Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Sáu, 2022, 05:53:09 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Điện Biên Phủ - Hợp tuyển công trình khoa học  (Đọc 5739 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #150 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 11:12:31 am »


DIỄN BIẾN CỦA HỘI NGHỊ GIƠNEVƠ

Hội nghị Giơnevơ về Triều Tiên có 18 đoàn tham dự, khai mạc ngày 26-4, kết thúc ngày 15-6.

Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương có chín bên tham dự: Liên Xô, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Quốc gia Việt Nam, Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia. Đại diện lực lượng kháng chiến Pathét Lào và Khơme Ítxarắc đã có mặt ở Giơnevơ, nhưng không được các đoàn phương Tây chấp nhận tham dự hội nghị.

Hai đồng Chủ tịch hội nghị là Ngoại trưởng Anh Êđen và Ngoại trưởng Liên Xô Môlôtốp.

Hội nghị Giơnevơ bắt đầu từ ngày 8-5, kết thúc ngày 21-7-1954, trải qua 75 ngày thương lượng, với 31 phiên họp, trong đó có 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn.

Cuộc đấu tranh tại hội nghị diễn biến qua ba giai đoạn:

Giai đoạn đầu diễn ra từ ngày 8-5 đến ngày 19-6-1954, với 6 phiên toàn thể và 17 phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn.

Ngoài việc trao đổi chương trình nghị sự, trong giai đoạn này các bên trình bày lập trường của mình về giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Đông Dương, trong đó tranh luận nhiều về hai vấn đề: có bàn chung cả hai mặt chính trị và quân sự, như đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị, hay chỉ bàn mặt quân sự, như Đoàn Pháp đề nghị; có bàn chung vấn đề Việt Nam, Lào, Campuchia "theo những nguyên tắc, những biện pháp, những bước đường giống nhau"1, như Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị, hay "giải quyết vấn đề riêng của Lào và của Campuchia"2 như đồng Chủ tịch Hội nghị, Ngoại trưởng Anh Êđen đề xuất trong bản sơ kết của ông ta sau tháng đàm phán đầu tiên tại hội nghị.

Ngày 8-5-1954, hội nghị bắt đầu thảo luận vấn đề Đông Dương đúng vào lúc tin chiến thắng Điện Biên Phủ bay tới Giơnevơ. Chiến thắng Điện Biên Phủ thực sự là trái bom đối với Chính phủ Pháp ngay trước ngày khai mạc hội nghị.

Tại cuộc họp, theo chương trình nghị sự, đoàn Pháp phát biểu trước. Đoàn Pháp mặc trang phục toàn màu đen, xem như "để tang" cho thất bại của quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ... Mở đầu bài phát biểu, Ngoại trưởng Pháp Biđôn đã xúc động thông báo việc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ và sau đó Biđôn đề nghị chấp thuận nguyên tắc của một cuộc tổng ngưng chiến tại Đông Dương nhằm bảo đảm an ninh cần thiết. Pháp chỉ đề cập việc giải quyết các vấn đề quân sự. Về vấn đề Việt Nam có năm điểm: tập kết quân đội hai bên vào các vùng quy định; giải giáp các lực lượng dân quân du kích; phóng thích tù binh và dân thường bị bắt; kiểm soát quốc tế; đình chỉ chiến sự sau khi ký hiệp định. Về Cao Miên và Lào, có bốn điểm: rút quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; giải giáp các lực lượng dân quân du kích; phóng thích tù binh và dân thường bị bắt; kiểm soát quốc tế. Về bảo đảm hiệp định, khi có sự vi phạm, các nước tham dự hội nghị sẽ trao đổi ý kiến để thi hành những biện pháp thích hợp.

Tuy nhiên, với một thái độ thực tế, tại hội nghị, Việt Nam chủ trương một mặt đấu tranh giữ vững những nguyên tắc cơ bản là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hoà bình và dân chủ, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các đoàn thuộc phe xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc có sách lược mền dẻo, phân hoá đối phương, đóng góp thúc đẩy hội nghị tiến triển.

Ngày 10-5, Trưởng đoàn Việt Nam Phạm Văn Đồng trình bày lập trường tám điểm của một giải pháp toàn diện cho vấn đề Đông Dương.

1. Pháp công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Khơme và Pathét Lào;

2. Ký hiệp định về việc rút quân đội nước ngoài ra khỏi Việt Nam, Khơme và Pathét Lào;

3. Tổ chức tổng tuyển cử tự do ở Việt Nam, Khơme và Pathét Lào để thành lập chính phủ thống nhất trong mỗi nước.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Khơme và Pathét Lào bằng lòng xem xét việc tự nguyện gia nhập Liên hiệp Pháp;

5. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Khơme và Pathét Lào công nhận các quyền lợi kinh tế và văn hoá của Pháp, sẽ cùng nước Pháp quy định các quyền này theo nguyên tắc bình đẳng và tôn trọng quyền lợi lẫn nhau;

6. Hai bên không khủng bố những người hợp tác với đối phương trong thời gian chiến tranh;

7. Trao đổi tù binh;

8. Ngừng bắn hoàn toàn và đồng thời trên toàn Đông Dương: điều chỉnh các vùng; đình chỉ đưa vào Đông Dương quân đội và thiết bị quân sự mới; lập uỷ ban tay đôi gồm đại biểu hai bên đối phương để kiểm tra bảo đảm thực hiện hiệp định đình chiến.

Để tỏ thiện chí, Trưởng đoàn Việt Nam tuyên bố cho phép Pháp được đến Điện Biên Phủ nhận thương binh.

Một trong những mục tiêu quan trọng của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương là bảo vệ quyền đại diện và lợi ích chính đáng của phong trào kháng chiến yêu nước ở Lào và Campuchia là Pathét Lào và Khơme Ítxarắc. Phía Việt Nam kiên trì đấu tranh trong các phiên họp ngày 8, 10, 18-5 và tại các cuộc thương lượng Việt - Pháp ở Giơnevơ từ cuối tháng 6, trong đó đòi:

- Các đại diện của Pathét Lào và của Khơme Ítxarắc tham dự Hội nghị;

- Giải quyết như nhau các vấn đề quân sự và chính trị ở Việt Nam, ở Khơme và ở Pathét Lào, trong đó, về quân sự: ngừng bắn cùng một lúc trên toàn Đông Dương và giải quyết các vấn đề quân sự tương ứng; về chính trị: giải pháp phải là thống nhất đất nước và giải quyết các vấn đề chính trị kèm theo tại mỗi nước;

- Phân vùng lãnh thổ cho việc chuyển quân tập kết tạm thời đối với lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng như đối với Pathét Lào và Khơme Ítxarắc ở mỗi nước.
___________________________________________________
1, 2. Những văn bản chính của Hội nghị Giơnevơ, Hà Nội, 1995, tr.51, 138.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #151 vào lúc: 11 Tháng Ba, 2022, 11:14:21 am »


Nhà sử học người Pháp Phrăngxoa Gioayô nhận xét rằng đại diện quân sự Việt Nam trong các cuộc đàm phán với đại diện quân sự Pháp đã có thái độ cứng rắn trong vấn đề này: Nhân danh Pathét Lào, Tạ Quang Bửu đấu tranh để Chính phủ cách mạng Lào được kiểm soát phần nửa phía đông nước Lào, kể cả cao nguyên Bôlôven ở phía nam. Việt Minh cũng đặt vấn đề như vậy trong một thời gian khi đợi công nhận quyền của Khơme Ítxarắc được có một vùng lãnh thổ1.

Tuy nhiên, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương do bốn nước lớn triệu tập, là một cuộc thương lượng quốc tế nhiều bên mà các nước lớn muốn đạt đến giải pháp phù hợp với mục tiêu của họ. Pháp là nước đang thất bại trên chiến trường, nhưng đã lợi dụng vai trò mà các nước lớn phương Tây phân công cùng với Liên Xô xác định thành phần tham dự hội nghị, đã đưa được ba "quốc gia liên kết" của phe Pháp tham dự hội nghị và gạt các lực lượng kháng chiến yêu nước ở Lào và Campuchia hòng giành lợi thế trong quá trình thương lượng.

Xét về tương quan chung tại Giơnevơ, Việt Nam chỉ là một trong chín thành viên tham dự hội nghị, là bên duy nhất trong ba phong trào kháng chiến chống thực dân xâm lược ở Đông Dương được các nước lớn mời tham dự, trong khi phía đối phương, tất cả bốn bên trực tiếp tham chiến đều có mặt. Do tình hình trên đây và tính chất của hội nghị quốc tế nhiều bên, trong đó ngoại giao nước lớn chi phối bởi lợi ích riêng của mỗi nước nên Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã không thể thực hiện tất cả các mục tiêu của giải pháp như đã đề ra.

Sau hơn một tháng thương lượng, xét theo những điểm giống nhau trong đề nghị của các đoàn, các bên tham gia hội nghị đã nhất trí về nguyên tắc một số vấn đề sau đây:

- Ngừng bắn hoàn toàn, cùng một lúc trên toàn Đông Dương;

- Cần thương lượng về việc điều chỉnh các vùng chiếm đóng cho thích hợp;

- Cùng một lúc với việc ngừng bắn, đình chỉ việc đưa quân đội và trang bị quân sự mới vào Đông Dương;

- Các uỷ ban liên hợp gồm đại diện bộ tư lệnh hai bên tham chiến đảm trách việc thi hành hiệp định ngừng bắn;

- Kiểm soát quốc tế gồm các nước trung lập (hiểu theo nghĩa là không dính líu vào chiến tranh Đông Dương), nhưng chưa nhất trí về thành phần;

- Những nước tham gia hội nghị bảo đảm thi hành hiệp định;

- Thả tù binh quân sự và thường dân bị bắt trong chiến tranh;

- Từ các phiên họp toàn thể ngày 18 và ngày 19-5 trở đi, cách thức giải quyết vấn đề Lào và Campuchia trong mối liên hệ như thế nào với vấn đề Việt Nam dần dần được đặt vào trung tâm các cuộc thảo luận giữa chín đoàn đại biểu. Các nước phương Tây đòi thương lượng giải quyết riêng từng vấn đề Việt Nam, Lào và Campuchia.

Ngoài ra, theo thoả thuận giữa các đoàn trong phiên họp ngày 29-5 về thành lập cơ chế để bàn các vấn đề quân sự và đình chiến ở Việt Nam, các đại biểu quân sự Việt Nam và Pháp đã tiến hành các cuộc thảo luận riêng tại Giơnevơ và tại Việt Nam. Phiên họp quân sự Việt - Pháp đầu tiên tiến hành ngày 2-6 tại Giơnevơ. Ngày 10-6, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Tạ Quang Bửu, thay mặt Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đưa ra các đề nghị về đường phân giới tạm thời và việc tập kết quân đội hai bên.

Những kết quả sau hơn một tháng đàm phán được nhiều nhà quan sát và các đoàn đánh giá là còn rất khiêm tốn. Sau hơn một tháng thương lượng, hội nghị tuy đạt được một số thoả thuận về nguyên tắc chung nhưng đã lâm vào thế bế tắc do thái độ Đoàn Pháp không khoan nhượng trong việc giải quyết vấn đề chính trị. Trưởng đoàn đại biểu Pháp Biđôn, bị các đoàn phe xã hội chủ nghĩa chỉ trích là thiếu sáng kiến, không có thái độ hợp tác và chịu nhiều sức ép của Mỹ. Những chỉ trích này là nhằm tác động vào nội bộ Pháp.

Trong khi đó, cuộc đàm phán về vấn đề Triều Tiên kéo dài đến giữa tháng 6 đã không đem lại kết quả có ý nghĩa nào, do hai bên đều muốn duy trì nguyên trạng. Cuối phiên họp ngày 15-6, Trưởng đoàn Mỹ B. Xmít đơn phương tuyên bố chấm dứt đàm phán.

Sau thất bại của cuộc thương lượng về vấn đề Triều Tiên, để tránh cho cuộc đàm phán về Đông Dương bị tan vỡ, ngày 16-6, Trưởng đoàn Trung Quốc, Thủ tướng Chu Ân Lai đã gặp Trưởng đoàn Anh cho biết Trung Quốc có thể công nhận tính hợp pháp của các Chính phủ Vương quốc Lào và Campuchia khi nào Trung Quốc được bảo đảm rằng không một căn cứ quân sự nào của Mỹ được xây dựng tại hai nước này. Các đoàn xã hội chủ nghĩa đã quyết định tách riêng vấn đề Lào và Campuchia để thúc đẩy cuộc thương lượng về vấn đề Đông Dương, nhằm chống lại âm mưu của Mỹ phá hoại hội nghị. Trong phiên họp hẹp ngày 16-6, Thủ tướng Chu Ân Lai đã đưa ra đề nghị sáu điểm:

1. Đình chiến đồng thời ở Lào, Campuchia và Việt Nam;

2. Đại diện các bộ chỉ huy hai bên tham chiến bắt đầu thương lượng trực tiếp với nhau ở Giơnevơ và tại chỗ ở Đông Dương về đình chiến ở Lào và Campuchia;

3. Sau khi đình chiến, không được đưa quân đội, nhân viên quân sự và vũ khí mới vào Lào và Campuchia. Việc nhập các loại vũ khí tự vệ của hai nước này sẽ được xác định tại một cuộc thương lượng khác;

4. Ủy ban kiểm soát trung lập sẽ mở rộng hoạt động sang Lào và Campuchia, có chú ý tới những đặc điểm của hai nước này;

5. Thoả thuận việc trao đổi tù binh và thường dân bị bắt;

6. Không được khủng bố những người đã hợp tác với đối phương trong chiến tranh.

Những cuộc hội đàm giữa các Trưởng đoàn Pháp, Anh và Trung Quốc ngày 17-6 đã đề cập tương lai chính trị của Lào và Campuchia, việc công nhận khu tập kết của bộ đội Pathét Lào ở gần biên giới Việt Nam và Trung Quốc, những nguyên tắc rút quân đội nước ngoài, trong đó có quân đội tình nguyện Việt Nam khỏi hai nước.

Trong khi ở Đông Dương quân đội Pháp thất bại nặng nề trên chiến trường và lâm vào tình trạng khủng hoảng, ở Giơnevơ Đoàn Pháp bị các đoàn Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam phê phán. Tại Pari, Quốc hội Pháp thảo luận vấn đề Đông Dương. Khi bỏ phiếu tín nhiệm, Chính phủ Lanien bị thiểu số. Ngày 14-6, Tổng thống Pháp Côty cử nghị sĩ Măngđét Phrăngxơ, thuộc phe chủ hoà trong chính giới Pháp, lập nội các mới. Khi nhậm chức ngày 18-6, thủ tướng mới của nước Pháp tuyên bố sẽ từ chức nếu trong vòng một tháng không đạt được một cuộc ngừng bắn ở Đông Dương. Với việc thay đổi Chính phủ ở Pháp, phần lớn các trưởng đoàn về nước trao đổi ý kiến với chính phủ của mình.

Trước khi rời Giơnevơ, các trưởng đoàn đã thoả thuận xong về nguyên tắc sẽ thương lượng những hiệp định riêng biệt cho mỗi nước Đông Dương. Tại hai cuộc họp hẹp ngày 18 và 19-6, các đoàn đã thảo luận văn kiện thoả hiệp do đoàn Pháp được giao dự thảo và nhất trí các cuộc đàm phán về quân sự liên quan đến Lào và Campuchia sẽ được tổ chức như đã tiến hành về vấn đề đình chiến ở Việt Nam từ ngày 29-5.

Đoàn Mỹ không chấp nhận đề nghị của Trung Quốc về Lào và Campuchia, nhưng ý kiến của đoàn Mỹ bị cô lập. Đến thời điểm này, tình hình đã rõ ràng: Hội nghị có thể tiếp tục công việc để đạt đến một hiệp định đình chiến ở Đông Dương ngay cả trong trường hợp Hoa Kỳ từ chối tham gia vào quá trình đó.
__________________________________________________
1. Xem Phrăngxoa Gioayô: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, tr. 363, 364, 543.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #152 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 06:58:18 pm »


Giai đoạn hai diễn ra từ ngày 20-6 đến ngày 9-7, là thời gian phần lớn các trưởng đoàn vắng mặt tại Giơnevơ, diễn ra sáu phiên họp hẹp.

Trong giai đoạn đó, bên ngoài hội nghị diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, tác động lớn đến chiều hướng của hội nghị.

Sau Điện Biên Phủ, mặc dù còn 50 vạn quân trên chiến trường, Pháp hầu như đã mất ý chí xâm lược. Tại Đông Dương, dưới sức ép của các lực lượng vũ trang của Việt Nam, quân viễn chinh Pháp rất nguy khốn ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Để đối phó với tình hình sa sút trên chiến trường, ngày 28-5, Chính phủ Pháp đã gọi nhập ngũ một số quân trù bị, gửi quân tiếp viện cho Đông Dương. Ngày 2-6, tướng Êly được chỉ định làm Cao uỷ Đông Dương kiêm Tổng Chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp. Tướng Valuy cầu cứu Hoa Kỳ can thiệp, nhưng cuộc họp giữa ba phái đoàn quân sự cao cấp Mỹ, Anh, Pháp ở Oasinhtơn ngày 3-6 không đưa ra được biện pháp khẩn cấp nào để giúp Pháp ở Đông Dương. Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng cuộc chiến tranh ở Đông Dương đã vượt quá thời điểm có thể đảo ngược.
Hoa Kỳ bắt đầu triển khai kế hoạch đã tính toán từ lâu là thay dần Pháp: bước quan trọng đầu tiên là buộc Pháp phải chấp nhận việc ngày 7-7 Ngô Đình Diệm thay Bửu Lộc làm thủ tướng của chính quyền Bảo Đại. Đồng thời, Ngoại trưởng Đalét điện cho B. Xmít cho biết "vai trò của Mỹ tại Giơnevơ sẽ được giới hạn trong phạm vi người quan sát"1.

Trong thời gian hội nghị, hàng trăm đoàn thể nhân dân Pháp đã cử đại biểu tới Giơnevơ thăm Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bày tỏ sự ủng hộ Việt Nam và đòi Chính phủ Pháp thực sự thương lượng để lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Ngày 23-6, Măngđét Phrăngxơ đã tới Bécnơ, Thụy Sĩ, để gặp Thủ tướng Chu Ân Lai thăm dò về vấn đề phân vùng, vấn đề thống nhất Việt Nam, vấn đề Lào và Campuchia. Thủ tướng Chu Ân Lai điểm lại những nội dung hội nghị đã thoả thuận và đề nghị mới của Trung Quốc như đã nêu với Êđen và Biđôn; đồng thời nói rõ không để Liên hợp quốc can thiệp vào cuộc xung đột này và ngăn cấm Mỹ đặt căn cứ quân sự trên bán đảo Đông Dương. Măngđét Phrăngxơ tỏ ý muốn sớm đi đến giải pháp nhưng để lộ ý đồ của phía Pháp không muốn có tuyển cử sớm, không muốn bàn các vấn đề chính trị, đồng thời muốn đàm phán trực tiếp với Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sau cuộc gặp Bécnơ. Thủ tướng Pháp đã chỉ thị cho Đoàn Pháp về lập trường thương lượng của Pháp, trong đó có: tập kết quân đội hai bên trong hai khu vực lớn theo đường chia cắt ở vĩ tuyến 18; trung lập hoá các địa phận Công giáo ở bên trong khu vực của Việt Minh; Pháp chiếm giữ Hải Phòng càng lâu càng tốt. Kể từ lúc này việc chia cắt Việt Nam đã trở thành một mục tiêu của Đoàn đại biểu Pháp.

Như vậy, với tình thế khó khăn của Pháp ở Đông Dương, với đòn tối hậu mà Mỹ giáng vào cuộc thương lượng về Triều Tiên và việc một nhân vật mới thuộc phái chủ hoà lên làm thủ tướng ở Pháp trong hai ngày đã làm biến đổi sâu sắc sân khấu thương lượng ở Giơnevơ, thôi thúc những bên thực sự quan tâm đến cuộc đình chiến ở Đông Dương đi tới những quyết định cuối cùng có ý nghĩa quyết định đối với giải pháp về Đông Dương.

Các vấn đề được thảo luận trong các phiên họp hẹp giữa các quyền trưởng đoàn và các phiên họp của diễn đàn quân sự Việt - Pháp thu được một số kết quả khiêm tốn: đến cuối tháng 6 đề cập thể thức kiểm soát ngừng bắn và đầu tháng 7 về vấn đề thể thức rút quân đội Liên hiệp Pháp khỏi các vùng sẽ trao cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó Việt Nam đề nghị hoàn thành trong thời hạn 90 ngày, Pháp đề nghị 380 ngày; vấn đề thời hạn tổng tuyển cử; sự bảo đảm của các nước tham gia hội nghị đối với hiệp định; đưa các huấn luyện viên và thiết bị quân sự vào Lào và Campuchia.

Về vấn đề kiểm soát quốc tế, có nhiều đề nghị được đưa ra thảo luận, công phu nhất là đề nghị của Liên Xô ngày 14-6. Tuy nhiên ba vấn đề căn bản - cơ cấu Ủy ban kiểm soát quốc tế, thành phần và quan hệ của nó với Ủy ban liên hợp gồm hai bên tham chiến vẫn chưa có giải pháp.

Vấn đề huấn luyện viên và trang bị quân sự được thảo luận từ phiên họp ngày 6-7. Các đại biểu Campuchia và Lào yêu cầu cố vấn quân sự cần được phép ở lại trong hai vương quốc với việc được nhập các thiết bị cần thiết cho phòng thủ hai nước. Đoàn đại biểu Trung Quốc nhấn mạnh phải triệt để hạn định việc nhập vũ khí trong nhu cầu tự vệ và Mỹ không được đặt căn cứ quân sự ở hai nước này.

Tại Việt Nam, Đoàn đại biểu của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và của phía Pháp gặp nhau tại Trung Giã, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Đoàn Việt Nam đàm phán tại Trung Giã: ta đàm phán với Pháp lần này trong tư thế người chiến thắng; phải vững vàng về nguyên tắc, nhưng linh hoạt về sách lược. Điều gây tranh cãi nhiều trong các cuộc họp tiền trạm là về danh nghĩa của Đoàn Pháp. Phía Pháp muốn lấy danh nghĩa đoàn của họ là đại diện của Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Pháp -Việt. Phía Việt Nam không thừa nhận vai trò ngụy quân trong đàm phán. Cuối cùng, Việt Nam thoả thuận để họ lấy danh nghĩa đã dùng ở Hội nghị Giơnevơ là Đoàn đại diện Bộ Tổng chỉ huy các lực lượng Liên hiệp Pháp ở Đông Dương. Hội nghị Trung Giã khai mạc ngày 4-7-1954. Đoàn đại biểu Việt Nam do Thiếu tướng Văn Tiến Dũng dẫn đầu; Đoàn Pháp do Đại tá Lennuyơ dẫn đầu. Nội dung chủ yếu của hội nghị là thảo luận về các vấn đề quân sự do Hội nghị Giơnevơ đề ra và quyết định những biện pháp thi hành những quyết định của Hội nghị Giơnevơ. Khi Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam có hiệu lực, Hội nghị Trung Giã chuyển thành Ủy ban liên hợp Trung ương thi hành Hiệp định Giơnevơ, thực hiện ngừng bắn, chuyển vùng, trao đổi tù binh và thường dân bị giam giữ, xác định hành lang hàng không, việc triển khai quy chế khu phi quân sự...

Chính trong giai đoạn này tại các thủ đô liên quan đã diễn ra những cuộc gặp rất quan trọng có ý nghĩa và tác động lớn đến chiều hướng của hội nghị và xoay quanh những vấn đề trọng yếu nhất của giải pháp, như phân vùng và thời hạn tuyển cử ở Việt Nam, khu tập kết ở Lào và Campuchia, vấn đề liên minh quân sự và căn cứ quân sự nước ngoài ở Đông Dương, thời hạn rút quân Pháp.

