Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Một, 2019, 10:26:42 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20194 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #210 vào lúc: 16 Tháng Một, 2019, 11:30:39 PM »


        Khi nhìn lại tất cả những điều này, tôi nhớ chuyện một ông già lúc lâm chung nói rằng đời ông đã trải qua một mớ lo âu mà phần lớn không bao giờ xảy ra. Điều này tất nhiên là đúng với cuộc đời tôi trong thời gian tháng 9 năm 1940. Quân Đức bị đánh bại trong trận Không chiến trên đất Anh. Họ không còn cố gắng xâm lược Vương quốc Anh từ bên kia biển. Thực tế là vào thời kỳ này Hitler đã quay nhìn sang phía Đông. Quân Ý không dồn dập tấn công vào Ai Cập. Lữ đoàn xe tăng đi vòng quanh mũi Hảo Vọng đến nơi đúng lúc thực sự không phải để giúp cho trận đánh phòng thủ ở Mersa Matruth hồi tháng 9 mà để giúp cho cuộc hành quân sau đó lớn hơn có một không hai. Chúng tôi cung cấp phương tiện cho Malta trước bất kỳ cuộc không kích dữ dội nào vào đó và không ai dám mưu toan hạ cánh xuống hòn đảo pháo đài này bất cứ lúc nào. Tháng 9 đi qua như vậy.

        Một hành động tàn bạo mới, tuy không hoàn toàn bất ngờ, do Mussolini, bằng những thế cơ nhằm đánh lạc hướng và những hậu quả có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả mọi việc phiền não của chúng tôi, lúc này hiện ra trên sân khấu Địa Trung hải.

        Lãnh tụ phát xít Ý quyết định dứt khoát tấn công Hy Lạp ngày 15 tháng 10 năm 1940, trước rạng đông ngày 28, Công sứ Ý ở Athens gửi tối hậu thư đến tướng Métaxas thủ tướng Hy Lạp, Mussolini đòi toàn bộ Hy Lạp phải để ngỏ cửa cho quân đội Ý. Đồng thời quân Ý ở Albania xâm chiếm Hy Lạp tại nhiều điểm. Trên biên giới, quân đội Hy Lạp đã bác bỏ tối hậu thư ấy. Họ cũng cầu khẩn sự bảo đảm do ông Chamberlain đưa ra ngày 13 tháng 4 năm 1939. Nhất định chúng tôi phải thực hiện điều cam kết này. Theo 1ời khuyên của Nội các Chiến tranh và xuất phát từ chính nhiệt tâm của mình, Nhà Vua phúc đáp cho Vua Hy Lạp như sau: "Sự nghiệp của Ngài cũng là sự nghiệp của tôi, chúng ta sẽ cùng đánh kẻ thù chung". Còn tôi hưởng úng lời kêu gọi của tướng Métaxas: "Nhất định chúng tôi dành cho Ngài mọi sự giúp đỡ theo khả năng của chúng tôi. Chúng ta quyết đánh kẻ thù chung và nhất định chúng ta cùng chiến thắng".

        Chúng tôi không phải cung cấp gì ngoài một vài phi đội, một phái đoàn Vương quốc Anh và một số quân tượng trưng, cho dù những thứ lặt vặt này phải trích ra một cách khó khăn từ những kế hoạch tích cực đã đem lại niềm phấn khỏi cho chiến trường Libi. Một vị trí chiến lược nổi bật đối với chúng tôi - đảo Crete! Quân Ý không thể giành lấy. Chúng tôi phải chiếm lấy đảo trước hết và ngay lập tức. Vào lúc này, có cái thuận lợi là ông Eden đang ở Trung Đông, như vậy tôi có được tại chỗ một đồng sự cấp bộ trưởng để xúc tiến công việc. Tôi đánh điện cho ông, và theo 1ời mời của Chính phủ Hy Lạp mấy ngày sau, lực lượng chúng tôi chiếm đóng vịnh Suda, cảng tốt nhất của đảo Crete.

        Câu chuyện vịnh Suda thật đáng buồn. Cho đến năm 1941 tấn bi kịch chưa xảy ra. Tôi tin rằng vào lúc này hầu như tôi nắm được quyền trục tiếp chỉ đạo chiến tranh như bất kỳ nhân vật hoạt động xã hội nào ở bất cứ nước nào. Kiến thúc của tôi, 1ờng trung thành và sự giúp đỡ có hiệu lực của Nội các Chiến tranh, lòng trung kiên của tất cả các bạn đồng sự của tôi, hiệu quả luôn luôn tăng lên của bộ máy chiến tranh của chúng tôi, tất cả đều mở ra khả năng cho một sự tập trung mạnh mẽ quyền lực đúng với Hiến pháp sẽ được hoàn thanh. Vậy mà việc Bộ Tư lệnh Trung Đông thực thi điều đã được ra lệnh, điều mà tất cả chúng tôi đều mong muốn, lại hết sức thiển cận. Nhằm đánh giá đúng những hạn chế trong hành động của con người, phải nhớ rằng trong cùng một lúc, quá nhiều việc đã xảy ra khắp nơi. Tuy nhiên điều vẫn làm tôi ngạc nhiên là lẽ ra chúng tôi đã thất bại trong việc làm cho vịnh Suda thanh căn cứ hải lục quân mà toàn bộ đảo Crete là pháo đài của căn cứ này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #211 vào lúc: 16 Tháng Một, 2019, 11:31:27 PM »


*

        Xuất phát từ Albania, cuộc xâm lược Hy Lạp của Ý là một sự thất bại bất ngờ nặng nề đối với Mussolini. Cuộc tấn công lần thứ nhất của họ bị đẩy lùi và bị tổn thất nặng nề, dương như quân Hy Lạp phản công ngay lập tức. Quân đội Hy Lạp do tướng Papagos chỉ huy, tỏ ra thiện chiến ở rừng núi, giỏi trội hơn quân địch, họ đánh vào sườn quân địch. Đến cuối năm thì sự dũng cảm của họ đã buộc quân Ý phải lùi về phía sau biên giới Albania 30 dặm dọc theo toàn mặt trận. Trong nhiều tháng, 16 sư đoàn quân Hy Lạp đã đánh tiêu hao 27 sư đoàn quân Ý ở Albania. Cuộc kháng chiến phi thường của Hy Lạp đã cổ vũ nhiều các nước khác vùng Balkan, còn uy tín của Mussolini thì chìm xuống thấp.

        Có nhiều việc phải theo dõi. Ngày 8 tháng 11, ông Eden trở về nước, tối hôm ấy, sau cuộc đột kích thường lệ đã bắt đầu, ông đến gặp tôi. Ông đem theo một điều bí mật được gìn giữ cẩn thận mà tôi mong được biết sớm. Eden trình bày rất đầy đủ, chi tiết cho một nhóm có chọn lọc kể cả Tổng Tham mưu trưởng Hoàng gia và tướng Ismay, kế hoạch tấn công do tướng Wawell và tướng Wilson nghĩ ra và soạn thảo. Phải chăng chúng tôi không phải đợi lâu hơn nũa cuộc tấn công của quân Ý vào các chiến tuyến đã được phong thủ vững chắc tại Mersa Matruth, các công việc chuẩn bị lâu dài và khôn khéo như thế đã được tiến hành để phục vụ trận đánh phòng thủ này. Trái lại trong khoảng một tháng chính chúng tôi phải tấn công.

        Tất cả chúng tôi đều vui mừng. Riêng tôi rất lấy làm thích thú. Ở đây có nhiều điều đáng làm. Tại chỗ ấy và ngay lúc ấy, tùy theo sự thỏa thuận của các Tham mưu trưởng và Nội các Chiến tranh, phải quyết định ngay việc phê chuẩn và mọi sự ủng hộ có thể có được đối với sự nghiệp tuyệt vời nay. Các kế hoạch đề xuất được trình ra đúng lúc trước Nội các chiến tranh. Tôi sẵn sàng nói rõ hoặc cho phép phát biểu tình hình. Nhưng khi các đồng sự biết rằng các tướng lĩnh tại chỗ và các Tham mưu trưởng đã hoàn toàn đồng ý với tôi và ông Eden thì họ tuyên bố không yêu cầu biết chi tiết kế hoạch, rằng họ càng biết ít càng tốt và họ toàn tâm toàn ý tán thành kế hoạch hành động tổng thể của cuộc tiến công này. Đây là thái độ của Nội các chiến tranh trong nhiều dịp quan trọng và tôi ghi lại đây mong rằng đó có thể là một thái độ kiểu mẫu, nếu trong tương lai nảy sinh những hiểm nguy khó khăn tương tự.

*

        Mặc dù trên giấy tờ hạm đội Ý đông hơn chúng tôi nhiều, nhưng lúc này sức mạnh của chúng tôi ở Địa Trung Hải đã có những tiến bộ rõ rệt. Trong khoảng tháng 9, tàu Valint, hàng không mẫu hạm có boong tàu bọc sat Illustrious, và hai tuần dương hạm có trang bị súng cao xạ đã an toàn đi qua Địa Trung Hải nhập với Đô đốc Cunningham tại Alexaderia. Cho đến nay, các tàu của ông luôn luôn bị lực lượng không quân rất nhiều hơn của Ý theo dõi và ném bom. Tàu sân bay Illustrous với những máy bay khu trục hiện đại và thiết bị ra đa tối tân, nhờ đánh hạ các đội tuần tra và các toán công kích, đã có cách giữ bí mật khác trước cho các hoạt động của chúng tôi. Lọi thế này thật hợp thời.

        Từ lâu tàu này ao ước đánh một đòn vào hạm đội Ý khi hạm đội này thả neo nằm tại căn cứ chủ yếu ở Taranto. Cuộc tấn công mở ra ngày 11 tháng 11 như là tột đỉnh của một loạt cuộc hành quân có sự phối hợp chặt chẽ. Thành phố Taranto nằm ở phía nam nước Ý cách Malta ba trăm hai mươi dặm. Bến cảng tráng lệ của nó được bố phòng ghê gớm nhằm chống lại mọi cuộc tấn công mang tính hiện đại. Việc đi đến Malta của một vài cơ quan trinh sát nhanh cho phép chúng tôi thấy rõ con mồi của mình. Chẳng mấy chốc, theo đêm tối, tàu Illustrious tung máy bay ra từ một điểm cách Taranto chừng một trăm bảy mươi dặm. Trận đánh diễn ra ác liệt trong một giờ giữa lửa đạn và sự tàn phá một số tàu của Ý. Bất chấp hỏa lực phòng không dữ dội, chúng tôi chỉ có hai máy bay bị bắn rơi, số còn lại trở về an toàn.

        Chỉ nhờ có trận đánh này mà cán cân lực lượng Hải quân ở Địa Trung Hải thay đổi một cách dứt khoát. Những ảnh chụp từ máy bay cho thấy ba chiến hạm trong đó có chiếc Littorio mới, bị ngư lôi đánh đắm, thêm vào là một tuần dương hạm bị bắn trúng, xưởng sửa chữa và đóng tàu bị thiệt hại nhiều. Một nửa hạm đội tàu chiến của Ý bị loại khỏi vòng chiến ít nhất trong sáu tháng, còn binh chủng Không quân của Hải quân Anh có thể vui mùng nhờ kỳ công dũng cảm của họ, họ đã nắm bắt được một trong những cơ hội hiếm có. Một chi tiết nhỏ mỉa mai thêm vào sự kiện này là đúng vào ngày này, theo lệnh riêng của Mussolini, lực lượng Không quân gồm các máy bay ném bom của Ý được khoảng sáu chục máy bay khu trục hộ tống oanh tạc các đoàn tàu Đồng minh ở Medway, bị máy bay khu trục của chúng tôi chặn đứng, tám máy bay ném bom và năm máy bay khu trục bị bắn rơi. Đây là sự can thiệp đầu tiên và cũng là cuối cùng của họ vào công việc nội bộ của chúng tôi. Đáng lẽ chúng có thể được sử dụng tốt hơn để bảo vệ hạm đội của họ ở Taranto.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #212 vào lúc: 16 Tháng Một, 2019, 11:31:55 PM »


*

        Trong một tháng hoặc hơn, tất cả quân đội sắp được sử dụng trong cuộc tấn công sa mạc của chúng tôi, thực hành những nhiệm vụ đặc biệt mà họ phải tiến hành trong cuộc tấn công cực kỳ phúc tạp. Chỉ một nhóm nhỏ sĩ quan mới biết được toàn bộ mục tiêu của kế hoạch, hầu như không có điều gì được ghi ra trên giấy. Ngày 6 tháng 12, đạo quân hoàn toàn cơ giới của chúng tôi, đen sạm vì nắng gió và dày dạn công lao, chừng khoảng hai mươi lăm nghìn người, tiến về phía trước, vượt qua hơn bốn mươi dặm, và ngày hôm sau, tất cả nằm im trên cát sa mạc mà không quân Ý không nhìn thấy. Ngày 8 tháng 12, họ lại dàn trải ra về phía trước, và tối hôm ấy, quân đội được báo cho biết đây không phải là chuyện tập trận ở sa mạc, mà là "tác chiến thật sự". Rạng sáng ngày 9 mở đầu trận đánh Sidi Barrani.

        Mục đích của tôi không phải là miêu tả trận đánh phúc tạp và phân tán bốn ngày sau đó trên một vùng rộng lớn như Yorshire. Mọi việc diễn ra trôi chảy. Cuộc chiến đấu tiếp diễn suốt cả ngày 10, và vào lúc 10 giờ, sở chỉ huy tiểu đoàn Coldstream báo cho biết không thể đếm nổi số tù binh vì quá nhiều, mà chỉ có thể báo là "có năm khoảnh đất giam giữ tù binh sĩ quan và chừng hai trăm khoảnh giam giữ các cấp bậc khác bị bắt". Ở trong nước, tại phố Downing tôi nhận được các tin tức từ chiến trường hàng giờ của họ. Thật khó hiểu chính xác điều gì đang xảy ra nhưng cảm giác chung là thuận lợi, tôi nhớ có lần đột ngột nhận được một điện tín của một sĩ quan trẻ trong xe tăng của sư đoàn thiết giáp thứ bảy. "Đã đến vùng B thứ hai ở Buq Buq". Chiều ngày 10, Sidi Barrani bị chiếm đóng và ngày 15 tháng 12, toàn bộ quân địch bị đẩy lùi khỏi Ai Cập.

        Barrani là mục tiêu tiếp theo của chúng tôi. Bên trong chu vi của nó, trong phạm vi 17 dặm là bộ phận chủ yếu của hơn 4 sư đoàn quân Ý. Công sự phong thủ gồm một hào chống tăng nối liền và các vật chướng ngại bằng dây điện cùng với các lô cốt ở cách quãng, đằng sau là phòng tuyến thứ nhì gồm các công sự. Việc đột chiếm đồn lũy quan trọng này đòi hỏi phải chuẩn bị, và để hoàn thành giai đoạn toàn thắng trên sa mạc, tôi sẽ thực hiện vào năm mới. Ngày 3 tháng 1, cuộc tấn công bắt đầu sớm. Một tiểu đoàn quân Úc được pháo binh tập trung hạng nặng yểm hộ, chiếm giữ một vị trí vững chắc ở chu vi phía Tây. Đằng sau họ thì công binh tràn vào hào chống tăng. Hai lữ đoàn úc tiếp tục tiến nhanh về hướng Đông và Đông Nam. Lúc này họ hát một bài hát của một bộ phim Mỹ, chẳng mấy chốc bài hát này cũng trở thành phổ cập ở Anh.

        Chúng ta di xem thầy phù thủy
        Thầy phù thủy kỳ lạ chẳng ra gì
        Chúng ta nghe hắn là một tay bợm của một thầy phù thủy
        Nếu thật ra có một thầy phù thủy.

        Điệu hát luôn luôn khiến tôi nhớ lại những ngày sôi nổi ấy. Chiều ngày 4 xe tăng Anh - gọi là Matildas - được bộ binh yểm hộ, tiến vào Bardia, ngày 5 tất cả lực lượng phòng thủ đầu hàng. Chúng tôi bắt bốn mươi lăm nghìn tù binh, thu bốn trăm sáu mươi hai súng.

