động vào chiến dịch này một lực lượng lớn: chín trung đoàn (27 tiểu đoàn) và toàn bộ pháo binh, tạo nên một sức mạnh áp đảo.
4. Xem Công tác hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ, Ban Khoa học Hậu cần Tổng cục Hậu cần xuất bản, 1979, tr.554.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 22 Tháng Mười Hai, 2021, 08:42:53 pm

TẤM BẢN ĐỒ "LÊN SỞI" CỦA QUÂN ĐỘI VIỄN CHINH PHÁP1

Đại tá LÊ KIM


Trong số các tướng Pháp có dính líu vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Hăngri Nava là viên tổng chỉ huy thứ tám, đồng thời cũng là "người cuối cùng đọ sức với Việt Minh". Dĩ nhiên, sau Hăngri Nava còn có Pôn Ely được cử sang Đông Dương nhưng lúc đó chiến tranh đã kết thúc, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương đã ký kết, Ely chỉ còn mỗi một nhiệm vụ là "làm lễ cuốn cờ" cho quân đội viễn chinh Pháp từ miền Bắc tập kết vào Nam rồi rút hết về nước. Do đó, Nava vẫn được nhiều tờ báo Pháp tặng cho danh hiệu là "võ sĩ cuối cùng trên vũ đài Đông Dương".

Cảm tưởng của vị Tổng Chỉ huy này khi đặt chân tới Tổng hành dinh quân đội viễn chinh Pháp ở Hà Nội như thế nào? Trong cuốn Đông Dương hấp hối xuất bản năm 1956, Nava viết: "Tại trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân đội viễn chinh Pháp ở Hà Nội có một tấm bản đồ lớn ghi rõ các vị trí và vùng kiểm soát của quân đội Pháp cũng như của Việt Minh. Khu vực do Pháp kiểm soát, chủ yếu là các thành phố, thị xã, thị trấn và vùng lân cận cùng với các trục đường giao thông, được thể hiện bằng màu trắng, chỉ chiếm khoảng 1/4 diện tích chiến trường Bắc Bộ. Khu vực tranh chấp giữa Pháp và Việt Minh, thể hiện bằng màu hồng nhạt, cũng chỉ chiếm khoảng từ 1/4 đến 1/3. Còn khu vực do Việt Minh kiếm soát chiếm tới quá nửa tấm bản đồ. Mỗi thôn, xã hoặc một cụm xóm làng do Việt Minh làm chủ tuyệt đối, được thể hiện bằng một chấm màu đỏ. Nhìn vào bản đồ, người xem thấy chi chít những chấm màu đỏ, tập trung dày đặc tại vùng châu thổ sông Hồng, lan rộng tới vùng ven biển và ăn sâu tới tận vùng trung du. Vì vậy, người xem đã gọi đây là tấm bản đồ "lên sởi" hoặc có kẻ còn nói đây là bệnh "đậu mùa" đang phát triển…”.

Cẩn thận hơn nữa, Nava còn cho vẽ lại và in ngay trong cuốn sách Đông Dương hấp hối tấm bản đồ quân sự chiến trường Bắc Bộ với dòng chữ "đậu mùa" đậm nét do chính tay các sĩ quan đồ bản của Pháp đã ghi trên góc phải.

Với tấm bản đồ này, Nava muốn biện bạch rằng, khi tới Đông Dương nhậm chức Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Viễn Đông, gọi tắt là C.E.F.E.O thì bảy vị tướng chỉ huy sang trước đã để lại cho Nava một cái "gia tài quân sự, chính trị ở Bắc Bộ" như thế đó!

Một điều mỉa mai là, không phải bảy viên tổng chỉ huy trước Nava đã lơ là hoặc sơ hở trong việc "bình định" vùng châu thổ sông Hồng. Ngược lại, vị nào cũng tập trung "cố gắng cao nhất" trong việc tác chiến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, mỗi vị một phương án rất bài bản. Ngay từ khi chiến tranh mới bùng nổ vào hồi tháng 12-1946, cả Bộ Tổng tham mưu quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương lẫn Bộ Chỉ huy quân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ đều thống nhất ý kiến là phải "giữ vững con đường huyết mạch số 5 nối liền Hà Nội với cửa biển Hải Phòng" rồi "đánh loang" ra tận bắc phần sông Đuống lẫn nam phần sông Đáy. Tướng Raun Xalăng hai lần làm nhiệm vụ tổng chỉ huy thì "cả hai lần đều coi vùng châu thổ sông Hồng là vùng "quan trọng nhất" của chiến trường Bắc Bộ cũng như toàn Đông Dương. Nhưng phía Pháp càng cố gắng "bình định'' vùng châu thổ sông Hồng thì Việt Minh lại càng thâm nhập. Đến nhiệm kỳ của Đờ Lát Đờ Tátxinhi, viên tướng được coi là "tài giỏi nhất" và là "niềm kiêu hãnh" của quân đội Pháp thì chính Đờ Lát là người đầu tiên công khai kêu toáng lên rằng vùng châu thổ "đang mọt ruỗng". Thế là, viên Tư lệnh chỉ quen tiến công này đã phải tính đến nước cờ bị động là "xây dựng phòng tuyến để bảo vệ" thay cho việc đánh lan rộng theo kiểu vết dầu loang mà các viên tướng trước đó đã thực hiện và đã thảm bại.

Nhưng đúng lúc tướng Đờ Lát "xây kè đắp đập nhằm ngăn chặn nạn hồng thuỷ do Việt Minh tràn ngập" thì vùng châu thổ sông Hồng lại có tới một sư đoàn chính quy, có khi tới hơn hai sư đoàn của Việt Minh hoạt động liên tục cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích. Chính Nava đã phê phán Đờ Lát là "tính quẩn" Nava viết:

"Sau khi nhận được tăng viện từ Pháp đưa sang để thành lập bốn binh đoàn cơ động (G.M), tướng Đờ Lát quyết định bảo vệ vùng châu thổ sông Hồng bằng một chiến lược phòng ngự. Ông đã lập một phòng tuyến như "chiến luỹ Maginô thu nhỏ", nhưng phòng tuyến này vẫn không ngăn chặn được Việt Minh mà còn chôn chân hơn 20 tiểu đoàn và các đồn bốt lẻ làm giảm sút mất lực lượng cơ động. Do đó, tại vùng châu thổ sông Hồng, quân ta (tức quân đội viễn chinh Pháp) vẫn phải đứng trước một vấn đề ngày càng khó khăn: phải chống lại một kẻ địch vô hình, không sờ thấy, không túm được, một kẻ địch lúc tập trung lúc phân tán, vũ khí ngày càng hoàn hảo, trình độ ngày càng nâng cao. Nhiều khu vực trong vùng châu thổ sông Hồng, ban ngày do ta kiểm soát nhưng đến đêm lại do Việt Minh làm chủ. Vùng châu thổ sông Hồng cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long đều là những khu vực trù phú, nhiều ruộng, đông dân, dân chúng bị tiêm nhiễm tư tưởng cộng sản. Trong những vùng quân ta kiểm soát, và chỉ kiểm soát được về mặt lý thuyết, có tới 60.000 quân địch hoạt động. Tình thế đó làm cho ta phải "chôn chân" quân lính tại vô số đồn bốt để bảo vệ các trục đường bộ, đường sắt, kho tàng, sân bay, đó là chưa kể các thành phố, thị xã, thị trấn; thông thường, muốn bảo vệ một quãng đường từ 20 đến 40km, tuỳ từng khu vực ta phải mất tới một tiểu đoàn bộ binh và một đại đội pháo trong khi Việt Minh chỉ cần huy động một hoặc hai trung đội".

Nava tiết lộ, khi ông ta tới Đông Dương, quân Pháp đã phải sử dụng tới năm sư đoàn xé lẻ với tổng số quân là 100.000 binh lính để "chôn chân" trong 917 đồn bốt ở vùng châu thổ sông Hồng. Dĩ nhiên, Nava cũng có một kế hoạch nhằm thoát khỏi tình thế bị động. Trong cái gọi là "kế hoạch Nava", viên Tổng Chỉ huy này dự định, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1956 sẽ "án binh bất động", một mặt vét thêm lính nguỵ để "gìn giữ" vùng châu thổ sông Hồng, một mặt chờ quân tăng viện từ Pháp sang để xây dựng thêm các binh đoàn cơ động. Sau khi đã có đủ lực lượng để dùng vào cả việc phòng ngự lẫn tiến công, lúc đó mới đi "tìm chủ lực Việt Minh để diệt" nhằm đánh quỵ xương sống của Việt Minh để tìm một "lối thoát danh dự" cho phép.

Thế nhưng, như mọi người đã biết, cái "kế hoạch Nava" vừa mới triển khai thì quân Pháp đã bị một thảm bại ở Điện Biên Phủ. Toàn bộ vùng châu thổ sông Hồng đang "mọt ruỗng" thế là bị đổ ụp! Sau Hiệp định Giơnevơ, một nửa nước Việt Nam được giải phóng, trong đó có Thủ đô Hà Nội. Tấm bản đồ "lên sởi" treo trong trụ sở Bộ Tổng tham mưu quân đội viễn chinh Pháp (số 33 phố Phạm Ngũ Lão hiện nay) là một bằng chứng hùng hồn nói lên tinh thần đấu tranh bất khuất, mưu trí, táo bạo của quân và dân ta, đặc biệt là quân dân vùng châu thổ sông Hồng mà chính đối phương đã phải ghi nhận.
____________________________________________
1. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 6 - 1992.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 09:03:49 pm

ĐIỆN BIÊN PHỦ - SỰ LỰA CHỌN ĐỊNH MỆNH
CỦA THỰC DÂN PHÁP
1

Đại tá, TS. NGUYỄN MẠNH HÀ
Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử Quân sự


Ngày 8-6-1954, một tháng sau ngày tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, Plêven, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nói trước Quốc hội Pháp: "Khi một chiến dịch quân sự kết thúc xấu, người ta thấy lập tức mọc lên nhan nhản những nhà "chiến lược xalông" và những nhà tiên tri "nói hậu", họ giải thích rằng họ đã luôn luôn báo trước nhưng nào họ có bày tỏ ý kiến gì trước đâu... Điện Biên Phủ được chiếm ngày 20-11-1953... Giữa ngày đó đến lúc Việt Minh bắt đầu tiến công, ngày 13-3-1954, các nhà tiên tri có thể dễ dàng cho người ta nghe ý kiến của mình trong khoảng thời gian ba tháng rưỡi... Cái mà tôi biết, đó là ngày tôi lên thăm tập đoàn cứ điểm, ngày 19-2, mọi người ở đây đều rất tin tưởng vào sự bố phòng cũng như những phương tiện của mình và không một ai nghĩ đến việc rút bỏ nó. Cái mà tôi biết, đó là không một chỉ huy quân sự nào mà tôi hỏi ý kiến lại đề nghị tôi làm việc đó"2.

Vậy những lý do nào khiến Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương, đại diện là Tổng Chỉ huy Nava, chọn Điện Biên Phủ làm nơi đối đầu với Việt Minh trong một trận chiến có tính chất quyết định đến thắng bại của cả cuộc chiến tranh, một sự "lựa chọn định mệnh", lại được Chính phủ Pháp thông qua? Có nhiều lý do để giải thích vấn đề này, chúng tôi xin tóm tắt thành những điểm chủ yếu dưới đây:

Trong kế hoạch tổng thể của Nava, được Hội đồng Quốc phòng Pháp3, do Tổng thống Vanhxăng Ôriôn, chủ toạ, thông qua4 ngày 24-7-1953, không hề thấy nhắc đến địa danh Điện Biên Phủ cả về mặt vị trí chiến lược cũng như ý nghĩa chính trị, quân sự. Có chăng, Điện Biên Phủ chỉ nằm ở vị trí khiêm tốn trong mối quan tâm chung của Nava về vùng rừng núi Bắc Bộ và trách nhiệm bảo vệ Thượng Lào. Vậy mà, theo sự phát triển, chuyển biến của tình hình, cánh đồng lòng chảo Điện Biên, cách Hà Nội gần 400 km về phía tây-bắc, dần dần, một cách không tự giác, trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Nava.
________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Xem Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.
3. Gồm các bộ trưởng có liên quan đến Đông Dương và các tham mưu trưởng lục quân, không quân, hải quân.
4. Theo H. Nava, trong cuốn Thời điểm của những sự thật, Nxb. Plông, Pari, 1979 (bản dịch của Nguyễn Huy Cầu) thì kế hoạch tác chiến gồm hai bước:
+ Trong chiến cuộc 1953-1954, nói chung giữ thế phòng thủ ở phía bắc vĩ tuyến 18 và tìm cách tránh giao chiến lớn. Trái lại, ở phía nam lại tiến công để ổn định miền trung và nam Đông Dương và để lấy được nhân, vật lực. Đặc biệt phải thanh toán cho được Liên khu V.
+ Khi đạt được ưu thế về quân cơ động, nghĩa là nếu có thể được thì từ mùa Thu 1954, thực hành tiến công ở phía bắc nhằm mục đích tạo ra một tình hình quân sự cho phép đưa ra một giải pháp chính trị thích hợp để giải quyết chiến tranh.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 09:06:42 pm

1. Lý do về phía ta

Chủ trương tác chiến của ta trong Đông Xuân 1953-1954 là sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào hướng quân Pháp sơ hở đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt trong vận động ở những hướng quân Pháp có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta. Điểm mấu chốt cần tập trung nỗ lực là tìm cách phân tán khối cơ động chiến lược của Pháp vừa được tổ chức xây dựng. Nava dự kiến tập trung xây dựng 27 GM (binh đoàn) cơ động cho toàn chiến trường Đông Dương (mỗi GM tương đương một trung đoàn tăng cường). Riêng ở Bắc Bộ, Pháp có 44 tiểu đoàn cơ động, trong khi đó ta có năm đại đoàn bộ binh và một đại đoàn công binh - pháo binh. Tỷ lệ quân chủ lực cơ động giữa ta và Pháp là 1/1,5. Tuy vậy, Nava vẫn chưa chát thừa nhận: "Mặc dù đông quân hơn đối phương một chừng mực nào đấy, lực lượng cơ động của ta vẫn không có khả năng đương đầu với khối chủ lực cơ động tác chiến của họ. Việc tổ chức một khối lực lượng mạnh hơn và có sức cơ động có thể sánh với Việt Minh là một điều cần thiết"1.

Do phải rút lực lượng ở các chiến trường về tập trung xây dựng khối cơ động, nên lực lượng Pháp - nguỵ trở nên sơ hở, mỏng yếu. Ta đã triệt để khai thác yếu điểm này, phân tán chủ lực đánh vào các địa bàn chiến lược mà Pháp không thể bỏ, buộc chỉ huy Pháp phải xé lẻ khối cơ động làm nhiệm vụ đóng giữ. Mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán lực lượng của Pháp, một lần nữa lại trở nên gay gắt.

Điều tài tình ở chỗ, chỉ với một đại đoàn thiếu (Đại đoàn 316 thiếu Trung đoàn 176) và một trung đoàn tăng cường hành quân làm nhiệm vụ tác chiến theo hai2 trong số nhiều hướng đã dự kiến, ta đã buộc Bộ Chỉ huy Pháp dần dần chuyển trọng tâm nỗ lực của kế hoạch (đã vạch ra) theo hướng nam - bắc. Có nghĩa là kế hoạch của Nava bước đầu bị phá vỡ trong khi ông ta muốn dành ưu tiên ở bước một cho chiến trường Nam Bộ và Liên khu V, thì nay buộc phải quay ra Bắc đối phó với ta. Chỉ riêng động thái đầu tiên này đã bộc lộ sự nhạy cảm, bị động, sơ hở trong thế bố trí chiến lược và trong cách điều quân, tổ chức lực lượng của phía Pháp.

Có thể nói rằng, trước khi Đại đoàn 316 rời địa bàn đứng chân ở Thanh Hoá theo đường 41 hành quân lên Lai Châu và một bộ phận chủ lực khác tiến sang Trung Lào, ngay cả phía ta cũng chưa lường trước sự thay đổi tình thế có tính chiến lược do sự đối phó của Pháp mang lại. Cơ quan chiến lược của ta vẫn có kế hoạch dài hơi trong hai năm (1953-1954), đồng thời dự kiến những khả năng, tình huống có thể xảy ra. Ta vẫn lựa chọn hướng địa bàn sở trường là vùng rừng núi để thực hành tác chiến ở Lai Châu, Tây Bắc, mà chưa dự kiến hết được Thượng Lào chính là điểm nhạy cảm, là "huyệt hiểm" của Pháp trong thế bố trí chiến lược ở Đông Dương. Việc Pháp cấp tốc cho sáu tiểu đoàn (gồm 4.500 quân) nhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ3 vào các ngày 20, 21, 22 tháng 11-1953 trong lúc Đại đoàn 316 đang trên đường hành quân lên Lai Châu, là biểu hiện của phản ứng tức thì khi bị điểm trúng huyệt.

Tiến theo một bước, khi nhận thấy tình thế chiến lược mới xuất hiện, ta nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch. Cuối tháng 11-1953, Đại đoàn 308 được lệnh rút khỏi khối chủ lực gồm các Đại đoàn 308, 312, 304 (thiếu một trung đoàn) và Đại đoàn công - pháo 351, bố trí ở khu vực Phú Thọ - Yên Bái - Tuyên Quang sẵn sàng đánh tiêu diệt lớn khi Pháp tiến công, hành quân lên Tây Bắc.

Một tình huống mới đặt ra đối với Bộ Chỉ huy Pháp: sử dụng lực lượng đánh lên Phú Thọ, Yên Bái để kìm chân chủ lực ta hay đưa thêm lực lượng lên Điện Biên Phủ và chấp nhận giao chiến ở đó đồng thời vẫn xúc tiến thực hiện kế hoạch Nava, mở cuộc tiến công ở Liên khu V và miền Nam vào đầu năm 1954? Sau khi cân nhắc nhiều mặt, Nava quyết định chọn phương án thứ hai: vừa đưa thêm quân lên Điện Biên Phủ, chấp nhận giao chiến vừa tiếp tục thực hiện kế hoạch mở cuộc tiến công ở miền Nam. Theo ông ta, nếu đồng ý với tướng Cônhi, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, tập trung lực lượng đánh lên Phú Thọ - Yên Bái, nơi chủ lực ta đã sẵn sàng chờ giao chiến, thì khả năng giành thắng lợi không chắc chắn, vả lại, khối quân cơ động sẽ bị xé lẻ thêm nữa, sau khi đã phải "cắm chốt" ở Điện Biên Phủ và Trung Lào. Và lý do quan trọng nhất là sẽ không tiếp tục thực hiện được kế hoạch tiến công ở miền Nam như đã dự kiến.

Trong chỉ thị đề ngày 3-12-1953 gửi cho cấp dưới, Nava nhấn mạnh "Để ngăn chặn những ý đồ ấy (ý nói hoạt động sắp tới của chủ lực ta ở Tây Bắc) tôi quyết định chấp nhận cuộc chiến đấu ở Tây Bắc trong những điều kiện tổng quát sau đây:

1. Việc phòng giữ vùng Tây Bắc sẽ tập trung ở Điện Biên Phủ, căn cứ không quân và mặt đất cần được bảo vệ bằng mọi giá.

2. Việc chiếm giữ Lai Châu sẽ chỉ được duy trì khi các biện pháp hiện có đảm bảo được việc phòng thủ mà không bị tổn hại. Trong trường hợp bị uy hiếp nghiêm trọng, các đơn vị sẽ rút theo đường bộ hoặc đường không về Điện Biên Phủ"4.

Ngày 5-12, tránh trước khả năng bị chủ lực ta tiến công, các lực lượng đồn trú Pháp ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ bằng 183 chuyến máy bay Đakôta khứ hồi, bỏ lại tại thị xã này hơn 300 tấn trang thiết bị và 40 xe quân sự. Ngày 7-12, Đại tá Đờ Cátxtơri thay tướng Gin chỉ huy GONO5.

Như vậy, cho đến ngày 10-12, số quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã lên tới 10 tiểu đoàn bộ binh, do tiếp nhận các đơn vị từ Lai Châu rút về, và hai tiểu đoàn của bán Lữ đoàn lê dương thứ 13 (13è ĐBLE) mới được đưa lên.

Điện Biên Phủ dần dần trở thành mối quan tâm, thu hút nhiều lực lượng, phương tiện chiến tranh của đội quân viễn chinh Pháp. Ngoài lý do chủ yếu là hoạt động và di chuyển các đơn vị chủ lực của ta hướng dần lên Điện Biên Phủ, buộc Pháp phải từng bước một chấp nhận cuộc đọ sức ở đây, nơi địa bàn chưa được dự kiến chuẩn bị, còn nhiều lý do khác khiến Điện Biên Phủ, một cách không tự giác, trở thành trung tâm điểm của kế hoạch Nava. Đó là sự đánh giá không đúng của Pháp về khả năng của bộ đội ta, không nắm được ý đồ tác chiến chiến lược, phán đoán của ta, từ đó bộc lộ điểm yếu cơ bản mà ta đã biết lợi dụng triệt để để giành thắng lợi.
_____________________________________________
1. H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 85.
2. Hai hướng đó là Lai Châu (Tây Bắc) và Trung Lào.
3. Cuộc nhảy dù đánh chiếm Điện Biên Phủ mang mật danh Castor (con Hải ly).
4. Dẫn theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd, "Chỉ thị về việc điều hành những cuộc hành quân ở vùng Tây Bắc Bắc Kỳ".
5. GONO: Groupement Opération du Nord-Ouest.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 09:10:15 pm

2. Lý do về phía Pháp

a. Về chính trị

Đây là thời điểm nước Pháp mỏi mệt về những biến động chính trị, xã hội, bị sa lầy ở Đông Dương, muốn rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự. Giới cầm quyền Pháp ở Pari đặt hy vọng vào kế hoạch của Nava và bản thân ông ta trong việc tìm ra một thắng lợi quân sự khả dĩ để "tạo thế" trong đàm phán. Mục đích của kế hoạch Nava, được Chính phủ Pháp xác định, nhằm làm cho Việt Minh phải nhận ra họ không có khả năng giành được một thắng lợi quân sự quyết định, từ đó không thể lợi dụng kết quả của thắng lợi quân sự để mặc cả về chính trị, để đàm phán. Mặt khác, giới lãnh đạo ở Pari và các cấp chỉ huy Pháp ở Đông Dương hy vọng, qua việc đánh thắng ở Điện Biên Phủ, sẽ phá vỡ kế hoạch giành chiến thắng quyết định của Việt Minh, ngăn chặn được tác động sâu sắc của thắng lợi đó đến dư luận Pháp và thế giới.

b. Lý do bảo vệ Lào

Nước Lào, đặc biệt là Thượng Lào, có tầm quan trọng chiến lược trong thế bố trí của Pháp ở Đông Dương. Đây là nơi có cả kinh đô của vương quốc và thủ đô của nước Lào thuộc Pháp. Theo Pháp, trong ba nước liên kết ở Đông Dương thì Lào được coi là nước "trung thành" nhất. Ngày 28-10-1953, Pháp đã ký với Lào một hiệp ước, theo đó Lào gia nhập khối Liên hiệp Pháp và nước Pháp cam kết bảo vệ Lào. Các chính khách, tướng tá Pháp đều có chung một nhận định: mất Thượng Lào sẽ có những tác hại không thể tính hết được về mặt chính trị1. Nava cho rằng: đánh Thượng Lào, chiếm kinh đô Luông Prabăng, Việt Minh sẽ giáng cho Pháp một thất bại về tinh thần khó có thể gượng dậy. Chiếm Trung Lào, Việt Minh sẽ tiếp tay cho Liên khu V và đe doạ toàn miền Nam Đông Dương. "Bảo vệ Thượng Lào đối với Pháp cần thiết biết nhường nào nếu không muốn chứng kiến cái cảnh chỉ một vài tháng nữa toàn bộ miền trung và miền nam Đông Dương sẽ bị sụp đổ". Đây chính là một trong những điểm yếu trong thế bố trí chiến lược của Pháp ở Đông Dương. Nếu chỉ mất Lai Châu, có lẽ Bộ Chỉ huy Pháp đã không vội vã phản ứng như vậy. Pháp còn trù tính một sự sụp đổ dây chuyền từ Thượng Lào xuống Trung Lào, rằng: "Cộng sản sẽ xâm nhập vào Thái Lan, chính quyền Băng Cốc sụp đổ như một lâu đài xây dựng bằng những quân bài, Campuchia bị uy hiếp sau lưng và công cuộc bình định miền Nam bị đe doạ...". Lý do bảo vệ Lào cũng chính là ý thức bảo vệ cho sự triển khai suôn sẻ bước một của kế hoạch Nava ở Liên khu V và miền Nam. Bởi vì, theo lời ông Mắc Giắckê, khi sang Đông Dương tháng 11-1953: "Nếu Việt Minh tới được sông Mê Công thì chắc chắn dư luận nước Pháp sẽ bị một cú sốc choáng váng đến nỗi không còn có thể tiếp tục cuộc chiến tranh được nữa".

c. Lý do chọn Điện Biên Phủ về mặt địa lý - quân sự

Nava và các tướng tá ở Đông Dương đều thống nhất cho rằng do thiếu lực lượng và sự kém thích nghi địa bàn rừng núi của binh lính nên Pháp chỉ còn cách bảo vệ trực tiếp cho Thượng Lào. Điều đó có nghĩa là thiết lập một căn cứ ngăn chặn Việt Minh tiến sang Lào chứ không phải sử dụng lực lượng đánh chặn theo kiểu vận động chiến. Có hai trục đường từ Tây Bắc Việt Nam sang Thượng Lào: một đường đi qua Sầm Nưa và cao nguyên Trấn Ninh, trên đường này đã có tập đoàn cứ điểm Cánh Đồng Chum do tướng Xalăng thiết lập từ trước, chặn lại; một đường tốt hơn đi từ Tuần Giáo, Điện Biên Phủ sang lưu vực sông Nậm Hu, tới Luông Prabăng. Đây chính là con đường chủ lực Việt Minh, theo dự kiến của Pháp, sẽ đi. Vì vậy, cách tốt nhất là phải thiết lập các căn cứ không - bộ, các "con nhím" hay các tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn. Có bốn địa điểm được đưa ra cân nhắc: Lai Châu, Điện Biên Phủ (Việt Nam) và Viêng Chăn, Luông Prabăng (Lào). Hai địa điểm trên đất Lào không đáp ứng được yêu cầu cần phòng thủ cả trên không và trên mặt đất do bị hạn chế về tầm bao quát. Sân bay nằm cách xa thành phố nên không thể xây dựng được một tập đoàn cứ điểm ôm gọn cả thành phố lẫn sân bay. Hai thành phố Viêng Chăn và Luông Prabăng không nằm ở vị trí có thể khống chế toàn bộ vùng xung quanh khi bị Việt Minh tiến công nên nguy cơ bị cô lập là rõ ràng. Hơn nữa, việc tiếp tế sẽ khó khăn vì hai nơi nói trên đều nằm cách xa đồng bằng.

Lai Châu, nơi Pháp đã thiết lập căn cứ phòng thủ, cho đến lúc này cũng không đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Đây vừa là khu vực khó trụ vững khi bị tiến công, đồng thời lại biệt lập, xa đường tiến quân của chủ lực Việt Minh nên không thể ngăn chặn có hiệu quả.

Chỉ còn có Điện Biên Phủ. Cựu Tổng Chỉ huy Xalăng đã nhận định về vị trí chiến lược của Điện Biên Phủ ngày 25-5-1953, hai tháng trước khi kế hoạch Nava được thông qua, như sau: "Cần thiết phải bổ sung cho thế bố trí hiện tại bằng việc thiết lập một trung tâm đề kháng mới ở Điện Biên Phủ... chiếm được Điện Biên Phủ, ta (Pháp) sẽ khoá được con đường một cách rất có hiệu quả, bởi vị trí này chỉ có thể vòng qua một cách rất khó khăn bằng những con đường mòn phải vượt qua núi rất xấu"2.

Điện Biên Phủ là cánh đồng lòng chảo rộng nhất ở Tây Bắc, có điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập một căn cứ phòng thủ không - bộ và phát huy được uy lực của pháo binh, khả năng của xe tăng, thiết giáp. So với Luông Prabăng và Viêng Chăn thì tiếp tế bằng không quân cho Điện Biên Phủ có nhiều điểm thuận lợi hơn. Theo Tổng Chỉ huy Nava: "Vị trí địa lý của khu lòng chảo Điện Biên Phủ, những đặc điểm về khí hậu ở đây khiến cho nó trở thành một địa bàn dễ phòng thủ, một trong những căn cứ không quân tốt nhất Đông Nam Á, một đầu cầu hàng không tuyệt vời. Chúng ta có những điều kiện rất thuận lợi để chấp nhận một trận chiến đấu ở đây"3. Ngoài vận chuyển tiếp tế, Việt Minh sẽ "gặp khó khăn lớn khi đưa pháo 37 ly vào sát tầm mà máy bay lăn bánh khi cất cánh, hạ cánh và thả dù. Các vị trí pháo của họ (Việt Minh) sẽ bị đập nát vụn. Vì vậy, họ chỉ đưa được pháo vào lúc họ mở trận tấn công mạnh vào khu trung tâm. Như vậy, việc tiếp tế bằng không quân có thể tiến hành thoải mái cho đến ngày có cuộc tiến công... Ở mức tối thiểu vẫn có thể tiếp tế về ban đêm. Như vậy, rất có thể là việc tiếp tế bằng không quân luôn có thể đảm bảo"4. Pháo hạng nặng của Việt Minh cũng chỉ có thể bố trí ở các mỏm núi vành ngoài lòng chảo Điện Biên, vì vậy "ban ngày và những lúc thời tiết tốt thì các căn cứ của ta (Pháp) ít có khả năng bị kẻ thù pháo binh. Họ lập tức sẽ bị trừng trị"5.
_____________________________________________
1. Trong công văn của ông Gi. Mông (J. Mons), Thư ký Ủy ban Quốc phòng, gửi ông M. Giắckê, Bộ trưởng các quốc gia liên kết ngày 27-11-1953, có đoạn: "Mục tiêu (hành động) của chúng ta ở Đông Dương là đưa đối phương tới chỗ phải thừa nhận rằng họ không thể nào thắng lợi bằng biện pháp quân sự". Theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.
2, 3. H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Sđd.
4. Trích báo cáo Chống lại pháo phòng không của Việt Minh, do trung tá chỉ huy các lực lượng lục quân và không quân (F.T.A) ở bắc Việt Nam ký (sau khi một phái đoàn sĩ quan Hoa Kỳ từ Tôkiô tới để trình bày về loại pháo 37.A.A và những phương pháp phòng chống lại loại pháo này). Theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.
5. Trích báo cáo của tướng Păngnaxiôri - thanh tra pháo binh các lực lượng lục quân ở Viễn Đông F.T.E.O. Theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 09:13:53 pm

d. Lý do về mặt tâm lý

Chúng tôi không cho rằng đây là lý do chính khiến Pháp quyết định chấp nhận cuộc đối đầu ở Điện Biên Phủ, song đây là một khía cạnh, do chịu tác động của các vấn đề khác nên rất có ảnh hường đến thái độ, đến quyết định của các nhà chính trị, quân sự Pháp. Có thể lý giải điều này qua mấy điểm dưới đây:

- Mong muốn chung của giới cầm quyền Pháp là kết thúc cuộc chiến tranh ở Đông Dương bằng một thắng lợi danh dự. Họ không muốn Việt Minh ngồi vào bàn đàm phán với tư cách của người chiến thắng, mà ngược lại. Vì vậy, mặc dù đã bỏ nhiều công sức để xây dựng và thực hiện kế hoạch Nava, hy vọng trong thời gian hai năm 1954-1955 sẽ xoay chuyển được tình thế có lợi cho Pháp, thậm chí tiêu diệt đối phương bằng một đòn quân sự mạnh mẽ, Bộ Chỉ huy Pháp vẫn quyết định thay đổi kế hoạch, chấp nhận giao chiến lớn ở Điện Biên Phủ với ý đồ kìm giữ và tiêu diệt đại bộ phận chủ lực của ta.

- Nava và Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương, bằng nhiều cách, đã thành công trong việc gây tâm lý chiến thắng đến hầu hết các nhân vật chủ chốt của Chính phủ Pháp có liên quan trách nhiệm đến Đông Dương1. Những người đã hậu thuẫn mạnh mẽ cho Nava tiếp tục chuẩn bị cuộc giao chiến. Tướng Blăng đã viết cho Nava: "Từ mình tôi tin rằng trận đánh sẽ kết thúc bằng một thắng lợi không thể chối cãi được của bên phòng thủ và ở đây, tôi có thể giải thích nó bằng những lý lẽ thực tế"2. Phái đoàn Chính phủ Pháp do Plêven dẫn đầu, sau khi lên thăm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, ngày 19-2-1953, khi trở về Pháp cũng không hề che giấu niềm tin vào chiến thắng của phía Pháp trong trận đánh quyết định này.

- Dựa vào kết quả cuộc tập kích vào Lạng Sơn (17-7-1953), cuộc tập kích vào Lào Cai (6-10-1953) và nhất là sau khi mở cuộc hành binh Hải Âu (15-10-1953 - Mouette) vào tây - nam Ninh Bình, tìm diệt Đại đoàn 320 của Việt Minh, một tâm lý lạc quan bắt đầu xuất hiện trong hàng ngũ tướng lĩnh chính khách Pháp. Họ cho rằng kế hoạch tác chiến của ta bước đầu bị đảo lộn, Pháp đã phần nào giành lại quyền chủ động tiến công, tình thế đã trở nên sáng sủa hơn. Chính vì xuất hiện tâm lý chủ quan như vậy nên Pháp nhanh chóng "chộp" lấy cơ hội nhằm đánh đòn quyết định ở Điện Biên Phủ.

- Một lý do tâm lý không kém phần quan trọng nữa là ý định và hoạt động "không rõ ràng" của cấp chỉ đạo chiến lược và các đơn vị chủ lực ta trong suốt thời gian ba tháng 23 ngày, kể từ khi Pháp nhảy dù xuống (20-11-1953), đến khi súng bắt đầu nổ ở Điện Biên Phủ (13-3-1954). Cái sự "không rõ ràng" đó đã gây tâm lý sốt ruột, đánh giá thấp đối phương của phía Pháp, từ đó càng củng cố quyết tâm dùng Điện Biên Phủ làm nơi "nghiền nát chủ lực Việt Minh" của Pháp.

Pháp cho rằng quân và dân ta không thể chiến thắng trong trận Điện Biên Phủ. Vì Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất, có số quân đông nhất, được trang bị phương tiện chiến đấu hiện đại, đầy đủ nhất, thời gian chuẩn bị, bố trí phòng thủ dài nhất. Trước kia, ta đã không có cách gì đánh bại được hình thức phòng ngự (biện pháp chiến lược) của Pháp ở Hoà Bình, Nà Sản, Cánh Đồng Chum... thì bây giờ càng không thể đánh được Điện Biên Phủ. "Bộ Chỉ huy Pháp cho rằng nếu kẻ thù tiến hành trận đánh này thì nó rất gay go nhưng cũng tạo cho Pháp những cơ may lớn giành thắng lợi. Từ trước tới nay, đội quân của tướng Giáp chưa bao giờ đương đầu với một sứ mệnh ghê gớm như sứ mệnh đánh Điện Biên Phủ"3.

Ngoài ra, Bộ Chỉ huy Pháp còn cho rằng ta không thể tập trung quân với số lượng lớn quá hai sư đoàn và pháo binh hạng nặng lên một khu vực biệt lập, đường sá xa xôi, không có phương tiện chuyên chở cơ giới. Việc tiếp tế lương thực, đạn dược trong một thời gian dài, trên những con đường dài hàng trăm kilômét từ đồng bằng lên và từ biên giới Việt - Trung đến, chủ yếu bằng mang vác thô sơ, lại luôn bị máy bay ném bom phá, là điều không thể thực hiện được. Mặt khác, nếu bị kìm giữ một lực lượng lớn chủ lực ở Điện Biên Phủ thì kế hoạch tác chiến, thế bố trí chiến lược và quyền chủ động tiến công của ta sẽ bị phá vỡ.

Vì thế, nếu chiếm giữ được Điện Biên Phủ có nghĩa là Pháp vẫn đứng chân được ở Tây Bắc, vừa giữ được cả Thượng Lào, giữ được đồng bằng Bắc Bộ đồng thời vẫn có điều kiện để mở cuộc tiến công ở miền Nam như dự kiến của kế hoạch Nava. Điện Biên Phủ sẽ là cái "nhọt hút độc" (lời của Cônhi), lực lượng đối phương sẽ bị kìm chân ở đây 33 tiểu đoàn, trong khi đó Pháp chỉ cần có 12 tiểu đoàn.

Ngày 24-12-1953, lên dự lễ Nôen tại Điện Biên Phủ, tướng Nava đã tuyên bố với sĩ quan, binh lính Pháp phòng thủ tại đây: “Trong những điều kiện ấy thì một trận chiến đấu chỉ có thể diễn biến thuận lợi cho ta (Pháp). Tất nhiên, đối phương có thể gây bất ngờ cho ta ở một số nơi và còn có thể giành được những kết quả quan trọng cục bộ. Nhưng những khả năng của ta tập trung nhanh chóng, tại những nơi bị uy hiếp, những lực lượng lớn hơn của đối phương - lực lượng của quân địa phương, lực lượng không quân, và nhất là các lực lượng quân dù... sẽ chắc chắn mang lại kết quả có lợi cho ta. Nếu ta thắng trận này thì chúng ta sẽ thắng tất, vì thời gian ủng hộ chúng ta do (sẽ có) sự phát triển của các lực lượng các quốc gia liên hiệp... Những điều kiện quân sự cho chiến thắng đã hội đủ. Tôi tin chắc rằng các điều kiện chính trị cũng sẽ có thôi"4.

Mặc dầu đã có những tính toán thắng thua, tính đến những tác động tích cực cũng như những hậu quả tiêu cực khi chọn Điện Biên Phủ làm nơi quyết đấu, song đã có nhiều cứ liệu chứng minh sự hoang mang, không mấy tin vào thắng lợi của phía Pháp, ngay từ trước khi trận đánh bắt đầu. Trong bức thư đề ngày 1-1-1954 gửi Mắc Giắckê, Nava đã không giấu giếm sự lo ngại: "Trường hợp bị tiến công, khả năng thành công của ta sẽ thế nào? Trước đây hai tuần, tôi đánh giá khả năng đó là 100% (...). Nhưng trước sự tăng cường lực lượng của đối phương, mà tin chắc chắn cho biết, thì tôi không dám khẳng định thế nữa (...). Vậy tôi coi quân số tập trung ở Điện Biên Phủ như là một “khoản đặt” có thể chấp nhận và cần thiết để phòng thủ Thượng Lào và duy trì sự có mặt của chúng tại vùng Thượng. Cái "khoản đặt" ấy có thể mang lại những kết quả to lớn nếu ta thắng trận Điện Biên Phủ. Nếu ta thua trận thì "khoản đặt" ấy có thể mất phần lớn"5. Chưa hết, vào giữa tháng 1-1954, Nava còn bí mật chỉ thị cho Cônhi, Đờ Cátxtơri và Crevơcơ (chỉ huy quân Pháp ở Lào) xúc tiến lập một kế hoạch rút quân khỏi Điện Biên Phủ mang tên "Cuộc hành quân Xênôphôn" trong trường hợp nguy cấp.

Như vậy, "canh bạc Điện Biên Phủ" đã diễn ra với thất bại thuộc về phía Pháp. Trên thực tế, nguồn gốc sâu xa của "khoản đặt" ở Điện Biên Phủ bắt nguồn một cách lôgích, từ tiến trình phát triển của cuộc chiến tranh, với sự yếu kém, bị động ngày càng nghiêng về phía Pháp. Có thể coi đó là sự giải thích: tại sao Pháp lại chọn Điện Biên Phủ.
___________________________________________
1. Những nhân vật sau đây đã lần lượt từ Pháp sang Đông Dương và lên thăm Điện Biên Phủ (trừ các tướng lĩnh đang ở Đông Dương): Giắckê, Blăng, Tham mưu trưởng lục quân (26-1), Đờ Sơvinhê, Bộ trưởng Chiến tranh (7-2), Plêven. Bộ trưởng Quốc phòng, Êly, Tổng Tham mưu trưởng, Phay, Tham mưu trưing không quân (19-2). Ngoài ra còn có tướng Mỹ Ô. Đanien lên Điện Biên Phủ ngày 2-2-1954.
2, 5. Xem H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Sđd.
3. Cao uỷ Đờ Giăng gửi điện cho Giắckê ngày 6-1-1954. Dẫn theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.
4. Báo Caraven (Caravelle), ngày 24-12-1953. Dẫn theo Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 09:57:28 pm

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ NHỮNG NĂM 1950
1

GS. VŨ DƯƠNG NINH
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội

I

Trong 5 năm đầu của nền cộng hoà dân chủ, nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập mới giành được trong tình thế hầu như bị tách biệt với bên ngoài. Chưa có một quốc gia nào công nhận nền độc lập Việt Nam, không có một nguồn viện trợ quốc tế nào giúp đỡ. Nhưng với lời nguyện thiêng liêng "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", quân, dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện một cách kiên cường và tự lực.

Đến đầu thập niên 50 của thế kỷ XX, bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi. Khi đó, hình thái hai phe của cuộc chiến tranh lạnh đã hiện lên rõ nét. Ở châu Âu, sự phân chia Đông Âu xã hội chủ nghĩa và Tây Âu tư bản chủ nghĩa thêm một "điểm nhấn" quan trọng với sự thành lập hai nhà nước Đức (Cộng hoà Dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức) vào năm 1949. Và ở châu Á năm trước đó, sự xuất hiện hai nhà nước trên bán đảo Triều Tiên (Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc) càng khơi sâu vết hằn của một thế giới đối đầu. Đặc biệt, sự thành lập Cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 1949 do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xoay chuyển tình hình thế giới, làm cho ưu thế của chủ nghĩa xã hội trở nên nổi trội, một cục diện mới xuất hiện ở miền Đông Á.

Khi đó, ở khu vực này đang diễn ra ba cuộc chiến tranh:

1. Cuộc chiến tranh Đông Dương chống thực dân Pháp âm mưu quay lại tái lập chế độ thuộc địa;

2. Đoạn kết của cuộc nội chiến Trung Quốc do Quân giải phóng tiến hành nhằm quét sạch tàn quân Quốc dân Đảng;

3. Cuộc chiến tranh mới bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên giữa hai miền đất nước.

Cuộc chiến trên đại lục Trung Hoa tạm kết thúc khi Nhà nước cộng hoà nhân dân tính toán khôn ngoan đã dừng chân bên bờ biển phía đông, để lại Hồng Kông trong tay Anh, Ma Cao trong tay Bồ Đào Nha và Đài Loan cho chính quyền bại trận họ Tưởng.

Đỉnh điểm của tình hình căng thẳng ở phương Đông bộc lộ khi cuộc chiến tranh Triều Tiên bị "quốc tế hoá". Mỹ nhảy vào chiến trường dưới danh nghĩa đội quân Liên hợp quốc cùng 13 nước đồng minh cứu nguy cho Hàn Quốc. Các đơn vị Chí nguyện quân Trung Quốc trực tiếp tham chiến, viện trợ cho Triều Tiên. Do vậy, cuộc chiến tranh đã vượt khỏi giới hạn nội bộ hai miền vì mục tiêu thống nhất đất nước mà bán đảo này đã bị biến thành bãi chiến trường đọ sức trực tiếp giữa hai lực lượng Trung Quốc và Mỹ, đằng sau đó là sự ủng hộ của các nước thuộc hai phe: Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa một bên và Anh, Pháp cùng các nước tư bản chủ nghĩa một bên. Nơi đây trở thành điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai nửa của "Trật tự Yanta" mà mỗi bên đều muốn giành phần thắng.

Đến lúc này, cuộc chiến tranh Việt Nam đã vượt qua được chặng đường 5 năm đầy gian khổ nhưng không lùi bước: "5 năm chiến đấu đầu tiên giữ một vị trí đặc biệt trong chiến tranh giải phóng và giữ nước hiện đại của Việt Nam", "là tiền đề và cơ sở đầu tiên của thắng lợi vĩ đại ấy"2. Thế "chiến đấu trong vòng vây" của quân dân ta dần dần được tháo gỡ với việc thiết lập quan hệ ngoại giao cùng các nước xã hội chủ nghĩa vào tháng 1-1950. Những tín hiệu sa lầy của đội quân Pháp xâm lược ngày càng nổi rõ: "Tình hình cuộc chiến tranh Việt Nam càng ngày càng tồi tệ đã nói lên rất rõ những thất bại về chính trị của chúng ta (Pháp) trong suốt bốn năm đó"3. Chiến dịch Thu Đông năm 1950 đã nhổ những đồn bốt của quân Pháp trên vùng biên giới Lạng Sơn - Cao Bằng, giáng một đòn quyết định vào cục diện chiến tranh. Đối với địch, "đến tháng 11 thì cuộc chiến tranh Đông Dương đã chuyển thành một cuộc tháo lui nhục nhã. Đó là sự bối rối không thể nào chịu được đối với người Pháp kiêu hãnh và làm dấy lên những hoài nghi nghiêm trọng ở Pháp cũng như ở Mỹ về việc quân đội Pháp có thể giành được thắng lợi quân sự như mong muốn"4. Thế là đã đến lúc người Mỹ phải vào cuộc: "Đứng trước khả năng Pháp có thể thất bại, đồng thời lúc đó cộng sản đã thắng lợi ở Trung Quốc, nên vào đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ trợ cho Pháp ở Đông Dương, bước đầu trực tiếp dính líu vào Việt Nam"5. Việc Mỹ cứu giúp Pháp nằm trong một tính toán rộng lớn của chiến lược toàn cầu. Đó là sự ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc đang lan rộng ở vùng Viễn Đông cũng như lo ngại ảnh hưởng của Việt Nam sẽ lôi cuốn các nước Đông Nam Á vào trào lưu cách mạng, tuyến phòng thủ từ xa của Mỹ nối từ Nhật Bản đến Ôxtrâylia sẽ bị suy yếu. Nguồn nguyên liệu phong phú và có tính chiến lược của khu vực này cũng là điều quan tâm của giới cầm quyền Oasinhtơn. Hơn nữa, nếu Pháp đổ tiền của vào cuộc chiến tranh xa xôi này thì Pháp sẽ bị chậm hồi phục nền kinh tế, do vậy sẽ gặp rắc rối trong sự ổn định chính trị trong nước và giảm sự đóng góp vào việc tăng cường lực lượng của khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) mà đó mới là điều quan tâm hàng đầu của Mỹ. Vì những lý do trên, các quan chức Mỹ nhất trí nhận định rằng: "Đông Dương và đặc biệt Việt Nam là then chốt trong việc bảo vệ Đông Nam Á".

Tuy vậy, khác với bán đảo Triều Tiên, trên chiến trường Việl Nam chỉ có quân, dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp mà không có mặt lực lượng quân đội của nước nào khác ngoài một số cố vấn. Bản chất của cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam, trước sau vẫn là cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, bảo vệ chính quyền dân chủ cộng hoà. Song, trong bối cảnh quốc tế phân hoá hai phe thì chiến trường Việt Nam cũng không tránh khỏi trở thành nơi giành giật ảnh hưởng giữa hai hệ thống xã hội. Liên Xô, Trung Quốc ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt Nam; Mỹ, Anh viện trợ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp. Cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta chẳng những gắn kết với phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa mà còn mang sắc thái của cuộc đấu tranh vì thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, nó đi vào quỹ đạo của cuộc đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng, hai chế độ chính trị ngày càng lan toả khắp hành tinh. Phrăngxoa Gioayô nhận xét: "Bộ Chỉ huy Pháp không chỉ đối phó với một cuộc nổi dậy có tính dân tộc mà là chống đối một sự nghiệp, không phải không có lý do để có thể xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông - Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh"6. Cho nên, những biến động trên chiến trường Việt Nam không thể không chịu tác động của tình hình thế giới và ngược lại, chiến cuộc ở Việt Nam cũng ảnh hưởng đến tình hình chung của khu vực và thế giới.
_____________________________________________
1. Tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia: Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điên Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Điện Biên, ngày 7, 8-3-2004.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây (Hồi ức), Nxb. Quân đội nhân dân - Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1995, tr. 432-435.
3, 4. Archimedes L.A. Patti: Tại sao Việt Nam, Nxb. Đà Nẵng, 1995, tr.413-414.
5. G.c. Herring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr. 14, 18.
6. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Giơnevơ 1954, Sđd, tr. 89.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 10:03:55 pm

II

Tháng 1-1950, chuyến công tác ra nước ngoài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở cánh cửa ngoại giao với thế giới, đạt được sự công nhận chính thức của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, của Liên bang Xôviết và các nước xã hội chủ nghĩa đối với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thắng lợi ngoại giao đã chấm dứt thời kỳ chiến đấu đơn độc, hầu như bị cách ly với bên ngoài và từ đó tiếp nhận sự đồng tình về chính trị và sự viện trợ về vật chất.

Vội vã đáp lại sự kiện trên, tháng 2-1950, Mỹ, Anh và một số nước khác lên tiếng công nhận Chính phủ bù nhìn Bảo Đại, được mang danh "quốc gia liên kết" của Pháp. Kèm theo đó là sự thành lập phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ MAAG (8-1950) và khoản viện trợ tiền tài, vũ khí đầu tiên của Mỹ với hy vọng giúp Pháp đủ sức kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh Đông Dương.

Nước Mỹ đã từ lập trường không can thiệp trước đây chuyển sang can thiệp thông qua viện trợ về quân sự và kinh tế ở Đông Dương. Như thế là đến năm 1950, "Hoa Kỳ đã dính líu vào chính sách kiềm chế tích cực ở châu Á cũng như ở châu Âu, ở Thái Bình Dương cũng như Đại Tây Dương"1. Nhưng sau ba, bốn năm theo đuổi cuộc chiến với những viên tướng nổi danh như Đờ Tátxinhi, Xalăng, Nava và khoản viện trợ của Mỹ từ 40% năm 1952 tăng lên đến 72% năm 1954 tổn phí chiến tranh ở Đông Dương, khoảng hơn 2,2 tỷ USD2, thực dân Pháp vẫn không xoay chuyển được tình thế. Ván bài cuối cùng hòng tạo nên thế mạnh đặt vào chiến cuộc Điện Biên Phủ hòng "nghiền nát Việt Minh" trong cái lòng chảo dày đặc cứ điểm.

Cũng từ đầu những năm 50 của thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2-1951) nhiệm vụ chính của cuộc kháng chiến khi đó là: "Tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hoà bình thế giới"3. Như vậy, "bọn can thiệp Mỹ" đã trở thành một đối thủ trên chiến trường Việt Nam.

Vậy chiến trận Điện Biên Phủ được tính toán trên bàn cờ quốc tế như thế nào? Về phía đối phương, đây là một bài toán nhằm hai mục đích, cả Pháp và Mỹ đều muốn đánh một đòn quyết liệt để giành phần thắng cuối cùng. Nếu đạt được mục đích này thì chẳng những đánh bại lực lượng kháng chiến Việt Nam mà còn ngăn chặn sự lan tràn của "làn sóng cộng sản" ở vùng Đông Nam Á và nhờ đó nâng cao uy thế của các cường quốc tư bản. Nhưng tình hình thực tế chiến trường không diễn biến theo chiều hướng đó. Kế hoạch 15 tháng của tướng Đờ Lát Đờ Tátxinhi bị đổ vỡ thảm hại; tiếp theo, kế hoạch 18 tháng của tướng H. Nava hứa hẹn niềm hy vọng mới "sẽ đánh tan tổ chức cộng sản vào cuối năm 1955" (lời F. Đalét, sau này trở thành Ngoại trưởng Mỹ) cuối cùng cũng phá sản. Mỹ ráo riết tăng cường viện trợ cho Pháp về các phương tiện chiến tranh, tài chính và cố vấn quân sự. Nhưng thực ra, chính giới Mỹ cũng còn nhiều tính toán. Mỹ không dám đưa quân tham chiến trực tiếp ở Đông Dương, không muốn lặp lại "một Triều Tiên thứ hai" mà sau ba năm đổ quân, đổ của vào bán đảo này, Mỹ không giành được phần thắng, phải kết thúc bằng sự thoả thuận trở lại vĩ tuyến 38 như buổi đầu. Mỹ cũng lo ngại việc đụng đầu trực tiếp với Trung Quốc nếu quân đội nước này tham gia cuộc chiến Đông Dương. Nhiều lần, giới cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc nhấn mạnh "dù tình hình có diễn biến đến mức nào thì Mỹ cũng không thể đưa lực lượng quân sự vào Đông Dương", "không thể đưa lực lượng mặt đất vào Đông Dương"4. Nhưng với vai trò "ông chủ" chi tiền, Mỹ muốn nhúng sâu vào kế hoạch tác chiến và trực tiếp nắm lực lượng bù nhìn nên ép Pháp phải nới rộng cái gọi là "quyền độc lập" mà Pháp đã ký cho "quốc gia Việt Nam" của Bảo Đại"5. Điều này là một trong những nguyên cớ làm cho Pháp khó chịu bởi vì Pháp muốn nhận viện trợ của Mỹ nhưng không để Mỹ can dự sâu vào công việc Đông Dương, nhất là việc nắm lực lượng "bản xứ". Tuy thế, do chiến cuộc ngày càng diễn biến xấu, Pháp phải từng bước nhượng bộ Mỹ, thay dần các chính khách bù nhìn để rồi sau thất bại ở Điện Biên Phủ phải chấp nhận Ngô Đình Diệm, con bài nuôi dưỡng của Mỹ, làm thủ tướng (6-1954) thay các phần tử thân Pháp.

Một câu hỏi lớn đặt ra đối với phe Mỹ là liệu Trung Quốc có đưa quân sang trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Việt Nam không, nếu có thì sẽ phải đối phó như thế nào?
______________________________________________
1. Louis. J. Hailes: The Cold War as History, Ed Chatt and Windus, London, 1967, p. 299.
2. Có nhiều số liệu về viện trợ của Mỹ ở Đông Dương. Theo Lưu Văn Lợi - Nguyễn Hồng Thạch: Pháp tái chiến Đông Dương và chiến tranh lạnh, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2002, thì số tiền đó tăng hằng năm là: năm 1950: 10 triệu USD, năm 1951: 30,5 triệu USD, năm 1952: 525 triệu USD, năm 1953: 735 triệu USD, năm 1954: 1.063 triệu USD. Theo Chen King C: Vietnam and China 1938-1954, Princeton, Princeton Univ. Press, N.J, 1969, tr.276, con số viện trợ của Mỹ là: năm 1951: 119 triệu USD, năm 1952: 300 triệu USD, năm 1953: 500 triệu USD (kể cả món viện trợ đặc biệt 385 triệu USD), năm 1954: 1 tỷ USD. Tính đến tháng 7-1954, tổng số tiền viện trợ là 2,2 tỷ USD. Theo Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Giơnevơ 1954, Sđd, tr. 115-116, thì con số viện trợ vũ khí từ năm 1950 đến năm 1953 tăng gấp 10 lần, từ 11 ngàn lên 117 ngàn tấn, còn về tài chính thì năm 1952: 115 tỷ phrăng, năm 1953: 300 tỷ phrăng (tức 905 triệu USD). Những số liệu dẫn từ nhiều nguồn không trùng khớp nhau, song có thể thấy rằng mức độ viện trợ của Mỹ vào chiến trường Đông Dương ngày càng tăng, mức độ can thiệp của Mỹ ngày càng sâu.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tr. 170-171.
4. G.c. Herring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr. 22, 28.
5. Theo Thoả ước Êlydê năm 1949 giữa Tổng thống Pháp V. Ôriôn với Bảo Đại, sau đó đã thành lập "quân đội quốc gia Việt Nam" - tức nguỵ quân vào tháng 9-1950. Đến ngày 8-3-1954, Thoả ước này được xem xét lại và đến ngày 21-4-1954 kết thúc với việc nới rộng quyền hạn của chính phủ bù nhìn, nhưng chưa kịp ký thì trận Điện Biên Phủ kết thúc. Tranh luận tại Quốc hội Pháp, nghị sĩ Ghilông nêu lên việc ký kết này là "thếp vàng lại một ông vua mất chức được biết nhiều ở sân gôn tại Cannơ hay những tay bồi rượu tại các hộp đêm hơn là trong tầng lớp nông dân".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 10:40:44 pm

Ngay từ tháng 1-1951, trong cuộc họp giữa đại diện ba nước Mỹ, Anh, Pháp ở Oasinhtơn, Pháp đã đề nghị "cần làm một cái gì đó để Trung Quốc hiểu rằng một cuộc xâm lược vào Đông Dương sẽ gây nên một cuộc trả đũa tập thể". Còn Mỹ thì đề nghị đưa ra một "lời cảnh cáo tập thể đối với Bắc Kinh" để tỏ rõ sự đoàn kết giữa ba nước, song Anh lại lo ngại Trung Quốc sẽ coi đó như một sự khiêu khích.

Đến năm 1952, Pháp đưa ra ý kiến về một tuyên bố của ba nước khẳng định sự giúp đỡ đối với các quốc gia trong vùng Đông Nam Á chống lại "sự đe dọa bên ngoài và bên trong" và hứa giúp các nước này xây dựng lại nền kinh tế. Về lâu dài sẽ tiến đến một hiệp ước tương trợ giữa các cường quốc với các nước Đông Nam Á, song trước mắt nên ra một văn bản gọi là Hiến chương Thái Bình Dương (tương tự Hiến chương Đại Tây Dương), lôi cuốn thêm hai nước tham gia là Ôxtrâylia và Niu Dilân, Mỹ và Anh tuy tán thành song có những đắn đo, tính toán riêng nên ý kiến đó chưa biến thành hiện thực. Trong khi đó, đối với Pháp thì tình hình chiến trường ngày càng trở nên ruỗng nát và dư luận đã quá mệt mỏi với cuộc chiến tranh này. Pháp phải yêu cầu Oasinhtơn tăng cường viện trợ quân sự, nhất là máy bay và phi công.

Ngày 13-3-1954, cuộc tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. "Điện Biên Phủ từ những ngày đầu chiến sự đã làm các giới hữu trách trong chính phủ Pari ngạc nhiên. Trong mấy tuần, các giới chính trị và quân sự, ở Pháp cũng như ở Mỹ và Anh, đều trải qua một cơn sốt đặc biệt"1. Ngay sau đó, Tổng Tham mưu trưởng lục quân Pháp Pôn Êly phải sang Oasinhtơn gặp Tổng thống Aixenhao, gặp Ngoại trưởng F. Đalét và các tướng lĩnh, các quan chức cao cấp Mỹ để cầu cứu khẩn cấp, nhất là để đối phó với quân đội Trung Quốc nếu như họ xuất hiện. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đưa ra dự kiến về một hiệp ước an ninh tập thể ở Đông Nam Á. Trong khi Aixenhao còn suy tính thì Níchxơn, Phó Tổng thống Mỹ hồi đó - khi nói về "Chiến lược cách nhìn mới và trả đũa ồ ạt" (Strategy of New Look and Massive Retaliaction) đã chủ trương "gửi lính Mỹ đến Việt Nam kẻo quá chậm", đổ bộ một lực lượng vào khu vực Hà Nội - Hải Phòng "dù có nguy cơ xảy ra chiến tranh với Trung Hoa đỏ", đồng thời có ý đe doạ về một "sức mạnh cơ động ghê gớm sẽ được sử dụng kín đáo để trả đũa...". Trong khi lên tiếng tố cáo Trung Quốc can thiệp vào Đông Dương, Ngoại trưởng Mỹ đã ám chỉ "nguy cơ nghiêm trọng", khiến cho "người ta đương nhiên nghĩ đến việc sử dụng vũ khí nguyên tử". Còn chính giới Pháp thì bàn nhiều về khả năng Mỹ sử dụng lực lượng hải quân và không quân, có lẽ cả sức mạnh nguyên tử nữa"2. Họ hy vọng rằng sự đe dọa đó sẽ là con chủ bài lớn của Pháp buộc Trung Quốc phải nhượng bộ.

Tuy nhiên, trong giới chính trị và quân sự ở Mỹ cũng có thái độ dè dặt. Họ lo ngại một sự can thiệp sâu như vậy sẽ lôi cuốn Mỹ vào một cuộc chiến tranh kiểu Triều Tiên. Ngày 3-4-1954, những người đứng đầu Quốc hội Mỹ đã bác bỏ kế hoạch của Đalét, đưa ra ba điều kiện để Mỹ tham chiến là các nước đồng minh, nhất là Anh phải đồng tình và tham gia; Pháp phải trao trả độc lập thực sự cho các "quốc gia liên kết" (tức là các chính quyền bù nhìn); và Chính phủ Pháp phải cam kết duy trì quân đội viễn chinh ở Đông Dương. Có nghĩa là Mỹ muốn đẩy mạnh việc quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương, không muốn "đơn thương độc mã" nhảy vào cuộc chiến mà phải giữ lại lực lượng quân Pháp và kéo theo quân Anh với sự yểm trợ quân sự của Mỹ. Đồng thời, Mỹ vẫn theo đuổi dự án thiết lập liên minh chống cộng gồm các nước Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Thái Lan, Philíppin... (sau này trở thành Khối quân sự Đông Nam Á - SEATO). Nhưng đến cuối tháng 4, nguy cơ thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ ngày càng đến gần. Trong thời gian họp của khối NATO, ngày 21 - 22-4, Ngoại trưởng ba cường quốc là Đalét (Mỹ), Biđôn (Pháp) và Êđen (Anh) đã gặp nhau để bàn về tình hình Đông Dương và dự án "phòng thủ tập thể" ở Đông Nam Á. Biđôn kể lại trong cuốn D'uneré eistance à l’ autre (Từ cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác) một chi tiết quan trọng tại cuộc gặp đó là Đalét hỏi riêng ông ta: "ông tính sao nếu chúng tôi cho các ông hai quả bom nguyên tử?" 3.

Thái độ của Anh khi đó tỏ ra dè dặt hơn. Chính phủ Luân Đôn chủ trương tìm biện pháp hoà giải, né tránh cuộc đối đầu với Bắc Kinh và Mátxcơva đồng thời không nên quá phụ thuộc vào Mỹ. Nước Anh cũng đang đối phó với cuộc chiến tranh du kích ở Malaixia, phải chú ý đến thái độ của các nước trong khối Liên hiệp Anh, nhất là Ấn Độ, đối với vấn đề Đông Dương để tránh những phản ứng bất lợi.

Cũng trong tình hình này, nội tình nước Pháp không kém phần rối ren. Tình trạng kéo dài không chút hy vọng của cuộc viễn chinh đã làm chính giới Pháp mệt mỏi và chia rẽ. Tướng H. Nava đã chua chát tổng kết tình hình chính trị của nước Pháp như sau: "Chưa bao giờ các nhà cầm quyền của chúng ta (Pháp) có được thời gian làm việc liên tục. Đối địch với Hồ Chí Minh - lãnh tụ chính trị duy nhất, và tướng Giáp - Tổng Tư lệnh duy nhất từ đầu chiến tranh đến nay, 19 chính phủ kế tiếp của chúng ta đã đưa ra năm cao uỷ (ông Đờ Giăng là người thứ sáu) và sáu tổng chỉ huy (mà tôi là người thứ bảy). Chúng ta chưa bao giờ có một đường lối chính trị nhất quán để theo đuổi". Để bào chữa cho trách nhiệm về thất bại ở Đông Dương, ông ta than phiền: "Ở Pháp, không khí tinh thần thật khủng khiếp: thờ ơ, lạnh nhạt nếu không nói là thù ghét, sự phản bội công khai phơi bày, vụ buôn lậu tiền bạc, vụ bê bối của các tướng lĩnh, v.v.". Trong giới chính trị, người ta thường lấy vấn đề Đông Dương để tuyên truyền tranh cử hòng giành được nhiều phiếu bầu. Trong giới quân sự, cuộc viễn chinh được coi là một trở ngại cho việc tái lập lực lượng Pháp ở châu Âu, là một gánh nặng mà họ mong muốn rũ bỏ. Do vậy, "đối với các nhà chính trị và quân sự, cuộc chiến Đông Dương bây giờ chỉ còn là một việc phải thanh toán đi cho rồi"4.

Trong khi Chính phủ Pari lúng túng trước những tin tức thất trận từ Đông Dương truyền về thì phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" ngày càng sôi sục. Ngay từ năm 1949, trên đường phố Pari đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình quần chúng với những khẩu hiệu "Hoà bình ở Việt Nam", "Điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh". Thương binh từ chiến trường trở về diễu hành qua các đường phố lớn với biểu ngữ "Chúng tôi là nạn nhân chiến tranh ở Việt Nam". Nhiều bà mẹ có con tử nạn tại Đông Dương mặc tang phục đến Bộ Quốc phòng đòi "Hãy trả con cho chúng tôi". Đặc biệt công nhân đường sắt, công nhân bến cảng Mácxây, Đăngcơ Brét... không chịu bốc dỡ vũ khí và các vật liệu chiến tranh xuống tàu sang Đông Dương. Tiêu biểu là chị Raymông Điêng đã nằm ngang trên đường xe lửa để chặn những chuyến tàu chuyên chở vũ khí ra cảng; anh H. Máctanh phát truyền đơn kêu gọi các bạn trong quân ngũ phản chiến. Nhiều nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp như Gi. Đuyclô, L. Phighe... dẫn đầu các cuộc tuần hành quần chúng cho dù sau đó, các ông phải vào tù. Báo Nhân đạo - cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Pháp - ngày 27-1-1954 nhận định: "Ý muốn chấm dứt chiến tranh xâm lược Đông Dương đã trở thành một yêu sách của toàn dân". Những tin tức về Điện Biên Phủ càng làm cho tình hình chính trị nước Pháp sôi sục. Nhiều "uỷ ban đoàn kết và hành động" đòi giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam bằng phương pháp hoà bình đã thu hút đông đảo trí thức, nhân sĩ và nghị sĩ các đảng phái (Cộng sản, Xã hội, Xã hội cấp tiến...), tham gia hoạt động dưới nhiều hình thức. Làn sóng chống chiến tranh ở Đông Dương đã lan từ đường phố vào tới các phiên họp của Quốc hội Pháp, tình trạng khủng hoảng của nền chính trị Pháp càng thêm sâu sắc5.

Cho đến cuối tháng 4-1954, khi nguy cơ thất bại của viên tướng Đờ Cátxtơri không còn nghi ngờ gì nữa, những người lãnh đạo Pháp lại thúc giục Mỹ tiến hành yểm trợ bằng không quân, đánh phá các căn cứ hậu cần và các con đường tiếp tế của kháng chiến. Đalét cùng Rátpho (Tổng Tham mưu trưởng liên quân) đã đi đến kết luận là không còn hy vọng cứu vãn Điện Biên Phủ nữa, nhưng vẫn đề nghị không quân Hoàng gia Anh phối hợp can thiệp vào Điện Biên Phủ "nhằm làm cho người Pháp thấy rằng họ vẫn còn các đồng minh hùng mạnh". Nhưng nước Anh đã kiên quyết từ chối với lời tuyên bố của Thủ tướng Sớcsin trong phiên họp khẩn cấp của nội các: "Cái mà họ yêu cầu chúng ta tiến hành là giúp họ vào việc lừa dối để Quốc hội tán thành một hoạt động quân sự, bản thân nó không có tác dụng mà lại có thể đẩy lùi thế giới vào miệng hố chiến tranh to lớn"6. Và "điều quan trọng nhất là Chính phủ Luân Đôn không muốn để nước Anh dính vào một cuộc chiến tranh mà họ cảm thấy không thể chiến thắng"7.
______________________________________________
1, 2. Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Giơnevơ 1954, Sđd, tr. 122-125.
3. Theo Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất - Giơnevơ 1954, Sđd, tr. 130. Nhưng đây vẫn còn là điều nghi vấn. Cũng theo Phrăngxoa Gioayô, trong sách viết của những chính khách đương thời, người Pháp khẳng định là có chuyện đó (G. Bônnê nói đến đề nghị của Mỹ về "những cỗ pháo nguyên tử", Schuman nhắc đến việc Ngoại trưởng Mỹ hỏi riêng ông ta về vấn đề này. Nava nói rằng "việc sử dụng bom nguyên tử ngay trên đất Đông Dương đã được Bộ Tham mưu Mỹ định đến đầy đủ"; nhưng Tổng thống Aixenhao cũng như Ngoại trưởng Đalét thì không hề đả động đến chuyện này. Còn trong hồi ký của Ngoại trưởng Anh Êđen viết rằng, tại Hội nghị Giơnevơ là hội nghị quốc tế đầu tiên ông ta ý thức sâu sắc về sức mạnh của bom khinh khí. Như vậy kế hoạch sử dụng bom nguyên tử ở Điện Biên Phủ là có thật hay chỉ là sự hăm doạ về mặt tâm lý?
4. H. Nava: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 49-51.
5. Xem Vũ Dương Ninh - Nguyễn Quốc Hùng: Điện Biên Phủ và sự khủng hoảng của nền chính trị nước Pháp, trong Đảng Cộng sản Việt Nam - Những trang sử vẻ vang (1930-2002), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
6. Piter. A. Poole: Nước Mỹ và Đông Dương từ Rudơven đến Níchxơn, Nxb. Thông tin - Lý luận, Hà Nội, 1986, tr. 48.
7. G.C. Herring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr. 43.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2021, 10:43:58 pm

III

Như vậy là ngay từ những năm đầu thập kỷ 50 của thế kỷ XX trong khi diễn biến trên chiến trường ngày càng quyết liệt thì phương án đi tìm lối thoái bằng con đường đàm phán đã xuất hiện trong suy tính của các cường quốc tư bản. Bản thân kế hoạch Nava cũng hàm chứa ý tưởng tìm một giải pháp danh dự cho cuộc chiến đầy tổn thất. Nhất là khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt với bản hiệp định ký kết ở Bàn Môn Điếm (tháng 7-1953) thì niềm hy vọng về việc thương lượng nổi lên rõ hơn. Tại Hội nghị Ngoại trưởng bốn nước ở Béclin (1-1954) gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp, Ngoại trưởng Liên Xô Môlôtốp đưa ra đề nghị triệu tập Hội nghị Giơnevơ có cả Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tham dự để bàn về vấn đề Triều Tiên và lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Có thể nói đây là thời điểm chín muồi cho việc công khai đề suất vấn đề đàm phán nhằm chấm dứt chiến tranh Đông Dương. Về phía các nước đế quốc, tình hình đã rõ khi quân viễn chinh Pháp ngày càng sa lầy, không thể giành một chiến thắng quyết định; chính sách của Mỹ là can thiệp bằng viện trợ mà không muốn đổ quân để tránh lặp lại một Triều Tiên thứ hai; thái độ của Anh là dè chừng, lo ngại ảnh hưởng cuộc chiến sẽ làm rung chuyển các thuộc địa của họ.

Về phía các nước xã hội chủ nghĩa, cũng có những vấn đề đặt ra đối với hai nước lớn là Liên Xô và Trung Quốc. Tính đến đầu năm 1954, sau chín năm khôi phục đất nước, Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật. Việc Liên Xô thử thành công quả bom khinh khí (8-1953) đã xoá đi thế độc quyền vũ khí hạt nhân của Mỹ và nâng cao vị thế của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế. Nhưng J. Stalin qua đời ngày 5- 3-1953 đã để lại hai hậu quả quan trọng: một là tình hình không ổn định của bộ máy lãnh đạo tối cao với sự thay đổi liên tục những người cầm quyền, kể cả vụ sát hại không xét xử một nhân vật có thế lực là Bêria; hai là sự thay đổi về đường lối đối ngoại theo xu hướng hoà dịu với Mỹ. Do vậy, Liên Xô rất cần sự yên ổn trên bình diện quốc tế để rảnh tay giải quyết những vấn đề nội bộ và dồn sức vào hướng trọng tâm của họ là châu Âu, đặc biệt là vấn đề Béclin và nước Đức. Còn Trung Quốc, chỉ một năm sau khi thành lập nhà nước cộng hoà nhân dân, Quân giải phóng đã phải tham gia cuộc chiến tranh Triều Tiên với nhiều tổn thất. Các nước tư bản lo ngại rằng sau Hiệp định Bàn Môn Điếm, Trung Quốc có thể dồn sức vào chiến trường Đông Dương. Nhưng tình hình bên trong và bên ngoài khi đó đặt ra nhiều thách thức đối với chính quyền mới thành lập. Hậu quả của hàng chục năm nội chiến và kháng chiến chống Nhật làm đất nước suy kiệt, việc nuôi sống chừng 500 triệu dân không phải là điều dễ dàng. Tình trạng tàn quân Quốc dân Đảng còn đang lẩn quất khắp nơi và việc Mỹ giúp đỡ chính quyền họ Tưởng mới chạy ra Đài Loan luôn là mối đe doạ thường trực đối với chủ quyền và an ninh đất nước. Cho nên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải quan tâm đến việc tạo nên một môi trường quốc tế thuận lợi, hết sức tránh sự can thiệp của Mỹ vào các quốc gia láng giềng để có thể tập trung sức lực cho công cuộc kiến thiết quốc gia. Vả lại, đối với họ, việc tạm dừng cuộc chiến ở Đông Dương chính là giảm bớt nguy cơ lan rộng chiến tranh giáp vùng biên giới phía nam, đồng thời tạo nên một khu đệm an toàn cho chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ: "Mục tiêu chính của họ là khuyến khích hoà bình trong khu vực để cho họ có thể tập trung chú ý vào sự phát triển kinh tế trong nước và trên hết để tránh một sự can thiệp có thể có của Mỹ vào chiến tranh Đông Dương"1. Cho nên, trong khi viện trợ tích cực cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, nhất là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, các nước lớn xã hội chủ nghĩa cũng mong muốn tìm kiếm biện pháp hoà giải.

Trong bốì cảnh quốc tế như vậy, Đảng và Chính phủ Việt Nam đương nhiên phải tìm ra đối sách thích hợp. Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Expressen (Thuỵ Điển) ngày 26-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: "Nếu Chính phủ Pháp đã rút ra được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hoà bình thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng tiếp ý muốn đó". Và "cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam"2. Đây là lập trường trước sau như một của Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần tuyên bố ngay từ những năm đầu của chính quyền nhân dân. Nhưng với tham vọng tái chiếm Đông Dương, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc gây hấn ở Nam Bộ từ ngày 23-9-1945 rồi mở rộng chiến tranh ra cả nước từ ngày 19-12-1946. Phải nếm trải những đòn thất bại cay đắng trong chiến tranh, những người cầm quyền Pari mới nhận ra con đường mà đáng lý họ phải chọn từ tám, chín năm trước. Cho nên lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở ra một cơ hội để đi đến chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương. Đương nhiên, cả hai phía đều muốn đến Hội nghị với một "hành trang nặng ký" vì ai cũng hiểu rằng người ta không thể đạt được trên bàn hội nghị cái mà không giành được trên chiến trường.

Ngày 26-4-1953, Hội nghị Giơnevơ nhóm họp để giải quyết vấn đề Triều Tiên. Dự kiến vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương sẽ được bàn thảo từ ngày 8-5-1954.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu, chiều ngày 7-5 Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Toàn bộ Bộ Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri phải đầu hàng.