Đồng thời, Mỹ tăng cường sức ép đối với các nước đồng minh phương Tây về đàm phán tại Giơnevơ. Ngày 29-6, tại cuộc gặp cấp cao Mỹ - Anh ở Oasinhtơn, Tổng thống Mỹ đã thoả thuận với Thủ tướng Anh về bảy điều kiện cho giải pháp về Đông Dương:

1. Giữ cho được Lào và Campuchia, bảo đảm việc rút quân đội Việt Nam khỏi hai nước này;

2. Giữ cho được ít nhất một nửa Việt Nam ở phía nam, nếu được thì giữ một vùng của đồng bằng Bắc Bộ; đường giới tuyến tại Đồng Hới;

3. Không có những hạn chế đối với Lào, Campuchia và phần giành được tại Việt Nam để xây dựng các chính quyền không cộng sản ổn định, đặc biệt là không bị hạn chế duy trì các lực lượng đủ để bảo đảm an ninh đối nội, nhập vũ khí và sử dụng cố vấn nước ngoài;

4. Không có các điều khoản chính trị có thể làm mất vào tay cộng sản những khu vực giành được;

5. Không có điều khoản loại trừ khả năng thống nhất Việt Nam bằng biện pháp hoà bình;

6. Bảo đảm với sự giáp sát quốc tế việc di chuyển nhân dân từ vùng này sang vùng khác của Việt Nam;

7. Bảo đảm kiểm soát quốc tế có hiệu quả.

Đối với Hoa Kỳ, bảy điểm thoả thuận với Anh không phải là mục tiêu mà là nguyên tắc thương lượng của các phái đoàn phương Tây tại Giơnevơ. Nội dung bảy điểm cho thấy sau khi không thực hiện được chủ trương phá hội nghị, Hoa Kỳ đã chuyển sang thúc ép các đoàn phương Tây đạt đến một giải pháp có lợi nhất có thể được, trước hết để tạo tiền đề cho Mỹ thay thế Pháp ở Đông Dương.

Mặc dù Pháp đã khẳng định chấp nhận bảy điểm làm lập trường thương lượng của phương Tây trong giai đoạn cuối của hội nghị, trong thư ngày 10-7 gửi Thủ tướng Pháp, nhằm tăng thêm sức ép đối với Pháp, Ngoại trưởng Mỹ Đalét vạch rõ: trên thực tế Pháp đã có những thoả hiệp đi chệch khỏi bảy điểm, như: sẵn sàng chấp nhận Pathét Lào có vùng tập kết ở Bắc Lào, chấp nhận đường phân giới ở khá xa Đồng Hới, chấp nhận trung lập hóa và phi quân sự hoá Lào và Campuchia, cho phép tổ chức tuyển cử sớm. Đứng trước khả năng Đoàn Pháp có thể buộc phải thoả hiệp hơn nữa trước sức ép của các đoàn xã hội chủ nghĩa, Đalét cho biết Ngoại trưởng Mỹ và Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ sẽ không trở lại Giơnevơ, vì không muốn bị ràng buộc vào một giải pháp mà những nhượng bộ của nó sẽ "vi phạm nghiêm trọng một số nguyên tắc mà Hoa Kỳ muốn bảo vệ"2.

Kết quả những cuộc mặc cả qua con đường ngoại giao giữa Pari và Oasinhtơn đã dẫn tới việc ngày 14-7 tại Pari, Thủ tướng Pháp và Ngoại trưởng Mỹ ký một văn bản thoả thuận việc Pháp tán thành bảy điều kiện về một giải pháp; đồng thời Ngoại trưởng Mỹ thông báo chính quyền Mỹ cử Thứ trưởng Ngoại giao B. Xmít trở lại Hội nghị Giơnevơ cầm đầu phái đoàn Mỹ. Thủ tướng Pháp thông báo nếu hội nghị không thành công, Chính phủ Pháp sẽ gửi sang Đông Dương hai sư đoàn để tăng viện cho lực lượng viễn chinh.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra cuộc gặp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Chu Ân Lai tại Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, từ ngày 3 đến ngày 5-7, đề cập những nội dung quyết định của giải pháp. Cùng tham dự, phía Việt Nam có Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trong cuộc gặp này, Thủ tướng Chu Ân Lai nói tình hình quốc tế yêu cầu có hoà bình, việc phân chia ranh giới tạm thời nên châm chước một chừng nào để tranh thủ những cơ sở pháp lý cho một cuộc tổng tuyển cử hoà bình thống nhất hai miền Nam, Bắc Việt Nam trong vòng hai năm; trước đây Pháp đòi lấy vĩ tuyến 18 làm ranh giới tạm thời, nhưng trước sự đấu tranh kiên quyết của phe ta, Măngđét Phrăngxơ và Anh, Mỹ đã đồng ý rút xuống vĩ tuyến 17. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng với so sánh lực lượng trên thực tế chiến trường, ta đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 đối với ta là không thể chấp nhận, ít nhất cũng phải giành được vĩ tuyến 16, như trước đây Đồng minh đã chọn làm ranh giới tạm thời để giải giáp quân đội Nhật ở hai miền Nam, Bắc Đông Dương. Còn thời hạn tổ chức tổng tuyển cử ở Việt Nam ta nên đòi sáu tháng. Thủ tướng Chu Ân Lai khẳng định sẽ cùng Trưởng đoàn Liên Xô cố gắng thực hiện ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, song nếu việc đấu tranh tại hội nghị xác định ranh giới tạm thời gặp khó khăn, đề nghị được linh hoạt về vĩ tuyến.

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Liễu Châu về, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: "Sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, âm mưu và kế hoạch can thiệp của Mỹ cũng thay đổi để kéo dài chiến tranh Đông Dương, quốc tế hoá chiến tranh Đông Dương, phá hoại Hội nghị Giơnevơ, tìm hết cách hất cẳng Pháp để chiếm ba nước Việt, Miên, Lào... Mỹ không những là kẻ thù của nhân dân thế giới, mà Mỹ đang biến thành kẻ thù chính và... trực tiếp can thiệp, kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương, ta phải nắm vững lá cờ hoà bình... Dùng lối nói chuyện hoà bình thì phải nhân nhượng nhau đúng mức... Mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ... Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt"3. Hội nghị nhất trí phải đấu tranh trong một thời gian ngắn đi đến ký Hiệp định đình chiến với Chính phủ của Măngđét Phrăngxơ. Không để cho đế quốc Mỹ và phái hiếu chiến ở Pháp lợi dụng để kéo dài Hội nghị Giơnevơ và phá hoại đàm phán.

Trung ương Đảng đã soạn thảo lại phương án chỉ đạo đàm phán ở Giơnevơ gửi cho Đoàn đại biểu Việt Nam ở Giơnevơ, gồm các điểm:

- Về quân sự, ngừng bắn đồng thời với Việt Nam, Miên, Lào; việc chia khu vực, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới; cấm đưa bộ đội, nhân viên quân sự mới vào các nước này sau khi ngừng bắn; không có căn cứ quân sự và liên minh quân sự;

- Về chính trị, thoả thuận thời hạn tổng tuyển cử ở Việt Nam; vấn đề Việt Nam tham gia Liên hiệp Pháp sau khi thống nhất; về Ủy ban quốc tế, đồng ý Ấn Độ, Ba Lan, Canađa;

- Về phương châm đàm phán, chủ động giành lấy đình chiến ở ba nước Đông Dương; tích cực thúc đẩy và phải chủ động đưa ra phương án của ta.
_________________________________________________
1. Các tài liệu Lầu Năm Góc, Sđd, tr.141.
2. Các tài liệu Lầu Năm Góc, Sđd, tr.150-151.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 314, 316, 319.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #153 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:02:10 pm »


Mười ngày cuối cùng, từ 10 đến 20-7, diễn ra các cuộc gặp gỡ, trao đổi ráo riết tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên giữa các trưởng đoàn và một phiên họp hẹp cấp trưởng đoàn và một phiên họp toàn thể, bế mạc hội nghị.

Các cuộc thương lượng nói trên đã hình thành khung của giải pháp. Trước khả năng Đoàn Mỹ không chịu ký vào bất kỳ loại văn bản nào để tránh bị ràng buộc, mặt khác Mỹ cũng cho biết sẽ không ký trong một văn kiện cùng với Trung Quốc, Đoàn Pháp được giao chuẩn bị các loại dự thảo khác nhau cho tuyên bố cuối cùng của hội nghị có chữ ký hoặc không có chữ ký của các đoàn. Hội nghị cũng chuẩn bị những hiệp định riêng biệt.

Ngày 13-7, trong cuộc gặp giữa Phạm Văn Đồng và Măngđét Phrăngxơ, Trưởng đoàn Việt Nam nêu đề nghị lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến tạm thời. Măngđét Phrăngxơ cự tuyệt với lý do Đà Nẵng, Huế và đường 9 là thiết yếu đối với đường giao thông của Lào ra biển. Đồng thời, Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng gặp phía Quốc gia Việt Nam để trao đổi về vấn đề thống nhất đất nước và đưa ra đề nghị tổ chức tổng tuyển cử trong thời hạn sáu tháng sau khi ký kết hiệp định. Ngày 17-7, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Ngoại trưởng Êđen, nhắc lại ba nước Đông Dương phải được độc lập, chủ quyền, trung lập. Ngày 18-7, các bên đồng ý Ủy ban Quốc tế gồm Ấn Độ, Canađa và Ba Lan. Ngày 19-7, sau khi có sự trao đổi giữa các đoàn xã hội chủ nghĩa, đoàn Trung Quốc xác nhận với đoàn Pháp lập trường về đường giới tuyến đặt ở vĩ tuyến 17, cách 10km về phía bắc, tại sông Bến Hải. Trước đó, đại diện Thủ tướng Ấn Độ đã đến gặp Trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chuyển ý kiến của Chính phủ Ấn Độ ngỏ ý Việt Nam nên chấp nhận lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời cho hai khu vực tập kết. Cùng ngày, trên cơ sở kết quả cuộc hội đàm giữa ba trưởng đoàn Anh, Pháp và Trung Quốc, hội nghị thoả thuận về "vùng đóng quân tạm thời" tại hai tỉnh ở Lào để từ đó các lực lượng Pathét Lào chuyển về tập kết tại hai tỉnh Sầm Nưa và Phông Xa Lỳ, với những quy chế an toàn cho các lực lượng kháng chiến yêu nước Lào.

Các lực lượng kháng chiến Khơme Ítxarắc sẽ được giải ngũ tại chỗ; Chính phủ Vương quốc Campuchia sẽ ra tuyên bố bày tỏ mong muốn bảo đảm sự hoà thuận, thi hành những biện pháp hữu hiệu để sáp nhập họ vào cộng đồng quốc gia, có thể gia nhập quân đội chính quy hay cảnh sát địa phương, được hưởng các quyền tự do nêu trong hiến pháp của vương quốc mà không bị phân biệt đối xử.

Ngày 20-7, diễn ra các cuộc đàm phán hẹp giữa các bên liên quan ở Đông Dương cùng hai đồng Chủ tịch Hội nghị nhằm thoả thuận các vấn đề chủ yếu: giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam, những vùng tập kết ở Lào, thành phần Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến, tổng tuyển cử, thời hạn rút các lực lượng vũ trang về các khu vực tập kết. Cuối ngày, các trưởng đoàn Anh, Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam xác nhận đường giới tuyến tạm thời tại vĩ tuyến 17, thời hạn tổ chức tổng tuyển cử hai năm và công thức "khu đóng quân tạm thời đối với Pathét Lào", ở Campuchia có ngừng bắn, nhưng lực lượng kháng chiến sẽ giải ngũ hoặc tham gia vào lực lượng cảnh sát địa phương.

Vào phút cuối, do Mỹ giật dây, Sam Sary, đại diện riêng của nhà vua Campuchia từ chối tham gia vào văn kiện ngăn cấm Campuchia gia nhập vào các liên minh với nước ngoài. Phải mất năm tiếng đồng hồ, Trưởng đoàn Pháp và hai đồng Chủ tịch mới dàn xếp được vấn đề này. Tới 2 giờ sáng ngày 21-7, Trưởng đoàn Liên Xô đưa vào bản tuyến bố cuối cùng một đoạn nói về khả năng có thể cho phép đặt căn cứ quân sự nước ngoài ở Campuchia trong trường hợp có sự uy hiếp đối với an ninh của đất nước. Một điều khoản tương tự đối với Lào cũng được đưa vào tuyên bố cuối cùng.

Sáng ngày 21-71, ba hiệp định về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, ở Lào và ở Cao Miên được ký kết.

Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam có sáu loại điều khoản, với 47 điều.

I. Giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự, gồm chín điều khoản, trong đó quy định việc Quân đội nhân dân Việt Nam tập kết ở phía bắc, quân đội Liên hiệp Pháp ở phía nam giới tuyến, với một khu phi quân sự; thời hạn di chuyển hoàn toàn lực lượng hai bên không vượt quá 300 ngày.

II. Nguyên tắc và cách thức thi hành hiệp định, gồm sáu điều khoản, trong đó theo nguyên tắc ngừng bắn trên toàn cõi Đông Dương, sự đình chỉ chiến sự phải đồng thời trên toàn cõi Việt Nam.

III. Cấm đưa thêm quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí đạn dược mới, căn cứ quân sự, gồm năm điều khoản, trong đó cấm không được đưa thêm vào Việt Nam bộ đội và nhân viên quân sự, vũ khí, dụng cụ chiến tranh, tuy nhiên cho phép thay thế ngang cấp, một thay một; cấm không được thành lập căn cứ quân sự mới, cấm không được lập căn cứ quân sự ngoại quốc, không gia nhập liên minh quân sự, không bị sử dụng để gây lại chiến tranh hoặc phục vụ cho một chính sách xâm lược.

IV. Tù binh và thường dân bị giam giữ, gồm một điều khoản, quy định tất cả tù binh và thường nhân Việt, Pháp hoặc quốc tịch khác bị giam giữ từ đầu chiến tranh sẽ được thả trong vòng 30 ngày.

V. Điều khoản linh tinh, gồm sáu điều khoản, trong đó quy định tư lệnh hai bên trừng phạt những người thuộc quyền mình làm trái điều khoản hiệp định; cho phép các chuyên viên liên quan vào trong vùng của phía bên kia lấy thi hài của quân nhân hoặc tù binh chết...

VI. Ban liên hợp và Ban quốc tế ở Việt Nam, gồm 17 điều khoản, trong đó quy định thành lập một ban liên hợp, với số đại biểu bằng nhau của Bộ Tổng tư lệnh hai bên; thành lập một Ban quốc tế giám sát và kiểm soát thực hiện hiệp định gồm các nước Ấn Độ, Ba Lan, Canađa, với số đại biểu bằng nhau, do Ấn Độ làm Chủ tịch.

Lúc 15 giờ ngày 21-7, diễn ra phiên họp toàn thể cuối cùng của Hội nghị. Trong phiên họp này, lời Tuyên bố của Hội nghị Giơnevơ được công bố. Thay cho việc các bên ký vào văn kiện này, phần đầu bản Tuyên bố đưa tên các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương: Cao Miên, Quốc gia Việt Nam, Hoa Kỳ, Pháp, Lào, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Trung Quốc, Anh và Liên Xô.

Bản Tuyên bố cuối cùng gồm 13 điều:

1. Hội nghị chứng nhận các bản hiệp định đình chỉ chiến sự ở Cao Miên, Lào và Việt Nam;

2. Hội nghị tin tưởng việc thi hành bản Tuyên bố và các hiệp định đình chiến chiến sự làm cho Cao Miên, Lào, Việt Nam từ nay có thể đảm nhận độc lập, chủ quyền hoàn toàn;

3. Hội nghị chứng nhận tuyên bố của hai Chính phủ Cao Miên và Lào về việc để tất cả mọi công dân tham gia tổng tuyển cử tiến hành trong năm 1955;

4. Hội nghị chứng nhận những điều khoản cấm đưa vào Việt Nam quân đội và nhân viên quân sự ngoại quốc, cũng như vũ khí đạn dược; chứng nhận những tuyên bố của Chính phủ Cao Miên và Lào chỉ yêu cầu viện trợ quân sự, nhân viên huấn luyện viên trong phạm vi cần thiết để bảo vệ lãnh thổ hiệu quả;

5. Hội nghị chứng nhận Hiệp định về Việt Nam định rằng không được thành lập căn cứ quân sự nước ngoài, không tham gia liên minh quân sự: chứng nhận những tuyên bố của hai Chính phủ Cao Miên và Lào nói rằng sẽ không ký kết bất cứ hiệp định nào với nước khác buộc họ phải tham gia một khối liên minh quân sự không phù hợp với nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, hoặc nếu hiệp định đó buộc họ phải lập những căn cứ quân sự nước ngoài khi mà an ninh hai nước đó không bị đe doạ;

6. Hội nghị chứng nhận rằng mục đích căn cứ của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết các vấn đề quân sự để đình chiến sự và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi là một ranh giới về chính trị hay về lãnh thổ;

7. Hội nghị tuyên bố đối với Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề chính trị, thực hiện trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; cuộc tổng tuyển cử sẽ tổ chức vào tháng 7-1956; kể từ ngày 20-7-1955, hai bên sẽ gặp gỡ để thương lượng về vấn đề đó;

8. Phải để cho tất cả mọi người Việt Nam tự do lựa chọn vùng họ muốn sinh sống;

9. Ở Bắc và Nam Việt Nam, Lào và Cao Miên không được báo thù những người đã hợp tác với một trong hai bên trong chiến tranh;

10. Hội nghị chứng nhận tuyên bố của Chính phủ Pháp nói rằng sẵn sàng rút quân đội Pháp khỏi Cao Miên, Lào và Việt Nam, trừ trường hợp do thoả thuận hai bên, một số có thể ở lại những điểm nhất định, trong thời gian nhất định;

11. Hội nghị chứng nhận tuyên bố của Chính phủ Pháp sẽ tôn trọng độc lập. chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Cao Miên, Lào, Việt Nam;

12. Trong quan hệ với Cao Miên, Lào, Việt Nam, mỗi nước tham gia hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước và không can thiệp vào nội trị của các nước đó;

13. Các nước tham gia hội nghị sẽ hỏi ý kiến nhau về mọi vấn đề mà Ban giám sát và kiểm soát quốc tế chuyển tới, nhằm nghiên cứu những biện pháp cần thiết bảo đảm tôn trọng các hiệp định đình chỉ chiến sự.

Ba hiệp định đình chỉ chiến sự - những văn bản duy nhất được ký kết và Tuyên bố cuối cùng, do các bên tham gia hội nghị thoả thuận trong hai ngày 20 và 21-7, tạo thành khung pháp lý của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương.

Ngoài ra còn có các tuyên bố đơn phương của Pháp về việc sẵn sàng rút quân khỏi ba nước Đông Dương và tôn trọng độc lập, chủ quyền của ba nước Việt - Miên - Lào; của Vương quốc Lào về việc không tham gia chính sách xâm lược; của Vương quốc Campuchia về việc bảo đảm không tham gia chính sách xâm lược và về việc bảo đảm quyền tự do của công dân Miên.

Trong phiên họp bế mạc, chiều ngày 21-7, các trưởng đoàn của Liên Xô, Trung Quốc và Việt Nam đã đưa ra các tuyên bố riêng rẽ.

Đại diện của Chính phủ Hoa Kỳ cũng ra tuyên bố cam kết Mỹ sẽ không dùng vũ lực phá hoại các hiệp định và 12 điều đầu tiên của Tuyên bố chung, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc; và sẽ xem mọi hành động xâm lược mới là vi phạm các hiệp định và đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế. Tại Oasinhtơn, ngày 21-7, Tổng thống Mỹ Aixenhao tuyên bố: "Tôi không có gì phê phán cái đã làm được ở Giơnevơ bởi vì tôi không có một giải pháp thay thế đề nghị", nhưng ông ta lại tuyên bố "Hoa Kỳ không bị các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ ràng buộc"2. Hoa Kỳ tuyên bố như vậy để rảnh tay hành động sau này. Trong khi đó, Ngoại trưởng Êđen thừa nhận: "Đó là thoả thuận tốt nhất mà chúng ta đã tự tay làm ra"3.

Trong cuốn sách xuất bản năm 1998, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: "Hiệp định Giơnevơ và Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ tóm lại gồm hai điểm quan trọng: Một là, quy định giới tuyến quân sự tạm thời, và hai là, tổ chức tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam, hai năm sau ký kết Hiệp định Giơnevơ, nghĩa là tháng 7-1956. Hai điểm này quan hệ mật thiết với nhau, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời bởi lẽ khi có tổ chức tổng tuyển cử nhằm thống nhất nước Việt Nam thì tất nhiên không còn có giới tuyến này nữa"4.

Nhân dịp kết thúc hội nghị, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Thủ tướng Pháp Măngđét Phrăngxơ đã trao đổi các công hàm về các quan hệ kinh tế, văn hoá giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Pháp.

Theo đúng Hiệp định về Việt Nam, tiếng súng ngừng ở Bắc Bộ ngày 27-7, ở Trung Bộ và Nam Bộ ngày 11-8-1954.

Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc. Hoà bình đã được lập lại ở Việt Nam.
________________________________________________
1. Các hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam và Lào được ký lúc 2 giờ 45 phút sáng ngày 21-7; Hiệp định đình chiến tại Campuchia đến 11 giờ ngày 21 mới ký xong, nhưng thời gian được ghi ở cuối các hiệp định: ký lúc 24 giờ ngày 20-7, để giúp cho Phrăngxơ giữ được lời hứa với Quốc hội và nhân dân Pháp là lập lại hoà bình trong vòng một tháng (B.B.S).
2, 3. Philíp Đờvilơ - Giăng Lacutuya: Kết thúc một cuộc chiến tranh (La fin d'une guerre), Nxb. Seuil, Pari, 1960, tr.288.
4. Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.76.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #154 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:05:47 pm »


*

*          *

Hiệp định Giơnevơ ghi nhận thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, vì độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Hiệp định chấm dứt sự nô dịch của thực dân Pháp ở Việt Nam, cũng như trên toàn bán đảo Đông Dương. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam.

Điện Biên Phủ - Giơnevơ là đỉnh cao của chín năm kháng chiến của nhân dân Việt Nam trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Thành tựu đối ngoại nổi bật trong giai đoạn đầu là đã nỗ lực khắc phục hoàn cảnh khó khăn chiến đấu trong vòng vây khi các liên hệ từ thủ đô kháng chiến với thế giới hết sức hạn chế, thiếu thông tin tài liệu để nghiên cứu quốc tế, không có ngoại tệ, nhưng đã chủ động, nỗ lực to lớn để phá vây qua hướng tây nam, mở các cơ quan đại diện ở Băng Cốc, Rănggun, tạo được đầu mối ở ngoài nước để hoạt động quốc tế; làm cho nhân dân Pháp và thế giới hiểu rõ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, từ đó tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam; xây dựng được liên minh đoàn kết chiến đấu Việt - Miên - Lào.

Từ năm 1950, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, tạo bước ngoặt trong quan hệ quốc tế: nối liền Việt Nam với hậu phương quốc tế xã hội chủ nghĩa, kết thúc thời kỳ chiến đấu trong vòng vây, làm cho cuộc kháng chiến đã được tiếp thêm sức mạnh với sự liên kết 800 triệu nhân dân thuộc cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tăng cường phối hợp với phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp chống chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.

Hội nghị Giơnevơ 1954 có các nước lớn trên thế giới tham dự, đã công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, tạo cơ sở pháp lý để nhân dân Việt Nam đấu tranh chống sự can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ trong suốt 21 năm tiếp theo.

Hiệp định Giơnevơ đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam: đánh bại đế quốc Pháp, giải phóng miền Bắc, xây dựng miền Bắc vững mạnh thành hậu phương của cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này. Đây là thắng lợi vĩ đại của một nước nhỏ đánh thắng một đế quốc to. Thắng lợi đó góp phần phát triển cách mạng Lào và Campuchia, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc, thúc đẩy quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới.