        Ngày hôm sau, mồng 6 tháng 1, đến lượt Tobruk bị cố lập. Cho đến ngày 21 tháng 1, không thể mở cuộc tấn công. Sáng sớm hôm sau thì mọi cuộc kháng cự chấm dứt. Số tù binh lên tới gần ba vạn người với hai trăm ba mươi sáu súng. Trong sáu tuần lễ, đội quân Sa mạc tiến trên hai trăm dặm của một vùng không gian không có nước, không có lương thực, đã tấn công chiếm giữ hai thành phố cảng được phòng thủ vững chắc bằng những lực lượng phòng thủ không quân và hải quân thường trục, đã bắt một tràm mười ba ngàn tù binh và trên bảy trăm súng. Đạo quân to lớn Ý đi xâm lược và hy vọng chinh phục Hy Lạp, chắc chắn là không tồn tại như là một lực lượng quân sự, và chỉ có những khó khăn bức thiết về khoảng cách không gian và về tiếp tế mới làm chậm trễ bước tiến không giới hạn của Vương quốc Anh về hướng Tây.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #213 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:38:52 PM »


*

        Khi một năm sắp kết thúc thì cả những ánh sáng và bóng tối của nó nổi bật lên một cách chói mắt trên bức tranh. Chúng tôi còn sống. Chúng tôi đã đánh thắng không quân Đức. Đã không có chuyện hòn đảo bị xâm lược. Qua tất cả những thử thách, Luân Đôn đã chiến thắng và đứng vững. Tất cả mọi thứ liên quan đến ưu thế không quân của chúng tôi trên hòn đảo của chúng tôi đều đang được củng cố hơn lên một cách nhanh chóng. Nhũng người Cộng sản tuân lệnh Matxcova nói xấu về một cuộc chiến tranh giữa tư bản và đế quốc. Nhưng các nhà máy vẫn hoạt động mạnh, toàn thể dân tộc Anh ngày đêm lao động vất vả, tinh thần được nâng cao, lòng tràn ngập thư thái và tự hào. Chiến thắng rực rỡ ở sa mạc Lybi, và ở bên kia Đại Tây Dương, nước Cộng hòa vĩ đại đi sát hơn bao giờ hết tới nhiệm vụ của họ và viện trợ hơn bao giờ hết cho chúng tôi.

        Tôi chắc rằng chúng tôi có thể đánh giá năm khủng khiếp này như là năm huy hoàng nhất, cũng có thể là năm kinh hồn nhất trong lịch sử lâu dài của Vương quốc Anh. Đó là một nước Anh vĩ đại được tổ chức một cách kỳ lạ đã từng phá hủy hạm đội lớn của Tây Ban Nha. Một ngọn lửa tin tưởng nhiệt thành và sự quyết tâm đã dẫn chúng tôi suốt cuộc chiến đấu hai mươi lăm năm mà William III và Marlborough tiến hành chống Louis XIV. Đã có một thời kỳ nổi tiếng với Chatham. Đã có cuộc đấu tranh lâu dài chống Napoleon. Trong cuộc đâu tranh này chúng tôi sống sót là nhờ hải quân Anh dưới sự lãnh đạo tuyệt vời của Nelson và đồng sự của ông, đã làm chủ vùng biển. Một triệu người Anh đã chết trong trận chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Nhưng không có gì vượt năm 1940. Vào thời điểm cuối năm này, hòn đảo nhỏ và cũ kỹ này với khối thịnh vượng chung, các lãnh thổ tự trị, và những nước phụ thuộc nó dưới mọi bầu trời, đã hết lòng với nó, hòn đảo này đã chứng tỏ là mình có thể chịu đựng toàn bộ tác động và sức mạnh của vận mệnh thế giới. Chúng tôi không nao núng hoặc dao động. Chúng tôi không thất bại. Sức sống của dân tộc Anh, của nòi giống Anh tỏ ra bị đột chiếm. Đơn thương độc mã nhưng được mọi nhịp tim hào phóng của loài người nâng đỡ, chúng tôi thách thức tên bạo chúa ở đỉnh cao nhất về hiếu chiến của hắn.

        Tất cả sức mạnh tiềm tàng của chúng tôi lúc này vẫn tràn đầy. Nỗi kinh hoàng do máy bay đã đi qua. Hòn đảo này không ai đụng tới được, không bị xâm phạm và từ nay về sau chúng tôi cũng sẽ có nhiều vũ khí để chiến đấu. Từ nay về sau, chúng tôi sẽ có một bộ máy chiến tranh được tổ chức ở mức độ cao. Chúng tôi đã tỏ cho thế giới biết là chúng tôi không thể bị đánh bại. Đối với vấn đề thống trị thế giới của Hitler, có hai khía cạnh: Vương quốc Anh mà một số người để riêng ra, vẫn đứng trên vũ đài, vững mạnh hơn nhiều so với trước và mỗi ngày mỗi phục hồi sức lục. Thời gian lại một lần nữa đúng về phía chúng tôi, và dân tộc chúng tôi. Hiệp chủng quốc đang nhanh chóng chuẩn bị chiến đấu và đang tiến sát hơn bao giờ hết vào cuộc xung đột. Nước Nga Xô Viết với sự tính toán nhầm lẫn và nhẫn tâm đã kết án chúng tôi là vô dụng lúc chiến tranh bùng nổ và đã đạt được từ Đức sự bất khả xâm phạm mong manh và một phần chiến lợi phẩm, cũng trở nên mạnh dạn hơn nhiều, đã củng cố các vị trí tiền phương phục vụ cho việc phòng thủ của bản thân họ. Nhật Bản lúc này dường như quá lo sợ cuộc chiến tranh thế giới có triển vọng kéo dài rõ rệt, lo lắng theo dõi Nga và Hiệp chủng quốc, trù tính sâu sắc phải làm gì cho khôn ngoan và có lợi.

        Va lúc nay Vương quốc Anh, các quốc gia liên hợp rộng rãi và các nước phụ thuộc của nó, dường như suýt sụp đổ, và quả tim thực sự của họ gần như bị chọc thủng, thế mà, trong mười lăm tháng đã tập trung vào vấn đề chiến tranh, huấn luyện quân đội, và dành tất cả sinh lực khác nhau vô tận của họ cho cuộc chiến đấu. Các nước trung lập nhỏ hơn, các quốc gia bị nô dịch rất kinh ngạc và lòng nhẹ nhõm, thấy rằng trên bầu trời, các vì sao vẫn chiếu sáng. Một lần nữa hy vọng pha lẫn giận dữ, bừng bừng trong trái tim hàng trăm, hàng triệu con người. Chính nghĩa nhất định thắng. Lẽ phải nhất định không bị chà đạp. Trong giờ phút quyết định này, ngọn cơ tự do là quốc kỳ Anh nhất định vẫn tung bay trước gió.

        Nhưng tôi và các đồng sự trung thành của tôi suy ngẫm không khỏi lo âu với tin tức chính xác. Bóng tối của việc tàu ngầm Đức phong tỏa như giội gáo nước lạnh lên chúng tôi. Tất cả những kế hoạch của chúng tôi đều tùy thuộc vào sự thất bại của mối đe dọa này. Pháp đã thua trận. Anh đã thắng trận. Trận đánh ở Đại Tây Dương đã phải diễn ra lúc này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #214 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:39:44 PM »


16

CHIẾN TRANH MỞ RỘNG

        Cuộc tiếp xúc mật thiết hơn với Tổng Thống Roosevelt phát triển cùng với năm mới. Tôi đã gửi cho ông những lời chúc mừng nhân ngày lễ, và ngày 10 tháng 1 năm 1941, một người đàn ông đến gặp tôi ở phố Downing với giấy ủy nhiệm cao nhất. Các bức điện nhận được từ Washington nói rõ ông ta là bạn tâm tình thân thiết nhất và là phái viên riêng của Tổng Thống. Cho nên tôi thu xếp cho ông Brendan Bracken đi đón ông ta khi ông ta đến sân bay Poole, và ngày hôm sau chúng tôi cùng ăn trưa với nhau. Thế là tôi đã gặp Hary Hopkins, con người đặc biệt này đã và đang phải đóng một vai trò đôi lúc là quyết định trong toàn bộ sự tiến triển của một cuộc chiến tranh. Ông là con người có thân thể yếu đuối suy nhược nhưng lại rất sôi nổi. Ông là ngọn hải đăng tỏa ra những tia nắng dẫn dắt các đoàn tàu lớn vào bến cảng. Ông cũng có tài hài hước châm biếm. Tôi luôn luôn rất thích bầu bạn với ông, đặc biệt là khi tình hình trở nên xấu đi. Ông cũng rất khó chịu, nói năng nặng nề chua chát. Kinh nghiệm của tôi cũng dạy tôi có khả năng cũng xử sự như vậy, nếu cần.

        Cuộc gặp gõ đầu tiên giữa chúng tôi kéo dài chừng ba giờ và tôi hiểu ngay động lực riêng của ông và tầm quan trọng nổi bật của nhiệm vụ của ông. Lúc này là đỉnh cao của cuộc ném bom Luân Đôn, chúng tôi buộc phải lo nghĩ nhiều cho địa phương. Nhưng đối với tôi, rõ ràng đây là một phái viên của Tổng Thống, việc này có tầm quan trọng cao nhất đối với sự sinh tồn của chúng tôi. Với ánh mắt và niềm xúc động tự nhiên, kín đáo, ông nói: "Tổng Thống quả quyết rằng chúng ta sẽ cùng nhau chiến thắng. Không được lầm lẫn".

        "Tổng Thống phái tôi đến đây để khẳng định với ngài rằng bằng mọi giá và mọi cách, Tổng Thống sẽ giúp ngài vượt qua tất cả, không có gì đáng lo ngại dù Tổng Thống ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Không có việc gì Tổng Thống không làm được chừng nào mà Tổng Thống còn có quyền lực của mình".

        Những người đã tiếp xúc với Harry Hopkins trong cuộc chiến đấu  lâu dài này đều sẽ xác nhận về những điều tôi ghi lại về nhân cách đặc biệt của ông. Và từ giờ phút này, tình bạn giữa chúng tôi bình thản lướt trên mọi phong ba bão táp. Ông là nguồn thông tin chính xác hoàn hảo nhất giữa Tổng Thống và tôi. Nhưng còn nhiều hơn thế, trong nhiều năm ông là chỗ dựa chủ yếu và là người cổ vũ của chính Tổng Thống. Cùng một lúc hai con người này, một người là cấp dưới không có chức vụ công khai, một người chỉ huy nước Cộng hòa hùng mạnh, đều có thể có những quyết định quan trọng nhất trên khắp toàn bộ khu vực của thế giới nói tiếng Anh. Dĩ nhiên, Hopkins hết sức giữ gìn ảnh hưởng của cá nhân ông đôi với thủ trưởng của mình và không giúp đỡ những đối thủ của Mỹ. Bởi vậy theo những cách nào đó, ông đã xác định câu thơ của nhà thơ Gray "Sủng thần thì chẳng có bạn bè". Nhưng đây không phải là việc của tôi. Ông ta ngồi đó, mảnh khảnh yếu đuôi, ốm đau, nhưng hoàn toàn sôi nổi với nhận thức tinh tường về chính nghĩa. Nhằm loại trừ tất cả những mục đích, những cam kết trung thành hay là những ý định khác thì sẽ là sự bại trận, sự đổ nát và sự tan sát của Hitler. Trong lịch sử của Hiệp Chủng Quốc, ít có ngọn lửa nào sáng ngời hơn bừng cháy.

        Harry Hopkins luôn luôn đi vào thực chất của vấn đề. Tôi đã từng dụ nhiều cuộc hội nghị lớn có tới vài chục hay hơn nữa nhân vật hành pháp quan trọng tập hợp nhau lại. Khi cuộc thảo luận trở nên nhạt nhẽo, tất cả dường như bối rối, trong những trường hợp này, ông cộc cằn hỏi một câu chết người. "Thưa Tổng Thống, rõ ràng đây là điều cốt yếu chúng ta đã bắt đầu giải quyết. Bây giờ chúng ta có định đương đầu với nó hay không?". Thế là điều cốt yếu luôn luôn được đặt ra, và được giải quyết. Ông là người lãnh đạo thực sự của những kẻ dưới quyền, trong những lúc đi đến bước quyết định, ông tỏ ra đặc biệt trội hơn về nhiệt tình cũng như về sự hiểu biết. Lòng yêu thương nồng nhiệt của ông đối với sự nghiệp của những người ốm đau nghèo khổ cũng tương xứng với nỗi giận dữ của ông chống lại sự bạo ngược, đặc biệt khi sự bạo ngược đang chiến thắng trong lúc này.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #215 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:40:35 PM »


*

        Trong lúc Đức tiếp tục không kích, nhưng đặc biệt khác thường, vào cuối năm 1940 Hitler hiểu rằng không thể tàn phá Vương quốc Anh hoàn toàn bằng tấn công không quân. Trận đánh trên đất Anh đã là thất bại đầu của y, còn việc ném bom hiểm ác các đô thị cũng không làm cho dân tộc hay chính phủ của Anh sợ hãi. Việc chuẩn bị xâm lược nước Nga đầu mùa hạ năm 1941 đã thu hút nhiều sức mạnh không quân Đức. Rất nhiều trận oanh kích dữ dội mà chúng tôi đã chịu đựng, không còn tiêu biểu cho toàn bộ sức mạnh của quân địch. Đối với chúng tôi những cuộc đột kích đó là cực kỳ tai hại nhưng chúng không còn là sự quan tâm hàng đầu hoặc của Bộ Tư Lệnh Tối Cao Đức hoặc của Hitler. Đối với Hitler, việc tiếp tục tấn công Vương quốc Anh bằng không quân là tấm màn che cần thiết và tiện lợi cho việc tập trung chống lại nước Nga. Biểu thời gian lạc quan chủ nghĩa của y cho rằng người Xô Viết cũng như người Pháp sẽ bị đánh bại hoàn toàn trong một chiến dịch sáu tuần lễ và rằng tất cả lực lượng quân đội Đức lúc ấy sẽ rảnh rỗi để dứt khoát đánh bại hoàn toàn Vương quốc Anh, vào mùa thu năm 1941. Trong lúc đó dân tộc cứng đầu, cứng cổ này bị kiệt sức dần, một là do sự phối hợp phong tỏa của tàu ngầm Đức được không quân có tầm xa yểm trợ, hai là do các cuộc không kích vào các đô thị và đặc biệt là vào các cảng. Đối với quân Đức thì chiến dịch Sư Tử Biển (chống Anh) lúc này được thay thế bằng chiến dịch Barbarossa (chống Nga). Hải quân Đức được chỉ thị tập trung đánh vào giao thông của chúng tôi ở Địa Trung Hải, còn không quân Đức thì tập trung đánh vào các cảng và các lối vào cảng. Đây là một kế hoạch rất kinh người hơn việc ném bom bừa bãi xuống Luân Đôn và dân thường, và cũng may cho chúng tôi là việc này không tiếp tục với tất cả những lực lượng sẵn có và cũng không dai dắng lắm.

        Trong tháng Giêng và tháng Hai quân địch thất bại vì thời tiết xấu và ngoài các cuộc tấn công Cardiff, Portsmouth và Swansea ra thì các ngành dân quân tự vệ của chúng tôi giành được một thời gian nghỉ xả hơi rất xứng đáng mà họ không quên lợi dụng. Nhưng khi thời tiết tốt hơn thì những cuộc không kích của Đức lại bắt đầu diễn ra. Điều được gọi là "Cuộc kinh lý các cửa biển của Không quân Đức Quốc xã" bắt đầu vào tháng Ba. Nó gồm những trận tấn công đơn hay kép, tuy dữ dội nhưng không làm tê liệt nổi các cảng của chúng tôi. Ngày 8 và trong ba đêm liền tiếp theo, Portsmouth bị tấn công dữ dội, nhiều xưởng sửa chữa và đóng tàu bị hư hại. Ngày 11 Manchester và Salford bị tấn công. Vào ngày 13 và 14 lần đầu tiên Không quân Đức ồ ạt ập xuống vùng sông Clyde, giết và làm bị thương hơn hai nghìn người, làm tê liệt nhiều xưởng đóng tàu, một số đến tháng 6, một số khác đến tháng 11 mới hoạt động lại. Cho đến tháng 4 không có những trận đánh dữ dội nào, ngày 8 địch tập trung đánh vào Coventry. Sự và chạm rõ ràng nhất trong phần còn lại của xứ sở là ở Portsmouth. Ngày 16 và 17 Luân Đôn chịu những trận tấn công dữ dội, hơn hai nghìn ba trăm người bị giết, hơn ba nghìn người bị thương nặng. Kẻ địch tiếp tục cố gắng tàn phá phần lớn các cảng chính của chúng tôi bằng những trận tấn công kéo dài, trong một số trường hợp kéo dài cả một tuần lễ và Bristol bị tàn phá tan tành. Plymounth bị tấn công từ ngay 21 đến 29 tháng 4, và mặc dù hỏa lực dụ địch nhằm cứu nguy các xưởng sửa chữa và đóng tàu, nhưng cuối cùng cũng phải trả giá bằng cả thành phố này. Cuộc đánh phá lên đến đỉnh cao nhất ngày 1 tháng 5 khi Liverpool và Mersey bị tấn công bảy đêm liền. Bảy vạn sáu nghìn người không con nhà của, ba nghìn người bị giết và bị thương. Sáu mươi chín trong số một trăm bốn mươi tư nơi tàu bỏ neo bị tê liệt và trọng tải đưa lên bờ trong một lúc giảm tới một phần tư. Nếu kẻ địch cứ kiên trì thì trận đánh ở Đại Tây Dương thậm chí được chỉ huy sát sao hơn như đã diễn ra. Nhưng như thường lệ, họ bỏ đi. Trong hai đêm họ nã pháo dữ dội vào Hull, phá hủy nhà ở của bốn vạn người, phá hủy các của hàng lương thực, còn các nhà máy kỹ thuật công trình hàng hải bị tê liệt gần hai tháng. Trong tháng này họ đánh phá Belfast lần nữa, nơi đây đã hai lần bị không kích.

        Trận tấn công tệ hại nhất cũng là trận cuối cùng. Ngày 10 tháng 5 quân địch quay lại Luân Đôn với bom cháy. Chúng đã gây ra hơn hai nghìn đám cháy, và đã phá tan gần một trăm năm mươi ống dẫn nước chính nối liền với thủy triều ở mức thấp nhất của dòng sông Thames, chúng ngăn cản chúng tôi dập tắt các ngọn lửa. Đến sáu giờ sáng hôm sau, hàng trăm đám cháy được báo cáo là chưa bị dập tắt và bốn đám cháy vẫn còn cháy tới đêm 13. Đó là trận tấn công tàn phá nhất trong toàn bộ các cuộc tấn công trên không chớp nhoáng vào ban đêm của Đức. Năm xưởng đóng tàu và bảy mươi mốt địa điểm then chốt mà một nửa là các nhà máy, bị đánh trúng. Gần như một trong số các nhà ga xe lửa quan trọng nhất bị tắc nghẽn hàng mấy tuần lễ, mãi đến đầu tháng 6 mới hoàn toàn thông đường. Trên ba nghìn người bị giết hay bị thương, về nhiều phương diện khác, trận này cũng được ghi vào lịch sử. Nó phá hủy Hạ viện. Chỉ có một quả bom mà tạo nên cảnh đổ nát trong nhiều năm. Tuy vậy chúng tôi cũng vui mừng là phòng họp không có người. Mặt khác các khẩu đội pháo và máy bay khu trục đánh đêm của chúng tôi đã tiêu diệt mười sáu máy bay địch, dù sao cũng là con số cao nhất chúng tôi đạt được trong chiến đấu ban đêm.

        Việc này, dù chúng tôi không biết là điệu vũ sôi động để ra đi của kẻ địch. Ngày 22 tháng 5 Kesselring dời tổng hành dinh của đội máy bay của y đến Posen, và đầu tháng 6 toàn bộ lực lượng di chuyển về phía Đông. Gần ba năm trôi qua trước khi tổ chức dân quân tự vệ của chúng tôi ở Luân Đôn phải đối phó với những cuộc tấn công chóp nhoáng "có tính chất trẻ con" của không quân Đức hồi tháng 2 năm 1944 và cuộc tấn công dữ dội sau đó của tên lửa và bom bay. Trong mười hai tháng từ tháng 6 năm 1940 đến tháng sáu năm 1941 số thương vong thường dân của chúng tôi là 43.381 bị giết và 50.856 bị thương nặng, tổng cộng là 94.237.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #216 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:41:54 PM »


*

        Trong cuộc chiến tranh lớn, không thể chia công việc quân sự ra khỏi công việc chính trị. Xét cho cùng phải xem mặt quân sự là duy nhất và quan trọng nhất và thậm chí họ đã nói đến những lý do chính trị với nhiều thái độ khinh thường nhất định. Danh từ "công việc chính trị" đã bị làm cho rối rắm, thậm chí bị làm cho lu mờ, kết hợp nó với các công việc chính trị của đảng phái. Như vậy nhiều tài liệu của thế kỷ bi thảm nay theo quan niệm cho rằng trong chiến tranh chỉ có lý do quân sự là đáng quan tâm, và những người lính bị cản trở cách nhìn nghề nghiệp của họ do sự xâm nhập của các nhà chính trị vì lợi ích riêng, hoặc đảng phái, đã làm nghiêng cán cân đáng sợ của cuộc chiến đấu. Những cuộc tiếp xúc hết sức bí mật riêng biệt thường xảy ra nhiều giữa Nội các Chiến tranh, các Tham mưu trưởng và bản thân tôi hoan toàn không có những ý kiến về đảng phái. Ở Vương quốc Anh vào lúc này, đã giảm bớt những nỗi bất hòa này tới mức thấp nhất.

        Trong lúc cuộc chiến tranh với quân Ý ở Đông Bắc châu Phi tiếp tục thắng lợi, và quân Hy Lạp chiến đấu dũng cảm ở Albania, thì tất cả những tin tức chúng tôi nhận được về việc di chuyển và ý đồ của quân Đức cho thấy rõ rằng Hitler sắp sủa can thiệp trên qui mô lớn vào vùng Balkan và Địa Trung Hải. Từ đầu tháng Giêng tôi đã hiểu rõ việc số lượng lớn không quân Đức đến Sicily, việc này sẽ uy hiếp Malta và tất cả mọi hy vọng của chúng tôi lấy lại sự giao thông xuyên qua biển nội địa. Tôi cũng lo ngại quân Đức, có thể đoán chừng là lực lượng thiết giáp, di chuyển vào Tripoli. Chúng tôi có thể không nghi ngờ  kế hoạch của họ tiến tới thiết lập một hành lang bắc nam xuyên qua Ý đến châu Phi, đồng thời cùng với những biện pháp đó cắt đứt tất cả các cuộc chuyển quân của chúng tôi về hướng đông và hướng tây vào Địa Trung Hải.

        Thêm vào đó, lúc này còn xảy ra việc đe dọa các nước vùng Balkan kể cả Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, họ bị lôi kéo hoặc bị ép buộc gia nhập chế độ Hitler hoặc họ bị xâm chiếm nếu họ không tuân theo. Phải chăng cũng cùng phương pháp ghê tởm đó mà chúng tôi đã chứng kiến ở Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ và Pháp lại được sao chép lại ở Đông Nam châu Âu? Có phải tất cả các nước vùng Balkan kể cả Hy Lạp anh hùng, đều lần lượt bị chinh phục và Thổ Nhĩ Kỳ bị cô lập, đều buộc phải mở đường cho các quân đoàn Đức đến Palestine, Ai Cập, Iraq và Ba Tư chăng? Có phải không có cơ may tạo ra một sự đoàn kết các nước vùng Balkan, và một mặt trận chung vùng Balkan có thể khiến cho cuộc xâm lược gây hấn vừa mới bắt đầu của Đức phải chịu quá hao tiền tốn của? Phải chăng sự kiện kháng chiến của các nước vùng Balkan đối mặt với Đức không thể gây ra những trận phản công quan trọng và có ích ở nước Nga Xô Viết đó sao? Nhất định đây là một khu vực trong đó các nước vùng Balkan đều bị tác động vì quyền lợi, và thậm chí vì tình cảm, chừng nào mà họ thừa nhận điều đó nhằm ảnh hưởng đến những tính toán hơn thiệt của họ. Từ những tiềm lực quân sự và kinh tế đã được sử dụng quá mức nhưng đang ngày càng tăng, chúng ta có thể cung cấp phần đóng góp đặc biệt tối đa để kích động tất cả những quốc gia này có quyền lợi như nhau trên qui mô lớn, đi vào hành động cho một sự nghiệp chung chăng? Mặt khác, hoặc chúng tôi phải lo công việc của riêng mình, chuẩn bị cho chiến dịch của chúng tôi ở đông bắc châu Phi được thắng lợi, bỏ mặc cho Hy Lạp, các nước vùng Balkan và có thể Thổ Nhĩ Kỳ và tất cả những nước nfo khác nữa ở Trung Đông sụp đổ?

        Một quyết định dứt khoát như vậy lẽ ra đã làm cho tinh thần được thư thái nhiều, và điều này có thể có được sự ủng hộ trên lý thuyết của nhiều sĩ quan, giữ những vị trí phụ thuộc, đã nêu ra những ý kiến của họ. Nhất định các tác giả này đã có hoàn cảnh thuận lợi để vạch ra những điều bất hạnh mà chúng tôi phải chịu, nhưng họ không có kiến thúc để cân nhắc đầy đủ kết quả của chính sách đối lập kia có thể như thế nào? Nếu sau một trận đánh nào, Hitler đã có thể bắt Hy Lạp phải đầu hàng và toàn bộ các nước vùng Balkan phải gia nhập vào chế độ của y, sau đó buộc Thổ Nhĩ Kỳ phải để cho quân của y đi qua về hướng Nam và hướng Đông, thì có lẽ là y sẽ không thể thỏa thuận với những người Xô Viết về việc chinh phục và chia cắt những vùng rộng lớn này, và hoãn việc tranh chấp cuối cùng không thể tránh với họ đến một nhiệm vụ sau của chương trình của y chăng? Hay, có lẽ đúng hơn, la phải chăng y đã không thể tấn công nước Nga bằng số quân hiện có lớn hơn vào một thời điểm sớm hơn? vấn đề chủ yếu mà những chướng tiếp theo sẽ điều tra và vạch trần là có phải Chính phủ Hoàng gia bằng cuộc chiến đấu của mình, đã tác động một cách dứt khoát hoặc thậm chí một cách đáng kể, đối với những cuộc chuyến quân của Hitler ở Nam Âu không, và hơn nữa có phải cuộc chiến đấu đó không tạo ra những hậu quả trước nhất đối với thái độ của nước Nga và sau đó là đối với vận mệnh của họ không.

        Suốt tháng Giêng và tháng Hai, chúng tôi tiếp tục nhận được những tin tức tốt lành từ Trung Đông. Malta đã được tăng viện và chỉ vừa mới qua khỏi cuộc tấn công dữ dội ác liệt đầu tiên của không quân Đức vào Sicily. Sự chinh phục Eritrea, Somalia và Abyssinia của đế quốc Ý đang được hoàn tất. Trong hai tháng, đạo quân Sa mạc đã tiến năm trăm dặm, tiêu diệt hơn chín sư đoàn quân Ý, chiếm cứ thành phố Banghazi và toàn bộ vùng Cyrenaica. Nhưng mặc dù những chiến thắng nay, các vấn đề cả về ngoại giao và quân sự đều nghiêm trọng và phúc tạp đang bị đe dọa, mà tướng Wawell đã cáng đáng quá nhiều, đến nỗi tại cuộc họp của Ủy ban phong thủ ngày 11 tháng 2, phải quyết định phái Bộ trưởng Ngoại giao và tướng Dill Tổng Tham mưu trưởng Hoàng gia đến gặp ông ta ở Cairo. Từ đây, Eden cùng với Wawell, Dill và một số sĩ quan khác bay đi Athens bàn bạc với Vua và chính phủ Hy Lạp.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #217 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:42:12 PM »


        Tại cuộc họp, thủ tướng ông Korysis đọc cho ông nghe một tuyên bố trình bày kết quả cuộc thảo luận của Nội các Hy Lạp trong một hay hai ngày qua. Vì bản tuyên bố này tạo thành cơ sở cho hoạt động của chúng tôi nên tôi nêu ra toàn bộ nhiệm vụ cụ thể như sau: "Tôi mong muốn nhắc lại hết sức dứt khoát rằng Hy Lạp, với tư cách là một đồng minh trung thành, kiên quyết tiếp tục chiến đấu bằng tất cả các lực lượng của mình cho đến thắng lợi cuối cùng. Quyết định này không giới hạn vào trường hợp của Ý mà sẽ áp dụng cho bất kỳ cuộc xâm lược nào của Đức... dù kết quả thế nào, và dù Hy Lạp có hay không có hy vọng nào đẩy lùi quân địch ở Macedonia thì Hy Lạp cũng quyết tâm bảo vệ lãnh thổ quốc gia của mình, dù cho chỉ dựa vào sức lực của chính mình". Chính phủ Hy Lạp đã làm cho chúng tôi hiểu rõ rằng quyết định của họ đã được thực hiện trước khi biết liệu chúng tôi có thể giúp đỡ họ hay không. Lúc đó ông Eden giải thích rằng chúng tôi ở Luân Đôn, hoan toàn nhất trí với các Tổng Tư lệnh ở Trung Đông, chúng tôi kiên quyết dành cho Hy Lạp sự viện trợ đầy đủ nhất theo khả năng của chúng tôi. Nhiều cuộc họp quân sự và tham mưu được tiến hành cả đêm và ngày hôm sau, và Eden gửi cho chúng tôi bức điện quan trọng nhất sau đây:

        "Tất cả chúng tôi lấy làm khâm phục sự chân thành và cách xử sự ngay thẳng của các đại diện Hy Lạp trên tất cả các vấn đề được thảo luận. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng đó là quyết tâm của họ dốc hết sức lực của mình ra để kháng chiến, và Chính phủ Hoàng gia không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc ủng hộ cho dù kết quả cuối cùng là gì chăng nữa... Tất cả chúng tôi tin chắc rằng chúng ta đã chọn được cách giải quyết đúng đắn, và vì đã đến giờ phút cuối cùng, chúng tôi chắc rằng ngài nhất định không muốn chúng tôi chậm trễ trong việc hỏi ý kiến chi tiết trong nước. Rủi ro lớn, nhưng có cơ may thành công...".

        Dựa vào các thông báo này kèm theo sự tán thành của cả hai ông Dill và Wawell, Nội các quyết định hoàn toàn phê chuẩn các kế hoạch đề xuất.

        Lúc này, ông Eden đi tiếp đến Angora, tham dự các cuộc họp thảo luận kéo dài với những người Thổ Nhĩ Kỳ. Báo cáo của ông là không khích lệ. Họ nhận thức rõ những hiểm nguy của bản thân họ cũng sâu sắc như chúng tôi, nhưng họ tin chắc rằng lực lượng chúng tôi có thể dành cho họ, sẽ không đủ để tạo một sự chênh lệch thực sự nào cho một trận đánh thực sự. Vì không có khả năng tấn công, họ cho rằng sự nghiệp chung sẽ được phục vụ tốt hơn do Thổ Nhĩ Kỳ vẫn đứng ngoài cuộc chiến cho đến khi nào những nhược điểm của họ được bù đắp và họ có thể được sử dụng với hiệu quả tối đa. Nếu bị tấn công dĩ nhiên họ phải tham gia. Tôi hiểu rõ tình thế của Thổ Nhĩ Kỳ đã trở nên hiểm nghèo biết bao nhiêu. Rõ ràng không thể xem hiệp ước chúng tôi đã tạo ra với họ trước chiến tranh như là ràng buộc họ trong những tình huống đã thay đổi. Khi chiến tranh bùng nổ năm 1939 người Thổ đã động viên đội quân dũng cảm, mạnh mẽ, và khá đông của họ. Nhưng việc này hoàn toàn dựa vào hoàn cảnh cuộc Đại chiến lần thứ nhất. Bộ binh Thổ Nhĩ Kỳ sung súc nhất từ trước đến nay còn pháo binh đã chiến thì chỉnh tề. Nhưng từ tháng 5 năm 1940, họ không có một vũ khí hiện đại nào tỏ ra quyết định. Việc thiết kế và chế tạo máy bay non yếu và thô sơ một cách thảm hại. Họ không có xe tăng hoặc xe thiết giáp, cũng không có xuống chế tạo và bảo quản chúng, cũng không có người và bộ phận được đào tạo sử dụng chúng. Họ hầu như không có pháo phòng không hay pháo chống tăng. Hệ thống dịch vụ tín hiệu của họ còn thô sơ. Họ chưa biết gì về ra đa, và những phẩm chất thiện chiến của họ cũng không bao gồm bất kỳ năng khiếu nào về những phát minh hiện đại này.

        Mặt khác Bulgaria đã được Đức vũ trang trên qui mô lớn bằng khối lượng hết sức nhiều đồ trang bị và mọi thứ lấy được của Pháp, và các nước Bỉ - Hà - Lục như là thành quả của các trận đánh năm 1940. Vì vậy Đức có nhiều vũ khí hiện đại để vũ trang cho các Đồng minh của họ. về phần mình chúng tôi đã tổn thất nhiều ở Dunkirk, phải phát triển đội quân quốc gia chống xâm lược và đương đầu với sức ép liên tục của các cuộc ném bom của Đức vào các thành phố cũng như duy trì cuộc chiến ở Trung Đông, chúng tôi chỉ có thể cung cấp hết sức dè sẻn và phải hy sinh những nhu cầu cấp bách khác. Trong những hoàn cảnh nay, quân Thổ ở Thrace, ở vào thế bất lợi nghiêm trọng và gần như vô vọng so với quân Bulgaria. Nếu thêm vào mối nguy hiểm này là những phân đội máy bay và thiết giáp thậm chí chỉ là vừa phải của Đức, thì sức nặng đè lên Thổ Nhĩ Kỳ có thể chứng tỏ rõ ràng là không thể chịu nổi. Chính sách hay là hy vọng duy nhất suốt giai đoạn này của cuộc chiến tranh mở rộng mãi nằm trong một kế hoạch có tổ chức, thống nhất các lực lượng của Nam Tư, Hy Lạp và Thổ, và bây giờ chúng tôi đang cố gắng thực hiện việc này. Viện trợ của chúng tôi cho Hy Lạp trước tiên giới hạn trong một số phi đội trước đây đã gửi sang Ai Cập, lúc Mussolini lần đầu tấn công Hy Lạp. Giai đoạn tiếp đó là cung cấp các đơn vị kỹ thuật mà phía Hy Lạp không nhận với những lý do không phải là vô lý. Lúc này chúng tôi đến giai đoạn thứ ba. Trong giai đoạn này, dường như có thể thực hiện một sườn an toàn và chắc chắn ở sa mạc đằng sau Benghazi và tập trung đạo quân lớn nhất trong số đang tác chiến hoặc dự trữ chiến lược có thể có được ở Ai Cập.

        Cho đến bây giờ, chúng tôi chưa có biện pháp nào đi quá việc tập hợp lực lượng dự trữ chiến lược lớn nhất có thể có được ở vùng châu thổ và chuẩn bị kế hoạch, chuẩn bị tàu bè để vận chuyển một đạo quân sang Hy Lạp. Nếu tình thế thay đổi do Hy Lạp thay đổi hoàn toàn chính sách hoặc do một sự kiện nào khác, thì chúng tôi cũng phải ở trong tư thế tốt nhất để xử lý tình huống đó. Sau khi lâm vào cảnh    khó khăn 0 ép như thế, thật là dễ chịu khi có thể kết thúc một cách tốt đẹp các chiến dịch ở Abyssinia, Somali, Eritrea và đưa các lực lượng lớn vào "cuộc tấn công ồ ạt" ở Ai Cập. Trong lúc không thể tiên đoán hay dự báo ý định của kẻ địch hoặc phản ứng của các nước bạn bè trung lập, chúng tôi dường như có nhiều sự lụa chọn quan trọng khác nhau còn để ngỏ. Tương lai vẫn còn khó nhìn thấu, nên lúc này không có một sư đoàn nào được tung ra hoạt động.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #218 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:43:12 PM »


17

TRẬN ĐẠI TÂY DƯƠNG

        Điều duy nhất đã từng làm cho tôi sợ hãi trong chiến tranh là hiểm họa tàu ngầm Đức. Tôi nghĩ rằng mọi sự xâm lược ngay cả dưới sức ép của không chiến cũng nhất định thất bại. Sau chiến thắng của không quân thì đây là trận đánh khá lớn đối với chúng tôi. Đây là loại trận đánh mà ai trong hoàn cảnh chiến tranh tàn bạo, cũng phải lao vào. Nhưng lúc này con đường huyết mạnh của chúng tôi, ngay cả ở bên kia các đại dương bao la, và đặc biệt là tại các lối đi vào đảo, đang trở thanh nguy hiểm. Thậm chí tôi càng lo lắng về trận đánh này hơn là khi tôi tùng lo lắng về trận không chiến vẻ vang gọi là trận đánh trên đất Anh.

        Bộ Hải quân mà tôi vốn có quan hệ thân thiện chặt chẽ nhất, cùng chia sẻ những nỗi lo ngại của tôi, vì đây là trách nhiệm hàng đầu của họ phải bảo vệ bờ biển chúng tôi khỏi sự xâm lược và giữ cho các con đường huyết mạch không bị tắc nghẽn với xã hội bên ngoài. Lực lượng hải quân bao giờ cũng xem đây là nhiệm vụ chủ yếu, thiêng liêng, không tránh được. Như vậy là chúng tôi cùng nhau suy nghĩ cân nhắc về vấn đề này. Nó không cần kiểu đánh trận ra hiệu bằng pháo sáng và thành tích chói lọi. Tự nó biểu lộ nhờ các thông kê, biểu đồ, và những chỗ quanh co mà mọi người không biết, công chúng không hiểu.

        Liệu chiến tranh tàu ngầm của Đức sẽ làm giảm bớt hàng nhập và việc chuyên chở bằng tàu bè của chúng tôi là bao nhiêu? Liệu có bao giờ nó đạt tới điểm mà sự sinh tồn của chúng tôi bị hủy diệt? ở đây không có vận động viên nào thể hiện động tác hay làm chuyện giật gân mà chỉ có bản vẽ nhạt nhẽo, buồn tẻ những đường tuyến trên các hải đồ chỉ rõ sự tiêu diệt tiềm tàng. Không có giá trị nào trong những quân đội dũng cảm sẵn sàng lao vào kẻ xâm lược hoặc trong một kế hoạch tốt đẹp cho chiến tranh ở sa mạc được so sánh với việc này. Hoặc lương thực, nguồn cung cấp, và vũ khí từ Tân Thế Giới và từ các nước thuộc đế quốc Anh vượt các đại dương, đến nơi, hoặc thất bại không đến được. Với toàn bộ vùng bờ biển Pháp từ Dunkirk tới Bordeaux trong tay họ, bọn Đức không mất thời gian trong việc tạo ra những căn cứ cho tàu ngầm và không quân phối hợp của họ trong lãnh thổ bị chiếm đóng. Từ tháng Bảy trở đi, chúng tôi buộc phải làm trệch hướng việc vận chuyển hàng bằng tàu của chúng tôi từ các lối vào ở phía nam Ireland, ở đây dĩ nhiên chúng tôi không được phép để máy bay khu trục. Tất cả phải đi vào vòng quanh Bắc Ireland. Ở đây, nhờ ơn Chúa, vùng Ulster đã cung cấp một người lính gác trung thành. Hai con sông Mersey và Clyde là hai lá phổi để chúng tôi thở. Dựa vào bờ biển phía đông và trong biển Manche, những tàu nhỏ tiếp tục đi lại dưới cuộc tấn công luôn luôn ngày càng tăng của không quân, của tàu ven biển loại nhẹ và của mìn, và chuyến đi của mỗi đoàn tàu giữa con sông Forth và Luân Đôn mỗi ngày tự nó trở thành gần nhu một trận đánh.

        Những tổn thất giáng vào tàu buôn của chúng tôi trở nên nghiêm trọng nhất trong thời gian mười hai tháng từ tháng 7 năm 1940 đến tháng 7 năm 1941, khi chúng tôi có thể khẳng định rằng Anh đã thắng trận Đại Tây Dương. Ngày 22 của tuần cuối tháng 9 năm 1940 là ngày tệ hại nhất từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh và những vụ tàu bị đánh chìm nhiều hơn bất kỳ vụ nào chúng tôi phải chịu cùng thời gian năm 1917. Sức ép không ngừng tăng lên và tổn thất của chúng tôi đã vượt quá số đóng mới một cách đáng sợ. Nguồn tài nguyên rộng lớn của Hiệp Chủng Quốc chỉ đang được sử dụng một cách chậm chạp. Chúng tôi không thể trông mong thêm nữa vào của trời cho về tàu bè như của trời cho theo sau việc tàn phá Na Uy, Đan Mạch và các nước Bỉ, Hà, Lục hồi mùa xuân 1940. Hai mươi bảy tàu bị đánh chìm, trong số này nhiều chiếc ở trong đoàn tàu hộ tống ở Halifax, và trong tháng 10 một đoàn tàu được hộ tống khác ở Đại Tây Dương bị tàu ngầm Đức tàn sát, hai chục tàu bị đánh chìm trong số ba mươi tư chiếc. Trong lúc tháng 11 và tháng 12 tới gần, các lối vào cửa sông của hai con sông Mersey và Clyde, về ý nghĩa trọng đại, vượt xa tất cả các nhân tố khác trong chiến tranh. Dĩ nhiên chúng tôi lúc này có thể bất ngờ tấn công Valera’s Ireland và lấy lại những cảng phía Nam bằng sức mạnh của vũ khí hiện đại. Tôi luôn luôn tuyên bố rằng không có cái gì ngoài bản năng tự bảo toàn có thể ảnh hưởng đến hành động của tôi đối với việc này. Thậm chí biện pháp cứng rắn này có thể đem lại kết quả làm dịu bớt tình hình. Phương thuốc duy nhất chắc chắn là phải bảo đảm việc ra vào tự do trên hai con sông Mersey và Clyde. Ai cũng hiểu rằng người lặn ngập sâu dưới biển tùng phút phụ thuộc vào ống thông hơi. Anh ta sẽ cảm thấy gì nếu có thể thấy một đàn cá mập đang ngày càng tăng ngoạm vào ông thông hơi? Đặc biệt khi mà càng không có khả năng kéo người anh ta lên khỏi mặt nước. Đối với chúng tôi thì không có mặt nước. Người lặn xuống nước là bốn mươi sáu triệu dân trên một hòn đảo chật ních, đang tiến hành một công việc chiến tranh rộng lớn khắp thế giới, do nhu cầu tự nhiên và do sức hút bị néo chặt dưới đáy biển. Lũ cá mập có thể làm gì đối với ống thông hơi của anh ta? Làm thế nào anh ta có thể trách chúng hay tiêu diệt chúng?
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #219 vào lúc: 17 Tháng Một, 2019, 11:43:46 PM »


        Cuộc tấn công của tàu ngầm Đức có một khía cạnh khác. Dĩ nhiên từ đâu, trước hết Bộ Hải quân nghĩ đến việc đưa các tàu an toàn vào cảng và coi như hạn chế việc bị đánh chìm đến mức tối thiểu là thắng lợi. Nhưng bây giờ điều này là một sự thử nghiệm không lâu hơn nữa. Tất cả chúng tôi đều nhận thức rõ ràng cuộc sống và cố gắng chiến tranh của xứ sở đều tùy thuộc vào trọng lượng hàng nhập khẩu được đưa vào bờ an toàn. Trong tuần lễ kết thúc vào ngày 8 tháng 6, ở Pháp trong thời gian trận đánh đã lên tới tột đỉnh, chúng tôi đã đem vào nước gần một triệu hai trăm năm mươi nghìn tấn hàng, không kể dầu. Từ cao điểm này đến cuối tháng Bảy, con số hàng nhập sụt xuống còn dưới 750.000 tấn mỗi tuần. Mặc dù đến tháng 8 thực tế có khá hơn thì số lượng trung bình hàng tuần lại sụt, và trong ba tháng cuối năm thì hơn 800.000 tấn một chút. Càng ngày tôi càng lo lắng về số hàng nhập khẩu tụt xuống một cách đáng ngại. Giữa tháng 2 năm 1941 tôi lưu ý Bộ trưởng Hải quân "Tôi thấy rằng tàu vào có hàng trong tháng giêng không bằng nửa cùng thời gian năm ngoái".

        Quy mô thực sự và sự cải tiến các biện pháp bảo vệ của chúng tôi - đoàn tàu hộ tống, việc nghi binh, việc giải từ, việc dọn quang mìn, việc tránh xa Địa Trung Hải - việc kéo dài phần lớn các chuyên đi xa về thời gian và quãng đường, những chuyện chậm trễ ở các cảng do oanh tạc và do lúc tắt đèn phòng không, tất cả những sự việc này đã giảm bớt khả năng vận chuyển thực tế của tàu bè chúng tôi đến một mức thậm chí còn nghiêm trọng hơn những tổn thất thực sự. Mỗi tuần các cảng chúng tôi càng chật ních hơn và chúng tôi bị tụt lại đăng sau hơn nữa. Đầu tháng ba trên hai triệu sáu trăm nghìn tấn hàng chất đống lại do tàu bị hư hỏng, hơn một nửa số tàu đó không di chuyển được vì cần phải sửa chữa.

        Chẳng mấy chốc cộng thêm vào tai họa tàu ngầm là máy bay có tầm xa đi đầu tấn công trên đại dương. Trong độ này có loại Focke-Wulk 200 được gọi là kềnh kềnh khoang cổ là ghê gớm nhất, tuy vậy may thay lúc đầu chỉ có một vài chiếc. Chúng có thể xuất phát từ Brest hay Bordeaux, bay về bên phải, vòng quanh nước Anh, tiếp nhiên liệu lại ở Na Uy để rồi ngày hôm sau làm một cuộc hành trình khứ hồi. Dọc đường nhất định chúng thấy ở xa những đoàn tàu rất lớn gồm bốn hoặc năm chục chiếc trong cuộc hành trình đang di chuyển vào hoặc ra, việc thiếu thốn đội hộ tống đã buộc chúng tôi phải sử dụng đến những tàu rất lớn này. Chúng có thể tấn công các đoàn tàu này hoặc những chiếc riêng lẻ bằng bom phá, hoặc có thể báo hiệu những vị trí để tàu ngầm Đức đang chờ hướng vào chặn đánh.

        Đội tuần dương hạm hùng mạnh của Đức cũng tích cực hoạt động. Lúc này chiếc Scheer ở phía Nam Đại Tây Dương đang tiến về phía Ân Độ Dương, trong ba tháng nó tiêu diệt mười tàu tổng cộng sáu vạn tấn và sau đó thành công trong việc mở đường về Đức. Chiếc Hipper đang ẩn nấp ở Brest. Cuối tháng Giêng hai chiếc tuần dương hạm chiến đấu Schamhorst và Gneisenau, trong một thời gian dài, đã bù đắp lại sự thiệt hại bị giáng xuống Na Uy, được lệnh thực hiện một lần xuất kích vào Bắc Đại Tây Dương, trong lúc chiếc Hipper tiến hành đột kích tuyến đường từ Sierra Leone. Trong cuộc tuần tra hai tháng trên biển, chúng đánh chìm và bắt giữ hai mươi tàu trọng tải đến một trăm mười lăm nghìn tấn. Chiếc Hipper tấn công một đoàn tàu trên đường trở về nước ở gần nhóm đảo Azores, đoàn tàu này chua được đội hộ tống nối ghép lại, và trong một cuộc tấn công man rợ kéo dài một giờ, nó phá hủy bảy trong số mười chín tàu, không hề tìm cách cứu vót những người sống sót, và hai ngày sau thì trở lại Brest. Những con tàu ghê gớm này đã buộc phải sử dụng gần nhu mọi tàu bè chủ yếu của Anh có thể có vào nhiệm vụ hộ tống. Vào một thời kỳ nhất định Tổng tư lệnh Hạm đội Quốc gia chỉ có trong tay một chiếc tàu chiến.

        Tàu Bismarck chưa có trong danh sách hoạt động. Lẽ ra Bộ Hải quân Đức phải đợi cho nó và chiếc Tirpitz bạn đồng hành của nó, được hoàn thành. Hitler không còn cách nào có thể sử dụng hai tàu chiến khổng lồ của mình có hiệu quả hơn là giữ cả hai chúng lại trong tư thế sẵn sàng trong vùng biển Baltic và thỉnh thoảng cho phép tung ra ngoài những tin đồn về một cuộc xuất kích sắp xảy ra. Như vậy, lẽ ra chúng tôi buộc phải tập trung ở Scapa Flow hoặc quanh quanh gần đó,

        hầu như mọi tàu bè hiện đại của chúng tôi, tạo cho nó có thể có mọi lợi thế để lựa chọn cơ bội thích hợp mà không phải ở trong trạng thái căng thẳng lúc nào cũng phải sẵn sàng. Vì tàu bè  phải định kỳ sửa chữa lại nên việc duy trì một khoảng cách hợp lý về sức mạnh trội hơn hẳn có thể gần như là vượt ra ngoài khả năng chúng tôi, và bất kỳ một sự rủi ro nào cũng có thể phá vỡ khoảng cách đó.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM