Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Mười Một, 2021, 07:16:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc  (Đọc 218 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« vào lúc: 17 Tháng Mười, 2021, 01:17:18 pm »

Tên sách: Đại thắng mùa xuân 1975 theo những cánh quân thần tốc
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh, vnmilitaryhistoy


Chỉ đạo biên soạn:

Đại tá, TS LÊ VĂN ĐỆ

Ban biên soạn:

Đại tá, TS PHẠM HUY DƯƠNG

Đại tá, ThS PHẠM BÁ TOÀN

Đại tá, Nhà văn HOÀNG ĐỨC NHUẬN

Đại tá, TS LÊ BÁ HÙNG

Đại tá, NGUYỄN THIỆN KHẢO

 

LỜI GIỚI THIỆU


Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc là một thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta, mở ra khả năng hoà bình thống nhất đất nước. Sau 9 năm chiến đấu đầy hi sinh, gian khổ, hớn ai hết, nhân dân ta có nguyện vọng tha thiết được sống trong hoà bình và thống nhất Tổ quốc.


Trong những năm từ 1950 đến 1954, trên thực tế, nhân dân ta đã phải tiến hành cuộc chiến tranh không chỉ với Pháp mà cả với Mỹ. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy sức mạnh kinh tế, quân sự và cả sự tàn bạo, nguy hiểm của đế quốc Mỹ. Vì vậy, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, Đảng ta, nhân dân ta đã hết sức kiềm chế, tìm nhiều cách để tránh cuộc chiến tranh trực tiếp với đế quốc Mỹ. Nhưng là một cường quốc quân sự tham vọng thống trị, "lãnh đạo" thế giới, theo đuổi chiến lược toàn cầu, đối với đế quốc Mỹ, Việt Nam là một mắt xích, một trọng điểm, một điểm nóng trong chiến lược toàn cầu đó. Dùng chính trị, kinh tế, quân sự và tiến hành chiến tranh để thôn tính miền Nam nước ta, Mỹ không chỉ nhằm áp đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ ở mảnh đất này mà còn nhằm thực hiện chiến lược toàn cầu ngăn chặn phong trào cách mạng, răn đe các nước xã hội chủ nghĩa, đàn áp phong trào giải phóng dân tộc. Mục tiêu chiến lược toàn cầu đầy tham vọng đó và lợi ích của giới tư bản Mỹ là yếu tố quyết định âm mưu, hành động chiến tranh và thúc đẩy chiều hướng leo thang chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam từ đầu những năm 50 đến 1975.


Chính đế quốc Mỹ đã đẩy nhân dân ta vào tình thế không có sự lựa chọn nào khác, không còn con đường nào khác là phải chiến đấu. Không chiến đấu chống Mỹ sẽ không thể hoàn thành được sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Tổ quốc, mà sẽ có nguy cơ hoặc mất nước, hoặc đất nước bị chia cắt lâu dài. Vì thế chúng ta phải chấp nhận một cuộc chiến đấu mới. Đây là cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc chống sự xâm lược tàn bạo và những mưu đồ thâm độc của đế quốc Mỹ vì quyền lợi tối cao, sự mất còn của dân tộc ta và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước mà đỉnh cao chói lọi là Chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975 đã bảo vệ được nền độc lập của dân tộc, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, khởi đầu một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên của nước Việt Nam độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội; Kỷ nguyên của nước Việt Nam thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đây là một trong những sự kiện lớn nhất không chỉ trong lịch sử ngàn năm của dẫn tộc ta, mà còn của lịch sử nhân loại thế kỷ XX.


Xác định tầm vóc to lớn, ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tìm ra nguyên nhân dân đến thắng lợi của quân và dân ta, tổng kết những bài học kinh nghiệm sâu sắc... của đâu tranh và chiến thắng là nguyện vọng cũng là trách nhiệm, của các thế hệ người Việt Nam, không chỉ để khẳng định quá khứ anh hùng mà còn thể hiện lòng biết ơn cha anh, như chính các tác giả của công trình này đã tâm niệm rằng: "Thế hệ chúng ta và mai sau vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, khám phá, vận dụng vào hoạt động quân sự, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc".


Sau khi trình bày tiến trình cuộc đối đầu chiến lược từ chiến tranh đặc biệt đến chiến tranh cục bộ và Việt Nam hoá chiến tranh dẫn tới thắng lợi từng bước, ngày càng to lớn của quân dân ta, thất bại ngày càng nặng nề của đế quốc Mỹ và tay sai, các tác giả đã phân tích, đánh giá các sự kiện từ khởi đầu đến trận quyết chiến chiến lược cuối cùng - Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân 1975. Với tầm nhìn của những người trong cuộc, sỹ quan quân đội, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu khoa học quân sự. Công trình cũng đã trình bày sáng rõ, với những sự kiện lịch sử cụ thể, chuẩn xác, sự hình thành, phát triển và những chiến công to lớn của những binh đoàn, những cánh quân thần tốc trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Cùng với những cố gắng nhìn cuộc chiến tranh một cách tổng thể, toàn diện, phát huy thế mạnh của mình, các tác giả của công trình đã tập trung phân tích, làm rõ những vấn đề chiến lược, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, về nghệ thuật quân sự và nghệ thuật chiến dịch của chiến tranh nhân dân Việt Nam.


Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta là một kỳ tích, còn nhiều giá trị và ý nghĩa tiềm ẩn trong sự kiện lịch sử đó. Cần sự nối tiếp nhau của nhiều thế hệ để tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của sự kiện này. Mặc dầu không tránh khỏi những nhược điểm và thiếu sót, song công trình này như là một nỗ lực của quá trình chạy tiếp sức để khám phá và phát hiện tầm vóc, ý nghĩa và những giá trị lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc ta.

Với ý nghĩa đó, tôi vui mừng giới thiệu với bạn đọc công trình này.


Đại tá, PGS, TS. ĐINH XUÂN DŨNG
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #1 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:23:32 pm »

PHẦN I
Những cuộc đối đầu chiến lược


I. Chiến tranh đạc biệt

Vào thời điểm những năm cuối của thập kỷ năm mươi, trên thế giới nổi lên ba điểm nóng: Trung Đông, Cu Ba, Việt Nam. Song, ở Trung Đông, mặc dù có những cuộc chiến tranh giữa các nước Arập với Ixraen, nhưng các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở đó do giai cấp tư sản dân tộc lãnh đạo. Lợi ích của các nước đế quốc, các công ty tư bản độc quyền ở vùng này không bị đe doạ. Mặt khác, Ixraen đồng minh của Mỹ - đủ mạnh để ngăn chặn phong trào cách mạng ở Trung Đông thay Mỹ, cho nên Hoa Kỳ chưa can thiệp trực tiếp, ở Cu Ba, bị thất bại trong vụ đưa quân đánh tHuế xâm lược Cu Ba ở vịnh Con Lợn tháng 4-1961 và cuộc khủng hoảng tên lửa ở vùng Caribê tháng 10- 1962. Mỹ buộc phải cam kết không xâm lược Cu Ba để đổi lấy việc Liên Xô rút tên lửa khỏi nước này; âm mưu của Mỹ là dùng phong toả, cấm vận kinh tế, kết hợp với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt hòng làm sụp đổ Cu Ba. Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống Pháp, giành độc lập dân tộc và cuộc đấu tranh chống Mỹ xâm lược bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới đang làm suy yếu một hướng chiến lược trọng yếu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Những thắng lợi của Việt Nam trong cuộc chiến chống Pháp đã góp phần làm thức tỉnh lương tri nhân loại, cổ vũ các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa vùng lên đấu tranh để tự giải phóng. Việt Nam trở thành một ngọn cờ của phong trào giải phóng dân tộc, tiêu biểu cho sự kết hợp các trào lưu cách mạng của thời đại. Các nhà chiến lược Mỹ nhận định rằng có đè bẹp được cuộc kháng chiến của Việt Nam, Mỹ mới có thể đẩy lùi được phong trào đấu tranh của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Vì vậy, Việt Nam trở thành trọng điểm trong chính sách ngăn chặn của Mỹ - nơi diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống đế quốc chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.