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam tháng 9-1960, nhận định: "Việc lập lại hoà bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc Việt Nam, và đặt cơ sở pháp lý cho việc thống nhất nước Việt Nam là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng xã hội chủ nghĩa, hoà bình và dân chủ trên thế giới. Nó phản ánh tình hình lực lượng so sánh ở Đông Dương và trên thế giới lúc bấy giờ"1.

Đối với Việt Nam, kết quả cũng như một số mặt hạn chế của Hiệp định Giơnevơ, sau những cuộc đấu tranh quyết liệt của Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại bàn hội nghị và những dàn xếp phức tạp của các nước lớn, phần nào đã phản ánh chiều hướng chính trị thế giới và tương quan lực lượng giữa hai phe sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, với thực trạng chia cắt nước Đức và Triều Tiên mà không có giải pháp chính trị. Chính Măngđét Phrăngxơ thừa nhận: "Lời văn hiệp định đôi khi tàn nhẫn bởi vì nó xác nhận những sự kiện tàn nhẫn"2.

Đây là lần đầu tiên các nhà ngoại giao Việt Nam tham dự một hội nghị quốc tế nhiều bên, trực tiếp đàm phán với các nước lớn phương Tây, trong sự phối hợp với các nước xã hội chủ nghĩa trong tư cách một thành viên của cộng đồng các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân.

Bài học đàm phán và ký kết Hiệp định Giơnevơ 1954 đã được quan tâm đúng mức trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, khi Việt Nam tiến hành đàm phán với Hoa Kỳ nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.

Lôgích của quan hệ quốc tế trong nhiều trường hợp buộc các nhà đương cục của các quốc gia phải phục tùng theo nó. Song, các quốc gia với tư cách và bản lĩnh của mình, theo lôgích riêng, sẽ phản ứng và tác động vào tiến trình lịch sử quan hệ quốc tế. Vào buổi chiều đáng ghi nhớ của ngày 21-7-1954 tại Giơnevơ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã kết thúc bản Tuyên bố của Đoàn đại biểu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại phiên họp cuối cùng của hội nghị bằng một lời kêu gọi đồng bào mình đầy tính chiến đấu và mang tính dự báo: Nhân dân Việt Nam! Đồng bào miền Nam! Thắng lợi thuộc về chúng ta! Độc lập và thống nhất Tổ quốc chúng ta là ở trong tay chúng ta. Những người yêu chuộng hoà bình và công lý trên toàn thế giới đều đồng tình với chúng ta. Đồng bào hãy nhớ lấy lời Hồ Chủ tịch: "Cuộc đấu tranh phải gian khổ, nhưng cuối cùng chúng ta nhất định thắng"3.
___________________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 21, tr. 502.
2. Philip Đơvilơ - Giăng Lacutuya: Kết thúc một cuộc chiến tranh, Sđd, tr.286.
3. Bộ Ngoại giao: Những văn bản chính của Hội nghị Giơnevơ, Hà Nội, 1955, tr.239.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #155 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:24:58 pm »


QUÂN VÀ DÂN NAM BỘ THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ
VỀ ĐIỀU KHOẢN NGỪNG BẮN VÀ TẬP KẾT CHUYỂN QUÂN
1

Thượng tá, TS. HỒ SƠN ĐÀI
Phòng Khoa học, công nghệ - môi trường Quân khu 7

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của nhân dân ta nhằm đạt một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến tranh Đông Dương. Ngày 21-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở việt Nam được ký kết. Cuộc kháng chiến oanh liệt của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược bắt đầu từ ngày 23-9-1945 đã kết thúc thắng lợi. Mặc dù nội dung hiệp định chưa phản ánh đầy đủ những thắng lợi của nhân dân ta trên chiến trường và xu thế của cuộc đấu tranh giữa ta và Pháp lúc đó, trong lúc đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức tìm mọi cách để không công nhận và phá hoại hiệp định, nhân dân ta vẫn kiên quyết thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đã được ký kết, lấy đó làm cơ sở pháp lý quốc tế để tiếp tục đấu tranh hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước. Tại Nam Bộ, hoạt động chấp hành Hiệp định Giơnevơ của quân và dân ta diễn ra trên nhiều lĩnh vực, trong đó có nội dung thực hiện lệnh ngừng bắn và tập kết chuyển quân.

Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở việt Nam được ký kết tại Giơnevơ (Thụy Sĩ) sau nhiều tháng đấu tranh gay gắt, căng thẳng với 7 phiên họp toàn thể, 24 phiên họp hẹp. Hiệp định có 6 loại điều khoản với 47 điều và một phụ bản với các nội dung chủ yếu: thực hiện ngừng bắn; xác định giới tuyến quân sự tạm thời và khu phi quân sự; quy định việc tập kết lực lượng của hai bên; ngăn cấm phá hoại tài sản công cộng, phân biệt đối xử, trả thù và bảo đảm quyền tự do lựa chọn vùng cư trú của công dân; hai bên không tham gia liên minh quân sự, không lập thêm căn cứ quân sự mới và không đưa thêm quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí vào Việt Nam; trao trả tù binh và dân thường trong chiến tranh.

Hiệp định nêu trên là một nội dung được công nhận trong tuyên bố chung ngày 21-7-1954 của Hội nghị quốc tế tại Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương với sự tham gia của đại diện các chính phủ: Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Lào, Campuchia và ngụy quyền Bảo Đại (Mỹ không ký vào bản Tuyên bố chung mà chỉ ra bản công nhận). Tuyên bố chung gồm 13 điều với các nội dung chính: các bên tham gia hội nghị thừa nhận nguyên tắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia; chứng nhận bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam và tổ chức hoạt động kiểm soát, giám sát quốc tế việc thi hành hiệp định; Pháp sẽ rút quân đội ra khỏi Việt Nam và xác định việc tổ chức tổng tuyển cử vào tháng 7-1956 có sự kiểm soát quốc tế để thống nhất toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 15-7-1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp Hội nghị lần thứ sáu (khóa II) xác định: đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là, trên cơ sở mục tiêu không thay đổi, nhân dân ta cần phải chuyển hướng phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Ngay sau ngày Hội nghị quốc tế Giơnevơ ra Tuyên bố chung, ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi đồng bào cả nước. Người nói: "Để thực hiện hoà bình bước đầu tiên là quân đội hai bên phải ngừng bắn. Để ngừng bắn, thì cần phải tách quân đội hai bên ra hai vùng khác nhau: tức là điều chỉnh khu vực. Điều chỉnh khu vực là việc tạm thời, là bước quá độ để thực hiện đình chiến, lập lại hòa bình và tiến đến thống nhất nước nhà bằng cách tổng tuyển cử... Đó là một việc cần thiết. Nhưng Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng"2.

Tại Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam họp hội nghị quán triệt Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ sáu và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó đề ra sáu nhiệm vụ trong thời gian trước mắt: "1. Tuyên truyền giáo dục trong Đảng và quần chúng nhận rõ chủ trương chính sách của Đảng trước tình hình mới, gây phấn khởi tin tưởng trong nhân dân, đập tan những luận điệu lừa bịp và phá hoại của địch; 2. Một mặt thực hiện ngừng bắn, có kế hoạch rút quân, rút cán bộ, một mặt không ngừng xây dựng lực lượng nâng cao cảnh giác cách mạng; 3. Phát triển tổ chức hợp pháp và bán hợp pháp, củng cố và chấn chỉnh tổ chức đảng và quần chúng theo nguyên tắc bí mật và tăng cường cảnh giác cách mạng để bảo toàn lực lượng; 4. Tập hợp quần chúng trong một mặt trận rộng rãi trên cơ sở liên minh công nông để chuyển hướng cuộc đấu tranh của quần chúng tuỳ theo từng vùng từ những hình thức hợp pháp, bán hợp pháp, bất hợp pháp, kết hợp chặt chẽ với nhau để đòi những quyền lợi hằng ngày, đòi thực sự tự do dân chủ và những quyền lợi mà Hội nghị Giơnevơ đã quyết định; 5. Tiếp tục thực hiện công tác ngụy, địch vận và chống bắt lính để làm tan rã lực lượng quân sự của địch, nhất là trong thời gian có sự điều chỉnh quân đội giữa hai bên, vận động họ vác súng sang hàng ngũ của ta; 6. Tăng cường công tác Cao Đài vận, Hòa Hảo vận, Công giáo vận và Miên vận để phá âm mưu chia rẽ của địch"3.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục, các Phân Liên khu miền Đông, miền Tây và Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn vừa tổ chức học tập quán triệt nhiệm vụ chuyển hướng đấu tranh, vừa gấp rút triển khai thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ. Để thực hiện hiệp định, Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ được thành lập do đồng chí Phạm Hùng làm Trưởng ban.

Từ đầu tháng 8-1954, hoạt động tác chiến trên chiến trường Nam Bộ giảm hẳn. Khắp nơi, nhân dân, các cơ quan kháng chiến và đơn vị vũ trang tổ chức hội nghị mừng công, mít tinh chào mừng thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ và học tập nội dung Hiệp định Giơnevơ. Hoạt động học tập nội dung của hiệp định có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức cho nhân dân và lực lượng vũ trang thực hiện ngừng bắn, tập kết chuyển quân. Nhiều đơn vị, địa phương kịp thời phát hiện và có các biện pháp khắc phục những biểu hiện không thích hợp với tình hình trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ. Sau các lớp học tập chính trị ngắn ngày, hầu hết cán bộ, chiến sĩ đều nhận rõ ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ và tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng Việt Nam, sẵn sàng thực hiện ngừng bắn, tập kết chuyển quân.

Vấn đề đặt ra trước tiên là thực hiện lệnh ngừng bắn. Tại Nam Bộ, quy định ngừng bắn được ấn định vào lúc 6 giờ ngày 11-8-1954. Ngày 25-7-1954, Bộ Tổng tham mưu cử ba đoàn sĩ quan đi truyền đạt lệnh ngừng bắn. Đoàn vào Nam Bộ gồm các đồng chí Đỗ Đức Kiên, Nguyễn Văn Long đi máy bay từ Hà Nội đáp xuống sân bay Quy Nhơn (đón đồng chí Lê Duẩn - dưới danh nghĩa Đại tá Dương Phan - đang trên đường vào phổ biến nghị quyết của Trung ương Đảng cho Đảng bộ miền Nam về ngừng bắn). Từ đây, đoàn chia làm hai nhóm: một nhóm xuống sân bay Dầu Tiếng về Phân Liên khu miền Đông và một nhóm xuống sân bay Sóc Trăng về Phân Liên khu miền Tây. Từ ngày 31-7 đến ngày 2-8-1954, sĩ quan của ta đi trên máy bay của Pháp có sơn cờ đỏ sao vàng rải thư hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và lệnh ngừng bắn của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến từng vùng xa xôi hẻo lánh nhất của Nam Bộ.

Đồng thời, Bộ Tư lệnh các Phân liên khu và Đặc Khu Sài Gòn - Chợ Lớn cử nhiều đoàn cán bộ đi truyền đạt lệnh ngừng bắn xuống các đơn vị bộ đội, dân quân du kích. Tuy nhiên, ở một số nơi thuộc các tỉnh Thủ Biên, Mỹ Tân Gò, Bến Tre, Long Châu Hà, do cán bộ truyền đạt mệnh lệnh chưa giải thích đầy đủ nội dung và ý nghĩa của hiệp định nên một số đơn vị vũ trang mặc dù đã nhận được lệnh ngừng bắn vẫn tiếp tục chiến đấu tập kích, hạ đồn bốt tháp canh địch, gài bom mìn ở các kho hậu cần, cầu cống nơi địch thường qua lại. Về cơ bản, vào thượng tuần tháng 8-1954, nội dung hiệp định về ngừng bắn đã được phổ biến rộng rãi đến từng xã trên toàn Nam Bộ và lệnh ngừng bắn được thực hiện đúng vào sáng ngày 11-8-1954.