Còn tại Pari: "Trên diễn đàn của Quốc hội, Thủ tướng Lanien xúc động công bố sự thất thủ của tập đoàn cứ điểm. Tất cả các nghị sĩ - trừ những người cộng sản - đứng dậy kính chào những người bảo vệ bất hạnh của tập đoàn cứ điểm". "Ngày 8-5, vào cuối buổi chiều, ông Plêven đến nghiêng mình trước mồ chiến sĩ vô danh. Vào cuối buổi chiều ấy của một ngày chủ nhật đẹp trời mùa Xuân, Pari trên thực tế đã trống rỗng. Nhiều sĩ quan phần lớn mặc thường phục đã chuẩn bị một cuộc biểu tình phản đối Bộ trưởng Quốc phòng. Khi ông Plêven chuẩn bị lên xe thì bị xô đẩy, chửi bới mạnh mẽ, kính của ông rơi xuống đất...". "Ngày 19-5, đến lượt tướng Đờ Gôn đến Khải hoàn môn vào lúc 16 giờ. Viên tướng đến một mình. Nhưng ông ta đã thất vọng. Nếu như có rất nhiều người thì số người đó lại chưa đủ dưới con mắt ông ta. Thật thế, còn một khoảng cách khá xa với một cuộc biểu tình nhân dân lớn có tiếng vang quốc tế mà ông hy vọng".

Tại Giơnevơ: "Hội nghị quốc tế về Đông Dương khai mạc. Đoàn Pháp do Ngoại trưởng Biđôn dẫn đầu mặc toàn lễ phục màu đen”3.

Thế là ván cờ Điện Biên Phủ khép lại, bàn cờ quốc tế xoay quanh Hội nghị Giơnevơ bắt đầu.
_________________________________________________
1. Gabrien Kônkô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, t.l, tr. 91.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 168.
3. Clôđơ Paia: Hai mươi năm xâu xé nước Pháp, Nxb. Rôbe Laphông. Pari, 1972, bản dịch của Thư viện Quân đội.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 08:44:26 pm

PHẦN THỨ HAI

CHIẾN THẮNG DIỆN BIÊN PHỦ - ĐỈNH CAO CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

 

CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ - TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC1


Chiến dịch Điện Biên Phủ, chiến dịch quyết chiến chiến lược, chiến dịch cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Quân ta bước vào Chiến dịch Điện Biên Phủ sau khi đã tạo được cục diện chiến lược thuận lợi, làm tiền đề thắng lợi cho một chiến dịch quyết chiến chiến lược lớn nhất và quan trọng nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau khi đánh bại mấy "đòn đánh trước" của Nava (Lạng Sơn, Trị - Thiên, tây - nam Ninh Bình), quân ta liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng về chiến lược ngay từ đầu.

Bằng chiến dịch tiến công quy mô nhỏ gối đầu, song song và kế tiếp trên nhiều hướng từ bắc đến trung và nam Đông Dương (Lai Châu, Trung - Hạ Lào - đông bắc Campuchia, bắc Tây Nguyên, Thượng Lào lần hai) quân ta đã tiêu diệt hàng vạn tên địch, giải phóng nhiều địa bàn chiến lược quan trọng (chủ yếu trên chiến trường rừng núi), đặc biệt đã buộc Nava phải phân tán chừng 70 tiểu đoàn các loại lên các vùng rừng núi Tây Bắc, Lào, bắc Tây Nguyên làm cho khối quân cơ động của địch ở đồng bằng Bắc Bộ đã bị điều đi ứng cứu quá nửa. Riêng trên chiến trường Tây Bắc, gần 1/3 lực lượng cơ động của địch2 bị giam chân trong một tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn cô lập, xa căn cứ hậu phương ở đồng bằng. Trong vùng sau lưng địch, nhất là ở đồng bằng Bắc Bộ, phong trào chiến tranh du kích của ta phát triển cao, buộc địch luôn phải tung lực lượng đi đối phó khắp nơi, nhất là bảo vệ đường số 5 - con đường chiến lược Hà Nội - Hải Phòng, khiến cho khoảng 20 tiểu đoàn cơ động chiến lược còn Lại "không còn là lực lượng cơ động nữa".

Ngày 14-1-1954, Bộ Chỉ huy phổ biến kế hoạch tác chiến chiến dịch tại hội nghị cán bộ chiến dịch. Qua thảo luận, hội nghị thống nhất nhận định rằng địch lúc này mới chiếm đóng, binh lực chưa nhiều, bố trí của chúng còn tương đối sơ hở, nhất là hướng tây, trận địa phòng ngự chưa được củng cố. Ta chủ trương tranh thủ thời gian, lợi dụng những điều kiện sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh, thực hiện phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Để thực hiện cách đánh này, ta tập trung ưu thế binh lực, hỏa lực, chia làm nhiều hướng, nhằm chỗ sơ hở nhất và quan trọng nhất, đánh thẳng vào tung thâm địch, chia cắt tập đoàn cứ điểm, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, sau đó tiếp tục giải quyết những bộ phận còn lại, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch: tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Phân tích cách đánh này, hội nghị nhận thấy "đánh nhanh, giải quyết nhanh" có nhiều điều lợi, vì bộ đội đang sung sức, cuộc chiến đấu không kéo dài nên ít ngại tiêu hao mệt mỏi, việc bảo đảm hậu cần không gặp trở ngại lớn.

Tuy đã thống nhất quyết tâm thực hiện phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" nhưng khi đánh giá trình độ bộ đội, hội nghị cho rằng mặc dù ta đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật để đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng ta chưa có kinh nghiệm thực tế. Đây là lần đầu tiên đánh tập đoàn cứ điểm, lại là một tập đoàn cứ điểm mạnh. Do đó, trong quá trình chuẩn bị theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", vẫn phải tiếp tục theo dõi tình hình địch và kiểm tra lại khả năng của ta.

Sau hội nghị, hằng ngày đồng chí Chỉ huy trưởng chỉ đạo cơ quan tham mưu chiến dịch theo dõi những thay đổi về bố phòng của địch và tình hình chuẩn bị của bộ đội, nhất là việc kéo pháo vào trận địa.

Về phía địch, trải qua 10 ngày, ta thấy dịch tiếp tục tăng cường binh lực, xây dựng và củng cố hệ thống trận địa phòng ngự ngày càng vững chắc. Điểm cao Độc Lập ở phía bắc tập đoàn cứ điểm lúc đầu chỉ là một vị trí tiền tiêu, dần dần trở thành một cứ điểm mạnh do một tiểu đoàn Âu - Phi chiếm giữ. Điểm cao Him Lam ở phía đông - bắc (án ngữ đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ) được tăng cường và củng cố thành một trung tâm phòng ngự mạnh vào bậc nhất của tập đoàn cứ điểm. Ở phía nam, Hồng Cúm lúc đầu chỉ là một cứ điểm, đã phát triển thành một cụm cứ điểm, có sân bay và trận địa pháo, có khả năng chi viện hỏa lực cho phân khu Mường Thanh.

Về phía ta, mặc dù thời gian mở màn chiến dịch đã phải lùi năm ngày (từ ngày 20 lùi đến ngày 25-1), thời gian kéo pháo đã tăng gấp hơn ba lần dự kiến ban đầu, nhưng đến ngày 25 pháo vẫn chưa vào trận địa đủ theo kế hoạch. Về cách đánh của cả bộ binh và pháo binh đều còn nhiều vấn đề khiến cán bộ trung đoàn, đại đoàn chưa thật yên tâm: đánh liên tục ngày, đêm trên cánh đồng bằng phẳng với trang bị như hiện nay, biện pháp hạn chế hỏa lực phi pháo và cơ giới của địch như thế nào cho có hiệu quả? Quân ta chưa có nhiều kinh nghiệm hiệp đồng bộ - pháo trong đánh cụm cứ điểm, nhất là chi viện của pháo binh trong chiến đấu tung thâm và đánh địch phản kích. Vấn đề tiếp tế cho bộ đội (nhất là cho Đại đoàn 312 quá xa trên hướng bắc) bảo đảm như thế nào? v.v…

Càng gần ngày mở màn chiến dịch (25-1), phân tích tình hình thay đổi của địch và khả năng chuẩn bị còn hạn chế của bộ đội ta, đồng chí Chỉ huy trưởng thấy cách "đánh nhanh, giải quyết nhanh" chưa có đầy đủ yếu tố giành thắng lợi, mà đánh chắc thắng lại là một nguyên tắc tác chiến cơ bản của quân đội ta và đó cũng là điều được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh khi giao nhiệm vụ cho đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lên đường trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ.

16 giờ ngày 25, theo kế hoạch, là thời điểm nổ súng mở màn chiến dịch. Bộ đội trên các hướng đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Trong cuộc hội ý Đảng uỷ mặt trận, đồng chí Bí thư Đảng uỷ kiêm Chỉ huy trưởng Võ Nguyên Giáp điểm lại tình hình mọi mặt và nêu ý kiến khẳng định: để bảo đảm toàn thắng cho chiến dịch, phải tạm ngừng nổ súng, kéo pháo ra, chuẩn bị thêm, để đánh theo phương châm tác chiến mới: đánh chắc, tiến chắc. Sau khi thảo luận, phân tích, ý kiến trên được sự nhất trí của tập thể Đảng uỷ.

Vào thời điểm đặc biệt đó của một chiến dịch lớn, khi mà bộ đội trên toàn mặt trận đang đợi lệnh nổ súng, quyết định trên là một việc làm quả đoán, táo bạo của người cầm quân, thể hiện trách nhiệm rất cao trước thắng lợi của chiến dịch và xương máu của chiến sĩ.
______________________________________________
1. Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử nghệ thuật chiến, dịch Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985.
2. 12 tiểu đoàn và 7 đại đội trong số 44 tiểu đoàn cơ động (tức 31%).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 08:48:23 pm

Ngày 7-2, hội nghị cán bộ chiến dịch được triệu tập để quán triệt quyết tâm của Đảng uỷ mặt trận "tích cực hoàn thành công tác chuẩn bị, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ". Trong báo cáo đọc trước hội nghị, đồng chí Chỉ huy trưởng dự kiến: đánh theo phương châm mới (đánh chắc, tiến chắc) chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Địch có thể tăng cường lực lượng. Bộ đội ta có thể tiêu hao, mệt mỏi. Việc cung cấp tiếp tế có thể thiếu thốn... Những khó khăn nói trên cần phải được khắc phục bằng mọi biện pháp tích cực nhất, với quyết tâm cao nhất để giành toàn thắng cho chiến dịch. Song, đánh theo phương châm mới, chúng ta có nhiều điều lợi. "Đánh chắc, tiến chắc", chúng ta sẽ chủ động: muốn đánh mục tiêu nào, lúc nào, thì đánh: muốn đánh thì đánh, muốn nghỉ thì nghỉ; chuẩn bị đầy đủ và chắc thắng thì đánh, không thì chưa đánh; muốn giữ nơi nào và có thể giữ được thì giữ, không thì không giữ. Cách đánh đó phù hợp với nguyên tắc chỉ đạo tác chiến và phù hợp với trình độ bộ đội ta. Cách đánh đó cho phép ta tập trung ưu thế tuyệt đối binh lực, hỏa lực vào từng trận đánh, bảo đảm chắc thắng cho từng cuộc chiến đấu. Với cách đánh đó, ta có thể hạn chế đến mức thấp nhất chỗ mạnh của địch là quân số đông, hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, đồng thời khoét sâu chỗ yếu lớn nhất của chúng là ở vào thế bị bao vây cô lập và gặp nhiều khó khăn về tiếp tế, tăng viện.

Hội nghị thảo luận những biện pháp hoàn thành những công tác chuẩn bị chủ yếu, nhằm bảo đảm thắng lợi như tổ chức đường cơ động cho pháo; tổ chức trận địa pháo thật kiên cố; chuẩn bị bộ đội về sức khoẻ, quân số chiến đấu, chiến thuật, kỹ thuật (nhất là xây dựng trận địa và hợp đồng bộ - pháo), động viên chính trị, giữ vững quyết tâm; chuẩn bị cung cấp về mọi mặt: đường vận chuyển, dân công, đạn dược, nhất là lương thực (tăng gấp ba lần so với dự kiến trước đây); theo dõi tình hình địch, nắm vững mọi thay đổi thế bố trí binh lực, hỏa lực và củng cố công sự của chúng, nhất là trong tung thâm...

Từ ngày tạm ngừng tiến công đến khi mở màn chiến dịch, ta phải trải qua gần 50 ngày nữa mới hoàn thành về cơ bản công tác chuẩn bị nói trên. Trong quá trình đó, cuộc họp ba ngày từ 20 đến 22-2 đã có vị trí rất quan trọng, nhất là về giải quyết nhận thức, tư tưởng của cán bộ đối với phương châm tác chiến mới. Theo nhận xét của đồng chí Chỉ huy trưởng chiến dịch thì, qua thảo luận ở hội nghị, "cán bộ đã nhận thức được một số vấn đề về chiến thuật, nhưng nhìn chung còn có lo ngại. Điều đó chứng tỏ các đồng chí tuy tin tưởng vào phương châm "đánh chắc, tiến chắc" nhưng tin tưởng chưa đầy đủ...". Hội nghị đã tập trung vào việc quán triệt sâu sắc hơn nữa phương châm tác chiến mới và giải đáp những tồn tại trong tư tưởng cán bộ về khả năng tăng cường binh lực của địch đến mức nào và các biện pháp khắc phục tiêu hao mệt mỏi của bộ đội khi chiến dịch kéo dài. Cách đánh cụ thể cũng được thảo luận, tranh luận, nhằm làm cho cán bộ quán triệt chủ trương và biện pháp bao vây, khống chế sân bay, triệt tiếp tế, tăng viện bằng đường không của địch, tiêu diệt gọn quân địch trong từng trận đi đôi với liên tục tiêu hao rộng rãi sinh lực địch trên toàn mặt trận...

Kể từ ngày chiếm đóng Điện Biên Phủ đến ngày ta mở màn chiến dịch, địch đã có trên 100 ngày xây dựng và củng cố tập đoàn cứ điểm. Binh lực của chúng đã tập trung tới 11.800 tên1, gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải, 1 phi đội máy bay. Tập đoàn cứ điểm được tổ chức thành ba phân khu, gồm 49 cứ điểm khoanh thành 8 cụm cứ điểm (trung tâm đề kháng). Mỗi cứ điểm và cụm cứ điểm đều có khả năng độc lập chiến đấu. Quan trọng nhất là phân khu trung tâm, với bảy cụm cứ điểm. Lực lượng dịch ở đây có năm tiểu đoàn chiếm đóng và hai tiểu đoàn dù cơ động, có trận địa pháo, sân bay chính, căn cứ hậu cần và sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Phân khu bắc có hai trung tâm đề kháng: Gabrien (đồi Độc Lập) ở phía bắc, trấn giữ đường Lai Châu - Điện Biên Phủ và Bêatơrixơ (Him Lam) ở đông - bắc, trấn giữ đường Tuần Giáo - Điện Biên. Hai trung tâm đề kháng này cùng với An Mari (Bản Kéo) ở phía tây - bắc hợp thành ba vị trí vành ngoài, bảo vệ phân khu trung tâm từ tây - bắc sang đông - bắc2. Phân khu nam (Idaben - Hồng Cúm) do một tiểu đoàn Âu - Phi chiếm giữ cùng với một tiểu đoàn lê dương dự bị, có sân bay phụ và trận địa pháo, có thể bắn yểm trợ cho phân khu trung tâm.

Quá trình nghiên cứu thế bố trí của địch và xây dựng kế hoạch tác chiến, Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch đặc biệt chú ý cụm điểm cao phía đông phân khu trung tâm. Địch dựa vào hệ thống điểm cao này, tổ chức thành hai trung tâm đề kháng lợi hại (Đôminích và Êlian). Đây là khu vực mạnh nhất và quan trọng nhất của phân khu trung tâm và của cả tập đoàn cứ điểm.

Về phía ta, trải qua gần 50 ngày chuẩn bị thêm theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", vào cuối thượng tuần tháng 3, bộ đội trên chiến trường Điện Biên Phủ đã sẵn sàng nổ súng mở màn chiến dịch.

Đây là lần đầu tiên hầu hết các đơn vị chủ lực của Bộ được huy động vào một chiến dịch lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó là các Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 (gồm 2 Trung đoàn 98 và 174); Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304). Cũng là lần đầu tiên các đơn vị hỏa lực mạnh của ta ra trận, gồm Trung đoàn 45 lựu pháo, Trung đoàn 675 sơn pháo, Trung đoàn 367 cao xạ pháo.
_________________________________________________
1. Quá trình diễn biến chiến dịch, địch tăng viện thêm hơn 4.000 quân, nâng tổng số quân địch ở Điện Biên Phủ lên hơn 16.000 tên.
2. Theo hiểu biết của ta hồi đó, phân khu bắc bao gồm cụm Độc Lập và Bản Kéo. Nhưng theo tài liệu của tướng lĩnh Pháp (như Y. Gra) hay ký giả Pháp (như P. Rôcôn) viết sau này thì An Mari thuộc phân khu trung tâm. Các cụm Gabrien (Độc Lập), Bêatơrixơ (Him Lam) cùng với An Mari (Bản Kéo) hợp thành ba cứ điểm vành ngoài, có nhiệm vụ bảo vệ phân khu trung tâm từ xa, nhất là bảo vệ sân bay Mường Thanh.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 08:49:15 pm

Theo kế hoạch tác chiến, ta dự kiến chiến dịch diễn biến thành hai đợt:

Đợt một: Tập trung lực lượng, tiến công tiêu diệt các trung tâm đề kháng Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, phá vỡ thế trận phòng ngự từ tây - bắc sang đông - bắc tập đoàn cứ điểm, đánh chiếm các vị trí vành ngoài, cửa ngõ của tập đoàn cứ điểm, mở đường tiến xuống cánh đồng Mường Thanh, tạo điều kiện siết chặt trận địa bao vây và tiến công.

Đợt hai: Mở các trận tiến công tiêu diệt hai cụm cứ điểm trên dãy điểm cao phía đông, hướng bắc, tiến chiếm sân bay; siết chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm, thu hẹp không phận, hạn chế tăng viện và tiếp tế của địch, tạo thế trận và thời cơ chuyển sang tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ quân địch.

Chiều ngày 13-3, chiến dịch bắt đầu.

Trong hai đêm 13 và 14, quân ta tiêu diệt hai trung tâm đề kháng Độc Lập và Him Lam do hai tiểu đoàn Âu-Phi chiếm giữ, đánh lui hai cuộc phản kích của bộ binh và xe tăng địch từ phân khu trung tâm ra hòng chiếm lại hai cụm cứ điểm đã mất.

Thắng lợi giòn giã của hai trận đầu đã động viên khí thế và củng cố lòng tin của bộ đội vào phương châm "đánh chắc, tiến chắc", và lối đánh "bóc vỏ", đồng thời là hai đòn mạnh đầu tiên về quân sự, tinh thần và tâm lý đối với hàng vạn quân địch trong tập đoàn cứ điểm. Với hai trung tâm đề kháng bị san phẳng, cùng với cái chết của cả hai ban chỉ huy hai cứ điểm Độc Lập và Him Lam, tiếp đến là việc tự sát của viên trung tá chỉ huy pháo binh tập đoàn cứ điểm và cuộc rút chạy của tiểu đoàn nguỵ Thái khỏi cụm điểm Bản Kéo (đang bị Trung đoàn 36 bao vây và chuẩn bị tiến công) đã tạo nên thế mới của chiến dịch có lợi cho ta.

Qua đợt một, quân ta đã rút được những kinh nghiệm bước đầu về đánh cụm cứ điểm trong tập đoàn cứ điểm, thấy được khả năng của quân ta, tiêu diệt cụm cứ điểm kiên cố cùng những thiếu sót trong hợp đồng bộ - pháo, nhất là chế áp pháo binh địch và những thiếu sót về tổ chức vị trí xuất phát xung phong.

Song với thắng lợi giòn giã của đợt một, quân ta đã tạo ra một tình huống chiến dịch rất thuận lợi để áp sát khu trung tâm, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển. Ba trung tâm đề kháng vành ngoài bị tiêu diệt, cánh cửa phía bắc tập đoàn cứ điểm được mở toang. Từ các điểm mới giành được, quân ta đã tạo được thế đứng để tiến xuống cánh đồng Mường Thanh. Đây là thắng lợi ban đầu rất quan trọng, không chỉ về quân sự mà cả về tinh thần, tâm lý.

Đánh giá tình hình sau đợt một, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận định: Chúng ta đã thu được thắng lợi lớn, quân địch đã bị thất bại nặng, nhưng hiện nay lực lượng của chúng còn mạnh và chúng còn ra sức đối phó. Những biện pháp đối phó đầu tiên của địch diễn ra ngay trong đợt một; ngày 14 và 16, địch tăng viện Tiểu đoàn dù nguỵ 5 (5è BPVN), bố trí giữa đồi D và C1, Tiểu đoàn dù thuộc địa 6 (6è BCP), bố trí giữa hai cụm cứ điểm C1 và C2 làm cho hệ thống phòng thủ trên các điểm cao phía đông càng thêm mạnh. Phía tây sân bay, địch sáp nhập hai cứ điểm 105 và 106 (trước thuộc cụm Bản Kéo) và đưa lính Âu - Phi ra thay thế quân nguỵ ở khu vực này. Bộ Chỉ huy của Cônhi ở Hà Nội còn cho thả thêm nhiều bộ phận súng nặng và đạn dược để bổ sung, thay thế. Sau hai trận bị bất ngờ vì lựu pháo của ta, địch gấp rút củng cố trận địa phòng ngự, đồng thời tăng cường máy bay trinh sát, tăng cường đánh phá những nơi nghi là trận địa pháo của ta.

Quân ta khẩn trương chuẩn bị bước vào đợt chiến đấu mới. Nhiệm vụ trung tâm chuẩn bị bước vào đợt hai là xây dựng trận địa tiến công và bao vây, nhằm vây ép quân địch trên cả bốn phía, trong cự ly mà các loại pháo lớn, nhỏ của ta đều có thể phát huy hỏa lực, đồng thời chia cắt phân khu nam với phân khu trung tâm.

Xây dựng trận địa quy mô lớn, liên hoàn trong chiến dịch tiến công là một việc mới, bộ đội ta chưa có kinh nghiệm. Cơ quan tham mưu chiến dịch đã cử cán bộ tác chiến xuống đơn vị đào thử công sự chiến hào, rút kinh nghiệm về cách tổ chức, tiêu chuẩn kích thước, làm mẫu cho các đơn vị triển khai. Trải qua 10 ngày, bộ đội đã đào được hàng trăm kilômét giao thông hào, hàng ngàn công sự và ụ súng các loại. Một hệ thống trận địa bao vây và tiến công từ đại đoàn đến phân đội đã hình thành hoàn chỉnh để bộ đội tiếp cận mục tiêu, chuẩn bị tiến công. Chính nhờ hệ thống giao thông hào và chiến hào này mà bộ đội cơ động lực lượng an toàn, bám sát mục tiêu cả ngày lẫn đêm dưới hỏa lực của địch và đánh lui các cuộc phản kích của chúng, giữ vững thế trận.

Yêu cầu của đợt hai chiến dịch là tập trung ưu thế binh lực, hoả lực, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, trong đó có một số đơn vị cơ động, đánh chiếm các cụm phòng ngự phía đông, biến các điểm cao phía đông thành trận địa của ta để uy hiếp phân khu trung tâm; đánh chiếm sân bay Mường Thanh, triệt tiếp tế và tăng viện của địch; chiếm lĩnh một bộ phận trận địa pháo binh của chúng; thắt chặt vòng vây quanh tập đoàn cứ điểm, từng bước thu hẹp phạm vi chiếm đóng và vùng trời của địch ở phân khu trung tâm, tạo điều kiện đầy đủ chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ.

Trong hội nghị cán bộ ngày 27-3, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã khẳng định: Đây là một cuộc chiến đấu rất lớn, vì mục đích của nó không phải chỉ nhằm tiêu diệt từng tiểu đoàn của địch mà tiêu diệt nhiều tiểu đoàn. Cuộc chiến đấu này lại không đơn giản như hai trận chiến đấu đầu tiên mà lại phức tạp hơn, bao gồm cả một loạt trận công kiên tiêu diệt cứ điểm và những cuộc chiến đấu thọc sâu vào tung thâm địch. Đây là một cuộc chiến đấu có tính chất quyết định để tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích, giành toàn thắng cho chiến dịch.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 08:50:19 pm

18 giờ 30 ngày 30-3, đợt hai bắt đầu.

Sau một tuần chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt một số cứ điểm địch trên dãy điểm cao phía đông (C1, D1, E) và một số cứ điểm trên hướng tây - bắc sân bay (106, 311), tạo điều kiện phát triển trận địa bao vây và tiến công vào sâu hơn, bước đầu uy hiếp phía tây sân bay. Một số trường hợp địch phản kích nhiều lần (D1, E), bộ đội ta đã kiên quyết đánh trả, giữ vững trận địa. Trong đợt này, xuất hiện một số cách đánh, tuy mới là bước đầu nhưng làm cơ sở kinh nghiệm cho cách đánh hiểm trên toàn mặt trận. Đó là sáu mũi luồn sâu vào tung thâm địch, mà tiêu biểu là mũi thọc sâu vào hướng đông của Đại đội 83 (Đại đoàn 312); cách đánh lấn của Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308), tiêu diệt gọn cứ điểm 106, sau đó phát triển tiến công, bao vây bức hàng quân địch ở cứ điểm 311...

Nhưng trong đợt hai số lượng mục tiêu quá nhiều so với khả năng bộ đội ta (chín mục tiêu, trong đó có năm cứ điểm trên hệ thống điểm cao phía đông mà Bộ Chỉ huy chiến dịch đánh giá là mạnh), do đó lực lượng sử dụng dàn đều, không tập trung ưu thế dứt điểm từng mục tiêu, kể cả cứ điểm mạnh như A1. Tại đây (A1), sau trận đầu tiên của Trung đoàn 174 đêm 30 không thành công, cơ quan tham mưu chiến dịch đã không kịp thời nghiên cứu, rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân (không thành công và thương vong cao) để bổ khuyết và thay đổi cách đánh, nên hai lần tiến công sau (đêm 31-3 và 1-4) cũng đều không thành công. Trong toàn đợt hai, nhiều cứ điểm tiến công không dứt điểm (4/8); cũng nhiều trận thọc sâu của phân đội không thành công (4/6). Do đó thương vong cao, cả trong tiến công cứ điểm (nhất là ở A1, C2) và chiến đấu thọc sâu.

Sau đợt hai của ta, địch tăng viện thêm một tiểu đoàn dù và phản kích chiếm lại một nửa cứ điểm C1.

Qua hai đợt một và hai, quân ta đã tiêu diệt hơn 1/3 sinh lực trên toàn mặt trận, đã hoàn thành nhiệm vụ đợt một nhưng chưa thực hiện đầy đủ nhiệm vụ đợt hai.

Trong hội nghị sơ kết đợt hai (8-4), Bộ Chỉ huy chiến dịch đã nêu lên những việc cần tiếp tục hoàn thành, tạo điều kiện chuyển sang đợt chiến đấu mới.

- Tiếp tục xây dựng trận địa tiến công và bao vây, thắt chặt hơn nữa vòng vây, uy hiếp mạnh hơn nữa tung thâm địch, cắt đứt liên lạc giữa hai phân khu Mường Thanh và Hồng Cúm.

- Vừa xây dựng trận địa tiến công và bao vây, vừa đánh địch phản kích, giữ vững trận địa.

- Khống chế không phận cả ngày lẫn đêm, khống chế hoàn toàn sân bay, tiến tới phá hoại và đánh chiếm sân bay, tranh đoạt và triệt tiếp tế của địch, hạn chế tiến tới triệt tăng viện của chúng.

- Tổ chức các đơn vị hỏa lực lưu động, hoạt động lẻ, tiêu hao rộng rãi sinh lực địch, làm cho chúng luôn căng thẳng tinh thần và hao mòn sức chiến đấu.

- Tiếp tục tiêu diệt một số vị trí địch, thu hẹp hơn nữa phạm vi chiếm đóng của chúng, đưa trận địa tiến công và bao vây ngày càng áp sát cứ điểm địch, chia cắt các cứ điểm của địch, tạo thế trận thuận lợi cho đợt chiến đấu mới.

Hoạt động của bộ đội trong suốt nửa cuối tháng 4 đã làm cho thế trận biến chuyển từng ngày, có lợi cho ta.

Hệ thống trận địa tiến công và bao vây không ngừng tiến sát và trực tiếp uy hiếp địch, có nơi chỉ cách vị trí địch vài chục mét. Mật số điểm cao phía đông do quân ta làm chủ đã trở thành những trận, địa phòng ngự vững chắc, cùng với trận địa pháo, súng cối, thường xuyên uy hiếp địch trong phân khu Mường Thanh. Từ ngày 16-4-1954 chiến hào của ta từ hai hướng hợp điểm cắt đôi sân bay trung tâm, tiếp đó quân ta làm chủ cứ điểm 105 ở phía bắc. Cuộc chiến đấu giành giật sân bay diễn ra quyết liệt suốt năm ngày đêm. Các đợt phản kích của bộ binh và xe tăng địch đều bị đánh lui. Cuối cùng, từ ngày 28-4, sân bay trung tâm - cái dạ dày của tập đoàn cứ điểm - hoàn toàn bị vô hiệu hóa. Phạm vi kiểm soát của địch, nhất là ở phân khu trung tâm, bị thu hẹp tới mức các mục tiêu địch đều nằm dưới tầm hỏa lực các loại của ta. Pháo cao xạ của ta tiến sâu xuống cánh đồng Mường Thanh đã góp phần quyết định thu hẹp không phận hoạt động của địch ở Điện Biên Phủ, buộc máy bay tiếp tế và tăng viện của địch phải thả dù từ độ cao kém hiệu quả (khiến một số dù hàng và người rơi cả vào trận địa của ta). Trận chiến tiến công và bao vây càng áp sát địch càng tạo thuận lợi cho các tổ súng trường thiện xạ, tổ trung liên, đại liên lưu động, các khẩu đội sơn pháo hoạt động lẻ... luồn sâu, bắn tỉa, phá kho tàng..., đồng thời hỗ trợ cho các tổ bộ binh đoạt dù tiếp tế của địch ở sát ngay vị trí của chúng.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 08:52:30 pm

Trong tất cả các hoạt động bổ sung sau đợt hai, việc chiếm sân bay trung tâm là một sự kiện nổi bật của chiến dịch, tạo một tình huống chiến dịch vô cùng quan trọng có lợi cho ta, không lợi cho địch. Nó dập tắt tia hy vọng cuối cùng của địch về tiếp tế và tăng viện bằng đường không từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ; tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ từ đây đã hoàn toàn cô lập.

Bằng những hoạt động liên tục và có hiệu quả sau đợt hai, càng về cuối tháng 4, quân ta càng dồn địch vào tình thế mà sau này chúng thừa nhận là "không thể chịu đựng nổi". Sinh lực bị tiêu hao hằng ngày; nguồn tiếp tế bị hạn chế tới mức thấp nhất khiến lương thực, đạn dược, thuốc men ngày càng thiếu thốn; tinh thần luôn luôn căng thẳng trước những "họng súng vô hình" của các thiện xạ bắn tỉa, tới mức địch không dám rời công sự ra sông Nậm Rốm lấy nước...

Về ta, hàng loạt biện pháp được tích cực triển khai chuẩn bị gấp rút cho đợt chiến đấu tới: Chỉ đạo rút kinh nghiệm hai đợt chiến đấu vừa qua; huấn luyện tân binh bổ sung; bảo vệ có hiệu quả đường vận chuyển tiếp tế trong điều kiện địch tăng cường dùng không quân đánh phá ác liệt, mở thêm đường sông Nậm Na để có thêm nguồn lương thực; cải thiện và bình thường hóa sinh hoạt bộ đội trong chiến hào khi bắt đầu xuất hiện những cơn mưa đầu mùa; cứu chữa thương bệnh binh ở ngay trung tuyến để sớm trả anh em về đơn vị chiến đấu... Đặc biệt là cuộc vận động đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực trong toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch đã góp phần quyết định củng cố quyết tâm, ý chí quyết chiến quyết thắng của cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận. Thắng lợi của cuộc đấu tranh đó được coi là thành công điển hình của công tác chính trị của quân đội ta trong chiến dịch cũng như trong' cả cuộc kháng chiến chống Pháp.

Trải qua ba tuần chỉ đạo toàn quân phấn đấu vươn lên về mọi mặt nhằm tạo thế mới, lực mới, đầu tháng 5, Bộ Chỉ huy ra lệnh bắt đầu đợt ba chiến dịch.

Lúc này, phạm vi chiếm đóng của địch ở phân khu Mường Thanh chỉ còn khoanh trên một diện tích chừng 2km2. Lực lượng của chúng còn xấp xỉ 10 tiểu đoàn bộ binh và dù, rải ra phòng giữ hơn 30 cứ điểm. Lực lượng dự bị từ chín đại đội lúc đầu, nay chỉ còn năm. Trải qua một tháng rưỡi chiến đấu trong tình thế ngày càng bất lợi, tinh thần binh lính địch đã sa sút nghiêm trọng. Tuy nhiên, một số sĩ quan địch còn tin vào sức mạnh của trên dưới một vạn quân, tin tưởng vào khả năng duy trì được thế trận có lợi trên các điểm cao phía đông để kéo dài cuộc chiến đấu chừng một tháng nữa, tới mùa mưa, ta không còn điều kiện duy trì cuộc chiến đấu thêm. Rõ ràng đợt ba chiến dịch không chỉ là cuộc đấu trí, đấu lực giữa ta và địch mà còn là cuộc chạy đua về thời gian trước khi mùa mưa tới.

Nhiệm vụ đợt ba là đánh chiếm các điểm cao còn lại ở phía đông, tiếp tục tiêu diệt thêm một số cứ điểm khác của địch, phát triển trận địa tiến công và bao vây chia cắt vào sâu hơn nữa, tiếp tục thu hẹp phạm vi phong tỏa và vùng trời của chúng, uy hiếp mạnh tung thâm phân khu trung tâm, nắm thời cơ nhanh chóng chuyển sang tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ khu vực còn lại của lập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Đợt ba chiến dịch diễn ra ác liệt suốt tuần đầu tháng 5. Quân ta đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt các mục tiêu theo kế hoạch. Gay go ác liệt nhất là các trận tiêu diệt hai cứ điểm C2 và A1 trên hướng đông. Đến sáng ngày 7-5, mặc dù quân ta mới đánh chiếm thêm chừng 1/3 số cứ điểm còn lại ở phân khu trung tâm, nhưng địch đã ở vào tình thế hoàn toàn bất lợi. Hệ thống điểm cao phía đông đã bị mất. Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị uy hiếp nặng nề trên cả hai hướng đông và tây1. Mọi sự tính toán tháo chạy của địch, từ kế hoạch "Chim ưng" (Codor) đến kế hoạch "Chim biển" (Albatros) đều không còn khả năng thực hiện.

Ta đã định tối mồng 7 sẽ tổng công kích, nhưng trưa ngày 7 đã hiện rõ sự tan rã của địch: nhiều tiếng nổ lớn trong phân khu trung tâm; địch vứt súng xuống sông Nậm Rốm; nhất là những mảnh vải trắng (cờ trắng) xuất hiện lác đác trên các cứ điểm quanh Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtơri... Thời cơ tổng công kích đã đến. Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh: "Không cần chờ đến tối như đã dự định, các đơn vị trên tất cả các hướng chuyển ngay sang tổng công kích...".

Từ 14 giờ, quân ta lần lượt tiêu diệt nhiều vị trí còn lại ở phân khu trung tâm, phát triển sâu vào hướng Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Một tiểu đội bộ binh của Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) vượt qua cầu Mường Thanh thọc thẳng vào hầm chỉ huy của Đờ Cátxtơri, bắt viên tướng chỉ huy tập đoàn cứ điểm và toàn Bộ Tham mưu của hắn. 19 giờ, hai tiểu đoàn địch ở phân khu Hồng Cúm định lợi dụng đêm tối rút chạy sang phía Thượng Lào. Nhưng đã bị Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) kịp thời truy kích, bắt gọn toàn bộ.

22 giờ ngày 7-5-1954, chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng.

Trải qua 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, ta đã diệt và bắt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ gồm hơn 16.000 tên địch, thu toàn bộ vũ khí trang bị của chúng, hoàn thành thắng lợi trọn vẹn chiến dịch tiến công lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã hậu thuẫn kịp thời, đắc lực cho cuộc đàm phán về cuộc chiến tranh Đông Dương, khai mạc hôm sau, 8-5, tại Giơnevơ.
_______________________________________________
1. Như cách nói bình thường của sách báo phương Tây sau này, phạm vi chiếm đóng còn lại của địch trên cánh đồng Mường Thanh đã bị thu hẹp lại bằng "diện tích của một sân vận động".


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2021, 09:27:13 pm

*

*        *


Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, nghệ thuật chiến dịch của ta được phát triển cao là do có sự chỉ đạo tài tình của chiến lược; nghệ thuật chỉ đạo chiến lược là phân tán khối quân cơ động của địch ra nhiều hướng và phát động mạnh mẽ chiến tranh du kích trong cả nước để bảo đảm thuận lợi cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nghệ thuật chiến dịch của ta, chủ yếu là nghệ thuật chiến dịch tiến công đã phát triển đa dạng, phong phú từ phản công (một dạng đặc biệt của tiến công) ở đồng bằng (đánh bại cuộc hành quân Mouette), đến truy kích trên chiến trường rừng núi (giải phóng Lai Châu và dọc sông Nậm Hu), từ tiến công thọc sâu vào địa bàn địch sơ hở (Trung-Hạ Lào - đông bắc Campuchia) đến đánh điểm diệt viện trên vùng rừng núi bắc Tây Nguyên và cuối cùng là chiến dịch tiến công trận địa quy mô lớn tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương trên chiến trường Điện Biên Phủ.

Trong chiến dịch phản công ở tây - nam Ninh Bình, xuất phát từ so sánh lực lượng (địch 3/ta 1) và điều kiện địa hình (cả trên bộ và trên sông), ta đã vận dụng cách đánh thích hợp bằng lực lượng vừa và nhỏ, kết hợp chủ lực với địa phương, kết hợp trận địa phục kích với làng chiến đấu để hạn chế và làm thất bại từng mũi tiến quân của địch và cuối cùng làm thất bại cuộc hành quân của chúng.

Trong các chiến dịch tiến công chuyển sang truy kích liên tục trên những chặng đường dài hàng mấy trăm kilômét, địa hình rừng núi, quân ta đã phát triển sáng tạo kinh nghiệm đuổi địch trong Chiến dịch Thượng Lào năm trước. Điểm mới về nghệ thuật trong hai chiến dịch tiến công truy kích giải phóng Lai Châu và lưu vực sông Nậm Hu là quân ta đã biết lợi dụng đường tắt, vượt lên trước địch, đuổi địch trên nhiều hướng; chia cắt đội hình rút chạy của chúng; kết hợp truy kích với chốt chặt, đón lõng, phục kích, và tiến công địch co cụm trên đường rút chạy: kết hợp đánh địch với gọi hàng và truy quét tàn quân, nên đã hoàn thành cả hai nhiệm vụ tiêu diệt địch và giải phóng đất đai.

Bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch trong chiến dịch Trung-Hạ Lào - đông bắc Campuchia và cả đợt hai Chiến dịch bắc Tây Nguyên là sớm hình thành mũi thọc sâu chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Quân ta đã kịp thời phát hiện và triệt để khai thác thế sơ hở của địch, nhanh chóng phát triển sâu vào "hậu phương an toàn" của chúng, kết hợp các đơn vị cỡ trung đoàn tiếp tục hoạt động trên địa bàn rộng, "đánh điểm diệt viện" trên các trục đường chiến lược, chia cắt địch trên nhiều hướng, kiềm chế các cứ điểm lớn mới hình thành của địch (Xênô, Xaravan), hỗ trợ đắc lực cho mũi thọc sâu tiến xa xuống phía nam, gây bất ngờ lớn cho địch, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của chúng.

Điểm nổi bật về nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch bắc Tây Nguyên là chọn hướng và mục tiêu tiến công, đúng thời cơ nổ súng, phối hợp chiến trường. Chiến dịch mở màn bằng ba trận diệt đồn, trực tiếp uy hiếp thị xã Kon Tum từ phía đông - bắc, chỉ một ngày sau khi địch tiến đánh vùng tự do Liên khu V. Đòn tiến công bất ngờ đó của chiến dịch trên hướng rừng núi đã tác động trực tiếp đến cuộc hành binh Átlăng của địch ở hướng đồng bằng. Vừa tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai trên một địa bàn có tầm quan trọng về chiến lược, chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên đã hỗ trợ đắc lực cho cuộc chiến đấu của quân và dân Phú Yên chống lại cuộc hành binh lớn của địch, buộc chúng phải đình chỉ tiến công Phú Yên, điều lực lượng lên ứng cứu Kon Tum.

Đỉnh cao phát triển nghệ thuật chiến dịch trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, cũng như trong cả cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954, tập trung trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch tiến công trận địa quy mô lớn nhất của quân ta thời đó, gồm một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc diễn ra trong một thời gian dài theo tiến trình tiến công vây hãm - đột phá lần lượt.

Với phương châm đúng: "đánh chắc, tiến chắc", nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ biểu hiện cụ thể trên các mặt sau đây:

1. Sớm hình thành thế bao vây. Xây dựng trận địa tiến công và bao vây, ngày càng siết chặt từng cụm cứ điểm và cả tập đoàn cứ điểm, chia cắt thế liên hoàn của chúng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ lúc đầu định mở màn ngày 25-1-1954, về sau quyết định mở đầu ngày 13-3; nhưng ngay từ ngày 5-12-1953, khi bộ phận tiền trạm của Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ vừa đến Tuần Giáo được tin địch ở Lai Châu rút về Điện Biên Phủ, đồng chí Hoàng Văn Thái đã lệnh cho Đại đoàn 316 tiếp tục tiến công giải phóng Lai Châu theo kế hoạch, đồng thời lệnh ngay cho Đại đoàn 308 (đã hành quân đến Sơn La) điều ngay một trung đoàn tắt đường rừng xuống chốt ở Pom Lót, chặn đường Điện Biên Phủ sang Thượng Lào. Khi Đại đoàn 316 truy kích địch trên đường Lai Châu - Điện Biên Phủ, mấy đơn vị của đại đoàn đều có lực lượng chốt chặn từ Mường Muôn, Mường Pồn đến Pu San đồng thời bám địch ở Him Lam, Bản Tấu.

Như vậy là đúng lúc những cứ điểm đầu tiên của địch vừa mới bất đầu xây dựng ở Điện Biên Phủ cũng là lúc cấp chiến lược ta hạ quyết tâm mở Chiến dịch Điện Biên Phủ (quyết tâm ngày 5-12-1953), thì trên cả phía bắc và phía nam cánh đồng Mường Thanh (các ngả đường Lai Châu - Điện Biên, Tuần Giáo - Điện Biên, Điện Biên - Sốp Nao, Thượng Lào) ta đã bước đầu hình thành thế bao vây địch về chiến dịch. Quân ta đã chốt chặn cả hai đầu con đường độc đạo bắc - nam dọc cánh đồng Mường Thanh, từ Bản Tấu đến Pom Lót. Đây chính là sự vận dụng kinh nghiệm Chiến dịch Thượng Lào vào điều kiện mới, đề phòng địch rút chạy.

Quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" lúc đầu, là quá trình quân ta hình thành thế bao vây quân địch quy mô lớn hơn, chặt hơn quanh cánh đồng Mường Thanh, Đại đoàn 308 ở phía bắc và tây - bắc; Đại đoàn 312 ở phía đông - bắc; hai trung đoàn (Đại đoàn 316) ở phía đông; Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) ở phía nam. Đặc biệt là từ hạ tuần tháng 1 (khi ta thay đổi sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc") cho đến ngày quân ta giành toàn thắng, hệ thống chiến hào hàng trăm kilômét ngày càng ken dày và siết chặt từng phân khu, từng cụm cứ điểm, thậm chí từng cứ điểm. Mọi kế hoạch tháo chạy của địch, từ Xênôphôn lúc ban đầu đến "Diều hâu" của Mỹ1 và cuối cùng là các kế hoạch "Chim ưng", “Chim biển" của Pháp đều không thể thực hiện được vì chiến hào của ta bao vây chặt và không ngừng vươn tới áp sát địch.

Đối với ta, ngay từ đầu, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã khẳng định tác dụng lớn lao của trận địa tiến công và bao vây chia cắt trong chiến dịch tiến công tập đoàn cứ điểm này. Thực tế diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh tính đúng đắn của sự khẳng định đó. Xây dựng trận địa cũng là áp dụng thực sự phương châm "đánh chắc, tiến chắc" trong điều kiện tác chiến công kiên lớn. Có xây dựng trận địa vững chắc và ngày càng tiến sâu áp sát địch mới khắc phục được chỗ mạnh của chúng về máy bay, pháo binh, mới tạo điều kiện cho đơn vị lớn của ta vận động tiếp cận, tiêu diệt địch. Xây dựng trận địa, thắt chặt vòng vây là tạo điều kiện cho ta phát huy đồng thời tất cả hỏa lực sát thương địch, cho pháo mặt đất, pháo cao xạ triển khai và phát huy hỏa lực thuận lợi để khống chế sân bay, khống chế không phận, hạn chế đi đến triệt tiếp tế, tăng viện của địch hiệu quả hơn2.

Bằng hệ thống trận địa tiến công và bao vây từ sau đợt hai chiến dịch, quân ta đã "trói chặt địch lại" để lần lượt tiêu diệt từng bộ phận. Tác dụng quyết định của nó được phát huy cho đến phút cuối cùng, khi quân ta thực hành một cuộc tổng công kích chiều 7-5-1954.
____________________________________________
1. Kế hoạch Vautour mà Mỹ đề nghị với Pháp, dùng một lực lượng lớn máy bay ném bom ồ ạt vào trận địa của ta hòng giải vây cho quân Pháp (dự định vào đầu tháng 4), nhưng Pháp không dám chấp nhận. Một trong nhiều lý do, là quân đội hai bên đã quá gần nhau trên cánh đồng Mường Thanh.
2. Như sau này tướng lĩnh Pháp nhận xét: "từ sau ngày 17-3, khi Việt Minh tiến hành cuộc bao vây một cách có phương pháp phân khu trung tâm..., họ bắt đầu xây dựng chung quanh tập đoàn cứ điểm một mạng lưới hầm hào để công kích, cho phép quân đội của họ tiếp cận các vị trí Pháp bằng cách vượt qua những khoảng đất rộng và trống trải mà không bị hỏa lực ngăn chặn và như vậy, họ có thể tổ chức những đợt đột kích từ cự ly gần hơn... Tập đoàn cứ điểm (của Pháp) sớm bị vây hãm từ xa bởi một "tập đoàn cứ điểm" khác đang ngày càng siết chặt thòng lọng của nó... Quân Pháp cố ngăn chặn sự phát triển của mạng lưới hầm hào đang bóp nghẹt Điện Biên Phủ mà không ngăn nổi...". Xem Y. Gra: Lịch sử của cuộc chiến tranh Đông Dương, Nxb. Plông, Pari, 1979, tr.85.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 02:13:12 pm

2. Tập trung ưu thế binh, hỏa lực, đánh chắc thắng, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, từng bước uy hiếp, tiến tới tiêu diệt khu vực trọng yếu nhất của địch

So sánh lực lượng chiến đấu giữa ta và địch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ ta thấy về bộ binh, ta gấp hơn hai lần quân địch, về pháo binh, ta và địch xấp xỉ nhau. Nhưng chúng hơn hẳn quân ta về máy bay, cơ giới và hệ thống công sự của chúng đã trải qua hơn ba tháng xây dựng và củng cố. Tình hình trên đây cho thấy bên phòng ngự lợi hơn bên tiến công.

Một yếu tố khác được Bộ Chỉ huy chiến dịch đặc biệt quan tâm, đó là trình độ tác chiến của bộ đội, cụ thể là khả năng đánh công sự vững chắc. Bước vào Đông Xuân 1953 - 1954, trình độ phổ biến của các đơn vị chủ lực ta trong đánh công kiên còn hạn chế. Ta mới có kinh nghiệm tiến công tiêu diệt từng cụm cứ điểm độc lập do một tiểu đoàn địch chiếm giữ, nổ súng tiến công tiêu diệt mục tiêu và lui quân trong đêm. Quân ta lại chưa có kinh nghiệm hợp đồng bộ binh - pháo binh trong tác chiến tập trung quy mô lớn. Thực tế đó là một nguyên nhân chủ yếu khiến ta thực hiện phương châm “đánh chắc, tiến chắc".

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, hầu hết tập trung ở phía bắc cánh đồng Mường Thanh, trên một diện tích khoảng 40km2 (dọc: Bản Mịn - Hồng Én 7km; ngang: Pe Luông - Long Bua 6km). Trên các điểm cao từ tây - bắc sang đông - bắc và đông hình thành những cụm cứ điểm ngoại vi bảo vệ phân khu trung tâm mà hạt nhân là Epervier, nơi đặt Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm. Khu vực giao chiến rộng, so sánh trang bị kỹ thuật chênh lệch, kinh nghiệm đánh công kiên của quân ta hạn chế, không cho phép quân ta hình thành nhiều hướng đồng thời đánh thẳng vào tung thâm phân khu trung tâm của địch (như ý định ban đầu "đánh nhanh, giải quyết nhanh"). Ta đã chọn cách "đánh chắc, tiến chắc", tập trung ưu thế binh hoả lực đánh từng trận hay một số trận gối đầu liên tiếp, diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi, trước hết là trên các điểm cao khống chế phía bắc rồi phía đông, "bóc vỏ" từ ngoài vào, mở đường tiến xuống cánh đồng Mường Thanh, tiếp cận và uy hiếp ngày càng sâu, càng mạnh tung thâm địch, cuối cùng dứt điểm bằng cuộc tổng công kích, đánh vào chỗ trọng yếu nhất của địch trong tung thâm là phân khu trung tâm, trọng điểm là Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Đánh địch trong công sự vững chắc, yêu cầu hàng đầu là tiếp cận địch, từng bước uy hiếp, phá vỡ từng mảng phòng ngự của chúng, đập tan sự chống giữ của từng bộ phận địch, tiến tới tiêu diệt bộ phận quan trọng nhất của chúng. Đáp ứng yêu cầu đó, cách "đánh chắc, tiến chắc" phù hợp với điều kiện địa hình ở Điện Biên Phủ. Cách đánh đó cho phép quân ta vừa đánh vừa học, rút kinh nghiệm trận trước phục vụ cho trận sau, củng cố lực lượng sau từng trận, từng đợt chiến dịch và có điều kiện chuẩn bị cho bước tiếp theo. Cách đánh đó cũng chính là bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch trong một chiến dịch tiến công trận địa quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp, bước phát triển được đánh dấu bằng việc xác định đúng phương châm tác chiến chiến dịch là "đánh chắc, tiến chắc".

Phương châm tác chiến đúng đã được thực tế chứng minh. Nhưng vận dụng cụ thể trong từng đợt, có lúc sự quán triệt không thật đầy đủ, ảnh hưởng đến việc hoàn thành kế hoạch, đến tiến trình chiến dịch. Nổi lên là vấn đề xác định số lượng mục tiêu sao cho phù hợp với khả năng tập trung binh, hỏa lực của ta trong từng đợt. Mục tiêu càng nhiều, càng hạn chế mức độ tập trung binh, hỏa lực, cũng là không bảo đảm chắc thắng.

Trong đợt một, ta đã tập trung ưu thế binh hỏa lực tiêu diệt ba cụm cứ điểm ngoại vi phía bắc. Tỷ lệ binh lực trong trận Him Lam địch 1/ta 3; trận đồi Độc Lập: địch 1/ ta 4,5; trận Bản Kéo (theo kế hoạch): địch 1/ta 3. Trong trận then chốt mở đầu chiến dịch (Him Lam), so sánh pháo cối trực tiếp chi viện đánh vào mục tiêu, ta hơn địch gấp 10 lần. Nếu tính cả nhiệm vụ chế áp các mục tiêu khác, ta cũng gấp 2,6 lần. Ta tập trung tiêu diệt mỗi cụm cứ điểm trong một đêm nên pháo binh có điều kiện thuận lợi chi viện cho bộ binh trong từng trận đánh.

Sau thắng lợi giòn giã của đợt một, nguyên tắc và kinh nghiệm tập trung binh, hỏa lực không được vận dụng đầy đủ vào cuộc tiến công cụm điểm cao phía đông, khi bước vào đợt hai. Về binh lực, trên hướng này, địch có năm tiểu đoàn (kể cả hai tiểu đoàn dù cơ động ứng cứu), ta tập trung sáu trung đoàn. Nhưng về mục tiêu thì quá nhiều. Chỉ riêng trên hướng đông, chín mục tiêu phải diệt (Đại đoàn 308: 2; Đại đoàn 312: 4; Đại đoàn 316: 3). Ngoài ra còn hai tiểu đoàn dù 6è BPC và 5è BPVN dự bị cơ động mới được thả xuống tăng viện, đứng chân trong khu vực các điểm cao D, C1, C2, mà cả ba đại đoàn lại đều có nhiệm vụ phối hợp tiêu diệt.

Như vậy là về bộ binh địch 1/ta 3,6 (5/18 tiểu đoàn), về pháo cối, địch 1 /ta 8,4 nhưng hỏa lực ta lại phải rải ra trên nhiều mục tiêu ngay từ đêm đầu (30-3). Hơn 30 khẩu đội pháo và cối phải chi viện cho các trận đánh trên các điểm cao A, B, C, E trong điều kiện cả pháo và cối ta đang đứng trước nguy cơ "đói đạn trầm trọng"1. Trong khi hơn 30 khẩu đội trực chiến chi viện cho bộ binh trên hướng đông thì các đơn vị pháo cối còn lại phải đảm nhiệm việc chế áp sân bay, Sở Chỉ huy và nhất là trận địa pháo binh địch. Như vậy là trên hướng đông cũng như toàn mặt trận, hỏa khí tập trung nhưng hỏa lực phân tán. Riêng việc chi viện cho Trung đoàn 174, đánh A1, một mục tiêu trọng điểm của đợt hai, thì sử dụng hỏa lực còn chưa tập trung để chi viện cho bộ binh tiến công A1. Còn trong chi viện đánh địch phản kích ở cứ điểm này thì đánh phản kích yêu cầu hỏa lực phải tập trung mãnh liệt trong thời gian ngắn nhất, nhưng phổ biến thường dùng một đại đội bắn và mỗi lần chỉ bắn vài ba viên nên không ngăn chặn được địch phản kích.

Sự chỉ đạo chỉ huy của cấp chiến dịch và của Đại đoàn 316 đối với trận tiến công A1 cũng không thể hiện nguyên tắc "bảo đảm chắc thắng". Cấp chiến dịch tuy đã đánh giá A1 là một cứ điểm mạnh, do Tiểu đoàn 1/4 RTM chiếm giữ, nhưng chỉ sử dụng một trung đoàn (174) tiến công một cứ điểm cứng trên điểm cao, có hầm ngầm, thì mức độ tập trung ưu thế binh, hỏa lực như vậy cũng chưa cao ngay từ đêm đầu. Sau trận đêm 30-3, Trung đoàn 174 chưa có điều kiện rút kinh nghiệm tìm biện pháp bổ khuyết những thiếu sót về nắm địch (hầm ngầm), về tổ chức chỉ huy và cách đánh, cấp chiến dịch điều Trung đoàn 102 đến cùng một bộ phận của Trung đoàn 174 đánh liên tiếp trong hai đêm (31-3 và 1-4). Cả hai đơn vị đều không có thời gian cần thiết để chuẩn bị chu đáo, bảo đảm chắc thắng cho trận đánh. Vì thời gian gấp, đơn vị phải triển khai đánh theo phương án cũ nên lại gặp khó khăn ngay từ đầu và cả hai trận tiếp theo vẫn không thành công, quân ta bị tiêu hao nặng.

Những vấn đề mang tính chất nguyên tắc khi thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" như tập trung ưu thế binh hỏa lực, chuẩn bị đầy đủ, không bảo đảm chắc thắng thì không đánh... được thể hiện tốt trong đợt một, nhưng lại không thể hiện đầy đủ trong đợt hai. Do đó, dẫn đến kết quả, như đánh giá của Bộ Chỉ huy chiến dịch "một số đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ", nên nhiệm vụ chung của đợt hai không thực hiện được đầy đủ. Riêng đối với cứ điểm A1, cho đánh liền ba trận trong ba đêm mà thiếu yếu tố chắc thắng, là biểu hiện nóng vội trong việc thực hiện ý định tác chiến đợt hai. Cũng như chủ trương "chiếm lĩnh toàn bộ các điểm cao phía đông, biến những điểm cao đó thành trận địa của ta để uy hiếp khu vực Mường Thanh" là đúng, nhưng biện pháp chỉ đạo thực hiện cũng không thể hiện sự quán triệt đầy đủ phương châm "đánh chắc, tiến chắc".

Tạm dừng đợt hai, chỉ đạo hoạt động bổ sung và tăng cường chuẩn bị suốt ba tuần cuối tháng 4 là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tế và đã thể hiện đúng phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Nhờ vậy mà các đơn vị có điều kiện củng cố và phát huy kết quả (tuy còn hạn chế) của đợt hai, tạo được thế mới, lực mới để bước vào đợt chiến đấu thắng lợi cuối cùng của chiến dịch.
___________________________________________
1. Pháo binh nhân dân Việt Nam - Những chặng đường chiến đấu, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1982, tr.350.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 02:17:33 pm

3. Chọn cách đánh hiểm, phát huy uy lực mọi thứ hỏa khí của ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch

Đây là bước phát triển về chỉ đạo cách đánh chiến dịch, nảy sinh rõ nét sau đợt hai. Lúc này địch còn trên 1 vạn quân, rải ra trên hơn 30 vị trí trên cánh đồng Mường Thanh. Chúng vẫn giữ được một phần các điểm cao A1, C1. Sau khi được tăng viện, địch ra sức củng cố trận địa hòng bảo vệ khu vực phòng ngự then chốt trên dãy điểm cao phía đông. Hoả lực của địch còn mạnh, phi cơ và pháo binh của chúng vẫn hoạt động ráo riết. Mặc dù việc tăng viện, tiếp tế đã có phần khó khăn hơn trước nhưng địch vẫn còn thả dù tiếp tế được cả lương thực và vũ khí, vẫn tăng viện được một phần binh lực.

Sau thắng lợi hạn chế của đợt hai, một vấn đề cấp thiết đặt ra là tiếp tục đánh địch bằng cách nào để vừa hạn chế thương vong của ta, vừa khoét sâu hơn nữa chỗ yếu của địch, hạn chế chỗ mạnh còn lại của chúng, tạo điều kiện chuyển sang đợt tác chiến mới, tiêu diệt toàn bộ quân địch còn lại trong tập đoàn cứ điểm.

Ta chủ trương dùng lực lượng nhỏ, hoạt động rộng rãi dưới các hình thức đánh lấn, phá huỷ từng ụ đề kháng, tiêu diệt thêm một số vị trí địch; bắn tỉa tiêu hao địch rộng rãi, làm cho sinh lực chúng luôn hao mòn, tinh thần luôn căng thẳng; đánh chiếm sân bay, thắt chặt vòng vây, thu hẹp không phận, khống chế máy bay, đoạt dù tiếp tế, hạn chế, tiến tới triệt hẳn nguồn tiếp tế và tăng viện của địch vì địch chỉ còn chỗ dựa cuối cùng là tiếp tế bằng đường không. Khống chế sân bay, đánh chiếm sân bay là dập tắt hy vọng cuối cùng của địch, là cắt cái dạ dày của chúng. Điều kiện để vận dụng được cách đánh này là phải không ngừng đưa trận địa tiến công và bao vây ngày càng áp sát địch, hạn chế uy lực máy bay và pháo binh của chúng.

Thực hiện chủ trương tác chiến trên đây, từ trung tuần tháng 4, quân ta đã từng bước làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường.

Sân bay địch bị chiến hào ta cắt đứt từ hai hướng đông và tây; hai vị trí sát sân bay (105 và 206) bị các đơn vị ta lấn dần, bóc gọt rồi tiêu diệt. Sân bay không những không còn là nơi lên xuống cho máy bay mà cũng không còn là bãi thả dù tiếp tế nữa.

Hai trận địa pháo binh địch ở 307a và 307b bị lựu pháo của ta loại khỏi vòng chiến đấu. Từ trận địa đặt trên đồi E, nắm đúng thời cơ khi pháo địch ở trung tâm Mường Thanh ra khỏi hầm chuẩn bị bắn chi viện cho đồng bọn phản kích ở 206, một khẩu đội sơn pháo của ta đã dùng lối bắn trực tiếp lần lượt diệt gọn bốn khẩu lựu pháo địch.

Phong trào bắn tỉa của các tổ thiện xạ bộ binh thường xuyên gây nên nỗi kinh hoàng đối với địch. Điển hình là ở phân khu nam. Trong vòng nửa tháng, các tổ thiện xạ của Trung đoàn 57 đã diệt khoảng 100 tên địch, xấp xỉ bằng số địch bị bắn tỉa trên toàn phân khu trung tâm. Đáp lời kêu gọi của Bộ Chỉ huy chiến dịch "Một viên đạn một tên địch, một viên đạn mấy tên địch, kiên nhẫn tích cực, nhằm đúng mục tiêu, hễ bắn là trúng", có chiến sĩ diệt 13 tên địch bằng 15 viên đạn.

Pháo cao xạ tiến sâu xuống cánh đồng Mường Thanh, khống chế không phận, trong khi hỏa lực pháo cối thu hẹp khu vực thả dù, buộc máy bay địch phải thả dù trên độ cao lớn1. Gần một nửa số dù rơi sang trận địa của ta hoặc rơi vào khoảng trống giữa ta và địch. Đó là thời cơ xuất hiện phong trào đoạt dù, góp phần triệt nguồn tiếp tế của địch. Có đơn vị, trong một tuần, đoạt 776 chiếc dù, với một khối lượng hàng mà nếu chở bằng máy bay Đakôta, địch phải dùng tới 30 chuyến. Đối với binh chủng pháo binh của ta, đoạt dù địch là một biện pháp tích cực để khắc phục nạn thiếu đạn. Trong đợt này, ta đã thu được chừng 5.000 viên đạn lựu pháo và đạn súng cối. Điển hình là Đại đội 805 lựu pháo ở phân khu nam. các đơn vị bộ binh đã đoạt dù đem về cho đại đội này tới gần 2.000 viên đạn pháo2.

Chọn cách đánh hiểm, phát huy hiệu lực của các loại binh khí, quân ta đã khoét sâu nhược điểm cơ bản của địch là tinh thần ngày càng sa sút, tiếp tế ngày càng khó khăn3.

Đến cuối tháng 4, tức là vào cuối đợt hoạt động bổ sung (sau đợt hai) của ta, quân số địch ở Điện Biên Phủ tuy còn chừng 1 vạn tên nhưng chỉ có 42% đủ sức chiến đấu (3.000 ở phân khu trung tâm, 1.200 ở phân khu nam). Trang bị đã bị thiếu thốn nghiêm trọng, trong điều kiện nguồn tiếp tế như bị bóp nghẹt4.

Chọn cách đánh thích hợp với điều kiện thực tế cụ thể chiến trường (sau đợt hai) nhưng rất hiểm, ta đã làm cho quân địch còn đông mà hóa ít, trang bị còn mạnh mà hóa yếu, tinh thần, vật chất và thế trận đã hoàn toàn bất lợi. Chính bằng cách đánh hiểm và rất sáng tạo đó mà đến cuối tháng 4, mặc dù quân ta chưa hoàn toàn làm chủ dãy điểm cao phía đông, nhưng đã uy hiếp mạnh phân khu trung tâm và chuẩn bị đầy đủ điều kiện chắc thắng để chuyển sang đợt tiến công cuối cùng.

Điểm phát triển đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch trong đợt ba là xác định đúng thời cơ đánh đòn quyết định cuối cùng.

Trước những triệu chứng đột biến của địch, Bộ Chỉ huy đã thay đổi kế hoạch, kịp thời ra lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận trước giờ quy định, tức là ngay chiều 7-5 (không chờ đến tối). Sau này, tài liệu của Pháp và phương Tây cho thấy, quyết định sáng suốt đó đã kịp thời chặn đứng thủ đoạn cuối cùng của chúng. Theo lệnh của Cônhi ở Hà Nội, địch dự định tháo chạy sang hướng Thượng Lào vào 19 giờ hôm đó, theo kế hoạch "Chim biển". Nhưng quân ta đã thọc thẳng vào Sở Chỉ huy địch, bắt tướng chỉ huy tập đoàn cứ điểm và toàn Bộ Tham mưu của hắn. Từ Hà Nội, Cônhi ra lệnh trực tiếp cho Đại tá Lalăngdơ (Lalande), phó chỉ huy tập đoàn cứ điểm, đặc trách phân khu nam: tự quyết định lấy việc thực hiện một phần kế hoạch "Chim biển". Nhưng ý đồ đó cũng không thành. Hơn 1.000 quân địch vừa rời khỏi phân khu nam đã bị quân ta truy kích bắt gọn.
________________________________________________
1. Theo Y. Gra: Lịch sử của cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd, trong tổng số 3.964 tấn hàng thả dù thì 2.297 tấn (58%) phải thả từ độ cao lớn; 1.516 tấn (39%) thả từ độ cao thấp vào ban ngày; 151 tấn (3%) thả từ độ cao thấp vào ban đêm.
2. Nhớ lại hiệu quả hoạt động của bộ đội trong những ngày cuối tháng 4- 1954 trên chiến trường Điện Biên Phủ, đồng chí Chỉ huy trưởng viết: "Hằng ngày, ở Sở Chỉ huy, khi nghe báo cáo số địch chết vì bị bắn tỉa, số lương thực, đạn dược của địch thả dù mà bộ đội ta đã đoạt được, tôi chẳng khỏi nghĩ, chúng ta đang làm cho kẻ địch nếm những đòn cay đắng nhất". Xem Vài hồi ức về Điện Biên Phủ - Nhiều tác giả, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1969, t.1, tr. 69.
3. Như sau này Y. Gra thú nhận, điều đáng lo ngại nhất đối với Pháp là khu vực thả dù nằm chính giữa phân khu trung tâm và phân khu nam đã ngày càng bị thu hẹp lại "như một tấm da thuộc phơi khô, hầu như hoàn toàn nằm dưới hỏa lực của đối phương".
4. Vũ khí địch còn 19 khẩu 105 ly với 14.000 viên đạn, 1 khẩu 155 ly với số đạn không đáng kể, 15 khẩu súng cối 120 ly với 5.000 viên đạn. Tóm lại là số đạn chỉ đủ cho 1-2 ngày chiến đấu liên tục. Tất cả các xe cơ giới đều đã bị các trận pháo kích của ta phá huỷ, chỉ còn lại 3 chiếc xe tăng ... (!). Theo tài liệu của P. Rôcôn và Y. Gra.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 02:21:38 pm

4. Chủ động vượt qua khó khăn, tự lực tự cường, tạo mọi yếu tố vật chất, tinh thần, đưa chiến dịch đến toàn thắng

Thắng lợi to lớn của Chiến dịch Điện Biên Phủ một lần nữa chứng minh luận điểm cơ bản về vai trò hậu phương, nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Những chỉ đạo của Bộ Chính trị, của Trung ương, cũng như những số liệu về sức người, sức của từ các miền hậu phương dốc ra tiền tuyến đã khẳng định một cách sinh động quy luật đó1. Từng đoàn tân binh lên đường; toàn bộ phương tiện thông tin mà phía sau có thể huy động được; hàng vạn bức thư báo tin thắng lợi của cuộc đấu tranh thực hiện chính sách ruộng đất; các chiến trường trong cả nước nỗ lực lập công, phối hợp chặt chẽ với mặt trận trọng điểm... tất cả đã nói lên quyết tâm và sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang ngày đêm hướng về chiến trường trọng điểm với ý chí "đập tan kế hoạch Nava", theo khẩu hiệu "tất cả cho tiền tuyến - tất cả để chiến thắng".

Sau đợt hai chiến dịch, trước những khó khăn mới của mặt trận, Nghị quyết ngày 19-4 của Bộ Chính trị càng động viên hậu phương dốc thêm sức cùng tiền tuyến giành thắng lợi. Bộ Chính trị quyết định: "Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"2.

Vấn đề đặt ra đối với chiến dịch là phải chủ động tạo mọi yếu tố giành thắng lợi cuối cùng cho chiến dịch. Đương nhiên cách đánh là vấn đề hàng đầu, biểu hiện tập trung nhất trong cuộc đấu trí - đấu lực trên chiến trường. Nhưng còn biết bao yếu tố vật chất và tinh thần tác động trực tiếp đến sự thành công của chiến dịch. Có nhiều yếu tố tại chỗ, ngoài tầm lo toan của hậu phương mà Bộ Chỉ huy và các cơ quan chiến dịch phải xử lý trong quá trình chuẩn bị và thực hành chiến dịch.

Khi thay đổi phương châm tác chiến, Bộ Chỉ huy đã dự kiến chiến dịch sẽ kéo dài, ta sẽ phải đương đầu với những khó khăn về hậu cần tiếp tế, về thời tiết khắc nghiệt khi mùa mưa đến, về sức khỏe, quân số và sức chiến đấu của bộ đội.

Thực tế "bài học Khâu Vác" trong Chiến dịch Tây Bắc cho thấy vấn đề bảo đảm lương thực quan trọng như thế nào đối với tiến trình chiến dịch. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, tuy có tới 450 xe vận tải cơ giới là lực lượng vận chuyển chủ yếu của hậu cần chiến dịch nhưng tuyến đường quá dài, địch lại đánh phá ác liệt3, nên ảnh hưởng không nhỏ đến lưu lượng lương thực đưa ra phía trước; có đêm gạo nhập kho không đầy 1 tấn. Đó là một con số báo động trước yêu cầu của hơn 40 tiểu đoàn quân ta đang trực tiếp chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

Ngoài việc điều thêm lực lượng cao xạ và công binh ra bảo đảm trục đường Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên, Bộ Chỉ huy đã hạ quyết tâm: mở đường vận chuyển đường sông từ bản Nậm Cúm về Lai Châu. Phải phá hơn 100 thác lớn nhỏ trên sông Nậm Na, dài chừng 80km, mở đường cho hơn 1 vạn lượt chiếc mảng nứa, vận chuyển hơn 1 nghìn tấn gạo về Lai Châu để chuyển tiếp theo trục đường bộ Tuần Giáo - Điện Biên.

Một vấn đề quan trọng khác là đạn, nhất là đạn pháo, cối4. Bộ Chỉ huy đã phê phán nghiêm khắc những thiếu sót của các đơn vị không coi trọng việc thu dọn chiến lợi phẩm (trong cả hai trận đợt một) và hiện tượng lãng phí đạn trong đợt hai. Trong khi hai tiểu đoàn lựu pháo (24 khẩu) lần đầu xuất trận với số lượng đạn quá ít trước yêu cầu của một chiến dịch lớn kéo dài; hậu phương "vét kho" cũng chỉ đáp ứng chừng 1/2 số đạn tiêu thụ trong toàn chiến dịch (11.715/20.000 viên), số đạn bạn giúp cũng cũng chỉ đạt 18% so với yêu cầu (3.600 viên/20.000). Do thiếu đạn, có đại đội lựu pháo (803) phải tạm ngừng chiến đấu ba ngày; có đại đội sơn pháo (752) phải đưa pháo rời trận địa, pháo thủ tạm điều đi đơn vị khác.
____________________________________________
1. Tinh thần chỉ đạo của Trung ương là bảo đảm yêu cầu mọi việc quan trọng, nhưng yêu cầu của Điện Biên Phủ là quan trọng nhất. Bộ Chính trị cử nhiều đồng chí uỷ viên Trung ương Đảng đi các khu để kiểm tra, đôn đốc.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 88.
3. Có ngày địch dùng tới 250 lần chiếc máy bay bắn phá ngăn chặn đường vận chuyển từ hậu phương lên Điện Biên Phủ.
4. Có tiểu đoàn phòng không chỉ trong một ngày bắn hết 12.000 viên đạn, có trung đoàn chỉ trong năm ngày làm nhiệm vụ kiềm chế đã bắn hết 2.195 viên đạn súng cối 82 ly, có khẩu đội súng cối 81 ly chỉ trong một đêm bắn 240 viên đạn,...


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 02:30:38 pm

Bộ Chỉ huy chiến dịch đã động viên các đơn vị phát huy truyền thống của quân đội ta, "lấy vũ khí địch diệt địch". Sức mạnh của chiến sĩ trong phong trào "đoạt dù tiếp tế" đã dần dần đáp ứng yêu cầu về đạn pháo, cối trước khi bước vào đợt ba. Riêng đạn lựu pháo đoạt được của địch đã bằng 1/2 tổng số đạn đưa từ hậu phương ra, đáp ứng 1/4 tổng số đạn tiêu thụ trong toàn chiến dịch.

Khi đợt hai bắt đầu, những cơn mưa đầu mùa báo hiệu mùa mưa đến sớm hơn mọi năm. Cuộc sống chiến đấu trong chiến hào của bộ đội (nhất là các đơn vị sống trong những "hàm ếch" khoét bên bờ chiến hào giữa cánh đồng phía tây) gặp nhiều khó khăn. Sau mỗi trận mưa là những ngày nắng dữ dội. Không khí oi ả ngột ngạt, cộng với hiện tượng thiếu nước, ăn ngủ thất thường, thiếu rau xanh... đã ảnh hưởng trực tiếp sức khoẻ bộ đội.

Bộ Chỉ huy đã cử nhiều cán bộ chủ chốt của các cơ quan chiến dịch xuống giúp đơn vị cải thiện sinh hoạt của bộ đội. Phong trào "bình thường hóa cuộc sống trong chiến hào", với nhiều biện pháp tích cực và sáng tạo, bảo đảm ăn, ngủ, nghỉ, tắm giặt, giải trí của chiến sĩ sau từng trận đánh, cùng với phong trào tăng gia ở hậu cứ, từng đơn vị (như đào củ mài, kiếm hoa chuối rừng thay rau, trồng rau ngắn ngày, bắt cá suối cá sông, ngâm giá đỗ để tiếp tế ra phía trước...) đã góp phần quyết định duy trì sức khoẻ cho bộ đội chiến đấu dài ngày trong điều kiện thời tiết thất thường đang chuyển từ mùa khô sang mùa mưa.

Vấn đề bồi dưỡng nâng cao trình độ chỉ huy của cán bộ, trình độ tác chiến của bộ đội trong điều kiện tân binh bổ sung nhiều, cán bộ để bạt nhanh, sau từng trận, từng đợt chiến dịch và trước sự phát triển của các hình thức chiến thuật, đã được giải quyết kịp thời để không ngừng đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ. Cơ quan tham mưu chiến dịch đã thường xuyên phổ biến kinh nghiệm sốt dẻo về hợp đồng giữa bộ binh với pháo mặt đất, pháo cao xạ; về vận dụng kết hợp hai hình thức chiến thuật tiến công tiêu diệt cứ điểm với lâm thời phòng ngự, đánh địch phản kích bằng bộ binh và xe tăng, giữ vững trận địa; về chiến thuật vây lấn (bao vây bằng hệ thống trận địa kết hợp với tiến công tiêu diệt cứ điểm từ trận địa bao vây), v.v... Để chuẩn bị cho quân ta bước vào đợt tiến công cuối cùng, việc chỉ đạo và giúp đỡ đơn vị đào hơn 40m hầm ngầm xuyên trong lòng đất vào cứ điểm A1 và hướng dẫn tháo bom chưa nổ của máy bay địch để lấy 1 tấn thuốc, đánh sập hầm ngầm của địch trên đồi A1... là điển hình sự cố gắng của các cơ quan tham mưu chiến dịch và tham mưu Đại đoàn 316, góp phần tiêu diệt "điểm cao cuối cùng" trước giờ tổng công kích.

Về công tác chính trị, lãnh đạo tư tưởng, thành công lớn nhất là cuộc vận động đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực.

Sau đợt hai, Đảng uỷ mặt trận nhận thấy "một số hiện tượng không bình thường bắt đầu xuất hiện trong việc chấp hành nhiệm vụ chiến đấu của cán bộ"1. Lúc này khắc phục tư tưởng tiêu cực, mỏi mệt, ngại chiến đấu ác liệt và kéo dài, nâng cao quyết tâm chiến đấu của cán bộ đã trở thành một yêu cầu cấp thiết để đưa chiến dịch đến toàn thắng. Đảng uỷ mặt trận triệu tập hội nghị các đồng chí bí thư đại đoàn uỷ, các đồng chí phụ trách cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, những đồng chí có trách nhiệm nặng nhất trong chiến dịch, để tiến hành kiểm điểm tư tưởng hữu khuynh tiêu cực trước khi bước vào đợt chiến đấu quyết liệt cuối cùng.

Trong báo cáo đọc trước hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng uỷ Chiến dịch Điện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp nhận định: "Tư tưởng hữu khuynh tiêu cực hiện Hay là trở ngại lớn nhất trên con đường đi đến toàn thắng của chúng ta"2. Đưa ra những dẫn chứng cụ thể, bản báo cáo phân tích hai hình thức biểu hiện tư tưởng hữu khuynh tiêu cực. Một là, dao động, sợ khổ, sợ khó, sợ chết, sợ thương vong, sợ tiêu hao mệt mỏi; đứng trước khó khăn thì thiếu tinh thần khắc phục, đối với quân địch thì thiếu tinh thần tích cực tiêu diệt địch; đối với những sai lầm của bản thân và của anh em đồng đội thì không kiên quyết đấu tranh... Hai là, chủ quan khinh địch, chủ quan tự mãn, quan liêu đại khái. Bề ngoài thì có vẻ hăng hái không sợ địch, nhưng sự thực thì hữu khuynh tiêu cực. Không nhận thấy bản chất cực kỳ hung ác và ngoan cố của kẻ địch, không căm thù quân địch đến cao độ nên thiếu tinh thần cảnh giác đối với chúng... Biểu hiện cụ thể và nghiêm trọng nhất của tư tưởng hữu khuynh tiêu cực hiện nay là thiếu tinh thần triệt để chấp hành mệnh lệnh, là không tin tưởng, không kiên trì thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Tư tưởng hữu khuynh tiêu cực đang phổ biến trong các đơn vị, nhưng nghiêm trọng nhất là ở cấp đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn.

Hội nghị ra Nghị quyết "Kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, phát huy tinh thần trách nhiệm và nâng cao quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ"3. Sau hội nghị, Đảng uỷ mặt trận chỉ đạo các đơn vị triển khai một đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn thể bộ đội, từ cấp uỷ đến đảng vièn, từ cán bộ đến chiến sĩ, để mọi người nhận rõ tình hình, nâng cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Từ đó, một khí thế mới dâng lên khắp nơi sau đợt học tập này.

Như đồng chí Võ Nguyên Giáp đánh giá sau này: "Đây là một thành công rất lớn của công tác chính trị trên mặt trận Điện Biên Phủ, một trong những thành công lớn nhất của công tác chính trị trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta"4.

*

*       *

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của ta diễn ra trong khoảng 5-6 tháng5, ta đã tiến hành song song và kế tiếp khoảng 5-6 chiến dịch6; chiến dịch nào - dù quy mô nhỏ - cũng giành thắng lợi với ý nghĩa lớn và có bước phát triển mới về nghệ thuật chiến dịch. Nổi bật của Chiến dịch giải phóng Lai Châu và Chiến dịch giải phóng khu vực sông Nậm Hu là nghệ thuật truy kích với tốc độ nhanh, chốt chặn mạnh, đuổi đến cùng, đạt kết quả lớn; của Chiến dịch Trung - Hạ Lào - đông bắc Campuchia là nghệ thuật thọc sâu hiệp đồng với lực lượng bạn, đạt hiệu quả rất cao bằng một lực lượng không lớn; của Chiến dịch bắc Tây Nguyên là nghệ thuật đánh hiểm - diệt viện, hiệp đồng chặt chẽ giữa chủ lực với địa phương, chiến trường rừng núi với chiến trường đồng bằng. Nổi bật bao trùm nhất của Chiến dịch Điện Biên Phủ là nghệ thuật đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch, thu toàn bộ trang bị vũ khí trong điều kiện so sánh lực lượng chiến dịch ta không hơn hẳn địch7.

Thắng lợi oanh liệt của Chiến dịch Điện Biên Phủ đánh dấu đỉnh cao phát triển nghệ thuật chiến dịch của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
_________________________________________________
1. Xem Vài hồi ức về Điện Biên Phủ, Sđd, tr.76.
2. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 738.
3. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 751.
4. Xem Vài hồi ức về Điện Biên Phủ, Sđd, tr.80.
5. Nếu kể từ chiến dịch phản công ở tây - nam Ninh Bình thì từ cuối tháng 10-1953, nếu kể từ Chiến dịch giải phóng Lai Châu thì từ đầu tháng 12-1953 đến đầu tháng 5-1954.
6. Nếu kể từ chiến dịch phản công ở tây - nam Ninh Bình và coi cuộc tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu như một chiến dịch tiến công quy mô nhỏ thì ta đã tiến hành sáu chiến dịch là tây - nam Ninh Bình, Lai Châu, Trung - Hạ Lào - đông - bắc Campuchia, bắc Tây Nguyên, phòng tuyến sông Nậm Hu và Điện Biên Phủ.
7. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta chỉ có ưu thế tương đối hơn địch về một số mặt; nhưng địch lại chiếm ưu thế tuyệt đối hơn ta trên nhiều lĩnh vực.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:40:11 pm

CUỘC ĐẤU TRÍ GIỮA HAI BỘ THỐNG SOÁI CỦA TA VÀ CỦA ĐỊCH1

Đại tá TRẦN TRỌNG TRUNG

Cuộc đấu trí trong năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp (và nói chung trong suốt chín năm) là cuộc đấu trí giữa:

Một bên là, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, một đảng mácxít kiên cường lãnh đạo toàn dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Giúp Trung ương trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến về mặt quân sự là Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh, và

Một bên là, gần hai chục chính phủ kế tiếp nhau của nền Đệ tứ Cộng hoà Pháp. Điều hành "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" ở Đông Dương theo đường lối của Pari là các viên cao uỷ và tổng chỉ huy đội quân viễn chinh Pháp (C.E.F.E.O). Trong những năm cuối thêm sự can thiệp của đế quốc Mỹ.

Trải qua bảy năm (1945 - 1952) ta đã liên tiếp làm thất bại từng kế hoạch chiến lược của địch, từ kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh" của Lơcléc - Valuy, kế hoạch phong tỏa biên giới và "làm chủ vùng đồng bằng có ích" của Bledô - Cácpăngchiê, đến kế hoạch giành lại quyền chủ động chiến lược của Đờ Lát Đờ Tátxinhi - Xalăng. Chính nhờ những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đó mà "sang năm thứ tám của cuộc kháng chiến, những triển vọng vô cùng tốt đẹp về thắng lợi đã mở ra trước mắt nhân dân ta"2.

Bước sang năm 1953, nhất là từ mùa Hè, với việc cử tướng Nava sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh, rõ ràng là địch đang chuẩn bị một âm mưu chiến lược mới. Vấn đề đặt ra với Bộ Thống soái của ta là nắm và đánh giá đúng âm mưu và khả năng sắp tới của địch, có biện pháp chỉ đạo chiến lược sắc bén, kịp thời để giành thắng lợi lớn hơn trong cuộc đấu trí mới, nhằm đánh bại nỗ lực quân sự cao nhất của xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ. Thực tế đã chứng minh, cuộc đấu trí trong năm cuối của cuộc chiến tranh đã diễn ra hết sức khẩn trương, phức tạp, bằng những nước cờ liên tục và xen kẽ nhau, từ tháng 5-1953 (khi Nava nhậm chức, kế hoạch chiến lược của địch hình thành) đến thắng 5-1954 (khi ta giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ).

1. Hai bộ thống soái xác định phương hướng chiến lược và xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược (từ tháng 5 đến tháng 8-1953)

Đây là bước đấu trí đầu tiên, diễn ra trong trạng thái mà dư luận phương Tây gọi là "thầm lặng". Ta và địch vừa xác định phương hướng chiến lược, xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến lược, vừa tìm mọi biện pháp để thăm dò, tìm hiểu, phán đoán ý đồ chiến lược sắp tới của đối phương, đồng thời chuẩn bị các yếu tố cần thiết để biến chủ trương chiến lược thành hiện thực thắng lợi.

Nava sang Đông Dương trong bốì cảnh nước Pháp đã thế yếu, lực suy, bối cảnh mà dư luận đánh giá bằng một hình ảnh: con bò cái Pari, già nua và còm cõi, đã bị cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương vắt đến những giọt sữa cuối cùng. Trong khi đó, ở Đông Dương "bù nhìn không làm nổi bù nhìn"; quân đội tay sai chưa bước sang "thời kỳ cai sữa". Mỹ ép Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh, còn Pháp thì "đang tìm kiếm một lối thoát danh dự"3. Thoát như thế nào còn là một ẩn số. Nhưng tất nhiên, với việc "xuất" một viên tướng được coi là "có nhãn quan chiến lược", Pari hy vọng rằng lối thoát danh dự đồng nghĩa với lối thoát bằng một thắng lợi quân sự có tầm chiến lược. Thế là một kế hoạch chiến lược tương đối hoàn chỉnh ra đời, nhằm cải biến tình hình, chuyển bại thành thắng và trong một thời gian tương đối ngắn, giành lấy một thắng lợi có tính chất quyết định.

Qua các nguồn tin công khai và bí mật, Bộ Thống soái của ta bám sát từng bước sự hình thành của kế hoạch Nava. Kế hoạch chiến lược này được Hội đồng Quốc phòng Pháp thông qua ngày 24-7-1953. Chính với niềm tin vào tư tưởng chỉ đạo "tiến công, chủ động tiến công" của kế hoạch Nava mà Pari chấp thuận vét túi gửi quân tăng viện sang Đông Dương, về phía Mỹ, tướng Ô. Đanien cho rằng: với kế hoạch Nava, thắng lợi quân sự của người Pháp đã "ở trong tầm tay". Vì vậy, Oasinhtơn chấp thuận bỏ ra 385 triệu đôla viện trợ cấp tốc, với hy vọng rằng công thức đôla Mỹ + máu Pháp sẽ có thêm điều kiện để làm nên chuyện.

Về phía ta, phương hướng chiến lược Thu Đông 1953 đã được xác định sớm, từ tháng 1, tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương. Đó là phương hướng "tạm thời "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do"4. Theo phương hướng đó, "quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. Bất kỳ ở miền núi hay đồng bằng, quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch"5.

Từ sau chiến thắng Sầm Nưa (4-1953), mọi công tác chuẩn bị chiến lược của ta đã được triển khai theo phương hướng đó. Đến tháng 8, sau khi đã nắm được những nét lớn về kế hoạch chiến lược của Nava (nhất là việc tập trung lực lượng ở đồng bằng Bắc Bộ) trong đề án trình Bộ Chính trị ngày 20-8-1953, Tổng Quân uỷ đã đề đạt chủ trương chiến lược và phương hướng tác chiến trong Thu Đông nhằm phá âm mưu địch, làm thất bại một bước kế hoạch chiến lược của Nava.

Trên cơ sở nhận định rằng, hiện chưa có điều kiện để tác chiến lớn ở đồng bằng, Tổng Quân uỷ đề nghị: nhiệm vụ trước mắt là phải phá âm mưu tập trung binh lực và "bình định" đồng bằng của địch để tạo điều kiện tác chiến tương đối lớn. Cụ thể là:

1. Cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh và chiến tranh du kích ở địch hậu.

2. Chủ lực phải dùng phương thức hoạt động thích hợp để tiêu diệt từng bộ phận nhỏ sinh lực địch và giúp địch hậu đẩy mạnh cuộc đấu tranh.

3. Tăng cường lực lượng võ trang và bán võ trang vùng tự do, và có kế hoạch tiêu diệt địch khi chúng đánh ra, bảo vệ vùng tự do.

4. Tăng cường hoạt động ở Thượng Lào và ở các chiến trường khác để phân tán chủ lực của địch6.

Đề án của Tổng Quân uỷ được hội nghị Bộ Chính trị thông qua. Tây Bắc được chọn làm hướng chính để mở chiến dịch tiến công trong Thu Đông. Hội nghị nhấn mạnh phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt". Theo phương châm đó, ta sẽ không bị động chờ đợi mà phải tự mình xoay chuyển tình hình sao cho có lợi cho ta. Ta sẽ sẵn sàng đánh với một kẻ địch như thế này và cũng sẵn sàng đánh với một kẻ địch như thế khác. Kết luận hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "... Hướng chính (Tây Bắc) hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hoá..." 7.

Thế là chỉ trong bước đầu của cuộc đấu trí giữa ta và địch, đã xuất hiện sự khác biệt rõ rệt trong vấn đề "biết mình, biết người". Trong khi Bộ Thống soái Pháp gấp rút xây dựng lực lượng dự bị chiến lược mạnh và tập trung lực lượng ra chiến trường miền Bắc để giữ vững vùng châu thổ sông Hồng (vì họ đinh ninh rằng ta sẽ chọn đồng bằng Bắc Bộ làm hướng tiến công chiến lược chính trong Thu Đông tới), thì về phía ta, trên cơ sở phân tích tình hình khách quan về so sánh lực lượng và đặc điểm chiến trường, ta chủ trương "tạm thời tránh chỗ mạnh" (đồng bằng Bắc Bộ), tập trung lực lượng mở những chiến dịch tiến công trên chiến trường rừng núi, nơi quân ta có điều kiện thuận lợi hơn để tiêu diệt sinh lực địch và buộc chúng phải bị động phân tán lực lượng để đối phó, tạo điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực quan trọng của chúng.
______________________________________________
1. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số tháng 3-1984.
2. Vài hồi ức về Điện Biên Phủ, Sđd, t.1, tr.9.
3. Chỉ thị của Thủ tướng R. Mayê cho H. Nava khi viên tướng này sang Đông Dương. Xem Y Gra: Lịch sử của cuộc chiến tranh Đông Dương, Sđd.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.14, tr.130.
6. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 344-347.
7. Vài hồi ức về Điện Biên Phủ, Sđd, t.1, tr.14.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:47:20 pm

2. Sự bất lực của Bộ Thống soái Pháp trong những nước cờ đầu tiên (từ tháng 7 đến tháng 11-1953)

Hoạt động của địch trong thời gian này không những mang tính chất thăm dò mà còn nhằm hạn chế khả năng triển khai kế hoạch chiến lược của ta. Ta và địch đều nỗ lực chuẩn bị chiến lược, chạy đua trong việc tạo thế, tạo lực có lợi. Hai bên đều vừa triển khai kế hoạch chiến lược đã được xác định, vừa tiếp tục tìm hiểu để kết luận về ý đồ và khả năng cụ thể của đối phương.

Ngay từ bước đầu thực hiện kế hoạch chiến lược, Nava đứng trước những yêu cầu chiến lược rất lớn do chính kế hoạch đó đặt ra. Một là, phải tập trung lực lượng ở đồng bằng Bắc Bộ, vừa để xây dựng quả đấm chiến lược mạnh, vừa để sẵn sàng bảo vệ vùng đồng bằng đông người, nhiều của. Hai là, làm thế nào để ứng cứu kịp thời vùng Thượng Lào nếu chiến trường này bị uy hiếp. Ba là, tốt nhất làm sao phá được (ngay từ đầu) việc triển khai kế hoạch chiến lược của ta, không cho ta mở những cuộc tiến công lớn vào vùng châu thổ sông Hồng.

Để đáp ứng mấy yêu cầu chiến lược trên đây, Nava quyết ra tay trước. Những hoạt động mà viên Tổng Chỉ huy Pháp gọi là "món ăn đầu bữa" không chỉ nhằm tuyên truyền cho tư tưởng "chủ động tiến công" gây sức ép với Pari và Oasinhtơn để có thêm quân tăng viện và vũ khí viện trợ, mà còn nhằm theo dõi động tĩnh của ta.

Mở đầu là cuộc hành quân Con én (17 - 20-7-1953) của hai tiểu đoàn dù tập kích chớp nhoáng xuống Lạng Sơn, nơi mà Phòng Nhì cho rằng có kho vũ khí quan trọng của ta. Kết quả: "Hành động kỳ quặc này có tiếng vang về tinh thần hơn là thực tế... Việt Minh tỏ ra không hề lo ngại gì đối với cuộc hành binh đó...". Tiếp đến là cuộc hành binh Camácgơ (28-7 - 4-8) của 30 tiểu đoàn các loại, được coi là "một trong những chiến dịch lớn nhất Đông Dương", nhằm bao vây và tiêu diệt Trung đoàn 95 của ta. Kết quả "vì vòng vây quá lỏng" nên Trung đoàn 95 vẫn tồn tại và sẵn sàng hoàn thành các nhiệm vụ chiến đấu khác...

Sau mấy lần xuất quân, không thấy động tĩnh của chủ lực ta, Bộ Thống soái Pháp đi đến kết luận có tính khẳng định: Việt Minh sẽ tập trung toàn bộ nỗ lực của họ đánh vào vùng châu thổ Bắc Kỳ bằng ba lực lượng: các trung đoàn tại chỗ, các đại đoàn từ trung du ép xuống và từ phía nam thọc lên. Phải mau chóng có biện pháp làm giảm nhẹ, tiến tới vô hiệu hoá sức ép đó của đối phương.

Để tăng thêm lực lượng bảo vệ đồng bằng, ngày 8-8-1953, Bộ Thống soái Pháp cho rút quân khỏi Nà Sản "con đê ngăn sóng" của Xalăng đã một thời "nổi tiếng" nay không còn tác dụng nữa vì phía Pháp cho rằng Tây Bắc không còn bị uy hiếp. Giành được bất ngờ trong việc rút khỏi Nà Sản bằng máy bay, Bộ Thống soái Pháp có thêm sáu tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo bổ sung vào cái túi cơ động chiến lược ở đồng bằng.

Tiếp đến là cuộc càn quét quy mô lớn, vừa để "xoá những chấm đỏ", bảo đảm cho hậu phương của quân viễn chinh khỏi bị "ruỗng nát nghiêm trọng", vừa để bắt lính và đồng thời tạo điều kiện cho các binh đoàn cơ động dìu dắt và thử sức các tiểu đoàn khinh quân mới lọt lòng. Nhưng rồi, như chính người Pháp sau này (tướng Y. Gra) thú nhận, các cuộc càn quét chỉ thu được những kết quả ít ỏi… Việc thử nghiệm các tiểu đoàn khinh quân mở đầu bằng một thất bại nặng nề.

Cùng trong thời gian này, mặc dù đã phải tập trung chừng 40 tiểu đoàn cơ động ở vùng đồng bằng, nhưng phía Pháp vẫn chưa yên tâm. Các binh đoàn chủ lực của ta vẫn "im lặng đứng chân" trên cả hai hướng bắc và nam vùng châu thổ sông Hồng. Bộ Thống soái Pháp đi đến một quyết định mới: phải đánh chiếm một địa bàn cơ động có thể cùng một lúc đáp ứng mấy yêu cầu: 1. Thu hút bốn sư đoàn chủ lực đối phương (đang tập trung ở vùng trung du) để đỡ gánh nặng cho đồng bằng; 2. Bảo vệ được Thượng Lào, một yêu cầu có ý nghĩa chính trị quan trọng(!); 3. Yểm trợ được cho Lai Châu và vùng Tây Bắc nói chung.

Địa bàn nhạy cảm đầy sức hấp dẫn đó, suy cho cùng, chỉ có thể là Điện Biên Phủ, với mọi ưu thế về vị trí chiến lược quân sự, về chính trị và cả về kinh tế. Từ giữa tháng 9, cơ quan tham mưu Pháp bắt đầu chuẩn bị một kế hoạch hành quân mang tên Chuột biển chiếm đóng Điện Biên Phủ bằng ba lực lượng: từ Thượng Lào sang, từ Lai Châu về và từ trên không nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh.

Đối với vùng phía nam đồng bằng, sự có mặt của các Sư đoàn 304 và 320 vẫn là một mối nguy cơ đối với hậu phương quân viễn chinh. Phải "chủ động" phá kế hoạch tiến công của hai sư đoàn này. Thế là thêm một cuộc hành binh được thực hiện, cuộc hành binh Hải Âu ngày 15-10 - 7-11 của 32 tiểu đoàn các loại tiến công ra hướng tây - nam Ninh Bình. Kết quả, như tờ Thế giới (27-10) nhận xét: "Cứ theo đà này thì quân tăng viện (từ Pháp sang) chỉ đủ bù vào số quân bị tổn thất".

Sau khi buộc phải cho Hải Âu lui quân, Bộ Thống soái Pháp vẫn chưa giải đáp được câu hỏi từ lâu đặt ra: Động tĩnh của đối phương thế nào? Các cuộc hành binh đầu tay của Nava chưa tìm ra đáp số. Họ không hề biết rằng mọi công tác chuẩn bị chiến trường của ta trên hướng Tây Bắc đã được triển khai từ mùa Hè và đang trong giai đoạn hoàn thành nhằm phục vụ cho chiến dịch giải phóng Lai Châu. Phòng Nhì Pháp không tìm ra một tin tức gì mới về các binh đoàn chủ lực của ta. Trong khi đó, "chúng ta vẫn bình thản tiếp tục kế hoạch đã định"1, bao gồm cả việc xuất quân của Sư đoàn 516 lên hướng Tây Bắc và việc phố biến kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 tại cơ quan Tổng hành dinh ở Việt Bắc.

Giữa lúc đó, một sự kiện quan trọng đã xảy ra, đánh dấu một bước phát triển mới trong cuộc đấu trí giữa ta và địch. Phát hiện Đại đoàn 316 của ta tiến quân lên Tây Bắc, mặc dù chưa chuẩn bị kịp kế hoạch phối hợp với Lai Châu và Thượng Lào. Bộ Thống soái Pháp vội vã thực hiện cuộc hành binh Chuột biển đơn thuần bằng quân dù ném xuống Điện Biên Phủ (20 - 22-11-1953). Khối cơ động chiến lược (chưa xây dựng xong) đã bắt đầu bị phân tán. Nava không hề nghĩ rằng việc ném sáu tiểu đoàn xuống lòng chảo Mường Thanh là sự kiện mở đầu thảm hoạ cho cuộc đời binh nghiệp của chính ông ta và cũng là bắt đầu một chương bi thảm nhất trong lịch sử xâm lược của quân viễn chinh Pháp.

Trong hội nghị phổ biến và thảo luận kế hoạch tác chiến Đông Xuân ngày 19 - 23-11-1953 vấn đề cấp bách đặt ra với ta là tìm hiểu ý đồ chiến lược mới của địch khi chúng chiếm đóng Điện Biên Phủ. Nhiều giả thuyết được đề ra thảo luận tại hội nghị: 1. Địch sẽ giữ cả Lai Châu và Điện Biên Phủ, một nơi chính, một nơi phụ. Điện Biên Phủ có thể là nơi chính; 2. Nếu bị uy hiếp, chúng có thể rút Lai Châu, co về giữ Điện Biên Phủ; 3. Nếu bị uy hiếp mạnh hơn, chúng có thể tăng viện, tổ chức Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm; 4. Chúng cũng có thể rút bỏ cả Lai Châu và Điện Biên Phủ.

Kết luận

1. "Trước sự uy hiếp của ta, địch đã phải bị động đối phó, phải phân tán một bộ phận lực lượng cơ động lên Điện Biên Phủ để yểm hộ cho Tây Bắc, để che chở cho Thượng Lào, để phá kế hoạch tiến công của ta... Vô luận rồi đây địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta. Nó bộc lộ mâu thuẫn của địch giữa chiếm đóng đất đai với tập trung lực lượng, giữa chiếm đóng chiến trường rừng núi với củng cố chiến trường đồng bằng"2.

2. Ta vẫn chủ động thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược đã định. Hướng chính vẫn là Tây Bắc. "Nhiệm vụ là kiên quyết tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng vùng Lai Châu để củng cố và mở rộng căn cứ kháng chiến Tây Bắc uy hiếp Thượng Lào để phân tán địch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tác chiến sau này"3.

3. Trung Lào là hướng phụ. Đồng bằng Bắc Bộ và các chiến trường khác là những hướng phối hợp.

4. Tiếp tục bám sát hoạt động của địch để xử trí cho mau lẹ, không bỏ lỡ cơ hội diệt địch.

Đại đoàn 316 đang trên hướng hành quân lên Tây Bắc, nhận được lệnh nhanh chóng bao vây Lai Châu, chặn đường địch từ Lai Châu rút chạy về Điện Biên Phủ. Đại đoàn 308 được lệnh nhanh chóng tiến quân lên Tây Bắc, bao vây và bám sát mọi hoạt động của địch ở Điện Biên Phủ, chặn đường Điện Biên Phủ - Mường Khoa (không cho địch rút chạy sang hướng Thượng Lào) và chuẩn bị chiến trường.

Trong phương án tác chiến mùa Xuân 1954 (trình Bộ Chính trị ngày 6-12-1953), Tổng Quân uỷ đề đạt: "Tuy hiện nay chưa thể khẳng định nhưng muốn bảo đảm thực hiện được quyết tâm của Trung ương là phối hợp với bạn tiêu diệt địch và giải phóng vùng Lai Châu - Phông Xa Lỳ cho đến Luông Prabăng trong Đông Xuân thì phải nhằm trường hợp (địch) tăng cường (Điện Biên Phủ) thành tập đoàn cứ điểm mà chuẩn bị"4.

Như vậy là Bộ Thống soái hai bên đã có những thông tin tương đối rõ ràng để chuẩn bị những nước cờ tiếp theo.
___________________________________________
1. Vài hồi ức về Điện Biên Phủ, Sđd, t.1, tr.17.
2, 3. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 446, 447.
4. Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Sđd, tr. 485.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:49:37 pm

3. Bằng những đòn tiến công liên tiếp trên nhiều hướng chiến lược, ta đã buộc Bộ Thống soái Pháp phải phân tán khối cơ động chiến lược của Nava, tạo tiền đề thắng lợi cho đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng (12-1953-1-1954)

Ngay từ khi xác định phương hướng chiến lược Đông Xuân, ta đã từng dự kiến: nếu Tây Bắc bị uy hiếp, địch có thể sẽ tăng viện lên hướng này, mặc dù lúc đó (8-1953), ta chưa phán đoán được cụ thể địa điểm và thời gian. Một sô* đại đoàn chủ lực đứng chân trên địa bàn trung du chính là nhằm sẵn sàng hành động theo phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt". Điều đó giải thích vì sao việc địch nhảy dù chiếm đóng Điện Biên Phủ không hề làm cho kế hoạch tác chiến chiến lược của ta bị đảo lộn. ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trong khi Nava tiếp tục nuôi hy vọng đánh chiếm vùng tự do Liên khu V, thì quân ta vẫn chủ động triển khai kế hoạch tiến công chiến lược trên các hướng đã được xác định, kể cả kế hoạch đánh địch khi chúng mở cuộc hành binh Átlăng ở Liên khu V.

Như trên đã nói, yêu cầu đặt ra đối với ta trong việc lập kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 không chỉ nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai mà còn nhằm buộc địch phải phân tán lực lượng, làm thất bại âm mưu tập trung khối cơ động chiến lược của chúng, tạo điều kiện cho tác chiến quy mô lớn hơn, tiêu diệt địch ngày càng nhiều hơn.

Bằng đòn chiến lược đầu tiên, ta đã tiêu diệt trên 20 đại đội địch, giải phóng Lai Châu, buộc Nava phải tăng thêm lực lượng lên Điện Biên Phủ (đến cuối tháng 12-1953, lực lượng địch ở đây đã lên tới 10 tiểu đoàn).

Bằng đòn tiến công thứ hai, ta đã diệt bốn tiểu đoàn địch, phối hợp với bạn giải phóng nhiều vùng ở Trung Lào, phá tan "tuyến cấm" của địch ở vĩ tuyến 18, buộc địch phải điều năm tiểu đoàn lên, xây dựng tập đoàn cứ điểm Xênô.

Bằng đòn tiến công thứ ba ở Hạ Lào, ta cùng với bạn giải phóng thị xã Atôpơ và toàn bộ vùng cao nguyên Bôlôven, buộc địch phải điều bốn tiểu đoàn lên xây dựng tập đoàn cứ điểm Pắcxế.

Bằng đòn tiến công thứ tư, ta đã giải phóng Kon Tum và vùng bắc Tây Nguyên, bước đầu làm thất bại cuộc hành quân Átlăng của địch, buộc Nava phải đình chỉ cuộc hành binh này và điều 14 tiểu đoàn đến Tây Nguyên xây dựng hai tập đoàn cứ điểm Plâycu và An Khê, khiến cho lực lượng của địch bị phân tán trên chiến trường Nam Trung Bộ lên tới 30 tiểu đoàn.

Phối hợp với các chiến dịch tiến công ở phía trước, lực lượng vũ trang vùng sau lưng địch, nhất là vùng châu thổ sông Hồng, đã nắm vững thời cơ, đẩy mạnh hoạt động. Hàng loạt vị trí bị tiêu diệt, các đường giao thông lớn bị uy hiếp, nhiều khu du kích và căn cứ du kích không ngừng được mở rộng. Địch buộc phải căng mỏng lực lượng ra để đối phó, khiến cho khả năng tăng viện cho chiến trường Điện Biên Phủ bị hết sức hạn chế.

Như vậy là trong đợt một của chiến cuộc Đông Xuân, ta đã phân tán 50% lực lượng cơ động của địch tập trung ở đồng bằng Bắc Bộ (23/44 tiểu đoàn). Số quân cơ động còn lại bị căng mỏng và giằng xé trong vùng tạm chiếm ở châu thổ sông Hồng để đối phó với chiến tranh du kích đã phát triển rất sâu rộng. Kế hoạch tập trung lực lượng và kế hoạch "bình định" vùng đồng bằng của địch đều bị phá sản. Địch hầu như không còn lực lượng cơ động để tăng viện cho chiến trường Tây Bắc. Đó chính là thời cơ để quân ta bước vào cuộc đọ sức mới trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ.

Về phía địch, thả quân dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủ, lúc đầu Nava hy vọng có thể yểm trợ cho Lai Châu, bảo vệ Thượng Lào đồng thời thu hút chủ lực của ta lên Tây Bắc, đỡ đòn cho đồng bằng. Nhưng ngay sau cuộc hành binh Chuột biển, Bộ Thống soái Pháp ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, một sự lựa chọn day dứt.

Hạ tuần tháng 11, những tin tức từ Pari cho thấy Hội đồng Quốc phòng không đáp ứng yêu cầu tăng viện mà còn nhắc nhở "hãy điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với khả năng phương tiện có trong tay", không một lời nói đến nhiệm vụ bảo vệ Thượng Lào. Cũng vào dịp này, tin tức cho thấy không phải chỉ một Đại đoàn 316 mà nhiều binh đoàn của đối phương sắp có mặt ở Tây Bắc trong thời gian tới. Rõ ràng là mấy tiểu đoàn đầu tiên ném xuống Điện Biên Phủ và lực lượng đồn trú ở Lai Châu đều đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Để đối phó với nguy cơ đó, Nava cho tổ chức "hành lang chiến lược" gồm sáu tiểu đoàn rải dọc sông Nậm Hu, nối liền Điện Biên Phủ - Mường Khoa - Luông Prabăng, nhằm sẵn sàng thực hiện kế hoạch Xênôphôn, bỏ Điện Biên Phủ chạy sang Thượng Lào khi tình thế bắt buộc.

Nhưng rồi Nava đã trải qua những ngày đắn đo "dùng dằng nửa ở nửa về". Kinh nghiệm Hoà Bình, Cánh Đồng Chum rồi Nà Sản cho thấy, liệu Việt Minh có đủ sức công phá tập đoàn cứ điểm?

Điện Biên Phủ đã thu hút chủ lực đối phương lên đây, sức ép ở đồng bằng đã giảm. Vậy thì tương kế tựu kế, hãy tổ chức Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, "một siêu Nà Sản", để nghiền nát chủ lực đối phương. Đó là quyết tâm chiến lược quan trọng của Bộ Thống soái Pháp, ngày 3-12. Ngay sau đó, hai tiểu đoàn Âu - Phi rút chạy trót lọt bằng máy bay từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Các loại trang bị được vội vã ném xuống cánh đồng Mường Thanh. Và điều đáng chú ý là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ càng phình ra bao nhiêu thì khối cơ động của địch ở đồng bằng Bắc Bộ càng teo đi bấy nhiêu. Từ chỗ Điện Biên Phủ không có trong dự kiến ban đầu, cái thung lũng này dần dần trở thành trung tâm của kế hoạch Nava.

Sự cân nhắc của Bộ Thống soái Pháp đã từng được Tổng Quân uỷ dự kiến giữa hai khả năng (địch rút hay chiếm đóng Điện Biên Phủ), dần dần Tổng Quân uỷ đã khẳng định khả năng thứ hai và từ tháng 12, đã hướng mọi công tác chuẩn bị chiến lược cho khả năng đó. Trung tuần tháng 12, khi cục diện chiến trường đang chuyển biến ngày càng có lợi cho ta (khối cơ động chiến lược của địch đang trong quá trình bị phân tán trên nhiều hướng), Bộ Chính trị đã thông qua quyết tâm của Tổng Quân uỷ: chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược.

Như vậy là, nắm vững phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt", ta đã "từ tạm thời tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu", đi đến chỗ tranh thủ thời cơ thuận lợi, chọn nơi mạnh nhất của địch là tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ để tiêu diệt.

Đến cuối tháng 12, khi một số đại đoàn của ta đã hình thành thế bao vây, mọi khả năng rút chạy của địch từ Điện Biên Phủ qua Tây Trang - Mường Khoa sang Thượng Lào không còn nữa thì cuộc đọ sức giữa ta và địch trên lòng chảo Mường Thanh rõ ràng là không tránh khỏi. Điện Biên Phủ trở thành tiêu điểm của cuộc đấu trí giữa hai bộ thống soái của ta và của địch.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:50:52 pm

4. Hai bên dốc sức tập trung mọi yếu tố cần thiết để đánh bại đối phương trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ (từ tháng 1 đến 12-3-1954)

Càng củng cố Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, Bộ Thống soái Pháp và các tướng lĩnh, chính khách Pháp - Mỹ càng tin rằng quân ta nhất định sẽ thất bại nếu "liều lĩnh" mở cuộc tiến công. Họ tin rằng ta không thể khắc phục nổi những khó khăn về mặt tiếp tế và trang bị. Họ tin vào sức mạnh và hiệu quả của hình thức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm nên quyết tâm xây dựng lòng chảo Mường Thanh thành một căn cứ không quân - lục quân để đọ sức với ta. Mọi yếu tố để giành thắng lợi đã được chuẩn bị ngày càng chu đáo: tăng cường binh lực và phương tiện "bằng mọi giá"; xin thêm không quân để yểm trợ chiến đấu và để tăng cường đánh phá, ngăn chặn tuyến hậu cần của ta, đưa thêm quân dù ra Bắc để sẵn sàng tăng viện cho Điện Biên Phủ.

Khách quan mà xét, Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, mạnh hơn nhiều so với Nà Sản trước đây. Không những binh lực, hoả lực mạnh hơn gấp bội mà tổ chức phòng ngự cũng hiện đại hơn. Sai lầm của địch là đã nhấn mạnh một chiều những chỗ mạnh của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà không thấy hết chỗ yếu của nó. Từ đó, họ đi đến kết luận: Nếu quân đội ta không đánh được các tập đoàn cứ điểm Hoà Bình (1951) và Nà Sản (1952) thì đương nhiên là không đánh được Điện Biên Phủ. Cách đánh giá cứng đờ máy móc đó là một nguyên nhân dẫn đến thất bại của họ sau này.

Về phía ta, quá trình cân nhắc để hạ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là quá trình phân tích khách quan, khoa học tình hình ta và địch, yêu cầu khách quan của cuộc kháng chiến và khả năng chủ quan của quân và dân ta.

Quân đội ta cần phải tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới mở ra con đường phát triển của bộ đội, thúc đẩy cuộc kháng chiến tiến lên, làm thất bại kế hoạch Nava và tạo được hậu thuẫn chắc chắn cho cuộc đấu tranh ngoại giao của ta ở Hội nghị Giơnevơ. Quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một quyết tâm chiến lược quan trọng, nhằm đáp ứng những yêu cầu chiến lược bức thiết trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến.

Quân đội ta có thể tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vì quân địch tuy mạnh nhưng chúng bị cô lập trên chiến trường rừng núi, rất xa các căn cứ ở đồng bằng; lực lượng của chúng bố trí tương đối phân tán; vì bộ đội ta đã có những tiến bộ mới về chiến thuật, kỹ thuật, chiến đấu theo một phương châm tác chiến đúng đắn, với binh lực đã được tập trung ưu thế. Mặc dù ta còn những khó khăn về chiến thuật, về bảo đảm hậu cần, song những khó khăn đó đều có thể khắc phục được.

Mặc dù đợt một của chiến cuộc Đông Xuân đã lật ngược thế cờ, lực lượng cơ động của địch đã bị phân tán cao độ trái hẳn với dụ kiến của Nava, ta có những điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi trong cuộc đọ sức sắp tới, nhưng sau khi đã hạ quyết tâm, một vấn đề quan trọng đặt ra là làm thế nào để bảo đảm đánh chắc thắng, Tổng Quân uỷ đã đặc biệt coi trọng việc xác định phương châm chiến dịch, chọn cách đánh thích hợp để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ đầu tháng 12-1953, khi quân ta mới bao vây Điện Biên Phủ, lực lượng của địch chưa được tăng cường, bố trí của chúng còn tương đối sơ hở, trận địa phòng ngự chưa được củng cố. Bởi vậy ta chủ trương "đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhằm tranh thủ thời gian, lợi dụng những điều kiện sơ hở của một kẻ địch mới lâm thời chiếm lĩnh trận địa để tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trong một trận khi quân ta còn đang sung sức. Điều lợi của cách đánh này là ở chỗ cuộc chiến đấu không kéo dài, hạn chế được sự tiêu hao, mệt mỏi và hạn chế được những trở ngại lớn về tiếp tế lương thực, đạn dược. Tuy nhiên, đánh nhanh, giải quyết nhanh cũng đặt quân đội ta trước một thực tế là: mặc dù đã được chuẩn bị về tư tưởng và chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm, nhưng bộ đội chưa có kinh nghiệm thực tế, lần đầu tiên đánh tập đoàn cứ điểm lại gặp một tập đoàn cứ điểm mạnh.

Sau hơn một tháng vừa tiếp tục theo dõi tình hình địch, vừa chuẩn bị theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", đến cuối tháng 1-1954, ta nhận thấy tình hình địch đã có nhiều thay đổi: Lực lượng của chúng đã được tăng cường, trận địa phòng ngự đã được xây dựng kiên cố, hệ thống phòng ngự đã được tổ chức khá vững chắc. Địch không còn ở vào tình trạng lâm thời chiếm lĩnh trận địa nữa. Nếu "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì không chắc chắn bảo đảm thắng lợi, khi trên một số mặt, công tác chuẩn bị của ta cũng chưa thật đầy đủ.

Trải qua suy nghĩ cân nhắc thận trọng mọi mặt, với quyết tâm và tinh thần trách nhiệm rất cao, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã kiên quyết thay đổi phương châm thành "đánh chắc, tiến chắc" và chỉ đạo khẩn trương, chuẩn bị bổ sung đầy đủ về mọi mặt, nhất là nghiên cứu cách đánh cụ thể bảo đảm chắc thắng.

Theo phương châm này, ta sẽ tập trung binh lực, hoả lực đánh từng bước, giành thắng lợi trong từng trận, vừa đánh vừa rút kinh nghiệm; ta sẽ hoàn toàn chủ động chọn thời gian và mục tiêu tiến công, vừa đánh vừa củng cố lực lượng; ta sẽ có thêm điều kiện khoét sâu khó khăn và nhược điểm của địch về mặt tiếp tế vận tải, dồn địch vào thế không thể kéo dài cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, theo phương châm này, ta phải có những biện pháp kiên quyết và tích cực, nhằm khắc phục rất nhiều khó khăn do chiến dịch kéo dài đặt ra: bộ đội tiêu hao mệt mỏi; vấn đề cung cấp vốn đã khó khăn nay càng trở nên khó khăn hơn; thời tiết không thuận lợi, mùa mưa sắp đến... Trong tất cả những khó khăn trên, nổi lên là khó khăn về vận tải tiếp tế, nhằm đáp ứng yêu cầu vật chất tăng gấp nhiều lần so với dự kiến ban đầu1.

Với kinh nghiệm phát huy cả ba nguồn cung cấp (chi viện của hậu phương, động viên tại chỗ và lấy của địch đánh địch), ta đã từng bước vượt qua những khó khăn rất lớn về hậu cần, những khó khăn mà Bộ Thống soái Pháp tin rằng ta không thể nào khắc phục nổi.

Phía Pháp phán đoán ta sẽ bắt đầu tiến công vào đầu tháng 1-1954, nhưng đến cuối tháng không những thấy ta không tiến công mà họ còn phát hiện Đại đoàn 308 rút khỏi chiến trường Điện Biên Phủ sang hướng Thượng Lào. Bộ Thống soái địch đinh ninh rằng ta bỏ cuộc. Đúng ngày Tết Nguyên Đán, họ cho máy bay thả truyền đơn thách thức ta tiến công. Họ không ngờ rằng cuộc xuất quân bất ngờ, thần tốc, đánh địch trong hành tiến của Đại đoàn 308 đã đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu dài hàng trăm kilômét, nối liền Điện Biên Phủ với Mường Khoa xuống tận Luông Prabăng. Thắng lợi của ta không chỉ ở con số 17 đại đội địch bị tiêu diệt, mà sau khi "hành lang chiến lược" bị phá sập, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trở nên hoàn toàn bị cô lập. Hơn nữa, do nhận định rằng ta bỏ ý định tiến công Điện Biên Phủ (quay sang uy hiếp Thủ đô Lào), Bộ Thống soái địch vội vã điều một binh đoàn cơ động từ đồng bằng Bắc Bộ sang Luông Prabăng và thiết lập thêm một tập đoàn cứ điểm ở đây. Một lần nữa, lực lượng dự bị chiến lược của Nava càng bị teo lại. Chỉ đến khi được tin Đại đoàn 308 đã quay trở lại Điện Biên Phủ (23-2-1954), Bộ Thống soái Pháp mới rút ra kết luận (quá muộn) là: 1. Đối phương vẫn giữ vững quyết tâm tiến công tập đoàn cứ điểm; 2. Điện Biên Phủ rõ ràng không thể là "cái chìa khoá" chặn đối phương tiến quân sang hướng Thượng Lào.

Ngày 12-3-1954, Nava cố vớt vát bằng đợt hai của Chiến dịch Átlăng (cuộc hành binh Axen, đổ bộ lên Quy Nhơn), Tổng Chỉ huy Pháp không ngờ rằng hôm sau quân ta nổ súng tiến công, mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ.
____________________________________________
1. Dự kiến tháng 12-1953 (tấn): gạo 4.200, thịt 100, đạn 300. Thực tế tiêu thụ (tấn): gạo 14.950, thịt 577, đạn 1.450.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:53:09 pm

5. Những nước cờ cuối cùng trong 56 ngày đêm trên chiến trường trọng điểm Điện Biên Phủ (13-3-7-5-1954)

Như trên đã nói, thấy ta chưa nổ súng tiến công, phía Pháp cho rằng ta do dự trước tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Họ không hề biết rằng vào đầu trung tuần tháng 3, chung quanh lòng chảo Điện Biên, mọi công tác chuẩn bị của ta đã hoàn thành, bộ đội đã sẵn sàng nổ súng.

Nhiệm vụ đề ra trong đợt tiến công đầu tiên là tiêu diệt ba cứ điểm Him Lam, Độc Lập và Bản Kéo, "bóc vỏ" tập đoàn cứ điểm, mở cửa tiến xuống cánh đồng Mường Thanh. Để bảo đảm tập trung ưu thế binh hoả lực hơn hẳn địch, bảo đảm cho "trận đầu phải thắng thật giòn giã", Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định lần lượt tiêu diệt từng vị trí trong từng đêm.

17 giờ ngày 13-3, quân ta nổ súng tiến công, bắt đầu Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Sau này ta được biết, trong buổi giao ban cuối cùng (trước khi ta nổ súng), các cấp chỉ huy tập đoàn cứ điểm còn tỏ ra lạc quan: "chờ đợi những trận chiến đấu gay go, đồng thời cũng chờ đợi cả chiến thắng nữa"(Y.Gra). Nhưng rồi ngay từ đợt tiến công đầu tiên, quân ta đã đặt các tướng lĩnh Pháp trước những bất ngờ liên tiếp.

Từ chỗ đánh giá quá thấp khả năng pháo binh của ta họ sớm bị bất ngờ trước tính chính xác của binh chủng hoả lực trẻ tuổi Việt Nam. Ngay từ những trận đầu, pháo binh của ta đã loại khỏi vòng chiến đấu một loạt sĩ quan chỉ huy các cứ điểm Him Lam, Độc Lập và phân khu trung tâm. Nhiều máy bay trên sân bay trung tâm và một kho xăng bị bốc cháy. Từ chỗ khoác lác "khoá mõm pháo binh Việt Minh ngay từ loạt đạn đầu" đến chỗ viên chỉ huy pháo binh địch bị bất ngờ vì "tỏ ra bất lực trong nhiệm vụ phản pháo". Còn không quân, một phần vấp phải hoả lực pháo cao xạ của ta, một phần bị lừa bởi các trận địa giả nên dù lồng lộn trên bầu trời, nhưng bom thả đều không trúng đích.

Từ chỗ đánh giá quá cao khả năng đề kháng của các cứ điểm được coi là "vững chắc nhất của tập đoàn cứ điểm" với những "đơn vị kiên cường thiện chiến và có tinh thần chiến đấu rất tốt" đến chỗ bất ngờ và không giải thích nổi vì sao "những đơn vị cự phách này lại có thể bị đè bẹp chỉ trong vòng vài giờ". Từ chỗ quá tin vào khả năng phản kích chiếm lại các cứ điểm đã mất, vậy mà sau khi được tăng viện hai tiểu đoàn "Đờ Cátxtơri vẫn phản ứng rất yếu ớt". Cả hai cứ điểm Him Lam và Độc Lập "không được cứu viện kịp thời... vì các trận phản kích không được dự kiến và chuẩn bị trước... Cuộc phản kích lên hướng cứ điểm Độc Lập của một tiểu đoàn và sáu xe tăng đã nhanh chóng bị đẩy lùi...".

Nava đặt hết lòng tin vào những sĩ quan được trao nhiệm vụ giữ tập đoàn cứ điểm, vậy mà chỉ sau hai tuần, viên đại tá cầm đầu tập đoàn cứ điểm đã "tỏ ra mệt mỏi và lo âu... để cho mình bị chìm đắm trong không khí bi quan và sự kinh hoàng". Còn Tham mưu trưởng Kenle thì "tinh thần nao núng đến mức bị đuổi về Hà Nội"... Tư lệnh pháo binh Pirôt đã "tự sát vì thất vọng, không thực hiện được lời cam kết của mình là làm câm họng pháo binh đối phương"...

Sau khi quân ta nổ súng tiến công Điện Biên Phủ, Nava vẫn đang lúng túng trước nguy cơ thất bại của cuộc hành binh Axen ở Quy Nhơn, còn Cônhi thì lo đối phó với hoạt động mạnh của ta ở đồng bằng sông Hồng. Vậy là Đờ Cátxtơri ở vào tình thế "phải tự mình xoay xở. Hắn ta không có những hoạt động đối phó với những thất bại đầu tiên... khiến người ta có cảm tưởng là hắn trút trách nhiệm chủ yếu của mình cho cấp dưới".

Nếu đối với ta, khi ba cứ điểm phía bắc bị tiêu diệt tức là quân ta mới mở toang cửa của tập đoàn cứ điểm để chuẩn bị tiến xuống cánh đồng thì phía Pháp đã vi cho rằng "trận giao chiến của quân viễn chinh có lẽ sẽ thất bại, trừ phi có một hành động giải toả từ bên ngoài tập đoàn cứ điểm". Bởi vậy, trong khi Tham mưu trưởng quân đội Pháp, tướng Êly bay sang Oasinhtơn để cùng những tên diều hâu Mỹ Đalét và Rátpho bàn kế hoạch can thiệp bằng không quân Mỹ vào Điện Biên Phủ (kế hoạch Diều hâu) thì ngày 19-3, Đờ Cátxtơri điện cho Cônhi: "Tôi cho rằng việc mất Điện Biên Phủ, mất phân khu nam Hồng Cúm là không thể tránh được trong một thời gian ngắn. Phải tính đến chuyện cử Lalăngdơ (chỉ huy phân khu nam Hồng Cúm) cố gắng đi tìm con đường sang Lào để rút lui"1.

Về phía ta, sau đợt tiến công thứ nhất, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận định: quân địch còn rất đông, pháo binh và không quân của chúng vẫn hoạt động mạnh. Trước mặt quân ta lúc này là gần 40 cứ điểm liên kết với nhau chặt chẽ trên cánh đồng bằng phẳng, dưới sự che chở của các vị trí trên các điểm cao chạy dài suốt phía đông. Trong hội nghị ngày 20-3, một vấn đề rất quan trọng được đặt ra để giải quyết là: Trong điều kiện nói trên, làm thế nào để tiếp cận địch và chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm. Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương nhanh chóng xây dựng trận địa bao vây và tiến công.

Thế là một quá trình chiến đấu mới bắt đầu. Các chiến hào từ trên các triền núi cao dần dần đổ xuống cánh đồng và không ngừng toả lan trên mặt ruộng. Trận địa càng tiến sát vị trí địch, chúng càng ra sức dùng pháo binh, máy bay phá hoại và dùng bộ binh xe tăng phản kích. Mặc dù phải liên tục chiến đấu gian khổ và căng thắng nhưng chỉ sau 10 ngày, vào hạ tuần tháng 3, chiến hào của quân ta đã dài khoảng 100 km, vây tròn lấy phân khu trung tâm (Mường Thanh) và khu nam (Hồng Cúm), cắt rời hoàn toàn hai khu này. Một số chiến hào đã bò đến giáp hàng rào của các điểm cao phía đông.

Sau này, chính người Pháp cũng phải thừa nhận rằng quân đội của họ "cố ngăn cản sự phát triển của mạng lưới hầm hào này đang bóp nghẹt Điện Biên Phủ, nhưng cả những loạt đạn pháo nổ trên không, cả những đợt súng cối bắn tập trung ban đêm... cũng không cản nổi các chiến hào của Việt Minh phát triển... Tập đoàn cứ điểm, sớm bị vây hãm từ xa bởi một "tập đoàn cứ điểm" khác đang ngày càng siết chặt chiếc thòng lọng của nó...” Việc đối phó với sự phát triển các chiến hào của ta đã thu hút lực lượng không quân Pháp đến mức chúng "phải huỷ bỏ các cuộc công kích vào đường giao thông... Không một quả bom nào được ném xuống đường trục tiếp tế trong suốt thời kỳ này (nửa cuối tháng 3), thời kỳ mà Việt Minh bổ sung các kho đạn dược của họ...".

Quân Pháp vừa cố ngăn chặn các chiến hào của ta phát triển vừa "lợi dụng tình trạng lắng dịu kéo dài" (giữa hai đợt tiến công của ta) để củng cố công sự, bổ sung trang bị, xây thêm những điểm tựa mới ở đông - bắc khu trung tâm, bổ sung cán bộ chỉ huy.

Nhưng khó khăn của Pháp về tiếp tế đã sớm bộc lộ. Sân bay trung tâm đã hoàn toàn nằm trong tầm hoả lực của ta, "cầu hàng không được xem như hoàn toàn bị gián đoạn... bắt đầu những cuộc thả dù bấp bênh và tốn kém, làm sai lạc mọi dự kiến về hậu cần... Vì hoả lực phòng không của Việt Minh trở nên dữ dội đến mức các máy bay phải thả dù từ độ cao lớn hoặc trong những điều kiện rất nguy hiểm...".

Về phía ta, sau đợt một và trong suốt nửa cuối tháng 3, Bộ Chỉ huy chiến dịch vừa củng cố bộ đội, vừa bổ sung trang bị, nghiên cứu kế hoạch tác chiến mới. Đó là kế hoạch mở đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm bằng cách tập trung lực lượng tiêu diệt toàn bộ quân địch trên các điểm cao phía đông. Những điểm cao này là khu vực phòng ngự then chốt của cả phân khu trung tâm, quyết định số phận toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Tiến công vào khu vực này là một trận công kiên to lớn chưa từng có của quân đội ta.
______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1979, tr.378.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:54:24 pm

Ngày 30-3, đợt tiến công thứ hai bắt đầu.

Nếu trong những giờ đầu, quân ta phát triển khá thuận lợi thì sau đó cuộc chiến đấu tiến triển chậm dần lại. Sau khi được tăng viện thêm một tiểu đoàn biệt kích dù, địch dồn toàn bộ lực lượng ứng chiến từ Mường Thanh lên phản kích, ra sức bảo vệ những điểm cao chúng còn chiếm giữ, đặc biệt là quyết tâm bảo vệ vị trí then chốt A1 bằng mọi giá.

Sau bốn ngày chiến đấu, quân ta đã chiếm được bốn trong năm điểm cao phía đông, thu hẹp thêm phạm vi chiếm đóng và không phận của địch ở phía tây và phía bắc vào tới giáp sân bay, nhưng quân ta chưa hoàn thành được đầy đủ nhiệm vụ đề ra cho đợt hai.

Đợt tiến công vừa qua không những đã làm bộc lộ một số nhược điểm của ta trước một cuộc chiến đấu quy mô lớn mà còn chứng tỏ thực lực ta chưa hơn hẳn địch. Chúng vẫn ưu thế tuyệt đối về không quân; hoả lực của chúng còn khá mạnh, pháo binh của chúng hoạt động ráo riết. Từ ngày 6-4, khi ta tạm ngừng đợt tiến công thứ hai, địch đã tổ chức lại việc phòng thủ.

Mặc dù Bộ Chỉ huy chiến dịch trước sau vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, nhưng một vấn đề cấp thiết lại được đặt ra: tiếp tục đánh địch bằng cách nào? Phải tìm ra cách đánh thích hợp với trình độ tác chiến và tình hình sức khoẻ (bắt đầu giảm sút) của bộ đội. Phải làm sao khoét sâu thêm nhược điểm của địch, hạn chế sức mạnh của chúng, giảm bớt thương vong của ta và đẩy dần quân địch đến chỗ nhất định bị tiêu diệt.

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng mọi mặt, Bộ Chỉ huy chiến dịch chủ trương tiếp tục củng cố và phát triển trận địa tiến công và bao vây vào gần địch hơn nữa; tiếp tục đánh chiếm thêm một số vị trí của địch nhằm từng bước thắt chặt thêm vòng vây, tiến tới đánh chiếm sân bay nhằm triệt hẳn tiếp tế và tăng viện của địch, uy hiếp mạnh hơn nữa tung thâm của chúng và tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch.

Trong suốt 20 ngày cuối tháng 4, quân ta đã vận dụng nhiều hình thức hoạt động rất linh hoạt, sáng tạo và có hiệu quả để thực hiện chủ trương trên đây. Cụ thể là:

- Phát triển trận địa tiến công và bao vây vững chắc, ngày càng tiến sát gần địch, hạn chế uy lực máy bay và pháo binh của chúng.

- Phát triển mạnh chiến thuật đánh lấn, lần lượt tiêu diệt các vị trí chung quanh sân bay Mường Thanh, từng bước tiếp cận sân bay và cuối cùng, từ hai hướng đông và tây tiến vào cắt ngang và làm chủ sân bay.

- Tổ chức các đội thiện xạ, dùng hình thức bắn tỉa tiêu diệt bất cứ tên địch nào ló đầu ra khỏi cứ điểm, gây nên một nỗi khủng khiếp từng ngày, từng giờ đối với địch.

- Tìm mọi cách triệt nguồn tiếp tế và tăng viện của địch. Pháo cao xạ hoạt động tích cực và có hiệu quả, buộc máy bay địch phải thả dù tiếp tế ở độ cao lớn, khiến cho ngày càng nhiều dù rơi vào khu vực ta. Ta đã dùng hoả lực các cỡ ngăn chặn không cho địch ra nhặt dù, đồng thời phát động phong trào đoạt dù của địch, lấy lương thực, đạn được bổ sung một phần cho ta. Như sau này địch thú nhận, máy bay của chúng đã "tiếp tế" cho ta chừng 5.000 viên đạn lựu pháo 105 ly. Về tăng viện, do số quân bị loại khỏi vòng chiến mỗi ngày lên tới 100 - 120 người, yêu cầu tăng viện thay thế ngày càng lớn. Khu vực nhảy dù đã bị thu lại quá hẹp nên quân dù phải nhảy trực tiếp xuống những khoảng đất đã bị đạn pháo cày xới ngay trong phân khu trung tâm, đầy dây thép gai. Nhiều tên bị bạt ra khu vực của ta.

"Phương pháp vây hãm bằng hệ thống chiến hào cuối cùng hoàn toàn quấn chặt lấy từng điểm tựa, giống như con nhện bắt một côn trùng trong mạng nhện. Vị trí trở nên bị phong toả cô lập và nhanh chóng bị bóp nghẹt vì thiếu đạn dược, thực phẩm và nhất là thiếu nước", một tình trạng căng thẳng, khủng khiếp mà sau này (khi đã bị bắt làm tù binh), tướng Đờ Cátxtơri đã phải thú nhận là quân Pháp không còn có thể chịu đựng nổi.

Tuy nhiên, về phía ta, sau đợt hai, chúng ta cũng phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng do chiến dịch kéo dài đặt ra. Ngoài vấn đề cốt yếu là tiếp tục nghiên cứu cách đánh sao cho phù hợp với thế trận và so sánh lực lượng, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã tập trung chỉ đạo khắc phục những trở ngại đối với việc giữ vững và phát huy sức mạnh và hiệu quả chiến đấu của bộ đội.

Khó khăn hàng đầu mà Bộ Chỉ huy chiến dịch đặc biệt quan tâm giải quyết là vấn đề tiếp tế. Do những trận mưa đầu mùa và do địch ra sức đánh phá đường tiếp tế cho nên có lúc công tác hậu cần trở nên nóng bỏng (có ngày, có khẩu pháo chỉ còn ba viên đạn; có đêm, gạo nhập kho mặt trận không được đầy một tấn). Trung ương Đảng lãnh đạo và động viên toàn dân dốc sức chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ. Riêng tại mặt trận, cán bộ ngành hậu cần đã phát huy tinh thần khắc phục những khó khăn vượt xa sức của mình. Cuối cùng, vấn đề tiếp tế đã được giải quyết một cách cơ bản trước khi quân ta bước vào đợt tiến công thứ ba.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:56:29 pm

Về mặt chính trị tư tưởng, sau 5 tháng chuẩn bị và thực hành chiến đấu liên tục và căng thẳng, đúng vào lúc quân ta đang đứng trước một thử thách to lớn để giành thắng lợi hoàn toàn trong nhiệm vụ tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì có "một số hiện tượng không bình thường bắt đầu xuất hiện trong việc chấp hành nhiệm vụ chiến đấu của cán bộ"1. Đảng uỷ mặt trận đã kịp thời phát động một đợt học tập nhằm quán triệt quyết tâm của Trung ương, khắc phục mọi tư tưởng mệt mỏi, mọi biểu hiện hữu khuynh tiêu cực, nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng của cán bộ và bộ đội, hoàn thành nhiệm vụ Đảng giao.

Trải qua chừng ba tuần tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của đợt hai và chuẩn bị điều kiện bước vào đợt ba, quân ta đã tạo mọi yếu tố thuận lợi cần thiết cho đợt chiến đấu mới.

Như người Pháp sau này thú nhận, đợt tiến công thứ ba của ta bắt đầu vào thời điểm mà quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm chỉ còn chừng 3.000 quân đủ sức chiến đấu ở phân khu trung tâm và 1.200 tên ở phân khu nam (trong tổng số gần 10.000 quân còn lại đó), cùng với 3 xe tăng, 19 khẩu pháo 105 ly, 1 khẩu 55 ly, 15 khẩu cối 120 ly, với số đạn đủ cho hai, ba ngày chiến đấu liên tục. Đó là tất cả những gì còn lại sau 48 ngày chiến đấu của 16.200 quân, kể từ khi cuộc tiến công của ta bắt đầu.

Sau khi đợt tiến công thứ hai của ta chấm dứt, Nava chỉ thị cho Bộ Tham mưu Pháp chuẩn bị kế hoạch Chim ưng chừng 8.0 quân, do tướng Cônhi trực tiếp chỉ huy, vượt biên giới Việt Lào sang giải vây cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Tướng Đờ Cátxtơri được thông báo kế hoạch này vào ngày 14-4 khi mà vòng vây của ta đã siết chặt, quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm đã ở vào thế "trong không ra được, ngoài không vào được". Kế hoạch đánh tháo không thành, nhưng nhiều sĩ quan Pháp ở Điện Biên Phủ vẫn còn nuôi hy vọng. Người này chờ đợi mùa mưa sẽ chặn đứng cuộc tiến công của ta. Người khác hướng sang Thụy Sĩ, nơi Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương sắp họp. Riêng đại tá Lănggle, người nắm thực quyền chỉ huy lúc này, cho rằng "chỉ cần giữ vững một tháng nữa, thậm chí chỉ 20 ngày nữa là thắng". Sự cố gắng kéo dài trận chiến đấu đã trở thành cứu cánh cuối cùng của quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Về phía ta, quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch là tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trước mùa mưa, làm cho đế quốc Mỹ không kịp can thiệp, quân Pháp không còn khả năng rút chạy và để kịp phối hợp với cuộc đấu tranh ngoại giao ở Giơnevơ. Cuối tháng 4, mọi công tác chuẩn bị cho đợt tiến công mới đã hoàn tất. Đêm 1-5, đợt ba của chiến dịch bắt đầu.

Ngay trong đêm đó, bốn vị trí địch ở phân khu trung tâm bị diệt. Cứ như thế, từ ngày 2 đến ngày 6, vùng đất và vùng trời của địch không ngừng bị thu hẹp, quân số và tinh thần chiến đấu của chúng bị giảm sút nhanh chóng. Ngày 4-5, thêm một kế hoạch tháo chạy được phổ biến cho tướng Đờ Cátxtơri, kế hoạch Chim biển. Theo kế hoạch này, một tiểu đoàn dự bị chiến lược sẽ được ném xuống Điện Biên Phủ để cùng lực lượng tại chỗ giải vây rút chạy sang hướng Thượng Lào. Chừng sáu tiểu đoàn khác tạo thành một hành lang ở biên giới Việt - Lào để đón quân từ Điện Biên Phủ chạy sang. Nhưng ngày 6-5, tình thế của quân Pháp ở Điện Biên Phủ "đã ở vào đỉnh cao của sự tồi tệ". Chúng bị dồn trong 20 cứ điểm còn lại, dưới sự che chở không còn hiệu lực của vài điểm cao phía đông. Trong khi đó, về phía ta, việc chuẩn bị đường hầm để vào đặt khối thuốc nổ lớn nhằm phá hầm ngầm trong cứ điểm A1 đã hoàn thành. Đêm 6-5, khối bộc phá 1.000 kg đã phá sập điểm cao cuối cùng, "chiếc chìa khoá của tập đoàn cứ điểm" đã lọt vào tay quân ta.

Ngày 7-5, từ buổi sáng, nhiều triệu chứng cho thấy quân địch đã rối loạn. Ở một số nơi, đã có những lá cờ trắng xuất hiện. Rõ ràng tinh thần quân địch đã hoàn toàn tan rã. Quân ta được lệnh không chờ đến tối, chuẩn bị nắm ngay thời cơ thuận lợi, lập tức mở cuộc tổng công kích vào tập đoàn cứ điểm. 17 giờ 30 quân ta đánh chiếm Sở Chỉ huy của địch. Đờ Cátxtơri và toàn bộ Bộ Tham mưu của hắn bị bắt sống. Ngay đêm đó, toàn bộ quân địch ở phân khu nam bị bắt trong lúc chúng đang tìm đường rút chạy sang Thượng Lào.

Quân ta đã giành toàn thắng ở Điện Biên Phủ một ngày trước khi Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương khai mạc.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr.76.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 02 Tháng Giêng, 2022, 09:57:30 pm

*

*        *

Cuộc đấu trí cuối cùng giữa hai bộ thống soái đã dẫn đến kết quả có ý nghĩa quyết định: thắng lợi hoàn toàn thuộc về ta, thất bại hoàn toàn thuộc về địch.

1. Thắng lợi của ta và thất bại của địch trước hết là do phương pháp khác nhau về đánh giá tình hình

Bộ Thống soái địch luôn luôn chủ quan, đánh giá quá cao khả năng "chuyển bại thành thắng" của khối chủ lực mới được xây dựng, tính chất "bất khả xâm phạm" của tập đoàn cứ điểm, sức mạnh của vũ khí, trang bị, công sự kiên cố, khả năng tiếp tế và tăng viện. Họ đánh giá thấp khả năng hoạt động trên nhiều hướng chiến lược cũng như khả năng đánh công sự vững chắc của chủ lực ta, đánh giá sai khả năng khắc phục những khó khăn về vận tải tiếp tế của ta. Trong khi đó, chúng ta đánh giá khách quan đúng đắn chỗ mạnh, chỗ yếu cả về vật chất và tinh thần của địch, về khả năng của quân và dân ta, để tìm ra biện pháp hạn chế từng bước, tiến tới vô hiệu hoá mặt mạnh, khoét sâu mặt yếu của chúng, phát huy sức mạnh tổng hợp của ta cả ở tiền tuyến và hậu phương, cả trên chiến trường chính và chiến trường phối hợp... nhằm làm thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta để giành thắng lợi cả về chiến lược và chiến dịch.

2. Thắng lợi của ta và thất bại của địch còn là kết quả phán đoán đúng sai chủ trương chiến lược của đối phương

Trong thời gian dài, Bộ Thống soái địch đinh ninh rằng ta mở tiến công chiến lược vào đồng bằng trong khi ta đã sớm xác định chọn hướng chiến lược trên chiến trường rừng núi. Và mở hàng loạt chiến dịch tiến công trên hướng đó, làm cho khối dự bị chiến lược của địch bị chia năm sẻ bảy. Địch cho rằng ta do dự trước sức mạnh của tập đoàn cứ điểm nhưng thực ra, từ giữa tháng 12-1953 ta vẫn kiên trì quyết tâm chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược. Địch muốn "ra tay" trước để thăm dò động tĩnh của ta và buộc ta phải thay đổi kế hoạch chiến lược, nhưng ta vẫn để các binh đoàn chủ lực "ẩn lặng như tờ" không tung lực lượng ra đối phó bị động. Địch định giành bất ngờ chiến lược bằng cuộc hành quân Átlăng mà không hề biết rằng ta đã dự kiến đúng ý đồ chiến lược của chúng và đã có kế hoạch chỉ đạo chủ lực Khu V chủ động mở chiến dịch giải phóng bắc Tây Nguyên, phá kế hoạch tiến công của địch vào vùng tự do. Tiếp đó, cuộc tiến công của Đại đoàn 308 sang hướng Thượng Lào; sự xuất hiện trọng pháo ở mặt trận Điện Biên Phủ, việc đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng sau lưng địch làm tê liệt các đơn vị "cơ động" còn lại của chúng ở đồng bằng sông Hồng... là những sự kiện hoàn toàn bất ngờ, ngoài tầm phán đoán của địch.

3. Thắng lợi của ta và thất bại của địch còn do khả năng vận dụng cụ thể nghệ thuật chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến lược, chiến dịch của mỗi bên

Với kế hoạch Nava, trước mắt Bộ Thống soái địch nuôi hy vọng xây dựng được khối cơ động chiến lược mạnh, tránh giao chiến với ta trên chiến trường miền Bắc, thực hành tiến công chiến lược ở miền Nam. Nhưng trong thực tế, Nava không thoát khỏi những mâu thuẫn vốn có từ đầu cuộc chiến tranh. Đó là mâu thuẫn giữa quân số ngụy càng tăng thì chất lượng chiến đấu của địch càng giảm, mâu thuẫn giữa rải quân ra chiếm đóng đất đai và tập trung lực lượng, giữa tiến công và phòng ngự chiến lược, giữa củng cố chiến trường đồng bằng với chiếm đóng chiến trường rừng núi, giữa tham vọng lớn của Bộ Thống soái với tinh thần ngày càng bạc nhược của binh lính... Mặc dù rêu rao "tinh thần chủ động tiến công" nhưng khả năng thực tế không cho phép Nava "đảo lộn thế cờ" theo ý muốn.

Trong khi đó, mọi công tác chuẩn bị chiến lược của ta được triển khai rất sớm đều hướng vào mục tiêu "đập tan kế hoạch Nava". Bằng các đòn tiến công liên tục và xen kẽ trên nhiều hướng chiến lược trong đợt một của chiến cuộc Đông Xuân, bằng quyết tâm chọn điểm quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ, bằng phương châm chiến dịch đúng đắn và chỉ huy tác chiến chính xác (chọn thời cơ mở màn chiến dịch, cách đánh "bóc vỏ" trong đợt một, cách đánh linh hoạt sáng tạo sau đợt hai, biết chớp thời cơ chuyển sang tổng công kích trước thời gian dự kiến, cũng như sự chỉ đạo các chiến trường phối hợp "chia lửa" với mặt trận chính...), tất cả đều nói lên sự chỉ đạo, chỉ huy sắc sảo của Tổng Quân uỷ trong suốt chiến cuộc Đông Xuân cũng như riêng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 10:37:01 pm

TƯ DUY QUÂN SỰ NHỎ ĐÁNH LỚN
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1



Đại tá, TS. LÊ BẰNG
Truởng ban Tổng kết chiến lược Bộ Quốc phòng

Các nhà chiến lược Pháp và Mỹ đã đúng khi coi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một pháo đài bất khả xâm phạm. Từ Thủ tướng nước Cộng hoà Pháp Lanien, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp Eli cho đến Đại tướng Nava, Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đều thống nhất rằng "phòng giữ Điện Biên Phủ bằng bất cứ giá nào".

Ngay tướng Ô. Đanien, người đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ một nước đến lúc này đã chi trả 80% chiến phí của nước Pháp ở Đông Dương, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, sau khi thị sát trận địa, cũng có chung một quan điểm như trên. Điều đó dễ hiểu. Vì Điện Biên Phủ hiện diện với những phát triển mới của phòng ngự hiện đại được đúc kết từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) – hệ thống phòng ngự bằng nhiều trung tâm đề kháng, bằng sự liên kết chặt chẽ giữa nhiều cụm cứ điểm, cùng hệ thống hoả lực và hệ thống lực lượng cơ động kết hợp chặt chẽ với các chiến trường có liên quan.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thực sự là tập đoàn phòng ngự mạnh nhất lúc bấy giờ ở Đông Dương. Tổ chức phòng ngự Điện Biên Phủ với diện tích rất lớn tới khoảng 126 km2 (18 km x 7 km). 49 cứ điểm được tổ chức thành nhiều cụm cứ điểm - "trung tâm đề kháng theo kiểu phức tạp", vừa có khả năng phòng ngự độc lập khá mạnh, vừa tạo thế phòng ngự liên hoàn khó chia cắt. Toàn thể trận địa phòng ngự, các "trung tâm đề kháng" lại được liên kết chặt chẽ bởi tổ chức phân khu; có ba phân khu: phân khu bắc gồm các cứ điểm ngoại vi, tiêu biểu là đồi Độc Lập, đồi Bản Kéo; phân khu trung tâm - Mường Thanh, châu lỵ Điện Biên Phủ; phân khu nam - phân khu Hồng Cúm. Hệ thống hoả lực mặt đất và trên không của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ khá mạnh. Hai tiểu đoàn pháo 105 ly, một đại đội pháo 155 ly, hai đại đội súng cối 120 ly, tổng cộng khoảng 40 nòng pháo và súng cối từ 100 ly trở lên, với hai căn cứ hoả lực cơ bản là Mường Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay, sáu đến tám máy bay cường kích, sáu máy bay trinh sát - liên lạc, một máy bay lên thẳng khống chế hoàn toàn không phận Điện Biên Phủ và các vùng trời lân cận. Điện Biên Phủ có thể tiếp nhận từ 300 - 480 tấn hàng/ngày từ các sân bay trong vùng kiểm soát và được sự yểm trợ trên không của máy bay chiến đấu, ném bom cất cánh tại các sân bay của quân Pháp ở Bắc Bộ và Thượng Lào. Hơn một phần ba lực lượng cơ động của quân Pháp trên chiến trường Bắc Bộ được bố trí tại Điện Biên Phủ (17/44 tiểu đoàn) gồm những đơn vị tinh nhuệ bậc nhất của tướng Nava...

Theo quan điểm của các nhà quân sự phương Tây và Bắc Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam không có khả năng tiến công tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm như Điện Biên Phủ. Trước hết vì Quân dội nhân dân Việt Nam không có những phương tiện tiến công tương ứng, như không có không quân để yểm trợ trên không, để oanh tạc sân bay, để vận chuyển lương thực, đạn dược từ hậu phương xa đến chiến trường. Không có cả xe tăng, xe bọc thép làm lực lượng đột kích chủ yếu khi công phá các cứ điểm, các cụm cứ điểm để dẫn bộ binh đánh chiếm lần lượt các cứ điểm, và đánh lực lượng đối phương phản kích; không đủ hoả lực pháo để khống chế toàn bộ hệ thống phòng ngự của đối phương, nhất là chế áp pháo binh của quân Pháp để chi viện cho bộ binh xung phong nhiều đợt với mật độ cao... Không có lực lượng phòng không đủ sức mạnh để bảo vệ đội hình chiến dịch, đánh trả có hiệu lực những cuộc tập kích hoả lực bằng không quân của đối phương...

Các nhà chiến lược ở Pari, Luân Đôn và Oasinhtơn lại càng đúng khi nói rằng, không thể tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, nếu Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương tiến công tập đoàn này theo nghệ thuật tiến công thông thường, nghệ thuật tiến công mà các học viện quân sự nổi tiếng ở châu Âu và Bắc Mỹ đã nghiên cứu, giảng dạy từ lâu. Chính vì thế mà Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chọn cách đánh khác cách đánh của mọi quân đội thông thường. Đó là cách đánh mà các học viện quân sự của Pháp, Mỹ cũng như Anh chưa từng nghiên cứu và giảng dạy – cách đánh của chiến tranh nhân dân, nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều.

Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã từng có phương án tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Theo phương án này, Quân đội nhân dân Việt Nam sẽ tập trung ưu thế binh lực và hoả lực, đồng thời tiến công vào tập đoàn phòng ngự của quân Pháp bằng nhiều hướng, hướng đông và hướng bắc là hướng chính, tiến công một mạch vào sâu trong tổ chức phòng ngự, chia cắt tập đoàn phòng ngự của địch, cô lập từng bộ phận của chúng, tập trung lực lượng và phương tiện đánh vào chỗ địch sơ hở và hiểm yếu nhất của tổ chức phòng ngự, nhằm tiêu diệt bộ phận lực lượng quan trọng của quân Pháp, tạo nên sự chuyển biến để hoàn thành nhiệm vụ của chiến dịch là tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Với phương án này, thời gian chiến dịch sẽ rút ngắn đi rất nhiều. Cuộc chiến đấu quyết liệt chỉ diễn ra khoảng ba đêm hai ngày. Do đó, bộ đội ta đang sung sức, có đủ sức khoẻ để chiến đấu tốt; lượng tiêu thụ đạn dược, lương thực không quá lớn, nên có thể bảo đảm tiếp tế được,...

Song về cơ bản, phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" không phù hợp với thực tế là kẻ địch đã được tăng cường và điều kiện của quân đội ta lúc đó. Vì thế, ngày 25-12-1953, Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch, trực tiếp là đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch, quyết định bỏ phương án "đánh nhanh, giải quyết nhanh" và đề ra phương án "đánh chắc, tiến chắc".

Đương nhiên, thực hiện phương án "đánh chắc, tiến chắc" đâu có phải là giản đơn, càng không phải là "dễ dàng, thoải mái" hơn phương án "đánh nhanh, thắng nhanh". Trái lại, phương án "đánh chắc, tiến chắc" phản ánh một quá trình tư duy quân sự và xử lý thực tiễn vừa thống nhất vừa đầy mâu thuẫn, phức tạp và có liên quan đến toàn cục. Đó cũng là một quá trình tổ chức đầy sức sống, chặt chẽ và rộng lớn. Vì thế, nó là đỉnh cao của tư duy quân sự sáng tạo trong "15 phút đọ sức cuối cùng" của cuộc chiến tranh trường kỳ với bộ máy quân sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân.

Để đánh chắc, tiến chắc, phải làm cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ không nhận được sự tăng cường, nhất là tăng cường đột biến về binh lực của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Nghĩa là phải phá vỡ và phân tán triệt để khối lực lượng cơ động của tướng Nava. Đây là quá trình chỉ đạo chiến lược đúng đắn, kiên quyết và tài giỏi của Bộ Chính trị Đảng ta và Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trên các chiến trường đã buộc địch phái phân tán lực lượng cơ động ra năm nơi: đồng bằng Bắc Bộ, Điện Biên Phủ, Xênô (Trung Lào), Plâycu - nam Tây Nguyên và Luông Prabăng (Thượng Lào). Rõ ràng, Bộ Chỉ huy của tướng Nava đã buộc phải hành động theo ý định của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam - phân tán khối lực lượng cơ động của mình, và bị tước đi khả năng tăng cường đột biến binh lực cho Điện Biên Phủ. Mà khối lực lượng cơ động chiến lược này là ước mơ của tướng Nava, là chủ bài của ông ta để lật lại thế cờ có lợi cho quân Pháp. Bị mất đi lực lượng cơ động chiến lược, Đại tướng Tổng Tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp không thể thực hiện được ý định của mình là "luôn luôn chủ động", "luôn luôn tiến công" như lời tuyên bố của ông ta lúc mới nhậm chức. Có nghĩa là ông ta mất khả năng cứu giữ Điện Biên Phủ bằng cách tăng cường binh lực đột biến cho nó, hoặc mở chiến dịch tiến công lớn ở một hướng chiến lược nào đó, buộc Quân đội nhân dân Việt Nam phải rút lực lượng và phương tiện ở Điện Biên Phủ để đối phó. Đó cũng là sự phối hợp các chiến trường một cách kỳ tài. Phối hợp chiến trường Việt Nam với chiến trường Lào; phối hợp chiến trường miền Nam, miền Trung với chiến trường miền Bắc; phối hợp chiến trường vùng địch tạm kiểm soát với chiến trường tiến công trực diện; phối hợp chiến trường chính và chiến trường hỗ trợ, phối hợp chiến trường chiến tranh du kích với chiến trường chiến tranh chính quy. Điều đó đã khiến cho gần nửa triệu quân Pháp và nguỵ, cùng 500 máy bay các loại, gần 1.000 xe tăng và xe bọc thép, hàng trăm tàu chiến bị phân tán, dàn mỏng ra khắp Đông Dương, chịu để cho Quân đội nhân dân Việt Nam tập trung những lực lượng mạnh nhất của mình tiêu diệt tập đoàn phòng ngự Điện Biên Phủ.
______________________________________________
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 04 Tháng Giêng, 2022, 11:43:38 pm

Đánh chắc, tiến chắc ở Điện Biên Phủ được thực hiện theo lối đánh gần độc đáo. Không nên hiểu đánh gần chỉ là đánh giáp lá cà, bò sát, chui vào hàng rào, đến đánh bộc phá vào các công sự và sử dụng hoả lực bắn thẳng, lựu đạn để tiêu diệt địch trong các trận chiến đấu. Đây là lối "đánh gần chiến dịch". Cách tiến công một tập đoàn cứ điểm khi ta không có những phương tiện tiến công địch từ xa, phương tiện đột kích mạnh như xe tăng, pháo tự hành, phương tiện cơ động hiện đại như máy bay, xe bọc thép, hoặc thiếu phương tiện hoả lực để khống chế và bảo vệ đội hình chiến dịch, chiến đấu từ trên không.

Nét đặc sắc của lối đánh gần độc đáo của Điện Biên Phủ là vây, lấn, chia cắt quân đối phương. Tập đoàn phòng ngự của quân Pháp ở Điện Biên Phủ là một hệ thống phòng ngự trận địa rộng lớn, có nhiều cứ điểm, chia thành nhiều cụm cứ điểm, nhiều phân khu. Đây là hệ thống phòng ngự vừa có sức đề kháng độc lập cao. vừa có thế liên hoàn chặt chẽ. Một cứ điểm nào bị đánh chiếm, các cứ điểm khác trong cụm có thể tổ chức đánh chiếm lại, một phân khu nào bị tiến công, các phân khu khác có thể chi viện cả bằng binh lực và hoả lực. Đặc biệt, đối phương có ưu thế tuyệt đối về không quân và xe tăng, xe bọc thép. Quân tiến công rất dễ dàng bị đánh bật khỏi vị trí mới chiếm được bởi lực lượng ưu thế trên đây của quân phòng ngự.

Song, cách đánh vây lấn, chia cắt và áp sát đội hình chiến dịch, chiến đấu của đối phương, đã tước bỏ khả năng trên của quân Pháp. Quân ta đã thực hiện bao vây Điện Biên Phủ bằng cả bao vây lớn - bao vây chiến dịch và bao vây nhỏ - vây, lấn chiếm, chia cắt từng cứ điểm và cụm cứ điểm. Khi ta tiến công các cứ điểm ngoại vi như Him Lam và Độc Lập, lực lượng ta đã vây chặt đường số 41 từ trung tâm Mường Thanh lên, và chặn đứng các lực lượng của địch ở phía bắc sân bay. Đồng thời dùng hoả lực pháo ngăn chặn các cuộc phản kích của địch từ trung tâm ra; bao vây uy hiếp luôn cứ điểm Bản Kéo, khiến chúng phải kéo một bộ phận ra hàng.

Sau khi diệt phân khu bắc và cứ điểm ngoại vi Him Lam, quân ta phát triển thế trận tiến công và bao vây vào sát phân khu trung tâm Mường Thanh. Điều nổi bật là, ta xây dựng cả trận địa tiến công và trận địa bao vây để thực hiện đòn tiến công thứ hai. Cả một hệ thống trận địa tiến công, đường hào, hầm ếch, công sự hoả lực, đến cơ động lực lượng, nơi ăn, ngủ, vệ sinh được xây dựng, phát triển và lấn dần vào phía cứ điểm của địch. Quân ta bao vây, tiếp cận các mục tiêu tiến công từng bước bằng đường hào, bằng công sự chiến đấu như những thòng lọng thít dần vào cổ họng đối phương. Điều đó vừa tạo nên thế uy hiếp, kiểm soát đối phương ngày càng lớn, vừa giảm hiệu lực của không quân và pháo binh địch vì khoảng cách giữa ta và địch ngày càng ngắn. Bằng hệ thống công sự chiến đấu, ẩn nấp, sinh hoạt, đường hào đi lại, quân ta ung dung chiến đấu liên tục cả ngày lẫn đêm ngay trên một địa hình bằng phẳng.

Cũng bằng hệ thống trận địa tiến công và trận địa bao vây, quân ta đã chia cắt, cô lập cứ điểm này với cứ điểm khác, giữa cụm này với cụm khác. Điều "khác biệt" là, quân ta bao vây, chia cắt sân bay Mường Thanh - sân bay chính của tập đoàn cứ điểm không phải bằng không quân và hệ thống hoả lực phòng không dày đặc, mà bằng hệ thống trận địa bao vây. Chính bằng đường hào chiến đấu, quân ta đã cắt sân bay này thành hai mảnh bắc và nam không sử dụng được nữa. Cũng bằng hệ thống trận địa tiến công và trận địa bao vây, quân ta bao vây chặt phân khu nam - Hồng Cúm ra khỏi phân khu trung tâm, cô lập Điện Biên Phủ với Thượng Lào, với toàn Đông Dương...

Cách đánh vây, lấn, áp sát và chia cắt địch đã tạo ra thế uy hiếp lớn gấp đôi so với lực ta có, đã hạn chế đến mức tối đa chỗ mạnh của quân phòng ngự về không gian, cơ giới và pháo binh. Còn ta đã không tốn nhiều đạn (theo tiêu chuẩn tiến công trận địa) mà vẫn tiêu diệt cả một tập đoàn cứ điểm, bắt sống trên 10.000 quân địch.

Nét độc đáo của cách đánh gần ở Điện Biên Phủ còn là tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch, đập vỡ từng mảng phòng ngự của đối phương. Lần đầu tiên quân ta tiến công một tập đoàn cứ điểm của quân Pháp. Ta chưa có kinh nghiệm, đồng thời không có cả những phương tiện tiến công hiện đại như không quân, xe tăng, xe bọc thép. Ưu thế về bộ binh trong chiến dịch của quân ta so với đối phương chỉ là tương đối, và còn xa mới bằng ưu thế của các chiến dịch tiến công hiện đại. Cho nên ta đã lựa chọn cách đánh tiến công tiêu diệt từng bộ phận quân địch, đập vỡ từng mảng phòng ngự của đối phương, tiến lên tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Cách đánh đó cho phép ta vừa đánh vừa rút kinh nghiệm, có lượng thời gian cần thiết để chuẩn bị tăng cường lực lượng, giành thắng lợi sau lớn hơn thắng lợi trước, nhất là phù hợp với khả năng của quân ta, với so sánh lực lượng giữa ta và địch trong cuộc đọ sức cuối cùng. Trong chiến dịch này, ta thực hiện từng đợt tiến công, mỗi đợt tiến công nhằm giải quyết một phần quan trọng của mục đích chiến dịch.

Đợt tiến công thứ nhất diễn ra từ ngày 13-3-1954 đến 17-3-1954 tiêu diệt trung tâm để kháng Him Lam và phân khu bắc. Ngày 13-3-1954, quân ta tiến công tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, cụm cứ điểm nằm cách Mường Thanh 2,5 km, ngăn chặn các cuộc tiến công của ta vào vùng vành đai của phân khu trung tâm. Ngày 15-3-1954, quân ta tiếp tục tiến công cứ điểm Độc Lập, uy hiếp cứ điểm Bản Kéo. Bị tiêu diệt một bộ phận lực lượng và tổ chức phòng ngự ở phía đông - bắc và tây - bắc bị phá vỡ, quân Pháp ở Điện Biên Phủ được tăng cường thêm hai tiểu đoàn dù.

Đợt tiến công thứ hai bắt đầu từ ngày 30-3-1954 đến khoảng trung tuần tháng 4-1954 nhằm đánh chiếm các ngọn đồi phía đông áp sát khu trung tâm, cắt hết đường tiếp tế, tiếp viện, vây chặt quân phòng ngự trong một vòng vây hẹp. 17 giờ ngày 30-3-1954, pháo binh mở đầu cuộc tiến công. Các cao điểm E, D1, D2 lần lượt rơi vào tay quân ta. Riêng điểm cao A1 và C1 quân ta và quân địch quần nhau quyết liệt, giành giật qua lại nhiều lần, cuối cùng, mỗi bên chiếm một nửa... Đợt tiến công này quân ta tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, tương đương sáu tiểu đoàn, trong đó có ba tiểu đoàn bị tiêu diệt gọn. Điều quan trọng hơn là quân ta tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ của đợt tiến công thứ hai, đã lấn chiếm khu vực phòng ngự của đối phương có nơi chỉ cách cứ điểm của chúng 10 - 15 m. Nhiều vị trí của địch bị ta uy hiếp quá mạnh phải bỏ chạy, sân bay bị ta đánh chiếm hoàn toàn. Toàn bộ phân khu trung tâm Mường Thanh phơi mình dưới hỏa lực của tất cả các vũ khí của ta từ tiểu liên đến pháo 105 ly. Thả dù là biện pháp duy nhất để tiếp tế cho quân phòng ngự. Có thế nói, đợt tiến công thứ hai diễn ra rất quyết liệt kéo dài, giành giật căng thẳng giữa hai bên.

Và đợt tiến công thứ ba mở đầu đúng ngày 1-5-1954, kết thúc 17 giờ 30 ngày 7-5-1954, khi toàn bộ Bộ Tham mưu và tướng Đờ Cátxtơri bị bắt sống, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ của quân Pháp bị tiêu diệt hoàn toàn.

Các nước đế quốc to ở phương Tây và Bắc Mỹ ngỡ ngàng khi được tin Điện Biên Phủ thất thủ. Các nhà quân sự châu Âu không giải thích được làm cách nào Quân đội nhân dân Việt Nam tiêu diệt được tập đoàn phòng ngự lớn của đối phương khi họ không có máy bay, không có xe tăng, rất ít pháo cỡ lớn, lại xa căn cứ hậu phương? Những nghịch lý trong nghệ thuật quân sự của chiến tranh quy ước, cổ điển đã được Bộ Chỉ huy chiến dịch của ta xét đến và tạo nên bất ngờ cho đối phương bằng cách đánh sáng tạo, cách đánh của chiến tranh nhân dân, cách đánh lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Giêng, 2022, 11:36:27 pm

CHUYỂN PHƯƠNG CHÂM TÁC CHIẾN
TỪ "ĐÁNH NHANH, GIẢI QUYẾT NHANH"
SANG "ĐÁNH CHẮC, TIẾN CHẮC"
1

Thượng tá TRẦN VĂN THỨC
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đỉnh cao của chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp làm Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng uỷ mặt trận đã ra một quyết định, theo ông đó là "quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình"2. Và, chính quyết định đó đã góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Theo hai học giả phương Tây G. Buđaren (Boudarel) và F. Caviliôli (F. Cavigllioli), quyết định đó "có tính chất lịch sử mà những hệ quả của nó đã mở ra tương lai của Việt Nam và đã thay đổi bộ mặt thế giới thứ ba"3. Đó chính là quyết định chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc".

Trong các ngày 20 đến 23-11-1953, sau khi phát hiện bộ đội chủ lực ta hành quân lên Tây Bắc, Nava vội vã cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, từng bước biến nơi đây thành một tập đoàn cứ điểm. Và, chỉ hơn hai tuần sau đó, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp, sau khi nghe Tổng Quân uỷ báo cáo quyết tâm đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị là tập trung lực lượng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ theo nguyên tắc "đánh chắc, tiến chắc". Trước ngày Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lên đường ra mặt trận, trực tiếp chỉ huy chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: "Tổng Tư lệnh ra mặt trận. "Tướng quân tại ngoại". Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! Không chắc thắng, không đánh"4.

Theo tinh thần đó, tại hội nghị cán bộ chiến dịch, ngày 14-1-1954, ở Sở Chỉ huy lâm thời, hang Thẩm Púa, sau khi quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, phân tích chỗ mạnh, chỗ yếu của địch, những thuận lợi của ta, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã đưa ra hai phương châm tác chiến để hội nghị thảo luận. Một là, "đánh nhanh, giải quyết nhanh”, tức là tranh thủ khi địch mới chiếm đóng, chưa kịp củng cố về mọi mặt, bố trí lực lượng, trận địa chưa chặt chẽ, còn sơ sài dã chiến mà tập trung lực lượng đột phá các vị trí đóng quân của địch, có hướng đột kích chủ yếu, hướng thứ yếu, hướng phối hợp, mạnh dạn đánh sâu vào tung thâm, chia cắt, xé lẻ tập đoàn cứ điểm rồi tập trung binh lực, hoả lực mạnh hơn địch, diệt bộ phận quan trọng nhất, sau đó diệt các bộ phận khác, hoàn thành việc tiêu diệt cứ điểm trong thời gian ngắn. Hai là, "đánh chắc, tiến chắc", tức là chia chiến dịch thành nhiều đợt, từng bước tập trung binh lực, hoả lực mạnh hơn địch, tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, bảo đảm cho từng bước đánh chắc thắng, chiến dịch được tiến hành bằng một loạt đợt đánh công sự vững chắc, kế tiếp nhau để tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm trong thời gian tương đối dài.

Các đồng chí cán bộ dự hội nghị đã cân nhắc kỹ lưỡng cả hai phương án trên. Nếu thực hiện theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì thời gian của chiến dịch sẽ không kéo dài, việc bảo đảm tiếp tế lương thực, đạn dược có ít khó khăn hơn. Hơn nữa, do việc tổ chức phòng ngự của địch còn nhiều sơ hở, bộ đội ta sau chỉnh huấn chính trị và chỉnh huấn quân sự, tinh thần chiến đấu rất cao, trình độ chiến thuật, kỹ thuật tiến bộ, trang bị mới được tăng cường, có pháo binh và pháo cao xạ phối hợp. Bởi thế nên ta có thể thực hiện "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Tuy nhiên, kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm của ta còn rất hạn chế, do đó việc bảo đảm đánh "chắc thắng" là điều không dễ. Còn nếu ta thực hiện "đánh chắc, tiến chắc", thì sẽ bảo đảm chắc thắng, nhưng thời gian chiến dịch sẽ kéo dài, địch sẽ có thêm thời gian để tăng cường lực lượng, bố trí trận địa phòng ngự kiên cố, vững chắc. Phải chiến đấu dài ngày, gian khổ, sẽ gặp khó khăn về nhiều mặt, nhất là về hậu cần.

Trên cơ sở những cân nhắc, phân tích đó, "toàn thể hội nghị thống nhất ý kiến là nên đánh nhanh giải quyết nhanh, tất cả mọi người đều phấn khởi, quyết tâm tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trong một trận"5. Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy chiến dịch nhận thấy vào thời điểm giữa tháng 1-1954, quân Pháp ở Điện Biên Phủ lực lượng chưa đông, công sự còn dã chiến, do vậy phải tranh thủ thời cơ mà tiến công tiêu diệt địch theo phương châm ’’đánh nhanh, giải quyết nhanh". Theo đó, "kế hoạch tác chiến của ta là tập trung tuyệt đối ưu thế binh hoả lực từ phía tây, đột phá đánh nhanh vào tung thâm Mường Thanh, đồng thời từ phía đông giáp công. Trong bước đầu, nhanh chóng tiêu diệt quân địch ở tung thâm Mường Thanh và những cứ điểm ở phía tây và tây - bắc, sang bước thứ hai, giải quyết bộ phận địch còn lại ở phía đông - bắc và phía nam (hoặc đồng thời cả hai bước)"6. Đó là một quyết tâm có cơ sở, bởi vì khi địch còn ở trạng thái phòng ngự lâm thời, thì "đánh nhanh, giải quyết nhanh" là cách đánh có thể vận dụng.
________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2004, tr. 45.
3. G. Buđaren và F. Caviglliôli: Tướng Giáp suýt thất bại trong trận Điện Biên Phủ như thế nào, Tạp chí Le Nouvel Observateur, số ra ngày 8-4-1983, Thư viện Quân đội dịch, 5-1983, tr. 1.
4. Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 28.
5. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Báo cáo về kế hoạch tác chiến và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, t. III: Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng tham mưu xuất bản, Hà Nội, 1974, tr. 193.
6. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 36, 37.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Giêng, 2022, 11:38:43 pm

Về quyết định của hội nghị ngày 14-1-1954, sau 35 năm sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: "Sau này, tôi mới biết có những đồng chí chỉ huy cảm thấy nhiệm vụ đơn vị quá nặng, lo phải đột phá liên tiếp, trận đánh kéo dài, không giải quyết được thương binh và tiếp tế đạn dược. Nhưng trước không khí chung, không ai nói những ý kiến thực của mình"1.

Dẫu kế hoạch đã được thông qua, song sự hoài nghi về khả năng không chắc thắng (nếu theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh") vẫn luôn canh cánh trong tâm trí Tổng Tư lệnh quân đội ta. Tuy nhiên vào thời điểm đó (14-1), Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng chưa thật đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh".

"Đánh nhanh, giải quyết nhanh" là vấn đề chớp thời cơ. Thời cơ thuận lợi là khi địch vừa mới chiếm đóng, phòng ngự còn nhiều sơ hở. Thời cơ xuất hiện, nhưng chớp được thời cơ là chuyện khác. Thời cơ thuận lợi để "đánh nhanh, giải quyết nhanh" qua đi ngoài ý muốn của chúng ta lúc bấy giờ.

Chúng ta biết rằng, kế hoạch mở đầu cuộc tiến công vào ngày 20-1 đã được chuẩn bị, nhưng còn phụ thuộc vào việc đưa pháo lớn chiếm lĩnh trận địa bắn đúng thời gian quy định hay không.

Để đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa, Đại đoàn 351 phải dùng xe kéo pháo theo đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ, đến km 69 ngang qua bản Nham, pháo được tháo ra khỏi xe, bộ đội pháo binh, công binh dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Từ bản Nghịu đến Nà Nham dài 15 km, "con đường" này, cho đến ngày 14-1 vẫn chưa được cắm tiêu. Theo như báo cáo ban đầu thì "đường" không dốc lắm và chỉ độ hai ngày là có thể dưa pháo vượt qua quãng đường 15km đó. Nhưng trên thực tế, việc dùng sức người kéo pháo nặng cả tấn, vượt qua núi cao (có ngọn như Phasông cao 1.550m) lại có nhiều đèo (đèo thấp nhất cũng tới 600 - 700m) cùng với bảy sườn núi lô nhô, các dốc núi thường chếch 30° đến 40°, thậm chí trên 50°, có chỗ len lỏi giữa một bên là vách đá và một bên là vực thẳm... quả là cực kỳ khó khăn. Mặt khác, vượt qua Phasông là đến khu đát trống trải. Việc đưa pháo qua khoảng trống này chỉ có thể thực hiện được vào ban đêm, bởi từ đó tới lòng chảo Điện Biên Phủ đã rất gần, qua ống nhòm thấy rất rõ người đi lại trong thung lũng Mường Thanh. Với "đường" đi như vậy, tốc độ trung bình trên thực tế chỉ khoảng 150m/giờ. Thấy được khó khăn đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã lùi giờ nổ súng so với dự kiến ban đầu năm ngày (tức là ngày 25-1), nhưng với năm ngày gia hạn thêm đó, vẫn không thể kéo hết pháo vào trận địa.

Đến ngày 24-1, theo những tư liệu chắc chắn mới thu được, tình hình lực lượng và bố trí trận địa của địch đã có một số thay đổi. Phía tây không còn là nơi địch sơ hở nữa, bởi tại đó, chúng mới đóng thêm hai cứ điểm. Phía bắc cũng vậy, đồi Độc Lập trước đó chỉ là một vị trí tiền tiêu đã được tăng cường thành cứ điểm do một tiểu đoàn chốt giữ. Ở phía nam Hồng Cúm, nguyên là một cứ điểm đã được tổ chức thành một cụm cứ điểm, có sân bay và pháo binh, có thể cùng Mường Thanh yểm hộ lẫn nhau. Như vậy, tình hình bố trí lực lượng, trận địa địch đã thay đổi. Yếu tố thời cơ đã qua đi. Sự "chắc thắng" có thêm chứng lý để hoài nghi.

Ở một khía cạnh khác, có thể nói rằng, kế hoạch tác chiến "đánh nhanh, giải quyết nhanh" được quyết định trong ngày 14-1, gần giống với kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm Nà Sản cuối năm 1952, nhưng lớn hơn và mạnh hơn nhiều. Với Nà Sản, ta sử dụng Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 thực hiện đánh chỗ yếu trước, đánh chỗ mạnh sau, bao vây toàn diện, công kích có trọng điểm, đánh ngoại vi trước, tranh thủ mở mặt diện rồi đánh vào tung thâm, chuẩn bị đầy đủ và tác chiến liên tục. Tiến hành các trận mở đầu đợt ba với ý định tập trung lực lượng đột phá vào các điểm tựa vòng ngoài, từ đó khống chế sân bay, phát triển chiến đấu trong tung thâm, tạo thời cơ tiêu diệt toàn bộ các cứ điểm, trong thời gian một đến hai ngày. Còn kế hoạch đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" về đại thể như sau: Đại đoàn 308 có nhiệm vụ chủ yếu đột phá vào trung tâm Mường Thanh ở phía tây và tây - nam (phạm vi gồm khu vực Mường Thanh, Nà Noọng). Đại đoàn 316 (thiếu một trung đoàn) có nhiệm vụ từ phía đông, nhanh chóng tiêu diệt quân địch ở khu A, để phối hợp với hướng chính tiêu diệt quân địch ở trung tâm Mường Thanh. Đại đoàn 312 có nhiệm vụ nhanh chóng tiêu diệt từng cứ điểm (Độc Lập, Bản Kéo, Căng Na) rồi đột nhập tiêu diệt quân địch trong khu vực sân bay gồm các cứ điểm 105, 106, 203, 204, 205, 206, 303 và 309... Thời gian trận đánh dự kiến là ba đêm hai ngày.

Hai kế hoạch này giống nhau ở chỗ lực lượng ta được chia ra nhiều hướng để thọc sâu vào trung tâm, chia cắt tập đoàn cứ điểm địch ra thành nhiều khu vực, nhanh chóng tiêu diệt chúng. Với cách đánh như vậy, ta đã không thành công trong trận tiến công tập đoàn cứ điểm Nà Sản cuối năm 1952. Cũng được gọi là tập đoàn cứ điểm, nhưng Điện Biên Phủ lớn hơn Nà Sản rất nhiều. Có người ví Điện Biên Phủ là "Nà Sản luỹ thừa mười". Và, như vậy, rõ ràng phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", đến cuối tháng 2-1954, chứa đựng yếu tố không chắc thắng.

Đến ngày 26-1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: không thể đánh theo kế hoạch đã định... Nếu đánh là thất bại. Tại cuộc họp Đảng uỷ mặt trận, Đại tướng đã quyết định chuyển phương châm tiêu diệt địch từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Theo đó hoãn cuộc tiến công vào ngày 26-1, bộ đội toàn tuyến được lệnh lui về vị trí tập kết, kéo pháo ra; mọi công tác chuẩn bị thực hiện theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc".

Ngay sau quyết định đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết thư hoả tốc gửi về báo cáo Bộ Chính trị và được Bộ Chính trị nhất trí cho đó là một quyết định hoàn toàn đúng đắn.

Thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", ở Điện Biên Phủ, ta tăng thêm lực lượng bộ binh và pháo binh nhằm bảo đảm ưu thế cả về binh lực, hoả lực; bố trí lại trận địa pháo binh và pháo cao xạ; xây dựng trận địa tiến công của bộ binh và trận địa cho pháo binh, bảo đảm chiến đấu dài ngày, chống bom, pháo địch, tuyệt đối giữ bí mật việc ta chuẩn bị đưa pháo 105 ly và pháo cao xạ 37 ly; tổ chức huấn luyện kỹ thuật xây dựng trận địa tiến công dưới tầm hoả lực địch, kỹ thuật, chiến thuật đánh ở chiến hào, giao thông hào, đánh địch phản kích, giữ trận địa... cho bộ binh; bảo đảm cấp dưỡng để tăng cường và duy trì sức mạnh của bộ đội cũng như việc bổ sung quân số, trang bị, vũ khí để chiến đấu được liên tục, dài ngày.

Đồng thời, để giải quyết tốt công tác chính trị tư tưởng cho bộ đội theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch đề ra phương án tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bằng một chiến dịch tiến công trận địa có quy mô lớn gồm một loạt trận đánh địch trong công sự vững chắc, tiếp diễn trong một thời gian khá dài.

Chuẩn bị theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", trận đánh đã lùi lại so với dự kiến ban đầu một tháng rưỡi. Ngày 13-3-1954, tiếng súng tiến công của ta ở Điện Biên Phủ mới chính thức bắt đầu. Ta đã buộc địch giao chiến vào thời gian do ta ấn định, đẩy địch từ thế chủ động sang thế bị động đối phó. Ta đã thực hiện tiêu diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm, trung tâm đề kháng bằng cách đánh sở trường của ta, với thế mạnh áp đảo trong từng trận đánh, kết hợp siết chặt trận địa bằng hào giao thông, triệt nguồn tiếp tế, cuối cùng đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ - hình thức phòng ngự kiên cố nhất lúc bấy giờ của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Chuyển phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc" là một quyết định rất quan trọng, có đầy đủ chứng lý khoa học, phù hợp với thực tế chiến trường lúc bấy giờ. Thực tế lịch sử đã kiểm nghiệm tính đúng đắn của phương châm "đánh chắc, tiến chắc”.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 36, 37.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Giêng, 2022, 11:43:48 pm

ĐIỆN BIÊN PHỦ - ĐỈNH CAO NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
1

Đại tá PHẠM HỮU THẮNG
Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược, là chiến dịch tiến công có quy mô lớn nhất của ta trong kháng chiến chống Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, thể hiện sức mạnh to lớn của dân tộc và sự trưởng thành vượt bậc của các lực lượng vũ trang nhân dân ta trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Điện Biên Phủ là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, thể hiện trên cả ba lĩnh vực: chỉ đạo chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật.

Trước hết về chỉ đạo chiến lược, Điện Biên Phủ không phải là chiến dịch độc lập mà là một chiến dịch nằm trong một ý định chiến lược thống nhất được Bộ Chính trị và Tổng Quân uỷ vạch ra trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, là trận quyết chiến chiến lược trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Thực hiện kế hoạch Nava, từ giữa năm 1953, Bộ Chỉ huy Pháp ở Đông Dương ra sức xây dựng khối cơ động chiến lược mạnh nhằm thoát khỏi tình trạng phòng ngự bị động, tiến tới giành quyền chủ động trên chiến trường chính. Đồng thời địch nhanh chóng tăng cường binh lực trên các hướng bị uy hiếp, tổ chức phòng ngự bằng tập đoàn cứ điểm, coi đó là biện pháp tác chiến chiến lược để chặn đứng các cuộc tiến công của chủ lực ta.

Từ sự phân tích sâu sắc âm mưu của địch và khả năng của ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh...! Ta buộc chúng phải phân tán lực lượng thì sức mạnh đó không còn"2. Trên cốt lõi tư tưởng chiến lược đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã đề ra chủ trương, kế hoạch chiến lược Đông Xuân 1953-1954: sử dụng một bộ phận chủ lực mở các chiến dịch tiến công vào những hướng địch sơ hở nhưng hiểm yếu mà chúng không thể bỏ, buộc địch phải phân tán lực lượng cơ động chiến lược để đối phó, tạo thời cơ cho ta tập trung lực lượng tiêu diệt địch trên các hướng có lợi nhất; đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở các vùng đồng bằng sau lưng địch, tranh thủ cơ hội tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, nếu chúng đánh vào vùng tự do của ta.

Thực hiện kế hoạch chiến lược trên, chúng ta đã tiến hành thắng lợi các chiến dịch tiến công trên khắp chiến trường Đông Dương: Chiến dịch Lai Châu (12-1953); Chiến dịch Trung - Hạ Lào và đông bắc Campuchia (12-1953 - 5-1954); Chiến dịch bắc Tây Nguyên (1-2-1954); Chiến dịch Thượng Lào (1-2-1954). Do đánh vào các hướng hiểm yếu và phối hợp chặt chẽ với hoạt động của quân và dân ta ở các vùng sau lưng địch, các chiến dịch của ta đã trở thành các đòn chiến lược tiêu diệt những bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, làm rung động mạnh thế trận của địch, buộc chúng phải xé lẻ khối cơ động chiến lược để đối phó với đòn tiến công rất hiểm nói trên. Tính đến trước khi Chiến dịch Điện Biên Phủ nổ ra, khối chủ lực cơ động chiến lược và chiến thuật của Nava đã bị phân tán. Kế hoạch Nava bước đầu bị phá sản. Quyền chủ động vẫn thuộc về ta.

Khi địch tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất để thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, biến Điện Biên Phủ trở thành nơi tập trung binh lực mạnh nhất của chúng ở Đông Dương, Bộ Chính trị đã hạ quyết tâm: tập trung đại bộ phận chủ lực tinh nhuệ tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm, tạo ra sự chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh. Đây là quyết định hết sức táo bạo và chính xác của Bộ Chính trị; là sự chuyển biến từ phương hướng "tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu" sang đánh thẳng vào chỗ mạnh nhưng có nhiều sơ hở của địch để giành thắng lợi quyết định.

Quyết định này được xác định trên cơ sở phân tích khoa học: Điện Biên Phủ tuy là một tập đoàn cứ điểm rất mạnh, nhưng nằm ở thế cô lập, xa hậu phương, chơi vơi giữa vùng núi rừng hiểm trở - chiến trường có ưu thế của bộ đội ta. Tuy công tác bảo đảm hậu cần của quân và dân ta trong một chiến dịch lớn, dài ngày, xa hậu phương hết sức gian khổ, khó khăn nhưng việc tiếp tế bằng cầu hàng không của địch cho tập đoàn cứ điểm cũng khó khăn không kém. Chiến tranh nhân dân của ta được đẩy mạnh và lực lượng cơ động chiến lược của chúng đang bị xé lẻ khắp chiến trường. Lực lượng kháng chiến của ta đã lớn mạnh toàn diện, bộ đội ta đã được chuẩn bị khá chu đáo về mọi mặt cho các trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng... Như vậy, nhờ có quyết tâm chiến lược sáng suốt và sự kiên định quyết tâm trong cả quá trình, chúng ta đã phá kế hoạch tập trung khối cơ động mạnh của Nava, làm đảo lộn thế bố trí của địch trên các chiến trường, tạo ra một điểm quyết chiến chiến lược ở vùng rừng núi để tập trung sức mạnh giành thắng lợi quyết định cho cuộc chiến tranh. Rõ ràng chiến thắng Điện Biên Phủ, trước hết là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược chính xác của Bộ Chính trị, Tổng Quân uỷ trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954.
______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 26.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Giêng, 2022, 11:45:33 pm

Trên lĩnh vực nghệ thuật chiến dịch, Điện Biên Phủ là chiến dịch tiến công trận địa có quy mô lớn nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp. Lần đầu tiên ta tập trung một lực lượng lớn chủ lực tiêu diệt chủ lực địch phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm mạnh nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược. Nghệ thuật chiến dịch trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đạt tới đỉnh cao, thể hiện ở các nội dung cơ bản sau đây:

Một là, sớm hinh thành thế trận bao vây, xây dựng trận địa tiến công và bao vây, ngày càng siết chặt từng cụm cứ điểm và tập đoàn cứ điểm, chia cắt thế liên hoàn của chúng.

Quá trình chuẩn bị chiến dịch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" lúc đầu là quá trình quân ta hình thành thế bao vây quân địch. Đại đoàn 308 ở phía bắc và tây - bắc; Đại đoàn 312 ở phía đông - bắc; hai trung đoàn của Đại đoàn 316 ở phía đông; Trung đoàn 57 ở phía nam. Đặc biệt, từ ngày 26-1, khi ta chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc" cho đến ngày toàn thắng, bộ đội ta đã xây dựng hệ thống chiến hào, trận địa với tổng chiều dài hàng trăm kilômét ngày càng siết chặt và chia cắt từng phân khu, từng cụm cứ điểm địch. Bằng hệ thống trận địa tiến công và bao vây, quân ta đã "trói chặt", chia cắt thế liên hoàn, triệt phá cầu hàng không tiếp tế của địch để lần lượt tiêu diệt từng bộ phận và đập tan mọi kế hoạch tháo chạy của chúng.

Hai là, tập trung ưu thế binh lực, hoả lực, phát huy sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng, đánh chắc thắng, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực, từng bước uy hiếp tiến tới tiêu diệt khu vực trọng yếu nhất của địch, giành thắng lợi quyết định.

Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ gồm 49 cứ điểm, liên kết với nhau tạo thành một hệ thống phòng ngự kiên cố trải trên một diện tích khoảng 40 km2. Trong tập đoàn cứ điểm, ngoài lực lượng phòng ngự trận địa còn có lực lượng cơ động gồm bộ binh và xe tăng sẵn sàng chi viện, những trận địa pháo binh lớn có thể bắn với lượng đạn gần như không hạn chế vào bất cứ mục tiêu nào. Trong điều kiện so sánh lực lượng chiến dịch không có ưu thế hơn địch, ta đã chọn phương châm "đánh chắc, tiến chắc"; tập trung ưu thế binh, hoả lực đánh từng trận hay một số trận liên tiếp, diệt từng cứ điểm, cụm cứ điểm ngoại vi, trước hết là các cứ điểm trên các điểm cao khống chế phía bắc, rồi phía đông, "bóc vỏ" từ ngoài vào, từng bước tiếp cận, uy hiếp tiến tới tiêu diệt phân khu trung tâm, Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

Ba là, chọn cách đánh hiểm, phát huy uy lực mọi thứ vũ khí của ta; kết hợp đánh chính diện với các mũi thọc sâu, luồn sâu; kết hợp các đợt đánh lớn với hoạt động tác chiến thường xuyên bằng vây lấn, bắn tỉa; hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch.

Sau thắng lợi bước đầu của ta ở đợt hai, địch vẫn còn trên một vạn quân chốt giữ các điểm cao, hoả lực pháo binh, không quân của chúng còn rất mạnh. Trước tình hình đó, ta chủ trương dùng lực lượng nhỏ, hoạt động rộng rãi dưới các hình thức đánh lấn, phá huỷ từng ụ đề kháng, tiêu diệt thêm một số vị trí; bắn tỉa tiêu hao địch rộng rãi, đánh chiếm sân bay, thắt chặt vòng vây, thu hẹp không phận, khống chế máy bay, đoạt dù tiếp tế, hạn chế tiến tới triệt hẳn nguồn tiếp tế và tăng viện của địch. Từ hạ tuần tháng 4-1954, ta đã cắt đôi sân bay địch; vây lấn diệt hai vị trí sát sân bay (cứ điểm 105 và 205); đưa pháo cao xạ tiến sâu vào cánh đồng Mường Thanh khống chế không phận; tổ chức bắn tỉa rộng khắp và thường xuyên... Chính do cách đánh hiểm này, chúng ta đã bóp nghẹt nguồn tiếp tế của địch, đưa binh lính địch vào trạng thái căng thẳng, suy sụp; uy hiếp thường xuyên phân khu trung tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 06 Tháng Giêng, 2022, 11:47:40 pm

Không chỉ đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật chiến dịch, Điện Biên Phủ còn đạt tới đỉnh cao về sự phát triển chiến thuật của quân đội ta. Sự phát triển chiến thuật trước hết thể hiện ở các trận công kiên. Công kiên trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đã lên tới quy mô đại đoàn, đánh hiệp đồng binh chủng, tiến công cụm cứ điểm nằm trong hệ thống phòng ngự liên hoàn của địch. Trận tiến công cụm cứ điểm Him Lam (từ 17 giờ đến 23 giờ 30 ngày 13-3) do Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) đảm nhiệm. Đại đoàn được tăng cường hai đại đội sơn pháo 75 ly, hai đại đội cối 120 ly và được hai đại đội lựu pháo 105 ly chi viện trực tiếp. Trận tiến công cụm cứ điểm Độc Lập (đêm 14 rạng sáng ngày 15-3) do Trung đoàn 165 của Đại đoàn 312 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 và lực lượng pháo binh như trên đảm nhiệm. Đây đều là các trận đánh quy mô đại đoàn mà theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác định tại hội nghị sơ kết rút kinh nghiệm đợt một, ngày 17-3-1954: "là hai trận đầu đánh vào một tập đoàn cứ điểm, là hai trận công kiên lớn nhất từ trước đến nay, là hai trận đánh theo lối chính quy"1.

Những trận công kiên Him Lam, Độc Lập, đồi A1, đồi C1... trong Chiến dịch Điện Biên Phủ không chỉ lớn về quy mô mà đã có nội dung của những trận chiến đấu hiện đại. Trong các trận đánh này, để hạn chế hoả lực pháo binh, cơ giới và không quân khá mạnh của địch, ta đã xây dựng trận địa xuất phát tiến công vững chắc, tạo điều kiện cho bộ binh triển khai và vận động dưới hoả lực địch. Đây cũng là lần đầu tiên ta sử dụng pháo lớn bố trí ở những trận địa kiên cố, thực hành bắn chuẩn bị, chi viện trực tiếp và chế áp các trận địa pháo binh địch, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong. Lần đầu tiên ta sử dụng pháo cao xạ thực hành phòng không hiệp đồng tác chiến cùng bộ binh. Trước đây, trong điều kiện địch có hoả lực pháo binh và không quân mạnh, bộ đội ta thường phải lợi dụng đêm tối đế tiến hành tiến công địch. Các cuộc chiến đấu chỉ kéo dài ba đến năm tiếng đồng hồ vì phải kết thúc trong đêm, do đó khả năng tiêu diệt địch cũng hạn chế. Các trận công kiên ở Điện Biên Phủ, do ta xây dựng trận địa xuất phát tiến công vững chắc, khi thực hành chiến đấu lại có pháo binh, pháo cao xạ yểm hộ nên bộ đội có thể chiến đấu được cả đêm lẫn ngày, thực hiện đến cùng ý định của người chỉ huy. Các trận đánh Him Lam, Độc Lập ta đã tổ chức và hiệp đồng khá chặt chẽ từ khâu xây dựng trận địa, chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công, đột phá tiền duyên, đánh địch trong tung thâm, tổ chức đánh địch phản kích... Sự hiệp đồng nhịp nhàng, ăn khớp giữa các lực lượng trong một trận đánh quy mô lớn thực sự là bước tiến nhảy vọt của bộ đội ta trong chiến đấu công kiên.

Sự phát triển đỉnh cao của chiến thuật trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn thể hiện ở sự xuất hiện các trận chiến đấu phòng ngự trận địa. Các trận phòng ngự ở đồi C1, đồi A1, ở sân bay Mường Thanh... là những trận chiến đấu phòng ngự có tính chất trận địa đầu tiên trong lịch sử chiến đấu của quân đội ta. Trận đánh địch ở đồi C1 bắt đầu từ ngày 30-3 kéo dài đến ngày 1-5. Trong trận đánh này, Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 đã chiến đấu liên tục 32 ngày đêm, từ tiến công chuyển sang đánh địch phản kích, rồi tổ chức phòng ngự giằng co với địch và cuối cùng tiến hành tiến công tiêu diệt toàn bộ C1, đã diệt 912 tên địch thuộc tám đại đội Âu - Phi tinh nhuệ. Trận trên đồi A1 cũng tương tự. Sau ba lần tiến công, ta chỉ chiếm được một phần ba đồi. Tiếp đó, từ ngày 4-4 đến ngày 6-5, Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 174 đã tổ chức phòng ngự đánh bại mọi đợt tiến công của địch, tạo điều kiện cho trung đoàn chuyển sang tiến công tiêu diệt hoàn toàn A1 vào đêm 6-5,...

Những trận chiến đấu phòng ngự trong Chiến dịch Điện Biên Phủ ra đời do yêu cầu tiến công địch trong tập đoàn cứ điểm. Ta phải giữ vững trận địa mới chiếm để tạo bàn đạp cho trận tiến công tiếp theo. Trong các trận phòng ngự này, lúc đầu chúng ta còn gặp nhiều sai sót, song do được uốn nắn và rút kinh nghiệm kịp thời, bộ đội ta đã tổ chức phòng ngự khá chặt chẽ, giữ được trận địa dài ngày, thực hiện đúng ý định chiến dịch. Trong phòng ngự chúng ta đã triệt để tận dụng địa hình, tích cực cải tạo trận địa cũ của địch để xây dựng trận địa phòng ngự của ta; biết tổ chức lực lượng theo nguyên tắc binh lực ít, hoả lực nhiều, lực lượng tung thâm ít nhưng lực lượng dự bị cơ động ở bên ngoài nhiều. Cán bộ chỉ huy còn biết phán đoán chính xác các hướng tiến công của địch, có kế hoạch đánh địch trên từng hướng, hiệp đồng chặt chẽ với pháo binh cấp trên và đơn vị bạn để đánh địch từ xa,...

Đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ bộ đội ta đã sáng tạo ra một hình thức chiến thuật mới, đó là chiến thuật "đánh lấn". Đây là hình thức phát triển của chiến đấu công kiên trong điều kiện ta tổ chức tiến công, trực tiếp tiếp xúc với địch nhưng so sánh lực lượng chưa cho phép ta đánh lớn tiêu diệt địch ngay. "Đánh lấn" được khởi đầu từ khi ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm 106, 105 và được hoàn thiện trong trận diệt cứ điểm 206 (Huyghét 1) của Trung đoàn 36.

Trong trận đánh này, Trung đoàn 36 đã hoạt động liên tục sáu ngày đêm (từ ngày 17 đến ngày 23-4), thực hành xây dựng trận địa tiếp cận địch kết hợp chặt chẽ với bắn tỉa, đánh địch ra phá lấp trận địa và sử dụng các phân đội nhỏ thường xuyên hoạt động đánh lấn, tích cực tiêu diệt từng tên địch, từng ụ súng, phá từng lô cốt, vây hãm chúng làm cho binh lính địch luôn ở trong trạng thái căng thẳng, mệt mỏi và dần đi đến suy sụp, tan rã. Khi thời cơ đến, trung đoàn chỉ sử dụng một lực lượng ngang địch tiến công tiêu diệt toàn bộ cứ điểm, giành thắng lợi trọn vẹn. "Đánh lấn" là sự vận dụng sáng tạo cách đánh nhỏ truyền thống, diệt được nhiều địch, ta thương vong ít.

Trận tiêu diệt cứ điểm 206 được Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: "Đã hoàn thiện và thực sự khẳng định thành công của chiến thuật được gọi là "đánh lấn"... Một lần nữa, chúng ta càng thấy rõ tác dụng to lớn của cách đánh nhỏ truyền thống, thể hiện sự thông minh, sáng tạo, chủ động của những người chiến sĩ sinh ra từ đồng ruộng, bám đất, bám làng chiến đấu trong suốt cuộc chiến tranh... Cái chết không kịp cất tiếng kêu của Huyghét 1 đã làm cho quân địch ở Điện Biên Phủ bàng hoàng. Từ giờ phút đó trở đi, mỗi khi chiến hào của ta đến gần, quân địch trong cứ điểm không còn chỉ thấy đây là mối đe đoạ, mà chính là cái chết đã tới, một cái chết không báo trước, xuất hiện trong lòng đất"2.

Cùng với Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đã trở thành "cây cột mốc bằng vàng" của lịch sử dân tộc Việt Nam. Điện Biên Phủ là hệ quả của những thành tựu nhân dân ta đạt được trong chín năm kháng chiến chống Pháp, là kết quả của quyết tâm chiến lược chính xác, sự tập trung nỗ lực lớn nhất của quân dân cả nước trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Để đi đến thắng lợi Điện Biên Phủ, chúng ta đã giải quyết thành công và sáng tạo nhiều vấn đề về chiến lược quân sự, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, mà đặc điểm nổi bật là chủ động sáng tạo, đánh theo cách đánh mà ta lựa chọn, buộc quân địch phải bị động đối phó, hạn chế chỗ mạnh của chúng về số quân đông, hoả lực mạnh, sức cơ động cao. Chiến thắng Điện Biên Phủ là điển hình xuất sắc, là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.
_______________________________________________
1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr. 243.
2. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr. 238.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:35:09 pm

ĐẠI ĐOÀN 308 TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Thượng tá NGUYỄN ĐỨC KHIỂN
Phó Sư đoàn trưởng về chính trị Sư đoàn 308

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, đã giáng đòn quyết định đập tan kế hoạch Nava của thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ hỗ trợ, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta.

Trong những năm tháng lịch sử đó, Đại đoàn 308 (nay là Sư đoàn 308) rất tự hào đã được đóng góp công sức của mình, trực tiếp chiến đấu trên chiến trường Tây Bắc - Thượng Lào và tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Đại đoàn 308 là đại đoàn được thành lập đầu tiên của quân đội ta, là một trong những đại đoàn chủ lực cơ động của bộ. Từ khi ra đời, đại đoàn đã liên tục tham gia chiến đấu trong các chiến dịch lớn, từ Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 đến các Chiến dịch Trung du, Chiến dịch đường số 18 Xuân Hè 1951, Chiến dịch Hòa Bình Đông Xuân 1951-1952, Chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1953, Chiến dịch Thượng Lào mùa Hè 1953, chiến dịch nào đại đoàn cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, lập nhiều chiến công.

Sau Chiến dịch Thượng Lào mùa Hè 1953, đại đoàn trở về Thái Nguyên tiến hành chỉnh huấn chính trị nhằm nâng cao giác ngộ giai cấp, tinh thần cách mạng của bộ đội. Vừa chỉnh huấn chính trị, đại đoàn vừa tiến hành ổn định biên chế tổ chức, sau đó bước vào một đợt huấn luyện quân sự, tập trung vào nghiên cứu luyện tập cách đánh tập đoàn cứ điểm, cách đánh vận động lớn. Sau một thời gian chỉnh huấn, trình độ quân sự và bản lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ đại đoàn đã được nâng cao một bước đáng kể.

Bước vào Đông Xuân 1953-1954, thực hiện kế hoạch tác chiến đã được Bộ Chính trị thông qua, trên phạm vi cả nước quân ta bắt đầu phối hợp các hoạt động tác chiến. Trung tuần tháng 11-1953, một số đơn vị chủ lực ta tiến quân về phía tây, nơi địch yếu và sơ hở. Bị uy hiếp, Bộ Chỉ huy Pháp vội vã điều lực lượng đối phó, cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ và đưa gấp lực lượng đến xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu, nối Điện Biên Phủ với Thượng Lào. Địch tập trung xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và chấp nhận quyết chiến với ta tại đây.

Đầu tháng 12-1953, Đại đoàn 308 được lệnh hành quân chiến đấu. Từ Thái Nguyên, đại đoàn vượt qua sông Chảy, sông Đà, theo đường 41 tiến lên Tây Bắc, đại đoàn có nhiệm vụ cùng đơn vị bạn tiêu diệt địch ở thị xã Lai Châu, sau đó tiến vào bao vây đánh địch ở Điện Biên Phủ. Nhưng khi đại đoàn hành quân tới thị xã Sơn La thì địch đã bỏ thị xã Lai Châu rút chạy, Đại đoàn 308 lại được lệnh tiến gấp theo đường Sơn La - Tuần Giáo, tiến lên Điện Biên Phủ. Riêng Trung đoàn 36 rẽ về phía tây theo đường mòn qua Mường Ngòi, Mường Lâm, xuyên rừng tới phía nam và tây-nam Điện Biên Phủ, chia cắt địch ở Điện Biên Phủ với Thượng Lào.

Tới Điện Biên Phủ, đại đoàn được Bộ Chỉ huy mặt trận giao nhiệm vụ bao vây địch và mở đường chuẩn bị cho chiến dịch.

Trung đoàn 36 tiến vào bao vây địch ở phía tây, tây - nam Điện Biên, đã đánh hàng chục trận ngăn chặn quân địch hành quân thăm dò và chuẩn bị đường liên lạc với Thượng Lào. Đội quân báo của đại đoàn đã đánh lui một tiểu đoàn địch, diệt gần hai trung đội, bắt sống một số tên. Chiến sĩ quân báo Dương Quảng Châu cùng một đồng chí khác đã linh hoạt, mưu trí dùng kế nghi binh bắt sống và thu toàn bộ vũ khí của 38 tên lính Pháp và ngụy.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 88 và Trung đoàn 102 đã gấp rút tiến vào mở đường chiến dịch. Mặc mưa rừng gió rét, bom đạn địch đánh phá ác liệt, cán bộ chiến sĩ đại đoàn đã lao động từ 12 đến 14 giờ mỗi ngày. Chỉ trong một tuần, các đơn vị đã hoàn thành sửa xong đoạn đường dài 20 km từ Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ và mở một con đường mới dài 10 km, rộng 3m xuyên qua núi cao, rừng rậm từ phía đông - bắc sang phía tây - bắc Điện Biên Phủ để các đơn vị pháo binh, cao xạ đưa pháo vào trận địa.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ mở đường, Đại đoàn 308 lại hợp sức cùng các đơn vị bạn kéo pháo vào trận địa, triển khai lực lượng theo phương châm tác chiến ban đầu "đánh nhanh, thắng nhanh". Chiều ngày 26-1-1954, toàn đại đoàn đã chiếm lĩnh xong vị trí xuất phát tiến công, nhưng sát giờ nổ súng có lệnh hoãn tiến công để tác chiến theo phương châm mới "đánh chắc, tiến chắc". Đại đoàn 308 được lệnh tiến gấp sang Thượng Lào đánh vào phòng tuyến sông Xậm Hu nhằm tiêu hao sinh lực địch và đánh lạc hướng phán đoán của chúng. Mặc dù không có thời gian chuẩn bị, gạo chưa lấy về kịp, mỗi người chỉ có trên vai một chiếc bánh chưng, một ít gạo rang, thậm chí bản đồ vùng tác chiến mới cũng không có, song chỉ 2 giờ sau khi nhận lệnh, toàn đại đoàn với tinh thần "quân lệnh như sơn" lập tức xuất kích từ Điện Biên Phủ sang Thượng Lào. Vượt qua núi cao, rừng sâu, đại đoàn vừa đi vừa nắm tình hình, làm công tác dân vận, bảo đảm lương thực. Địch hoảng sợ bỏ Mường Khoa rút chạy. Đại đoàn 308 liền chuyển sang truy kích. Sau bốn ngày đêm liên tục đuổi đánh địch theo đường Mường Khoa đi Mường Sài, Sở Chỉ huy nhẹ đại đoàn đã luồn rừng chặn đầu tạo điều kiện cho Trung đoàn 102 tiến công vào hai bên sườn và phía sau, đánh thiệt hại nặng hai tiểu đoàn địch. Trung đoàn 36 và 88 củng theo đường Sốp Hào - Mường Ngòi đuổi địch đến Khuổi Sen, đánh tan một tiểu đoàn địch khác. Các cánh quân của đại đoàn truy kích địch đến tận Mường Sài, giải phóng Nậm Bạc, phát triển tiến công đến sát Luông Prabăng, diệt địch ở Nậm Ngà, Bắc Xường, Bản Na, bên bờ sông Mê Công. Phòng tuyến sông Nậm Hu của địch bị phá vỡ. Tập đoàn cứ điểm của địch ở Điện Biên Phủ bị cô lập từ phía tây.

Trong cuộc tiến công này, Đại đoàn 308, có sự phối hợp của một số lực lượng bạn Lào, đã tiêu diệt một tiểu đoàn lê dương (2/3 REI), đánh tan hai tiểu đoàn ngụy Lào và Tiểu đoàn Tabo thứ 5, bắt sống 300 tên.
_________________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:36:29 pm

Hoàn thành nhiệm vụ ở Thượng Lào, ngày 18-2-1954, đại đoàn lại gấp rút hành quân trở về tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Vừa về đến Điện Biên Phủ thì chiến dịch mở màn, mặc dù chưa có thời gian nghỉ ngơi chuẩn bị, đại đoàn vẫn lập tức bước vào cuộc chiến đấu.

Trong đợt tiến công thứ nhất đánh vào phân khu bắc tập đoàn cứ điểm của địch, sau khi Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam, đêm 14 rạng ngày 15-3, đại đoàn tiến công tiêu diệt cứ điểm đồi Độc Lập. Do phải chờ sơn pháo đánh ở Him Lam đêm trước chuyển về, lại gặp trời mưa nên chậm giờ nổ súng, địch không còn bị bất ngờ chống trả quyết liệt. Nhưng chỉ sau ba giờ, đại đoàn đã tiêu diệt xong cứ điểm đồi Độc Lập, diệt và bắt toàn bộ tiểu đoàn địch. Ngay sau đó, các đơn vị của đại đoàn lại đánh tan hai tiểu đoàn lính dù và tám xe tăng địch từ Mường Thanh ra phản kích hòng chiếm lại đồi Độc Lập, buộc chúng phải rút chạy.

Trong trận đánh này nổi lên tấm gương của Tiểu đội trưởng bộc phá Nguyễn Văn Tỵ, đồng chí đã xông pha trên trận địa, chỉnh hướng và giúp các chiến sĩ liên tục đánh 30 quả bộc phá để mở đường cho xung kích. Tiêu biểu về tập thể anh hùng là Đại đội 213, mặc dù đã chiến đấu hy sinh gần hết cả đại đội, nhưng các đồng chí còn lại vẫn quyết tâm đánh lui quân địch phản kích ra đồi Độc Lập, không ai rời vị trí chiến đấu.

Bị ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam và Độc Lập, quân địch ở Bản Kéo hoảng sợ ra hàng. Kết quả đợt một, ta hoàn toàn làm chủ phân khu phía bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, diệt và bắt sống ba tiểu đoàn địch.

Trước khi bước vào đợt tiến công thứ hai, đại đoàn được giao nhiệm vụ vừa xây dựng trận địa tiến công trên cánh đồng phía tây khu trung tâm Mường Thanh (kéo dài từ Bản Kéo qua Pe Luông, Hồng Lếch đến bản Cò Mỵ) vừa đánh chiếm một số cứ điểm ngoại vi, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.

Vượt qua bom đạn địch đánh phá, ngăn chặn, cán bộ chiến sĩ đại đoàn liên tục lao động suốt ngày đêm, trong khoảng 10 ngày đã đào được hơn 10 km hào trục, rồi từ hào trục lại đào tiếp hệ thống chiến hào tiến vào sát các cứ điểm địch và chia cắt sân bay Mường Thanh. Hệ thống chiến hào của đại đoàn ở phía tây, nổi liền với hệ thống chiến hào của các đơn vị bạn ở phía đông, chia cắt hoàn toàn quân địch ở Hồng Cúm với khu trung tâm. Chiến hào của ta thực sự là mối nguy hiểm lớn đối với địch. Địch ra sức tổ chức nhiều cuộc phản kích ra lấp hào, đẩy ta ra xa. Nhiều trận đánh địch phản kích đã diễn ra hết sức quyết liệt, nổi bật là trận đánh bảo vệ trận địa chiến hào ở Pe Luông - Hồng Lếch ngày 28-3. Địch dùng hai tiểu đoàn và sáu xe tăng đánh vào trận địa của Trung đoàn 88. Mặc dù bị bất ngờ do chủ quan khinh suất, lại đang lúc cán bộ cấp trưởng đi họp vắng, cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 88 tại trận địa vẫn ngoan cường chiến đấu. Trong trận này, xuất hiện nhiều tấm gương rất anh dũng, cảm động nhất là gương Tiểu đội trưởng Bùi Minh Đức và chiến sĩ Nguyễn Hoàng Phương cùng phối hợp diệt địch, người bị thương hỏng cả hai mắt nhưng còn tay thì bắn súng, người bị thương cả hai tay thì quan sát hướng dẫn mục tiêu. Gương các chiến sĩ Phân đội phòng không 78 (Tiểu đoàn phòng không 387) đi cùng Trung đoàn 88, đã kiên quyết không rời trận địa, hạ thấp nòng pháo bắn bộ binh địch, chiến đấu hy sinh đến người cuối cùng. Tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ trên trận địa đã tạo điều kiện thuận lợi để thê đội 2 của Trung đoàn 88, khi cán bộ cấp trưởng đi họp về, tổ chức phản kích đánh lui quân địch, khôi phục lại trận địa.

Từ hệ thống chiến hào đã xây dựng và giữ vững trước các cuộc phản kích của địch, ngày 30-3, quân ta mở màn đợt tiến công thứ hai. Khi các đơn vị bạn đánh địch ở các ngọn đồi phía đông thì Trung đoàn 36 nổ súng tiến công vào cứ điểm 106. Trong trận đánh này Trung đoàn 36 đã sử dụng chiến thuật đánh lấn: dùng hỏa lực chế áp địch cho xung kích đào hào, lấn dần vào trung tâm rồi bất ngờ vượt lên xung phong. Bằng cách đánh đó, chỉ sau 30 phút nổ súng (từ 18 giờ 30 phút đến 19 giờ 30 phút ngày 1-4), quân địch ở cứ điểm 106 đã hoàn toàn bị tiêu diệt và bị bắt. Kinh nghiệm đánh lấn của Trung đoàn 36 lập tức được phổ biến cho toàn mặt trận.

Cùng thời gian này, ở phía đông, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 lần lượt đánh chiếm các vị trí địch trên các ngọn đồi C1, E, D, D2. Nhưng trận đánh đồi A1 lại gặp khó khăn. Được lệnh của Bộ Chỉ huy mặt trận, Đại đoàn 308 lập tức điều Trung đoàn 102 cơ động theo đường hào trục tây sang đông Mường Thanh vào thay thế Trung đoàn 174 đánh đồi A1. Tuy gặp rất nhiều khó khăn vì không có chuẩn bị, nhưng tình hình hết sức khẩn trương nên vừa cơ động tới, Trung đoàn 102 lập tức nổ súng đánh cứ điểm A1. Đồi A1 là vị trí sống còn đối với địch ở trung tâm Mường Thanh, bọn địch đã tăng cường dựa vào công sự trận địa kiên cố, vì ở đây có Sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri đặt trong hầm bí mật, có hệ thống công sự kiên cố bao quanh. Khi Trung đoàn 102 của ta tiến công, tiểu đoàn lê dương được tăng cường cho Sở Chỉ huy đã chống trả quyết liệt dưới sự chi viện của hỏa lực không quân và pháo binh. Trận đánh diễn ra liên tục hai ngày ba đêm (từ 17 giờ ngày 31-3 đến 4 giờ 30 phút ngày 3-4); ta và địch giành đi giật lại từng đoạn hào, từng ụ súng. Mỗi lần ta tiến công chiếm được trận địa, địch lại rút xuống hầm ngầm rồi ném bom, bắn pháo sát thương ta và điều từng tiểu đoàn lính dù có xe tăng hỗ trợ từ Mường Thanh lên phản kích. Hơn 800 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 102 hy sinh và bị thương trong các trận đánh, nhưng cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 102 vẫn anh dũng chiến đấu, giữ vững trận địa ở phía đông A1, tạo thế cho trận đánh tiêu diệt đồi A1 sau này.

Trong trận đánh đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đãu rất anh dũng. Nổi bật là gương của đồng chí Chu Văn Mùi, chiến sĩ thông tin, ba ngày nhịn đói vẫn chiến đấu giữa vòng vây, gọi pháo bắn ngay vào vị trí của mình để diệt bọn địch tới gần. Gương của Trung đoàn trưởng Hùng Sinh vừa trực tiếp lên trận địa chỉ huy bộ đội. vừa cùng các chiến sĩ dùng lựu đạn, tiểu liên diệt địch, bảo vệ trận địa.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:37:21 pm

Những ngày cuối đợt hai, từ thế trận đã tạo được, quân ta tiếp tục phát triển xây dựng trận địa và đánh chiếm thêm một số cứ đỉểm, thắt chặt vòng vây, chuẩn bị đợt ba tổng công kích.

Từ cứ điểm 106, Đại đoàn 308 đào tiếp chiến hào vào sát cứ điểm 206, sân bay Mường Thanh. Đêm 21 rạng ngày 22-4, Trung đoàn 36 lại dùng cách đánh lấn tiêu diệt gọn cứ điểm 206 trong vòng hai giờ, diệt và bắt một đại đội, tạo thế cho Trung đoàn 88 đào chiến hào vào trung tâm sân bay, xây dựng trận địa, cắt tiếp tế đường không của địch. Địch điên cuồng phản kích ra hướng sân bay để nối lại cầu hàng không. Ngày 21-4, Tiểu đoàn dù số 6 của địch ba lần phản kích vào trận địa trung tâm sân bay của Trung đoàn 88 nhưng đều bị Tiểu đoàn 23, Trung đoàn 88 đánh bật. Đêm 22-4, địch dồn sức tổ chức một cuộc phản kích lớn với hai tiểu đoàn (Tiểu đoàn dù số 6 và Tiểu đoàn lê dương thứ nhất), có sáu xe tăng đi cùng, được máy bay, pháo binh chi viện, mở bốn đợt xung phong hòng đánh bật Trung đoàn 88 ra khỏi khu vực sân bay Mường Thanh. Suốt ba giờ chiến đấu, Trung đoàn 88 đã phối hợp với pháo binh mặt trận đánh bại cả bốn đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa và cuối cùng tổ chức phản kích, đuổi địch tháo chạy về trung tâm Mường Thanh.

Cuối tháng 4, quân Pháp ở Điện Biên Phủ đã rơi vào tình thế vô cùng khốn quẫn. Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định mở đợt tiến công thứ ba đánh chiếm các vị trí còn lại ở phía đông, phía tây, tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Ngày 1-5, ta mở đợt tiến công thứ ba.

Trong khi các đơn vị bạn tiến công địch ở các mỏm đồi còn lại phía đông, đêm 1-5, Trung đoàn 88 tiến công tiêu diệt cứ điểm 311A ở phía tây, diệt và bắt một đại đội địch. Đêm 3 rạng ngày 4-5, Trung đoàn 36 tiếp tục đánh chiếm cứ điểm 311B (cách Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm địch 300m), diệt và bắt thêm một đại đội địch.

Ngày 6-5, quân ta trên các hướng cùng đồng loạt nổ súng đánh vào các vị trí còn lại xung quanh trung tâm Mường Thanh. Ở phía đông, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316 tiêu diệt các vị trí đồi A1, đồi C2, điểm cao 506. Ở phía tây, Trung đoàn 102 tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở điểm cao 311B (Nà Noọng). Quân địch bị vây chặt giữa trung tâm Mường Thanh, mất hết tinh thần chiến đấu. Nắm chắc thời cơ, chiều ngày 7-5, Bộ Chỉ huy mặt trận hạ lệnh tổng công kích. Từ các vị trí chiếm được, Đại đoàn 308 cùng các đơn vị bạn xung phong đánh thẳng vào Sở Chỉ huy địch ở Mường Thanh. Gần 1 vạn quân Pháp còn sống sót kéo cờ trắng ra hàng. Tướng Đờ Cátxtơri cùng Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm ở Điện Biên Phủ bị bắt sống, 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng.

Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Trong cuộc tiến công chiến lược này, Đại đoàn 308 đã đóng góp xứng đáng công sức của mình vào chiến công vĩ đại của dân tộc. Đại đoàn đã đánh nhiều trận, trong đó có hàng chục trận đánh lớn, đã tiêu diệt và bắt sống hơn 4 nghìn tên địch (không kể số địch bị bắt ngày 7-5), thu rất nhiều súng đạn, quân trang, quân dụng.

Đại đoàn đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao:

- Giải phóng thị xã Lai Châu.
- Mở đường chiến dịch.
- Phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu.
- Tiêu diệt đồi Độc Lập.
- Xây dựng trận địa chiến hào bao vây địch ở phía tây Mường Thanh, tiến công đánh chiếm các cứ điểm 106, 206, 311A, 311B, 301, tham gia đánh đồi A1 và tổng công kích tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Nhiều nhiệm vụ đại đoàn đã hoàn thành xuất sắc, nổi bật là:

Nhiệm vụ tiến công phòng tuyến sông Nậm Hu. Đây là nhiệm vụ vô cùng nặng nề, nhưng Đại đoàn 308 đã hoàn thành rất tốt. Nhận lệnh gấp, không được chuẩn bị, song với tinh thần trách nhiệm cao, ý thức rõ tầm quan trọng, đại đoàn đã vượt qua mọi khó khăn để thực hiện mệnh lệnh, hành quân thần tốc từ Điện Biên Phủ sang Thượng Lào. Cuộc tiến quân bất ngờ của đại đoàn chẳng những tiêu diệt được sinh lực địch, phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu, buộc địch phân tán thêm khối chủ lực, mà còn lập thế nghi binh lừa địch, tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta ở Điện Biên Phủ làm công tác chuẩn bị theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Thực hiện việc vây ép phía tây trung tâm cứ điểm Điện Biên Phủ, đại đoàn đã xây dựng được một hệ thống chiến hào liên hoàn, có chiều sâu phía tây cánh đồng Mường Thanh, làm chỗ dựa để tiến công tiêu diệt nhanh gọn các cứ điểm 106, 206, tiến vào chia cắt sân bay, đánh bại các cuộc phản kích của địch, buộc chúng rơi vào thế bị vây hãm, không thể tiếp tế, chi viện, ứng cứu và bị tiêu diệt khi ta tiến hành tổng công kích.

Trải qua các hoạt động chiến đấu trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đoàn 308 đã đúc rút được một số bài học quý báu:

Trước hết là bài học về tinh thần kỷ luật, chấp hành nghiêm mệnh lệnh. Bài học này được thể hiện rất rõ trong cuộc tiến công bất ngờ của đại đoàn vào phòng tuyến sông Nậm Hu. Tuy nhận lệnh gấp, thời gian làm công tác bảo đảm, chuẩn bị hầu như không có, khó khăn chồng chất, nhưng đại đoàn không hề do dự, đòi hỏi ở trên một điều kiện gì, lập tức dồn sức thực hiện mệnh lệnh. Với tinh thần kỷ luật đó, đại đoàn đã vượt qua được mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giáng đòn chiến lược đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu, phá vỡ một phần quan trọng thế trận của địch ở Điện Biên Phủ. Đại đoàn đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng ủy, Bộ Chỉ huy mặt trận khen ngợi.

Bài học thứ hai là bài học về tinh thần cách mạng, ý chí tiến công, quyết chiến đấu hy sinh đến cùng để hoàn thành nhiệm vụ. Đây là bài học có ý nghĩa rất lớn suốt trong quá trình chiến đấu trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ. Cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 đã thể hiện tinh thần cách mạng, ý chí chiến đấu cao. Do đó, dù gặp phải tình huống khó khăn, gian khổ ác liệt, chịu hy sinh tổn thất đến đâu, cán bộ chiến sĩ đại đoàn cùng tìm cách khắc phục để giành chiến thắng.

Bài học thứ ba là bài học về tính sáng tạo, linh hoạt, tìm ra cách đánh hiệu quả nhất để tiêu diệt địch. Bài học này đã thể hiện nổi bật ở Trung đoàn 36 trong trận đánh tiêu diệt cứ điểm 106. Trước một cứ điểm có nhiều hỏa lực mạnh của địch, lại bố trí ở địa hình trống trải, khó tiếp cận, trung đoàn đã tổ chức bộ đội đào chiến hào lấn dần vào sát cứ điểm địch, rồi đào luồn qua hàng rào, bất ngờ vọt lên, đánh thẳng vào trung tâm. Cách đánh này gọi là đánh lấn, đỡ thương vong mà rất hiệu quả, địch bị xung phong bất ngờ, khó chống đỡ.

Từ Trung đoàn 36, cách đánh này đã được Bộ Chỉ huy mặt trận phổ biến tới các đơn vị để áp dụng vây ép địch. Sau này, cách đánh lấn đã được nghiên cứu thành chiến thuật vây lấn đánh cứ điểm địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Đối với Đại đoàn 308, những chiến công mà đại đoàn làm nên trong Đông Xuân 1953-1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ thực sự là những trang sử oanh liệt nhất của đại đoàn.

Những chiến công, những bài học kinh nghiệm của đại đoàn cũng như của các đơn vị bạn trên toàn mặt trận được rút ra từ cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, sẽ mãi mãi là những tấm gương, những điều chỉ dẫn cho các thế hệ cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 308 hôm nay và mai sau.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:41:20 pm

ĐẠI ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

Thượng tá NGUYỄN BÁ TUẤN
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316

Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) được thành lập ngày 1-5-1951, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đang có những chuyển biến mạnh mẽ. Vừa ra đời, đại đoàn đã liên tục tham gia chiến đấu từ địa đầu biên giới Đông Bắc đến Chiến dịch Trung du, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Và khi tròn ba tuổi, đại đoàn vinh dự được tham gia cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Cuối tháng 12-1953, sau khi giải phóng Lai Châu, tiêu diệt hoàn toàn 24 đại đội địch, mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, Đại đoàn 316 được lệnh gấp rút hành quân vượt đỉnh Pu Thống, qua đèo Mường Áng vào Điện Biên Phủ. Vào tới nơi đóng quân (từ Khe Chít đến Pú Hồng Mèo) các đơn vị của đại đoàn đã khẩn trương làm công tác chuẩn bị chiến trường, đồng thời tiến hành đợt giáo dục chính trị rộng rãi, sâu sắc nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ ý nghĩa quan trọng của chiến dịch là: tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của địch, đập tan kế koạch Nava, đánh bại âm mưu kéo dài và mở rộng chiến tranh của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ của đại đoàn đều ghi lòng tạc dạ quyết tâm lớn của Đảng và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã được tóm tắt thành những khẩu hiệu súc tích:

- Tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ!
- Địch cố thủ, kiên quyết đánh!
- Địch bỏ chạy, kiên quyết đuổi!
- Địch tăng quân, kiên quyết diệt!

Toàn đại đoàn dấy lên phong trào thi đua giết giặc lập công, giành cờ "Quyết chiến, Quyết thắng" của Bác Hồ. Ai cũng náo nức chờ đợi lập công.

Trung tuần tháng 1-1954, Đảng uỷ đại đoàn họp đánh giá tình hình mọi mặt trước khi bước vào chiến đấu. Hội nghị nhận định: Sau chiến thắng Lai Châu, bộ đội phấn khởi tin tưởng, ý chí quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ được củng cố. Kế hoạch tác chiến được phổ biến thống nhất từ đại đoàn đến các đại đội; trong đó chú trọng giải quyết các yêu cầu về chiến thuật và chỉ huy, về bảo đảm cung cấp gạo, đạn cho chiến đấu. Song, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về đánh tập đoàn cứ điểm còn đơn giản, chưa nắm chắc cách bố trí bên trong của địch, các vấn đề như đánh ban ngày, đánh liên tục, đánh địch phản kích có xe tăng, pháo binh, không quân yểm trợ... chưa được nghiên cứu cụ thể. Trên cơ sở nhận định đó, Đảng uỷ đại đoàn chỉ ra cho các đơn vị và cơ quan cần tập trung giải quyết một số vấn đề tư tưởng, nhận thức. Về chiến thuật, một mặt phải tích cực bắt tù binh để khai thác tìm hiểu thêm cách bố trí bên trong các cứ điểm địch, mặt khác phải thông qua các hội nghị, nghiên cứu để có kế hoạch cụ thể hơn về cách đánh của từng đơn vị.

Chấp hành nghị quyết của Đảng uỷ đại đoàn, các đơn vị tranh thủ thời gian hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho cuộc chiến đấu quyết liệt và đầy ý nghĩa sắp tới.

Theo kế hoạch tác chiến ban đầu, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ tiến công các cứ điểm A1, A2 và khu C. Cùng ngày giờ quy định, sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị, toàn đại đoàn và các đơn vị trên toàn mặt trận đã bí mật, an toàn chiếm lĩnh xong trận địa và sẵn sàng chờ lệnh.

Giữa lúc đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh hoãn cuộc tiến công. Chấp hành mệnh lệnh chiến lược của trên, toàn đại đoàn lại bí mật, an toàn rút khỏi trận địa.

Trở về vị trí tập kết, Đảng uỷ đại đoàn tổ chức giáo dục cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ quán triệt chủ trương của trên: Điện Biên Phủ là chiến dịch quan trọng nhất từ trước đến nay, quyết tâm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ trước sau không thay đổi. Trước đây, Tổng Quân uỷ chủ trương "đánh nhanh, giải quyết nhanh", nhưng nay do tình hình thay đổi nhiều, nên phương châm tác chiến đổi lại là: "đánh chắc, tiến chắc". Do đó phải tạm thời dừng tiến công, tiếp tục chuẩn bị thật tốt các mặt như: làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa tiến công, vận chuyển lương thực, đạn dược, điều tra nắm chắc tình hình địch... đó là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn và chính xác.

Theo kế hoạch của Bộ Chỉ huy chiến dịch, Đại đoàn 316 có nhiệm vụ làm con đường kéo pháo số 2 từ Nà Tấu qua cánh đồng Mường Phăng vào Tà Lèng và con đường số 3 từ Bản Sôm đi Pú Hồng Mèo.

Đường số 2 có đoạn qua cánh đồng bằng phẳng dễ làm nhưng lại trống trải, khó nguỵ trang. Đường số 3 ngắn hơn đường số 2 nhưng qua rừng rậm và núi đá, có nhiều dổc cao và khe suối sâu. Yêu cầu của trên đề ra là phải hoàn thành trong một thời gian ngắn, bảo đảm đúng yêu cầu kỹ thuật để xe pháo đi lại được dễ dàng. Lực lượng công binh đại đoàn có ít, cán bộ chưa ai biết về kỹ thuật cầu đường, dụng cụ chỉ có xẻng, cuốc bộ binh; trời lại rét buốt, nhiều ruồi vàng, muỗi, vắt làm ảnh hưởng sức khoẻ bộ đội, địch thường xuyên cho máy bay và pháo bắn phá... Tuy khó khăn chồng chất, nhưng quyết tâm "mở đường thắng lợi" đúng hạn định của toàn đại đoàn không hề thay đổi.
_____________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:43:28 pm

Song song với nhiệm vụ làm đường, đại đoàn có nhiệm vụ bảo vệ một số điểm cao án ngữ phía đông cánh đồng Mường Thanh.

Lúc này địch cũng rất lo lắng theo dõi những hoạt động của quân ta ở hướng đông Điện Biên Phủ. Ở đây, các đơn vị gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp tế, vận chuyển và cơ động lực lượng, nhất là pháo binh. Nhưng nếu ta vượt qua được những khó khăn đó, thì hướng này, với những điểm cao nếu ta khống chế được thì thực sự là một nguy cơ đối với địch. Biết được điều đó, địch tăng cường các hoạt động nhằm nới rộng vòng vây xung quanh tập đoàn cứ điểm để thăm dò và phá hoại công tác chuẩn bị của ta.

Dự kiến trước được những hành động của địch, Bộ Chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 316 tăng cường lực lượng phòng ngự, kiên quyết giữ vững thế bao vây, uy hiếp tập đoàn cứ điểm, đồng thời tích cực tiêu diệt sinh lực địch nếu chúng đánh ra. Đại đoàn điều Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) ra chốt giữ khu vực Đồi Xanh - một dãy điểm cao gồm đồi 781, 754, 518, 502 nối tiếp nhau tạo thành bức thành ngăn cách cánh đồng Mường Thanh với dãy Tà Lèng nhằm bảo đảm cho công tác làm đường kéo pháo, xây dựng trận địa pháo binh bắn vào Mường Thanh và tạo bàn đạp cho đại đoàn triển khai lực lượng xây dựng trận địa bao vây, tiến công địch ở phía đông tập đoàn cứ điểm.

Đúng như dự đoán của ta, từ ngày 5-2 đến ngày 5-3 địch liên tiếp tiến công ra khu vực Đồi Xanh dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh, không quân và xe tăng. Trải qua 31 ngày đêm phòng ngự, Tiểu đoàn 439 đánh bại 61 cuộc tiến công của địch, diệt 680 tên, bắn rơi 2 máy bay, bắn hỏng 3 xe tăng. Chỉ riêng ngày 5-3 các chiến sĩ phòng ngự Đồi Xanh đã đánh lui bảy đợt tiến công của bốn tiểu đoàn Âu - Phi có máy bay, trọng pháo và xe tăng yểm trợ, diệt 255 tên, bắn rơi 1 máy bay, bắn hỏng 1 xe tăng.

Chiến thắng Đồi Xanh ngày 5-3 đã chấm dứt những cố gắng cuối cùng của địch trong âm mưu nới rộng vòng vây xung quanh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trong những ngày Tiểu đoàn 439 (Trung đoàn 98) chốt giữ khu vực Đồi Xanh, các đơn vị trong toàn đại đoàn bất chấp khó khăn, gian khổ đã hoàn thành hai con đường kéo pháo dài 34km, có 10 chiếc cầu dài từ 3 đến 15 m trước thời gian quy định.

Đầu tháng 3-1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho Chiến dịch Điện Biên Phủ đã hoàn thành.

Ngày 13-3, đợt tiến công thứ nhất ở Điện Biên Phủ bắt đầu. Các vị trí Him Lam, Độc Lập lần lượt bị quân ta san phẳng. Cánh cửa của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã mở. Để chuẩn bị cho đợt tiến công vào khu trung tâm Mường Thanh, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị phải nhanh chóng xây dựng trận địa tiến công của tất cả các loại súng bộ binh phù hợp với tầm hiệu lực, bao vây quân địch khắp các mặt đông, tây, nam, bắc, đồng thời chia cắt phân khu Hồng Cúm với khu trung tâm. Ở phía đông, Đại đoàn 316 phụ trách trận địa từ Khe Chít xuống phía tây - nối với trận địa của Đại đoàn 308 ở Cò Mỵ. Đại đoàn 312 xây dựng trận địa từ Huội Phạ vòng sang tây - bắc đồi Độc Lập. Trận địa của ba đại đoàn tạo thành một vòng vây rộng lớn bao quanh khu trung tâm Mường Thanh. Ở phía nam, Đại đoàn 304 làm trận địa chạy từ đông sang tây cắt phân khu Hồng Cúm khỏi trung tâm.

Vì ta xây dựng trận địa ngay sát nách địch, nên các đơn vị phải hoàn toàn làm ban đêm và sau đó tổ chức nguỵ trang kín đáo. Thiên nhiên cũng gây cho ta không ít khó khăn. Những trận mưa rào làm cho đường hào đọng nước, lầy lội, bộ đội phải dầm mình trong bùn nhão, áo quần ướt sũng. Muỗi, vắt, ruồi vàng được dịp sinh sôi. Do đó sức khoẻ bộ đội giảm sút, tinh thần mệt mỏi, căng thẳng. Tư tưởng nôn nóng muốn đánh ngay, không muốn làm trận địa, sợ thương vong xuất hiện trong một số cán bộ, chiến sĩ. Quân số và năng suất lao động giảm sút trông thấy. Có đêm cả một đại đội chỉ nhích lên được vài mét, kích thước lại không đúng quy định. Hơn nữa khi phát hiện ta đào các đường hào, địch điên cuồng dùng bom đạn đánh phá, tung quân phản kích ngăn chặn nên mỗi mét hào đều thấm máu và mồ hôi của cán bộ và chiến sĩ ta. Trước tình hình đó, theo chỉ thị của Đảng uỷ chiến dịch, Đảng uỷ đại đoàn đã mở đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình, nêu cao quyết tâm và biện pháp khắc phục, kiên quyết lãnh đạo đơn vị hoàn thành xây dựng trận địa bao vây tiến công đúng thời gian, đúng yêu cầu. Những con hào của ta ngày càng tiến về phía trước như những mũi lao xuyên dần vào trái tim địch. Các trận địa xuất phát xung phong của Trung đoàn 174 và 98 đã làm xong dưới chân các điểm cao A1, C1, C2.

Ngày 29-3, Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư động viên bộ đội trước khi bước vào đợt tiến công thứ hai.

Ngày 30-3, các trung đoàn bắt đầu xuất kích. 17 giờ cùng ngày, các đơn vị đã chiếm lĩnh xong trận địa một cách bí mật và an toàn. Mọi người đều thấy rõ tác dụng của những con hào mà quân ta đã đổ bao xương máu để đào trong những ngày lao động, chiến đấu vừa qua.

Theo kế hoạch, Trung đoàn 98 tiến công cụm cứ điểm C1 và C2, Trung đoàn 174 tiến công cứ điểm A1. Từ đêm 30-3 đến 12-4, trên các điểm cao A1, C1, C2 những trận tiến công, phản công, giành đi, giật lại giữa ta và địch diễn ra hết sức quyết liệt. Qua 14 ngày đêm chiến đấu, ta đánh thiệt hại ba tiểu đoàn Âu - Phi tinh nhuệ, diệt và làm bị thương 677 tên, bắn hỏng 3 xe tăng, 2 khẩu pháo 105 ly. Tuy bị thiệt hại nặng nhưng vì sự sống còn của tập đoàn cứ điểm, với ưu thế lớn về hỏa lực và pháo binh, không quân, xe tăng, địch điên cuồng bắn phá và phản kích hòng đánh chiếm lại các vị trí A1, C1. Cuối đợt tiến công thứ hai, địch vẫn giữ được đồi C2 và phần lớn đồi A1, đồi C1 ta và địch mỗi bên giữ một nửa, cách nhau chỉ chừng 15-20m. Cuộc chiến đấu chuyển sang thế giằng co.

Là một trong những lực lượng tiến công chủ yếu trong đợt hai, toàn đại đoàn đã chiến đấu kiên cường, quả cảm, thể hiện khả năng tác chiến liên tục, trình độ hiệp đồng chiến đấu trong phạm vi tương đối lớn. Tuy nhiên, qua nhiều ngày chiến đấu ác liệt, bộ đội ta bị thương vong nhiều. Nhận thấy quân ta chưa đủ sức phản kích ngay, đại đoàn lệnh cho các đơn vị quay sang củng cố, gấp rút sửa chữa công sự, bố trí lại lực lượng, kiên quyết giữ vững trận địa và kịp thời điều lực lượng lên tăng cường phòng ngự A1, C1. Đồng thời khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho đợt chiến đấu mới theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch.

Nhận rõ điểm cao A1, C1 có tầm quan trọng bậc nhất trong các điểm cao phòng ngự phía đông tập đoàn cứ điểm; nếu chiếm được các điểm cao này, quân ta có thể uy hiếp mạnh mẽ và phong tỏa khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, khống chế vùng trời chặt hơn, thu hẹp phạm vi thả dù của địch đi tới triệt hẳn tiếp tế đường không của chúng, đồng thời tạo bàn đạp rất tốt để đánh vào trung tâm Mường Thanh, vì vậy chúng ta phải kiên quyết tiến công tiêu diệt bằng được các điểm cao A1, C1, C2.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:46:01 pm

Một vấn đề quan trọng trong kế hoạch tiến công A1 khiến cho chỉ huy đại đoàn, Trung đoàn 174 và cơ quan tham mưu suy nghĩ nhiều là tìm cách đánh hầm ngầm. Nhiều phương án được đưa ra bàn bạc. Cuối cùng, kế hoạch đào một đường hầm chạy từ trận địa ta đến chân hầm ngầm địch rồi dùng một lượng thuốc nổ lớn đánh sập hầm ngầm được Bộ Tư lệnh đại đoàn nhất trí và báo cáo lên Bộ Chỉ huy chiến dịch. Cấp trên phê chuẩn kế hoạch này và tăng cường cho đại đoàn một tổ công binh có kỹ thuật và kinh nghiệm.

Tối ngày 20-4, đại đoàn ra lệnh bắt đầu đào đường hầm. Đào được vài đêm thì địch phát hiện tiếng động trong lòng đất. Chúng gọi máy bay, đại bác bắn phá liên tiếp vào trận địa ta, ban đêm địch bò ra chiến hào ném lựu đạn, xả súng bắn xuống phía đường hầm ta đang đào. Nhưng công tác bảo vệ lực lượng đào hầm đã được ta tính toán chặt chẽ. Nhiệm vụ này được giao cho Tiểu đoàn 255 cùng hai trận địa hỏa lực và lực lượng dự bị bố trí tại đồi Cháy và đồi F. Vì vậy, các cuộc đột kích, đánh phá cũng như hai đợt phản kích của địch ngày 22 và ngày 25-4 đều bị đập tan.

Khi đường hầm đào vào sâu thì nhiều khó khăn mới lại phát sinh như thiếu ánh sáng và không khí, hướng và tốc độ của đường hầm không nhằm đúng vị trí hầm ngầm của địch. Làm thế nào để đưa đất ra ngoài vừa nhanh vừa không bị lộ là những vấn đề không đơn giản... Cuối cùng, nhờ trí tuệ của tập thể và sự chỉ đạo sâu sát, kịp thời của đại đoàn và trung đoàn, những khó khăn đó đã được giải quyết. Bộ Tư lệnh đại đoàn đã gửi cho anh em bộ đèn "Sôlếch" vẫn dùng ở Sở Chỉ huy. Chị em dân công tập trung khâu gấp hàng nghìn túi bằng vải dù để chứa đất kéo ra bờ công sự luôn, còn vấn đề giữ đúng hướng và tốc độ của đường hầm được xử lý bằng cách kết hợp phương pháp tính toán của pháo binh với các biện pháp đơn giản là dùng cây hương cháy đỏ làm vật chuẩn và ống thuốc tiêm đựng nước làm ống thăng bằng. Để đường hầm bớt ngột ngạt, anh em dùng quạt nan quạt không khí từ ngoài vào. Sau hơn 10 ngày đêm con đường hầm và một căn hầm chứa thuốc nổ đã hoàn thành. 1.000kg thuốc nổ được kết thành khối đặt trong hầm. Phương pháp làm nổ thuốc đã được tính toán chu đáo. Tuy vậy, chiến sĩ Đại đội 317 vẫn chưa yên tâm. Tại hội nghị chi bộ, hai đảng viên tình nguyện trong trường hợp các phương pháp gây nổ của anh em công binh không đạt kết quả thì mỗi đồng chí sẽ ôm một khối thuốc nổ 20kg giật sẵn nụ xoè lao vào hoàn thành nhiệm vụ.

Cuối tháng 4, công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công của quân ta đã căn bản hoàn thành, Bộ Chỉ huy chiến dịch đề ra nhiệm vụ trong những ngày đầu tháng 5 là phải đánh xong khu ngoại vi, chiếm toàn bộ các điểm cao phía đông và một số cứ điểm phía tây, hoàn toàn triệt đường tiếp viện của địch.

Để cổ vũ mạnh mẽ tinh thần giết giặc lập công, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phát động đợt thi đua từ ngày 1 đến ngày 19-5 chào mừng ngày Quốc tế lao động và kỷ niệm ngày sinh Bác Hồ. Riêng đối với Đại đoàn 316, đợt thi đua này còn có ý nghĩa kỷ niệm lần thứ ba ngày thành lập đại đoàn (1-5-1951 - 1-5-1954). Hàng nghìn quyết tâm thư của cán bộ, chiến sĩ gửi Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đại đoàn, hứa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong đợt tiến công mới.

12 giờ ngày 1-5, trong gần một giờ đồng hồ pháo binh chiến dịch giội cơn bão lửa vào các trận địa pháo địch. Khu Mường Thanh chìm trong khói lửa. Theo kế hoạch, lúc 19 giờ bộ đội phòng ngự trên đồi C1 bí mật lùi xuống cửa mở. Đến 19 giờ 27 phút, hỏa lực của Trung đoàn 98 bắn dồn dập vào trận địa địch trên đồi C1, pháo của ta đặt ngay tại đồi D, cách C1 vài trăm mét bắn rất chính xác. Địch hoàn toàn bất ngờ lúng túng trước sự xuất hiện của pháo binh ta ở ngay cạnh chúng.

Pháo vừa ngừng chế áp, bộ binh ta lập tức xung phong đánh chiếm C1. Chỉ sau một giờ chiến đấu ta làm chủ hoàn toàn đồi C1, diệt tại trận 114 tên (có 1 quan ba và 1 quan hai), bắt sống 44 tên, thu toàn bộ vũ khí.

Ở phía đồi A1, Trung đoàn 174 đánh chiếm được hai lô cốt số 7 và số 8. Đêm chiến đấu đầu tiên của đợt ba thắng lợi giòn giã. Ta chiếm được các mục tiêu đã định. Các đại đoàn bạn tiêu diệt cứ điểm 311B và 505 ở phía tây và khu C thuộc phân khu Hồng Cúm. Trong thế thừa thắng, quân ta ở hai phía đông và tây cánh đồng Mường Thanh giờ đây như hai gọng kìm thép đang khép chặt lấy cổ địch. Trước cảnh khốn quẫn, địch đã có dấu hiệu muốn mở đường máu tháo chạy.

Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định gấp rút hoàn thành nhiệm vụ của đợt tiến công thứ ba và chỉ thị cho các đơn vị sẵn sàng nắm thời cơ, khi có điều kiện chuyển sang tổng công kích ngay và phải bao vây chặt để đánh địch rút chạy. Thời gian nổ súng của toàn mặt trận ấn định là 20 giờ 30 phút ngày 6-5, lấy tiếng nổ của 1.000kg bộc phá trên đồi A1 làm hiệu lệnh tiến công.

Đại đoàn 316 được tăng cường Trung đoàn 9 thuộc Đại đoàn 304 làm lực lượng dự bị, trong khi đó Tiểu đoàn 938 của Trung đoàn 98 được phối thuộc Đại đoàn 304 làm nhiệm vụ bao vây tiến công Hồng Cúm.

Đại đoàn quyết định sử dụng Trung đoàn 174 tiêu diệt đồi A1 dưới sự chi viện của pháo binh chiến dịch. Khi giải quyết xong A1, nếu Trung đoàn 98 gặp khó khăn thì Trung đoàn 174 tổ chức một bộ phận đánh sang hoặc dùng hỏa lực yểm trợ, kiên quyết ngăn chặn địch từ Mường Thanh phản kích ra, đồng thời tiêu diệt A3. Trung đoàn 98 được tăng cường Tiểu đoàn 375 của Trung đoàn 9 có nhiệm vụ tiêu diệt C2, sau đó sẵn sàng phát triển vào khu trung tâm Mường Thanh khi có lệnh. Trung đoàn 9 còn lại hai tiểu đoàn làm lực lượng dự bị của đại đoàn.

Đúng 20 giờ 30 phút ngày 6-5, đại đoàn ra lệnh nổ bộc phá. Khác với sự hình dung của mọi người, trên đồi A1 không có tiếng nổ rung trời mà chỉ thấy một tia chớp loé lên kèm theo một tiếng ục nặng nề. Đường dây điện thoại giữa Trung đoàn 174 với đại đội công binh bị đứt nên trung đoàn chưa biết bộc phá đã nổ, nhưng quan sát thấy trên đồi A1 có cột khói bụi bốc lên cao, trung đoàn trưởng xác định là bộc phá đã nổ nên lập tức ra lệnh nổ súng, đồng thời báo cáo lên đại đoàn. Lần này ta không dùng pháo bắn chuẩn bị theo quy luật mà chỉ bắn chế áp mãnh liệt trong 15 phút rồi cho bộ đội xung phong ngay để tạo sự bất ngờ áp đảo địch.

Tuy khối thuốc nổ lớn đặt chưa thật đúng đáy hầm ngầm, nhưng do uy lực lớn đã phá sập một đoạn hầm ngầm và lô cốt con, tiêu diệt một số địch và làm cho nhiều tên khác bị tê liệt vì sức ép. Khi bộ đội ta ập đến địch không kịp đối phó.

Từ phía đông - nam, Tiểu đoàn 249 chia làm hai mũi đánh lên hầm ngầm, khu thông tin và trận địa cối. Từ phía tây - nam, Tiểu đoàn 251 đánh thúc vào sau lưng địch, tiêu diệt lô cốt 17, bịt đường tháo chạy của chúng. Khi quân ta đánh đến trận địa cối địch thì cuộc chiến đấu lại diễn ra giằng co, ta phải điều lực lượng lên tăng cường và tổ chức làm nhiều hướng, tiếp tục xung phong. Đến 4 giờ 30 phút sáng ngày 7-5, ta đập tan hoàn toàn sức kháng cự của địch và làm chủ đồi A1.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:46:41 pm

Ở đồi C2, do tầm quan trọng của vị trí này đối với tập đoàn cứ điểm, nên sau khi mất đồi C1, địch tập trung mọi cố gắng tăng cường phòng thủ C2 với hy vọng dùng C2 và A1 làm "bức tường thép" chắn cho trung tâm Mường Thanh, đặc biệt là Sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri. Chúng đưa 6 đại đội của Tiểu đoàn lê dương số 2 và Tiểu đoàn dù nguỵ số 5 lên quyết giữ C2 bằng mọi giá. Do vậy, ngay từ phút đầu, cuộc chiến đấu đã hết sức quyết liệt. Trong đêm, ta tổ chức nhiều đợt xung phong chiếm được trận địa súng cối, diệt một ban chỉ huy đại đội, giết nhiều địch, trong đó có tên quan ba nhưng sau đó bị địch phản kích chiếm lại. Đến 5 giờ sáng, trung đoàn 98 vẫn chưa diệt được cứ điểm C2.

Lúc này Trung đoàn 174 đã chiếm được A1. Bộ Tư lệnh đại đoàn nhận định: dù quân địch ở C2 còn tương đối đông và ngoan cố nhưng không thể chống cự lại được quân ta. Bản thân Trung đoàn 98 còn đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Do đó, đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 98 nhanh chóng điều Tiểu đoàn dự bị 375 thay cho Tiểu đoàn 215 bước vào chiến đấu. Đồng thời đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 174 dùng hỏa lực chi viện cho Trung đoàn 98 và khẩn trương chuẩn bị tiến công A3, sẵn sàng đánh địch phản kích A1 và phối hợp với Tiểu đoàn 439 chặn đứng âm mưu địch tăng viện cho C2.

Để tạo thuận lợi cho bộ đội xung phong, theo đề nghị của đại đoàn, Bộ Chỉ huy chiến dịch cho lựu pháo 105 ly bắn vào C2. Hơn 200 quả lựu pháo nốì nhau rót xuống làm rung chuyển đồi C2. Các trận địa pháo địch cũng bị ta kiềm chế.

7 giờ 30 phút sáng ngày 7-5, pháo vừa ngừng chế áp, Tiểu đoàn 215 và Tiểu đoàn 375 chia làm ba mũi xung phong lên C2. Quân ta lần lượt đánh chiếm các mục tiêu. Lúc này, tướng Đờ Cátxtơri, chỉ huy tập đoàn cứ điểm, cố vét 8 trung đội tung ra phản kích, nhưng bị Tiểu đoàn 439 cùng hỏa lực của Trung đoàn 174 chặn đứng, phải chạy về Mường Thanh.

9 giờ 30 phút ta làm chủ đồi C2. Sáu đại đội thuộc Lữ đoàn dù lê dương số 2 và Tiểu đoàn dù nguỵ số 5 gồm hơn 600 tên bị tiêu diệt và bắt sống, trong đó có hai tên quan tư. Trung đoàn 174 cũng đánh chiếm hoàn toàn A3.

Sau một đêm chiến đấu vô cùng anh dũng, Đại đoàn 316 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm A1, C2, A3, trong đó A1 và C2 là hai điểm cao phòng ngự then chốt cuối cùng của tập đoàn cứ điểm.

Cùng đêm ngày 6-5, các đại đoàn bạn cũng hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Phạm vi chiếm đóng của địch lúc này chỉ còn lại mỗi chiều 500-700m. Lâm vào cảnh bị bao vây bốn mặt, sĩ quan và binh linh địch hoang mang cực độ.

Nắm vững thời cơ, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích. 15 giờ, pháo ta ầm ầm trút đạn xuống Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtơri. Bộ binh ta bốn mặt giáp công, tiến đến đâu binh lính địch mang cờ trắng ra hàng đến đó.

Đúng 17 giờ 30, ta kết liễu số phận của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Hàng ngàn bộ đội và dân công nhảy lên reo hò và bắn súng mừng chiến thắng vang dậy khắp một vùng thung lũng rộng lớn. Nhiều đồng chí ôm nhau trào nước mắt vì sung sướng.

Kể từ khi hành quân đuổi giặc đêm 9-12-1953 - mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 đến ngày toàn thắng 7-5-1954, đại đoàn đã hoạt động và chiến đấu liên tục 5 tháng ròng rã trong những điều kiện hết sức khó khăn, ác liệt. Đại đoàn đã tiến quân với tốc độ thần tốc, chiến đấu ngoan cường và giành thắng lợi vẻ vang.

Tính chung trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ, đại đoàn đánh 17 trận tiến công và phòng ngự với quy mô tương đối lớn, và hàng trăm trận vận động, phục kích, tập kích. Đã tiêu diệt 3.300 tên địch, bắt sống và gọi hàng 6.500 tên, thu và phá huỷ 3.200 súng các loại, bắn rơi và bắn cháy 11 máy bay, bắn hỏng 3 xe tăng và 3 xe ôtô, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh khác của địch.

Với chiến công đó, Đại đoàn 316 và cả ba trung đoàn cùng hầu hết các tiểu đoàn, đại đội đều được thưởng Huân chương Quân công. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ được thưởng Huân chương Quân công và Chiến công.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954) đánh dấu thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược.

Lịch sử chiến đấu của đại đoàn trong cuộc đọ sức quyết liệt với kẻ thù từ ngày thành lập đến khi kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ là những năm tháng hào hùng để lại nhiều bài học quý báu cho cán bộ, chiến sĩ đơn vị. Chỉ mới ba năm sau ngày thành lập, đại đoàn đã tạo ra một sức bật Phù Đổng, góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, lần đầu tiên đại đoàn chiến đấu tương đối tập trung. Trình độ đánh công sự vững chắc và khả năng chiến đấu liên tục, dài ngày của đại đoàn trong điều kiện bom đạn ác liệt và thời tiết khắc nghiệt được nâng cao và có nhiều sáng tạo độc đáo. Công tác tổ chức, chỉ huy chiến đấu của cán bộ các cấp có nhiều tiến bộ; thế hiện rõ nét ở những điểm sau:

Việc chuyển các đơn vị từng quen đánh nhỏ lẻ, phân tán nhanh chóng sang tập trung trong đội hình lớn, có hiệp đồng binh chủng, đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ là một công việc hết sức nặng nề trong điều kiện thời gian huấn luyện ngắn. Đại đoàn đã khắc phục nhiều khó khăn để đưa các đơn vị đáp ứng với yêu cầu của chiến trường ngay từ đầu, kết hợp "vừa xây dựng vừa chiến đấu, lấy chiến đấu để xây dựng". Đại đoàn đã vận dụng hết sức linh hoạt phương châm: "thận trọng nhưng phải mạnh bạo", kết hợp giữa yêu cầu công tác với biện pháp xây dựng cụ thể phù hợp với từng đơn vị trong những điều kiện riêng biệt và đặc điểm của chiến trường.

Chiến đấu chống một đội quân xâm lược nhà nghề có ưu thế về vật chất - trang bị kỹ thuật, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn luôn tìm tòi những cách đánh thích hợp. Qua thử thách của thực tiễn chiến đấu, nhiều cách đánh mới trong đơn vị đã chứng tỏ hiệu suất tiêu diệt địch cao, góp phần làm cơ sở cho việc nghiên cứu những hình thức chiến thuật mới. Các trận chiến đấu phòng ngự Đồi Xanh, tiến công cứ điểm A1, C1, C2 là những trận đánh độc đáo góp phần vào kho tàng kinh nghiệm chung.

Để xây dựng đại đoàn vững mạnh toàn diện đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong chiến dịch, ngoài việc tăng cường xây dựng lực lượng, rèn luyện chiến thuật, kỹ thuật và chuyên môn, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh đại đoàn thường xuyên coi trọng việc giáo dục, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, lòng yêu nước cho cán bộ, chiến sĩ. Việc tăng cường sức mạnh lãnh đạo của chi bộ và cấp uỷ các cấp được coi là khâu trọng yếu quyết định đối với việc hoàn thành nhiệm vụ của đại đoàn trong chiến dịch.

Chiến đấu ở địa bàn rừng núi, trong điều kiện nhân tài, vật lực hạn chế, việc vận chuyển tiếp tế có nhiều khó khăn, cán bộ chiến sĩ đại đoàn phải chịu đựng nhiều gian khổ thiếu thốn, song tất cả đều xây dựng cho mình bản lĩnh vững vàng, một tinh thần và nghị lực sẵn sàng vượt khó, ra sức khắc phục khó khăn, tự túc lấy mọi thứ, tự làm lấy mọi việc. Do đó mà đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu trong những điều kiện đặc biệt của chiến trường.

Đó là những bài học quý báu được đúc rút từ thực tiễn chiến đấu trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:50:22 pm

ĐẠI ĐOÀN 312 TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953 - 1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Thượng tá PHAN VĂN GIANG
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312

Tham gia Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là một niềm vinh dự lớn lao nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề của Đại đoàn 312. Ý thức sâu sắc điều đó, trước khi bước vào chiến dịch, đại đoàn tập trung thực hiện tốt đợt chỉnh huấn chính trị, củng cố tổ chức, huấn luyện theo yêu cầu đánh cứ điểm và tập đoàn cứ điểm. Sau đợt chỉnh huấn chính trị, củng cố tổ chức, huấn luyện theo yêu cầu mới, ngày 10-12-1953, Đại đoàn 312 chính thức nhận lệnh hành quân lên Tây Bắc tham gia chiến đấu. Đại đoàn đã họp bàn biện pháp lãnh đạo nhằm bảo đảm tốc độ hành quân với yêu cầu: "Ăn tốt, ngủ tốt, tổ chức lực lượng mang vác hợp lý, hành quân tốt"; bảo đảm thời gian, bảo đảm chặng đường, bảo đảm sức khoẻ không để tổn thất dọc đường. Đây là đợt hành quân lớn nhất kể từ ngày đại đoàn được thành lập.

Gần một tháng ròng rã hành quân trong mưa phùn gió bấc lạnh buổt, lại bị địch đánh phá liên tục trên đường, cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312 đã vượt qua chặng đường dài hơn 500km đến vị trí tập kết an toàn. Khi hành quân đến vị trí tập kết, đại đoàn nhận nhiệm vụ mở đường; kéo pháo qua những khu vực địa hình phức tạp, nhiều núi cao dốc đứng.

Mở đường, kéo pháo lên dốc đã là vất vả nhưng xuống dốc càng vất vả hơn. Đường quành theo vách núi cheo leo, nguy hiểm. Một bên vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu thăm thẳm. Khi đưa pháo xuống dốc, hàng trăm người giữ đằng sau thả dây, đằng trước chèn giữ cho pháo đi đúng hướng. Có những đoạn đường quang, bộ đội phải làm giàn cây ngụy trang để giữ bí mật cho con đường. Sau hơn một tuần, tranh thủ cả ngày lẫn đêm, các trung đoàn đã hoàn thành việc kéo pháo vào trận địa. Ngay sau đó, đại đoàn khẩn trương bắt tay chuẩn bị mọi mặt cho cuộc tiến công đánh vào hướng đông - nam sân bay, đồi Độc Lập và Bản Kéo.

Khi Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định chuyển từ phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc", đại đoàn được lệnh kéo pháo ra. Kéo pháo ra là nhiệm vụ rất gian nan, nguy hiểm. Ngày này qua ngày khác, chiến sĩ thức trắng, ăn uống thiếu thốn, vẫn không rời nhiệm vụ dù phải đi đào củ mài, lấy bắp chuối, nõn chuối, rau rừng ăn thêm. Trong khi ta kéo pháo ra, địch liên tiếp nống ra nhằm thăm dò, mở rộng phạm vi kiểm soát, ngăn chặn ta triển khai lực lượng. Nhiều trận chiến đấu đã diễn ra ác liệt.

Ngày 17-1-1954, trung đội của đồng chí Trần Độ gồm 32 chiến sĩ đánh lui bảy đợt xung phong của hai tiểu đoàn địch có xe tăng và đại bác yểm trợ, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch.

Ngày 12-2-1954, trên điểm cao 674, tiểu đội của đồng chí Mai và năm chiến sĩ quân báo của Trung đoàn 141 đã đánh bại bốn đợt tiến công của một đại đội địch, diệt 39 tên.

Ngày 15-2-1954, địch huy động ba tiểu đoàn tiến công lên cao điểm 674. Bên ta có trung đội của đồng chí Trần Oanh gồm 45 cán bộ, chiến sĩ. Địch xung phong 12 lần nhưng đợt nào cùng bị ta đánh, không tiến lên được, bị loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên, trong đó có 1 tên quan ba, 2 tên quan hai.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo, đại đoàn khẩn trương hoàn tất mọi công tác chuẩn bị chiến đấu. Các trung đoàn đều làm thêm đường và trận địa pháo để pháo binh có thể cơ động chiến đấu trong mọi tình huống. Ngoài trận địa chính kiên cố, ta còn tổ chức trận địa nghi binh để đánh lạc hướng sự theo dõi của địch. Trong hoàn cảnh khó khăn, các đơn vị vẫn chú trọng chăm lo đời sống, nâng cao sức khoẻ bộ đội, giữ vững quân số chiến đấu, tranh thủ luyện tập, nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng. Lúc này, Đại đoàn 312 vinh dự được nhận nhiệm vụ tiến công cứ điểm Him Lam mở màn cho chiến dịch. Nhận nhiệm vụ đánh Him Lam, đại đoàn bắt tay ngay vào việc xây dựng trận địa, đào giao thông hào để chuyển lương thực, vũ khí, đào hầm chỉ huy, đào hầm để ở, hầm cho cấp dưỡng nấu cơm, hầm cấp cứu, hầm pha chế thuốc, hầm cho thương binh nằm, v.v...

Cụm cứ điểm Him Lam gồm ba cứ điểm được xây dựng trên ba quả đồi độc lập, nằm về phía nam sông Nậm Rốm và phía bắc trục đường 41 thuộc phân khu trung tâm, cách trung tâm Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 3,5 km về phía đông-   bắc. Đây là cửa ngõ của tập đoàn cứ điểm có nhiệm vụ giữ vững trục đường 41 để bảo vệ sân bay Mường Thanh và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Địch bố trí ở đây khoảng một tiểu đoàn, bộ binh tăng cường gồm bốn đại đội bộ binh và Sở Chỉ huy tiểu đoàn được trang bị nhiều vũ khí, phương tiện tối tân như máy nhìn đêm, máy nghe tiếng động từ xa... Đây là một cụm cứ điểm mạnh.

Đại đoàn 312 (lúc này thiếu Trung đoàn 165), được phối thuộc hai đại đội cối 120 ly, hai đại đội cối 82 ly, hai đại đội sơn pháo 75 ly, hai đại đội lựu pháo 105 ly.

Đúng 15 giờ ngày 13-3-1954, trên các hướng, quân ta đã vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công.

Vào lúc 16 giờ, lực lượng pháo của Đại đoàn 312 bắn cấp tập vào cụm cứ điểm Him Lam.

Đúng 18 giờ, các Đại đội 243, 58, 366 thực hành mở cửa bằng bộc phá liên tục. Trong quá trình mở cửa, địch dùng hoả lực bịt lấp cửa mở. Mặc cho pháo của địch bắn ra như mưa, các chiến sĩ ta vẫn bình tĩnh, mưu trí, gan dạ xông lên mở cửa. Khi cửa mở đã thông, được lệnh của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, trên cả ba hướng, lực lượng của hai Trung đoàn 141 và 209 đã dũng mãnh xông lên đánh chiếm lô cốt đầu cầu và tiếp tục đốt phá các mục tiêu bên trong cứ điểm, làm cho kẻ địch trong cụm cứ điểm Him Lam cũng như trung tâm Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ lúng túng đối phó. Chúng dùng hoả lực ở khu trung tâm tập trung bắn mãnh liệt hòng ngăn chặn các mũi tiến công của ta. Với sự chỉ huy cương quyết, mưu trí, linh hoạt; với lòng dũng cảm không sợ hy sinh, các chiến sĩ ta đã đập tan sự kháng cự của địch trong căn cứ. Trong cuộc chiến đấu này, xuất hiện những tấm gương tiêu biểu như Trần Can, Phan Đình Giót. Bằng các đợt tiến công đột phá liên tục và mãnh liệt, đến 23 giờ 30 phút ngày 13-3-1954, đại đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam, diệt 300 tên, bắt 200 tên, thu toàn bộ vũ khí trang bị. Ta hy sinh 62 cán bộ, chiến sĩ.

Trận Him Lam thắng giòn giã làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận Điện Biên Phủ. Đối với Đại đoàn 312, trận đầu ra quân thắng lợi, có ý nghĩa to lớn tạo nên niềm tin tưởng vững chắc vào sức chiến đấu mới cho bộ đội. Trận Him Lam chứng tỏ trình độ hiệp đồng tác chiến đánh cứ điểm kiên cố của đại đoàn đã có những tiến bộ quan trọng.

Thất bại nặng nề và bất ngờ ở Him Lam đã gây nên sự hoang mang, dao động cho cả Bộ Chỉ huy, binh lính và sĩ quan Pháp ở lòng chảo Điện Biên Phủ.
_______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 07 Tháng Giêng, 2022, 02:50:59 pm

Trong lúc địch đang choáng váng vì cụm cứ điểm Him Lam vừa bị đập tan thì đêm ngày 14 rạng sáng ngày 15-3-1954, ta mở đợt tiến công vào trung tâm đề kháng đồi Độc Lập. Cứ điểm này có chiều dài 500m, rộng 200m, nằm cách trung tâm Sở Chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 4 km về phía bắc. Xung quanh cứ điểm có nhiều lớp hàng rào, vật cản, nhất là phía bắc và phía nam. Trung tâm cứ điểm do Tiểu đoàn 5 Bắc Phi thuộc Trung đoàn Angiêri số 7 và một đại đội ngụy Thái (tất cả gồm 5 đại đội) chiếm giữ. Về hoả lực, tại đây có bốn khẩu cối 120 ly làm nhiệm vụ bắn chặn trên đường Lai Châu - Điện Biên.

Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) và Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được tăng cường hai đại đội sơn pháo 75 ly, hai đại đội cối 120 ly, có nhiệm vụ tiến công cứ điểm đồi Độc Lập.

Trung đoàn 165 đảm nhiệm việc tiến công đột phá từ hướng đông - nam vào. Đây là hướng tiến công chủ yếu của ta. Trung đoàn 88 đảm nhiệm tiến công trên hướng thứ yếu, đột phá từ hướng đông - bắc vào. Đúng 2 giờ ngày 15-3, pháo và cối 120 ly bắt đầu bắn phá chuẩn bị. 3 giờ 30 phút, đồng chí Chỉ huy trưởng mặt trận ra lệnh nổ súng tiến công đồi Độc lập. Trên hướng chủ yếu của Trung đoàn 165, việc đột phá diễn ra thuận lợi. Trong khi đó ở hướng Trung đoàn 88, do bộc phá đặt chệch, nên khi nổ, không quét hết hàng rào. Đại đội Tô Văn đánh đến 30 quả bộc phá mà vẫn không mở được cửa. Lực lượng xung kích của Trung đoàn 88 phải quay lại hướng cửa mở của Trung đoàn 165, do đó vào chiến đấu bên trong chậm hơn. Cuộc chiến đấu diễn ra ở bên trong trận địa khá quyết liệt. Song với tinh thần chiến đấu dũng cảm và sức tiến công áp đảo, đến 6 giờ 30 phút sáng ngày 15-3, ta đã hoàn toàn làm chủ cứ điểm Độc Lập, diệt gọn tiểu đoàn Bắc Phi tăng cường.

Như vậy, hệ thống phòng thủ tiền tiêu của địch trên hướng bắc và đông - bắc đã bị đập tan, địch vô cùng hoảng sợ, đối phó lúng túng. Ngày 17-3, tiểu đoàn địch đóng giữ đồi Bản Kéo ở phía tây - bắc bỏ chạy vào rừng, đầu hàng quân ta. Sân bay Mường Thanh bị ta uy hiếp. Viên chỉ huy pháo binh Pirốt vì quá lo sợ và thất vọng trước hoả lực pháo binh mãnh liệt của ta đã dùng lựu đạn tự sát.

Sau năm ngày tiến công, ta chiếm được hai vị trí kiên cố then chốt của địch ở Điện Biên Phủ, diệt và bắt sống 2.000 tên địch, bắn rơi 12 máy bay. Qua những trận chiến đấu này, bộ đội được rèn luyện và trưởng thành về cách đánh công kiên, cán bộ, chiến sĩ đều phấn khởi tin tưởng ở sức chiến đấu của đơn vị mình.

Chuẩn bị đợt hai chiến dịch, Đại đoàn 312 cùng với các đơn vị bạn khẩn trương xây dựng hệ thống công sự, trận địa, giao thông hào, sẵn sàng bước vào chiến đấu. Trong đợt này, Đại đoàn được phối thuộc hai đại đội sơn pháo 75 ly, hai đại đội súng cối 120 ly, một đại đội cối 82 ly, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm đồi E, đồi D1, đồi D2, điểm cao 210 và quân cơ động thuộc lực lượng dù ngụy số 5 của Tiểu đoàn dù số 6.

Đúng 17 giờ 30 phút ngày 30-3, pháo của chiến dịch bắn chuẩn bị vào các cứ điểm phía đông, là những vị trí quan trọng trong hệ thống phòng ngự còn lại của địch ở khu trung tâm, nhất là các dãy cao điểm. Mất những vị trí này, tập đoàn cứ điểm địch sẽ bị uy hiếp nghiêm trọng. Sau đợt bắn chuẩn bị, các đơn vị lần lượt nổ súng tiến công. Trên hướng đông - bắc, Trung đoàn 141 sử dụng Tiểu đoàn 16 và Tiểu đoàn 428 tiến công cứ điểm đồi E. Sau 1 giờ 45 phút xung phong với khí thế áp đảo, ta hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt gọn Tiểu đoàn Angiêri số 3, chiếm lĩnh đồi E. Cùng thời gian trên, Trung đoàn 209 sử dụng Tiểu đoàn 166 và Tiểu đoàn 130 đánh chiếm cứ điểm đồi D1. Sau khi chiếm xong đồi D1, đại đoàn tiếp tục điều Tiểu đoàn 130 tiến công sang đồi D2. Các đơn vị khác đánh chiếm đồi E và phát triển vào các ngọn đồi phía trong. Cuộc chiến đấu diễn ra ở đây vô cùng gay go và ác liệt, ta và địch giằng co nhau cho đến khi trời sáng.

Chiều và đêm ngày 30-3, ngoài lực lượng tiến công vào các điểm cao ở phía đông, đại đoàn còn sử dụng Tiểu đoàn 11 thuộc Trung đoàn 141, Tiểu đoàn 115 thuộc Trung đoàn 165 và Tiểu đoàn 54, làm nhiệm vụ thọc sâu tiêu diệt trận địa pháo binh địch ở cứ điểm 210 và Tiểu đoàn dù ngụy số 5 đóng ở vòng trong. Các Tiểu đoàn 115, 54, vượt qua khoảng trống giữa các vị trí C1 và D2, E, tiến vào bên trong nhưng không thể tiến sâu hơn được. Riêng Tiểu đoàn 11 đánh chiếm được một vị trí, gây cho địch nhiều thiệt hại. Đội dũng sĩ thuộc Đại đội 243 phát triển tới tận bờ sông Nậm Rốm và trụ bám kiên cường tại đây suốt mấy ngày.

Ngày 31-3, địch tung lực lượng phản kích hòng chiếm lại những vị trí đã mất ở đồi D1, E nhưng bị thất bại. Ở phía bắc sân bay, đêm 3-4, Trung đoàn 165 tiến công cứ điểm 105. Đến sáng ngày 4-4, ta chiếm được 2/3 cứ điểm, nhưng địch lại tổ chức phản kích và chiếm lại. Để giữ chắc các bàn đạp đã chiếm được, Đại đoàn 312 nhận lệnh tiếp tục củng cố vững chắc trận địa phòng ngự ở đồi D, E; xây dựng trận địa tiến công các điểm cao 105, 203, 204 và Tiểu đoàn Thái số 2; phối hợp với Đại đoàn 308 làm giao thông hào cắt ngang sân bay Mường Thanh ở phía nam và củng cố trận địa chiến đấu.

Đêm 18-4, sau nhiều lần vây lấn, Trung đoàn 165 tiến công cứ điểm 105. Cuộc chiến đấu kéo dài đến sáng ngày 19-4 mới kết thúc. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, bọn địch ở khu vực phía bắc sân bay bí mật rút lúc 3 giờ sáng. Lúc này, ta đã đào hào cắt ngang sân bay nên lực lượng địch ở khu vực sân bay ở vào tình thế bị bao vây không có nước uống, thiếu ăn. Ngày 19-4, địch cho quân ra phản kích nhưng bị Đại đoàn 308 chặn đánh, phải quay lại. Trong khi đó, ta tiếp tục đào hào vây lấn vào sát lô cốt địch, nhiều nơi chỉ cách 15 - 30m.

Đợt hai của chiến dịch kéo dài gần một tháng. Các đơn vị của đại đoàn do vây lấn dài ngày nên bị thương vong nhiều. Hơn nữa, thời tiết khắc nghiệt cùng với sự khó khăn thiếu thốn, nên trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, xuất hiện tư tưởng nôn nóng, muốn tiến công chớp nhoáng, ngại đánh lâu dài. Trước tình hình này, đại đoàn đã mở đợt giáo dục chính trị tư tưởng, quán triệt phương châm "đánh chắc, tiến chắc", nâng cao tinh thần chiến đấu của bộ đội. Đồng thời, việc cải thiện đời sống bộ đội ngay trong chiến hào để bảo đảm sức khoẻ chiến đấu dài ngày cũng được chú trọng.

Đêm 1-5-1954, quân ta mở đợt tiến công thứ ba đánh chiếm các cao điểm còn lại ở phía đông, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía tây, chuẩn bị cho tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Mở đầu đợt ba chiến dịch, Tiểu đoàn 166 thuộc Trung đoàn 209 tiến công cứ điểm 505 và 505 A. Đến 4 giờ sáng ngày 2-5, Trung đoàn đã làm chủ hai cứ điểm này. Cũng thời gian trên, Trung đoàn 165 tiến công cứ điểm 506. Đến 9 giờ sáng ngày 7-5, các đơn vị đã hoàn thành nhiệm vụ được giao và sẵn sàng chuyển sang tổng công kích.

15 giờ ngày 7-5, Bộ Chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng công kích. Từ bốn phía quân ta ào ạt đánh vào khu vực trung tâm.

Chấp hành mệnh lệnh của đại đoàn, sau khi vượt qua ba cứ điểm, Đại đội 360 do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy tiến thẳng tới cầu Mường Thanh. Khẩu đại liên bốn nòng của địch ở bên kia đầu cầu quét xối xả. Các đồng chí chiến sĩ Vinh, Nhỏ và tổ xung kích thu hút địch về một phía, rồi dùng thủ pháo diệt gọn các ổ đại liên, tạo thời cơ cho trung đội của Chu Bá Tuệ vượt qua cầu. Tiểu đội xung kích của Đại đội 360 nhảy vào hào địch bắt sống hai tù binh và buộc chúng dẫn đường tới sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri. Đội bảo vệ Sở Chỉ huy của địch dùng xe tăng phản kích nhưng các chiến sĩ Đại đội 360 lập tức đập tan và áp sát miệng hầm.

Sau một loạt thủ pháo và tiểu liên uy hiếp, tổ chiến sĩ Nhỏ, Vinh dẫn đầu trung đội cùng đồng chí Đại đội trưởng xông vào hầm Sở Chỉ huy tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật yêu cầu tướng Đờ Cátxtơri ra lệnh cho toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm đầu hàng. Đúng 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954, tướng Đờ Cátxtơri và Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm buộc phải đầu hàng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về trình độ lãnh đạo chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật và khả năng tác chiến hiệp đồng của các đơn vị tham gia chiến dịch, trong đó có Đại đoàn 312. Từ đột phá các cứ điểm đơn lẻ với lực lượng ít, thời gian dài cho đến tiến công vào tập đoàn cứ điểm có bố phòng kiên cố, phức tạp của địch, bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt các hình thức chiến thuật, tác chiến như vây lấn kết hợp với đột phá, tiến công chính diện kết hợp với vu hồi sau lưng, bên sườn, thọc sâu, luồn sâu v.v... linh hoạt và có hiệu quả.

Là lực lượng tiến công trên hướng chủ yếu từ trận đánh mở màn cho đến khi kết thúc chiến dịch, đại đoàn đã tham gia 20 trận đánh lớn, tiêu diệt 17 đại đội địch, bắt sống hơn 4.000 tù binh, góp phần cùng với các đơn vị bạn tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, giáng đòn quyết định đánh bại ý chí xâm lược của thực dân Pháp.

Với chiến công xuất sắc đó, ngày 13-5-1954, trong lễ duyệt binh các đơn vị chiến thắng Điện Biên Phủ được tổ chức trọng thể ngay trên cánh đồng Mường Thanh, Đại đoàn 312 vinh dự được nhận vĩnh viễn cờ thương luân lưu "Quyết chiến, Quyết thắng" của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 10:43:50 am

ĐẠI ĐOÀN 304 TRONG ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Thượng tá NGUYỄN VĂN HƯỞNG
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 304

Năm 1950, năm thứ năm của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi quan trọng. Nhằm đáp ứng nhiệm vụ chiến lược trong bước ngoặt mới, giai đoạn mới của cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng quyết định đẩy mạnh xây dựng lực lượng cơ động chiến lược tác chiến tập trung quy mô lớn, tiến tới giành thắng lợi quyết định. Thực hiện chủ trương đó của Đảng, trong những năm 1950, 1951, tiếp theo Đại đoàn 308, năm đại đoàn chủ lực lần lượt được thành lập đứng chân trên địa bàn chiến lược. Đại đoàn chủ lực cơ động 304 (nay là Sư đoàn 304) được thành lập ngày 10-3-1950, là một trong hai đại đoàn thành lập sớm nhất của quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp.

Sư đoàn gồm Trung đoàn 9, Trung đoàn 66 và Trung đoàn 57 (nay là Trung đoàn BBCG 24) vốn là những đơn vị chủ lực thiện chiến của Liên khu III, Liên khu IV ra đời từ sau Cách mạng Tháng Tám.

Buổi đầu thành lập, đại đoàn thiếu thốn mọi bề, cả về vũ khí trang bị, mỗi tiểu đoàn chỉ có từ 3 đến 5 khẩu súng trường, còn lại là mã tấu, dao, kiếm. Đại đội hoả lực của Đại đoàn có 4 khẩu 12,7 ly, 6 khẩu cối 120 ly và 81 ly cùng 3 khẩu SKZ do quân giới của ta chế tạo.

Vận tải chủ yếu là đôi vai người chiến sĩ, cả đại đoàn có 3 con ngựa và 15 xe đạp. Hệ thống thông tin chỉ có 15 máy điện thoại, tổng đài và một ít dây điện cũ kỹ.

Tuy khó khăn thiếu thốn như vậy nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, với ý chí quyết chiến quyết thắng, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cán bộ chiến sĩ Đại đoàn 304 đã vượt qua muôn vàn gian khổ hy sinh, lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Nhiệm vụ của đại đoàn khi thì luồn sâu vào sau lưng địch, phá toang phòng tuyến của chúng, hỗ trợ cho phong trào chiến tranh du kích ở địa phương, khi thì độc lập mở chiến dịch ở hướng địch bất ngờ nhất để phối hợp với chiến trường chính. Có khi đại đoàn cùng các đơn vị bạn tác chiến trong một chiến dịch lớn, có khi phải phân tán làm hai nhiệm vụ khác nhau trong thời gian dài, không gian rộng. Đại đoàn 304 đã tham gia hầu hết các chiến dịch, trong đó có Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh trong Đông Xuân 1953 - 1954, Bộ Tổng tham mưu đã đưa lực lượng chủ lực của ta mở ba cuộc tiến công lớn:

- Bao vây tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng vùng Tây Bắc, phối hợp cùng bộ đội Phathét Lào giải phóng Phông Xa Lỳ.

- Phối hợp với quân giải phóng Lào tiêu diệt một bộ phận địch ở Trung - Hạ Lào, mở rộng vùng giải phóng, khai thông đường chiến lược bắc - nam Đông Dương.

- Tiến lên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum, đập tan âm mưu bình định miền Nam Việt Nam của địch.

Đông Xuân 1953 - 1954, Đại đoàn 304 được giao nhiệm vụ trên hai hướng. Trung đoàn 66 cùng các đơn vị bạn làm nhiệm vụ ở mặt trận Trung Lào, Trung đoàn 9 và Trung đoàn 57 bí mật tập kết tại khu vực Sơn Nhiễu, Kiều Thôn thuộc tỉnh Phú Thọ, sẵn sàng tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng thời cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh đánh ra vùng hậu phương của ta.

Trung đoàn 66 chiến đấu trên địa bàn hai tỉnh Khăm Muộn và Xavannakhét thuộc Trung Lào. Đây là địa bàn mà phía đông là dãy Trường Sơn giáp Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị của Việt Nam; phía tây giáp Thái Lan, phía bắc giáp tỉnh Xiêng Khoảng, phía nam giáp tỉnh Xaravan. Khu vực này chủ yếu là rừng thưa mọc trên những dải đất bằng phẳng của vùng cao nguyên Trung Lào, dân cư thưa thớt, khí hậu khắc nghiệt, bất thường. Mùa nắng rừng cây khô trụi lá, có nhiều trận mưa bất chợt xối xả làm ngập cả lối đi. Trung đoàn 66 chiến đấu trong điều kiện xa hậu phương, tiếp tế khó khăn, lương thực, đạn dược, quần áo, thuốc men đều thiếu thốn. Nhưng với ý chí và quyết tâm cao, cán bộ chiến sĩ trung đoàn đã kề vai sát cánh cùng bạn chiến đấu trên 40 trận, có nhiều trận thắng giòn giã như ở Pà Cuội, Hìu Xìu, Mường Phìn... Tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, thu nhiều vũ khí trang bị, cùng lực lượng vũ trang bạn giải phóng nhiều vùng đất đai ở Trung, Hạ Lào, củng cố vùng mới giải phóng, hỗ trợ và phát triển phong trào chiến tranh du kích ở địa phương tạo nên hậu phương vững mạnh.
___________________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 10:44:33 am

Sự xuất hiện của Trung đoàn 66 cùng các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam khác trên mặt trận Trung Lào là đòn hiểm bất ngờ đã góp phần làm đảo lộn kế hoạch Nava. Thế bố trí chiến lược của địch buộc phải thay đổi, bị động đối phó theo ý định của ta, tạo nên thế trận có lợi cho ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954.

Đánh giá chiến công của Trung đoàn 66, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp sau này đã nhận xét: "Một mình Trung đoàn 66 ở Trung Lào có giá trị như một đại đoàn”.

Trong khi Trung đoàn 66 chiến đấu ở Trung Lào thì Trung đoàn 57 cũng ráo riết chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng bước vào chiến đấu ở mặt trận Điện Biên Phủ. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn, Trung đoàn 57 cùng các đơn vị bạn tiến hành bao vây, chia cắt khống chế sân bay Hồng Cúm, khống chế các trận địa pháo binh địch, chia cắt quân địch ở Hồng Cúm và trung tâm Mường Thanh; tích cực đánh nhỏ, đánh phản kích, tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch, tạo điều kiện đánh mạnh, tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, ta phải đào một giao thông hào lớn từ đông sang tây mà lực lượng thực hiện chủ yếu là Trung đoàn 57. Đây là một công trình rất lớn. Biết bao công sức, mồ hôi, xương máu của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 57 đã đổ xuống Mường Thanh, Hồng Cúm, Noọng Nhai để hoàn thành công trình này.

Cuối tháng 3-1954, Bộ Chỉ huy mặt trận mở đợt tiến công tiêu diệt các cứ điểm khu đông, trung tâm Mường Thanh, giành thế thuận lợi để ta chuẩn bị tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Phối hợp với các đơn vị đánh chiếm khu đông, Trung đoàn 57 dùng lực lượng nhỏ đột phá, thọc sâu, nghi binh, ngăn chặn địch ở Hồng Cúm, không để chúng chi viện cho Mường Thanh. Trung đoàn đã lần lượt bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, siết chặt thêm vòng vây, cắt đứt mọi sự hỗ trợ, chi viện ứng cứu cho nhau giữa hai phân khu của địch; sau đó tiến hành chặn viện, đánh lấn, bắn tỉa và đoạt dù... cắt đường tiếp vận hàng không là con đường tiếp tế duy nhất của chúng.

Trong khi Trung đoàn 66 hành quân sang Lào, Trung đoàn 57 tiến lên Điện Biên Phủ thì Trung đoàn 9 được Tổng Tư lệnh và đại đoàn giao cho nhiệm vụ tổ chức luyện tập làm quen với địa hình, thuần thục các hình thức chiến thuật vận động tiến công, bao vây phục kích, sẵn sàng diệt địch nếu chúng đánh lên Phú Thọ. Dưới sự lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ của Đảng uỷ, chỉ huy đại đoàn, các trung đoàn đều hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Riêng Trung đoàn 9 đang ngày đêm ra sức luyện tập thì được lệnh cấp tốc hành quân lên Sơn La tiễu phỉ. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiễu phỉ, Trung đoàn lại nhận lệnh hành quân cấp tốc lên tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ. Vừa hành quân vừa mở đường, cuối tháng 4-1954, Trung đoàn đã có mặt ở phía tây Hồng Cúm cùng Trung đoàn 57 đào công sự lấn dũi, đoạt dù, bao vây quân địch tại cụm cứ điểm này. Sau đó, trung đoàn chuyển sang hoạt động ở phía đông Mường Thanh chuẩn bị cho tổng công kích. Trung đoàn đã phối hợp với Đại đoàn 316 và Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm C2 và A1. Đây là hai cứ điểm mạnh nhất của địch ở Điện Biên Phủ. Chỉ huy đại đoàn đã trực tiếp hướng dẫn kế hoạch cho trung đoàn, phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn đánh vào hai vị trí trên.

Từ ngày 1 đến ngày 4-5-1954, ta và địch giành giật quyết liệt hai cứ điểm A1 và C2. Sáng ngày 7-5, cứ điểm A1 bị tiêu diệt. Địch ở cứ điểm C2 bị cô lập, song vẫn ngoan cố chống cự, vì đây là điểm tựa cuối cùng ở khu đông. Trước khi Tiểu đoàn 375 thuộc Trung đoàn 9 của đại đoàn bước vào đánh chiếm cứ điểm C2 thì đơn vị nhận được điện động viên và nhắc nhở của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: "Phải đánh nhanh, mạnh, cắt địch ra từng mảng. Trong lúc này cán bộ chỉ huy phải thật kiên cường". Như được tiếp thêm sức mạnh, lại có hỏa lực chi viện trực tiếp, các mũi chiến đấu của trung đoàn ào ạt xông lên. Không còn khả năng chống đỡ, địch trong cứ điểm C2 kéo cờ trắng nối nhau ra hàng. Trung đoàn bắt sống toàn bộ 400 tên địch, góp phần quét sạch quân địch ở khu đông. Tiếp đó trung đoàn cấp tốc truy kích bắt sống toàn bộ 1.200 tên địch ở Hồng Cúm, trong đó có tên đại tá, chỉ huy phó tập đoàn cứ điểm.

Góp phần cùng toàn quân, toàn dân kết thúc thắng lợi Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là một trong những chiến công tiêu biểu mà đại đoàn đã giành được trong suốt chặng đường dài chiến đấu gian khổ, ác liệt chống thực dân Pháp. Trong chiến công đó, có sự giúp đỡ tận tình của đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Khi tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, ngoài nhiệm vụ chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ đại đoàn còn tích cực giúp đỡ nhân dân, cùng nhân dân địa phương phá hàng trăm mét khối đá, khơi mương dẫn nước cứu cho 40 mẫu lúa khỏi nạn úng, lụt và tưới cho hàng trăm mẫu khác khỏi hạn hán. Dân bản đã trân trọng dựng tấm bia bên bờ mương khắc tên đơn vị, để ghi nhớ hành động nghĩa tình của bộ đội Đại đoàn 304.

Trong khi làm nhiệm vụ tiễu phỉ ở Sơn La, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 9 đã tranh thủ sửa nhà, giúp dân làm rẫy, tổ chức các buổi liên hoan văn nghệ phục vụ đồng bào các dân tộc. Thực phẩm thu được của địch, đơn vị đều phân phát giúp đỡ đồng bào các bản làng đang gặp đói. Nhân dân vô cùng cảm động, hết lòng mến phục Bộ đội Cụ Hồ đuổi giặc cứu dân. Chính vì vậy, đã nhiều lần đồng bào dẫn đường cho bộ đội đến tận sào huyệt tiêu diệt chúng.

Bốn mươi lăm năm đã trôi qua1 kể từ chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhìn lại chặng đường chiến đấu và xây dựng của mình, lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn 304 tự hào nhận thấy trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đại đoàn luôn luôn quán triệt tư tưởng tiến công, nhận thức rõ vị trí vai trò của một đại đoàn chủ lực cơ động trong chiến tranh giải phóng. Cán bộ, chiến sĩ luôn nỗ lực rèn luyện bản lĩnh, ý chí chiến đấu. Dù chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện, chiến trường nào, đại đoàn luôn phát huy tính chủ động, mưu trí, sáng tạo, dựa vào dân, tích cực xây dựng, mở rộng địa bàn hoạt động, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân để chiến thắng kẻ thù.
________________________________________________
1. Tính đến năm 1999 (B.T).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 10:48:23 am

PHÁO BINH TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ 1

Thiếu tướng ĐỖ QUỐC ÂN
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh

Sau ngày Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, cùng với các đại đoàn bộ binh, Đại đoàn công pháo 351 đã nhanh chóng hành quân lên Tây Bắc và náo nức làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Pháp, lực lượng pháo binh của ta được huy động với mức cao nhất, gồm Trung đoàn 45 lựu pháo 105 ly, Trung đoàn 675 sơn pháo 75 ly (thuộc Đại đoàn công pháo 351) và các tiểu đoàn pháo trong biên chế của các đại đoàn, trung đoàn chủ lực tham gia chiến dịch. Đêm 22-12-1953, các đơn vị pháo binh hành quân lên Điện Biên với tinh thần: "Tới đích đúng thời gian, bảo đảm an toàn người, xe, pháo và khí tài, bí mật tuyệt đối". Đường hành quân ra trận dài trên 500 km, phần lớn là đường quân sự làm gấp, lại phải vượt qua nhiều trọng điểm thường xuyên bị máy bay địch đánh phá (Lũng Lô, Bản Chẹn, Cò Nòi...). Nhưng, với quyết tâm cao của cán bộ, chiến sĩ và sự hiệp đồng chặt chẽ của các lực lượng bảo đảm, sau 18 ngày đêm, các đơn vị pháo binh đã đến vị trí tập kết ở Tuần Giáo an toàn, bí mật, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ hành quân.

Lúc đầu, để thực hiện phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", lực lượng pháo binh được lệnh nhanh chóng hành quân chiếm lĩnh trận địa. Nhằm giữ yếu tố bí mật, bất ngờ và bảo đảm an toàn, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định thành lập Bộ Chỉ huy kéo pháo do Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 chỉ huy và dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Để kéo một khẩu pháo 105 ly nặng gần hai tấn, vượt qua núi cao, vực sâu (có những đoạn đường có độ dốc 40° - 50°) phải dùng cả trăm người kết hợp với tời quay mới có thể đưa pháo nhích lên từng mét. Khó khăn là vậy, nhưng khi một số đơn vị đã vào tới trận địa thì được lệnh kéo pháo ra, bố trí sắp xếp lại trận địa, thực hiện theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Kéo pháo vào đã khó, kéo pháo ra lại càng khó hơn gấp bội. Thế nhưng, nhờ kịp thời làm tốt tư tưởng cho bộ đội và coi đây là nhiệm vụ chiến đấu, nên toàn bộ số pháo được kéo ra đúng quy định, bảo đảm an toàn. Trên đường kéo pháo vào, kéo pháo ra, đã có nhiều tấm gương dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ pháo binh, dân công hoả tuyến. Đồng chí Nguyễn Văn Chức, Tô Vĩnh Diện... đã hy sinh thân mình cứu pháo. Bài ca Hò kéo pháo của nhạc sĩ Hoàng Vân đã ra đời trong cuộc chiến đấu đầy sự tích anh hùng này. Ngày 5-2-1954, nhiệm vụ kéo pháo ra của bộ đội pháo binh và các lực lượng bảo đảm đã hoàn thành thắng lợi, được Chỉ huy trưởng mặt trận gửi thư khen.

Ngày 25-2 1954, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh Đại đoàn 351 họp thông qua kế hoạch sử dụng pháo binh. Theo đó, lực lượng pháo binh tham gia đợt một gồm 234 khẩu pháo, cối các loại. Trung đoàn 45 gồm sáu đại đội pháo, tổ chức thành cụm pháo chiến dịch, được bố trí từ đông - bắc Hồng Cúm đến tây - bắc Bản Kéo, tạo thành vòng cung hơn 30km; cự ly bắn của từng trận địa tới từng mục tiêu từ 5km đến 7km, tập trung hoả lực vào những mục tiêu chủ yếu trong trung tâm như sân bay, sở chỉ huy, trận địa pháo. Trung đoàn 675 sơn pháo gồm hai đại đội cùng với bốn đại đội cối (82 ly và 120 ly), phối hợp với các đại đội pháo của các Đại đoàn 308 và 312, tổ chức thành các cụm pháo đại đoàn, bố trí ở hướng đông và đông - bắc Điện Biên Phủ (cự ly bắn từ 600 đến 800m, đối với các trận địa sơn pháo 75 ly từ 300m đến 500m), trực tiếp chi viện cho bộ binh tiến công đột phá khu trung tâm. Tại cuộc họp này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn: Các đồng chí phải làm sao cho trận này quân địch phải khiếp sợ pháo binh như chúng đã từng khiếp sợ bộ binh Việt Nam.

Trong quá trình kéo pháo vào, kéo pháo ra, rồi lại kéo pháo vào, các đơn vị pháo binh đã quán triệt sâu sắc và chấp hành nghiêm chỉnh quyết tâm của Bộ Chỉ huy chiến dịch, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, vượt qua bom đạn địch, khẩn trương hành quân chiếm lĩnh bố trí thế trận, cấu trúc công sự trận địa bắn và làm mọi công tác chuẩn bị bắn với tinh thần cao nhất. Đến sáng 13-3-1954, mọi công tác chuẩn bị chiến đấu của lực lượng pháo binh đã hoàn thành.

Đúng 17 giờ 5 phút ngày 13-3-1954, được lệnh của Chỉ huy chiến dịch, Trung đoàn 45 vinh dự bắn phát đạn đầu tiên mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ trong đợt bắn chuẩn bị mang tên "Sấm rền" nhằm vào Him Lam, phân khu trung tâm, các sân bay, trận địa pháo, kho tàng của địch... Sau đó, pháo binh ta chuyển sang bắn chế áp các trận địa pháo binh, súng cối địch và chi viện cho bộ binh ta xung phong. Dưới sự chi viện đắc lực, có hiệu quả, sau năm ngày đêm, quân ta tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập, bức hàng quân địch ở Bản Kéo, đập vỡ tuyến phòng thủ phía bắc, đặt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ trong thế bị vây hãm cả bốn mặt. Trận mở đầu chiến dịch thắng lợi giòn giã. Thắng lợi đó có vai trò quan trọng của hoả lực pháo binh. Bằng nghệ thuật sử dụng pháo binh độc đáo, phù hợp với chiến dịch và với từng trận đánh, hoả lực pháo binh ta đã gây cho địch nhiều tổn thất nặng nề và khiến chúng hoang mang cao độ. Đại đoàn công pháo 351 là đại đoàn đầu tiên được trao cờ Quyết chiến, Quyết thắng của Bác Hồ.

Bước vào đợt hai, theo yêu cầu của chiến dịch, pháo binh nhanh chóng điều chỉnh đội hình chiến đấu và xây dựng thêm một tiểu đoàn ĐKZ 75 ly và một tiểu đoàn hoả tiễn H6. Trong đợt này, pháo binh có nhiệm vụ chi viện cho bộ binh đánh các cứ điểm thuộc phân khu trung tâm (A1, C1, C2, D1, D2, E), thực hiện chia cắt từng khu vực, thắt chặt vòng vây, khống chế sân bay; đồng thời tập kích hoả lực vào Sở Chỉ huy, trận địa pháo của địch ở Mường Thanh, Hồng Cúm và sẵn sàng chi viện cho bộ binh đánh địch phản kích. 17 giờ ngày 30-3-1954, quân ta nổ súng, mở đầu đợt hai chiến dịch. Các đơn vị pháo binh đã thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch hoả lực, chi viện đắc lực cho bộ binh tiến công tiêu diệt các mục tiêu, các cứ điểm đã quy định. Ngoài ra, pháo binh còn kiềm chế sân bay, chế áp pháo binh địch có hiệu quả. Điển hình là trận đánh ở đồi E ngày 23-4-1954 do đồng chí Phùng Văn Khầu chỉ huy, đã diệt cả bốn khẩu 105 ly của địch trong 10 phút chỉ với 15 phát bắn. Đến ngày 28-4-1954, phạm vi kiểm soát của địch, nhất là phân khu trung tâm đã bị thu hẹp tới mức tất cả các mục tiêu đều nằm dưới tầm hoả lực pháo binh ta. Một thế trận chung, trong đó có thế trận pháo binh, được hình thành vững chắc, áp đảo quân địch.
_______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 10:49:20 am

Đêm 1-5-1954, quân ta bước vào đợt ba, tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Về lực lượng pháo binh, ta đã tập trung tới 261 khẩu pháo, cối các loại, mỗi đại đoàn bộ binh đã có tới 70-80 khẩu. Ngoài cụm pháo chiến dịch có nhiệm vụ chi viện chung và kiềm chế pháo binh địch, lực lượng còn lại đều tăng cường cho các đại đoàn bộ binh. Những trung đoàn bộ binh tiến công trên hướng chủ yếu được tăng cường các đại đội ĐKZ. Nhiệm vụ của pháo binh trong đợt này là chi viện cho bộ binh tiêu diệt các cứ điểm C1, C2, A1, A2, 505, 506 phía đông và các cứ điểm 311A, 311B phía tây sân bay. Đúng thời gian quy định, pháo binh thực hiện pháo bắn chuẩn bị (từ đêm 1-5) vào toàn bộ đội hình quân địch ở Mường Thanh, Hồng Cúm. Lần đầu tiên hoả tiễn H6 của ta xuất hiện đã gây cho địch bất ngờ lớn, khiến chúng kinh hoàng. Trong các ngày 6 và 7-5, pháo binh ta liên tục tập kích hoả lực vào Sở Chỉ huy của tướng Đờ Cátxtơri và các điểm cao, hỗ trợ bộ binh tiến công tiêu diệt những mục tiêu còn lại. Ngày 7-5, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.

Trong chiến dịch lịch sử này, với lực lượng đông đảo cả pháo xe kéo và pháo mang vác, thực hiện tác chiến độc lập và tác chiến hiệp đồng, bộ đội pháo binh đã chiến đấu dũng mãnh, đầy sáng tạo, đạt hiệu quả cao, góp phần xứng đáng làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Pháo binh càng đánh càng trưởng thành, càng về cuối chiến dịch, hiệu quả hoả lực pháo binh ta càng cao, càng mạnh.

Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là cột mốc đã đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật sử dụng pháo binh, để lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm và bài học quý giá, trong đó nổi lên một số vấn đề sau đây:

Một là, sử dụng pháo binh tập trung tạo ưu thế về hoả lực, chi viện cho bộ binh đánh chắc thắng, tiêu diệt từng cứ điểm địch từ vòng ngoài vào trong, tiến tới tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm.

Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên ta sử dụng pháo xe kéo tập trung lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Đồng thời cũng là nơi ta đã sử dụng loại pháo mới có tầm xa, uy lực lớn như pháo phản lực H6, ĐKZ 75 ly, lựu pháo 105 ly. Trong cả chiến dịch và trong từng trận chiến đấu, ta đã tập trung pháo binh một cách hợp lý để tạo ưu thế về hoả lực: trong trận Him Lam ta 3 địch 1; trận đồi Độc Lập ta 4,5 địch 1. Cả chiến dịch, nếu tính riêng pháo, cối chi viện trực tiếp, ta gấp 10 lần địch. Nếu tính cả các nhiệm vụ chế áp các mục tiêu khác, ta cũng gấp 2,6 lần. Trận Mường Thanh ta đã tập trung 20 khẩu để thực hành hoả lực chuẩn bị. Về đạn, tuy có nhiều khó khăn nhưng cũng có trận ta đã tập trung tới 4.000 viên.

Vì thế, trong đợt một, hoả lực pháo binh ta đã làm tê liệt pháo binh địch ngay từ đầu, chi viện đắc lực cho bộ binh đánh nhanh diệt gọn, giảm đáng kể thương vong do pháo binh địch gây ra.

Hai là, xậy dựng thế trận pháo binh hiểm hóc, vững chắc, chuyển hoá thế trận kịp thời.

Để thực hiện được cách đánh của chiến dịch là vây hãm tiến công, đột phá lần lượt, vấn đề mấu chốt phải giải quyết là xây dựng trận địa tiến công. Ta đã kéo pháo lên các sườn núi, xây dựng các trận địa pháo vững chắc và bí mật, bất ngờ, bảo đảm cho việc phát huy sức mạnh hiệp đồng giữa bộ binh và pháo binh tiêu diệt gọn từng trung tâm đề kháng của địch. Trận địa pháo binh ta đặt kín đáo trên các sườn núi vây quanh Điện Biên Phủ và trong tầm bắn có lợi nhất vào trung tâm khu vực mục tiêu. Thực hiện "lên cao, vào gần, bắn thẳng" là một bảo đảm để hoả lực pháo binh được sử dụng rất cơ động và tập trung trên địa bàn chiến dịch trong thời điểm quyết định. Đây là vấn đề mà các chuyên gia pháo binh Pháp hồi đó đã tính toán sai lầm rằng, ta không thể đưa pháo vào đủ gần để có thể bắn sâu vào tập đoàn cứ điểm. Họ tính toán nếu ta đưa pháo vào thì các trận địa hoả lực của ta phải bố trí ở các sườn đối diện, do đó sẽ bị pháo binh Pháp tiêu diệt ngay. Nhưng ngược với tính toán chủ quan của địch, quân ta đã làm đường và kéo vào trận địa bắn ở các sườn núi, hầm pháo được xây dựng vững chắc, nguỵ trang chu đáo, phát huy được hiệu quả của hoả lực trong tác chiến hiệp đồng. Đó là một sự bất ngờ lớn, gây cú sốc mạnh tới tinh thần quân địch.

Ba là, vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo, phát huy được sức mạnh hoả lực của các loại pháo.

Thế trận hiểm hóc, vững chắc, bí mật, bất ngờ là cơ sở thuận lợi để vận dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo. Quán triệt phương châm "đánh chắc, tiến chắc", bộ đội pháo binh đã vận dụng linh hoạt và tổng hợp các cách đánh gần, đánh xa, đánh bất ngờ, đánh liên tục, đánh dồn dập, đánh kéo dài, đánh bồi, đánh nhồi. Mặc dù mỗi trận, mật độ hoả lực mà pháo binh ta sử dụng không cao nhưng với cách đánh sáng tạo đó, đã gây cho địch nhiều tổn thất về lực lượng, tinh thần hoang mang dao động kéo dài. Pháo binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ còn vận dụng linh hoạt các phương pháp bắn: phá hoại, tiêu diệt, kiềm chế, chế áp..., đặc biệt là đã vận dụng rất thành công phương pháp bắn ngắm trực tiếp, tiêu diệt mục tiêu nhanh, tốn ít đạn.

Bốn là, cơ động hợp lý, kiên quyết đúng thời cơ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, việc cơ động chiếm lĩnh trận địa và cơ động trong quá trình thực hành chiến đấu rất phức tạp bởi phải thực hiện trên các con đường nhiều đèo dốc cao, đường nhỏ hẹp, mùa mưa đường lầy lội. Vả lại, kéo pháo chủ yếu là sức người, trong tầm khống chế của hoả lực địch, trong đó yêu cầu bí mật, bất ngờ và an toàn được đặt lên hàng đầu... nên càng khó khăn phức tạp hơn. Khi chuyển sang phương châm "đánh chắc, tiến chắc", pháo binh đã kết hợp với các lực lượng của chiến dịch mở thêm năm trục đường cơ động có chiều dài tổng cộng 63 km để kéo pháo vào chiếm lĩnh và di chuyển trong chiến đấu. Trong quá trình thực hành chiến đấu, pháo binh ta đã tổ chức tốt cơ động chiếm lĩnh trận địa mới, kịp thời chi viện cho bộ binh. Điển hình là Phân đội sơn pháo 675 đi cùng bộ binh trong trận Him Lam đã khiêng vác từng bộ phận pháo, cơ động di chuyển cùng bộ binh dưới làn đạn của địch vào chiếm lĩnh trận địa để bắn ngắm trực tiếp, chi viện cho bộ binh tiến công.

Năm là, thực hiện tốt nhiệm vụ kiềm chế, chế áp các trận địa pháo và những mục tiêu quan trọng của địch.

Ngay khi mở màn chiến dịch, ta đã dùng lựu pháo 105 ly đặt từ xa hoặc dùng các khẩu đội sơn pháo 75 ly thọc sâu, vào gần, đặt trên đồi cao, dội đạn liên tục kiềm chế các trận địa hoả lực của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại và không có khả năng phản pháo. Khẩu đội sơn pháo 75 ly do đồng chí Phùng Văn Khầu chỉ huy đã bắn ngắm trực tiếp ở cự ly gần trong 10 phút, tiêu diệt bốn khẩu pháo 105 ly của địch.

Việc tiếp tế lương thực, đạn dược và vận chuyển thương, bệnh binh của địch ở Điện Biên Phủ, chỉ có duy nhất đường hàng không. Ta xác định nếu khống chế được sân bay thì địch sẽ khốn đốn và nhanh chóng bị tiêu diệt. Ngay khi chiến dịch còn đang trong giai đoạn chuẩn bị, ta đã sử dụng Đại đội sơn pháo 75 ly kiềm chế sân bay Mường Thanh, bắn cháy, bắn hỏng 10 máy bay các loại. Suốt quá trình chiến dịch, pháo binh ta đã phối hợp chặt chẽ với hoả lực cao xạ khống chế sân bay một cách hiệu quả. Đây là đòn đánh hiểm, khiến kẻ thù không có cách nào gỡ nổi.

Chiến thắng của Chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh dấu bước trưởng thành to lớn của bộ đội pháo binh. Từ chỗ chúng ta chỉ sử dụng các khẩu đội, trung đội pháo mang vác, đánh độc lập chi viện cho các trận chiến đấu nhỏ, lẻ; tiến lên sử dụng tập trung nhiều trung đoàn, tiểu đoàn pháo xe kéo cỡ lớn đánh hiệp đồng với quy mô đại đoàn bộ binh tiêu diệt lớn quân địch, là cả một chặng đường phấn đấu đầy gian khổ, hy sinh của bộ đội pháo binh. Những thành tích, những kinh nghiệm quý giá tích luỹ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ và trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là những cơ sở quan trọng để bộ đội pháo binh tiếp tục xây dựng binh chủng ngày càng hùng mạnh, xứng đáng là binh chủng hoả lực chủ yếu của quân đội ta trong thời kỳ lịch sử mới, đồng thời mãi mãi xứng đáng với danh hiệu: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng" mà Bác Hồ đã khen tặng.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 11:12:13 pm

TÁC CHIẾN PHÒNG KHÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Trung tướng TRẦN NHẪN

Những bài học kinh nghiệm của chiến thắng Điện Biên Phủ là vô cùng phong phú và nhiều mặt, trong đó những kinh nghiệm về tác chiến phòng không trong chiến dịch cũng hết sức quý báu, đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển nghệ thuật tác chiến phòng không sau này của chúng ta.

Kết thúc chiến dịch, bộ đội pháo cao xạ đã được Bộ Tổng tư lệnh nhận xét: "Đoàn 367 luôn luôn nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, hành quân cơ giới giỏi, giữ được bí mật binh chủng cho đến giờ tiến công của chiến dịch, giành được yếu tố bất ngờ về chiến thuật. Trong chiến đấu luôn luôn dũng cảm, kiên cường, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của bộ giao cho"2.

Thế nhưng, theo chúng tôi, sự đóng góp của bộ đội pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ không chỉ dừng lại ở đây. Điều quan trọng hơn là một sự mở đầu. Chiến dịch lịch sử mang tính chiến lược này đánh dấu sự ra đời của một binh chủng mới - binh chủng pháo cao xạ, sự xuất hiện một mặt trận mới - mặt trận đất đối không. Sự mở đầu bao giờ cũng có ý nghĩa đặc biệt của nó và thường để lại những dấu ấn. Sự mở đầu đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với sự phát triển khách quan của lịch sử, có tác dụng tích cực không những đối với thời điểm đó mà còn phát huy tác dụng trong suốt tiến trình phát triển về sau. Sự xuất hiện của binh chủng pháo cao xạ và cuộc chiến đấu anh hùng của nó ở Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ mang đầy đủ ý nghĩa như thế.

1. Sự xuất hiện của bộ đội pháo cao xạ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là một tất yếu lịch sử

Kỷ niệm 30 năm trận đánh vĩ đại Điện Biên Phủ, đồng thời cũng là kỷ niệm 30 năm ngày bộ đội pháo cao xạ ra quân đánh thắng trận đầu. Điều trùng hợp này không phải là ngẫu nhiên mà mang đầy đủ tính tất yếu của một sự kiện lịch sử. Có thể nói, nếu như chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 và Chiến dịch Điện Biên Phủ là sự phát triển tất yếu của cuộc kháng chiến chống Pháp thì sự ra đời của pháo cao xạ vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh cũng là sự phát triển tất yếu khách quan của quá trình xây dựng lực lượng vũ trang theo quy luật từ không đến có, từ yếu đến mạnh, từ thô sơ đến hiện đại.

Quân và dân ta đã biết dùng súng trường bắn máy bay địch ngay từ đầu năm 1946, nhưng mãi đến cuối năm 1951, đầu năm 1952, những tiểu đoàn súng máy phòng không 12,7 ly nằm trong biên chế các đại đoàn chủ lực mới ra đời, đáp ứng một đòi hỏi khách quan của cuộc chiến đấu đã quy mô lớn hơn trước.

Sau các Chiến dịch Biên giới, Hoà Bình, Tây Bắc..., chúng ta đã giành thế chủ động trên chiến trường. Kẻ địch điên cuồng giãy giụa hòng cứu vãn tình thế. Đế quốc Mỹ tăng cường viện trợ, can thiệp sâu vào Đông Dương.

Hình thái chiến tranh ngày càng phát triển. Về phía ta, muốn giành thắng lợi lớn hơn để đi tới thắng lợi hoàn toàn, nhất định chúng ta phải thực hành những trận đánh lớn, quy mô hiệp đồng binh chủng, tiêu diệt những tập đoàn chủ yếu của địch mới tạo nên những bước ngoặt quan trọng vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh. Về phía địch, với mục đích chiếm đất, giữ đất, để tránh khỏi bị tiêu diệt, hình thức tập đoàn cứ điểm xuất hiện trên chiến trường Đông Dương mà Nà Sản là một ví dụ. Chúng ta đã đánh Nà Sản nhưng không thành công vì thiếu những điều kiện cần thiết. Một trong những điều kiện đó là chúng ta chưa có lực lượng phòng không đủ mạnh để có thể khống chế được không quân địch. Nava đã lạc quan "tin chắc vào sự tốt đẹp của tập đoàn cứ điểm trong tầm với của không quân. Cái đã thành công ở Nà Sản có thể tiến hành ở nơi khác và có thể ở Điện Biên Phủ, căn cứ lục quân, không quân tương lai"3.

Mặt khác, tác chiến càng lớn thì yêu cầu vận chuyển tiếp tế càng nhiều, hậu phương càng phải mạnh và phải được bảo vệ vững chắc cả vùng đất lẫn vùng trời. Như vậy, yêu cầu sự có mặt của lực lượng phòng không mạnh trong lực lượng vũ trang của ta vào thời điểm của chiến cuộc Đông Xuân 1953 -1954 là hết sức cần thiết, là yêu cầu của khách quan, tất yếu không thể khác được. Đảng ta, Bộ Tổng tư lệnh của chúng ta đã nghĩ đến điều đó từ sớm và đã từng bước chuẩn bị cho sự kiện này ra đời. Ngày 1-4-1953, tiểu đoàn pháo cao xạ 37 ly đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức được thành lập mang tên là Đoàn 367. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho đoàn pháo cao xạ: "Học thật tốt, thật nhanh, để sớm ra chiến đấu"4. Giữa khoá học, đồng chí Lê Duẩn đã đến tận thao trường chuyển lời thăm hỏi ân cần của Bác Hồ và căn dặn cán bộ chiến sĩ: "Đoàn pháo cao xạ của ta ra đời giữa lúc cuộc đọ sức giữa quân và dân ta với bọn giặc Pháp xâm lược được đế quốc Mỹ giúp sức đang diễn ra quyết liệt... Lần đầu tiên, chiến sĩ công nông ta được Đảng giao cho những vũ khí mới, các đồng chí không những cần học tốt mà còn phải sử dụng tốt trong chiến đấu, quyết trừng trị không quân địch"5. Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh cũng dành nhiều thời gian theo dõi, giúp đỡ đoàn pháo cao xạ đầu tiên của quân đội ta. Đồng chí Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân uỷ đã trực tiếp viết thư cho cán bộ, chiến sĩ Đoàn 367: "Trong hoàn cảnh một nước, một quân đội chưa có không quân thì binh chủng pháo cao xạ lại càng rất quan trọng... Sự ra đời của bộ đội pháo cao xạ đánh dấu một bước trưởng thành của quân đội ta trên con đường tiến lên chính quy, hiện đại"6. Rõ ràng, sự ra đời của bộ đội pháo cao xạ Việt Nam đã được Đảng ta chuẩn bị hết sức chu đáo cả về tư tưởng, tổ chức và thời cơ. Chưa đầy một năm sau ngày thành lập, ngày 13-3-1954, pháo cao xạ Việt Nam đã bất ngờ xuất hiện tại lòng chảo Điện Biên Phủ, chính thức mở mặt trận đất đối không, hiên ngang đương đầu trực diện với lực lượng không quân nhà nghề của quân đội Pháp, được đế quốc Mỹ viện trợ, làm cho kẻ thù hết sức choáng váng.
_______________________________________________
1. Tạp chí Lịch sử Quân sự, số 3-1984.
2. Chiến đấu bảo vệ bầu trời, Quân chủng Phòng không - Không quân xuất bản, Hà Nội, 1969.
3. Xem Clôđơ Paia: Hai mươi năm xâu xé nước Pháp.
4, 5, 6. Chiến đấu bảo vệ bầu trời, Sđd.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Giêng, 2022, 11:17:21 pm

Bộ Thống soái địch đã phân tích rất kỹ khi quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược với ta trong Đông Xuân 1953 - 1954. Kế hoạch chiếm đóng Điện Biên Phủ còn được thông qua Bộ Quốc phòng Mỹ và được Chính phủ Mỹ chuẩn y. Tướng Lơblăng, chỉ huy pháo binh toàn Đông Dương, tướng Cônhi, Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, am hiểu nhiều về pháo binh, đại tá chỉ huy pháo binh Bắc Bộ và các cố vấn Mỹ chuyên trách về pháo binh, đều nhất trí cho Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm lý tưởng về mọi mặt. Đại tá Pirốt, chỉ huy pháo binh ở Điện Biên Phủ đã ngạo mạn tuyên bố: Chỉ trong 10 phút sẽ làm cho pháo binh của Việt Minh câm họng, chỉ trong hai ngày sẽ làm cho pháo binh Việt Minh tan tác.

Tập đoàn cứ điểm có hai sân bay, trong đó, riêng sân bay ở khu trung tâm thuộc vào loại lớn nhất Đông Dương hồi đó, máy bay hạng nặng có thể lên xuống được. Một cầu hàng không Hà Nội - Điện Biên Phủ được thiết lập từ tháng 11-1953, hằng ngày tiếp tế khoảng 200 tấn lương thực, đạn dược xuống tập đoàn cứ điểm. Nava cho rằng "số phận của Điện Biên Phủ gắn liền hơn bao giờ hết với vai trò của không quân"1. Ngày 17-3-1954, tướng Nava viết trong nhật lệnh gửi quân đội của chúng: Toàn bộ lực lượng của không quân sẽ đưa lên mặt trận Điện Biên Phủ. Thắng lợi của ta dựa trên sự hoạt động có hiệu quả của không quân.

Bộ Chỉ huy địch chủ quan cho rằng, nếu ta tiến công vào Điện Biên Phủ thì: "Việt Minh sẽ tự đưa mình vào cái bẫy" mà chúng đã giăng sẵn và nhất định sẽ bị "nghiền nát". Còn tướng Mỹ Ô. Đanien, Trưởng phái đoàn quân sự Mỹ ở Đông Dương thì tuyên bố như đinh đóng cột: "Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm"2.

Lòng tin của bọn tướng, tá Pháp - Mỹ không phải là không có căn cứ. Đặc biệt chúng hy vọng rất lớn vào không quân, lực lượng mà suốt tám năm ngang nhiên tung hoành trên bầu trời các chiến trường Đông Dương, gây cho ta những khó khăn lớn về nhiều mặt, nhất là về mặt tác chiến. Suốt tám năm, hầu như toàn bộ hoạt động của chúng ta đều diễn ra về ban đêm, kể cả hậu phương và tiền tuyến. Thách thức ta đánh trận Điện Biên Phủ, địch dự tính một phần lớn lực lượng của đối phương sẽ bị không quân của chúng tiêu diệt trên đường hành quân. Khi chủ lực ta tập trung quanh lòng chảo Điện Biên Phủ như "nằm trong một cái túi" thì chúng sẽ mở một chiến dịch ném bom lớn để tiêu diệt sinh lực của ta, đến mức ta không còn đủ sức tiến công nữa.

Như vậy, Bộ Thống soái địch đã nuôi hy vọng chỉ bằng không quân thôi đã có thể bóp nghẹt đối phương ngay từ khi chiến dịch chưa được mở màn. Trong chiến tranh, giữa hai bên tham chiến khi một bên có một loại vũ khí áp đảo bên kia thì so sánh lực lượng thường sẽ không có lợi cho bên không có thứ vũ khí đó. Nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, chúng ta chưa thể có một lực lượng phòng không đủ các binh chủng hiện đại như ngày nay để đánh trả không quân địch. Vì vậy, sự xuất hiện vũ khí pháo cao xạ, mặc dù chỉ là pháo cao xạ cỡ nhỏ, cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng. Ăngghen đã chỉ ra sự phụ thuộc của chiến thuật vào kỹ thuật và vũ khí bằng luận điểm nổi tiếng: "Cùng với sự xuất hiện các loại vũ khí mới thì những hình thức chiến thuật tác chiến cũng thay đổi"3. Trận đánh hiệp đồng binh chủng, với sự tham gia lần đầu của pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ và sự đóng góp tích cực của nó vào chiến thắng chung là một chứng minh hùng hồn luận điểm đúng đắn đó của Ăngghen. Trước hết, do nắm trong tay một lực lượng phòng không đáng kể và tin vào khả năng sáng tạo của nó, Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh của chúng ta đã vững vàng hạ quyết tâm chấp nhận trận quyết chiến chiến lược với địch ở Điện Biên Phủ, mặc dù lúc đầu dự kiến trận đánh chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn ngày, nhưng là một trận đánh công kiên, trận địa và đặc biệt là diễn ra cả ban ngày. Có thể nói là từ đây, lần đầu tiên sau tám năm kháng chiến, với sự có mặt của binh chủng pháo cao xạ, chúng ta đã có thể chuyển những hoạt động tác chiến chủ yếu từ ban đêm sang ban ngày. Pháo binh hạng nặng của ta có thể bố trí trận địa cố định hàng tháng trời. Đây cũng là lần đầu tiên quân đội ta dàn trận đối mặt với một kẻ địch mạnh, quân đội của một cường quốc, mà suốt tám năm bọn chúng cứ huênh hoang là "thường xuyên săn tìm chủ lực Việt Minh, nhưng đều bị lẩn tránh". Vào năm thứ chín của cuộc kháng chiến này, tình hình đã đổi khác. Lịch sử đã sang trang. Chính sự ra đời của bộ đội pháo cao xạ đã góp phần vào sự chuyển biến tất yếu đó của lịch sử.

16 giờ ngày 13-3-1954, pháo cao xạ của ta bắt đầu lên tiếng. Không quân địch hoàn toàn bị bất ngờ, hết sức lúng túng. Bộ binh ta được bảo vệ an toàn, từ vị trí xuất phát tiến công đến vị trí xuất phát xung phong. Với sức mạnh được nhân lên gấp bội khi nhìn thấy lần đầu tiên có pháo cao xạ cùng mình tham gia chiến đấu, các chiến sĩ bộ binh Đại đoàn 312 ào ạt xông vào đồn địch. Vào 23 giờ 30 phút cùng ngày, ta đã hoàn toàn tiêu diệt cứ điểm Him Lam.

Ngày 14-3-1954, bộ binh tiếp tục đánh cứ điểm Độc Lập. Các đại đội pháo cao xạ được lệnh vượt qua cánh đồng Bản Tố trống trải, dưới tầm phi pháo ác liệt của địch, theo sát bộ binh, tiếp tục bảo vệ an toàn cho đội hình tiến công của chiến dịch, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đợt một: tiêu diệt hoàn toàn phân khu bắc của tập đoàn cứ điểm.

Bước vào đợt hai chiến dịch, vừa làm nhiệm vụ yểm hộ cho bộ binh tiếp tục tiến công, vừa thực hiện quyết tâm triệt đường không của địch, hai đại đội của Tiểu đoàn 394 tiến hẳn xuống cánh đồng Noọngpét (tây - nam Mường Thanh), một đại đội vào hẳn cánh đồng Hồng Lếch (tây sân bay Mường Thanh 1 km). Tiểu đoàn cao xạ 381 mới được tăng cường từ hậu phương lên, vào hoạt động trên cánh đồng quanh đồi Độc Lập (bắc sân bay). Bên phía đông, tiểu đoàn 383 tiến vào hoạt động ở phía đông và đông - nam đồi A1, cùng với tiểu đoàn súng máy phòng không của Đại đoàn 316, chiếm lĩnh trận địa quanh các điểm cao bộ binh ta vừa chiếm được ở khu đông.

Như vậy, ngay trong đợt hai, lưới lửa phòng không của ta đã hình thành thế bao vây vùng trời, cùng với thế bao vây mặt đất của bộ binh, đẩy địch vào nguy cơ không tránh khỏi diệt vong. Ngay từ ngày 18-3-1954, Bộ Chỉ huy địch phải bắt đầu thực hiện kế hoạch thả dù tiếp tế ban đêm. Như thế là trong lúc chúng ta chuyển từ đêm sang ngày thì địch, kẻ hợm hĩnh về sức mạnh của không quân đã phải chuyển từ ngày sang đêm. Sự "đổi ngôi", chuyển vị này báo hiệu một chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh. Nó được bắt đầu từ Điện Biên Phủ với sự xuất hiện của một binh chủng mới: binh chủng pháo cao xạ Việt Nam.

Bước vào đợt ba chiến dịch, bộ đội pháo cao xạ lại càng khép chặt vòng vây vùng trời hơn nữa. Ngoài ra, đêm đêm còn tổ chức cho từng trung đội, có khi từng khẩu đội vào phục kích máy bay địch ngav sát trung tâm. Đây cũng là giai đoạn địch điên cuồng chống trả, ra sức giành giật với ta từng cứ điểm. Bộ đội pháo cao xạ đã hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh, pháo binh đánh địch phản kích, giữ vững từng cứ điểm vừa chiếm được.

Từ đánh máy bay địch bảo vệ đội hình tiến công trong đợt một đến phối hợp cùng bộ binh, pháo binh cơ động đánh địch bảo vệ các trận địa vừa chiếm được trong đợt hai, từng bước khống chế vùng trời, đến cơ động phục kích đánh địch ban đêm ở đợt ba, dần dần đi đến triệt đường không của địch, bộ đội pháo cao xạ đã từng bước nâng cao trình độ tác chiến, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Và ngày 7-5-1954, ngày cuối cùng của chiến dịch lịch sử, chỉ trong vòng 25 phút từ 9 giờ đến 9 giờ 25 phút đã liên tiếp bắn rơi hai máy bay Cướp biển của địch, do Mỹ vừa viện trợ, và cùng do chính phi công Mỹ lái. Đây là chiếc máy bay thứ 61, 62 của địch bị bắn rơi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
__________________________________________________
1, 2. Chiến đấu bảo vệ bầu trời, Sđd.
3. A. I. Babi: Ăngghen, nhà lý luận quân sự lỗi lạc của giai cấp công nhân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1977, tr. 253.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2022, 09:06:09 pm

2. Một số vấn đề nghệ thuật tác chiến phòng không trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Lần đầu tiên ra trận đương đầu với một lực lượng không quân nhà nghề tương đối lớn của quân đội thực dân Pháp, được đế quốc Mỹ viện trợ, bộ đội pháo cao xạ Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giành thắng lợi vẻ vang, góp phần quan trọng vào sự toàn thắng của quân đội ta trong trận quyết chiến chiến lược vĩ đại.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, lần đầu tiên bộ binh ta ở hướng chủ công được pháo cao xạ bảo đảm an toàn trên không phận cả ngày lẫn đêm. Pháo cao xạ cũng góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giữ vững giao thông thông suốt từ hậu phương ra chiến trường, bảo đảm vững chắc "một trong những nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh". Ngoài Tiểu đoàn 396 được giao nhiệm vụ bảo vệ hậu phương chiến dịch, đã bắn rơi 9 máy bay địch, bắn bị thương 18 chiếc khác, hai Tiểu đoàn 392, 385 được giao nhiệm vụ bảo vệ hậu phương chiến lược cũng đã bắn rơi 5 máy bay địch, bắn bị thương 14 chiếc khác.

Bộ Thống soái Pháp, với quan điểm không quân là con "hoàng bài" của chiến thắng, đã tung lên chiến trường Điện Biên Phủ hầu hết lực lượng không quân có trong tay ở chiến trường Đông Dương lúc bấy giờ. Vào giai đoạn cuối của chiến dịch, lại có thêm những lực lượng quan trọng của không quân Mỹ giúp sức, với tổng cộng 3.691 lần chiếc xuất kích, trong đó riêng loại ném bom hạng nặng, hạng trung B24, B26 là 1.043 lần chiếc và 1.115 lần chiếc khu trục các loại. Riêng ngày 7-1-1954 chúng huy động đến 147 lần chiếc1. Báo Lơ Phigarô, ngày 12-4-1954 viết: "Bộ Chỉ huy đã ném tất cả lực lượng không quân vào cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Máy bay Pháp lồng lộn một cách khủng khiếp trên vùng trời cứ điểm, ném bom bắn phá không lúc nào ngừng các vị trí của quân đội Việt Minh, các quả đồi ở hậu phương, nơi đặt các kho dự trữ và các con đường tiếp tế... Chưa bao giờ sự tập trung không quân lớn như thế được thực hiện ở Đông Dương"2. Còn báo Nước Pháp buổi chiều ngày 9-6-1954, tính toán chi ly hơn: "Chỉ trong vòng một tháng chúng ta ném vào cuộc chiến đấu 450 máy bay, xuất trận 6.000 lần chiếc, nghĩa là hằng ngày có 200 lần chiếc xuất hiện và mỗi giờ gần 10 lần chiếc. Nếu chúng ta nghĩ rằng mỗi máy bay hoạt động từ 10 - 40 phút trên căn cứ cố thủ thì có thể nói là thường xuyên có hàng chục máy bay lượn vòng trên lòng chảo, cái thì thả dù lương thực và đạn dược, cái thì ném bom, cái thì bắn phá mặt đất và cái cuối cùng thì thả napan - một vòng quay trong chu vi chỉ rộng có 10 - 20 km. Vùng trời Điện Biên Phủ dày đặc máy bay và cũng may là không xảy ra máy bay đâm nhau. Suốt 24 giờ trong ngày, một máy bay chỉ huy lượn trên lòng chảo để chỉ huy các hoạt động không quân và suốt đêm các máy bay "đom đóm" làm nhiệm vụ thường trực"3.

Với lực lượng không quân lớn như vậy, cộng với pháo binh của tập đoàn cứ điểm, lúc đầu bọn chỉ huy Pháp huênh hoang là nếu pháo cao xạ Việt Minh xuất hiện ở lòng chảo Điện Biên Phủ thì chúng sẽ xoá sổ trong vòng một, hai ngày. Nhưng kết quả diễn ra hoàn toàn ngược lại. Pháo cao xạ Việt Nam không những không bị tiêu diệt mà càng đánh, càng mạnh, trình độ tác chiến ngày một nâng cao, kinh nghiện tác chiến ngày càng phong phú. Chiếc máy bay đầu tiên của địch bị hạ trong đợt một là một chiếc Moran, loại trinh sát, và chiếc cuối cùng là một chiếc cường kích Cướp biển vào loại hiện đại lúc bấy giờ, do phi công Mỹ lái, có rađa bảo đảm bay trong mọi thời tiết. Riêng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã bắn rơi 62 máy bay địch, bắn bị thương 177 chiếc khác, gồm 9 kiểu, loại khác nhau4.

"Trận Điện Biên Phủ mà người ta quan niệm như là một trận đánh anh dũng và không may trên bộ, thực ra là một trận thất bại của pháo binh và không quân như năm 1940". Clôđơ đã viết như vậy trong sách Hai mươi năm xâu xé nước Pháp. Một thất bại của không quân. Đây là một sự thật lịch sử khó tưởng tượng nổi. Ai cũng biết trong cuộc chiến tranh này, chúng ta chưa có không quân mà kẻ địch, chỉ riêng trong trận Điện Biên Phủ, đã tung vào các máy bay ném bom: Bắt đầu trận chiến có 48 chiếc B26, 8 chiếc B24, 112 tiêm kích (Hencát, Biacát, Coócxe, F4U). Số này còn được tăng thêm trong chiến dịch và cuối cùng lên tới 227 chiếc5. Đó là chưa kể các loại máy bay khác. Điều rất đáng nói ở đây là chính không quân Mỹ cũng cùng chung số phận thất bại trong trận đánh lịch sử này. Những ngày cuối cùng, khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đang trong cơn hấp hối, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã liên tục họp nhiều phiên khẩn cấp để bàn việc cứu nguy cho Điện Biên Phủ. Đài AFP ngày 28-4-1954 đã chuyển đi bản sơ kết những kết quả mà tướng Êly, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, sang tận nước Mỹ cầu cứu xin viện trợ: Đến giữa tháng 4-1954, Mỹ đã viện trợ cho Pháp 75 máy bay B26, 25 máy bay Coócxe, 20 Đakôta, một số máy bay Hencát và C54, cho Pháp mượn 49 máy bay C119 (cả phi công).
___________________________________________________
1, 2, 3. Tổng kết tác chiến của Đoàn 367, tháng 1-1955.
4. Chín kiểu là: F6F, F8F, EB2C, B2, B26, DC3, C119, FSU, Moran.
5. Xem Tư liệu Điện Biên Phủ, Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1974.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2022, 09:07:23 pm

Trong bài nghiên cứu chuyên đề về hoạt động không quân ở Điện Biên Phủ đăng trong Tạp chí Quốc phòng Airơlen, M. Harion viết: Một điểm quan trọng nữa cần nêu lên là lực lượng tiến công hoàn toàn không có không quân (không có lấy một chiếc máy bay) còn lực lượng bị vây hãm thì lại có một lực lượng không quân to lớn yểm hộ. Nhưng tất cả các lực lượng không quân ấy không đem lại cho phía cố thủ một chút gì hơn ngoài con số không và không có bằng chứng gì chứng tỏ rằng tướng Giáp đã bỏ những mục đích của ông ta. Quân của ông ta hình như không bị thiệt hại gì mấy do máy bay Pháp bắn phá. Thời tiết thì rất thuận lợi cho không quân Pháp, cho nên người ta rất lấy làm lạ sao không quân hoạt động không có kết quả, trong lúc mục tiêu thì tập trung vào một phạm vi chiến đấu hẹp mà đối phương thì không có một chiếc máy bay nào chống lại.

Như vậy, lực lượng không quân khá hùng hậu của Pháp, Mỹ ở Điện Biên Phủ đã thất bại trước đối thủ của nó là bộ đội phòng không trẻ tuổi Việt Nam với 36 khẩu pháo cỡ 37 ly và một số đơn vị 12,7 ly. Đó là một sự chênh lệch khó tưởng tượng nổi trong so sánh lực lượng của cuộc chiến đấu đất đối không trên vùng trời Điện Biên Phủ.

Trong hoàn cảnh đó, vấn đề cách đánh hay nói một cách rộng hơn, nghệ thuật tác chiến, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm chuyển hoá lực lượng giữa ta và địch. Chính nó có thể phá vỡ sự tuyệt đối hoá ưu thế về mặt số lượng và vật chất kỹ thuật trong so sánh lực lượng giữa hai bên. Tác chiến phòng không ở Điện Biên Phủ là một hiện thực sinh động mà từ đó một số vấn đề về nghệ thuật đã được đặt ra và bước đầu được giải quyết một cách thắng lợi:

Một là, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã xác định đúng nhiệm vụ chủ yếu của binh chủng pháo cao xạ trong tác chiến binh chủng hợp thành.

Ngay từ đầu chiến dịch và suốt cả ba đợt chiến đấu, bộ đội pháo cao xạ đã lấy việc yểm hộ bộ binh và pháo binh làm nhiệm vụ trung tâm của mình. Chính vì vậy mà các chiến sĩ pháo cao xạ đã không nề hà khó khăn, nguy hiểm, theo sát bộ binh, chiếm lĩnh trận địa dưới tầm hoả lực của máy bay và pháo binh địch, thậm chí phải chiếm lĩnh trận địa giữa ban ngày, dù biết chắc là có thương vong, tổn thất, cũng không lùi bước. Thực hiện khẩu hiệu: "Bộ binh đi đến đâu, pháo cao xạ đi đến đó", suốt trong cả chiến dịch, lưới lửa pháo cao xạ đã làm tốt nhiệm vụ là cái "áo giáp" đáng tin cậy của bộ binh, pháo binh. Một giờ sáng ngày 23-4-1954, một đơn vị của Đại đoàn 308 đánh chiếm cứ điểm 206. Bộ Chỉ huy mặt trận kêu gọi các đơn vị bộ binh, pháo binh, cao xạ hiệp đồng chặt chẽ, bẻ gãy các cuộc phản kích của địch, bảo vệ vững chắc cứ điểm vừa chiếm được. Nhận được lệnh của trên, Đại đội 816, Tiểu đoàn 383 đã không quản nguy hiểm, dùng xe ôtô kéo pháo qua ngay dưới chân đồi A1 trước làn đạn bắn thẳng của địch. Chiếc xe chở đạn cuối cùng bị trúng đạn đại bác. Các chiến sĩ lăn xả vào cứu đạn. Một số đồng chí ngã xuống, nhưng những hòm đạn đã được chuyển nhanh ra khỏi vòng nguy hiểm. Ba giờ sáng ngày 23-4-1954, Đại đội 816 chiếm lĩnh xong trận địa và ngay sau đó đã cùng bộ binh, pháo binh đánh tan các đợt phản kích của địch, bắn rơi tại chỗ một khu trục, bảo vệ vững chắc cứ điểm 206, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Bộ Chỉ huy chiến dịch giao cho.

Hai là, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ chúng ta đã giữ được yếu tố bất ngờ của sự xuất hiện pháo cao xạ cho đến phút cuối cùng, tạo được thời cơ nổ súng đúng lúc với ý nghĩa thời cơ là sức mạnh, thời cơ là lực lượng.

Bộ Chỉ huy địch theo dõi chặt chẽ lực lượng của ta tham gia đánh Điện Biên Phủ, đặc biệt là các loại pháo cơ giới. Nava viết trong hồi ký Đông Dương hấp hối của mình: Tất cả các nhà pháo binh đều cho rằng vì điều kiện địa hình nên pháo binh và cao xạ địch không thể nào chiếm lĩnh được trận địa và nhất là không thể nào phát hoả mà không bị pháo binh và không quân ta phản kích.

Đầu óc của bọn tướng tá thực dân rõ ràng là không thế nào hiểu nổi sức mạnh Việt Nam, nên đã hoàn toàn bị bất ngờ. Vấn đề này có ý nghĩa rất quan trọng cả về mặt chiến dịch và chiến thuật. Chúng chủ quan cho rằng ta không thể có pháo cao xạ tham gia nên không thể mở chiến dịch tiến công dài ngày mà vẫn đánh theo chiến thuật cũ: Đêm đánh, ngày rút, công đồn, diệt viện... và như vậy sẽ không thể nào đánh được loại tập đoàn cứ điểm như Điện Biên Phủ. Chính vì vậy mà từ Nava, Cônhi, đến Đờ Cátxtơri đều lạc quan cho Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm, không những thế chúng còn huênh hoang rải truyền đơn thách thức ta đánh Điện Biên Phủ. Sai lầm của địch là ở đó, thất bại cũng là ở đó.

Nhưng tạo được bất ngờ như sự xuất hiện bất ngờ của pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ không phải là điều giản đơn mà là cả một nghệ thuật trong chỉ đạo và thực hiện. Chúng ta đã tổ chức hành quân hết sức chu đáo, chặt chẽ, giữ nghiêm kỷ luật bí mật, kiên quyết không nổ súng dọc đường, mặc dù có lúc máy bay địch bắn phá ngay gần chỗ trú quân. Đây là một thành công lớn. Tiếp đó, chúng ta đã tổ chức kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa cũng tuyệt đối an toàn và giữ được bí mật, kể cả lúc kéo pháo bằng tay cũng như kéo pháo bằng ôtô. Đường kéo pháo đã được nguỵ trang hết sức khéo léo đến mức nghệ thuật. Nhiều đoạn có giàn dây leo ở phía trên như những giàn mướp, có tổ chức từng đoàn kiểm tra hằng ngày. Lá nguỵ trang héo đến đâu được thay ngay đến đó. Vì vậy, mặc dù địch thường xuyên cho máy bay trinh sát vẫn không thể nào phát hiện được. Cho đến 16 giờ chiều ngày 13-3-1954, những trận địa pháo cao xạ tuy đã được triển khai sẵn sàng đợi giờ nổ súng vẫn được khéo léo giấu kín dưới những giàn lá nguỵ trang. Và khi chiến dịch mở màn thì phi đội 14 của địch hoàn toàn bất ngờ và rối loạn, có thể nói là hoang mang đến cực độ, hầu như mất sức chiến đấu. Đây là điều có thể giải thích được. Từ chỗ rất chủ quan, cho rằng pháo cao xạ không thể vào tận khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ. Những phi vụ trên bầu trời Đông Dương chỉ là những cuộc dạo chơi, bọn giặc lái chuyển sang trạng thái hốt hoảng. Yếu tố bất ngờ đã thực sự phát huy tác dụng mạnh mẽ. Chính vì thế trong trận này, Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn xác định đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ở điểm này, Nava cũng có những lời thú nhận cay đắng: Yếu tố bất ngờ đã tác động rất lớn đến không quân, thấy mình bỗng nhiên vấp phải một lực lượng phòng không mạnh mẽ không ngờ đến và bắt buộc phải giải quyết nhanh chóng nhiều vấn đề mới như phải thả dù ở độ cao lớn và phải có bảo vệ việc thả dù. Để làm việc đó, cần có thời gian lâu mới thích ứng được về mặt tinh thần cũng như vật chất.

Bản thân sự xuất hiện vũ khí mới đã có tác dụng làm thay đổi so sánh lực lượng. Sự xuất hiện đó lại bất ngờ thì càng tạo nên sự chuyển hoá vô cùng quan trọng, đôi khi có tính chất nhảy vọt trong tương quan giữa hai bên đối địch. Đó là kinh nghiệm quý báu rút ra từ sự xuất hiện bất ngờ của pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2022, 10:36:42 pm

Ba là, linh hoạt, sáng tạo trong việc vận dụng các hình thức chiến thuật, cách đánh.

Binh chủng mới, chiến trường mới, hình thức tác chiến mới, nếu không linh hoạt, sáng tạo sẽ hoàn toàn bị bó tay. Linh hoạt, sáng tạo trước hết được thể hiện trong việc sử dụng lực lượng, mà điều cốt lõi là tập trung được hoả lực vào hướng chủ yếu, vào thời cơ chủ yếu. Trong đợt một chiến dịch, pháo cao xạ chỉ mới sử dụng năm đại đội, tập trung yểm hộ cho Đại đoàn 312 đánh Him Lam. Sau đó chúng ta lại nhanh chóng di chuyển trận địa theo sát bộ binh, yểm hộ cho Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 đánh cứ điểm Độc Lập. Lực lượng ít nhưng do chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, pháo cao xạ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, bắn rơi 14 máy bay địch trong đợt một, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho bộ binh và pháo binh. Rồi trên cơ sở đó, chúng ta kịp thời rút kinh nghiệm, đưa dần lực lượng vào. Làm như vậy, không những địch bị bất ngờ về lực lượng cao xạ của ta trong đợt một mà ngay trong đợt hai địch cũng bị bất ngờ.

Trong tác chiến bảo vệ giao thông, chúng ta cũng đã có những kinh nghiệm quý báu về sử dụng lực lượng và cách đánh linh hoạt sáng tạo. Một đoạn đường dài hàng trăm kilômét từ Tạ Khoa trở vào, qua nhiều trọng điểm như Lũng Lô, Cò Nòi, Pha Đin... chúng ta chỉ có hai đại dội 37 ly của Tiểu đoàn 396 và một đại đội 12,7 ly bảo vệ. Lúc đầu, ta dàn đều lực lượng nên hiệu quả bảo vệ kém. Sau phân tích thấy Cò Nòi là trọng điểm quan trọng nhất nên chúng ta quyết định tập trung lực lượng vào đó, còn chỗ nào công binh, dân công có thể khắc phục được một cách nhanh chóng, dễ dàng, thì không cần thiết phải bố trí cao xạ.

Việc đưa pháo lên trọng điểm Cò Nòi là một kỳ công, thể hiện quyết tâm đánh địch của các chiến sĩ Tiểu đoàn 396. Anh chị em dân công không tiếc sức mình đắp kè qua suối làm đường cho pháo vào chiếm lĩnh trận địa. Dốc cao, xe không kéo nổi khẩu pháo nặng trên hai tấn, pháo thủ, thanh niên xung phong, dân công đã hiệp lực buộc dây cáp vào mui xe kéo pháo lên núi an toàn. Bốn khẩu pháo được bố trí hàng dọc trên dãy núi hình thước thợ, hai khẩu trước cao hơn hai khẩu sau, anh em thường gọi đùa là "trận địa củ khoai Cò Nòi". Thực là một trận địa của tính sáng tạo, một trận địa chưa từng được ghi trong sách vở nào. Và chính từ trận địa lợi hại này, các chiến sĩ Tiểu đoàn 396 đã bắn rơi ba máy bay địch, bắn bị thương bốn chiếc khác, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ giao thông thông suốt từ hậu phương ra chiến trường.

Linh hoạt, sáng tạo còn thể hiện trong vấn đề chọn trận địa. Nếu cứ theo đúng như lý thuyết thì ở Điện Biên Phủ không thể chọn được một trận địa nào cho pháo cao xạ, bởi vì trong tám điều kiện chỉ có một điều kiện là: "Không gần đường dây cao thế". Thực tế chiến trường buộc chúng ta phải linh hoạt xử trí. Trận địa ở trọng điểm Cò Nòi đã được bố trí theo đội hình hàng dọc, chứ không phải bốn khẩu vây quanh sở chỉ huy như thường lệ. Còn ở đèo Lũng Lô thì trận địa lại rộng đến 2.000m, từng khẩu đội cách nhau 300m. Vì quá rộng không thể nghe lệnh chỉ huy bằng miệng, đơn vị phải dùng điện thoại để chuyển lệnh xạ kích. Còn ở Cò Nòi thì dùng xẻng.

Từ thực tiễn tác chiến phòng không ở Điện Biên Phủ cho phép ta kết luận: Khi đã có phương châm chiến lược đúng, phương châm chiến thuật thích hợp thì việc vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện cụ thế của từng đơn vị, từng địa bàn khác nhau là điều kiện hết sức quan trọng để giành thắng lợi.

Bốn là, vận dụng triệt để đánh gần, đánh tập trung, đánh máy bay địch bổ nhào dựa trên ưu thế tuyệt đối về chính trị, tinh thần của quân đội cách mạng.

Chủ trương đánh gần, bám sát bộ binh, đưa trận địa pháo cao xạ vào sát hàng rào cứ điểm địch là một chủ trương sáng suốt, táo bạo. Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phân tích đầy đủ các yếu tố chính trị, tinh thần, điều kiện kỹ thuật cho phép mà phát động bộ đội pháo cao xạ theo sát đội hình chiến dịch, khép chặt vòng vây vùng trời tập đoàn cứ điểm, kiên quyết triệt đường không vận của địch. Kết quả là nhiều đạn dược, lương thực, thuốc men, kể cả lính dù của địch lọt vào tay quân ta1. Các máy bay địch bị bắn rơi ở Điện Biên Phủ đều nằm trong tầm bắn có hiệu quả của pháo cao xạ 37 ly với hoả lực tập trung và nhiều chiếc bị bắn rơi tại chỗ trong giai đoạn bổ nhào.

Mặt khác, chính chủ trương cho pháo cao xạ áp sát hàng rào các cứ điểm, chúng ta đã mặc nhiên hạn chế một cách đáng kể uy lực của không quân địch. Từ giữa đợt hai trở đi, trận địa pháo cao xạ ta và cứ điểm địch nằm sát nhau, khiến cho bọn phi công không thể tự do đánh phá mà không sợ bom đạn lạc vào quân của chúng. Trong thực tế đã xảy ra điều đó2 . "Trận này đã làm nổi bật hai điểm quan trọng trong khoa học quân sự. Đó là chiến thuật đánh gần của cộng sản... và sự thất bại trong việc dùng không quân chống lại chiến thuật ấy"3.

Khi bộ binh ta đã vây chặt khu trung tâm Điện Biên Phủ, địch chỉ còn một khoảng đất, một vùng trời nhỏ hẹp, máy bay địch bắt buộc phải lượn vòng nhỏ để làm nhiệm vụ tiếp tế, hầu hết các đại đội pháo cao xạ của ta cũng được lệnh tiến hẳn xuống lòng chảo để triệt đường tiếp tế của địch. Ngày 30-4-1954, các phi đội đã được lệnh của Bộ Chỉ huy không quân ở Viễn Đông cấm bay trên lòng chảo Điện Biên dưới ba ngàn thước4.
_________________________________________________
1. Theo Giuyn Roa: Chỉ riêng ngày 2-5-1954, các máy bay C119 thả lạc 65 tấn, máy bay DC3 mất 20 tấn, ban đêm mất thêm 24 tấn nữa và mất luôn 50 lính dù.
2. Giữa ban ngày, một chiếc B26 đã ném một quả bom 250 kg vào cứ điểm Êpécviê ngay sát hầm Đờ Cátxtơri. 17 giờ cùng ngày hai quả bom rơi trúng cứ điểm Giuynông.
3. M. Harion, Tạp chí Quốc phòng Airơlen.
4. Tư liệu Điện Biên Phủ, Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1974.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2022, 10:41:39 pm

Năm là, nắm vững phương châm tác chiến cơ động, tích cực tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn lực lượng ta.

Đây vừa là một thành công, vừa là một kinh nghiệm xương máu của tác chiến phòng không trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhờ tích cực di chuyển trận địa mà lực lượng của ta ít hoá nhiều, giảm được tổn thất do địch đánh phá. Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức rõ vấn đề này. Trong đợt một, ta ít di chuyển trận địa nên bị thiệt hại tương đối nhiều. Đợt hai ta kịp thời rút kinh nghiệm, tích cực cơ động, mỗi đại đội thường có ít nhất ba, bốn trận địa dự bị, nên thiệt hại giảm hẳn xuống. Có nhiều trường hợp đơn vị vừa di chuyển thì trận địa cũ bị đánh phá ngay. Có những thiệt hại lẽ ra không đáng có chỉ vì ngại mệt, ngại khó, không chịu di chuyển như Đại đội 816 ở Nà Lòi, tám ngày không di chuyển nên bị địch đánh phá, thương vong cả một khẩu đội.

Đặc điểm của pháo cao xạ là bố trí thành từng trận địa tập trung khi bắn, nhất là ban đêm, lại phát sáng, nên dễ bị lộ. Vì thế, việc cơ động trận địa sau mỗi trận đánh, mỗi đợt hoạt động là rất cần thiết. Nếu không có quyết tâm cao, không khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại mệt nhọc, ngại thức đêm để hành quân, làm trận địa, thì sẽ bị những tổn thất đáng tiếc. Nhất là vào những ngày cuối của chiến dịch, lực lượng cao xạ triển khai tương đối đông, trên một diện tích không rộng, trận địa lại bố trí ngay giữa lòng chảo dưới tầm phi pháo ác liệt của địch, nhưng nhờ quán triệt nguyên tắc chiến thuật tích cực cơ động, bí mật bất ngờ, nên bộ đội pháo cao xạ đã bảo tồn được lực lượng, liên tục đánh địch, càng đánh càng mạnh. Ngày chiến đấu liên tục, căng thẳng, nhưng đêm đến, cán bộ, pháo thủ, nhân viên cơ quan, nắm chắc cán xẻng trong tay, đào đắp thêm trận địa cho đến mờ sáng. Hôm nay đánh địch ở trận địa này, ngày mai lại chuyển sang đánh địch ở trận địa khác. Có khi chỉ trong một ngày di chuyến đến hai, ba lần. Thậm chí đưa ngay pháo về trận địa mà địch vừa mới đánh hụt để tiếp tục chiến đấu. Do đó, chỉ với 36 khẩu pháo cao xạ cỡ nhỏ, bộ đội pháo cao xạ Việt Nam mới ra quân trận đầu đã làm cho hàng trăm máy bay địch phải lúng túng, bất lực. Tướng Lôranh, Tư lệnh không quân Đông Dương phải cay đắng thú nhận: Không quân Pháp phải thường xuyên xuất hiện bốn lần trên một đường bay trên những nòng pháo phòng không của đối phương1. Người ta đã thấy nhiều cầu hàng không khác nhau ở Mianma, Béclin, nhưng chưa bao giờ thấy như ở đây, cầu hàng không lại rơi đúng vào lưới lửa của nòng súng quân địch2.

Bằng cách đánh sáng tạo, dũng cảm, biến không thành có, biến ít thành nhiều, tích cực chủ động tiến công địch, các chiến sĩ pháo cao xạ và súng máy phòng không ở Điện Biên Phủ làm cho địch bay vào chỗ nào cũng bị bắn, thả dù hướng nào cũng bị trừng trị. "Việc tồn tại ở thung lũng Điện Biên Phủ và xung quanh Điện Biên Phủ một bộ đội phòng không ngày càng có hiệu lực đã buộc các phi công ta phải vượt qua một lưới lửa bảo vệ như những vùng xung yếu ở châu Âu trong thời kỳ cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai"3.

Rõ ràng, nghệ thuật tác chiến đã tạo nên sự chuyển hoá kỳ diệu đó. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho bộ đội pháo cao xạ ta giữ gìn được lực lượng, tiêu diệt được nhiều địch, hoàn thành tốt được nhiệm vụ. Đây cũng là một trong những kinh nghiệm quý báu mà sau này trở thành một trong những phương châm tác chiến cơ bản của bộ đội phòng không Việt Nam: Tích cực tiêu diệt địch, bảo vệ mục tiêu, giữ gìn lực lượng ta, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng.

Sáu là, vừa chiến đấu vừa xây dựng, lấy chiến trường làm thao trường, kịp thời rút kinh nghiệm, trưởng thành nhanh chóng trong chiến đấu.

Để bảo đảm chiến đấu được liên tục, lâu dài, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch, bộ đội pháo cao xạ đã hết sức coi trọng công tác xây dựng toàn diện, trước hết là xây dựng ý chí, quyết tâm. Công tác giáo dục chính trị được chú trọng, đặc biệt là giáo dục "quyết tâm giải phóng Trần Đình"4, làm cho tất cả mọi người cùng hướng về một mục tiêu, tạo nên sức mạnh không gì lay chuyển nổi. Trong chiến đấu ác liệt, sự lãnh đạo của Đảng được đề cao mọi nơi, mọi lúc. Chi bộ đại đội thường xuyên được kiện toàn, trở thành hạt nhân lãnh đạo đơn vị.

Trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt, vấn đề khôi phục sức chiến đấu được đặt ra một cách gay gắt. Để kịp thời bổ sung quân số, nhanh chóng củng cố lực lượng, những chiến sĩ mới được đưa xuống đơn vị, vừa huấn luyện, vừa tham gia chiến đấu tại trận địa. Về sau, do nhu cầu thực tế của chiến trường, trung đoàn đã mở lớp đào tạo pháo thủ ngay tại mặt trận. Cán bộ tiểu đoàn, cán bộ đại đội làm giáo viên. Học cụ là một khẩu pháo hỏng đem chữa lại. Nội dung, ngoài những vấn đề cơ bản, là những kinh nghiệm nóng hổi nhất, vừa được rút ra trên chiến trường. Các chiến sĩ mới luân phiên nhau về học. Chỉ trong một thời gian ngắn, bộ đội pháo cao xạ ở Điện Biên Phủ đã tự bổ sung cho các đại đội chiến đấu hàng trăm pháo thủ nắm vững kỹ thuật, chiến thuật. Cho đến cuối chiến dịch vẫn còn một lực lượng dự trữ khá hùng hậu, có thể tiếp tục chiến đấu lâu dài. Vừa chiến đấu vừa xây dựng, không chỉ là kinh nghiệm tác chiến mà đã trở thành truyền thống quý báu của Quân chủng Phòng không sau này. Sau Binh chủng pháo cao xạ, các binh chủng rađa, tên lửa, không quân đều vừa thành lập xong là bước ngay vào chiến đấu. Trong quá trình chiến đấu lại tiếp tục xây dựng thêm những đơn vị mới, lấy chiến trường làm thao trường, rèn luyện bản lĩnh chiến đấu, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng đòi hỏi ngày càng phát triển nhanh chóng của cuộc chiến tranh đất đối không với quy mô lớn chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới.
_________________________________________________
1, 3. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd.
2. Tư liệu Điện Biên Phủ, Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1974.
4. Trần Đình: Chiến dịch Điện Biên Phủ (B.T).


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 11 Tháng Giêng, 2022, 10:45:01 pm

Bảy là, thực hiện tốt sự đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng trong chiến dịch.

Ngay từ khi hành quân từ hậu phương ra chiến trường, bộ đội pháo cao xạ đã được các đơn vị bạn hết lòng giúp đỡ. Công binh, thanh niên xung phong, dân công... đã không tiếc sức mình tạo mọi điều kiện thuận lợi cho pháo cao xạ hành quân an toàn. Tiếp đó, việc kéo pháo vào trận địa là cả một bài ca đẹp về tình đoàn kết hiệp đồng giữa bộ binh, công binh và các chiến sĩ pháo cao xạ.

Trong chiến đấu, pháo cao xạ tích cực yểm hộ cho bộ binh, pháo binh hoàn thành nhiệm vụ. Ngược lại, bộ binh, pháo binh cũng hết lòng chi viện cho pháo cao xạ yên tâm đánh trả máy bay địch. Đặc biệt liên tục ba ngày 17, 18, 19-3-1954, không quân địch phối hợp với pháo binh của tập đoàn cứ điểm, tổ chức một đợt đánh lớn vào các trận địa pháo cao xạ với quyết tâm "nhổ bật pháo cao xạ Việt Minh ra khỏi lòng chảo Điện Biên Phủ". Pháo binh ta đã có kế hoạch chu đáo, tỷ mỉ phối hợp với pháo cao xạ, đập tan âm mưu nham hiểm của địch. Vì vậy, khi chúng ta ca ngợi pháo cao xạ đã triệt đường không của địch thì chúng ta phải nói đó cũng là chiến công của các đồng chí bộ binh, pháo binh, của toàn thể cán bộ, chiến sĩ, dân công trên toàn mặt trận. Vả chăng, chính bộ binh, pháo binh đã góp phần quan trọng vào nhiệm vụ khống chế sân bay địch, tạo nên thế bao vây trên trời, dưới đất, làm cho địch lâm vào tình thế không tránh khỏi bị tiêu diệt.

Đoàn kết hiệp đồng, lập công tập thể, phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi binh chủng trên chiến trường là một trong những nguyên nhân thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân thắng lợi của bộ đội pháo cao xạ. Đó cũng là một trong những nguyên tắc tư tưởng tác chiến quan trọng của nghệ thuật tác chiến phòng không, mà càng về sau càng được nâng lên một tầm vóc mới, cao hơn đối với một quân chủng lớn có nhiều binh chủng hiện đại như Quân chủng Phòng không ngày nay.

Cuối cùng, nguyên nhân bao trùm lên tất cả, có tính quyết định nhất, làm cho nghệ thuật quân sự nói chung và nghệ thuật tác chiến phòng không nói riêng, được phát huy mạnh mẽ và ngày càng phong phú là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta trong chỉ đạo chiến tranh nói chung và đặc biệt là trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954. Rõ ràng, phương châm chiến lược "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" và tiếp đó là quyết tâm chọn Điện Biên Phủ làm địa bàn của trận quyết chiến chiến lược là nguyên nhân trực tiếp hàng đầu dẫn đến thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong trận đánh vĩ đại này, pháo cao xạ đã xuất hiện với tư cách là một loại vũ khí mới, một binh chủng mới và đã làm tròn vai trò một cách xuất sắc.

Chính pháo cao xạ đã góp phần làm cho quân đội ta có bước phát triển nhảy vọt về chất trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Sự xuất hiện của pháo cao xạ đã cho phép quân ta tập trung ở lòng chảo Điện Biên Phủ một đạo quân đông đến hàng mấy vạn người và tiến hành chiến tranh bằng một phương thức tác chiến mới. Nava đã phải thú nhận: "Tập đoàn cứ điểm đã được xây dựng để đối phó với một lối đánh của Việt Minh (ý nói là lối đánh du kích trước đây - T.G). Đó là nguyên nhân sự thất bại của chúng tôi"1.

Sau Điện Biên Phủ, Nava có nhiều lời thú nhận vừa có tính chất bào chữa cho khoa học quân sự lỗi thời của chủ nghĩa thực dân Pháp, vừa tự thanh minh cho sự bất tài của bản thân mình. Nhưng riêng lời thú nhận trên đây thì quả thật là "chân thành" và chính xác, "một quân đội hoàn toàn khác". Không! vẫn là Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng nhờ có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, Đảng ta đã từng bước dẫn dắt quân đội đó trưởng thành theo từng giai đoạn của cuộc kháng chiến, và nó đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vinh quang của mình vào thời điểm quan trọng của lịch sử. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh một điểm là ở Điện Biên Phủ nhờ nằm trong thế trận chung của binh chủng hợp thành, với phương châm tác chiến "đánh chắc, tiến chắc" hết sức sáng tạo của Đảng ta mà pháo cao xạ đã có thể phát huy đầy đủ sức mạnh hoả lực của mình. Khi Ăngghen cho rằng: "Cùng với sự xuất hiện các loại vũ khí mới thì những hình thức chiến thuật tác chiến mới cũng thay đổi"2, thì ngược lại Ăngghen cũng chỉ ra rằng: "Sự phát triển chiến thuật cũng có ảnh hưởng trở lại đến kỹ thuật quân sự, rằng những phát minh kỹ thuật mới chỉ được sử dụng trong quân đội khi nào trong đó những đòi hỏi đã chín muồi và có những điều kiện xã hội và vật chất thuận lợi cho việc sử dụng ấy"3.

Chính Đảng ta, Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, với tầm nhìn chiến lược tài giỏi, sắc bén đã từng bước chuẩn bị "các điều kiện xã hội, và vật chất thuận lợi" cho sự ra đời của pháo cao xạ Việt Nam và đã đem đến cho binh chủng trẻ tuổi này một vinh quang hiếm có là ra quân đánh thắng trận đầu vào đúng chiến dịch lịch sử. Một trận quyết chiến chiến lược vĩ đại, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của dân tộc ta.


*

*           *


 

Những vấn đề xuất hiện trong tác chiến phòng không tại trận Điện Biên Phủ cách đây 30 năm là những viên gạch quý báu đầu tiên làm nền tảng cho sự hình thành nghệ thuật tác chiến phòng không sau này của chúng ta. Nó đã thực sự phát huy tác dụng tích cực suốt trong hai cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại chủ yếu bằng không quân của đế quốc Mỹ đối với miền Bắc nước ta. Những kinh nghiệm quý báu, những truyền thống vẻ vang được xây dựng nên bằng máu của thế hệ chiến sĩ phòng không Điện Biên Phủ năm xưa, càng được bồi đắp thêm trên chặng đường chiến đấu và chiến thắng vẻ vang của các thế hệ chiến sĩ phòng không tiếp theo và cuối cùng đã làm nên chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" lừng lẫy, đỉnh cao của nghệ thuật tác chiến phòng không Việt Nam.
_________________________________________________
1. Tư liệu Điện Biên Phủ, Thư viện Quân đội, Hà Nội, 1974.
2, 3. A. I. Babi: Ăngghen, nhà lý luận quân sự lỗi lạc của giai cấp công nhân, Sđd, tr. 253.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 09:50:16 am

BẢO ĐẢM CÔNG BINH TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

Thiếu tướng TRƯƠNG QUANG KHÁNH
Tư lệnh Binh chủng Pháo binh

Điện Biên Phủ nằm sâu trong vùng rừng núi Tây Bắc, địa hình hiểm trở, thưa dân, xa căn cứ hậu phương của ta. Vào năm 1954, có hai đường ôtô lên Tây Bắc: đường 41 từ Hoà Bình qua Cò Nòi, Sơn La lên đến Tuần Giáo; đường 13 từ Yên Bái qua Tạ Khoa đến Cò Nòi. Nhưng cả hai con đường này có đoạn đã bỏ lâu không sử dụng nên bị hư hỏng, nhất là đoạn Tạ Khoa - Cò Nòi. Từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ đường dài 86 km, mặt đường hẹp và cũng hư hỏng nhiều. Ngoài ra, ở Tây Bắc còn một số đường mòn xuyên qua rừng rậm, núi cao, vách đá cheo leo. Vào tháng 3 ở Tây Bắc đã bắt đầu có mưa, gây nhiều trở ngại cho việc mở đường, vận chuyển và làm công sự chiến đấu.

Sớm dự kiến một chiến dịch lớn có thể sẽ diễn ra ở Tây Bắc và sớm nhận thấy khó khăn về đường sá, ngay từ tháng 10-1953, Bộ Tổng tư lệnh đã điều Trung đoàn công binh 151 lên Tây Bắc mở đường. Ngày 7-11, Trung đoàn 151 cùng các đơn vị thanh niên xung phong và công nhân giao thông bắt đầu sửa chữa, mở rộng đường 13. Sau một tuần, ta đã sửa xong đoạn đường dài 36 km từ Tạ Khoa đi Cò Nòi. Đến ngày 18-11, đoàn xe vận tải gồm 12 chiếc, chở chuyến hàng đầu tiên vào mặt trận. Phấn khởi trước chiến công đầu, từ ngày 20-11-1953, trung đoàn sửa tiếp đoạn đường Cò Nòi - Sơn La- Tuần Giáo dài 120 km. Đoạn này phải dọn 1.600m3 đất sụt lở, làm 167 cầu cống lớn nhỏ, phải vượt qua bốn đèo cao: Sơn La, Chiềng Puốc, Đèo Mèo, Pha Đin. Ngày 27-11-1953, đường khai thông, xe vận tải chuyển hàng đến Tuần Giáo. Đầu tháng 12-1953, trung đoàn bắt tay vào sửa đoạn đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Trước mắt sửa gấp một đoạn dài 40 km, yêu cầu xong trước ngày 15-12-1953. Ban Chỉ huy trung đoàn quyết định tập trung toàn bộ lực lượng mở đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ bằng cách làm dứt điểm từng đoạn, chỉ để lại một đại đội bảo đảm đường Sơn La - Tuần Giáo. Cuối tháng 12-1953, toàn tuyến Tuần Giáo - Điện Biên Phủ dài 86 km hoàn thành. Để sửa chữa con đường này, các chiến sĩ công binh Trung đoàn 151 và 400 dân công đã làm việc 16 đến 20 giờ mỗi ngày, phá 2.300 m3 đá, đào xúc trên 3.000 m3 đất, làm 47 cầu và 5 cống với tổng chiều dài 3.200m. Nhiều gương lao động kiên cường xuất hiện như chiến sĩ Tào Tư quai búa 5 kg liền 2.800 nhát để đánh choòng đục đá. Đường mở đến đâu, xe vào đến đấy, làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ công binh. Nhưng do thời gian quá gấp, trình độ kỹ thuật chưa cao, nên chất lượng đường chưa tốt, hạn chế tốc độ xe. Cuối tháng 12-1953, trung đoàn chuyển sang bảo đảm đường cho xe kéo pháo từ Tạ Khoa vào Điện Biên Phủ. Trên con đường này, có 76 đoạn bán kính đường vòng hẹp cần phải mở rộng, một số cầu yếu phải tăng cường. Ngoài ra phải chặt cây lót những đoạn lầy lún, rải đá các đoạn đường lên xuống suối... Do nhiệm vụ gấp, trung đoàn được tăng cường 2.000 dân công, sau đó được chi viện thêm một trung đoàn bộ binh, Đại đội công binh 309 (Đại đoàn 308), hai tiểu đoàn pháo cao xạ. Toàn bộ lực lượng sửa đường Tạ Khoa - Điện Biên Phủ lên tới 5.000 người.

Để bảo đảm cho xe kéo pháo nhanh chóng vào mặt trận, Ban Chỉ huy Trung đoàn 151 quyết định mở bán kính đường vòng đến 10m, nơi thuận lợi mở 12m. Hai nơi khó là km 26 và km 40 chỉ mở được 8m. Ở các đoạn này, các chiến sĩ pháo binh phải tháo pháo ra khỏi xe rồi đẩy qua. Trung đoàn còn cử 22 cán bộ kỹ thuật đi hướng dẫn, giúp đỡ bộ binh và dân công. Nhờ xác định rõ mức độ sửa đường, tổ chức thi công chặt chẽ, nên việc sửa đường hoàn thành đúng thời hạn. Ngày 16-1-1954, Trung đoàn lựu pháo 54 (24 khẩu 105 ly), tiểu đoàn pháo cao xạ (12 khẩu 37 ly) và các xe bảo đảm, hành quân vào km 70 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.

Vừa mở xong đường cho xe kéo pháo, Trung đoàn 151 nhận lệnh tìm con đường đưa pháo vào hướng tây - bắc Điện Biên Phủ, rồi làm tời dùng tay để kéo pháo vào trận địa.

Chỉ trong một ngày (15-1-1954), cán bộ trung đoàn đã tìm được con đường kéo pháo từ km 70 (Nà Nham) sang Bản Tấu dài 15 km. Đại đoàn 308 khẩn trương và bí mật mở đường, các đơn vị công binh và Đại đoàn 312 chuẩn bị kéo pháo. Từ ngày 17 đến ngày 24-1, một công trường lao động hùng tráng hiếm có trong lịch sử đã hình thành trên hướng tây - bắc Điện Biên Phủ. Bằng sức lao động của hàng vạn con người, có các tời quay tay hỗ trợ, bộ đội ta đã kéo 24 khẩu pháo 105 ly qua sườn núi cheo leo dốc đứng vào trận địa bí mật, an toàn.

Ngày 26-1-1954, khi mọi công việc chuẩn bị đã hoàn thành, Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định đổi phương châm tác chiến nhằm bảo đảm chắc thắng cho chiến dịch.

Theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc", Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định chuyển pháo sang phía đông và phía tây Điện Biên Phủ, đặt trận địa pháo trên các điểm cao rất có lợi của dãy núi Pú Hồng Mèo và Pú Tà Cọ. Trung đoàn 151 tổ chức đoàn cán bộ gồm 17 người do Trung đoàn trưởng Phạm Hoàng dẫn đầu đi tìm đường. Do yêu cầu phải tuyệt đối giữ bí mật trận địa pháo (vì có trận địa chỉ cách địch khoảng 1.000m) nên phải chọn tuyến đường kín đáo. Trong sáu đường tìm được chỉ có đường Pe Na - Tà Loi dài 9km là có vệt đường cũ chỉ cần sửa lại một ít, còn năm đường khác phải mở mới hoàn toàn với tổng chiều dài là 63 km. Hai Đại đoàn bộ binh 308 và 312, các đơn vị pháo binh, công binh đã thấu suốt phương châm "đánh chắc, tiến chắc", tất cả vì thắng lợi của chiến dịch, nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh. Do đã có kinh nghiệm và tổ chức chặt chẽ nên việc kéo pháo ra nhanh chóng và an toàn hơn. Trong việc mở đường mới, công binh rất coi trọng ngụy trang, giữ bí mật, như vít cây hai bên đường, làm giàn ngụy trang, phủ cây cỏ lên chỗ đất mới, làm những đoạn đường giả... Các đường đều mở đến tận trận địa pháo.

Đến đầu tháng 3-1954, cùng với thanh niên xung phong, dân công, các đơn vị bộ binh và pháo binh, bộ đội công binh đã trải qua bốn tháng liên tục vật lộn với núi cao, rừng rậm, mưa phùn, gió rét hoàn thành một khối lượng lớn công việc mở và sửa đường. Trong hơn 100 ngày đêm gian khổ đó, các chiến sĩ công binh còn phải đối phó với địch. Máy bay trinh sát địch nhiều lần chụp ảnh, dòm ngó, nhưng do ta ngụy trang tốt, chúng không phát hiện được mạng đường kéo pháo của ta. Bom đạn các loại trút xuống các đèo cao, các bến vượt sông, nhưng công binh, thanh niên xung phong, dân công vẫn bám đường, bám bến, khắc phục hậu quả địch đánh phá, bảo đảm giao thông thông suốt.
_______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 09:51:22 am

Trong đợt một Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại đội công binh 240 (Đại đoàn 312) đã bảo đảm đường, bắc hai cầu cho bộ binh tiến theo hai mũi vào sát đồn địch. Trong trận tiêu diệt địch ở đồi Độc Lập. Đại đội công binh 309 (Đại đoàn 308) làm sở chỉ huy cho Trung đoàn 88, góp phần làm nên chiến thắng mở đầu rất quan trọng.

Trong đợt hai của chiến dịch, thời tiết đã chuyển vào mùa mưa. Máy bay địch liên tục đánh phá các đường giao thông tiếp tế của ta, nhằm cứu nguy cho Điện Biên Phủ. Đường ra mặt trận bị mưa và bị bom đạn địch phá hoại, trở nên sụt lở, lầy lún nghiêm trọng. Việc tiếp tế bị giảm sút, gạo nhập kho có ngày chưa đầy 1.000 kg, có khẩu pháo chỉ còn bảy viên đạn. Bảo đảm giao thông vận chuyển trở thành nhiệm vụ cấp bách có ý nghĩa quyết định đối với việc duy trì và phát triển chiến dịch. Để giữ vững hệ thống cầu đường, việc chống lầy lún có khối lượng lớn nhất, nặng nề nhất vì có tới 122 km đường bị lầy lún nghiêm trọng. Ngày 1-4-1954, Trung đoàn công binh 151 được tăng cường 750 dân công, ngày 19-4 thêm 2.000 dân công và ngày 26-4 thêm 2.700 dân công. Sau đó, cứ ba ngày lại có thêm dân công lên mặt đường, nhưng vẫn chưa đủ lực lượng chống lầy lún. Một số đơn vị bộ binh cũng được điều động ra mặt đường. Cán bộ, nhân viên các cơ quan Bộ Chỉ huy mặt trận, các đại đoàn cũng được huy động đi chặt gỗ chống lầy. Hơn một nửa lực lượng của ta ở Điện Biên Phủ ngày đêm bám đường hót bùn, chặt gỗ, đóng cọc, lót cây... Trung đoàn 151 là lực lượng nòng cốt, xung kích trên công trường sôi động này. Ngoài việc đảm nhiệm những nơi lầy lún nghiêm trọng, cũng là nơi địch đánh phá quyết liệt nhất (từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ), trung đoàn được phân công tổ chức lực lượng, hướng dẫn và kiểm tra kỹ thuật, phân chia dụng cụ. Cơ quan trung đoàn rút cán bộ, nhân viên, chiến sĩ ghép thành một đại đội lâm thời đi sửa đường. Mỗi đêm có khoảng 200 xe vận tải, xe kéo pháo đi lại. Trời mưa, xe bò đi chậm chạp, vất vả trên mặt đường bùn nhão gập ghềnh. Hàng vạn con người lao động với cường độ rất cao. Ban ngày đi chặt gỗ, phá đá vận chuyển đến gần đường. Ban đêm vừa vét bùn đổ đá, lát cây, vừa hộ tống xe đi, rồi phá bom, lấp hố bom... Trung bình mỗi người làm việc 16 đến 18 giờ trong một ngày và liên tục ngày này sang ngày khác.

Đội quân chống lầy, sửa đường chỉ có dụng cụ thô sơ nên phải lấy sức người là chính. Để giảm bớt cường độ lao động, các chiến sĩ công binh đã có nhiều sáng kiến cải tiến công cụ. Đại đội 313 đóng xe cút kít bằng gỗ để chở đất đá, tăng năng suất hơn năm lần so với lúc phải khiêng vác; dùng đòn bẩy đưa sọt đá từ dưới suối lên, tăng năng suất 2,5 lần. Việc tổ chức lao động cũng được cải tiến như chia ca, hai kíp để luân phiên nghỉ ngơi. Công tác chính trị, công tác văn hoá, văn nghệ cũng được chú ý. Tiếng hò, tiếng hát đầy lạc quan hoà vang cùng tiếng đục đá, chặt cây, nổ mìn, tạo thành âm thanh mới của bài ca lao động thắng địch, thắng trời giữa núi rừng Tây Bắc hùng vĩ.

Cùng với lực lượng vận tải tiếp tế theo đường bộ do các đoàn xe ôtô và hàng chục vạn người vận chuyển bằng xe đạp thồ, gánh, vác, Bộ Chỉ huy mặt trận chủ trương khơi luồng sông Nậm Na để chuyển gạo từ Ba Nậm Cúm (biên giới Việt - Trung) về thị xã Lai Châu.

Vấn đề này đã được đặt ra từ đầu chiến dịch nhưng do sông Nậm Na có tới 103 thác, trong đó có nhiều thác cao, chảy xiết nên thuyền, mảng qua lại rất khó khăn. Có chuyến chở 30 tấn gạo, về đến Lai Châu chỉ còn 10 tấn. Nhận nhiệm vụ của Bộ Chỉ huy mặt trận, Trung đoàn 151 giao nhiệm vụ cho một trung đội dùng thuốc nổ phá đá mở luồng ở các thác, hạn chế mức độ hiểm nguy của dòng nước. Công việc mới mẻ, khó khăn, khi bộ đội lặn xuống sâu, áp lực của nước làm chảy cả máu tai. Nước chảy xiết đẩy bật người và thuốc nổ ra, làm tịt cả ngòi nổ. Sau khi bàn bạc, thử nghiệm, các chiến sĩ công binh đã tìm ra nhiều cách làm rất sáng tạo như lấy lá chuối hơ lửa cho mềm để gói thuốc nổ, lấy cơm nếp giã nhuyễn để bọc đầu nổ, buộc chặt khối thuốc nổ vào sào dài để đưa vào sâu trong lòng thác đặt và buộc không để nước cuốn trôi, cắt dây cháy chậm dài để châm lửa trên mặt nước cho chắc chắn và an toàn... Thác dữ bị phá, sông Nậm Na trở nên hiền dịu. Hàng trăm bè mảng xuôi dòng đưa về Lai Châu trên 2.000 tấn gạo, góp phần quan trọng vào việc tiếp tế cho chiến dịch. Trung đội công binh 51 được thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất. Chiến sĩ phá thác Phan Tư được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tiếp đó, theo lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch, công binh cùng pháo binh xây dựng công sự cho pháo, có thể chịu được công phá của đạn pháo 105 ly, có thể đặt pháo trong công sự để bắn. Đây là công việc khó khăn, mới mẻ. Dưới sự hướng dẫn của đồng chí Nguyễn Hữu Hậu, cán bộ tác huấn Trung đoàn 151, các chiến sĩ công binh và pháo binh đã cố gắng rất lớn để làm công sự. Gỗ làm công sự là cây to (đường kính 30 cm) lại phải lấy từ xa gần 10 km để giữ bí mật, đất đắp hầm dày 3m, có hầm moi sâu vào vách núi, mỗi hầm đều có các công sự bắn, ẩn nấp, hầm chứa đạn... Sau một tháng lao động căng thẳng, công binh và pháo binh đã làm được 11 trận địa lựu pháo, 21 trận địa pháo cao xạ đúng theo yêu cầu. Đêm 6-3-1954, ta kéo thử hai khẩu pháo vào trận địa. Đêm hôm sau, theo ánh lửa đỏ của các nén hương do công binh dẫn đường, toàn bộ xe, pháo đã vào các trận địa, bảo đảm bí mật, an toàn.

Ở mặt trận, việc xây dựng trận địa để siết chặt vòng vây, chia cắt địch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hệ thống giao thông hào của các Đại đoàn 308, 316, 312, 304 ngày càng thít chặt và như những lưỡi dao nhọn chọc thẳng vào khu trung tâm Mường Thanh, chia cắt phân khu Hồng Cúm với phân khu trung tâm. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ vai đeo súng, tay cầm cuốc, cầm xẻng, ngày đêm cặm cụi đào hầm trong tầm súng, đạn của giặc, dưới trời mưa và sương giá. Mỗi ngày lao động 14 đến 18 tiếng. Cuốc xẻng mòn vẹt. Mồ hôi và máu của các chiến sĩ ta thấm ướt từng đoạn chiến hào. Quân địch hoảng sợ bắn súng, bắn pháo sáng suốt đêm, gài mìn trước các cứ điểm. Nhưng mạng chiến hào của ta vẫn ngày càng vươn xa, tổng cộng chiều dài đến hàng trăm kilômét đan nhau ngang dọc. Bộ Chỉ huy mặt trận quyết định đưa một số đơn vị thuộc Trung đoàn công binh 151 lên phía trước tham gia đào chiến hào vây lấn. Hai Đại đội công binh 53 và 54 lên đào một đường hào cắt đôi sân bay Mường Thanh. Vừa đào hào, các chiến sĩ công binh vừa bắn tỉa tiêu hao giặc. Đại đội công binh 240 (Đại đoàn 312), Đại đội công binh 309 (Đại đoàn 308) cùng tham gia đào hào xuyên qua sân bay Mường Thanh. Địch dùng xe tăng yểm hộ cho máy húc ra lấp hào của ta. Trung đội công binh (Đại đội 309) do đồng chí Trịnh Trọng Đoái chỉ huy khiêng một quả bom 250 kg vào đánh địch. Để khiêng được quả bom này, các chiến sĩ đã tháo thuốc nổ ra, khiêng vỏ bom riêng. Đến vị trí đặt bom lại nhồi thuốc vào, bom nổ, một máy húc của địch bị phá huỷ.

Tháng 4-1954, chiến hào của ta cắt phân khu nam với phân khu trung tâm, cắt đôi sân bay Mường Thanh. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị cắt thành từng khúc, khu trung tâm Mường Thanh chỉ còn mỗi bề khoảng hơn 1 km. Hầm hào đã trở thành một điểm tựa vững chắc để bộ đội ta tiến công tích cực, có hiệu quả.

Trong khi một số đơn vị công binh tham gia xây dựng trận địa vây lấn, một số đơn vị công binh khác (thuộc Trung đoàn 151) trong 10 ngày đầu tháng 4-1954 đã mở thêm 33 km đường cho pháo, xây dựng 30 công sự pháo có nắp và hàng chục trận địa pháo giả.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 09:52:12 am

Đến cuối tháng 4-1954, vấn đề tiếp tế cho mặt trận đã cơ bản được giải quyết. Mạng chiến hào và trận địa pháo đã bao vây chặt và khống chế hoàn toàn tập đoàn cứ điểm. Quân địch bị hãm trong vòng vây ngày càng siết chặt, trong các "địa ngục" sụt lở và ngập nước, tên nào thò lên thì bị quân ta "bắn tỉa" tiêu diệt. Tất cả nguồn tiếp tế trông vào máy bay thả dù. Nhưng bầu trời Điện Biên đã bị pháo cao xạ của ta khống chế. Máy bay địch phải bay cao, phần lớn dù rơi xuống vùng quân ta hoặc khu vực ta và địch tranh chấp. Quân ta lấy được rất nhiều lương thực, đạn dược của địch.

Toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Thực dân Pháp buộc phải tập trung hầu hết máy bay tiếp tế cho Điện Biên Phủ.

Được Mỹ tăng cường chi viện, từ cuối tháng 4-1954, quân Pháp tập trung máy bay, bom đạn đánh phá ác liệt các tuyến đường lên Điện Biên Phủ. Các đèo Sơn La, Chiềng Puốc, Đèo Mèo, Pha Đin, Đèo Khế, Đèo Cả... trở thành những trọng điểm, nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa công binh và bom đạn địch. Mỗi ngày địch ném xuống một trọng điểm từ 160 đến 300 quả bom. Ở đèo Pha Đin có đợt địch đánh liên tục 10 ngày, mỗi ngày từ năm đến sáu trận với nhiều bom nổ ngay, nổ chậm. Đội phá bom 83 đã kiên cường bám trụ trên các trọng điểm, nghiên cứu quy luật hoạt động của máy bay và quy luật nổ của bom đạn địch, từ đó đúc kết phương pháp chống phá bom, bảo đảm giao thông.

Kinh nghiệm của Đội 83 được phổ biến kịp thời cho các lực lượng trên các tuyến bảo đảm giao thông vận tải. Học tập và noi gương Đội 83, nhiều chiến sĩ công binh dũng cảm chiến thắng bom đạn địch hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu biểu là đồng chí Chu Văn Khâm, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ở đồi A1, cuộc chiến đấu quyết liệt giữa ta và địch kéo dài đã gần một tháng. Để tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, Bộ Chỉ huy mặt trận thông qua phương án đào hầm ngầm, đưa lượng thuốc nổ lớn vào phá công sự kiên cố của địch trên đồi A1.

Đại đội công binh thuộc Đại đoàn 316 triển khai đào được một đoạn đường hầm nhưng có khó khăn về kỹ thuật. Công việc được chuyển giao cho Trung đoàn công binh 151. Một phân đội đặc biệt gồm 20 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung, cán bộ tác chiến Trung đoàn 151 phụ trách, được thành lập.

Đêm 20-4-1954 công việc đào đường hầm bắt đầu.

Khó khăn nhất là khu vực mở cửa đường hầm chỉ cách địch hơn 10m. Chúng liên tục ném lựu đạn, bắn như vãi đạn ra xung quanh, ban đêm dùng đèn pha, pháo sáng để kiểm soát mọi hoạt động của ta. Mặc dù có chiến hào, nhưng một số chiến sĩ đã hy sinh và bị thương mới mở được một đoạn cửa hầm vừa chui lọt một người. Càng vào sâu công việc càng khó khăn. Đất đào được phải đổ vào túi vải dù đem đổ ra xa, phải dùng đèn pin đã che ánh sáng buộc lên đầu cọc ở cửa đường hầm để ngắm hướng, dùng ống thuốc tiêm làm thước thăng bằng... Mặt cắt đường hầm rộng và cao khoảng 0,9m. Khi chui vào sâu, thiếu không khí, một số chiến sĩ bị ngất, phải đưa ra ngoài. Có chiến sĩ một đêm ngất bốn đến năm lần. Nhưng không một ai nao núng, mà còn nghĩ ra cách nằm tiếp nối nhau, dùng quạt quạt vào trong đường hầm để có thêm dưỡng khí làm việc.

Sau 15 ngày đêm kiên cường, bền bỉ làm nhiệm vụ, đường hầm dài 49 m đã hoàn thành. Chiều và đêm 4-5, khối thuốc nổ gần 1.000 kg chia làm 49 gói được xếp vào cuối đường hầm. Sáu đường dây truyền nổ nối vào nụ xòe, dây cháy chậm và một đường dây điểm hỏa bằng điện. Phân đội công binh đã hoàn thành xuất sắc việc đào đường hầm và đưa thuốc nổ vào lòng đồi A1. Toàn phân đội đã nêu cao tinh thần dũng cảm, hy sinh để làm nhiệm vụ, tiêu biểu là đồng chí Lưu Viết Thoảng, sau này cùng với thành tích phá bom được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Với sự đóng góp của bộ đội công binh, sau 55 ngày đêm chiến đấu oanh liệt, bộ đội ta tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm kiên cố Điện Biên Phủ.

Sau khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Trung đoàn công binh 151 cùng thanh niên xung phong, công nhân giao thông và dân công làm nhiệm vụ bảo đảm đường số 41 cho các đơn vị bộ đội rút quân và tiến về đồng bằng. Đang giữa mùa mưa lũ, đường số 41 vẫn lầy lún, sụt lở, việc bảo đảm cho hàng trăm xe, pháo và hàng vạn người di chuyển tấp nập kéo dài gần hai tháng đầy khó khăn vất vả. Lực lượng dân công tuy đã rút nhiều, nhưng vẫn còn trên 10.000 người. Nhờ đó giao thông trên đường 41 không bị ngừng trệ. Sau chiến dịch, công binh còn quét mìn, dọn dây thép gai, bảo vệ các kho tàng, thu dọn chiến trường, biến cảnh lộn xộn, đổ nát, chết chóc trở lại bình yên, đầy sức sống cho cánh đồng Mường Thanh.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 09:53:36 am

Toàn bộ quá trình chiến dịch, đóng góp của bộ đội công binh là rất to lớn, thể hiện trên một số mặt sau đây:

1. Bảo đảm đường sá cho ôtô vận tải hậu cần và kéo pháo vào trận địa là nhiệm vụ quan trọng nhất trong suốt chiến dịch.

Số lượng bộ đội và dân công phục vụ chiến dịch lên đến mấy chục vạn người, hoạt động liên tục trên năm tháng ở một chiến trường rừng núi thưa dân, yêu cầu lượng tiếp tế to lớn. Nếu không có đường sá cho ôtô vận tải thì không thể tiến hành được chiến dịch. Với khả năng trang bị của công binh lúc ấy, chỉ có thể mở đường có sẵn và phải triển khai công việc sớm. Nội dung công việc lúc đầu là việc sửa đường cho xe ôtô vận tải hậu cần và xe kéo pháo vào tập kết chiến dịch, sau đó chống lầy, lún, sụt lở do mưa lũ gây ra và chống phá bom mìn do máy bay địch đánh phá, đặc biệt là mưa lũ phá hoạt đường rất nghiêm trọng trên toàn tuyến. Lực lượng bảo đảm trục đường chiến dịch lên đến 5.000 người rải ra suốt gần 200km đường nhưng có lúc vận chuyển trên đường vẫn khó khăn bế tắc. Đồng thời với việc bảo đảm vận chuyển đường bộ, ta đã sáng tạo kết hợp vận chuyến bằng đường sông. Việc phá thác thông luồng đường sông Nậm Na đã kịp thời bổ sung tiếp tế cho mặt trận.

2. Bảo đảm đưa pháo cơ giới vào trận địa bắn có những sáng tạo và thành công.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch đầu tiên trong kháng chiến chống Pháp có sử dụng nhiều pháo cơ giới. Khi chuẩn bị chiến dịch theo phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh" ta đã chủ trương dùng sức người đưa pháo vượt 15 km rừng núi vào trận địa bắn nhằm giữ bí mật bất ngờ.

Sau khi chuyển phương châm"đánh chắc, tiến chắc", đường cho pháo được khẩn trương lựa chọn và thi công, bảo đảm đưa pháo vào chiếm lĩnh trận địa kịp thời, bí mật, an toàn.

3. Xây dựng trận địa cho pháo binh đã được thực hiện tốt.

Trận địa bí mật được thiết lập bằng gỗ, đất vững chắc bảo đảm cho pháo của ta hoạt động liên tục cho đến khi kết thúc chiến dịch mà vẫn giữ được bí mật, an toàn. Xây dựng trận địa tiến công bao vây quân địch là thành công lớn nhất, là kinh nghiệm nổi bật nhất về chiến thuật tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Xây dựng công sự trận địa là một nội dung cơ bản về bảo đảm công binh trong phòng ngự, nhưng ở chiến dịch này đã được bộ đội ta vận dụng thành một biện pháp quan trọng để tiến công.

Địch tổ chức phòng ngự liên hoàn, có quân đông và hỏa lực mạnh, lại chiếm các điểm cao khống chế. Ta ở thế thấp lại phải chiến đấu liên tục ngày đêm trong thời gian dài, nên không dựa vào hệ thống công sự trận địa bao vây và tiến công thì bộ đội ta không thể vận động áp sát địch, tăng thêm lực lượng kịp thời để liên tục đột phá, trụ bám giữ vững trận địa để đánh lại địch phản kích và tiếp tục vây hãm địch. Xây dựng trận địa để bao vây và tiến công không những là một biện pháp bảo đảm công binh mà trở thành một chiến thuật của bộ đội ta để tiến công cứ điểm lớn của địch.

4. Mở cửa qua vật cản của địch.

Đây là cuộc chiến đấu quyết liệt và quyết định thành công của việc mở đầu đột phá cứ điểm địch. Địch bố trí vật cản dày đặc xung quanh cứ điểm và có hoả lực bảo vệ rất chặt chẽ. Muốn đột phá vào cứ điểm địch nhất thiết phải mở cửa qua vật cản, nhưng bộ đội ta chưa có khí tài chuyên dụng để mở cửa do đó ta phải dùng người lần lượt đưa thuốc nổ vào bãi vật cản. Điều quan trọng đầu tiên là phải xác định vị trí và hướng cửa mở thật chính xác và cụ thể, sau đó tổ chức chỉ huy phối hợp chặt chẽ giữa phân đội bộc phá mở cửa và bộ phận hoả lực kiềm chế có hiệu quả các hoả khí của địch bảo vệ vật cản. Bộ phận xung kích kịp thời vượt qua cửa mở vừa mở xong, xung phong vào trong cứ điểm địch, đồng thời phải tiếp tục không cho địch dùng hoả lực bịt cửa mở. Cuộc chiến đấu quyết liệt và hiệp đồng nhịp nhàng giữa các bộ phận phải đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của người chỉ huy trận đánh cứ điểm. Chính vì vậy mà phân đội dùng bộc phá để mở cửa phải do bộ binh tự đảm nhiệm.

Trong các trận tiến công cứ điểm địch ở Điện Biên Phủ, trận nào không tổ chức chỉ huy chặt chẽ việc mở cửa thì vấp váp và thương vong nhiều, trận nào làm chu đáo thì thành công.

5. Đào đường hầm đưa lượng thuốc nổ lớn vào phá huỷ hầm của địch lá một biện pháp có hiệu quả.

Hầm ngầm của địch trên đồi A1 là chỗ dựa vững chắc cho địch giữ được lực lượng liên tục phản kích để giữ cứ điểm. Ta đã đào đường hầm xuyên vào lòng núi để đưa lượng thuổc nổ gần 1.000 kg vào phá hầm ngầm. Công việc gian khổ, phức tạp, phương tiện đo đạc thô sơ nên buồng đặt thuốc nổ chưa thật chính xác vào điểm chính của hầm ngầm nhưng đã góp phần tiêu hao sinh lực địch, làm cho địch hoảng loạn, tạo điều kiện cho trận đánh giành thắng lợi.

Việc tổ chức bảo đảm công binh và sử dụng lực lượng bảo đảm công binh trong Chiến dịch Điện Biên Phủ đóng vai trò rất quan trọng. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng như trong tất cả các chiến dịch khác của cuộc kháng chiến chống Pháp, ta chưa có chủ nhiệm và cơ quan công binh chiến dịch, mọi việc tổ chức chỉ huy bảo đảm công binh đều do Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch trực tiếp quyết định và điều hành.

Ngay từ khi chuẩn bị chiến dịch, Bộ Chỉ huy đã xác định đúng đắn rằng bảo đảm đường sá cho tiếp tế hậu cần là khó khăn nhất và quan trọng nhất để tiến hành chiến dịch. Trung đoàn công binh duy nhất của chiến dịch được tập trung vào nhiệm vụ đường sá và còn được tăng cường một lực lượng lớn thanh niên xung phong và dân công. Khi trục đường của chiến dịch bị lũ phá hoại, Bộ Chỉ huy đã huy động mọi lực lượng có thể kể cả đơn vị chiến đấu và cơ quan để tham gia chống lầy. Bộ Chỉ huy đã quyết định mở đường vận chuyển theo sông Nậm Na để hỗ trợ tiếp tế. Những biện pháp bảo đảm công binh quan trọng như làm đường để kéo pháo vào trận địa, làm công sự để triển khai pháo, xây dựng hệ thống trận địa vây lấn, làm hầm ngầm đưa lượng nổ lớn vào đánh cứ điểm đồi A1, đều được Bộ Chỉ huy và cơ quan tham mưu chiến dịch quyết định một cách chính xác và kịp thời, đồng thời tổ chức thực hiện liên tục, kiên quyết.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 02:18:10 pm

TỔ CHỨC VÀ BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ1

Thiếu tướng HỒ TRÍ LIÊM
Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thông tin

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Chiến công vĩ đại đó có sự đóng góp không nhỏ của bộ đội thông tin liên lạc.

Trong chiến dịch này, nghệ thuật tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc đã có bước phát triển khá hoàn chỉnh, thể hiện cụ thể trên các mặt sau:

Một là, phát huy được cao nhất tính năng các loại phương tiện thông tin hiện có, xác định phương tiện thông tin chủ yếu chính xác, tổ chức sử dụng kết hợp chặt chẽ các phương tiện với nhau để bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt từ Bộ Chỉ huy chiến dịch đến các đơn vị.

Ở chiến dịch này, các đơn vị được trang bị nhiều loại phương tiện thông tin với số lượng lớn hơn và nhiều chủng loại hơn các chiến dịch trước. Hệ thống thông tin Sở Chỉ huy chiến dịch được tổ chức kết hợp ba phương tiện: vô tuyến điện sóng ngắn, hữu tuyến điện và thông tin chuyển đạt, lấy hữu tuyến là phương tiện chủ yếu. Về cơ bản, thông tin liên lạc đã đáp ứng được yêu cầu của chỉ huy trong tổ chức, chuẩn bị chiến dịch và cả trong quá trình thực hành chiến dịch. Các đường dây liên lạc với các đại đoàn đều có đường liên lạc thẳng và các đường dây đặt qua trạm giữa phía trước chiến dịch hoặc kéo từ tổng đài đại đoàn này đến đại đoàn khác tạo ra đường liên lạc vu hồi khá vững chắc. Trên các tuyến trục hữu tuyến điện, bố trí các trạm bảo vệ dây kết hợp với trạm thông tin chuyển đạt, chuyển tiếp, vừa có tác dụng hỗ trợ nhau trong công tác, vừa tăng thêm tính vững chắc cho hệ thống thông tin chiến dịch. Việc tổ chức sử dụng bộ phận đàm thoại trên máy vô tuyến điện sóng ngắn (GRC-9, 694) sẵn sàng làm việc với các đại đoàn, trung đoàn khi hữu tuyến điện bị đứt đã có tác dụng lớn để bảo đảm liên lạc vô tuyến điện nhanh chóng hơn. Các đại đoàn, trung đoàn cũng có nhiều sáng tạo trong tổ chức sử dụng kết hợp các loại phương tiện thông tin vốn có. Xác định hữu tuyến điện là phương tiện chủ yếu kết hợp với thông tin chuyển đạt trong đợt một chiến dịch là phù hợp với tình hình trang bị và yêu cầu của chỉ huy lúc đó.

Trong thực hành chiến dịch, việc người chỉ huy các cấp cử cán bộ xuống đơn vị dưới để truyền đạt mệnh lệnh, chỉ thị khi thông tin liên lạc bị gián đoạn là biện pháp có tác dụng rất lớn như các trận đánh ở đồi A1, C1. Cán bộ tác chiến đã mang mệnh lệnh chiến đấu của chỉ huy vượt qua hoả lực dày đặc của địch khống chế khu vực mở cửa, vào tung thâm để truyền đạt cho đơn vị đang chiến đấu. Kết quả đã hỗ trợ đắc lực cho thông tin liên lạc đại đoàn đang gặp khó khăn.

Việc xác định phương tiện chủ yếu phải căn cứ vào cách đánh và tình hình tác chiến trong từng đợt chiến dịch. Thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc", Ban Thông tin chiến dịch xác định hữu tuyến điện là phương tiện chủ yếu để liên lạc từ Bộ Chỉ huy chiến dịch đến các trung đoàn là phù hợp với giai đoạn tổ chức, chuẩn bị chiến dịch, thực hành bao vây địch và trong đợt một chiến dịch. Nhưng từ trung đoàn trở xuống, nhiều đơn vị vẫn máy móc lấy hữu tuyến điện làm phương tiện chủ yếu là không phù hợp vì các đường dây đặt qua cửa mở hầu hết bị đạn pháo địch bắn phá, phá hoại nặng nề. Có nhiều trận không thể khôi phục được đã dẫn đến tình hình để mất liên lạc giữa Sở Chỉ huy và đơn vị chiến đấu bên trong cứ điểm. Một số trung đoàn tuy được tăng cường máy vô tuyến điện sóng cực ngắn liên lạc thoại nhưng không tích cực sử dụng. Thấy được thiếu sót đó, từ giữa đợt hai cho tới khi kết thúc chiến dịch, Ban Thông tin đã chỉ thị cho thông tin các đại đoàn, trung đoàn phải tổ chức sử dụng rộng rãi vô tuyến điện, liên lạc hoàn toàn được giữ vững từ Bộ Chỉ huy chiến dịch đến các đại đoàn, nhất là trong các trận chiến đấu giằng co với địch ở đồi A1, C1.

Hai là, biết tập trung phương tiện khí tài thông tin và sự chỉ đạo cho hướng tác chiến chủ yếu, đồng thời coi trọng các hướng khác, luôn tạo ra có lực lượng thông tin dự bị các cấp.

Tuy số lượng, chất lượng các phương tiện sử dụng trong chiến dịch có khá hơn các chiến dịch trước nhưng so với yêu cầu chỉ huy một chiến dịch tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, dài ngày, tình huống chiến đấu khẩn trương, ác liệt thì vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ. Cơ quan thông tin chiến dịch cũng như các đơn vị đã biết tập trung vào những nhiệm vụ chủ yếu, hướng chủ yếu của từng đợt chiến dịch và từng trận đánh then chốt. Trong đợt một, khi các Đại đoàn 312, 308 đánh các trận Him Lam, đồi Độc Lập. Ban Thông tin chiến dịch đã tổ chức liên lạc với các đại đoàn đó bằng hai đường dây hữu tuyến điện kéo qua trạm giữa phía trước và một đường vu hồi giữa hai đại đoàn đó với nhau. Đồng thời, ta còn tổ chức vô tuyến điện sóng ngắn tay đôi chuyên trách, sử dụng cả liên lạc báo và điện thoại trên máy GRC-9 và vượt cấp xuống các trung đoàn. Các Đại đoàn 312, 308 cũng tập trung toàn bộ máy vô tuyến điện sóng cực ngắn hiện có, tổ chức mạng liên lạc thoại giữa các trung đoàn với cấp dưới của họ, kể cả các đại đội chủ yếu.

Vì vậy, thông tin liên lạc luôn được giữ vững từ Bộ Chi huy chiến dịch đến các đại đội mũi nhọn trong quá trình chiến đấu. Đến đợt ba chiến dịch, do quán triệt được tầm quan trọng của trận đánh dứt điểm đồi A1, Đại đoàn 316 đã tăng cường cho Trung đoàn 174 tiểu đội vô tuyến điện sóng ngắn để trung đoàn tổ chức liên lạc với các tiểu đoàn, đại đội chủ yếu, kết hợp với củng cố các đường dây, đặc biệt là đường dây qua cửa mở, để bảo đảm thông tin liên lạc thật vững chắc, góp phần bảo đảm chỉ huy trận đánh giành thắng lợi.

Tuy tập trung phương tiện, khí tài và sự chỉ đạo cho hướng chủ yếu nhưng cơ quan thông tin vẫn không coi nhẹ các hướng khác trong quá trình thực hành chiến dịch. Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu nhưng Ban Thông tin chiến dịch ngoài tổ chức liên lạc bằng vô tuyến điện sóng ngắn, còn kéo đường dây nối từ Đại đoàn 316 đến Đại đoàn 304, vừa bảo đảm cho chỉ huy tác chiến, vừa bảo đảm cho liên lạc chặt chẽ giữa hai đơn vị đó với nhau.

Trong quá trình tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho chỉ huy thực hành chiến dịch, Ban Thông tin đã chỉ đạo tích cực thu dây bọc ở các cứ điểm địch đã bị đánh chiếm, đồng thời lấy dây thép gai ở các cứ điểm đó, gỡ ra từng sợi kéo về các đơn vị ở phía sau, dành dây bọc đưa lên phía trước. Đây là một cố gắng lớn để tạo thêm lực lượng thông tin dự bị cho các đơn vị. Mặt khác, trong công tác chỉ huy, chỉ đạo, cơ quan thông tin chiến dịch đã thể hiện tính chủ động, sáng tạo, kiên quyết như chỉ đạo tích cực thu gom dây bằng nhiều nguồn, nhất là tận thu chiến lợi phẩm thông tin trong các trận đánh. Do đó, ở Sở Chỉ huy chiến dịch và các đại đoàn đã có đủ phương tiện, khí tài để sử dụng và có được một lực lượng dự bị cần thiết.

Tuy nhiên, trong một số trận đánh, cơ quan thông tin đại đoàn, trung đoàn do chỉ chủ trương đặt hữu tuyến điện với đơn vị chủ yếu, không tổ chức liên lạc vô tuyến điện sóng cực ngắn với tiểu đoàn vì cho là đơn vị ở gần Sở Chỉ huy trung đoàn nên khi hữu tuyến điện bị đứt đã không khôi phục được, trung đoàn đành mất liên lạc với tiểu đoàn ở hướng chủ yếu như trường hợp giữa Trung đoàn 141 với Tiểu đoàn 11 làm nhiệm vụ trên hướng chủ yếu trong trận đánh cứ điểm Him Lam.
____________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 02:20:33 pm

Ba là, coi trọng nhiệm vụ tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho chỉ huy tác chiến, đồng thời chú ý thích đáng các nhiệm vụ tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho hiệp đồng, cho chỉ đạo, chỉ huy công tác hậu cần chiến dịch.

Tổ chức sử dụng thông tin liên lạc cho chỉ huy tác chiến do được cơ quan thông tin chiến dịch và các đơn vị coi trọng bằng mọi loại phương tiện hiện có, nên đã bảo đảm được thông suốt trong cả quá trình chiến dịch và trong từng trận đánh, nhất là các trận then chốt. Về vô tuyến điện sóng ngắn đã sử dụng và "liên lạc thoại" từ Bộ Chỉ huy chiến dịch đến các trung đoàn. Về hữu tuyến điện, đã áp dụng một loạt biện pháp kỹ thuật trong triển khai các đường dây trên các loại địa hình phức tạp (rừng núi, sông suối, ruộng nước) và đặc biệt là trong các hào giao thông, hào chiến đấu phòng chống địch bắn phá, phá hoại như: đặt dây trong rãnh mang cá khoét ở vách hào, chèn các bó lau sậy trước khi lấp đất ở lòng chảo, rải hai đường liên lạc với một đơn vị và nối với nhau ở từng đoạn,...

Đi đôi với tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy tác chiến, cơ quan thông tin đã chú trọng tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho hiệp đồng giữa các đơn vị như chỉ đạo kéo các đường dây giữa các đại đoàn với nhau và giữa trung đoàn bộ binh với đơn vị pháo binh chi viện. Cơ quan thông tin chiến dịch đã tổ chức hệ thống thông tin dùng cho công tác chỉ huy hậu cần khá hoàn chỉnh so với các chiến dịch trước. Đường trục dây trần dài hơn 400 km từ Sở Chỉ huy chiến dịch liên lạc về bộ ở hậu phương được củng cố bằng cách tận dụng những đoạn còn lại của tuyến trục dây trần bưu điện. Do đó, đã bảo đảm cho chỉ huy chặt chẽ công tác vận chuyển và hoạt động của các trạm cung cấp (binh trạm) chiến dịch trên dọc đường. Tại Sở Chỉ huy chiến dịch, Ban Thông tin còn bố trí hai máy vô tuyến điện sóng ngắn liên lạc trong mạng vô tuyến điện của Tổng cục Cung cấp và mạng chỉ huy năm binh trạm chiến dịch. Các trạm thông tin chuyển đạt, trạm bảo vệ đường dây bố trí sát cạnh các binh trạm vừa phục vụ cho nhiệm vụ thông tin liên lạc chung vừa phục vụ cho chỉ huy công tác hậu cần bằng nhiều loại phương tiện khá chặt chẽ, nên việc cung cấp đạn dược, lương thực, thực phẩm, chuyển tân binh, chuyển hàng vạn bức thư từ hậu phương ra tiền tuyến kịp thời, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.

Bốn là, cơ quan thông tin chiến dịch phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, vừa làm tốt chức năng cơ quan tham mưu thông tin chiến dịch, vừa làm tốt nhiệm vụ cơ quan chỉ huy các phân đội thông tin trực thuộc.

Tuy nhận lệnh lên đường phục vụ chiến dịch trong thời gian rất gấp, lại chưa được giao nhiệm vụ cụ thể, nhưng với kinh nghiệm tích lũy được từ các chiến dịch trước, Cục Thông tin liên lạc đã chủ động tổ chức Ban Thông tin chiến dịch và phân đội thông tin trực thuộc1. Trên đường hành quân lên chiến trường Điện Biên Phủ, mỗi khi dừng lại nghỉ 10 - 15 phút, các điện đài Sở Chỉ huy đều tranh thủ mở máy làm việc với các đối tượng theo các phiên liên lạc quy định; do đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã nắm chắc tình hình địch ở Điện Biên Phủ và các chiến trường khác, ra lệnh kịp thời cho các đơn vị làm công tác chuẩn bị và thực hành chiến đấu bao vây chặn địch nống ra. Đến vị trí đặt Sở Chỉ huy ở Mường Phăng, bộ phận đi trước của Ban Thông tin đã chỉ huy triển khai xong một số đường dây liên lạc với Đại đoàn 316 (đông Mường Thanh), Đại đoàn 308 (tây - nam Mường Thanh), các Đại đoàn 312, 351 (vây chặn địch đi Tuần Giáo vào Lai Châu), Đại đoàn 304 (Hồng Cúm). Nhờ có hệ thống hữu tuyến điện này, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã chỉ huy chặt chẽ các đại đoàn làm công tác chuẩn bị và bao vây, không cho địch rút.

Đồng thời, cơ quan thông tin còn khẩn trương triệu tập hội nghị thông tin chiến dịch, nghiên cứu quán triệt phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" vận dụng vào kế hoạch thông tin liên lạc. Sau đó, khi Đảng uỷ và Bộ Chỉ huy chiến dịch thay đổi phương châm tác chiến sang "đánh chắc, tiến chắc", cơ quan thông tin lại kịp thời mở hội nghị thông tin chiến dịch lần thứ hai, thảo luận các biện pháp thực hiện với quyết tâm "đánh chắc, tiến chắc phải có thông tin liên lạc vững chắc". Sau giai đoạn đầu của đợt hai, cơ quan thông tin căn cứ vào quyết tâm tác chiến mới, lại triệu tập hội nghị thông tin chiến dịch lần thứ ba kiểm điểm đơn vị. Nhờ tổ chức được kịp thời các hội nghị thông tin chiến dịch và sự chỉ đạo chặt chẽ đối với từng đơn vị, đặc biệt là khi có các đơn vị thay phiên chiến đấu hoặc hiệp đồng chiến đấu vào một mục tiêu, nên hệ thống thông tin cấp trên, cấp dưới đã kết hợp với nhau chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau bảo đảm cho chỉ huy chiến dịch luôn thông suốt.

Để tổ chức sử dụng các phương tiện đạt các yêu cầu vững chắc, bí mật theo chỉ thị của Tham mưu trưởng chiến dịch, Ban Thông tin liên lạc đã chỉ đạo các đơn vị áp dụng một loạt biện pháp có hiệu quả khi triển khai các đường dây trong hào giao thông, hạn chế sử dụng vô tuyến điện sóng ngắn liên lạc điện báo với các đơn vị tham gia chiến dịch. Bố trí cụm điện đài cách xa Sở Chỉ huy 10km để liên lạc với Bộ Tổng tham mưu và các chiến trường trong toàn quốc, đồng thời giữ bí mật cho vị trí bố trí Sở Chỉ huy. Khi Đảng uỷ mặt trận ra nghị quyết về Đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh tiêu cực, thông tin liên lạc đã triển khai đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng từ cấp uỷ đến đảng viên, cán bộ, chiến sĩ các phân đội thông tin trực thuộc; đồng thời, mở tiếp hội nghị thông tin, quán triệt quyết tâm của Đảng uỷ chiến dịch, rút kinh nghiệm công tác tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc và thảo luận phương pháp khắc phục thiếu sót để làm tốt hơn cho đợt sau.

Tóm lại, cơ quan thông tin chiến dịch đã chỉ đạo khá chặt chẽ công tác tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc phục vụ chiến dịch. Hệ thống thông tin toàn chiến dịch đã đạt chất lượng tốt. Cơ quan và phân đội thông tin các cấp, các binh chủng đã phối hợp công tác chật chẽ với nhau, giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc chiến dịch, góp phần bảo đảm cho chỉ đạo, chỉ huy chiến đấu, giành thắng lợi trọn vẹn trong Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.

Thành công của tổ chức, bảo đảm thông tin liên lạc Chiến dịch Điện Biên Phủ đánh dấu đỉnh cao phát triển của nghệ thuật tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc chiến dịch của quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã góp phần quan trọng vào việc định hướng xây dựng lý luận, tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc và tổ chức bảo đảm kỹ thuật của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, bộ đội thông tin liên lạc đã được trang bị nhiều phương tiện thông tin công nghệ cao, hiện đại, có chất lượng tốt hơn và số lượng cũng nhiều hơn; tình huống tác chiến sẽ diễn biến rất khẩn trương, đột biến và quyết liệt. Do đó, yêu cầu chỉ huy tác chiến cao hơn, đòi hỏi thông tin liên lạc phải thông suốt, vững chắc trong mọi tình huống. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu quán triệt tư tưởng "lấy ít đánh nhiều", "lấy trang bị kỹ thuật yếu hơn chống lại kẻ địch có trang bị kỹ thuật mạnh hơn, hiện đại hơn", nhiệm vụ đặt ra đòi hỏi phải có trình độ tổ chức tốt, sử dụng các phương tiện thông tin có kỹ thuật cao trong điều kiện chiến tranh mới để bảo đảm thông tin liên lạc cho bộ chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân đánh thắng kẻ địch có vũ khí công nghệ cao, có trình độ tác chiến hiện đại.

Tổ chức, sử dụng thông tin liên lạc cho cấp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật vẫn phải dựa vào ưu thế chính trị, tinh thần và sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, phát huy tinh thần dũng cảm, trí thông minh sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ thông tin, tổ chức và sử dụng có hiệu quả mọi loại phương tiện thông tin có trong tay cả khí tài thông tin hiện đại và thông tin truyền thống, tổ chức hệ thống thông tin hợp lý để bảo đảm thông tin vững chắc, cơ động, bí mật, phù hợp với mọi cách đánh trong nhiều loại hình chiến dịch của chiến tranh hiện đại.
__________________________________________________
1. Ban Thông tin chiến dịch do Cục trưởng Cục Thông tin làm Trưởng ban, một phó phòng thuộc Cục Thông tin làm Trưởng ban Thông tin sở Chỉ huy đi trước.
Phân đội thông tin trực thuộc lúc đầu chỉ có một trung đội vô tuyến điện sóng ngắn, một trung đội hữu tuyến điện và một tiểu đội chuyển đạt.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 02:25:53 pm

CHỈ ĐẠO VÀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC KỸ THUẬT
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Thiếu tướng HOÀNG ANH TUẤN
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân uỷ và cử Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng uỷ kiêm Tư lệnh chiến dịch, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch Hội đồng Cung cấp mặt trận, Thiếu tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái làm Tham mưu trưởng chiến dịch, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp Trần Đăng Ninh phụ trách việc làm đường và tiếp tế cho chiến dịch.

Để tiếp tế cho chiến dịch, Trung ương Đảng và Chính phủ đã huy động 260.000 dân công, trên 20.000 xe đạp thồ, trên 17.000 ngựa thồ, trên 4.000 thuyền các loại và 628 xe ôtô vận chuyển hàng hoá, đạn dược... Theo kế hoạch chung, việc tổ chức vận chuyển đường dài từ các vùng tự do lên Điện Biên Phủ được thực hiện như sau: Hội đồng Cung cấp chiến dịch tổ chức chuyển hàng và đưa dân công lên giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương. Hướng từ Việt Bắc sang giao ở Ba Khe, hướng từ Liên khu III, Liên khu IV lên giao ở Suối Rút.

Tổng cục Cung cấp hậu phương phụ trách chuyển vũ khí, đạn dược, xăng dầu... đến Ba Khe, Suối Rút và giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương.

Tổng cục Cung cấp tiền phương vận chuyển tiếp lên mặt trận, đồng thời tổ chức các kho dự trữ quanh thị xã Sơn La và các kho trung tuyến từ km 31 đến km 87 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Các kho được bố trí hợp lý, bí mật, an toàn, thuận tiện cho việc cấp phát và tiếp nhận. Ở Sơn La, ta dựa vào hang đá Bản Lầu làm tổng kho vũ khí đạn cho toàn chiến dịch. Các kho trung tuyến và dã chiến đặt gần đường, tận dụng địa hình, đào hầm sâu vào các sườn đồi, lưng núi. Các kho đều có cửa chống bom, đạn và bố trí với khoảng cách hợp lý để bảo đảm an toàn và phục vụ bộ đội tác chiến thuận lợi. Kho và đường vào kho được nguỵ trang cẩn thận, do vậy, trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, hầu như không bị tổn thất do máy bay, pháo binh địch đánh phá. Việc tổ chức kho đều có tính toán, sắp xếp khoa học, các loại đạn được phân theo lô, loại và để ở từng hầm riêng biệt, vừa tiện cho việc cấp phát vừa tiện kiểm tra, bảo quản.

Tổ chức bảo đảm vũ khí theo phương án lúc đầu dự kiến là 327 tấn, sau đó có kế hoạch bổ sung thêm 106,5 tấn. Đến ngày 31-1-1954, theo phương án mới, cần bổ sung thêm 414 tấn, sau đó lại tăng thêm 608 tấn. Số lượng tăng không chỉ một lần mà tăng nhiều lần, như kế hoạch 414 tấn tăng làm bốn lần (gọi theo mật danh là các kế hoạch PTKA, B, C, D), kế hoạch 608 tấn tăng làm ba lần (gọi theo mật danh là các kế hoạch PTKE, G, R). Như vậy, vũ khí đạn cần chuẩn bị cho chiến dịch là 1.455,5 tấn. Đây là lượng vũ khí, đạn dược lớn nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp mà ngành quân khí phải chuẩn bị cho một chiến dịch. Cục Quân khí đã huy động tất cả lượng đạn dự trữ các kho của cục, lấy về hết 11.715 viên đạn pháo 105 ly thu được trong Chiến dịch Biên giới gửi ở Long Châu (Trung Quốc) và 400 viên đạn pháo 105 ly thu được trong trận Banaphào để ở kho Chu Lễ (Hà Tĩnh). Do tình hình khẩn trương nên nhiều loại vũ khí, đạn nhận từ nguồn viện trợ không nhập kho mà chuyển thẳng ra mặt trận (như hoả tiễn H6). Để bảo đảm tiếp tế vũ khí, đạn cho chiến dịch, Tổng cục Cung cấp thành lập Ban Quân khí tiền phương do đồng chí Nguyễn Văn Nam - Cục trưởng Cục Quân khí, làm Trưởng ban; đồng chí Phan Tử Lăng - Cục phó Cục Quân khí làm Phó trưởng ban. Cơ quan quân khí tiền phương trong chiến dịch này đông người nhất từ trước đến nay, gồm 139 cán bộ, chiến sĩ của Cục Quân khí, bốn đội thanh niên xung phong với 478 người và nhiều cán bộ, nhân viên do Chính phủ điều động bổ sung. Với lực lượng này, Ban Quân khí tiền phương đã tổ chức thành các tổ, đội như sau:

- Một tổ ở cơ quan Tổng cục Cung cấp tiền phương do đồng chí Trưởng ban quân khí tiền phương phụ trách, giúp Tổng cục chỉ đạo bảo đảm vũ khí, đạn cho mặt trận.

- Bộ phận quân khí hoả tuyến.

- Bộ phận kho ở Xuân Ninh, Ngũ Mãng và các phân kho trung tuyến, hoả tuyến.

- Đội sửa chữa vũ khí, đạn.

- Đội thu hồi, xử lý vũ khí, đạn chiến lợi phẩm.

- Bộ phận phái viên, nhân viên kỹ thuật tăng cường cho các đại đoàn để theo dõi, chỉ đạo và giải quyết vũ khí, đạn cho đơn vị.

Việc sửa chữa, bảo đảm cho xe ôtô vận chuyển phục vụ chiến dịch được tổ chức chu đáo. Các đơn vị đã phát động đợt thi đua ngắn ngày tập trung sửa chữa những xe hư hỏng để đưa vào vận chuyển. Đại đội 202 đã sửa được chín xe hỏng nặng, ba xe hỏng nhẹ. Đại đội 206 tự khắc phục sửa chữa được bốn xe gãy nhíp... Ngành xe máy tổ chức hệ thống phục vụ sửa chữa từ hậu phương đến tiền phương. Ở hậu phương, ngành xe máy sử dụng hai xưởng Tiền Phong và Chiến Thắng tập trung sửa chữa bảo đảm cho các xe tham gia chiến dịch. Trên đường ra mặt trận, có xưởng sửa chữa AZ11 bố trí ở ngã ba Đông Lý (Yên Bái). Xưởng được trang bị thêm thiết bị đủ khả năng sửa chữa, bảo đảm cho các xe hoạt động trên tuyến; có hai đội sửa chữa bố trí ở Tuần Giáo và km 15 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ phục vụ các xe hoạt động ở trung tuyến và hoả tuyến; có hai đội sửa chữa cơ động, một đội hoạt động trên đường 41 và một đội hoạt động trên đường số 1. Mỗi đội có bảy đến tám thợ giỏi sẵn sàng sửa chữa khắc phục những xe hỏng hóc dọc đường.

Với tinh thần "tất cả cho chiến dịch thắng lợi" và "yêu xe như con, quý xăng như máu", cán bộ, chiến sĩ ngành xe ngày đêm chăm sóc bảo quản xe tốt trong suốt chiến dịch, bảo đảm vận chuyển đạn, gạo... và kéo pháo vào trận địa đúng thời gian, kế hoạch tác chiến. Trong chiến dịch, hầu hết số xe được điều động ra mặt trận (gồm 16 đại đội với 628 xe, hơn 800 lái xe và 300 thợ sửa chữa).

Cùng với lực lượng xe ôtô, hàng ngàn xe đạp thồ, xe ngựa, xe trâu, thuyền, mảng... liên tục xuôi ngược trên các tuyến đường từ các Liên khu III, IV ra, từ trung du lên, từ Việt Bắc sang, từ Tây Bắc và Thượng Lào xuống Điện Biên Phủ; vận chuyển cung cấp đủ vật chất và vũ khí, trang bị kỹ thuật cho chiến dịch (trong số hàng hoá tiếp tế cho chiến dịch có 1.458,1 tấn vũ khí, trang bị kỹ thuật).

Việc bảo đảm thông tin liên lạc cho chiến dịch do đồng chí Hoàng Đạo Thuý - Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc, trực tiếp làm Trưởng ban thông tin chiến dịch. Lực lượng bảo đảm thông tin liên lạc có các tổ sửa chữa khí tài, kho thông tin, Tiểu đoàn 303, Đại đội 101 và lực lượng thông tin của các đại đoàn, trung đoàn bộ binh, Đại đoàn công - pháo.

Phục vụ cho việc vận chuyển tiếp tế, Trung đoàn công binh 151 cùng các lực lượng dân công, thanh niên xung phong, công nhân giao thông đã khẩn trương làm việc ngày đêm để thông đường theo đúng kế hoạch. Ngày 27-11-1953, xe vận tải đã đến được Tuần Giáo và ngày 16-1-1954, Trung đoàn lựu pháo 54 (gồm 24 khẩu pháo 105 ly), các tiểu đoàn pháo cao xạ, các xe bảo đảm... đã vào đến km 70 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.
______________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 14 Tháng Giêng, 2022, 02:26:38 pm

Từ trung tuần tháng 2-1954, công tác vận chuyển tiếp tế có thay đổi để đáp ứng phương án tác chiến mới của chiến dịch. Tuyến vận chuyển của Hội đồng Cung cấp kéo dài lên đến Sơn La; lực lượng phục vụ chiến dịch được tăng cường với 3.168 cán bộ, chiến sĩ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật và hơn 30.000 dân công, thanh niên xung phong. Các tuyến vận tải của Tổng cục Cung cấp tiền phương được tổ chức thành các tuyến hậu cần, kỹ thuật, không chỉ đảm nhiệm công tác vận tải mà còn làm cả nhiệm vụ bảo đảm cung cấp và chỉ huy thống nhất các lực lượng bảo đảm trên toàn tuyến.

Do được tổ chức chặt chẽ và với sự tích cực khẩn trương của các lực lượng, ngày 11-3-1954, công tác chuẩn bị cho chiến dịch theo phương án "đánh chắc, tiến chắc" đã kết thúc chu đáo, đúng kế hoạch.

17 giờ ngày 13-3-1954, quân ta nổ súng mở màn Chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận pháo kích mở màn chiến dịch đạt hiệu quả cao: Sở Chỉ huy địch bị trúng đạn, đường dây điện thoại bị cắt đứt, các trận địa pháo của địch bị tê liệt... Cả Him Lam và Mường Thanh đều rung chuyển trong tiếng nổ dồn dập, Sở Chỉ huy phân khu bắc bị đánh tơi tả... Ngay từ giờ phút đầu tiên, bọn địch ở Điện Biên Phủ đã bị giáng một đòn khủng khiếp. Trận mở màn kết thúc hồi 23 giờ 30 phút. Trung tâm đề kháng Him Lam bị tiêu diệt hoàn toàn.

Đêm 14 rạng ngày 15-3, ta tiến công và tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập. Địch ở Bản Kéo sợ hãi giương cờ trắng ra hàng. Quân ta thừa thắng tiến vào đánh chiếm các ngọn đồi ở phía bắc sân bay Mường Thanh,...

Bám sát đội hình tác chiến của các đơn vị, cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã trực tiếp tham gia cùng chiến đấu và sẵn sàng sửa chữa vũ khí cho bộ đội. Do thiếu trận địa dự bị để di chuyển nên một số trận địa pháo đã bị địch đánh trúng, có bảy khẩu pháo cao xạ 37 ly bị hỏng, trong đó có ba khẩu hỏng nhẹ được các chiến sĩ quân khí Tiểu đoàn 394 do đồng chí Trần Kim Ngọc - Chủ nhiệm quân khí tiểu đoàn, phụ trách sửa chữa bảo đảm các yêu cầu kỹ thuật và giao cho đơn vị tiếp tục chiến đấu. Bốn khẩu pháo hỏng nặng được đưa về trạm quân khí tiền phương (ở km 52 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ) để sửa chữa. Đồng chí Đoàn Đà, Trạm trưởng Trạm quân khí Trung đoàn 367 cùng cán bộ quân khí trung đoàn và Cục Quân khí tăng cường, đã làm việc ngày đêm, dồn ghép, sửa chữa được ba khẩu kịp đưa về đơn vị chiến đấu khi đợt hai của chiến dịch bắt đầu. Khẩu còn lại do hỏng quá nặng phải huỷ để lấy phụ tùng thay thế.

Qua thực tế chiến đấu và phục vụ sửa chữa tại trận địa, cán bộ, chiến sĩ quân khí đã phát hiện những bộ phận hay hỏng trong mỗi khẩu pháo cao xạ như máy nạp đạn, máy ngắm, càng kéo,... Đồng chí Đỗ Đức Dục, Chủ nhiệm quân khí tiền phương Trung đoàn 367 đã đề nghị Tổng cục Cung cấp sản xuất một số bộ phận để sẵn sàng thay thế. Chỉ trong một thời gian ngắn, các xưởng quân giới đã nghiên cứu sản xuất thành công trục máy tống đạn, bướm tống đạn, cán ngoắc pháo cao xạ 37 ly, kim hoả súng phòng không 12,7 ly,... gửi lên Điện Biên Phủ để quân khí kịp thời sửa chữa súng pháo phục vụ bộ đội chiến đấu.

Ngoài sự chi viện của hậu phương, ngay tại mặt trận, lực lượng quân khí đã bám sát đơn vị, bảo đảm cho bộ đội luôn có đủ vũ khí trang bị tham gia chiến dịch. Cán bộ, chiến sĩ các trạm sửa chữa làm việc ngày đêm bên các lò rèn đỏ lửa để rèn thêm cuốc xẻng cung cấp cho bộ đội sửa đường, đào hào và chế tạo các phụ tùng thay thế. Trong chiến đấu, súng phòng không 12,7 ly do phải bắn liên tục (có khẩu bắn đến đỏ nòng) nên ngoài kim hoả hay bị hỏng, phiến khoá của khoá nòng cũng rất hay gãy. Loại này không có dự trữ, nếu chờ tiếp tế của hậu phương thì khá lâu. Trước tình hình đó, đồng chí Đỗ Đình Hữu cùng cán bộ chiến sĩ quân khí đã nghiên cứu khắc phục bằng cách lấy sắt từ cuốc chim mang rèn và đã chế tạo được những phiến khoá nòng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, phục vụ sửa chữa kịp thời. Cán bộ, chiến sĩ quân khí ngoài việc bám sát chỉ đạo, giúp đỡ đơn vị còn tích cực tham gia thu hồi, xử lý vũ khí, đạn chiến lợi phẩm để cấp phát bổ sung cho đơn vị chiến đấu. Do có tổ chức kiểm tra chu đáo, ta đã phát hiện và xử lý thành công số đạn pháo 105 ly mà địch đã gài bẫy, nếu mang bắn đạn sẽ nổ ngay trong nòng pháo gây hỏng pháo, chết người,...

17 giờ 30 ngày 30-3-1954, pháo binh chiến dịch bắn dồn dập vào Sở Chỉ huy của Đờ Cátxtơri, các điểm cao C, D, E, A, các trận địa pháo binh và quân cơ động ở Mường Thanh, Hồng Cúm. Sau năm ngày chiến đấu, đợt tiến công thứ hai của ta đã thu được nhiều thắng lợi, thu hẹp thế trận vây lấn tập đoàn cứ điểm.

Sau hai đợt tiến công, các lực lượng của ta đã tiêu hao một lượng đạn khá lớn. Đạn dược dự trữ còn rất ít, nhất là đạn pháo 105 ly, việc sử dụng đạn đã phải tính đến từng viên. Xe ôtô cũng thiếu trầm trọng. Trước tình hình đó, Tổng cục Cung cấp tích cực đôn đốc và tổ chức tốt việc vận chuyển đạn từ hậu phương ra, điều chỉnh lượng đạn giữa các đơn vị, tổ chức cấp phát phân phối hợp lý, có kế hoạch tiết kiệm đạn và xử lý hàng chiến lợi phẩm để cung cấp cho các đơn vị. Đồng thời, Tổng cục Cung cấp cũng chỉ đạo khai thông đường vận chuyển từ Ba Nậm Cúm (biên giới Việt - Trung) - Lai Châu - Mường Tòng - Mường Pồn - Điện Biên Phủ để chuyển đạn, gạo,... về Điện Biên Phủ.

Để giải quyết tình trạng thiếu xe, Tổng cục Cung cấp tiền phương chủ trương "triệt để phát huy hiệu suất của xe, mượn xe của pháo"; đồng thời phát động phong trào giữ xe tốt, giảm tối thiểu số xe bị hư hỏng. Nếu có hư hỏng, các đơn vị và các đội sửa chữa phải nhanh chóng khắc phục để đưa xe vào hoạt động. Số xe lấy của pháo lúc đầu là 16%, sang đợt hai của chiến dịch, do phải vận chuyển gấp nên đã sử dụng tới 50%.

Để chuẩn bị tốt cho đợt ba, Đảng uỷ, Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị cho Tổng cục Cung cấp tiền phương tiếp tục làm tốt công tác tiếp tế bảo đảm cho bộ đội, củng cố và phát triển trận địa tiến công siết chặt vòng vây, đánh chiếm sân bay, triệt hẳn đường tiếp tế và tăng viện của địch, uy hiếp hơn nữa tung thâm của địch. Cuối tháng 4-1954, công tác bảo đảm cho bộ đội đã cơ bản hoàn thành, các đơn vị được bổ sung đầy đủ vũ khí, đạn, trang bị, sẵn sàng bước vào đợt tiến công mới.

Trưa ngày 1-5-1954, pháo các cỡ của ta giội đạn mãnh liệt vào các trận địa địch, mở đầu cho đợt tấn công thứ ba. Trong đợt bắn phá này, lần đầu tiên, hoả tiễn H6 của ta xuất trận, làm cho binh lính địch càng thêm kinh hoàng, khiếp sợ. Cụm pháo binh của địch ở Hồng Cúm bị tê liệt, không bắn được phát nào. Một kho đạn pháo với 3.000 viên của địch nổ tung, kho lương thực, thực phẩm của chúng cũng bốc cháy... Sau đợt pháo kích kéo dài gần một giờ, bộ đội ta từ các hướng đồng loạt tiến công nhiều vị trí của địch. Đêm 1-5, ta diệt các cứ điểm C1, 311A, 505 và 505A; đêm 3-5, diệt 311B... Ngày 3-5, Cônhi lệnh cho Đờ Cátxtơri chuẩn bị rút chạy. Nhưng kế hoạch rút chạy của chúng chưa kịp triển khai thì ngày 5-5, quân ta đã tiến công tiếp và nhanh chóng chuyển sang tổng công kích.

Bộ Chỉ huy chiến dịch nắm chắc tình hình và căn cứ vào sự phát triển trên các hướng, đã quyết định tổng công kích vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 6-5-1954, lấy tiếng nổ của khối bộc phá đánh đồi A1 làm hiệu lệnh. Trước đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã thông qua phương án đánh A1 bằng lượng bộc phá lớn. Trung đoàn công binh 151 tổ chức một đội đặc biệt gồm 20 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung phụ trách đào đường hầm để đặt bộc phá. Sau 15 ngày đêm kiên cường, bền bỉ thực hiện nhiệm vụ, đội đã đào xong đường hầm dài 49m và ngay trong đêm 4-5, khối thuốc nổ gần 1.000kg do bộ đội công binh "chế tạo" tại trận địa với 23kg thuốc nổ TNT, 20kg nitrôxenlulô, 19kg thuốc mồi, số còn lại là lượng thuốc nổ tháo từ các quả bom chưa nổ ở Căng Na (Điện Biên Phủ), chia làm 49 gói, đã được đặt vào cuối đường hầm, sáu đường dây cháy chậm và một đường điểm hoả bằng điện đã được nối xong.

18 giờ ngày 6-5, ta tập trung các loại pháo 105 ly, 75 ly, cối 120 ly, 81 ly và 12 dàn hoả tiễn H6 bắn dữ dội vào các cứ điểm còn lại. 20 giờ 30 phút cùng ngày, khối bộc phá gần 1.000 kg ở A1 được gây nổ,... Quân ta đồng loạt tiến công và nhanh chóng làm chủ các cứ điểm A1, C2, 310... 17 giờ 30 phút ngày 7-5, Thiếu tướng Đờ Cátxtơri cùng toàn bộ Bộ Tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt sống. Địch ở các cứ điểm còn lại lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2022, 04:42:13 pm

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ MÃI MÃI LÀ NIỀM TỰ HÀO,
NGUỒN CỔ VŨ TO LỚN CỦA QUÂN VÀ DÂN CÁC DÂN TỘC TÂY BẮC
1

Trung tướng MA THANH TOÀN
Ủy viên Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu II

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói "đó là một mốc chói lọi bằng vàng". Trong dặm dài lịch sử dân tộc Việt Nam, mốc đó ghi dấu bước tiến thần kỳ của quân và dân ta sau ngót một trăm năm bị thực dân Pháp đô hộ. Thắng lợi đó là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh của dân tộc Việt Nam dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Bác Hồ muôn vàn kính yêu. Cùng với thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 một lần nữa khẳng định vị trí tiên phong của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức và nô dịch trên thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Cùng với cả nước, quân và dân các dân tộc Tây Bắc rất tự hào vì đã có những đóng góp to lớn vào thắng lợi vẻ vang này. Hơn thế nữa, thắng lợi vẻ vang đó lại được tạo nên ngay trên chính quê hương mình, để rồi địa danh Tây Bắc - Điện Biên Phủ đã vượt qua không gian, thời gian, mãi mãi là niềm tự hào, nguồn cổ vũ to lớn đối với quân và dân các dân tộc Tây Bắc, đối với cả dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, vì một thế giới hoà bình, không có áp bức bóc lột.

Năm mươi năm qua, mang tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc cùng cả nước tiếp bước trên con đường cách mạng, vượt qua những chặng đường lịch sử đầy thử thách, đương đầu với các thế lực phản động nhất, hiếu chiến nhất của thời đại, làm nên đại thắng mùa Xuân 1975. Tổ quốc Việt Nam thống nhất, độc lập và đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Có thể nói, 50 năm qua, trên mỗi chặng đường, mỗi chiến công, mỗi biến động của lịch sử dân tộc Việt Nam đều ít nhiều mang dấu ấn và ảnh hưởng tích cực của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Riêng với quân và dân Tây Bắc, tác động và ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ là vô cùng to lớn. Đó là niềm tự hào, là nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần, là một nhân tố góp phần quyết định cho mọi thắng lợi trong từng chặng đường lịch sử mà nhân dân các dân tộc cùng lực lượng vũ trang Tây Bắc đã đi qua.

Nhìn lại lịch sử cách mạng dân tộc, trong sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta, với những đặc điểm xã hội, tự nhiên, Tây Bắc luôn được xác định là địa bàn chiến lược quan trọng về địa - chính trị. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đặc biệt là tới năm 1953-1954, Tây Bắc trở thành chiến trường chính trong cuộc quyết đấu giữa thực dân Pháp, can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Tây Bắc từng là địa bàn diễn ra nhiều chiến dịch lớn, nay trở thành tâm điểm của chiến tranh, với thắng lợi quyết định thuộc về dân tộc Việt Nam, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu". Sở dĩ có được điều ấy là vì trong chỉ đạo chiến lược của Đảng, từ rất sớm, Đảng ta đã rất quan tâm tới chiến trường Tây Bắc. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất, tháng 1-1947 đã nhận định, căn cứ địa rừng núi ở miền Tây Bắc có một giá trị chiến lược rất quan trọng đối với miền Bắc Việt Nam và cả miền Bắc Đông Dương. Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ mặt trận miền Tây ngày 1-2-1947, Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ rõ: Miền Việt Tây đối với nước ta có một vị trí chiến lược rất quan trọng. Hùng cứ được ở đó không những quân địch ở vào cái thế "Cứ lao lâm hàm" có thể uy hiếp hậu phương chúng ta, mà chúng lại mong thực hiện âm mưu độc ác "dĩ Việt chế Việt" chia rẽ các anh em thiểu số, lập bộ đội người Việt thiểu số để tiến đánh chúng ta.

Mỗi tấc đất miền Tây là một tấc đất của Tổ quốc Việt Nam. Mỗi một đồng bào miền Tây là một người dân nước Việt. Bảo vệ được lãnh thổ và nhân dân miền Tây, tức là gián tiếp bảo vệ được đại hậu phương của chúng ta, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuối cùng.

Với ý nghĩa đó, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc được đặt ra, quyết không để địch chiếm đóng, không thể để đồng bào ta bị quân thù giày xéo hay lung lạc. Thực hiện chủ trương biến hậu phương địch thành tiền phương của ta, bốn đội Xung phong công tác được gấp rút tổ chức và tiến sâu vào vùng Tây Bắc, phân tán thành từng tổ nhỏ, tiến hành công tác tuyên truyền giác ngộ quần chúng, gây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, phát động chiến tranh du kích trong vùng địch kiểm soát... Cùng thời gian này, chủ lực ta mở một số chiến dịch nhỏ ở sông Đà, sông Thao... Tây Bắc bước đầu đã xây dựng được các cơ sở cách mạng, chiến tranh du kích từng bước phát triển. Tiếp đó, nhằm tạo bước chuyển biến mạnh ở Tây Bắc, ta mở liên tiếp hai chiến dịch quan trọng là Chiến dịch Lê Lợi và Chiến dịch Lê Hồng Phong I. Đến năm 1950, khi Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi, trên địa bàn Tây Bắc ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hai tiểu đoàn địch, giải phóng một vùng rộng lớn, bao gồm cả thị xã Lào Cai.

Căn cứ vào tương quan lực lượng và vị trí hiểm yếu của Tây Bắc, cùng với khả năng tác chiến của bộ đội ta nên trong Thu Đông 1952, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã xác định rõ: hướng tiến công chính của ta trong Thu Đông 1952 là Tây Bắc Bắc Bộ.

Thực hiện chủ trương đó, tháng 9-1952, Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ, trên cơ sở tính toán, cân nhắc một cách khách quan, khoa học, đã hạ quyết tâm mở chiến dịch tiến công trên chiến trường Tây Bắc. Quyết tâm đó hoàn toàn chính xác, chiến dịch giành thắng lợi, 80% đất đai miền Tây Bắc được giải phóng, nối thông với căn cứ địa Việt Bắc, tạo cho thế và lực của ta thêm vững mạnh, ngày càng dồn địch vào thế bị động, lúng túng. Có được cục diện đó là do nhiều yếu tố tạo thành, trong đó có vấn đề quan trọng là Đảng ta, từ sau Chiến dịch Hoà Bình, đã chọn Tây Bắc làm hướng tiến công chủ yếu. Sự lựa chọn đó hoàn toàn chính xác, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng ta trong chỉ đạo và điều hành chiến tranh.

Đến Đông Xuân 1953-1954, giai đoạn có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến, Tây Bắc vẫn là địa bàn được Trung ương Đảng chọn làm hướng hoạt động chính. Trên thực tế, ta đã điểm trúng huyệt hiểm yếu của địch, buộc chúng phải tung quân lên Điện Biên Phủ, xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh, như chúng từng cho rằng là một "siêu Nà Sản", một "Vécđoong ở Đông Dương", là cái bẫy để thu hút và nghiền nát chủ lực đối phương hòng đi tới trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh theo hướng có lợi cho Pháp.

Hơn thế nữa, phía Pháp còn ngạo mạn nói: Chỉ còn một mối lo duy nhất là đối phương không dám công kích Điện Biên Phủ và ngang nhiên rải truyền đơn thách thức ta.

Các tướng lĩnh Pháp, các nhà hoạch định kế hoạch quân sự này đâu hề nghĩ rằng chọn Điện Biên Phủ làm nơi hội chiến chính là chúng đã chọn trước một tử địa với hậu quả khôn lường.
___________________________________________________
1. Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử, chân lý thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2022, 04:44:13 pm

Về phía ta, Trung ương Đảng quyết định chọn Điện Biên Phủ làm chiến địa của trận quyết chiến chiến lược với quân Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những đối với ta mà đối với cả quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.

Đáp lời của Người, cả nước hướng về Điện Biên Phủ. Trên khắp các ngả đường Tây Bắc, các đại đoàn chủ lực, các đoàn dân công ngày đêm xẻ núi, băng rừng, vượt sông đi vào chiến dịch. Trong hùng khí đó, quân và dân Tây Bắc, dù còn khó khăn thiếu thốn trăm bề, nhưng với truyền thống yêu nước thương nòi, vượt qua gian khổ, hy sinh, đã trực tiếp chi viện rất lớn cả sức người và sức của cho chiến dịch.

Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, đã kết thúc thắng lợi vẻ vang cuộc trường kỳ kháng chiến của dân tộc ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong niềm vui thắng lợi đó, hơn ai hết, quân và dân Tây Bắc rất tự hào vì chiến công oanh liệt ấy đã diễn ra ngay chính trên mảnh đất quê hương và có sự đóng góp to lớn của chính mình; tự hào về Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Dân tộc ta mãi mãi tự hào về miền Tây Bắc anh hùng, về chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Truyền thống lịch sử ấy sẽ tiếp thêm cho chúng ta niềm tin ở sự lãnh đạo của Đảng, ở sức mạnh đoàn kết dân tộc và nghị lực sáng tạo của đồng bào và chiến sĩ, Đảng bộ và nhân dân Tây Bắc trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"1.

Chúng ta tự hào bởi trận Điện Biên Phủ là kết tinh thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Với thắng lợi ở Điện Biên Phủ, quân và dân ta đã đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; đánh bại ý chí xâm lược, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, rút quân về nước, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, tàn bạo. Giữa núi rừng Tây Bắc - cái tên Điện Biên Phủ đã trở thành huyền thoại và gắn liền với hai tiếng Việt Nam - Hồ Chí Minh, đã trở thành biểu tượng của một dân tộc anh hùng. Chiến thắng Điện Biên Phủ mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, đánh dấu bước phát triển mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Điều đó khẳng định rằng chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ có ý nghĩa dân tộc sâu sắc mà còn có ý nghĩa quốc tế trọng đại. Chính giới học giả phương Tây đã phải thừa nhận: "Điện Biên Phủ là trận Vanmy của các dân tộc da màu"; "Điện Biên Phủ là một trong những trận giao chiến đã làm thay đổi số phận thế giới".

Riêng ở Tây Bắc, thực tế lịch sử đã cho thấy, chiến thắng Điện Biên Phủ chẳng những là niềm tự hào mà còn là nguồn cổ vũ hết sức to lớn, tạo nên sức mạnh, động lực để quân và dân Tây Bắc tiếp tục lập nên những chiến công mới trong những chặng đường phía trước.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong hành trang của mình, có tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc đoàn kết một lòng, khắc phục khó khăn gian khổ, phát huy truyền thống của căn cứ địa cách mạng, cùng quân và dân cả nước xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến, đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang với cách mạng Lào.

Nắm vững mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng, giữa xây dựng hậu phương với chi viện tiền tuyến, hơn 20 năm tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là hơn 20 năm quân và dân Tây Bác không ngừng xây dựng, củng cố căn cứ địa - hậu phương chiến lược ngày càng vững mạnh, góp phần đánh thắng kẻ thù.

Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, bằng thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, quân dân Tây Bắc đã bắn rơi 339 máy bay Mỹ; góp phần cùng quân dân miền Bắc hạ gục uy thế không lực Hoa Kỳ. Đặc biệt, những ngày cuối năm 1972, quân dân ta đã làm nên một trận "Điện Biên Phủ trên không" ngay trên bầu trời Thủ đô Hà Nội, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh phá hoại vô cùng tàn bạo của đế quốc Mỹ. Bằng trận "Điện Biên Phủ trên không", Hà Nội đã trở thành thủ đô của phẩm giá con người và lương tri thời đại.

Trước hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, biến mất mát đau thương thành sức mạnh, nhân dân các dân tộc Tây Bắc kiên cường bám trụ, sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, vươn lên khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định đời sống, động viên con em lên đường nhập ngũ, làm tròn trách nhiệm của hậu phương đối với tiền tuyến. Hàng vạn thanh niên con em các dân tộc Tây Bắc đã lên đường chiến đấu với biết bao lá đơn viết bằng máu thể hiện nguyện vọng thiết tha được lên đường đánh Mỹ. Có mặt trên khắp các chiến trường, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, nhiều người đã trở thành anh hùng, dũng sĩ, nhiều gương hy sinh cao cả. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, truyền thống bất khuất chống ngoại xâm được phát huy hơn lúc nào hết đã góp phần làm rạng rỡ một miền núi sông hùng vĩ, xứng đáng với miền đất từng tạo nên một Điện Biên Phủ oai hùng.

Trong cuộc Tổng tiến công nổi dậy giải phóng miền Nam mùa Xuân năm 1975, Sư đoàn 316, chủ lực của Khu Tây Bắc, đơn vị từng chiến đấu anh dũng, kiên cường, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm xưa, vừa làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang ở Lào trở về, đã nhanh chóng hành quân vào chiến trường tham gia Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên với trận đánh then chốt, mở màn giải phóng Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, đơn vị đã tổ chức hành quân thần tốc, tiến công dũng mãnh vào cụm phòng ngự của địch ở cửa ngõ tây - bắc Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, chiến dịch quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thắng lợi vĩ đại này được coi như một "Điện Biên Phủ mới ở miền Nam Việt Nam", mà từ năm 1964, trong bài viết Nhân ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự đoán.

Ngoài những lực lượng trực tiếp và gián tiếp tham gia các hoạt động quân sự, chiến đấu trên cả hai miền Nam, Bắc cũng như trên chiến trường Bắc Lào, đồng bào Tây Bắc còn chi viện hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, thuốc men và các loại vật chất khác cho các mặt trận.

Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên và xã hội ở địa bàn rừng núi, đồng bào Tây Bắc còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng với tinh thần và khí phách Điện Biên Phủ cùng với tấm lòng thơm thảo và tình cảm sâu nặng với cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ, quân và dân các dân tộc Tây Bắc đã vượt lên chính mình để có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tinh thần, khí phách Điện Biên Phủ không chỉ phát huy trong chiến tranh ác liệt mà còn là động lực quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước. Lịch sử dân tộc đã chứng minh sau những cuộc chiến đấu chống xâm lược là một thời kỳ phát triển về mọi mặt trong xây dựng hoà bình. Đó là sự thể hiện tinh thần dân tộc, phát huy ý chí tự lập tự cường, lòng tự hào và sự vận dụng trí tuệ, kinh nghiệm chiến đấu trong xây dựng hoà bình. Hơn nữa, ý chí độc lập của dân tộc không chỉ thể hiện và dừng lại ở việc chiến thắng quân xâm lược mà gắn liền với xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Với ý nghĩa ấy, cùng với đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 2 đã phát huy truyền thống cách mạng của mình, tập trung xây dựng Đảng bộ quân khu trong sạch vững mạnh; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân; nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ, tập trung xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng vũ trang quân khu bao gồm cả ba thứ quân, đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chù nghĩa, bảo vệ nhân dân nhằm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Những thành công và thắng lợi của quân và dân các dân tộc Tây Bắc trong 50 năm qua, kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, nằm trong thành công và thắng lợi chung của quân và dân cả nước. Riêng với quân và dân Tây Bắc, thắng lợi đó chịu ảnh hưởng lớn lao và mang đậm dấu ấn Điện Biên Phủ. Nó được tạo nên từ niềm tự hào và nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao mà chiến thắng Điện Biên Phủ mang lại.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vang vọng mãi trong lòng dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, nguồn cổ vũ to lớn trong những chặng đường cách mạng tiếp theo. Phát huy truyền thống Điện Biên Phủ, Tây Bắc đang vươn lên và không ngừng đổi mới trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Bắc nguyện đoàn kết một lòng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, xây dựng Tây Bắc - Điện Biên Phủ trở thành một vùng kinh tế giàu đẹp, quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu, ngưỡng mộ của nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.
_________________________________________________
1. Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Quân và dân Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.4


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2022, 04:51:42 pm

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
TRONG CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1


BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ
TỈNH LAI CHÂU


I- KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH LAI CHÂU

Lai Châu là một tỉnh vùng cao biên giới, có độ dốc lớn, ở về phía tây - bắc Tổ quốc ta. Có đường biên giới với Trung Quốc dài 300km về phía tây - bắc; với nước Lào 373 km về phía tây - nam, phía đông giáp Sơn La, phía đông - bắc giáp tỉnh Hoàng Liên Sơn (cũ). Diện tích 17.109 km2. Dân số 1954 trên 8 vạn người, thuộc 23 dân tộc.

Đồi núi mênh mông, trùng điệp, nhiều bãi bằng lớn. Xen kẽ giữa những dãy đồi núi là các thung lũng khá dài và rộng, có cánh đồng Mường Thanh (Điện Biên Phủ) rộng nhất khu Tây Bắc, xưa nay nhân dân thường nói: nhất Thanh, nhì Lô, tam Than, tứ Tấc. Toàn tỉnh có 3.058 sông suối lớn nhỏ, phân bố khá đều. Trong rừng có nhiều loại gỗ quý, nhiều lâm thổ sản, dưới đất giàu khoáng sản. Nhiều cảnh thiên nhiên hùng vĩ, rất đẹp, đúng là "non non, nước nước đẹp hơn tranh" như đồng chí Phạm Văn Đồng đã ca ngợi trong Bài ca Tây Bắc.

Ở vào một vị trí địa lý chiến lược, Lai Châu có tầm quan trọng rất lớn về phương diện kinh tế, chính trị, quân sự.

Ngay từ khi mới chiếm Lai Châu, thấy được tầm quan trọng đó, thực dân Pháp ra sức xây dựng nền thống trị, chú ý nhiều nhất về phương diện chính trị, quân sự.

Đầu năm 1953, trước thất bại ngày càng nặng nề của cuộc chiến tranh xâm lược, được sự thoả thuận của Mỹ, Chính phủ Pháp đưa tướng Nava sang làm Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh ở Đông Dương. Y vạch ra một kế hoạch mang tên kế hoạch Nava định trong 18 tháng tiêu diệt phần lớn quân chủ lực của ta, buộc ta phải đàm phán theo những điều kiện của chúng.

Đảng ta đã phân tích một cách rất khoa học kế hoạch mới của địch, khả năng thực hiện của chúng và vạch ra chủ trương, biện pháp đối phó, quyết phá tan kế hoạch Nava. Quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, xác định hướng tiến quân chính là Tây Bắc.

Phát hiện bộ đội ta hành quân lên hướng Tây trước nguy cơ số quân ở Lai Châu bị tiêu diệt, toàn bộ đất đai Tây Bắc lọt vào tay ta, ngày 20-11-1953, Nava điều sáu tiểu đoàn tinh nhuệ nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ.

Địch chọn Điện Biên Phủ làm nơi cố thủ vì Điện Biên Phủ có cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng, rộng lớn, xung quanh có đồi núi bao bọc, điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ quân sự mạnh. Điện Biên Phủ lại ở giáp biên giới Việt - Lào, cách biên giới Trung Quốc, Thái Lan, Mianma từ 150 đến 300 km, cách Luông Prabăng 200 km và cách Hà Nội 300 km theo đường chim bay.

Chúng coi đây là ngã tư chiến lược quan trọng, vị trí then chốt. Làm chủ được Điện Biên Phủ, địch không những ở vào thế có thể uy hiếp hậu phương chúng ta là căn cứ địa Việt Bắc, Khu IV cũ, mà còn khống chế cả Bắc Lào, Vân Nam (Trung Quốc) và cả khu vực Đông Nam Á.

Đồng thời với việc xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, địch cho thả dù bọn biệt kích xuống các châu Quỳnh Nhai, Tuần Giáo, Thuận Châu, tập hợp lực lượng phản động gây phỉ: lôi kéo nhân dân, tuyên truyền sức mạnh Pháp - Mỹ, nói xấu Chính phủ ta. Hằng ngày chúng cho máy bay oanh tạc, ném bom xuống các vùng của ta, nhất là những nơi chúng nghi có bộ đội ta đóng quân, ít nhất mỗi ngày 10 lần, mỗi lần từ 3 đến 7 chiếc.

Nhìn chung, sau khi được tăng cường lực lượng, địch ra sức xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mà chúng cho là "bất khả xâm phạm", mặt khác liên kết với bọn tay sai các nơi âm mưu nổi dậy giành chủ động trên chiến trường.

Thực hiện chủ trương tác chiến Đông Xuân, mà địa bàn Lai Châu là một mũi tiến công quan trọng, tỉnh Lai Châu được Trung ương đề ra chủ trương và chỉ đạo cụ thể trong vấn đề tiến hành phối hợp, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc đã có sự đóng góp rất lớn, làm tròn trách nhiệm của một tỉnh tiền tuyến chống kẻ thù xâm lược.
____________________________________________________   
1. Viện Sử học: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2022, 04:52:29 pm

II- ĐẢNG BỘ VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC
THAM GIA CHIẾN CUỘC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

1. Tham gia chiến dịch giải phóng Lai Châu

Chiến dịch giải phóng thị xã Lai Châu là chiến dịch mở đầu cho chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Bộ đội chủ lực tham gia là Đại đoàn "Biên Hoà" (tức Sư đoàn 316). Lai Châu đã chủ động phối hợp.

Được tin bộ đội chủ lực đang tiến vào giải phóng thị xã, đồng bào các nơi trong tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, từ vùng cơ sở cũ đến vùng cơ sở mới, rất vui mừng, phấn khởi.

Khi bộ đội đến, Ban Cán sự tỉnh và các châu chỉ đạo các đội du kích làm nhiệm vụ đón tiếp, dẫn đường và phối hợp chiến đấu. Đồng thời tập trung lãnh đạo công tác huy động lương thực, thực phẩm tại chỗ phục vụ bộ đội, cử cán bộ cốt cán làm công tác tiếp quản khi được giải phóng. Trong hoàn cảnh địa phương đang diễn ra chiến sự, nhiều nơi phải tản cư, việc huy động gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nếu không có một sự nỗ lực cao, với tinh thần làm chủ quê hương của nhân dân thì cũng khó mà đạt được mức yêu cầu của chiến dịch. Đặc biệt là đồng bào các khu du kích cũ, khu giải phóng có chính quyền của ta hoạt động như khu du kích Phú Nhung thuộc vùng cao châu Tuần Giáo, quê hương Vừ A Dính, Sùng Phái Sinh, khu Tả Sìn Thàng của châu Mường Lay... Tính riêng khu Tả Sìn Thàng, gồm tám xã vùng cao phần lớn là đồng bào Mông, đã tiếp tế cho bộ đội 13 tấn gạo, 80 con lợn, 29 con trâu, bò và trên 1 tấn rau xanh các loại.

Chiến dịch giải phóng thị xã Lai Châu diễn ra khá phức tạp: Vừa tổ chức đánh vào những điểm cố thủ của địch như Pa Ham, thị xã, vừa phải truy kích đánh những hướng rút lui, không cho chúng chạy về hợp điểm ở Điện Biên Phủ. Phần lớn quân địch rút theo đường Mường Tùng hướng xuống Điện Biên. Ngoài ra, chúng cho một đại đội nguỵ binh do tên Rôgied chỉ huy rút về Phiêng Lan, Mường Mô (Mường Tè) và cho chín đại đội do một tên tay sai người địa phương cầm đầu đi lối Mường Tong về hợp điểm ở Phiêng Lan, địch xây dựng căn cứ, với ý đồ nếu thời cơ thuận lợi sẽ quay lại, nếu bị thua thì bố trí tay chân trá hàng và giấu súng trong nhân dân để sau này gây phỉ.

Trong tình thế đó, sự chiến đấu đòi hỏi linh hoạt và vai trò của lực lượng địa phương hết sức quan trọng. Nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân cho nên chỉ hơn 10 ngày đêm chiến đấu, bằng nhiều hình thức tác chiến như truy kích, tập kích, bao vây tiêu diệt trên quãng đường dài 300 km giữa miền rừng núi hiểm trở, quân dân ta đã tiêu diệt và bức hàng 24 đại đội địch, bao gồm 2.500 tên, thu 700 súng các loại, hơn 30 tấn đạn dược, 12 máy vô tuyến điện và nhiều quân trang quân dụng khác; giải phóng thị xã và các huyện phía bắc là Mường Lay, Mường Tè, Sìn Hồ; phá tan kế hoạch lấy quân Lai Châu tăng cường cho Điện Biên Phủ của địch. Ta mở được một con đường thông suốt từ biên giới Việt - Trung đến Điện Biên Phủ, việc tiếp tế từ các châu phía bắc dễ dàng.

Chiến dịch giải phóng Lai Châu thắng lợi, gây khí thế hào hứng cho quân đội ta, cổ vũ quân ta hăng hái xông tới tiêu diệt kẻ thù giành thắng lợi to lớn hơn nữa; cổ vũ đồng bào các dân tộc tình nguyện góp công, góp của cho tiền tuyến, giải phóng hoàn toàn quê hương.

Trong niềm vui chiến thắng, tỉnh được Trung ương giao nhiệm vụ trực tiếp chuẩn bị cho Chiến dịch giải phóng Điện Biên Phủ.

Để thực hiện nhiệm vụ trên giao đạt kết quả tốt, Ban Cán sự đề ra những biện pháp cụ thể, chỉ đạo chặt chẽ, phân tỉnh ra thành ba khu vực và ấn định nhiệm vụ, chính trị cho từng khu vực rất cụ thể:

- Khu vực tự do, gồm các châu Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Tuần Giáo; nhiệm vụ trọng tâm: tăng gia sản xuất, chống đói, tiến hành chỉnh lý thuế nông nghiệp, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, dân công sửa chữa cầu đường phục vụ chiến dịch.

- Khu vực mới giải phóng, gồm Mường Lay, Mường Tè, Sìn Hồ; công việc cần làm: ổn định đời sống nhân dân, tuyên truyền chính sách của Chính phủ, tích cực xây dựng cơ sở cách mạng, đào tạo cốt cán, quét sạch tàn binh, thổ phỉ, gián điệp, Việt gian phản động, phá âm mưu chia rẽ dân tộc của địch.

- Khu vực địch chiếm là cánh đồng Mường Thanh của châu Điện Biên; nhiệm vụ chính là trực tiếp phục vụ chiến dịch và chuẩn bị tiếp thu khi quân ta vào giải phóng.

Khu vực địch chiếm, thuộc châu Điện Biên, thực hiện nhiệm vụ chính trị Ban Cán sự tỉnh giao, Ban Cán sự châu Điện Biên đã phân châu ra làm hai vùng. Vùng ngoài - tức là vùng giải phóng - nhiệm vụ chủ yếu là củng cố, bảo vệ cơ sở, chuẩn bị sức người, sức của, kho tàng, phương tiện, sẵn sàng huy động lương thực, thực phẩm cho chiến dịch. Vùng địch chiếm, gồm các xã trong cánh đồng Mường Thanh. Nhân dân bị địch dồn vào tập trung ở ba khu vực Long Nhai, Cò Mỵ, Ta Pô, chúng tăng cường kiểm soát không cho một ai liên lạc với bên ngoài. Ban Cán sự châu phân công các đồng chí uỷ viên phụ trách từng khu vực để nắm dân, nắm tình hình địch, gây dựng lại cơ sở, chỉ đạo các đội vũ trang, du kích tổ chức phục kích, chặn đánh những cuộc hành quân càn quét của địch nhằm thăm dò lực lượng của ta. Sự hoạt động của cán bộ, du kích trong vùng địch có tác dụng giữ vững mối dây liên lạc giữa cách mạng với quần chúng; mặt khác đã góp phần giúp các tổ trinh sát của bộ đội chủ lực nắm tình hình địch, bắt sống lính Pháp đưa ra ngoài khai thác tài liệu một cách thuận lợi.

Đó là những việc làm bước đầu rất quan trọng trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chiến dịch. Kết quả này đã tạo ra nhũng thuận lợi cơ bản và khả năng đáp ứng một phần nhu cầu phục vụ chiến dịch của nhân dân các dân tộc Lai Châu.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 15 Tháng Giêng, 2022, 04:53:45 pm

2. Tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ

Từ khi bắt đầu chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đến khi chiến dịch toàn thắng và giải quyết các hậu quả còn lại, nhân dân Lai Châu đều tham gia và đã góp phần xứng đáng của mình vào thắng lợi chung đó.

Ngoài những đơn vị bộ đội địa phương trực tiếp tham gia chiến đấu ở mặt trận, tỉnh giữ vai trò rất lớn trong vấn đề hậu cần, tiêu diệt các cụm phỉ âm mưu nổi lên nhằm hỗ trợ cho Điện Biên.

Thực hiện khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng", tỉnh tập trung sức huy động mọi khả năng đã chuẩn bị được ra phục vụ tiền tuyến.

Ngành công an tỉnh tăng cường làm công tác bảo vệ giao thông trên các trục đường vận chuyển chính vào Điện Biên Phủ. Đặt hai đồn kiểm soát, một đồn ở ngay thị xã Lai Châu bảo vệ tuyến đường Phong Thổ - Lai Châu - Điện Biên Phủ; một đồn tại ngã ba Tuần Giáo bảo vệ đường 41, đoạn từ đèo Pha Đin vào Điện Biên. Đặt thêm hai trạm gác làm nhiệm vụ cảnh giới máy bay địch ở trên đèo Pha Đin ở các xã Quai Nưa trên đường đi Lai Châu.

Ở khắp các địa phương trong tỉnh, từ vùng thấp đến vùng cao, từ đồng bào Thái, Mông đến Hà Nhì, Mảng Ư đều thi đua đi phục vụ chiến dịch. Chị em phụ nữ các dân tộc, xưa nay không hay đi xa nhà, chỉ quay sợi dệt vải, làm nội trợ gia đình, nay theo tiếng gọi của Đảng cũng nô nức lên đường, chẳng quản bom đạn, cùng nam giới làm đường, gánh gạo, tải thương,... Nhiều gia đình đem cả ngựa để chở vũ khí, lương thực, phục vụ một hoặc hai tháng, nhiều người hết thời gian quy định vẫn tình nguyện ở lại.

Ở đây cũng phải nói thêm rằng, tinh thần đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, cùng kề vai sát cánh chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân các dân tộc Lai Châu với đồng bào Kinh là rất cao. Họ đã cùng nhau bạt núi, xẻ đồi, chặt gỗ làm đường hay phá hàng trăm thác ở sông Nậm Na, sông Đà cho thuyền bè đi lại,...

Hoà vào khí thế chung của đồng bào cả nước, tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu của nhân dân các dân tộc tỉnh Lai Châu rất tự giác, với một khí thế hào hùng chưa từng thấy.

Đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ, việc huy động hậu cần tại chỗ có ý nghĩa to lớn, vì rằng Điện Biên, Lai Châu ở xa hậu phương lớn của cả nước. Phương tiện vận tải chủ yếu lúc đó là đôi vai, xe đạp, cho nên việc vận chuyển từ xa rất tốn kém, không kịp thời. Một gánh gạo của một người dân công khoảng 30 kg, gánh từ căn cứ địa Việt Bắc sang hay từ Khu IV lên, khi đến nơi chỉ còn một nửa. Một người thồ xe đạp từ trung du đưa vào mặt trận, trên dọc đường sử dụng ít ra cũng hết 5 kg, còn lương thực do người dân Lai Châu đóng góp thì đến ngay mặt trận, không bị hao tổn, nhất là về thực phẩm lại càng cần hơn.

Nhân dân các dân tộc Lai Châu đã đóng góp với một sự cố gắng lớn nhất của mình cho chiến dịch. Trong hoàn cảnh chiến tranh, sản xuất gặp nhiều khó khăn, thu hoạch không cao, nhiều gia đình thiếu ăn một hai tháng, nhưng khi được vận động đóng góp cho chiến dịch, nhân dân tình nguyện góp gạo cho Nhà nước, gia đình ăn thêm khoai, sắn. Đồng bào các châu phía bắc mới giải phóng của tỉnh còn thiếu thốn, được miễn thuế, nhưng cũng đóng góp cho tỉnh nhiều gạo, thịt, riêng Tuần Giáo đã huy động tới 45% số lúa thu hoạch cho chiến dịch. Theo thống kê của Ban Cán sự tỉnh, Lai Châu đóng góp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ: 2.666 tấn gạo, vượt mức trên giao 64 tấn; thịt 226 tấn, vượt 48 tấn; rau xanh 210 tấn; huy động 16.972 dân công, tính ra ngày công được 517.210 ngày; 348 ngựa thồ; 58 thuyền mảng, góp hơn 25.070 cây gỗ các loại để chống lầy, làm đường cho xe pháo và bộ đội vượt qua. Đáng chú ý là, châu Điện Biên, nơi chiến đấu ác liệt, vùng giải phóng thì máy bay oanh tạc, đồng bào sống vô cùng gian khổ, nhưng đã đóng góp được 555 tấn gạo, 36 tấn thịt, 104 tấn rau, 38.000 ngày công. Châu Mường Tè, nhiều dân tộc, sống thưa thớt, phỉ hoạt động ráo riết, nhân dân cùng với bộ đội phải chiến đấu và phục vụ chiến đấu tiêu diệt phỉ song cũng đóng góp cho mặt trận Điện Biên Phủ 76 tấn gạo, 2.700 ngày công, 43 ngựa đi phục vụ hai, ba tháng, 14 thuyền đi hai tháng.

Ở Lai Châu, phỉ có một lực lượng khá lớn, được Pháp chú ý xây dựng từ trước. Đứng trước nguy cơ thất bại, để đỡ đòn cho Điện Biên Phủ và âm mưu trở lại chiếm đóng lâu dài Lai Châu, đế quốc Pháp - Mỹ đã ra sức gây phỉ trên quy mô rộng lớn ở miền bắc Lai Châu.

Chấp hành chủ trương của Trung ương, Ban Cán sự Lai Châu đã xác định nhiệm vụ tiễu trừ thổ phỉ là một nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Để chỉ đạo thắng lợi nhiệm vụ này, tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ huy tiễu phỉ do một đồng chí trong Ban Cán sự tỉnh phụ trách, và "chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự từ tháng 3 đến tháng 6-1954". Nhận được lệnh, các châu cũng thành lập ban tiễu phỉ.

Đầu tháng 3-1954, các lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân bắt đầu mở các cuộc tấn công vào các cụm phỉ lớn. Đến cuối tháng 4-1954, quân ta đã đập tan hầu hết các cụm phỉ lớn ở châu Mường Tè, đánh tan và gọi hàng toàn bộ bọn phỉ ở Mù Xu, Mù Cà, Giàng Mủ Pho, Mường Nhế, Mường Tè, Mường Bum, Mường Mô, mỏm cao 1.059, giết chết tên đầu sỏ Quốc dân Đảng Trung Quốc Đào Gia Trị ở Mường Mô và nhiều tên trùm phỉ khác, thu hơn 200 súng các loại. Ở khu vực Ba Trà (Mường Lay) ta tiêu diệt và bắt sống gần hết, thu hơn 300 súng và nhiều đồ dùng quân sự khác. Ở phía Sìn Hồ quân ta quét phỉ thắng lợi, không cho phỉ thực hiện mưu đồ cắt đường tiếp tế của ta từ phía bắc theo sông Nậm Na về thị xã cho mặt trận Điện Biên.

Toàn bộ chiến dịch này ta đã tiêu diệt và làm tan rã hầu hết các cụm phỉ, có 75 tên đầu sỏ, thu 913 khẩu súng các loại cùng nhiều máy vô tuyến điện và đồ dùng quân sự khác.

Kết quả tiễu phỉ của quân dân Lai Châu đã phá tan âm mưu của địch, giữ được tình hình khá yên ổn trong nhân dân, làm cho nhân dân tin tưởng và ra sức đóng góp cho tiền tuyến. Thành tích chiến dịch tiễu phỉ của quân dân Lai Châu là chiến công phối hợp góp phần đánh thắng quân địch ở mặt trận Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ không những là nguồn cổ vũ to lớn đối với dân tộc ta mà còn là nguồn cổ vũ đối với các dân tộc anh em trên thế giới đứng lên giành độc lập, tự do. Thăm Điện Biên Phủ đã trở thành mong ước của bạn bè khắp năm châu. Vì vậy, làm cho Điện Biên Phủ ngày một giàu đẹp và vững mạnh, giữ được những di tích của chiến dịch là nhiệm vụ rất quan trọng đối với Đảng bộ và nhân dân Lai Châu.

Phát huy tinh thần quyết chiến quyết thắng của Điện Biên Phủ, 30 năm qua , dưới ánh sáng các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Lai Châu đã lãnh đạo quân và dân địa phương liên tiếp giành nhiều thành tựu đáng kể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước làm cho bộ mặt của tỉnh ngày một thay đổi, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của cả nước.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 08:39:34 pm

HẬU PHƯƠNG, HẬU CẦN
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

Đại tá, GS. NGÔ VI THIỆN

Ngày 26-1-1954, bộ đội ta chuẩn bị xuất phát tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ theo phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh". Sau khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá lại tình hình, cân nhắc thận trọng, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng uỷ cùng Đảng uỷ mặt trận quyết định phải tiếp tục chuẩn bị chu đáo hơn, đánh địch theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc" mới bảo đảm chắc thắng. Bộ đội trên toàn mặt trận được lệnh lui về vị trí tập kết, kéo pháo ra. Hậu cần cũng rút lực lượng về phía sau, chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến theo phương châm tác chiến mới.

Chuẩn bị hậu cần cho chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ trên chiến trường rừng núi xa hậu phương 500 - 700 km là một nhiệm vụ khó khăn, là thử thách lớn đối với ngành hậu cần, đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Sau khi hạ quyết tâm tác chiến, Trung ương Đảng, Tổng Quân uỷ đã xác định "khó khăn lớn nhất là về hậu cần". Ngay tướng Nava, Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp cũng cho rằng ta không thể giải quyết được các khó khăn để bảo đảm cho khối chủ lực đánh lớn, đánh dài ngày trên chiến trường rừng núi xa hậu phương này!2.

Bảo đảm cho "đánh nhanh, thắng nhanh" đã khó khăn. Nay phương châm và kế hoạch tác chiến thay đổi, khó khăn càng nhân lên. Lực lượng sử dụng tăng thêm, thời gian chiến dịch kéo dài, nhu cầu bảo đảm tăng vọt. Gạo chiếm khối lượng lớn nhất: tăng gấp ba lần, đạn tăng gấp hai lần. Số lượng thương binh dự kiến phải cứu chữa cũng tăng gấp đôi. Các tuyến giao thông vận tải lên mặt trận bị địch tăng cường đánh phá suốt ngày đêm.

Quyết tâm bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ giành toàn thắng, Trung ương Đảng và Chính phủ đã ra chỉ thị toàn Đảng, toàn dân tập trung toàn lực chi viện cho tiền tuyến... Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch chỉ đạo các ngành kinh tế, tài chính ở Trung ương dốc sức chi viện cho tiền tuyến. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh vào Thanh Hoá và vùng tự do đông dân nhiều gạo, Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về chiến trường quen thuộc đồng bằng Liên khu III trực tiếp phổ biến nhiệm vụ, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương huy động nhân, vật lực, phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận", "Tất cả để chiến thắng" được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt, cả ở vùng tự do cũng như ở nhiều vùng còn bị địch tạm chiếm. Nhân dân vừa tích cực đóng thuế nông nghiệp, bán thực phẩm, vừa cho vay, ủng hộ để cung cấp tiếp tế cho bộ đội. Nhân dân vùng tạm chiếm không thể đóng góp bằng hiện vật thì đóng góp bằng tiền. Đi dân công phục vụ chiến dịch trở thành phong trào, cả ở vùng tự do cũng như ở một số vùng tạm chiếm. Các đoàn dân công lên đường với tinh thần hăng hái, phấn khởi như đi trẩy hội, được tổ chức chặt chẽ, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để đem lại vinh dự cho địa phương mình. Đúng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá: "Chưa bao giờ trong suốt mấy năm kháng chiến, dân ta đã góp công sức nhiều như trong Đông Xuân 1953-1954 để chi viện cho quân đội đánh giặc... Bọn đế quốc... không bao giờ đánh giá được sức mạnh của cả một dân tộc, sức mạnh của nhân dân. Sức mạnh đó có thể khắc phục được tất cả mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ địch"3.

Và chính tướng Nava cũng phải viết: "Người ta chỉ còn thừa nhận nỗ lực phi thường đó (của nhân dân phục vụ chiến dịch) và khâm phục hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ (Việt Nam) đã biết cách tạo được"4.

Huy động được khối lượng nhân, vật lực to lớn để chi viện, bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng là kết quả tốt đẹp của việc xây dựng hậu phương kháng chiến, của đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Sau những năm đầu phải đối phó với các cuộc tiến công lớn và liên tiếp của quân viễn chinh Pháp vào các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến, ta đã buộc địch phải lùi về thế phòng ngự. Các căn cứ, các vùng tự do của kháng chiến ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc, chính quyền dân chủ nhân dân ngày càng vững mạnh. Mặt trận Liên Việt đoàn kết được toàn dân tích cực tham gia kháng chiến. Các chính sách kinh tế, tài chính đã tạo điều kiện cho nhiều ngành sản xuất phục hồi và phát triển, nhất là nông nghiệp. Chính sách ruộng đất được thực hiện đã đem lại quyền lợi thiết thực cho nông dân, giải phóng cả về kinh tế và tư tưởng, tạo một không khí phấn khởi trong nhân dân, củng cố lòng tin vào Đảng, Chính phủ, vào kháng chiến nhất định thành công.

Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mới. Những năm đầu kháng chiến, sản lượng nông nghiệp giảm sút so với những năm trước chiến tranh. Đến năm 1952, sản lượng nông nghiệp tăng 12,1% so với năm 1942. Năm 1953, địch dùng máy bay đánh phá hệ thống công trình thuỷ nông sông Cầu ở Việt Bắc, sông Chu ở Thanh Hoá, đập Đô Lương ở Nghệ An; bắn giết trâu bò triệt sức kéo, sản xuất nông nghiệp có giảm sút so với 1952, nhưng so với năm 1942 vẫn tăng 11,2%5.

Chính sách thuế khoá được cải tiến, đơn giản, công bằng và hợp lý được nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng và tích cực đóng góp, nhất là thuế nông nghiệp ban hành tháng 5-1951. Trong bốn năm (1951-1954) từ Liên khu V trở ra, nhân dân đã đóng góp 1.322.600 tấn thóc và một số tiền tương đương 1.500.000 tấn6. Cộng vào các nguồn thu khác, ngân sách kháng chiến đã cân bằng, thu đã cao hơn chi, Chính phủ có lương thực dự trữ để cung cấp, tiếp tế cho bộ đội đánh giặc.

Chính sách dân công được ban hành, nhân dân hiểu rõ nghĩa vụ kháng chiến, đi dân công là tham gia đấu tranh với địch để giải phóng đất nước, đã tự nguyện tham gia để phục vụ kháng chiến, phục vụ chiến dịch. Nhiều đoàn dân công từ vùng còn bị địch tạm chiếm ra vùng tự do để phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chỉ trong tám chiến dịch lớn ở chiến trường chính Bắc Bộ (từ Chiến dịch Biên giới đến Chiến dịch Điện Biên Phủ) đã có tới 1,5 triệu lượt dân công phục vụ, tính thành hơn 40,4 triệu ngày công.

Đường giao thông bị phá hoại trong những năm đầu kháng chiến để ngăn chặn xe tăng và cơ giới địch đã được sửa lại và mở thêm để phục vụ vận tải cơ giới trong những năm cuối kháng chiến. Với sự hướng dẫn của công chính và công binh, hàng triệu dân công đã mở đường, làm đường với các phương tiện thô sơ. Cuốc, xẻng, choòng... là chủ yếu. Trong hơn bốn năm từ 1950 đến 1954 chúng ta đã khôi phục và mở rộng 3.670 km đường cũ, làm 505 km đường mới. Trong đó có 2.080 km đường giao thông vận tải chiến lược, từ biên giới Việt - Trung xuyên qua Việt Bắc sang Tây Bắc tới Lai Châu, Điện Biên Phủ, xuống Liên khu III, vào tới Liên khu IV.
______________________________________________________
1. Chiến thắng Điện Biên Phủ - Sức mạnh dân tộc và tầm vóc thời đại, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994.
2. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 203.
3. Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước. Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 158-159.
4. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 206.
5, 6. Kinh tế Việt Nam từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến thắng lợi (1945-1954), Sđd, tr.176.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 08:46:48 pm

Cũng từ năm 1950, sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước ta thoát khỏi thế bao vây của chủ nghĩa đế quốc, tiếp xúc được với Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân anh em, bắt đầu nhận được sự chi viện của quốc tế về vật chất. Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vừa được thành lập, mới bắt đầu xây dựng đất nước đã phải viện Triều chống Mỹ, song vẫn cố gắng chi viện cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. "Một miếng khi đói bằng một gói khi no", viện trợ của Trung Quốc đã giúp chúng ta giải quyết được nhiều khó khăn, nhất là về vũ khí, đạn dược và phương tiện vận tải để mở các chiến dịch ngày càng lớn, đặc biệt là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Viện trợ của Trung Quốc trong chiến dịch này có ý nghĩa rất quan trọng, nhưng ta tự lực cánh sinh là chủ yếu. Riêng về gạo, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ nhân dân ta đã đóng góp 25.056 tấn, nhân dân Lào cung cấp 300 tấn, Trung Quốc viện trợ 1.700 tấn1, về đạn pháo 105 ly, suốt chiến dịch ta sử dụng gần 21.000 viên, trong số đó có 11.715 viên đạn chiến lợi phẩm thu được trong Chiến dịch Biên giới (1950), 400 viên thu được ở Banaphào trong Chiến dịch Trung Lào, hơn 5.000 viên bộ đội ta đoạt được dù tiếp tế của địch ngay ở Điện Biên Phủ; Trung Quốc viện trợ cho ta trong chiến dịch 3.600 viên2.

Có sự chi viện vô cùng to lớn của hậu phương, hậu cần đã thực hiện chức năng là khâu nối liền hậu phương với tiền tuyến đánh giặc: tổ chức tiếp nhận, vận chuyển tới mặt trận, cung cấp tiếp tế tới chiến sĩ, cứu chữa và chuyển thương, bệnh binh nặng về tuyến sau.

Tổ chức hậu cần đã được hoàn thiện dần qua những năm phục vụ và bảo đảm cho tác chiến. Từ các ngành phục vụ độc lập với nhau trong những năm đầu kháng chiến, đã tổ chức tập trung lại thành hậu cần quân đội, thống nhất chỉ huy các ngành cung cấp, tiếp tế, phục vụ để bảo đảm các nhu cầu tác chiến. Hậu cần quân đội được tổ chức thành hệ thống tổ chức thống nhất trong toàn quân, có sự chỉ đạo chặt chẽ từ trên xuống dưới khi bước vào Đông Xuân 1953-1954. Tổ chức hậu cần địa phương với hình thức Hội đồng Cung cấp mặt trận từ Trung ương tới liên khu, tỉnh đã hình thành với chức năng huy động nhân, vật lực các địa phương, vận dụng sức mạnh của hậu cần nhân dân phục vụ chiến dịch. Hậu cần quân đội đã cùng Hội đồng Cung cấp mặt trận phối hợp chặt chẽ với nhau, phục vụ thành công các chiến dịch trên các chiến trường.

Lực lượng hậu cần quân đội đã được triển khai trên các hướng chiến trường, phù hợp với yêu cầu tác chiến trên các hướng. Hậu cần Chiến dịch Điện Biên Phủ kết hợp chặt chẽ với Hội đồng Cung cấp mặt trận Khu Tây Bắc, triển khai các tuyến hậu cần, hình thành một thế bố trí từ phía sau ra phía trước, bảo đảm cho các hướng tiến công vào tập đoàn cứ điểm địch. Thế bố trí vững chắc, liên hoàn, hợp lý này là cơ sở để tiến hành mọi công tác bảo đảm hậu cần trong mọi tình huống, không bị gián đoạn.

Sửa đường, giữ đường để vận tải thường xuyên thông suốt là nhiệm vụ quan trọng của hậu cần chiến dịch. Địch đánh phá dữ dội các tuyến vận tải. Nava đã "sử dụng tận lực không quân để phá tuyến đường vận tải"3. Nhưng các chiến sĩ công binh, vận tải, dân công đã dũng cảm, thông minh, đánh bại mọi thủ đoạn đánh phá của địch. "Tất cả những nỗ lực của không quân để ngăn trở việc sửa đường đều vô hiệu"4. Những chuyến xe ôtô chở đạn chạy ban ngày, vượt đèo Pha Đin dưới sự uy hiếp thường xuyên của máy bay địch. Những chiếc mảng chở 2-3 tạ gạo do một nữ dân công điều khiển xuôi dòng sông Nậm Na hơn 80 km vượt qua 102 ghềnh thác. Những chiếc xe đạp thồ 1-2 tạ, cao nhất tới 352 kg vượt qua hàng trăm kilômét đường đèo dốc. Giuyn Roa viết: "Những chiếc xe đạp Pơgiô thồ 200-300 kg... đã đánh bại tướng Nava"5.

Gạo là nhu cầu lớn nhất về vật chất: 80 tấn/ngày cho toàn chiến dịch, vận chuyển từ hậu phương xa 500-700 km gặp nhiều khó khăn do địch đánh phá ác liệt tuyến giao thông vận tải. Hậu cần chiến dịch cùng Hội đồng Cung cấp mặt trận Khu Tây Bắc chủ trương tận lực huy động tại chỗ. Cán bộ hậu cần, quân nhu cùng cán bộ địa phương về tận các làng bản, vận động nhân dân đóng góp, bán gạo cho bộ đội để giải phóng quê hương. Nhân dân Tây Bắc nhiệt liệt hưởng ứng, nhiều gia đình vét cả thóc giống để cung cấp cho bộ đội. Kết quả đã huy động tại Tây Bắc được 7.311 tấn gạo, chiếm 43% tổng số gạo sử dụng tại mặt trận. Sau khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, hậu cần tổ chức vận chuyển thóc giống, gạo, nông cụ... lên Tây Bắc để phục vụ sinh hoạt và sản xuất của đồng bào.

Trong khi binh sĩ địch phải sống chui rúc trong hầm hào lầy lội, hậu cần của ta đã cùng cán bộ chỉ huy hướng dẫn cho chiến sĩ tạo điều kiện "bình thường hoá sinh hoạt ở trận địa". Hầm sinh hoạt được củng cố, có rãnh thoát nước để giữ được khô ráo, có dù lát trần và vách. Bếp Hoàng cầm được xây dựng ở ngay trận địa để bảo đảm cho bộ đội được ăn nóng, uống nóng. Công trình vệ sinh cũng được xây dựng thành hầm ở cuối hướng gió. Bộ đội được luân phiên về phía sau để tắm giặt, nghỉ ngơi. Điều kiện sinh hoạt được bình thường hoá đã nâng cao sức khoẻ và tinh thần chiến đấu của bộ đội.

Việc cứu chữa thương binh có nhiều tiến bộ. Các trạm quân y tuyến chiến thuật cấp cứu kịp thời và chuyển nhanh thương binh về tuyến chiến dịch. Tuyến quân y chiến dịch đã triển khai các bệnh viện chuyên điều trị thương binh nhẹ, thương binh nặng và bệnh binh. Việc chuyển thương binh, bệnh binh trên đường dài về các bệnh viện hậu phương được tổ chức chu đáo. Mỗi xe ôtô chuyển thương binh là một "bệnh xá lưu động", mỗi tổ cáng thương (không đi được xe ôtô vận tải) là "một gia đình thân yêu".

Trong Đông Xuân 1953-1954 và trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân đã tập trung lực lượng để chi viện cho tiền tuyến theo khẩu hiệu "Tất cả cho mặt trận, tất cả đế chiến thắng", bảo đảm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.

Hai mươi mốt năm sau Điện Biên Phủ, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 và Chiến dịch Hồ Chí Minh, một lần nữa cả nước lại dồn sức người, sức của theo khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" để chi viện và bảo đảm cho tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, cho Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Hậu phương đã phát huy sức mạnh của toàn dân chi viện cho tiền tuyến cả về vật chất và tinh thần. Hậu cần đã làm tròn chức năng là khâu nối liền hậu phương với tiền tuyến. Đó là một nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh, là một điều kiện quan trọng để bảo đảm cho chiến thắng.

Đất nước nay đã thống nhất, đang xây dựng trong hoà bình vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nhưng phải luôn cảnh giác với những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch. Kế tục truyền thống dựng nước và giữ nước trong lịch sử dân tộc, vận dụng những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong kháng chiến vừa qua, việc xây dựng đất nước, xây dựng kinh tế ngày nay gắn liền với công cuộc củng cố quốc phòng cũng là chuẩn bị về hậu phương để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
________________________________________________
1, 2. Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr.124, 119.
3, 4. H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 256-258.
5. Giuyn Roa: Trận Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 358.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 08:50:03 pm

MẤY BÀI HỌC VỀ TỔ CHỨC BẢO ĐẢM QUÂN Y
TRONG CHIẾN DỊCH LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ
1

NGUYỄN THÚC MẬU


1. Tổ chức bảo vệ sức khỏe

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày lại mở ra tại một địa bàn xa hậu phương căn cứ, ở một vùng rừng núi mới giải phóng. Vì vậy bảo vệ, giữ gìn sức khỏe bộ đội chiến đấu là một yêu cầu cấp thiết. Muốn hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe bộ đội thì không phải chỉ có ngành quân y làm đơn độc mà phải có một tổ chức vận động quần chúng to lớn, sâu rộng khắp từ đơn vị tới mọi người. Đó phải là một tổ chức được chỉ huy, chỉ đạo thống nhất từ Tư lệnh mặt trận xuống người chỉ huy đơn vị cơ sở rồi đến người chiến sĩ. Bài học Quang Trung hành quân từ Nam ra Bắc đánh quân Thanh mà vẫn giữ vững quân số chiến đấu còn nguyên giá trị. Tổ chức bảo vệ sức khỏe trong Chiến dịch Điện Biên Phủ được gọi là Ủy ban Bảo vệ sức khỏe. Tổ chức này được tổ chức ra ở các cấp, các đơn vị trên cơ sở được quần chúng bầu ra, thành phần bao gồm: một người trong số chỉ huy thường là cấp phó chính trị, một cán bộ hậu cần và một cán bộ quân y. Ủy ban Bảo vệ sức khỏe cấp trên có nhiệm vụ hướng dẫn chỉ đạo Ủy ban Bảo vệ sức khỏe cấp dưới thuộc quyền. Phương thức hoạt động của Ủy ban Bảo vệ sức khỏe lấy tuyên truyền giáo dục, vận động để tổ chức thực hiện rộng rãi trong quần chúng, lấy hạt nhân trong quần chúng là chiến sĩ vệ sinh, người vận động, tổ chức trong mỗi tiểu đội, người gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động bảo vệ sức khoẻ, từ đó lan ra tập thể.

Chỉ đạo công tác bảo vệ sức khỏe phải chống hình thức mệnh lệnh từ trên xuống mà lấy biện pháp thuyết phục là chính, dựa vào sự tự giác và tinh thần thi đua giữ vững quân số chiến đấu của từng đơn vị. Vì vậy, Ủy ban Bảo vệ sức khoẻ phải khéo kết hợp công tác chỉ huy đơn vị để động viên khen thưởng những đơn vị có thành tích giữ vững quân số khoẻ (ngược lại phê bình hoặc kỷ luật những cá nhân và đơn vị để tỷ lệ quân số ốm đau tăng trong những đơn vị có điều kiện tương tự như nhau).

Cán bộ quân y ở các cấp là người trực tiếp hướng dẫn đôn đốc, làm tham mưu cho Ủy ban Bảo vệ sức khoẻ, khéo lồng những biện pháp y học vào phong trào quần chúng và từ những biện pháp ấy quần chúng sẽ phát huy sáng kiến ra nhiều cách để thực hiện. Ví dụ: Biết có thể xua đuổi muỗi bằng mùi DDT và biết muỗi Anôphen sợ mùi DDT, chiến sĩ đã tẩm DDT ở cửa hầm ngủ. Quân y đỡ phải phun thuốc DDT trong hầm ngủ và cũng đỡ tốn thuốc mà ta có rất ít. Những sáng kiến như thế này được giới thiệu rộng rãi cho các đơn vị thực hiện và cứ như thế hàng trăm sáng kiến bảo vệ sức khoẻ khác lại được nảy nở trong quần chúng. Người cán bộ quân y và chiến sĩ vệ sinh phải khéo khai thác sáng kiến, biết trân trọng sáng kiến có khi ban đầu chỉ là những biện pháp giản đơn, nếu nâng cao thành sáng kiến thì nó sẽ có hiệu lực rất to lớn, ví dụ: bếp "Hoàng Cầm".

Công tác bảo vệ sức khoẻ phải được chú ý kết hợp chặt chẽ với công tác chỉ huy của thủ trưởng quân sự, có cách sử dụng lực lượng hợp lý, với công tác hậu cần, nuôi quân, công tác chính trị tuyên truyền động viên, các mặt công tác này không thể tách rời nhau, đều lấy mục tiêu quân sự làm mục đích phấn đấu.

Càng trong những hoàn cảnh chiến đấu gay go quyết liệt, kéo dài thì càng phải quan tâm hơn đến công tác bảo vệ sức khỏe cũng như công tác lãnh đạo chính trị tư tưởng đối với quyết tâm chiến đấu, ra sức khắc phục khó khăn, để bình thường hóa và ổn định sinh hoạt. Sau những đợt tấn công gay go không thành công ở đồi A1, sức khỏe bộ đội bị giảm. Song song với việc tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu, ổn định tình hình tư tưởng, Bộ Chỉ huy mặt trận đã phát động một phong trào bảo vệ sức khỏe, giữ vững quân số. Khẩu hiệu "Bình thường hóa sinh hoạt", ngay tại trận địa được nêu ra. Chỉ thị của Bộ Chỉ huy mặt trận đã được toàn thể mặt trận chấp hành nghiêm chỉnh, các ngành bảo đảm đã cùng với địa phương ra sức thực hiện các yêu cầu của chiến đấu. Công tác chính trị chống tư tưởng tạm bợ đã được triển khai. Kết quả là tỷ lệ ốm giảm đi từ 10% quân số xuống 6% rồi 5%. Dịch kiết lỵ được dập tắt; tẩy uế chiến trường được chú trọng ngay sau trận đánh, các xác chết của địch không bị bỏ thối gây ô nhiễm môi trường như trước nữa.

Tóm lại, công tác bảo vệ sức khỏe nhằm giữ vững quân số chiến đấu là một công tác chuyên môn nhưng có tính chất quần chúng rộng rãi do quần chúng tự giác làm, dựa vào lòng yêu nước nồng nàn mà chỉ có quân đội cách mạng mới thực hiện được. Muốn làm được việc này phải có sự kết hợp từ trên xuống dưới, kết hợp giữa chỉ huy, chính trị, hậu cần và quân y mà quân y là tham mưu.
______________________________________________________
1. Viện Sử học: Mấy vấn đề về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 08:50:40 pm

2. Tổ chức bậc thang điều trị cứu chữa thương, bệnh binh ở hỏa tuyến, thu dung điều trị và chuyển thương

Bậc thang điều trị - cứu chữa thương binh là hệ thống tổ chức thống nhất vừa cấp cứu - điều trị vừa vận chuyển theo phương thức cứu chữa dây chuyền, thống nhất từ hỏa tuyến (đại đội - tiểu đoàn) đến hậu phương chiến dịch và hậu phương quốc gia.

- Tuyến đại đội và tiểu đoàn:

Phải tập trung làm cho thật tốt công tác cấp cứu cơ bản đầu tiên tức là băng bó vết thương cầm máu, cố định các vết thương gãy xương, dự phòng và chống choáng làm cơ sở cho việc xử trí phẫu thuật và điều trị tuyến sau.

Quân y luôn luôn theo sát bộ đội khi tiến quân, khi vào cửa đột phá và theo từng mũi bộ đội tiến vào tung thâm, quân y tiểu đoàn phải chia làm hai tổ, một tổ tiến lên để chuẩn bị thay thế cho quân y đại đội ở cửa đột phá. Kinh nghiệm cho biết thương binh ở đột phá khẩu bao giờ cũng nhiều, có trận gấp 10 lần trong tung thâm.

Vì máy bay và pháo binh địch đánh phá ác liệt nhất ở cửa đột phá cho nên dù cho ác liệt cũng phải giải quyết cho tốt thương binh ở cửa đột phá. Quân y phải chú ý đến khâu quan trọng này để hễ có thương binh là phải cấp cứu và chuyển ra ngay khỏi cửa đột phá. Sau khi tiến hành các công tác cấp cứu đầu tiên và bổ sung cấp cứu, phải chuyển ngay thương binh về tuyến sau bằng lực lượng vận tải tải thương và bằng các lực lượng khác.

- Các đại đội vinh quang.

- Tuyến trung đoàn và đại đoàn.


Là những tuyến phải xử lý phẫu thuật đầu tiên: phẫu thuật cấp cứu và phẫu thuật cơ bản và cũng là tuyến phải xử lý triệt để các choáng chấn thương.

So với các chiến dịch trước, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quân y đã bố trí tiếp cận địch hơn và tiến dần lên phía trước từ 4 đến 5 km, tiến tới từ 2 đến 3 km. Vì vậy, đã rút ngắn được thời gian từ khi bị thương đến khi được xử lý phẫu thuật.

Kinh nghiệm cho thấy ở hai tuyến này phải thực hiện đúng phạm vi cứu chữa đã được phân công vì số thương binh nhiều: tuyến đại đội phải làm tốt trước hết công tác chọn lọc thương binh, phân loại ra được những thương binh bị choáng để cứu chữa, những thương binh phải được xử lý khẩn cấp, không trì hoãn được và làm tốt công tác xử lý phẫu thuật khẩn cấp này, không được vướng vào các cuộc phẫu thuật khác. Cũng phải nhanh chóng chuyển được các thương binh về tuyến các đội điều trị đại đoàn. Tại các đội điều trị đại đoàn vẫn phải chú ý xử lý những trường hợp cấp cứu còn lại, và nhiều khi vẫn còn phải cứu chữa các trường hợp choáng do quá trình vận chuyển.

Song song với việc xử lý các trường hợp cấp cứu, phải giải quyết các phẫu thuật cơ bản; xử lý các thương binh nhẹ để giữ lại bổ sung cho chiến đấu, những thương binh có thể khỏi trong khoảng 7-10 ngày.

- Tuyến các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch:

Các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch cũng chia làm hai tuyến: Một số bám sát các đội điều trị đại đoàn, hỗ trợ tăng cường cho các đại đoàn, thường là những hướng có nhiều thương binh. Ở tuyến này các đội điều trị cũng xử lý các thương binh nặng chưa được xử lý. Một số ở phía sau, làm nhiệm vụ ở khu vực hậu phương chiến dịch, phải xử lý cả thương binh nặng và thương binh nhẹ, xử lý lại một số thương binh làm chưa tốt ở các tuyến trước. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ này, đã bắt đầu chuyên môn hóa, có sự chuyên môn về xử lý chuyên khoa. Vì vậy, có đội điều trị chuyên về thương binh nhẹ, có đội điều trị chuyên về thương binh nặng: có vết thương sọ não, lồng ngực, gãy xương lớn, có đội điều trị chuyên điều trị bệnh binh. Các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch phải gửi lại điều trị các thương binh nhẹ để bổ sung quân số và các thương binh nặng chưa chuyển ngay về các bệnh viện phía sau, bệnh viện ở hậu phương.

- Tuyến Cục Quân y:

Vì chiến dịch diễn ra ở một địa bàn xa hậu phương tức là khu căn cứ Việt Bắc 300 - 400 km, nên song song với việc tổ chức ra các đội vận chuyển thương binh chuyên trách do quân y kết hợp với vận tải phụ trách, Cục Quân y phải điều động các bệnh viện phía sau tiến lên một bước để đón các thương binh chuyển về, đã tổ chức các bệnh viện ở phía nam Sơn La và ở Yên Bái, các trạm chuyển bố trí suốt trên đường từ Sơn La về Yên Bái, từ Yên Bái về Phú Thọ (Đại Đồng - Đường Chè).

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng như trong các chiến dịch trước đây, vì số thương binh tăng lên, nhất là những lúc chiến đấu gay go, ở tất cả các tuyến điều trị đều phải tăng mức thu dung, nhất là ở các đội điều trị thuộc quân y chiến dịch hoặc thuộc Cục Quân y tăng lên 150%, hoặc có khi gấp đôi. Trong những trường hợp như vậy, để có lực lượng phục vụ thương, bệnh binh, phải triệt để tận dụng khả năng của anh chị em dân công - đặc biệt trong các công tác hộ lý, nuôi dưỡng thương, bệnh binh.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 08:51:38 pm

3. Chỉ huy, chỉ đạo tổ chức bảo đảm quân y chiến dịch

Cuộc chiến đấu càng đi vào giai đoạn gay go quyết liệt, nhiệm vụ bảo đảm quân y rất nặng nề. Do đó, công tác chỉ huy quân y phải hết sức nhạy bén với tình hình chiến sự để có những hoạt động bảo đảm kịp thời và thích hợp, giữ được sự chủ động trong việc sử dụng lực lượng, trong việc bố trí các tuyến, các trạm quân y, trong việc triển khai các mặt công tác nghiệp vụ.

Vì vậy, ngoài việc nắm vững các quan điểm, chính sách (quan điểm phục vụ, quan điểm thực tiễn...) người chỉ huy quân y phải có một trình độ hiểu biết về quân sự nhất định và một phương pháp công tác, một tác phong chỉ huy như một người chỉ huy quân sự trong chiến đấu, để kết hợp những yêu cầu của chiến đấu với những yêu cầu của y học, gìn giữ bảo vệ sức khỏe trong việc cấp cứu vận chuyển thương, bệnh binh. Nói cách khác, người chỉ huy quân y phải biết vận dụng những nguyên tắc bảo đảm quân y vào những điều kiện, hoàn cảnh diễn biến chiến đấu cụ thể.

Để làm được việc này, công tác chỉ huy quân y phải chú ý:

1. Về quân sự: Nắm kịp thời tình hình diễn biến của ta và địch, trên những mặt có liên quan đến công tác bảo đảm quân y như: hướng thuận lợi hay khó khăn, hướng nào, vị trí nào, đơn vị nào... có những diễn biến gay go nhất, số lượng thương binh ở từng hướng, từng mũi, các quyết tâm và nhận định tình hình của thủ trưởng quân chính... Trên cơ sở đó, phán đoán nhận định tình hình của bản thân quân y, có những thuận lợi khó khăn gì.

Để nắm được tình hình diễn biến chiến đấu này, công tác chỉ huy quân y trong điều kiện không có những phương tiện thông tin liên lạc riêng, phải sử dụng nhiều biện pháp lấy tin tức và bằng nhiều nguồn thông tin: qua thương binh, hậu tống... các cuộc họp giao ban với các thủ trưởng quân chính, hậu cần.

2. Về chuyên món kỹ thuật: Phải đặc biệt chú ý đến công tác cấp cứu, nhất là hỏa tuyến, vì vậy:

a. Muốn cấp cứu hỏa tuyến đầy đủ và chu đáo thương binh phải chỉ đạo huấn luyện rộng rãi cho toàn thể cán bộ và chiến sĩ thành thạo việc tự cấp cứu và cứu chữa cho nhau. Kinh nghiệm cho thấy trận cao nhất, y tá chỉ cấp cứu được 30 đến 35%; vì vậy, huấn luyện tự cấp cứu và kiểm tra trước trận đánh là rất cần thiết.

b. Để vận chuyển thương binh, ngoài đội tải thương chuyên nghiệp, phải xây dựng được đội vinh quang ở hỏa tuyến. Công tác chính trị phải kết hợp động viên khen thưởng kịp thời những cá nhân dũng cảm cứu thương binh và cũng phải huấn luyện cho những người trong đội này kỹ thuật tải thương như đội chuyên nghiệp.

c. Phải luôn luôn chỉ đạo các đơn vị huấn luyện, bồi dưỡng chiến sĩ vệ sinh thành cứu thương y tá, vì số lượng y tá qua các trận đánh bị tổn thất mà hậu phương không bổ sung kịp.

Còn ở các tuyến trung đoàn phải xây dựng tổ chống choáng có đủ biên chế và có những trang bị cần thiết, được học tập đầy đủ, có các chế độ nguyên tắc xử lý rõ ràng.

Ngoài ra, tại các tuyến này và cả ở các đội điều trị phía sau luôn có lực lượng dự bị cấp cứu thương binh có khả năng cơ động gọn nhẹ, sẵn sàng tăng cường cho phía trước khi có thương binh về nhiều.

d. Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch dài ngày, vì vậy ở các tuyến phải có tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời sau mỗi lớp phục vụ chiến đấu như bên quân sự và phải tổ chức kiểm tra và thông báo cho các tuyến những kinh nghiệm và các hướng dẫn cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm...

4. Tiếp tế thuốc và trang bị quân y

Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến dịch quy mô lớn: Yêu cầu về bảo đảm thuốc, bông băng và dụng cụ cũng to lớn hơn nhiều so với các chiến dịch trước. Do đó cần chú ý:

1. Tổ chức tiếp tế thuốc phải lập các kho thuốc cho thật sát với bậc thang điều trị.

Kho thuốc phải bảo đảm vừa cấp phát vừa có khả năng pha chế một phần thuốc dùng ngoài, một số thuốc nước để dùng ngay như: thuốc đi lỏng, rượu cấp cứu, v.v... Do điều kiện hoàn cảnh chiến trường, tổ chức tiếp tế thuốc phải chia thành ba tuyến.

a. Tuyến phía trước có kho dã chiến thuốc đóng sẵn thành cơ số để cấp phát cho các trung đoàn, đại đoàn, đội điều trị và mặt trận.

b. Tuyến kho thuốc chiến dịch ở khu vực căn cứ hậu cần chiến dịch (km 32 đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ).

c. Kho thuốc kế cận ở Sơn La bảo đảm cấp phát một phần cho các đơn vị đi qua. Còn chủ yếu là tiếp nhận thuốc ở hậu phương đưa ra tiếp tế thuốc cho chiến dịch và tuyến trước.

2. Chỉ đạo các đơn vị sử dụng tốt thuốc, bông, băng. Tuy Cục Quân y đã tạo thuận lợi cho chiến dịch là tập trung gần như toàn bộ khả năng cung cấp cho mặt trận, song nhu cầu của chiến dịch lớn, thương binh đông quá dự kiến, hậu phương tiếp tế ở xa, lại bị địch đánh phá dọc đường. Do đó phải có chủ trương: "Sử dụng tiết kiệm thuốc, bông, băng", giáo dục cho cán bộ quân y có ý thức tiết kiệm, dành dụm thuốc men. Những cuộn băng được giặt sạch, dùng lại để băng phía bên ngoài loại băng vô trùng.

3. Chỉ đạo các đơn vị và quân y các cơ sở tích cực thu hồi thuốc, bông, băng và trang bị quân y lấy được của địch, nhất là từ giai đoạn ba chiến dịch, khi địch thả dù tiếp tế cho khu Mường Thanh.

Kết luận

Tổ chức bảo đảm quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là hệ thống tổ chức đã được hình thành ngay từ đầu chiến dịch tương đối hoàn chỉnh và được bổ sung tăng cường dần trong quá trình chiến dịch, có nhiều đặc điểm mới cả về quy mô, tính chất và thời gian, v.v...

Nhưng công tác bảo đảm quân y cho Chiến dịch Điện Biên Phủ đã được thừa hưởng những kinh nghiệm của các chiến dịch trước. Với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến", ta đã huy động được các tổ chức, các lực lượng ngoài quân y như vận tải quân nhu tham gia công tác bảo đảm quân y cho chiến dịch, nên công tác quân y cũng có nhiều thuận lợi.

Những tư tưởng chỉ đạo cho công tác quân y, những chủ trương và những hình thức tổ chức bảo đảm quân y cho Chiến dịch Điện Biên Phủ là rất phù hợp với tính chất cuộc chiến tranh cách mạng phát triển cao. Những bài học kinh nghiệm rút ra được là xuất phát từ tinh thần cách mạng tự giác cao độ của một quân đội cách mạng. Từ những quan niệm của Đảng vận dụng vào ngành quân y trong thời chiến: quan điểm quần chúng, quan điểm tự lực tự cường, quan điểm thực tiễn.

Tuy còn có những khuyết điểm do điều kiện vật chất và khoa học kỹ thuật bị hạn chế, công tác tổ chức bảo đảm quân y đã mang lại hiệu quả là cứu chữa được một khối lượng thương binh lớn: là giữ được sức khỏe, sức chiến đấu của bộ đội.

Chiến dịch Điện Biên Phủ là trận quyết chiến lịch sử, đánh dấu một thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta thì những bài học quân y trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng cần được nêu lại để tham khảo, học tập.



Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 09:05:52 pm

GIAO THÔNG VẬN TẢI PHỤC VỤ
CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954
VÀ CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
1


Giao thông vận tải giữ một vị trí hết sức quan trọng trong chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh hiện đại. Trước yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 15-6-1953, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về giao thông vận tải, đặc biệt là công tác cầu đường. Chỉ thị vạch rõ: "Hiện nay nhu cầu kháng chiến ngày càng nhiều, khối lượng hàng vận chuyển tăng lên rất nhanh. Nhưng đường, cầu, phà hiện nay rất xấu: đường hẹp, lầy, dốc, nhiều quãng ngoặt quá hẹp, xe đi vừa chậm vừa tốn dầu, hại máy, nhiều dốc cao không lên nổi, quãng ngoặt không quanh được, phà, cầu thì yếu, mục gãy"2. "Nhiệm vụ hiện nay là phải làm những đường tốt, cần thiết để bảo đảm vận chuyển quân sự, để sẻ bớt gánh nặng vận chuyển cho dân và đồng thời cũng để mở rộng việc vận chuyển kinh tế”3.

Về tổ chức Bộ Giao thông công chính, sắc lệnh 156 ngày 30-4-1953 của Chủ tịch Hồ Chí Minh bãi bỏ Nha Công chính hoả xa, thành lập hai nha: Nha Giao thông phụ trách các đường giao thông, đường bộ, đường sắt, đường sông và Nha Công chính phụ trách các công tác thuỷ nông, đê điều, vận tải và công tác liên quan khác, nhằm tăng cường năng lực tổ chức, chỉ đạo điều hành giao thông vận tải trong tình hình mới, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ tổng phản công Đông Xuân 1953-1954.

Ngày 27-7-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, có các ban giúp việc như cầu đường, vận tải, bưu điện, y tế, tuyên huấn, công an. Ở các cấp khu, tỉnh, thành phố cũng tổ chức các ban tương tự, trực tiếp tổ chức, đôn đốc, chỉ đạo các hoạt động chi viện tiền tuyến, nhằm huy động mọi tiềm lực vào cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954.

Về cán bộ lãnh đạo: sắc lệnh số 185 ngày 6-9-1953 của Chính phủ bổ nhiệm ông Nguyễn Như Quỹ - kỹ sư công chính, giữ chức Giám đốc Nha Công chính.

Cùng với việc thành lập Sở Vận tải trước đây, do đồng chí Nguyễn Hữu Mai làm Giám đốc và Cục Vận tải quân đội do đồng chí Đinh Đức Thiện làm Cục trưởng, tháng 7-1953, Chính phủ đã cho phép Bộ Giao thông công chính thành lập một đơn vị vận tải quốc doanh mang tên Đoàn xe ôtô trực thuộc Nha Giao thông do ông Nguyễn Văn Toàn (tức Bình Tâm, sau này là Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải) làm Trưởng đoàn. Đơn vị có nhiệm vụ tiếp nhận từ Bằng Tường (Trung Quốc) các loại xe ôtô do Liên Xô viện trợ để đưa về nước. Các loại xe này chủ yếu là xe một cầu và hai cầu chạy nhiên liệu xăng, hiệu Môtôlôva. Một năm sau ngày thành lập, Đoàn xe đã có tới 130 xe ôtô các loại và được biên chế thành nhiều đại đội vận tải. Đoàn đã vận chuyển được nhiều phương tiện và thiết bị cho các công trình giao thông từ Lạng Sơn vào tới Nghệ An. Khi Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu triển khai trên toàn tuyến, đoàn xe được giao nhiệm vụ cùng với lực lượng vận tải quân sự chở hàng hoá từ biên giới tiến thẳng ra mặt trận. Đến khi chiến dịch bước vào giai đoạn quyết liệt, nhiều đại đội xe của đoàn được điều động làm nhiệm vụ vận chuyển theo cung chặng, dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh mặt trận. Cũng thời gian này, có nhiều lái xe đạt thành tích xuất sắc và đặc biệt có C3 do đồng chí Chiến làm Đại đội trưởng đã được cấp trên khen thưởng. Sau khi hoà bình lập lại, trở về Hà Nội, đoàn xe này là lực lượng chủ yếu phục vụ Ban Giám sát quốc tế giám sát việc thi hành Hiệp định Giơnvevơ và cũng là lực lượng nòng cốt để thành lập quốc doanh vận tải ôtô đầu tiên ở nước ta.

Tất cả các địa phương trong thời gian này đều thành lập sở hoặc ty giao thông công chính, tập trung tổ chức, chỉ đạo việc làm đường, sửa chữa cầu cống, huy động dân công vận tải tiếp tế cho các chiến trường. Đặc biệt các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV được tăng cường nhiều cán bộ và lực lượng tham gia làm cầu đường, bảo đảm giao thông và tiếp tế vận tải. Tình hình tổ chức chỉ đạo các hoạt động giao thông vận tải trong toàn quốc có bước phát triển mới.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất trí thông qua phương án tác chiến của Tổng Quân uỷ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh quân đội trực tiếp làm Tư lệnh và Bí thư Đảng uỷ chiến dịch. Người chỉ rõ: Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự, mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được.

Từ đó, các hoạt động giao thông vận tải được triển khai chuẩn bị ráo riết từ bộ đến các địa phương và đơn vị cơ sở. Nhiệm vụ chủ yếu là làm đường và bảo đảm giao thông vận tải cho chiến dịch, phục vụ 42.750 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có lực lượng pháo binh, cơ giới và 260.000 dân công hoạt động chuyển quân tập kết trước, trong và sau chiến dịch.

Trước khi mở màn chiến dịch nhiều tháng, ngành giao thông công chính và Bộ Chỉ huy chiến dịch đã huy động hàng vạn công nhân, dân công và thanh niên xung phong triển khai nhiệm vụ mở đường, bắc cầu để bộ đội, các lực lượng vận tải và dân công tiếp vận tiến vào mặt trận. Các hệ thống đường đã khôi phục, sửa chữa trước đây đều phải làm lại kiên cố hơn, như mở rộng nền, mặt đường từ 5-8 m, thực hiện nhiều giải pháp chống lún sụt, lầy lội, cầu được gia cố bảo đảm tải trọng thông qua 12 tấn, đóng thêm loại phà 12 tấn có thể chở được 2 xe/chuyến. Đường, cầu, phà phải bảo đảm lưu thông với khối lượng lớn, xe kéo pháo hạng nặng đi lại được dễ dàng. Từ Thái Nguyên qua Tuyên Quang chúng ta tận dụng đường cũ nhưng phải tăng cường các bến phà qua sông Lô tại Bình Ca và qua sông Hồng tại Âu Lâu. Từ Yên Bái vào Nghĩa Lộ sang Quang Huy, Phù Yên qua sông Đà tại bến phà Vạn Yên và qua bến phà Tạ Khoa để vào Mai Châu (Sơn La). Quốc lộ 41 (nay là quốc lộ 6) từ Hoà Bình lên Mộc Châu và quốc lộ 12 từ Hoà Bình về Nho Quan nối với đường 15 vào Thanh Hoá, Nghệ An cũng được sửa chữa.

Lực lượng chính để bảo đảm giao thông ở các tuyến đường này là đội thanh niên xung phong và dân công được huy động dài hạn từ hai đến sáu tháng. Phương tiện làm đường chỉ là những dụng cụ thô sơ như xà beng, cuốc xẻng và thuốc nổ, chi phí cho việc sửa chữa và làm mới đường lúc đó đều được tính bằng lương thực (thóc/kg). Mặc dù đời sống vật chất của cán bộ, chiến sĩ giao thông vận tải gặp rất nhiều khó khăn, nhưng họ luôn được cổ vũ bởi những tin chiến thắng từ mặt trận gửi về và bằng những thư khen, thăm hỏi động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hệ thống trục chính phục vụ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ có chiểu dài 2.500km, trên ba hướng tuyến được triển khai các lực lượng làm đường như sau:

Hướng tuyến chính phía bắc từ biên giới về Thái Nguyên đi Yên Bái theo đường 13 bến Ba Khe - Cò Nòi (giáp đường 41 phía nam tỉnh Sơn La). Đây là trục chính vận chuyển vũ khí, khí tài và pháo hạng nặng đưa vào chiến dịch. Trên tuyến này, trong Chiến dịch Hoà Bình, Tây Bắc, ngành giao thông vận tải Bắc Kạn - Thái Nguyên đã tập trung sửa chữa, nâng cấp đường 13. Ngày 5-11-1952, đồng chí Trần Đăng Ninh đi kiểm tra, đã thay mặt Tổng Quân uỷ quyết định tuyên dương thành tích cho ngành giao thông vận tải Bắc Kạn - Thái Nguyên.

Để phục vụ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta phải tập trung hơn 2 vạn dân công (chừng 2 triệu ngày công) thi công suốt đêm ngày, làm mới đoạn Yên Bái - Cò Nòi (nối đường 41), sửa chữa, mở rộng và nâng cấp toàn tuyến với tổng chiều dài 310 km xuyên qua các đèo dốc như Đèo Cả, Đèo Khế, La Hiên, Lũng Lô, Đèo Chẹn. Riêng ngành giao thông vận tải Bắc Thái có 5.000 dân công làm đường và chốt người để bảo đảm giao thông.
______________________________________________________
1. Bộ Giao thông - Vận tải: Lịch sử giao thông vận tải Việt Nam, Nxb. Giao thông vận tải, Hà Nội, 1999.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 243, 244.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 09:08:13 pm

Lực lượng của Bộ Giao thông công chính có đội chủ lực cầu đường do đồng chí Dương Bạch Liên (Sau này là Thứ trưởng và Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải) chỉ huy với hơn 2.000 công nhân, dân công phụ trách bảo đảm giao thông từ Yên Bái đến Tạ Khoa, đồng chí Lê Văn Thông phụ trách bến phà Tạ Khoa cũng cùng các lực lượng bảo đảm giao thông chống đỡ quyết liệt với máy bay địch, bảo đảm cho bến phà lưu thông thường xuyên.

Để tạo chân hàng từ biên giới về tập kết ở Bắc Kạn, Thái Nguyên, ngành giao thông vận tải Bắc Kạn, Thái Nguyên phải tập trung sửa chữa, nâng cấp và mở tiếp những tuyến mới như:

Đường từ Thuỷ Khẩu đi Bắc Kạn - Thái Nguyên.

Đường Võ Nhai - Bắc Sơn, mở rộng bến phà Thác Oánh cho xe qua lại nhanh chóng và thuận lợi.

Đường 3 Cao Bằng - Bắc Kạn qua Chợ Mới - Bò Đậu lên Tây Bắc hoặc Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi.

Đường nội tỉnh Thác Oánh - Linh Nham - Minh Lập - Giang Tiên - Bờ Đậu, Đèo Hanh - Trại Cau - Bờ Đậu - Bình Ca đi Tây Bắc.

Đường 31 - Chợ Chu - Quán Vuông - Khuôn Ngàn nối đường 3 lên căn cứ an toàn Đèo Khế.

Đầu năm 1953, ta mở đường Võ Nhai - Phổ Yên nối với đường Lạng Sơn - Bắc Sơn - Đình Cả - La Hiên - Linh Nham. Đây là tuyến mới từ biên giới về Thái Nguyên.

Từ đầu năm 1954, Bộ Giao thông công chính tập trung "đại quân" làm đường 1B từ Đồng Đăng đi Thái Nguyên qua hai tỉnh Lạng Sơn - Bắc Thái thành đường lớn nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tuyến đường có mặt rộng 5,5m, cả lề rộng 8m.

Riêng đoạn qua đèo Đá Bắc Kạn rộng trung bình 6m. Mặt đường toàn tuyến rải cấp phối, cầu cống làm tạm bằng gỗ, cầu Gia Bảy (91,2m) do Đội cầu 2 thi công.

Công trường làm tuyến đường này do Bộ trưởng Trần Đăng Khoa trực tiếp làm Trưởng ban chỉ huy, đồng chí Thứ trưởng Nguyễn Văn Trân, Bí thư Đảng đoàn Bộ làm Phó ban, đồng chí Mai Công Thiệp chỉ huy thường trực. Lực lượng cán bộ chủ chốt của bộ được tập trung để hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật. Các lớp trung cấp 1, 2, 3 được huy động làm nhiệm vụ khảo sát thiết kế và chỉ đạo xây dựng. Lực lượng thi công trên công trường bao gồm hàng vạn thanh niên xung phong, dân công làm việc sôi nổi suốt ngày đêm với tinh thần: "quyết tâm mở đường cho xe ta lên chiến trường tiếp viện"1.

Hướng tuyến phía nam từ Nghệ An - Thanh Hoá (Liên khu IV) và vùng tự do Liên khu III ra Hoà Bình (qua Suối Rút) dài trên 320 km. Chúng ta huy động 2,6 vạn dân công (trên 2,6 triệu ngày công) tập trung làm đường và bảo đảm giao thông cho các loại xe thô sơ, xe thồ vận chuyển lương thực ra chiến trường. Trước đây, từ năm 1952-1953 ngành giao thông vận tải Nghệ An và Thanh Hoá đã huy động lực lượng thanh niên xung phong và dân công làm tuyến đường trên, nối với đường 7 phục vụ Chiến dịch Tây Bắc, Hoà Bình và Thượng Lào. Để phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, hai tỉnh tiếp tục khôi phục, nâng cấp và bảo đảm giao thông trên toàn tuyến. Thanh Hoá tập trung 13.564 dân công và 6.320 thanh niên xung phong của khu làm đường 15A đoạn Hồi Xuân - Mục Sơn (tháng 1 đến tháng 5-1954). Sau khi hoàn thành, tiếp tục làm đoạn Mục Sơn - Đồng Trầu tạo thành tuyến dài 114 km. Đồng thời, xây dựng và mở rộng bến phà Hồi Xuân, La Hán, phá thác ghềnh trên sông Mã, sử dụng hàng trăm thuyền cùng "đại quân" xe đạp thồ, dân công gánh bộ vận chuyển lương thực, thực phẩm ra mặt trận.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, "đội quân" cầu đường Thanh Hoá gồm 1.500 quân do đồng chí Phạm Kiên phụ trách bảo đảm giao thông đoạn Hồi Xuân - Vạn Mai ra đường 6 Suối Rút đi Điện Biên Phủ.

Vùng đồng bằng Liên khu III từ Nho Quan và các vùng Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, nhân dân nô nức đi dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm lên Hoà Bình và đi tiếp về chiến trường.

Hướng tuyến đông - tây từ Hoà Bình theo đường 6 (41), 42 đi Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Đây là trục chính quy tụ các hướng vận tải từ phía bắc vào, phía nam ra, phía đông lên, để từ đây đi thẳng ra chiến trường Điện Biên Phủ.

Trên hướng tuyến này, Bộ Chỉ huy mặt trận, Bộ Giao thông công chính huy động lực lượng bộ đội, công binh và dân công các tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, tập trung sửa chữa, nâng cấp đường, tăng cường phà Chợ Bờ, Suối Rút. Đội Thanh niên xung phong Cù Chính Lan của tỉnh Hoà Bình với 1.000 quân bảo đảm giao thông bến phà Chợ Bờ - Suối Rút đến km 10 đường 41.
___________________________________________________
1. Tố Hữu: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên.


Tiêu đề: Re: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học
Gửi bởi: chuongxedap trong 18 Tháng Giêng, 2022, 09:09:36 pm

Đoạn đường 42 Tuần Giáo đi Điện Biên Phủ, do bỏ lâu ngày, đường bị hư hỏng, lún sụt, trên 100 cầu cống hư hỏng, không bảo đảm cho xe cơ giới và pháo (của Đại đoàn 351) lên chiến trường. Bộ Tư lệnh mặt trận đã điều hai trung đoàn bộ binh, cùng Trung đoàn công binh 151 và dân công, thanh niên xung phong làm suốt đêm ngày, sau 10 ngày tuyến đường được khai thông. Lực lượng thanh niên xung phong với 40 đại đội (8.000 quân) được phân công làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông từ Mộc Châu - Tuần Giáo đến km 15 vào mặt trận. Do lưu lượng phương tiện xe vận tải, xe kéo pháo, xe thồ, bộ đội, dân công đi lại trên tuyến chính quá đông nên dẫn đến tình trạng giao thông bị ùn tắc. Từ đầu tháng 1-1954, Bộ Tổng tư lệnh mặt trận cho tổ chức một "Ban Chỉ huy đường" nhằm điều độ các loại phương tiện vận tải đi lại trên từng chặng. Ban Chỉ huy điều độ phương tiện quy định cụ thể thời gian trật tự hành quân cho từng lực lượng đi lại trên đường, nhờ đó đã hạn chế bớt tình trạng lộn xộn, ùn tắc vận tải.

Để giải quyết tận gốc việc ùn tắc trên tuyến đường độc đạo ra mặt trận, ta chủ trương mở thêm các tuyến mới để phân luồng vận tải như: mở tuyến từ vùng sông Mã đi Mường Luân - Nà Sang vận chuyển gạo của dân công Thanh Hoá lên phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở phía nam Điện Biên Phủ; mở đường cho vận tải thô sơ theo đường mòn vượt núi qua Khẩu Hu, Cò Chảy ở phía bắc Điện Biên Phủ tập kết gạo, đạn cho các đơn vị tác chiến ở các mũi phía bắc và phía tây Điện Biên Phủ. Đồng thời mở tuyến vận chuyển từ Ba Nậm Cúm qua Lai Châu đi Bản Tấu. Việc phần luồng vận tải đã giảm đáng kể lưu lượng người và phương tiện trên tuyến Lai Châu đi Tuần Giáo.

Các lực lượng công binh, dân công, thanh niên xung phong còn làm đường cho bộ đội kéo pháo vào trận địa như đường từ km 69 (Tuần Giáo - Điện Biên Phủ) Bản Nham, vượt đỉnh Phasông sang Bản Tố, Bản Nghịu dài 15 km, ta phải dùng nhiều đại đội bộ binh kéo những khẩu pháo nặng hàng tấn qua các đèo dốc vô cùng khó khăn.

Trên các tuyến đường ra mặt trận, ta cho thiết lập nhiều kho trung chuyển để tập kết lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, v.v. từ hậu phương và các kho ở tiền phương tiếp cận với các đơn vị chiến đấu ở sát mặt trận.

Để bảo đảm nhu cầu vận tải tiếp tế cho Chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Tổng Quân uỷ và Bộ Giao thông công chính phân công cụ thể việc tiếp vận cho chiến trường như sau:

Hội đồng Cung cấp mặt trận có nhiệm vụ tổ chức, huy động, thu gom, vận chuyển lương thực, thực phẩm, huy động các đoàn dân công vận tải và làm đường phục vụ chiến dịch. Hàng hoá giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương tại các đầu mối trung chuyển theo quy định: từ Việt Bắc sang giao ở Ba Khe; từ Liên khu III, Liên khu IV sang giao ở Suối Rút.

Tổng cục Cung cấp hậu phương do quân đội phụ trách có nhiệm vụ tổ chức lực lượng bộ đội và dân công vận chuyển vũ khí, đạn dược, xăng dầu giao cho Tổng cục Cung cấp tiền phương cũng tại Ba Khe, Suối Rút.

Tổng cục Cung cấp tiền phương do quân đội phụ trách có nhiệm vụ tổ chức vận tải từ Ba Khe, Suối Rút lên Điện Biên Phủ, có các tổng kho dự trữ quanh thị xã Sơn La và các kho trung chuyển ở khoảng km 31 đến km 87 đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ.

Tổng cục Cung cấp tiền phương sử dụng trên 3.000 cán bộ chỉ đạo điều hành và hơn 30.000 dân công tiếp vận.

Nhiệm vụ sửa chữa cầu đường, bảo đảm giao thông từ Ba Khe qua Việt Bắc có chiều dài khoảng 300 km và từ Suối Rút về vùng tự do Liên khu III, Liên khu IV do Hội đồng Cung cấp mặt trận tổ chức lực lượng dân công thực hiện. Từ Ba Khe, Suối Rút trở lên do Tổng cục Cung cấp tiền phương và Ủy ban kháng chiến khu Tây Bắc phụ trách, tổ chức lực lượng bộ đội, công binh và dân công thực hiện.

Mạng lưới giao thông trục chính tiếp tế vận tải cho Chiến dịch Điện Biên Phủ được hình thành như sau:

- Tuyến Lạng Sơn - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi - Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ: Đây là hướng tuyến chính, có khối lượng vận tải lớn, nhất là vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng bao gồm cả hàng viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước bạn.

- Tuyến Cao Bằng - Bắc Kạn - Tuyên Quang - Yên Bái - Ba Khe - Cò Nòi - Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.

- Từ Ba Nậm Cúm - Lai Châu - bản Tấu (vận tải thô sơ).

- Từ Ba Nậm Cúm - Lai Châu - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.

- Hướng tuyến từ Khu IV ra xuất phát từ Nghệ An – Thanh Hoá – Suối Rút - Mộc Châu - Cò Nòi - Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ.

- Các tuyến từ Liên khu III, Nho Quan lên Hoà Bình, Suối Rút - Mộc Châu - Cò Nòi - Sơn La - Tuần Giáo - Điện Biên Phủ và từ thượng nguồn sông Mã lên phía nam Điện Biên Phủ.

Tổng chiều dài luồng tuyến vận tải cho Chiến dịch Điện Biên Phủ lên đến 3.500 km. Nếu tính các đoạn tuyến nối tiếp nhau, tổng chiều