Hòng biến Việt Nam thành một con đê ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở phía Đông Nam châu Á, trong sáu năm kể từ năm 1953 đến năm 1960, Mỹ đã dựng lên ở miền Nam chính quyền Ngô Đình Diệm và viện trợ cho chính quyền ấy khoảng 2 tỷ đôla, trung bình mỗi năm 300 triệu. Số việr trợ của Mỹ đủ nuôi bộ máy Ngụy quân, Ngụy quyền để đàn áp các cuộc đấu tranh hoà bình yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam, chuẩn bị "lấp sông Bến Hải". Với chiêu bài "độc lập", "tự do", cùng với viện trợ tương đối dồi dào, Mỹ che đậy một phần bộ mặt xâm lược thực dân của chúng, giữ cho chế độ Sài Gòn, trong những năm 1957, 1958, bề ngoài có vẻ ổn định. Mỹ hy vọng sẽ hoàn tất chương trình bình định miền Nam trong một vài năm tiếp theo, rồi chuyển sang thực hiện kế hoạch khai thác, kinh doanh. Điều hoàn toàn bất ngờ đối với Mỹ là tình hình miền Nam tưởng chừng như đang "biển lặng sóng yên", thì năm 1960, nhân dân ta đồng loạt nổi dậy, đánh sập bộ máy cai trị của địch ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ và một số vùng của các tỉnh Khu V, Tây Nguyên. Cuộc đồng khởi thắng lợi làm tiêu tan hy vọng của Mỹ, làm lộ rõ bộ mặt tay sai bán nước của tập đoàn Ngô Đình Diệm, tạo ra một bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến lược ở miền Nam Việt Nam có lợi cho cách mạng. Chủ nghĩa thực dân đứng trước nguy cơ tan rã. Giữa lúc đó vào năm 1959-1960 tình hình ở Lào có nhiều biến động. Theo các yêu cầu của Lào, khởi đầu là tiểu đoàn Pathét Lào tiếp đến là Coongle - Bộ trưởng bộ quốc phòng trong chính phủ Vương quốc Xuyanaphuma, tiếp nữa là chính phủ ba phái do hoàng thân Xuyanaphuma làm thủ tướng, Việt Nam liên tiếp phái Quân tình nguyện sang giúp bạn Lào tiến công giải phóng thị xã Sầm Nưa; Cánh Đồng Chum, Noọng Hét (Xiêng   Khoảng), Thị xã Phong Xa Lỳ, Nậm Bạc, Bản Ban, Tha Viềng, Vang Viêng, Tha Thơm, Mường Hiềm, Pa Thí. Chính phủ liên hợp Lào yêu cầu Liên Xô, Trung Quốc viện trợ. Liên Xô đưa sang một Trung đoàn không quân và lập cầu hàng không để tiếp tế cho Lào, Trung Quốc giúp vũ khí bộ binh. Trước tình hình đó, Mỹ định đưa 30.000 quân chiến đấu của các nước trong hiệp uớc SEATO vào "bảo vệ" Đông Dương theo kiến nghị của Ngoại trưởng Đin Raxcơ, nhưng Anh và Pháp không ủng hộ. Tình hình cách mạng Đông Dương, đặc biệt ở Việt Nam phát triển mạnh theo chiều hướng bất lợi đối với Mỹ-Ngụy1 (Trong Nhìn lại quá khứ..., Mắc Namara kể lại rằng, ông đã nói với Kennơđi: "Trước khi có bất cứ cam kết gì ở Đông Dương, nên cân nhắc, so sánh Lào với các vấn đề thế giới khác". Cụ thể Mắc Namara cho biết, lúc bấy giờ, vấn đề Béclin đã căng thẳng đến mức Bộ Quốc phòng Mỹ "đang dự tính chuyển 6 sư đoàn (khoàng 90.000 quân chiến đấu) đến châu Âu". Nếu thế, "không thể tưởng tượng được rằng Mỹ lại có khả năng làm như vậy và tiến hành một cuộc chiến ở Đông Nam Á mà không có cuộc tổng động viên"). Cùng vào thời điểm này, chiến lược quân sự toàn cầu trả đũa ồ ạt tượng trưng cho sức mạnh của Mỹ cùng với những chính sách và biện pháp để thực hiện chiến lược đó đã không ngăn chặn được sự lớn mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa - nhất là Liên Xô, Trung Quốc và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Tình hình Béclin và Cônggô căng thẳng. Cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô diễn ra gay gắt. Liên Xô vượt Mỹ về chế tạo vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Điều này đặt Mỹ trước một tình thế khó khăn trước phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh sự lớn mạnh của Liên Xô hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc. Năm 1961 giữa lúc khó khăn, Kennơđi được bầu làm Tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao.


Sau khi xem xét, đánh giá lại toàn bộ tình hình thế giới và trong nước, chính quyền Kennơđi quyết định loại bỏ chiến lược trả đũa ồ ạt vì không thể ngăn chặn nổi những cuộc chiến tranh nổi dậy (chiến tranh giải phóng), tiêu biểu là ở Việt Nam. Kennơđi quyết định thành lập Nhóm đặc nhiệm gồm các quan chức nội các mới, do Rốtnen Ginpatrích, Thứ trưởng Quốc phòng lãnh đạo, nghiên cứu, thăm dò các hướng hành động của Mỹ để đối phó với tình hình Việt Nam và thế giới. Nhóm này vạch kế hoạch hành động toàn diện gồm các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, công khai và bí mật, tăng nhanh số lượng nhân viên quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam. So sánh Việt Nam với nhiều nơi khác trên thế giới mà trọng điểm là châu Âu, với khả năng của Mỹ, Kennơđi chưa thể tự tung tự tác mà trước mắt chỉ cho phép đưa vào Việt Nam khoảng 100 đến 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt để huấn luyện quân Ngụy; đồng thời, chấp nhận phương hướng chiến lược toàn cầu mới do Mácxoen Taylơ đề xướng: chiến lược phản ứng linh hoạt. Thực hiện chiến lược mới này, Mỹ vẫn duy trì lực lượng hạt nhân chiến lược, đồng thời phát triển lực lượng thông thường để tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế. Theo đánh giá của các nhà quân sự Mỹ thì việc phát triển chiến tranh hạn chế là rất có lợi, vì tránh được đụng độ với các nước lớn trong phe xã hội chủ nghĩa, nhưng lại có thể giành thắng lợi ở các nơi khác bằng cách chủ động tạo ra ưu thế trong từng cuộc chiến tranh cụ thể do Mỹ lựa chọn như cuộc chiến tranh Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #2 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:28:06 pm »

Căn cứ vào việc sử dụng lực lượng, các nhà vạch chiến lược Mỹ phân chiến tranh hạn chế thành hai hình thức:

Một là, hình thức chiến tranh đặc biệt, trong đó, dùng quân bản xứ làm lực lượng chiến lược chủ yếu, Mỹ giữ vai trò cố vấn, chỉ huy.