Địa điểm tập kết ở Nam Bộ được chọn tại ba khu vực: Hàm Tâm - Xuyên Mộc, Cao Lãnh - Đồng Tháp Mười và Cà Mau. Theo quy định, tính từ ngày 21-7-1954, 35 ngày sau, đến 6 giờ ngày 26-8-1954, lực lượng chuyển quân tập kết xong tại ba địa điểm nêu trên. Cũng tính từ ngày 21-7-1954, thời gian tập kết tại Hàm Tân - Xuyên Mộc là 80 ngày (đến 6 giờ ngày 11-10-1954); thời gian tập kết tại Cao Lãnh - Đồng Tháp Mười là 100 ngày (đến 6 giờ ngày 30-10-1954) và thời gian tập kết tại Cà Mau là 200 ngày (đến 6 giờ ngày 10-2-1955).
_____________________________________________________
1. Tham luận tại Hội thảo kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ do Trường đại học Sư phạm và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 322.
3. Lê Đức Thọ: Báo cáo tình hình công tác, ngày 28-7-1954, lưu trữ Phòng Khoa học, công nghệ - môi trường Quân khu 9, tài liệu 106/1954/CP, tờ 2,3.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #156 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:29:41 pm »


Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Cục miền Nam và hướng dẫn của Ban Liên hiệp đình chiến Nam Bộ, sau khi tổ chức mít tinh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Giơnevơ, các địa phương, cơ quan kháng chiến và lực lượng vũ trang các cấp tiến hành lập danh sách, phân loại, cử người tiếp tục ở lại và người ra đi tập kết. Trong vòng một tháng, lực lượng tập kết chuyển quân đã hành quân an toàn về các khu vực tập kết theo quy định trong sự tiễn đưa lưu luyến của gia đình và nhân dân địa phương. Tại đây, các đơn vị vũ trang cùng với cán bộ các ngành dân - chính - đảng được sắp xếp lại, tổ chức thành các trung đoàn hành quân.

Tại Phân Liên khu miền Đông (bao gồm cả Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn) lực lượng tập kích chuyển quân có tổng cộng 14.635 người, gồm:

- 19 tiểu đoàn và 8 đại đội vũ trang chiến đấu (11.292 cán bộ, chiến sĩ), trong đó có:

+ 2 tiểu đoàn chủ lực của Phân Liên khu (Tiểu đoàn 302, Tiểu đoàn 304).

+ 6 tiểu đoàn tập trung của các tỉnh (Tiểu đoàn 300 Bà Chợ, Tiểu đoàn 303 Thủ Biên, Tiểu đoàn 306 Gia Ninh, Tiểu đoàn 309 Mỹ Tân Gò, Tiểu đoàn 311 Long Châu Sa và Tiểu đoàn của Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn).

+ 11 tiểu đoàn tập hợp từ các đại đội độc lập, đại đội địa phương, dân quân du kích và các đơn vị của Tiểu đoàn vận tải 320, các đơn vị vũ trang tuyên truyền.

+ 6 đại đội binh chủng chuyên môn: công binh, pháo binh, vận tải, trinh sát, đặc công, thông tin liên lạc.

+ 2 đại đội công an xung phong.

- 2 tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại đông Campuchia (747 cán bộ, chiến sĩ).

- Bộ phận phân liên khu bộ và các cơ quan phân liên khu, trung đoàn bộ, tỉnh đội bộ (2.349 người).

- Bộ phận đặc khu bộ và các cơ quan Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn (247 người)1.

Tại Phân Liên khu miền Tây, lực lượng tập kết chuyển quân được tổ chức thành bốn trung đoàn, quân số tổng cộng có 13.327 người, gồm:

- Trung đoàn 1, có 3.764 cán bộ, chiến sĩ, gồm các đơn vị:

+ Tiểu đoàn chủ lực 307 của Phân Liên khu.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Vĩnh Trà.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Bến Tre.

- Trung đoàn 2, có 3.736 cán bộ, chiến sĩ, gồm các đơn vị:

+ Tiểu đoàn 410 của tỉnh Cần Thơ.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Cần Thơ.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Long Châu Sa.

+ 2 đại đội bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày và huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Trung đoàn 3, có 3.323 cán bộ, chiến sĩ, gồm các đơn vị:

+ Tiểu đoàn 308 của tỉnh Sóc Trăng.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Sóc Trăng.

+ Bộ đội địa phương và du kích tỉnh Bạc Liêu.

+ 1 đại đội bộ đội địa phương của huyện Trà Cú và huyện Châu Thành tỉnh Vĩnh Trà.

Các cơ quan trung đoàn bộ, tiểu đoàn bộ của các trung đoàn kể trên do các cơ quan tỉnh đội bộ, huyện đội bộ trong Phân Liên khu cấu ghép lại.

- Trung đoàn 4, có 2.405 cán bộ, chiến sĩ, gồm các đơn vị:

+ Phòng Tham mưu.

+ Phòng Chính trị    và một đại đội thương, bệnh binh.

+ Phòng Cung cấp và Phòng Quân nhu.

+ 3 đại đội đặc công, công binh, cảnh vệ, bảo vệ2.

Lực lượng tập kích chuyển quân thuộc các cơ quan dân-chính-đảng được bố trí chung trong các trung đoàn chuyển quân và chịu sự chỉ huy chung của Ban Chỉ huy chuyển quân từng khu vực do Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ chỉ định, về tổ chức đảng, Trung ương Cục miền Nam ra nghị quyết về tổ chức đảng ủy chuyển quân và tổ chức đảng trong khối dân - chính - đảng; theo đó, đảng ủy chuyển quân gồm có các trung đoàn ủy và một số đồng chí trong lực lượng dân - chính - đảng tập kết theo các trung đoàn. Ban Chỉ huy chuyển quân Phân Liên khu miền Tây gồm bảy đồng chí: Dương Quốc Chính (Chỉ huy trưởng), Nguyễn Hữu Xuyến (Uỷ viên thường trực), Hoàng Thế Thiện, Bùi Văn Dự, Nguyễn Chánh, Tô Ký và Đồng Văn Cống; Đảng ủy chuyển quân gồm năm đồng chí: Dương Quốc Chính (Bí thư), Nguyễn Hữu Xuyến, Hoàng Thế Thiện, Bùi Văn Dự và Nguyễn Chánh3.

Trong những ngày tập trung ở vị trí tập kết chờ chuyển quân, Đảng ủy và Ban Chỉ huy chuyển quân tổ chức nhiều lớp học chính trị cho các đối tượng khác nhau nhằm quán triệt một lần nữa tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời gian tới, xác định trách nhiệm của những người hành quân ra miền Bắc và những người được bố trí ở lại. Nội dung học tập tập trung "Đề cao thắng lợi mọi mặt của ta và của phe ta, vạch trần âm mưu và thất bại nặng nề của đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và bọn tay sai của chúng; nói rõ tiền đồ của cuộc đấu tranh chính trị, nhất là ở miền Nam, làm cho mọi người tăng thêm phấn khởi mà tin tưởng ở thắng lợi sau này. Đề cao ý nghĩa và sự quan trọng của việc tập kết để mọi người kiên quyết khắc phục khó khăn gian khổ, tích cực chấp hành mệnh lệnh, bảo đảm cho việc đình chiến được thực hiện đúng hiệp định, phá âm mưu can thiệp, mở rộng và kéo dài chiến tranh của đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng4.

Cùng với hoạt động học tập chính trị, sinh hoạt tư tưởng, Đảng ủy và Ban Chỉ huy các khu vực tập kết tiến hành rà soát lại danh sách, kiện toàn tổ chức các đơn vị chuyển quân. Và, từ ngày 26-8-1954, các con tàu vận tải của Liên Xô và Ba Lan bắt đầu đưa những đoàn cán bộ chiến sĩ tập kết của Nam Bộ ra miền Bắc. Ngày 25-9-1954, đoàn chuyển quân đầu tiêu ở khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc cập bến Sầm Sơn (Thanh Hóa). Đến cuối tháng 10-1954, toàn bộ lực lượng tập kết ở hai khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc và Cao Lãnh - Đồng Tháp Mười ra đến miền Bắc an toàn. Ngày 8-2-1955, chuyến tàu cuối cùng chuyển quân ở Nam Bộ đến Cà Mau ra miền Bắc5. Đến đây, việc tập kết chuyển quân ở chiến trường Nam Bộ được hoàn tất.

Hoạt động của quân và dân Nam Bộ thực hiện Hiệp định Giơnevơ về điều khoản ngừng bắn và tập kết chuyển quân diễn ra trong bối cảnh đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định. Mỹ ép Pháp đưa Diệm về làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn, từng bước hất cẳng Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới hòng chia cắt và thống trị lâu dài đất nước ta. Mặc nhiên, đồng thời với việc thực hiện lệnh ngừng bắn, tập kết lực lượng ra miền Bắc, quân và dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam (từ tháng 10-1954 là Xứ ủy Nam Bộ) đã khẩn trương sắp xếp lại bộ máy các cấp, bố trí cán bộ ở lại6, tổ chức mạng lưới giao liên, chôn giấu vũ khí phòng khi cần đến7, chuyển hướng cuộc đấu tranh sang các hình thức thích hợp nhằm vừa gìn giữ và xây dựng lực lượng cách mạng, vừa đòi địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ.

Hoạt động thực hiện ngừng bắn và tập kết chuyển quân trình bày ở trên chứng tỏ thái độ tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định đình chiến ở Việt Nam và Tuyên bố chung của Hội nghị quốc tế Giơnevơ; chứng tỏ ý chí, nguyện vọng yêu chuộng hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam nói chung, của quân và dân Nam Bộ nói riêng. Những hoạt động ấy cũng đồng thời tạo đặt tiền đề quan trọng về việc chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh mới chắc chắn vô cùng khó khăn phức tạp mà Đảng ta đã tiên liệu ngay từ trước, trong và sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết.
______________________________________________________
1. Báo cáo tình hình cán bộ Phân Liên khu miền Đông Nam Bộ, ngày 29-10-1954, lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông 104, hồ sơ 58, tờ 158.
2. Báo cáo tình hình cán bộ Phân Liên khu miền tây Nam Bộ, tháng 9- 1954, lưu trữ Phòng Khoa học, công nghệ - môi trường Quân khu 9, tài liệu 76/1954/CP, tờ 54, 55.
3. Thông cáo số 50/CQ-TT ngày 8-11-1954 của Đảng uỷ chuyển quân Cà Mau, lưu trữ Phòng Khoa học, công nghệ - môi trường Quân khu 9, tài liệu 82/1954/CP, tờ 1.
4. Kế hoạch công tác chính trị cho các đơn vị bộ đội trong thời kỳ khu vực tập trung lâm thời và khi chuyển quân ra miền Bắc, ngày 17-8-1954, lưu trữ Bộ Quốc phòng, phông Nam Bộ, hồ sơ 64 (8-10-1954), tờ 2.
5. Lực lượng vũ trang ở Nam Bộ tập kết chuyển quân ra miền Bắc được tổ chức thành bảy trung đoàn mang các phiên hiệu mới: 556, 568, 570, 656, 658, 660, 664; sau đó biên chế thành hai đại đoàn: Đại đoàn 330 và Đại đoàn 338.
6. Toàn Nam Bộ có khoảng 60.000 đảng viên được bố trí ở lại và rút vào hoạt động bí mật. Theo Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.II, tr.19.
7. Nam Bộ chôn giấu khoảng 10.000 khẩu súng (tại Chiến khu Đ: 450 khẩu, tại Bến Tre: 300-350 khẩu và 3 hầm lựu đạn, tại Bạc Liêu: 6 tấn súng đạn, tại Cà Mau: 2.000 khẩu...). Theo Ban tổng kết chiến tranh B2: Báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và cực nam Trung Bộ, lưu trữ Phòng Khoa học, công nghệ - môi trường Quân khu 7, LS2/1979, tờ 16b).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #157 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2022, 07:37:41 pm »


PHẦN THỨ BA

Ý NGHĨA LỊCH SỬ, TẦM VÓC THỜI ĐẠI,
BÀI HỌC KINH NGHIỆM





CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NÓI VỀ ĐIỆN BIÊN PHỦ

Ba chữ Điện Biên Phủ đã làm cho tiếng tăm dân tộc Việt Nam ta lừng lẫy khắp năm châu.

Cuối năm 1946, thực dân Pháp hòng đặt ách nô lệ lên vai nhân dân ta một lần nữa. Chúng cố gây ra chiến tranh.

Trước tình hình ấy, nhân dân ta chỉ có thể chọn một con đường: Hoặc nhượng bộ cho địch để rồi làm thân trâu ngựa; đó là con đường dễ dàng, như lăn xuống dốc. Hoặc quyết tâm kháng chiến để giữ lấy độc lập, tự do; con đường này rất gian khổ, như trèo núi cao. Nhân dân ta đã chọn con đường khó và quyết tâm kháng chiến.

Đánh giặc, trước hết phải có vũ khí, mà vũ khí đầu tiên của ta là gậy tầm vông. Ta dùng gậy tầm vông để chống lại máy bay, xe tăng, đại bác và tàu chiến của Pháp, Mỹ. Chúng ta đều nhớ rằng ngay trong thời kỳ kháng chiến, đế quốc Mỹ đã ra sức giúp thực dân Pháp để kéo dài chiến tranh.

Mặc dù thiếu thốn mọi bề, khó khăn đủ thứ, nhưng toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam đã tin tưởng nghe theo lời kêu gọi của Đảng và Chính phủ, đoàn kết một lòng, kháng chiến cứu nước.

Đảng nói: "Kháng chiến phải trường kỳ gian khổ, song nhất định thắng lợi". Kết quả là lời nói của Đảng đã thực hiện, nhân dân ta đã thắng, thực dân Pháp đã thua.

Từ ngày 19-12-1946 đến 7-5-1954, bộ đội và du kích ta đã đánh quân địch chết và bị thương hơn 466.000 binh sĩ.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội ta đã tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh 16.200 tên địch, trong số đó có một thiếu tướng, 16 quan năm, 353 tên từ quan một đến quan tư và 1.396 hạ sĩ quan.

Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một đế quốc hùng mạnh đã bị nhân dân một nước thuộc địa đánh cho tan tành tả tơi, và phải cút về nước.

Đồng bào ta luôn luôn nhớ ơn quân đội ta đã dũng cảm chiến đấu để giữ gìn nền độc lập cho Tổ quốc và quyền tự do cho nhân dân.

Trong lúc toàn dân ra sức kháng chiến, thì "chí sĩ Ngô Đình Diệm" ngao du ở nước Hoa Kỳ. Thế mà ngày nay, những người cầm quyền miền Nam dám to mồm nói họ đã đuổi thực dân Pháp và giải phóng đất nước Việt Nam!

Ngoài việc đánh đuổi thực dân, kinh nghiệm kháng chiến thắng lợi nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng, có hai ý nghĩa to lớn:

- Nó đã khuyến khích các nhân dân bị áp bức ở Á - Phi nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân, giành giải phóng dân tộc.

- Nó chứng tỏ rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chính phủ ta và nhân dân ta đoàn kết nhất trí thì khó khăn gì cũng khắc phục được, công việc to lớn mấy cũng làm được. Sự nghiệp cách mạng và kháng chiến như vậy, công cuộc xây dựng nước nhà tiến dần lên chủ nghĩa xã hội cũng như vậy.

Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Sđd, t. 9, tr. 170-171.

Năm năm trước đây, Điện Biên Phủ là nơi mà hơn 1.500 tên binh sĩ Pháp đã bỏ mạng và hơn 14.000 tên đã bị quân đội ta bắt làm tù binh1.

Quân đội ta đại thắng ở Điện Biên Phủ đã đưa thực dân Pháp đến miệng hố diệt vong và đưa cuộc trường kỳ kháng chiến của nhân dân ta đến toàn thắng.

Ngày nay, Điện Biên Phủ, chiến trường oanh liệt, đã trở nên một nơi xây dựng hoà bình. Nhiều bản mường xinh đẹp đã được xây dựng. Khắp nơi, có những nương ngô và ruộng lúa xanh tốt mênh mông. Đồng bào đang hăng hái thi đua, tăng gia sản xuất để nâng cao thêm mãi đời sống của mình và để góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Nhưng Điện Biên Phủ vẫn tiếp tục ám ảnh giai cấp thống trị Pháp và vẫn còn là một vấn đề gây lục đục giữa bọn thực dân.

Tướng Nava nói vì tướng Cônhi bất tài mà thất bại. Tướng Cônhi nói vì tướng Nava bất lực mà thua to. Các tướng tá thực dân đổ lỗi lẫn nhau. Ngay sau khi quân Pháp đại bại ở Điện Biên Phủ, tướng già Catru được lệnh điều tra trách nhiệm tại ai. Sau năm năm nghiên cứu, vừa rồi, tướng Catru mới công bố kết quả cuộc điều tra, in thành một quyển sách. Chúng ta có thể tóm tắt lời kết luận của tướng Catru bằng mấy chữ:

Thất bại là vì
Nava ngu si
Cônhi dại dột...

Tướng Catru đã dò đến "ngọn nguồn, lạch sông" và viết tiếp:

Cần lên án nốt
Chính phủ Lanien
là lũ ươn hèn
cho nên thất bại...

Kết luận ấy rất đúng. Song có những điều mà tướng Catru không thấy rõ, hoặc không dám nói, đó là: Thực dân Pháp sở dĩ thất bại, vì chúng là phe tà, là bọn cướp nước; chiến tranh thực dân là phi nghĩa; và hễ còn chủ nghĩa thực dân thì Pháp còn bị nhiều Điện Biên Phủ ở các thuộc địa khác. Việt Nam sở dĩ thắng lợi là vì quân và dân ta đoàn kết nhất trí, kháng chiến anh dũng, vì chính nghĩa ở về phía ta.

Tướng già Catru cũng quên một chân lý là: Khi một dân tộc đã đoàn kết chặt chẽ, vùng dậy chiến đấu để giành lại quyền độc lập của mình, thì không có lực lượng phản động nào ngăn cản được họ và họ nhất định thắng lợi. Vậy có thơ rằng:

Cũng trong một cuộc Điện Biên,
Ta mừng thắng lợi, Pháp phiền xấu xa.
Trăm năm trong cõi người ta,
Bên chính ắt thắng, bên tà ắt thua.

Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Sđd, t. 9, tr. 462-463.

... Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ và anh dũng hy sinh của toàn quân và toàn dân ta, chúng ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ vào mùa Hè năm 1954. Lực lượng thực dân Pháp bị tan vỡ. Chúng phải nhận đình chiến. Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà bình ở Đông Dương được lập lại trên nền tảng công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các dân tộc Đông Dương.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

Một lần nữa, chủ nghĩa Mác-Lênin đã soi đường cho giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam kháng chiến cứu nước thành công, giữ gìn thành quả cách mạng của mình...

Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Sđd, t. 10, tr. 11-12.

Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn.

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ mười chiến thắng Điện Biên Phủ, thiên hạ đang dự đoán sẽ có một Điện Biên Phủ mới ở miền Nam Việt Nam. Người Pháp nói nhiều về điều đó, vì họ có nhiều kinh nghiệm! Họ nói: "Mỹ đang thua ở miền Nam Việt Nam và đang đi đến một Điện Biên Phủ" (AFP, 16-4-1964)...

Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Sđd, t. 11, tr. 261-262.

Trước đây 10 năm, chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ, anh dũng của quân và dân nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại; cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công.

Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Sđd, t. 11, tr. 266.
______________________________________________________
1. Con số công khai của Pháp (T.G).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #158 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 11:01:18 pm »


KỶ NIỆM LẦN THỨ 30 CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ1
(Trích)

TRƯỜNG CHINH

I

Thưa các đồng chí và các bạn,

Cách đây 30 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân nước ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược đại thắng trong Đông Xuân 1953-1954, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Mọi người còn nhớ, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám của nhân dân Việt Nam thành công, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược nước ta một lần nữa, hòng đặt lại ách thống trị thuộc địa của chúng trên khắp Đông Dương. Tướng lĩnh Pháp tưởng có thể nhanh chóng kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh xâm lược bằng "một cuộc hành quân dạo mát!". Nhưng chúng đã lầm to. Theo lời kêu gọi của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân ta, từ Nam đến Bắc, đã nhất tề đứng lên kháng chiến, cứu nước. Thực dân Pháp thất bại trong chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh, đã buộc phải chuyển sang đánh kéo dài, ngày càng lún sâu vào thế bị động về chiến lược, gặp nhiều khó khăn về quân sự, chính trị, kinh tế...

Năm 1953, cuộc kháng chiến lâu dài của nhân dân Việt Nam bước sang năm thứ tám. Quân và dân ta càng đánh càng mạnh, càng nắm vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, trên các mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao.

Trong thế bị sa lầy, nguy khốn, thực dân Pháp phải yêu cầu đế quốc Mỹ viện trợ, hòng tìm một lối thoát cho cuộc chiến tranh hao người, tốn của, "cuộc chiến tranh bẩn thỉu" mà nhân dân Pháp, nhân dân tiến bộ trên thế giới phỉ nhổ và lên án nghiêm khắc.

Sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa đế quốc bị suy yếu nghiêm trọng, nhưng vẫn tìm mọi cách chống lại thế tiến công chiến lược của ba dòng thác cách mạng đã hình thành và đang cuồn cuộn dâng cao. Sau khi đình chiến ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ gây sức ép buộc Pháp tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược ở Đông Dương và bản thân Mỹ cũng trực tiếp can thiệp vào cuộc chiến tranh đó. Ý đồ đen tối của Mỹ là muốn gạt Pháp ra khỏi bán đảo này, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở Đông Dương và kiểm soát cả vùng Đông Nam châu Á.

Kế hoạch Nava, một kế hoạch điên cuồng đầy tham vọng của cả Pháp và Mỹ, đã ra đời trong bối cảnh ấy. Mục tiêu của kế hoạch đó là giành thắng lợi quyết định trong vòng 18 tháng để kết thúc chiến tranh có lợi cho Pháp, và đương nhiên cũng tạo điều kiện cho Mỹ nắm lấy Đông Dương.

Trung ương Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc thế chiến lược giữa ta và địch trên chiến trường, đánh giá đúng lực lượng đối sánh giữa hai bên và nhận định chính xác là thời cơ giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến lâu dài đã đến. Đảng đã hạ quyết tâm giữ vững quyền chủ động chiến lược, buộc địch tiếp tục lún sâu vào thế bị động phòng ngự, phát triển mạnh mẽ thế tiến công chiến lược của ta, đập tan kế hoạch Nava, và phát huy sức cố gắng cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, chớp lấy thời cơ, giành thắng lợi quyết định cho cuộc kháng chiến chống Pháp.

Một kế hoạch tác chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954 đã được vạch ra và được triển khai nhanh chóng. Phương châm "tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" đã được xác định.

Cả nước Việt Nam ra trận. Các chiến trường phối hợp chặt chẽ, đồng loạt tiến công. Kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích, đánh cả trước mặt, bên sườn và sau lưng địch, cả ở rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị, quân và dân ta liên tiếp giáng cho địch những đòn rất hiểm, rất đau. Chúng phải phân tán binh lực, bị động đối phó trên khắp các chiến trường, cả ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ, cả ở Thượng Lào, Hạ Lào và miền Đông Campuchia. Vừa được xây dựng để hòng giành lại quyền chủ động chiến lược, khối cơ động chiến lược của địch đã bị phá vỡ.

Sau những trận đầu, kế hoạch Nava đã đứng trước nguy cơ phá sản. Vẫn hy vọng giành lại chủ động trong thế bị động, Nava chủ quan và liều lĩnh đổ thêm quân tinh nhuệ của Pháp xuống Điện Biên Phủ, và quyết định xây dựng vị trí đó thành một tập đoàn cứ điểm rất mạnh, để thực hiện những âm mưu trước mắt và lâu dài của thực dân Pháp và của cả đế quốc Mỹ.

Thực dân Pháp muốn tạo nên một phòng tuyến vững chắc từ Điện Biên Phủ dọc theo sông Nậm Hu đến Luông Prabăng, thu hút và tiêu diệt chủ lực ta, phá kế hoạch tiến công của ta. Tiếp đó, sang Thu Đông năm 1954, sau khi bình định xong miền Nam, sẽ tập trung lực lượng cơ động chiến lược ra chiến trường Bắc Bộ, mở cuộc tiến công chiến lược, giành thắng lợi quyết định. Còn đế quốc Mỹ thì muốn xây dựng Điện Biên Phủ thành một căn cứ không quân - lục quân chiến lược lợi hại, phục vụ lâu dài cho chính sách xâm lược của chúng ở Đông Dương và Đông Nam châu Á.

Quyết tâm và kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của ta ngay từ đầu đã mang lại kết quả rõ rệt. Các cuộc tiến công liên tiếp của chủ lực ta nổ ra ở Lai Châu (Tây Bắc), ở Thượng Lào, Trung Lào, Hạ Lào, bắc Tây Nguyên. Trên chiến trường hai nước láng giềng ở Đông Dương có sự phối hợp của Quân giải phóng Lào và Quân giải phóng Campuchia. Ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Chiến tranh du kích phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, cực nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Trên chiến trường cả nước, đặc biệt là ở chiến trường Bắc Bộ, có thêm những thuận lợi mới cho ta, Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược của quân và dân cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Ngày 13-3-1954, cuộc đại tiến công của quân ta vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu. Cả nước đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường với Điện Biên Phủ, "đem toàn lực chi viện Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho Chiến dịch này"2.

Cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ diễn ra quyết liệt suốt 55 ngày đêm liên tục. Sau khi cân nhắc kỹ các phương án tác chiến, thấm nhuần tư tưởng "đánh chắc thắng", quân ta đã quyết định theo phương châm "đánh chắc, tiến chắc"; do đó, đã triển khai công tác chuẩn bị tiếp cho chiến dịch, từ kế hoạch tác chiến đến tổ chức lực lượng, bổ sung quân số, bảo đảm hậu cần, v.v., để đánh địch trong một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày, xa hậu phương chiến lược.

Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, quân ta đã chiến đấu vô cùng anh dũng, phát huy tác dụng của các loại vũ khí có trong tay, từ vũ khí thô sơ đến vũ khí hiện đại, tìm ra nhiều cách đánh sáng tạo, vừa đánh hợp đồng, vừa đánh độc lập, xây dựng trận địa tiến công và vây hãm quân thù, hạn chế đến mức tối đa ưu thế của địch về không quân, pháo binh và xe tăng; hạn chế đi đến triệt hẳn nguồn tiếp tế và tiếp viện của chúng. Cuối cùng, ta đã tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào chiều ngày 7-5-19543.

Chúng ta đã toàn thắng trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Kế hoạch Nava bị phá sản hoàn toàn!

Quân và dân ta đã đánh bại cố gắng chiến tranh cao nhất của Pháp có Mỹ giúp sức, giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký Hiệp định Giơnevơ, kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam, chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ của Pháp, đã giành được thắng lợi vĩ đại.
___________________________________________________
1. Trường Chinh: Kỷ niệm lần thứ 30 chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1984.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.88.
3. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên địch, thuộc các đơn vị thiện chiến nhất của đội quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, cùng với toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh. Tính chung trên toàn chiến trường Đông Dương trong Đông Xuân 1953-1954, Pháp đã mất hơn 110.000 quân và rất nhiều trang bị kỹ thuật hiện đại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 12230



« Trả lời #159 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2022, 11:05:19 pm »


Thưa các đồng chí và các bạn,

Ba mươi năm đã qua, Điện Biên Phủ, cái tên kỳ diệu ấy đã đi vào lịch sử dân tộc ta như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Thời gian không làm phai mờ ý nghĩa thắng lợi vĩ đại của Điện Biên Phủ, của cuộc toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp, trái lại càng làm nổi bật tinh thần cách mạng, khí phách anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 với Chiến dịch Điện Biên Phủ là kết cục tất yếu của cuộc chiến tranh yêu nước, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lênin. Nó phản ánh tính tất yếu thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử xã hội loài người.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp đã bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ ở ba nước Đông Dương, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn làm cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và giải phóng miền Nam khỏi ách thực dân mới của đế quốc Mỹ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Điện Biên Phủ và của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là thắng lợi chung của ba dân tộc anh em Việt Nam, Lào, Campuchia cùng chiến đấu và cùng chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ.

Đối với phong trào cách mạng thế giới, sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mở đầu thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và tiếp đó là thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, đánh dấu một bước phát triển mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng là hồi kèn chiến thắng của nhân dân ta trong trận đầu chống bọn can thiệp Mỹ, là khúc nhạc mở màn cho bản trường ca chống Mỹ, cứu nước, chuẩn bị cuộc đụng đầu lịch sử giữa nhân dân Việt Nam với đế quốc Mỹ sau này.

Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào chính đáng của dân tộc Việt Nam, là niềm tin sắt đá của các dân tộc bị áp bức vùng lên chiến đấu để tự giải phóng cho mình.

Cuộc sống càng chứng minh nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng:

Chiến thắng Điện Biên Phủ "là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công"1.

Thưa các đồng chí và các bạn,

Điện Biên Phủ là thắng lợi của độc lập dân tộc đối với chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc.

Điện Biên Phủ chứng minh một chân lý: trong thời đại ngày nay, một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng quyết tâm chiến đấu, đoàn kết chặt chẽ, có Đảng Mác - Lênin chân chính lãnh đạo, lại được sự ủng hộ quốc tế, thì hoàn toàn có thể lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và đánh bại chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, giành lại độc lập, tự do.

Chân lý ấy lại được chứng minh trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ trong hàng ngũ đế quốc ...

... Vì sao dân tộc Việt Nam, một dân tộc đất không rộng, người không đông, kinh tế lạc hậu, lại có thể đánh thắng những kẻ thù xâm lược lớn hơn mình gấp nhiều lần?

Câu trả lời có thể tóm tắt như sau: nhân dân Việt Nam nồng nàn yêu nước, đoàn kết một lòng quyết đánh và quyết thắng, biết đánh và biết thắng, lại có sức mạnh hỗ trợ của thời đại.

Chúng ta quyết đánh và quyết thắng, biết đánh và biết thắng, vì nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, có ý thức độc lập, tự chủ cao. "Nước mất, nhà tan", đạo lý ấy thấm sâu vào tình cảm và lý trí của các thế hệ người Việt Nam, từ đời này qua đời khác. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, mọi người Việt Nam đều đứng lên giữ nước, giữ nhà, bằng những cách đánh giặc thông minh và dũng cảm.

Lòng yêu nước, tinh thần làm chủ đất nước của nhân dân ta đã được khơi dậy và bùng lên, khi cách mạng Việt Nam được ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin do Chủ tịch Hồ Chí Minh mang lại. Cách mạng Việt Nam bước vào quỹ đạo của cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Từ khi có Đảng lãnh đạo, nhân dân Việt Nam càng có ý thức sâu sắc về vai trò lịch sử, về khả năng và sức mạnh của mình. Do đó, đã quyết tâm chiến đấu, đoàn kết một lòng, đi theo con đường mà Đảng đã vạch ra.

Quyết đánh và quyết thắng, biết đánh và biết thắng còn bắt nguồn từ đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta.

Đó là đường lối chính trị lãnh đạo toàn dân làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài2, dựa vào sức mình là chính, đồng thời ra sức tranh thủ viện trợ quốc tế. Thực hiện đường lối kháng chiến đó, quân và dân ta đã nghĩ ra nhiều cách đánh rất tài tình. Đó là cách đánh thích hợp với trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước, phát huy truyền thống và kinh nghiệm lâu đời của chiến tranh nhân dân Việt Nam - vươn lên chính quy và hiện đại - với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt do quân và dân ta sáng tạo ra. Cách đánh ấy thấm nhuần tư tưởng cách mạng tiến công, luôn luôn chủ động và kiên quyết tiêu diệt địch, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!". Nhờ vậy, quân và dân ta cuối cùng đã đánh thắng những đội quân nhà nghề của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc. Chính tên bại tướng Nava đã phải thừa nhận: "Bao giờ Việt Minh cũng từ chối chiến tranh cổ điển và bắt Pháp phải theo hình thức chiến tranh của họ", cuộc chiến tranh mà "chưa có một học viện quân sự nào nghiên cứu kỹ lưỡng"3.

Với chính sách vừa kháng chiến vừa kiến quốc, kết hợp đúng đắn nhiệm vụ chống phong kiến với nhiệm vụ chống đế quốc, kết hợp huy động sức dân với bồi dưỡng sức dân để kháng chiến lâu dài, Đảng đã chủ trương phát động quần chúng thực hiện giảm tô và cải cách ruộng đất ngay trong kháng chiến. Hậu phương của cuộc chiến tranh nhân dân không ngừng được củng cố và tăng cường, chi viện ngày càng nhiều sức người, sức của, tạo thêm sức mạnh vật chất và tinh thần của tiền tuyến.

Với cải cách ruộng đất, Mặt trận dân tộc thống nhất trên nền tảng liên minh công nông được mở rộng một cách vững chắc, điều đó cho phép động viên và phát triển sức mạnh tiềm tàng của đất nước, của dân tộc. Sức mạnh ấy là sản phẩm của sự kết hợp lực lượng chính trị với lực lượng quân sự, kết hợp sức mạnh của truyền thống dân tộc với sức mạnh hiện tại về mọi mặt của toàn dân.

Để đánh thắng những tên đế quốc to, Đảng ta đã ra sức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng hậu với ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đó là mũi mác của cuộc kháng chiến, là lực lượng nòng cốt của toàn dân đánh giặc.

Dưới sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, lực lượng vũ trang nhân dân của ta đã phát huy được bản chất cách mạng tốt đẹp, có tinh thần chiến đấu dũng cảm, có kỷ luật tự giác, nghiêm minh, có tổ chức vững mạnh, có trang bị hiện đại, nắm được khoa học và nghệ thuật quân sự cách mạng. Với lực lượng nòng cốt đó, nhân dân ta đã đánh thắng được các đội quân xâm lược của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ...

Chúng ta biết đánh và biết thắng còn vì quân và dân ta chiến đấu trong sự phối hợp chặt chẽ với quân và dân Lào, quân và dân Campuchia trên toàn chiến trường Đông Dương. Chúng ta lại luôn luôn tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của cả loài người tiến bộ. Nhân dân Việt Nam làm nhiệm vụ dân tộc của mình, đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương và tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân toàn thế giới, vì vậy đồng minh của nhân dân Việt Nam rất rộng, bầu bạn của nhân dân Việt Nam rất đông.

Kết hợp sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại mới, Đảng ta đã thống nhất được cuộc chiến đấu của nhân dân ta với thế tiến công của ba dòng thác cách mạng trên thế giới. Chính hai nguồn sức mạnh đó đã chắp cánh cho cách mạng Việt Nam, cho chiến tranh nhân dân Việt Nam tới đích cuối cùng.

Quyết đánh và quyết thắng, biết đánh và biết thắng, nhân dân Việt Nam đã thắng trong chiến tranh giải phóng dân tộc và trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc...

Chiến tranh nhân dân Việt Nam là một kinh nghiệm sáng tạo thành công của thời đại, một thắng lợi vĩ đại của phong trào giải phóng dân tộc ở thế kỷ XX.

Bằng kinh nghiệm của mình, nhân dân Việt Nam đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng kinh nghiệm của các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập, tự do.

Thắng lợi rực rỡ của nhân dân Việt Nam và của nhiều dân tộc trên các lục địa, từ Cuba, Ănggôla đến Êtiôpi, Môdămbích, từ Nicaragoa đến En Xanvađo, v.v. đang cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Những thắng lợi đó đang làm tan rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, đồng thời góp phần mở rộng hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội.

Bộ mặt của thế giới đang thay đổi nhanh chóng!
_________________________________________________________
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 220.
2. Toàn dân đánh giặc, chứ không phải chỉ có bộ đội đánh giặc; đánh về các mặt quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, ngoại giao...; luôn luôn tiêu diệt và tiêu hao địch, bồi dưỡng và phát triển lực lượng ta, bảo đảm đủ sức đánh lâu, càng đánh càng mạnh, nhằm đạt thắng lợi cuối cùng.
3. Xem H. Nava: Đông Dương hấp hối, Sđd, tr. 38-39.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM