Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Mười, 2021, 10:23:37 am



Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Mười, 2021, 10:23:37 am
Tên sách: Âm vang Điện Biên
Tác giả:
Nhà xuất bản: Thông tin và Truyền thông
Năm xuất bản: 2014
Số hoá: giangtvx, dungnuocgiunuoc


LỜI NÓI ĐẦU

Cách đây 10 năm - vào dịp kỉ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam phối hợp với Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức cuộc thi viết "Âm vang Điện Biên Hàng nghìn bài dự thi - được viết hoặc được kể từ những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 - là hồi ức của những ngưcti trong cuộc, phản ánh chân thực, xúc động và khá toàn diện những ngày tháng hy sinh chiến đấu hào hùng và chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.


Từ cuộc thi ấy, Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã chọn 48 bài được giải, in thành cuốn sách quý "Âm vang Điện Biên". Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen ngợi cuộc thì và có bút tích đề tựa cho cuốn sách.


Năm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tổ chức trọng thể Kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2014). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức kỷ niệm, trong đó có nội dung tái bản cuốn sách "Âm vang Điện Biên" theo đề nghị của Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam.


Trong lần đầu tái bản này, Trung ương Hội giữ nguyên toàn bộ nội dung của cuốn sách và chỉ bổ sung một số hình ảnh tư liệu. Đặc biệt, việc in lại bút tích đề tựa cuốn sách cách đây 10 năm và bổ sung hình ảnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là bày tỏ lòng kính trọng, biết ơn, và tưởng nhớ sâu sắc đến Vị Tướng văn võ toàn tài kiệt xuất Võ Nguyên Giáp đã dũng cảm, thao lược, tài trí, trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ, với sự hy sinh chiến đấu xả thân vì nước của biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, làm nên chiến thắng lẫy lừng trong lịch sử dân tộc


Cuốn sách được tái bản phát hành đúng dịp kỷ niệm 60 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ sẽ là món quà quý giá nhất mà những Cựu chiến binh chống Pháp - Cựu chiến binh tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ gửi lại cho các thế hệ mai sau, nhất là cho thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam, cổ vũ lòng yêu nước, tinh thần quyết chiến quyết thắng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.


Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


BAN TUYÊN GIÁO
TRUNG ƯƠNG HỘI CỰU CHIẾN BINH VIỆT NAM


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười, 2021, 08:42:20 pm
THAY ĐỔI CÁCH ĐÁNH, ĐIỀU KỲ DIỆU


LƯU TRỌNG LÂN


Kéo pháo vào:

- Ha... i ba nào! Ha... i ba nào!

Sau mỗi lần hô, cả khối người nắm chặt dây tời, choãi chân, rạp mình xuống kéo. Cuộc kéo pháo bằng tay bắt đầu từ tối 15 tháng 1 năm 1954, sau khi chỉ không đầy một ngày đêm, bằng quyết tâm và sức lao động phi thường, gần 5.000 cán bộ, chiến sĩ công binh và bộ binh ta đã hoàn thành một con đường rộng 3,5 mét, dài gần 15 ki-lô-mét, bắt đầu từ cửa rừng bản Nà Nhạn bên đường 41, xuyên rừng rậm, vượt núi cao, qua đỉnh Pu Pha Sông cao ngất, rồi đổ xuống vực Nậm Kho Hu sâu thẳm, vươn tới bắc Bản Tấu trên đường Điện Biên - Lai Châu.


Chủ trương kéo pháo bằng tay nằm trong kế hoạch tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch (bộ phận đi trước), theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", với quyếi tâm tiêu diệt cứ điểm Trần Đình (mật danh Điện Biên Phủ) trong 3 đêm, 2 ngày.


Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, chỉ huy trưởng chiến dịch đi sau, lên đường từ Việt Bắc ngày 5 tháng 1 năm 1954, đến 12 tháng 1 mới tới sở chỉ huy lâm thời ở hang Thẩm Púa.

Sau khi nghe Tham mưu trưởng chiến dịch Hoàng Văn Thái báo cáo kế hoạch, Đại tướng cảm thấy vô cùng phân vân, vì nó hoàn toàn khác với suy tính của Đại tướng tníổc đó. Trong bản báo cáo ngày 6 tháng 12 năm 1953 gửi Bộ Chính trị, Đại tướng ước tính thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ phải mất khoảng 45 ngày, chưa kể thời gian tập trung bộ đội và thời gian làm công tác chuẩn bị.


Nhưng vì vừa mới đến, chưa có đủ yếu tố để bác bỏ phương án đã chọn của bộ phận đi trước, của tập thể Đảng ủy mặt trận (gồm các đồng chí Hoàng Văn Thái (Tham mưu trưởng), Lê Liêm (Chủ nhiệm chính trị), Đặng Kim Giang (Chủ nhiệm cung cấp), có sự tham gia ý kiến của đoàn cố vấn Trung Quốc do đồng chí Mai Gia Sinh làm phó đoàn, nên Đại tướng Võ Nguyên Giáp chấp thuận kế hoạch theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh", trong đó có việc làm con đường xuyên rừng 15 ki-lô-mét và cuộc kéo pháo bằng tay vào các trận địa hướng bắc.


Tất cả các đơn vị từ cán bộ đến chiến sĩ đều quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để nhanh chóng đưa pháo vào trận địa. Nhưng một đêm rồi hai đêm, cho đến đêm thứ 10, thay vì ba đêm theo kế hoạch, chỉ có hai đại đội lựu pháo 105 ly và hai đại đội cao pháo 37 ly - tức một phần ba lực lượng - vào được đến nơi, nép mình trong những công sự dã chiến, 16 khẩu pháo còn lại, gồm 8 khẩu 37 ly và 8 khẩu 105 ly vẫn còn đang nằm rải rác trên đường kéo pháo.


Trận địa của hai đại đội pháo cao xạ chúng tôi (815 và 827) nằm giữa cánh đồng Bản Tấu - Nà Hi, với 8 khẩu pháo 37 ly, được ngụy trang bằng rơm rạ trong những công sự lộ thiên đào đắp sơ sài.

Chiều hôm ấy, 25 tháng 1 năm 1954, toàn mặt trận sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

Bỗng như sét đánh ngang tai, một mệnh lệnh được ban xuống từ sở chỉ huy mặt trận: "Hoãn tiến công! Kéo pháo ra, về vị trí cũ!".


Kéo pháo ra:

Cho đến nay đã 50 năm mà tôi còn nhớ rõ, trưa ngày 26 tháng 1 năm 1954, tại sở chỉ huy Tiểu đoàn pháo cao xạ 383, thực chất là một cái bàn nhỏ, kê tạm bên một gốc cây ven rừng, trên đặt một máy điện thoại tay quay (tổng đài 10 cửa) và một cuốn sổ ghi điện. Tôi đang làm nhiệm vụ trực ban (hồi ấy tôi là sĩ quan tham mưu tiểu đoàn) bỗng có tiếng chuông điện thoại reo. Nhấc máy, tôi nghe giọng nói quen thuộc của anh Bích, Trung đoàn phó Trung đoàn pháo cao xạ 367, phụ trách chỉ huy lực lượng tiền phương trung đoàn:


- A lô! Tôi Thành đây! Cho tôi gặp đồng chí Bích (Thành là bí danh của Tham mưu trưởng mặt trận Hoàng Văn Thái).

- Báo cáo anh Thành, tôi Bích đây ạ!

- Anh Bích chú ý! Có lệnh hoãn cuộc tiến công. Cho kéo pháo về vị trí cũ. Lệnh này phải được chấp hành như một mệnh lệnh chiến đấu.

Như có luồng điện chạy qua người, tôi cảm thấy bàng hoàng tột độ. Nín thở, tôi áp chặt ống nghe vào tai và cảm thấy anh Bích hình như đang lặng người đi trong giây lát.

- Thế còn tư tưởng bộ đội thì sao ạ?

- Trước hết hãy chấp hành nghiêm lệnh kéo pháo ra. Mọi thắc mắc giải đáp sau.

- Rõ!

Nghe đến đây tôi thấy trong người bần thần khó tả và cũng chưa dám đeni câu chuyện mình vừa được nghe lén kể lại với ai.

Chuông điện thoại lại reo. Tôi chộp lấy ống nghe. Tiếng của anh Bích:

- "Nha An", "Nha Bảo"1 ("Nha An" là mật danh tiểu đoàn 838, "Nha Bảo" là mật danh tiểu đoàn 394. Các đồng chí Giang, Hậu là tiểu đoàn; Loan Ty là chính trị viên hai tiểu đoàn 383, 394) đâu? Mời anh Giang, anh Hậu hoặc anh Loan, anh Ty ra cầm máy.

Cuộc đối thoại lần này cũng y hệt như lần trước giữa Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái và anh Bích.

Tin đột ngột ấy được truyền nhanh xuống tận chiến sĩ, gây nên một cú choáng trong đơn vị chúng tôi. Nhiều anh em yên lặng, thẫn thờ. Cũng có người bộc trực nói thẳng: "Biết bao gian khổ mới đưa pháo được đến đây. Thế mà bây giờ lại không đánh nữa, kéo pháo ra".


Kéo pháo ra so với kéo pháo vào gian nan gấp bội phần. Những giàn lá ngụy trang đã úa vàng từng mảng, đường kéo pháo đã bị lộ từng phần. Máy bay trinh sát của địch suốt ngày lượn vòng soi mói, chỉ điểm cho pháo bắn vào những chỗ nghi ngờ. Trụ tời lung lay. Dây thừng sau nhiều ngày đêm chịu đựng đã bị sờn, ải. Bộ đội mệt mỏi và đói ngủ lạ lùng...


Tuy nhiên, điều kỳ diệu sau đó đã diễn ra trên đường kéo pháo. Các bí thư họp ngay chi bộ Đảng bàn cách lãnh đạo, sau đó phổ biến cấp tốc kế hoạch cho cán bộ, chiến sĩ. Lòng tin tuyệt đối vào cấp trên, kỷ luật tự giác của đội quân cách mạng đã thắng. Tất cả mọi vướng mắc tạm dẹp sang một bên. Đơn vị triển khai ngay công tác chuẩn bị: củng cố trụ tời, vào rừng tìm kiếm dây mây, dây song thay những đoạn dây thừng bị bở, đứt; sửa lại đường kéo pháo; thay mới những giàn ngụy trang. Tất cả 48 khẩu pháo nhất loạt quay đầu. Đơn vị nào vào sau thì ra trước. Đơn vị vào trước thì ra sau.


"Cốc! Cốc!", tiếng mõ thay cho tiếng hô "hai, ba nào" vì các cán bộ đã khản đặc cả cổ. Hàng trăm chiến sĩ lại rạp mình kéo những khẩu pháo nặng trên 2 tấn, vượt trở lại những dốc "Ngựa", dốc "Cây cụt", đèo "ông Mậu", dốc "Bảy tời", dốc "Chuối" đã đi qua lần trước, để sau mười đêm, tất cả an toàn trở về nơi tập kết cũ.


Tờ mờ sáng 6 tháng 2 năm 1954 (mùng 4 Tết Giáp Ngọ), tại một khu rừng thưa gần ki-lô-mét 62 đường Tuần Giáo - Điện Biên, đông đảo cán bộ hai trung đoàn Tất Thắng và Hương Thủy1 (Tất Thắng: mật danh cùa Trung đoàn trọng pháo 45. Hương Thủy: mật danh của Trung đoàn cao pháo 367) vui mừng đón Đại tướng Tổng Tư lệnh đến thăm. Đại tướng nhiệt liệt khen ngợi đơn vị công binh, pháo binh, bộ binh đã bảo vệ an toàn, nguyên vẹn 24 khẩu lựu pháo và 24 khẩu cao pháo, tài sản quý giá của quân đội ta.


Về lý do tại sao phải kéo pháo ra, Đại tướng giải thích ngắn gọn, đó là để tiếp tục chuẩn bị lại cho đầy đủ hơn, bảo đảm đánh chắc thắng.

Sau khi chuyển lời chúc tết của Bác Hồ, của Trung ương Đảng, Chính phủ đến cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng căn dặn: "Các đồng chí phải tiếp tục giữ bí mật binh chủng đến cùng, phải hết sức tiết kiệm đạn, phải đoàn kết hợp đồng với đơn vị bạn thật tốt, cán bộ phải thương yêu chiến sĩ, đồng cam cộng khổ với anh em".


Rồi Đại tướng báo tin vui: "Trong khi các cậu kéo pháo ra thì quân của anh Vương Thừa Vũ2 (Tức Đại đoàn 308 do đồng chí Vương Thừa Vũ làm Đại đoàn trướng) phối hợp với quân bạn Pathét Lào đã bất thần mở cuộc tiến công sang hướng Thượng Lào, tiêu diệt 17 đại đội địch, đập tan phòng tuyến sông Nậm Hu, tiến sát sông Mê Công, chỉ cách thủ đô Luông Pha Băng 15 ki-lô-mét".


Không khí vui vẻ hẳn lên, Đại tướng nói tiếp: "Để đưa chiến dịch đến toàn thắng, Đảng yêu cầu các đồng chí phải cố gắng nhiều hơn nữa. Phải dũng cảm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, phải tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch. Ngay từ lần đầu xuất hiện, các đồng chí phải làm cho quân thù khiếp sợ trọng pháo và cao pháo Việt Nam".


Mọi người lắng nghe như nuốt từng lời của Tổng Tư lệnh, mọi tư tưởng đã hoàn toàn thông suốt. Tất cả sẵn sàng để lao vào một cuộc "đại chuẩn bị" sẽ được tiến hành ngay ngày hôm sau.

Rời khu rừng thưa, Đại tướng ghé thăm một đại đội lựu pháo và một đại đội cao pháo, ở đại đội pháo cao xạ 827, Đại tướng đến xem một khẩu đội thao tác bắt mục tiêu và nghe giới thiệu về tính năng pháo 37 ly. Tiểu đoàn trưởng Trịnh Duy Hậu báo cáo: "Đây là khẩu đội của Tô Vĩnh Diện". Đại tướng xúc động gật đầu.


Hôm ấy Đại tướng Tổng Tư lệnh đã để lại trong lòng cán bộ, chiến sĩ chúng tôi những ấn tượng vô cùng sâu sắc.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười, 2021, 08:43:29 pm
"Bộ óc bậc thầy":

Như trên đã nói, chấp nhận kế hoạch giải phóng Điện Biên Phủ trong 3 đêm 2 ngày của bộ phận đi trước là ngoài dự kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông cảm thấy hoàn toàn không yên tâm, và thấy rằng cách "đánh nhanh" là rất khó thắng.


Trong khi bộ đội tiến hành cuộc kéo pháo vào, Đại tướng tranh thủ thời gian chỉ đạo cơ quan tham mứu tổ chức điều tra, nghiên cứu, nắm lại tình hình địch, tình hình ta một cách kỹ lưỡng. Cuối cùng sau hớn một tuần lễ, Đại tướng đi đến nhận định: Trong thời gian bộ đội ta hành quân, tập kết, kéo pháo, chuẩn bị, thì quân địch ở Điện Biên Phủ cũng đã ra sức tăng cường lực lượng, tăng cường hệ thống phòng thủ của Tập đoàn cứ điểm lên rất nhiều. So với hồi đầu tháng giêng 1954, binh lực địch tăng thêm 3 tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo binh, 2 trung đội xe tăng, về tổ chức phòng ngự, chúng đã lập thêm nhiều cứ điểm mới, hình thành 8 trung tâm đề kháng mạnh, có thể chi viện lẫn nhau bằng pháo binh, xe tăng và quân cơ động; củng cố sân bay Mường Thanh trở thành đầu mối quan trọng của chiếc cầu hàng không Hà Nội - Điện Biên Phủ. Ngoài ra chúng còn nhận được sự yểm hộ bất cứ lúc nào của không quân Pháp trên toàn Đông Dương.


Trong khi đó, bên phía ta, công tác chuẩn bị mọi mặt chưa đầy đủ. Binh hỏa lực ở đợt đầu trận đánh chưa bảo đảm ưu thế. Pháo binh của ta chưa có công sự, trận địa vững chắc, không có đường cơ động. Bộ binh chưa có đủ giao thông hào tiếp cận địch trên những địa hình trống trải, nhất là ở phía Tây. Bộ đội vừa buông tay kéo pháo, tuy quyết tâm cao, nhưng còn mệt mỏi, chưa lấy lại sức...


Giờ đây một phần pháo binh đã vào vị trí, bộ binh của một số đơn vị đã ở tuyến xuất phát tiến công. Nếu quyết định hoãn cuộc tiến công vào thời điểm này thì sẽ ảnh hưởng đến tư tưởng bộ đội thế nào? Và liệu có thể khắc phục được những khó khăn sẽ diễn ra, nhất là về tiếp tế?


Trên tinh thần quyết đoán của người chỉ huy và lãnh đạo cao nhất, Đại tướng quyết định hoãn cuộc tiến công để họp Đảng ủy. Đêm hôm đó, như sau này ông kể lại, Đại tướng gần như thức trắng. Đồng chí quân y sĩ phải đi tìm ngải cứu đắp lên trán cho Đại tướng đỡ nhức đầu.


Sáng 26 tháng 1, sau nửa giờ trao đổi thống nhất ý kiến với đồng chí Vi Quốc Thanh Trưởng đoàn cố vấn bạn, Đại tướng vào chủ trì cuộc họp Đảng ủy Mặt trận. Không khí có phần căng thẳng. Các Đảng ủy viên vẫn thiên về phương án "đánh nhanh" do thấy khó khăn về giải quyết tư tưởng và công tác tiếp tế, do nhận định rằng quân ta kỳ này có ưu thế binh hoả lục, đã có lựu pháo, cao pháo lần đầu bất ngờ xuất trận...


Sau ít phút giải lao, vào họp lại, Đại tướng nói:

- Khi tôi lên đường, Bác Hồ dặn phải đánh chắc thắng. Dù khó khăn đến đâu cũng phải nắm vững nguyên tắc cao nhất "đánh chắc thắng". Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Rồi Bác hỏi tôi: "Chú đi xa như vậy, chỉ đạo các chiến trường có gì trở ngại?". Tôi thưa: "Ở nhà đã có bộ phận chuyên trách do anh Văn Tiến Dũng, anh Nguyễn Chí Thanh đảm nhiệm và thường xuyên liên lạc với Sở chỉ huy tiền phương. Chỉ ngại là ở xa, không thường xuyên được xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị". Bác nói ngay: - "Tổng Tư lệnh ra mặt trận. Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định".

Đại tướng nói tiếp:

- Chúng ta từng đồng chí một, với tinh thần trách nhiệm cao nhất, hãy tỉnh táo đánh giá tình hình, cân nhắc khoa học và hãy phát biểu chính kiến của "Đánh nhanh" có bảo đảm chắc thắng 100% không?

Đến lúc đó, tất cả các đảng ủy viên mới thấy rằng không thể nào bảo đảm chắc thắng 100% được. Đại tướng kết luận:

- Ta giữ vững quyết tâm tiêu diệt Trần Đình, nhưng do tình hình đã khác, chúng ta nhất định phải thay đổi cách đánh, từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" để bảo đảm chắc thắng. Ý kiến này tôi đã trao đổi thống nhất với đồng chí Trưởng đoàn cố vấn bạn. Nay quyết định: Hoãn cuộc tiến công! Kéo pháo ra! Chuẩn bị lại! Công tác chính trị phải bảo đảm cho bộ đội triệt để châp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đâu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương án mới.


Tập thể Đảng ủy Mặt trận biểu quyết nhất trí với kết luận của đồng chí Bí thư. Lúc ấy là 11 giờ 40 phút ngày 26 tháng 1 năm 1954.

Mệnh lệnh hoãn cuộc tiến công được chuyển ngay xuống các đại đoàn. Riêng Đại đoàn 308, được Đại tướng trực tiếp giao nhiệm vụ: "Tiến quân ngay sang hướng Luông Pha Băng. Dọc đường gặp địch thì tùy điều kiện cụ thể mà đánh phối hợp chặt chẽ với quân dân nước bạn. Giữ vững liên lạc. Có lệnh là trở về ngay!".


Một lá thư "hoả tốc" được gửi lên Bộ Chính trị và Bác Hồ1 (Bằng một chiếc xe Jeep chạy suốt đêm). Mấy ngày sau có điện "tối khẩn" trả lời: "Bộ Chính trị, Bác chấp thuận đề nghị của Đảng ủy Mặt trận. Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ huy động toàn lực chi viện cho Điện Biên Phủ đánh thắng".


"Quân lệnh như sơn", mệnh lệnh của Bộ chỉ huy đã được tất cả bộ đội trên toàn mặt trận chấp hành triệt để, trong đó có nhiệm vụ kéo pháo ra của các đơn vị pháo cao xạ chúng tôi.

Đã có lần, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Quân đội nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tâm sự: "Quyết định thay đổi cách đánh hồi đó là ấn tượng sâu sắc nhất đời tôi, không chỉ trong chiến dịch Điện Biên Phủ mà còn trong suốt cuộc đời chỉ huy của tôi nữa".


Giôn Ken-nơ-đi (John F.Kennedy), luật gia Mỹ, Tổng biên tập Tạp chí Gioóc-giơ (Georges) đã có bài đăng trên Tạp chí này ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp là "bộ óc bậc thầy".


Bu-đa-ren (Georges Boudarel), nhà sử học nổi tiếng của nước Pháp cùng với tác giả Ca-vi-glê-ô-li (Francois Caivgléoli) trong bài "Tướng Giáp suýt thất bại ở Điện Biên Phủ như thế nào?" đã có câu nhận xét: "Bằng quyết định thay đổi cách đánh, tướng Giáp đã tự đặt mình trên đường thắng lợi".


Thử đặt câu hỏi: Nếu chiều hôm ấy, 26 tháng 1 năm 1954, cuộc tiến công theo phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" cứ nổ ra thì điều gì sẽ đến? Câu trả lời chỉ có thể là: Chiến dịch Điện Biên Phủ chắc chắn sẽ thất bại, về phía quân đội ta. Và nếu ở Điện Biên Phủ chúng ta thất bại thì hậu quả sẽ ra sao? Nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến cuộc kháng chiến của dân tộc? Xin dẫn ra đây lời tâm sự của hai vị tướng xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 trong chiến dịch Điện Biên Phủ: "Nếu hồi ấy ta không thay đổi cách đánh, thì chắc chắn phần lớn chúng tôi đã không có mặt trong cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này".

Thượng tướng Vương Thừa Vũ, nguyên Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 trong chiến dịch Điện Biên Phủ: "Nếu lúc đó cứ giữ phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh" thì cuộc kháng chiến của nhân dân ta có thể phải kéo dài thêm 10 năm nữa!".


50 năm đã trôi qua, lịch sử càng lùi xa, càng giúp chúng ta có điều kiện để đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ được đầy đủ hơn. Quyết tâm thay đổi phương châm tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa đúng vào lúc quân đội đã triển khai xong lực lượng tiến công, chuẩn bị nổ súng là một quyết định dũng cảm, đầy trách nhiệm, khoa học và tuyệt đối chính xác.

L.T.L


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười, 2021, 08:44:15 pm
NHẬN QUÀ TẶNG CỦA BÁC HỒ TRÊN TRẬN ĐỊA


NGÔ ĐẠT


Bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Một tin vui bất ngờ đến với đơn vị khi đang trú quân ở một khu rừng vắng. Chuông điện thoại vang lên. Tiếng đồng chí chính ủy oang oang trong máy: "Chuẩn bị đón nhận quà tặng của Bác Hồ". Một tiếng đồng hồ sau, một chiến sĩ vận tải xuất hiện, dắt một con ngựa thồ tới đơn vị tôi. Nét mặt hồ hởi, gặp tôi anh đứng nghiêm: "Báo cáo chính trị viên, tôi được lệnh cấp trên đem quà tặng của Bác Hồ giao cho đơn vị đồng chí". Tôi chưa kịp nói lời cảm ơn, đáp lại nhiệt tình của người chiến sĩ đã vượt suối băng đèo đến với chúng tôi, thì anh đã nhanh nhẹn tháo hai bao tải trên lưng ngựa xuống và mở ra. Trước mắt tôi là những bọc giấy nhỏ, mở ra, bên trong là một chiếc ca sắt tráng men màu vàng nhạt, một bên có ba lá cờ Việt - Trung - Xô, bên dưới là hàng chữ "Kháng chiến nhất định thắng lợi", trên có con chim bồ câu trắng bay vờn trong mây xanh. Bên phía kia có một khẩu hiệu chữ đỏ tươi "Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ". Tôi nhận đủ 145 chiếc ca theo quân số của đơn vị.


Là chính trị viên đại đội, tôi vô cùng sung sướng liền tập hợp đơn vị ngay, giới thiệu và nói rõ ý nghĩa của chiếc ca Bác Hồ tặng bộ đội và động viên anh em ra sức thực hiện lời dạy của Bác, lập công xuất sắc trong chiến dịch này để khỏi phụ tấm lòng của Người đối với bộ đội. Cả đơn vị reo vui như ngày hội. Từng người viết quyết tâm thư gửi lên đại đội. Khẩu hiệu "Kiên quyết làm tròn nhiệm vụ" ghi trên chiếc ca được viết lên giấy trắng, chữ đỏ cài lên chiếc mũ nan bọc vải của tất cả cán bộ, chiến sĩ. Đơn vị rộn lên một khí thế mới: sẵn sàng chiến đấu và quyết thắng!


Tôi kiếm một miếng vải hoa, tự khâu lấy chiếc túi vừa khít chiếc ca, có dây thắt trên miệng túi để đeo trên ba lô khi hành quân. Thấy vậy, hầu hết cán bộ và chiến sĩ trong đơn vị đều làm theo, mỗi người khâu một chiếc túi rất đẹp. Khi hành quân nhìn những chiếc túi, mọi người đều nức lòng, phấn khởi.


Trong chiến đấu chiếc ca đó như có sức mạnh tiếp thêm ý chí chiến đấu cho bộ đội. Có một tiểu đội trưởng bị thương nặng, khi hấp hối, anh thều thào nói với tôi: "Đề nghị thủ trưởng đưa chiếc ca của Bác Hồ về cho gia đình tôi để hàng ngày bố mẹ tôi nhìn vật quý này nhớ tới người con đi xa không trở về"! Lời trăng trối này đơn vị tôi đã thực hiện chu đáo. Khi báo tử, đơn vị cử người đưa chiếc ca cùng các di vật khác về tận gia đình đồng chí tiểu đội trưởng. Chiếc túi đựng ca anh may bằng vải đẹp, với bàn tay khéo léo có thêu dòng chữ "Hà Văn Đăng, quê Thanh Sơn, Phú Thọ", chỉ màu đỏ còn mới.


Còn tôi, tôi luôn giữ chiếc ca bên mình bao năm tháng, qua những trận chiến đấu tiễu phỉ ở biên giới Tây Bắc và suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ. 32 năm trong quân đội rồi sau này khi chuyển ngành mỗi lần nhìn chiếc ca, tôi lại nhớ tới Bác và những lời dạy của Người đối với quân đội.


Khi nghỉ hưu, tôi vẫn nâng niu chiếc ca và giữ gìn nó còn nguyên vẹn như mới. Tôi để nó ở nơi trang trọng trong chiếc tủ chè cùng tấm hình Bác làm bằng sơn mài, hàng ngày ngắm nhìn ngưỡng mộ. Tôi nhớ tới bao kỷ niệm sâu sắc của đời mình trong chiến đấu và công tác, tự hứa với mình "sống khoẻ, sống đẹp, sống vui".


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười, 2021, 08:46:05 pm
TỪ LỜI CHÚC TẾT CỦA ĐẠI TƯỚNG TẠI TRẬN ĐỊA


ĐỖ SÂM


Ngày mồng 1 Tết Giáp Ngọ 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chúc Tết bộ đội pháo binh ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Xin kể lại ít chuyện xung quanh những lời chúc Tết ngày ấy của anh Văn.

Bắn pháo mừng xuân mới

Ngày mồng 1 Tết Giáp Ngọ (1954) năm ấy đúng vào ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2).

Từ Sở chỉ huy Mường Phăng, Đại tướng Tổng tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch gọi điện chúc Tết các đơn vị. Tiếng chuông điện thoại reo vang sở chỉ huy pháo binh.

Đại đoàn trưởng Đào Văn Trường nhấc máy nghe.

Sau lời chúc mừng năm mới, Đại tướng hỏi thăm tình hình chuẩn bị chiến đấu của pháo binh. Anh Trường báo cáo:

- Hiện Điện Biên Phủ có Đại đội sơn pháo 757 bố trí trận địa chiến đấu ở phía Đông trung tâm Mường Thanh.

Đại tướng hỏi vui:

- Có định làm gì chào mừng năm mới không?

- Báo cáo: Pháo binh luôn sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu.

- Cho bắn vào sân bay!

- Rõ! Đề nghị xin đợi cho tan sương mù để bảo đảm ngắm bắn chính xác.

- Đồng ý. Nhắc anh em chuẩn bị thật tốt. Đã bắn là phải bắn trúng.

Đặt ống nghe xuống, anh Đào Văn Trường nói lại với Chính ủy Phạm Ngọc Mậu lời chúc mừng năm mđi cùng mệnh lệnh của Đại tướng.

Đại đội 757 là một đơn vị sơn pháo nhận nhiệm vụ phối thuộc với Đại đoàn 316 đánh địch trước ngày mở màn chiến dịch. Đào công sự chiếm lĩnh trận địa bắn trên cao điểm 781, ngày 1 tháng 2 năm 1954 (28 tháng Chạp Quý Tỵ) với 30 phát đạn, những khẩu sơn pháo 75 ly của 757 đã bắn trúng sân bay Mường Thanh, làm hoảng loạn tinh thần bọn Pháp, ngụy những ngày giáp Tết.


Vừa rút kinh nghiệm chiến đấu xong, ngay ngày đầu năm mới các chiến sĩ pháo thủ đã nhận lệnh: "Khai pháo! Mừng xuân! Mừng Tết!".

Sương mù vừa tan, hoa ban trắng rừng. Ánh sáng ban mai như đón chào một mùa xuân mới, mùa xuân hứa hẹn một thắng lợi huy hoàng. Trên sân bay Mường Thanh hiện rõ từng chiếc máy bay: một, hai, ba, bốn... chín... mười hai con quạ sắt đen thui.


Không chỉ có pháo thủ trong hầm pháo mà cả Chính ủy Phạm Ngọc Mậu, Đại đoàn trưởng Đào Văn Trường trên đài quan sát chỉ huy cũng phân biệt rõ: tám máy bay Hen-cát, hai chiếc Mo-ran, hai chiếc Đa-cô-ta.

Đúng 10 giờ sáng ngày mồng 1 Tết, từ trận địa sơn pháo, những tiếng nổ đanh vang lên. Bầu trời Tết của trung tâm Điện Biên rung chuyển. Những tiếng bộc phá ở các "trận địa giả" của đại đội nổ khắp các khu rừng vùng Tà Lèng đã đánh lừa được pháo binh Pháp. Hàng trăm đạn pháo 105 ly, 155 ly của địch từ đồi D, Hồng Cúm bắn về phía trận địa Đại đội 757 ở Tà Lèng, đông lòng chảo Mường Thanh. Nhiều khu rừng trắng màu hoa ban bị đạn pháo giặc xới tung. Các pháo thủ ta vẫn an toàn trong công sự vững chắc, quan sát chiếc máy bay Mo-ran đang bốc cháy giữa sân bay. Những chiếc máy bay còn lại, có chiếc tháo chạy, mấy chiếc còn nằm nguyên trên sân bay có thể đã bị hư hỏng vì đạn pháo ta.


Nhìn chiếc máy bay đang bốc cháy trên sân bay, nghĩ đến những lời đàm thoại mấy giờ trước đây với Đại tướng, vốn là một chỉ huy yêu văn nghệ, anh Đào Văn Trường đọc một câu thơ:

Mấy lời Đại tướng chúc ta
Vừa là mệnh lệnh vừa là mừng xuân


Anh nói với anh em trong đài quan sát chỉ huy:

- Những lời chúc Tết của Đại tướng vừa qua còn là một mệnh lệnh. Pháo binh ta đã nghiêm chỉnh chấp hành, mừng Tết Bộ chỉ huy mặt trận.

"Kéo pháo ra" đón Tết.

Trong lúc các đơn vị sơn pháo bạn lập chiến công đầu xuân ở trung tâm Mường Thanh thì những khẩu lựu pháo 105 ly của Trung đoàn Tất Thắng 45 đang trên đường "kéo pháo ra" qua đỉnh Pha Sông xuống dốc Bảy Tời, vượt Bãi Chuối, Suối Ngựa, qua cửa rừng Nà Nham về vị trí tập kết trên đường Tuần Giáo đi Điện Biên. Đây là trung đoàn trọng pháo cơ giới đầu tiên của quân đội và là lần đầu tiên toàn trung đoàn nhận lệnh tập trung tham gia chiến đấu, trong một chiến dịch lớn mà anh em tin chắc sẽ là chiến dịch quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến trường kỳ chống giặc Pháp xâm lược.


Mấy chục khẩu pháo lớn chiếm lĩnh xong trận địa quanh Điện Biên Phủ, chuẩn bị cho cuộc chiến dự định sẽ mở màn vào chiều 26 tháng 1 năm 1954 (22 tháng Chạp Quý Tỵ) một ngày trưổc khi ông Công, ông Táo lên chầu Trời. Anh em tin tưởng đêm ấy sẽ thắng lớn. Ông Công, ông Táo sẽ lên tâu Ngọc Hoàng thượng đế chiến công của các chiến sĩ Điện Biên trong trận đầu này.


Thế nhưng đột nhiên có lệnh "Hoãn chiến đấu, kéo pháo ra" ngay trong đêm. Anh em đưực phổ biến: Bộ Tư lệnh chiến dịch cho kéo pháo ra để chuyển phương châm tác chiến từ "Đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "Đánh chắc, tiến chắc".


Thế là ngay đêm đó, toàn bộ các khẩu pháo của trung đoàn được kéo ra khỏi trận địa.

Khẩu pháo cuối cùng kéo ra đến khu tập kết ngày 3 Tết Giáp Ngọ (5-2-1954). Nghỉ một ngày. Tuy không có thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ... nhưng cũng có bánh chưng xanh được anh chị em dân công hỏa tuyến mang từ vùng quê quan họ, vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ đất Thanh Nghệ... đến với các chiến sĩ ngoài tiền tuyến. Hoa đào không có thì có hoa ban, hoa ban trắng, đỏ khắp rừng Điện Biên. Đâu cũng sẵn có hoa ban mừng xuân.


Mồng 5 Tết, anh em vui mừng được cử đại biểu đi đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm hai trung đoàn trọng pháo 45 và cao xạ pháo 367.

Sau những lời chúc Tết, mừng thắng lợi "kéo pháo vào, kéo pháo ra", Đại tướng nhắc anh em:

- Trong chiến dịch này, giặc Pháp hết sức bất ngờ vì đây là lần đầu tiên hỏa lực lớn trọng pháo 105 ly và cao xạ pháo 37 ly của ta xuất hiện ở chiến trường. Các đồng chí đã bắn là phải bắn thật trúng, sao cho giặc Pháp phải thực sự khiếp sợ pháo binh ta.


Những lời căn dặn ngày Tết này của Đại tướng, anh em Đoàn pháo Tất Thắng luôn ghi nhớ và nhắc nhau ra sức thực hiện suốt 55 ngày đêm chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ cho đến ngày chiến thắng vẻ vang mùng 7 tháng 5 năm 1954 và mãi mãi sau này.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Mười, 2021, 02:55:21 pm
KÉO PHÁO VÀO - KÉO PHÁO RA


HOÀNG THÀNH

Sau chặng hành quân cuối cùng, chúng tôi được nghe phổ biến về nhiệm vụ chiến dịch Trần Đình - mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ và công tác chuẩn bị chiến đấu.

Vậy là, từ đêm nay đơn vị sẽ làm nhiệm vụ "kéo pháo vào". Đây là công việc hoàn toàn mới, khó khăn, gian khổ, thậm chí phải hy sinh cả tính mạng..., đòi hỏi mọi người phải đề cao tinh thần dũng cảm, như chiến đấu ở ngoài mặt trận.

Kéo pháo bằng sức người nhưng cụ thể như thế nào chưa ai hình dung được. Liệu người có khoẻ bằng... ô tô? Hôm trước thấy xe kéo pháo trên đường cứ tưởng đưa thẳng vào trận địa... Để giải quyết những băn khoăn lo lắng của bộ đội, đại đội đã tổ chức cho từng tổ ba người, thảo luận xây dựng quyết tâm từ dưới lên. Kết quả, mọi người đều thông suốt, phấn khởi làm nhiệm vụ. Đây là kết quả sự lãnh đạo của Đảng. Chi bộ đã họp quán triệt, ra nghị quyết lãnh đạo đơn vị thực hiện; yêu cầu mọi đảng viên luôn gương mẫu từ lời nói đến việc làm, sẵn sàng quên mình vì nhiệm vụ.


Nơi chúng tôi nhận pháo kéo đêm đầu là bãi đất trống, cạnh con suối, bên phải đường Tuần Giáo - Điện Biên Phủ. Có lẽ nơi đây nhiều cỏ tranh, nên được goi là "bãi Tranh". Đường kéo pháo bắt đầu từ đấy.

Trong khi chờ đợi chúng tôi tranh thủ nhìn kỹ khẩu pháo, có anh sờ tay lên bánh xe và càng pháo... ai cũng tỏ ra vui vẻ, cười nói như pháo ran.

Sau khi trao đổi ý kiến với các đồng chí pháo thủ, Đại đội phó Ma Văn Minh hướng dẫn chúng tôi các động tác: đứng chân, cầm dây, lấy đà, phối hợp đặt con chèn, rồi động tác ghim dây, giữ pháo khi bị địch bắn vào khu vực và đội hình, để giữ cho pháo không bị lăn xuống vực - bởi pháo đối với quân đội ta lúc này là "tài sản vô giá". Tính mạng có thể mất, nhưng quyết không để mất pháo!


Khẩu pháo chúng tôi kéo là lựu pháo 105 ly. Theo các đồng chí pháo thủ, tầm bắn xa nhất trên 10 kilômét, nặng hai tấn... Để kéo được pháo phải dùng tới hai sợi dây chão bằng xơ dừa, đường kính khoảng 3 centimét, dài tới 20 mét. Một đầu dây buộc vào càng pháo, một đầu người kéo. Quân số đại đội, trừ ốm đau, cấp dưỡng, số còn lại chia đều cho hai dây. Đêm kéo, ngày nghỉ, nhưng buổi chiều vẫn học tập chính trị, quân sự...


Những phút đầu cầm dây kéo pháo, vừa hồi hộp, vừa lo... Với chất giọng khỏe, mạch lạc, Đại đội phó hô: "Chuẩn bị... hai... ba... hai... ba... Sau mấy nhịp, đồng chí cho tạm dừng để rút kinh nghiệm: "Kéo như thế là tốt, nhưng cần nhịp nhàng hơn, không kéo giật cục, cần giữ dây cho căng. Khi dứt động lệnh "ba... là kéo ngay. Có người nêu ý kiến: "Đề nghị đại đội cho đứng thưa hơn, để khi kéo không giẫm chân lên nhau, hô hiệu lệnh dứt khoát nhưng phải đúng nhịp, nếu không, người kéo dễ bị mất đà...". Mọi người đều đồng loạt hưởng ứng: "Đồng ý... đồng ý...". Tiếp đó, cả đoàn người và pháo lại chuyển động lên phía trước, tiếng đếm "hai, ba" vẫn đều đều, nhẫn nại, hòa cùng tiếng chim rừng trong đêm khuya lạnh giá cuối đông.


Đêm đầu chỉ kéo được khoảng một kilômét thì trời sáng. Pháo để trên mặt đường, ngụy trang kín đáo, các pháo thủ nghỉ tại chỗ trông pháo, còn chúng tôi về nơi nghỉ sâu hơn, gần suối, tiện nấu ăn, tắm giặt.

Đêm thứ tư, đơn vị chuyển sang kéo pháo cao xạ 37 ly, có bốn bánh, tay lái nhẹ, khi kéo trên đường bằng nhanh hơn, nhưng khi vào "cua" lại lâu và khó hơn lựu 105 ly hai bánh. Sau mấy đêm "vạn sự khởi đầu nan", cũng quen dần, nhưng do lao động nặng, tư thế làm việc thay đổi, nên ai cũng đau ê ẩm toàn thân, lòng bàn tay phồng rộp. Nhưng quân số ốm mệt phải nghỉ không đáng kể. Biện pháp khắc phục như ngâm chân vào nước muối loãng, dùng quần áo rách lót tay khi cầm dây... được thực hiện có kết quả. Do chấp hành nghiêm kỷ luật giữ bí mật, nên chưa gặp sự cản trở nào từ phía địch. Được như vậy, còn phải kể đến công của các đơn vị công binh. Mở đường đến đâu, ngụy trang đến đó, khi kéo pháo lại dỡ ra. Đi xong phải ngụy trang trước khi trời sáng, hàng ngày ngụy trang bổ sung những chỗ lá cây bị khô héo. Biện pháp này tuy đơn giản nhưng đã vô hiệu hóa được máy bay trinh sát của địch.


Khó khăn, nguy hiểm phải kể đến đoạn "dốc Chuối". Nơi đây suối sâu, mọc toàn chuối rừng, phía ngoài vào, dốc thoải 18 độ đến 25 độ, bờ bên kia dốc đứng 35 độ đến 40 độ. Để kéo được pháo đi qua, công binh phải làm tời bằng gỗ ở đỉnh dốc. Khi pháo đến đây, hai đầu dây tời được buộc vào càng pháo, hai dây kéo vẫn để người kéo như cũ, mỗi đầu tời có bốn tay đòn, hai đầu thành có tám tay đòn. Quay tời, phải hàng chục người mới quay nổi.


Chuẩn bị xong, người chỉ huy đứng giữa tời và pháo, hô: "chuẩn bị, hai... ba... hai... ba...". Theo nhịp, người quay tời và người kéo cùng lấy đà đưa pháo nhích dần lên từng gang tay. Cứ như vậy, hàng tiếng đồng hồ, pháo mới vượt được qua dốc.

Sau một đêm kéo mệt lả, về đến nơi nghỉ thì nhận được thông báo "đi xem văn công". Đây là điều đặc biệt của chiến dịch này.

Khán giả chỉ có lính pháo và bộ binh kéo pháo, ngồi hai bên bờ suối. "Sân khấu" là bãi đất tương đối phẳng về phía hạ lưu, không phông màn, không micờrô. Ngồi chờ, khán giả sốt ruột, cùng hô vang: "Mở màn đi, diễn đi... hoan hô văn công...". Phía sau màn vải nhỏ, nơi chuẩn bị của văn công - tiếng đàn so dây của nhạc công, tiếng hát luyện thanh khe khẽ của ca sĩ, làm cho ai nấy đều phấn khởi, tươi vui, mệt nhọc, buồn ngủ đều... tan biến! Cái làm cho chúng tôi vui, tự hào chính bởi nơi đây là chiến trường máu lửa... Bao nhiêu con người nằm trong tầm ngắm của đại bác, máy bay quân thù, vậy mà chính ở nơi này đang diễn ra một sự kiện có "một không hai" trên thế giới: kéo pháo bằng sức người, lại được xem biểu diễn nghệ thuật. Quả là cấp trên quan tâm rất kịp thời, đáp ứng đúng nguyện vọng của lính.


Một cô văn công trang phục bình dị, rất đúng mốt chiến trường bước ra sân khấu. Cô chưa kịp cúi chào, khán giả đã vỗ tay thật vang, thật dài để chào mừng. Chờ cho tiếng vỗ tay lắng xuống, cô mới cất tiếng nói trong trẻo: "Kính thưa các đồng chí! Đoàn văn công Tổng cục Chính trị do nhạc sĩ Lương Ngọc Trác dẫn đầu, được đi dự Đại hội liên hoan Thanh niên thế giới vừa về nước, lại tiếp tục lên đây phục vụ bộ đội, đang ngày đêm dốc sức vì sự toàn thắng của chiến dịch..., những người ngày mai sẽ dội bão lửa lên đầu kẻ thù...". Tiếp đó là những bài hát, điệu múa, ban nhạc làm say đắm lòng người...


Tiếp chương trình, một diễn viên có cái tên rất đẹp "Song Ninh" bước ra trong trang phục dân tộc Tân Cương (Trung Quốc), làm cho khán giả trầm trồ bình luận... Tiếng hát của cô vút cao, mượt mà. Bài hát có tựa đề "Nhị Lang Sơn", đậm đà bản sắc xứ sở miền sơn cước. Vừa hát cô vừa múa, đặc biệt là động tác "lắc cổ", vừa đẹp, vừa lạ mắt.

Những tràng vỗ tay nồng nhiệt lại nổi lên. Bài hát đã được yêu cầu hát lại nhiều lần.

Buổi biểu diễn khép lại, nhưng đã khơi dậy sự hưng phấn trong những đêm kéo pháo, những ngày gian khổ hy sinh của chiến dịch Trần Đình.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Mười, 2021, 02:56:08 pm
Vài ngày sau, chúng tôi lại được Chính ủy đại đoàn đến thăm. Mặc dù đã được nghe nói về ông, nhưng vẫn cảm thấy hồi hộp, vì cánh lính ít có dịp gặp cấp trên như thế này.

Với dáng người đậm, nước da hơi ngăm đen, miệng luôn nở nụ cười cởi mở, Chính ủy nhìn chúng tôi một lượt, rồi đi thẳng vào vấn đề rất tự nhiên: "Các đồng chí kéo pháo có mệt lắm không?". "Có ạ!". "Nói thế là đúng". Bất ngờ đồng chí hỏi: "Ở đây bao nhiêu người có vợ xin giơ tay!". (Mọi người cùng cười vang). "Chỉ có số ít giơ tay, thế là đa số anh em chưa có chỗ để nhớ... Anh nào đã có người yêu không được quên vì "người ta..." ở hậu phương cũng đang làm hết sức mình chi viện cho tiền tuyến, ai quên là "có tội với quê hương", đồng ý không nào?". Tất cả vỗ tay tán thưởng lời khuyên bảo chí lý của Chính ủy.


Dừng lại vài giây, Chính ủy quay sang hỏi các cán bộ chỉ huy: "Anh em còn đủ thuốc lá, thuốc lào hút không?". "Thưa còn, nhưng kéo pháo xong cũng hết!". Chính ủy quay lại nói với chúng tôi: "Mọi vấn đề hậu cần ở nhà... đang chuyển lên. Nhưng máy bay địch đánh phá quyết liệt các tuyến đường tiếp tế của ta, các đồng chí phải chuẩn bị tinh thần chịu đựng gian khổ. Khi thuốc hút còn, không có vấn đề gì. Nhưng khi "kho thuốc" của mỗi người đã cạn, bốn năm người phải hút chung một điếu thuốc lào, một mẩu thuốc lá, lúc ấy mới sinh ra nhiều thắc mắc, rồi tự mình "cãi nhau" với mình: chiến dịch to thế này mà thuốc không đủ cho bộ đội hút! Cơn nghiện tăng lên, lòng tin giảm xuống, sự sáng suốt của cấp trên "hình như... không còn được như lúc đầu (!?) vân vân và vân vân. Như thế ta có đánh thắng được không?". Tất cả đáp "Không ạ!..." Thế thì từ chính ủy đến chiến sĩ phải suy nghĩ cho đúng, làm cho tốt, nhất định ta sẽ cắm được lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Bác Hồ lên sở chỉ huy quân Pháp ở lòng chảo - Điện Biên Phủ. Các đồng chí thấy thế nào?". "Quyết tâm!..." "Quyết tâm!..." thế là tốt. Thay mặt Bộ Tư lệnh đại đoàn xin chúc tất cả chúng ta năm mới "đoàn kết, anh dũng, chiến thắng". ("Đoàn kết - Anh dũng - Chiến thắng" là khẩu hiệu hành động truyền thống của đại đoàn).


Vượt qua quãng đường dài khoảng 15 kilômét và trên 10 đêm vượt đèo, lội suối, chúng tôi đã đưa được pháo đến đích an toàn! Hoan hỉ và tự hào đón nhận nhiệm vụ mới!

Theo thông báo của cấp trên, chiều ngày 26 tháng 1 năm 1954, sẽ nổ súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Mọi người đều nóng lòng chờ đợi giây phút tiếng pháo lớn của ta giáng xuống đầu kẻ thù cho hả dạ. Ai cũng cảm thấy hôm nay thời gian như chậm hơn mọi ngày. Đại đội chúng tôi được làm nhiệm vụ dự bị cổ động, chỉ mong được vào chiến đấu để thỏa lòng mong ước.


Vào khoảng đầu giờ chiều, có lệnh tập hợp toàn đại đội.

Nét mặt đăm chiêu của các cán bộ đại đội báo hiệu có những điều không vui. Một số "tham mưu con" dự đoán: đại đội bị điều đi hướng khác, có khi phải về phía sau làm công tác phục vu chiến dịch...

Chính trị viên Nguyễn Văn Khang, tay cầm sổ công tác, bước ra trước hàng quân rồi nói: "Quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã tăng thêm quân, trang bị hiện đại, cấp trên xét thực hoạch ta sẽ gặp nhiều khó khăn và những hậu quả khó lường. Để đảm bảo chắc thắng, ta phải thay đổi từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "đánh chắc, tiến chắc". Nghĩa là chắc thắng mới đánh. Tiến đến đâu chắc đến đấy. Do đó, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định "kéo pháo ra" làm công tác chuẩn bị lại từ đầu. Pháo phải đặt trong công sự vững chắc. Bộ binh phải xây dựng trận địa ngầm dưới đất mỗi đêm đào một ít - ví như cái thòng lọng xiết dần vào cổ quân địch, có lực lượng chốt giữ quyết không để cho chúng phá. Ngay đêm nay đại đội tiếp tục "kéo pháo ra". Lần này sẽ khó khăn gian khổ hơn vì đường đã bị lộ, địch sẽ đánh phá quyết liệt, cấp trên yêu cầu chúng ta chấp hành mệnh lệnh kéo pháo ra như mệnh lệnh chiến đấu. Bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, dù có hy sinh cũng phải đưa pháo đến đích, an toàn.


Sau hơn mười đêm kéo vào, mọi động tác đã thuần thục. Nhưng khi kéo ra, cái đầu có vẻ không thông suốt, nhiều người xì xào bàn tán: "Sắp nổ súng, lại hoãn - chuẩn bị... bao giờ mđi xong, mùa mưa sắp đến có mà chết đói!". Có ý kiến quả quyết "Chắc trên đã cân nhắc kỹ, hoãn có lợi thì trên mới hoãn. Ai chả thương lính nhưng thương mà "không đúng kiểu" là mạo hiểm!".


Đêm đầu kéo ra, sức lực có phần uể oải, tốc độ giảm. Toàn đại đội lại họp để quán triệt lại mệnh lệnh cấp trên xây dựng quyết tâm mới. Những đêm kéo sau đó đã có sự chuyển biến tốt hơn, tốc độ kéo và quãng đường tăng gấp đôi.

Đúng như dự kiến của ta, mặt đường đã bị lộ, nhìn rõ cả hai vệt bánh xe. Ai ngờ lại kéo pháo ra, nên đã bỏ hết ngụy trang. Ban ngày máy bay bắn phá, ban đêm pháo bắn lúc ồ ạt, lúc cầm canh. Đã mấy lần chúng bắn sát đội hình của ta. Rút kinh nghiệm, nghe tiếng súng nổ đầu nòng, người chỉ huy hô "tất cả bình tĩnh ghìm chặt dây nằm xuống... quyết tâm bảo vệ pháo...". Tiếng hô vừa dứt, hàng chục quả pháo đã nổ đinh tai nhức óc, lúc ở phía trước, lúc ở phía sau, chỉ cách vài chục mét. Đã có mấy người bị thương. Cứ như vậy chúng tôi "thi gan" với chúng bằng tinh thần "quyết không để mất pháo".


Còn mấy đêm nữa là kết thúc kéo pháo ra. Một khẩu cao xạ của đơn vị bạn kéo đi sau đơn vị tôi vài trăm mét bị pháo địch bắn trúng đội hình, khẩu pháo bị xô về phía vực sâu. Ngay lập tức, một pháo thủ cầm chèn lao theo, cả khẩu pháo nặng hai tần rưỡi bị chặn lại, nhưng người cầm chèn đã hy sinh, đó là Tô Vĩnh Diện. Anh ngã xuống khi tuổi còn rất trẻ, nêu tấm gương "vì sự nghiệp lớn" khi chiến dịch chưa mở màn.


Tết Nhâm Ngọ năm ấy, chúng tôi đón giao thừa ngay trên mặt đường kéo pháo ra. Đồng chí Chính trị viên chúc tết toàn đơn vị: "Chúc các đồng chí năm mới sức khoẻ mới, lập công mới, thi đua hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, trước mắt là nhiệm vụ kéo pháo ra, góp phần vào bảo đảm chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng... Đúng là tết ở chiến trường "bánh chưng, dưa hành..." không có, thuốc lào thuốc lá đã đến hồi cạn kiệt, có thèm, có nhớ cũng phải cắn răng mà chịu. Lúc này chúng tôi lại nhớ lời dặn dò của Chính ủy đại đoàn trong lần về thăm đơn vi "trong mọi hoàn cảnh... đều phải giữ vững niềm tin!".


Đêm mùng bốn Tết, đêm cuối cùng kéo pháo ra. "Bãi Tranh", nơi đêm đầu nhận pháo kéo vào, nay gần như trống trải hoàn toàn, chỉ có những hố đạn pháo sâu hoắm. Giao pháo xong cho pháo binh, chúng tôi bùi ngùi chia tay nhau hành quân về địa điểm tập kết mới.

H.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Mười, 2021, 02:58:18 pm
LÀM TRẬN ĐỊA TIẾN CÔNG VÀ BAO VÂY


DƯƠNG TRỌNG KHOAN


Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi tháp tùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm lại chiến trường xưa. Cùng đi có Giám đốc Trung tâm báo chí Bộ Ngoại giao, các phóng viên báo Nhân đạo Pháp, Angiêri và tuần báo Cách mạng châu Phi... Chiều ngày 7 tháng 5 năm 1984, mặt trời cách dãy núi Pú Tà Co chừng một con sào. Đứng trên đồi A1, "cái chìa khoá" của tập đoàn cứ điểm, Đại tướng chỉ xuống cánh đồng Mường Thanh mượt mà, nói: "Sau chiến thắng hai ngày, đứng ở đây có thể nhìn rõ toàn bộ hình thái tập đoàn cứ điểm và chiến hào của ta". Một công trình lao động khổng lồ bày ra trước mắt, dài hơn 200 cây số, cái vòng vây lửa ghê gớm đã thiêu đốt "con nhím" của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.


Đến hôm nay, chiến thắng Điện Biên Phủ vừa tròn nửa thế kỷ. Tôi muốn ghi lại những tháng, ngày làm "công trình khổng lồ" ấy với tinh thần quyết chiến quyết thắng của hàng vạn chiến sĩ Điện Biên.

Ngày 15 tháng 3 nám 1954, sau chiến thắng đồi Độc Lập, Trung đoàn 165 nhận được thư khen của Đại tướng. Đại đội 503, Tiểu đoàn 115 của tôi phấn chấn khẩn trương bổ sung lực lượng, sẵn sàng liên tục chiến đấu. Sáng ngày 16 tháng 3, trên đồi Độc Lập, Tiểu đoàn trưởng Thái Hòa phổ biến kế hoạch làm chiến hào. Trên tấm sơ đồ, anh khoanh một vòng tròn từ sông Nậm Rốm qua Bản Kéo sát cứ điểm 105, chạy gần sân bay đến Him Lam, đồi Đ, E tới A1. Chúng tôi hết sức ngạc nhiên bởi chưa ai nghĩ đến một hệ thống chiến hào dài như vậy. Anh nhìn chúng tôi mỉm cười và khẳng định: "Bộ chỉ huy giao cho bốn đại đoàn đào hào vây quanh khu Trung tâm và Hồng Cúm cắt hẳn chúng ra thành hai mảnh và còn đào các chiến hào, chĩa thẳng vào các cứ điểm nữa".


Qua kinh nghiệm đánh công kiên, chúng tôi mới vỡ lẽ. Từ ngạc nhiên sang hào hứng. Anh Phan Hạ, Đại đội trưởng, phấn khởi nói: "Kỳ này chui xuống lòng đất mà tiến công thì chắc ăn. Thật tuyệt!".

Sương tan dần, ánh sáng xuân ban mai làm rộn rã lòng người. Tại thực địa, anh Thái Hoà giao cho đại đội tôi đào 3 cây số đường hào trục nối với Đại đoàn 308. Sau đó đào chiến hào đánh chiếm cứ điểm 105 án ngữ Bắc sân bay. Tôi phổ biến nhiệm vụ cho đơn vị nhấn mạnh giữ bí mật và an toàn. Cả đại đội bắt tay vào chuẩn bị như một công trường. Mài cuốc, xẻng cho thật sắc, lấy rơm rạ làm "con cúi" chống đạn. Đồng chí Tiến mới được lên Trung đội phó, thoáng thấy tổ trưởng cấp dưỡng gọi ầm lên:

- "Bố" Liễn ơi! Kế hoạch thế nào đấy? (Bác Liễn có con gái, nhiều anh muốn làm rể).

- Chính trị viên đã dặn rồi. Này nhá, trước khi đi đào, tối ăn cơm với thịt muối, dưa giá, canh rau tàu bay, mang theo nước chè Phú Thọ nghe rõ chưa?

Tiến thốt lên:

- "Bố" chu đáo quá!

Đêm 17, chúng tôi xuất quân. Một bộ phận đào giáp với Đại đoàn 308, một bộ phận mở rộng trận địa tiến công đồi Độc Lập để cơ động và trú ẩn. Tám mươi chiến sĩ rải theo hướng Đông - Tây. Mỗi người đào 3 mét. Đầu tiên đào hố nằm, hố ngồi và đứng. Khoảng hai tiếng xong hố đứng, sau đó moi hầm ếch rồi đánh sập. Cách này năng suất cao. Đêm trăng lên muộn. Càng về khuya, trăng càng sáng nên đào nhanh hơn. Quân địch lại giở trò, một loạt đại bác bắn sáng loè. Thấy anh em đều ở dưới chiến hào tôi yên lòng. Trung đội 2 báo cáo: đồng chí Ân bị thương vào vai, vì đạn nổ trên không, máu ra nhiều nhưng nhất định không cho cáng chỉ xin người dẫn bộ về. Tôi nghĩ phải tìm cách khắc phục đạn nổ trên không, đào nhiều hầm ếch có ngách mới ổn.


Qua bốn đêm, đêm nào cũng có người phải lên cáng, lại thiếu ngủ liên miên, nhiều chiến sĩ tỏ ra nản lòng. Đúng lúc đó, chúng tôi được đọc thư của Đại tướng về xây dựng trận địa và nhớ nhất là "tác dụng của hệ thống giao thông hào cho ta chủ động tiến công bất cứ ngày đêm, cơ động thuận lợi". Thư của Đại tướng đại ý nói: Hệ thống chiến hào nhằm hạn chế đi đến làm vô hiệu hóa ba chỗ mạnh của địch là: thả dù tiếp tế, tiếp viện, phi pháo hoạt động. Các đồng chí làm trận địa mệt nhọc, thì cần phải nhớ rằng quân địch ở trong vòng vây còn căng thẳng, mệt nhọc hơn ta nhiều.


Anh em phấn khởi hẳn lên. Nhiều ý kiến khắc phục khó khăn được nêu ra. Có một biện pháp tôi cho là rất hay: Tập trung đào hào hẹp trước, trên toàn phạm vi của đại đội, sau đó mới đào đúng kích thước. Như vậy vừa đỡ bị thương, vừa nhanh. Trên báo tường một bài "thơ" xuất hiện:

   "Đánh chắc, tiến chắc" phải đào hào
   Tiến công, thoái thủ nhanh như cắt
   Cơ động đêm ngày kín như bưng
   Hào tiến từng ngày thắt cổ giặc


Qua tám đêm, chúng tôi đã hoàn thành giao thông hào trục, có nhiều đường ngang để dễ cơ động. Trung đoàn trưởng Lê Thùy đi kiểm tra thưởng cho một gói thuốc lào hiệu "Kiến An". Anh đưa cho tôi và dặn về đến chiến hào "căn cứ" mới được hút. Chiến hào càng tiến gần cứ điểm tình hình càng quyết liệt hơn. Địch liên tục bắn súng cối, súng máy hòng cản bước tiến của ta. Đại đội tổ chức hai trung đội "mũi nhọn" đào hai chiến hào, liên kết các con "cúi" bằng rơm thành từng mảng che đạn. Tích cực đào moi theo cọc tiêu định hướng bọc lá rừng có lân tinh, đồng thời dùng "hình nhân" nghi binh. Cứ từng tổ ba người đào moi, nửa tiếng lại thay tổ khác nên tốc độ khá nhanh. Tiểu đoàn bố trí súng cối và đại liên yểm trợ nên chiến sĩ vững tâm hơn. Chỉ trong hai đêm chiến hào và các hào ngang đã đến sát hàng rào cứ điểm.


Đợt tiến công thứ hai (ngày 30-3) thắng lợi. Đại đoàn tôi tiêu diệt được các cứ điểm E và D1, D2. Nhưng trận chiến của Đại đoàn 316 trên A1 và C1 rất quyết liệt. Để đào hào cắt sân bay, Trung đoàn 165 có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 105. Đại đội tôi là đơn vị chủ công. Trận chiến rất ác liệt. Gần sáng ngày 4 tháng 4, pháo địch bắn ngay vào cứ điểm, tôi bị thương ngất đi...


Sau gần nửa tháng điều trị ở đội điều trị 5, nghe tin trận 105 không thành công, tôi sốt ruột xin về đơn vị.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 25 Tháng Mười, 2021, 02:59:25 pm
Những cơn mưa đầu mùa quái ác, làm ngập nhiều giao thông hào. Về đến trung đoàn, tôi báo cáo với Lê Thùy cho về đơn vị. Anh nắn người tôi, đúng chỗ bả vai bị thương đau nhói, nhưng tôi không dám kêu. Anh mỉm cười bảo "Cứ nghỉ đi rồi xuống đơn vị cũ". Sớm hôm sau, trung đoàn phân công tôi làm chính trị viên đánh 105 và đào hào cắt sân bay, thi đua bắn tỉa.


Trên đường hào ra cao điểm 105 thân quen, lòng tôi xót xa nhớ tới Minh Bảy... đã hy sinh dũng cảm chặn xe tăng dịch trong trận 4 - 4 để đồng đội thoát vòng vây. Đang suy nghĩ, anh Thành Đại đội phó ôm chầm lấy tôi mừng quá như lâu lắm mới gặp! Anh nói nhỏ: "Cậu về đúng lúc quá, đêm nay hoặc đêm mai diệt 105 đấy" rồi kéo tôi về chỉ huy sở trao đổi kế hoạch tác chiến. Trên sơ đồ, anh chỉ ba mũi đánh lấn đã xuyên qua mười hàng dây thép gai. Mũi đột phá xuyên sâu vào sau lô cốt đầu cầu. Mũi thọc sâu lấn ở phía Tây Bắc còn cách độ một mét thì vào đường hào phía sau lưng chỉ huy sở địch. Mũi diện tiến công từ đường hào sân bay, đồng thời chặn quân tiếp viện. Tôi rất mừng và cho rằng chắc ăn rồi.


Chúng tôi đi thăm, kiểm tra các tổ bắn tỉa. Đến một cửa hầm thấy tiếng ngâm nga:

        "Bên hố bom loang lổ
   Những bông giềng nở đỏ"
   Tiếng một chiến sĩ khác tiếp:
   "Trên mảnh đất anh hùng
   Sức sống như Phù Đổng"


Anh Thành cười: "Thế đấy, bắn tỉa xong lại ngâm thơ, chiến sĩ ta lạc quan thật". Tới khu vực bắn tỉa, tôi được chứng kiến tài thiện xạ của cựu binh và tân binh trẻ. Địch thả dù tiếp tế, một tên ở gần cao điểm 311A (Nam sân bay) bò ra lấy dù. Thời cơ bắn tỉa đã tới. Trong vòng vài chục phút, năm tiếng nổ, năm tên địch "về chầu âm phủ". Sau bắn tỉa đến lượt phòng không ra tay. Máy bay địch không dám xuống thấp, dù thả cả vào chỗ chúng tôi. Anh em lấy được dù đạn 105, thuốc men và nhiều dù lương thực. Thắng - Trung đội trưởng bắn tỉa, liền mở cuộc liên hoan mừng tôi trở về. Thịnh soạn lắm! Có cà phê, bánh bích quy và kẹo "củi mục" (kẹo sôcôla đắng). Trên thành tường hầm trú ẩn có tờ báo tường "Báo thiện xạ", trên đó có tên Thắng và 10 người khác, tổng cộng diệt được 20 tên địch. Sực nhớ ra điều gì Thắng gọi to: "Anh ơi, có thơ hậu phương đấy!". Rồi đọc to:

   "Quê em có sông Kinh Thầy.
   Có động Kinh Chủ, có bàn cờ Tiên,
   Có đội du kích "yêng" hùng,
   Đánh giặc giữ làng, sản xuất tăng gia.
   Từ ngày chiến cuộc nổ ra
   Điện Biên thắng lớn, địch co vào đồn.
   Ước mong chiến thắng hoàn toàn
   Bộ đội về làng giải phóng quê ta".

         (Em gái quê hương - Trần Thị Tám)

Gần chín năm mới biết tin quê hương vui quá! Tôi vỗ vai Thắng: "Tớ với cậu là đồng hương đấy!". Thắng reo lên: "Thế mà đến hôm nay em mới biết". Ngày hội ngộ vừa đồng hương vừa đồng chí giữa đất Mường Thanh trùng điệp chiến hào, mịt mù khói đạn, mãi mãi ghi sâu trong ký ức tôi.


Chập tối ngày 18 tháng 4 trận tiêu diệt cứ điểm 105 bắt đầu. Đánh lấn, nên trận chiến diễn ra "êm ả". Trong khoảng 2 giờ chúng tôi đã làm chủ trận địa. Tiêu diệt và bắt sống toàn bộ quân địch mà quân ta bị thương có 5 đồng chí, "Cách đánh này là thượng sách".


Sau chiến thắng 105, chúng tôi xây dựng ngay trận địa ĐKZ, trọng liên 12 ly 7 để hợp với pháo cao xạ 37 ly khống chế sân bay. Anh Lê Đỗ Khôi Chính trị viên tiểu đoàn chuyển lời khen của trung đoàn và ra lệnh, đêm ngày 18 tháng 4 đào hào cắt sân bay và đẩy mạnh bắn tỉa bằng các loại súng. Anh còn cho biết Hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ họp ngày 26 tháng 4, chính giới Pháp nói: "Việt Nam giải quyết Hội nghị Giơ-ne-vơ ở Điện Biên Phủ". Chúng ta phải quyết thắng, buộc địch phải lập lại hòa bình và công nhận nền độc lập của ta.


Đêm 21 đường hào cắt sân bay của đại đội tôi đã nối liền với đường hào Đại đoàn 308. Anh em 308 cho biết Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đi kiểm tra, ra lệnh phải đào nhiều hào "tay ngai" theo kiểu cứ điểm phòng ngự mới đánh bại được phản kích của địch. Chúng tôi chấp hành ngay và thầm nghĩ "Cụ Vũ" giỏi và sâu sát đáo để.


Sớm ngày 22 tháng 4, lợi dụng sương mù, bảy đại đội Âu Phi có 4 xe tăng dẫn đầu phản kích hòng chiếm hào, cắt sân bay. Chúng không ngờ, ta có một dãy cứ điểm phòng ngự. ĐKZ và cao xạ pháo hạ thấp nòng bắn thẳng, ba xe tăng địch bốc cháy. Nhiều lần xung phong bị bẻ gãy, địch bị tổn thất nặng. Chúng tháo chạy thục mạng. Và từ đây phản kích chấm dứt!


Đến thời gian này khu vực phòng ngự của Tướng Đờ-cát chỉ vẻn vẹn còn một đường kính khoảng 2 ki-lô-mét. Sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm nằm trong mọi tầm súng của ta. Tướng tá, binh sĩ, thương binh đều chui rúc trong bùn lầy, tuy địch còn hơn 1 vạn tên, nhưng thế đã cùng, tinh thần đã kiệt.


Ngày 6 tháng 5, tôi được điều sang phía Đông, làm cán bộ dự bị cho trận đánh 506 và phụ trách công tác thương binh. Khoảng 5 giờ chiều ngày 7 tháng 5, anh Tô Thanh Chủ nhiệm chính trị gọi tôi: "Khoan ơi! Anh em ơi! Điện Biên toàn thắng rồi!" Từ chiến hào chúng tôi chạy ùa lên, ôm nhau hò hét, hát to bài "Vì nhân dân quên mình". Dưới kia, đoàn tù binh lũ lượt, dài như "bất tận", vừa đi vừa giơ cờ trắng, có những tên còn hát và kéo "ắc-coóc" nữa.


Trời hôm nay xanh, cao lồng lộng làm nổi bật lá cờ quyết chiến quyết thắng đỏ thắm đang tung bay trên hầm Tướng Đờ-cát. Hình ảnh tuyệt vời đó mãi mãi in sâu trong tâm khảm tôi.

D.T.K


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:04:11 am
ĐỘI PHẪU THUẬT TIỀN PHƯƠNG CỦA GIÁO SƯ TÔN THẤT TÙNG


NGUYỄN NGỌC THƯỞNG


Đêm hôm ấy, cả núi rừng Điện Biên chìm trong khói lửa, những trận mưa bom, bão đạn tưởng như muốn xé rách cả bầu trời. Đội trinh sát trong tổ quan trắc pháo binh Sư đoàn 316 của chúng tôi nhận được lệnh đi quan sát các ổ đề kháng của giặc Pháp để nã pháo vào tiêu diệt, yểm hộ cho bộ binh tiến đánh đồi Bản Kéo, một cứ điểm quan trọng nằm ở phía Đông phân khu bắc Điện Biên Phủ.


Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi theo một đường chiến hào để trở về vị trí xuất phát Dọc đường, tôi bị một mảnh đạn pháo lia mất một mảng da trên đỉnh đầu khi tôi đang cúi lom khom để tránh đạn. Vết thương của tôi máu chảy nhiều quá, các đồng chí băng bó cho tôi và cõng tôi ra cửa chiến hào. Ở đây, tôi được đội tải thương đưa đi điều trị. Tôi ngất đi, mãi tới ba ngày hôm sau mới tình, thấy mình đang nằm điều trị tại một chiếc hang sâu dưới chân dốc Pha Đin. Đây là đội phẫu thuật tiền phương do Giáo sư Tôn Thất Tùng phụ trách.


Hang sâu thăm thẳm, những chiếc giường chúng tôi nằm điều trị là những đoạn gỗ đặt ngang dọc, có cột chống cao khoảng 0,3 mét, mặt giường là những đoạn cây vầu đập dập. Chính giữa hang, một khoảng rộng chừng 150 mét vuông là nơi làm việc và cũng là phòng mổ của Giáo sư Tôn Thất Tùng, y sĩ Nguyễn Ngọc Chương và mấy y sĩ khác được Giáo sư bác sĩ Tôn Thất Tùng chọn đi phục vụ chiến dịch.


Sáng nay, ngày 23 tháng 3 năm 1954, chị y tá Trần Thị Nga đến thay băng cho tôi. Khi chị mở cuộn băng bịt từ đầu xuống cằm tôi, tôi nghe chị nói khẽ: "Nhiều bọ quá!". Chị cầm chiếc panh có cặp bông đã thấm cồn, nhẹ tay gạt những con dòi bọ dồn vào một góc, lấy ra và gói lại đem đi báo cáo với y sĩ điều trị Nguyễn Ngọc Chương. Anh Chương mở gói dòi bọ ra xem và nói:

- Số chiến sĩ ta bị thương ở Điện Biên, có đến 80% bị vào đầu; do phải chiến đấu trong lòng đất, dưới các đường hầm, các chiến hào. Gần như anh em đều bị thương vì các mảnh bom và đạn đại bác: chỉ vài ba ngày sau là vết thương sinh dòi bọ. Chúng ta phải tìm cho ra nguyên nhân mới có thể cứu được thương binh thoát khỏi tử vong. Việc này giáo sư cũng đã biết và ông đã thức trắng mấy đêm liền để suy nghĩ. Giáo sư đã chỉ thị cho tôi và các đồng sự phải dùng kháng sinh liều cao, song tất cả đều ít hiệu quả, bọ cứ phát sinh hết đợt này đến đợt khác.


Nói rồi y sĩ Chương nhắc các chị y tá:

- Ngày hôm nay các đồng chí phải thay toàn bộ bông băng để sáng mai giáo sư vào xem xét.

Tôi được biết, suốt mấy ngày liền giáo sư Tôn Thất Tùng không được nghỉ, vì thương binh cứ mỗi lúc một nhiều; điều trị tại chỗ làm hồ sơ chuyển thương bệnh binh nặng về khu trung tâm điều trị ở Tuyên Quang; thuốc men ở phía sau chậm gửi tới; lượng máu khô và thuốc kháng sinh của đội phẫu thuật sắp cạn kiệt... Mấy chiếc đèn măng sông dùng cho các ca mổ cũng đã hết cả bép... Rất nhiều, rất nhiều việc phải lo. Thời gian này máy bay giặc Pháp liên tục giội bom và bắn phá rất dữ dội suốt dọc con đường dốc Pha Đin và đèo Lũng Lô. Việc vận chuyển lương thực thuốc men ngày càng khó khăn và nguy hiểm. Giáo sư gầy rộc đi. Tất cả mọi người đều lo cho sức khỏe của ông.


12 giờ trưa, chị cấp dưỡng pha một cốc sữa và một ít lương khô đến mời giáo sư dùng bữa. Giáo sư nhìn cốc sữa, nghiêm giọng nói với chị cấp dưỡng:

- Ai cho phép các đồng chí pha sữa cho tôi uống? Đây là sữa tiêu chuẩn, là mạng sống của thương binh kia mà!

Nói rồi, Giáo sư dịu giọng:

- Các đồng chí không được phép ưu tiên cho tôi như thế!

Chị cấp dưỡng bình tĩnh, nhẹ nhàng nói:

- Thưa Giáo sư, đây là lệnh cùa một cán bộ cao cấp trong Bộ chỉ huy chiến dịch giao cho chúng em. Đồng chí còn dặn thêm: Chế độ ăn nghỉ của Giáo sư ít nhất phải bằng và có thể còn hơn cả phần ăn của thương binh. Thưa Giáo sư, chúng em phải tuyệt đối chấp hành. Xin mời Giáo sư uống cốc sữa cho nóng, kẻo nguội mất!

Giáo sư đành không thể khước từ. Ông nâng ly sữa trên tay, nói với chị y tá, giọng đầy xúc động:

- Vâng, thế thì tôi phải uống vậy!

Vừa lúc đó, y sĩ Chương xin phép giáo sư cho chị y tá Trần Thị Nga được vào gặp.

Giáo sư mời chị y tá ngồi và bảo:

- Đồng chí có việc gì cứ trình bày.

Chị y tá báo cáo:

- Thưa Giáo sư, quê em ở miền đồng chiêm trũng tỉnh Thái Bình. Thời còn ở nhà đi gặt lúa, chúng em bị đỉa cắn rất nhiều. Các cụ bảo phải làm một ống mồi đeo sau lưng, thuốc trong ống mồi chủ yếu là vôi với lá đào giã nhỏ cho thêm một ít bồ hóng, hễ con đỉa nào bám vào chân, chỉ cầm cái que châm vào thuốc rồi bôi vào miệng con đỉa là lập tức nó phải nhả ra.

Thưa giáo sư, mấy đêm qua em đã vào rừng để tìm kiếm cây đào và một số lá đắng khác, nhưng cây cối bị bom napan của giặc thiêu trụi cả, em không sao kiếm được, về nhà em mới nghĩ ra một cách: thử đem thuốc viên ki-na-cờ-rin và ký ninh vàng pha với nước cất rồi tẩm vào bông băng, đem băng thử cho một thương binh xem sao. Em đã xin ý kiến của y sĩ Chương. Y sĩ đồng ý, nhưng bảo em: để y sĩ kiểm tra trong 40 chiến sĩ bị thương vào đầu, ai là người có huyết áp bình thường và sức khoẻ khá hơn thì làm thử cho người đó. Y sĩ còn dặn em: trước khi băng thử phải cho người đó uống thuốc ngủ, để tránh đau đớn, ảnh hưởng tới vết thương. Thưa Giáo sư, em băng thử cho đồng chí thương binh Nguyễn Mạnh Hùng từ lúc 5 giờ chiều, đến 6 giờ sáng ngày hôm sau, mở ra kiểm tra thì thấy toàn bộ những con dòi bọ đều chết cả, còn một số ít thoát được ra ngoài rồi cũng chết. Em hỏi chiến sĩ Hùng, người được chọn làm thử xem kết quả ra sao thì đồng chí ấy bảo: "Dễ chịu lắm, không nhức nhối như hôm qua". Em và y sĩ Chương đã kiểm tra. Thưa giáo sư, em mạnh dạn làm thử vì thấy Giáo sư và các thầy thuốc rất lo cho thương binh. Mong Giáo sư kiểm tra xem.


Y sĩ Nguyễn Ngọc Chương cũng báo cáo thêm:

- Thưa Giáo sư, em có nghe các bác dân công tải thương, người dân tộc Thái ở Lai Châu - Sơn La thường nói đến câu: "Ruồi vàng, bọ chó, gió Tây Trang", từ đó em nghĩ đến những con ruồi vàng ở đất Điện Biên này, nó rất say hút máu người và súc vật, khi đã ăn no nó liền đẻ trứng vào chỗ hút đó làm nảy sinh dòi bọ. Nhiều lần em thấy khi các thương binh được đưa vào đây, đều có những con ruồi vàng bay theo và bậu quanh chỗ vết thương. Em cho có lẽ lũ ruồi vàng này là thủ phạm sinh ra dòi bọ ở các vết thương của thương binh. Xin Giáo sư trực tiếp kiểm tra và cho chỉ lệnh điều trị.

Giáo sư chăm chú nghe rồi vui vẻ bảo:

- Ngay bây giờ, tôi cùng các đồng chí đến chỗ chiến sĩ Hùng để kiểm tra.

Giáo sư thấy sự việc diễn ra quả nhiên như lời y tá Trần Thị Nga và y sĩ Nguyễn Ngọc Chương đã báo cáo.

Sáng hôm sau, trong cuộc họp giao ban, Giáo sư nói với các thầy thuốc của đội phẫu thuật về sự việc trên và kết luận: Một bài học hết sức quý giá cho chúng ta là: chớ nên coi thường cấp dưới và những người có học vị kém mình. Đồng chí y tá Trần Thi Nga đã hết lòng vì thương binh, thật đáng khen. Tôi yêu cầu chúng ta hãy làm theo phương án điều tri của y tá Nga. Cách làm này vừa đơn giản, rẻ tiền, lại đỡ tốn thuốc kháng sinh - một loại thuốc quý hiếm ở đây!


Chúng tôi nằm điều trị bên phòng họp giao ban của đội phẫu thuật, được nghe rõ từng câu nói của Giáo sư Tôn Thất Tùng. Tất cả chúng tôi đều xúc động và cảm phục trước tẩm lòng nhân ái, tận tụy, vì thương binh của Giáo sư, của y sĩ Chương, của nữ y tá Trần Thị Nga và các cán bộ thầy thuốc tại đội phẫu thuật tiền phương tại chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ này.


Năm mươi năm đã trôi qua, song hình ảnh Giáo sư Thất Tùng và những người thầy thuốc như mẹ hiền vẫn mãi mãi còn khắc sâu trong tâm khảm của chúng tôi, những chiến sĩ được vinh dự tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

N.N.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:05:33 am
VÂY ĐÁNH HỒNG CÚM VÀ CHẶN VIỆN Ở MƯỜNG HÉT


LÊ NGUYÊN LINH


Tiểu đoàn 426 trinh sát, trực thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, hôm nay tấp nập hẳn lên. Lệnh trên đưa xuống: đơn vị được ăn tết sớm trước một ngày. Mới sáng sớm tinh mơ, các đại đội đã mổ bò, lợn, gói bánh chưng, làm chè lam... Biết thế nào cũng có nhiệm vụ mới, các chiến sĩ ăn cơm trưa xong, ai cũng chuẩn bị sẵn sàng: Ba lô, vũ khí, gạo, muối, xẻng, dao... Có lệnh tiểu đoàn: các đơn vị bí mật tập trung quân trên quả đồi cọ, không có dân ở. Tôi - Lê Nguyên Linh - Tiểu đội trưởng tiểu đội 2 ngồi đầu hàng quân, hồi hộp chờ nghe mệnh lệnh.


Trời tối - đúng là tối như đêm ba mươi tết - Tiểu đoàn trưởng trịnh trọng giới thiệu: "Có cán bộ Cục 2 về nói chuyện với chúng ta". Đồng chí cán bộ Cục 2 vào đề ngay: "Chắc các đồng chí nóng lòng muốn biết nhiệm vụ mới. Tôi xin báo cáo ngay: Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên. Điện Biên Phủ là một tập đoàn gồm nhiều cứ điểm lớn và quan trọng nhất của địch. Chúng chủ trương xây dựng căn cứ này để khống chế cả chiến trường Việt Nam - Lào... Ta phải quyết tâm giải phóng Điện Biên, phá âm mưu địch, đồng thời làm cho cục diện chiến tranh xoay chuyển có lợi cho thế và lực của ta. Sơ bộ tôi phân công: Hai đại đội 85 và 86 nhẹ nhàng, nhanh chóng, bí mật hành quân theo hướng Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ cụ thể từng đại đội, trung đội và tiểu đội sẽ phổ biến sau. Đại đội 87 làm nhiệm vụ ở chiến trường phối hợp chia nhỏ, luồn sâu vào sau lưng địch thuộc các tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang... nắm tình hình địch, tùy từng trường hợp cụ thể, nếu thấy ổn chắc thì đánh. Đồng thời làm nhiệm vụ nghi binh. Điều quan trọng là tất cả chúng ta phải tuyệt đối giữ bí mật: "Đêm không lửa, ngày không khói, nói không to". Đó là điều thắng lợi đầu tiên. Tôi thay mặt Cục 2 mừng các đồng chí mai thêm một tuổi, chúc các đồng chí lên đường mạnh khoẻ và chiến thắng!". Cả tiểu đoàn định hô vang: "Bác Hồ muôn năm". Nhưng Tiểu đoàn trưởng đã kịp ngăn lại, sợ lộ bí mật.


Đơn vị hành quân luôn trong đêm, im lặng đi trong gió rét, chỉ nghe tiếng loạt soạt của những tàu lá cọ. Trên đường ra trận ai cũng hào hứng, một cậu đi sau tôi se sẽ hát: "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh".

Sáng sớm mồng một Tết, trời còn mờ mờ đã tới Vũ Ẻn, nhân dân ra đón đông lắm, tranh nhau mời chúng tôi vào nhà nghỉ.

Chúng tôi ở đây ăn tết với bà con, rồi tiếp tục lên đường, hành quân, đơn vị nào đi trước, đơn vị nào đi sau, không ai biết. Trung đội trưởng nhắc: Im lặng mà đi, nửa đêm mới được nghỉ giải lao, ngồi ngay ở giữa đường, không được dậm nát cỏ, bám sát nhau để đảm bảo cự ly và quân số. Sáng mồng hai Tết, chúng tôi đã sang địa phận tỉnh Sơn Tây, vào rừng trú quân.


Cứ như thế, ngày nghỉ đêm đi, xuyên tắt rừng, vượt sông suối. Việc giữ bí mật cốt với kẻ địch nhưng với đồng bào hơi khó. Một hôm, khoảng ở địa phận tỉnh Hoà Bình, chúng tôi trú quân sâu trong rừng, mà nhân dân vẫn biết, mang quà bánh đến thăm hỏi. Có ông già mang một dậu đầy hoa, trông như hoa dại, trắng và thơm, bảo chúng tôi nấu canh, ăn thật ngọt và thơm.


Sau 9 đêm hành quân, dừng lại đã nghe tiếng súng nổ rất gần. Sương tan, qua ống nhòm thấy từ đây đến chân hàng rào thép gai căn cứ địch chỉ độ 2 ki-lô-mét. Chúng tôi tìm chỗ đào hầm, đào sâu xuống 4-5 mét, đẵn gỗ bắc lên trên, đổ đất thật đầy, trồng cây ngụy trang, làm cửa và lỗ thông hơi thật thoáng, tránh sức ép của bom đạn.


Tiểu đội tôi được phân công bám sát, nắm chắc tình hình địch ở sân bay Hồng Cúm, xem nơi ở của lính và sĩ quan, nơi bố trí ụ súng, đèn pha pháo sáng, quy luật gác và đi tuần tiễu thế nào. Ngay tối hôm đó chúng tôi tiến sát hàng rào, cắt dây thép gai, bỏ các thứ phát tiếng kêu, chui vào trong, tìm giao thông hào địch đã đào sẵn, tiến vào trung tâm. Gần sáng quay ra xóa dấu vết, lắp lại hàng rào để địch không phát hiện là quân ta đã thâm nhập.


Một hôm, đang bí mật phục kích, bỗng thấy một tổ địch đi tuần, chúng tôi vồ được tên đi sau cùng, các tên khác chạy hết. Tên bị bắt khai rằng bọn chúng có ý định rút chạy sang Lào. Quân ta càng khép chặt vòng vây không để chúng chạy thoát.


Nậm Rốm mùa nước như con sông nhỏ, mùa khô chỉ là con suối. Hai bên bờ cao, bọn địch khoét hầm sâu vào bờ để ở. Một hôm thấy chúng lên bờ suối đông lắm, đoán chúng muốn rút chạy, tôi liền ra lệnh cho hai khẩu trung liên quạt mạnh. Chúng nhào hết xuống suối như cây đổ. Từ đó trở đi chúng không dám ra nữa. Càng về sau ta càng làm chủ sân bay. Ban ngày ta cũng ở ngay giao thông hào, tên nào nhoài ra suối lấy nước, ta dùng súng trường bắn tỉa. Chúng dùng pháo từ xa, bắn ra ngoại vi sân bay khống chế ta. Chúng có loại súng tên là Phidăng, bắn đạn cách mặt đất độ 3-4 mét đã nổ, mảnh rơi xuống như mưa, anh em phải khoét hàm ếch vào sườn hào để tránh.


Buổi tối hôm đó, một cán bộ cấp trên xuống, bảo tôi cho hai chiến sĩ đi cùng. Ba người mò sâu vào tận trung tâm, mãi gần sáng mới về, thấy thiếu một chiến sĩ, đồng chí cán bộ buồn rầu nói: "Nó vồ mất cậu ấy rồi!" Anh em ai cũng lặng đi.


Vòng vây của quân ta ngày càng xiết chặt. Phạm vi hoạt động của địch càng hẹp. Đêm nghe tiếng chúng kêu khóc. Máy bay địch thả dù tiếp tế, không dám xuống thấp sợ cao xạ ta diệt. Dù thả từ trên cao rơi hết vào vòng vây của ta, thành ra địch tiếp tế cho quân ta. Dù thả ban ngày bọn địch không dám ra lấy tối đến ta lại ra lấy hết. Lúc đầu chúng thả cả dù trắng, dù xanh, dù đỏ, nhưng sau chỉ thả toàn dù trắng, trắng xóa cả vùng lòng chảo Điện Biên.


Các thứ dù thả xuống rất nhiều loại. Hòm các tông là lương thực, hai chiến sĩ mới khiêng nổi. Hòm sắt là hòm súng đạn, phải 3-4 chiến sĩ khiêng mới nổi. Có lần mở hòm sắt ra, toàn là đầu búp đa đạn pháo, không có cát tút, thật buồn cười! Đời sống của chúng tôi lúc này dễ chịu, đầy đủ hơn lúc hành quân: Hòm làm giường nằm, dù làm chăn chiếu, căng lên trần hầm để khi pháo bắn rung đất không bị bụi. Bánh quy, các thứ kẹo, rượu, thuốc lá ăn tha hồ, đến nỗi chỉ kén ăn đồ hộp của sĩ quan, không ăn đồ hộp của binh sĩ. Đại đội mấy lần gọi về lấy lương thực, và hỏi tại sao không về nhận, "nhịn đói à?". Chúng tôi chỉ cười trong ống nghe.


Một hôm xảy ra một chuyện đau lòng. Khi mặt trời mới nhô lên đỉnh núi, có một tổ trinh sát vô ý giương ống nhòm lên quan sát, mặt trời phản chiếu vào ống kính loé sáng, bọn địch phát hiện, bắn ngay một loạt pháo, cả tổ hy sinh!

Ban ngày chúng tôi rút về hầm nghỉ, đọc thư Bác Hồ, thư Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi động viên chiến sĩ, thư từ hậu phương gửi tới. Được biết ở Thái Nguyên đang phát động quần chúng giảm tô, giảm tức và thí điểm cải cách ruộng đất, anh em vui mừng lắm. Ai cũng nói: "Phen này nông dân ta có ruộng cày rồi".


Tiểu đội chúng tôi kiềm chế chặt sân bay Hồng Cúm. Quân ta bắn tan xe tăng và hạ một máy bay địch. Chúng co cụm lại trong hầm hào, ban ngày cũng không dám ra. Giữa lúc đó có lệnh của cấp trên điều Tiểu đoàn 426 đi chặn quân tiếp viện của địch ở Lào sang. Tiểu đoàn 426 bí mật hành quân, đến Mường Hét gặp 4 tiểu đoàn Âu Phi, bèn triển khai quân đánh chúng chết và bị thương nhiều, số còn lại chạy tán loạn vào rừng. Chúng tôi lùng bắt tàn quân. Trời nhá nhem tối, tôi thấy một tên địch đang giương súng ngắm bắn. Tôi chưa kịp phản ứng thì từ sau lưng tên địch một chiến sĩ của ta xuất hiện vỗ vào vai nó, nó giật mình buông súng, giơ cả hai tay lên hàng. Chiến sĩ ta bắt nó cởi giày, ra lệnh cho nó đi về phía sau. Trận này tiểu đoàn chúng tôi diệt, làm bị thương, bắt sống nhiều địch, làm tan rã 4 tiểu đoàn Âu Phi, ngay từ khi chúng chưa đặt chân lên Điện Biên.


Tiểu đoàn 426 đang thu dọn chiến trường ở Mường Hét thì được tín: Đại quân địch ở Điện Biên đã đầu hàng, lệnh cho tiểu đoàn rút về. Chúng tôi reo mừng chạy thật nhanh tới đỉnh quả đồi có hầm của Đờ-cát, đã thấy một chiến sĩ vác lá cờ đỏ sao vàng đứng ở đỉnh hầm phất liên tục. Địch trong hầm lũ lượt đi ra tay cầm cờ trắng. Từ khi mở chiến dịch, chúng đã chết nhiều, mà nay sao vẫn còn đông thế! Tôi được theo Ban chỉ huy Tiểu đoàn 426 vào hầm Đờ-cát. Hầm gần như trống không ngoài một số giấy tờ vứt bừa bãi và một số cặp tài liệu còn nguyên.


Thiên nhiên như vui mừng với chiến thắng của quân ta. Trời đầu mùa hè nắng ráo, rừng cây xanh mơn mởn như đương nhú chồi non. Hoa ban nở trắng xóa, thơm lừng.

L.N.L


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:06:14 am
MỘT CHUYẾN TRINH SÁT TRƯỚC KHI CHIẾN DỊCH MỞ MÀN


Ngày 20 tháng 12 năm 1953, tôi có mặt ở một cao điểm phía Tây Bắc cứ điểm Điện Biên. Tại đây, qua ống kính nhìn xuống, thật tuyệt vời. Giữa núi rừng hiểm trở lại có một thung lũng bằng phẳng mênh mông. Nông dân mới thu hoạch mùa màng xong, thóc đánh đống ngoài đồng dày như bát úp. Bản làng xanh tươi hoa trái. Giữa thung lũng là con sông Nậm Rốm chảy dài như dải lụa. Cánh đồng Điện Biên đẹp như vậy còn là vựa thóc lớn nhất của vùng Tây Bắc. Song than ôi, bên cạnh cảnh quan yên lành là một cứ điểm quân sự dày đặc của Pháp mà tôi chưa từng thấy. Bọn Pháp đang tiếp tục xây dựng đồn bốt. Mọi hoạt động của chúng thật náo nhiệt, tiếng máy san ủi, mở đường, tiếng máy bay lên xuống gầm thét, tiếng ô tô các loại đan xen vói các tiếng động khác làm núi rừng náo động.


Đến cao điểm này với tôi còn hai người nữa. Hai người này được giao việc gì tôi không rõ vì phải bảo đảm bí mật, theo nguyên tắc việc của ai người ấy biết, tuyệt đối không tò mò tìm biết công việc của người khác. Đặc biệt đối với chiến trường Điện Biên, việc giữ bí mật trong lúc chuẩn bị không những với địch mà ngay cả với nhân dân. Riêng tôi được giao nhiệm vụ dò tìm một con đường được ghi trong bản đồ bằng đường nét đậm, màu đỏ. Đường này xuất phát từ Mường Thanh, qua Hồng Cúm nối liền hai nước Việt - Lào. Yêu cầu đặt rõ là phải nắm được "tính chất của con đường và hiện tại bọn Pháp có sử dụng không". Thời gian ấn định là: Khởi hành lúc 19 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1953, cả đi lẫn về khoảng 40 cây số, không có gì trở ngại, 4-5 giờ sáng 21 tháng 12 năm 1953 về tới nhà. Trước khi lên đường, tôi xác định cẩn thận hướng đi và mục tiêu. Vậy mà bắt tay vào việc công việc diễn ra không đơn giản, mãi đến 24 giờ ngày 20 tháng 12 năm 1953, tôi vẫn không tìm thấy đường nhưng sau khi kiểm tra lại bản đồ, tôi khẳng định: Mặc dù không thấy đường nhưng chắc chắn là tôi đã đi qua nó. Tôi quyết định đi ngược lại phía Hồng Cúm vì biết rõ con đường đằng nào cũng phải qua Hồng Cúm. Quả nhiên, khi gần tới Hồng Cúm tôi phát hiện được nó. Nhưng đi theo hướng ngược lại thì lại không thấy nó đâu nữa. Nguyên nhân là những người nông dân ở đây làm ruộng, họ đã lấp mất con đường không rõ từ bao giờ. Tôi đi ngược thêm lên phía núi hướng Việt Lào. Con đường hiện ra càng rõ hơn. Kiểm tra một đoạn dài tôi thấy mặt đường nhiều chỗ bị phá hủy do mưa lũ, những chỗ còn lại có rác, tre nứa đổ xuống, lâu ngày mục nát, có chỗ dày tới 20-30 centimét. Tôi yên tâm kết luận: con đường không còn sử dụng được. Lúc này đã hơn 2 giờ sáng. Tôi tranh thủ xuống cánh đồng đi về cho nhanh. Trên đường, tôi gặp một đàn trâu gần 70 con. Thấy người lạ chúng vùng phá chạy, nghé con ầm ĩ gọi mẹ. Sợ lộ, tôi lại phải vào núi. Khoảng 5 giờ sáng, đang đi, tôi nghe có tiếng súng bắn phía trong núi? Tôi không khỏi ngạc nhiên: tại sao lại có súng bắn phía trong núi? Tiếp đó phía ngoài lại có tiếng người đi tới. Tôi phải dừng lại vì quả đồi tôi đang đi toàn là cỏ tranh, lau lách, sương đêm phủ đầy trên cỏ, tôi đi đến đâu thì cỏ rẽ đến đó, màn sương mất, quần áo ướt sũng. Tôi sợ nếu dân họ nhầm cho là luồng thú đi, rồi cứ theo dấu vết đó mà săn đuổi, tôi sẽ gặp nguy hiểm. Thế là suốt cả ngày hôm ấy tôi phải thu mình trong một lùm cây, nơm nớp sợ lộ hình tích. Chờ, chờ mãi, đến 17 giờ ngày 21 tháng 12 năm 1953 tôi phát hiện một bọn Tây từ phía trong núi đi về, vai mang súng, vác bia. Tôi sực nhớ lại, thì ra những tiếng súng tôi nghe lúc sáng là từ ở trường bia. Tiếp theo là một tốp dân bản người dắt trâu kéo gỗ, người gùi hàng nặng sau lưng kéo nhau về. Tôi mừng vì giữ được bí mật, tính mạng được an toàn. Trời vừa tối, sương mù bắt đầu phủ, tôi lại đi. Về khuya, trời tối quá, xem đồng hồ không rõ, tôi nhìn lên phía núi thấy mờ mờ mục tiêu xuất phát hôm trước, nhưng không làm sao tìm được đường lên. Đồi tranh rậm rạp, cây cầm cang, cây chó đẻ, cây lưỡi hổ tốt rậm đến nỗi con trâu cũng không rẽ được đường mà đi. Có những lối tôi đi 500 mét đến 700 mét thì cụt đường phải quay lại. Cứ như thế hết lối này sang lối khác, loanh quanh không tìm được lối ra. Bản thân rất mệt vì hai đêm không ngủ, một ngày cơm không có ăn. Tôi có cảm giác không thể đi nổi nữa. Ngồi dựa vào gốc cây bên bờ suối rồi tôi thiếp đi lúc nào không biết. Tỉnh dậy thấy lạnh và ngứa ở cổ, ở bụng, tôi với tay gãi. Trời ơi, kinh quá, cái gì mà nhớt nhèo! Thì ra toàn là vắt rừng nó cắn, khắp người chỗ nào cũng có vắt, con lớn con nhỏ nối đuôi nhau, hút máu no bẫm. Trời rét như cắt ruột mà tôi phải xuống suối lấy tay vuốt rửa, cởi quần áo ra vò, giũ. Tôi đi ngược dòng suối, chọn một chỗ kín đáo, lấy đá xếp xung quanh, trải tẩm vải nhựa tạo dáng như một cái thuyền để vừa ngăn được vắt vừa có thể ngả lưng cho đỡ mỏi. Như vậy tránh được vắt nhưng ngả lưng xuống lạnh không tài nào nằm được, đành ngồi dậy nghe suối chảy và chờ đợi. Sáng ra tôi lần về được địa điểm cũ thì thấy không còn ai và các dấu vết cư trú đã được xoá sạch. Tôi ngồi nghỉ độ 10 phút chợt nghe có người gọi tên. Tôi ngoảnh lại, người ấy chính là đồng đội cùa tôi. Tôi vui mừng ôm chầm lấy anh. Đồng chí ấy cho tôi biết: "Ở nhà đoán đồng chí đã bị bắt hoặc là bị tai nạn rủi ro trên đường đi, nên đơn vị cảnh giác chuyển đi chỗ khác". Thế là gần 40 tiếng đồng hồ, với nhiệm vụ được giao, tôi không đảm bảo được kế hoạch về thời gian, nhưng về nội dung công việc, tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao phó.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:08:40 am
MỘT CÁI TẾT GIAN NAN, TRẮC TRỞ

NGUYỄN VĂN VƯU


Đợt chỉnh quân mùa hè năm 1953 kết thúc. Sư đoàn 316 được lệnh chuẩn bị vào chiến dịch Đông Xuân, hành quân lên Tây Bắc.

Lúc này quân Pháp đã nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Sư đoàn được lệnh áp sát bao vây, chờ lực lượng tăng cường đến, quyết tâm tiêu diệt địch.

Bọn địch hoạt động rất ráo riết. Từng tốp máy bay từ Hà Nội lên thả dù người, vũ khí, lương thực xuống Điện Biên, bắn phá xung quanh và dọc đường.

Sắp đến ngày nổ súng bỗng sở chỉ huy tiền phương sư đoàn được lệnh rút về phía sau, cách tiền duyên ngót 10 ki-lô-mét. Chúng tôi rất thắc mắc, sau đó được giải thích là cần phải chuẩn bị thêm vì địch mới tăng cường lực lượng, binh khí kỹ thuật, xe lăng, đại bác. Ta phải điều thêm lực lượng, làm đường kéo pháo, củng cố công sự, hầm hố.


Chúng tôi được nghỉ ăn tết, mỗi người được hai cái bánh chưng "không quân" và hai lạng thịt ướp từ hậu phương đưa lên. Nhưng rất vui, cái vui của con nhà lính đã quen ăn Tết tinh thần là chủ yếu.

Trưa mồng một Tết, cơm nước xong, Thủ trưởng sư đoàn gọi tôi lên giao nhiệm vụ về tiền phương Tổng cục Cung cấp lúc đó ở Suối Rút để báo cáo tình hình và xin bổ sung đạn, thuốc nổ, lương thực, thực phẩm. Thời gian chậm nhất sau 12 ngày phải biết kết quả để làm kế hoạch bảo đảm chiến dịch.


Từ đây ra Nà Tấu gần 20 ki-lô-mét đường rừng. Đã gần 3 giờ chiều, thời gian quá gấp rút, tôi mải miết đi, thỉnh thoảng gặp vài anh em công binh đi ngược chiều, đo đạc, chuẩn bị mở đường cho xe kéo pháo vào. Cuối mùa đông, ở rừng, trời tối rất nhanh. Thỉnh thoảng có tiếng cú kêu, tiếng mõ trâu lách cách, tiếng suối chảy róc rách, tiếng hoẵng kêu từ xa. Vai đeo ba lô, bụng đói, miệng khát, chân tay mỏi nhừ, tôi rất mệt, nhưng không thể nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, về khuya, chợt nhìn thấy đốm lửa lập loè trước mắt và vẳng nghe có tiếng chày giã gạo, cối nước đổ mỗi lúc một gần. Tôi thở phào. Chặng đường khó khăn ban đầu đã vượt qua.


Bản Nà Tấu hiện ra trước mặt tôi, hơn chục mái nhà bị địch thả bom ban trưa đang cháy dở. Nhân dân đã sơ tán hết, chỉ còn một nóc nhà dưới lùm cây góc bản chưa bị cháy. Mệt quá, tôi uể oải bước lên cầu thang, sờ soạng vào nhà. Chợt có tiếng ho, rồi có tiếng cựa quậy ở góc sàn. Tôi né người sang một bên, sờ vào bao súng để phòng biệt kích. Một giọng nói quen quen: "Ai! Ai ở ngoài đó?" Tôi trả lời và hỏi lại: "Ai đó?"


Tiếng cót két kêu ở góc sàn càng mạnh, vẫn giọng nói đó từ trong vọng ra: "Chúng tôi dân công ra đón xe gạo, đã mấy giờ rồi các anh?". Tiếng nói, tiếng hỏi nhát gừng của hai ba người cùng một lúc. Trong nhà tối om, chỉ còn đốm lửa đỏ trong khuôn bếp giữa sàn nhà. Tôi đặt ba lô, dụi mấy khúc củi. Ngọn lửa bừng lên trông rõ mặt người. Một người tung chăn, nhỏm dậy dụi mắt hỏi tôi: "Ai trông như chú Vưu ở Vĩnh Phúc phải không?" Tôi sửng sốt, hỏi lại: "Tôi ở Vĩnh Phúc đây! Ai vừa hỏi đó?". Tiếng đáp lại: "Lư, Lư Văn Lôi đây!". Tôi chạy lại, ôm chầm lấy bác: "Trời, bác Lư, bác...", rồi nghẹn ngào nói không được. Bác Lư, con cụ Đấu xóm Chùa, bằng tuổi anh tôi, một con người hiền lành, ít nói, chân thật. Những bác nằm bên cạnh cũng tung chăn ngồi dậy vây quanh tôi.


Đã hai năm lên chiến đấu ở Tây Bắc, đây là lần đầu tôi gặp người làng, lại là bà con thân thuộc ở vùng địch hậu ra. Cái vui nhất của người đi xa quê hương là nhận được thư nhà, gặp người quen, nhất là được gặp bà con thân thuộc.

Từ ngày tôi đi bộ đội, đã hơn 7 năm, chỉ có vài lần, niềm vui đó đến với tôi. Bây giờ gặp bác Lư ở đây thật là đột ngột, niềm vui không sao kể xiết.

Bên bếp lửa hồng, bác kể cho tôi nghe tình hình quê hương đang bị địch o ép, kìm kẹp, gây biết bao nhiêu tang tóc. Rồi đến những trận chống càn, phá tề, trừ gian. Bác kể về gia đình tôi: "ở ngoài nhà, ông, bà vẫn khỏe. Năm ngoái bà ốm phát điên, suốt ngày kêu gào gọi tên chú! Vài tháng sau thuốc men chữa khỏi, sức khỏe đã hồi phục. Năm ngoái địch càn, ngôi nhà bị đốt cháy, vừa qua được bà con giúp đỡ đã làm lại...


Còn chuyện cô sếu vợ chú, chắc chú đã biết...". Tôi bàng hoàng, sửng sốt. Chuyện gì? Chuyện lành hay chuyện dữ? Vợ chồng tôi lấy nhau được mấy tháng thì tôi đi bộ đội, bảy tám năm rồi, chỉ có một lần về phép năm 1949 ba bốn ngày, từ đó đến nay không có tin tức. "Nhà em sao hả bác?", tôi hỏi giật giọng. Bác lại trầm ngâm kể tiếp: "Đầu năm ngoái, địch mở trận càn lớn vào làng ta, lùng sục khắp nơi. Xe lội nước chạy khắp cánh đồng dồn dân lên tập trung ở đình. Chi có một số thanh niên luồn qua đồng lúa trốn thoát. Cô Sếu và một số chị em du kích cũng bị lùa về tập trung. Do có chỉ điểm, hơn mười chị bị bắt đưa đi, trong đó có cô Sếu". Nghe đâu cô nó bị tù ở Nhà Tiền Hà Nội. Bà nhà ta có ra Hà Nội, dò la, tìm cách đến thăm nhưng không được. Đến hôm tôi ra đi, cũng không được tin gì thêm, chẳng biết còn ở Nhà Tiền hay đi Phú Quốc".


Nghe bác Lư nói đến đây, tôi không sao cầm nổi nước mắt. Nhớ người vợ hiền tần tảo thay chồng nuôi bố mẹ già để chồng đi chiến đấu, nay sự việc như vậy, đau xót biết chừng nào!

Xa xa có tiếng xe vọng lại, nhìn đồng hồ đã hơn một giờ sáng. Các bác dân công chuẩn bị ra bốc gạo, còn tôi thu xếp lên xe về Tuần Giáo, Thuận Châu. Buổi chia tay giữa tôi, bác Lư và các bác dân công chứa chan tình cảm.
Tôi lên xe. Đêm mồng một Tết, máy bay địch ít hoạt động. Xe chạy qua các trọng điểm đều an toàn.


Vào kho sư đoàn ở hang Thuận Châu, tôi nhận một xe đạp "thồ" từ phía sau mới đưa lên với mục đích gặp quãng nào không đi được ô tô thì đạp xe tranh thủ thời gian.

Sau đó, tôi lại nhờ xe về Mộc Châu nhưng xe chỉ đến Cò Nòi rồi rẽ về Phú Thọ. Tôi đạp xe về Mộc Châu, hai ngày đêm ròng rã, gặp đâu ngủ đây. Nhân có một xe chở đạn cối cho Mặt trận Trung Lào, ngay tối hôm đó tôi đi nhờ về tiền phương Tổng cục Hậu cần. Xe chở đạn cối 82, đai kiện còn nguyên vẹn. Tôi treo xe đạp ở ngoài nằm gọn bên trong ngủ thiếp đi.


Đang mơ mơ, màng màng chợt nghe có tiếng người, tôi muốn mở mắt, nhưng hình như có cái gì đè trĩu trên mi mắt. Tôi co chân lại, nhưng hai chân cứng đờ. Lạ quá, tôi cựa quậy, nhưng toàn thân đau nhừ, không tài nào nhích nổi. Có tiếng gọi tôi nhè nhẹ: "Đồng chí! Đồng chí tỉnh dậy...". Tôi dần dần tình lại mới được biết các y, bác sĩ đã thức trắng đêm qua đến giờ để phục vụ tôi, một ca thương binh bất tỉnh.


Hôm sau tôi được biết, chiếc xe ô tô tôi đi nhờ hôm đó, bị máy bay địch đuổi, đâm xuống suối, lăn nhiều vòng, hất những hòm đạn và tôi xuống lưng dốc rồi tiếp tục lăn úp xuống suối. Hai anh lái xe chết ngay trong ca-bin.

Tôi dần dần tỉnh lại, toàn thân bị băng bó cứng đờ. Sực nhớ đến nhiệm vụ, tôi nhờ gọi điện thoại về kho Vạn Mai, có đại diện của Sư đoàn 316 ở đó. Sáng hôm sau, đồng chí Lê Phan đến thăm và nhận nhiệm vụ thay tôi.

Đây là bệnh xá tiền phương Tổng cục. Tôi nằm ở đây được sự chăm sóc tận tình của các y, bác sĩ, các nhân viên phục vụ. Được 10 ngày thì chuyển về phía sau. Sau hai tháng, vết thương đã khỏi, sức khoẻ dần dần hồi phục, tôi lại về Sư đoàn tiếp tục làm nhiệm vụ.

N.V.V


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:10:41 am
GIẢ ỐM TRƯỚC MẶT VỢ CON ĐỂ GIỮ BÍ MẬT


NGUYỄN CÔNG HUÂN


Tôi là một trong những chiến sĩ trẻ vinh dự được vào Vệ quốc đoàn từ tháng 11 năm 1949, lúc đang ở "tuổi 17 bẻ gẫy sừng trâu".

Tôi được về đại đội 350 thuộc tỉnh đội Sơn Tây; sau đó chuyển sang làm pháo thủ ở đại đội 81, tiểu đoàn 840, Đại đoàn 304.

Đơn vị chúng tôi đã trợ chiến cho các đơn vị bộ binh nhổ nhiều đồn bốt của địch ở Vân Lại, Vân Hải, Vô Tinh, chùa Non Nước thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Tôi và 5 anh em nữa chung nhau một khẩu sơn pháo 75 mi-li-mét. Những con "voi sắt" này tuy còn thô sơ nhưng đã làm cho kẻ địch "thất điên bát đảo", bắn chìm nghỉm một số tàu chiến, ca nô của chúng trên dòng sông Đáy.


Theo đường số 7, pháo binh chúng tôi lại cùng bộ binh phối hợp chiến đấu đánh địch ở Sầm Nưa, Xiêng Khoảng (Thượng Lào), sau đó trở về vùng Khu IV chỉnh huấn, chỉnh quân rồi tiếp tục đi chiến dịch Thu Đông năm 1953.
Ngày ấy, lính sơn pháo chúng tôi đi đến đâu cũng phải gồng gánh, khiêng vác vũ khí, súng đạn và cả gạo thực phẩm trên đôi vai. Các chú "voi con" được tháo ra từng bộ phận khung, càng, máng xiết, nòng ngắn, bánh xe, lá chắn được ngụy trang bằng lá cây để đảm bảo bí mật, an toàn trên đường hành quân.


Những cơn rét ngọt đổ về làm ai nấy đều nao nao nhớ quê nhà đang mùa gặt hái tháng 10. Nhớ lũy tre làng, giếng nước, bờ ao, nhớ bố mẹ, vợ con, người yêu, bạn gái...

Từ con đường dọc theo núi Nưa (Thanh Hóa), đoàn quân tiến về Phủ Quỳ để vào Nghệ An. Chỉ có chỉ huy đại đội mới biết được đích cuối cùng ở đâu, còn cánh "lính trơn" chúng tôi thì chịu. Bạn này đoán vào "Bình Trị Thiên khói lửa", bạn kia đoán sang "đất nước triệu voi".


Trong đơn vị có nhiều chiến sĩ quê ở Khu IV, chuyến này được hành quân qua quê nhà ai mà chẳng muốn "tạt". Vài ba năm rồi, hầu như chưa ai có dịp về thăm nhà, nên nhớ lắm. Anh nào nhận được thư nhà là phải đọc to cho cả đơn vị nghe để cùng nhau san sẻ vui buồn. Nhiều chiến sĩ mừng thầm chuyến này nhất định sẽ được tranh thủ qua nhà, gia đình sẽ mừng vui, ngạc nhiên, sửng sốt biết chừng nào!

Cánh lính trẻ trêu mấy anh lớn tuổi có vợ con:

- Anh Cả, anh Hai gặp "bu cháu" sướng nhé, bõ những ngày khát khao đợi chờ, nhó mong, hờn giận!

Anh Cả, anh Hai vui ra mặt:

- Tớ sẽ mưa thật nhiều thuốc lào ngon để các cậu hút thoải mái hàng tháng.

- Mình phải tìm xem cô nàng bố mẹ ở nhà đã "dấm", mặt mũi ra sao, tính nết thế nào. Duyệt được là ăn hỏi rồi cưới luôn!

Lính ta tưởng tượng ra bao nhiêu chuyện thú vị trong chuyến ghé thăm nhà đột ngột sắp diễn ra.

Những thôn ven đường của bà con Khu IV rất sạch sẽ gọn gàng. Những đồng lúa chín vàng trải dài như tấm thảm, những rặng cau, cọ dừa, chuối, hàng rào râm bụt, những giếng nước trong mát, bờ tre, cây đa... quê hương sao mà đẹp thế!


Bà con lao động hăng say, các cô thôn nữ tay liềm, tay hái nhanh thoăn thoắt. Các em thiếu nhi tắm mát dưới dòng sông, nước trong veo, có em ngồi trên lưng trâu thổi sáo điệu dân ca xứ Nghệ.

Nhiều o gái trong thôn như o Thanh, o Mai, o Nhung, o Loan, o Huệ... gặp bộ đội hành quân đã giúp các anh bộ đội gánh gồng, khiêng vác hành trang vừa đi vừa trò chuyện vui vẻ. Các o còn cùng các mẹ các chị tranh thủ vá quần áo rách cho bộ đội.


Những bát nước chè xanh nóng, những tấm mía, củ lạc, củ sắn, củ khoai, trái cam, quả bưởi... đậm đà ấm áp tình quân dân cá nước. Thời gian lưu lại sau từng chặng đường ngắn ngủi nhưng tất cả đã để lại cho chúng tôi những kỷ niệm, những tình cảm nồng thắm khó quên.


Những giấc mơ được tạt qua nhà của mấy anh em có gia đình ở đúng địa điểm đơn vị tạm trú quân chỉ là giấc mơ. Mệnh lệnh cấp trên vừa truyền xuống: Phải tuyệt đối giữ bí mật tình hình nhiệm vụ của đơn vị. Anh em nào kể cả cha mẹ vợ con ở ngay thôn, xóm làng, xã của mình thì phải tìm cách tránh mặt người thân quen. Phải giữ nghiêm kỷ luật như vậy vì kẻ địch rất xảo quyệt, chúng tung gián điệp, dò la tin tức các đơn vị chủ lực của ta chuyển quân theo hướng nào để tìm đoán ý đồ mở chiến dịch của quân ta và cho máy bay bắn chặn.


Sau khi nghe lệnh, anh em quê Khu IV tuy bị cụt hứng nhưng rất hiểu tầm quan trọng của việc giữ bí mật. Với khí thế đi chiến dịch hừng hực khẩn trương, anh em nhanh chóng thông suốt tư tưởng: đánh địch xong sẽ về thăm nhà. "Quân lệnh như sơn", anh em hứa sẽ thực hiện nghiêm chỉnh. Song làm cách nào để tránh mặt những người thân quen giữa ban ngày, đó mới là điều khó. Một sáng kiến của tiểu đoàn nêu ra được anh em vui vẻ chấp nhận ngay, đó là kế "giả ốm".


Hôm đó, đơn vị trú quân ở một làng có mấy gia đình có người thân ngay trong đơn vị. Thế là có mấy chiến sĩ đầu đội mũ tùm hụp, mồm đeo khẩu trang chỉ để hở hai con mắt. Đó là những người "giả ốm" để che mắt người thân ở làng, xã mình. Người ốm giả phải đi với đơn vị thu dung. Họ đi sau cùng, đến nơi thì trèo lên giường ngủ, cơm canh được mang đến tận giường, được ngủ cả ngày, miễn họp hành, không phải đào hầm, không phải giúp việc anh nuôi. Có dân làng đến hỏi thăm, cán bộ ngăn lại, cảm ơn nhưng bảo bà con không nên đến gần, bệnh nhân này mắc bệnh dễ lây.


Ở tiểu đội 2 bỗng xảy ra một tình huống thật bất ngờ. Số là, đội tiền trạm 12 người ở trong một gia đình nhà cửa rộng rãi. Tiểu đội trưởng là Thích, tiểu đội phó là Lân, ít tuổi nhất có tôi và Quang. Anh Phạm Đệ là người nhiều tuổi nhất đã có vợ và 2 con. Người chủ nhà, một bác nông dân tốt bụng, lại chính là chú ruột của anh Đệ. Anh Đệ giả ốm, bác chủ nhà cứ đòi đến thăm hỏi han xem Đệ ốm đau thế nào. Anh Lân xua tay nói:

- Bác ơi! Dịch cúm hay lây, xin bác thông cảm đừng đến gần bệnh nhân.

Điều gay go hơn nữa là gia đình anh Đệ ở ngay bên cạnh. Hôm ấy vợ và hai con anh sang chơi nhà chú. Vợ anh Đệ hỏi thăm chúng tôi đơn vị của chồng chị có hành quân qua đây không. Có ai biết tin tức gì về đơn vị của chồng chị không.


Biết rằng vợ và con mình đến, anh Đệ đang ở trên giường vội vàng trùm kín chăn và nằm im thin thít. Cả tiểu đội chúng tôi vừa xúc động vừa buồn cười chỉ lo lộ bí mật!

Hôm sau, ra khỏi nhà người chú của Đệ, trên đường hành quân chúng tôi hỏi Đệ:

- Cảm tưởng của anh thế nào khi vợ con sang nhà chú chơi tối hôm đó?

Đệ mỉm cười:

- Thú thực với các cậu lúc đó mình chỉ muốn tung chăn vùng dậy để làm cho gia đình chú thím và vợ con được một niềm vui bất ngờ. Nhưng mình đã cố kìm nén. Mình đã khóc thầm trong chăn khi các cậu theo chân cô ấy cùng hai cháu sang nhà mình chơi. Lúc mình nhập ngũ, đứa con gái đầu mới lên hai tuổi, "bà xã" đang có thai cháu thứ hai cho đến bây giờ mình chưa biết mặt mũi nó ra sao. Được tin "mẹ tròn con vuông", đã có thằng chống gậy để "nối dõi tông đường" mình mừng vô kể.


Ngừng một lát, cảm thấy như có lỗi với cái gia đình bé nhỏ của mình ở làng quê thân yêu, anh tâm sự:

- Mình thương cô ấy quá, một mình lam lũ cày cấy nuôi hai đứa con. Những lúc bão lũ, hạn hán, đói ăn, rách áo, con ốm, mẹ đau chắc vất vả lắm. Chồng đi bộ đội xa biền biệt, chẳng giúp được gì cho vợ con.

Tuyến hành quân của chúng tôi cứ đêm đi, ngày nghỉ, mỗi chặng đường trên dưới 35 ki-lô-mét. Hành trang nặng nề, đường khó đi, qua nhiều dốc núi, khe suối rừng cây âm u. Đơn vị nào có người phải đóng màn kịch giả ốm thì càng vất vả.


Chúng tôi còn phải khẩn trương hành quân để kịp đến với bộ binh. Những trận đánh hiệp đồng binh chủng đang chờ ở phía trước.

Tôi nhớ có một bài hát về pháo binh "chắc tay đòn cho Voi đi nhanh. Voi ơi! Voi đi là Voi đến đồn Tây, Voi gầm, Voi thét là sụp ngay đồn, là nát đông tây, ta đánh đồn Tây, Tây chết nhiều là chết nhiều Tây. Voi gầm sông Đáy là chìm đắm tàu Tây...".


Bài hát này không nhớ tác giả là ai, chúng tôi thuộc lòng và vẫn thường hát trong các buổi sinh hoạt.

Năm đó, đơn vị pháo binh chúng tôi đã cùng bộ binh hạ các đồn địch ở Mù Gia, Ba Na Phào, Hin Sìu, giải phóng tỉnh Thà Khẹt của nước Lào anh em.

... Nửa thế kỷ đã trôi qua, lính trẻ chúng tôi ngày ấy đến nay kẻ mất, người còn. Các chiến sĩ còn lại nay là những cựu chiến binh đầu đã bạc, đã nghỉ hưu nhưng vẫn phát huy tốt bản chất, truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" trên trận tuyến mới, góp phần làm đẹp quê hương.

(Ghi theo lời kể cùa cựu chiến binh Đỗ Văn Vĩnh)
N.C.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 27 Tháng Mười, 2021, 07:12:06 am
VƯỢT 26 THÁC GHỀNH ĐƯA PHÁO VỀ THAM CHIẾN


TRẦN QUANG TẠO


Đậu Tú đệ nhị chuyên khoa Quỳnh Cư tạm gác bút nghiên tình nguyện vào bộ đội. Năm 1951 anh được đi học đào tạo thành sĩ quan xạ kích pháo 105 ly. Năm 1953 học xong, anh được giao nhiệm vụ chỉ huy đại đội 119 đóng bè chở xe, chở pháo từ biên giới Việt Trung theo đường sông về xuôi chuẩn bị cho pháo tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.


Cấp trên giao cho trung đoàn của Quỳnh Cư tháo rời các bộ phận của xe, của pháo đưa lên bè chở về xuôi rồi lắp ráp lại thành nguyên xe, nguyên pháo sẵn sàng chiến đấu. Công việc này cực kỳ gian khổ, khó khăn, phải vượt qua 26 thác ghềnh với những tên gọi rùng rợn: Hòn Xương - Hòn Hồng - Dụm Ba - Cướp Gạo -   Miệng Hổ - Rãnh Cày, v.v... đã phá vỡ không biết bao nhiêu bè, mảng, cướp đi không ít của cải và sinh mạng con người.


Biết tình hình như vậy, Quỳnh Cư đã dành thời gian ngược xuôi dòng sông Đà nhiều lần, quan sát tỉ mỉ từng thác, từng ghềnh, tìm gặp các cụ già, người giỏi sông nước nhờ truyền cho kinh nghiệm "vượt thác - xuôi ghềnh". Bước đầu đại đội 119 chặt nứa - gỗ và đóng bè kiểu "Đấu" tức là xếp nứa chồng lên nhau như cách lợp nhà. Bè này không chở nặng được chuyển sang kiểu "Bó cốn" cũng không chở được xe pháo. Anh em nghĩ ra cách cưa những đoạn ống nứa to gộp thành từng bó rồi ghép bè. Độ nổi tốt đủ sức chở xe, pháo. Kiểu này gọi là bè "Bó cốn + Đấu". Quỳnh Cư cho xếp hơn 2 tấn đá hộc thay xe thay pháo để chở thử. Bè nhổ neo. Anh em kẻ trên bờ, kẻ dưới bè cùng hát vang bài: "Toán chiến sĩ thủy quân ra khơi...". Bè đang đi bỗng tự nhiên quay ngang rồi quay vòng tròn, nứa nổ lốp đốp. Thì ra gặp ghềnh đá, bè bị mắc Ngõng Cối. Anh em phải nhảy xuống sông dìu bè ra khỏi Ngõng Cối để tiếp tục hành quân. Khoảng 1 giờ sáng bè lại bị mắc cạn ở Hòn Xương, vất vả lắm mới đẩy được ra khỏi bãi cát. Đi được độ 5 cây số thì nghe tiếng thác Hòn Hồng đổ ào ào. Tốc độ bè đột ngột tăng rất nhanh, bè quay ngang, lao đi băng băng. Hai đồng chí chèo mồng cố lái cho bè trôi dọc theo dòng chảy nhưng không được. Rắc... rắc... cả hai chèo mồng cùng bị gãy. Thế là đành bó tay, phó mặc số phận "Hà Bá", "Long Vương"! Bè lao nhanh như ô tô mất phanh, cấp bách quá, Quỳnh Cư vội ra lệnh cho mọi người khẩn cấp chuyển nhanh sang mảng. Rất may, anh em vừa sang đến mảng thì bè gãy gập thành hình chữ V quay cuồng giữa dòng. Chiếc mảng trôi dạt vào bờ, cách thác Hòn Hồng độ 4 cây số. Không ai bị thương nhưng mỗi người trên mình chỉ còn quần đùi áo lót. Bao nhiêu hành trang và thức ăn, thịt gà, gạo mắm muối đều bị quan "Hà Bá" cướp sạch. Nhất định không thể để bè trôi làm lộ bí mật. Anh em vật lộn với nước cuốn, dìu bằng được bè vào bờ đóng cọc, ngụy trang. Thế là công cốc! Quỳnh Cư và anh em lặn lội trở về nơi xuất phát, đóng chiếc bè thứ 2 tiếp tục thực hiện cuộc thử nghiệm. Lần này anh em bàn bạc cải tiến, thiết kế đầu bè hơi nhọn như mũi thuyền, đuôi hình đuôi cá, chèo làm bằng loại gỗ giẻ có sức dẻo cao, tránh được giòn gẫy. Nhờ vào tinh thần dũng cảm sáng tạo của bộ đội và sự giúp đỡ tận tình của nhân dân, chiếc bè thí nghiệm thứ 2 đã thành công, về đến đích an toàn. Sau đó chiếc bè thứ ba thật sự hoạt động nhưng cũng chỉ chở được chiếc xe Jeep của trung đoàn phó Nguyễn Thức và mấy cán bộ. Bè cập bến Âu Lâu, thị xã Yên Bái an toàn. Từ đó nhiều chuyến bè đã lần lượt chở xe, pháo về đích suôn sẻ. Trung đoàn 45 lựu pháo có mặt ở chiến dịch Điện Biên, bất ngờ trút lửa xuống đầu giặc, góp phần làm nên chiến thắng.


Sau ngày miền Bắc giải phóng (7-1954) anh "chiến sĩ Điện Biên" Quỳnh Cư chuyển sang ngành giáo dục. Ở cương vị mới anh vẫn giữ vững và phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", "Chiến sĩ Điện Biên" làm tròn nhiệm vụ người thầy giáo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa.

T.Q.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Mười, 2021, 07:49:37 am
CỨU KHO GẠO HÀNG NGHÌN TẤN Ở ĐIỆN BIÊN


XUÂN LỘC


Cuối tháng 4 năm 1954, quân ta đang thắng lớn ở chiến dịch Điện Biên.

Ngày chiến thắng càng gần, yêu cầu cung cấp quân lương cho mặt trận càng lớn. Thực dân Pháp không lạ gì: Ta đánh mạnh đánh lâu dài được là nhờ có lực lượng hậu cần ở tuyến sau. Bởi vậy, chúng ngày đêm cho máy bay lùng sục, đốt phá.


Hồi Xuân, huyện miền núi Thanh Hóa, là điểm tập kết kho hậu cần quan trọng cho chiến dịch Điện Biên. Ngày ngày, từng tốp máy bay "Bà già" nhòm ngó, vạch vòi từng ngọn cây. Lần này, ba máy bay ném napan vào cạnh một tổng kho hậu cần trung chuyển của ta. Đây là một kho lớn chứa hàng ngàn tấn gạo với biết bao mồ hôi nước mắt của người khu IV dành cho Điện Biên.


Vào giờ này, hàng ngàn dân công đã sơ tán vào các khe suối xa. Ở tổng kho chỉ còn mấy người trực bảo vệ. Lửa napan bốc cháy rừng rực. Một ngọn lửa bừng bừng lao theo chiều gió, đe dọa thiêu hủy cả kho gạo thành than. Ngày mai hàng vạn chiến sĩ sẽ ăn bằng gì? Nghĩ đến đó, ông Đặng Chí Thiện trung đội trưởng dân công Nga Liên, Nga Sơn Thanh Hóa, lo và tiếc đến chảy nước mắt! Phải làm gì bây giờ đây? Ông vừa chạy vừa hô:

- Các đồng chí ơi, cứu kho!

- Các đồng chí ơi, cứu gạo!

Ông đạp lên gai, đá chạy thục mạng quên cả bàn chân mình đang bị toạc máu, chạy hết suối này đến khe khác, vừa chạy vừa hô đến vỡ họng.

- Cứu kho!

- Cứu gạo!

Tiếng hô đập vào vách núi lộng vang. Tiếng hô đã kéo về được gần 100 dân công, cùng với lực lượng bảo vệ lao vào chữa cháy. Lửa bừng bừng như điên. Nước ở đồi không có, trong tay mọi người không có một dụng cụ gì chữa cháy, làm thế nào trong tình thế nguy cấp này?


Ông Thiện đã có sáng kiến cho lực lượng dân công, dùng dao chặt một lối cây ném xuống để tạo ra một khoảng trống, ngăn ngọn lửa hung hãn cháy đến đó không cháy tiếp nữa. Kho gạo được cách lửa, được an toàn.

Ba giờ sau, ngọn lửa yếu dần rồi tắt hẳn. Mọi người mệt nhoài, ngồi thở hổn hển. Tiếc thay có bốn người vì cứu gạo bị bỏng nặng và đã hy sinh! Mọi người cúi đầu thương tiếc những đồng đội dũng cảm không còn nữa.

Lúc này mọi người quần áo, đầu tóc, mặt mũi đều đen ngòm như than.

Lửa vừa tắt, ba chiếc xe con của Hội đồng cung cấp Mặt trận tức tốc đến. Nhìn thi hài 4 dân công bị cháy, nhìn các chiến sĩ cứu kho đen sạm, nhìn kho gạo vẫn được bảo vệ nguyên vẹn, các cán bộ lãnh đạo vừa thán phục vừa thương xót.


Đêm về, các đoàn dân công: xe thồ, gánh bộ lại lên đường ra tiền tuyến như trẩy hội. Những câu hò khu IV, hò Thanh Hóa, hò dân công... lại vang lên xua tan mùi khét của bom đạn, xua tan màn sương khuya lạnh giá:

... Mùng một ăn tết ở nhà,
Mufng hai đan sọt, mùng ba lên đường
Mùng bốn anh đi tải lương
Mùng năm chuyển gạo trên đường Điện Biên... "


Bây giờ đã là tháng năm dương lịch, tức tháng ba âm lịch. Thời gian quy định của một khóa dân công là hai tháng. Ai cũng mong mãn hạn, hoàn thành nhiệm vụ trở về. Nhưng chiến dịch càng gần ngày thắng lợi, lực lượng quân ta đổ về Điện Biên càng đông, yêu cầu cung cấp quân lương càng lớn. Một vấn đề đặt ra với ban cung cấp mặt trận là: Lực lượng chuyển tải hậu cần ra trận phải nhiều, phải đông. Nếu để lớp dân công này ra về, lớp khác lên tiếp thì không kịp, không đủ? Vậy phải làm sao?


Gian khổ, vất vả, cái chết luôn rình rập đe doạ từng ngày, từng giờ. Dân công hết hạn ai cũng mong chờ ngày về. Là một đảng viên, một cán bộ trực tiếp chỉ huy dân công, ông Thiện ra sức vận động, thuyết phục được cả trung đội tình nguyện viết đơn ở lại đến hết chiến dịch. Phong trào 100% dân công Nga Liên làm đơn tình nguyện ở lại phục vụ chiến đấu đã lan rộng trong các đội dân công toàn huyện, toàn tình, toàn tuyến. Một cuộc thi đua v[si Nga Liên được phát động sôi nổi. Ông Đặng Chí Thiện được điều đi vận động các đơn vị phong trào còn yếu. Thế rồi tất cả dân công đợt đầu năm đều làm đơn tình nguyện ở lại hết. Họ ở cho đến khi xong chiến dịch (tròn bảy tháng) với khí thế "Người người lớp lớp hướng về Điện Biên! Vì Điện Biên! Tất cả cho Điện Biên!".


Không bao lâu, bài ca "Giải phóng Điện Biên" đã vang lên náo động núi rừng, náo động đất nước, rung động toàn cầu: "Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui!".

Rời Điện Biên, ông Đặng Chí Thiện về quê Nga Liên, Nga Sơn, nơi đã bốn đời gia đình ông một lòng thờ phụng Chúa. Ông được giao nhiệm vụ hoạt động trong Mặt trận Tổ quốc và vận động giáo dân. Sáu mươi tuổi ông nghỉ hưu.

Ngôi nhà gỗ năm gian mái chảy kiểu cũ của cụ Thiện vẫn như xưa, ẩn trong một khu vườn rậm rập râm mát. Khuôn vườn trồng cây lưu niên bao quanh một hồ cá. Cụ có ba con trai, năm con gái đã là cán bộ, đảng viên. Hàng chục cháu nội, ngoại của cụ đang lần lượt vào đại học. Cụ đang ở tuổi 86, cụ không được khoẻ. Các con cháu thay nhau túc trực chăm sóc cụ.


Nghe nói có khách đến chơi cụ như khoẻ ra, trò chuyện với tôi rất sôi nổi, kể cho tôi nghe cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Ngoài vô số huân, huy chương chống Pháp, chống Mỹ, Huy chương Vì sự nghiệp đoàn kết dân tộc, Vì sự nghiệp Nông dân Việt Nam, giấy chứng nhận 50 năm tuổi Đảng, giấy chứng nhận lão thành cách mạng của cụ treo trên tường, cụ còn rút ra từ một cái ống bương cũ bốn cái giấy khen đã cất kín 49 năm nay. Đó là bốn giấy khen thành tích của cụ tại mặt trận Điện Biên, những tờ giấy khen cũ kỹ như còn mùi khét bom đạn. Bốn tờ giấy khen này tuy cũ, in vào loại giấy xấu nhưng chữ ký bằng mực tím và con dấu ở chiến trường Điện Biên xưa còn son nguyên.


Nhìn cụ Thiện 86 tuổi hôm nay già yếu, tôi hình dung lại hình ảnh chàng trai Đặng Chí Thiện năm xưa quên mình cứu kho gạo hàng nghìn tấn ở Điện Biên. Tuổi trẻ của cụ, cuộc đời của cụ thật đáng tự hào.

X.L


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Mười, 2021, 07:52:53 am
CHỊ CĂN, ĐẠI ĐỘI PHÓ ĐẠI ĐỘI DÂN CÔNG ĐẶC BIỆT


BÙI VĂN TRINH ghi


Bà cụ Căn ngồi giã trầu trên chiếc trường kỷ, mắt nhìn ra bãi mía xanh mượt bên cạnh chân đồi trưởc nhà.

Lùa miếng trầu vào mồm, vừa bỏm bẻm nhai, cụ vừa kể câu chuyện của cụ từ năm chục năm đã qua...

Năm 1954, chị Căn, cô gái Mường "hoa hậu làng" tròn 20 tuổi. Chị được bà con xã Kiên Thọ (Ngọc Lặc - Thanh Hóa) trầm trồ thán phục vì cuối năm kia, đầu năm ngoái, chị đã từng đi dân công tiếp vận phục vụ chiến dịch Thượng Lào những ba tháng với đôi bồ gồng gánh nặng vai, đôi chân cuốc bộ trên nhiều nẻo đường dài, từng dãi gió dầm sương gió rét, mưa rừng, từng ăn sắn non, măng đắng để hoàn thành nhiệm vụ.


Ngay sau đó chị lại xung phong đi tiếp vận phục vụ chiến dịch Điện Biên. Được biết trận này ta đánh lớn, quân đông cần nhiều cơm gạo, thuốc men, đạn dược nên cả mường, cả tỉnh đâu đâu cũng sục sôi khí thế kháng chiến với tinh thần "Tổ quốc trên hết"; "quân sự trên hết"; "đánh giặc trên hết". Anh Tông, anh Nhung, anh Tự, chị Nối là cán bộ Đảng nói với dân bản: - Người Mường ta bao đời nay bị bọn lang đạo phong kiến áp bức bọn Tây bóc lột làm cho khổ sở. Chỉ có đánh đổ bọn lang đạo phong kiến, đuổi hết giặc Tây, dân ta mới hết khổ.


Chị Căn hiểu như vậy và ngày 26 tháng 1 năm 1954 chị cùng ba chục anh chị em trong thôn hăng hái lên đường. Đến huyện tập trung, chị được giao làm "xê phó" một "xê" dân công đặc biệt, gồm 200 em học sinh tuổi từ 14 đến 16 của trường cấp hai huyện Ngọc Lặc tình nguyện nghỉ học để xung phong đi tiếp vận phục vụ chiến dịch.


Hồi đó địch hoạt động trên không ráo riết. Máy bay chúng kiểm soát các tuyến quốc lộ 15A, dọc sông Chu, sông Mã. Dân công ta luôn luôn phải làm tốt công tác bảo mật phòng gian, cảnh giác với các âm mưu thủ đoạn của địch, mặt khác phải luôn làm tốt các biện pháp phòng không, đảm bảo được an toàn cho các kho sơ tán, các điểm trú quân và nhất là khi vận chuyển hàng.


"Xê" đặc biệt của chị Căn tuy hầu hết là học sinh nhưng tinh thần hăng hái chẳng kém gì các anh các chị thanh niên. Ban ngày đi nhận hàng về nấu cơm ăn, tranh thủ học tập, nghỉ ngơi, tối đến, đôi bồ trên vai, áo tơi đèn chai treo đầu quang gánh, toàn "xê" đổ ra đường hòa cùng dòng người gồng gánh, xe đạp thồ hối hả đưa hàng ra mặt ưận. Tuổi nhỏ nhưng các em vẫn gánh hai mươi cân đi thâu đêm với quãng đường từ 20- 25 cây số, liên tục từ 8 đến 10 đêm một đợt, mặc gió rét mưa phùn, đường trơn đèo dốc. Còn chị Căn là "liền chị" nên thường xuyên gánh nặng từ 30-35 ki-lô-gam hàng. Một lần, máy bay địch ném bom trúng kho lương thực ở bản Báy (Minh Sơn, Ngọc Lặc) bị cháy. Trong khi tham gia cứu hàng, chị đã vác cả một bao gạo sọc xanh nặng 90kg, tính ra hôm ấy chị đã vác gần 7 tạ gạo thóc chuyển ra ngoài an toàn. Ở "xê" của chị, có một người dân công đặc biệt là Cố Chùa (xã Vân Am) đã 62 tuổi. Suốt đợt dân công gần ba tháng, đêm nào cố cũng gánh 30 hoặc 35 ki-lô-gam gạo đi suốt 25 cây số chẳng nghỉ ngơi. Những ngày nghỉ, cố đi vào rừng hái rau, xuống khe bắt cá hoặc kiếm thuốc nam về chăm sóc sức khoẻ cho các cháu. Thật là một "xê" dân công đặc biệt, có chị có em, có ông có cháu.

Riêng với chị Căn, có một sự kiện suốt đời chị không bao giờ quên.

Trưa ngày mồng sáu tháng hai hôm ấy trời hửng nắng, "xê" dân công của chị trú quân tại làng Tỉu (Lang Chánh). Chị tranh thủ ra khe, đi ngược dòng tìm một vũng nước sâu và khuất để tắm cho thoải mái (hồi ấy các cô gái Mường thường tắm truồng). Bỗng có tiếng cành cây rơi làm chị giật mình tim đập loạn xạ. Tiếp theo là tiếng dao chặt kỳ cạch. Chị định thần nhìn kỹ theo hướng có tiếng dao chặt. Trên một cây cao dễ đến gần bốn chục mét bên bờ khe có một người đang chặt những cành lá trên ngọn cây. Đó là thằng Ngần, con lão trùm Giác (ở xã Minh Sơn Ngọc Lặc), một địa chủ ác bá trong vùng. Nó không đi dân công, sao lại lên đây làm gì? Chị chợt hiểu khi nhìn thấy từ ngọn cây trên đầu nó một tấm gương của thợ cắt tóc được buộc chếch ngược lên trời, bên cạnh có một cây sào nứa dài cuốn giấy trang kim sáng lấp lánh, hình mũi tên chỉ thẳng về hướng kho lương thực Lang Chánh (tỉnh Thanh Hóa). Đúng nó là Việt gian chỉ điểm rồi! Phải mau báo cho các anh công an bắt nó. Nhưng từ chỗ cái cây đến chỗ chị đang tắm gần quá, nếu không cẩn thận nó biết sẽ trốn mất. Trống ngực đập thình thịch, hai chân run run, chị khe khẽ đi giật lùi mắt vẫn nhìn về phía thằng Ngần. Bỗng "huỵch" "tùm", chị dẫm phải một hòn đá có rêu trơn, trượt chân ngã xuống vũng nước sâu. Thằng Ngần giật mình nhìn xuống. Trông thấy chị, nó tuột nhanh xuống đất, lăm lăm khẩu súng kíp trong tay, đi nhanh về phía chị. Chị luống cuống đứng dậy trèo qua bờ khe lên bờ. Thằng Ngần cười nham nhở:

- Chào em Căn, em đi đâu vào đây?

- Tôi đi tắm.

Chị đáp và quay lưng đi. Nó túm tay chị kéo lại:

- Ngồi xuống đầy, em ngồi xuống ta nói chuyện.

- Ơ kìa anh Ngần, anh buông ra không tôi la lên bây giờ!

Thằng Ngần sấn tới, một tay ôm ngang lưng chị, tay kia xiết ngang cổ, quật chị xuống đất. Chị vùng vẫy chống cự, ngạt thở không la được. Thằng Ngần rít qua răng:

- Mày đã nhìn thấy và biết hết việc tao làm, mày phải chết, nhưng trước khi giết mày tao phải hưởng cái non trẻ của mày đã.

Nhìn con dao phay hắn đeo bên hông, chị nghĩ: "Hiếp mình xong nó sẽ giết để bịt đầu mối". Bản năng tự vệ trỗi dậy. Chị trấn tĩnh lại và tìm cách thoát thân. Chị nói, giọng van lơn:

- Anh Ngần, tôi xin anh. Tôi là con gái chân yếu tay mềm anh đừng làm tôi đau, đừng giết tôi! - Rồi chị nằm im, ra chiều không chống cự.

- Có thế chứ! - Thằng Ngần cười hềnh hệch, lần tay cởi dải yếm trên ngực chị. Si mê trong cơn cuồng dâm nó quên cả cảnh giác. Cởi con dao phay vứt sang bên cạnh cho đỡ vướng, nhổm dậy cởi quân rồi ghé xuống chực trèo lên người chị. Chỉ chờ có thế, nhanh như cắt, chị Căn chộp gọn lấy hạ bộ nó, dùng hai tay bóp mạnh. "Á... ạ... ạ", nó cong người lại như con tôm hai tay ôm hạ bộ cố thoát khỏi đôi tay chị Căn, nhưng chị đã túm chắc và càng bóp mạnh. Thằng Ngần giãy giụa, hai mắt trợn ngược rồi nhũn người ra nằm quay lơ, chết ngất. Chị Căn vùng dậy chạy vội về báo cho mọi người vào bắt nó giao cho công an. Theo lời khai của thằng Ngần, ta tóm gọn toán phản động chuyên đi chỉ điểm cho máy bay địch đánh, phá kho tàng, dân công và bộ đội ta do tên Lê Mậu Tùng cầm đầu. Chúng nằm trong tổ chức phản động "Liên bang Thái Mường - Bắc Trung Việt" thuộc tổ chức "Quốc gia liên hiệp" do Phạm Văn Hổn cầm đầu. Tối hôm đó, chị Căn lại cùng "xê" dân công học sinh gồng gánh lên đường hoà nhập cùng dòng người hối hả vận chuyển lương thực, thực phẩm ra mặt trận, góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên huy hoàng. Tại đại hội tổng kết công tác sản xuất và kháng chiến của tỉnh Thanh Hóa tháng 5 năm 1954, chị Căn và Cố Chùa vinh dự được bầu là chiến sĩ thi đua toàn tỉnh.


Đã 50 năm trôi qua, chị Phạm Thị Căn, người chiến sĩ dân công năm xưa nay đã là bà cụ Căn lưng còng, tóc bạc nhưng tấm gương của cụ vẫn mãi sáng ngời đối với bao lớp con cháu. Con trai cụ nay là sĩ quan quân đội nhân dân. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, anh đã chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công, ba lần được công nhận là "dũng sĩ diệt Mỹ". Con gái, con dâu cụ là những giáo viên mẫu mực, dạy giỏi. Các cháu trai, gái, nội ngoại của cụ đều đã trưởng thành, đều là những nông dân, công nhân hoặc trí thức có ích cho quê hương, Tổ quốc.

B.V.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Mười, 2021, 07:57:32 am
CHIẾC KHĂN NHỎ TỪ HẬU PHƯƠNG GỬI TỚI


BÙI ĐÌNH SƠN


Tôi may mắn được gặp cựu Đại tá Trương Hùng, chiến sĩ quân báo Đại đội 129, thuộc Phòng Tham mưu Đại đoàn 308, một trong những đơn vị chủ công ở chiến trường Điện Biên Phủ 1953-1954, nay về nghỉ hưu tại xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, vào dịp toàn quốc đang chuẩn bị kỷ niệm lần thứ 50 thắng lợi vĩ đại này.


Với lòng mến khách, sôi nổi và chân tình của ông, buổi trò chuyện thật thoải mái. Ông kể về chiến dịch và những kỷ niệm đã theo ông suốt cả cuộc đời:

Từ 30 tháng 3 đến 30 tháng 4 năm 1954, quân ta tấn công đợt 2. Bọn địch co cụm lại phòng ngự. Ta đánh nhiều hướng, xây dựng một hệ thống trận địa tiến công bao vây. Chiến hào của ta chui qua hàng rào dây thép gai, vào sát lô cốt địch. Mũi của chúng tôi đánh chiếm các ngọn đồi phía đông, những vị trí trọng yếu như đồi A1, C1, E, D và xiết chặt vòng vây quanh sân bay Mường Thanh. Chúng tôi đào hào giao thông chia cắt sân bay, toả ra nhiều nhánh, có hầm ếch để khi có phi pháo anh em ta nép vào, đỡ thương vong. Hào sâu quá đầu, từng đoạn ở trên lát gỗ, lấp đất dày như hầm trú ẩn, có chỗ sơ cứu thương binh, nơi tạm nghỉ. Những lúc đào hào giữa bãi trống, trước hỏa lực mạnh của địch, bộ đội ta dùng những con cúi bện rơm làm vật che chắn bằng cách đẩy con cúi rơm lên phía trước, người nằm sau, dùng xẻng cán ngắn khoét lõm xuống dần, người này hy sinh, người khác lên tiếp, các mũi khoan chiến hào cứ thế mà tiến. Toàn bộ chiều dài của chiến hào đào trong 56 ngày đêm, toàn chiến trường cộng lại là hơn 100 ki-lô-mét. Khó mà tưởng tượng nổi.


Khí hậu Điện Biên lạ lắm! Đêm thì rất rét mà ban ngày nóng đến 37°-38°C. Công việc lại rất khẩn trương. Đêm ta đào, ngày chúng nó lấp. Hai bên giành giật nhau từng thước hào. Bùn đất nhão nhoét, gian khổ, hy sinh không sao kể hết. Ấy thế mà bộ đội ta ai cũng hăng hái, thay nhau đào, thay nhau chiến đấu. Lính quân báo và bảo vệ của Phòng Tham mưu cũng ra chiến đấu khi phía sau chưa lên kịp.


Vào giữa tháng 4 chúng tôi đang làm nhiệm vụ chia cắt sân bay, nhận được mỗi người một gói quà nhỏ từ hậu phương gửi ra. Trong gói tôi được nhận đó có một chiếc khăn tay bằng vải phin trắng, hình vuông, cỡ 30x30cm, xung quanh viền chỉ đỏ, phía trong có dòng chữ thêu chỉ màu khá đẹp: "Thân tặng chiến sĩ đang chiến đấu ở mặt trận Điện Biên Phía dưới là nét chữ thanh thanh "Phụ nữ Ngô Xá - Thanh Hóa". Kèm theo chiếc khăn còn có một gói tăm tre chẻ đều, vót trơn, một cái quạt xếp bằng giấy dó và một lá thư chữ con gái. Nội dung thư động viên chúng tôi chiến đấu, báo tin quê nhà đang tiến hành cải cách ruộng đất thắng lợi, dân nghèo đã có ruộng... Chúc mừng thắng lợi và mong chờ chiến công...


Món quà nhỏ, đến tay chúng tôi giữa hai trận giao tranh ác liệt, tạo nên sức mạnh to lớn. Anh em phấn khởi vô cùng, cười nói râm ran. Một chiến sĩ khe khẽ hát bài "Quê hương anh bộ đội": "Nơi ấy có con đường tấm nắng vàng tươi, bờ tre nhà tranh vách mới. Nơi ấy có cánh đồng lúa mới ngát hương... Nhà anh có đàn em mắt ngây thơ má hồng, những chiều cùng hát vui trên đường quê... Lời ca gợi cảm, lòng ai cũng rạo rực. Tình quê hương đậm đà tha thiết bừng lên, nung nấu thêm quyết tâm diệt giặc, băng qua mưa bom bão đạn, đập nát đồn thù.


Tôi mân mê chiếc khăn, gấp nhỏ lại, bỏ vào túi áo ngực, đậy nắp cài cúc cẩn thận, coi đây là một kỷ vật quý.

Vào khoảng hạ tuần tháng tư, chiến hào của ta đã xiết chặt khu trung tâm, dồn chúng vào thế tuyệt vọng.

Ở phía sau, chúng tôi nghe tiếng trọng liên Mắc-xim của ta nổ giòn. Tiếp đến là tiếng pháo, tiếng lựu đạn chát chúa. Một trận đánh ác liệt đang diễn ra cách chúng tôi không xa lắm. Bỗng thấy tải thương chuyển ra một cái cáng chở một thương binh nặng... Lính ta dưới hào hễ bị thương là vào đầu, vào ngực. Đúng như vậy, chiến sĩ trên cáng, băng quấn trùm kín đầu. Phần ngực cũng buộc nhiều lớp băng, máu thấm dầm dề. Đây là chiến sĩ xạ thủ trọng liên Mắc-xim, hoả lực mạnh nhất của quân ta. Thấy vết thương ở ngực anh máu tiếp tục chảy, tôi vội lấy cái khăn ở túi ngực ra định ấp vào vết thương của anh. Trước khi gấp chiếc khăn lại, tôi nhìn lần cuối dòng địa chỉ của người tặng khăn, hy vọng biết đâu, sau này có dịp gặp...


Thấy vậy, anh thương binh như chợt hiểu tâm tư của tôi, gồng mình lên. Anh nhờ tôi cởi chiếc thắt lưng da to bản và nói: "Súng mình hay bị hóc, phải luôn nhỏ dầu cấp cứu mà các thứ phụ tùng của nó còn trong cái bao này. Nhờ đồng chí mang gấp ra cho xạ thủ thay tôi đang chiến đấu phía trước, cần lắm đấy! Nhanh lên...!"


Người quân vụ ở cạnh tôi hiểu ý, đón ngay lấy cái thắt lưng và chạy vụt đi. Đồng chí thương binh giơ tay ra hiệu bảo tôi đưa cái khăn cho anh xem. Anh nở một nụ cười nhăn nhó và nói: "Của người yêu hả? Giữ lấy, gắng mà giữ lấy... Nó không giúp được gì cho vết thương của mình đâu... Anh nâng khăn lên đặt một cái hôn nhè nhẹ rồi trả lại cho tôi.


Tôi lúng túng chưa biết nên xử lý thế nào thì anh đã co rúm người, giật mạnh, nấc liên tiếp, mắt từ từ nhắm mà miệng vẫn như cười. Đồng chí thương binh đã trút hơi thở cuối cùng. Là lính chiến, tôi đã nhiều lần chứng kiến đồng đội hy sinh, nhưng lần này tôi xúc động lạnh gáy, vừa kính phục, vừa cảm thương người xạ thủ trọng liên Mắc-xim.


Giặc tan rồi, chiếc khăn ở chiến trường thành vật kỷ niệm quý giá đối với tôi. Tôi thường mang nó ra ngắm. Chao ôi! Những đường thêu chưa thành thạo mà cẩn thận vô cùng. Tôi cứ tưởng tượng ra cảnh các em gái mới lđn, lần từng mũi kim dưới ánh đèn dầu. Thời ấy chỉ màu là loại hiếm hoi, là sợi dây nối trái tim với trái tim... Tự nhiên trong tôi dấy lên tình cảm của thuở Thiếu sinh quân, thứ tình cảm lãng mạn vừa quen, vừa lạ.


Thế nhưng làm sao mà tìm ra được người đã thêu khăn. Đánh Pháp xong lại tiếp tục đánh Mỹ. Ở Điện Biên "ngủ hầm, mưa dầm, cơm vất... đầu nung lửa sắt... máu trộn bùn non" (Tố Hữu). Đánh Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ, còn gian khổ hơn. Từ lính quân báo, tôi sang Binh chủng Pháo binh, đi khắp các chiến trường Bắc, Nam và sang cả nước bạn... Lúc nào cũng khẩn trương, cũng hừng hực như trong lò luyện thép, chết sống chỉ gang tấc, nhiều khi tôi mất hết mọi tư trang, ấy thế mà chiếc khăn tay của người con gái hậu phương ấy vẫn theo tôi suốt cuộc kháng chiến trường kỳ. Nó đã góp phần giục tôi xốc tới trước hoả lực của quân giặc, giúp tôi đưa những "con voi thần" vượt qua mưa ngàn suối lũ trút bão táp xuống đầu thù. Và mãi cho đến khi tôi được điều về làm Hiệu trưởng trường Sĩ quan Pháo binh Việt Nam, chiếc khăn vẫn phát huy tác dụng trong việc giáo dục tư tưởng, xây dựng tình nghĩa quân dân, truyền thống vẻ vang của người lính Cụ Hồ...


Đại tá Trương Hùng dừng kể. Tôi không được thấy chiếc khăn quý giá mà ông kể, vì Hội Cựu chiến binh vừa mới xin phép ông đưa nó ra trưng bày trong Phòng Truyền thống của Quân khu rồi.

Nay về quê, tuổi đã ngoài bảy mươi, ông Hùng vẫn là người sản xuất giỏi. Mảnh vườn hơn 1.500 m2 của ông sum suê bốn mùa, hoa trái quanh năm. Có lần nắng hè cháy sông, cháy đồng, xóm làng khô khát, ỉu xìu, ông tự bỏ tiền ra khoan giếng sâu để có nước cho cả xóm cùng dùng mà không ai mất xu nào. Ông có nhiều cây cảnh và hoa đẹp, nhiều chim quý tạo nguồn vui cho lớp người cao tuổi ở thôn quê. Trẻ con ở các trường vô cùng yêu mến ông, bởi ông thường lui tới với chúng. Vào các dịp 22 tháng 12, dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên mồng 7 tháng 5... ông kể cho các cháu nghe chuyện đánh giặc làm chúng nghe say mê. Có đứa còn nghịch ngộ "xúi" ông đi tìm "cô gái" thêu khăn ngày xưa. Chúng quấn quýt quanh ông, mân mê cái huy hiệu chiến sĩ Điện Biên và tưởng tượng ra bao nhiêu chuyện hấp dẫn, đẹp đẽ của "ông Hùng Điện Biên"...

B.Đ.S


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Mười, 2021, 07:58:46 am
GIAO THỪA GIỮA TRẬN ĐỊA


NGUYỄN MINH


Đó là đêm giao thừa chuyển giao từ năm Quý Tỵ sang năm Giáp Ngọ (1953-1954), một cái tết trong đời bộ đội mà tôi không bao giờ quên được.

Đúng 12 giờ đêm năm ấy chúng tôi vào kéo khẩu lựu pháo 105 ly lên đỉnh đèo thì được lệnh cho bộ đội nghỉ giải lao nửa giờ đón mừng xuân mới.

Thông thường thì đêm 30 Tết là rét buốt và trời tối đen như mực, ấy thế mà đêm 30 Tết năm này bầu trời nơi chúng tôi đang kéo pháo lại sáng trưng bởi nhìn lên trời, chiếc đèn dù của địch liên tiếp bắn soi rõ từng ngọn cỏ, lá cây.

Chúng tôi không thấy rét mặc dầu trên đỉnh đèo gió thổi rất mạnh vì sau một thôi dài tập trung sức kéo pháo từ dưới chân đồi lên đỉnh đèo..., ai cũng nóng bức, áo trấn thủ mặc trên người ướt đẫm mồ hôi.

Cảm xúc trước cảnh tượng này, anh Hà Chí Huân, trung đội phó, "cây văn nghệ" của đại đội ứng khẩu mấy câu thơ:

   "Đêm trừ tịch pháo đèn dù sáng quá
   Đã soi đường cho lính pháo ta đi
   Rừng Điện Biên qua tiếng gió thầm thì
   Chim ca hát "Quyết tâm ta khắc phục".


Đó chính là tiếng con chim rừng "bắt cô trói cột" mà trên đường hành quân vào chiến dịch chúng tôi vẫn được nghe rất giống với "quyết tâm khắc phục".

Anh nuôi mang đến cho chúng tôi mỗi người một nắm cơm nếp đỗ xanh và lạc, một bi đông nước chè rừng pha gừng nóng hổi.

Mặc dù không có bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ nhưng chúng tôi ai cũng rất vui, niềm vui sắp được nổ súng vào đầu giặc.

Niềm vui lại được nhân lên gấp đôi khi tôi được nghe giọng nói ấm áp của Bác Hồ chúc Tết đầu năm qua Đài tiếng nói Việt Nam phát từ chiếc đài bán dẫn cũ của đơn vị. Đại đội phó Hoàng Mộng tức cảnh ứng khẩu mấy câu:

   "Đêm rét buốt ta đâu nào thấy rét
   Trời tối đen, đèn dù vẫn sáng trưng
   Thật ấm lòng nắm cơm nếp, trà gừng
   Lời chúc Tết của Cha già vang vọng"


Vừa tròn nửa thế kỷ qua rồi. Trong không khí hòa bình vui đón chào xuân mới, chúng tôi đều đã ở tuổi cổ lai hy, lên chức ông bà nội, ngoại cả. Ngồi ôn lại đêm giao thừa năm ấy, nhớ đồng đội, người còn, người mất mà lòng thấy bồi hồi xúc động. Và cũng thấy tự hào về một thời trai trẻ hào hùng đã qua.

N.M


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Mười, 2021, 08:00:05 am
CUỘC VẬN CHUYỂN GẠO GÓP PHẦN TỔNG CÔNG KÍCH THẮNG LỢI


Cuối năm 1953, tôi đang làm đại diện cho Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần) và đại diện cho Cục Quân nhu ở chiến trường Liên khu III - đồng bằng sông Hồng, chủ yếu là giải quyết vấh đề gạo cho bộ đội, thì được cấp trên điều về làm Cục trưởng Cục Quân khí. Sau Tết nguyên đán ở Việt Bắc, tôi vừa mới bắt tay vào việc thì anh Trần Hữu Dực (nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp) gọi dây nói báo cho tôi biết: Anh Văn (Võ Nguyên Giáp) có ý định điều tôi ra mặt trận và nhắc tôi sang gặp anh Nguyễn Chí Thanh (nguyên Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) nhận nhiệm vụ mới. Gặp tôi, anh Thanh cũng chỉ nói gọn một câu: "Anh Văn cần anh lên ngay Mặt trận Điện Biên". Liền sau đó, tôi lên đường, cùng đi có anh Trần Lương và anh Kinh Chi.

Lên đến Điện Biên, tôi vào đại bản doanh của anh Văn. Gặp anh, tôi hỏi:

- Báo cáo, có việc gì mà anh điều tôi lên gấp như vậy? Tôi mới về Cục Quân khí và mới họp triển khai công tác xong!

- Có một hội nghị, anh cần đi dự họp ngay và sau đó tôi sẽ trao đổi với anh về công việc cần làm!

Cuộc họp mà anh Văn nói chủ yếu bàn về việc vận chuyển gạo phục vụ cho chiến dịch, nhất là cho đợt tổng công kích. Tôi được biết dân công hoả tuyến từ Việt Bắc, Khu 3, Khu 4... đổ ra mặt trận hàng nghìn, hàng vạn người. Nhưng do đường sá xa xôi, lại vận chuyển chủ yếu bằng gùi, gánh, thồ... nên khi chuyển đến nơi thì bản thân người chuyển đã ăn gần hết gạo. Tổng kết về việc vận tải bằng sức người gánh bộ trong chiến dịch Tây Bắc trước đây, thì kinh nghiệm được rút ra là muốn đưa gạo từ Thanh Hóa lên Nghĩa Lộ, thì cứ 1 ki-lô-gam gạo đến đích phải mất 24 ki-lô-gam ăn dọc đường. Vậy ở chiến dịch Điện Biên này để có 25.000 tấn gạo, phải huy động gấp 24 lần, tức khoảng 600.000 tấn. Mà muốn có 600.000 tấn gạo phải thu được và tổ chức xay giã hơn 900.000 tấn thóc. Giả định, nếu có thu được cũng không thể vận chuyển lên kịp, vì đường đi bộ quá xa. Để giải bài toán hóc búa ấy, Bộ Chính trị và Chính phủ ta đã có các giải pháp rất khoa học. Đó là động viên nhân dân hai tỉnh Lai Châu và Sơn La ra sức tiết kiệm để đóng góp lượng gạo tại chỗ, giảm số gạo phải đưa từ hậu phương lên. Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã đóng góp một lượng gạo rất lớn: 7.360 tấn, đạt khoảng 27% lượng gạo cần và gần 50% lượng gạo sử dụng tại mặt trận. Kết quả đó thật vượt cả ước mơ. Cùng lúc các bạn Lào lại ủng hộ 310 tấn gạo thu được của địch sau chiến thắng Thượng Lào. Các bạn Trung Quốc viện trợ 1.700 tấn gạo.


Họp xong tôi trở về đại bản doanh, được anh Văn giao nhiệm vụ. Chúng ta có 1.700 tấn gạo ở Ba Nậm Cúm giáp biên giới Việt - Trung. Với mấy trăm dân công mà đến nay mới chuyển về kho Ba Tần được vài trăm tấn. Yêu cầu anh tổ chức làm sao chuyển nhanh được số gạo đó về kho Ba Tần và từ Ba Tần về thị xã Lai Châu được độ 1.000 tấn trước 30 tháng 4.


Tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ, chỉ trình bày khó khăn là chưa quen địa hình, địa vật ở Tây Bắc. Anh Văn cho xe đưa tôi sang gặp anh Bằng Giang (nguyên Tư lệnh liên khu Tây Bắc). Anh Bằng Giang và hai cán bộ công binh cùng tôi đi khảo sát thực địa, cả đường thủy và đường bộ, nơi nào có thác thì dừng lại xem xét, đánh dấu và cho công binh phá ngay để các bè mảng chở gạo về xuôi thuận lợi.


Qua khảo sát, chúng tôi được biết, sở đĩ vừa qua vận chuyển gạo ở tuyến này chậm là do công tác tổ chức. Mỗi mảng nứa 4 người mà chỉ chở có 50 ki-lô-gam gạo và thời gian xuôi hết gần một ngày. Khi trở lại đi bộ lại hết gần một ngày nữa. Vậy mà tôi thử đi bộ, cũng đoạn này chỉ hết có 4 giờ.


Sau khi phá các thác khó và tổ chức chở thử thành công, tôi đề ra chỉ tiêu: mỗi mảng nứa chỉ cần một người và phải chở từ 250 ki-lô-gam trở lên. Mảng nào chở hơn chỉ tiêu sẽ được thưởng bằng vải, thuốc lào hoặc tiền. Dân công nào chở xong số gạo trên sẽ được cho về quê sớm để sản xuất.


Không khí thi đua sôi nổi hẳn lên, từng đoàn các mảng nối đuôi nhau nườm nượp xuôi dòng. Nhờ vậy mà số gạo ở Ba Nậm Cúm và ở kho Ba Tần chuyển về thị xã Lai Châu được trên 1.000 tấn và trước thời hạn nửa tháng so với yêu cầu của anh Văn. Việc vận chuyển số gạo trên vượt mức cả về số lượng và thời gian, đã góp phần quyết định trong đợt tổng công kích chiến dịch Điện Biên lịch sử toàn thắng.


Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên (7-5-1954 - 7-5- 2004), tôi vừa tròn 91 tuổi đời, 74 tuổi Đảng. Tôi có niềm vui là được góp phần nhỏ bé vào chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", tự hào về Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân và quân đội ta rất anh hùng, thông minh, sáng tạo.


(Ghi theo lời kể của thiếu tướng Nguyễn Văn Nam)
L.H.K


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:52:31 pm
GIAN LAO CHIẾN SĨ QUÂN Y ĐIỆN BIÊN


NGUYỄN NGHĨA


Khi chiến dịch Điện Biên sắp mở màn, đơn vị chúng tôi (d346, e57, f304) có nhiệm vụ hành quân nghi binh cho chiến trường chính. Tôi là một chiến sĩ quân y đã trải qua nhiều cuộc hành quân đường dài, có cuộc năm sáu tháng liền, nên khá nhiều kinh nghiệm về bảo vệ sức khoẻ, giữ vững số quân chiến đấu với chỉ tiêu 98%. Gần như đã thành kỷ luật. Các chiến sĩ phải bảo vệ đôi chân bằng cách ngâm chân nước nóng. Cho dù mệt nhọc đến đâu, khi hạ trại, từng tiểu đội, từng tổ ba người chia nhau người nấu nước, người đào hố lót ni lông đựng nước nóng... Một hôm tình cờ phát hiện tiểu đoàn trưởng đi họp về muộn chưa ngâm chân đã vào màn ngủ, tổ quân y chúng tôi dứt khoát "bắt" thủ trường phải dậy ngâm chân, chúng tôi tự tay nấu nước, mặc dầu đêm đã khuya. Chúng tôi nghĩ đôi chân người chỉ huy rất quan trọng không thể lơ là việc chăm sóc.


Cái rét của núi rừng Việt Bắc như cắt da, cắt ruột. Nhưng cứ khoảng 3 giờ sáng, chúng tôi đã hành quân, cứ thế, ngày tiếp ngày trên vai đè nặng từ 30 đến 50 ki-lô-gam gồm gạo, súng đạn, thuốc men và cả gia tài người lính. Tôi có bệnh gai cột sống, đi lâu, đứng lâu mang nặng, lưng đau ghê gớm, thường cứ 10 phút nghỉ phải nằm một chút mới đi tiếp được. Dụng cụ "chuyên dùng" của tôi là cái mo cau lót mông, nối với chiếc ba lô đệm lưng khi nằm, còn liều thuốc giảm đau là vừa đi vừa ước giá có một đôi patanh bánh to mà trượt hoặc nhẩm một bài hát, một câu hò.


Về sau này, vài đồng nghiệp nhìn tấm phim chụp cột sống của tôi đã phải thè lưỡi ngạc nhiên và thốt lên rằng: "Thật không thể ngờ được vì sao có thể tồn tại đôi chân ngàn dặm, trên cái lưng bệnh hoạn nặng nề như thế".

Tôi nhớ một lần đơn vị tạm nghỉ, tôi được bố trí ở một nhà dân trên lưng đồi. Sáng sáng, cô gái con chủ nhà rủ tôi đi lấy măng rừng. Cô gái có đôi tay trắng nõn, đào đất cứ thoăn thoắt, bộ ngực căng tròn. Khi lấy lên được một củ măng, đôi mắt hạt huyền của cô long lanh nhìn tôi như cười. Lúc này chỉ một mình chúng tôi giữa rừng sâu, tôi chợt nhớ một câu ca dao: cổ tay em vừa trắng lại tròn, có lẽ gối chăn, gối chiếu không êm, gối lụa không mềm bằng gối tay em! Trong tôi trào lên nỗi thèm muốn nếm thử cái cảm giác gái trai ra sao. Tôi cố nén mình, tập trung tư tưởng, nghĩ về phẩm chất đạo đức cán bộ đảng viên, kỷ luật quân đội, về quan hệ quân dân. Và cuối cùng, tôi đã thắng, tâm hồn thanh thản.


Đợt hành quân nghi binh rồi cũng đến hồi kết thúc, chúng tôi được lệnh vượt đèo Pha Đin trong đêm, để tiến lên mặt trận Điện Biên. Đến địa điểm tập kết, toàn tiểu đoàn tôi chỉ có một người ốm phải để lại sau.

Đơn vị chúng tôi tham gia vây đánh Hồng Cúm. Giai đoạn làm hầm, làm đường kéo pháo bắt đầu: Một kế hoạch toàn diện được phổ biến như: an toàn lao động, bảo vệ sức khỏe, ngụy trang giữ bí mật, phân công nhiệm vụ và giao chỉ tiêu v.v... không khí thi đua sôi nổi và rất hào hứng. Chỉ với dụng cụ thô sơ của người lính: chiếc cuốc cán gập, con dao, cái rựa, thêm một số xà beng công binh cho mượn, các chiến sĩ quân y chúng tôi làm nên những kỳ tích. Chẳng hạn chiếc hầm thương binh đào sâu 3 mét, nắp hầm âm 1 mét, sàn lát gỗ tròn đường kính 20-30 centimét, nắp hầm là lớp đất dày 40-50 centimét, bên trên là những cây vầu bó tròn, trên cùng là ba lớp đất, ván xen kẽ đảm bảo 2 quả pháo 120 ly rơi xuống không hề gì. Những ngày đầu đào đất, nhiều anh em tay bỏng rộp nhưng vẫn vui, lại còn nghĩ ra nhiều sáng kiến, chẳng hạn dùng giẻ sạch thay găng tay, ngâm tay bằng nước nóng có pha muối loãng sau khi đã chích hút hết dịch trong ổ phồng rộp. Nhờ vậy mà không ai bị nhiễm trùng, vết phồng rộp chóng lành.


Đời sống rất khó khăn gian khổ, chủ yếu là ăn rau tàu bay với cơm nếp nhão, ai mệt lắm mới được ăn cơm, cháo nấu gạo tẻ. Tuy vậy, anh em ai cũng sợ ốm không góp được công sức đến cùng cho Điện Biên.

Một lần nọ có đồng chí cấp dưỡng không quen biết, gánh rau cải tươi đi qua đoạn đường chúng tôi đang làm. Các chiến sĩ vốn háo rau, mỗi người chỉ xin một lá rau thôi đã hết vèo già nửa gánh. Tôi cũng xin được một lá và nhai thật chậm để kéo dài cái vị thơm mát, ngọt bùi chưa từng thấy trong đời. Đồng chí cấp dưỡng thương đồng đội quá không nỡ ngăn cản, đứng im cho anh em "trấn lột" rồi xếp lại gánh rau, tiếp tục đi, trên môi nở nụ cười.


Đất ở thung lũng Điện Biên là loại đất sét cứng như đá, quân ta lại phải đào hào dưới bom đạn địch, bom bi, bom chùm, bom nổ trên không... nên thật gian nan, vất vả. Cái mũ rơm và cái cuộn rơm che lưng ra đời từ đấy. Đêm đêm quân ta cứ lấn dần, lấn dần, càng gần hàng rào dây thép gai của địch bao nhiêu, giao tranh càng dữ dội bấy nhiêu. Đêm ta đào, ngày địch lấp. Quân ta quyết giành từng tấc đất thấm đẫm mồ hôi và xương máu của chiến sĩ.


Mãi đến nay, tấm gương dũng cảm hy sinh của một đồng đội tên là Hùng thỉnh thoảng lại hiện lên rất rõ trong tâm trí tôi. Hùng, quê ở Diễn Châu - Nghệ An. Anh nhập ngũ khi đã trên 30 tuổi, có 1 vợ, 2 con. Người anh đậm, nét mặt rất hiền. Anh thương yêu tất cả mọi người và ai cũng quý anh. Trưa ngày 27 tháng 4, trong trận chiến đấu giữ chốt không cho địch lấp giao thông hào, anh đã dũng cảm, mưu trí chỉ huy đơn vị đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Hai lần bị thương: lần thứ nhất, mảnh cối găm sâu vào đùi phải, rất nguy hiểm. Anh bảo tổ quân y chúng tôi giấu kín đừng cho các chiến sĩ của anh biết để diệt nốt bọn Pháp ngoan cố. Lần thứ hai, vết thương quá nặng bởi một viên đạn xuyên ngực, anh đã hy sinh giữa lúc trận Điện Biên sắp kết thúc. Cả trung đội đều khóc thương anh khôn xiết. Tôi càng ngậm ngùi khóc anh, tự trách mình sao không cương quyết bắt anh phải rời trận địa ngay khi anh bị thương lần đầu.


Lúc này nhiệm vụ của tổ quân y chúng tôi càng khó khăn phức tạp hơn, phải bám sát các mũi tiến quân bảo đảm an toàn, tổ chức cấp cứu thương binh, nhanh hơn tốt hơn. Đào nhiều hầm ếch dọc giao thông hào, tăng cường công tác vệ sinh phòng bệnh, vận động anh em đào hố xí, hố tiểu, bếp Hoàng Cầm cỡ nhỏ theo đúng yêu cầu ngày càng cao của chiến đấu. Đêm nào hầu như cũng có thương binh đưa về, cái hầm ếch của chúng tôi đã trải đến cái dù thứ mười mà vẫn tanh mùi máu! Hầm tuyến hai thương binh nặng chật ních vì chưa chuyển thương kịp. Lúc này, ngoài lực lượng dân công hỏa tuyến còn có đồng bào các thôn bản lân cận kéo đến giúp đỡ bộ đội. Các mẹ, các chị người giã gạo, người đút cơm cháo cho thương binh, các trai tráng thì giúp chuyển thương.


Tuy vậy, toàn mặt trận có lúc thật yên ắng. Cả hai bên đang chuẩn bị cho một trận chiến ác liệt hơn. Bên ta chuẩn bị một đợt công kích quan trọng. Bên địch thì toan tính việc phòng thù và cố chết rút lui. Thương binh của chúng đã quá tải, rên rỉ kêu la mà không thể chuyển về Hà Nội được. Sân bay Mường Thanh bị quân ta khống chế. Đồ tiếp tế của địch thả lạc xuống trận địa của ta, có cả những con bò thui còn nóng hổi, những suất ăn sáng, đồ hộp đủ các loại.


Sau chiến thắng Điện Biên, tôi được về sống và học tập giữa lòng Thủ đô Hà Nội. Tôi có một kỷ niệm nhỏ về tấm lòng của người Hà Nội đối với bộ đội, với chiến sĩ Điện Biên. Một sáng chủ nhật, tôi vào một tiệm cắt tóc lớn, được mọi người chào đón niềm nở và được ngồi vào ghế cắt tóc ngay. Vì mệt lại ngồi trên ghế êm, tôi ngủ thiếp đi lúc choàng tỉnh thì đã quá trưa; dễ tôi đã ngủ đến vài ba tiếng đồng hồ. Thấy tôi có vẻ ngượng ngùng, anh thợ cắt tóc cười nói:

- Mọi người thấy anh bộ đội ngủ ngon quá, bảo nhau im lặng để anh ngủ thêm chút nữa.

Một người khách nhìn chiếc huy hiệu Điện Biên tôi đeo trên ngực thân mật nói:

- Đánh giặc ở Điện Biên mấy tháng liền, gì mà chẳng mệt. Rồi cả mấy người khách xúm lại quanh tôi, thi nhau hỏi chuyện Điện Biên...


N.N


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:54:14 pm
MỘT KỶ NIỆM CỨU DÂN BỊ NẠN


NGUYỄN ĐĂNG CHƯƠNG


Những ngày đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, trung đội công binh chúng tôi làm nhiệm vụ phá bom trên đèo Pha Đin. Tôi được trung đội trưởng giao phụ trách tổ quan sát máy bay, cùng với hai đồng chí Út và Thân, có nhiệm vụ xác định chính xác vị trí những quả bom chưa nổ, cắm cờ đánh dấu để tối đến các tổ phá bom của trung đội ra phá, bảo đảm giao thông thông suốt. Tôi chọn đỉnh núi cao nhất trên đỉnh đèo đặt đài quan sát. Đứng ở đó nhìn đèo Pha Đin từ hướng Thuận Châu lên giống như một con trăn khổng lồ uốn mình quanh các triền núi. Còn nhìn về hướng Tuần Giáo thì lại giống như con trăn đang cuộn mình nằm ngủ, thấy rõ cả năm tầng đường. Pha Đin dài tới 32 ki-lô-mét, có nhiều vực sâu, núi cao, là con đường độc đạo đi Lai Châu và Điện Biên. Chính vì vậy mà nó trở thành trọng điểm đánh phá cùa máy bay địch nhằm ngăn chặn quân ta đang hành quân lên Điện Biên.


Ở trên đài quan sát, khi không có máy bay thật yên tĩnh, nghe rõ cả tiếng gió thổi rì rào, tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim hót líu lo. Những lúc ấy, tâm hồn chúng tôi thật thư thái. Một buổi sáng đẹp trời, tôi đang mê mải nghe chim hót trong rừng cây, ngắm những tảng mây trắng nõn như bông đi lang thang về phía chân ười xa tắp, thì chợt thấy ở trên đường cái, thấp thoáng có hai bóng người. Tôi vội lấy ống nhòm ra nhìn. Đó là một người đàn ông và một cô gái đang đi rất vội vàng, tất bật. Họ đi đâu vào giờ nguy hiểm này? Đoạn đường trống trải quá, có máy bay thì rất nguy. Tôi chưa kịp nghĩ thêm, thì hai chiếc máy bay "Hen-cát" bay xoẹt qua đầu nhả hai loạt đạn. Chiếu ống nhòm tôi thấy hai người dân trên đường đang giãy giụa. Tôi vội lệnh cho Út ở lại, điện ngay về cho trung đội cử người ra cứu nạn, còn tôi và Thân mang theo túi thuốc chạy nhanh xuống cứu đồng bào. Đến nơi tôi thấy người đàn ông bị đạn xuyên qua ngực đã chết tại chỗ, còn người con gái thì ngất xỉu, máu me đầm đìa ở cánh tay phải. Chúng tôi khiêng xác người đàn ông tạm đặt vào bụi cây rồi dìu cô gái xuống một khe suối cạnh gần đó để cấp cứu. Đó là một cô gái Thái độ 15, 16 tuổi, tôi dùng thuốc sát trùng vết thương, tạm băng lại, chờ quân y đến giải quyết tiếp. Anh Tác - trung đội trưởng dẫn tổ quân y và cáng thương đến. Chúng tôi quyết định chuyển gấp cô gái về tuyến sau để cấp cứu. Tôi và Thân chuyển thi thể nạn nhân đến chỗ kín đáo dưới chân núi đài quan sát, đào sẵn huyệt và chuẩn bị những thứ cần thiết để sẩm tối trung đội tổ chức chôn cất nạn nhân. Chôn cất xong, ngày ngày chúng tôi thắp hương trên mộ, có bát cơm của lính, có ca nước suối rừng cúng người xấu số. Mấy hôm sau anh Tác cho biết đã tìm được địa chỉ nạn nhân. Ông tên là Lò Văn Min, cô gái tên là Lanh ở bản Chiềng Ban gần huyện lỵ Thuận Châu. Cô gái là giáo viên cấp 1, cánh tay trái của cô bị dập nát nên phải cưa đến quá khuỷu tay. Cô đã tỉnh, sức khỏe đang hồi phục dần dần...


Tôi thấy thương cô gái quá: mất cha lại mang thương tật. Rồi cô và gia đình sẽ sống ra sao? Cô có đủ ý chí và nghị lực vượt qua tai họa này không? Tương lai và hạnh phúc của cô sẽ ra sao?

Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Lệnh của cấp trên điều gấp đơn vị tôi lên Điện Biên làm nhiệm vụ chiến đấu. Trước khi xuất phát hành quân, tổ quan sát chúng tôi đã kịp thắp nén hương vĩnh biệt người đàn ông xấu số. Thế rồi, chiến tranh như một cơn lốc cuốn hút chúng tôi vào những trận chiến đấu sống mái với quân thù. Hết đánh Pháp tiếp theo là đánh Mỹ. Suốt mấy chục năm chiến tranh cực kỳ tàn khốc, tôi đã chôn cất nhiều đồng chí và đồng bào ngã xuống vì bom đạn quân thù. Nhưng tôi không quên người đàn ông xấu số và người con gái đáng thương ở trên đèo Pha Đin năm ấy. Và bây giờ, chiến tranh đã đi qua, tóc trên đầu tôi đã bạc nhưng những câu hỏi từ hơn 40 năm trước vẫn còn đang day dứt trong lòng tôi: người con gái ấy sống ra sao? Tương lai, hạnh phúc của cô sẽ như thế nào? Có lẽ những câu hỏi ấy sẽ chẳng có lời giải đáp, vì tôi đã sắp đến tuổi bảy mươi rồi còn đi đâu được nữa...


Năm 1999, sư đoàn chúng tôi tổ chức đi Điện Biên thăm lại chiến trường xưa nhân kỷ niệm lần thứ 45 chiến thắng Điện Biên Phủ. Anh chị em cựu chiến binh chúng tôi phấn khởi lắm. Có mấy cụ tuổi đã tám mươi mà vẫn quyết tâm đi. Có cụ hăng hái nói: "Sau chuyến đi này có phải "đi Văn Điển" cũng không ân hận"...


Xe đến đỉnh đèo Pha Đin thì dừng lại nghỉ 15 phút. Đài quan sát cũ của tôi ở đỉnh núi kia nhưng tôi không thể lên thăm được. Tôi tìm đến mộ người đàn ông xấu số nhưng ở đó chẳng còn dấu tích gì. Tôi nghĩ rằng gia đình đã bốc mộ ông về quê rồi...

Ba hôm sau, chúng tôi trở về Hà Nội. Xe đến Thuận Châu nghỉ lại cạnh một trường học. Tôi tranh thủ mua chai mật ong vì tôi biết mật ong Thuận Châu rất tốt. Một hồi trống tan học vang lên. Học sinh chạy ùa ra cổng. Một cô giáo ở trong trường bước ra. Sao tôi trông ngờ ngợ? Do linh cảm, tôi chủ động đến trước cô giáo hỏi: "Cô cho tôi hỏi thăm bà Lanh ở Chiềng Ban hồi chiến dịch Điện Biên Phủ bị thương cụt tay phải có còn dạy học hay đã nghỉ hưu?" Cô giáo rất ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi: "Ông là ai sao lại quen mẹ tôi?". Tôi mừng đến bàng hoàng vì cuộc gặp gỡ quá bất ngờ! "Cháu ơi, ngày ấy đơn vị bác đã cứu mẹ cháu, đã kịp thời băng bó vết thương, rồi chuyển mẹ cháu về phía sau. Đơn vị bác đã chôn cất ông cháu rất chu đáo. Ngày ngày bác và anh em trên đài quan sát đều thắp hương cho ông. Mẹ cháu có khoẻ không? Gia đình cháu sống ra sao?"...


Tôi nói đến đây thì cô gái oà lên khóc. Cô nói giọng như nghẹn lại: "Từ ngày cháu còn nhỏ, mẹ cháu đã nhiều lần nói đến các anh bộ đội đã cứu mẹ cháu như thế nào. Mẹ cháu vẫn khỏe. Bố cháu cũng là bộ đội, anh cháu là sĩ quan biên phòng. Hoà bình được vài năm thì gia đình cháu đưa ông ngoại cháu về quê...".


Còi xe đã giục tôi hai, ba lần. Không thể chần chừ được nữa tôi chỉ còn kịp ghi cho cô giáo địa chỉ gia đình và số điện thoại. Xe chạy đã xa mà cô giáo vẫn tần ngần đứng đó, trong lúc vội vàng tôi chẳng kịp hỏi tên cô là gì nữa.

Khoảng chừng một tháng sau tôi nhận được thư của bà Lanh, thư do cháu cầm Liên viết:

Bác Chương kính mến!

Hôm gặp bác, cháu về nói chuyện lại. Cả nhà, nhất là mẹ cháu rất vui mừng, nhưng tiếc không gặp được bác. Giá mà bác ở lại gia đình cháu vài ngày thì vui vẻ biết bao!

Sau ngày bị thương, mẹ cháu phải tập viết tay trái, bây giờ tuổi lại nhiều viết khó khăn nên cháu thay mặt mẹ cháu viết thư cho bác. Sau khi ông mất, mẹ bị thương, gia đình cháu khó khăn lắm, nhưng cũng may, chỉ ít lâu thì hoà bình được lập lại. Họ hàng, đoàn thể và nhà trường đã giúp đỡ gia đình cháu nhiều. Mẹ cháu sau khi phục hồi sức khoẻ lại tiếp tục được dạy học. Mười năm sau mẹ cháu được cử đi học cao đẳng Sư phạm, được chuyển lên dạy cấp hai. Làm hiệu trưởng được vài năm mẹ cháu nghỉ hưu. Năm nay mẹ cháu đã 60 tuổi. Năm 24 tuổi mẹ cháu xây dựng gia đình. Bố cháu là thượng tá ở Quân khu 2 cũng đã nghỉ hưu vài năm nay. Anh cháu và cháu đều có gia đình. Thế là bố mẹ cháu đều đã có cháu nội, chấu ngoại. Lần nào hai mẹ con ngồi tâm tình, mẹ cháu lại nhắc đến các anh bộ đội ngày đánh Điện Biên, mặt mẹ cháu lại buồn, có lần mẹ cháu khóc. Bác ơi, bác cố thu xếp lên chơi với gia đình cháu một lần đi. Bác viết thư, gửi ảnh bác và gia đình, mẹ cháu và gia đình mong thư của bác lắm.

Kính chúc bác cùng gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc.

Cháu của bác
CẦM LIÊN


Tôi đọc đi đọc lại ba bốn lần, rồi gấp bức thư cất cẩn thận, ngồi hồi tưởng lại câu chuyện cứu dân năm xưa. Mối tình quân dân thắm thiết ấy kéo dài đến ba thế hệ, mãi mãi là một kỷ niệm đẹp và sâu sắc đối với tôi.

N.Đ.C.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:55:36 pm
BỨC TRANH ĐỊCH VẬN VẼ GẤP TẠI TRẬN ĐỊA


MAI VĂN HIẾN


Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta nổ súng tiêu diệt Him Lam và ngày 15 vị trí Độc Lập cũng không còn.

Sáng ngày 16, trời còn sương mù dày đặc (ở vùng này tới tận 10 giờ sáng sương mới tan) tôi được lệnh về Bộ chỉ huy mặt trận. Đồng chí Phan Hiền phụ trách công tác báo chí và địch vận, nói với tôi:

- Anh Hiến, sau khi địch mất Him Lam, Độc Lập, chúng nó ở Bản Kéo rất nao núng, có ý định đầu hàng, anh vẽ ngay một bức tranh để kêu gọi chúng hạ vũ khí, đỡ phải tấn công, cần lắm, anh làm ngay đi. Ngay hôm nay, chiều quân báo đến lấy, trương lên sát Bản Kéo. Gấp lắm rồi. Anh cố nhé.

- Thưa anh, tranh cỡ nào và vẽ cái gì ạ?

- Theo tôi bé nhất cũng phải bằng cái kia, để chúng nó nhìn cho rõ và vẽ cái gì đó để bọn địch nhớ nhà, nhớ gia đình là được.

Tôi nhìn theo tay đồng chí ấy chỉ cái "bé nhất" bằng "cái kia" là một cái mái lán rộng đủ cho cả một trung đội.

Tôi thật sự bàng hoàng, vậy là bức tranh bé nhất... ít ra mỗi chiều cũng phải nhiều mét, ngang 4, dọc 5, vị chi là hai mươi mét vuông. Giấy đâu? Thế là tôi chạy đến cơ quan ấn (bây giờ ta gọi là nhà in) để xin. Không phải dễ, cuối cùng anh em cũng đưa cho một số giấy bản, mỗi tờ to bằng nửa trang báo Nhân dân hiện nay. Màu đâu? Lại lộn đến cơ quan ấn. "Ông hoạ sĩ ơi! Làm gì có cho ông, ông xem ở chỗ kia kìa, toàn mực in cặn cả, dùng được thì dùng". Thế là vơ vội mấy cái hộp mực cặn và cũng phải cực kỳ nhanh chóng xin một ít dầu hoả. Tưởng là xong! Chưa đâu. Nhiều thứ lắm, nào là: xay cơm nếp để dán các tờ giấy cho bằng cái mái lán và tìm chỗ để vẽ... Làm gì có chỗ, chỉ có một cách là vẽ dưới đất. Thế là lại phải nhờ một số anh em bộ đội dẫy cỏ và nện đất cho phẳng để có một "mặt bằng" đủ cho cái "bé nhất..." an vị. Coi như là tạm xong. Thế còn bút vẽ? Gay quá, không biết giải quyết thế nào. Nhìn ra xung quanh, thấy ai cũng tất bật vội vã, không có ai là hoạ sĩ, nếu có hỏi cũng chả ăn thua gì. Không có đồng hồ, chả biết mấy giờ. Sương chưa tan, đảo mắt nhìn ra tờ giấy to tướng, trong lòng lại có thêm một điều lo lắng mới. Giấy bản với sương sớm hình như có một sự hòa hợp nào đó cho nên bức tranh tương lai của tôi cứ ướt sũng ra và tất nhiên không giữ nổi cái phẳng phiu ban đầu.


Hết sương, trời hửng nắng, tôi sướng quá nhìn tờ giấy. Thật là lạ, nó vươn mình, doãi ra, doãi ra, nếu không có tiếng oàng oàng của đại bác thì tưởng chừng nghe thấy tiếng răng rắc của nó đấy. Trời càng hỏng nặng, lại một mối lo mới đẻ ra: Một tờ giấy trắng to như thế kia lại được ưu ái trải rộng ở một chỗ vô cùng quan trọng, tức là địa điểm của Bộ chỉ huy mặt trận. Máy bay địch liên tục bay, không thể để chúng nó thấy "mục tiêu" hấp dẫn này, cho nên phải ngụy trang. Họa sĩ lồm ngồm vừa bò vừa vẽ, mỗi bên có 4 đến 5 anh em bộ đội mỗi người cầm một cành cây đầy đủ lá tươi hẳn hoi, thấy máy bay địch xuất hiện thì lập tức úp các cành cây lên tranh, úp luôn cả hoạ sĩ. Đến thánh Tây cũng chẳng thấy được. Cứ thế, cứ thế, bức tranh rồi cũng tiến triển được. Vẽ bằng bút gì? Một đồng chí bộ đội nói cứ lấy cái sống lá chuối rừng đập dập một đầu ra mà vẽ. Như vậy không bao giờ sợ thiếu bút. Hay thật! Về sau tôi kể lại chuyện này, có anh em hỏi: giấy trải ra đất, ông quỳ lên để vẽ thì nó rách mất còn gì? Ấy, phải nhờ mấy ông bộ đội chặt cho vài cây tre dài đặt ngang bức tranh rồi quỳ lên đấy mà vẽ. Như vậy giấy không thể rách được nhưng đau đầu gối lắm, lại phải nhờ đan tiếp cho 2 tấm liếp mỗi tấm một mét vuông đặt xuống rồi bò lên mà vẽ; vẽ xong chỗ nào lại lấy tán kia đặt lên vẽ chỗ khác. Cuối cùng, tranh cũng xong, xoa tay, hút một điếu thuốc lào, mặt trời chưa lặn. Tôi vội vàng chạy đi tìm đồng chí Phan Hiền báo cáo là tranh đã xong, mời các đồng chí có trách nhiệm ra xem (đồng chí Phan Hiền sau này làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp, đã mất, có lần gặp tôi, đồng chí vẫn còn nhắc tới bức tranh).

Anh Hiền vui vẻ nói:

- Xong rồi đấy à? Khá lắm! Tí nữa anh em quân báo sẽ đến. Mệt lắm hả? Anh chuẩn bị để tôi vào mời đồng chí Chủ nhiệm chính trị ra xem và thông qua.

Mấy phút sau, đồng chí Lê Liêm, Chủ nhiệm chính tri mặt trận đến, tay cầm điếu thuốc lá, hồ hởi cười với mọi người:

- Chào các đồng chí, đâu, tranh đâu?

Những cành lá ngụy trang lần lượt được nhấc lên và bức tranh cũng từng phần hiện ra cùng với sự phấp phỏng lo âu mỗi lúc một lớn của tôi. Đồng chí Chủ nhiệm cứ lượn xung quanh bức tranh để xem cùng với một số người khác, dáng băn khoăn.

- Xem thế này khó quá, không nhìn bao quát được từ trên xuống dưới. Muộn rồi, có cách nào dựng nó lên không nhỉ?

- Thưa đồng chí, nó bằng giấy, vả lại chả có chỗ nào để dựng nó lên cả, cho nên phải vẽ dưới đất.

- Thế thì xem toàn bộ thế nào?

- Đây có cái cây, đồng chí trèo lên, từ trên cao nhìn xuống thì thấy hết ạ!

- Ừ nhỉ, phải đấy!

Thế là chủ nhiệm trèo cây. Từ cái chạc ba, đồng chí vừa vẩy vẩy thuốc lá vừa nói vọng xuống:

- Nói chung tôi thấy như vậy là được. Thế nhưng mà... à, họa sĩ, tên là gì nhỉ, Hiến hả? Này anh Hiến, anh nắm được ý của đồng chí phụ trách địch vận đấy: vẽ người mẹ ôm con nhìn vào nơi xa xăm. Họa sĩ nên vẽ người mẹ và đứa con buồn thêm một tí thì mới đúng, còn cái khẩu hiệu thì nét kẻ phải to lên cho rõ hơn. Họa sĩ chịu khó chữa một tý nhé, tôi thấy được!

Anh em xúm lại quanh gốc cây đưa đồng chí Chủ nhiệm xuống, vất vả như cách đây mấy phút đưa đồng chí ấy lên.

Tôi ra công sửa chữa bức tranh. Chiều tối, mấy đồng chí quân báo đến. Trước đó tôi đã dặn phải đan một tấm liếp khổ 4m x 5m để dán bức tranh vào rồi cột vào các giàn giáo. Bức tranh được cuộn lại, to hơn cái ống bương. Tôi hỏi, thế "quân ta" định dựng nó ở Bản Kéo thế nào? Hoạ sĩ cứ yên trí, chúng tôi đã dựng các thứ khung bằng tre từ sáng sớm sẵn sàng cả rồi. Tối chúng tôi bò vào và trương lên. Thôi chào họa sĩ nhé!


Tôi thở phào, nhẹ cả người, thế là xong một việc và tất nhiên tôi có chú ý theo dõi tác phẩm "vĩ đại" của mình (chả gì nó cũng 20 mét vuông cơ mà), thì được biết nó đã "sống", và tôi đã được chứng kiến bọn địch ở Bản Kéo mất tinh thần, ra hàng, vì bị bao vây, uy hiếp mạnh, vì tác động của hai trận Him Lam và đồi Độc Lập.

M.V.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 12:59:04 pm
RÀ PHÁ BOM NỔ CHẬM Ở ĐIỆN BIÊN


NGUYỄN THÁI HUYÊN


Đại đội 217 của tôi làm nhiệm vụ rà phá bom chậm, phụ trách cung đường từ đỉnh xuống chân đèo Pha Đin, hướng về ngã tư Tuần Giáo.

Từ Sơn La lên Lai Châu chỉ có một con đường là quốc lộ 41 vòng lượn theo những dãy núi cao nguyên thủy. Rất nhiều đèo, đèo Pha Đin là cao nhất, dài hơn hai mươi cây số.

Khi quân đội ta bắt đầu tấn công vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ thì quân địch càng tăng cường đánh chặn ta dọc các chặng đường hành quân, vận tải lương thực, thuốc men, vũ khí... phục vụ chiến trường. Hàng ngày, máy bay địch lùng sục bắn phá, chọn những cung đoạn, một bên là vách núi, một bên là vực thẳm để thả bom, đào sâu, bóc mặt đường và thả bom nổ chậm.


Trung đội trinh sát chốt trên đỉnh đèo Pha Đin, chọn những điểm cao để quan sát. Mỗi lần máy bay đến thả bom, nghe tiếng bùng bục, mặt đất rung chuyển, không có tiếng nổ, là họ lao tới, tìm chỗ quả bom rơi cắm lên đó một cờ chéo, màu đỏ, báo hiệu ở đây có bom nổ chậm.


Là trung đội trưởng B2, kiêm quản trị trưởng, tôi đi theo tổ tiền trạm đến với trung đội trinh sát. Tôi trèo đèo, mồ hôi tháo ra như tắm. Vào cái quán tự giác của bà con dân tộc Thái, tôi chọn mấy quả chuối tiêu vỏ vàng rộm và hai quả ổi thật to. Tôi bỏ tiền vào cái rá trả cho chủ quán vắng mặt rồi tiếp tục đi. Cây cối hai bên đèo xơ xác. Cây thì đổ gục, cây thì nằm ngang trên hố bom. Mặt đường bị bom đạn cày xới tung toé. Đến một đoạn đường vòng hẹp, nhìn xuống vực thẳm tôi thấy hai chiếc xe ô tô tải, cái chúc đầu xuống, cái giơ bốn bánh lên trời. Chợt nhớ lời tâm sự của anh em lái xe:

- Đường hẹp, mưa thì trơn như đổ mỡ. Lái xe chạy suốt đêm, mắt cứ ríu lại. Xe chạy bằng đèn gầm thiếu ánh sáng, chệch một tí là xong đời!

Cả đoạn đèo này là trận địa rà phá bom của đơn vị. Hàng ngày khi mặt trời lặn là toàn đội kéo quân ra. Anh em theo cờ hiệu mà đào, lôi đầu những quả bom nằm cạn, lăn xuống vực thẳm. Còn quả ở sâu thì khoan lỗ, đặt mìn kích thích cho nó nổ.

Giá mà có cái máy rà mìn, rà bom thì thật tuyệt vời? Chiến sĩ phá bom nổ chậm ở đây chỉ có lòng dũng cảm và cái thuốn. Thuốn là một ống sắt tròn dài độ 4, 5 mét, đầu mũi nhọn, phía trên có khoan mấy hàng lỗ, cái xà beng xuyên qua, hai người hoặc bốn người quay, khoan xuống, khoan xuống sâu, lại chuyển xà beng lên lỗ trên.


Quả bom nổ chậm nổ đúng giờ hẹn thì ổn, nếu gặp thằng "vô kỷ luật" nổ sớm thì cái sống và cái chết gần nhau như tấc gang.

Kẻng báo động vang lên: máy bay địch xuất hiện tốp máy bay ba chiếc gầm rú dữ dội. Chúng nó lao xuống rồi bay vút lên. Bom rơi xuống mặt đường, có vài quả rơi xuống vực thẳm. Bọn giặc lái xảo quyệt thả bom phá trước để diệt những người đang ở trên đường, sau đó mới thả bom nổ chậm.


Tôi vừa nằm xuống một hố bom cũ đã nghe những tiếng nổ vang tai buốt óc. Mảnh bom, đất đá rơi rào rào, khói bụi mù mịt một vùng. Sức ép quả bom tạo thành luồng gió tạt qua người tôi. Chiếc mũ nan có lưới, buộc những mẩu vải xanh lá cây bay đâu mất, chân bên trái của tôi tê buốt.


Tôi cố gượng ngồi dậy. Chân tôi bị mảnh bom xuyên qua, xé rách mảnh quần và một mảng da đùi, máu chảy loang lổ. Tôi lôi cuộn băng trong xắc-cốt, băng nhanh vết thương. Tuy rất đau, nhưng tôi mừng là mình chưa bị nặng, mặc dù miệng hố bom chỉ cách tôi năm mét, mùi thuốc khét lèn lẹt.


Tôi tìm cành cây làm gậy chống, lê bước đi. Mấy anh em đang lom khom cắm cờ hiệu. Một tốp khác đang xúm xít bên một mô đất cao. Thôi, chết rồi, chắc có người bị thương! Tôi nghĩ vậy.

Thấy tôi đến, tiểu đội trưởng Chiểu, chạy tới mếu máo nói:

- Báo cáo trung đội trưởng, đồng chí Tùng bị thương nặng ạ.

- Thế còn các chốt khác?

- Không ai việc gì.

Tùng bị thương bên mông và vai, bông quấn khắp người nhưng máu vẫn thấm qua bông, đỏ thẫm. Anh nằm thẳng đơ, miệng rên khe khẽ. Trong chốc lát, anh được đưa về phía sau. Thương đồng đội có người khóc. Họ nhìn theo cái cáng cho đến khi khuất hẳn. Tôi cử người đi lấy cáng. Đây là dụng cụ thường dùng để chở đất đá.


Các đoàn dân công Bắc Giang, Phú Thọ, Thanh Hóa... lần lượt ra mặt đường cùng với bộ đội để san lấp hố bom, sửa lối đi. Họ cười nói vui vẻ, hồn nhiên.

Hôm nay, đâu phải lần đầu tiên, trận địa trên đèo cao này đã có năm người bị thương, hai người bị thương nặng, đành phải xuất ngũ. Đơn vị bạn có hai người hy sinh.

Trong đội viên có người dao động. Đồng chí Đạo, cán bộ Cục Công binh, chính trị viên đại đội thường hay nói vui:

- Bom nổ, chưa chắc bị thương, bị thương chưa chắc đã chết! Nhiều người đi chợ cũng bị máy bay giặc Pháp bắn chết. Sống với chết là lẽ thường, lý tưởng là sống mãi...

Biết vậy, nhưng rà phá bom đâu phải chuyện đùa. Xe bị ùn tắc đậu một dãy dài dưới đèo. Các đoàn dân công, xe thồ chở gạo, vũ khí về Điện Biên đều ngồi đợi. Họ đi tìm nhận đồng hương, cười nói rôm rả. Một số lại gần xem chúng tôi làm.

Mũi khoan chạm quả bom, tiếng rèn rẹt, nhè nhẹ, báo hiệu có bom. Anh em ra sức đào lôi đầu nó lên. Dân công hoảng sợ, la hét chạy ra xa:

- Chết, coi chừng bom nổ!

Bom dọn đến đâu, các đoàn dân công san đường, lấp hố bom đến đó. Phá xong quả bom cuối cùng, chúng tôi báo hiệu "an toàn". Xe ô tô, xe thồ, dòng người như thác đổ về Điện Biên Phủ. Nỗi vui sướng của họ, hoà lẫn với niềm vui của chúng tôi.

Ở đây biết bao nhiêu ngày đêm chúng tôi đối mặt với bom nổ chậm, gian khổ hy sinh, nhưng sung sướng nhất là đã góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên vẻ vang, tận mắt thấy bộ đội ta áp giải đoàn quân Pháp bại trận, cúi đầu "diễu hành" qua "lễ đài" Pha Đin. Trời yên, núi rừng bình lặng. Mọi người đổ về xuôi. Riêng đại đội rà phá bom mìn chúng tôi còn ở lại, làm tròn nhiệm vụ: đi trước về sau!

N.T.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 18 Tháng Mười Hai, 2021, 01:01:34 pm
KỲ TÍCH KÉO PHÁO Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ


TRẦN NGỌC TRỮ và HOÀNG PHÁT VÂN


Được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ là một vinh dự, lại được tham gia kéo pháo càng vinh dự hơn. Chúng tôi xin kể lại câu chuyện kéo pháo cách đây 50 năm, một kỳ tích của pháo binh nói riêng và quân đội ta nói chung.

Sau khi hành quân tới mặt trận, các đơn vị đang chờ đợi kế hoạch chuẩn bị chiến đấu thì chúng tôi được cấp trên cho biết rõ: "Để giữ yếu tố bí mật, giành yếu tố bất ngờ, nhất là đối với lực lượng lựu pháo 105mm và cao xạ 37mm lần đầu tiên xung trận, Bộ chỉ huy mặt trận chủ trương mở đường, dùng sức người kéo pháo vào trận địa". Thực ra lúc đó chúng ta hoàn toàn có khả năng làm đường để xe ô tô trực tiếp kéo pháo vào trận địa, nhưng rất khó giữ được bí mật... Hiểu rõ chủ trương sáng suốt của cấp trên, chúng tôi ai nấy đều hăng hái bắt tay vào nhiệm vụ mới mẻ này. Các lực lượng làm đường gồm có Đại đoàn 308, một tiểu đoàn công binh và năm đại đội sơn pháo, súng cối. Sáng sớm ngày 15 tháng 1 năm 1954, trên năm ngàn con người được rải đều trên suốt các bìa rừng, sườn núi, có nơi chỉ cách địch có 4 ki-lô-mét, trong tầm đại bác của chúng. Hàng ngàn cánh tay vung lên, sỏi đá toé lửa và lăn xuống vực sâu, cây to bị đánh bật gốc. Pháo binh địch thỉnh thoảng bắn vu vơ. Đang giữa tiết đông mà quần áo chúng tôi đều đầm đìa mồ hôi. Cơm ăn ngay tại chỗ, ăn xong lao vào việc ngay. Con đường hiện ra dần dần không phải nhờ có phép lạ mà chính là bằng quyết tâm và sức lao động phi thường của quân ta. Chỉ ít ngày sau, con đường kéo pháo dài 15 ki-lô-mét, rộng 3 ki-lô-mét đã hoàn thành, cả đoạn đường có trên chục dốc cao, có dốc tới 40 độ, bên đường là vực sâu. Đường làm đến đâu anh em lại vít cành cây, dựng dàn mướp trồng cây để ngụy trang đến đó.


Những cỗ pháo nặng trên hai tấh bắt đầu cắt khỏi xe, được kéo bằng tay từ ki-lô-mét 70 đường Tuần Giáo. Lực lượng tham gia kéo pháo gồm Đại đoàn 312, trung đoàn lựu pháo và trung đoàn pháo cao xạ. Lúc đầu, Ban chỉ đạo tổ chức kéo thử một khẩu lựu pháo và một khẩu cao xạ để rút kinh nghiệm. Hai mươi chiến sĩ bộ binh kéo một khẩu, còn pháo thủ thì đẩy, nhấc và chèn bánh. Trên khoảng đất bằng ở cửa rừng Nà Nham, với chừng ấy người, chúng tôi kéo pháo chạy băng băng, anh em ai cũng phấn chấn. Nhưng đến một dốc nhỏ, pháo chỉ nhích được từng gang, khá nặng nề, vất vả. Sau đó phải tăng lên 30 người rồi 40 người một khẩu mới vượt qua được dốc. Càng lên cao, pháo càng ì ạch, càng phải tăng người. Cuối cùng, phải tăng tới 100 người một khẩu cộng với lực kéo của tời mới đưa được pháo lên dốc. Vất vả nhất phải kể đến pháo thủ vác càng, anh em lái không nổi nên lúc càng văng sang phải, lúc quặt sang trái, vòng kéo dằn trên vai đau điếng. Phần lớn là kéo vào ban đêm, nhưng có ngày lợi dụng chỗ có rừng cây kín đáo, anh em kéo mải miết cả ngày.


Để nâng cao tốc độ kéo, bảo đảm cho ngày nổ súng đúng quy định, anh em đã được họp bàn rút kinh nghiệm, nhiều ý kiến đóng góp rất sôi nổi: "Yêu cầu công binh mở rộng đường vòng, bạt bớt dốc, thiết bị tời chắc chắn, dùng dây cóc rừng để kéo, bố trí dây kéo hợp lý hơn...".


"Hai... ba... nào!", tiếng hô của đồng chí chỉ huy kéo pháo mạnh mẽ, thôi thúc điều khiển chúng tôi kéo nhịp nhàng. Trăm con người ngả rạp rồi lại chồm lên như những lớp sóng dồn, quyết bắt pháo đi nhanh. Pháo thủ Vó có sáng kiến buộc bó lá cây nhỏ vào lưỡi cày để càng tự lết xuống đất, không phải vác càng. Khẩu đội tưởng Luân lại có sáng kiến hay hơn là đẽo guốc gỗ hình con vịt buộc vào lưỡi cày để lướt trên mặt đường được nhẹ nhàng.


Tiếng "hai... i... ba, nào!", "dô... ta, nào!" đã khản đặc, có người hô như hết hơi. Có hôm trời mưa dầm dề, đường trơn, dốc tuột, mấy trăm bàn chân đứng mãi một chỗ, đất rắn đã biến thành bùn. Kéo suốt mấy đêm, ai nấy đều thèm ngủ, hễ ngơi tiếng dô ta là có thể ngủ ngay trên đường. Cán bộ đang hội ý, có người ngủ gật, cụng đầu vào nhau tỉnh dậy bật cười.


Trong gian khổ vất vả, nhiều gương dũng cảm xuất hiện. Một hôm khẩu pháo của đại đội 1 đang đổ dốc suối Reo bỗng bị tụt quá nhanh, pháo thủ Mậu đã ghé vai vào bánh kết hợp với dây ghìm cản cho pháo khỏi tụt nhanh, nhưng khẩu pháo vẫn cướp đà đè vào đùi Mậu. Anh em ráng sức kéo ngược lại để cứu Mậu nhưng pháo vẫn không nhúc nhích. Khi thấy lâu, đồng chí Mậu nói với anh em: "Thôi, chân tôi đằng nào cũng đã hỏng, cứ cho pháo lăn qua để đưa pháo vào trận địa kịp nổ súng".


Hôm sau lại một sự kiện nữa xảy ra. Tại đoạn đường từ Lai Châu đi Điện Biên, khẩu pháo của đại đội 6 đang đổ dốc thì dây tời bị đứt, lôi cả dây cả người xềnh xệch trên dốc, không sao cưỡng nổi. "Dũng cảm cứu pháo, còn người còn pháo", những tiếng hô ấy ngân vang trong lòng các chiến sĩ. Trong giờ phút nguy kịch này, ba pháo thủ Chức, Cứ và Ngói đã rượt theo pháo để lao chèn, nhưng pháo cứ lồng lên băng qua mọi cây chèn, mọi mô đất. Cứ và Ngói bị hất ra, chỉ còn mình Chức. Khẩu pháo lao nhanh sắp lăn xuống vực. Không chậm trễ, Chức ôm chèn lao mình vào một bên bánh. Khẩu pháo chồm qua người Chức mất đà lao quặt vào gốc cây trên đồi rồi khựng lại. Tấm gương hy sinh quên mình cứu pháo của Nguyễn Văn Chức cũng như gương hy sinh của Tô Vĩnh Diện ở cao xạ pháo đã nhanh chóng truyền đi khắp tuyến đường kéo pháo. Chúng tôi đều cảm phục, thương tiếc các anh, càng xót xa căm phẫn khi được tin 14 đồng chí của Trung đoàn 675 vừa ngã xuống hôm trước vì một quả đạn pháo địch ở ngã ba Bản Tố khi anh em vào thay bộ binh kéo pháo.


Chính trong thời khắc hào hùng đó, bài hát Hò kéo pháo của Hoàng Vân ra đời, kịp thời động viên bộ đội ghi nhận một sự kiện phi thường.

   ... Sắp tới rồi đồng chí pháo binh ơi!
   Vinh quang thay sức người lao động...

Bảy ngày đêm trôi qua, hàng ngàn chiến sĩ đã vượt qua khó khăn, lập kỳ công bí mật đưa pháo vào trận địa an toàn. Tưởng như vậy đã hoàn thành nhiệm vụ, chỉ chờ lệnh nổ súng nhưng tức thời lại được lệnh của cấp trên "kéo pháo ra" để thực hiện phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Bao băn khoăn thắc mắc nảy sinh trong tư tưởng của bộ đội, nhưng sau khi được giải thích, động viên, anh em chúng tôi lại khẩn trương bắt tay vào việc.


Kéo pháo vào đã gian khổ, nhưng kéo pháo ra còn quyết liệt hơn vì địch đã phát hiện được đường kéo pháo của ta, đại bác của chúng bắn xối xả cản đường. Hàng ngày, máy bay địch ném bom napan đốt rừng, thiêu trụi cây, nhưng bộ đội ta vẫn dũng cảm vượt qua lưỡi lửa, quyết tâm đưa pháo ra. Các cỗ pháo được ngụy trang kín đáo, việc chỉ huy kéo pháo có kinh nghiệm hơn, nhưng dưới làn bom đạn địch, không đêm nào là không có thương vong. Có lúc đạn địch rơi giữa hàng quân kéo pháo, một số đồng chí ngã xuống, nhưng đơn vị vẫn ghìm chặt pháo, không hề nao núng buông tay. Ánh sáng của đèn dù soi rõ nét mặt hao gầy, nhưng đầy vẻ kiên quyết của chiến sĩ ta. Trăm người như một, không ai lo lắng đến tính mạng của mình mà chỉ lo giữ gìn pháo.


Sau tám ngày đêm kéo pháo ra, tất cả các khẩu pháo được đưa tới vị trí an toàn. Bom đạn địch bắn phá dữ dội như vậy, nhưng anh em chúng tôi vẫn bảo vệ được pháo nguyên vẹn, bảo đảm ngày nổ súng mở màn chiến dịch đúng quy định.

T.N.T và H.P.V


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:24:47 am
LÊN ĐƯỜNG TẬP KẾT VỚI CÁI MŨ "ĐIỆN BIÊN"


MINH TRỊ


Tiểu đoàn 308 là một trong ba đơn vị chủ lực trực thuộc Phân liên khu miền Tây - Nam Bộ. Đầu năm 1954, tiểu đoàn được lệnh phân tán các đại đội tác chiến xuống 3 huyện điểm của tỉnh Sóc Trăng phối hợp với các địa phương phát triển lực lượng du kích.


Cuối tháng 4 năm 1954, đồng bào đi chợ vùng tạm chiếm mua về mấy tờ báo Sài Gòn đưa tin "Giao tranh ác liệt ở mặt trận Điện Biên Bắc Việt". Thời gian này, các đơn vị võ trang được lệnh ra sức kìm chân địch ở miền Nam, không cho chúng rút quân chi viện chiến trường "Điện Biên" đang bị quân ta vây chặt hàng ngàn quân! Đó là lần đầu, cán bộ chiến sĩ ở đây nghe cái tên "Điện Biên". Anh em hỏi nhau: "Điện Biên" ở đâu? "Thuộc tỉnh nào ở ngoài Bắc?". "Điện Biên" ở... xa lắm, tuốt địa đầu phía Tây Bắc biên giới đất nước. Đây là cái lòng chảo dồn quân Pháp rút từ các nơi về, rộng mấy chục ngàn hécta phải tiếp tế bằng đường hàng không, nay đang bị pháo binh ta áp đảo dồn dập... Kế đó, khắp nơi, náo nức tin quân ta toàn thắng ở Điện Biên, cả tập đoàn quân của tướng Đờ-cát kéo cờ trắng ra hàng vào ngày 7 tháng 5. Đầu tháng 8 toàn đơn vị tập trung nghe nói về "Hiệp định Giơnevơ" và nhiệm vụ quan trọng: Thực hiện lệnh ngừng bắn trên toàn Nam Bộ vào ngày 11 tháng 8, chuẩn bị tiếp quản tạm thời "thị trấn Tắc Vân" cùng lúc với Tiểu đoàn 307 tạm thời tiếp quản thị trấn Cà Mau. Đây là khu vực 200 ngày tập kết để chuyển quân ra Bắc.


Một số cán bộ của tiểu đoàn được biệt phái sang công tác ở Ban chuyển quân vừa mđi thành lập đặt trụ sở ở ngã ba kênh Chắc Băng, bên kia là "bến tàu" dã chiến vừa cấp tốc xây dựng. Nơi đây đoàn tàu há mồm của quân đội Pháp sẽ đến đón từng đợt quân ta "tập kết" xuôi ra cửa biển Cần Thơ hoặc Vũng Tàu rồi chuyển qua các tàu lớn Arkanghen, Stravabôn (Liên Xô) và Kilinsky (Ba Lan) để tới bến sầm Sơn (Thanh Hóa). Các đơn vị lần lượt đến đóng quân dài theo hai bờ kênh Chắc Băng xuống tận ngã ba sông Thới Bình, chờ kế hoạch điều động của Ban chuyển quân. Lúc này chiếc "mũ bộ đội" của phái đoàn Quân đội nhân dân từ miền Bắc vào làm việc, lần đầu tiên xuất hiện: chiếc mũ nan, bọc vải xanh lá cây và bọc lưới... Đồng bào và chiến sĩ nhiệt liệt hoan hô chào đón phái đoàn. Mọi người trầm trồ chỉ cho nhau xem chiếc mũ biểu tượng của chiến thắng "Điện Biên" chấn động toàn cầu! Rồi trong đội ngũ bộ đội chuẩn bị tập kết ra Bắc, có một sáng kiến được nêu ra: Quân ta xuống tàu tập kết nên đội chiếc mũ "Điện Biên". Ai nấy đều hoan nghênh. Thế rồi những bàn tay chiến sĩ khéo léo lập tức tìm vật liệu, "sáng tạo" cái mũ "Điện Biên". Anh em phân công đi xin tre về làm cốt mũ, vải kaki màu rêu để bọc, còn "ngôi sao đỏ năm cánh", nền vàng nhờ người có hoa tay vẽ trên các tông rồi tô màu, mảnh lưới bọc mũ thì đan bằng dây nhợ hoặc dùng những đoạn lưới đánh cá cũ, còn lá ngụy trang thì làm bằng các mẩu vải vụn màu lá cây qua tay chị em kết lại. Vậy là cái mũ "Điện Biên" nhanh chóng được hoàn thành từ tiểu đội này đến tiểu đội kia. Rồi một sáng toàn đơn vị tập hợp chào cờ, mọi cán bộ, chiến sĩ đều đội mũ "Điện Biên" hãnh diện, ngẩng cao đầu hát vang "... giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về giữa mùa hoa nở miền Tây Bắc tưng bừng vui...


Những đơn vị khác từ xa vừa đến, trông thấy mũ "Điện Biên" hiên ngang quá lập tức bàn cách làm theo và thật nhanh cho kịp thời gian. Một cán bộ cầm cái mũ "mẫu" xem kỹ phía ngoài, phía trong, vạch mép vải bọc quanh vành nón, gật gù nói: "Cử người ra chợ, mua tất cả nón... cối, vải mầu cứt ngựa và lưới ngụy trang". Anh em hò reo náo nhiệt "Quá hay!". "Thần sầu!". Nhưng mà, còn ngôi sao? Tiếng một người dõng dạc: Ngôi sao thì mỗi người tự lo. Lấy bìa các tông vẽ hình sao rồi cắt ra, lấy kim ghim vào mũ.... Thế là đơn vị gom tiền, xin phép cấp trên nhờ chị em phụ nữ ra các chợ Cà Mau, Tắc Vân hễ thấy nón cối là "vét" hết. Các chị chở về đủ kiểu nón cối, hầu hết mang nhãn hiệu "Le coq" (con gà) khá nhẹ, chất liệu bằng "mốp" loại bình dân thường dùng. Thế rồi, mọi cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị đều có mũ "Điện Biên". Mà không chỉ bộ đội, khối dân chính tập kết cũng bảo nhau làm mũ "Điện Biên". Những chiếc nón cối lập tức được "lợp" vải màu rêu, bọc thêm lớp lưới đính những mẩu vải nhỏ lá mạ phất phơ, trở thành mũ "Điện Biên" chính cống.


Đoàn tàu há mồm của đối phương xình xịch cập bến dọc sát bờ kênh, mở bửng tiếp đất. Trên bãi tập trung, các đơn vị tập kết, hàng ngũ chỉnh tề, mọi người đều đội mũ "Điện Biên" tưng bừng khí thế chiến thắng. Từng đơn vị lần lượt xuống tàu. Loa phóng thanh phát nhạc hành khúc... Bửng tàu rít lên chát chúa đóng sập lại, người trên bờ không còn thấy người dưới tàu. Nhưng những cái mũ "Điện Biên" đồng loạt nhô lên khỏi thân tàu náo nức vẫy chào. Người trên bờ ra tiễn, giơ cao hai ngón tay hẹn ngày gặp lại. Máy tàu rú lên ầm ầm không át được tiếng vỗ tay và tiếng hát "Giải phóng Điện Biên, bộ đội ta tiến quân trở về...".


Âm thanh, cảnh tượng ấy, trong những ngày này chuẩn bị 50 năm kỷ niệm chiến thắng lịch sử "Điện Biên" càng làm bùng lên niềm tự hào, tình cảm của thế hệ kháng chiến chống Pháp, của lớp lớp đoàn quân "vì nhân dân quên mình".

M.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:25:46 am
"BÉ BÚP BÊ" CÙNG TÔI VÀO CHIẾN DỊCH


VŨ HẬU


Chúng tôi, những cán bộ và chiến sĩ của Tiểu đoàn 215, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 đang đóng quân và luyện tập trên đất Hòa Bình thì được lệnh hành quân lên Tây Bắc.

Ngày 24 tháng 11 năm 1953, chúng tôi xuất phát. Lần này tiến quân vào Tây Bắc để tiếp tục giải phóng hoàn toàn miền Tây Bắc. Tiểu đoàn 215 của chúng tôi có nhiệm vụ vượt lên chiếm lĩnh trận địa trên núi Pu San, nơi có con đường từ Lai Châu về Điện Biên Phủ để chặn địch từ Lai Châu tháo chạy về Điện Biên Phủ và chặn địch từ Điện Biên Phủ ra ứng cứu cho đồng bọn.


Lúc này địch từ Lai Châu rút về đến Mường Pồn bị một đơn vị của Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 chúng tôi chặn đánh và tiêu diệt. Tiểu đoàn 215 của chúng tôi được giao nhiệm vụ truy kích địch để bắt tù binh. Mọi tiếng súng trên chiến trường đều im bặt. Núi rừng nơi đây lại tĩnh mịch, thầm lặng như cuộc sống vốn có của nó.


Tôi và đồng chí Dưỡng (chiến sĩ thông tin của đại đội), xuống đường quan sát trận địa. Đồ đạc của địch vứt nhiều vô kể. Kỷ luật chiến trường về chiến lợi phẩm không cho phép chúng tôi động đến. Bỗng tôi thấy trong đám quần áo và tư trang của quân ngụy vứt đầy có một con búp bê "Bé" cao khoảng 25 cm nằm ngay cạnh đường. "Bé búp bê" trông yêu quá!". Tôi nói với Dưỡng: "Dưỡng ơi! Tôi nhặt con "Bé búp bê" này nhé!" Dưỡng đồng ý. Tôi bế "Bé búp bê" lên và lấy chiếc bao đựng gạo cỡ lớn bỏ "Bé búp bê" vào và địu Bé sau lưng.


Trên đường hành quân truy quét địch, tôi vẫn địu "Bé búp bê" trên lưng. Có lúc tôi thầm nghĩ: "Chờ ngày chiến thắng trở về sẽ tặng "Bé búp bê" cho người tôi yêu!" Lúc này tôi mới 25 tuổi tham gia quân đội từ lúc 16 tuổi, chưa có gia đình riêng, song cũng có lúc tôi đã đơn phương thầm yêu trộm nhớ một người...


Cuộc chiến đấu diễn ra liên tục. Tiểu đoàn 215 của chúng tôi truy kích địch về phía bản Xi Pa Phin, nơi đây có một đồn trú của quân Pháp.

Cách đồn trú của địch khoảng 500 mét, bộ đội dừng lại. Trinh sát báo cáo: "Địch đã tháo chạy hết, đồng bào trong bản cũng đã chạy hết - vườn không nhà trống!".

Anh Hoàng Niệm, nay là thiếu tướng nguyên Tư lệnh trưởng Thông tin (đã nghỉ hưu), lúc đó là Chính trị viên Tiểu đoàn 215 gọi tôi đến và ra lệnh: "Hậu ơi (lúc này tôi là chính trị viên đại đội 36, đại đội trợ chiến của tiểu đoàn), cậu đưa một liên lạc viên cùng đi, vào trong bản xem dân tình ra sao và vận động đồng bào đem trả những thứ đã lấy trên đồn địch, đặc biệt là lương thực, thực phẩm và vũ khí. Bộ đội hành quân đuổi địch đang cần vũ khí và lương ăn".


Tôi tuân lệnh chính trị viên, đưa Dưỡng cùng đi vào bản. Nơi đây địch vừa tháo chạy, đồng bào đang hoang mang bởi địch thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nói xấu Việt Minh: bộ đội Việt Minh đi đến đâu là gây tai họa cho đồng bào đến đấy...


Bản vắng teo lạnh lẽo, im lìm. Dưỡng vẫn đeo súng trường trên vai, tôi vẫn để súng lục trong bao, hai chúng tôi vào từng nhà, từng bếp, không thấy một bóng người, một chút thức ăn cũng không.

Chúng tôi đang thất vọng vì không thấy một bóng người nào thì đột nhiên có một chị phụ nữ bế một cháu gái nhỏ chừng 4-5 tháng xuất hiện. Tôi mừng quá!

Chị phụ nữ nhìn chúng tôi một cách ngỡ ngàng.

Tôi nhoẻn miệng cười, vỗ tay đùa với cháu bé và hỏi chị phụ nữ: "Người trong bản đi đâu cả rồi?". Chị trả lời "Đàn ông chết hết cả rồi". Tôi biết là chị nói dối. Tiếp tục đùa vui với cháu bé, xoè tay đón cháu, cháu không theo, nhưng không tỏ ra sợ sệt. Mẹ cháu nét mặt cũng có vẻ thân thiện hơn. Nếu làm thân được với cháu bé thì sẽ tranh thủ được tình cảm của mẹ cháu và từ đó có thể kéo được dân bản về nhà. Tôi chợt nghĩ đến "Bé búp bê". Trẻ em đứa nào mà chẳng thích búp bê! Tôi thầm xin phép người mà mình thầm yêu, mở bao gạo lấy "Bé búp bê" ra đưa cho cháu bé. Cháu toét miệng cười với lấy "Bé búp bê". Mẹ bé cũng cười vui vẻ với chúng tôi. Tôi nói: "Chị đi gọi thanh niên và bà con về đi". Chị mỉm cười và bế cháu bé đi.


Khoảng 15-20 phút sau có vài chàng thanh niên về. Hình như họ đã rình xem chúng tôi tiếp xúc với mẹ con chị phụ nữ, nên gặp chúng tôi, họ tỏ ra vui vẻ.

Tôi bảo họ đi mời các người già về. Họ quay đi và khoảng 20 phút sau đưa vài cụ ông về. Chúng tôi trò chuyện, hỏi thăm các cụ và trình bày với các cụ về nhiệm vụ bộ đội ta và yêu cầu của bộ đội đối với dân bản. Qua chuyện trò với chúng tôi, các cụ mỗi lúc một vui vẻ hơn. Sau đó các cụ đã gọi một số thanh niên đem từ rừng về trả cho ta 300 ki-lô-gam gạo trắng, 25 hộp thịt, 60 bao thuốc lá và một con bò khá to. Đêm đó, cả tiểu đoàn ngủ lại bản Xi Pa Phin rồi hôm sau lại hành quân về Điện Biên tiếp tục bao vây địch.


Kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên, hồi tưởng lại mọi việc, tôi nhớ nhất là "Bé búp bê" và cháu gái được tôi tặng búp bê. Nếu còn thì cháu gái cũng đã 50 tuổi.

Nhớ đến "Bé búp bê" tôi xin có lời cáo lỗi với người mà tôi thầm yêu, vì đã không thực hiện được ước mơ địu "Bé búp bê" về để tặng nàng và xin nàng hãy tự hào vì "Bé búp bê" không đến được tay nàng, nhưng đã giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:26:39 am
CHIA LỬA VỚI ĐIỆN BIÊN


HOÀNG MINH MẪN


Đầu năm 1953, khi chúng tôi vừa hành quân về vị trí tập kết để chuẩn bị dự chiến dịch An Khê thì tôi nhận được lệnh của đồng chí Nguyễn Chánh, Bí thư Quân khu ủy. Lệnh ngắn, gọn: "Giao đơn vị cho Ban chỉ huy Trung đoàn, lên quân khu nhận nhiệm vụ mđi". Nhận lệnh điều động lần này tôi linh cảm rằng mình sắp được nhận một nhiệm vụ quan trọng, nhiều khó khăn gian khổ.


Tôi hăm hở lên căn cứ của Bộ Tư lệnh Quân khu. Vừa tới nơi tôi gặp được ngay đồng chí Nguyễn Chánh và nhận nhiệm vụ: Trở lại chiến trường cực Nam Trung Bộ chỉ huy Trung đoàn 812 đánh chiếm căn cứ Lê Hồng Phong, mở rộng vùng giải phóng, tiến tới mở rộng căn cứ phía tây tình Bình Thuận. Lúc tiễn tôi lên đường, đồng chí Bí thư Quân khu ủy nắm chặt tay tôi, cười nói: "Đồng chí đi mạnh khỏe. Mong tin thắng lợi của 812. Mười Tỷ (tên gọi thân mật của tôi) về chiến trường cực Nam Trung Bộ thì khác nào hổ về rừng. Đúng không?".


Tôi biết đây là một cuộc chạy đua chiến lược giữa ta và địch. Âm mưu của địch là muốn chiếm vùng tự do Liên khu 5, một vùng giàu sức người, sức của mà chúng có thể vơ vét được để phục vụ cho cuộc chiến. Đồng thời để cắt đứt nguồn hậu cần to lớn của cuộc chiến tranh nhân dân của ta ở Liên khu 5.


Lần này nhất thiết chúng tôi phải đánh chiếm bằng được căn cứ Lê Hồng Phong của địch bấy nay vẫn khống chế một vùng rộng lớn ở phía tây Bình Thuận và kiểm soát các trục lộ giao thông quan trọng như quốc lộ 1A, đường sắt, đường 20...


Quân khu đã bổ sung quân số, trang bị vũ khí cho các đơn vị vũ trang địa phương để bảo vệ được địa bàn, tác chiến thu hút địch, dàn mỏng lực lượng của chúng, phối thuộc với Trung đoàn 812 mở những trận đánh lớn, mở rộng và xây dựng chiến khu.


Về phía trung đoàn, chúng tôi được Quân khu và Bộ tạo mọi điều kiện thuận lợi để tăng cường sức mạnh toàn diện, có thể đánh lớn, tiêu diệt gọn được các chi khu, nhổ được các đồn lớn, đánh các trận vận động chống càn lớn và đánh vận động phục kích thắng lợi...


Sau nhiều tháng chuẩn bị, cuối năm 1953, chúng tôi được lệnh vào chiến dịch cùng với các chiến trường khắp cả nước.

Chúng tôi quyết định chọn chi khu mũi Né đánh trận mở màn. Bị bất ngờ, địch hoảng loạn trước hỏa lực áp đảo và sức tiến công vũ bão của quân ta. Toàn bộ địch đồn trú bị tiêu diệt và bắt sống; toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch vào tay quân ta. Cửa ngõ phía đông của căn cứ Lê Hồng Phong được mở toang ra hướng biển.


Thừa thắng và không để cho địch kịp trở tay, chúng tôi tiến công luôn căn cứ Lương Sơn do một tiểu đoàn Âu Phi tăng cường chốt giữ để kiểm soát ga xe lửa và khống chế hướng bắc căn cứ Lê Hồng Phong. Uy danh của quân ta trong trận mũi Né cộng với sức tấn công dũng mãnh ở đây đã làm bọn lính Âu Phi rối loạn, vừa chống trả, vừa tháo chạy. Những tên cố thủ chống cự đều bị tiêu diệt, Lương Sơn nhanh chóng lọt vào tay quân ta.


Mũi Né rồi Lương Sơn thất thủ quá nhanh, bộ chỉ huy quân địch còn đang lúng túng tìm cách đối phó thì chúng tôi lại tiến công mãnh liệt vào chi khu Hoà Đa trên quốc lộ 1A ở hướng đông bắc căn cứ Lê Hồng Phong. Thêm một chi khu nữa của địch rơi vào tay chúng tôi.


Ba thất bại nặng nề liên tiếp đã làm cho ý chí của quan quân địch bắt đầu suy sụp. Thế kìm kẹp của chúng bấy nay đối với nhân dân quanh vùng bị phá vỡ từng mảng. Phong trào cách mạng của quần chúng dần lên cao. Nhân dân bung ra làm ăn, sản xuất, móc nối lại với cách mạng, giúp đỡ lực lượng vũ trang về mọi mặt. Chúng tôi vừa vận động quần chúng xây dựng cơ sở, vừa khẩn trương củng cố đơn vị, chuẩn bị mọi mặt để bước vào đợt 2 chiến dịch.


Mở màn đợt 2, cùng lúc chúng tôi tiến công hai chi khu Hoài Đức và Tánh Linh. Đây là hai chi khu bấy nay vẫn khống chế khu vực đồng bằng phì nhiêu và quốc lộ 20. Hoài Đức rồi Tánh Linh nhanh chóng bị xoá sổ. Thừa thắng, chúng tôi bốc hết các đồn bốt địch trên đường từ Gia Huynh đi Suối Kiết, sông Ray, sông Dinh, Mương Mán, Bàu Đa và tiến công tiêu diệt hoàn toàn chi khu Ma Lâm.


Tháng 5 năm 1954 chúng tôi đang trên thế tiến công như chẻ tre thì bỗng có lệnh ngừng bắn và thu quân, nhiều cán bộ, chiến sĩ thắc mắc đòi được tiếp tục truy kích địch. Nhưng chúng tôi, những cán bộ trực tiếp chỉ huy chiến dịch biết rõ: Giờ lịch sử đã điểm, ở chiến trường chính Điện Biên Phủ địch đã bị đánh bại hoàn toàn. Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương đã được ký kết. Toàn đơn vị chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Quân khu bắt tay vào việc thi hành Hiệp định.


Chiến dịch đánh chiếm căn cứ Lê Hồng Phong là một trong những kỷ niệm đẹp trong cuộc đời chiến đấu của tôi. Những kinh nghiệm rút ra từ đây rất bổ ích đối với tôi trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt sau này.

(Ghi theo lời kể của đồng chí Lê Thành Cộng)
H.M.M


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:27:20 am
MỘT CHUYẾN ÁP GIẢI TÙ BINH ĐỘC ĐÁO


ĐỖ TIẾN


Trung tuần tháng 5 năm 1954, được giao nhiệm vụ phụ trách 10 chiến sĩ áp giải 200 tên tù binh Pháp từ Điện Biên Phủ về vùng tự do Liên khu 4, tôi không khỏi băn khoăn lo lắng. Không phải lo quãng đường từ Điện Biên về Thọ Xuân (Thanh Hóa) dài dằng dặc mà lo nhất là khoản không biết tiếng Pháp. 10 chiến sĩ đi cùng tôi cũng chỉ biết mỗi một câu: "Hô-lê-manh" vừa quát vừa giương lê bắt sống địch. Ngoài 200 tên tù binh Pháp tôi còn được giao thêm 35 con trâu làm nhiệm vụ vận tải và là nguồn hậu cần dọc đường.  Dong trâu thì tôi đã quen (tôi chăn trâu từ nhỏ) nhưng dong... 200 tên lính Pháp quen ngồi ô tô, máy bay hơn đi bộ thì quả là gay go. Nhưng nhiệm vụ là nhiệm vụ. Toàn tổ chúng tôi lên phương án, tổ nào đi trước, tổ nào đi sau, cách thức ăn ngủ trên đường... Dẫu đã bàn chi tiết, nhưng vẫn nảy sinh vô số vấn đề.


Ngày chúng tôi lên đường cái nắng mùa hè bắt đầu thiêu đốt. Núi rừng Tây Bắc ban ngày ầm ầm bom đạn bây giờ râm ran tiếng ve. Đoàn tù binh Pháp tròn mắt ngạc nhiên khi thấy đàn trâu nghênh sừng tham gia cuộc hành trình. Lúc được biết đây là đàn trâu dành cho chúng vừa để ngả thịt vừa để chở những tên bị ốm thì chúng vỗ tay bôm bốp, xi lá xi lồ ngậu xị. Ngày thứ nhất hành quân tôi giao cho bọn tù binh cứ 6 tên dắt một con trâu. Chưa bao giờ trên nẻo đường kháng chiến của ta diễn ra quang cảnh kỳ lạ đến vậy: Giữa dòng tù binh lô nhô mũ rộng vành, mũ nồi, quần túi "bắt gà", những chú trâu Việt Nam đủng đỉnh gõ móng cùng tiến bước. Các cô dân công gặp chúng tôi trên đường cười ré.

- Các anh bộ đội ơi, cho Tây đi cày đây à?

- Eo ơi, Tây mà cày thì khoẻ phải biết nhá!

Có cô réo tướng:

- Cho nhà em một cặp nào. Anh của em đi bộ đội, em đi dân công, ruộng không có ai cày bừa kia kìa!

Mới già nửa ngày đường chúng tôi đã phải xử lý nhiều chuyện. Có tên tù binh chỉ xuống chân nhăn nhó đòi... cưỡi trâu. Có tên ôm bụng, vỗ mông bành bạch ra hiệu xin rẽ ngang vào rừng để giải quyết... vấn đề. Sang ngày thứ hai, thứ ba, những tên lính viễn chinh trút hết vẻ hùng hổ, ngổ ngáo một thời, tên thì giả vờ ốm, tên thì cứ ngồi lỳ trên lưng trâu không chịu nhường đồng bọn. Thậm chí chúng đòi thịt trâu, nhưng khi chúng tôi đồng ý, định dắt trâu đem thịt thì chúng lại lắc đầu, xua xua tay và chỉ sang con trâu của... tốp khác. Một hôm, chúng tôi bị mưa ngang đường. Cơn mưa rừng mùa hạ trắng trời, trắng đất. Biết không có chỗ tránh mưa tôi ra hiệu tiếp tục đi. Anh em ta tập trung áo mưa che cho những tên tù binh ốm nằm trên lưng trâu. Thấy hình ảnh ấy, đoàn tù binh có tên bật khóc, đặt tay lên ngực, cúi gập người "Mẹc xì, mẹc xì" (cám ơn) liên tục.


Cứ thế ròng rã hơn một tháng trời chúng tôi áp giải đoàn tù binh Pháp về tới Thọ Xuân, Thanh Hóa đủ 200 tên, không một tên nào rớt lại dọc đường. Riêng đàn trâu chỉ thiếu 3, còn lại 32 con. Lẽ ra số trâu này không cần phải mang về nhiều đến thế, nhưng do những tên tù binh Pháp thích ăn thịt trâu song lại lo không có cái cưỡi nên trâu mới còn nhiều như vậy.


Nghe tôi tình bày đồng chí trưởng trạm cười vang.

Đ.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:28:14 am
NGƯỜI THẦY GIÁO CHIẾN SĨ


THANH PHONG


Cuối năm 1953, sau khi kết thúc khoá huấn luyện tại Trung đoàn 55, đóng quân ở Thọ Xuân và Nông Cống, tình Thanh Hóa, những chiến sĩ "tân binh" chúng tôi, nhận lệnh hành quân cấp tốc đi bổ sung cho các quân, binh chủng tại mặt trận Điện Biên Phủ.


Toàn trung đoàn ăn cái tết đầu tiên trong một khu rừng già, cách mặt trận khoảng 10 ki-lô-mét đường chim bay rồi tiếp tục hành quân đến vị trí tập kết bổ sung cho đơn vị mới: Đại đội 503, Tiểu đoàn 115, Trung đoàn 165, Sư đoàn Quân chiến thắng (Sư đoàn 312). Ở đây, tình cờ tôi được gặp anh Vũ Tất Thắng giáo viên của trường phổ thông cấp 2, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.


Anh có dáng vóc to cao, mập mạp, nước da bánh mật, khuôn mặt chữ điền, vầng trán rộng, giọng nói trầm, mỗi khi cười để lộ hai hàm răng trắng muốt. Qua một vài lần tâm sự, tôi hiểu và nhờ anh dạy cho một vài từ tiếng Pháp để khi cần thiết kêu gọi binh lính địch đầu hàng. Là một thầy giáo thông thạo tiếng Pháp nên anh vui lòng đáp ứng nguyện vong của tôi. Anh khuyên tôi, nếu sau này có điều kiện nên tiếp tục học tiếng Pháp và tiếng Anh, đó là thứ tiếng thông dụng trên thế giới.


Sau những cuộc tâm tình như thế, chúng tôi lại phải chia tay. Anh ở Tiểu đội 3 Trung đội 4, còn tôi ở Tiểu đội 1 Trung đội 1, phân tán theo những hào giao thông chằng chịt với các hầm ngầm cho tổ ba người, nên rất khó gặp được nhau.


Chiều ngày 14 tháng 3, đơn vị tôi nhận lệnh xuất kích phối hợp cùng các binh chủng, đánh vào đồi Độc Lập. Sau cứ điểm Độc Lập hơn 300 mét, nhận lệnh của tiểu đoàn trưởng Lã Thái Hoà "cho bộ đội vọt tiến". Chúng tôi vượt qua cánh đồng toàn ruộng bậc thang, gập ghềnh, chiếm lĩnh đột phá khẩu (do tổ bộc phá Nguyễn Văn Chành, Đại đội 501 đã mở), đánh thẳng vào hầm thứ nhất, ở vị trí tiền tiêu của địch.


Tôi và anh Vị (y tá đại đội) vào căn hầm này, qua ánh đèn pin thấy trong căn hầm có một chiếc giường gấp (giường bạt kiểu dã chiến), trên đầu giường có một khẩu súng trường MAS, dưới chân giường là một thùng nước trong vắt, bằng vải bạt, khi di chuyển có thể ép lại, như một chiếc cặp đựng sách vở. Chúng tôi vừa đến nơi thì tiểu đội trưởng Lâm dẫn tới một bọn lính Âu Phi và giao nhiệm vụ cho tôi canh giữ. Cùng lúc đó tổ cáng thương đưa vào một thương binh. Thật bất ngờ, người thương binh này chính là thầy giáo Vũ Tất Thắng. Anh Thắng bị thương rất nặng, cả hai đùi bị mảnh đại bác băm nát. Chúng tôi đỡ anh lên chiếc giường vải, rồi băng bó vết thương cho anh.


Lúc này, trong hầm tù binh đông nhốn nháo mất trật tự. Một số tên cởi đồng hồ đeo tay và móc tiền ra "nộp" cho chúng tôi. Tôi giải thích cho bọn chúng về kỷ luật của Quân đội nhân dân Việt Nam, không ai được nhận chiến lợi phẩm của địch, nhưng vì trình độ Pháp văn bị hạn chế, nên rất lúng túng. Thấy vậy, anh Thắng đã nói hộ tôi bằng tiếng Pháp rất suôn sẻ. Bọn tù binh tỏ vẻ rất ngạc nhiên, thi nhau đáp lại bằng tiếng Việt: "Vâng! Vâng!".


Thắng gọi tên tôi, đòi tôi đưa nước cho anh uống. Tôi lấy chiếc ca múc trong thùng nước dưới chân giường, đưa cho anh và yêu cầu anh không được uống, chỉ nhấp giọng cho đỡ khát. Anh Thắng cũng đồng ý chấp nhận đề nghị của tôi.


Tôi quay sang hỏi nhỏ anh Vị, vết thương của anh Thắng có nặng lắm không? Anh Vị đáp: "Cả 2 đùi anh Thắng đều bị nát hết thịt, tiện thành một hình tròn". Máu chảy nhiều, anh Thắng đòi uống nước. Tôi chỉ cho anh nhấp giọng, vì máu ở vết thương của anh chảy nhiều nên chỉ cầm máu tạm thời, chờ tới khi đưa được anh về phía sau.


Tôi hồi hộp lo cho tính mạng của anh. Bỗng căn hầm rung chuyển. Một quả đạn đại bác của địch từ Mường Thanh giội trúng nắp hầm, khoét thành một lỗ hổng làm cho căn hầm từ tối om trở thành sáng rõ mặt người. Bọn tù binh hoang mang, sợ sệt, mất trật tự. Anh Thắng lại cố gắng dùng tiếng Pháp trấn an bọn chúng.


Mặc dù vết thương quá nặng, nhưng anh không hề rên la, hoặc tỏ ra bi quan dao động. Tôi càng thêm kính phục anh, thầm ước mong tính mạng anh được vẹn toàn.

Song điều mong ước đó đã không thành hiện thực. Thắng đã trút hơi thở cuối cùng sau khi quân ta quét sạch cứ điểm Độc Lập. Trước lúc ra đi, anh hô vang:

- Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!

- Hồ Chủ tịch muôn năm!

Tấm gương dũng cảm của anh đã tiếp thêm sức mạnh cho các đồng chí, đồng đội góp phần vào thắng lợi to lớn của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ đó đến nay, đã qua 50 năm, lớp chiến sĩ chúng tôi thời bấy giờ, cũng đã lần lượt theo nhau về cõi vĩnh hằng. Những người còn lại thì xuân xanh đã trên dưới "thất tuần". Nhưng hàng năm cứ gần đến ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) trong ký ức mỗi người lại sáng lên những kỷ niệm về tình bạn, tình đồng chí đã từng sống, chết có nhau, chiến đấu bên nhau trong chiến dịch lịch sử có một không hai này.


Riêng tôi, cứ mỗi lần mở trang nhật ký chiến trường, có bút tích của anh Vũ Tất Thắng, căn dặn tôi trước khi vào trận chiến đấu, tôi càng bùi ngùi xúc động, nhớ về anh, một người chiến sĩ kiên cường, bất khuất, một thầy giáo đã dạy cho tôi rất nhiều điều bổ ích, để lại trong tôi những kỷ niệm khó quên.

T.P


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:29:36 am
NGỌN ĐUỐC TÌNH DÂN


XUÂN MAI


Đêm ấy, chúng tôi từ trận địa Đồi Xanh được lệnh quay về tuyến sau lấy gạo và thực phẩm, chuẩn bị ăn Tết Giáp Ngọ tại mặt trận Điện Biên. Từ hỏa tuyến về tuyến sau phải qua nhiều dãy núi, lội qua nhiều đoạn suối, xa chừng 10 ki-lô-mét. Khi qua những sườn đồi cháy, pháo địch từ Mường Thanh thường bắn tọa độ, mọi người đều phải dè chừng.


Nhưng khó khăn, vất vả nhất vẫn là chặng đường qua khe suối cạn. Khe suối như một đường hầm, hai bên vách núi dựng đứng, cây mọc rậm rạp. Lòng suối hẹp, săm sắp nước chảy và ngổn ngang những tảng đá phủ đầy rêu. Mỗi lần qua đây trong đêm tối, tuy xa chưa đầy trăm mét, nhưng rất vất vả và tốn khá nhiều thời gian.


Lần này, sau khi lĩnh gạo và thực phẩm về tới đầu khe suối cạn, đã quá nửa đêm. Sau 15 phút nghỉ lấy sức, đồng chí chỉ huy hướng dẫn chúng tôi đi theo hàng dọc, tay chống gậy, lần từng bước xuống lòng khe.


Đêm cuối năm đi dưới khe suối lanh cóng, trời tối đen như mực. Ai nấy đều vai vác nặng, người đi sau chỉ còn nhận ra người đi trước qua miếng gỗ mục có chất lân tinh gài trên mũ. Nhưng khi sắp đến chỗ rẽ ngoặt và cũng là chỗ khó đi nhất thì lạ thay, trên vách núi như có ánh lửa chập chờn. Ánh lửa khiến chúng tôi dễ nhận ra lối đi hơn và có sức hấp dẫn lạ thường!


Vượt qua được tảng đá nhô ra chắn ngang lòng suối, một cảnh tượng hiện ra khiến chúng tôi ai nấy đều sửng sốt. Một ông già dân tộc Thái, vai khoác một tấm chăn rách, da đen sạm, tay cầm bó đuốc giơ cao như cố ý soi sáng cho chúng tôi đi. Ông đứng lặng yên trên một tảng đá, tay run lật bật theo ánh lửa bập bùng...


Chúng tôi hiểu. Tây Bắc chưa hoàn toàn được giải phóng, đồng bào Tây Bắc càng thương bộ đội gian khổ. Mới đây nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã góp công sức và cả xương máu cùng chúng tôi làm đường kéo pháo, tiến vào bao vây Điện Biên. Những hạt gạo chúng tôi đang vác nặng trên vai, cũng do đồng bào Tây Bắc dành dụm, góp phần nuôi quân. Ông già cùng với việc làm giản dị kia khiến chúng tôi vô cùng xúc động. Đồng chí Giang Lê Luyện - chiến sĩ liên lạc của đại đội đặt nhanh bao gạo xuống một phiến đá, rồi nhảy lên choàng tấm vải dù ngụy trang của mình lên người ông già và ôm chặt lấy người ông:

- Bố ơi! Bố khổ quá!

Ông già không nghe được tiếng Kinh, cũng không nói được tiếng Kinh. Nhưng ông hiểu... Ông cười hiền hậu, khoát tay ra hiệu, giục chúng tôi hãy tiếp tục cuộc hành quân...

Ông vẫn đứng đó, như một pho tượng, tay giơ cao ngọn đuốc. Không nghe được tiếng nói, nhưng chúng tôi hiểu tấm lòng của ông, cũng như bao tấm lòng của nhân dân các dân tộc Tây Bắc, luôn luôn tin yêu Đảng và "Pú Hồ" (tiếng dân tộc Thái là Bác Hồ), một lòng một dạ tham gia kháng chiến.

X.M


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:30:25 am
MỘT MỐI TÌNH ĐIỆN BIÊN ĐẸP MÃI


NGUYỄN VĂN TRỘ


Hiện nay vợ chồng chị Lò Thị Hoa ở chung với bố mẹ, sinh sống ba thế hệ trong ngôi nhà sàn năm gian lợp ngói, ẩn mình dưới vòm xanh tươi mát của mận, mơ, nhãn, xoài... Quanh vườn, mấy chục cầu ong mật đang cần cù xây tổ. Chuồng lợn có đến 20 con gối đầu lên nhau ngủ. Trong gian nhà khách, kê một bộ xa-lông gỗ lát. Trên nóc tủ ly cũng bằng gỗ lát, đặt chiếc cát-xét và một chồng cao các loại báo: "Quân đội nhân dân", "Cựu chiến binh", và "Tiếng nói Việt Nam"... Phía lán gần sân phơi, ngô, thóc của vụ thu hoạch trước, phơi khô, quạt sạch đóng bao xếp cao ngất chờ khách quen đến mua. Trên vách bếp, treo chiếc đài nhỏ, chạy pin. Bên bếp lò rực hồng, trong chiếc chảo gang lớn chè đang sao, tỏa hương thơm quyến rũ...


Bà con dân bản, chị em trong chi hội phụ nữ đến chơi khen ngợi và hỏi chị Hoa về bí quyết làm giàu chính đáng. Chị Lò Thị Hoa hồn nhiên vui vẻ nói:

- Bí quyết gì đâu! Em phát huy tinh thần dân công hỏa tuyến Điện Biên của bố mẹ năm xưa, thường xuyên nghe và làm theo Đài, báo "Tiếng nói Việt Nam" thôi!...

Vâng! Bố mẹ chị Hoa là ông Lò Văn Tun và bà cầm Thị Lả ở bản Cò Cai xã Chiềng Pắc (Thuận Châu, Sơn La). Đầu tháng 12 năm 1953, là những thanh niên tiến bộ trong bản, anh Tun và chị Lả được tập hợp vào đội: "Thanh niên chất Mường" sau đó được bổ sung vào "Đội dân công hỏa tuyến" phục vụ chiến dịch "Trần Đình" (Điện Biên Phủ). Công việc hàng ngày của đội dân công hỏa tuyến là theo sát các đơn vị bộ đội. Đêm đi, ngày nghỉ, trên vai oằn trĩu đôi bồ nan đầy gạo và thực phẩm phủ vài tầu lá chuối rừng, đề phòng trời đổ mưa bất chợt... Mỗi khi có người ốm hoặc do đường trơn, đèo dốc cheo leo, trượt chân ngã, anh em phải võng cáng nhau, số trang bị trên vai lại nặng thêm. Nhớ cái hôm vượt qua trọng điểm đèo Pha Đin, nghe rõ suối róc rách dưới chân núi mà miệng khát khô không có nước uống. Sợ nhất là lúc hành quân qua những đoạn đường có bom nổ chậm phải ra sức chạy tưởng đứt cả hơi... Gần đến khu vực Điện Biên, bom đạn giặc càng dày đặc hơn. Nhiệm vụ của "dân công hỏa tuyến" là giúp bộ đội chặt cây bắc cầu, lát hầm, đào hào, làm lán trại. Công việc nặng nhọc là vậy, nhưng với anh Tun, chị Lả đó là chuyện "sở trường" vì họ là "thổ công" rừng núi Tây Bắc. Hơn nữa, tình yêu đẹp đang chớm nở trong họ trên chặng đường tham gia chiến dịch; nên phục vụ chiến đấu cam go, quyết liệt là vậy mà lúc nào họ cũng cứ phơi phới và rất lãng mạn cách mạng. Tun nhớ mãi cái đêm quân ta tấn công đồn Him Lam và thắng trận đầu. Đội dân công hỏa tuyến hối hả thu dọn chiến trường, cáng thương binh xong đốt lửa trại hát múa. Bên bếp lửa bập bùng dưới nhà hầm, Tun sung sướng ngắm nhìn Lả mái tóc dài đen mượt toả mùi hương sả, hai hàm răng trắng đều như hạt bắp, chiếc áo sợi tơ tằm màu xanh, mặc vừa khít làm nổi bật bờ vai tòn lẳn và vồng ngực càng tròn đầy hấp dẫn... Đặc biệt là đôi môi chín mọng chúm chím của Lả, mỗi khi nói với Tun cứ một điều "anh Tun" làm cho Tun ngây ngất.


Một năm sau ngày kỷ niệm chiến thắng Điện Biên cũng là ngày Tun, Lả nên vợ nên chồng... Do có thành tích phục vụ chiến dịch Điện Biên, Tun được Ủy ban Kháng chiến xã cử làm xã đội trưởng chỉ huy dân quân tự vệ, làm nhiệm vụ trực tiếp giúp bộ đội dẹp thổ phỉ. Rồi hơn 15 năm liên tục anh được bà con tín nhiệm bầu làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp. Năm 1991, ông Tun nghỉ hưu vào dịp Nhà nước có chủ trương "giao đất, giao rừng", ông xung phong nhận 5 hécta đất hoang sỏi đá ở thung lũng Kéo Tốm. Nhiều người trong bản và cả vợ con ông đều cho là "ông già trở tính bị hâm", bởi khu đất đó là "đất chó chê". Nhưng ông rất "bản lĩnh", ông nghĩ: "Nếu mình được đất tốt thì ai phải chịu đất xấu?...". Ông quyết định làm bìa đỏ, và tiến hành canh tác... Chuyển nhà đến dưới chân thung lũng Kéo Tốm lập bản mới...


Hơn 15 năm làm chủ nhiệm hợp tác xã ông đã tích cực đưa nền sản xuất nông nghiệp và trồng rừng của xà Chiềng Pắc thành "Điển hình tiên tiến" của huyên Thuận Châu, ông được ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La tặng bằng khen và kèm theo chiếc đài. Từ đó đến nay mấy chục năm ông luôn nghe đài và thông tin cho nhiều người cùng biết chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước...


Cứ 5 giờ sáng hàng ngày từ bên bếp lửa nhà ông, nhạc hiệu Đài tiếng nói Việt Nam vang lên rộn ràng làm vơi nỗi hiu quạnh một vùng rừng núi giữa lòng Tây Bắc... Hiện nay đã vào tuổi "xưa nay hiếm", ông vẫn giữ thói quen dậy sớm, ăn sáng đúng vào lúc "Chương trình tiếp chuyện bạn nghe đài" rồi gùi dụng cụ sản xuất, cơm nước lên rẫy... Hình ảnh ông già nhanh nhẹn, vui tính phía sau gùi nặng..., phía trước mang chiếc túi thổ cẩm đựng chiếc đài, theo nhịp bước vang lên "chương trình ca nhạc sáng", quá quen thuộc với bà con dân bản...


Đến nương, ông chọn cành cây thuận lợi treo chiếc đài rồi "lấy sóng cho ngon", vặn to xong xoay trần cuốc đất và nghe đài... Ông nghe nhiều và nhđ kỹ mọi chương trình. Ông nhổ thời lượng trên cả hệ 1 và hệ 2, nhất là tình hình thời sự trong và ngoài nước, đặc biệt là gương sáng làm ăn kinh tế trên chương trình phát thanh Cựu chiến binh Việt Nam. Tuổi đời "đã đi qua 71 mùa rẫy", nhưng là cựu chiến binh, với tinh thần đổi mới và với truyền thống "đội viên xung kích dân công hoả tuyến" Điện Biên năm xưa, ông không ỷ lại vào sự trợ cấp của Nhà nước, nêu cao ý chí tự lực cánh sinh, quyết tâm làm ăn sao cho đạt hiệu quả cao nhất, ông thường xuyên hướng dẫn con cháu cải tạo ruộng, nhận khoán, chăm sóc, bón phân đúng quy trình kỹ thuật, thâm canh lúa nước, đẩy mạnh trồng hoa màu trái vụ... Ông vận động bà con lao động làm giàu. Trong gia đình ông, ba thế hệ sống chung, ông nêu gương người chồng chung thủy, người cha đầy trách nhiệm, người ông nội, ông ngoại mẫu mực vui tính. Mọi thành viên trong gia đình được phân công lao động hợp lý. Các cháu nội, ngoại, ngoài giờ học tranh thủ chăn trâu, bò, cho gà, cá ăn, quét dọn chuồng trại... Mỗi năm gia đình ông thu không dưới 4 tấn thóc, 4 tấn ngô, 5 tấn sắn lát phơi khô. Trên mảnh đất sỏi đá 5 hécta hoang dại năm xưa, ông trồng 500 cây ăn quả, cây lấy gỗ. Một vành đai tre, bương, vầu xum xuê đan xen rậm rạp. Ông làm chuồng trại cao ráo sạch sẽ, nuôi 5 con trâu, 12 con bò, 30 con dê và mấy chục con lợn... Ông đào ao, đắp phai ngăn suối, dẫn nước vào nuôi cá và bơm nước tưới cây trồng trong trang trại... Việc làm của ông đã giúp bà con trong bản, trong xã Chiềng Pắc thay đổi nếp nghĩ, nếp canh tác luẩn quẩn, lạc hậu ngàn đời nay là phát rừng, đốt rẫy, chọc lỗ, tra hạt, quanh năm đói vẫn hoàn đói... Bây giờ học tập ông, bà con thâm canh lúa nước hai vụ và biết làm vụ thứ ba, biết chọn cây, con giống mới phù hợp...


Như vậy đó, người dân công hoả tuyến Điện Biên năm xưa không chỉ làm kinh tế gia đình giỏi mà còn tham gia tích cực trong Ban chấp hành Hội Người cao tuổi, Ban chấp hành Hội Cựu chiến binh xã, động viên các hội viên gương mẫu xây dựng gia đình văn hóa, kinh tế khá. Đặc biệt, ông đã vận động con cháu và bà con trong bản, trong xã mọi người thường xuyên chăm nhe đài Tiếng nói Việt Nam, tiếp nhận luồng sinh khí mới từ đài "Tiếng nói Việt Nam". Ông Tun đã tạo cho cộng đồng nhỏ bé của mình một không khí mát mẻ mùa hè, ấm áp mùa đông, mọi người đoàn kết giúp đỡ nhau làm ăn, xây dựng một cuộc sống phồn vinh.

N.V.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:31:02 am
CÂY ĐUỐC SỐNG


PHAN XUYẾN THANH ĐỒNG


Dạo ấy, tôi là trung đội trưởng "vận thân". Cho đến bây giờ ngoài bảy chục tuổi rồi tôi vẫn nhớ như in hình ảnh người chiến sĩ có tên là Cận, quê ở Nam Đàn, Nghệ An. Anh chị em dân công, vận tải, đi qua đoạn đường ki-lô- mét 16 từ Suối Rút lên Sơn La, phục vụ chiến dịch Trần Đình hôm ấy, chắc cũng khó quên được.


Chiến dịch mở ra. Máy bay Pháp tập trung đánh phá quyết liệt các tuyến đường. Mới mở mắt, các loại B.26, Hen-cát đã mang bom đến "dộng". Những đoạn đèo cao, dốc thẳm, bến vượt thường là mục tiêu trọng điểm đánh phá của chúng. Có bom nổ ngay và bom nổ chậm. Đã là thứ giết người, hại của thì loại nào mà chẳng nguy hiểm. Nhưng với cánh "vận thân", "vận tải", "giao thông" chúng tôi, thì nguy hại nhất là thằng nổ chậm. Thấp thỏm không biết nó sẽ gầm lên lúc nào. Chờ đào phá xong thì lắm lúc tốn hàng ngày trời. Dân công ùn lại, ô tô cũng tắc nghẽn. Theo như cấp trên phổ biến thì phía trước đang rất căng về vấn đề lương thực, thực phẩm. Nhất là lúc này đánh to, thắng lớn. Nhìn dòng người cứ dồn ứ như cả bức thành chặn đứng, cánh vận tải ô tô cứ như lửa đốt, kim châm trong lòng. Muốn vượt lên chẳng được. Đút nút lại nơi cái đáy bom này sáng ra thì chỉ có mà giơ đầu "làm lỗ cho chúng nó "đánh đáo".


Đang giữa lúc "tiến thoái lưỡng nan" ấy, bỗng có một người mặc quân phục Vệ quốc đoàn, màu xanh lá cây loang lổ bụi đất, nhảy ra đứng giữa đường, tay giơ cao một ngọn đuốc. Dưới ánh lửa bập bùng bén cháy các thân lau khô, đót khô, dáng người vậm vạp của anh nổi bật lên giữa nền trời đêm như một bức tượng thần đầy uy lực. Giọng Nam Đàn thong thả, rõ ràng, dõng dạc xé tan màu đen huyền bí, át tất cả mọi âm thanh hỗn độn: "Bà con chú ý! Bà con chú ý! Nhanh chóng vượt qua đi! Bom chưa nổ đâu!". Lời anh phát ra tưởng như một khẩu lệnh. Âm thanh vang vào vách núi, dội lại, lan ra. Thoáng có những giây phút chần chừ trên một số khuôn mặt. Nhưng kìa! Ngọn đuốc trong tay anh bộ đội vẫn bập bùng soi rõ khuôn mặt anh, ánh mắt và nụ cười nửa miệng. Anh tiếp tục hô: "Bình tĩnh. Hắn chưa nổ đâu!". Cứ thế anh đứng trên quả bom nổ chậm liên tục động viên hết người này đến người khác, tốp này đến tốp khác vượt lên. Lần lượt từng tiểu đội, trung đội, đại đội dân công kĩu kịt trên vai những đôi bồ bịt kín lướt qua dưới ánh đuốc. Trời ơi! Nhìn anh chẳng khác vị tư lệnh đang duyệt đội ngũ. Không, chính xác hơn là một "cây đuốc sống".


Cho đến khi hàng nghìn dân công đã vượt khỏi cửa ải gian nguy, thì phía bên Suối Rút, phà cũng đã sang ngang. Những chuyến ô tô khoác lá ngụy trang chở lương thực, thực phẩm nhịp nhàng chuyển bánh. Trong tiếng cười nói hân hoan và gió ngàn vi vút, tôi chỉ kịp hỏi tên anh. Anh là Cẩn ở Nam Đàn, quê Bác.


Trải hai cuộc trường kỳ đánh Pháp, đuổi Mỹ, tôi không được biết đến nay anh cẩn ra sao. Chỉ xin mượn những dòng hồi ức bày tỏ tình cảm yêu quý, khâm phục vẹn nguyên tự thuở nào đến anh và đồng bào có mặt dạo ấy, ở cái "cửa tử" ấy.

(Ghi theo lời kể cùa Đại tá Phan Đức Nhuận)
P.X.T.Đ


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:32:11 am
KÉO PHÁO, QUYẾT TÂM CAO HƠN NÚI


ĐÀO THẾ CHÂU


Chiến dịch tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên lấy bí danh là chiến dịch Trần Đình. Tôi ghi vào sổ tay ý nghĩa mục đích chiến dịch là "trận then chốt phá tan kế hoạch Nava; trận quyết định giải phóng toàn bộ vùng Tây Bắc, bước ngoặt lớn mạnh và phát triển của quân đội ta".


Từ nhiệm vụ phái viên của Đoàn 367, tôi được chỉ định phụ trách Ban Chính trị tiền phương tại mặt trận. Ban được bổ sung thêm đồng chí Hoàng Bát làm văn thư, đồng chí Trữ đánh máy và đồng chí Cồ liên lạc. Cấp trên sẽ bổ sung thêm một số cán bộ đại đội làm trợ lý tổ chức, tuyên huấn, bảo vệ. Riêng công tác bảo vệ của bộ đội cao xạ rất quan trọng nên cấp trên cử một số cán bộ của Cục Bảo vệ xuống trực tiếp làm việc và sinh hoạt với Ban.


Để chiếm lĩnh trận địa phải tổ chức một đợt làm đường và kéo pháo. Ngày 14 tháng 1 năm 1954, Bộ huy động các chiến sĩ của Đại đoàn 308, Trung đoàn công binh 151 và các đơn vị sơn pháo bắt đầu làm đường kéo pháo. Đường dài 15 cây số, rộng 3 mét lượn theo các sườn núi, vượt qua các dác núi cao, có chỗ 60° đến 70°. Từ bản Nà Nham cây số 70, vượt qua đỉnh Pu Pha Sông (An Cao) cao gần 1.000 mét là gặp đường đi Lai Châu ở bản Tấu. Đường mở cấp tốc đến đâu công binh làm giàn ngụy trang đến đó, gọi là giàn mướp.


Giải đáp những thắc mắc về dùng sức người kéo pháo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ: "Chúng ta chủ trương mở đường kéo pháo không phải vì chúng ta không làm được đường cho xe chạy, mà chính là để giữ bí mật để dành yếu tố bất ngờ", cả một phong trào thi đua sôi nổi kéo pháo vào trận địa trước thời gian quy định (dự kiến kế hoạch nổ súng vào ngày 26 tháng 1 năm 1954) nhưng thực tế thử kéo một ngày đêm chỉ được hơn 1 cây số.


Đại đoàn Chiến Thắng được phân công phối hợp với các đơn vị kéo pháo vào trận địa. Mới đầu, 50 người kéo một khẩu. Sau vì đèo dốc, tăng lên 100 người, mỗi khẩu kéo hai dây. Sau phát triển lên 3, 4 dây, tập trung toàn bộ số cáp của các trung đoàn pháo để làm dây tời. Có dốc một tời, có dốc hai tời, có dốc như Pu Pha Sông công binh phải tập trung bảy tời mới đưa được pháo lên. Sau này anh em đặt tên dốc này là dốc "Bảy tời". Tôi huy động cán bộ toàn cơ quan toả xuống các đơn vị kéo pháo để nắm tình hình. Từ Nà Nham vượt qua suối Cạn, pháo đi băng băng, nhưng càng vào sâu càng gặp nhiều dốc, có chỗ vượt qua suối, công binh phải bắc cầu tựa vào vách đá, anh em đẩy pháo đi qua nhìn xuống dưới, nước vẫn chảy ào ào. Mỗi khẩu đội và đoàn người kéo pháo cách nhau vài trăm mét còn nghe rõ tiếng hô "hai ba" của nhau, tiếng kêu chèn pháo. Thỉnh thoảng một quả đạn pháo địch bắn vu vơ nổ dưới sườn núi bên kia. Những khẩu trọng pháo 105 và cao pháo 37 nặng hàng tấn cứ bò dần từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác. Hàng trăm người gò lưng kéo dây chão đưa pháo lên dốc, có công binh quay tời hỗ trợ. Bánh xe pháo nhích từng tí một. Đứng ở sườn núi gió ào ào, sương lạnh, nhưng bộ đội mồ hôi vẫn đổ ra ướt đầm lưng áo. Qua một cái dốc, thở phào nhẹ nhõm, tình đoàn kết càng thêm bền chặt. Ca nước nóng của nhà bếp tiếp tế, điếu thuốc lào khi nghỉ chia nhau càng làm anh em ngày thêm gắn bó.


Từ đinh Pu Pha Sông nhìn xuống, tập đoàn cứ điểm Điện Biên nằm gọn dưới thung lũng, ánh điện mập mờ trong sương mù dầy đặc.

Chiều 25 tháng 1 năm 1954, cả hai tiểu đoàn cao pháo 24 khẩu đã ra đến cửa rừng và xuống cánh đồng để vào vị trí chiến đấu. Tôi cùng hai cán bộ của Ban chính trị vừa vào công sự cạnh Sở chỉ huy của đoàn thì có điện của Tham mưu trưởng mặt trận: "Hoãn tiến công, các đơn vị cho kéo pháo trở ra vị trí cũ. Mệnh lệnh này được chấp hành triệt để như mệnh lệnh chiến đấu", ký tên: Hoàng Văn Thái; Trung đoàn trưởng Quang Bích ký tên nhận điện.


Sau 11 ngày đêm căng thẳng vất vả với đèo dốc, 24 khẩu pháo lại phải kéo trở lại, khẩu ra sau cùng đi trước, khẩu ở phía trước quay lại thành ở đằng sau. Cấp trên cho biết: các đơn vị địch đã tăng cường lực lượng ở Điện Biên lên hơn 20 tiểu đoàn, bổ sung thêm binh khí kỹ thuật, hoàn chỉnh một tập đoàn cứ điểm vững chắc nhất Đông Dương. Cho nên ta phải kéo pháo ra thực hiện phương châm mới "đánh chắc, tiến chắc". Riêng với pháo binh, phải có nhiều đường cơ động xung quanh Điện Biên. Các chi bộ đại đội phải giải thích rõ mục đích ý nghĩa việc kéo pháo ra để bảo đảm chắc thắng. Cán bộ đảng viên phải nêu gương quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra.


Kéo pháo vào đã khó, kéo pháo ra còn khó hơn vì trời đã đổ mưa, đường trơn, giàn lá ngụy trang đã héo, máy bay địch dễ phát hiện đánh chặn quân ta.

Quả đúng như vậy, tuy cán bộ, chiến sĩ có kinh nghiệm hơn, quen đường quen dốc hơn, công binh mở rộng các cua hạ độ dốc các sườn núi, nhưng kéo pháo ra có lúc đứt dây tời, có chiến sĩ đã hy sinh như Tô Vĩnh Diện, khẩu đội trưởng pháo cao xạ giữ càng pháo, hy sinh thân mình để bảo vệ pháo; như Nguyễn Văn Chức ở lựu pháo.


Địch bắt đầu ném bom napan dọc đường kéo pháo. Lúc này phải động viên quyết tâm rất cao. Nhạc sĩ Hoàng Vân đã sáng tác bài hát:

"Dốc núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi.
Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù".

Ngày 4 tháng 2 năm 1954 cao pháo kéo ra hết, tập kết ở cây số 62 đúng vào ngày mồng hai Tết âm lịch.

Cơ quan chính trị tập trung ăn tết. Trong hoàn cảnh chiến đấu Tết vẫn được tổ chức chu đáo. Chúng tôi mời Chính ủy Ngô Từ Vân cùng ăn bữa cơm có những món đặc biệt: rượu vang đỏ chiến lợi phẩm từ Lai Châu về, canh hoa ban mới sáng tác, ăn có vị vừa chát vừa bùi. Chú liên lạc Ba còn đưa ra một đĩa vả xanh ngâm nước muối thay cho rau xanh. Ngoài ra, còn có bánh chưng nhân thịt trâu nhà bếp vừa phát cho. Bánh chưng rất rền, lá dong lấy ngay ở đầu suối to như tầu lá chuối, còn thịt thì là thịt các con trâu lạc sợ đạn chạy vào chỗ đóng quân. Theo quy ước với địa phương những con trâu như thế, các đơn vị cứ giết mổ và lập biên bản, cơ quan hậu cần sẽ chuyển thành tiền hoặc gạo trả cho địa phương.


Tôi nghĩ miên man. Kháng chiến đã 7-8 năm, bao nhiêu cái tết xa nhà, lúc ở quê hương những năm đầu kháng chiến, lúc ơ rừng núi Hoà Bình Liên khu 3, lúc ở bờ sông Hồng chiến đấu ở Thái Bình, tết của người lính chủ lực Đại đoàn Đồng Bằng. Năm ngoái, ăn tết bên nước bạn ở Hán Khẩu, trên đường đi học, năm nay tết 1954 ở mặt trận Điện Biên, tết của lính cao xạ Trú quân ở cây số 62 chúng tôi liên tục đón các phái đoàn đến thăm cao xạ pháo. Đầu üên là phái đoàn đồng bào Tây Bắc, đầy đủ già, trẻ, nam, nữ. Những người em gái người Thái rất đẹp, múa rất dẻo. Rồi đến Đoàn văn công đi liên hoan thanh niên ở Bucarét về, đem đến tiếng hát chuyên nghiệp và điệu múa ngoài trời theo kiểu lửa trại. Đội chiếu bóng liên tiếp chiếu bóng ở hẻm núi cho từng tiểu đoàn xem, lấy sườn đồi làm chỗ ngồi, bố trí trinh sáì từ xa để báo động máy bay địch.


Cảm động nhất là mồng bốn Tết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm cả hai đơn vị Trung đoàn lựu pháo 45 và Trung đoàn cao pháo 367. Nói chuyện với đơn vị, Đại tướng thay mặt Bộ chỉ huy mặt trận khen các đơn vị đã hoàn thành tốt nhiệm vụ kéo pháo, như vậy coi như đã chiến thắng lớn. Đại tướng nói đại ý: Với sự giúp đỡ của đơn vị bạn, các đồng chí bảo vệ được nguyên vẹn tài sản quý báu của chúng ta, 24 khẩu cao xạ và 24 khẩu lựu pháo. Tinh thần bảo vệ pháo của các đồng chí rất đáng khâm phục. Gương quên mình bảo vệ pháo của các liệt sĩ Tô Vĩnh Diện và Nguyễn Văn Chức và của đồng chí Nguyễn Quang Thuận đáng cho chúng ta tự hào. Ngay từ lần xuất trận đầu tiên này các đồng chí phải làm cho quân địch khiếp sợ trọng pháo và cao xạ pháo Việt Nam.


Riêng với Đoàn 367, Đại tướng còn đi thăm một khẩu đội thao tác ở ven đường 41 do đồng chí Nguyễn Quang Bích trung đoàn trưởng hướng dẫn. Đồng chí Trịnh Duy Hậu, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 394, giới thiệu với Đại tướng khẩu đội của Tô Vĩnh Diện, người anh hùng đã hy sinh trong kéo pháo. Ra về, Đại tướng căn dặn phải đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, phải bảo đảm tuyệt đối bí mật đến khi nổ súng, như vậy thì nhất định thắng lợi. Anh em nhìn theo xe của Đại tướng xa dần, khuất vào sương mù...

Đ.T.C


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Giêng, 2022, 08:35:32 am
PHỤC VỤ THƯƠNG BINH Ở ĐIỆN BIÊN


NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH


Mới ngày nào được tham gia phục vụ chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ mà đến nay thấm thoắt đã năm mươi năm. Bao hình ảnh, bao kỷ niệm của những năm tháng không thể nào quên tràn ngập tâm hồn tôi.


... Một buổi chiều đông tháng 11 năm 1953, mđi chân ướt chân ráo về nhận nhiệm vụ ở đơn vị mới, tôi đã cảm nhận ngay được không khí náo nức, nhộn nhịp của toàn Đội điều trị 2 chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ phục vụ chiến dịch Đông Xuân 1953-1954.


Những buổi luyện tập hành quân ban ngày, ban đêm mặc dù gió rét, mưa lạnh, mồ hôi thấm áo vẫn ra sức rèn luyện đôi chân, đôi vai mang vác nặng hành quân xa để mai ngày ra chiến trường có sức dẻo dai, tác phong khẩn trương gọn gàng, nhanh nhẹn phục vụ chiến đấu, phục vụ thương bệnh binh được tốt. Vất vả, mệt nhọc, nhưng ai nấy đều rất vui mừng vì sắp được tham gia một chiến dịch lớn.


Toàn Đội được học tập quán triệt quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng và Bác Hồ trong chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954 nhằm tạo nên một bước ngoặt lớn trong cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Để giữ bí mật chiến dịch được mang tên "Trần Đình".


Đường đi chiến dịch đông vui như trẩy hội mùa xuân mặc dù trên đầu luôn luôn có máy bay địch bay lượn trinh sát, thỉnh thoảng lại có tiếng súng "tắc bọp, tắc bọp" của bọn phỉ bắn lén. Hai bên đường, các chiến sĩ, bộ binh vai vác nặng ngụy trang kỹ, rầm rập tiến bước, đi sâu vào những khu rừng núi Tây Bắc. Từng đoàn dân công miền xuôi, miền núi gồng gánh, gùi sọt, đẩy xe đạp thồ, vừa rảo bước vừa cất cao giọng hò, tiếng hát. Đêm đêm, từng đoàn ô tô kéo pháo ngụy trang như những chú voi lớn, voi bé. Núi rừng vang vọng tiếng hát của các chiến sĩ pháo thủ: "Chúng ta bước lên đường khi thời cơ đã đến...".


Anh chị em Đội điều trị 2 chúng tôi cũng rảo bước hòa chung vào đội hình trùng điệp của đoàn quân ra mặt trận. Gần một tháng trời trèo đèo, lội suối, hành quân vất vả, gian khổ, vượt qua phà Âu Lâu, Tạ Khoa, đỉnh Lũng Lô, đèo Cò Nòi, dãy núi Pha Đin... hành quân dài ngày, đường rừng bước thấp bước cao hay bị vấp ngã, anh chị em có phần thấm mệt, sức khoẻ giảm sút. Tiếng chim rừng hót vang "khó khăn khắc phục... khó khăn khắc phục" như đồng cảm, khích lệ đoàn quân đang tiến ra mặt trận. Mọi người cười vang, xốc ba lô vững bước đi tiếp. Càng gần tới mặt trận, máy bay trinh sát của địch càng lùng sục mạnh, đạn pháo của địch thỉnh thoảng nổ gần, loé sáng. Đơn vị chúng tôi đang đi qua một rừng chuối thì bị địch pháo kích. Nhường chỗ ẩn nấp cho hai chị dân công Vĩnh Yên, đồng chí y tá Thuần vác hộp dụng cụ phòng mổ chạy được vài mét thì trúng đạn pháo, hy sinh. Hai đồng chí Xứng và Lương bị thương. Thương tiếc đồng chí Thuần anh chị em chúng tôi không cầm được nước mắt, đứng lặng bên thi hài anh, cùng nhau hứa với người đã khuất: Đội điều trị 2 ra mặt trận quyết tâm phục vụ thương binh thật tốt, chăm sóc thương binh mau lành để sớm trở về đơn vị chiến đấu tiêu diệt quân thù, trả thù cho đồng chí Thuần thân yêu của chúng tôi.


Đội điều trị 2 chúng tôi hành quân đến vị trí tập kết tại chiến trường đúng thời hạn quy định. Các đồng chí đội trưởng Vũ Trọng Kính, đội phó Võ Duy Cương, chính trị viên Hoàng Văn Nhu chia nhau đi tới từng bộ phận thăm hỏi, động viên anh chị em và phổ biến nhiệm vụ, bố trí khu vực đóng quân cho từng bộ phận.


Được bổ sung dân công, toàn đội bắt tay ngay vào việc làm lán trại, đào hầm hào bảo đảm sinh hoạt cho cán bộ, nhân viên và thu nhận năm trăm thương binh, hầm thương binh bố trí rải rác khắp sườn đồi. Mỗi khu thương binh nặng, vừa, nhẹ đều có phòng mổ trong hầm sâu dưới đất. Còn có hầm sâu cho Ban Dược pha chế thuốc...


Đội điều trị 2 làm nhiệm vụ bệnh viện dã chiến tuyến 1 tiếp nhận thương binh của các trung đoàn trực tiếp chuyển về nên đội luôn bám sát chiến trường.


Tôi và đồng chí Quán là hai y tá trong một tổ thuộc khu trọng thương do quân y sĩ điều trị Phạm Ngọc Phú phụ trách. Tổ được bổ sung bốn nữ dân công để làm công tác hộ lý. Anh chị em chúng tôi tranh thủ hội ý chớp nhoáng và phân công mỗi người mỗi việc: kiểm tra lán trại, hầm hào, chuẩn bị thuốc men, bông băng, dụng cụ y tế, đun sẵn nước sôi... để sẵn sàng tiếp đón thương binh. Tiếng đạn pháo, tiếng súng nổ giòn giã ở mặt trận vọng về. Chỉ khoảng ba mươi, bốn mươi lăm phút sau đã có thương binh chuyển về tới phòng khám chọn lọc của đội. Từ đầu dốc, tiếng gọi í ới của đoàn dân công tải thương: "Khu A đâu, khu trọng thương đâu, ra nhận thương binh!". Chúng tôi hối hả ra đón thương binh về lán, về hầm, sắp xếp thương binh theo từng loại để tiện theo dõi phục vụ. Chúng tôi khẩn trương sơ cứu, rửa sạch vết thương hở bị vùi đầy đất cát, kiểm tra và báo cáo với y bác sĩ những thương binh cần được phẫu thuật kịp thời để hạn chế tử vong hoặc hoại thư. Chúng tôi nhắc nhở nhau nhanh chóng thực hiện mệnh lệnh điều trị, thuốc men tiêm truyền chính xác, đầy đủ. Nhìn các đồng chí thương binh người bị cụt tay, cụt chân, người bị chấn thương sọ não... máu me đầy mặt, đầy mình, chúng tôi vừa đau xót vừa khâm phục chiến sĩ ta đã anh dũng chiến đấu, hy sinh thân mình để giành chiến thắng. Chúng tôi động viên nhau tận tụy phục vụ thương binh, nhắc nhở chị em dân công cùng y tá chăm sóc, nâng giấc thương binh thật chu đáo, nhẹ nhàng, nói năng dịu dàng để thương binh cảm thấy như được chăm sóc trong gia đình mình. Đội điều trị là nhà, quân y với thướng binh là những người ruột thịt. Chúng tôi tận tình bón từng thìa cháo, ngụm sữa, cố gắng đáp ứng từng yêu cầu của anh em. Có những tối, chúng tôi ngồi cho thương binh nặng dựa lưng đến tận khuya, khi anh thương binh đã dìu dịu cơn đau ngủ được mới nhẹ nhàng đỡ anh nằm xuống giường. Có thương binh khi được chuyển về tuyến sau đã nắm chặt tay chúng tôi và nói: "Các chị đã xoa dịu vết thương của tôi đang rỉ máu và cũng đã an ủi chúng tôi rất nhiều trong lúc bị thương, xa những người thân yêu trong gia đình". Có chiến sĩ trẻ được chữa lành vết thương đã xúc động nói lúc chia tay: "Rất biết ơn các anh, các chị quân y đã chữa cho em khỏi được trở về đơn vị. Tình cảm của các anh, các chị đã tiếp thêm sức mạnh cho em nắm chắc tay súng lao vào những trận chiến đấu mới".


Kết thúc đợt 2 của chiến dịch, qua sự nhận xét của anh em thương binh và anh chị em cán bộ, nhân viên trong khu trọng thương và trong toàn Đội, tôi được bầu là Chiến sĩ thi đua và ngày 1 tháng 5 năm 1954, được Bộ Tổng tư lệnh tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba. Niềm vui đến thật bất ngờ, đây là thành tích chung của toàn thể anh chị em Đội điều trị 2, công sức của chị em dân công, trong đó có phần nhỏ bé của tôi.


Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên toàn thắng. Trong niềm vui chiến thắng, Đội điều trị 2 chúng tôi vinh dự được nhận lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng", phần thưởng cao quý của Hồ Chủ tịch.


Sau chiến dịch, tôi được Cục Quân y cử tham gia đoàn chiến sĩ thi đua Ngành Quân y đi dự Hội nghị Chiến sĩ thi đua Điện Biên của Tổng cục Hậu cần.

Sau đợt chuyển thương binh về Quân y viện 4 ở Phú Thọ, Đội điều trị 2 chúng tôi lại nhanh chóng hành quân đường dài vào Sầm Sơn nhận nhiệm vụ mới: phục vụ trao trả tù binh.

N.T.N.B


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:08:11 am
CUỘC HÀNH QUÂN ÂN TÌNH TRÊN CÁNG


TRẦN QUỐC HANH


Khi chiến dịch Điện Biên toàn thắng, tôi còn phải của Đội điều trị 5A quân y tiền phương ở gần Mường Phăng. Tin chủ lực ta bắt đầu rời khỏi Điện Biên về xuôi để tiếp tục tiến công địch khuếch trương thắng lợi làm cả đội điều trị như sôi lên. Những thương binh đã gần bình phục đua nhau đòi ra viện để kịp về đơn vị hành quân. Những thương binh nhẹ được đưa về hậu phương bằng ô tô tải khẩn trương, phấn khởi lên đường. Nhìn anh em náo nức ra viện, những thương binh nặng chúng tôi không khỏi nôn nóng. Giữa lúc đó, chợt có lệnh "Tất cả chuẩn bị lên đường! Thương binh sẽ được dân công hoả tuyến kết hợp trên đường hoàn thành nhiệm vụ trở về vận chuyển bằng cáng. Việc điều trị cho thương binh sẽ được tiếp tục trên đường đi cho tới khi về đến hậu phương...". Chúng tôi không sao kìm nổi nỗi vui mừng. Trừ những đồng chí chưa ra khỏi cơn mê, còn tất cả chúng tôi, đều cứ nằm hoặc ngồi dựa vào vách lán mà hò reo, vỗ tay, đập chân vang động cả khu rừng già.


Buổi gặp mặt đầu tiên giữa thương binh với dân công thật là cảm động. Như anh chị em ruột thịt gặp nhau - người thì xót xa trước những vết thương tai ác và sự đau đớn của anh em thương binh; người thì bùi ngùi xúc động khi thấy anh chị em dân công trên người vẫn mang đậm dấu vết gian lao, vất vả, ác liệt của mấy tháng phục vụ hoả tuyến, nhưng trong ánh mắt, nụ cười, giọng nói vẫn toát lên tình cảm thân thương trìu mến, tràn trề niềm tự hào của người chiến thắng. Đồng chí trưởng đoàn dân công đứng giữa các lán nói rất chân tình: "Đưa các đồng chí về hậu phương là nhiệm vụ và cũng là tình cảm, nguyện vọng của chúng tôi. Dù khó khăn gian khổ đến mấy, còn một hơi thở chúng tôi cũng quyết đưa các đồng chí về tới đích an toàn".


Để tạo sự gắn bó mật thiết với nhau ngay từ đầu, trên một chuyến đi dài trên 500 ki-lô-mét đường rừng núi đầy khó khăn, gian khổ, mỗi cáng thương binh được tổ chức thành một gia đình, gồm thương binh với bốn hoặc năm dân công. Trong gia đình người nhiều tuổi nhất sẽ là anh hoặc chị cả, giữ vai trò chủ trì; những người khác tiếp theo ai lớn tuổi hơn sẽ là anh hoặc chị, nhỏ tuổi hơn là em. Trường hợp anh cả là thương binh thì anh hoặc chị hai sẽ thay anh cả điều hành mọi việc, nhưng vẫn phải có ý kiến của anh cả.


Tất nhiên, tôi cũng được "biên chế" vào một "gia đình" như thế. "Gia đình" tôi, trừ tôi, còn lại đều là dân công của một xã ven sông Chu thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa gồm năm người tất cả. Anh cả là anh Tốn, khoảng 35 tuổi, chị hai là chị Ngãi 26 tuổi, tôi 20 tuổi là thứ ba, còn hai cô em gái là Xuân 18 tuổi và Ngàn 17 tuổi.


Ngay hôm đầu tiên, anh Tốn, chị Ngãi và các em tôi đã vào rừng chọn tre, mây về để làm cho tôi một cái cáng vừa chắc, vừa nhẹ. Tiếp đó là sắp xếp gồng gánh sao cho không để thiếu thốn những vật dụng tối thiểu cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của thương binh và dân công. Từ nồi niêu, xoong chảo, gạo, mắm, muối, quần áo, đồ dùng cá nhân đến các dụng cụ dùng cho việc đại, tiểu tiện tại chỗ của thương binh... phải xếp sao cho gọn gàng, chắc chắn, tiện dụng để dễ dàng, nhanh chóng đôi vai khiêng gánh cho nhau khi đi trên đường, không làm đau thương binh, không rơi vãi, mất mát đồ đạc.


Ngày lên đường thật là vui. Với khí thế chiến thắng trở về, hàng mấy trăm cái cáng và mấy ngàn con người rầm rập từ trong rừng đổ ra, hoà vào dòng người nườm nượp bộ đội, dân công, ô tô vận tải, ô tô kéo pháo dồn về con đường 41. Tiếng hò, tiếng hát, tiếng cười, gọi, chúc tụng, hẹn hò nhau, tiếng hoan hô xen lẫn tiếng xe, pháo vang động khắp núi rừng, ầm ầm như sấm dậy. Đoàn cáng thương chúng tôi luôn được mọi người quan tâm chăm sóc động viên. Đi đến đâu chúng tôi cũng được nhường đường, nhường chỗ nghỉ thuận lợi nhất, được tặng nhiều quà chiến lợi phẩm nhất (thuốc lá, đồ hộp, kẹo, sôcôla, dù và dây dù...).


Chặng đường từ Điện Biên ra Tuần Giáo khoảng 100 ki- lô-mét, đoàn tải thương đi khá thuận lợi vì được đi ban ngày lại được đi cùng các đơn vị chiến đấu. Vừa đi vừa vui, vừa được giúp đõ về nhiều mặt. Rất nhiều đoạn, anh em bộ đội đang hành quân cùng trên đường cũng ghé vai khiêng thương binh thay dân công từng đoạn khá xa. Sức khoẻ của dân công cũng đang còn tốt khí thế còn rất hăng hái, nên tốc độ đi khá nhanh. Chưa hết bốn ngày, chúng tôi đã tới chân đèo Pha Đin, giới hạn khu vực Pháp không được dùng máy bay tuần tiễu, trinh sát, bắn phá để đổi lấy việc ta cho phép họ đưa máy bay đến Điện Biên Phủ lấy thương binh của họ đưa về Hà Nội.


Từ Pha Đin về xuôi, tất cả lại phải đi vào ban đêm. Cứ đêm đi ngày nghỉ. Sự khó khăn, vất vả tăng dần.

Thương binh nằm trên cáng suốt ngày, đêm, lại bị rung, lắc liên tục nên rất mỏi, mệt. Lúc đầu cáng làm theo kiểu "băng ca" bằng tre, hai đầu buộc dây thừng để luồn đòn vào khiêng. Đi gần thì không sao; đi xa cáng bị võng xuống, bề ngang thu vào, thương binh vừa bị ép ngang vừa bị cong người lại, vết thương rất đau. Thêm nữa, gặp chỗ nhiều bùn, nước, không thể đặt cáng để nghỉ được, các anh chị em dân công rất mệt. Rút kinh nghiệm qua mấy chặng đường, anh chị em nghĩ được cách làm ra cái cáng tải thương đường dài thích hợp nhất. Đó là một cái cáng, đúng ra là một cái chõng tre, hẹp ngang vừa phải, có bốn chân ngắn có khung vòm bằng nứa để phủ lá hoặc nilông lên che nắng, che mưa khi cần thiết. Hai đầu cáng buộc thừng hoặc dây dù để khiêng. Lúc tạm nghỉ trên đường hoặc dừng nghỉ khi đi hết một chặng, cái cáng "chõng" lại trở thành cái giường rất tốt cho thương binh nằm. Với những thương binh cần phải thường xuyên nửa nằm nửa ngồi thì một phần mặt chõng được dựng lên ở các góc độ khác nhau, có thành cáng hoặc dây buộc để thương binh không bị lăn xuống đất...


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:09:23 am
Cáng thương binh và gánh đồ đạc nặng đi đường dài, vượt đèo dốc đã nặng nhọc, vất vả, nhưng việc đảm bảo ăn, ở, chăm sóc thương binh và mọi mặt sinh hoạt dân công trên suốt các chặng hành quân còn khó khăn vất vả, phức tạp hơn nhiều. Mấy trăm gia đình thương binh là mấy trăm cái bếp nấu ăn, mấy trăm cái lán tạm phải dựng lên ở mỗi chặng dừng chân. Đó là chưa kể số bếp và lán tạm của các bộ phận quân y, quản lý phục vụ và chỉ huy của đoàn. Đường đi phần lớn là theo đường hành quân của các đơn vị chiến đấu lớn. Đến mỗi điểm dừng chân sau một chặng hành quân là một cuộc tranh đua kiếm củi, lấy nước, lấy cây, lấy lá làm lán... Các đơn vị đi trước đã quét đi quét lại mấy lượt, đoàn tải thương đi sau đến nơi thì mọi thứ đã vãn cả. Kiếm được một nhánh củi cũng khó khăn. Trời nắng thì còn đỡ, chứ trời mưa thì thật là nan giải. Mà những ngày đi đường lại là những ngày Tây Bắc đã vào mùa mưa, củi ướt, lán dột, đường đầy bùn, vắt. Anh chị em dân công càng vất vả do phải mang theo thêm nhiều củi, nước, rau rừng kiếm được ở những chỗ có nhiều, để đến chặng sau sử dụng. Không những thế, việc san nền, dựng lán, soạn chỗ nằm cho thương binh mỗi khi đến chặng nghỉ, cũng như việc nấu ăn cho thương binh đều do "gia đình" thương binh đảm nhiệm. Hậu cần của đoàn tải thương chỉ lo được việc cung cấp gạo, muối, thực phẩm chính (thịt muối, thịt hộp, cá khô, đường sữa...). Còn rau cỏ và thức ăn tươi khác do "gia đình" thương binh kiếm thêm. Công tác hộ lý đối với thương binh như theo dõi thể trạng và tình trạng vết thương, giúp thương binh giải quyết mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày cũng do "gia đình" thương binh làm. Bác sĩ, y tá không thể làm xuể vì thương binh quá đông. Bản thân bác sĩ và nhân viên quân y lại vừa phải hành quân, vừa phải giữ nền nếp, chế độ điều trị như khi ở tĩnh tại. Hàng ngày ở mỗi chặng nghỉ, các bác sĩ, y tá vẫn giữ nếp đến từng cáng thương binh thăm bệnh, chẩn bệnh, điều trị, xử lý các vết thương, thậm chí tổ chức phẫu thuật khi cần thiết...


Vất vả, mệt nhọc, khó khăn chồng chất, nhưng cả dân công và nhân viên quân y không ai thốt ra một lời kêu ca phàn nàn trước mặt thương binh. Trái lại, họ còn luôn luôn động viên, an ủi chúng tôi, hết lòng chăm sóc chúng tôi về mọi mặt. Kể cả khi hầu hết hai bàn chân và đôi vai anh chị em đã sưng phồng, nứt nẻ, nhiều người đã bị ốm đến mức không thể tiếp tục làm nhiệm vụ như bình thường được nữa, anh chị em dân công và nhân viên quân y vẫn là chỗ dựa vững chắc của chúng tôi, kể cả về mặt tinh thần.


Đối với tôi "gia đình" thương binh của tôi thật sự là một tổ ấm. Cả nhà săn sóc tôi thật hết mức. Đường rừng vất vả là thế mà gần như ngày nào tôi cũng được lau rửa sạch sẽ, vài ngày lại được gội đầu một lần, bữa ăn luôn có rau tươi do chị Ngãi và các em Xuân, Ngàn, tranh thủ kiếm trong rừng hoặc vào bản mua về nấu. Đôi khi còn được ăn cá tươi do anh Tốn câu hoặc bắt được ngoài suối. Cơm, canh, nước uống cho tôi luôn luôn nóng sốt, cả trong những ngày mưa dầm dề. Mỗi khi do vết thương đau đớn tôi không kìm được tiếng rên là cả nhà rất lo lắng. Rỗi rãi chút nào là cả nhà quây quần quanh tôi nói chuyện, chải đầu, nắn tay, nắn chân cho tôi đỡ mỏi, khâu vá những quần áo bị rách cho tôi. Khi dừng nghỉ cũng như khi đi trên đường, anh chị và các em luôn chú ý không để cho tôi bị một giọt mưa, một tia nắng chói nào ảnh hưởng đến trong khi họ sẵn sàng chịu ướt, chịu nắng dãi. Các "gia đình" thương binh khác cũng tương tự. Vất vả nhất là những "gia đình" có thương binh còn trong tình trạng nửa tỉnh, nửa mê, người bị lở loét do phải nằm bất động lâu ngày. Việc cho thương binh ăn uống, đại tiểu tiện và lau rửa mình mẩy, thay đổi tư thế nằm, giữ cho thương binh không bị rơi ra khỏi cáng kể cả trong lúc đi đường và lúc dừng nghỉ đều rất khó khăn. Việc làm và thái độ của anh chị em đã làm cho chúng tôi rất cảm động. Sự đau đớn vì vết thương của chúng tôi được xoa dịu rất nhiều bởi sự thương yêu chăm sóc của những anh chị em thân thiết như thế.


Cứ như vậy, đoàn tải thương chúng tôi đi ròng rã hơn hai mươi ngày đêm. Đèo cao, dốc thẳm, mưa rừng, nắng lửa, gai góc và sên vắt... thay nhau thử thách chúng tôi. Càng về gần đến đích, khó khăn càng gay gắt hơn. Sức khoẻ anh chị em dân công ngày càng giảm sút, có người cũng đã phải nằm cáng để đi nốt chặng đường, số người trong từng cáng cũng giảm dần. Những ngày cuối, "gia đình" tôi chỉ còn anh Tốn, em Xuân và Ngàn, chị Ngãi được "điều" sang bổ sung cho một "gia đình" thương binh khác. Một số thương binh vết thương đã đỡ, sức khoẻ đã tốt hơn được đưa sang đoàn xe ô tô tải thương, nhưng số người cáng thương vẫn càng ngày càng thiếu. "Gia đình" tôi còn có ba người khiêng, gánh. Anh Tốn ngày càng sắt người lại, đã ít nói càng ít nói hơn, em Xuân và Ngàn tuy vẫn hay cười, hay nói, nhưng vẫn không giấu được sự mệt mỏi và đôi chân nứt nẻ, sưng phồng. Tuy vậy cả ba vẫn bền bỉ, tận tụy, không làm bớt đi một việc nào mà lại càng chú tâm chăm sóc động viên tôi hơn. Nằm trên cáng, tuy sự rung lắc làm tôi khá mệt và đôi khi cả đau đớn nữa, nhưng cứ nghe thấy tiếng thở dồn dập, hổn hển xen lẫn tiếng xuýt xoa khi có sự va vấp của anh chị em dân công, tôi thường không thể đành lòng được. Thời gian đầu, tình trạng sức khoẻ và vết thương khiến tôi phải chịu. Càng về sau, vết thương càng đỡ, sức khoẻ cũng tốt dần lên, tôi càng không chịu đựng được sự day dứt trước nỗi vất vả của anh chị em. Nhiều lúc tôi đã kiên quyết đòi tụt xuống khỏi cáng đi bộ một đoạn để anh chị em được nghỉ ngơi đôi chút. Lúc đầu không ai, kể cả dân công và y tá hộ tống cho tôi làm như vậy, nhưng những ngày cuối khi sức khoẻ đã khá lên nhiều, tôi cũng đã dần dần tăng được số lần được xuống cáng đi bộ với đoạn đường đi ngày một dài hơn.


Cuối cùng chúng tôi cũng về tới bến Âu Lâu (Yên Bái) nơi chúng tôi phải chia tay với "gia đình thương binh" thân yêu để lên thuyền theo sông Hồng đi về đội điều trị 12 ở Ngòi Lao (hay Ngòi Thia, tôi cũng không còn nhớ rõ nữa) thuộc đất Phú Thọ. Buổi chia tay thật là lưu luyến. Anh Tốn cứ ngồi thẫn thờ, chỉ hút thuốc lào, không nói năng gì, nhưng đôi mắt cứ nhìn tôi buồn rười rượi. Xuân và Ngàn thì cứ chúi đầu vào sau lưng tôi mà khóc rưng rức. Chị Ngãi cũng về "gia đình" chia tay với tôi và trông chị cũng thật buồn.


Còn tôi trong lòng nặng trĩu và tuy cố hết sức mà không ghìm được nước mắt. Tôi cố gượng nói: "Sao lại buồn thế! Phải vui lên để mừng em sắp lành vết thương, mừng chúng ta đã về đến đích, mừng anh chị và các em hoàn thành nhiệm vụ và sắp được về nhà chứ". Mọi người vẫn không cười lên được. Xung quanh "gia đình" tôi, các "gia đình" thương binh khác cũng đều sụt sùi, bịn rịn như vậy. Không khí đang trầm lắng thì có tiếng hát ấm áp và dịu dàng của cô Lan y tá hộ tống tốp cáng thương binh chúng tôi cất lên nhẹ nhàng toả vào lòng người: "Quê nhà tôi chiều khi nắng êm đềm chạy dài trên khóm cây, đàn chim ríu rít ca... Bài hát gợi cho mọi người nhớ về quê hương xa xôi, về những chiều quê thanh bình, hạnh phúc. Nỗi buồn chia tay như được xoa dịu bớt. Xuân và Ngàn bắt đầu có tiếng cười. Không khí lại dần dần sôi nổi, vui hơn lên. Mọi người thân ái dặn dò, nhắc nhở, chúc tụng cảm ơn lẫn nhau hết lần này đến lần khác như mãi mãi không thể dứt được. Đưa chúng tôi xuống thuyền rồi mà anh chị em vẫn còn đứng trên bến sông dõi theo, vẫy tay mãi cho đến khi đoàn thuyền chở chúng tôi hoàn toàn khuất bóng mới thôi.


Gần năm mươi năm đã trôi qua, nhưng những kỷ niệm, ấn tượng và cảm xúc của tôi về cuộc hành quân đường dài trên cáng đặc biệt ngày ấy vẫn còn hầu như nguyên vẹn. Hình ảnh những anh, chị em trong "gia đình thương binh" của tôi và những anh chị em dân công tải thương ngày ấy vẫn không hề phai mờ trong tim tôi. Những con người kiên cường, dũng cảm, tận tụy, giàu tình giàu nghĩa ấy mãi mãi là những tấm gương cho tôi tự soi mình, là những bài học về tình yêu Tổ quốc, yêu con người, về tình quân dân, tình đồng chí đồng đội để cho tôi học tập và tự rèn luyện mình suốt đời mà vẫn còn phải học mãi không hết.


T.Q.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:10:49 am
ĐỘI QUÂN XE THỒ LÊN ĐIỆN BIÊN


TẠ QUANG


Sau tết Giáp Ngọ 1954, ngày mùng 5 tháng giêng xã đội triệu tập hơn bốn mươi anh em biết đi xe đạp trong đại đội dân quân, thường trực của xã họp khẩn cấp. Ai cũng cho là có chuyện tổng động binh. Sau khi nghe lời tuyên bố lý do của ông xã đội trưởng, chúng tôi mới rõ: "Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) ra lệnh điều động một trung đội dân quân xe thồ của Thiệu Đô tập trung tại huyện để thành lập đại đội dân công tiếp vận đường dài phục vụ chiến dịch đánh lớn. Tuy không được giải thích cặn kẽ lắm nhưng qua báo chí, thông tin, chúng tôi cũng nhận biết được rằng cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã bước vào năm thứ chín, đã trải qua giai đoạn phòng ngự, cầm cự và bấy giờ là "Tích cực cầm cự chuẩn bị tổng phản công". Quân và dân ta đã thắng và đang thắng, nhiệm vụ của chúng tôi là vận chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn, tiếp tế ra chiến trường cho bộ đội đánh giặc.


Tất cả chúng tôi không một ai từ chối nhiệm vụ, nhưng cũng còn một số thắc mắc vì nhiều người tuy biết đi xe đạp nhưng hiện tại không có xe, nhà lại nghèo lấy gì mà mua. Ông xã đội trưởng nói: "Ai đã có xe thì sửa soạn lại cho tốt mà đi, trường hợp khó khăn xã sẽ hỗ trợ ít nhiều tiền mua sắm phụ tùng. Còn ai chưa có xe, sẽ có. Xã chủ trương vận động những nhà giàu bỏ tiền ra mua xe và họ sẽ được miễn đi dân công. Như vậy là người có của góp của, người có công góp công: "Tất cả cho tiền tuyến", "tất cả để đánh thắng giặc Pháp xâm lược". Mọi người đều yên tâm, phấn khởi.


Vậy là sau buổi họp chỉ trong vòng 5 ngày, bốn mươi lăm anh em chúng tôi đã có đủ xe đạp để lên đường phục vụ. Tôi được nhận một chiếc "Lanh côn" mới toanh của ông chú họ góp với xã.

Tất cả đều là lính mới nên phải tập dượt, từ cách buộc tay ngai cọc thồ, đóng hàng rồi thồ thử trên sân gạch, trên đường làng, ngõ xóm cho quen chân, quen tay. Ban đầu thồ được vài bước là xe đã đổ kềnh, mà nào có nặng nề gì đâu, tối đa không quá tám chục cân hàng. Nhưng rồi cũng quen dần. Ngoài việc tập thồ, sửa sang xe cộ cho tốt, chuẩn bị đem theo một số phụ tùng cần thiết, mọi người còn phải học tập chủ trương chính sách, mục đích yêu cầu, kế hoạch vận chuyển, nội quy hành quân, tầm quan trọng của chiến dịch, vân vân và vân vân.


Đoàn thồ Thiệu Đô chúng tôi qua cầu phao Vạn Vạc vào lúc chập tối, các cô gái làng tiễn đoàn bằng những câu hò:

"Cả làng em chẳng yêu ai
Chỉ yêu anh chiến sĩ tay ngai cọc thồ"
"Mấy lời nhẩn nhủ người thương
Làm tròn nhiệm vụ tiền phương mới về".


Dừng lại ở thôn Chí Cẫn để tổ chức biên chế thành trung, đại đội của huyện và đóng hàng. Trung đội Thiệu Đô có nhiệm vụ chuyển hơn ba tấn gạo ra tiền phương. Gạo được đóng vào dó1 (Dó: một loại bao bì đựng gạo đan bằng cói, miệng nhỏ, hông phình to), mỗi dó có trọng lượng từ ba mươi, bốn mươi đến năm mươi cân. Đóng hàng xong là hành quân theo hướng Tây Bắc.


Con đường tỉnh lộ Thanh Hóa - Hồi Xuân bảy tám năm về trước, hàng ngày xe chở khách, chở hàng vẫn thường xuyên qua lại, còn lúc này thì những chặng đường đồng bằng, trung du đã bị băm nát, đào bới, chặt ra từng khúc, từng đoạn lại mọc đầy những ụ đất chắn ngang đường, trên từng ụ mọc lên những cây đa, những bụi tre gai. Đường thẳng, giờ đây trở thành ngoằn ngoèo, gồ ghề chỉ đủ cho người đi bộ, còn đi xe đạp rất khó khăn.


Hàng ngày, máy bay giặc Pháp bay lượn rà soát, rẹt một cái đã thấy thằng "Hen-cát", thằng "Pít-phai" bay sát ngọn cây, nóc nhà. Rẹt một cái chúng vãi đạn rốc-két, đạn 12 ly 7 xuống nơi mà chúng nghi ngờ, gây đau thương, chết chóc cho người đi đường.


Ban ngày con đường rất ít người qua lại, nhưng khi mặt trời vừa xuống núi là từng đoàn gồng gánh, từng đoàn xe thồ ùn ùn từ trong các luỹ tre làng kéo ra. Ban đêm nếu như ai đó đếm được sao trên trời thì mới đếm được bao nhiêu ánh đèn chai lấp ló, chao đảo của đoàn dân công gánh bộ rồng rắn lượn trên đường. Còn cánh xe thồ chúng tôi thì đi "đèn gầm" do chúng tôi tự chế, buộc vào càng xe phía trước; chụp đèn là nửa trên vỏ chai trắng cắt đôi, phao đựng dầu, bấc là vỏ lọ mực; chụp và phao được đặt vào một ống luồng cắt hổng một lỗ tròn bằng nắm tay để ánh sáng ló ra phía trước, đủ soi đường cho bánh xe lăn vì phải đề phòng máy bay.


Đêm đi ngày nghỉ, một tuần sau chúng tôi mới tới trạm Cành Nàng (Bá Thước). Tính ra mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được 10 cây số, đến Cành Nàng, chúng tôi được tin đoàn thồ thị xã Thanh Hóa đang tổ chức vượt sông La Hán. Trạm Cành Nàng nằm ở hậu tuyến, nơi tập trung dân công các huyện trong tỉnh Thanh cùng một số dân công tỉnh Nghệ.


Phố Cành Nàng, huyện lỵ Bá Thước, là nơi tụ hội các đoàn dân công gánh bộ, dân công xe thồ, thuyền nan, dân công cầu đường, dắt trâu bò...

Từ sáng đến chiều, phố xá im lìm như chết, đêm đến thì thực là tưng bừng, nhộn nhịp, đèn đuốc sáng trưng. "Người xe chật đất, gánh gồng như nêm". Tiếng hò, tiếng hát chen lẫn tiếng gọi nhau vang lên thâu đêm suốt sáng. Chúng tôi gặp được những người thân từ quê nhà đi tải đạn, tải lương. Dân công gánh bộ tập trung ở đây để rồi vượt qua Eo Gió lên trạm Phú Nghiêm. Dân công xe thồ thì vượt sông La Hán và cũng từ La Hán đi Phú Nghiêm, Hồi Xuân. Hơn chục chiếc đò ngụp ngoạp từ đầu hôm đến sáng mới đưa được đoàn thồ Thiệu Hóa qua sông. Đơn vị chúng tôi phải hành quân gấp để đuổi kịp đoàn thồ thị xã Thanh Hóa. Chúng tôi đến Phú Nghiêm vừa kịp giấu xe thồ thì hai chiếc máy bay Hen-cát nhào tới bắn phá. Cũng may chúng tôi đã kịp chui nấp vào hang đá. Ơ Phú Nghiêm nhiều hang đá, có hang rộng chứa hàng trăm người, rất kiên cố, có lẽ chỉ bom nguyên tử mới phá nổi, còn những bom tấn, bom tạ trút xuống chẳng mùi mè gì. Cho nên đã chui được vào hang đá thì cứ việc nằm "ca cải lương", mặc cho máy bay địch vãi đạn, vãi bom trên núi. Bắn phá một hồi chúng cút. Thế là trong mười ngày hành quân, đơn vị chúng tôi bị ba phen hú vía; lần này nếu chậm một ít phút thì thế nào cũng bị địch đánh giữa đường và khó tránh khỏi thương vong. Lần đầu chúng tôi bị một thằng Hen-cát vút qua đầu "tạch tạch" một tràng rồi cút thẳng. Chẳng ai việc gì. Riêng cái lần ở chòm Chiềng Bạc nghĩ lại mà rùng mình. Đoàn thị xã Thanh Hóa đi trước, đoàn Thiệu Hóa đi sau, vừa đi khỏi thì hai thằng B.26 đến trút xuống hàng chục quả bom, rốc két. Tuy nhiên, trong cái may của chúng tôi cũng có cái rủi ro của đồng chí, đồng bào: trận bom ở Chiềng Vạc có tới chục người .chết, trận bắn phá ở Phú Nghiêm cũng thiệt mất hai anh chị dân công đang ngồi nấu nướng ở bờ khe.


Lác đác trong hai đoàn xe thồ đã có người thoái lui vì chịu không nổi gian khổ. Đoàn Thiệu Hóa nghỉ lại một ngày ở Phú Nghiêm để "rèn cán chỉnh quân", chủ yếu là củng cố tinh thần anh em trong đơn vị, đề cao cảnh giác, chấp hành nội quy hành quân. Phải làm như vậy bởi có những anh em dân công không chấp hành nội quy hành quân để lộ mục tiêu. Hơn nữa, thằng địch đã đánh hơi biết ta đang mở chiến dịch đánh lớn lên Tây Bắc nên hàng ngày chúng cho máy bay rà soát con đường hành quân của ta, gặp chỗ nào nghi ngờ là chúng bắn phá.


"Rèn cán chỉnh quân" xong, đoàn chúng tôi vượt dốc Yên Ngựa lên trạm Hồi Xuân. Dốc Yên Ngựa chạy dài năm cây số. Có tới mươi bậc dốc, gọi là bậc vì lên dốc là cứ như leo thang, người gánh bộ cứ ì à ì ạch trèo từng bước, còn xe thồ thì trời nắng phải ba người đẩy một xe lên dốc, ười mưa, dác trơn phải năm bảy người xúm vào vừa kéo vừa đẩy. Đôi khi đứng nhìn cảnh tượng ấy, tôi cảm nghĩ "lũ chúng tôi không khác gì những con kiến càng xúm xít bám vào con sâu. Lôi nó, đẩy nó đi, đem nó bỏ vào kho dự trữ, hết sức kiên trì, nhẫn nại cho đến lúc kho đầy". Đúng là vã mồ hôi hột, thờ ra đằng tai mới đẩy được xe lên khỏi dốc, chẳng có cái mệt nào bằng, thế nhưng, nghỉ ngơi một lát lại khoẻ như thường. Còn xuống dốc, lao dốc mới thật nguy hiểm, không những xảy ra nhiều trường hợp gẫy xe mà còn có cả thương vong. Đoàn thị xã Thanh Hóa đã có người đập mũi xuống đường, dập bã mía chết; đoàn Thiệu Hóa đã có dăm bảy anh gẫy tay, dập đầu gối nằm lại điều trị dọc đường rồi đành lui về hậu phương. Cho xe xuống dốc, nếu là dốc thường thì cứ việc thả phanh mà chạy, còn dốc cao, muốn được an toàn phải có 3 thứ phanh: đằng trước, một anh tay trái nắm chặt ghi đông xe đẩy ngược, tay phải bóp chặt bánh xe trước cho lăn từ từ; đằng sau, một anh buộc thừng vào gác-ba-ga kéo lại, còn chủ xe cầm tay ngai, cọc thồ điều khiển xe, điều khiển cả phanh xe. Phanh xe là một khúc gỗ nhỏ chặt vát một nửa chèn vào lốp sau; qua những lần thử nghiệm thấy loại phanh này có tác dụng tốt nhưng rất hại lốp, về sau có anh nẩy ra sáng kiến bọc lốp cũ vào gỗ chèn đỡ hại lốp xe hơn.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:12:00 am
Ban đêm hành quân, ban ngày dừng lại ở các lán dọc đường để ăn ngủ. Ngủ thì thoải mái, còn ăn thì phải thật chắc bụng. Ở trung tuyến, gạo, muối, cá khô được cung cấp đầy đủ, thỉnh thoảng còn có đường, sữa, thịt bò, bánh kẹo. Riêng cái khoản rau rừng thì chẳng cần phải phân phối: rau bấn, rau tàu bay, lạc tiên, lá lốt, mùi tàu, môn nước... chẳng thiếu. Muốn ăn thịt gà thì đem gạo đổi cho đồng bào địa phương. Gạo lấy ở đâu? Xin nhớ là đừng anh nào đụng đến những hạt gạo đã nằm trong đó vì nó đã được niêm phong từ quê nhà, gạo ấy là của các chiến sĩ ngoài tiền phương.


Muốn có gạo để đổi gà thì tiết kiệm tiêu chuẩn gạo ăn hàng ngày lĩnh ở các trạm, hoặc dùng số gạo dành được do vượt chỉ tiêu thời gian hành quân từ trạm nọ đến trạm kia. Có ai mà biết được lương thực, thực phẩm chất chứa từ bao giờ mà nhiều thế! Sau chiến thắng Điện Biên Phủ được đọc một số tài liệu trên sách báo tôi mới biết bọn chỉ huy Pháp ở Đông Dương lúc bấy giờ đánh giá lực lượng ta quá thấp. Chúng cho rằng ta không có đủ lương thực, súng đạn để đánh chúng ở Điện Biên Phủ mà nếu có thì bằng con đường nào, cách nào để vượt năm bảy trăm cây số đường rừng tiếp tế lên đây? Việt Minh làm gì có máy bay, ô tô? Chúng nó chủ quan khinh địch nên chúng nó đã thất bại nhục nhã. Chúng ta có Bác Hồ cùng với Bộ tham mưu thần thánh, có lòng hy sinh dũng cảm, có đôi chân đồng vai sắt của toàn dân, chúng ta chiến thắng.


Trải qua những chặng đường thử thách, từ quê nhà hành quân lên trạm Hồi Xuân, trung đội Thiệu Đô mất ba chiến sĩ tay ngai: một người bị sốt rét, một người gẫy khung xe, và một anh vì không chịu được gian khổ đã "vù" từ khi mới đến trạm Cành Nàng. Số còn lại hoà nhập với hơn trăm tay thồ của đại đội dân công xe thồ thị xã Thanh Hóa và Thiệu Hóa vượt qua những đêm mưa và dác dựng với lòng quyết tâm:

"Trời mưa ướt áo ướt quần,
Ướt sao cho được tinh thần dân công


Và:

"Trèo lên dốc núi cao cao
Có đi tiếp vận mới biết công lao Bác Hồ"


Hành quân đến trạm Suối Rút đúng vào ngày mà quân ta nã phát súng đầu tiên vào đồi Him Lam mở màn chiến dịch, chúng tôi mới hay mình đang phục vụ cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nếu như Cành Nàng là nơi hội tụ của dân công các huyện trong tỉnh Thanh Hóa, thì ở đây cũng là nơi gặp gỡ dân công của một số tỉnh Sơn La xuống, Ninh Bình, Nam Định ngược lên. Tuy không quen biết mà như đã biết tự bao giờ:

Dân công lại gặp dân công
Như chim loan phượng, ngô đồng gặp nhau...
Dân công lại gặp dân công
Như vợ gặp chồng như hạn gặp mưa.



Đơn vị xe thồ Thiệu Hóa được lệnh đưa hàng vào kho. Thế là hạt gạo của quê hương tôi niêm phong từ nhà chở lên đây đã nằm gọn trong kho và có thể chỉ lát nữa, hoặc đêm nay, ngày mai được chuyển tiếp ra tiền phương cùng với hạt gạo của mọi miền quê khác trên miền Bắc.


Đưa hàng vào kho xong chúng tôi được lệnh rút về trạm Hồi Xuân và lại từ Hồi Xuân chuyển hàng lên Suối Rút. Hồi Xuân - Suối Rút - Hồi Xuân hay gọi tắt là trạm V.C.5, V.C.4, cứ thế chúng tôi đi lại như thoi đưa, vui mừng với những chiến công dồn dập từ Điện Biên Phủ báo về.


Đường từ trạm V.C.4 lên trạm V.C.5 dọc theo sông Mã nhiều đoạn đi tắt qua đường mòn của dân bản nay được phát quang mở rộng, có đoạn chỉ đù chỗ cho xe thồ lăn bánh trên những gốc cây con vừa mới chặt. Có những đoạn đường mở sát vào vách núi đã bị sạt lở phải đóng cọc bắc sàn gỗ, trải thêm nứa áp vào vách núi cho người và xe đi. Đẩy xe trên những đoạn đường này tôi hình dung như mình đang đi trên đường sạn đạo ở Ba Thục trong truyện Tam Quốc mà tôi đã được đọc; sẩy chân, sẩy tay một chút là có thể lao cả người và xe xuống sông xuống vực.


Dốc ở đây không dài, không cao nhưng phần nhiều là dốc dựng đứng bởi con đường phải qua nhiều khe suối, và mỗi khe suối là dốc xuống rồi lên. Nếu như ở những đoạn dường Hồi Xuân, La Hán phải ba, bốn người mới đưa được một xe xuống dốc thì ở đây phải bảy, tám người; vì dốc đã dựng đứng lại trơn. Có khi phải mất nửa ngày, cả đơn vị mới qua được dốc. Bởi thế nên mỗi ngày chúng tôi chỉ đi được năm bảy cây số và không phải đi đêm vì đoạn đường này máy bay địch chưa hề biết đến.


Đêm về không có lán, trại, anh em chúng tôi dựa xe đóng cọc, che áo mưa nằm trên bao gạo mà ngủ. Gặp những đêm mưa thì cứ việc đội áo tơi, ngồi chờ trời sáng. Từ V.C.4 đến V.C.5, chúng tôi nhận được 5 ngày gạo ăn. Chiều hôm ấy, sau ba ngày hành quân, chúng tôi dừng chân, dựng xe nghỉ bên bờ sông Mã, vừa kịp bắc bếp nấu thì trời đổ mưa rào, mọi người phải nhanh tay, mỗi bếp cử hai anh căng ni lông che mưa cho lửa cháy đến lúc cơm chín. Trời mưa rả rích cả đêm, sáng mai vẫn không tạnh; mọi người bàn nhau dựng lều lán đề phòng mưa kéo dài. Dựng xong lều thì trời tạnh. Nhìn lại con đường phía trước, không còn đường mà là con sông, bởi vì đây là con đường mới mở đi dưới bãi ven sông sát vào vách núi. Nằm đợi một ngày mà nước vẫn không rút, có lẽ nơi thượng nguồn vẫn còn mưa, chúng tôi nghĩ thế, và ai nấy đều sốt ruột, lo lắng. Quay về trạm V.C.4 hay chờ nước rút chuyển tiếp? Câu hỏi được đặt ra và được giải đáp. Tôi và anh trung đội trưởng được đi làm nhiệm vụ dò đường. Hai chúng tôi lội ào xuống nước, dựa vào vách núi dò từng bước, đi ngược dòng. Rất may, đoạn đường quanh vách núi dài không đầy một cây số có thể lội được, nước chỉ ngập lên đến bụng, đến ngực, chúng tôi quay về triệu tập một cuộc họp khẩn cấp. Mọi người đều nhất trí "Bằng giá nào cũng phải đưa được hàng lên trạm V.C.5 càng sớm càng tốt, tiền tuyến đang chờ chúng ta, tất cả cho tiền tuyến!".


Một kế hoạch được vạch ra, chỉ vài giờ sau chúng tôi đã đóng xong hơn chục mảng bè nứa, chuyển hàng lên bè thả xuống nước kéo ngược dòng, nhưng không ổn, vì có nhiều đoạn nước chảy mạnh. Tưởng phải bó tay, bỗng anh trung đội trưởng nẩy ra sáng kiến, đóng cáng kiểu tải thương để chở hàng. Cứ bốn anh một cáng, mỗi cáng đặt hai dó gạo, nhắc cáng lên vai dò dẫm lội ngược dòng: Hoan hô tải gạo như tải thương! Gần trọn một ngày dầm mình dưới nước, đơn vị đã đưa được hơn ba tấn gạo qua đoạn đường ngập nước và chuyển kịp lên trạm V.C.5. Lúc này ở trạm V.C.5 có tới hàng trăm anh chị em dân công đang nằm chờ gạo. Hạt gạo đến trạm lúc này quý giá nhường nào.


Nước rút, chúng tôi quay về trạm V.C.4 và rồi lại từ V.C.4. lên V.C.5. Ngày cả nước reo vui mừng chiến thắng Điện Biên, bốn mươi tay thồ chúng tôi trở về quê hương hãnh diện đeo trên ngực chiếc huy hiệu "chiến sĩ Điện Biên", bước vào cuộc chiến đấu mới; đấu tranh giảm tô, cải cách ruộng đất.

T.Q


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:13:00 am
NGƯỜI ĐƯỢC THƯỞNG 4 HUÂN CHƯƠNG CHIẾN CÔNG
TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN


HOÀNG NGỌC VÂN


Bây giờ thầy giáo Nguyễn Trọng Nghiệp về nghỉ hưu rồi, nhưng thầy vẫn bận rộn với công việc của một bác sĩ ngoại khoa như 6 năm về trước.

Phòng khám và điều trị tai, mũi, họng của ông vẫn là căn phòng Học viện Quân y cấp khi hai vợ chồng ông còn đang công tác. Phòng không rộng, lại ở sau mấy dãy nhà tầng, nhưng lúc nào cũng đông người đến khám chữa bệnh; nhất là vào những ngày chủ nhật, ông triển khai kỹ thuật áp lạnh điều trị các bệnh về mũi và họng. Người bệnh đến từ nhiều nơi: Hà Nội, Hà Tây, có cả bà con dân tộc miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và cả các tỉnh phía Nam. Tất cả những người đến đây đều do người bệnh đã chữa khỏi giới thiệu, hoặc là người nhà của bạn bè ông.


Và như những ngày còn là Chủ nhiệm bộ môn - khoa Tai Mũi Họng Viện Quân y 103, Học viện Quân y, ông ân cần soi khám cho từng người bệnh, trước khi có chỉ định phương pháp điều trị.

Ông giải thích với mọi người:

- Bệnh về tai mũi họng thường có liên quan với nhau, những người mắc phần lớn đã trở thành mãn tính; cho nên phải xem xét kỹ tình trạng bệnh lý, rồi mới quyết định nên dùng kỹ thuật nào và phác đồ thuốc điều trị ra sao. Đây là nguyên tắc để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người bệnh, nhất là đối với các cháu nhỏ.


Cuốn sổ nhật ký khám bệnh của ông có các cột ghi: họ tên bệnh nhân, địa chỉ, ngày đến khám bệnh, tình trạng bệnh lý, kỹ thuật áp dụng và thuốc điều trị... Tất cả đều đầy đủ, rõ ràng. Đã có tới hơn 5.000 lượt người bệnh đến khám và điều trị tại đây (tức là mỗi năm có gần 1.000 lượt người), một con số thật ý nghĩa đối với một phòng khám bệnh tư nhân diện tích chỉ rộng vài chục mét vuông, nằm cạnh một bệnh viện lớn.


Điều ông trăn trở nhất khi còn đang công tác là thiếu trang thiết bị, máy móc chuyên khoa nên nhiều kỹ thuật mới không triển khai được. Khi về nghỉ hưu, một phần do tích luỹ tiền, một phần nhờ vay mượn của bạn bè, ông đã mạnh dạn mua sắm hàng trăm triệu đồng máy móc, thiết bị hiện đại như: máy điều trị áp lạnh (CS PATPEN 76), máy phát sóng siêu cao tần (SPAIN-970), cũng như các thiết bị hấp, sấy tiệt trùng.


Đề tài khoa học cấp Bộ "Dùng nitơ lỏng ở nhiệt độ thấp điều trị amiđan và viêm họng hạt" do ông chủ trì nghiên cứu, đã được nghiệm thu từ những năm 90. Nay có máy móc đồng bộ trong tay, ông triển khai rất có hiệu quả, trung bình mỗi tháng hai lần vào ngày thứ bẩy hoặc chủ nhật, mỗi lần chữa trị được hàng trăm bệnh nhân, với tỷ lệ đỡ và khỏi lên tởi 85-90%. Thật là thuận tiện, ngày nghỉ, người bệnh chỉ mất vài ba chục phút chờ khám, rồi tuỳ theo bệnh lý mất 30 giây, hoặc một phút điều trị, là có thể yên tâm ra về, vừa tiết kiệm thời gian, vừa tiết kiệm tiền bạc...


Từ ngày Nhà nước có chủ trương xã hội hóa y tế, nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư nhân bung ra, có nhiều chuyện đáng nói về chất lượng chuyên môn, về các phương thức quảng cáo kinh doanh. Nhưng đối với cơ sở khám chữa bệnh của bác sĩ Nguyễn Trọng Nghiệp, ông luôn đặt lương tâm và trách nhiệm của người thầy thuốc lên trên hết. Phòng khám của ông luôn chấp hành nghiêm các quy định của ngành y tế, nhất là các quy định về an toàn, vệ sinh và vô trùng đối với một cơ sở điều trị ngoại khoa. Đã nhiều lần sở y tế Hà Tây kiểm tra đều công nhận phòng khám bệnh tư nhân của ông đạt các yêu cầu quy định.

Ông tâm sự:

- Vợ chồng tôi đều đã ngoài 60 tuổi, có lương hưu, con cái đã trưởng thành, kinh tế ổn định. Nói thật lòng chúng tôi mở phòng khám không phải do mục đích kinh tế, mà là do "sinh nghề, tử nghiệp". Còn sức khoẻ, mình muốn làm cái gì đó giúp mọi người, vì thấy bệnh nhân phải đi lại, chờ đợi vất vả quá, lại khổ nỗi có khi tiền mất tật mang. Nhiều lúc tôi cũng muốn nghỉ ngơi đi thăm bạn bè, nhưng khó quá, hễ mở cửa, là y như có bệnh nhân đến không thể từ chối được. Mệt, nhưng mà vui vì thấy mình được sự tin cậy của mọi người. Cùng công tác với ông nhiều năm nay, được chứng kiến tình cảm yêu mến, tin cậy của người bệnh đối với ông, nghe những lời tâm sự chân thành, tôi càng hiểu ông hơn hiểu sự đam mê nghề nghiệp của một thầy thuốc đã gắn bó với nghề từ hơn 50 năm trước - đặc biệt là của một chiến sĩ đã lập công xuất sắc ở chiến dịch Điện Biên năm xưa.

... Ngày ấy ông mới chỉ là một y tá thuộc đại đội 3, tiểu đoàn 439, Đại đoàn 316.

Ông bồi hồi nhớ lại những giờ phút gay cấn nhất khi đơn vị ông đánh đồi C1. Bộc phá đã nổ phá tung hàng chục lớp rào dây thép gai, đơn vị được lệnh xung phong vượt qua cửa mở, đang phát triển thuận lợi thọc sâu vào khu trung tâm, thì pháo của địch, từ Mường Thanh, Hồng Cúm bắn dữ dội chặn đường, hoả lực từ các cụm phòng thủ của địch cũng chống trả quyết liệt. Bộ đội ở địa hình trống trải, nên bị thương vong nhiều, thê đội 2 không thể chi viện được. Lệnh của trên cho đơn vị rút về phía sau, củng cố lực lượng. Y tá Nguyễn Trọng Nghiệp cùng 2 tổ xung kích được giao nhiệm vụ đưa thương binh và liệt sĩ ra khỏi trận địa. Ép sát người dưới làn pháo và hoả lực của địch, Nghiệp cùng tổ xung kích trườn lên tìm kiếm thương binh và liệt sĩ. Ngay ở cửa mở, anh đã băng bó và cho vận chuyển 25 thương binh ra. Quyết không được để một thương binh, liệt sĩ nào nằm lại trận địa, y tá Nguyễn Trọng Nghiệp vừa động viên tổ xung kích, vừa bò đến các vị trí, băng bó cho thương binh, tổ chức vận chuyển nhanh anh em ra ngoài.


Lúc này pháo của ta bắt đầu bắn dồn dập khống chế pháo địch, toàn tiểu đoàn được lệnh xung phong đánh bật địch ra khỏi công sự. Quân ta làm chủ hoàn toàn đồi C1. Trận này y tá Nguyễn Trọng Nghiệp cùng tổ xung kích đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Hơn 50 thương binh đã được băng bó kịp thời và vận chuyển an toàn về phía sau. Nguyễn Trọng Nghiệp được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì.


Những trận đánh tiếp sau ở đồi C2, ở trung tâm Mường Thanh và đặc biệt là trận chiến đấu gay go, ác liệt ở đồi A1, với khẩu súng và túi cứu thương, y tá Nguyễn Trọng Nghiệp luồn lách, có mặt ở nhiều nơi, lúc băng bó cho thương binh, lúc chỉ huy tải thương, lúc lại cùng chiến sĩ nổ súng vào các ổ đề kháng của địch. Anh đã cùng đồng đội góp phần cứu sống trên 100 thương binh. Trận đánh nào anh cũng lập công xuất sắc, mỗi trận được thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Ba.


Kết thúc chiến dịch Điện Biên, trên ngực y tá Nguyễn Trọng Nghiệp lấp lánh 4 Huân chương Chiến công. Anh là đại biểu chiến sĩ thi đua của Đại đoàn 316 tham dự đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc. Và điều vinh dự không bao giờ quên là anh đã được báo cáo thành tích chiến đấu của đơn vị và cá nhân mình với Bác Hồ.


Đã 50 năm ừôi qua, Nguyễn Trọng Nghiệp đã được học tập bồi dưỡng cả ở trong nước và ở nước bạn, ưở thành một bác sĩ chuyên khoa cấp 2 giầu kinh nghiệm, được vinh dự phong tặng danh hiệu thầy thuốc ưu tú, là đại tá chủ nhiệm Bộ môn khoa của một trung tâm đào tạo cán bộ, trung tâm nghiên cứu y học quân sự có uy tín của quân đội và cả nước.


Giờ đây ông là một cựu chiến binh gương mẫu, một thầy thuốc vẫn hết lòng vì sức khoẻ nhân dân.

H.N.V


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:14:11 am
NGƯỜI CHIẾN SĨ QUAY PHIM TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN


ĐẶNG QUANG PHONG


Về phường Nghĩa Tân, quận cầu Giấy, thủ đô Hà Nội, tôi chú ý tới một bác cao tuổi ở cùng tổ dân phố. Bác sinh hoạt giản dị, tính tình vui vẻ, cởi mở, hay lam hay làm. Khu tập thể có một bồn hoa để hoang phế lâu ngày, nhiều hộ dân thường lợi dụng đêm khuya mang phế thải đổ bừa vào đấy. Bác và đứa cháu nội xách từng xô đất san lấp bồn hoa, mồ hôi công sức bỏ ra rất lớn, giờ đây bồn hoa trông đã mát mắt. Tôi mến bác lắm. Sau này, tham gia Ban công tác Mặt trận Tổ quốc, tôi có dịp chuyện và tâm sự cùng bác.


Bác là Nguyễn Như Ái, quê chính ở Tiên Sơn, Bắc Ninh, tham gia cách mạng từ tháng 8 năm 1945, một thời đã từng là du kích đường 5 nổi tiếng. Tháng 3 năm 1954 bác tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, là thành viên của một đoàn quay phim do đồng chí Nguyễn Tiến Lợi làm trưởng đoàn và đồng chí Nguyễn Phụ Cấn phó đoàn. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch Điện Biên bắt đầu. Bác Nguyễn Như Ái cùng ba người phụ quay bắt đầu làm việc, theo sát lính xung kích. Trong trận mở màn oanh liệt này, bác Ái và đồng đội ghi lại đầy đủ hình ảnh chiến đấu vô cùng dũng cảm của bộ đội ta. Những cảnh bộ đội ta đánh chiếm lô cốt boong ke, diệt các hỏa điểm lợi hại của giặc đều được chiếc máy quay KS 35mm của bác Ái thu vào ống kính. Quay xong trận "Him Lam" bác quay tiếp trận đồi "Đồc Lập" rồi trận tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng giặc Đờ- cát ngày 7 tháng 5 năm 1954.


Suốt 55 ngày đêm không rời máy quay, đoàn làm phim đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quay được những thước phim vô cùng quý giá, sau ngày hòa bình trình chiếu cho nhân dân cả nước xem. Bộ phim chiến thắng Điện Biên Phủ này được gửi ra nước ngoài để bè bạn năm châu hiểu rõ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.


Bác Nguyễn Như Ái còn được cử sang nước bạn Lào giúp xây dựng đội ngũ phóng viên quay phim, trong các chiến dịch lớn của bộ đội Pathét Lào và quân tình nguyện Việt Nam. Những thước phim quý ghi lại những trận đánh ác liệt của liên quân Việt - Lào do bác Ái và học trò của bác quay đến nay vẫn được lưu giữ, niêm cất tại Cục Điện ảnh, Bộ Văn hóa.


Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết chẩm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Đông Dương, đánh dấu sự thảm bại của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Lúc này tại căn cứ địa chiến khu Việt Bắc, Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ chỉ thị cho lực lượng vũ trang chuẩn bị về giải phóng Thủ đô.


Bác Nguyễn Như Ái về đoàn làm phim của đạo diễn Mai Lộc và đạo diễn Roman Karmen, nghệ sĩ công huân nổi tiếng của Liên Xô tham gia làm bộ phim "Tiếp quản Thủ đô". Bộ phim ghi lại những cảnh sinh động: xe nhà binh Pháp vội vã rút lui qua cầu Long Biên, nhân dân Hà Nội bí mật may cờ đỏ sao vàng, mong mỏi khắc khoải từng ngày, từng giờ "Bộ đội Cụ Hồ" về giải phóng Thủ đô, những lá cờ đỏ, những dải băng khẩu hiệu, những tán ảnh Bác Hồ đều được nhân dân trân trọng giữ gìn chờ ngày chiến thắng... Cảnh ngày 10 tháng 10 năm 1954, cả Hà Nội tràn ngập cờ hoa đón chào đoàn quân chiến thắng tiến vào năm cửa ô về giải phóng Thủ đô yêu quý, những nụ cười, những giọt nước mắt, những ông bố, bà mẹ, những người vợ thảo hiền dõi mắt tìm trong hàng quân bóng dáng thân thương của con em mình, cảnh bộ đội ta tiếp quản các công sở, dinh thự, người lính Pháp cuối cùng rời khỏi cầu Long Biên...


Tiếp sau đó là bộ phim "Việt Nam trên đường thắng lợi" ghi lại sự kiện ngày 1 tháng 1 năm 1955 Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô. Cả Hà Nội tưng bừng cờ hoa đón mừng vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, những nụ cười rạng rõ trên môi em thơ, những giọt nước mắt trên má người vợ, người mẹ tần tảo sớm khuya nuôi chồng, nuôi con đánh giặc. Bộ phim này đã được trình chiếu rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam và 12 nước xã hội chủ nghĩa.


Sau đó, bác Ái được cử sang Pháp, Vương quốc Anh và Italia làm bộ phim "Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc". Vì có công giúp nước bạn Lào, bác Ái đã được Chính phủ Lào tặng thưởng nhiều huân chương cao quý Chính phủ Việt Nam tặng bác danh hiệu "Nghệ sĩ ưu tú" ngành điện ảnh.


Nghệ sĩ Như Ái làm việc cần cù, thận trọng, nghiêm túc, chính xác. Những bộ phim tài liệu như "Kim Liên quê bác", "Hùng Vương dựng nước", "Thầy trò chúng tôi" gây xúc động manh trong lòng khán giả. Sau này nghệ sĩ Như Ái được điều động sang làm phim khoa học. Những phim bác làm như "Phù sa, nguồn phân bón vô tận", "Đời sống con tằm", "Cá chép lai", "Ong mật với cây trồng", "Chọn giống lúa" được bà con nông dân hoan nghênh và coi như những "cẩm nang" quý giá của nghề nông. Có thể nói, về với nông dân, nghệ sĩ Như Ái là một "lão nông", cầm máy quay, bác là một nhà khoa học "cẩn trọng, chuẩn xác". Nhiều bộ phim khoa học và tài liệu thời sự do bác quay và kiêm đạo diễn được đánh giá cao trong các đợt liên hoan phim, được nhận những lời khen tặng, những giải thưởng cao quý như Bông sen bạc năm 1980, bằng khen và Bông sen bạc năm 1983.


Năm nay, nghệ sĩ Như Ái đã bước sang tuổi 78, đôi chân "Trường chinh vạn dặm" đã yếu, đi lại khó khăn, nhiều lúc bác phải di chuyển bằng xe lăn. Trong dịp hè năm 2000-2001, nghệ sĩ Như Ái có một quyết định mới: hướng dẫn cho các cháu học sinh trong phường và trong tổ dân phố học chụp ảnh bằng chính chiếc máy ảnh của bác. Học trò của bác không nhiều song các cháu đến với bác đều là những cháu yêu thích nhiếp ảnh. Sáng sáng ông cháu có mặt tại hồ Nghĩa Tân, vừa tận hưởng khí trời mát mẻ của buổi sớm mai vừa tập luyện chụp ảnh. Trong số những học trò đáng yêu của bác chắc chắn sẽ có một số "nhiếp ảnh gia" tên tuổi mai sau. Nhà nhiếp ảnh lão thành Như Ái đã có lần tâm sự: "Khi đã bén duyên với nhiếp ảnh thì mê lắm và quả thật để đến được với nghệ thuật cần phải có cái tâm". Việc hướng dẫn những thế hệ kế tiếp tiếp cận với nhiếp ảnh cũng là cái tâm của nghệ sĩ Như Ái.


Đến nay sức khỏe lão nghệ sĩ đã yếu, ông đã nhiều lần phải nằm viện. Các cụ trong Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh vẫn thường xuyên qua lại thăm ông. Các nghệ sĩ đồng nghiệp đã một thời kề vai sát cánh với ông hoàn thành các bộ phim "Chiến thắng Điện Biên" năm 1954 và trận "Điện Biên trên không" tháng 12 năm 1972 vẫn luôn nhớ tới ông, một tán gương sáng trong làng quay phim, nhiếp ảnh.

Đ.P.Q


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:15:18 am
ĐOÀN TÂN BINH RA TRẬN


VŨ ĐÌNH PHẠM


Cuối năm 1953, Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương cử một đoàn cán bộ cấp tốc vào Khu 4 tuyển quân bổ sung cho chiến dịch Điện Biên. Đoàn tôi có các anh Nguyễn Thuận An, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Như Tuân, Trần Trọng Bút v.v... hành quân bộ từ Lạng Sơn vào Thanh Hóa. Đối tượng tuyển quân là thanh niên ba tính Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Đây là vùng tự do, nhân dân đã qua giảm tô, cải cách ruộng đất, đa số thanh niên đã học hết cấp hai hoặc đang học cấp ba phổ thông, sẵn sàng tình nguyện nhập ngũ. Biết chúng tôi từ chiến khu Việt Bắc về, nhân dân rất quý mến và ân tình giúp đỡ. Chúng tôi mỗi người phụ trách một đại đội 200 quân, chuyên lo công tác hậu cần, quân nhu và mọi phương tiện cho cuộc hành quân ra mặt trận.


Tôi được biên chế vào đại đội 425, đội 44 do đồng chí Cẩn làm đại đội trưởng, cán bộ khung là người địa phương, đảm nhận công tác chính trị và tổ chức. Tôi được phân công làm quản trị trưởng đại đội, rất lo vì nhiệm vụ nặng nề, là chủ tài khoản, nắm giữ khoản tài chính rất lớn.


Được nhân dân hướng dẫn, tôi cùng cán bộ địa phương và dân quân đi các nơi, tậu bò, mua lợn, thức ăn khô mang về chế biến. Anh em trong tổ tiếp phẩm và nuôi quân giết bò, mổ lợn, băm hết xương, rang khô cho muối mặn làm món "muối Việt Minh", đóng vào thùng sắt tây giao cho từng trung đội.


Cục Quân nhu trang bị cho các đơn vị quân trang, quân dụng... phát đến từng chiến sĩ. Những phương tiện thông thường đơn vị phải tự túc theo kinh nghiệm ở Việt Bắc, các tiểu đội làm mũ nan, đan sọt, ống đựng nước, máng đựng thức ăn... Các tổ văn nghệ đục gỗ, căng dây thép làm đàn, dùng ống nứa khoét sáo, dùng vỏ dừa làm hồ, nhị... Không khí tấp nập, nhộn nhip như một công trường. Những bài ca, điệu hò, tiếng cười rộn rã âm vang cả khu rừng. Chúng tôi được vui Tết cùng nhân dân địa phương, vật chất tuy đơn sơ nhưng tình nghĩa quân, dân thật đậm đà sâu sắc. Đồng bào đến thăm hỏi, chúc xuân từng đơn vị, từng chiến sĩ, chăm sóc như những người thân trong nhà, các bạn trẻ địa phương đến cùng vui văn nghệ, nhảy "son mì", hát bài "Yêu hòa bình tổ quốc chúng ta..." "hò lơ, hò lờ"...


Mặc dù có sự khác nhau buổi đầu về tiếng nói, về phong tục, tập quán. Song sự đồng nhất về lòng yêu nước, yêu đồng bào, đồng chí nhanh chóng hòa nhập mọi người. Cách mạng thực sự là ngày hội của quần chúng, ngày hội ra quân.


Biết chúng tôi sắp lên đường hành quân lên Điện Biên, cán bộ và nhân dân rất thương nhớ, tiễn chân và cho chúng tôi nhiều thứ: cá, mắm, tương, võng đay... Các bạn trẻ tặng khăn mặt, sổ tay, lọ dầu xoa...


Trung tuần tháng 2 năm 1954, các đại đội lên đường ra trận. Các chiến sĩ với tư trang gọn nhẹ: mỗi người khoác một bao gạo và mang 25 kilôgam "hàng". Tốc độ hành quân trung bình là 7 kilômét/giờ.

Hành quân ban ngày chúng tôi không theo đường mòn để tránh sự phát hiện của máy bay địch. Theo dân quân dẫn đường, đội tiền trạm đi trước phát cây, mở lối cho các đơn vị sau. vất vả nhất vẫn là tiểu đội nuôi quân mang lỉnh kỉnh xoong, chảo, cuốc, xẻng để đào bếp "Hoàng Cầm".


Đến đất Sơn La, thời tiết giá lạnh, rét buốt thâu đêm, ban ngày khoảng 10 giờ sáng mới tan sương, nhìn rõ mặt người. Đã có chiến sĩ bị sốt rét nặng, rụng tóc. Việc phòng chữa bệnh gặp nhiều khó khăn, một số ít chiến sĩ không đủ sức tiếp tục hành quân, đơn vị cử cán bộ đưa anh em về địa phương. Tuy vậy, nhờ sự giúp đỡ của dân bản, sự chăm lo của các cấp chỉ huy về mọi mặt: ăn, ở, phòng bệnh..., các đơn vị vẫn giữ được khí thế, bảo đảm tốc độ hành quân.


Càng gần tới đích, càng nhận được nhiều tin chiến thắng từ mặt trận báo về, càng thôi thúc bước chân thần tốc.

Đơn vị phát động đợt thi đua "nước rút" đẩy nhanh tốc độ hành quân, đảm bảo an toàn quân số. Đất Sơn La đúng là nơi rừng thiêng, nước độc, địa hình hiểm trở, nhiều lũng sâu, núi đá "tai mèo", những khu rừng già, lớp lớp lá khô chứa nhiều muỗi, vắt, có cả hổ, báo. Đã có lần chúng tôi vấp phải xương người bị hổ ăn thịt vương vãi ở bìa rừng, khe suối... Đơn vị quy định khi nghỉ đêm, từng tiểu đội, từng "tổ tam tam" phải nghiêm chỉnh canh gác kịp thời phát hiện bọn phỉ và thú dữ đến quậy phá, bảo đảm an toàn tuyệt đối của đơn vị.


Đến ngã ba Tuần Giáo, các đơn vị dừng lại tổ chức các trung, tiểu đội thành những đơn vị chiến đấu sẵn sàng bổ sung quân cho các binh chủng khác nhau.

Các cán bộ khung từ mặt trận về nhận quân, mừng vui khôn xiết. Các anh gặp từng chiến sĩ, kể nhiều chuyện đánh nhau với địch ở phía trước. Các chiến sĩ trẻ hồ hởi ôm lấy cán bộ: "Các anh đi! Chúng em được trực tiếp chiến đấu ngay chứ?". Tất cả cùng hô vang "Quyết chiến, quyết thắng!".

Tổ thông tin nhanh chóng vẽ khẩu hiệu và cất tiếng hò:

Hành trang mang nặng lời thề,
Không thắng giặc Pháp, không về quê hương.
Mau lên xốc tới Điện Biên!


V.Đ.P


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:16:14 am
MỘT GIA ĐÌNH CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN


PHẠM KIM NGUYÊN


Khi được biết, ở thôn Mỹ Cụ, xã Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ (Thái Bình) có hai vợ chồng cựu chiến binh Nguyễn Đình Pho, đều là chiến sĩ Điện Biên, chúng tôi đến ngay gia đình xin gặp hai ông bà. Thấy chúng tôi cũng là "Bộ đội Cụ Hồ", hai bác đều chuyện trò rất cởi mở. Mở đầu câu chuyện, chúng tôi hỏi: "Hai bác làm bạn với nhau vào thời điểm nào của chiến dịch Điện Biên? Bác Pho cười và kể: Quê tôi ở Thái Bình, còn quê bà ấy ở tận huyện Hạ Hòa, Phú Thọ. Khi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, cả hai chúng tôi đều ở tuổi 18. Suốt thời gian của chiến dịch, hai người đều có mặt phục vụ chiến đấu nhưng chưa gặp nhau. Mãi đến năm 1958, khi trở lại Điện Biên lần thứ hai, cùng về công tác ở Đội điều trị 2 (ĐĐT2) tại Sơn La, chúng tôi mới quen nhau, yêu nhau và đến năm 1959 thành vợ, thành chồng". Hai chiến sĩ Điện Biên thành một gia đình "lính Điện Biên", câu chuyện thật là hấp dẫn.


Năm 1952, anh thanh niên 17 tuổi Nguyễn Đình Pho nhập ngũ vào Đoàn 77 thuộc Bộ Quốc phòng. Ngày đó, Đoàn 77 có nhiệm vụ quản giữ tù binh Pháp. Có lần, một tù binh xì xồ một tràng dài. Đại đội trưởng không biết tiếng Pháp nên chẳng hiểu nó nói gì. Đứng bên cạnh, chiến sĩ mới Nguyễn Đình Pho nói với đại đội trưởng: ‘Thằng Tây nó xin đi ngoài đấy, anh ạ!". Đại đội trưởng ngạc nhiên hỏi Pho: "Sao cậu biết?". Pho trả lời: "Hồi ở nhà em đã qua lớp Thành chung 2 có được học tiếng Pháp". Thế là ngay sau đó, Nguyễn Đình Pho được điều về Cục binh vận học thêm, và tháng 8 năm 1953 thì được điều đi làm phiên dịch ở mặt trận Điện Biên Phủ. Suốt thời gian chiến dịch, từ Mường Pồn, Hát Lót đến Rừng Sác, cứ ở đâu có tù binh Pháp thì anh có mặt. Có thời gian suốt 3 tháng ròng rã, tù binh Pháp quá nhiều, anh em phiên dịch phải làm việc liên tục ngày đêm. Được tiếp xúc với những cán bộ như Pho, những tù binh vốn bị bắt ép đi lính, hiểu rõ về chính nghĩa, chính sách nhân đạo của chính phủ Việt Nam tỏ ý vui mừng vì do bị bắt, họ đã thoát khỏi cuộc chiến tranh phi nghĩa do quân Pháp gây ra. Có tù binh, khi nhận được quà của gia đình từ bên Pháp gửi sang, đã đem thuốc lá, cà phê biếu đơn vị. Chiến dịch Điện Biên kết thúc. Biết Pho trước đây từng làm y tá, cấp trên đã chuyển anh về Đội điều trị 2. Ở đây, anh gặp cô cứu thương trẻ Bùi Thị Xuân đã từng phục vụ chiến dịch Điện Biên. Sau này cô y tá Xuân đã trở thành bạn đời của anh.


Năm 1958 Nguyễn Đình Pho được cử đi học trung cấp quân y, trường do bác sĩ Lê Thế Trung làm hiệu trưởng. Năm 1961 ra trường, anh về làm giáo viên ở trường y tá tại Thuận Châu. Năm 1966 anh chuyển ngành, với quân hàm chuẩn uý và được cử đi học ở trường Đại học y Thái Bình. Tốt nghiệp, bác sĩ Nguyễn Đình Pho về công tác ở bệnh viện huyện nhà, năm 1975 tham gia tiếp quản Sài Gòn, rồi về làm trưởng phòng y tế huyện Hòn Đất (Kiên Giang). Năm 1984, bác sĩ Nguyễn Đình Pho nghỉ hưu ở quê, xã Quỳnh Hồng (Thái Bình) còn bác gái Bùi Thị Xuân, hoàn cảnh trở thành chiến sĩ Điện Biên cũng tương tự như của chồng - bác Nguyễn Đình Pho. Năm 1951, cô gái trẻ Bùi Thị Xuân, quê Hạ Hòa, Phú Thọ xung phong đi dân công tải đạn, phục vụ chiến dịch Hoàng Hoa Thám. Gần 2 năm sau, qua một lớp cứu thương cấp tốc, tháng 3 năm 1953, cô cứu thương trẻ cùng đơn vị đi phục vụ chiến dịch Điện Biên. Bùi Thị Xuân cùng với đồng đội phục vụ thương binh từ mặt trận chuyển về. Suốt ngày, anh chị em bận rộn với việc lau rửa, băng bó vết thương, bảo đảm cơm nước, thuốc men, giặt giũ cho thương binh. Có thời gian, hàng tháng trời, mỗi ngày hàng chục lần chị em bế, cõng thương binh đi, vượt quả đồi cao năm chục mét, hàng trăm mét tới suối để tắm rửa cho anh em. Hàng ngày, chị em gánh nặng tới năm, sáu chục cân gồm cơm nước, đồ dùng lên xuống quả đồi để phục vụ việc ăn uống cho thương binh. Có những thương binh nặng, vì quá đau đớn, lúc mê man, đã quát mắng, làm chị Xuân phát khóc. Nhưng nghĩ đến bệnh tình của đồng đội và trách nhiệm của mình, chị lại tự động viên mình vượt qua khó khăn, vui vẻ làm nhiệm vụ.


Sau chiến dịch hai đợt liền, Bùi Thị Xuân cùng anh chị em cứu thương tham gia cuộc hành quân bằng cáng đưa thương binh nặng, từ mặt trận về tận Yên Bái chữa trị. Tiếp theo, chị được phục vụ đoàn bộ đội tiếp quản Thù đô. Rồi cùng Đội điều trị 9 về công tác ở trại tù binh Pháp ở Tuyên Quang, đi phục vụ cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ở Quảng Ninh, Thanh Hóa rồi về công tác ở ĐĐT2 ở Sơn La. Năm 1958 chị đi học lớp y tá ở Thuận Châu; ở đây chị đã quen Nguyễn Đình Pho và năm 1959 xây dựng gia đình với anh. Năm 1960 chị Xuân chuyển ngành với quân hàm chuẩn uý, về công tác ở khoa dưỡng nhi bệnh viện C Hà Nội. Năm 1968, chị chuyển về bệnh viện đa khoa Thái Bình; rồi về công tác ở bệnh viện quê chồng.


Là những chiến sĩ có mặt từ đầu đến cuối chiến dịch Điện Biên đóng góp một phần công sức cho thắng lợi, hai bác Nguyễn Đình Pho và Bùi Thị Xuân được Cục Quân y tặng bằng khen. Những năm tháng sau này, ưong điều kiện còn nhiều khó khăn, ở bất cứ nơi nào, hai vợ chồng bác Pho - Xuân đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Hai bác nuôi dạy 6 người con khôn lớn, trưởng thành. Anh con trai đầu Nguyễn Mạnh Hùng, hiện là thượng tá, chính ủy Lữ đoàn 141, Sư đoàn 312. Các anh chị khác đều đã yên bề gia thất, có công ăn, việc làm.


Chia tay với vợ chồng bác Pho - Xuân, chúng tôi ngắm lại hai người đồng đội đã ở tuổi 70, lòng dạt dào những cảm xúc trìu mến. Cuộc sống của hai bác thật đẹp. Cách đây 50 năm, họ là những người lính trẻ có mặt trong chiến dịch lịch sử Điện Biên, cống hiến tuổi thanh xuân cho cách mạng và kháng chiến. Hôm nay, hai cựu chiến sĩ Điện Biên, đang sống giản dị án cúng trong một gia đình ngập tràn hạnh phúc.

P.K.N


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:18:23 am
NGƯỜI CẤT LÊN LỜI HÔ BẤT HỦ "BÁM THẮT LƯNG MỸ MÀ ĐÁNH!"


NGUYỄN QUỐC HOÀN


Năm 1947, anh thanh niên mười bảy tuổi Lê Xuân Phôi với chiếc quần đùi, tấm áo nâu vải mộc nhuộm bùn và bàn chân đất từ thôn Đa Giá, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình vượt qua bao đồn bốt giặc ra vùng tự do, tình nguyện vào bộ đội chiến đấu.


Từ một chiến sĩ liên lạc, anh trưởng thành khá nhanh trên các cương vị chỉ huy, được cấp trên tin tưởng, cấp dưới quý mến. Anh tham gia các chiến dịch lớn như: Trung Du, đồng bằng Bắc Bộ, Thượng Lào và Điện Biên Phủ. Trong trận tập kích cụm quân địch ở Bản Ban, tỉnh Xiêng Khoảng (chiến dịch Thượng Lào tháng 5 năm 1953) là trung đội trưởng xung kích, anh xông xáo dẫn đầu đơn vị dũng mãnh thọc sâu, chia cắt đội hình địch, diệt hàng chục tên, làm chủ trận địa, thu nhiều vũ khí, được nêu gương cho toàn mặt trận học tập.


Trận đánh địch ở Bản Bông phối hợp với chiến dịch Điện Biên, là trung đội trưởng đại liên, hỏa lực chính đi cùng đội hình xung kích, anh mưu trí chỉ huy đơn vị chi viện có hiệu quả cho bộ binh đánh chiếm mục tiêu. Trận đánh diễn ra rất quyết liệt. Địch ỷ vào công sự hệ thống hầm hào vững chắc và các loại vũ khí mạnh chống trả điên cuồng. Giữa lúc trận đánh đang diễn ra rất gay go, đồng chí chỉ huy đơn vị bộ binh bạn và nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh, Lê Xuân Phôi đã mạnh dạn, kịp thời lên thay thế, trực tiếp chỉ huy cả hai đơn vị chiến đấu, đánh lui và chặn đứng nhiều đợt phản kích của đối phương, diệt gần 100 tên địch, giữ vững trận địa.


Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng. Trong đoàn quân chiến thắng trở về có anh cán bộ trẻ Lê Xuân Phôi. Anh cùng đơn vị say sưa rèn luyện về mọi mặt, sẵn sàng vào cuộc chiến đấu mới chống giặc Mỹ xâm lược.


Tháng 3 năm 1965, Tiểu đoàn 8 do anh chỉ huy hối hả lên đường ra mặt trận. Tháng 10 năm 1965, đơn vị anh có mặt trên địa bàn Tây Nguyên vào thời điểm Mỹ trực tiếp đưa những quân chủ lực lên chiếm đóng, lập căn cứ và mở chiến dịch "Tìm diệt đối phương".


Trên địa bàn Tây Nguyên, Mỹ đã có tới 3 sư đoàn: Sư đoàn không vận số 1, Sư đoàn 25 tía chớp nhiệt đới và Sư đoàn bộ binh số 4, chưa kể các sư đoàn của ngụy trực tiếp tham chiến. Chúng mở chiến dịch Plây Me kéo dài hai tháng.


Tại thung lũng la Đrăng, quân ta chủ động đánh địch liên tục, tiêu hao và tiêu diệt nhiều đơn vị tinh nhuệ của Mỹ - ngụy.

Tiểu đoàn 7 và tiểu đoàn 9, Trung đoàn 65 của ta chiến đấu ngoan cường diệt gọn 2 đại đội Mỹ. Nhưng cả hai đơn vị đều bị hao tổn đáng kể. Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh điều động gấp tiểu đoàn 8 bộ binh do đại uý tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi chỉ huy, từ miền Bắc vào trực tiếp tham gia chiến đấu. Mặc dầu lúc này đơn vị đang cách nơi diễn ra chiến sự vài chục kilômét, lập tức cắt rừng hành quân cấp tốc tới đích. Tất cả cho chiến thắng giặc Mỹ xâm lược! Suốt đêm, cả đơn vị không ai chợp mắt và đến trưa hôm sau 17 tháng 10 năm 1965, tiểu đoàn 8 như một tuấn mã phi nước đại đã tới thung lũng la Đrăng. Lúc này, từ cán bộ đến chiến sĩ mệt rã rời, bởi cường độ cơ động quá cao. Nhưng khi thấy quân Mỹ lố nhố như những cái bia thịt lồ lộ, Lê Xuân Phôi nói với anh em: "Thời cơ diệt Mỹ đã tới, phải cố lên, chớp lấy ngay đừng bỏ lỡ!". Anh nhanh chóng triển khai bộ đội chiến đấu, luôn có mặt những nơi gay cấn nhất của trận đánh. Vượt lên đầu đội hình, anh hô lớn: "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh!". Khẩu lệnh ấy đã nhanh chóng truyền đi khắp toàn đơn vị như một luồng sức mạnh kỳ lạ, cổ vũ toàn tiểu đoàn xông tới.


Trận đánh kéo dài 8 giờ. Tiểu đoàn 8 của Lê Xuân Phôi diệt gọn đại đội hành quân của Lữ đoàn 3 và toàn bộ lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 1, thuộc sư đoàn "kỵ binh không vận số 1" của Mỹ, loại khỏi vòng chiến đấu trên 400 tên. Lê Xuân Phôi đã tỏ rõ bản lĩnh của một chỉ huy kiên cường, linh hoạt và thông minh cùng đồng đội giết giặc lập công. Gần kết thúc trận đánh, anh bị thương nặng, nhưng không cho ai biết, tự tay xé dù ngụy trang băng vết thương, tiếp tục chỉ huy chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Toàn đơn vị không nén nổi sự xúc động và căm thù đã nhằm thẳng quân thù mà xông lên như vũ bão.


Trận đánh quyết định này đã buộc quân Mỹ phải tháo chạy khỏi thung lũng Ia Đrăng. Đây là lần đầu tiên uy danh đội quân xâm lược Mỹ bị đánh sập, lần đầu tiên chúng phải rút lui chiến dịch ở chiến trường Việt Nam. "Bám thắt lưng Mỹ mà đánh" khẩu lệnh của tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi đã lan nhanh trên toàn chiến trường đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta.


Đánh giá công lao và tầm vóc chiến công của Lê Xuân Phôi, ngày 3 tháng 8 năm 1996, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Đức Anh ký quyết định truy tặng Lê Xuân Phôi danh hiệu cao quý "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".


Tháng 10 năm 1994, gần 20 năm sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, có dịp gặp Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, chúng tôi hỏi:

- Thưa Thượng tướng, nguyên là Chính ủy Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đồng chí đánh giá như thế nào về lời hô của đại úy, tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi: "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh"?

Ông vui vẻ trả lời:

- Lời hô ấy của tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Nó được thể hiện ngay bằng hành động là tiểu đoàn 8 do anh chỉ huy đã "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh", dũng cảm tiếp cận và tiêu diệt địch. Lời hô ấy của Lê Xuân Phôi đã kịp thời phổ biến rộng rãi trên cả nước, trở thành hành động chiến đấu trên toàn chiến trường đánh Mỹ và diệt Mỹ.


Lời hô ấy của liệt sĩ Lê Xuân Phôi có ý nghĩa hết sức to lớn. Có thể ví với lời anh hùng, liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi trên pháp trường trước họng súng quân thù: "Còn bọn cướp nước và lũ tay sai bán nước thì không ai có tự do và hạnh phúc" hoặc lời hô của anh hùng liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"... Những lời hô ấy có sức cổ vũ quân và dân cả nước, đặc biệt là lớp trẻ hăng hái xông lên, bất chấp gian khổ, hy sinh làm tròn sứ mệnh lịch sử giao phó.


Khi tôi viết bài này, anh hùng liệt sĩ Lê Xuân Phôi đã ngã xuống 38 năm giữa đất trời Tây Nguyên mênh mông. Đất nước đã gần 30 năm hoàn toàn giải phóng đang tiến tới kỷ niệm 50 năm (7-5-1954 - 7-5-2004) ngày giải phóng Điện Biên và 60 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2004) mà bên tai như văng vẳng lời hô hào hùng của anh "Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh!".

N.Q.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 06 Tháng Giêng, 2022, 09:19:29 am
QUẢN LÝ TÙ BINH Ở ĐIỆN BIÊN


PHẠM NHƠN


Dừng chân ăn Tết với nhân dân Mường Ảng được ít lâu, đơn vị tôi hành quân lên phía trưđc. Sau những đêm leo đèo lội suối luồn rừng đi trắng đêm, chúng tôi đến vị trí tập kết.

Vị trí này gần địch, từ các đỉnh cao có thể nhìn thấy sân bay Mường Thanh, phải hết sức giữ bí mật. Phải đào công sự đứng bắn, tổ ba người phải có hầm nghỉ ngơi, khu vực trú quân phải thay lá ngụy trang hàng ngày. Đại đội trưởng đưa cho tôi mấy tờ báo Quân đội nhân dân in tại mặt trận dặn, xem xong nhớ chuyển sang trung đội khác.


Một lần, tôi được đọc trên một tờ báo bài thơ của người em gái ở địch hậu gửi cho anh trai ở mặt trận, đến nay tôi còn nhớ mấy câu:

   "Em viết thư cho anh
   Trong làng còn lửa đỏ
   Tay viết lòng còn nhớ
   Thầy giáo bị giặc giết
   Tiếng súng bờ sông khuya
   Tưởng chừng như xé ruột".


Tôi cầm một tờ báo khác xem, thấy một bức tranh châm biếm vẽ lũ lính Tây râu ria xồm xoàm mỗi thằng một góc hầm trật đít ngồi lên vỏ đồ hộp trông vừa thảm hại vừa buồn cười. Bên cạnh bức tranh là bài thơ:

   Bọn lính Tây ở Điện Biên Phủ
   Bị ta vây ăn ngủ không yên.
   Tám giờ tối đã tắt đèn
   Lăm lăm súng đạn ở bên cạnh người.
   Động một tiếng lá rơi sột soạt,
   Là bắn liền hàng loạt liên thanh.
   Một đêm gió mát trăng thanh,
   Khắp miền đồng ruộng hiền lành như không.
   Có thằng đội dáng chừng thổ tả,
   Bụng trương phình nhăn nhó kêu la,
   Rón chân mở cửa chui ra,
   Tim nơi tháo cống cho qua cơn buồn.
   Bọn quan lính luồn trong lô cốt,
   Thấy bóng người hoảng hốt bắn liền
   Đì đùng xối xả rồi ỉm.
   Lũ Tây lại ngủ lại chìm trong mê.
   Sáng bừng mắt dậy ô kìa!
   Thằng đội chết cứng bết bê cứt vàng!
   Cả lô cốt phát tang chôn cất
   Cúng vòng hoa chu tất nọ kia
   Phân công thằng lấp hố xia
   Thằng đi đào huyệt xây bia dựng mồ
   ...



Đọc đi đọc lại bài thơ mấy lần, toan cất báo đi ngủ thì trung đội trưởng bảo mai đi quan sát địa hình xung quanh, trèo lên đỉnh cao xem "Trần Đình" cho rõ mày ngang mũi dọc. Sáng hôm sau, bố trí công việc cho các tiểu đội xong, hai anh em lên đỉnh đồi, chọn một cây cao nhất, trèo lên tận ngọn. Mây mù tan, nhìn xuống sân bay chúng tôi thấy mấy chiếc máy bay "Hen cát", "bà già" lên xuống, chao lượn hối hả, những chiếc xe tăng, cái thì có hầm và ngụy trang, cái còn nằm trơ trên mặt đất. Bọn lính đứa đào hầm, đứa đi lại lô nhô. Tôi nói với trung đội trưởng: "Mình đánh chắc, tiến chắc như thế này chỉ sợ địch rút chạy như Nà Sản thì tốn công mà lại bực mình". Trung đội trưởng bảo tôi: "Cậu đừng lo, ở đây ta đã bao vây chặt cả dưới đất và trên ười. Tướng Na Va chỉ còn một đường là đào hố chui xuống đất!".


Thế rồi việc mong ngày mong đêm đã đến. Ta tiêu diệt cứ điểm Him Lam và đồi Độc Lập. Lính Lê dương và Âu Phi thất trận bị giải ra nằm ngổn ngang dưới tán rừng, mặt mũi đứa nào đứa nấy chưa hết bàng hoàng khiếp sợ. Cấp trên lệnh cho đại đội cử hai trung đội giải tù binh về xuôi. Trung đội tôi thì làm nhiệm vụ quản lý, khai thác bọn tù binh còn lại. Trước mắt chúng tôi tuy giờ là một lũ tù binh thất trận, hỗn tạp và ươn hèn. Công việc bây giờ là quản lý tù binh, vừa trông coi tù binh vừa học tiếng, học lẫn nhau. Tiếng Pháp có những từ cuối cùng là vần "ê" như "a lề, măng giê, ca bi nê, pờ ri gion ni ê". Một vài anh em hay lẫn lộn giữa "ăn" và "ỉa", giữa "đi" và "ngồi", đôi khi làm anh em ta và cả đến tù binh cũng phải phì cười. Vì số quân của chúng tôi ít, tù binh thì quá đông nên chúng tôi quản lý không xuể, có lần để tù binh ăn cắp gà, lợn của dân hoặc trêu ghẹo phụ nữ. Những hình thức phạt như cắt phần cơm, hành quân đeo giầy lên cổ cũng làm chúng sợ và bớt liều lĩnh.


Thế rồi chiến dịch Điện Biên toàn thắng, trung đội tôi ở lại ngã ba Tuần Giáo quản lý số tù binh chưa trả ở Mường Thanh, cấp trên thông cảm với chúng tôi những người ở lại với núi rừng, ưu tiên cho chúng tôi từ đồ hộp, cát cút, bánh lương khô đến cái thắt lưng, đôi giầy, khẩu súng và hẹn sẽ cho người và phương tiện lên đón chúng tôi về xuôi. Nửa vui vì những chiến thắng dồn dập, nửa buồn vì còn phải xa đồng bằng, xa làng quê, dòng sông, cây đa, giếng nước, con đò. Cái buồn rồi cũng qua mau. Chúng tôi làm lán trại, biên chế tù binh thành từng tổ, cho học chính sách, hướng dẫn chúng lao động để cải thiện đời sống hàng ngày. Mọi việc ổn định, quen dần, chúng tôi dạy cho tù binh đi hái phơi sa-nhân để bán cho mậu dịch, đi bắt cua đồng về ăn hoặc làm mắm, tăng chất đạm chống phù nề và kiết lỵ cho tù binh Âu Phi.


Tháng 8 năm 1954 cấp trên cho ô tô lên đón chúng tôi về thị xã Tuyên Quang. Đợt trao trả tù binh Điện Biên cuối cùng thực hiện ở thị xã Tuyên Quang. Mấy hôm ấy đẹp trời. Những chiếc máy bay lên thẳng chở tù binh bay thấp một vòng. Bọn tù binh vẫy tay chào từ biệt. Nhiệm vụ công tác cuối cùng của chúng tôi trong chiến dịch Điện Biên đến lúc ấy đã hoàn thành tốt đẹp.


Chúng tôi cùng với nhân dân thị xã Tuyên Quang hân hoan đón mừng ngày Quốc Khánh hòa bình, sau chín năm kháng chiến chống Pháp.

P.N


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:28:00 am
ĐỘI ĐIỀU TRỊ HỎA TUYẾN TRÊN MẶT TRẬN LÀO


TRẦN BÍCH THỌ


Năm 1951 tôi vừa tròn 19 tuổi, là một chiến sĩ trong Ban Quân y thuộc Trung đoàn 18 Sư đoàn 325 Quân khu 4 Bình Trị Thiên. Đội điều trị chúng tôi được giao nhiệm vụ đi phục vụ mặt trận Trung Hạ Lào. Chuyển tải, cứu chữa thương binh ở các bản Na Vang, Na Hảo và xây dựng cơ sở quân y trên đất bạn Lào.


Đội điều trị "hỏa tuyến" của chúng tôi là một đội cơ động độc lập tác chiến. Bộ đội đánh đâu chúng tôi có mặt ở đấy từ mở màn trận đánh cho đến khi kết thúc. Cả đội có 12 người, hy sinh 3 người, còn lại 9 người: 2 y sĩ, 4 y tá, 2 hộ lý, 1 dược tá, có dân công phụ giúp vừa sơ cứu vừa chuyển tải thương binh vượt rào về các trạm trung chuyển ở hậu cứ.


Ngoài ra, chúng tôi còn phải chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho thương binh. Có khi vừa hành quân tới chỗ mới, dựng xong lán, chưa kịp làm gì đã bị bom napan thả xuống cháy trụi, anh chị em lại hì hục dựng lại lán khác. Chúng tôi tiếp nhận điều trị cả cho các đội viên thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Bọn trẻ chúng tôi đều vô tư nghịch ngợm không sợ gì mưa bom bão đạn, được ngơi tay là có thể cười đùa ca hát. Có khi một đoàn cấp trên nào đó đến kiểm fra, cũng chẳng cần biết cấp tên đó là ai.


Cơm vắt lội rừng, ba lô trên vai, xẻng chiến bên hông, dừng chân là đào hầm trú ẩn, chặt lá làm lán cho thương binh. Có khi đang hành quân, mưa rừng rùng rùng trút xuống. Cáng thương binh trên vai lên đèo xuống dốc vẫn hát, vẫn cười, sẵn sàng phục vụ thương binh chu đáo nhất. Qua rừng bạt ngàn, hẻm đá tai mèo, suối sâu dốc thẳm vẫn đảm bảo hành quân tôi đích an toàn. Trên đất bạn, nắng rừng như nung, đến cỏ dại cũng khô ròn, nhiều khi thèm một ngọn rau phải nuốt nước bọt cố quên. Thức ăn chủ yếu là lương khô, cơm nắm, muối vừng, mắm mặn; mắm kem để dành cho thương binh. Bắn được con thú rừng thì đó là niềm hạnh phúc. Những bi đông nước mang theo có khi mình phải nhịn để nhường cho thương binh, vất vả, gian khó là vậy cho nên khi có lệnh nghỉ thì bất cứ hốc đá gác cây, khe nước, chỗ nào chúng tôi cũng có thể treo võng, lót lá rừng hoặc trải ni lông xuống mà ngủ được ngay thật ngon lành. Nhiều đêm thức trắng với thương binh nặng, sáng ra lại đi vác gạo, chuẩn bị lương thực thực phẩm cho đội và dự trữ nuôi thương binh. Mặt trận ngày càng mở rộng, Trung đoàn 101 đánh Khămhe Phummalat nồi tiến vào thị xã Thà Khẹt. Vào Thà Khẹt, đội điều trị chúng tôi tiếp nhận một số thương binh nặng trong đó có hai lính ngụy Lào là Taopờn trung sĩ lái xe và Xipamần đại uý tác chiến. Khi chúng tôi rửa vết thương băng bó cho chúng, chúng khóc như cha chết xin đừng giết. Chúng tôi giải thích: "Bộ đội Việt Nam đến Lào để giúp nhân dân Lào đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh ngụy, giải phóng Lào để Lào được độc lập".


Ít hôm sau chúng tôi tiến theo đại đoàn tiếp tục cáng tải thương binh vượt sông Xêbăngphay và Xêbănghiêng xuống Hạ Lào rồi chuyển thương binh nặng về nước cho đến khi kết thúc chiến dịch.

24 năm sau, năm 1978 tôi có việc vào bệnh viện Việt Nam - Cuba tình cờ gặp lại anh Taopờn (lính ngụy Lào năm xưa). Anh ta nhận ra tôi ngay. Qua chuyện trò anh ta cho biết chính nữ y tá Dung đã chuyển anh về Việt Nam. Dung và Taopờn đã xây dựng hạnh phúc với nhau được ba người con hiện đang là cán bộ công nhân viên ở Xí nghiệp ô tô 1-5 tại Hà Nội. Thật bất ngờ và thú vị.


Từ bấy cho đến nay đã 50 năm rồi, hồi trước tôi vừa tròn 19 tuổi, nay đã ngoài 70. Ngồi nhớ lại biết bao kỷ niệm của một thời tuổi trẻ gian khổ nhưng thật đẹp, thật đáng tự hào.

T.B.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:29:38 am
ĐỌC THƯ NHÀ TRONG CHIẾN HÀO


PHAN VĂN TỶ


Hôm đó là ngày 4 tháng 4 nam 1954. Trong giao thông hào trục ở trận địa Hồng Cúm, tôi nhận được thư người bạn gái từ Hà Tĩnh gửi ra. Tiểu đội trưởng Hà Xuân Vượng chạy đến chỗ tôi:

- Tỷ, có thư!

Tôi cuống quýt lên:

- Đâu? Đâu? Thư đâu?

Từ bàn tay còn lấm bùn đất, anh Vượng đưa thư cho tôi. Trời tối om. Anh em trong tổ - Tĩnh và Ái - dừng cuốc chui vào hầm ếch bật lửa soi. Tôi thốt lên:

- Thư của Nụ rồi!

Nụ là một cô gái mới tuổi 16, có đôi mắt to, đen, bộ ngực nở nang nhú lên trong chiếc áo cánh nâu non, cặp vai tròn, mái tóc dài xõa đến thắt lưng. Nụ là một cô gái quê xinh đẹp. Lúc tôi đi bộ đội, Nụ ra tiễn chân với đôi mắt trìu mến, long lanh tràn đầy hứa hẹn. Tuy Nụ không nói một lời nào nhưng thay cho lời nói là một chiếc khăn vải trắng, mỏng, to bằng hai bàn tay có thêu một trái tim bằng chi đỏ, vật kỷ niệm mà tôi lưu giữ trong suốt thời gian chiến dịch. Nhận được thư từ phương xa gửi đến, tôi trân trọng đến mức không dám xé phong bì mà cứ lần theo vết dán để bóc ra. Thư của riêng tôi nhưng cả tổ đòi được nghe.


Thư viết: "Từ đất Nghi Xuân, em viết thư thăm anh..." - Lửa phụt tắt vì đạn pháo địch câu đến. Tiếng nổ ùng oàng. Anh em trong tổ lại bật lửa châm vào đóm để tôi dò đọc:   "... Mong anh được mạnh giỏi, chắc tay súng, bắn chết nhiều Tây...". Đóm tàn, lại bật lửa: "... ở quê ta cha mẹ bên anh và bên em vẫn bình thường. Một ngày chạy xuống hầm không biết mấy lần mà kể. Tây thả bom nhiều lắm"... Pháo địch bắn rung cả hầm, đất cát rơi xuống làm tắt hết đóm. Lại bật lửa để dò đọc. "... Tuy vậy, hết tiếng bom, dân làng lại ra đồng thu hoạch khoai, lạc. Khoai, lạc năm nay nhiều củ lắm. Được mùa mà! Tha hồ ăn. Em làm khoai gieo (khoai lang lược cắt nhỏ phơi khô) để gửi cho anh đó...". Chợt anh Hà Xuân Vượng đi qua, nói:

- Tranh thủ đào đi không trời sắp sáng rồi đấy!

Tôi gấp thư cẩn thận bỏ vào túi áo ngực và cùng anh em tiếp tục đào hào. Lá thư sao mà ấm vậy, nó như tiếp sức mạnh cho tôi và cả tổ của tôi. Chỉ có vài tiếng đồng hồ mà tổ tôi đào được 3 thước hào. Trời mờ sáng thì chúng tôi đã ngụy trang xong. Nói đến ngụy trang cũng gay go lắm. Phải đi đào cỏ, chặt cành lá che kín phần đất mới đào lên. Đất Điện Biên là đất màu vàng, địch dễ phát hiện. Sáng rõ mặt người, toàn tổ lại chui vào hầm ếch. Anh nuôi lần mò phát cho mỗi người một nắm cơm xôi và một miếng cá khô nướng. Chúng tôi lau tay vào khăn âm ẩm sương rồi ăn hết suất cơm một cách ngon lành. Rồi lại giở thư ra đọc tiếp. Lúc này có ánh sáng mặt trời nên đọc thông hơn. "... Anh ơi! Ở quê ta trên trời thì Tây thả bom xuống, dưới biển chúng lại bắn pháo lên. Tuy vậy cả làng vẫn cày cấy, thu hoạch bình thường. Không biết ở ngoài đó có mưa không chứ ở quê đã mưa dông rồi. Em chỉ nghe tin truyền mồm là anh đang đánh trận ở Điện Biên Phủ. Tây đông và mạnh lắm, cả một tập đoàn cứ điểm cơ mà. Không biết ta có đánh được không? Ở làng người ta huy động dân công đi Điện Biên hết đợt này đến đợt khác chẳng biết anh có gặp được ai không?...". Đọc đến đây cả tổ sững sờ. Anh Tình buột miệng:

- Sao mình không gặp ai cả?

- Họ ở sau, ta gặp sao được! - Ái trả lời vậy rồi lẩm bẩm:

- Lá thư này vượt 900 cây số mới đến tay Tỷ đó. Ở hậu phương họ lo cho ta nhiều quá!

Lòng tôi bỗng rộn lên nỗi nhớ. Nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ anh, nhớ em, nhớ bạn bè và đặc biệt là nhớ Nụ. Nụ nhuần nhị, hay cười tủm. Cứ cười là không giấu đâu được hai lúm đồng tiền hai bên má. Tôi mới được một lần cầm bàn tay nhỏ nhắn của Nụ. Chỉ một chốc thôi thì Nụ đã nhìn tôi tần ngần, rút vội tay ra rồi nhìn trước, nhìn sau...


Ôi ! Cứ hình dung đến vẻ mặt thèn thẹn của Nụ thì lòng tôi lại chộn rộn lên, rạo rực. Nhớ đến da diết. Nhớ đến lòng man mác khôn nguôi!

- Còn nữa không? Đọc đi chứ! - Tĩnh nhắc.

"... Em ở nhà cứ mường tượng anh nằm trong hào giao thông lầy lội, ăn uống khổ sở mà thương. Chúng em tuy khoai, sắn độn cơm nhưng cũng còn có phản, có chiếu mà nằm, mà ngủ...". Máy bay địch lại lồng lộn, rít lên. Lá ngụy trang trên giao thông hào bay lập sập. Tổ tản ra mỗi người một hầm. Đạn pháo nổ tới tấp, xới đất lên. Cả trận địa Hồng Cúm rung động. Tôi gấp nhanh thư để vào túi áo ngực. Súng, đạn, cuốc xẻng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Im lặng! Chờ đợi! Một phút... hai phút... không thấy gì. Anh Tĩnh, anh Ái lại chạy đến:

- Còn không? Đọc tiếp đi!

Tĩnh hỏi:

- Thư đâu rồi? Nụ viết hay quá, nghe mà sướng cả người. Lại còn hỏi "Không biết ta có đánh được không".

Tôi lấy thư ra tiếp tục đọc: "... Ở làng, ai cũng nhắc đến anh, riêng em chỉ mong anh mạnh khỏe, không ốm đau là em mừng lắm. Chẳng biết khi nào tìm gặp được anh đây! Cứ nghĩ đến lúc được gặp nhau thì vui biết chừng nào!..." Tôi ngẩn ngơ! Cả tổ ngơ ngẩn.

- Sao mà hay vậy!

Anh Vượng chạy qua truyền lệnh:

- Nó tấn công. Toàn tổ ra vị trí chiến đấu!

Chúng tôi mỗi người chạy đến bệ súng của mình nhằm thẳng về phía địch. Đạn đã lên nòng. Pháo nó lại trần từng thước đất. Bụi tung mù mịt. Sau đó là từng tốp Tây vừa chạy vừa bắn xối xả về phía chúng tôi. Chúng tôi vừa tránh đạn vừa quan sát, chờ lệnh. Địch tiến lên ào ạt. Ta im lặng.

Bốn mươi mét... Ba mươi mét... Hai nhăm mét...

- Bắn!

Lập tức chúng tôi xả đạn liên hồi, nhằm thẳng kẻ thù. Đồng thời ném lựu đạn tới tấp. Địch không tiến lên được phải rút lui về cố thủ.

Tôi chạy đến chỗ Ái. Ôi! Máu me! Ái gục xuống bên bệ súng, bê bết máu và đất. Ái chết rồi!

Mới đó Ái nói: "Sao mà hay vậy", vậy mà giờ không còn nữa!

Lá thư! Một lá thư vượt gần ngàn cây số đến với tôi không biết bao nhiêu là công lao của các chiến sĩ quân bưu. Thư cho biết sau tôi là cả một hậu phương lớn đang hướng về Điện Biên. Quê tôi cũng bị bom đạn cày xới. Gia đình tôi, Nụ của tôi đang chắt chiu từng miếng khoai gieo để gửi ra cho tôi.

Thật cảm động! Cái tình, cái nghĩa lớn lao là vậy làm sao chúng tôi lại không đánh được Tây kia chứ?

Tôi năm nay đã 73 tuổi, nhưng không thể nào quên được cái chết anh dũng của Ái. Cuộc sống yên bình của tôi và mọi người hôm nay là có sự đóng góp xương máu của những chiến sĩ như Phan Văn Ái, đồng đội của tôi!

P.V.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:30:57 am
MỘT KỶ NIỆM "SUÝT CHẾT"


NGUYỄN MINH CHÍ


Câu chuyện xảy ra cách đây vừa tròn nửa thế kỷ, bây giờ cứ mỗi lần nghĩ đến tôi lại thấy đó là một kỷ niệm đáng nhớ của một thời được vinh dự làm lính Cụ Hồ đi đắnh giặc.

Đó là vào khoảng tháng 3 năm 1954, khi mà cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước sang giai đoạn gay go ác liệt nhất. Với khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", mọi người ra trận phục vụ chiến dịch Điện Biên cứ đông vui như đi hội: Bộ đội, dân công, thanh niên xung phong có già, có trẻ, có nam, có nữ, đủ mọi tầng lớp, mọi phương tiện: ô tô, xe ngựa, xe thồ, quang sọt, gồng gánh...


Sau nhiều ngày đêm vất vả đi bộ hành quân từ hậu phương ra tiền tuyến, ngày nghỉ đêm đi, lên đến đỉnh đèo Cò Nòi, từ dưổi suối vọng lên giọng hò của một chị dân công Thanh Hóa, nghe lanh lảnh:

"Nghe tin anh đã gần về,
Lấy bốn hòn gạch mà kê chân giường".

Nghe câu hò chọc tức ngồ ngộ ấy của chị, cả đơn vị tôi chưa biết ứng xử như thế nào thì đại đội trưởng Ngân, một cán bộ Lục quân học ở Trung Quốc về người dong dỏng cao, đầu cạo trọc lóc, gọi tôi: "Chí đâu? Chí đâu? Đối! Đối đi!" Tất nhiên là tôi phải đối rồi, vì tôi là cây văn nghệ của đại đội. Tôi liền đối:

Thương em anh cũng muốn thương
Đây không có gạch, kê giường vào đâu?

Thế là tất cả dân công, bộ đội được một trận cười rất thoải mái. Cứ như thế, ít ra anh em chúng tôi cũng đi được dăm bảy cây số không biết mệt. Đơn vị đi ngược theo dòng suối cách đường cái 3 ki-lô-mét, làm lán trại trên một bãi đá dưới các gốc cây to có cành lá xum xuê.


Nơi tôi và Thanh làm việc hàng ngày là một căn hầm nhỏ đào sâu vào chân núi cạnh đường cái, trên nóc hầm là những cây gỗ ken dày để che mảnh bom đạn của địch. Trong hầm có một máy điện thoại để điều hành xe lên và xuống đèo, một đèn dầu Hoa Kỳ nhỏ bằng quả hồng xiêm, một khẩu K50, một khẩu các bin. Cách đó vài chục mét dựng một lán, đủ cho năm, bảy người nằm nghỉ khi chờ việc. Hàng ngày, tôi và Thanh vẫn lên đó nằm ngủ khi xong ca trực.


Như thường lệ, đêm nào cũng vậy, cô y tá đơn vị bạn ra đường cái chờ đón thương binh ở tuyến trước đưa về trạm, để hôm sau chuyển ngay anh em về hậu phương điều trị. Đêm ấy, cô chờ mãi đến hơn 3 giờ sáng chẳng thấy thương binh về, cô đành ngồi chờ ở lán đợi trời sáng mới dám về đơn vị.
Theo phân công tôi đi ngủ trước còn Thanh ở lại hầm để trực máy điện thoại. Sau nhiều ngày đêm làm việc căng thẳng, tôi chỉ kịp mắc màn là lăn ra ngủ như chết. Khi tôi tỉnh giấc dậy thì cha mẹ ơi: Người tôi đang ôm nằm ngủ không phải là thằng Thanh mọi hôm, mà là một người con gái, có mái tóc dài tôi sờ lên người cô ta thì đụng phải một cái gì đó không bình thường. Ở tuổi mười tám đôi mươi, đây là lần đầu tiên trong đời tay tôi chạm phải "vật lạ". Sợ quá, toàn thân tôi run lên. Tôi nín thở, co người lại, cố rón rén lăn ra khỏi màn.


Tôi đi xuống hầm làm việc. Thanh vẫn ngồi đó bên chiếc máy điện thoại và ngọn đèn dầu toả ánh sáng chỉ bằng hạt ngô. Thấy tôi, Thanh bảo "Bây giờ mày gác, tao lên lán ngủ". Tôi lo quá, nếu Thanh lên đó bây giờ thấy người con gái vẫn nằm trong màn tôi thì chuyện gì sẽ xảy ra? "Tình ngay, lý gian", tôi bảo Thanh: "Trời sắp sáng rồi mày tranh thủ ngồi đây mà ngủ. Và tôi phịa ra chuyện ở lán có nhiều kiến. Thanh nghe lời tôi, ngồi dựa lưng vào đường hầm ngủ một giấc ngon lành. Thật là hú vía! Tôi thở phào.

Khi những con gà rừng cất tiếng gáy báo hiệu một buổi sáng bắt đầu, tôi vội chạy lên lán gọi cô y tá dậy. Đến nơi thì thấy cô đang gấp chăn màn. Cô cười nói:

- Đêm qua em giành mất chỗ ngủ của anh.

Tôi cười và nói:

- Tôi bận làm nhiệm vụ.

Rồi tôi giục cô y tá đi ra nhanh lên kẻo thằng Thanh mà biết thì rách việc. Cô chào tôi và ra về. Cuộc "rút lui" an toàn.

Đấy, câu chuyện chỉ có vậy. Đã năm mươi năm trôi qua, mỗi lần nghĩ đến tôi lại toát mồ hôi, nhớ lại kỷ niệm đáng nhớ ấy của thời chiến tranh, những con người thời ấy thật trong sáng.

Ở tuổi 70, tôi vẫn có mong ước được gặp lại Bùi Ngọc Thanh, dân tộc Mường, huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa, một con người hiền như đất, thật như đếm, đối với đồng đội thì chân tình cởi mở, đối với công việc thì hăng hái hoàn thành mặc dầu bom rơi, đạn nổ. Tôi cũng muốn tìm lại người con gái ấy quê ở huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ có đôi mắt đen, khuôn mặt bầu bầu, nước da trắng, mỗi lần gặp tôi cô cũng hay nhìn nhưng ít khi nhìn thẳng; nếu bây giờ còn sống thì cũng phải bà nội, bà ngoại rồi. Nếu được gặp lại tôi sẽ "hỏi tội" bà ấy tại sao đêm hôm đó lại tự ý chui vào màn tôi mà không hề bẩm báo? Chắc bà cũng sẽ buồn cười mà thưa: "Vì tiết trời Tây Bắc quá rét, muỗi nhiều, lại nhiều đêm mất ngủ, thôi đành liều mạng dùng chính sách con sư tử: Đầu gửi hai chân, sau gửi cả mình và cuối cùng là đuổi chủ nhân ra khỏi màn để chiếm chỗ".

Đấy là câu chuyện kỷ niệm "suýt chết" của tôi năm mươi năm trước!

N.M.C


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:32:12 am
TRẬN TRUY KÍCH ĐỊCH, PHÁ PHÒNG TUYẾN SÔNG NẬM HU


NGUYỄN HIỀN


Cuối thu năm 1953, sau một thời gian dài chỉnh huấn chính trị, huấn luyện quân sự, toàn trung đoàn Thủ Đô ai nấy đều nóng lòng đi chiến đấu lập công, không khí chuẩn bị thật sôi nổi. Điều băn khoăn nổi lên lúc này là mở chiến dịch ở đâu? Đồng bằng hay rừng núi? Chỗ nào cũng râm ran bàn tán tiếng nhỏ, tiếng to. Các chiến sĩ hỏi: "Chuyến này đánh đồng bằng hay rừng núi đấy chính trị viên?". Trong đơn vị, hình thành hai phe, phe "đồng bằng", phe "rừng núi", phe nào cũng có lý lẽ khá là "sắc bén".


Trung tuần tháng 11 năm ấy theo lệnh cấp trên, trung đoàn tiến quân theo hướng Tây, vượt Sông Lô, Sông Hồng rồi hướng lên Tây Bắc, Sơn La. Phe "miền núi" được thể, phe "đồng bằng" vẫn chưa chịu: rồi các cậu xem, đến đường 6 rẽ quay ngoặt về Hòa Bình rồi xuống đồng bằng cho mà xem. Tranh luận cho vui thôi, chứ quân ta lúc nào cũng đã xác định "Đâu có giặc thì ta cứ đi". Cũng có anh chẳng vào phe nào cả: "Úi dà, đồng bằng hay miền núi cũng là đánh giặc, Bác Hồ bảo đi là đi, bảo đánh là thắng!".


Đến đường 6, bộ đội ta vẫn cứ rầm rập tiến lên hướng Bắc. Đến đây thì phe "đồng bằng" hết lý, mục tiêu đã rõ, chấm dứt tranh cãi. Hàng tháng trời hành quân, đêm đi, ngày nghỉ. Cứ 4 giờ chiều, cơm nước, ngụy trang xong xuôi, quân ta đã rập rình ở cửa rừng. Đường số 6 tấp nập bộ đội, dân công, thanh niên xung phong, như con rắn khổng lồ trườn ngược lên phía Pha Đin. Bộ đội dân công gặp nhau vui như trẩy hội, hò hát, nói cười, suốt đêm quên mệt mỏi. Vượt đèo Pha Đin dài hơn 30 ki-lô-mét ngay trong đêm là một thách thức lớn. Vậy mà không ai chịu rời đơn vị, từng tiểu đội phân công người mang vác đỡ cho những anh em đau chân, yếu mệt.


Chiến dịch Trần Đình (tên mật chiến dịch Điện Biên) to và quan trọng lắm, ai cũng sợ không được tham gia nên phải cố bám đơn vị. Vượt đèo vào vị trí tập kết, đơn vị phải lội tắt rừng vừa đi vừa phát cây. Tiểu đoàn 18 ở khe Hồng Lếch phía Tây Mường Thanh gần sở chỉ huy trung đoàn được lệnh chỉ sau 1 ngày, công sự, hầm trú ẩn phải xong để tiếp đó làm chiến hào, đường cơ động chuẩn bị tấn công theo phương án "đánh nhanh, thắng nhanh"; máy bay bà già, khu trục quần đảo suốt ngày, thỉnh thoảng lại bắn vu vơ vào những nơi nó nghi ngờ.


Đại đội 263 của tôi có nhiệm vụ đánh tiêu diệt trận địa pháo sát sân bay của địch, sau đó phát triển cùng tiểu đoàn đánh cắt sân bay. Mọi người đều phấn khỏi tin tưởng. Cán bộ chiến sĩ đã đầy đủ trang bị, nai nịt gọn gàng. Đội hình đã dàn ra cửa rừng chờ mặt trời xuống núi là vào vị trí xuất phát tiến công.


Khoảng bảy tám giờ tối bỗng có lệnh: Dừng tấn công, trở về vị trí cũ, để lại bộc phá, chuẩn bị lương thực nhận nhiệm vụ mới! Lệnh hành quân, dòng người lại chuyển động trong đêm tối, người sau sờ ba lô người trước, bám nhau theo tiếng bước chân loạt soạt những mảnh gỗ mục phát sáng cài trên ba lô người đi trước. Cứ thế mò mẫm vượt núi đá Hồng Lếch đi ngược về hướng Tây sang Thượng Lào. Suốt đêm có lẽ cũng chỉ đi được vài cây số. Cán bộ chiến sĩ lúc này lại rộ tư tưởng: Lo không được tham gia đánh Điện Biên.


Sau này anh em được biết khi Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ nhận lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi: "Sư đoàn đồng chí còn bao nhiêu lương thực?". Đại đoàn trưởng trả lời: "Chúng tôi còn 2 lạng gạo mỗi người nhưng "Quân lệnh như sơn", xin chấp hành mệnh lệnh cùa Đại tướng". Ý chí và quyết tâm của người chỉ huy đã trở thành lòng dũng cảm, ý thức tổ chức kỷ luật của mọi cán bộ chiến sĩ: không sợ đói, mệt, chỉ sợ không được tham gia đánh trận Điện Biên. Vừa hành quân, bộ đội vừa được phổ biến về tình hình và nhiệm vụ: Thay đổi cách đánh, chuyển từ "đánh nhanh, thắng nhanh" sang "đánh chắc, tiến thắng". Hoãn tiến công. Kéo pháo ra chuẩn bị tiến công theo cách đánh mới. Đại đoàn 308 có nhiệm vụ tái công phá tan phòng tuyến sông Nạm Hù từ Luông Pha Băng đến Mường Ngòi, Mường Khoa nối với Điện Biên Phủ. Phòng tuyến này là nơi xung yếu và sơ hở của địch. Quân ta tấn công vào đây còn để gây cho địch tâm lý chủ quan cho rằng Việt Minh không đánh được tập đoàn cứ điểm Điện Biên nên chuyển hướng tấn công sang Lào.


Suốt đêm 26 sang ngày 27, ngày 28 tháng 1, đơn vị đi miết theo đường mòn trên núi, đội hình kéo dài, nhiều cây số, đói khát, chân đau, thỉnh thoảng nhai một nhúm gạo rang với nước suối. Đã xuất hiện tư tưởng chán nản, mệt mỏi. Sang ngày 29, trinh sát báo tin địch đã bỏ chạy khỏi Mường Khoa. Quên hết mệt mỏi, toàn đơn vị tức tốc truy kích, quyết tâm thực hiện mục đích tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu của chúng, theo đường mòn, vết tích địch trên đường còn mới: dấu giầy đinh, mẩu thuốc lá, cây cỏ bên đường gẫy dập, vỏ đồ hộp... Đến khoảng 9-10 giờ tổ trinh sát phát hiện có một toán địch đang nghỉ, toán truy kích chạy đầu gồm tôi - chính trị viên đại đội, trung đội trưởng Nhạn, tiểu đội trưởng trinh sát Nghệ, tiểu đội trưởng Thêm, khoảng mươi chiến sĩ. Chúng tôi quyết định tấn công, bí mật tiếp cận, đánh bất ngờ áp đảo bọn địch đang hoang mang, chọn thế núi thuận lợi tập trung hỏa lực trung liên và tiểu liên vào khúc giữa đội hình địch bắn xối xả. Bọn địch hoảng loạn chạy dạt sang hai bên nhảy thục mạng xuống khe đá, quân ta vọt lên vượt qua đội hình phía sau của địch truy đuổi bọn đi trước. Máy bay "bà già", khu trục của địch lồng lộn ưên đầu nhưng không dám bắn. Nghe tiếng súng nổ, lực lượng phía sau của ta chạy lên cùng sục bắt tù binh suốt buổi chiều. Tiếng súng âm vang núi rừng đại ngàn. Trận đánh ngày đầu tiên này quân ta diệt hàng trăm địch, bắt sống 40 lính Tabo và lính PMT. Chúng khai là thuộc Tiểu đoàn 2 Tabo, Trung đoàn Lê dương số 3.


Chiến công đầu của đơn vị làm tăng thêm quyết tâm chiến đấu và vơi đi cái đói mệt. Anh nuôi gồng gánh cồng kềnh không theo kịp bộ đội và có kịp cũng chẳng có gạo để nấu cơm. Quân ta thu lương thực của địch ăn để lấy sức truy đuổi. Nghỉ vài tiếng mai táng một liệt sĩ, giao tù binh cho lực lượng đi sau, khi con gà rừng gáy te te lại thúc nhau dậy đuổi địch. Bọn chúng ở phía trước còn 1 tiểu đoàn chưa chạy thoát, thỉnh thoảng lại có mấy tên giơ tay hàng.


Khoảng 8 - 9 giờ sáng ngày 31 mới gặp được một bản người Mông gọi là bản Giang Tơi. Đến nơi thấy bà con đang mổ lợn, con trai, con gái mặc quần áo mới. Thì ra đồng bào chuẩn bị ăn tết. Hỏi thằng Tây có chạy qua đây không, họ chỉ ngược chỉ xuôi lung tung. Thấy có dấu hiệu đáng ngờ, tôi cử tiểu đội trưởng trinh sát Nghệ dẫn mấy chiến sĩ vào nhà dân lấy cớ xin nước để nắm tình hình. Một loáng sau, đồng chí Nghệ ra báo cáo "có địch". Chúng tôi bèn sục vào các nhà gọi hàng: "Hô lê manh!". Hàng chục tên lính Tây, đứa thì rúc vào đống ngô góc nhà, đứa thì nằm trên giường lấy váy phụ nữ trùm kín. Giao tù binh cho lực lượng đi sau, chúng tôi tiếp tục đuổi địch theo vết tích để lại trên đường, càng đuổi càng khỏe.


Khoảng 12 giờ ngày 31 tháng 1, đến gần bản Long Ngà, tổ trinh sát đụng với tổ cảnh giới của địch, chúng bắn loạn xạ rồi chạy vào bản. Lúc này, lực lượng phía sau của ta đã chạy lên kịp. Đại đội trưởng Vi hạ lệnh tấn công ngay bằng hai mũi phía trước và phía sau. Địch chống lại yếu ớt rồi bỏ chạy, có đứa bỏ cả súng, cơm thịt đổ tung toé. Bọn tù binh khai còn khoảng gần hai đại đội đang cố chạy về Mường Sài. Quân ta lập tức lại truy đuổi. Đã có vài anh em bị thương nhẹ, riêng đại đội trưởng Vi bị thương nặng phải đưa về phía sau.


Sáng ngày 1 tháng 2, cách Mường Sài khoảng 1 ki-lô-mét, chúng tôi bắt gặp một lực lượng gồm một đại đội địch đang tìm đường vào cứ điểm. Chúng tôi tấn công, diệt hàng chục tên, bắt sống một số, còn mấy thằng chạy thục mạng vào cứ điểm lại bị quân bên trong Mường Sài hoảng loạn xả súng bắn ra, có tên chết, có tên bị thương. Chúng tôi được lệnh tạm ngừng, ở Mường Sài đã hình thành một tập đoàn cứ điểm, mới được tăng thêm ba tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo binh.


Sau khi tập hợp quân, Trung đoàn chuyển sang bao vây, vừa xây dựng trận địa vừa cử người cùng các đồng chí bộ đội Pathét Lào vào bản nhờ dân giúp đỡ lương thực. Mỗi người được một nắm cơm nếp của bà con Lào ăn mừng thắng lợi và đón xuân.


Cuộc tấn công phá tan phòng tuyến sông Nậm Hu bằng một trận truy kích diễn ra 5 - 6 ngày trên hơn 200 ki-lô-mét đường rừng Thượng Lào. Hai tiểu đoàn Lê dương ở Mường Khoa bỏ chạy, bị quân ta đuổi kịp và đánh liên tiếp trên dọc đường, bắt sống hàng trăm tên, số ít thoát chết cố chạy về Mường Sài. Trung đoàn Thủ Đô đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Theo lệnh Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh trung đoàn bàn giao lại nhiệm vụ bao vây Mường Khoa cho một đơn vị bạn rồi gấp rút hành quân về Điện Biên Phủ. Cuộc tấn công thắng lợi lớn, phòng tuyến sông Nậm Hu tan vỡ. Hậu phương chiến dịch mở rộng tạo được thế vững chắc cho quân ta tấn công Điện Biên Phủ. Toàn trung đoàn lại mải miết hành quân về Điện Biên Phủ trong không khí chiến thắng, đơn vị vui mừng náo nức là vẫn còn được tham gia đánh Điện Biên Phủ.


Trở về khe Hồng Lếch nghỉ ngơi tắm giặt, vá quần áo, một ngày sau đó đơn vị lại tiếp tục đào hào chuẩn bị trận đánh mới. Lính ta phấn khởi bàn tán. "Đại tướng mình thánh thật". "Thánh thật", tức là anh em hiểu rằng việc điều binh của ta đã làm cho tướng Nava lúng túng bị động điều quân lung tung. Quân ta đánh vào Muờng Thanh là hoàn toàn yên tâm về phía sau, cứ việc ra sức mà đào hào giao thông dũi sâu vào giữa cánh đồng Mường Thanh. Ai cũng mong tới ngày được tấn công vào trung tâm Mường Thanh. Các mũi, các hướng ngày càng khép kín bao vây chặt lấy Mường Thanh. Nghe tin chiến thắng Him Lam, Độc Lập, rồi đồn bản Kéo địch ra hàng, càng sốt ruột muốn được chiến đấu lập công.


Lãnh đạo luôn nhắc nhở kiên trì phương châm "đánh chắc, tiến chắc".

N.H.


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:33:15 am
VĂN CÔNG ĐI CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN


NGÔ THỊ NGỌC DIỆP


Trung tuần tháng 12 năm 1953, đội văn công Đại đoàn 308 chúng tôi được lệnh lên đường đi chiến dịch. Ai nấy đều náo nức chuẩn bị hành trang, tranh thủ tập thêm một số tiết mục gọn nhẹ để vừa đi đường, vừa biểu diễn động viên bộ đội. Tôi tuy là "phái yếu" nhưng đang ở độ tuổi "bẻ gãy sừng trâu" nên trang bị cũng không kém mọi người: Ba lô, bao gạo trên vai; ống nước, cuốc, xẻng, lựu đạn ngang lưng. Chúng tôi hành quân từ Thái Nguyên qua đèo Khế sang Tuyên Quang, vượt sông Lô sang Yên Bái, tiếp tục vượt sông Hồng, sông Đà ngược đường lên Tây Bắc.


Lúc này chúng tôi mới chính thức được biết về nhiệm vụ của đơn vị là tham gia chiến dịch Trần Đình, khi đến địa điểm tập kết mới biết đó là bí danh của chiến dịch Điện Biên Phủ. Chúng tôi hành quân trong đội hình các đơn vị chiến đấu của Trung đoàn Thủ Đô. Để phục vụ bộ đội trên chặng đường dài, cứ mỗi đêm hành quân chúng tôi lại chia lẻ ra từng tổ từ một đến hai người đi cùng một tiểu đội chiến đấu; đến chặng nghỉ mới về tập trung. Sáng ra chúng tôi dậy sớm, đào hầm tránh máy bay và tranh thủ tập tiết mục để 5 giờ chiều lại phân tán xuống các đơn vị chiến đấu.


Cứ như thế cuộc hành quân kéo dài đêm này qua đêm khác trên chặng đường từ Thái Nguyên tới Điện Biên Phủ. Mỗi khi bộ đội được lệnh dừng chân nghỉ 10 phút, chúng tôi cùng các chiến sĩ hát vang bài "Qua miền Tây Bắc" của nhạc sĩ Nguyễn Thành. Có lần, tôi và nghệ sĩ Xuân Thức tranh thủ múa điệu "Khoe giầy" của Trung Quốc. Nhớ lại, chính điệu múa "Khoe giầy" này, tôi và nghệ sĩ Lượng đã múa để Bác Hồ xem khi Người đến thăm Đại đoàn sau chiến dịch Tây Bắc (1952). Khi chúng tôi múa xong, Bác cười vui, hỏi: "Múa khoe giầy" sao các cháu lại đi dép?". Tôi còn đang lúng túng thì Bác đã nói tiếp: "Thôi được, sau cải cách ruộng đất thì các cháu tha hồ có giầy mà khoe"... Giờ đây khi chúng tôi múa điệu "Xoè hoa" của dân tộc Thái, đúng ra trên tay mỗi diễn viên phải có một chùm nhạc, nhưng vì trang bị của văn công lúc này còn thiếu thốn, chúng tôi phải trang bị cho mỗi diễn viên một xâu nắp bật lửa để khi múa rung lên tiếng xủng xoảng thay cho tiếng các quả nhạc. Múa dưới ánh trăng mờ mà các chiến sĩ vẫn phát hiện ra chúng tôi đã thay quả nhạc bằng một xâu nắp bật lửa và từ đó họ gọi điệu múa này là "Xoè bật lửa"...


Vào chiến dịch, chúng tôi biểu diễn phục vụ các đơn vị của Đại đoàn thường là vào ban ngày vì ban đêm không được đốt lửa. Khi thì chúng tôi vào các lán thương binh hát, khi thì phục vụ dân công. Dân công rất vui nhộn, người người gánh gạo, đạn dược, hàng đoàn xe đạp thồ đông như kiến từ Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Phú Thọ lên, ai cũng hò "a li hò lờ" rất say sưa.


Chuẩn bị tổng công kích, bộ đội đào hào giao thông cắt sân bay Mường Thanh để đánh lấn vào chỉ huy sở của địch. Chúng tôi bám sát phục vụ bộ đội, ban ngày ở hầm trú ẩn, dưới lùm cây thì hát, ban đêm, đi theo bộ đội đào hào cũng hát hò, đọc thơ ca.


Thời gian này, tôi và nghệ sĩ Phùng Đệ được giao nhiệm vụ thêu lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" cho đơn vị. Chúng tôi chỉ được giao một mảnh vải đỏ, còn các nguyên liệu khác phải tự lo. Thật nan giải, giữa rừng đại ngàn, lấy đâu ra những thứ đó? Nhưng "trong cái khó đã ló cái khôn". Hai anh em bàn cách lấy cuộn băng cứu thương cá nhân nhuộm vàng bằng thuốc ký ninh vàng (thuốc chống sốt rét) giã nhỏ hòa với nước rồi tước những sợi dọc ra làm chi thêu màu vàng, còn ngôi sao vàng và chữ "Quyết chiến quyết thắng" thì lấy giấy báo cắt làm ruột, cuộn băng vàng cắt theo rộng hơn rồi gập lại khâu lặn mũi. Thế là ngôi sao và dòng chữ "Quyết chiến quyết thắng" màu vàng tươi hiện lên trên nền cờ đỏ cũng tươm ra phết. Còn tua cờ thì sao? Chúng tôi lấy ruột dây dù bộ đội cho văn công đan võng làm tua, trông cũng mềm ra trò... Thật chẳng may, giữa lúc vội nhất, tôi bị lên cơn sốt rét đến ghê người. Nó cứ đeo đẳng tôi suốt đợt hành quân ra hỏa tuyến nhưng tôi vẫn vừa "khâu" cờ vừa đi. Cũng không nhớ sau bao nhiêu ngày chúng tôi đã hoàn thành lá cờ. Rồi lá cờ đã kịp thời được mang ra tận chiến hào trao cho đơn vị chủ công của Đại đoàn trước giờ xuất kích.


Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin quân ta thắng trận, tướng Đờ-cát và toàn bộ chỉ huy quân địch đã đầu hàng làm chúng tôi vui sướng tột cùng, ai cũng nhảy lên reo hò.

Chúng tôi được dự cuộc mít tinh mừng chiến thắng do Bộ chỉ huy mặt trận tổ chức tại Mường Phăng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc diễn văn, có cả bắn súng chào mừng, bắn pháo sáng xanh đỏ sáng rực một góc trời.


Hôm sau chúng tôi còn được biểu diễn phục vụ Bộ chỉ huy mặt trận và Đại tưóng Võ Nguyên Giáp rồi mới kéo quân về khu căn cứ ở Thái Nguyên dưới chân núi Hổng, dự đại hội văn công toàn quân. Sau Hội nghị Giơnevơ (1954) chúng tôi được về tập trung thành lập Đoàn văn công Tổng cục Chính trị và về tiếp quản Thủ đô Hà Nội.


Thấm thoắt đã 50 năm, mỗi lần kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ là lòng tôi lại trào dâng niềm tự hào vui sướng vì mình đã có vinh dự góp phần nhỏ bé vào trận đánh cuối cùng của cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc, làm nên chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu.

N.T.N.D


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:34:19 am
NGƯỜI ĐÀ GÓP CÔNG VÀO "TIẾNG NỔ NGÀN CÂN"


PHAN THẾ HẠO


Đầu năm 1952 Đại đoàn Đồng Bằng (Sư đoàn 320) chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh tiến vào Thái Bình, cùng nhân dân vùng hậu địch đánh giặc Pháp. Đồn bốt, tháp canh của địch bị nhổ hàng loạt, những binh đoàn cơ động mạnh bị thất bại trong các trận càn. Bọn lính Pháp, vệ sĩ, Lê dương, bảo an, tề ngụy tan rã từng mảng. Cũng như các làng khác ở vùng này, làng Thọ Cách, xã An Thọ, huyện Thụy Anh (nay là xã Thụy Quỳnh - huyện Thái Thụy) được giải phóng.


Đây là quê hương nơi chôn rau, cắt rốn của anh thanh niên Nguyễn Đức Nhứ. Phấn khởi như chim sổ lồng, Nhứ cùng đông đảo trai làng náo nức tòng quân. Nhứ được nhận vào Đại đội 52 - Tiểu đoàn 346 - Trung đoàn 57 - Đại đoàn 304. Sau mấy tháng huấn luyện, Nhứ được dự chiến dịch Hòa Bình, là xạ thủ súng trung liên Bờrennô.


Vào những ngày giáp tết Giáp Ngọ (1954), đơn vị Nhứ được lệnh hành quân đi tham gia chiến dịch Trần Đình (Điện Biên). Trời rét cắt da cắt thịt, áo quần không đủ ấm, ăn uống kham khổ, thiếu thốn... Nhưng tinh thần toàn đơn vị hào hứng được có mặt trong một chiến dịch lớn. Công việc hàng ngày rất khẩn trương: Đào hầm trú quân, hầm chiến đấu, hầm đặt pháo, làm trận địa giả, chặt cây, bổ củi, vận chuyển gạo muối vv... chạy đua với thời gian cho kịp ngày giờ mở màn chiến dịch. Nhận những món quà nhân dân gửi đến: bánh chưng, thuốc lá, thuốc lào, bánh kẹo..., bộ đội mới chợt nhớ ra là Tết đã đến và hiểu rằng hậu phương đang gửi gắm niềm tin, ngóng trông, chờ đợi bộ đội chiến thắng, lập công.


Mở đầu chiến dịch, đơn vị Nhứ được giao nhiệm vụ diệt địch ở cứ điểm đồi Him Lam. Vòng vây chiến hào ngày càng thít chặt bọn giặc trong các boong ke, lô cốt. Nhiều lần chúng nống ra nhưng bị đánh bật trở lại và bị thương vong nặng nề.


Lần lượt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt. Bản Kéo đầu hàng. Viên tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ tự sát. Cánh cửa vào khu trung tâm đã mở. Khẩu trung liên do Nhứ làm xạ thủ chính, đã góp phần lập chiến công trong các trận mở đầu. Tiểu đội của anh Nhứ có hai đồng đội đã nằm lại, sau này an táng ở nghĩa ừang đồi Độc Lập.


Đơn vị của Nhứ ra vòng ngoài chấn chỉnh đội ngũ, nghỉ ngơi ít ngày rồi chuyển sang chiến đấu ở khu đồi A1. Đại đội của Nhứ phối hợp với bộ đội công binh, ngày đêm vừa đào khoét hầm dưới tầng sâu, vừa chiến đấu với bọn địch nống ra. Căn hầm cứ mỗi ngày dài thêm, thọc sâu vào lô cốt A1, từng quãng có hầm nhánh chọc lỗ thông hơi lấy ánh sáng và không khí. Kẻ địch dù biết nhưng đành bất lực vô hiệu hóa pháo của chúng. Hầm ngày càng sâu, càng xa, bộ đội ta dùng những cánh vải dù của địch thả lạc ra ngoài hàng rào khâu thành bao, xúc đất vào bao rồi buộc dây, phát tín hiệu cho người ngoài cửa hầm kéo đất đá ra đổ vào rừng. Công việc cứ như thế, bao nhiêu ngày đêm, Nhứ không nhớ rõ. Hầm đào xong, chuyển bộc phá vào, từng bọc từng bọc, chuyển mãi, chuyển mãi. Sau này mới biết tất cả là một tấn thuốc nổ đưa vào hầm, sát chân lô cốt trung tâm đồi A1. Lệnh khẩn cấp: "Tất cả khẩn trương ra khỏi hầm và vượt xa cửa". Mấy chục phút sau một tiếng nổ ùng ục, nghe rất nặng chấn động núi rừng, tưởng chừng quả đồi nứt toác. Đó là tiếng nổ của 1.000 kg bộc phá mà chính Nhứ đã góp sức chuyển vào hầm. Tiếng súng, tiếng gào rú của xe tăng địch im bặt. Lúc ấy là tảng sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954. Cứ điểm đồi A1, yết hầu của địch đã bị đánh sập. Sân bay, cầu Mường Thanh và sở chỉ huy của Đờ-cát chịu chung số phận vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày. Trên đồi A1, lô cốt bê tông cốt sắt bị nứt, chiếc xe tăng nằm gục trước cửa hầm là những dấu hiệu của chiến tích "Tiếng nổ ngàn cân". Trong trận này, Nhứ bị chẩn động thần kinh rất mạnh, ù tai nhức đầu, hơn chục năm sau anh bị điếc hẳn.


Chiều và đêm ngày 7 tháng 5 năm 1954, tiếng bom đạn, máy bay, xe tăng địch im bặt. Thay vào đó là tiếng reo hò như sấm dậy vang động núi rừng. Bộ đội, dân công, đồng bào các dân tộc, ôm nhau mừng vui khôn xiết. Núi rừng như chật lại, lửa đỏ sáng rực trời Điện Biên soi rõ cảnh vật, cả núi rừng Tây Bắc đêm nay không ngủ mừng trận Đại thắng.

(Ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Đức Nhứ)
P.T.H


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:36:28 am
THỜI TUỔI TRẺ ĐẸP NHẤT


TRẦN HỒNG SƠN

Nữ đại tá, bác sĩ, thầy thuốc ưu tú Nguyễn Thị Thành, nguyên là chủ nhiệm khoa sản quân y Viện 175, hiện ở tại 105/11 Nguyễn Kiệm phường 3, quận Gò vấp, thành phố Hồ Chí Minh.

Về cuộc sống đời thường chị vẫn luôn giữ được phong thái "Bộ đội Cụ Hồ". Chị có khuôn mặt đôn hậu, ít hói, miệng luôn nở nụ cười vui vẻ thân tình. Là cựu chiến binh sinh hoạt hội cùng chị, cho nên thường được nghe chị kể lại những mẩu chuyện chiến đấu, cũng như những nỗi vui buồn riêng tư của chị. Tuy nay đã ở vào tuổi 70 nhưng chị còn rất minh mẫn và đầy ắp những kỷ niệm của thời thanh xuân.


Chị sinh ra trong môt gia đình nghèo khổ, lúc bảy tuổi phải đi làm con nuôi, cho nên vừa đến tuổi thành niên chị đã lấy chồng để mong sớm có nơi tương tựa. Chồng chị đi bộ đội. Ít lâu sau, vào năm 1952 chị cũng đi thanh niên hỏa tuyến. Năm 1953 chị được chuyển vào quân đội và cuộc đời binh nghiệp của chị bắt đầu từ đấy. Chị được về Đại đoàn 316 chiến đấu ở tuyến trước, mặt trận Điện Biên. Bộ đội "kéo pháo vào rồi kéo pháo ra" thì Thành và các chị em cùng đơn vị cũng "vác đạn vào rồi vác đạn ra" theo pháo. Thông thường chị em phân công nhau cử hai người khiêng một thùng đạn. Riêng chị Thành "đánh" một lần hai thùng đạn. Đường đi gập ghềnh dốc núi phải hết sức cẩn thận, chỉ cần một sơ ý nhỏ, trượt chân là lập tức người và đạn sẽ lao xuống vực sâu.


Vào chiến đấu, với nhiệm vụ cứu thương, chị đã không quản ngày đêm vượt qua mưa đạn, đến từng chiến hào, từng vị trí chiến đấu để sơ cứu cho thương binh. Lúc thì chị cõng, lúc thì vác từng thương binh chạy dưới bom đạn địch, nhanh nhẹn, dũng cảm không quản hy sinh. Vào giai đoạn đánh lớn, bộ đội ta bị thương nhiều, thương binh nhiều quá tải, phải đào thêm nhiều hầm. Chị cẩn thận đến từng căn hầm đánh dấu hướng nằm của thương binh để phòng khi sập hầm, thì lập tức đào bới phía đầu trước để kịp thời cứu thương binh khỏi bị ngạt thở...


Mùa đông đến, cái rét lạnh của núi rừng Tây Bắc thật ác nghiệt. Chị em mỗi người chỉ có hai bộ quần áo vải mỏng và chiếc chăn đơn. Nhưng thấy anh em thương binh rét lạnh, chị em đã nhường chăn đắp cho thương binh, còn chị em tối lại nằm úp thìa với nhau cố quên đi giá lạnh mà ngủ. Vào chiến dịch, công tác bận rộn, ba mươi tết vẫn đi công tác. Tối đến, đơn vị được chia mỗi người một lạng thịt, một lạng gạo, chị em chung nhau nấu ăn gọi là "Tết Điện Biên".


Đơn vị thường xuyên cơ động truy kích địch. Một lần chị đau chân chân, đơn vị cho ở lại về tuyến sau tạm nghỉ. Nghe tin, chị đã gặp cán bộ chỉ huy nằng nặc xin ở lại. Thấy chị hăng hái nhiệt tình, đơn vị để chị cùng hành quân. Anh em thấy chân chị đau, giày đã rách, nên đã để con trâu cho chị cưỡi. Con trâu bướng bỉnh không chịu đi theo đường cùng bộ đội mà cứ luồn rừng mà đi. Mặt mũi tay chân chị bị gai cào chảy máu, quần áo rách bươm...


Giữa chiến dịch, tại mặt trận, đơn vị tổ chức hội nghị thi đua nhằm động viên kịp thời khí thế chiến đấu của bộ đội. Chị Thành được cử đi dự đại hội, chị được bầu là Chiến sĩ Thi đua, được tặng huy hiệu Bác Hồ và được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.


Chiến dịch Điện Biên kết thúc. Sau bao năm xa cách, chị được gặp lại chồng và được chuyển về công tác với chồng ở Sư đoàn 312. Một thời gian sau, chị sinh con rồi được chuyển về Hà Nội. Trong hoàn cảnh chồng đi xa, vừa làm việc vừa chăm sóc con, chị vẫn tranh thủ học bổ túc văn hóa để thi vào đại học y khoa. Nhiều khi không gửi con cho ai được, chị phải nhốt con trong nhà để đi học. Nhờ kiên trì, bền bỉ và thông minh, ở vào tuổi ba mươi chị đã thi đậu vào trường đại học y khoa Hà Nội vào loại khá. Sau một thời gian đèn sách, chị đã tốt nghiệp, nhận bằng bác sĩ và về công tác ở Viện Quân y 108. Từ bác sĩ, dần dần chị lên làm phó chủ nhiệm khoa. Sau gần 20 năm công tác tại Viện Quân y 108, chị đã có 12 năm được bầu là Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng. Năm 1973, được tin chồng hy sinh, chị rất buồn, song đã biến đau thương thành sức mạnh để vươn lên chị đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được tặng thưởng Huân chương Chiến công lần thứ hai.


Cuối năm 1984 chị được cử đi cùng đoàn chuyên gia quân sự sang công tác tại nước bạn Lào. Sau gần 4 năm công tác ở Lào, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chị được tặng Huân chương Chiến công lần thứ ba.


Về nước năm 1988, chị được chuyển vào công tác tại Viện Quân y 175 thành phố Hồ Chí Minh. Với cương vị chủ nhiệm khoa sản, chị đã cùng với cán bộ đơn vị chăm lo bồi dưỡng kèm cặp lớp thầy thuốc trẻ, luôn luôn thể hiện đức tính khiêm tốn hòa đồng, được mọi người yêu mến, quý trọng, tôn vinh là người chị cả của khoa và đơn vị.


Năm 1998 chị về nghỉ hưu. Sau 48 năm công tác chiến đấu và phục vụ chiến đấu, chị đã có 17 năm là Chiến sĩ Thi đua, Chiến sĩ Quyết thắng. Chị đã có mặt trong mọi giai đoạn chiến tranh quyết liệt, từ trận Điện Biên lịch sử 1954 đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược với trận Điện Biên Phủ trên không, cuộc chiến ưanh ở biên giới Tây Nam, luôn luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, được tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương các loại và hàng chục huy hiệu mà trong đó có 2 huy hiệu chị trân trọng hơn cả là huy hiệu Bác Hồ và huy hiệu chiến sĩ Điện Biên Phủ.


Về gia đình riêng, chồng chị là trung tá Dương Ngọc Lâm đã từng tham gia chiến đấu ở chiến dịch Điện Biên cùng chị, về công tác ở Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, đã hy sinh năm 1973 trong khi đi làm nhiệm vụ, lúc mới ngoài 40 tuổi. Các con chị, con gái đầu Lan Thanh là bác sĩ chủ nhiệm phòng khám quân y Viện 175, con trai Dương Ngọc Lân tốt nghiệp đại học.


Trong cuộc sống đời thường, chị Nguyễn Thị Thành luôn luôn giữ vững phẩm giá "Bộ đội Cụ Hồ" được mọi người thương yêu quý mến. Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên, chị nhớ lại biết bao kỷ niệm buồn vui như một cuộn phim dài ghi lại một thời đã qua. Chị tự hào có một thời tuổi trẻ thật đẹp gắn với một tên gọi vẻ vang, đó là "Điện Biên Phủ".

TsH.S


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:37:44 am
ĐEM SỨC TRẺ ĐIỆN BIÊN VỀ XÂY DỰNG QUÊ NHÀ


NGUYỄN BỔNG


Nghe tin có khách, cụ Phan Ngọc Thực chiến sĩ Điện Biên năm xưa đang buộc lại giàn trầu cho cụ bà đon đả đón tôi vào nhà. Cụ bà cũng là chiến sĩ Điện Biên, miệng đang bỏm bẻm nhai trầu, vui vẻ mời tôi chén nước vối nóng.


Qua chuyện hàn huyên, theo yêu cầu của tôi, cụ Thực đã vui lòng kể lại cuộc đời của cụ, từ một "chiến sĩ" Điện Biên tuổi 20, đến nay, nghỉ hưu về công tác ở quê nhà.

Sau đây là câu chuyện của cụ Thực:

"Tôi nhập ngũ cuối 1950, được vào đơn vị trinh sát của Đại đoàn 312. Năm 1954, tôi được tham gia chiến dịch Điện Biên. Hồi ấy quân ta đang vây ép đồi Độc Lập. Bữa ăn trên trận địa thường là cơm vắt, muối rang. Các mế gửi cho thuốc hút nguyên lá và thú vị nhất là có cả trầu cau. Chao ôi! Nhai miếng trầu tôi như được tiếp sức, người nóng lên. Ở đây chỉ có mình tôi ăn trầu. Mấy miếng chưa ăn đến, tôi cất vào túi ngực. Tinh cờ có đoàn tải thương đi ngang qua, dừng lại tạm nghỉ. Nhìn mấy chị em quần áo ướt sũng, tím tái môi, má mà thương. Chợt nhớ ra, tôi moi mấy miếng trầu trao cho chị em. Họ cảm ơn rối rít. Một cô tinh nghịch, tặng tôi một cái liếc mắt tưởng chừng còn dài hơn cả chiến hào.


Mặc dù đã được chỉnh quân, thế mà tôi không thể tưởng tượng được, tại sao chỉ cơm vắt, xẻng tay mà bộ đội ta lại có thể đào được nhiều hầm hào trong sỏi đá dưới đạn bom đến thế. Lính trinh sát chúng tôi nằm nhiều hơn ngồi, bò nhiều hơn đi, đi bằng tay nhiều hơn bằng chân. Riêng chỉ hai con mắt thì không được chớp khi đã bắt được mục tiêu. Tôi đã chiến đấu 8 trận, hai lần bị thương vì sức ép bom. Từ tiểu đội phó, tôi lên trung đội trưởng, thay đồng chí trung đội trưởng hy sinh. Trận cuối cùng tôi dự là trận đồi Độc Lập. Ta và địch nhìn rõ cúc áo nhau. Đêm ta đào hào, ngày chúng nó có phi pháo yểm trợ, lấn ra lấp hào. Lại đào, lại vây, lại chui sâu vào lòng đất. Giành giật nhau từng tấc đất dưới bùng nhùng dây thép gai và khói pháo, đạn, mìn khét lẹt.


Sáng 30 tháng 4 năm 1954, ta mở đợt xung phong độn thổ xuyên rào. Địch bị bất ngờ, bắn như vãi đạn rồi bỏ chạy. Trung đội tôi vồ được 3 tên địch, tiêu diệt 12 tên. Do hỏa lực của địch quá mạnh, quân ta phải tạm dừng. 5 chiến sĩ bị thương, hy sinh 2. Trung đội chỉ còn 11 tay súng, 2 khẩu trường Mát và khẩu Tôm-xông thu được của địch là còn đạn. Chờ tiếp viện, phải bắn chính xác, dè sẻn từng viên đạn. Quả lựu đạn "chầy" cuối cùng của chúng tôi đã tọng đúng ổ súng máy của địch. Chớp thời cơ, tôi vọt lên khỏi chiến hào, vung tay ném một hòn đất giả lựu đạn để bọn địch phải cúi xuống. Chúng tôi hô xung phong! Rồi xông lên đánh giáp lá cà với bọn Lê dương. Bất ngờ tôi trúng đạn, đổ vật xuống, chân phải tê dại, máu đầm đìa.


Thế là, giữa lúc Điện Biên sắp giải phóng đến nơi rồi mà tôi phải ngậm ngùi, rời trận địa. Lời hứa của thủ trưởng Nguyễn Chuông với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi Đại tướng về thăm đơn vị ngày đầu chiến dịch vẫn văng vẳng bên tai tôi: "Đoàn kết, anh dũng chiến đấu, lập công đầu, giải phóng Điện Biên". Nước mắt tôi trào ra.


Tại Viện K34, thương binh chuyển về chật cứng. Thiếu thốn trăm bề. Các bác sĩ, y tá, hộ lý ở đây không có khái niệm nghỉ. Họ phải giành giật với thần chết sự sống mỏng manh của các thương binh. Cô hộ lý vừa động viên tôi vừa nhẹ nhàng thay băng. Mảng lá chuối tươi hơ lửa thay bông được áp vào vết thương và băng lại bằng mọi thứ vải. Dùng lá chuối băng như vậy ngăn được vi khuẩn và khi thay băng không bị dính, đỡ đau, nhanh lành.


Tôi bỗng nhận ra một cô hộ lý quen quen. Đúng rồi, chính là cái cô hộ lý mà tôi đã biếu miếng trầu ở chiến hào bữa nọ. Cô cũng nhận ra tôi và vui mừng như gặp lại một người thân tự bao giờ. Vết thương của tôi dần lên da non và tình yêu giữa hai chúng tôi cũng bắt đầu từ đấy, rồi sau này chúng tôi thành vợ chồng.


Năm 1957, tôi phục viên về làm xã đội trưởng được 4 năm rồi lại vào "Thanh niên xung phong", ngược Na Mèo - Sầm Nưa sang giúp nước bạn Lào. Năm 1962, tôi chuyển ngành về Ty Lâm nghiệp Bắc Kạn. Năm 1973 sang công tác tại Chi cục kiểm lâm Bắc Thái cho đến 1983 thì về hưu. Bà nhà tôi cũng mãi đến năm 1983 mới về nghỉ, cả quá trình công tác, tôi và bà ấy cứ như vợ chồng ngâu. Ấy vậy mà chúng tôi vẫn có hai con, hai chú bộ đội đánh Mỹ, nay đã phục viên, có vợ con.


Giờ đây đã về già, nhưng mỗi khi nghĩ đến Điện Biên tôi lại thấy rạo rực sức trẻ tuổi đôi mươi. Biết bao chiến sĩ đồng bào đã cống hiến sức người sức của cho Điện Biên. Bao máu đào đổ xuống ở tuổi đôi mươi. Họ trẻ mãi với Điện Biên.


Hàng năm, vào ngày 7 tháng 5, hội quân tình nguyện chúng tôi họp mặt. Chúng tôi hứa với nhau, dù hoàn cảnh nào cũng phải sống xứng đáng với những gì đã có. Có thể "già" nhưng không chấp nhận "nua". Chúng tôi thường động viên thế hệ trẻ trân trọng và phát huy truyền thống cách mạng của cha ông, của quê hương, đất nước. Tôi thấy thế hệ trẻ ngày nay sống đẹp, không hề hổ thẹn với cha anh. Cho đến giờ tôi vẫn tin là tôi nhìn đúng tuổi trẻ và kỳ vọng ở họ. Trong cấp ủy Đảng, tôi được giao công tác tổ chức, tôi đã trực tiếp theo dõi, giúp đỡ, xác minh lý lịch cho hàng chục thanh niên ưu tú vào Đảng. Đồng chí nào cũng có chí tiến thủ mạnh mẽ. Tình cờ, tôi có diễm phúc là năm 1962 được xác minh lý lịch cho anh Nông Đức Mạnh, khi cấp ủy xét kết nạp anh vào Đảng. Nay anh là Tổng Bí thư của Đảng. Tôi có hai năm liền công tác cùng đồng chí Mạnh ở đội điều tra rừng nên rất tin tưởng ở chàng trai đầy nghị lực này. Và điều đó đã đúng. Thế hệ trẻ ở thời đại nào cũng đóng vai trò quyết định đối với lịch sử và vận mệnh đất nước. Tôi tin điều ấy ngay từ khi hăm hở làm anh bộ đội Cụ Hồ. Đến nay đã nửa thế kỷ trôi qua, tôi vừa có dịp thăm lại Điện Biên.


Quá khứ với tương lai là một. Điện Biên năm xưa đâu phải chi là ký ức. Thành phố miền Tây ấy đang vươn lên sau nửa thế kỷ chuyển mình để tiến lên ngang tầm với lịch sử. Vừa rồi, ở Điện Biên, một anh bạn trẻ cùng leo lên đồi A1 đã tặng tôi bài thơ như sau:

Hoa Ban
Ngỡ là mây trắng trên cao
Lại là lấp lánh ngàn sao trên trời
Tưởng qua hết dốc thì thôi
Càng đi càng thấy ngời ngời hoa
Ban Nghiêng trời một vẻ hồng nhan
Thơm hương áo lụa, áo làn mây say
Ngẩn ngơ trời đất miền Tây
Làn hương gió thoảng thơm đầy Điện Biên.

N.B


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:39:04 am
CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN,
ANH HÙNG LƯU VIẾT THOẢNG TRONG THỜI ĐỔI MỚI


NGUYỄN QUANG TIẾN


Một ngày đầu thu, chúng tôi về thăm làng kháng chiến Cảnh Thụy, xã cảnh Thụy, huyện Yên Dũng, tình Bắc Giang. Cảnh Thụy là một trong bốn xã anh hùng của huyện Yên Dũng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Ong Văn Minh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Cảnh Thụy, đưa chúng tôi về thăm Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lưu Viết Thoảng, một chiến sĩ Điện Biên năm xưa.


Ra đón chúng tôi là một ông già mái tóc đã bạc, khoảng ngoài tám mươi tuổi, nhưng da đỏ hồng hào, cặp mắt tinh anh, bước chân nhanh nhẹn. Chính đây là anh hùng quân đội Lưu Viết Thoảng. Qua lời giới thiệu của đồng chí Chủ tịch Cựu chiến binh xã, biết chúng tôi là những người làm báo, bác Thoảng vui vẻ kể chuyện Điện Biên theo yêu cầu của chúng tôi.


Năm 1944, anh Lưu Viết Thoảng tham gia Đoàn Thanh niên cứu quốc, Đội tự vệ đỏ. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng và Ủy ban khởi nghĩa, ngày 18 tháng 8 năm 1945 anh đã cùng lực lượng thanh niên, đội tự vệ và nhân dân địa phương đứng lên cướp chính quyền, bắt tri huyện Yên Dũng Nguyễn Khắc Dậu chiu tội trước nhân dân.


Sau Cách mạng tháng Tám, xã Cảnh Thụy xây dựng được một đội du kích trẻ, khỏe và một đội bạch đầu quân, xây dựng làng kháng chiến, đào hào, đắp luỹ, rào làng chiến đấu, đặt hầm chông cạm bẫy, bám đất, bám làng với khẩu hiệu "Một tấc không đi, một ly không rời", hợp đồng chặt chẽ với bộ đội địa phương bảo vệ quê hương Cảnh Thụy. Nhiều cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra giữa ta và địch. Quân Pháp có máy bay yểm trợ mở nhiều đợt càn quét với quy mô rộng lớn vào làng kháng chiến. Song chúng đều phải chịu thất bại trước sức mạnh chiến đấu của bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân Cảnh Thụy.


Hậu phương được củng cố vững chắc, mùa xuân 1949, anh Thoảng và một số trai làng tình nguyện tham gia bộ đội chủ lực, vào tiểu đoàn 60 công binh thuộc Sư đoàn 308. Sau đó lại chuyển sang Sư đoàn pháo binh 351. Năm 1949 anh tham gia chiến dịch Quảng Hồng (Quảng Ninh); năm 1950, tham gia chiến dịch biên giới Cao Bắc Lạng; năm 1951 tham gia chiến dịch đường số 6 Hòa Bình; năm 1952 tham gia chiến dịch đồng bằng Hà Nam Ninh; năm 1953 tham gia chiến dịch Điện Biên cho đến ngày giải phóng Điện Biên ngày 7 tháng 5 năm 1954.


Anh làm nhiệm vụ phá bom nổ chậm ở các trọng điểm trên quốc lộ 6, quốc lộ 16, đèo Lũng Lô, đèo Pha Đin, dốc Cun Hòa Bình, rồi về Hát Lót tham gia mở đường cho bộ đội ta kéo pháo vào trận địa Điện Biên, tham gia đào hầm hào giao thông ở lòng chảo Điện Biên, mở đường cho bộ đội ta tấn công đồi A1, đồi Him Lam và Bản Kéo.


Hơn 20 ngày đêm lao động khẩn trương, bộ đội ta đã đào hàng trăm kilômét hào giao thông như chiếc dây thòng lọng khổng lồ xiết chặt tập đoàn cứ điểm cố thủ của giặc Pháp ở Điện Biên. Đặc biệt đào chiếc hầm sâu 49 mét vào trong lòng cứ điểm đồi A1, cần có 48 chiến sĩ mang vác, vận chuyển gần 1 tấn thuốc nổ vào hầm sâu đồi A1, bình quân mỗi chiến sĩ vác 20   ki-lô-gam thuổc nổ. Đơn vị lấy tinh thần xung phong. Vừa dứt lời của chỉ huy, hàng trăm cánh tay giơ lên xin làm nhiệm vụ quan trọng và nguy hiểm này. Sau đó, trung đoàn trưởng và chính ủy trung đoàn giao nhiệm vụ cho ba đảng viên: Lưu Viết Thoảng là tổ trưởng Đảng, Phú Xuân Khung là đội trưởng và Nguyễn Văn Bạch là tổ viên, nhiệm vụ đặc biệt: trực tiếp xếp khối thuốc nổ gần 1 tấn vào trong hầm.


Đúng 21 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, chiến sĩ Nguyễn Văn Bạch giật nụ xoè. Một tia chớp và một tiếng nổ chuyển đất. Cả lòng chảo Điện Biên mịt mù trong khói lửa. Đồi A1, pháo đài thép của quân đội Pháp ở Điện Biên tan tành, cả lòng chảo Điện Biên bặt im tiếng súng.


Lá cờ Quyết chiến quyết thắng của Hồ Chủ tịch được các chiến sĩ ta cắm lên đỉnh nóc hầm tướng Đờ-cát. Toàn bộ Bộ chỉ huy quân sự, hơn 1 vạn sĩ quan, binh lính địch bị bắt sống lũ lượt kéo cờ trắng ra hàng.


Đến 16 giờ ngày 8 tháng 5, cán bộ ta đã kiểm tra sức công phá của khối thuốc nổ: Một miệng hố rộng gần 50 mét, sâu hơn 30 mét. Sau trận này, đội trưởng Khung được ra gặp Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đại tướng khen ngợi tổ chiến đấu ba người: Thoảng, Khung và Bạch. Ban chỉ huy Trung đoàn 174, Sư đoàn 316 tặng giấy khen cho ba chiến sĩ ngay tại trận địa.


Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, hòa bình lập lại ở Đông Dương nhưng miền Nam vẫn còn đế quốc xâm lược, đất nước còn bị chia cắt. Lưu Viết Thoảng lại cùng đơn vị tiếp tục xây dựng bộ đội công binh. Anh được điều về Cục Công binh thuộc Bộ tư lệnh Công binh xây dựng những công trình quan trọng đặc biệt để bảo vệ Trung ương Đảng, Bác Hồ và cơ quan Nhà nước.


Một vinh dự lớn lao đến với Lưu Viết Thoảng: Năm 1956 anh được Đảng và Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cuối năm 1989, Anh hùng Lưu Viết Thoảng về nghỉ hưu tại quê nhà với cấp hàm Đại tá. Ông làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Trần Phú thị xã Bắc Giang một thời gian rồi chuyển về quê: thôn Đông, xã Cảnh Thụy, huyện Yên Dũng.


Buổi đầu gia đình ông có nhiều khó khăn. Vợ già yếu, con gái lớn đi lấy chồng, con trai đi bộ đội, hai vợ chồng già sống trong một nếp nhà tranh đơn sơ. Không chịu cảnh đói nghèo, được vợ con ủng hộ, ông đào ao lấy đất đóng hơn một vạn gạch xây dựng ba gian nhà ngói. Ông quyết định phá toàn bộ khu vườn tạp, quy hoạch lại sản xuất theo mô hình kinh tế VAC, vay vốn ngân hàng và bà con lối xóm, ông đầu tư hơn 50 triệu đồng đào 120m2 ao chăn nuôi ba ba, 300m2 nuôi cá, xây 60m2 chuồng lợn và hơn 500m2 vườn sản xuất rau giống, rau ăn. Đến nay, vườn ao chuồng của ông có gần 1 tạ ba ba thịt, 1,5 tấn lợn hơi, hàng tạ cá và vài ba tạ rau xanh, bình quân thu nhập kinh tế vườn ao chuồng đạt 25-30 triệu đồng/năm.


Sau nhiều năm phái đấu làm kinh tế, ông đã tích lũy vốn liếng xây dựng cho con trai một cơ ngơi khang trang đẹp đẽ với hơn 150m2 nhà cao tầng, có khuôn viên xanh, sạch, đẹp, đầy đủ tiện nghi, với tổng giá trị gần 200 triệu đồng. Ông nói: "Có chí làm quan, có gan làm giầu". Ông đã xóa được đói, giảm được nghèo, trở nên khá giả. Không chỉ làm giàu cho mình, ông còn giúp đỡ bà con trong xóm tiền vốn, vật tư, giống và cách làm ăn để cùng phát triển kinh tế, cùng xoá đói giảm nghèo đạt hiệu quả kinh tế cao. Ông đóng góp hàng triệu đồng xây dựng trường mầm non và nhà văn hoá, bê tông hoá đường làng ngõ xóm.


Hàng năm, vào các ngày lễ lớn của dân tộc, của quân đội, cũng như vào dịp Đại hội Đảng bộ, Đại hội Cựu chiến binh các cấp, Đại hội thi đua yêu nước, ông được mời về dự. Ông thường đi nói chuyện truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ" cho học sinh, sinh viên các trường học và thanh thiếu niên ở nhiều nơi trong tỉnh.


Thực hiện lời dạy của Bác Hồ "Tuổi cao chí càng cao", ông luôn rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng, sống giản dị thật thà, chất phác, thân ái đoàn kết, hòa nhập với cộng đồng dân cư, quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, các đoàn thể trong sạch vững mạnh, khu dân cư tiên tiến, góp phần xây dựng quê hương giàu đẹp. Ông luôn là đảng viên đủ tư cách loại một, hội viên Cựu chiến binh xuất sắc, ông bà mẫu mực, được Đảng tin, dân mến, mọi người noi theo học tập.


Hơn 80 tuổi đời, 50 tuổi Đảng và 40 tuổi quân, Anh hùng Lưu Viết Thoảng, chiến sĩ Điện Biên năm xưa, vẫn giữ vững và phát huy tốt đẹp phẩm chất người anh hùng trong thời kỳ đổi mới.

Q.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:40:29 am
VỀ ĐỜI THƯỜNG, VẪN LÀ "CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN"


BÙI VĂN THỌ


Năm 1954, bước vào chiến dịch Điện Biên, anh thanh niên Bùi Quang Thiệu đã là tiểu đội trưởng quân báo của Đại đoàn 312.

Trước khi vào bộ đội, Bùi Quang Thiệu đã có một quá tình hoạt động cách mạng rất sớm, từ tuổi thiếu niên: mười bốn tuổi (1940) là liên lạc viên của chi bộ Đảng xã Thượng Trưng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (cũ); mười bảy tuổi (1943) được kết nạp vào Đảng, là đội viên Đội tuyên truyền; mười chín tuổi (1945) tham gia khởi nghĩa ở huyện; hai mươi tuổi (1946) vào bộ đội địa phương huyện; hai mươi bốn tuổi (1950) vào Đại đoàn 312.


Ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng, mở màn chiến dịch Điện Biên, diệt cứ điểm đồi Him Lam. Ở đơn vị của Thiệu, xuất hiện gương anh hùng Tô Vĩnh Diện tác động rất lớn, nâng cao khí thế chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Đêm 14 tháng 3, quân ta đánh đồi Độc Lập. Cuộc chiến diễn ra rất gay go, quyết liệt. Sau 3 giờ xung trận, bộ đội ta được lệnh tạm ngừng tiến công. Tổ quân báo Đại đoàn 312 do Quang Thiệu chỉ huy, được Phó tư lệnh Đàm Quang Trung giao nhiệm vụ trinh sát nắm chắc tình hình địch. Tổ của Thiệu đã đột kích mau lẹ, bắt được ba tên lính Âu Phi giải lên cấp trên khai thác. Có thêm thông tin, đêm 15 tháng 3, quân ta đã tiêu diệt gọn cứ điểm đồi Độc Lập, ngày 17 tháng 3, địch bỏ chạy khỏi Bản Kéo.


Ngày 30 tháng 3 quân ta mở chiến dịch đợt 2. Đại đoàn 312 đánh vào cứ điểm đồi A1. Cuộc chiến giằng co ác liệt gần 30 ngày đêm. Đây là cứ điểm quan trọng số 1 bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh của Pháp từ phía đông. Tổ quân báo có nhiệm vụ cùng đài quan sát thu nhận thông tin và kiểm tra thật chính xác cứ liệu để cấp trên chọn mục tiêu đánh lô cốt hỏa lực địch trên đồi A1. Phương án tác chiến được vạch ra. Bộ đội ngày đêm đào những hào giao thông từ chân đồi lên đúng ngầm đáy lô cốt hỏa lực địch. Tổ "Cảm tử quân" của đồng chí Bạch, quê Vĩnh Phúc kéo dây cháy chậm, ôm bộc phá đặt vào vị trí đã định. Tổ cảm tử từ đường hầm trở về vị trí an toàn thì dây cháy chậm được châm lửa. 10 phút... 15 phút, quá giờ đã định rồi mà khối bộc phá ngàn cân chưa nổ. Hồi hộp... hồi hộp; cả đơn vị nín thở. Đồng chí Bạch lại lao vào đường hầm, thì ra dây đứt. Bạch nối dây và châm lửa. 5 phút sau lô cốt hỏa lực địch trên đồi A1 nổ tung. Bộ đội ta ào ào tiến vào khu trung tâm Mường Thanh.


Ngày 7 tháng 5 cờ Quyết thắng của Hồ Chủ tịch đã phấp phới tung bay trên nóc hầm chỉ huy của tướng Đờ-cát.

Trên đây là quá trình tham gia chiến đấu lập công của tiểu đội trưởng quân báo Bùi Quang Thiệu trong chiến dịch Điện Biên theo chính lời kể của người chiến sĩ Điện Biên năm xưa. 50 năm đã trôi qua từ ngày ấy.


Hôm nay, tôi đến với Bùi Quang Thiệu, ông đã gần tám mươi tuổi. Xin lại được ghi tiếp đôi điều về ông từ khi ông nghỉ về sống ở quê nhà.

Thành thói quen, 4 giờ sáng ông Thiệu dậy tập thể dục dưỡng sinh cùng các cựu chiến binh, sức khỏe ông tốt, tinh thần sảng khoái, đầu óc minh mẫn. Ông tích cực tham gia mọi hoạt động góp phần xây dựng thôn làng phồn thịnh.


Ủy ban nhân dân phát động phong trào làm đường bê tông đưa xuống thôn xóm bàn thực hiện. Dự toán mỗi nhân khẩu đóng góp 90.000 đồng. Hôm họp hội nghị toàn dân, ông Thiệu đã nêu ý kiến: "Căn cứ vào tình hình thực tế thôn ta, mức 90.000 đồng cao quá, chỉ nên đặt mức mỗi nhân khẩu 50.000 đồng, số tiền còn thiếu so với dự toán thì kêu gọi anh em, con cháu công tác ở xa gửi về giúp đỡ. Đồng thời vận động người có lương trong thôn ủng hộ thêm, cả Hội nghị đều đồng thanh nhất trí với ông. Tiền thu theo đầu khẩu trong ba ngày đã huy động đủ. Thư gửi đi, tiền ủng hộ lần lượt gửi về. Qua một tháng thi công, đường bê tông đã hoàn thành, ủy ban nhân dân xã xuống nghiệm thu thanh toán dứt điểm, số tiền còn dư đưa vào trang bị điện chiếu sáng công cộng, đêm về đèn đường điện sáng như là phố huyện.


Đối với việc làng việc thôn, ông Thiệu quan tâm như vậy, đối với việc gia đình, việc họ ông cũng rất chu đáo. Giỗ tổ họ Bùi mỗi năm tổ chức một lần, ông động viên con cháu dòng họ xa gần về đông đủ để ôn lại truyền thống hào hùng của cha ông đồng thời tuyên dương thành tích học tập của những con cháu trong năm học vừa qua đạt kết quả xuất sắc.


Họp hội đồng gia tộc, ông nêu ý kiến:

- Trong gia đình có nếp sống ăn ở thuận hòa thì ngoài xã hội sẽ được trật tự văn minh. Dòng họ và xóm thôn là một gia đình lổn, phi nội tác ngoại đều là anh em, vì cây dây quấn có tình máu thịt, nghĩa láng giềng, phải biết yêu thương đùm bọc lấy nhau.


Lời của ông đậm bản chất anh bộ đội Cụ Hồ năm xưa. Ông Thiệu còn quan tâm đến nhiều công việc quan trọng khác của địa phương. Ông vận động bà con xây dựng quỹ khuyến học, mỗi nhân khẩu góp một nghìn đồng/năm, động viên con cháu học tập. Ông nêu gương cháu Bùi Xuân Tùng con ông Nông Soạn ở xóm Chùa là sinh viên đại học được chọn vào lớp tài năng trẻ, hai năm liền nhận học bổng Quốc tế.


Ông hoan nghênh và tham gia việc tạo lập Hương ước để thắt chặt tình đoàn kết và nêu cao trật tự, kỷ cương trong cuộc sống của thôn làng.


Ông gương mẫu và tích cực vận động bà con các đoàn thể, các ngành, các giới ra sức xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, đặc biệt quan tâm đến thực hiện chính sách đối với liệt sĩ, thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, phong trào giúp đõ người nghèo, về chuyện xây dựng hạnh phúc gia đình của thanh niên, ông nêu ý kiến:

- Trai gái đã trưởng thành tìm hiểu nhau để xây dựng hạnh phúc là quyền lợi chính đáng của tuổi trẻ. Khi trai gái đã thuận tình thành lứa đôi, chúng ta ủng hộ. ủy ban xã nên tổ chức lễ đăng ký kết hôn trang trọng và tiết kiệm...

Cuộc sống hiện nay của ông Bùi Quang Thiệu ở quê nhà là như thế.

Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà bà con khắp thôn làng, già trẻ, lớn bé, mọi người đều yêu quý ông, "Anh bộ đội Cụ Hồ", "Người Chiến sĩ Điện Biên" năm xưa, nay vẫn là "Bộ đội Cụ Hồ", "Chiến sĩ Điện Biên".

B.V.T


Tiêu đề: Âm vang Điện Biên
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 11 Tháng Giêng, 2022, 07:41:38 am
CHIẾN SĨ DÂN CÔNG ĐIỆN BIÊN NĂM XƯA
NAY LÀ ANH HÙNG LAO ĐỘNG


NGUYỄN ĐỨC DONG ghi


Phạm Duy Chúc sinh ra trong một gia đình bần nông ở thôn La Hào, xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Cuối năm 1952 Chúc xung phong đi dân công phục vụ chiến dịch Tu Vũ và Hòa Bình, thời gian 3 tháng. Trong đợt này Chúc được đơn vị khen thưởng vì đã có thành tích giúp đỡ đồng đội ốm mệt, chuyển được 15 gánh gạo qua sông an toàn. Không may cuối đợt, Chúc bị thương phải về địa phương chữa chạy. Cuối tháng 11 năm 1953 vết thương đã lành, sức đã hồi phục, Phạm Duy Chúc lại xung phong đi phục vụ chiến dịch Điện Biên. Tiểu đoàn dân công huyện Thanh Thủy lên đường, có nhiệm vụ tải gạo từ kho Sem Sụ lên Điện Biên. Chúc được giao làm tổ trưởng tổ tiền trạm. Đi tiền trạm là đối mặt với khó khăn, gian khổ và nguy hiểm. Phải đi ban ngày, phải tính độ đường đúng cho đoàn dân công sao cho đi một đêm là vừa đúng đến chỗ nghỉ. Chỗ nghỉ phải kín đáo, an toàn, gần nguồn nước để dân công tiện tắm giặt, nấu ăn. Tuy đi tiền trạm, anh em vẫn phải mang vác đủ số gạo như mọi dân công khác. Chọn được chỗ nghỉ rồi phải chuẩn bị bêp nấu củi đốt để dân công đến là nấu ăn được ngay trước khi trời sáng.


Do công tác tiền trạm tiến hành tốt nên chưa đầy 20 ngày, tiểu đoàn dân công Thanh Thủy đã vượt qua mọi khó khăn lên đến đất Lai Châu. Các địa danh Đèo Cón, Mường Cơi, Sơn La, cánh đồng Quang Huy, Tông Cao, đèo Pha Đin, ngã ba Tuần Giáo, bước chân của Chúc và đoàn dân công đã đi qua an toàn. Từ đá Sơn La trở xuống, dân công hành quân đêm được đốt đuốc, nhưng từ Tuần Giáo trở lên phải đi mò. Một hôm, ở chân đèo Cò Chạy thuộc Lai Châu, đoàn dân công và một đơn vị pháo binh bị máy bay giặc phát hiện. Hàng đàn quạ sắt địch xúm đến ném bom đủ loại, đại bác địch từ trong bắn ra trúng đội hình của hai đơn vị quân ta. Chúc cùng một số anh em bình tĩnh, dũng cảm di chuyển dưới làn bom đạn địch, hướng dẫn anh em dân công rút khỏi nơi bị địch đánh phá Trận này tiểu đoàn dân công thiệt hại một số hàng và 4 chiến sĩ dân công hy sinh trong đó có tiểu đoàn trưởng Mai. Một số anh em dân công dao động, đơn vị phải rút vào khe núi để nghỉ ngơi và củng cố lại lực lượng. Anh Chúc cùng hai anh nữa xung phong trở lại nơi vừa bị đánh phá để thu lượm hàng và chôn cất liệt sĩ. Hai anh em đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Đơn vị được lệnh bàn giao hàng, đại bộ phận trở lại tuyến sau. Một trung đội gồm những anh em khỏe mạnh, dũng cảm, nhanh nhẹn được cùng bộ đội vượt đèo Cò vào hỏa tuyến. Phạm Duy Chúc có mặt trong đội này. Từ đây dân công hỏa tuyến thực sự vào trận, ra vào phải đi giữa hai làn đạn pháo của ta và địch, lúc vào vác đạn, gạo, lúc ra cáng thương binh. Có đêm Chúc ra, vào hai lần, có lần anh cởi áo mình đắp cho thương binh. Tinh hình ác liệt như vậy nên một vài anh em dao động muốn xin rút ra phía sau. Chúc đã kịp thời động viên và hăng hái đi đầu để anh em theo. Ngoài hỏa tuyến bộ đội không thiếu đạn nhưng cơm ăn có bữa chưa no vì thiếu gạo. về cứ, Chúc đã nghĩ ra cách: cắt chân quần dài của mình khâu thành cái bao đựng khoảng 10 ki-lô-gam gạo thắt quanh lưng. Buổi đầu vẫn vác được hòm đạn 30 ki-lô-gam, lại mang thêm được bao gạo 10 ki-lô-gam nữa. Cứ như vậy, sau một tuần Chúc đã mang vượt kế hoạch 7 bao gạo ra hỏa tuyến cho bộ đội. Ngày 10 tháng 2 năm 1954, Tổng cục Cung cấp tổ chức lễ trao giấy khen cho Phạm Duy Chúc vì đã có tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, giúp đỡ anh em đồng đội, vận tải vượt kế hoạch 66%. Tổng Cục trưởng Trần Đăng Ninh đến tận đơn vị trao quyết định cùng giấy khen và phát động đợt thi đua trong dân công hỏa tuyến học tập và làm theo gương Phạm Duy Chúc. Thế là rất nhiều những bao gạo vượt kế hoạch kiểu Phạm Duy Chúc được đưa vào tận cứ và bộ đội được ăn no hơn trước.


Gần kết thúc chiến dịch, đoàn dân công hỏa tuyến của Chúc được lệnh rút về phía sau. Trở về đến địa phương cũng là lúc chiến dịch Điện Biên kết thúc thắng lợi. Với thành tích phục vụ chiến dịch từ 20 tháng 12 năm 1953 đến hết tháng 5 năm 1954, Chúc được ba giấy khen của Tổng cục Cung cấp, của Ban Cán sự dân công, của Tinh đoàn Thanh niên Cứu quốc tình Phú Thọ. Ngày 10 tháng 3 năm 1954 Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 83 tặng Huân chương Kháng chiến hạng ba cho Phạm Duy Chúc do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký. Vinh dự lớn nhất đối với Phạm Duy Chúc là được Bác Hồ tặng ảnh có chữ ký của Người.


Trở về địa phương, Phạm Duy Chúc tiếp tục lập được nhiều thành tích trong phong trào khai hoang phục hóa, cải tiến nông cụ, cải tiến kỹ thuật, phong trào xây dựng tổ vần công, tổ đổi công và tiến lên xây dựng Hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao. Nhiều năm liền làm chủ nhiệm Hợp tác xã thôn đến toàn xã, anh đã hết lòng phấn đấu cùng Đảng bộ đưa Hdp tác xã nông nghiệp Xuân Lộc trở thành lá cờ đầu của các hợp tác xã huyện Thanh Thủy nói riêng và tỉnh Phú Thọ nói chung. Liên tục từ 1954 đến 1958 anh đều được bầu là Chiến sĩ Thi đua ngành nông nghiệp cấp tỉnh và toàn quốc. Từ 1958 đến 1962 anh được tặng ba Huân chương Lao động các hạng Nhất, Nhì, Ba. Năm 1962, anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, rất nhiều lần anh được gặp Bác Hồ. Năm 1964, Phạm Duy Chúc trúng cử đại biểu Quốc hội khóa in (1864 đến 1971).


Nay tuổi cao sức yếu, cụ Phạm Duy Chúc nghỉ tại quê nhà. Các con cụ đều vào bộ đội, chuyển ngành sang công nhân, ở xa. Hai vợ chồng người anh hùng là hai bạn dân công Điện Biên năm xưa vẫn ở ngôi nhà cũ tại thôn La Hào, xã Xuân Lộc, Thanh Thủy, Phú Thọ.

N.Đ.D