Hai là, hình thức chiến tranh cục bộ trong đó quân Mỹ làm lực lượng chiến lược, trực tiếp tiến hành chiến tranh ngoài lãnh thổ nước Mỹ.


Cả hai hình thức chiến tranh hạn chế trên đây là một bộ phận quan trọng hợp thành chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt, được các nhà quân sự Lầu Năm Góc đánh giá là "lưỡi kiếm" tiến công sắc bén vào những nơi nguy hiểm nhất đối với "thế giới tự do".


Đế quốc Mỹ triển khai chiến lược Chiến tranh đặc biệt cuộc chiến tranh bằng quân đội Ngụy tay sai với tiền của, vũ khí và sự chỉ huy của Mỹ - nhằm đè bẹp và tiêu diệt cách mạng miền Nam. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị song song, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân ở miền Nam để đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ và tay sai.


Từ cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm đứng trước nguy cơ thất bại, đế quốc Mỹ có ý đồ thay đổi chiến lược, chuyển sang dùng chiến tranh đặc biệt để đối phó với cách mạng miền Nam, chiếm lại những địa bàn và vùng dân cư đã mất do cuộc đồng khỏi của ta.


Chiến tranh đặc biệt, chiến lược đầu tiên trong ba loại chiến tranh của chiến lược quân sự toàn cầu phản ứng linh hoạt của đế quốc Mỹ. Đặc điểm của chiến lược này là dùng quân đội Ngụy tay sai làm công cụ tiến hành chiến tranh. Cốt lõi của chiến lược chiến tranh đặc biệt là kế hoạch Xtalây - Taylo - còn có tên gọi là kế hoạch 3M (Man = con người + Money = tiền + Materia = vật liệu) - kế hoạch bình định miền Nam trong 18 tháng (từ giữa năm 1961 đến hết năm 1962), sau đó là kế hoạch Giônxơn - Mắc Namara bình định miền Nam trong 2 năm 1963 - 1964. Nội dung vẫn là kế hoạch Xtalây - Taylo có sửa đổi và nâng cao mức độ quyết liệt.


Mỹ, Diệm coi việc lập ấp chiến lược là "quốc sách" và là "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Mục tiêu của chúng là lập 16.000 ấp trong tổng số 17.000 ấp ở toàn miền Nam. Để thực hiện kế hoạch đó, địch đã tiến hành nhiều thủ đoạn, biện pháp khốc liệt và đẫm máu: bắn pháo ném bom bừa bãi, phá ruộng vườn, hÚc ủi nhà cửa, rải chất độc hoá học. Chúng đã mở hàng chục nghìn cuộc hành quân càn quét dài ngày, dùng bom đạn đánh phá ác liệt, chà đi xát lại từng khu vực để lừa dân vào ấp. Chúng dùng cả máy bay trực thăng, xe cơ giới, thiết giáp để "xúc" dân đến những nơi lập ấp. Trong các cuộc càn, địch đã áp dụng những chiến thuật mới của Mỹ mà chúng gọi là "bủa lưới phóng lao", "trên đe dưới búa", "phượng hoàng vồ mồi"... nhằm tiêu diệt bộ đội và du kích, thanh lọc quần chúng, bắt giết cán bộ ta. Các cuộc đột kích bất thần của lính biệt kích Ngụy đánh sâu vào các căn cứ kháng chiến đã gây cho ta không ít khó khăn, lúng túng trong việc bảo vệ hậu phương và căn cứ tại chỗ, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của ta.


Ngày 29 tháng 4 năm 1961, Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ nhóm họp đề ra chính sách, biện pháp và các bước tiến hành chiến tranh đặc biệt ở miền Nam Việt Nam. Ngày 11 tháng 5 năm 1961, Kennơđi chính thức phê chuẩn các quyết định của Hội đồng An ninh Quốc gia, mang tên Bị vong lục về hành động An ninh Quốc gia số 52. Mục tiêu và hành động của Mỹ ở miền Nam được xác định trong Bị vong lục là nhằm: "Để ngăn chặn cộng sản thống trị Nam Việt Nam... để xúc tiến với nhịp độ ngày càng nhanh một loạt những hoạt động hỗ trợ lẫn nhau có tính chất quân sự, chính trị, kinh tế, tâm lý và không công khai nhằm thực hiện mục tiêu nói trên"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121). Những "hoạt động hỗ trợ" đó bao gồm các biện pháp: tăng cường và mở rộng quyền điều hành tác chiến, chỉ huy, yểm trợ của phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG), kể cả việc huấn luyện thêm 20.000 người cho quân đội Sài Gòn, cố vấn cho lực lượng dân vệ lúc đó đã có khoảng 40.000 người; đưa 400 quân thuộc lực lượng đặc biệt Mỹ tới Nha Trang làm nhiệm vụ huấn luyện, trang bị, kể cả việc huấn luyện và trang bị cho lực lượng dân vệ dự tính lên tới 68.000 người để đối phó với chiến tranh du kích; khẩn trương triển khai kế hoạch bình định, lấy việc lập ấp chiến lược làm trọng tâm; tiến hành các chương trình kinh tế để "gây ảnh hưởng ngắn hạn và góp phần vào sự tồn tại lâu dài về kinh tế Nam Việt Nam"2 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1971, t.1, tr.121); phong toả vùng biển, bịt chặt biên giới nhằm chống việc xâm nhập từ miền Bắc vào miền Nam; tiến hành các hoạt động chiến tranh bí mật phá hoại miền Bắc Việt Nam1 (Bị vong lục của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ (NSAM 52) gọi cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc là "Chương trình hành động bí mật". Thoạt đầu, Kennơđi chấp thuận tiến hành các biện pháp như tuyển lựa, huấn luyện, trang bị, đài thọ và tung người vào miền Bắc để thu thập tin tức tình báo; tổ chức lực lượng biệt kích thâm nhập vùng Đông Nam Lào và vào sâu trong nội địa miền Bắc để tiến hành các hoạt động phá hoại; tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý); ra sức củng cố hệ thống Ngụy quyền các cấp; cải thiện quan hệ giữa Chính phủ Sài Gòn với các nước khác, đặc biệt với Chính phủ Campuchia.


Đồng thời với việc chuẩn y các biện pháp trên đây, để tranh thủ sự đồng tình của các đồng minh châu Á và làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn yên tâm về chính sách chiến tranh của Mỹ, thăm dò khả năng triển khai quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam, Kennơđi cử Phó tổng thống Mỹ L.B. Giônxơn sang thăm các nước Philippin, Đài Loan, Thái Lan, Ấn Độ, Pakixtan và miền Nam Việt Nam. Tại Sài Gòn, Giônxơn và Ngô Đình Diệm ra thông cáo chung gồm những thoả thuận chính sau đây:

- Mỹ tăng thêm viện trợ quân sự, kinh tế và cố vấn cho Nam Việt Nam.

- Tăng cường và mở rộng lực lượng vũ trang, bán vũ trang của Sài Gòn gồm quân chủ lực, bảo an và dân vệ.

- Lập nhóm chuyên viên kinh tế, tài chính, quân sự cao cấp của hai bên để xây dựng kế hoạch hành động chung giữa Chính phủ Mỹ và Chính phủ Sài Gòn.

- Mỹ hoan nghênh các nước khác viện trợ và hợp tác với Chính phủ Ngô Đình Diệm.

- Triển khai mạnh mẽ chương trình lập ấp chiến lược.


Ngoài ra, thông cáo chung Giônxơn - Diệm còn khẳng định: Những biện pháp mà hai bên đã thoả thuận "có thể sẽ được tiếp nối bằng những biện pháp rộng lớn hơn nữa"1 (Hồi ký Giôn xơn, VNTTX phát hành, Hà Nội, 1972, tr.33) khi tình hình đòi hỏi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #3 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:29:15 pm »

Thực hiện thoả thuận trên đây, ngày 19 tháng 6 năm 1961, Kennơđi cử "Phái đoàn kinh tế đặc biệt" do E.Stalây thuộc Viện Nghiên cứu Stanphót dẫn đầu sang Nam Việt Nam giúp Diệm xây dựng chương trình bình định. Sau gần một tháng tìm hiểu tình hình tại chỗ, gặp gỡ một số nhân vật phụ trách về bình định trong chính quyền Sài Gòn, hội đàm với Diệm, cuối tháng 7 năm 1961, phái đoàn Stalây trình lên Kennơđi bản báo cáo trong đó yêu cầu Chính phủ Mỹ tăng thêm viện trợ về quân sự và kinh tế để phục vụ cho kế hoạch bình định. Kế hoạch này gồm ba giai đoạn.


Giai đoạn 1: Dự định trong vòng 18 tháng (kể từ giữa năm 1961 đến cuối năm 1962), cơ bản "bình định" xong miền Nam bằng cách triển khai mạnh mẽ việc dồn dân tập trung vào 16.000 ấp chiến lược để triệt phá cơ sở cách mạng ở nông thôn; phát triển quân đội Sài Gòn gồm quân chính quy, bảo an, dân vệ, đồng thời tăng cường lực lượng yểm trợ Mỹ nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam; thiết lập hệ thống cứ điểm chốt chặn ở biên giới và giới tuyến quân sự tạm thời, tăng cường tuần tra, kiểm soát vùng biển để ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam; đẩy mạnh các hoạt động tình báo, gián điệp, biệt kích, chiến tranh tâm lý... chống phá miền Bắc, hỗ trợ cho nỗ lực "bình định" ở miền Nam.

Giai đoạn 2: Dự kiến trong năm 1963, củng cố những kết quả đạt được trong giai đoạn một bằng cách tập trung vào khôi phục kinh tế, hoàn tất chương trình "bình định", tiếp tục tăng cường quân Ngụy, đẩy mạnh các hoạt động chống phá miền Bắc.

Giai đoạn 3: Dự kiến trong hai năm 1964 và 1965, hoàn tất các mục tiêu của chiến lược chiến tranh đặc biệt bằng việc chuyển hẳn trọng tâm sang phát triển kinh tế trong khi vẫn tiếp tục tăng cường quân Ngụy nhằm làm cho miền Nam trở thành một quốc gia mạnh về quân sự, phồn vinh về kinh tế của "thế giới tự do".


Dựa trên kế hoạch này, từ tháng 7 năm 1961, Mỹ - Ngụy gấp rút tăng cường lực lượng vũ trang, tổ chức và kiện toàn bộ máy chỉ đạo "bình định" từ trung ương xuống các tỉnh, liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá ác liệt cơ sở cách mạng miền Nam, triển khai thí điểm dồn dân, lập "ấp chiến lược" ở các địa phương thuộc Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Quảng Ngãi... và kế đó, áp dụng rộng rãi ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Thomsơn (Thompson), một chuyên gia của quân đội Anh dày dạn kinh nghiệm chống chiến tranh du kích ở Malaixia cũng được mời sang Nam Việt Nam làm cố vấn "Bình định" cho Bộ chỉ huy cố vấn viện trợ Mỹ (MAAG) và cho chính quyền, quân đội Sài Gòn. Diệm còn cử các phái đoàn và gửi nhiều nhân viên sang Malaixia, Philippin để tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm chống du kích, dồn dân, lập các khu tập trung của những nước này nhằm áp dụng vào miền Nam Việt Nam...


Những cố gắng trên đây của Mỹ - Diệm không mang lại kết quả như Mỹ dự tính. Điều làm cho Mỹ - Diệm đặc biệt lo lắng là các cuộc tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị của quân và dân miền Nam gia tăng ở cả các vùng nông thôn, đô thị và rừng núi, làm cho quân đội Sài Gòi mất dần thế chủ động.


Ngày 18 tháng 10 năm 1961, Chính phủ Mỹ cử Taylo và Rôstâu, hai thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia, dẫn đầu một phái đoàn gồm các chuyên gia về quân sự, dân sự sang miền Nam Việt Nam để nghiên cứu, đánh giá lại tình hình cụ thể và kết luận tại chỗ, đề ra các phương án đối phó. Phái đoàn này đề ra ba phương án hành động của Mỹ như sau:

- Đưa vào miền Nam Việt Nam ba Sư đoàn quân Mỹ để "đánh bại Việt cộng".

- Đưa tượng trưng một số quân chiến đấu Mỹ "cốt nhằm mục đích xác lập sự có mặt của Mỹ ở Nam Việt Nam" để nâng đỡ tinh thần quân đội và chính quyền Sài Gòn đang sa sút mạnh và cũng để tạo điều kiện cho việc tăng viện quân Mỹ khi cần.

- Tăng thêm viện trợ, vũ khí, trang bị chiến tranh và đẩy mạnh công tác huấn luyện cho lực lượng vũ trang Sài Gòn để nâng cao sức chiến đấu của nó.


Ngày 3 tháng 11 năm 1961, phái đoàn Tay lo gửi về Oasinhtơn bản báo cáo nói trên, trong đó, kiến nghị một loạt các biện pháp cấp bách để cứu vãn tình hình.

- Cử các cố vấn hành chính sang tham gia vào bộ máy chính quyền Sài Gòn.

- Cùng chính phủ Sài Gòn tiến hành các biện pháp cần thiết để cải thiện mạng lưới tình báo quân sự, chính trị trong chính quyền và quân đội.

- Mở cuộc điều tra rộng lớn ở các tỉnh trên khắp miền Nam để lượng định các nhân tố xã hội, chính trị, kinh tế, tình báo, quân sự, tâm lý... có liên quan tới "công tác chống nổi loạn" để có thêm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp hiệu quả hơn.

- Tăng cường viện trợ, vũ khí, trang bị và huấn luyện cho lực lượng bảo an, dân vệ để lực lượng này đủ sức thay thế các đơn vị chính quy làm nhiệm vụ "diện địa" (giữ đất), tạo điều kiện cho các đơn vị chính quy đẩy mạnh các cuộc hành quân cơ động, có tính tiến công.

- Giúp đỡ chính phủ Sài Gòn giám sát và kiểm soát vùng biển và các đường thuỷ nội địa bằng cách cung cấp cố vấn, nhân viên điều hành và phương tiện cần thiết cho nhiệm vụ này.

- Tổ chức lại và tăng biên chế phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ.

- Đưa vào miền Nam Việt Nam một lực lượng quân sự đặc nhiệm gồm 6.000 đến 8.000 quân hoạt động dưới sự chỉ đạo, chỉ huy của Mỹ để tạo ra sự có mặt về quân sự, hỗ trợ cho các hoạt động quân sự và khi cần, có thể mở các cuộc hành quân mang tính chất tiến công. Ngoài ra, lực lượng đặc nhiệm này còn đóng vai trò "như một bộ phận đi trước của lực lượng Mỹ sẽ được đưa vào nếu như dùng đến các kế hoạch khẩn cấp của Tổng Tư lệnh Thái Bình Dương hoặc của khối SEATO"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.140).

- Tăng thêm viện trợ để hỗ trợ thích đáng chương trình "chống nổi loạn mở rộng".
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:30:15 pm »

Ngoài những biện pháp chung trên đây, phái đoàn Taylo còn kiến nghị một "chương trình tham gia có giới hạn" của Mỹ trong lĩnh vực quân sự; cử sang Nam Việt Nam các cố vấn cấp cao tham gia các cơ quan chính phủ và các Bộ chủ chốt; thành lập Ban thanh tra quân sự hỗn hợp từ trung ương xuống Quân khu và các tỉnh; tăng cường một cách cơ bản nhân viên huấn luyện Mỹ ở mọi cấp và trên mọi lĩnh vực quân sự, hành chính, kinh tế, văn hoá, xã hội; triển khai vào Nam Việt Nam các đơn vị công binh, hậu cần, máy bay lên thẳng nằm trong khuôn khổ lực lượng quân sự đặc nhiệm Mỹ đã được đề nghị trước đây; đưa thêm các đội lực lượng đặc biệt Mỹ để cùng lực lượng đặc biệt Sài Gòn tăng cường cho vùng biên giới; đẩy mạnh các hoạt động tiến công bí mật ra miền Bắc Việt Nam và Lào, kể cả những hoạt động biệt kích bằng không quân, nếu tình hình Nam Việt Nam tiếp tục xấu đi, Mỹ sẽ ném bom miền Bắc để gây áp lực.


Để thực hiện Chương trình tham gia có giới hạn, phái đoàn Taylo cho rằng, cần có sự thay đổi trong quy chế tinh thần và tổ chức của Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự ở Nam Việt Nam. "Phái đoàn này cần phải được chuyển từ một tổ chức cố vấn thành một cái gì gần giống - tuy chưa hoàn toàn - một Sở chỉ huy tác chiến tại một nơi có chiến tranh..."1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.99). Hơn thế nữa, để giành thắng lợi, "Mỹ phải trở thành một người tham gia có giới hạn vào cuộc chiến tranh, một mặt phải tránh câu nệ, nghi thức trong việc cố vấn; mặt khác phải tránh tự mình tiến hành chiến tranh"2 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ, tlđd, t.1, tr.141).


Sau một năm thăm dò thử nghiệm, Mỹ từng bước hoàn chỉnh kế hoạch chiến lược chiến tranh đặc biệt và triển khai mạnh mẽ các biện pháp nhằm trước hết, cơ bản "bình định" xong miền Nam Việt Nam trong 18 tháng.

Ngày 8 tháng 2 năm 1962, Phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) được chuyển thành Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ (MACV) do Đại tướng Pôn Hắckiri (Pau Harikins) thay Mácga làm tư lệnh. Dưới quyền chỉ huy và điều hành của MACV, số lượng cố vấn và các đơn vị yểm trợ Mỹ không ngừng tăng lên. Nếu năm 1960, lực lượng yểm trợ và cố vấn Mỹ mới chỉ 1.077 tên, thì năm 1962, con số đó lên tới 10.640 tên gồm hai bộ phận: Cố vấn 2.360 người và 8.280 thuộc lực lượng yểm trợ, đơn vị kỹ thuật. Cố vấn Mỹ không chỉ nắm lực lượng quân đội, lực lượng bảo an và lực lượng dân vệ mà còn len vào tất cả các ngành, các cấp trong bộ máy chính quyền Diệm.


Để tăng cường khả năng chỉ huy và tận dụng được lực lượng quân Ngụy trong công tác bình định, ngay từ thắng 4 năm 1961, hệ thống tổ chức chiến trường theo từng Quân khu được chuyển thành bốn Vùng chiến thuật1 (Vùng chiến thuật 1: từ vĩ tuyến 17 đến hết tỉnh Quảng Ngãi do Quân đoàn 1 Ngụy đảm trách. Vùng chiến thuật II: gồm Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ do Quân đoàn 2 đảm trách. Đầu năm 1963, tách các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long ra khỏi vùng chiến thuật III, thành lập vùng chiến thuật IV) và một Biệt khu. Mỗi Vùng chiến thuật do một Quân đoàn chủ lực đảm nhiệm với đủ thành phần quân địa phương và các quân binh chủng yểm trợ như pháo binh, công binh, thiết giáp, biệt động, biệt kích, không quân, hải quân, tiếp vận... Dưới vùng chiến thuật là khu chiến thuật. Tiếp đó là các tiểu khu (tỉnh), chi khu (quận hoặc huyện). Do vị trí đặc biệt, Sài Gòn - Gia Định được tổ chức thành "Biệt khu Thủ đô". Lực lượng yểm trợ Mỹ được bố trí xuống từng vùng chiến thuật, nhất là các đơn vị máy bay trực thăng và vận tải đường không. Cố vấn quân sự Mỹ có mặt khắp các vùng chiến thuật, khu chiến thuật, tiểu khu chiến thuật và các trung tâm huấn luyện, các cơ quan điều hành tác chiến, chỉ huy, các trại lực lượng đặc biệt, các chi khu trọng yếu.


Phục vụ cho chiến tranh đặc biệt, Mỹ bỏ tiền tHuế hàng chục cơ quan nghiên cứu, trường đại học, tổ hợp công nghiệp... nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, đưa vào sản xuất nhiều loại vũ khí, thiết bị chiến tranh mới; nghiên cứu, thử nghiệm các chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy. Mỹ còn thiết lập Cơ quan phát triển khả năng tác chiến nhằm ứng dụng kịp thời những phát minh, sáng chế mới trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự vào cuộc chiến tranh Việt Nam.


Sau nột thời gian làm thí điểm ở một số địa phương thuộc các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hoà, Quảng Ngãi, từ tháng 4 năm 1962, Mỹ - Diệm triển khai thực hiện rộng rãi trên toàn miền chương trình gom dân, lập "ấp chiến lược". Chúng xem đó là "quốc sách", "xương sống" của chiến lược chiến tranh đặc biệt nhằm giành giật nông dân và địa bàn nông thôn với phía cách mạng; triệt phá tận gốc cơ sở của chiến tranh du kích để hoàn tất kế hoạch bình định trong vòng 18 tháng.


Mỹ - Diệm liên tục mở khoảng 6.780 cuộc hành quân càn quét, hành quân "bình định" với quy mô lớn, nhỏ và thời gian dài, ngắn khác nhau nhằm tiêu diệt cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang của cách mạng, hỗ trợ cho nỗ lực gom dân, lập "ấp chiến lược". Trong các cuộc hành quân đó, quân Mỹ và quân Sài Gòn dùng máy bay lên thẳng, xe tăng, xe bọc thép là những phương tiện chiến tranh hiện đại để thực hiện các chiến thuật "bủa lưới phóng lao", "phượng hoàng vồ mồi", "trên đe dưới búa"... đánh vào những người dân thường không có vũ khí. Đó là những chiến thuật điển hình gây tai hoạ khủng khiếp đối với nhân dân mà Mỹ áp dụng ở miền Nam nước ta trong chiến tranh đặc biệt. Mỹ còn dùng một khối lượng lớn bom đạn, chất độc khai quang đánh vào vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến, các hành lang vận chuyển, khu giới tuyến quân sự tạm thời phía Nam sông Bến Hải, san phẳng nhiều làng, phá nát từng khu rừng.


Hỗ trợ cho nỗ lực "bình định", Mỹ - Diệm đồng thời triển khai các hoạt động phong toả vùng biển, bịt kín biên giới nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, cô lập cách mạng miền Nam. Cùng với việc thiết lập hơn 70 căn cứ, đồn bốt, trại "lực lượng đặc biệt" Mỹ - Ngụy dọc các tuyến hành lang, xung quanh vùng căn cứ của ta, địch tổ chức hệ thống ra đa, tình báo mặt đất, thực hiện các chuyến bay trinh sát đường không... hòng phát hiện quy luật hoạt động của ta trong việc đưa người, vũ khí, phương tiện, vật chất vào miền Nam để chúng tổ chức các cuộc hành quân, đánh phá, ngăn chặn. Ở vùng ven biển, cửa sổng, ngoài hệ thống đồn, bốt, trạm tuần tra, kiểm soát, địch sử dụng từ 30 đến 40% lực lượng hải thuyền, 100% lực lượng giang thuyền... ngày đêm cảnh giới, khám xét tàu thuyền ra vào, phá hệ thống vận chuyển đường thuỷ của ta.


Toàn bộ nỗ lực chiến tranh trên đây của Mỹ nhằm tiếp tục duy trì chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, phá hoại miền Bắc Việt Nam, đặt nhân dân ta vào tình thế muốn bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #5 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:31:24 pm »

Để đối phó với chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ, trên cơ sở thế mới và lực mới do cao trào Đồng khởi tạo ra, Đảng ta chủ trương chuyển cách mạng giải phóng miền Nam lên giai đoạn mới. Từ đây các cuộc khởi nghĩa từng phần phát triển lên thành một cuộc chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền Nam. Trong giai đoạn này, chiến tranh giải phóng có những nét nổi bật sau đây:


Trong quá trình tiến hành chiến tranh, các cuộc khởi nghĩa vẫn tiếp tục, Chiến tranh cách mạng và Khởi nghĩa của quần chúng được kết hợp chặt chẽ với nhau. Đấu tranh chính trị được giữ vững và đẩy mạnh, đồng thời đấu tranh vũ trang được phát triển nhanh lên một bước mới, ngang tầm với đấu tranh chính trị. Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận. Vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, thành thị. Mũi nhọn đấu tranh tập trung vào nhiệm vụ chống càn quét và phá ấp chiến lược, đẩy lùi và đánh bại chính sách bình định, giành dân của địch.


Để thực hiện sự chuyển hướng lớn trên đây, nhất là để đáp ứng kịp yêu cầu nâng cao địa vị và vai trò của đấu tranh vũ trang ở miền Nam lên một bước mới. Đảng ta đã kịp thời chỉ đạo việc triển khai nhiều biện pháp chiến lược quan trọng, đẩy nhanh việc xây dựng lực lượng vũ trang cả lực lượng tại chỗ và các khối cơ động; chú trọng mở rộng căn cứ địa, xây dựng hậu phương tại chỗ. Mặt khác, ta phát triển mạnh chiến tranh du kích rộng khắp cả ba vùng chiến lược, chú trọng tăng cường hoạt động đánh phá các nơi xung yếu như sân bay, kho tàng, bến cảng, đường giao thông huyết mạch; động thời xúc tiến các mặt công tác tổ chức, huấn luyện và tăng cường hoạt động chiến đấu của các đơn vị chủ lực, nâng dần trình độ tác chiến tập trung, về tổ chức và chỉ đạo, chỉ huy, Bộ Chính trị đã ra một số quyết định quan trọng; giao cho Quân uỷ Trung ương cùng Ban thống nhất của Trung ương giúp Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo công tác quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam; tăng cường cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục, các Khu uỷ về mặt quân sự, tổ chức và kiện toàn Bộ chỉ huy quân sự Miền và Bộ chỉ huy quân sự các Quân khu. Tổ chức phân chia lại các chiến trường theo yêu cầu phát triển của chiến tranh; mở rộng đường hành lang vận chuyển Bắc - Nam, cả đường bộ và đường biển; tăng cường cán bộ chỉ huy, chính trị, hậu cần và một số đơn vị chiến đấu cấp đại đội, Tiểu đoàn, nâng dần quy mô và khối lượng tiếp tế, vận chuyển phương tiện vũ khí, cung cấp tài chính từ miền Bắc vào miền Nam; củng cố Đảng về tư tưởng và tổ chức nhất là Đảng bộ miền Nam theo kịp yêu cầu trực tiếp chỉ đạo, chiến tranh.


Đồng thời, ở miền Bắc, ta chủ trương đẩy mạnh công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, triển khai thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất về kinh tế - xã hội; thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai, trong đó có chủ trương xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, thực hiện chính quy hoá, từng bước hiện đại hóa tiến tới xây dựng lục quân chính quy, tương đối hiện đại; đặc biệt chú trọng xây dựng các đơn vị chủ lực cơ động, tăng cường xây dựng một số binh chủng kỹ thuật mới như pháo binh, thiết giáp, đặc công, công binh, hoá học; xây dựng các đơn vị "quân tăng cường" để từng bước đưa vào chiến trường miền Nam; tích cực xây dựng các đơn vị phòng không, không quân sẵn sàng đối phó với mưu đồ của Mỹ leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc.


Thực hiện chủ trương trên, quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc đều vượt lên giành được thắng lợi lớn.

Ở miền Nam, với kinh nghiệm đấu tranh mặt đối mặt với quân thù, từ khí thế và bài học của cuộc Đồng khởi, dưới ánh sáng của đường lối chiến tranh nhân dân kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nhân dân miền Nam đã sáng tạo ra hình thức tiến công "hai chân, ba mũi, ba vùng". Cái mới ở đây là ba mũi giáp công đã kết hợp đấu tranh của lực lượng chính trị với tiến công của lực lượng vũ trang và binh vận được thể hiện trong từng cuộc, từng đợt đấu tranh, từng chiến dịch. Bằng ba mũi giáp công, nhân dân ta đã bẻ gãy cả những cuộc hành quân càn quét khủng bố của địch. Nếu phương châm hai chân, ba mũi được mở đầu và giữ vai trò quan trọng trong tiến công địch ở thời kỳ Đồng khởi thì nó cũng góp phần rất tích cực trong việc đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở miền Nam.


Tình hình địch gom dân lập ấp chiến lược diễn ra khắp các vùng nông thôn miền Nam đã làm dấy lên phong trào quần chúng đấu tranh sôi nổi, rầm rộ chưa từng có. Đồng bào ta ở những vùng bị gom kiên quyết đấu tranh bám đất, giữ làng, nêu cao khẩu hiệu "một tấc không đi, một ly không rời". Ta vừa đấu tranh lẻ tẻ tại chỗ, vừa tổ chức biểu tình thị uy quy mô hàng ngàn người kéo đến đấu tranh với bọn chỉ huy quân đội và chính quyền, mang theo những ngươi bị thương hoặc đã chết vì bom, pháo, những tang vật bị nhiễm độc. Điển hình của phong trào phá ấp chiến lược của thời kỳ này là các cuộc đấu tranh chống gom dân của đồng bào ấp Bầu Mây, xã An Tịnh (huyện Trảng Bàng, Tây Ninh), của đồng bào Cai Lậy (Mỹ Tho), của đồng bào Khơme tỉnh Trà Vinh và An Giang, cuộc đấu tranh chống địch rải hoá chất độc của nhân dân huyện Châu Thành (Bến Tre)...


Trong suốt ba năm (1962-1964), cuộc đấu tranh chống càn quét và phá ấp chiến lược của nhân dân miền Nam diễn ra cực kỳ quyết liệt. Cuối cùng, hệ thống ấp chiến lược do Mỹ - Diệm ra sức xây dựng trên toàn miền Nam về cơ bản đã bị nhân dân phá rã bằng sức mạnh tổng hợp của mình với sự vận dụng sáng tạo phương châm đánh địch bằng hai chân, ba mũi.


Có thể nói phong trào đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng cách mạng dâng lên rất cao ở cả nông thôn, thành thị. Ở nông thôn là phong trào chống gom dân lập ấp; ở thành thị là phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ của công nhân và lao động, phong trào học sinh sinh viên chống địch bắt lính, phong trào đòi bình đẳng về tôn giáo của tăng ni Phật tử.


Mặt trận đấu tranh vũ trang có bước phát triển mới, trên hầu khắp các chiến trường, tiêu biểu là trận chống càn ở Ấp Bắc (Cai Lậy, Mỹ Tho), bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng và diệt nhiều xe bọc thép M.113. Chiến thắng Ấp Bắc bước đầu đánh bại chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận", mở ra khả năng sau khi chống càn, bộ đội có thể bám trụ lại ban ngày ở vùng đồng bằng đông dân cách Sài Gòn ba, bốn chục kilômét. Nhiều trận đánh tiêu diệt từng đại đội, tiểu đoàn quân Ngụy, trong đó có một số tiểu đoàn biệt kích khét tiếng gian ác, đã diễn ra trên một số chiến trường, báo hiệu sự tiến triển đáng mừng của tác chiến tập trung quy mô cấp tiểu đoàn, hoặc nhiều tiểu đoàn của bộ đội chủ lực ta trên chiến trường miền Nam. Chiến tranh du kích miền Nam phát triển, thể hiện sự kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự, theo chiều hướng nâng vai trò của đấu tranh vũ trang lên ngang với đấu tranh chính trị.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #6 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:32:43 pm »

Cao trào cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam đã đẩy cuộc khủng hoảng trầm trọng của Mỹ - Ngụy được khởi đầu từ cuộc Đồng Khởi 1959 - 1960, vào tình thế cực kỳ gay gắt, đến mức cuối năm 1963, Mỹ phải "thay ngựa giữa dòng", phế bỏ Diệm - Nhu làm cho nền chính trị tay sai Mỹ lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên.


Trên miền Bắc, các mặt kinh tế, văn hoá, nhất là quốc phòng và an ninh đều có bước phát triển mới. Đặc biệt, hơn 10 triệu nông dân trong hợp tác xã nông nghiệp đã phấn đấu đưa sản lượng nông nghiệp đến năm 1963 cao hơn hai lần so với năm 1939 là năm phát triển cao nhất thời thuộc Pháp và trước cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai. Các hợp tác xã nông nghiệp có vai trò chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Có nó, ta mới củng cố và phát triển được nông thôn - một địa bàn chiến lược rộng lớn nhất của căn cứ địa miền Bắc - tạo nên sự nhất trí cao về chính trị - tinh thần của cả miền Bắc, động viên và tổ chức được hàng triệu thanh niên ra tiền tuyến, bảo đảm hậu phương quân đội, hậu phương chiến tranh ngày càng vững mạnh. Sau này, khi Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc, nó là cơ sở vững mạnh bảo đảm thắng lợi của cuộc chiến tranh nhân dân đất đối không, về thế trận quốc phòng, ta đã hình thành một số khu vực phòng thủ ở ven biển và nội địa. Quân đội đã được chấn chỉnh thêm một bước cả về tổ chức, biên chế, trang bị, nhất là về giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự và sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng cơ động trên các chiến trường. Ta đã tổ chức được nhiều sư đoàn, lữ đoàn bộ binh, nhiều đơn vị binh chủng kỹ thuật và Không quân, Hải quân.


Đầu năm 1962, trên nước bạn láng giềng Lào, bộ đội Pathét Lào phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam mở chiến dịch Nậm Thà thắng lợi. Tổng thống Mỹ Kennơđi phải nhân nhượng một bước. Hội nghị Giơnevơ về Lào xác nhận việc thiết lập chính quyền Liên hiệp ba phái ở Lào trong đó có Pathét Lào.


Bối cảnh quốc tế lúc này lại phát triển rất phức tạp. Mâu thuẫn Xô - Trung chẳng những không dịu đi mà còn gay gắt hơn và bộc lộ công khai qua những cuộc tranh chấp đất đai, đả kích nhau trên hệ thống thông tin đại chúng. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực cho ta cả về tư tưởng và tâm lý. Đảng viên, cán bộ và nhân dân ta, nhiều người rất lo lắng trước sự chia rẽ ngày càng sâu sắc trong nội bộ Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế.


Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (11 năm 1963) đã kịp thời xác định nhiều vấn đề rất quan trọng cả về đường lối cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam cũng như đường lối đoàn kết quốc tế của Đảng ta. Về phần quốc tế, Đảng ta đã thể hiện quan điểm rất đúng về tình hình thế giới và trách nhiệm cao trước vận mệnh Phong trào Cách mạng Thế giới. Với tinh thần độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế trong sáng, Đảng ta thẳng thắn và chân tình góp phần bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin; và hướng mọi hoạt động quốc tế của toàn Đảng, toàn dân ta vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ.


Đặc biệt là về phần cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã quyết định nhiều vấn đề chiến lược nhằm thúc đẩy cuộc chiến tranh cách mạng tiến lên mạnh mẽ hơn nữa:

Tiếp tục khẳng định đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh vũ trang để chủ động và kịp thời đối phó với hành động tăng cường chiến tranh leo thang của địch. Xác định đấu tranh vũ trang ngày càng đóng vai trò quyết định trực tiếp việc tiêu diệt lực lượng quân sự địch, nhấn mạnh điều mấu chốt lúc này là tăng cường lực lượng quân sự và đẩy mạnh hoạt động đấu tranh vũ trang. Đưa chiến tranh du kích phát triển, đồng thời nâng dần quy mô tác chiến tập trung, nâng mức đánh tiêu diệt và quyết định đưa từng đơn vị chủ lực (cấp tiểu đoàn, trung đoàn) từ miền Bắc vào miền Nam, lập các khối chủ lực ở chiến trường miền Nam và lực lượng cơ động ở miền Bắc.


Tiếp tục khẳng định phương châm chiến lược ba vùng và vận dụng linh hoạt phương thức tiến công trên từng vùng, đồng thời nhấn mạnh kiên quyết phấn đấu không cho địch phân tuyến, phân vùng để giữ vững thế trận cài xen hiểm hóc, vững chắc của chiến tranh nhân dân. Tìm mọi cách kiềm chế và thắng địch trong cuộc chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với chiến tranh cục bộ quy mô lớn của đế quốc Mỹ.


Đối với miền Bắc, tiếp tục xác định trách nhiệm đối với cách mạng miền Nam, đồng thời nâng cao cảnh giác, triển khai mọi mặt sẵn sàng đối phó với âm mưu đánh phá của đế quốc Mỹ.

Triển khai thực hiện Nghị quyết 9, về mặt quân sự, đầu năm 1964, Quân uỷ Trung ương đã xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược quân sự lúc này là bảo vệ miền Bắc, đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam và giúp đỡ về mặt quân sự cho cách mạng Lào; tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị song song ở miền Nam, đẩy mạnh hoạt động vũ trang thường xuyên, liên tục, đồng thời tổ chức từng đợt tác chiến quy mô lớn hoặc tương đối lớn; coi trọng xây dựng chủ lực cơ động, tập trung giải quyết việc vận chuyển chiến lược để đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển của chiến tranh cách mạng ở miền Nam, chỉ đạo chuẩn bị sẵn sàng đối phó với chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ...


Quán triệt và thực hiện chủ trương chiến lược trên, quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc đã đưa cuộc đấu tranh chống Mỹ lên một bước phát triển mới.

Trên miền Bắc, tháng 3 năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Có thể nói đây là Hội nghị Diên Hồng của dân tộc Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh. Hội nghị biểu thị khối đại đoàn kết toàn dân và ý chí quyết tâm sắt đá chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Hội nghị càng thôi thúc cao trào hành động cách mạng và chiến tranh cách mạng của cả nước. Khẩu hiệu "Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt” đã dấy lên trên toàn miền Bắc các phong trào thi đua sôi nổi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, y tế, giáo dục... Thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965); về mặt quốc phòng, quân và dân ta trên các địa bàn sôi nổi chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc và chi viện chiến trường miền Nam làm cho quân và dân miền Bắc, trước hết là lực lượng vũ trang, ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao, đồng thời trực tiếp làm nhiệm vụ hậu phương đối với chiến tranh giải phóng miền Nam. Nhờ vậy, khi Mỹ dùng không quân đánh phá một số nơi ở miền Bắc, quân và dân ta đánh thắng chúng ngay từ trận đầu (5-8-1964) và kiên quyết đánh trả những chiến dịch ném bom của không quân Mỹ khi chúng phát động cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc (7-2-1965) và nhanh chóng chuyển đất nước sang tình trạng chiến tranh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 265



« Trả lời #7 vào lúc: 21 Tháng Mười, 2021, 05:33:25 pm »

Tháng 11 năm 1964, Hội nghị Quân uỷ Trung ương đề ra những quyết định nhằm thúc đẩy cuộc chiến tranh nhân dân miền Nam phát triển cao hơn và tăng cường chuẩn bị mọi mặt cho miền Bắc sẵn sàng chiến đấu. Một lần nữa, Đảng ta đã khẳng định những quan điểm chiến tranh nhân dân trong xây dựng lực lượng và tác chiến, chuẩn bị tác chiến trên chiến trường cả nước.


Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng trên cả ba vùng chiến lược, các hình thức vũ trang, đấu tranh chính trị, ba mũi giáp công trên các chiến trường cũng phát triển mạnh làm cho quốc sách ấp chiến lược của địch bị phá sản, các chiến thuật "trực thăng vận", "thiết xa vận" giảm hiệu lực. Với lực lượng chủ lực được tăng cường, ta tiến hành thắng lợi một số chiến dịch tiến công quy mô nhỏ và vừa (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài) tiêu diệt nhiều tiểu đoàn hoặc chiến đoàn hoặc trung đoàn của quân Ngụy, đánh dấu một bước tiến mới của trình độ tác chiến tập trung đánh tiêu diệt của chủ lực ta, tạo một bước ngoặt mới cho hình thái đấu tranh vũ trang của chiến tranh giải phóng miền Nam. Cùng với lực lượng đặc công tinh nhuệ, những đội biệt động luồn sâu, đã đánh thắng nhiều trận vang dội ngay tận các hậu cứ, các trung tâm chỉ huy, các kho tàng trong các đô thị, diệt nhiều sinh lực cao cấp của Mỹ: sĩ quan, phi công, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại như máy bay, pháo lớn, tàu chiến, xe tăng...


Trên chiến trường miền Nam, phương thức đấu tranh kết hợp "hai chân", "ba mũi", "ba vùng" phát triển đến mức cao chưa từng thấy, nhất là ở các vùng đồng bằng đông dân của Nam Bộ, Khu V. Vùng giải phóng được mở rộng sát các căn cứ địch ở đô thị. Các mạch đường giao thông thông suốt mặc dù có đồn bốt, tháp canh canh giữ, cán bộ và bộ đội ta vẫn có thể đi lại, ra vào. Chiến lược tiến công tổng hợp của chiến tranh nhân dân miền Nam đã phát huy được hiệu lực rất lớn trong việc chống phá "quốc sách" ấp chiến lược của địch, tiêu hao tiêu diệt quân chủ lực Ngụy từ nhiều tiểu đoàn đến chiến đoàn. Còn ở miền Bắc, những chiến dịch đánh phá của không quân và hải quân Mỹ trong mấy tháng đầu đã bị quân và dân ta đánh trả hết sức quyết liệt. Đặc biệt là không quân Mỹ đã không chặn nổi sự chi viện ngày càng tăng của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Ngụy quyền Sài Gòn lâm vào cuộc khủng hoảng triền miên, chỉ trong hơn một năm rưỡi (11 năm 1963 - 6 năm 1965) đã có 14 lần đảo chính và phản đảo chính. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara từ miền Nam Việt Nam về đã báo cáo trước Nhà Trắng và Quốc hội Mỹ rằng "quân lực Việt Nam Cộng hoà đã không còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại"1 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ).


Thế là chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ được đẩy đến mức cao nhất đứng trước nguy cơ phá sản hoàn toàn.

Đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược đưa quân Mỹ vào tham chiến ở miền Nam và tăng cường cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Cách mạng và chiến tranh cách mạng Việt Nam lại chuyển sang một giai đoạn mới.


Đánh giá sự chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn này, có thể thấy những ưu điểm nổi bật sau:

1. Đã kịp thời chuyển cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam từ khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng, nhưng vẫn tiếp tục tiến hành khởi nghĩa trong chiến lược, kết hợp chiến tranh với khởi nghĩa; kịp thời nâng vị trí đấu tranh vũ trang lên theo yêu cầu của chiến tranh, nhưng vẫn thực hiện vũ trang và chính trị đi đôi, đưa cuộc chiến tranh nhân dân ở miền Nam phát triển lên đỉnh cao mới: đánh địch bằng cả quân sự và chính trị, bằng cả ba mũi giáp công, trên cả ba vùng chiến lược.

2. Tập trung đánh bại các biện pháp lớn của chiến lược chiến tranh đặc biệt, nhưng hướng đúng mũi nhọn đấu tranh vào phá "ấp chiến lược" và làm thất bại các cuộc càn quét của quân chủ lực Ngụy, làm phá sản mục tiêu chủ yếu trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ - Ngụy.

3. Không ngừng đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam, đồng thời chủ động tổ chức sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc; kiềm chế và thắng địch trong chiến lược chiến tranh đặc biệt của chúng ở miền Nam, đồng thời sớm có chủ trương sẵn sàng đối phó với chiến lược chiến tranh cục bộ của chúng.


Nhìn tổng quát, trong giai đoạn này, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta có nhiều thành công như dự kiến đúng, chuẩn bị tốt, chuyển hướng nhanh và có biện pháp chiến lược thích hợp vận dụng chiến lược tổng hợp rất sáng tạo nên luôn chủ động về chiến lược và giành thắng lợi ngày càng to lớn.


Quyết tâm đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ và tổ chức sẵn sàng đối phó với một phương hướng chính xác và nhạy bén, là sự chuẩn bị chủ động và tích cực của ta. Do đó khi Mỹ đưa mấy chục vạn quân Mỹ ồ ạt vào miền Nam, thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ thì ta đã sẵn sàng và chủ động cả về tổ chức, tư tưởng, lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân.
Logged
Trang: 1   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM