Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2018, 09:14:42 PM



Tiêu đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 16 Tháng Mười Hai, 2018, 09:14:42 PM
        
        - Tên sách : Hồi ký Winston Spencer Churchill
                          Giải Nobel Văn học 1953  
                          Người dịch : Hoàng Tuý - Hoàng Hữu Phấn - Nguyễn Xuân Phương - Hoàng Ngọc

        - Tác giả : Denis Kelly

        - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin

        - Năm xuất bản : 1974

        - Số hóa : Giangtvx


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 17 Tháng Mười Hai, 2018, 08:07:14 AM

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

        Bộ hồi ký 2 tập này được biên dịch từ bộ "Hồi Ký về Chiến tranh Thế giới Thứ hai" gồm 6 tập của Huân tưóc W. Churchill. Đây là bộ sách mà các sự kiện chiến tranh được trình bày một cách sinh động qua lời văn của tác giả, một người đã được trao tặng giải thưởng Nobel Văn chương năm 1953 với chính tác phẩm này.

        Như chúng ta đã biết, thế kỷ XX khép lại với hai cuộc chiến tranh thế giới do bọn đế quốc gây ra, nhất là cuộc chiến tranh thế giới thứ hai vô cùng khốc liệt, đã làm cho loài người hao tốn bao nhiêu xương máu và của cải. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai này, Liên Xô với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại tuy đã gánh chịu nhũng tổn thất nặng nề nhất, nhưng đã giáng những đòn chí mạng quyết định vào bọn phát xít Đức và quân phiệt Nhật, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện, được cả loài người tôn vinh, khâm phục và biết ơn. Quá trình chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu anh dũng tuyệt vời như thế nào của quân và dân Liên Xô đều được trình bày rõ ràng, cụ thể, đầy đủ trong các hồi ký của nguyên soái Giu-côp, nguyên soái Va-xi-lép-xki, của đại tướng Stê-men-cô, nhưng đó chỉ mới là những diễn biến chiến sự, những sự kiện chiến tranh, ở mặt trận phía Đông, ở mặt trận Xô-Đức, còn chúng ta chưa biết hoặc biết rất ít về một mặt trận khác, mặt trận chống Đức-Ý-Nhật ở phía Tây, lúc đầu giữa Anh-Pháp với Đức-Ý, sau đó giữa Anh-Mỹ với Đức-Ý-Nhật.
         
        Bộ hồi ký này sẽ giúp chúng ta có thêm tài liệu về mặt trận đó, giúp ta hiểu biết toàn diện - dù là bước đầu - về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, khi trong tay đã có nhũng hồi ký của nhũng người trong cuộc từ hai phía viết ra. Dĩ nhiên các tác giả đều xuất phát từ nhũng quan điểm tư tưởng chính trị khác nhau, trái ngược nhau, với quyền lợi khác nhau, đối lập nhau. Đó là điều trước hết chúng ta cần nhận rõ. Ai cũng biết Huân tước Churchill lãnh tụ Đảng Bảo thủ Anh là một chính khách chống Cộng khét tiếng, khi trình bày sự kiện không tránh khỏi một số lệch lạc thiếu khách quan, thậm chí một số suy nghĩ đánh giá có tính độc ác, phản động. Nhưng với tư cách một người đã trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới, lại là người trong giai đoạn đầu trước khi Hitler xâm lược Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, ông chưa tham gia chính trường, còn là người ngoài cuộc. Sau đó, trong chiến tranh ông mới tham gia Chính phủ, đứng đầu Chính phủ và là Bộ trưởng Quốc phòng Anh, thì những sự kiện ông trình bày đều có giá trị nhất định, giúp chúng ta có cơ sở để mở rộng sự hiểu biết, nhận xét và phân tích. Như ông đánh giá sự nhu nhược, hèn nhát của Chamberlain cũng như đánh giá thiện chí của Chính phủ Liên Xô trong việc thành lập mặt trận chung chống phát xít Đức là hoàn toàn đúng đắn, tuy ông chưa nói lên được âm mưu thủ đoạn xấu xa, thâm độc của Anh-Pháp đối với Liên Xô, muốn đẩy Liên Xô đánh nhau với Đức còn họ thì đứng ngoài. Và với tư cách một nhân chứng lịch sử, với tư cách một nhà văn, một con người biết tôn trọng sự thật và chính nghĩa dù là trong chừng mục nhất định, ông minh họa sự tàn bạo của Hitler, ông xúc động trước việc tự sát của Thủ tướng Hungari, của Thủ tướng Hy Lạp để bảo toàn khí tiết, ông ca tụng một số sĩ quan yêu nước Nam Tư, ông khen ngợi tướng De Gaulle mà ông không mấy ưa thích khi De Gaulle rời khỏi nước Pháp bại trận, mang theo danh dự của Tổ quốc để tiếp tục cuộc kháng chiến chống xâm lược. Đặc biệt, ông dùng nhiều lời lẽ hùng hồn để đánh giá cao, hết sức ca tụng Staline, ca tụng nhân dân và quân đội Liên Xô, mặc dù có lúc ông đả kích thậm tệ Staline. Nhưng điều quan trọng là với bộ hồi ký này, ông đã giúp chúng ta khẳng định rằng nhân loại đã phải trả giá đắt cho chính sách mù quáng, ích kỷ, thiển cận của giới cầm quyền phương Tây lúc bấy giờ.

        Các dịch giả của chúng tôi cố bám sát nguyên văn, dù có những đoạn, nhũng chỗ không phù họp với quan điểm, đường lối, tư tưởng của chúng ta, là nhằm làm cho bạn đọc có thể nhận chân được tư tưởng, quan điểm của tác giả vốn thù ghét chủ nghĩa Cộng sản đến xương tủy. Đây là lần đầu bộ hồi ký của Churchill được dịch và ra mắt bạn đọc Việt Nam chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Rất mong bạn đọc xa gần thông cảm và có nhận xét góp ý để khi tái bản, bộ sách được hoàn hảo hơn.

NHÀ XUẤT BẢN       


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 18 Tháng Mười Hai, 2018, 10:25:48 AM

TÓM TẮT NỘI DUNG
HỒI KÝ WINSTON s. CHURCHILL

        Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc, sau khi ký hiệp ước Versailles, những người cầm đầu các nước thắng trận phương Tây, chủ yếu là Anh, Pháp bị chủ nghĩa hòa bình một chiều chi phối, hoặc đang bận rộn vào những hoạt động chính trị đối nội đã tỏ ra bị động, rụt rè, tiêu cực, nhút nhát, chia rẽ lẫn nhau. Mỹ thì xem như phủi tay khỏi mọi việc ở châu Âu, Hội quốc liên thì không có quyền lực gì đáng kể vào nhũng thời điểm mà hoạt động và sức mạnh của Hội là hết sức cần thiết.

        Trong tình hình đó xuất hiện Hitler với đường lối tôn chỉ chính trị về một nhà nước cực quyền phải thiết lập ở Đức mà y trình bày trong cuốn Mein Kamph (Cuộc Chiến Đấu của Tôi). Năm 1933, y nhận chức Thủ tướng Đức. Tham vọng trước mắt của y là xây dụng một nưóc Đại Đức hướng vào Áo và Đông Nam châu Âu. Được Anh, Mỹ cho vay, nước Đức nhanh chóng phục hồi, từ một nước bại trận phải bị giải giáp, nước Đức được  tái vũ trang với đầy đủ các lực lượng hải, lục, không quân hùng mạnh. Ý và Nhật vốn ở trong phe đồng minh trong Chiến tranh Thế giới Thứ nhất, nay lại đứng về phía Đức, khiến cho bọn Quốc Xã không còn bị cô lập.   

        Theo Churchill, năm 1936 về căn bản không quân Đức mạnh hơn Anh. Dựa trên chế độ cường bách quân dịch, số lính được gọi nhập ngũ của Đức từ năm 1934 đến năm 1940 là trên 3 triệu, trong lúc đó Pháp chỉ có trên 1,5 triệu. Năm 1936 Hitler chiếm lại vùng Rhineland, năm 1938 cưỡng đoạt nước Áo sáp nhập lãnh thổ Áo vào nước Đức Quốc xã, xây dụng phòng tuyến Siegfried, cũng năm 1938, Anh gạt bỏ cố gắng của Tổng thống Roosevelt, không đếm xỉa gì đến tuyên bố của Liên Xô muốn cùng các nước phương Tây bảo vệ Tiệp Khắc, đã cùng Pháp, Đức và Ý buộc Tiệp Khắc nhượng vùng Sudetes cho nước Đức. Chamberlain, Thủ tướng Anh, đã nhượng bộ Hitler lần lượt hết việc này đến việc khác, lại còn thiết lập quan hệ thân thiết một cách nhục nhã với Mussolini. Năm 1938 - 1939, chi phí quân sự mọi mặt của Anh là 304 triệu bảng mà Đức ít nhất là 1500 triệu bảng. Trước khi chiến tranh bùng nổ, mức sản xuất của Đức gấp đôi và có thể gấp 3 tổng sô vũ khí trang bị của Anh và Pháp cộng lại. Cán cân nghiêng hẳn về nước Đức.

        Đức với chính sách dùng thủ đoạn đe dọa, chia rẽ, mua chuộc, dụ dỗ, lừa gạt các nước, càng ngày càng vi phạm trắng trợn, nghiêm trọng, và thô bạo Hiệp ước Versailles. Chính quyền Anh của Thủ tướng Chamberlain không tin khả năng quân sự của Liên Xô, lại thù ghét và sợ hãi chủ nghĩa Cộng sản đã tỏ ra lạnh nhạt với những đề nghị hợp lý của Liên Xô như họp sáu cường quốc, thành lập mặt trận thống nhất Anh-Pháp-Liên Xô nhằm đối phó với Đức. Hội nghị quân sự Anh-Pháp-Liên Xô cũng tan vỡ, khi Ba Lan và Rumani từ chối không cho Hồng quân đi qua lãnh thổ của họ để chống Đức. Hungari thì đúng vào phe Đức. Tình thế mới lúc bấy giờ là các phương tiện để tổ chức bất cứ một sự kháng cự nào chống lại sự xâm lược của Đức ở Đông Âu đều hầu như cạn kiệt. Trong lúc đó Ý đổ quân vào chiếm Albani, dùng Albani làm bàn đạp tấn công Hy Lạp. Lúc đó xuất hiện ở Anh hàng nghìn biểu ngữ yêu cầu Churchill trở lại chính trường.

        Về phía Liên Xô, từ vụ Munich và nhiều vụ việc khác, Chính phủ Liên Xô tin rằng Anh, Pháp không ai muốn chiến đấu, cơn bão được tích tụ sắp nổ ra, Liên Xô phải lo cho mình Vào đêm 23/8/1939 Hiệp ước Xô-Đức được ký kết, đây là một thất bại ngoại giao của Anh-Pháp, một thắng lợi cần thiết cho Liên Xô đẩy Đức về phía Tây, xa bao nhiêu hay bấy nhiêu để tranh thủ thời gian chuẩn bị.

        Sáng ngày 1/9/1939, Đức tấn công Ba Lan, mở đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Churchill tham gia Chính phủ làm Bộ trưởng Hải quân và là thành viên Nội các Chiến tranh. Lúc bấy giơ tình thế của Anh là Ba Lan đang hấp hối, Pháp chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của một thời thiện chiến, Liên Xô không còn là đồng minh. Đế quốc Anh vẫn nguyên vẹn, thống nhất nhưng chuẩn bị tồi, không sẵn sàng. Anh kém về số lượng không quân, vẫn kiểm soát được đường biển nhưng vào những ngày đầu chiến tranh, tàu Anh bị tàu Đức tiêu diệt khá nhiều. Quân Đức chiếm Na Uy, Đan Mạch, và qua Bỉ-Hà-Lục tiến vào đất Pháp, ngày 14/6/1940 Paris thất thủ, Thống chế Pétain thuộc phái thất bại chủ nghĩa thành lập Chính phủ. Tướng De Gaulle rời nước Pháp, tiếp tục cuộc kháng chiến, quân Anh cùng với vũ khí đạn dược phải di tản khỏi nước Pháp. Nước Anh lúc này với Churchill làm Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, bị trơ trọi. Đức và Ý chiến thắng ở ngay sát nách, toàn bộ châu Âu mở của cho quyền lực của Hitler và ở bên kia quả địa cầu thì Nhật Bản hoành hanh. Nước Anh phải lo công việc phòng thủ, bảo vệ đất nước, tổ chức chống không quân Đức oanh tạc dữ dội Luân Đôn và các vùng khác, chuẩn bị chống quân Đức đổ bộ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 19 Tháng Mười Hai, 2018, 10:54:45 AM

        Mỹ tuy chưa tham chiến, nhung bắt đầu tích cực giúp Anh, với Tổng thống Roosevelt được bầu lại, Mỹ đã dành một nửa vũ khí xuất xưởng cho Anh và Canada, đã cung cấp máy bay cho Anh. Dư luận chính giới Mỹ cho rằng cách phòng thủ Hợp Chủng Quốc tốt nhất là giúp Anh chiến thắng. Sau khi Pháp đầu hàng, Anh chấm dứt quan hệ với Chính phủ Vichy của Pétain và giúp đỡ, mở rộng hoạt động với tướng De Gaulle. Hòa nhịp với quân Đức ngày 13/9/1939, bộ đội chủ lục Ý bắt đầu tiến quân vào biên giới Ai Cập nhưng đến ngày 15/12 thì toàn bộ quân Ý bị đẩy lùi khỏi Ai Cập, quân Anh chiến thắng ở sa mạc Libi. Trong lúc đó Hitler chuẩn bị can thiệp trên quy mô lớn vào vùng Balkan và Địa Trung Hải, Anh mưốn hình thành một mặt trận Balkan gồm Nam Tư, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ chống Đức, nhưng cuối cùng thất bại. Nam Tư, Hy Lạp đầu hàng Đức, mặt khác sườn sa mạc ở Bắc Phi là chỗ dựa để hình thành một mặt trận cho vùng Balkan, bị Đức tấn công, phải sụp đổ. Anh phải rút lui khỏi đảo Crête - một hòn đảo có ý nghĩa chiến lược đối với Anh. Tuy vậy, với các chiến dịch thắng lợi của Anh ở Syrie và Irac, đã cải thiện được nhiều vị trí chiến lược của Anh ở Trung Đông, chặn được Đức tìm cách thâm nhập vào Địa Trung Hải theo hướng Đông. Tuyến phòng thủ kênh Suez được đưa xa thêm 250 dặm về phía Bắc, giải tỏa mối lo của Thổ Nhĩ Kỳ về biên giới phía Nam của mình, nhất là việc chiếm đóng Syria đã đáp ứng được nhu cầu tối cần thiết và chấm dứt vĩnh viễn việc Đức tiến sang vịnh Ba Tư và Ấn Độ. Trong lúc đó, quân Đức vẫn tiếp tục oanh tạc dữ dội nước Anh mà Churchill cho rằng nhằm che đậy cho việc chuẩn bị tiến công Liên Xô. Thực sự thì Đức đang chuẩn bị tiến công Liên Xô và sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 quân Đức tràn vào lãnh thổ Liên Xô.

        Tuy ngờ vực và không bằng lòng Liên Xô, cho rằng Liên Xô đã bị lừa, bị đánh bất ngờ, và mặc dù quan hệ giữa cá nhân Churchill và Staline không được thoải mái, Churchill vẫn khâm phục Staline, khen ngợi, ca tụng nhân dân và quân đội Xô Viết, cho rằng cuộc kháng chiến của Liên Xô đã làm sụp đổ, đã bẻ gẫy quân đội Đức, đã giáng một đòn chí mạng vào nước Đức Quốc xã, cho rằng chiến dịch tiến đánh vào Liên Xô là sai lầm chết người. Từ đó, từ chỗ đơn thương độc mã, thì nay có thêm Liên Xô và Mỹ cùng chống một kẻ thù, quân Anh đã cùng quân Mỹ đánh nhau với quân Đức ở Bắc Phi. Cho đến tháng 5/1943 thì quân Anh-Mỹ đã giành được quyền kiểm soát toàn bộ bơ biển Bắc Phi từ Tunis trải dài đến Ai Cập. Nhung ở Viễn Đông, ở Thái Bình Dương thì quân Nhật đánh chiếm Philippines, Singapore, Malaysia, tấn công Trân Châu cảng. Anh và Mỹ ra tuyên bố chống phe Trục, kêu gọi các nước khác cũng tham gia chống phe Trục cho đến ngày toàn thắng và thành lập ủy ban Tham mưu trưởng hỗn họp (không có Liên Xô vì ở xa và đang ở mặt trận riêng rẽ độc lập).

        -Năm 1942, Mỹ chiến thắng tại vùng biển San hô và đảo Midway ngăn chặn sự bành trướng của Nhật ở Thái Bình Dương.

        -Tháng 2/1943, Liên Xô chiến thắng ở Stalingrad.

        -Tháng 5/1943, toàn bộ lực lượng Đức-Ý ở châu Phi bị quân Đồng minh tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh

        -Tháng 8/1943, quân Đức bị đánh bật khỏi đảo Sicily.

        Năm 1943 chiến tranh Xô-Đức ác liệt, 3 trận đánh lớn ở Kursk, Orel và Kharkov trong 2 tháng, đánh dấu sự sụp đổ của quân Đức tại mặt trận phía Đông. Trong lúc dó các chiến dịch của Anh-Mỹ ở Địa Trung Hải và việc nỗ lực oanh tạc của đồng minh từ Anh có tác dụng chia lửa với Liên Xô ở mặt trận phía Đông, Đức phải tăng cường chống đỡ một cách bị động. Cùng thời kỳ này Anh-Mỹ chuẩn bị mở mặt trận thứ hai. Tháng 9 quân Đức phải rút lui trên toàn bộ mặt trận phía Nam, từ vị trí đối diện với Matxcova đến Biển Đen. Đến tháng 12, sau 3 tháng bị quân Liên Xô truy kích, các đạo quân Đức ở miền Trung và miền Nam nước Nga bị đánh bật trở lại hơn hai trăm dặm, quân Đức thất bại trong việc giữ phòng tuyến Dnieper, đã phơi lưng cho cuộc tấn công của quân Liên Xô vô cùng lợi hại.

        Trong khi chiến tranh ngày càng gần đến lúc kết thúc, trong những cuộc gặp gỡ giữa Churchill, Roosevelt và Staline bàn về mặt trận thứ hai, về công việc sau chiến tranh thường có những ý kiến khác nhau, những quan điểm, ý đồ khác nhau và cả nhũng ngờ vục nhất là xung quanh vấn đề sau khi nước Đức đầu hàng, trong cuộc gặp gỡ ở Téhéran.

        Tuy vậy, cuối cùng phe Đồng minh đã toàn thắng, còn phe Trục Đức-Ý-Nhật bị thất bại thảm hại. Riêng phát xít Ý thất bại từ tháng 10/1943. Hitler tự sát, Mussolini bị bắt và bị xử bắn. Đối với trường hợp đầu hàng của Nhật, Churchill cho rằng Nhật thất bại, đầu hàng không phải vì bom nguyên tử của Mỹ mà trước khi bị bom nguyên tử, rõ ràng sức mạnh hàng hải, tàu bè của Nhật đã bị phá hủy với hon tám triệu rưỡi tấn tàu Nhật bị đánh chìm.

        Và một khi nước Đức Quốc xã bị đánh bại, thì Churchill tỏ ý nghi ngơ, lo ngại sự bành trướng của Liên Xô khi sức mạnh vũ trang của Anh-Mỹ và một số nước phương Tây không thể tồn tại như trước. Từ hội nghị Yalta, ông nghĩ Liên Xô có nhũng hành động khó hiểu, do đó trong lời bạt viết cho bộ hồi ký rút gọn này vào năm 1957, Churchill cho rằng dường như châu Âu chỉ thay đổi từ một kẻ độc tài này sang một kẻ độc tài khác và nếu Anh-Mỹ duy trì được vị trí đứng đầu thì Liên Xô sẽ thấy rằng hòa bình và phát triển cần được bảo vệ hơn là chiến tranh hủy diệt.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 20 Tháng Mười Hai, 2018, 09:50:56 AM

LỜI NÓI ĐẦU

        Tôi cần phải xem những tập này như là một sự tiếp tục lịch sử của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất mà tôi trình bày trong các tác phẩm "Sự khủng hoảng thế giới", "Mặt trận phía đông" và "Hậu quả". Những tác phẩm này đều bao hàm sự đánh giá, cách giải thích, về cuộc chiến tranh sau đó 30 năm.

        Nhưng trong các tập nói trên, trong chừng mục có thể, tôi đi theo phương pháp của nhà văn Defoe viết "Hồi ức của một kỵ sĩ", trong đó tác giả chép sử biên niên và tranh luận về những sự kiện quân sự chính trị vĩ đại theo dòng kinh nghiệm riêng của một cá nhân. Có lẽ tôi là người duy nhất giữ chức vụ cao trong chính phủ, đã trải qua cả hai cuộc biến động lớn quan trọng nhất của lịch sử được ghi chép. Nhưng dẫu sao trong chiến tranh thế giới thứ nhất, tôi giữ những chúc vụ quan trọng nhưng lệ thuộc, còn trong cuộc chiến đấu lần thứ hai với nước Đức, tôi đã hơn năm năm là người đứng đầu Chính phủ Hoàng gia. Vì vậy tôi viết từ một quan điểm khác và với nhiều căn cứ hon so với những sách viết ban đầu. Tôi không mô tả cuộc chiến đấu này như là khoa sử học, vì điều này thuộc thế hệ khác. Nhưng tôi quả quyết rằng đây sẽ là một đóng góp hữu ích cho lịch sử. Ba mươi năm hành động và chủ trương của tôi thể hiện sự cố gắng suốt đời tôi, và tôi sẵn sàng chấp nhận sự phán xét về những chủ trương, hành động đó. Tôi giữ vững nguyên tắc của mình là không bao giờ phê phán biện pháp chiến tranh nào hoặc chính sách nào sau sự kiện quan trọng này, trừ phi trước đó tôi phát biểu công khai những ý kiến của tôi hoặc có lời cảnh báo về những vấn đề đó. Thực vậy, trong những sự việc mà về sau mới sáng tỏ, tôi đã làm dịu đi nhiều tính ác liệt của cuộc tranh luận đương thời. Điều này khiến tôi đau khổ khi ghi lại những bất đồng với nhiều người mà tôi yêu mến hay kính trọng. Nhưng sẽ sai lầm nếu không đặt nhũng bài học của quá khứ trước tương lai. Không cho phép ai đánh giá thấp những con người đáng kính có thiện chí kia mà hành động của họ được ghi vào những trang này mà không suy nghĩ kỹ, tự xem xét lại việc hoàn thành công vụ của mình và áp dụng nhũng bài học của quá khứ vào cách xử sự sau này của họ.

        Không nên nghĩ rằng tôi mong đợi mọi người đồng tình với điều tôi nói, lại càng không nên nghĩ rằng tôi chỉ viết điều sẽ được mọi người ưa thích. Tôi đưa ra bằng chúng của tôi theo chân lý mà tôi theo đuổi. Nhằm xác minh các sự kiện, mọi sự thận trọng đều có thể chấp nhận được, nhung phần nhiều được đưa ra ánh sáng do sự phát hiện những tài liệu bắt được, hoặc do những sự tiết lộ khác có thể biểu thị một khía cạnh mới đối với những kết luận tôi nêu ra.

        Một hôm Tổng thống Roosevelt nói với tôi rằng ông ta đang công khai hỏi ý kiến về cuộc chiến tranh này lẽ ra nên gọi là gì. Tôi nói ngay đó là "cuộc chiến tranh không cần thiết". Không bao giờ lại xảy ra một cuộc chiến tranh nếu người ta có thể ngăn chặn được nhất là khi nó tàn phá những gì còn lại của thế giới, từ sau cuộc chiến tranh trước đó. Bi kịch của loài người đạt tới điểm cao nhất bằng sự thật là sau tất cả các nỗ lực và hy sinh của hàng trăm triệu con người và những chiến thắng của chính nghĩa, chúng ta vẫn chưa tìm thấy hòa bình và an ninh, và chúng ta đang ở trong sự kìm kẹp của ngay những hiểm họa tệ hại hơn những hiểm họa mà chúng ta đã vượt qua. Hy vọng tha thiết của tôi là những suy nghĩ về quá khứ có thể dẫn đường cho tương lai, cho phép thế hệ mới sửa chữa một số sai lầm của những năm xưa và như thế mới chế ngự được cái cảnh tượng khủng khiếp trong tương lai đang lộ ra, phù hợp với nhu cầu cơ bản và niềm tự hào của loài người.

WINSTON SPENCER CHURCHILL         
Chartwell Kent Tháng 3-1948             


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 21 Tháng Mười Hai, 2018, 10:36:09 AM

Phần 1

CÁC CỘT MỐC TRÊN ĐƯỜNG ĐI TỚl THẢM HỌA
1919 -1940



1

SỰ ĐIÊN RỒ CỦA NHỮNG KẺ CHIẾN THẮNG
1919 - 1929

        Sau khi Chiến tranh Thế giới 1914 kết thúc, có một lòng tin vững chắc sâu sắc và hy vọng hầu như phổ biến, rằng hòa bình nhất định ngự trị trên thế giới. Sự mong muốn cuồng nhiệt của tất cả các dân tộc có thể dễ dàng đạt tới do sự tin chắc kiên định chính đáng, do lẽ thông thường phù họp với lý trí và sự khôn ngoan. Câu nói "Chiến tranh để kết thúc chiến tranh" ở trên mọi của miệng, và các phương sách được thi hành để biến nó thành hiện thực. Điều được nghĩ tới là tổng thống Wilson nắm quyền hành ở Hoa Kỳ đã chuẩn bị cho quan niệm về sự hình thành một Hội Quốc Liên nổi bật nhất trong mọi ký ức.

        Quân đồng minh đóng dọc sông Rhine, cồn các đầu cầu của họ nằm sâu vào trong nước Đức bại trận, bị tước vũ khí và đói khát. Nhũng người đúng đầu các cường quốc thắng trận, thảo luận tranh cãi về tương lai ở Paris. Trước mặt họ là bản đồ châu Âu sẽ được vẽ lại gần như do chính họ có thể quyết định.

        Sau năm mươi hai tháng đau khổ và rủi ro, liên minh các dân tộc Teuton (gồm người Anglo-saxon, người Hà Lan, người Đức và người Scandinave) đành phó mặc số phận cho họ, và không một ai trong bốn thành viên của liên minh này có thể đua ra sự kháng cự yếu ót nhất đối với ý muốn của họ. Nước Đức, đương đầu với sự xúc phạm, bị tất cả mọi người xem như là nguyên nhân chủ yếu của thảm họa mà thế giới phải gánh chịu, đã phó mặc cho những kẻ chiến thắng quyết định, hoặc là phải theo ý muốn của họ, và chính họ cũng lảo đảo vì nỗi thống khổ phải chịu đựng. Hơn nữa, đó là một cuộc chiến tranh không phải của các chính phủ mà là của các dân tộc. Toàn bộ tiềm năng sinh lực của những quốc gia vĩ đại nhất đều tuôn ra biến thành những phẫn nộ và tàn sát. Những người lãnh đạo chiến tranh họp nhau tại Paris mùa hè năm 1919 đều chịu sự tác động của những trào lưu mạnh mẽ nhất, dữ dội nhất, đã từng dâng lên trong lịch sử nhân loại. Đã qua rồi thời buổi của các hiệp ước Utrecht và Vienna, khi các chính khách quý tộc và các nhà ngoại giao, kẻ thắng cũng như người bại, gặp nhau bàn cãi lịch sự, nhã nhặn, không phải chịu sự ồn ào hỗn độn của những tiếng nói khác nhau của nền dân chủ, có thể nặn ra những chế độ mà tất cả họ đã đồng ý về những nguyên tắc cơ bản. Các dân tộc hết sức xúc động vì đau khổ, vì phải nghe những lời phê phán của đại chúng, hàng triệu người đòi hỏi sự trừng phạt cao nhất. Sẽ rắc rối cho các lãnh tụ bây giờ ngồi trên đỉnh cao ngất của chiến thắng, nếu tại bàn hội nghị họ bỏ quên những người lính đã đấu tranh trên hàng trăm chiến trường đẫm máu.

        Nước Pháp cũng vậy, do những nỗ lục và tổn thất của họ, họ giữ vị trí lãnh đạo, gần một triệu rưởi người Pháp bỏ mình, những người đã đứng vững trên đất Pháp chống kẻ xâm lược, bảo vệ lãnh thổ. Năm lần trong vòng một trăm năm, vào những năm 1814, 1815, 1870, 1914 và 1918, các ngọn tháp của nhà thờ Đức Bà đã chứng kiến quân Phổ phô trương súng ống và nghe được âm vang của những loạt đại bác của chúng. Lúc này, trong bốn năm khủng khiếp, mười ba tỉnh của nước Pháp nằm dưới sự thống trị kìm kẹp khắc nghiệt của quân Phổ. Nhiều vùng rộng lớn bị quân thù tàn phá có hệ thống, hoặc bị nát vụn như cám trong các cuộc đụng độ của các đạo quân. Hầu như không có một túp nhà tranh hay một gia đình nào từ Verdun đến Toulon mà không khóc người thân đã mất, hay lo buồn cho những người què quặt của mình. Đối với những người Pháp này - có nhiều trong các nhà chức trách cao cấp - đã chiến đấu và đau khổ trong năm 1870, thì việc nước Pháp lẽ ra phải nổi bật là người chiến thắng trong cuộc chiến đấu đầy nguy khốn không gì so sánh được vừa mới kết thúc. Suốt đời họ lo sợ đế quốc Đức. Họ nhớ lại cuộc chiến tranh phòng ngừa do Bismarck cố gắng tiến hành năm 1875. Họ nhớ lại sự đe dọa tàn bạo đã đuổi Delcassé khỏi cơ quan năm 1905, trước cuộc tranh chấp của người Bosnia năm 1908, và trước cuộc khủng hoảng ở của biển Agadir năm 1911. Sự đe dọa bằng quân sự và những bài diễn văn đằng đằng sát khí của Kaiser1 có lẽ được tiếp nhận với sự nhạo báng ở Anh và Mỹ, nhưng chúng phát lên hồi chuông báo tử thực sự khủng khiếp trong lòng nhân dân Pháp. Trong năm mươi năm, hầu như họ sống trong nỗi khiếp sợ vũ khí của Đức. Giờ đây, bằng xương máu của mình, sức đè nặng lâu dài đó đã tan biến. Cuối cùng, không nghi ngờ gì nữa, đây là hòa bình và an ninh. Với một sức bật nồng nhiệt, nhân dân Pháp hét lên: "Không bao giờ nữa”.

----------------
        1. Kaiser: danh hiệu của các hoàng đế Đức và Áo - Hung cho đến năm 1918.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 22 Tháng Mười Hai, 2018, 10:33:58 PM
   
        Nhưng tương lai lại nặng trĩu điềm gở. Dân số nước Pháp không bằng hai phần ba dân số Đức. Dân số nước Pháp không thay đổi, trong lúc đó thì dân số Đức tăng. Trong một thập kỷ hoặc ít hơn, lứa thanh niên Đức tới tuổi nghĩa vụ quân sự phải là gấp đôi so với Pháp. Nước Đức gần như đánh cả thế giới, dù chỉ hầu như đơn thương độc mã và suýt nữa đã chiến thắng.

        Những ai nắm được tình hình thì sẽ dễ dàng hiểu được những sự kiện đặc biệt ấy, nhất là khi kết quả của cuộc chiến tranh vĩ đại ở vào tình trạng nguy ngập, và những chuyện rủi may đã làm lệch cán cân quyết định. Viễn cảnh tương lai như thế nào mà khối Đồng minh vĩ đại quyết một lần nữa xuất hiện hằng hàng triệu quần chúng của họ trên các chiến trường nước Pháp hay ở phía Đông? Nước Nga đổ nát và rối loạn, biến đổi khác trước xa - nước Y có thể ở phía đối lập. Anh và Mỹ bị tách rời khỏi châu Âu bởi các biển hoặc đại dương. Bản thân Đại Đế quốc Anh dường như liên kết chặt chẽ với nhau bằng những mối quan hệ mà chỉ những công dân của họ mới có thể hiểu. Có bao giờ những người Canada hùng mạnh ở chiến trường Vimy Ridge, những người Úc vinh quang ở chiến trường Villers Bretonneux, những ngưbi New Zealand dũng cảm ở chiến trường đầy hố bom Passchendaele, những quân đoàn kiên định Ấn Độ trong mùa đông khắc nghiệt năm 1914 đã giữ vững phòng tuyến gần thủ phủ Armentières, có thể gọi cho nước Pháp và vùng Flanders nhớ lại một lần nữa những sự kiện đầy ấn tượng đó không?

        Còn nhớ nước Anh hòa bình, sẵn sàng chống quân phiệt, đã có lần phải đi bộ qua những đồng bằng quận Artois và tỉnh Picardy với những quân đoàn hàng hai ba triệu người? Còn nhớ đại dương một lần nữa phải mang hai triệu đàn ông nước Mỹ đến tỉnh Champagne và vùng Argonne? Bị kiệt sức dần, bị tàn sát, nhưng vẫn là người chủ của hiện tại, nước Pháp nhìn kỹ tương lai vừa kinh ngạc biết ơn, dù bị nỗi kinh hãi ám ảnh. Vậy thì ở đâu mà không có an ninh thì tất cả những gì đã giành được dường như vô giá trị và bản thân cuộc sống ngay cả giữa sự vui mừng thắng lợi cũng hầu như không thể duy trì được. Nhu cầu tối cần là an ninh bằng mọi giá, và bằng mọi phương pháp, dù là nghiêm khắc hay thậm chí tàn nhẫn.

        Trong ngày lễ Đình chiến, quân đội Đức trở về nước rất có trật tự. Thống chế Foch, tổng tư lệnh quân Đồng minh với vòng nguyệt quế sáng chói trên trán đã nói theo kiểu nhà binh: "Họ chiến đấu giỏi, hãy để cho họ giữ vũ khí của mình". Nhưng ông ta đòi biên giới nước Pháp, từ nay trở đi phải là sông Rhin. Nước Đức có thể bị giải trừ quân bị, hệ thống quân sự của họ bị phá vỡ từng mảng, pháo đài của họ bị tháo dỡ. Nước Đức có thể bị suy kiệt, có thể bị buộc phải gánh chịu những khoản bồi thường vô hạn, có thể trở thành nạn nhân của mối thù truyền kiếp trong thâm tâm, nhưng mọi việc nhất định rồi sẽ qua đi trong mười hay vài mươi năm. Sức mạnh không thể hủy diệt "của tất cả bọn Đức", nhất định trỗi dậy một lần nữa và ngọn lửa không bị dập tắt của nước Phổ quân nhân lại bùng sáng và bùng cháy trở lại. Nhưng sông Rhin, con sông Rhin rộng sâu, chảy xiết, một khi được quân đội Pháp gìn giữ và củng cố nhất định là vật chướng ngại, là vật che chở cho bao thế hệ nước Pháp có thể yên tâm, không còn sợ hãi. Rất khác biệt với những tình cảm và quan điểm của thế giới nói tiếng Anh, nhưng nếu không có sự giúp đỡ của thế giới này thì chắc hẳn nước Pháp đã thua. Những điều khoản về đất đai của hòa ước Versailles thực tế đã để cho nước Đức còn nguyên vẹn. Nó vẫn là một khối chủng tộc đồng nhất, rộng lớn nhất ở châu Âu. Khi nghe ký hòa ước Versailles, thống chế Foch đã có nhật xét hết sức đúng đắn: "Đây không phải là hòa bình - Đó là một cuộc đình chiến trong hai mươi năm".

        Những điều khoản về kinh tế của hòa ước hiểm độc và đơn giản đến mức làm cho chúng hiển nhiên trở nên vô nghĩa. Nước Đức buộc phải bồi thường với một mức không thể tưởng tượng được. Sự bức chế này biểu lộ nỗi túc giận của kẻ chiến thắng và làm cho dân chúng họ hiểu rằng không có quốc gia hay cộng đồng chiến bại nào có thể bao giờ lại nộp cống với quy mô đáp úng cái giá phải trả cho cuộc chiến tranh hiện đại.

        Quần chúng vẫn chìm đắm trong nạn dốt về những sự kiện kinh tế giản đơn nhất và lãnh tụ lại chỉ lo tìm kiếm lá phiếu cho mình nên không dám để dân chúng tỉnh ngộ. Báo chí phản ảnh và làm nổi bật những dư luận đang thịnh hành theo phong cách của họ, ít tập trung giải thích là việc bồi thường chiến tranh này có thể chỉ thực hiện bằng tàu xe phục vụ trên một tuyến đường hoặc bằng sự vận chuyển hàng hóa thông thường bằng đường thủy hay đường bộ, hoặc khi hàng hóa đó đến các nước có yêu cầu, lại làm hỏng nền công nghiệp địa phương trừ trường hợp là nó được đưa vào các xã hội rất nguyên thủy hoặc được kiểm soát chặt chẽ. Trong thực tế, như người Nga bây giờ đã học tập được, cách duy nhất để đòi hỏi một quốc gia bại trận bồi thường là bắt họ chở bằng xe bò đồ đạc cần có và lây di một phần đàn ông của họ như những lao động tạm thời hay vĩnh viễn. Nhưng cái lợi thu được từ những phương pháp như vậy không liên quan gì đến chi phí cho chiến thắng. Không một ai trong giới cầm quyền chủ yếu, có trí sáng suốt, có uy thế hoặc có tính độc lập lại công bố những sự thật tàn nhẫn cơ bản đó với cử tri, mà cũng chẳng ai tin cả, ngay cho dù họ có như thế. Phe Đồng minh thắng trận tiếp tục quả quyết rằng họ phải bóp nặn nước Đức cho đến kiệt quệ. Tất cả điều này liên quan manh mẽ đến sự phồn vinh của thế giới và tâm trạng của chủng tộc Đức.

        Nói tóm lại, tuy thế, những điều khoản nay không bao giờ được thực thi. Trái lại, trong khi tài sản của Đức chừng một tỷ bảng Anh bị các cường quốc thắng trận chiếm hữu, thì sau đó hơn một tỷ rưỡi bảng Anh lại cho nước Đức vay, chủ yếu do Mỹ và Anh. Như vậy cảnh đổ nát của chiến tranh được nhanh chóng đền bù. Kèm theo những việc hào hiệp trên đây là tiếng gào thét của quần chúng bất hạnh và bực tức tại các nước thắng trận, và trong khi các chính khách của họ tin rằng nước Đức buộc phải trả giá tới đồng xu cuối cùng, thì không trông mong gì lòng biết ơn hay thiện chí được đền đáp lại.

        Lịch sử sẽ mô tả đặc điểm của tất cả những sự kiện đó như là ngu dại. Những sự kiện đó không chỉ gây ra tai họa chiến tranh mà còn gây ra cơn bão tuyết dữ dội về kinh tế, càng về sau càng nhiều hơn. Tất cả là câu chuyện buồn bã của một hành động ngu si mà quá trình thực hiện đã lãng phí bao nhiêu sức lực và công lao.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 23 Tháng Mười Hai, 2018, 09:04:35 AM
     
*

        Thảm kịch chủ yếu thứ hai là sự tan rã hoàn toàn Đế quốc Áo - Hung do các hiệp ước Saint-Germain và Trianon. Trong nhiều thế kỷ, hiện thân của Đế chế thần thánh La Mã đã tạo cuộc sống chung với những thuận lợi về thương mại và an ninh cho một số lớn dân tộc, không ai trong bọn họ ở vào chính thời đại chúng ta, có sức lục hoặc sinh khí để tự mình đứng vững trước áp lực của nước Đức hồi sinh hay nước Nga.

        Tất cả những chủng tộc đó hy vọng thoát khỏi cơ cấu liên bang hay đế chế, và việc cổ vũ dục vọng của họ được coi là một chính sách hào phóng.

        Việc sáp nhập đông nam châu Âu vào vùng Balkan được thực hiện mau lẹ với sự mở rộng tất yếu tương đối của Phổ và đế chế Đức, tuy Đức mệt mỏi và lo sợ chiến tranh nhưng vẫn còn nguyên vẹn, còn quá mạnh trong khu vực. Bất kỳ một dân tộc hoặc tỉnh thành nào đã tạo thành Đế chế của dòng họ Hasburgs khi giành được độc lập đều phải chịu những nỗi thống khổ mà các thi nhân và các nhà thần học ngày xưa thường mô tả về những linh hồn bị đọa đày. Kinh thành Viên huy hoàng, quê hương của một nền văn hóa và một truyền thống được bảo vệ lâu đời như vậy, trung tâm của nhiều con đường, nhiều dòng sông và đường sắt bị bỏ hoang và bị đói giống như một trung tâm buôn bán to lớn ở một vùng đã bị bần cùng hóa mà phần lớn dân cư đã bỏ đi.

        Những kẻ chiến thắng tìm cách đánh lừa để gán mọi ý tưởng mà các quốc gia tự do phương Tây lâu nay vẫn theo đuổi cho người Đức. Họ được giảm bớt nghĩa vụ quân sự bắt buộc và sự cần thiết phải duy trì lực lượng vũ trang hùng hậu. Những khoản vay nợ to lớn của Mỹ chẳng mấy chốc đè nặng lên họ, mặc dù họ không có tiền gửi ngân hàng. Một hiến pháp dân chủ, phù hợp với mọi tiến bộ mới nhất được thiết lập ở Weimar1. Các hoàng đế bị hất cẳng, những kẻ vô danh tiểu tốt được bầu lên. Cho rằng không xúng đáng với cơ cấu yếu ớt này, dân tộc Đức hùng cường, tuy bại trận, nhưng cơ bản vẫn còn nguyên.

        Do Pháp chiếm đóng vùng Ruhr, cơn giận dữ nổi lên ở Đức, đưa đến việc in giấy    bạc một cách liều lĩnh, nhằm mục đích phá hủy toàn bộ cơ sở tiền tệ. Trong các giai đoạn lạm phát cuối cùng, phải bốn mươi ba triệu đồng Mác mới đổi được một đồng bảng Anh. Sự lạm phát này dẫn đến hậu quả hết sức nghiêm trọng về kinh tế và xã hội. Tiền tiết kiệm của giai cấp trung lưu được trả hết tạo ra một lực lượng lớn ủng hộ chủ nghĩa quốc xã. Toàn bộ cơ cấu kỹ nghệ Đức bị bóp méo do sự phát triển nhanh của các tờ-rớt. Toàn bộ vốn luân chuyển của xứ sở biến mất. Nợ quốc gia trong nước và nợ công nghiệp dưới dạng tư bản bất biến và tiền thế chấp dĩ nhiên đồng thời phải được trả hoặc bị quỵt. Nhưng không có tiền bồi thường cho việc mất mát vốn luân chuyển. Tất cả dẫn đến việc vay mượn nước ngoài với quy mô lớn của một nước vỡ nợ, là đặc trung của những năm sau đó. Đau khổ và cay đắng của dân tộc Đức cũng kéo dài trong nhiều năm.

        Tâm trạng người Anh đối với nước Đức, lúc đầu là hết sức khó chịu nhưng rồi nhanh chóng đi tới hướng ngược lại. Một vết rạn nứt xuất hiện giữa Lloyd George và Poincarré mà tính giận dữ cố hữu đã ngăn trở các chính sách kiên quyết, nhìn xa thấy rộng của ông. Hai quốc gia bắt đầu có những suy nghĩ và hành động khác nhau, và đối với nước Đức, sự đồng tình hoặc thậm chí là lòng khâm phục của người Anh, đã đạt tới mức có thể biểu lộ mạnh mẽ.

-------------------
        1. Weimar = một thành phố ở phía đông nước Đức


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 24 Tháng Mười Hai, 2018, 11:58:22 AM

*

        Hội Quốc liên thà không được sáng lập, còn hơn là để nó chịu một đòn chí tử. Nước Mỹ từ bỏ con cháu của Tổng thống Wilson. Bản thân Tổng thống sẵn sàng chiến đấu cho lý tưởng của mình, và sẵn sàng chịu sự chống đối ngay từ lúc ông lên đường tiếp tục cuộc vận động, và từ đó trở đi, dần dần đưa tới sự sụp đổ, đảng và chính sách của ông bị loại bỏ do thắng lợi của đảng Cộng hòa vào năm 1920 - ở bên kia Đại Tây Dương. Ngay sau khi Đảng Cộng hòa dành được thắng lợi, thì những quan niệm theo chủ nghĩa biệt lập chiếm ưu thế. Châu Âu bị bỏ rơi, và phải trả các món nợ hợp pháp của mình. Cùng lúc đó, các biểu thuế quan được dụng lên để ngăn ngừa việc nhập hàng hóa mà chỉ có việc nhập này mới thanh toán được các khoản nợ kia. Tại hội nghị Washington năm 1921, Mỹ đưa ra những đề nghị nhằm áp dụng rộng rãi vấn đề giải trừ hải quân. Chính phủ Anh, Mỹ giấu các chiến hạm, phân tán lực lượng quân sự. Ngay sau đó, sự bài xích của Anh, Mỹ chĩa thẳng vào nước Pháp không còn nữa.

        Mỹ nói rõ với Anh rằng nếu Anh và Nhật tiếp tục liên minh với nhau, mà người Nhật tuân thủ liên minh đó một cách chi tiết tỉ mỉ, thì việc đó sẽ tạo nên một chường ngại trong quan hệ Anh, Mỹ. Vì vậy liên minh này phải chấm dứt. Sự bãi bỏ này gây một ấn tượng sâu sắc ở Nhật và được xem như sự hắt hủi một cường quốc châu Á của phương Tây. Nhiều mối liên kết bị tách ra, sau này đã có thể chứng minh về giá trị quyết định đối với hòa bình. Cùng lúc ấy Nhật có thể tự an ủi với sự kiện là sự suy sụp của Đức và Nga trong một thời gian đã vực họ lên vị trí thứ ba trong các cường quốc hải quân thế giới. Vậy mà hiệp nghị về hải quân Washington qui định một tỷ lệ quân số trên các tàu lớn của Nhật thấp hơn Anh và Mỹ (5:5:3), chỉ tiêu phân cho Nhật được thông báo đầy đủ đối với khả năng xây dựng và tài chính của họ trong nhiều năm, tiếp đó họ chú ý theo dõi hai cường quốc hải quân quan trọng cùng giảm bót thấp hơn rất nhiều, điều gì mà tiềm lực kinh tế và quân sự của hai nước này cho phép và điều gì họ áp đặt. Theo cách đó, cả ở châu Âu lẫn châu Á, các đồng minh chiến thắng, nhân danh hòa bình, đã nhanh chóng tạo ra những điều kiện dọn đường cho sự phục hồi chiến tranh.

        Trong lúc các sự kiện không may này xảy ra, tin một sự biến động mới khủng khiếp hơn sự thống trị của các hoàng đế Nga và Đức, Áo trở nên rõ ràng ở châu Âu. Nội chiến ở Nga kết thúc với sụ thắng lợi tuyệt đối của cách mạng Bôn-xê-vích. Quân đội Xô Viết tiến tới nhằm chinh phục Ba Lan, bị đẩy lùi trong trận đánh Warsaw, nhưng Đức và Ý hầu như không khống chế nổi sự tuyên truyền của Cộng sản, và Hungari trong một thời gian thực sự ở dưới quyền nhà độc tài Cộng sản Bela Kun. Mặc dù thống chế Foch sáng suốt nhận xét rằng: "Chủ nghĩa Bôn-xê-vích không bao giơ vượt quá giới hạn của thắng lợi", nhung nền tảng văn minh châu Âu rung rinh trong những năm đầu sau chiến tranh. Trong khi viên hạ sĩ Hitler giúp ích lớp sĩ quan Đức ở Munich bằng cách khuấy động binh lính và công nhân lòng căm thù sôi sục những người Do Thái và Cộng sản, đổ trách nhiệm cho họ về sự bại trận của Đức, thì một tên đại bợm khác là Benito Mussolini, người cung cấp cho Ý một đề tài về chính thể mới lại đáp úng đòi hỏi cứu nhân dân Ý khỏi chủ nghĩa Cộng sản. Người ấy tự đề bạt mình vào cơ quan quyền lực độc tài.

*

        Tuy nhiên một sự bảo đảm vững chắc cho hoa bình vẫn còn. Nước Đức bị giải giáp - pháo binh và vũ khí của họ bị phá hủy tất cả. Hạm đội của họ đã tự đánh đắm ở Scapa Flow. Quân đội hùng mạnh của họ đã bị giải tán. Theo hiệp ước Versailles, nước Đức chỉ được phép sử dụng một đội quân nhà nghề không quá một trăm nghìn người để giữ gìn trật tự trong nước và trên cơ sở này, không thể tích lũy được quân dự bị - Không huấn luyện lính mới gọi theo chỉ tiêu hàng năm, hàng ngũ cán bộ bị giải tán. Mọi cố gắng nhằm cắt giảm để chỉ còn một phần mười số sĩ quan quân đoàn. Không một lực lượng không quân nào được phép hoạt động. Tàu ngầm bị cấm. Hải quân Đức bị giới hạn trong một số nhỏ tàu thủy dưới mười nghìn tấn. Nước Nga Xô Viết bị ngăn cách với Tây Âu bằng một dãy các nước hung hăng chống Bôn-xê-vích, nguyên là những nước đã thoát khỏi Đế chế Nga hoàng ngày xưa, trong hình trạng mới và kinh khủng hơn. Ba Lan và Tiệp Khắc ngẩng cao đầu độc lập và dường như đứng thẳng ở Trung Âu. Hungari bình phục lại sau liều thuốc của Bela Kun. Quân đội Pháp thỏa mãn với những gì đạt được, là lực lượng quân sụ mạnh nhất có một không hai ở châu Âu và người ta tin rằng không quân cũng vào loại mạnh trong một vài năm tới.

        Trở lại năm 1934, quyền lợi của những người chiến thắng vẫn tiếp tục được duy trì ở châu Âu và trên cả thế giới. Trong mười sáu năm này, khi ba nước liên minh ngày xưa, hoặc ngay cả Anh và Pháp với các đồng minh đều không thể nhân danh Hội Quốc Liên và dưới tấm chắn tinh thần mang tính quốc tế của Hội, kiềm chế được sức mạnh quân sự của Đức bằng nỗ lục và ý chí đơn thuần. Đáng lẽ đến năm 1931, các nước thắng trận, đặc biệt là Mỹ phải tập trung các nỗ lục chống việc bóp nặn các khoản bồi thường chiến tranh của Đức. Sự thật là số tiền này chỉ thu được từ các khoản cho vay rất lớn của Mỹ đã bị cắt giảm bớt đến mức vô lý. Không thu hoạch được gì trừ ác ý. Mặt khác, từ đó cho đến năm 1934 việc buộc phải tôn trọng nghiêm ngặt các điều khoản giải trừ quân bị của hòa ước một cách không giới hạn, nhất định giữ được hòa bình, an ninh cho loài người, không có bạo lục hay đổ máu. Nhưng điều này đôi khi vẫn con những vi phạm lặt vặt, cho đến lúc những vi phạm đó trở nên nghiêm trọng thì tất cả lại được tránh né. Vì vậy, cái bảo vệ cuối cùng cho một nền hòa bình lâu dài đã không tồn tại. Tội ác của những kẻ bại trận luôn được che dấu trước sụ điên rồ của những kẻ chiến thắng. Không có những sụ điên rồ đó, tội ác nhất định không thành hình và cũng không có cơ hội nào để xuất hiện.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 25 Tháng Mười Hai, 2018, 08:09:11 AM

*

        Trong những trang này, tôi cố gắng thuật lại một vài việc xảy ra và những ý nghĩ đã hình thành trong tôi, những việc đã đè nặng lên đầu nhân loại, tấn thảm kịch nghiêm trọng nhất trong lịch sử đầy sôi động. Sự nghiêm trọng thể hiện qua việc tiêu diệt sinh mệnh và tàn sát ghê gớm binh lính như trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phần lớn của cải tích lũy được của các quốc gia bị tiêu phí. Tuy nhiên, trong chiến tranh thế giới thứ nhất ngoài những hành vi quá trớn của cách mạng Nga, cơ cấu chủ yếu của nền văn minh châu Âu vẫn đứng vững khi kết thúc chiến tranh. Khi con bão và bụi đại bác qua đi, bất chấp thù hằn, các dân tộc vẫn có thể công nhận lẫn nhau như là những nhân vật đặc trưng cho chủng tộc có liên quan đến lịch sử. Xét về toàn bộ, luật lệ thời chiến đều được tôn trọng. Có một điểm chung giữa những quân nhân đã từng đánh nhau là kẻ bại trận cũng như người chiến thắng vẫn giữ cách cư xử của các nước văn minh. Ngoài những khía cạnh tài chính, không thể thi hành được, một nền hòa bình long trọng phù họp với những nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ của các dân tộc được khai sáng, ở thế kỷ 19. Thời kỳ luật pháp được công bố và một văn kiện thế giới được hình thành để bảo vệ tất cả chúng ta, đề phòng sự hỗn loạn có thể phục hồi trở lại, đặc biệt là châu Âu.

        Trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, mọi mối quan hệ giữa người với người bị tàn lụi. Người Đức phạm tội ác dưới sự thống trị của Hitler mà họ tự cho phép mình phải cam chịu khuất phục, một sự thống trị mà quy mô và tính chất độc ác không so sánh được với bất cứ việc gì đã từng bôi đen thành tích của nhân loại. Sự tàn sát hàng loạt sáu hay bảy triệu đàn ông, đàn bà và trẻ em ở các trại giết người của Đức bằng những phương pháp có hệ thống về mặt kinh khủng thì vượt quá sự tàn sát thô sơ nhưng có hiệu quả của Thành Cát Tư Hãn, còn về quy mô, thì sự tàn sát của Thành Cát Tư Hãn là quá nhỏ bé so với sự tàn sát của Hitler. Sự hủy diệt có tính toán toàn bộ dân chúng ở cuộc chiến tranh phía đông do Đức và Nga dự liệu trước và thực hiện đến cùng. Những cuộc ném bom ghê gớm xuống các thành phố bỏ ngỏ do bọn Đức thực hiện bị đánh trả lại gấp hai mươi lần bằng sức mạnh luôn luôn leo thang của Đồng minh, và mức cực điểm của nó là việc dùng bom nguyên tử xóa sạch Hiroshima và Nagasaki.

        Cuối cùng, chúng ta cũng thoát khỏi một cảnh tượng đổ nát về vật chất và tàn phá về tinh thần; các thế kỷ trước chưa bao giơ hình dung nổi một cảnh tương tự. Rốt cuộc chúng đã chịu tổn thất và đã thành công, bản thân chúng ta thấy vẫn còn phải đương đầu với những vấn đề và hiểm họa có thể còn kinh khủng hơn nhiều so với những vấn đề và hiểm họa mà chúng ta mới vượt qua được và tiến lên.

        Là một người đã sống và hoạt động trong những ngày này, tôi muốn chứng minh rằng tấn thảm kịch Chiến tranh Thế giới Thứ hai có thể được ngăn ngừa dễ dàng như thế nào, sự nhu nhược của con người đạo đức đã tăng cường tính hiểm độc của kẻ xấu xa như thế nào; cơ cấu, tập quán các nước dân chủ - trừ phi chúng được cố kết trong những tổ chức lớn hơn - thiếu như thế nào những phần tử kiên trì có lòng tin vũng chắc kia, có thể đơn độc đem lại an ninh cho quần chúng hèn mọn; thậm chí về các vấn đề tự bảo vệ cũng không có một chính sách trong ngay cả mười hay mười lăm năm kế tiếp sau. Chúng ta sẽ thấy những lời khuyên về sự khôn ngoan và sự dè dặt có thể trở thành những tác nhân chủ yếu của mối nguy hiểm chết người; biện pháp trung dung được chọn như thế nào từ những mong muốn về sự an toàn, và một cuộc sống bình yên có thể đạt tới đâu, hay lại đưa thẳng đến điểm đến của tai họa.

        Chúng ta sẽ nhận ra sự cần thiết về một con đường hành động quốc tế rộng rãi được nhiều nước cùng theo đuổi qua nhiều năm, bất chấp sự thăng trầm của những quan điểm chính trị quốc gia.

        Đó là một chính sách đơn giản bắt nước Đức phải giải giáp, còn những nước thắng trận được vũ trang đầy đủ trong ba mươi năm, và trong lúc ấy, dù là không thể có giảng hòa với nước Đức, thì xây dựng vững chắc hơn bao giờ hết một Hội Quốc Liên thực sự có khả năng bảo đảm các hiệp ước đó được nghiêm chỉnh tuân thủ, hoặc chỉ được thay đổi bằng thảo luận hay thỏa thuận. Khi ba hay bốn chính phủ có quyền thế lớn cùng hành động, đã từng đòi hỏi những hy sinh to lớn nhất của nhân dân họ khi chính nghĩa chung được thẳng thắn trao cho họ, và khi kết quả mong đợi đã đạt được, thì hành động phối họp này hẳn là có vẻ họp lý, phải được duy trì để cho ít nhất những điều cốt yếu không bị loại bỏ. Nhung sự đòi hỏi khiêm tốn này cũng không có được khi sức mạnh, nền văn minh, học vấn, kiến thúc, khoa học của những kẻ thắng trận đều không đáp ứng. Họ sống lần hồi qua ngày, và từ cuộc bầu cử này qua cuộc bầu cử khác cho đến lúc vừa kết thúc hai mươi năm thì dấu hiệu kinh hoàng của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai lại lộ rõ, và chúng ta phải viết về những người con của những ai đã chiến đâu và hy sinh một cách trung nghĩa và chính đáng như sau:

        Sát cánh, vai kề vai đau đớn

        Họ lê bước khỏi những nơi hoang vu đồng không mông quạnh đầy ánh sáng của cuộc đời.
1

------------------
        1. Siegfried Sassoon


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:50:40 AM
       
2

MỘT NỀN HÒA BÌNH TỘT ĐỈNH: 1922 - 1931

        Năm 1922, ở Anh xuất hiện một lãnh tụ mới, ông Stanley Baldwin, chua ai biết hoặc không ai để ý vì trong tấn kịch thế giới, ông đóng một vai trò khiêm tốn trong nhiều vấn đề.

        Trong thời kỳ chiến tranh, ông là Bộ trưởng bộ Tài chính, và là Chủ tịch Ủy ban Thương mại. Ông trở thành người có thế lực mạnh nhất trong đời sống chính trị nước Anh từ tháng mười năm 1922, khi Lloyd George bị mất chức; đến tháng Năm năm 1937, lúc danh vọng đã chồng chất và được quần chúng ngưỡng mộ, ông từ bỏ nhiệm vụ nặng nề của mình, chững chạc, đàng hoàng, yên lặng về hưu ở quê hương Worcestershire. Quan hệ của tôi và nhà chính khách này là một phần rõ ràng trong câu chuyện tôi sẽ kể. Những sự bất đồng giữa chúng tôi đôi lúc là nghiêm trọng, nhưng trong tất cả những năm này và về sau, tôi không bao giờ có một cuộc gặp gỡ hoặc tiếp xúc riêng, tôi khó chịu với ông và phải chăng chẳng bao lâu, tôi cảm thấy chúng tôi không thể cùng nhau trò chuyện một cách có thiện ý, hiểu biết và cởi mở.

        Đầu năm 1923, ông trở thành Thủ tướng của Đảng Bảo thủ và như vậy, bắt đầu thời kỳ mười bốn năm này có thể gọi đúng là "Chế độ Baldwin - MacDonald". Ông Ramsay MacDonald là lãnh tụ đảng Xã Hội, lúc đầu họ hoạt động đan xen nhau, nhưng rốt cuộc hai chính khách này lãnh đạo đất nước theo cùng một chí hướng chính trị. Trên danh nghĩa, là những đại diện của các đảng phái đối lập, các học thuyết trái ngược, những quyền lợi đối kháng, nhưng trên thực tế, họ tỏ ra gần giống nhau về quan điểm, về tính khí và phương pháp hơn bất cứ ai. Những sự đồng tình hết mực của người này đã mở rộng tới lĩnh vực của người kia - Ramsay MacDonald nuôi dưỡng cảm nghĩ của ông già Tory. Con Stanley Baldwin, ngoài việc chấp thuận sự bảo vệ thâm căn cố đế của một chủ xí nghiệp, do cách sắp đặt, là một đại diện trung thành hơn của chủ nghĩa xã hội ôn hoa so với nhiều người trong hàng ngũ Công đảng.

        Năm 1924 có cuộc tổng tuyển cử. Những đảng viên Bảo thủ được bầu vào quốc hội bằng một đa số là 222 trên tất cả các đảng phái liên kết lại. Bản thân tôi trở thành thành viên ủng hộ Epping, nhưng với tư cách là "một người theo chủ nghĩa hợp hiến". Lúc bấy giờ, tôi nhất định không nhận cái tên "Bảo thủ". Tôi có một số tiếp xúc thân mật với ông Baldwin trong lúc nghỉ họp, nhung tôi không nghĩ rằng ông có thể tồn tại để làm Thủ tướng. Ngay hôm sau thắng lợi của ông, tôi không nghĩ rằng ông có biệt nhãn đối với tôi. Nhưng rồi, tôi lấy làm ngạc nhiên, còn Đảng Bảo thủ thì điếng người, khi ông mời tôi làm Bộ trưởng Tài chính, nhiệm vụ mà xưa kia cha tôi đã nắm giữ. Một năm sau, với sự tán thành của cử tri, bản thân tôi cũng không bị thúc ép gì cả, tôi chính thức quay lại Đảng Bảo thủ và câu lạc bộ Carlton nơi tôi đã rời bỏ cách đây hai mươi năm.

        Trong gần năm năm, tôi sống bên cạnh nhà ông Baldwin, số 11 phố Downing, gần như sáng nào trên đường đi qua nhà ông tới Bộ Tài chính, tôi đều ghé thăm ông, nói chuyện phiếm mấy phút trong phòng riêng. Với tư cách là một trong số những bạn đồng sự quan trọng của ông, tôi có phần trách nhiệm về tất cả mọi việc xảy ra. Năm năm này được đánh dấu bằng sự bình phục rất đáng kể ở chính trường. Đây là một chính phủ hoàn toàn bình tĩnh, có năng lực trong một thời kỳ mà sự tiến bộ và phục hồi rõ ràng được thục hiện dần dần tùng năm. Không có gì làm náo động dư luận hay có thể gây ra tranh luận về cuơng lĩnh chính trị, nhưng so với mọi thử thách về kinh tế và tài chính thì số đông dân chúng rõ ràng có sung túc hơn, tình hình quốc gia và thế giới thoải mái hơn; mọi việc tốt hơn lúc kết thúc nhiệm kỳ của chúng tôi so với lúc bắt đầu.

        Chính là ở châu Âu, chính phủ giành được sự trọng vọng.

*

        Lúc này Hindenburg trở thành người quyền thế ở Đức. Vào cuối tháng hai năm 1925, Friedrich Ebert, lãnh tụ đảng Xã hội Dân chủ Đức và là Tổng thống đầu tiên của Cộng hòa Đức sau cuộc bại trận đã qua đời. Phải lựa chọn một Tổng thống mới. Nhũng người Đức được giáo dục trong một thời gian dài dưới chế độ chuyên chế, đã trở nên ôn hòa phù hợp với những thói quen về cách nói tự do của phe đối lập trong nghị viện. Trên đôi cánh đau thương của sự bại trận đã đem lại cho họ hình thức dân chủ và những quyền tự do tột bực. Nhung quốc gia bị chia rẽ, hoang mang vì đã tiêu xài hết của cải, và nhiều đảng phái, phe nhóm tranh giành địa vị và chức tước. Trong sự rối loạn đó, nổi bật lên một sự khát khao sôi nổi muốn quay về với vị Thống chế già nua Von Hindenburg hiện đang sống ẩn dật. Hindenburg trung thành với vị Hoàng đế bị lưu đày này và ủng hộ sự khôi phục một nền quân chủ có uy quyền lớn theo mô hình của Anh. Dĩ nhiên việc này dễ nhận thấy nhất, dù đó là việc tối thiểu phải làm. Khi được mời ra ứng cử chức Tổng thống theo hiến pháp Weimar, ông rất bối rối, nói đi nói lại nhiều lần: "Xin để cho tôi yên".

        Tuy nhiên, sức ép vẫn tiếp tục và cuối cùng xét thấy chỉ có Đại đô đốc Von Tirpitz có thể thuyết phục ông từ bỏ tính thận trọng thái quá và các sở thích của mình để đi theo tiếng gọi của nhiệm vụ mà ông luôn luôn tuân thủ. Địch thủ của Hindenburg là Marx của trung tâm công giáo và Thaelman, đảng viên đảng Cộng sản. Ngày chủ nhật 26 tháng 4 cả nước Đức di bỏ phiếu. Kết quả sít sao không ngơ: Hindenburg 14.655.766 phiếu, Marx 13.751.615 phiếu; Thaelman 1.931.151 phiếu. Nhờ nổi tiếng không ham danh vụ lợi, Hindenburg vượt hẳn đối thủ của mình gần một triệu phiếu, tuy chua đạt đa số tuyệt đối trong tổng số phiếu bầu. Ông khiển trách con trai là Oskar đã đánh thức ông lúc bảy giờ để báo tin này: "Tại sao mày muốn đánh thức bố sớm hơn một giờ? Đến tám giờ điều này vẫn còn đúng mà". Nói xong, ông ngủ lại như thường lệ.

        Tại Pháp việc bầu Hindenburg được xem như sự thách thức của Đức. Còn Anh tỏ ra thanh thản hơn. Tôi luôn luôn mong thấy nước Đức giành lại thanh danh và lòng tự trọng của họ, và quên đi nỗi đau khổ của chiến tranh, tôi không chút nào lo lắng với những tin tức như thế. "Ông ấy là một ông già rất khôn ngoan". - Lloyd George nói với tôi, khi chúng tôi gặp nhau sau đó; quả thực như thế, chừng nào mà ông ấy chứng tỏ còn tài năng. Ngay đến một vài đối thủ quyết liệt nhất của ông cũng buộc phải thừa nhận "Một con số không còn hơn một hoàng đế Néron"1

        Tuy nhiên ông ta đã bảy mươi bảy tuổi và nhiệm kỳ của ông phải bảy năm. Thế mà vẫn có người mong ông được bầu lại. Ông cố gắng không thiên vị giữa các đảng phái khác nhau, và chắc chắn, nhiệm kỳ Tổng thống cửa ông sẽ đem lại cho nước Đức một sức mạnh đúng mức, sự sung túc cần thiết và không có mối đe dọa đối với các nước láng giềng.

----------------
        1. Néron : hoàng đế La-mã khét tiếng độc ác và trụy lạc


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:53:04 AM

*

        Trong lúc ấy, vào tháng hai năm 1925, chính phủ Đức đề nghị một hiệp ước, theo đó, các cường quốc có liên quan đến sông Rhine, trước hết là Anh, Pháp, Ý và Đức phải tự ràng buộc vào một nghĩa vụ trong một thời kỳ dài, chính phủ Mỹ với tư cách là người được ủy thác giám sát không cho họ tiến hành chiến tranh với nhau. Họ cũng đề nghị một hòa ước chỉ nhằm để bảo đảm quy chế lãnh thổ hiện có về vùng sông Rhine.

        Đó là một sự kiện đáng chú ý. Nhưng các lãnh thổ tự trị của Anh lại không nhiệt tình lắm. Tướng Smuts muốn bác bỏ những hòa giải trong vùng. Người Canada thì lãnh đạm, chỉ có New Zealand sẵn sàng tiếp nhận không điều kiện quan điểm của chính phủ Anh. Tuy nhiên chúng tôi vẫn kiên nhẫn. Đối với tôi, việc kết thúc cuộc xung đột cả nghìn năm giữa Pháp và Đức dường như là mục tiêu quan trọng nhất. Nếu chúng tôi có thể đưa Gaule và Teuton lại gần nhau, về kinh tế, xã hội và tinh thần, cốt để ngăn ngừa xảy ra những tranh chấp mới, làm cho những sự thù địch cũ mất đi trong việc thục hiện sự phát đạt chung và phụ thuộc lẫn nhau, thì chắc chắn châu Âu nhất định sẽ tiến bộ. Đối với tôi, quyền lợi tối cao của nhân dân Anh ở châu Âu gắn chặt với việc giải quyết mối thù truyền kiếp Pháp - Đức và họ không có quyền lợi nào khác có thể so sánh được hoặc trái ngược lại với điều này. Đó vẫn là quan điểm hôm nay của tôi.

        Tháng tám, với sự tán thành hoàn toàn của Anh, Pháp chính thức trả lời cho Đức - Bước đầu Đức nhất thiết phải vào Hội Quốc Liên. Chính phủ Đức chấp nhận điều kiện này. Điều nay có nghĩa là các điều khoản của các hiệp ước tiếp tục có hiệu lực, trừ phi hoặc cho đến khi thay đổi do thỏa thuận chung, và có nghĩa là không có lời hứa quan trọng nào đạt được về sự cắt giảm bớt lực lượng vũ trang của Đồng minh. Dưới sức ép và sự kích động dữ dội của chủ nghĩa dân tộc, người Đức còn đòi hỏi thêm việc loại bỏ điều khoản về "tội phạm chiến tranh" trong Hòa ước, đòi để ngỏ vấn đề Alsace - Lorraine đòi quân Đồng minh rút ngay khỏi Cologne. Nhưng chính phủ Đức không nhấn mạnh các đòi hỏi này và phe Đồng minh cũng nhất định không thừa nhận.

        Trên cơ sở này, hội nghị ở Locamo chính thức khai mạc ngày 4 tháng mười. Bên nước hồ êm ả này, các đại biểu Anh, Pháp, Đức, Bỉ và Ý nhóm họp. Kết quả là hội nghị đã ký kết một hiệp ước bảo đảm chung giữa năm cường quốc, và một hiệp ước trọng tài phán xử giữa Đức và Pháp, Đức và Bỉ, Đức và Ba Lan, Pháp và Tiệp Khắc. Theo các hiệp ước này, Pháp cam kết giúp đỡ họ nếu hiệp ước Tây Âu tan vỡ và tiếp đó vô cớ dùng tới chiến tranh. Như vậy, các nước dân chủ Tây Âu tán thành gìn giữ hòa bình giữa họ với nhau trong mọi trường họp và đồng ý liên kết lại chống bất cứ nước nào trong số họ vi phạm hiệp ước, hành quân xâm lược lãnh thổ nước anh em. Như kẻ đứng giữa Pháp và Đức, Anh trở thành người long trọng cam kết đến viện trợ cho bất cứ nước nào trong hai nước này nếu vô cớ bị xâm lược - Lời cam kết có thể áp dụng rộng rãi về quân sự này được Nghị viện công nhận và nhà nước nhiệt liệt phê chuẩn. Không thể nào lục tìm được trong quá khứ một sự cam đoan tương tự như vậy.

        Vấn đề liệu Pháp hay Anh có nghĩa vụ giải trừ quân bị hoặc giải trừ quân bị ở bất kỳ một mức đặc biệt nào không thì không được đả động đến. Tôi tiếp cận những sự kiện này với tư cách là Bộ trưởng bộ Tài chính Anh ở giai đoạn đầu. Quan điểm riêng của tôi về sự bảo đảm hai chiều này là trong khi Pháp vẫn được vũ trang và Đức phải giải trừ quân bị thì Đức không thể tấn công Pháp, và mặt khác, Pháp cũng nhất định không bao giờ tấn công Đức, nếu điều này tự động đẩy nước Anh trở thành đồng minh của Đức. Như vậy, dù đề nghị này có vẻ nguy hiểm về mặt lý thuyết - bắt chúng tôi thục tế cam kết tham gia bên này hay bên kia trong bất cứ cuộc chiến tranh Đức - Pháp nào có thể bùng nổ - nhưng một thảm họa như thế ít có khả năng xảy ra. Đó là cách tốt nhất nhằm ngăn ngừa thảm họa - cho nên tôi luôn luôn phản đối việc giải trừ quân bị nước Pháp cũng như việc tái vũ trang nước Đức, bởi vì điều này lập túc đem lại nguy hiểm lớn hơn nhiều cho nước Anh. Mặt khác Anh và Hội Quốc Liên - mà nước Đức đã gia nhập với tư cách là một phía của hiệp định - đều tỏ ý muốn thực sự bảo vệ nhân dân Đức. Sự cân bằng đã được hình thành, quyền lợi chủ yếu của Anh là sự chấm dứt tranh chấp giữa Đức và Pháp, và Anh sẽ là một trọng tài, một quan tòa trên một phạm vi rộng lớn. Người ta hy vọng sự cân bằng này có thể tồn tại hai mươi năm, trong thời gian này, các lục lượng vũ trang của Đồng minh sẽ dần dần và tất nhiên suy yếu dưới tác động của một nền hòa bình lâu dài, của lòng tự tin ngày càng tăng và của gánh nặng tài chính. Rõ ràng hiểm họa này sẽ xuất hiện nếu Đức ít nhiều ngang sức với Pháp, và hiểm họa này càng . nhiều hơn nữa, nếu Đức mạnh hơn Pháp. Nhưng những nghĩa vụ của Hiệp ước dường như đã loại trừ tất cả điều này.

        Hiệp ước Locamo chỉ liên quan đến hòa bình ở phía Tây, và người ta hy vọng rằng điều được gọi là một Đông Locamo có thể thực hiện ở bước tiếp theo. Chúng ta lẽ ra hẳn rất vui mừng nếu nguy cơ chiến tranh giữa Đức và Nga có thể được kìm lại trong tương lai với một tinh thần như thế, bằng những biện pháp tương tự như khả năng kiềm chế chiến tranh Đức - Pháp, thậm chí dù nước Đức của ngoại trưởng Stresemann không muốn khép lại những yêu sách của Đức về phía Đông, hoặc dù không thích thừa nhận vị trí lãnh thổ của Hiệp ước về Ba Lan, Danzig, vùng Corridor và vùng thượng Silesia. Nước Nga Xô Viết suy nghĩ bục bội về sự cô lập của mình đằng sau vòng bao vây của các nước chống chủ nghĩa Bôn-sê-vích. Mặc dù cố gắng, vẫn không có tiến bộ nào ở phía Đông. Bất cứ lúc nào, tôi cũng chú ý ra sức làm cho nước Đức vừa lòng hơn về biên giới phía Đông của họ. Nhưng không có cơ hội nào để thực hiện điều này trong những năm hy vọng ngắn ngủi ấy.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:53:31 AM

*

        Những cuộc liên hoan lớn ăn mừng hiệp ước Locamo là sự kiện nổi bật cuối năm 1925. Ông Baldwin là người đầu tiên ký vào hiệp ước ở Bộ Ngoại giao. Ông Austen Chamberlain, Bộ trưởng Ngoại giao, không có dinh thự chính thức, yêu cầu tôi cho mượn phòng ăn của tôi ở số nhà 11 phố Downing cho tiệc trưa thân mật riêng của ông với Herr Stresemann (Bộ trưởng Ngoại giao Đức). Tất cả chúng tôi gặp nhau trong tình hữu nghị cao quý, và nghĩ đến một tương lai kỳ diệu dành cho châu Âu, nếu những nước lớn nhất của nó lại đoàn kết thực sự và cảm thấy an toàn. Sau khi văn kiện đáng ghi nhớ này được Quốc hội phê chuẩn, ông Austen Chamberlain được tặng thưởng huân chương Garter và giải Nobel hòa bình. Thành tích của ông là sự hồi phục châu Âu ở mức cao nhất, mở đầu cho ba năm hòa bình. Mặc dù những đối kháng cũ vẫn nằm yên và tiếng trống tuyển quân mới đã được nghe thấy, nhưng chúng ta được chứng minh là đúng khi hy vọng rằng vị trí giành được vững chắc như vậy sẽ mở đường tiến xa hơn về phía trước.

        Vào năm 1929, tình hình châu Âu yên tĩnh, không như trong hai mươi năm trước và ít nhất cũng không như trong hai mươi năm sau. Cảm giác thân thiện với nước Đức có được nhờ vào hiệp ước Locamo và việc quân đội Pháp và các đạo quân đồng minh rút khỏi vùng Rhine sớm hơn so với những quy định ở Versailles. Nước Đức mới tiếp nhận địa vị của họ còn bỏ trống trong Hội Quốc Liên. Nhờ tiền cho vay của Anh, Mỹ, nước Đức phục hồi nhanh chóng. Đội tàu khách đường biển giành được dải xanh Đại Tây Dương. Nền thương mại Đức nhảy vọt, đất nước trở nên phồn vinh. Pháp và hệ thống liên minh của họ cũng có vẻ an toàn ở châu Âu. Nhũng điều khoản về giải trừ quân bị của Hiệp ước Versailles không bị công khai vi phạm. Hải quân Đức không có - không quân Đức bị cấm. Nhiều thế lực ở Đức kiên quyết chống tư tưởng chiến tranh dù chỉ với những lý do thận trọng, bộ chỉ huy tối cao Đức không thể tin rằng các nước Đồng minh sẽ cho phép họ tái vũ trang. Nhưng mặt khác ở đó bày ra trước chúng ta, điều mà sau này tôi gọi là "trận bão tuyết kinh tế". Tin túc về việc này bị hạn chế trong giới tài chính và họ bị buộc phải giữ im lặng.

*

        Cuộc tổng tuyển cử tháng Năm năm 1929 cho thấy sự thay đổi của dư luận công chúng từ cực này sang cực khác, và sự mong muốn thông thường cho sự thay đổi là những nhân tố mạnh mẽ đối với toàn bộ cử tri Anh. Những đảng viên Xã hội chiếm một đa số không quan trọng hơn những đảng viên Bảo thủ trong hạ nghị viện. Ông Baldwin đệ đơn xin từ chức lên nhà vua. Chúng tôi tất cả đi xuống Windsor trên một chuyến xe lửa đặc biệt để trao ấn tín và chức vụ; ngày 7 tháng 6, ông Ramsay MacDonald trò thành Thủ tướng đứng đầu một chính phủ thiểu số dựa vào số phiếu của Đảng Tự do.

        Vị Thủ tướng đảng viên Xã hội, hy vọng chính phủ Công đảng mới của ông nổi bật lên nhờ những nhượng bộ rộng rãi đối với Ai Cập, nhờ sự thay đổi và nhờ một cố gắng mới đối với việc giải trừ quân bị trên thế giới hoặc ở Anh bằng bất cứ giá nào. Đó là những mục tiêu theo đó, ông ta có thể dựa vào sự giúp đỡ của đảng Tự do và vì thế để đạt những mục tiêu đó, ông điều khiển một đa số trong nghị viện. Ở đây bắt đầu những bất đồng giữa tôi và ông Baldwin, và sau đó, từ khi ông ta chọn tôi làm Bộ trưởng tài chính năm năm trước đây, mối quan hệ công tác giữa chúng tôi thay đổi một cách dễ nhận thấy. Dĩ nhiên chúng tôi vẫn còn quan hệ cá nhân thoải mái, nhưng chúng tôi hiểu rằng chúng tôi không phải là một. Tôi cho rằng Đảng Bảo thủ đối lập phải chạm trán với chính phủ Công đảng về mọi vấn đề lớn của cả vương quốc và quốc gia, phải gắn liền vận mệnh của mình với sự hùng vĩ của nước Anh như dưới thời ngài Beaconsfield và ngài Salisbury, và phải không ngại đương đầu tranh luận, dù không được dân chúng đáp ứng ngay lập tức. Theo cách tôi có thể hiểu, thì ông Baldwin thấy thời cơ đã đi quá xa đối với bất cứ một quyết định thiết thực lớn lao nào của Hoàng gia Anh, và hy vọng đảng Bảo thủ trù tính, bằng những phương cách khéo léo, đúng lúc, dàn xếp với các lực lượng đối kháng của dư luận công chúng và của các khối lớn cử tri. Chắc chắn ông rất thành công. Ông là người quản lý vĩ đại nhất mà đảng Bảo thủ có được từ trước đến nay. Với tư cách là lãnh tụ, ông chiến đấu trong năm cuộc tổng tuyển cử, và ông đã thắng cuộc được ba.

        Sự tan vỡ dứt khoát của chúng tôi xảy ra là về vấn đề Ấn Độ. Được sự ủng hộ mạnh mẽ và cả sự khích lệ của vị phó vương bảo thủ, ngài Irwin, sau đó là ngài Halifax, Thủ tướng quyết tâm đẩy mạnh kế hoạch của ông về chế độ tự trị của Ấn Độ. Một cuộc hội nghị được tổ chức tại Luân Đôn, ông Gandhi sau một thời gian dài bị giam giữ được phóng thích, là nhân vật trung tâm của hội nghị. Không cần theo dõi trong những trang này, những chi tiết của cuộc bàn cãi đã choán hết những phiên họp năm 1929 và 1930. Với việc phóng thích ông Gandhi để ông có thể trở thành đại diện của nước Ấn Độ dân tộc chủ nghĩa đến hội nghị Luân Đôn, quan hệ giữa tôi và ông Baldwin đi đến chỗ tan vỡ. Ông ta có vẻ hoàn toàn hài lòng với những sự tiến triển này, nói chung là đồng tình với Thủ tướng và Phó vương, và kiên quyết lãnh đạo phe đối lập Bảo thủ theo đường lối này. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng, với kết quả cuối cùng, mất Ấn Độ là điều đương nhiên, và những tai họa không lường được sẽ đè lên đầu nhân dân Ấn Độ. Cho nên một lát sau, tôi từ chức khỏi chính phủ, nhưng tôi bảo đảm với ông Baldwin rằng trong phạm vi quyền hạn của mình, tôi sẽ giúp đỡ ông bất cứ việc gì nhằm chổng đối chính phủ Xã hội ở Hạ nghị viện và cố gắng hết sức để họ thất bại trong bất cứ cuộc tổng tuyển cử nào.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:54:17 AM

*

        Quý 3 năm 1929 sắp kết thúc trong tình hình có vẻ như sự phồn vinh ngày càng tăng và đầy hứa hẹn, đặc biệt là ở Mỹ. Sự lạc quan lạ thường kéo theo nhiều chuyện suy đoán. Sách báo đưa ra những chúng minh thời kỳ kinh tế khủng hoảng đã khắc phục được do việc tổ chúc kinh doanh và khoa học phát triển. "Chúng ta rõ ràng đã hoàn thành và vui lòng với các chu kỳ kinh tế như chúng ta đã hiểu chúng". Chủ tịch sở giao dịch chứng khoán New York hồi tháng 9 đã tuyên bố như vậy. Nhưng tháng mười thì phố Wall trải qua một con náo động bất thình lình và dữ dội. Những chi nhánh hùng mạnh nhất đều thất bại trong việc can thiệp nhằm đẩy lùi trào lưu bán hạ giá một cách hoảng loạn. Một nhóm ngân hàng quan trọng thiết lập một tổ hợp một tỷ đô la để giữ vững và ổn định thị trường. Nhưng mọi việc đều vô ích.

        Toàn bộ của cải mau chóng thu thập được bằng bạc giấy của những năm trước đều tiêu tan. Sự phồn vinh của hàng triệu gia đình Mỹ ngày càng ảnh hưởng đến một cơ cấu khổng lồ về tiền gửi ngân hàng bị lạm phát bây giơ bỗng trở thành giả tạo. Ngoài sự còn có việc đầu cơ tích trữ cổ phần toàn quốc mà những ngân hàng nổi tiếng nhất đã khuyến khích bằng tiền cho vay dễ dàng. Một phương thức mua rộng rãi bằng cách trả nhiều kỳ đổi với nhà của, đồ đạc, xe cộ và vô số thứ tiện nghi gia đình, và việc gia hạn thanh toán trở thành phổ biến. Bây giờ tất cả đều sụp đổ. Những nhà máy lớn rơi vào tình trạng hỗn độn, tê liệt. Mới hôm qua, việc bố trí xe chở hàng nghìn công nhân và thợ thủ công đi làm còn là một vấn đề cấp bách, thì hôm nay những đau đớn dằn vặt do đồng lương hạ thấp và nạn thất nghiệp đang tăng làm mọi người trở nên buồn rầu, ủ rũ. Lúc này, việc quan trọng hết súc khẩn trương là tạo ra mọi thứ vật phẩm cần thiết cho hàng triệu con người. Hệ thống ngân hàng của Mỹ ít tập trung và ít cơ sở vững chắc hơn của Anh. Hai chục nghìn ngân hàng địa phương đình chỉ việc chi trả. Những phương tiện trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa người với người bị thất bại hoàn toàn, sự phá sản của phố Wall vang dội như nhau trong các gia đình bình thường cũng như gia đình giàu có.

        Tuy nhiên không nên cho rằng ảo tưởng đẹp đẽ về sự giàu có và việc phân phối sung túc ngay càng nhiều, lại không có gì đằng sau nó, trừ sự lùa bịp và thị trường điên loạn. Trước đó không bao giờ những khối lượng hàng hóa hết sức to lớn đủ mọi thứ như thế được sản xuất, phân phối và trao đổi trong bất cứ xã hội nào. Thực ra những món lợi mà con người có thể dành cho nhau bằng cố gắng chuyên cần cao nhất, bằng kỹ năng cao nhất, là không có giới hạn. Những cách thức sáng tạo vô ích và tính hám lợi đã vượt xa bản thân thành tựu, đã làm tiêu tan và vứt bỏ sự biểu lộ tốt đẹp này. Theo sau sự sụp đổ thị trường chứng khoán, thì vào những năm giữa 1929 và 1932 giá cả liên tục sa sút, sản xuất cũng giảm theo, gây nên nạn thất nghiệp lan rộng.

        Hậu quả của đời sống kinh tế trục trặc này diễn ra khắp thế giới. Trước nạn thất nghiệp và sản xuất suy sụp, hoạt động thương mại teo lại một cách phổ biến. Những hạn chế về thuế quan được đặt ra để bảo vệ thị trường trong nước. Cuộc tổng khủng hoảng kéo theo những khó khăn gay gắt về tiền tệ, làm tê liệt việc gửi tiền vào ngân hàng trong nước. Điều này phô bày tình trạng suy đồi và thất nghiệp khắp nơi trên thế giới. Chính phủ Công đảng - Xã hội của ông MacDonald, với mọi lời hứa hẹn đã nhìn thấy trước mắt nạn thất nghiệp trong năm 1930 và 1931 từ một triệu đến gần ba triệu người. Người ta đồn rằng ở Mỹ, mười triệu người không có việc làm. Toàn bộ hệ thống ngân hàng nước cộng hòa vĩ đại này rơi vào tình trạng hỗn loạn và nhất thời sụp đổ. Tai họa liên tiếp đổ xuống nước Đức và các nước châu Âu khác. Tuy nhiên không có ai chết đói trong thế giới nói tiếng Anh.

        Thường rất khó khăn cho một chính quyền hay đảng phái được sáng lập dựa vào vốn để lao vào công việc, nhằm duy trì sự tin cậy và uy tín đối với nền kinh tế hết sức giả tạo của một hòn đảo như nước Anh. Chính phủ của ông MacDonald hoàn toàn không thể đương đầu với những vấn đề trước mắt. Họ không thể điều khiển kỷ luật của Đảng hay đem lại sức mạnh cần thiết ngay cả để cân bằng ngân sách. Trong những điều kiện như thế, một chính phủ thiểu số và bị tước mất sự tin cậy về tài chính thì không thể tồn tại.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:55:18 AM

        Sự thất bại cùa Công đảng trong việc đương đầu với sự hỗn loạn này, sự sụp đổ đột ngột của thế lực tài chính Anh và sự tan rã của Đảng Tự do, với khả năng giữ thăng bằng bấp bênh của nó, dẫn tới sự liên minh quốc gia. Dường như chỉ có một chính phủ gồm tất cả các đảng phái mới có thể đương đầu với cuộc khủng hoảng này. Ông MacDonald và Bộ trưởng tài chính của ông, với lòng yêu nước nồng nhiệt, cố gắng thuyết phục số đông Công đảng vào sự kết hợp này. Ông Baldwin luôn luôn hài lòng rằng những người khác phải có trách nhiệm chừng nào ông còn cầm quyền, và ông sẵn sàng phục vụ dưới thòi MacDonald. Đó là một thái độ mặc dù đáng được kính trọng, nhưng không phù hợp với thực tế. Ông Lloyd George còn đang lấy lại sức sau một ca phẫu thuật trầm trọng, và ngài Herbert lãnh đạo số lớn đảng viên Tự do nhập vào khối tham gia chính phủ Liên hiệp.

        Tôi không được mời tham gia chính phủ Liên hiệp. Tôi tách khỏi ông Baldwin về chính trị trong vấn đề Ấn Độ. Tôi là một địch thủ chính trị của chính phủ Công đảng của ông MacDonald. Như nhiều người khác, tôi thấy quốc gia cần một sự tập trung. Nhưng tôi không ngạc nhiên cũng không khổ sở khi bị gạt bỏ ra ngoài việc này mà vẫn bình thản vẽ tranh ở Cannes trong khi khủng hoảng chính trị kéo dài.

        Lẽ ra tôi phải làm gì nếu được mời tham dự, tôi không thể nói được. Thật không cần phải tranh luận về những sự xúi giục đáng ngờ vốn không bao giơ có. Nhung tôi bị đặt vào một thế khó xử trên sân khấu chính trị. Tôi đã làm việc mười lăm năm trong nội các, và lúc ấy đang bận rộn với "Cuộc đời của Marlborough” của tôi1.

        Những tấn kịch chính trị trở nên rất lý thú vào lúc người ta bận rộn với những cuộc đấu đá chính trị ồn ào dữ dội, nhưng tôi có thể khẳng định một cách thật thà rằng tôi không bao giờ cảm thấy bực bội, hay đau khổ khi bị loại bỏ dứt khoát như vậy, trong lúc tình hình quốc gia căng thẳng. Tuy nhiên có một điều bất lợi. Trong những năm từ 1905, ngồi bên dãy ghế này hay dãy ghế kia tại Nghị viện, khi luôn luôn được phát biểu, và cứ tiếp tục như thế, người ta có thể ghi chép và tập hợp được tình hình chung. Còn bây giờ tôi phải khó khăn mới tìm ra một chỗ ngồi dưới lối đi chéo dẫn đến hang ghế sau về phía Chính phủ, ở đây tôi phải giữ những điều ghi chép trong tay bất cứ lúc nào tôi phát biểu và đánh liều tranh luận xem sao với các cựu bộ trưởng nổi tiếng khác. Tuy nhiên thỉnh thoảng tôi mới được mời.

        Chính phủ mới hình thành không chấm dứt được khủng hoảng tài chính, và từ nước ngoài về, tôi thấy mọi thứ không ổn định trong không khí một cuộc tổng tuyển cử chắc chắn sắp xảy ra. Dư luận của toàn thể cử tri là xứng đáng với dân tộc Anh. Một chính phủ Liên hiệp được thành lập dưới quyền ông Ramsay MacDonald, người sáng lập đảng Xã hội Công đảng, Chính phủ đưa ra cho nhân dân một chường trình hành động khắc khổ. Đó là một cách giải thích về "máu, nước mắt, công việc nặng nhọc và mồ hôi" không có tác nhân kích thích của chiến tranh hoặc không có nhu cầu của chiến tranh và nguy hiểm chết người. Nền kinh tế khắc khổ nhất phải được thục hiện. Tiền lương hay thu nhập của mọi người nhất định phải bị cắt giảm. Đa số nhân dân được yêu cầu bỏ phiếu cho một chế độ khổ hạnh. Họ đã hưởng ứng như đã từng hưởng ứng khi vướng vào tâm trạng anh hùng. Mặc dù trái với những tuyên bố của mình, chính quyền từ bỏ bản vị vàng và dù ông Baldwin buộc phải hoàn lại, như đã luôn luôn chúng minh, những khoản tiền trả thực sự nợ nước Mỹ mà ông đã ép nội các năm 1923 phải chấp nhận, niềm tin và uy tín đã được khôi phục. Có một đa số áp đảo ủng hộ chính quyền mới. Ông MacDonald với tư cách thủ tướng, chỉ có bảy hay tám thành viên của đảng ông theo ông mà thôi, nhưng rõ ràng năm mươi đối thủ Công đảng và môn đệ cũ của ông trở lại Nghị viện. Súc khỏe và quyền lực của ông nhanh chóng suy sụp, và ông phải điều hành đất nước trong tình trạng đổ nát ngày càng tăng, ở cấp cao nhất của Vương quốc Anh. Trong gần bốn năm gây tai họa này, ông đã góp phần thúc đẩy sự xuất hiện của Hitler.

-----------------
        1. Một tác phẩm của Churchill


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:56:27 AM

3

ADOLF HITLER

        Tháng 10 năm 1918, một hạ sĩ quan Đức nhất thời bị thương ở mắt do khí mù tạc trong một cuộc tấn công của Anh gần Comines. Trong khi y nằm viện ở Pomerania, không khí bại trận và tinh thần cách mạng lan tràn khắp nước Đức. Là con trai một viên chức thuế quan Áo, y ấp ủ giấc mơ của tuổi trẻ là trở thành một nghệ sĩ vĩ đại. Không vào được Viện Hàn lâm

        Nghệ thuật ở Vienne, y chịu sống nghèo khổ ở kinh thành này và sau đó ở Munich, thỉnh thoảng làm thợ sơn nhà cửa, và thường là không có việc làm ổn định, y chịu đựng những thiếu thốn vật chất và nuôi dưỡng một niềm oán hận gay gắt, dù được che đậy, là thiên hạ phủ nhận mình là người thành đạt.

        Những điều bất hạnh này không đưa y đến hàng ngũ những người Cộng sản. Bằng sự đảo ngược, y càng ấp ủ một ý thức khác thường về lòng trung thành với chủng tộc và sự thán phục nồng nhiệt và huyền bí đối với nước Đức và dân tộc Đức. Khi chiến tranh bùng nổ, y hăm hở gia nhập quân đội và phục vụ bốn năm trong một trung đoàn Bavaria ở mặt trận phía tây.

        Những vận may ban đầu của Adolf Hitler là như vậy. Vào mùa đông năm 1918, mù lòa và không nơi nương tựa, y nằm trong bệnh viện, sự thất bại riêng tư của chính mình như hòa vào mối thảm họa của toàn thể nước Đức - Cú sốc bại trận, sự sụp đổ của luật pháp trật tự, chiến thắng của Pháp, gây nên một sự thống khổ làm héo non thể chất y, và tạo ra những súc mạnh kỳ diệu, không lường được của tâm hồn, báo hiệu sự cứu nguy hay diệt vong của loài người. Sự suy sụp của nước Đức đối với y dường như không thể giải thích được bằng những phương pháp thông thường. Ở noi nào đó có một sự phản bội cực kỳ ghê tởm. Cô đơn và bị giam hãm trong giới hạn của chính mình, chỉ nhờ những kinh nghiệm hẹp hòi của riêng mình, chú lính tầm thường suy nghĩ và nghiên cứu những nguyên nhân có thể có của thảm họa. Y lẫn vào thành Vienne với những nhóm theo chủ nghĩa cục đoan Đức và ở đây y nghe được nhiều chuyện hoạt động phá hoại độc ác của một chủng tộc khác, những người Do Thái - kẻ thù và là những kẻ bóc lột các nước Bắc Âu. Lòng tự ái dân tộc của y kết hợp với tính đố kỵ người giàu và những người thành đạt của y trở thành một nỗi căm thù không cưỡng lại được.

        Cuối cùng như một người bệnh vô danh, y ra khỏi bệnh viện, vẫn mặc quân phục, và với bộ đồ này suýt nữa y có niềm kiêu hãnh của một cậu học sinh - Đôi mắt mới được cạo vẩy của y bắt gặp những quang cảnh gì đây. Đáng sợ là những sự hỗn loạn do bại trận. Quanh y, trong không khí thất vọng và điên loạn, chói lòa những nét mặt của cách mạng đỏ. Xe bọc sắt lao qua đường phố Munich tung rải truyền đơn hoặc bắn đạn vào đám người lánh nạn đi bộ. Những đồng chí của y, với băng tay đỏ, khoác trên mình bộ đồng phục, đang hò hét những khẩu hiệu cuồng nhiệt chống lại tất cả những gì y quan tâm đến trên thế gian này. Như trong mộng, mọi việc bỗng trở nên rõ ràng. Nước Đức bị vu khống, bị cào xé đến kiệt sức bởi những người Do Thái, bởi những người Bôn-sê-vích trong âm mưu quốc tế của giới trí thức Do Thái của họ. Y nhận ra nhiệm vụ trước mắt là phải cứu nước Đức ra khỏi những tai họa kia, trả thù cho những thiệt hại của nước Đức và dẫn dắt chủng tộc tài giỏi này đến vận mệnh đã được an bài từ lâu của họ.

        Các sĩ quan trung đoàn của y hốt hoảng lo sợ khi thấy tâm trạng nổi loạn trong binh lính của mình, rất sung sướng tìm ra một người, dù sao đi nữa, dường như tự bản thân, nắm được thục chất của vấn đề. Hạ sĩ Hitler mong được tiếp tục động viên và được sử dụng như một "sĩ quan giáo dục chính trị" hoặc nhân viên. Dưới cái vỏ này, y thu thập tin tức về những ý đồ binh biến, có tính chất lật đổ. Sau đó, một sĩ quan cấp trên của y báo cho y đến dự những cuộc mít tinh của các đảng chính trị địa phương thuộc mọi hình thái. Một tối tháng chín năm 1919, viên hạ sĩ đến một cuộc mít tinh của Đảng Công nhân Đức tại một nhà máy bia ở Munich. Tại đây, lần đầu, y nghe người ta phát biểu theo cách của y, kín đáo chống lại những người Do Thái, những kẻ đầu cơ tích trữ, "những tội phạm tháng 11" đã đẩy nước Đức xuống vục thẳm. Ngày 16 tháng 9, y gia nhập đảng nay và chẳng mấy chốc sau đó, kết hợp với công việc nhà binh, y nhận làm công tác tuyên truyền cho đảng này. Tháng 2 năm 1920, Đảng Công nhân Đức tổ chức cuộc mít tinh quần chúng đầu tiên ở Munich. Tại đây Adolf Hitler tự mình chi phối các nghi thức và phác thảo cương lĩnh hai mươi lăm điểm của đảng. Bấy giờ y trở thành một nhà chính trị. Cuộc vận động cứu nước của y bắt đầu. Tháng 4, y giải ngũ và tập trung phát triển đảng. Vào giữa năm tiếp theo, y chống lại các lãnh tụ đầu tiên, và với niềm say mê và thiên tài của mình, y ép buộc bè bạn, những người này như bị thôi miên, công nhận quyền lực cá nhân của y. Y đã là "lãnh tụ". Tờ báo Voelkischer Beobachter được mua chuộc thành cơ quan của đảng.

        Những người Cộng sản không lâu nhận ra kẻ thù của họ. Họ cố gắng giải tán các cuộc mít tinh của Hitler và trong những ngay cuối năm 1929, y tổ chức những đơn vị xung kích đầu tiên của mình. Đến lúc này, nhiều biến động đã xảy ra trong các giới địa phương ở Bavaria. Trong nỗi đau khổ về đời sống của người Đức, vào những năm đầu sau chiến tranh, nhiều người bắt đầu nghe theo sách Phúc Âm mới. Sự tức giận sôi sục của toàn nước Đức đối với việc Pháp chiếm đóng vùng Ruhr năm 1923, đem lại lợi thế cho cái bây giờ gọi là Đảng Quốc Xã, tạo nên một đợt đông đảo những người gia nhập đảng này. Sự sụp đổ của đồng Mác phá hủy cơ sở của giai cấp trung lưu Đức, nhiều người trong họ, trong con thất vọng, trở thành thành viên của đảng mới, và tìm thấy sự giảm nhẹ khổ cực trong căm hờn, trong ý muốn báo thù và nhiệt tình yêu nước.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 10:56:44 AM

        Khởi đầu, Hitler khẳng định rằng con đường dẫn tới quyền lực sẽ mở rộng trước mắt nhờ gây hấn và bạo lục, chống lại nền cộng hòa Weimar sinh ra từ nỗi nhục bại trận. Vào tháng 11 năm 1923 "Lãnh tụ" này nắm được một nhóm người kiên quyết chung quanh mình, trong số này thì Georing, Hess, Rosenberg và Roehm là những nhân vật lỗi lạc. Những con người hành động này quyết định là đã đến lúc chiếm lấy quyền lực ở bang Bavaria. Tướng Von Ludendorff, tham mưu trưởng quân đội Đức trong phần lớn cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cho mượn danh nghĩa và uy tín quân sự của ông vào việc mạo hiểm này, và hành quân tiến lên trước trong cuộc nổi dậy. Trước kia, trước chiến tranh, người ta thường nói: "Sẽ không có cách mạng ở Đức vì ở đây, mọi cuộc cách mạng bị cấm ngặt”. Nhân dịp này, nhà cầm quyền địa phương Munich cố gắng phục hồi câu châm ngôn đó. Các đội cảnh sát nổ súng. Khoảng hai chục người biểu tình bị giết. Hitler lao xuống đất và sau đó trốn thoát cùng với các lãnh tụ khác khỏi hiện trường. Tháng tư năm 1924 y bị kết án bốn năm tù.

        Mặc dù nhà cầm quyền duy trì được trật tự và tòa án Đức phải trừng phạt những kẻ biểu tình, nhưng dư luận quần chúng lại cho rằng họ đang đánh vào người máu mủ ruột thịt của mình, đang vô tình giúp người nước ngoài thực hiện mưu đồ của họ, làm tổn hại cho những đúa con trung nghĩa nhất của nước Đức. Bản án của Hitler được giảm từ bốn năm xuống còn mười ba tháng. Tuy nhiên, tại pháo đài Landsberg những tháng này đủ cho y hoàn thành đề cương cuốn Mein Kampf, một luận án triết học chính trị của y đề tặng cuộc nổi dậy mới kết thúc gần đây. Cuối cùng khi y nắm chính quyền thì đối với những nhà cầm quyền chính trị và quân sự các cường quốc đồng minh, không có cuốn sách nào đáng được nghiên cứu kỹ hơn. Tất cả ở đây là chương trình phục hồi nước Đức, là kỹ thuật tuyên truyền của đảng, là kế hoạch đánh nhau với chủ nghĩa Mác-xít, là quan niệm về một nhà nước Quốc Xã, là vị trí chính đảng của nước Đức tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới - Đây là kinh Koran mới về niềm tin và chiến tranh: khoa trương, dài dòng, không ra hình thù gì, nhưng lại chứa đầy những lời phán truyền của nó.

        Luận điểm chủ yếu của cuốn Mein Kampf rất giản đơn. Con người là một con vật tranh đấu, cho nên quốc gia là một cộng đồng của những chiến sĩ, một đơn vị chiến đấu. Bất cứ sinh vật đang tồn tại nào ngùng chiến đấu cho sự sống còn của mình thì phải bị tiêu diệt. Một nước hay một chủng tộc ngừng chiến đấu sẽ bị hủy diệt. Khả năng chiến đấu của một chủng tộc tùy thuộc vào sự tinh khiết của nó. Vì lý do này, cần thiết giải thoát nó khỏi việc nước ngoài làm mất tính chất thiêng liêng của nó. Chủng tộc Do Thái do tính phổ biến tất yếu theo chủ nghĩa hòa bình và chủ nghĩa quốc tế. Chủ nghĩa hòa bình là tội ác làm chết người bởi vì nó có nghĩa là sự đầu hàng của chủng tộc trong cuộc chiến đấu để tồn tại. Bởi vậy nhiệm vụ đầu tiên của mỗi nước là quốc hữu hóa quần chúng nhân dân. Mục đích cuối cùng của giáo dục là tạo ra một người Đức có thể trở thành một người lính với mức huấn luyện tối thiểu. Sự biến động đột ngột vĩ đại nhất của lịch sử phải là không thể tưởng tượng được nếu không do động lực say mê cuồng loạn. Đức tính hòa bình và trật tự tư sản không thể làm được việc gì. Thế giới ngay nay đang vận động hướng về một sự biến động đột ngột như vậy, và nước Đức mới phải lo liệu cho chủng tộc sẵn sàng đối với những quyết định vĩ đại nhất cuối cùng trên quả đất này.

        Chính sách ngoại giao có thể là vô lương tâm. Để cho một dân tộc chìm đắm một cách anh hùng thay vì trông thấy nó có thể phồn vinh và sống sót, không phải là nhiệm vụ của khoa ngoại giao. Chỉ có Anh và Ý có thể là đồng minh của Đức. Chừng nào mà Đức không tự lo liệu lấy thì sẽ không có ai lo liệu cho. Những tỉnh bị mất của nó không thể lấy lại bằng những lời cầu xin Thượng Đế, hoặc bằng những niềm hy vọng thành kính ở Hội Quốc Liên, mà chỉ bằng sức mạnh của vũ khí. Nước Đức không được phép lặp lại sai lầm là cùng một lúc đánh tất cả mọi kẻ thù. Tấn công nước Pháp với những lý do hoàn toàn cảm tính nhất định là điên rồ. Cái mà nước Đức cần là sự tăng thêm lãnh thổ ở Châu Âu. Chính sách thuộc địa của Đức trước chiến tranh là sai lầm và phải được từ bỏ. Nước Đức phải tìm kiếm sự bành trướng sang nước Nga và đặc biệt là các nước vùng Baltic. Không có liên minh nào với nước Nga được tha thứ. Cùng với nước Nga tiến hành chiến tranh chống phương Tây nhất định là có tội, bởi vì mục đích của những người Xô Viết là sự chiến thắng của đạo Do Thái quốc tế. Đó là những trụ cột vững chắc trong chính sách của y.

        Bị đè nén và bị quấy rối bởi tình trạng rối loạn và xung đột về đảng phái, những người thắng trận không chú ý đến việc Hitler tiến hành đấu tranh không ngừng và ngày càng nổi bật như là một hình ảnh tiêu biểu của quốc gia. Một khoảng thời gian dài trôi qua trước khi chủ nghĩa Quốc Xã hay Đảng Quốc Xã, như nó được gọi, giành được một chỗ dựa vũng chắc trong số đông nhân dân Đức, trong các lực lượng vũ trang, trong bộ máy nhà nước. Nó cũng trở thành, giữa các nhà tư bản công nghiệp khiếp sợ chủ nghĩa Cộng sản, một cơ quan quyền lực trong đời sống nước Đức được khắp thế giói chú ý. Cuối năm 1924, khi ra khỏi nhà tù, Hitler tuyên bố rằng y cần năm năm để tể chức lại phong trào.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 11:13:25 AM

*

        Một trong những điều khoản dân chủ của Hiến pháp Weimar quy định các cuộc tuyển cử Quốc hội, bốn năm một lần. Người ta hy vọng với điều khoản này chắc chắn nhân dân Đức phải có được quyền kiểm soát Quốc hội hoàn toàn và liên tục. Dĩ nhiên trong thực tiễn điều đó chỉ có nghĩa là họ luôn luôn sống trong bầu không khí náo động của con sốt chính trị và vận động bầu cử không ngừng. Sự tiến bộ của Hitler và học thuyết của y vì vậy được mọi người chú ý. Năm 1928 đảng của y chỉ có 12 ghế trong Quốc hội. Năm 1930 con số này là 107, năm 1932 là 230. Trong thời gian này, toàn bộ cơ cấu của nước Đức đều tràn ngập những cơ quan và kỷ cương của đảng Quốc Xã, và đủ mọi thứ đe dọa, những lời sỉ nhục và hành động hung ác nhắm vào người Do Thái.

        Trong bản tường thuật này, không cần thiết theo dõi từng năm sự phát triển phức tạp của vấn đề, với tất cả những sự giận dữ, những hành động côn đồ và tất cả mọi sự thăng trầm của nó. Ánh sáng mặt trời yếu ớt của thành phố Locamo đã chiếu sáng quang cảnh này. Sự tiêu pha hoang phí số tiền vay của Mỹ gây ra cảm giác về một sự phồn vinh trở lại. Thống chế Hindenburg làm Tổng thống nước Đức và Streseman là Bộ trưởng Ngoại giao. Đáp lại nhà cầm quyền to lớn, oai vệ mà họ yêu mến sâu sắc, đa số nhân dân Đức kiên định, đúng đắn trung thành với ông cho đến lúc ông hấp hối. Nhưng những nhân tố mạnh mẽ khác cũng đang hoạt động trong một nước đã quẫn trí mà đối với nó, nền cộng hòa Weimar không thể tỏ ra nhạy cảm về an ninh, không thể đáp ứng thích đáng thanh danh quốc gia hay ý muốn báo thù.

        Đằng sau cái vỏ ngoài của chính quyền Cộng hòa và các thể chế dân chủ, do những người thắng trận đặt ra, và bị làm hư hỏng cùng với sự bại trận, thì quyền lực chính trị thực tế ở Đức và cấu trúc bền vững của quốc gia trong những năm sau chiến tranh là bộ Tổng tham mưu quân đội Đức hay là Reichswehr. Chính họ bí mật bố trí cơ sở cho việc tái vũ trang nước Đức, sắp đặt và hạ bệ Tổng thống và nội các. Họ tìm thấy ở Thống chế Hindenburg một biểu tượng cho quyền lực của họ và là một con rối trong tay họ. Nhưng đến năm 1930 thì Hindenburg đã ở tuổi 83. Năng lực hiểu biết về mặt trí tuệ của ông ngày càng suy sụp. Ông trở nên ngày càng có thành kiến, độc đoán, suy yếu vì tuổi già. Trong chiến tranh người ta nghĩ về ông như một thần tượng, những người yêu nước có thể chúng tỏ sự khâm phục của họ bằng việc bỏ những số tiền lớn ra để mua một cái đinh dùng treo tấm hình của ông. Điều này minh họa con người thực sự của ông lúc ấy - "Người Khổng Lồ bằng gỗ" - Rõ ràng đối với các tướng lãnh là đến một lúc nào đó, phải tìm được một người kế tục thay thế vị Thống chế già nua. Tuy nhiên việc tìm kiếm người mới lại xảy đến bất thình lình do tình hình » phát triển dữ dội và sự tác động mạnh mẽ của phong trào Quốc Xã. Sau cuộc nổi dậy thất bại năm 1923 ở Munich, Hitler tuyên bố một chương trình hợp pháp nghiêm ngặt trong khuôn khổ nền Cộng hòa Weimar. Vậy mà đồng thời y lại khuyến khích và đặt kế hoạch phát triển các hệ thống tổ chức quân sự và bán quân sự của Đảng Quốc Xã. Từ những khởi điểm hết sức nhỏ bé, các lực lượng xung kích hay đảng viên Quốc Xã, với cốt lõi kỷ luật không đáng kể, các đội SS phát triển về số lượng và sức mạnh đến mức Reichswehr phải hoảng sợ khi nghĩ tới những hoạt động và sức mạnh tiềm tàng của chúng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 11:16:20 AM

        Đúng đầu các hệ thống tổ chúc lực lượng xung kích là một tên lính đánh thuê Đức, Emst Roehm, người đồng chí và là bạn thân của Hitler suốt những năm chiến đấu. Roehm Tham mưu trưởng các lực lượng xung kích, là một người có tài năng và dũng cảm nhưng đầy tham vọng cá nhân và hư hỏng về tình dục. Những thói hư tật xấu của hắn không cản trở Hitler cộng tác với hắn suốt con đường gian hiểm đi đến quyền lực. Cân nhắc thận trọng nhất những dư luận đang lan tràn trong nước, Reichswehr với tư cách là một đẳng cấp và tổ chúc quân sự đối lập với phong trào Quốc Xã, bất đắc dĩ phải tự nhận thức rằng họ không thể kiểm soát nước Đức lâu hơn nữa. cả hai phải cùng chung một quyết tâm vực nước Đức ra khỏi vực thẳm và rửa nỗi nhục bại trận, nhung trong khi Reichswehr tiêu biểu cho cơ cấu đã được an bài của đế chế Kaiser, bảo vệ các giai cấp phong kiến, quý tộc, địa chủ và tầng lớp khá giả trong xã hội Đức, thì những đội xung kích với quy mô lớn đã trở thành một phong trào cách mạng. Họ khác những người Bôn-sê-vích mà họ phản đối kịch liệt, đúng như Bắc cực với Nam cực.

        Đối với Reichswehr, đối chọi với Đảng Quốc Xã là xé nát quốc gia bại trận này ra tùng mảnh. Năm 1931 và 1932, vì lợi ích riêng của mình và lợi ích của đất nước, các thủ lĩnh quân đội thấy phải hợp nhất lực lượng với những người mà họ chống đối quyết liệt, gay gắt theo tinh thần Đức, về những vấn đề quốc nội. Về phần mình, dù sẵn sàng dùng bất cứ phương tiện • nào để chọc thủng các thành trì quyền lục; Hitler vẫn luôn luôn để ý đến việc lãnh đạo nước Đức vĩ đại và lòng trung thành của y với lý tưởng đang độ tuổi thanh xuân. Vì thế những điều kiện cho một sự thỏa thuận giữa y và Reichswehr đã có sẵn và đương nhiên là ở cả hai phía. Các thủ lãnh quân đội dần dần hiểu rằng sức mạnh của Đảng Quốc Xã là như thế, rằng Hitler là người duy nhất có thể kế tục Hindenburg với tư cách là người đứng đầu quốc gia Đức. Về phía mình, Hitler hiểu rằng, để thực hiện chương trình phục hồi nước Đức, thì một sự liên minh với những người ưu tú trong Reichswehr là rất cần thiết - Một cuộc mặc cả diễn ra và các nhà lãnh đạo quân đội Đức bắt đầu thuyết phục Hindenburg coi Hitler như là thủ tướng cuối cùng của Đế chế. Họ làm như thế để có được một thỏa thuận và muốn giới hạn hoạt động của đảng viên Quốc Xà, nhằm làm cho họ lệ thuộc vào Bộ Tổng tham mưu và cuối cùng thủ tiêu họ, nếu không có cách nào khác, Hitler đã giành được lòng trung thành của các lực lượng đang làm chủ nước Đức, địa vị hành pháp chính thức và quyền thừa kế hiển nhiên cương vị thủ trưởng của nhà nước Đức. Viên Hạ sĩ quan đã vượt một quãng đường khá xa.

        Tuy nhiên có một chuyện rắc rối riêng trong nội bộ. Nếu chìa khóa cho bất kỳ một sự phối hợp chỉ huy quân đội trong nước là Tổng tham mưu trưởng thì sẽ có nhiều bàn tay cố bám chặt vị trí này. Bây giờ tướng Kurt Von Schleicher sử dụng một ảnh hưởng tế nhị đôi lúc là quyết định. Ông là cố vấn chính trị dày kinh nghiệm của giới quân sự, kín đáo có khả năng chi phối. Mọi tầng lớp nhân dân và mọi bè phái suy nghĩ về ông trong một chừng mực ngờ vực, họ xem ông như một tác nhân chính trị khéo léo làm ăn được, có nhiều kiến thức ngoài sách vở của Bộ Tổng tham mưu và không thường gần gũi binh sĩ. Trong một thời gian dài Schleicher nhận ra ý nghĩa của phong trào Quốc Xã và sự cần thiết phải ngăn cản, kìm hãm nó lại. Mặt khác ông hiểu rằng trong cuộc công kích hết mức của bọn du thủ du thực này, với đội quân xung kích bí mật không ngừng phát triển của chúng, có một vũ khí, nếu được các chiến hữu của ông ở Bộ Tổng tham mưu sử dụng đúng đắn, có thể xác nhận lại sự vĩ đại của nước Đức và có lẽ cả việc củng cố vị trí của ông. Vói ý định này, trong năm 1931, Schleicher bắt đầu bí mật âm mưu với Roehm. Như vậy có hai sự việc cùng một lúc được tiến hành, Bộ Tổng tham mưu thì dàn xếp với Hitler, còn Schleicher ở giữa bọn họ thì theo đuổi âm mưu riêng với Roehm là người phụ tá số một và là người muốn trở thành địch thủ của Hitler. Những cuộc tiếp xúc giữa Schleicher với phần tử cách mạng của đảng Quốc Xã và đặc biệt với Roehm, kéo dài cho đến khi cả hai, ông và Roehm bị xử bắn ba năm sau, theo lệnh của Hitler. Việc này chắc hẳn đã đơn giản hóa tình hình chính trị và số phận của những kẻ còn sống sót.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 11:17:31 AM

*

        Trong lúc ấy, đến lượt trận bão tuyết kinh tế tác động đến nước Đức. Các ngân hàng Hoa Kỳ, phải đối phó với những điều ràng buộc ngày càng tăng ở trong nước, nên đã từ chối những khoản vay xa phí của Đức - Phản úng này dẫn tới việc đóng của hàng loạt các nhà máy và sự phá sản đột ngột nhiều tổ chức kinh doanh là chỗ dựa cho sự hồi sinh hòa bình của nước Đức. Vào mùa đông năm 1930, thất nghiệp ở Đức lên tới 2.300.000 người. Các nước Đồng minh đề nghị nới bớt các khoản bồi thường một cách rộng rãi và từ thiện. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Streseman giành được thành công cuối cùng của mình bằng một thỏa thuận rút quân Đồng minh hoàn toàn khỏi vùng sông Rhin sớm hơn thời hạn quy định của Hòa ước.

        Nhưng quần chúng nhân dân Đức phần lớn tỏ ra lãnh đạm đối với những nhượng bộ đặc biệt của các nước thắng trận. Gần đây hơn hoặc trong những tình huống may mắn hơn, những nhượng bộ này được hoan hô như những biện pháp đáng kể trên con đường hòa họp và là sự quay trở lại nền hòa bình chân chính. Nhưng bây giờ nỗi lo sợ thất nghiệp luôn luôn ám ảnh quần chúng nhân dân Đức. Các giai cấp trung lưu đã bị phá sản và bị cuốn hút vào quá trình diễn biến dữ dội do sự tẩu tán đồng Mác. Những sức ép về kinh tế quốc tế xói mòn vị trí chính trị của ông Streseman và những sự công kích thậm tệ dữ dội của Đảng Quốc Xã của Hitler và của một số trùm tư bản nào đó đã đưa đến sự lật đổ ông ta. Ngày 28 tháng 3 năm 1930, Bruening người lãnh đạo Đảng Trung tâm Thiên chúa giáo trở thành Thủ tướng. Bruening là người Thiên chúa giáo tỉnh Westphalia và là một nhà yêu nước mưu cầu tạo lại nước Đức xưa dưới chiêu bài dân chủ hiện đại. Ông liên tục theo đuổi ý đồ chuẩn bị nhà máy cho chiến tranh. Ông cũng vật lộn nhằm ổn định nền tài chính giữa sự hỗn độn đang tăng lên. Chương trình kinh tế và cắt giảm nhân viên và tiền lương ngành dân sự của ông không được lòng dân. Dư luận căm ghét nổi ra nhiều náo động hơn bao giờ. Được Tổng thống Hindenburg ủng hộ, Bruening giải tán Quốc hội chống đối và cuộc bầu cử năm 1930 giữ ông ta lại với đa số. Bây giờ ông thực hiện cố gắng cuối cùng, nhằm củng cố cái gì còn lại của nước Đức xưa, chống lại việc kích động quần chúng theo chủ nghĩa dân tộc hiện đang nổi lên, quá khích và mất phẩm chất. Nhằm mục đích này, trước tiên, ông phải bảo đảm việc bầu lại Hindenburg làm Tổng thống.

        Thủ tướng Bruening chú ý đến một giải pháp mới và hiển nhiên. Ông quan niệm chỉ có phục hồi một vị hoàng đế mới đem lại hòa bình, an ninh và vinh quang cho nước Đức. Lúc ấy ông có thể chi phối vị thông chế già Hindenburg, và khi nào được bầu lại thì giữ nhiệm vụ trong nhiệm kỳ cuối cùng của mình với tư cách là quan nhiếp chính của một chế độ quân chủ được phục hồi. Chính sách này, nếu được thực hiện, nhất định lấp kín chỗ trống ở thành phần tối cao của quốc gia Đức mà Hitler bấy giờ hiển nhiên đang đi về hướng đó. Trong tất cả mọi tình huống thì đây là chiều hướng đúng. Nhưng Bruening có thể dẫn dắt nước Đức đến đó như thế nào? Bruening không dự định tạo lập lại một Đế chế thứ hai. Ông mong muốn một nền quân chủ lập hiến theo đường lối của Anh. Ông hy vọng một trong số con trai của Thái tử có thể là một ứng cử viên thích hợp.

        Vào tháng 11 năm 1931, ông nói riêng kế hoạch của mình với Hindenburg, mọi việc tùy thuộc vào ông này. Phản ứng của vị Thống chế già nua kịch liệt khác thường. Ông ta ngạc nhiên và phản đối. Ông tuyên bố rằng ông chỉ tự xem mình là người được ủy thác trông nom Hoàng đế. Bất kỳ một giải pháp nào khác là sự lăng nhục đến danh dự quân nhân của ông. Quan niệm về chế độ quân chủ mà ông tận tụy phục vụ không thể có việc kén người này, bỏ người kia trong đám hoàng tử. Tính chính thống không thể bị xâm phạm. Trong lúc ấy, khi nước Đức nhất định không chấp nhận sự quay trở lại của Hoàng đế, thì không có gì còn lại, trừ chính bản thân ông ta, Hindenburg.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười Hai, 2018, 11:32:16 AM

        Thủ tướng phải đương đầu với nhiều khó khăn, trừ phi Hindenburg chấp nhận một giải pháp về nền quân chủ, dẫu không chính thống, nếu không, thì là chế độ độc tài của Quốc Xã. Không thỏa thuận nào đạt được. Nhung dù Bruening có thể thuyết phục Hindenburg thay đổi quan điểm hay không, thì cũng buộc phải làm cho ông ấy được bầu lại làm Tổng thống, ít nhất cũng nhằm ngăn chặn sự sụp đổ chính trị ngay lập tức của Nhà nước Đức. Kế hoạch của Bruening thành công ở giai đoạn sau cuộc bỏ phiếu kín lần thứ hai, Hindenburg được bầu với đa số phiếu vượt các đối thủ của ông ta là Hitler và Thaelmann, đảng viên cộng sản. Cả vị trí kinh tế Đức và các mối quan hệ của nó với châu Âu bây giờ đều phải chịu sự thách thúc. Hội nghị tài giảm binh bị họp ở Genève, và Hitler tung ra một chiến dịch om sòm chống lại việc làm nhục nước Đức theo hòa ước Versailles. Với sự suy nghĩ thận trọng, Bruening dự thảo một kế hoạch có thể áp dụng rộng rãi về việc xét lại hòa ước. Tháng tư ông đi Genève và được đón tiếp thuận lợi không ngờ. Trong các cuộc đàm thoại giữa ông với MacDonald, Stimson và Norman Davis của Mỹ, dường như có thể đạt được thỏa thuận đó. Cơ sở đặc biệt của thỏa thuận này là nguyên tắc về sự "bình đẳng lực lượng vũ trang" giữa Đức và Pháp, nguyên tắc này lệ thuộc vào nhiều giải thích khác nhau. Như những chương sau sẽ giải thích, thực kinh ngạc là bất kỳ ai có đầu óc minh mẫn đáng lẽ phải hình dung rằng nền hòa bình kia sao lại có thể được xây dựng trên những cơ sở như vậy. Nếu điểm quan trọng này được các nước thắng trận thừa nhận thì đúng là nó có thể đưa ông Bruening ra khỏi cảnh ngộ của ông ta hiện nay, và lúc đó bước tiếp theo, và là bước khôn ngoan, phải là sự xóa bỏ việc bồi thường cho sự phục hồi châu Âu. Một sự dàn xếp như vậy dĩ nhiên nhất định làm tăng thêm địa vị cá nhân của Bruening giúp cho cuộc dàn xếp thắng lợi.

        Norman Davis, đại sứ Mỹ lưu động, gọi điện thoại cho Thủ tướng Pháp Tardieu từ Paris đến ngay Genève. Nhưng không may cho Bruening, Tardieu nhận được những tin tức khác. Schleicher bận việc ở Berlin và vừa mói cảnh cáo đại sứ Pháp không nên đàm phán với Bruening vì ông ta sắp sụp đổ đến nơi. Cũng rất có thể Tardieu đang quan tâm tới vị trí quân sự của Pháp theo công thức "Sự    ngang bằng lực lượng vũ trang”.

        Dù   sao đi nữa Tardieu không    đến Genève, và ngày 1 tháng 5    Bruening quay   về Berlin. Lúc ấy, trở về tay không là tai hại cho ông ta. Những biện pháp   quyết liệt, thậm chí liều mạng, đều cần đến để đương đầu với sự sụp đổ của nền kinh tế bị đe dọa bên trong nước Đức. Chính phủ ít được lòng dân của Bruening không có sức mạnh cần thiết cho những biện pháp này. Ông ta tiếp tục vùng vẫy suốt tháng năm, trong lúc đó, trong cảnh biến ảo nhiều màu sắc của các quan điểm chính trị trong quốc hội Pháp, Tardieu bị ông Herriot thay thế.

        Thủ tướng mới của Pháp bày tỏ ý định của mình sẵn sàng thảo luận công thức đạt được ở các cuộc hội đàm Genève. Đại sứ Mỹ ở Berlin được chỉ thị cố gắng thuyết phục thủ tướng Đức đến Genève không chậm trễ. Bruening nhận được thông báo này trước ngày 30 tháng 5. Nhung cùng lúc đó thế lực của Schleicher chiếm ưu thế. Hindenburg cũng đã được thuyết phục phải gạt bỏ thủ tướng. Ngay buổi sáng ấy, sau lời mời của Mỹ, với tất cả hy vọng và khinh suất của nó, đến tay Bruening thì ông biết rằng số phận của ông đã được giải quyết, và vào buổi trưa, ông từ chúc để tránh sự sa thải thật sự. Chính phủ cuối cùng ở nước Đức sau chiến tranh đã kết thúc như vậy, chính phủ này có thể dẫn dắt nhân dân Đức được hưởng một hiến pháp văn minh, ổn định và mở ra những kênh giao lưu hòa bình với các nước láng giềng. Nếu không có sự vận động ngầm của Schleicher và sự chậm trễ của Tardieu thì những lời đề nghị của các nước đồng minh với Bruening nhất định chắc chắn cứu được ông ta. Nhũng đề nghị này sau đó được thảo luận với một phương pháp khác và với một con người khác.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:14:39 AM
        
4

NHỮNG NĂM THÁNG BUỒN THẢM 1931 - 1933

        Chính phủ Anh, kết quả của cuộc Tổng tuyển cử năm 1931, bề ngoài có vẻ là một chính phủ mạnh nhất, nhưng thực tế là một chính phủ yếu nhất trong lịch sử nước Anh. Ông Ramsay MacDonald, Thủ tướng, dựa cả vào hai đảng một cách hết sức cay đắng, tự tách khỏi Đảng Xã hội mà ông đã dành cả cuộc đời để sáng lập để đúng đầu một chính quyền trên danh nghĩa là liên hiệp, nhung thực tế là do Đảng Bảo thủ chi phối. Ông thường suy nghĩ một cách uể oải. Ông Baldwin thích thực chất hơn là hình thúc của chính quyền, hoạt động trầm lặng ở hậu trường. Ngoài John Simon, một trong số lãnh tụ của nhóm tự do được bổ nhiệm vào Bộ Ngoại giao, công việc chủ yếu về nội vụ thì ông Neville Chamberlain đảm nhiệm và chẳng bao lâu thì trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính. Công đảng bị đổ lỗi vì thất bại trong vụ khủng hoảng tài chính, bị gạch xóa ở các nơi bầu cử do ông George Lansbury, một người theo chủ nghĩa hòa bình cực đoan lãnh đạo. Trong thời gian 4 năm ba tháng của chính quyền này, từ tháng 8 năm 1931 đến tháng 11 năm 1935, tình hình toàn bộ châu Âu lục địa bị đảo lộn.

*

        Toàn nước Đức xôn xao, nhiều sự kiện lớn diễn tiến, Papen kế tục Bruening làm Thủ tướng, còn Schleicher, tướng chính trị, cho đến nay toan cai trị nước Đức bằng trí thông minh và mưu đồ, nhưng cơ hội không còn. Papen hy vọng cai trị với sự ủng hộ của đám tùy tùng của Tổng thống Hindenburg và của nhóm quốc gia cực đoan trong quốc hội. Ngày 20 tháng 7, một biện pháp quyết định được thực hiện. Chính quyền của Đảng Xã hội ở Prussia bị hất cẳng bằng vũ lục. Nhung đối thủ của Papen ham quyền lực. Theo sự trù tính của Schleicher, công cụ nằm trong những lực lượng bí mật được ẩn giấu, đang lao vào các hoạt động chính trị của nước Đức đằng sau thế lực và tên tuổi đang lên của Hitler, ông hy vọng biến phong trào Hitler thành một tên đầy tớ ngoan ngoãn của Reichswehr (Cục Phòng vệ của Đế chế) và như vậy thì bản thân ông nắm được quyền chỉ huy cả hai. Nhũng cuộc tiếp xúc giữa Schleicher và Roehm, người lãnh đạo quân xung kích của Quốc Xã, bắt đầu từ năm 1931 và kéo dài trong năm tiếp theo, đưa đến những quan hệ rõ ràng hơn giữa Schleicher và bản thân Hitler. Con đường dẫn tới quyền lục cho cả hai người dường như chỉ bị cản trở bởi Papen và do Hindenburg để lộ sự tin cậy vào ông này.

        Tháng tám năm 1932, Hitler đến Berlin theo lời mời riêng của Tổng thống. Cơ hội cho một bước tiến về phía trước dường như trong tầm tay. Mười ba triệu cử tri Đức đứng sau Furhrer "Lãnh tụ"1. Chỉ cần một câu hỏi là liệu y có được giao chức vụ quan trọng? Bây giờ y gần như ở vào địa vị của Mussolini vào ngày hôm trước cuộc hành quân vào Rome. Nhưng Papen không quan tâm đến lịch sử gần đây của Ý. Ông được Hindenburg ủng hộ và không có ý định từ chức. Vị Thống chế già nhận ra Hitler. Ông thản nhiên nói: "Con người này mà làm Thủ tướng à? Ta sẽ bổ nhiệm hắn làm giám đốc bưu điện, dường như hắn biết liếm cái tem có hình cái đầu ta?". Trong các giới cung đình, Hitler không có được cái thế lực giống như các đối thủ của mình.

        Trong nước toàn bộ cử tri rộng lớn bồn chồn áy náy, không mục đích, tháng mười một năm 1932, lần thứ năm trong một năm, các cuộc tuyển cử được tiến hành khắp nước Đức. Đảng Quốc xã suy sụp, số 230 ghế của họ giảm xuống con 196. Những người Cộng sản giành được cán cân lực lượng. Khả năng mặc cả của The Fuehrer vì vậy bị yếu đi. Xét cho cùng, không có y, có lẽ tướng Schleicher đã có thể hành động, ông ta giành được sự ủng hộ trong giới cố vấn của Hindenburg.

----------------
        1. Furhrer "lãnh tụ": tước vị khoác cho Hitler với tư cách là người dứng đầu nước Đức Quốc xã.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:15:01 AM

        Ngày 17 tháng 11 Papen từ chức và Schleicher trở thành Thủ tướng. Thủ tướng mới có nhiều khả năng bị giật dây ở hậu trường hơn là ở hội nghị công khai cấp cao nhất của chính quyền. Ông cãi nhau với quá nhiều người. Hitler cùng Papen và những người theo dân tộc chủ nghĩa, bấy giờ đứng về phía chống lại ông; còn những người Cộng sản chiến đấu chống bọn Quốc xã ngoài đường phố và chống chính phủ bằng những cuộc bãi công, khiến ông không thể thực thi quyền lực. Papen đem ảnh hưởng riêng của mình quy vào Tổng thống Hindenburg. Xét cho cùng, phải chăng giải pháp hay nhất không phải là xoa dịu Hitler bằng cách buộc y nhận lãnh những trách nhiệm và gánh nặng của chức vụ. Nhưng cuối cùng Hindenburg miễn cưỡng đồng ý. Ngày 30 tháng giêng năm 1933, Adolf Hitler nhận chúc Thủ tướng nước Đức.

        Ngày 2 tháng Hai, mọi cuộc mít tinh biểu tình của đảng Cộng sản Đức đều bị cấm. Trên toàn nước Đức, bắt đầu một cuộc lùng ráp tịch thu vũ khí bí mật của những người Cộng sản. Điểm cao nhất là vào đêm 27 tháng Hai năm 1933, tòa nhà Quốc hội bùng cháy. Đảng viên Quốc xã, đảng viên đảng Áo đen và các tổ chức bổ trợ của họ được động viên. Trong đêm xảy ra bốn nghìn cuộc bắt bớ kể cả việc bắt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản. Những biện pháp này đều giao cho Goering bấy giờ là Bộ trưởng Nội vụ Phổ thực hiện. Họ tổ chức các cuộc bầu cử sơ bộ phục vụ cho các cuộc bầu cử sắp tới và đánh bại những người Cộng sản, kẻ thù kinh khủng nhất của chế độ. Tổ chức chiến dịch bầu cử là nhiệm vụ của Goebbels, ông này không khéo léo và cũng không nhiệt tâm.

        Nhưng vẫn còn nhiều lực lượng ở Đức chống đối chủ nghĩa Hitler. Những người Cộng sản thu được 81 ghế, những người Xã hội 118 ghế, đảng Trung tâm 73 ghế và những đồng minh dân tộc chủ nghĩa của Hitler dưới sự lãnh đạo của Papen và Hugenberg 52 ghế. Ba mươi ba ghế được phân phối cho nhóm Trung tâm hữu khuynh không quan trọng. Đảng viên Quốc xã thu được 17.300.000 phiếu với 288 ghế. Kết quả này khiến Hitler và các đồng minh dân tộc chủ nghĩa của y kiểm soát quốc hội. Vì vậy và chỉ vì vậy mà Hitler bằng đủ mọi cách đạt đa số phiếu của nhân dân Đức. Trong những cách thông thường của chính quyền đại nghị văn minh, một thiểu số cũng có ảnh hưởng và được tôn kính xứng đáng trong nước. Nhưng trong nước Đức Quốc xã mới này, những nhóm thiểu số bấy giơ chẳng có quyền gì hết.

        Ngày 21 tháng 3 năm 1933, tại nhà thờ ở Potsdam sát cạnh mộ Frederick đại đế, Hitler khai mạc Quốc hội thứ nhất của đế chế thứ ba. Các đại diện của Reichswehr, biểu tượng sức mạnh liên tục của nước Đức và những sĩ quan cao cấp của S.A và s.s, những nhân vật mới của nước Đức hồi sinh ngồi ở gian chính của nhà thờ. Ngày 24 tháng 3, đa số Quốc hội, áp đảo hoặc làm cho tất cả địch thủ kinh sợ, đã phê chuẩn, bằng 441 phiếu thuận và 94 phiếu chổng, quyền hạn hoàn toàn ban bố tình trạng khẩn cấp cho Thủ tướng Hitler trong bốn năm. Khi kết quả được công bố, Hitler quay sang hàng ghế những đảng viên Xã hội và nói lớn: "Bây giờ, tôi không cần các ông nữa".

        Được cuộc bầu cử kích động, những đội hình hàng dọc đắc chí của Đảng Quốc xã diễu qua lãnh tụ của họ bằng cuộc rước đuốc cuồng nhiệt qua các đường phố Berlin. Đó là một cuộc đấu tranh lâu dài khó hiểu đối với người ngoại quốc đặc biệt là những ai chưa biết đến nỗi dằn vặt của sự bại trận. Cuối cùng Adolf Hitler đến, nhưng y không đơn độc. Y được gọi từ vực thẳm của chiến bại, từ những day dứt kín đáo, man rợ tiềm ẩn trong chủng tộc đông đảo nhất, tốt bụng nhất, tàn nhẫn nhất, hay lý sự nhất và xấu số nhất ở Châu Âu. Y là thần tượng, thần tượng đáng sợ, một thần Moloch ăn ngấu nghiến tất cả mọi thứ mà y là thầy tế và là hiện thân. Tôi không có thẩm quyền diễn tả hành động hung ác côn đồ không thể tưởng tượng mà nhờ đó bộ máy căm thù và bạo ngược này cấu thành và được rèn luyện thành thạo. Qua sự miêu tả nay, tôi muốn trình bày cho độc giả sự thật kinh khủng, mới lạ và vô ý thúc đã diễn ra trên thế giới: NƯỚC ĐỨC DƯỚI THỜI HITLER và NƯỚC ĐỨC ĐANG CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:16:25 AM

*

        Trong lúc những thay đổi chết người này đang diễn ra ở Đức, thì chính phủ của ông MacDonald - Baldwin ở Anh nhất định đòi cho được những cắt giảm và hạn chế do khủng hoảng tài chính, và cứ một mực nhắm mắt bịt tai trước những triệu chúng đáng lo ngại ở châu Âu. Bằng những cố gắng sôi nổi nhằm đạt được một việc giải trừ quân bị của các nước thắng trận ngang bằng với điều đã buộc nước bại trận phải tôn trọng theo hòa ước Versailles, ông MacDonald và các bạn đồng sự Bảo thủ và Tự do của ông thúc ép một loạt đề nghị hướng về tương lai tại Hội Quốc Liên và thông qua các con đường công khai khác. Mặc dù những sự kiện chính trị của họ vẫn liên miên không ổn định và những biến chuyển chẳng có tầm quan trọng gì đặc biệt, người Pháp vẫn ngoan cố coi quân đội Pháp như là trung tâm, là cột trụ của đời sống nước Pháp và của tất cả các đồng minh của họ. Thái độ này làm cho họ bị chê trách cả ở Anh và ở Mỹ. Dư luận báo chí và công chúng không còn biết đâu là sự thật, nhưng chiều hướng chống đối thì rất rõ rệt.

        Đức thì lên án tính nhu nhược cơ bản và sự sa sút cố hữu mà hình thức xã hội dân chủ đại nghị bắt các chủng tộc Bắc Âu phải chịu. Vói tất cả nghị lực dân tộc của Hitler đằng sau họ, họ nhiễm thói ngạo mạn. Tháng 7 năm 1932, phái đoàn đại biểu của họ đã thu thập giấy tờ và rồi khỏi hội nghị giải trừ quân bị. Việc thuyết phục họ quay trở lại, trở thành mục tiêu chính trị hàng đầu của các nước đồng minh thắng trận. Tháng 11, dưới sức ép dữ dội, liên tục, của Anh, Pháp đề nghị một giải pháp, được gọi một cách không đúng đắn là "Kế hoạch Herriot". Thực chất của kế hoạch này là sự lập lại mọi lực lượng vũ trang phong vệ của châu Âu thành những lực lượng quân đội ngắn hạn với số lượng hạn chế, thừa nhận địa vị bình đẳng nhung không cần thiết phải thừa nhận sự bình đẳng về số quân hiện có. Về thực tế và về nguyên tắc, việc thừa nhận địa vị bình đẳng cuối cùng làm cho việc không thừa nhận sự ngang bằng về quân số là không thể được. Điều này cho phép các chính phủ đồng minh trao cho nước Đức "Quyền bình đẳng trong một hệ thống nhất định đem lại an ninh cho mọi quốc gia". Dưới một số biện pháp bảo vệ nào đó, người Pháp buộc phải công nhận công thức vô nghĩa này. Dựa vào điều này, người Đức đồng ý trở lại hội nghị giải trừ quân bị. Điều này được hoan nghênh như là một thắng lợi đáng kể cho hòa bình. Được quần chúng yêu mến khích lệ, ngày 16 tháng 3 năm 1933. Chính phủ Hoàng Gia đưa ra - theo tác giả và là người cổ động cho nó - cái gọi là "Kế hoạch MacDonald" - Kế hoạch này công nhận, coi như điểm khỏi đầu của nó, việc thực hiện quan niệm của Pháp về lục lượng vũ trang ngắn hạn - trường hợp này xảy ra vào tháng Tám - và tiếp đến quy định con số quân đội chính xác cho mỗi nước. Quân đội Pháp phải được cắt giảm từ lục lượng thời bình là 500.000 người xuống con 200.000, còn người Đức được tăng lên tương đương số này. Lúc này quân đội Đức, dù chưa lấy ở đám quân dự bị đã qua huấn luyện - số này chỉ cần một loạt động viên nghĩa vụ quân sự theo chỉ tiêu hàng năm là có đủ - đã có thể lên tới đúng con số tương đương trên một triệu quân tình nguyện hăng hái, được trang bị một phần và với nhiều mẫu vũ khí mới nhất từ những nhà máy có thể cải tạo và đã được cải tạo một phần để trang bị cho họ. Kết quả thật không ngờ. Lúc này, Hitler là Thủ tướng, là Chúa tể toàn nước Đức, đã ban bố lệnh chiếm chính quyền nhằm dũng cảm lao tới trước, trên quy mô toàn quốc, cả ở những doanh trại luyện tập và ở các nhà máy, y cảm thấy sảng khoái trong một tư thế vững chắc. Thậm chí y không bận tâm tiếp nhận những đề nghị hào hiệp viển vông nài ép y. Với một thái độ khinh thường, y ra lệnh cho chính phủ Đức rút khỏi cả Hội nghị và cả Hội Quốc Liên.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:16:46 AM

        Thật khó tìm ra một sự việc tương đương với sự thiếu khôn ngoan của chính phủ Anh và tính nhu nhược của chính phủ Pháp; tuy thế, họ cũng phản ảnh ý kiến của Nghị viện mình trong thời kỳ tai hại này. Mà Mỹ cũng không thoát khỏi sự khiển trách của lịch sử. Bị thu hút vào những công việc riêng của mình, vào những quyền lợi, những hoạt động, và những rủi ro rất nhiều của một cộng đồng tự do, họ thường há mồm nhìn những thay đổi rộng lớn đang diễn ra ở Châu Âu, và cho rằng những việc đó không phải là của họ. Lực lượng sĩ quan quan trọng mang tính nhà nghề của Mỹ rất giỏi, được đào tạo nhiều, đã nghĩ ra ý kiến riêng của họ, nhưng những ý kiến này không tác động đáng kể đến thái độ xa lánh không biết lo liệu trước, trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Nếu ảnh hưởng của Mỹ được sử dụng thì có thể kích động các nhà chính trị Anh, Pháp hành động ngay. Hội Quốc Liên vẫn là một tổ chúc có uy tín lớn có nhiệm vụ phải ngăn chặn sự đe dọa chiến tranh mới của Hitler bằng những hình phạt của luật pháp quốc tế. Trong trạng thái căng thẳng này, người Mỹ chỉ nhún vai để rồi trong một vài năm, họ phải đổ máu và tiêu hao tài sản để tự cứu lấy mình khỏi mối hiểm nguy ghê gớm.

        Bảy năm sau, khi ở Tours, tôi chúng kiến nỗi đau khổ cực độ của người Pháp, tất cả sự kiện này còn in trong trí óc, vì thế cho nên thậm chí khi đề cập đến những đề nghị cho một nền hòa bình riêng rẽ, tôi chỉ phát biểu những lời an ủi để làm yên lòng, và tôi vui mừng thấy mình đã nói được những lời như thế.

        Đầu năm 1931, tôi chuẩn bị một cuộc nói chuyện đáng kể ở Hoa Kỳ và tôi đến New-York. Ở đây, tôi bị một tai nạn nghiêm trọng suýt nữa thì mất mạng. Ngày 13 tháng chạp tôi đến thăm ông Bernard Baruch. Khi xuống xe trái đường và đi bộ ngang qua đại lộ thứ 5, tôi không nhớ tới luật đi đường ngược chiều đang lưu hành ở Mỹ, hoặc ánh đèn đỏ, lúc đó không còn sử dụng ở Anh. Thế là xảy ra một sự va chạm choáng người. Trong hai tháng tôi là một người tàn phế. Từng bước một, tôi trở lại Nassau ở Bahamas, bằng đôi chân tê liệt. Trong tình trạng đó, tôi định làm một vòng bốn chục cuộc diễn thuyết khắp nước Mỹ, cả ngày nằm ngửa trong toa xe lửa, tối đến thì nói chuyện với thính giả rộng rãi. Tóm lại tôi cho đây là thời kỳ khó khăn nhất trong đời. Tôi gần như im lặng hoàn toàn cả năm nay, nhung cuối cùng sức khỏe của tôi cũng hồi phục.

        Nhũng năm từ 1931 đến 1935, ngoài sự lo lắng của tôi về công việc chung, là những năm riêng tư hết sức dễ chịu đối với tôi. Tôi kiếm ăn bằng cách đọc cho viết các bài báo được lưu hành rộng rãi không những ở Anh, Mỹ mà còn trong phần nhiều báo chí nổi tiếng ở mười sáu nước châu Âu, trước khi những tờ báo này bị Hitler bố trí người theo dõi và tấn công dữ dội. Thực tế là tôi sống lần hồi. Tôi viết liên tiếp nhiều tập "Cuộc đời của Marlborough". Tôi luôn luôn ngẫm nghĩ về tình hình châu Âu và việc tái vũ trang nước Đức. Chủ yếu tôi sống ở Chartwell, tôi phải giải trí nhiều ở đây. Tôi tự tay xây dụng một phần lớn hai túp nhà tranh và mấy bức tường cho một vườn rau rộng rãi, làm núi non bộ, vòi phun nước, một bể bơi lớn được lọc trong suốt và có thể được đun nóng để bổ sung cho ánh nắng hay thay đổi. Như vậy, từ sáng đến nửa đêm, không có lúc nào tôi buồn nản hay ăn không ngồi rồi, và với gia đình hạnh phúc chung quanh, tôi sống yên ổn trong nơi ở.

        Trong những năm này, nhiều lần tôi gặp Frederic Lindemann, giáo sư thực nghiệm trường Đại học Oxford. Lindermann là một người bạn cũ của tôi. Lần đầu tôi gặp ông vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh trước, trong cuộc chiến tranh này, ông làm cho người ta chú ý bằng việc thao tác trên không một số thí nghiệm cho đến nay thường dành cho những phi công táo bạo, nhằm khắc phục những nguy hiểm, lúc bấy giờ gần như có thể làm chết người, khi làm động tác bổ nhào quay. Chúng tôi càng thân nhau hơn từ năm 1932 trở đi, và ông ta thường đi ô tô khắp noi từ Oxford đến Chartwell và ở lại với tôi. Ở nhà tôi trong thời giờ ít ỏi buổi sáng, chúng tôi nói chuyện nhiều về những nguy cơ hình như đang ập lên đầu chúng tôi. Lindermann, vị "giáo sư", như bề bạn thường gọi, trở thành cố vấn trọng yếu của tôi về các mặt khoa học chiến tranh hiện đại, đặc biệt về công cuộc phòng thủ trên không và cả về những vấn đề bao hàm mọi thứ khoa học thống kê. Sự kết giao thú vị và phong phú này tiếp tục suốt cuộc chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:17:04 AM

        Một bạn thân khác của tôi là Desmond Morton. Năm 1917, khi thống chế Haig bổ nhiệm toàn thể cán bộ giúp việc cho riêng ông, gồm những sĩ quan trẻ vừa mới ở hỏa tuyến, thì Desmond được giới thiệu với ông như là một tinh hoa của khoa nghiên cứu sử dụng pháo. Ngoài bội tinh chiến công, Desmond còn nổi tiếng là người bị bắn xuyên qua tim mà không chết và mãi mãi từ đó, ông sống hạnh phúc với viên đạn trong người. Tôi rất lánh mến và kết bạn với viên sĩ quan lỗi lạc và dũng cảm này. Năm 1919, khi trở thành Bộ trưởng Chiến tranh và Không quân, tôi bổ nhiệm ông ta vào chức vụ then chốt trong ngành tình báo mà ông ta nắm giữ trong nhiều năm. Ông là láng giềng của tôi, ở cách Chartwell chỉ một dặm đường. Ông được thủ tướng MacDonald cho phép nói chuyện thoải mái với tôi và cứ để cho tôi được thông tin đầy đủ. Ông trở thành cố vấn và tiếp tục chức vụ này trong thời gian chiến tranh, cho đến ngày đi tới thắng lợi cuối cùng.

        Tôi cũng làm bạn với Ralph Wigram, lúc bấy giờ là ngôi sao đang lên ở Bộ Ngoại giao và tại trung tâm của tất cả các sự kiện ngoại giao. Ông đã đạt tới một vị trí cao trong bộ này, họ cho ông được quyền phát biểu ý kiến về chính sách, được tự do quyết định một cách rộng rãi trong những cuộc tiếp xúc chính thức và không chính thúc. Ông là người có sức thuyết phục và dũng cảm. Súc thuyết phục của ông dựa trên kiến thúc và suy nghĩ sâu sắc chi phối con người ông. Cũng như tôi, nhưng với tin tức chắc chắn hơn, ông thấy rõ hiểm họa khủng khiếp đang đến gần. Điều này kéo chúng tôi lại với nhau. Chúng tôi thường xuyên gặp nhau tại ngôi nhà nhỏ của ông ở North Street, còn ông và bà Wigram đến lưu lại với chúng tôi ở Chartwell. Như các quan chúc cao cấp khác, ông nói chuyện với tôi một cách hoàn toàn tự tin. Tất cả điều này giúp tôi hình thành ý tưởng và làm cho vững chắc thêm quan điểm của tôi khi nhận định về hành động của Hitler.

        Rất quý cho tôi và có thể cho cả đất nước rằng tôi phải có những biện pháp tìm tòi dẫn đường và những cuộc bàn cãi tỉ mỉ nhiều năm như vậy trong phạm vi rất nhỏ hẹp này. Tuy nhiên về phần tôi, tôi cũng đã thu thập và đóng góp một số lượng thông tin lớn từ các người nước ngoài. Tôi có những cuộc tiếp xúc bí mật với nhiều bộ trưởng Pháp, với những người kế tiếp đứng dầu chính phủ Pháp - Ông Ian Colvin là phóng viên báo The News Chronicle (Tin tức thòi sự) ở Berlin. Ông lao rất sâu vào các hoạt động chính trị của nước Đức, kiến lập những tiếp xúc có tính chất cực kỳ bí mật với một vài tướng lĩnh quan trọng của Đức và cả với những nhân vật riêng rẽ có chí khí, thuộc tầng lớp trên ở Đức. Những người này đã thấy được trong hành động của Hitler, sự đổ nát đang đến gần của Tổ quốc họ. Nhiều người có địa vị cao từ Đức đến gặp tôi, đã thổ lộ tâm tình trong nỗi buồn cay đắng. Phần lớn họ bị Hitler giết trong thời kỳ chiến tranh. Từ những hướng khác, tôi có thể kiểm tra và cung cấp tin tức về toàn bộ trận địa phòng không của chúng tôi. Bằng cách này, tôi được cung cấp tin túc tốt như nhiều bộ trưởng của nhà vua. Tất cả những sự thật tôi thu thập từ các người kể cả những sự giao thiệp với nước ngoài, thỉnh thoảng tôi đều có báo cáo với chính phủ. Quan hệ riêng của tôi với các Bộ trưởng, cũng như với nhiều quan chức cao cấp là thoải mái và bí mật, và mặc dù tôi thường chỉ trích họ, chúng tôi vẫn giữ được một tinh thần bè bạn. về sau tôi được chính thúc bổ nhiệm tham gia vào nhiều kiến thức kỹ thuật bí mật nhất của họ. Do kinh nghiệm lâu ngày của bản thân tôi trong cơ quan tối cao, tôi có được những bí mật quốc gia quý giá nhất. Tất cả điều đó cho phép tôi hình thành và giữ vững những quan điểm, không phụ thuộc vào những gì đăng trên báo, dù các tờ báo này đem lại nhiều tin tức cho một cách nhìn sáng suốt.

        Độc giả thứ lỗi cho tôi với một đoạn văn đi ra ngoài để dành cho cá nhân trong một tâm trạng thư thái.

        Mùa hè năm 1932, nhằm mục đích có thêm tư liệu cho cuốn Life of Marlborough (Cuộc đời của Marlborough) của tôi, tôi đến thăm các chiến trường xưa ở Hà Lan và Đức. Đoàn gia đình chúng tôi kể cả "vị giáo sư" làm một cuộc hành trình thú vị dọc theo đường hành quân nổi tiếng của Marlborough từ Hà Lan đến sông Danube, qua sông Rhine ở Coblenz. Khi đi qua những vùng đẹp đẽ này từ thành phố cổ nổi tiếng này đến thành phố cổ nổi tiêng khác, dĩ nhiên tôi có hỏi về hoạt động của Hitler, tôi nhận thấy đây là vấn đề quan trọng nhất trong tâm trí mọi người Đức. Tôi cảm thấy một bầu không khí tràn đầy ảnh hưởng của Hitler. Sau một ngày đi qua bãi chiến trường của Blenheim, tôi lái xe vào Munkh và sống ở đây ngót một tuần lễ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:17:22 AM

        Tại khách sạn Regina, một người đàn ông tự giới thiệu với vài người trong bọn tôi. Gã là ông Hanfstaengl, nói rất nhiều về "The Fuehrer" mà gã tỏ ra rất quen thuộc. Coi bộ gã là tay ba hoa sôi nổi, nói tiếng Anh thông thạo, tôi bèn mời gã đi ăn. Gã thuật lại một cách lý thú nhất những hoạt động và quan điểm của Hitler. Gã nói say sưa. Chắc hẳn gã được lệnh tiếp xúc với tôi. Rõ ràng gã rất khao khát làm vui lòng. Ăn xong, gã đến đàn piano, chơi và hát nhiều bài một cách xuất sắc đến nỗi tất cả chúng tôi đều hết sức thích thú. Hình như gã biết tất cả các giai điệu của Anh mà tôi ưa thích. Gã là người làm trò mua vui thành thạo, vào thời gian đó, như được biết thì gã là người rất được "The Fuehrer" ưa thích. Gã nói rằng tôi nên gặp ông ấy và không có gì dễ thu xếp hơn. Ông Hitler ngày nào cũng đến khách sạn vào khoảng 5 giờ và chắc nhất định rất lấy làm sung sướng được gặp tôi.

        Lúc này, tôi không có thành kiến dân tộc chống Hitler. Tôi ít biết học thuyết của y, hoặc lý lịch y, cũng không hiểu gì tính cách y. Tôi khâm phục những người ủng hộ Tổ quốc họ trong cảnh bại trận, thậm chí dù tôi ở phía bên kia. Y hoàn toàn có quyền trở thành một người Đức yêu nước nếu y thích. Tôi luôn luôn muốn Anh, Đức, Pháp trở thành bầu bạn. Tuy nhiên trong quá trình trò chuyện với Hanfstaengl, tình cờ tôi hỏi: "Vì sao lãnh tụ của ông hung bạo như vậy đối với người Do Thái? Tôi hoàn toàn hiểu sự tóc giận đối với những người Do Thái đã làm tổn hại hoặc chống lại đất nước, và tôi hiểu việc chống lại nếu họ cố giữ độc quyền quyền lực trong bất cứ lĩnh vục hoạt động nào, nhưng chống lại một người giản đơn là do dòng dõi của họ thì nghĩa là thế nào? Làm thế nào mà biết họ ra đời như thế nào?"

        Chắc gã đã phải nói lại điều này với Hitler, bởi vì vào khoảng trưa ngày hôm sau, gã trở lại có phần nghiêm nghị, cho biết rằng sẽ không có cuộc gặp gỡ giữa tôi và Hitler do gã bố trí, bởi vì Hitler chiều hôm đó không đến khách sạn. Đó là lần cuối cùng tôi hiểu rõ về "Putzi" - biệt danh của gã - mặc dù chúng tôi đã ở nhiều ngày hơn nữa ở khách sạn. Vì thế Hitler mất cơ hội duy nhất của y để gặp tôi. Về sau, khi y có mọi quyền lực, y nhiều lần mời tôi. Nhưng lúc bấy giờ, bận nhiều việc, nên tôi xin lỗi. Suốt thời gian này, nước Mỹ vẫn còn rất bận rộn với những sự việc dữ dội trong nước và các vấn đề kinh tế. Châu Âu và nước Nhật xa xôi bình tĩnh chăm chú theo dõi cường quốc Đức hiếu chiến đang thăng tiến. Sự lo lắng ngày càng tăng tại các nước Bắc Âu, tại các nước Liên minh nhỏ gồm ba nước Tiệp Khắc, Nam Tư, Rumani và tại một vài nước vùng Balkan. Nỗi lo âu sâu sắc thể hiện ở Pháp, tại đây dư luận rộng rãi đã nhận ra các hoạt động của Hitler và những sự chuẩn bị của Đức. Tôi được biết một bản liệt kê những vi phạm nghiêm trọng các hiệp ước ở múc độ rộng, nhung khi tôi hỏi các bạn Pháp vì sao không nêu vấn đề này trước Hội Quốc Liên, nước Đức phải được mời đến, thậm chí cuối cùng phải bị gọi đến để giải thích hành động của họ và tuyên bố họ đang làm gì. Thì tôi được trả lời rằng chính phủ Anh thường không tán thành một biện pháp gây hốt hoảng như vậy. Vì thế trong lúc ông MacDonald, cùng toàn bộ quyền lực của ông Baldwin, khuyên người Pháp tái cắt giảm binh bị, thì người Đức có thể trưởng thành nhảy vọt, và thời điểm cho họ hành động công khai đã tới gần.

        Để có thái độ công bằng với Đảng Bảo thủ, phải kể ra rằng ở mỗi cuộc họp của cộng đồng quốc gia, các đoàn thể bảo thủ, từ năm 1932 về sau, những nghị quyết ủng hộ một sự củng cố lập tức lực lượng vũ trang, nhằm đương đầu với mối hiểm nguy đang tăng lên từ bên ngoài, đều được thông qua hầu như nhất trí. Nhưng quyền năng của nghị viện do nhóm nghị sĩ phụ trách tổ chức của chính phủ tại hạ viện lúc ấy có hiệu lực như thế, vậy mà ba đảng trong chính phủ cũng như phe đối lập công đảng đã chìm đắm, hôn mê, đui mù đến nỗi những lời cảnh báo của các thuộc cấp của họ trong nước cũng như những dấu hiệu qua các thời kỳ và chứng cứ của cơ quan mật vụ thảy đều vô ích. Đây là một trong những thời kỳ đáng kinh sợ lại tái diễn trong lịch sử, khi quốc gia Anh huy hoàng dường như sụp đổ do tình trạng kiêu căng, mất đi mọi thể hiện khôn ngoan hoặc tính quả quyết, và có vẻ co rúm lại trước hiểm họa từ nước ngoài và hăng say với những lời lẽ vô vị rỗng tuếch hiền lành trong khi kẻ thù đang rền đúc vũ khí.

        Trong thời kỳ đen tối đó, những lãnh tụ có trách nhiệm của các đảng phái chính trị, hoan nghênh hoặc thông qua, không bác bỏ những tình cảm hèn hạ nhất. Năm 1933, theo cảm hứng của ông Joad, sinh viên Câu lạc bộ và Hội tranh luận thông qua nghị quyết một cách đáng hổ thẹn "Rằng Nghị viện này sẽ không bao giơ chiến đấu cho nhà vua và Tổ quốc họ". Thật dễ dàng cười xòa trước một tình tiết như vậy ở Anh, nhưng ở Đức, Nga, Ý, Nhật, ý nghĩa về một nước Anh suy đồi, thoái hóa bén rễ sâu và tác động đến nhiều tính toán cân nhắc. Những sinh viên ngu xuẩn này hành động không nhiều, đã thông qua nghị quyết đó, tưởng rằng số mệnh đã định là chẳng bao lâu nữa họ chiến thắng hoặc ngã xuống trong cuộc chiến tranh xảy ra sau đó và chứng tỏ mình là thế hệ giỏi nhất từ trước đến giờ được nuôi dưỡng ở Anh. Có thể ít tìm thấy được lý do để bào chữa cho các bậc huynh trưởng của họ là những người không có cơ hội tự cứu vãn bằng hành động.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:17:45 AM
   
*

        Trong lúc sự biến đổi đáng sợ này về khả năng chiến tranh tương đối của các nước thắng trận và bại trận đang diễn ra ở Châu Âu, thì sự thiếu phối họp giữa những nước không xâm lược và yêu chuộng hòa bình cũng đã biểu lộ ở Viễn Đông. Chuyện này tạo thành một bên đối tác với các sự kiện diễn biến tai hại ở châu Âu, và phát sinh từ cùng một tình trạng tê liệt trong suy nghĩ và hành động giữa các nhà lãnh đạo với nhau của các nước Đồng minh trước kia và sau này.

        Trận bão tuyết kinh tế từ năm 1929 đến 1931 đã ảnh hưởng đến Nhật và không kém trong phần còn lại của thế giới. Từ năm 1914 dân số Nhật tăng từ 50 đến 70 triệu. Các xưởng luyện kim tăng từ 50 đến 140. Giá sinh hoạt tăng đều. Sản xuất gạo không thay đổi, gạo nhập khẩu đắt. Nhu cầu nguyên liệu và thị trường ngoài nước rất cấp bách. Trong tình trạng trì trệ dữ dội ở Anh và 40 nước khác, như những năm qua, ngày càng nhận thấy phải áp dụng những hạn chế hoặc biểu thuế quan chống lại hàng Nhật được sản xuất trong điều kiện lao động không liên quan đến những tiêu chuẩn của châu Âu hoặc Mỹ. Trung Quốc hơn bao giờ hết là thị trường xuất khẩu bông sợi và hàng công nghiệp khác, và hầu như là nơi cung cấp duy nhất than và sắt cho Nhật. Do đó việc đòi quyền hành trên khắp Trung Quốc trở thành đề tài chủ yếu trong chính sách của Nhật.

        Tháng chín năm 1931, viện cớ mất trật tự cục bộ, người Nhật chiếm Mukden và khu vục đường sắt Mãn Châu. Tháng giêng năm 1932, họ đòi giải tán tất cả các hiệp hội Trung Quốc có tính chất chống Nhật. Chính phủ Trung Quốc từ chối, và ngày 28, Nhật đổ bộ lên phía bắc Tô giới quốc tế ở Thượng Hải. Nhân dân Trung Quốc kháng chiến anh dũng, và mặc dù không có máy bay hay súng chống tăng hoặc vũ khí hiện đại nào, họ đã giữ vững cuộc kháng chiến được hơn một tháng. Cuối tháng hai, sau những tổn thất rất nặng nề, họ buộc phải rút khỏi vị trí phòng thủ trong vịnh Wu-Sung, lui về đóng quân tại các vị trí khoảng 12 dặm sâu trong nội địa. Đầu năm 1932 Nhật thành lập chính quyền bù nhìn Mãn Châu, một năm sau thì sáp nhập tỉnh Jehol của Trung Quốc vào xứ này. Và quân Nhật đã đi sâu vào những vùng không được phòng thủ và tới Vạn Lý Trường Thành. Hành dộng xâm lược này phù họp với sự phát triển sức mạnh của Nhật ở Viễn Đông và vị trí hải quân mới của họ trên biển.

        Từ phát đạn đầu tiên, hành động tàn bạo chống Trung Quốc khuấy động sự chống đối mạnh mẽ nhất ở Mỹ. Nhưng chính sách biệt lập là đòn xóc hai đầu. Phải chăng là thành viên của Hội Quốc Liên, lẽ ra Mỹ đã từng là nước ủy trị chủ yếu của Nhật, có thể chắc chắn khiến cho Hội đồng này cùng hành động chống Nhật, Về phần mình, chính phủ Anh tỏ ra không muốn một mình hành động với Mỹ, cũng không muốn bị lôi kéo vào cuộc đối đầu với Nhật xa hơn nữa những nhiệm vụ của họ theo hiến chương của Hội Quốc Liên. Trong một số giới ở Anh, có cảm giác phiền muộn về việc mất liên minh với Nhật làm suy yếu vị trí của Anh đối với mọi quyền lợi đã được xác lập từ lâu của mình ở Viễn Đông. Nếu trong tình trạng lúng túng tài chính nghiêm trọng đang phát triển ở châu Âu của mình, chính phủ Hoàng gia không tìm kiếm một vai trò nổi bật bên cạnh Mỹ ở Viễn Đông mà không có chút hy vọng nào về sự ủng hộ tương ứng của Mỹ ở châu Âu, thì chính phủ Hoàng gia có thể bị khiển trách nghiêm khắc.

        Tuy không đóng niên phí cho Hội Quốc Liên, Trung Quốc vẫn là thanh viên của Hội, họ chỉ khẩn khoản yêu cầu Hội sự công bằng mà thôi. Ngày 30 tháng 9 năm 1931, Hội Quốc Liên kêu gọi Nhật Bản rút ra khỏi Mãn Châu. Tháng chạp, một ủy ban được thành lập để lãnh đạo cuộc điều tra tại chỗ. Hội Quốc Liên giao cho bá tước Lytton, con cháu đáng kính của một dòng dõi tài năng, làm chủ tịch ủy ban. Với tư cách là thủ hiến bang Bengal và là phó vương của Ấn Độ, ông có kinh nghiệm nhiều năm ở phương Đông. Bản báo cáo được nhất trí là một tài liệu đáng lưu ý, làm cơ sở cho việc nghiên cứu nghiêm túc cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Toàn bộ bối cảnh sự việc Mãn Châu được trình bày kỹ lưỡng. Nhũng kết luận rút ra là rõ ràng. Mãn Châu quốc là một tác phẩm giả tạo của Bộ tổng tham mưu Nhật, nguyện vọng của dân chúng không đóng vai trò gì trong việc hình thành chính quyền bù nhìn này. Trong báo cáo, ngài Lytton và các đồng sự không chỉ phân tích tình hình mà còn nêu ra những đề nghị cụ thể cho một giải pháp quốc tế. Nhũng đề nghị này là tuyên bố ủng hộ một xứ Mãn Châu tự trị. Nó vẫn là một bộ phận của Trung Quốc dưới sự bảo trợ của Hội Quốc Liên, và tất nhiên phải có một hiệp ước toàn diện điều hòa quyền lợi của Trung Quốc và Nhật ở Mãn Châu. Việc Hội Quốc Liên không thể khai thác những đề nghị này tuyệt nhiên không làm giảm giá trị báo cáo của ông Lytton. Tháng hai năm 1939 Hội Quốc Liên tuyên bố không thể thừa nhận nước Mãn Châu. Mặc dù không có sự trừng phạt bắt Nhật phải chịu, cũng không có hành động nào khác được thực hiện, ngay sau đó. Nhật rút ra khỏi Hội Quốc Liên. Đức và Nhật vốn là hai bên đối nghịch trong chiến tranh, nay thì họ nâng cốc chức sức khỏe cho nhau trong một tâm trạng khác. Quyền lực tinh thần của Hội Quốc Liên tỏ ra không có một sự ủng hộ vật chất nào, vào lúc mà hoạt động và sức mạnh của họ cần thiết nhất.

*

        Chúng ta phải coi sự chỉ đạo không chỉ của chính phủ liên hiệp Anh, và chủ yếu là của chính đảng Bảo Thủ, và của các Đảng Công đảng - Xã hội và Tự do trong thời kỳ này là đáng khiển trách sâu sắc trước lịch sử. Vui thích với những lời nói vô vị ngọt xót trống rỗng, khước từ đương đầu với những sự việc đáng ghét them muốn tiếng tăm và thắng lợi bầu cử, bất chấp quyền lợi sống còn của quốc gia, thành thật yêu hòa bình và tin tưởng một cách tệ hại rằng lòng yêu này có thể là căn cứ duy nhất của hòa bình, sự thiếu năng lực trí tuệ rõ ràng của cả hai vị lãnh tụ của chính phủ liên hiệp Anh, sự ngu dốt rõ rệt về châu Âu, và có ác cảm với những bài toán của nó ở ông Baldwin, chủ nghĩa hòa bình nặng nề và quá đáng lúc bây giơ chi phối Công đảng-Xã hội, sự sùng bái hoàn toàn của những đảng viên tự do đối với tình cảm, không đếm xỉa đến thực tế, sự thất bại và nguy hiểm hơn là sự thất bại của ông Lloy George, vị lãnh tụ vĩ đại thời chiến tranh xa xưa nhằm toàn tâm toàn ý cho công việc được liên tục, tất cả được đa số áp đảo ở cả hai viện ủng hộ: tất cả những điều này là hiện thân của sự ngu ngốc vô trách nhiệm của Anh, dù không có thủ đoạn xảo trá, cũng không phải là không có tội, và dù không độc ác hay mưu đồ xấu xa, sự ngu ngốc vô trách nhiệm này cũng đóng một vai trò rõ ràng là buông lòng cuộc đấu tranh chống lại muôn ngàn cảnh khủng khiếp và bất hạnh mà loài người từng trải đã không so sánh nổi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:21:12 AM

5
       
CẢNH TỐI TĂM, NĂM 1934

        Việc Adolf Hitler nhận chức Thủ tướng năm 1933 không được La Mã nhiệt tình đón nhận. Chủ nghĩa Quốc xã xem như bản phóng tác thô thiển và trở thành hung ác của chủ đề Phát xít. Tham vọng về một Đại Đức hướng vào Áo và vào Đông Nam châu Âu đã rõ. Mussolini thấy trước rằng trong cả hai vùng này, quyền lợi của Ý đều không trùng khớp với quyền lợi của nước Đức mới. Mà phải chăng ông ta cũng không nóng lòng chờ xác nhận.

        Chiếm lấy Áo cho Đức là một trong những tham vọng được ấp ủ nhất của Hitler. Trang đầu cuốn Mein Kampf1 có câu: "Nước Áo nói tiếng Đức phải trở về với Tổ Quốc Đại Đức”. Cho nên từ lúc lên cầm quyền tháng giêng năm 1933, chính phủ Đức Quốc xã đã dòm ngó Vienna, cho đến bây giờ, Hitler không thể đụng chạm đến Mussolini mà quyền lợi ở Áo đã được công bố ầm ĩ. Thậm chí lúc bấy giờ, do còn yếu về mặt quân sự, Đức phải thận trọng bí mật xâm nhập từng tổ. Tuy nhiên sức ép đối với Áo bắt đầu trong mấy tháng đầu. Những đòi hỏi liên tục đối với chính phủ Áo nhằm thúc ép đưa đảng viên Đảng Quốc Xã tay sai Áo vào nội các và các chức vụ then chốt của chính quyền. Đảng viên Quốc xã Áo được huấn luyện trong quân đoàn Áo tổ chức ở Bavaria. Nhũng cuộc đánh bom tàn bạo trên các đường sắt và ở các trung tâm du lịch, việc máy bay Đức rải truyền đơn trên vùng Salzburg và Innsbruck làm náo động cuộc sống hàng ngày của nước Cộng hòa. Thủ tướng Áo Dollfuss, bị sức ép của Đảng Xã hội bên trong và mưu đồ bên ngoài của Đức chống lại nền độc lập của Áo. Mà cũng không chỉ có mối đe dọa này với Áo. Theo gương xấu của những người láng giềng Đức, các đảng viên Xã hội Áo cũng xây dụng một quân đội riêng, không chịu nghe theo quyết định của cuộc bỏ phiếu, cả hai hiểm họa hiện ra lờ mờ đối với Dollfuss trong năm 1933. Hướng duy nhất ông ta có thể tìm đến để nhờ ủng hộ và từ đó ông được bảo đảm viện trợ là nước Ý phát xít.

        Tháng tám, ông gặp Mussolini ở Riccione. Họ đạt được một thỏa thuận chính trị bí mật riêng với nhau. Dollfuss tin rằng nhất định Ý giữ thái độ trung lập, cảm thấy đủ chắc chắn để hành động chống lại một đám đối thủ của mình là những người Xã hội Áo.

        Tháng giêng năm 1934. cố vấn chính phủ của Mussolini về công tác đối ngoại, đi thăm Vienna như là một cử chỉ cảnh cáo Đức, tuyên bố rằng Ý công khai ủng hộ nền độc lập của Áo. Ba tuần sau, chính phủ Dollfuss hành động chống các tổ chức của Đảng Xã hội ở Vienna. The Heimwehr2 dưới quyền thiếu tá Fey, thuộc đảng của chính ông Dollfuss, được lệnh tước vũ khí của tổ chức tương đương và cũng là bất hợp pháp của những người Xã hội Áo. Bọn này chống lại quyết liệt, ngày 12 tháng 2 đánh nhau trên đường phố thủ đô, chỉ trong mấy giờ, lực lượng quân sự của những người Xã hội bị bẻ gãy. Sự kiện này không những làm cho Dollfuss càng thân Ý hơn, mà con làm cho ông ta vững thêm trong giai đoạn mới của nhiệm vụ chống lại sự thâm nhập và âm mưu của Đảng Quốc xã. Mặt khác, nhiều người trong số đảng viên Xã hội và Cộng sản bị đánh bại lại quay sang phe Quốc xã trong nỗi niềm cay đắng. Ở Áo cũng như ở Đức, mối hận thù của những người Xã hội - Thiên chúa giáo đã giúp cho các đảng viên Quốc xã có nhiều thuận lợi.

*

        Cho đến giũa năm 1934, chính phủ Hoàng gia vẫn còn chủ yếu kiểm soát các sự kiện mà không có nguy cơ chiến tranh. Bất cứ lúc nào, phối hợp với Pháp và qua trung gian Hội Quốc Liên, chính phủ cũng có thể dùng quyền lực áp đảo gây sức ép đối với hành động của Hitler. Nước Đức bị chia rẽ sâu sắc về vấn đề này. Việc đó đã dẫn đến không đổ máu. Nhung rồi giai đoạn này đã trôi qua. Một nước Đức được vũ trang dưới quyền chỉ huy của Đảng Quốc xã đang tới gần. Vậy mà, dù điều này dường như không thể tin được, mãi tới năm rất quan trọng này, ông MacDonald, được vũ trang bằng thế lực chính trị của ông Baldwin, còn tiếp tục hoạt động cho việc cắt giảm quân bị của nước Pháp. Quả thực có một cảm giác thoáng qua về sự đoàn kết của châu Âu chống lại mối đe dọa của nước Đức. Ngày 17 tháng 2 năm 1934, các chính phủ Anh, Pháp, Ý ra tuyên bố chung về việc duy trì nền độc lập của Áo, và một tháng sau, Ý, Hungari và Áo ký cái gọi là Nghị định thư Rome, chuẩn bị đầy đủ cho việc tham khảo lẫn nhau trong trường họp có sự đe dọa với bất cứ bên nào trong ba bên. Nhưng Hitler đang ngày dần trở thành mạnh hơn một cách vững chắc và vào tháng 5 và tháng 6, các hoạt động lật đổ tăng lên khắp nước Áo. Dollfuss lập tức gửi báo cáo về những hành động khủng bố này đến Suvich bằng một công hàm, lấy làm tiếc về tác động của những hành động này nhằm làm yếu nền thương mại và du lịch của Áo.

        Với hồ sơ này trong tay, ngày 14 tháng 6 Mussolini đến Venice để gặp Hitler lần đầu tiên. Thủ tướng bước ra máy bay trong chiếc áo mua màu nâu, đội mũ Homburg trong bộ đồng phục của phát xít lấp lánh huy hiệu lãnh tụ chói lợi bệ vệ phía trước. Khi Mussolini nhìn thấy ông khách, Mussolini nói thầm với viên sĩ quan hầu cận: "Mình không thích bộ mặt hắn". Tại cuộc gặp mặt kỳ lạ này, chỉ có một sự trao đổi chung chung về kế hoạch hành động, với những bài nói chuyện qua lại về hiệu lực của chế độ độc tài dựa trên mô hình Đức và Ý. Mussolini rõ ràng lúng túng với cách ăn nói của ông khách, ông ta tóm tắt cảm tưởng cuối cùng của mình bằng những từ này: "Một lão thầy tu ba hoa". Tuy vậy ông ta cũng phải giành được một vài đảm bảo giảm nhẹ sức ép của Đức chống Dollfuss. Ciano, con rể của Mussolini, sau cuộc gặp đó, đã nói với các nhà báo: "Các ông rồi sẽ thấy. Sẽ không có gì xảy ra".

        Nhưng sự tạm ngừng hoạt động của Đức sau đó, không phải do lời kêu gọi của Mussolini mà vì Hitler bận tâm với những công việc riêng trong nước của mình.

---------------
        1. Mein Kampf: Cuộc chiến đấu của tôi.

        2. The Heimwehr: lục lượng phòng vệ của Áo.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:21:58 AM

*

        Việc giành được quyền lực đã mở ra sự bất đồng sâu sắc giũa The Fuehrer (lãnh tụ) và nhiều người đã ủng hộ y tiến lên. Dưới sự lãnh đạo của Roehm, lực lượng xung kích ngày càng tiêu biểu cho yếu tố cách mạng hơn trong đảng. Họ là những đảng viên cao cấp, như Gregor Strasser hăng hái với cách mạng xã hội, lo ngại rằng khi ở cương vị hàng đầu, Hitler tất bị hệ thống cấp bực hiện có, The Reichswehr, các ông chủ ngân hàng, các nha tư bản công nghiệp, dễ dàng thao túng. Y hẳn không phải là lãnh tụ đầu tiên từ bỏ những người bạn đã giúp mình bước lên địa vị cao quý tột đỉnh. Còn đối với đám binh nhì của lực lượng xung kích (đảng viên Quốc xã) thì thắng lợi tháng giêng năm 1933 còn có nghĩa là sự tự do cướp bóc không những người Do Thái và bọn đầu cơ trục lợi mà cả những tầng lớp khá giả đã ổn định trong xã hội. Tiếng đồn về một vụ phản bội lớn do người lành đạo của họ chẳng mấy chốc bắt đầu lan truyền trong một số giới nào đó trong đảng. Tham muu trưởng

        Roelm tích cục hành dộng theo sự thôi thúc này. Tháng giêng năm 1933, lục lượng xung kích đã là 400.000 người. Mùa xuân năm 1934, ông tuyển mộ được và tổ chức gần ba triệu người. Trong hoàn cảnh mới của mình, Hitler lấy làm lo lắng về sự phát triển của bộ máy khổng lồ này. Trong lúc tuyên bố trung thành nồng nhiệt với y, hầu hết gắn bó sâu sắc với y, bộ máy này đang bắt đầu vuột khỏi sự chỉ huy riêng của chính y. Cho đến lúc này, y đã sở hữu một đội quân riêng. Gib đây y lại được một đội quân quốc gia. Y không có ý đổi cái này lấy cái kia, mà y muốn cả hai, sử dụng cái này kiềm chế cái kia khi tình thế đòi hỏi. Vì vậy, y phải đối phó với Roehm. "Tôi kiên quyết đàn áp nghiêm khắc bất cứ mưu toan nào nhằm lật đổ trật tự hiện hữu". Trong lúc này, y tuyên bố với các viên chỉ huy lực lượng xung kích "Tôi sẽ tích cực cứng rắn chống lại một làn sóng cách mạng thứ hai, bởi vì nó tất yếu kéo theo sự hỗn loạn không tránh khỏi. Kẻ nào ngóc đầu dậy chông lại chính quyền quốc gia đã thiết lập, sẽ bị đối xử nghiêm khắc, dù ở chức vụ nào".

        Mặc dù nghi ngơ, Hitler không dễ dàng tin chắc vào sự phản bội của người đồng chí của y trong cuộc nổi dậy ở Munich, trong bảy năm gần đây dã từng là tham mưu trưởng đạo quân áo nâu của y. Tháng chạp năm 1933, khi sự thống nhất đảng với nhà nước được công bố thì Roehm trở thành thành viên nội các Đức. Một trong những kết quả của sự liên hiệp đó là sự sáp nhập đội quân áo nâu vào The Reichswehr. Việc tái vũ trang quốic gia tiến bộ nhanh chóng buộc phải đặt vấn đề địa vị và quyền chỉ huy tất cả các lục lượng vũ trang Đức vào hàng đầu các hoạt động chính trị. Tháng 2 năm 1934, ông Eden đến Berlin, trong quá trình đàm luận, Hitler tạm thời đổng ý một số bảo đảm về tính chất phi quân sự của lục lượng xung kích. Roehm vẫn xích mích với tướng Von Blomberg, tổng tham mưu trưởng, ông ta sợ hy sinh quân đội của đảng mà ông đã bỏ nhiều năm xây dựng, và mặc dù những lời cảnh cáo dối với cách cư xử nghiêm trọng của ông, ngày 18 tháng 4 ông cũng công bố một lời thách thức rõ ràng:

        "Cuộc cách mạng chúng ta tiến hành không phải là cuộc cách mạng quốc gia, mà là cuộc cách mạng xã hội. Chúng ta thậm chí phải nhấn manh hai chữ "xã hội" sau cùng. Thành lũy duy nhất hiện hữu chống phản động là các đội xung kích của chúng ta, bởi vì họ là hiện thân hoàn toàn lý tưởng cách mạng. Từ ngày đầu, người chiến sĩ áo nâu đã cam kết đi theo con đường cách mạng và anh ta sẽ không sai huống chút nào cho đến khi mục tiêu cuối cùng của chúng ta được hoàn thành".

        Dịp này ông bỏ đi khẩu hiệu: "Hitler muôn năm" đã từng là kết luận không thay đổi trong các bài diễn thuyết của đội quân Áo nâu.

        Trong suốt cả tháng 4 và tháng 5, Blomberg liên tiếp phàn nàn với Hitler về hoạt động và thái độ láo xược của lực lượng xung kích. Nếu Hitler phải lựa chọn giữa các tướng ghét y và những tên ác ôn áo nâu mà y đã chịu ơn rất nhiều, thì y lựa chọn các tướng. Đầu tháng sáu, trong một cuộc nói chuyện 5 giờ, Hitler cố gắng lần cuối cùng để hòa giải và đi đến giao hảo với Roehm. Nhưng với con người cuồng tín khác thường này bị tham vọng giày vò, không thể có thỏa hiệp. Giữa nước Đại Đức thần bí có tôn ti trật tự mà Hitler mơ tưởng và quân đội nhân dân của nước cộng hòa vô sản mà Roehm mong ước là một hố ngăn cách không thể vượt qua.

        Trong cơ cấu tổ chức của lực lượng Áo nâu, hình thành một lực lượng nhỏ tinh nhuệ được huấn luyện tốt, mặc đồng phục đen và được gọi là đội s.s, hoặc về sau được gọi là đội quân áo đen. Những đơn vị này dùng để bảo vệ cá nhân The Fuehrer và đảm nhiệm những nhiệm vụ bí mật đặc biệt do Heinrich Himmler nguyên là một chủ trại gà vịt thất bại, chỉ huy. Thấy trước sự bất đồng nghiêm trọng sắp xảy ra giữa Hitler và quân đội một bên và giữa Roehm và đội quân áo nâu một bên, Himmler thận trọng đưa lực lượng s.s vào phe Hitler. Mặt khác, Roehm có những người ủng hộ có ảnh hưởng lớn trong đảng như Gregor Strasser, những người này hiểu rõ những kế hoạch tàn bạo của họ đối với cách mạng xã hội đang bị loại ra một bên. The Reichswehr cũng có những kẻ chống đối. Cựu Thủ tướng Von Schleicher không bao giơ quên chuyện bị mất chức tháng giêng năm 1933 và thất bại của các viên chỉ huy quân đội trong việc chọn ông làm người kế tục Hindenburg. Trong cuộc va chạm giữa Hitler và Roehm, Schleicher gặp một thời cơ. ông ta khá khinh suất khi nói bóng gió với Đại sứ Pháp ở Berlin rằng Hitler sắp sụp đổ. Việc này lặp lại hành động của ông ta về trường hợp của Bruening. Nhưng thời kỳ nay đã trở nên nguy hiểm hơn trong một thời gian dài sẽ còn tranh cãi ở Đức, hoặc Hitler buộc phải đầu hàng do âm mưu của Roehm sắp xảy ra, hoặc y và các tướng lo sợ điều gì có thể sắp xảy ra, quyết định một cuộc thanh trừng gọn, trong lúc họ còn nắm quyền lực. Sự quan tâm của Hitler và của bè cánh thắng cuộc rõ ràng nhằm kiến lập tình thế cho một âm mưu. Không chắc Roehm và lực lượng Áo nâu đã thực sự nắm được đến nơi đến chốn việc này. Họ đe dọa hơn là âm mưu, nhưng bất kỳ lúc nào, ranh giới này cũng có thể bị vượt qua. Chắc họ đang dàn lục lượng. Cũng chắc là họ bị chặn trước.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:22:52 AM

        Bây giờ các sự kiện diễn biến nhanh chóng. Ngày 25 tháng 6 Reichswehr không được phép ra khỏi doanh trại, và quân Áo đen được phân phát quân trang quân dụng. Đáp lại lực lượng Áo nâu được lệnh sẵn sàng, và Roehm, ngày 30 tháng 6, với sự ưng thuận của Hitler, triệu tập một cuộc họp tất cả các viên chỉ huy tối cao của họ, tại WiesSfee trong vùng hồ Bavaria. Ngày 29 Hitler được báo trước về mối nguy hiểm nghiêm trọng. Y bay đến Godesberg gặp Goebbels, ông này đua ra những tin túc đáng lo ngại về cuộc binh biến sắp xảy ra ở Berlin. Theo Goebbels thì sĩ quan phụ tá của Roehm là Karl Emst, được lệnh cố gắng làm một cuộc nổi dậy. Điều này dường như không chắc có thực.

        Thục ra Emst đang ở cảng Bremen chuẩn bị lên tàu đi hưởng tuần trăng mật.

        Cơ sở vào nguồn tin này, thực hay giả, Hitler có những quyết định ngay tức khắc. Y lệnh cho Goering nắm quyền chỉ huy ở Berlin. Y đáp máy bay đi Munich quyết định đích thân bắt các đối thủ chủ yếu. Trong tình thế sống chết lúc bấy giờ, y tỏ ra là một con người dễ sợ. Chìm đắm trong ý nghĩ đen tối, suốt ngày y ngồi vào ghế người lái phụ. Máy bay hạ cánh ở một sân bay gần Munich lúc 4 giơ sáng ngày 30 tháng 6. Đi cùng Hitler, ngoài Goebbels, có chừng một tá vệ sĩ riêng. Y đi xe về tòa nhà màu nâu ở Munich, triệu tập các viên chỉ huy lực lượng xung kích địa phương đến gặp y và bắt đầu giữ họ lại. Đến 6 giờ, cùng với Goebbels và đội hộ tống không nhiều của y, y đi xe hơi đến Weissee.

        Mùa hè năm 1934, Roehm bị bệnh và đi chữa ở Weissee. Bảy giờ đoàn xe của The Fuehrer đến trước biệt thự của Roehm. Hitler, tay không, một mình lên gác vào buồng ngủ của Roehm. Điều gì xảy ra giữa hai người sẽ chẳng bao giờ được biết. Roehm hoàn toàn bất ngờ, ông ta và ban tham mưu riêng của ông đều bị bắt mà không xảy ra xô xát. Nhóm nhỏ người này cùng với tù binh của họ bây giờ lên đường đi Munich. Chẳng mấy chốc, họ tình cờ gặp một đội xe tải chở quân Áo nâu được vũ trang đang trên đường đi hoan nghênh Roehm tại cuộc hội nghị được triệu tập ở Weissee vào buổi trưa. Hitler bước ra khỏi xe, gọi viên sĩ quan chỉ huy và với uy quyền hống hách, ra lệnh cho hắn phải kéo quân trở về. Hắn lập túc tuân lệnh. Nếu chậm hơn hay sớm hơn một giờ thì tất hậu quả sẽ theo một chiều hướng khác.

        Đến Munich, Roehm và đám tùy tùng của ông bị giam vào nhà tù mà trước đây mười năm ông và Hitler đã từng bị câu lưu ở đó. Chiều hôm đó cuộc hành quyết bắt đầu. Một khẩu súng lục để trong xà lim Roehm, nhung ông coi thường chuyện gợi ý này, nên sau đó cửa xà lim được mở ra trong mấy phút và ông bị bắn nhiều vết đạn. Cả buổi chiều hôm đó, cuộc hành quyết tiếp diễn ở Munich theo từng thời gian ngắn. Những tiểu đội xử bắn tám người thỉnh thoảng phải đổi vì tâm trạng căng thẳng của họ. Nhưng trong nhiều giờ, cứ chừng mỗi mươi phút, người ta lại nghe đều đặn những loạt đạn.

        Trong khi đó, ở Berlin, nhận được tin của Hitler, Goering cũng theo một thủ tục tương tự. Nhưng ở đây, tại thủ đô, sự tàn sát lan ra vượt quá hệ thống cấp bậc của lực lượng xung kích. Schleicher và vợ, bà này lao tới trước chồng, cả hai đều bị bắn tại nha. Gregor Strasser bị bắt và bị giết. Thư ký riêng và giới thân cận của Papen cũng bị bắn. Nhưng không hiểu vì một lý do gì, ông lại được tha chết. Trong doanh trại Lichterfelde ở Berlin, Karl Ernst cũng bị giết sau khi bắt ở Bremen. Ở đây, cũng như ở Munich, cả ngày người ta đều nghe hàng loạt đạn của bọn đao phủ. Khắp nước Đức trong hai mươi bốn giơ này nhiều người không liên quan gì đến âm mưu của Roehm cũng bị biến mất như là nạn nhân của sự trả thù riêng, lắm lúc do những mối thù từ đời nào. Tổng số người bị thủ tiêu ước lượng từ năm đến bảy nghìn người.

        Mãi đến chiều ngày đẫm máu đó Hitler mới bay về Berlin. Tối hôm đó, một số nhân viên s.s.1 quá hăng hái, đi hơi xa trong việc bắn giết tù, tự họ cũng ra tay tàn sát. Khoảng một giơ sáng ngày mồng một tháng bảy, tiếng súng mới chấm dứt. Hitler xuất hiện muộn hơn trên ban công phủ Thủ tướng để nhận những tiếng tung hô của công chúng Berlin. Nhiều người trong họ tưởng y đã là một nạn nhân. Một số thấy y phờ phạc, một số khác lại thấy y vui mừng đắc thắng. Đúng ra y có cả hai sắc thái đó. Sự mau lẹ và sự tàn nhẫn của y đã cứu nguy mục đích của y và không nghi ngờ gì nữa cả mạng sống của y. Trong "Night of the Long Knives" (Đêm hận thù kéo dài) này, như người ta gọi, sự thống nhất của đảng Quốc xã Đức được duy trì để gieo tai họa ra khắp thế giới.

        Tuy nhiên có thể giải thích cuộc tàn sát này là do những lực lượng ghê tởm đang hoạt động, nó chứng tỏ rằng người chủ mới của nước Đức không từ một thủ đoạn nào, và tình hình này ở Đức không giống với tình hình ở một nước văn minh. Một chế độ độc tài dựa vào khủng bố và sặc mùi máu để phải đương đầu với cả thế giới. Chủ nghĩa bài Do Thái là tàn bạo và vô liêm sỉ, và hệ thống trại tập trung đã hoạt động ở mức độ cao nhất cho mọi giai cấp đáng ghét hoặc bất đồng ý kiến về chính trị. Tôi lấy làm xúc động sâu sắc trước sự kiện này và toàn bộ quá trình tái vũ trang nước Đức với nhiều bằng chứng lúc bấy giờ, đối với tôi nó dường như được khoác lên một vẻ tàn nhẫn khủng khiếp, vẻ tàn nhẫn khủng khiếp này cứ hằn lên chát chúa.

----------------
        1. S.S: Đơn vị gần như là quân đội của đảng Quốc xã, được sử dụng như cảnh sát đặc biệt. Họ còn được gọi là quân Áo đen.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười Hai, 2018, 09:31:01 AM

*

        Đầu tháng 7 năm 1934, nhiều người qua lại liên miên trên các con đường mon trên núi từ Bavaria đi vào lãnh thổ Áo. Cuối tháng, một người Đức đưa thư bị cảnh sát biên cảnh Áo bắt được. Hắn mang tài liệu và cả chìa khóa mật mã, đã cho thấy một kế hoạch nổi loạn đầy đủ đang triển khai. Người tổ chức đảo chính là Anton Von Rintelen lúc ấy là Công sứ Áo ở Ý. Dollfuss và các bộ trưởng của ông chậm phản ứng đối với những lời cảnh báo về một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra, và đối với những dấu hiệu về một cuộc nổi loạn đến nơi rõ rành rành trong những giờ đầu ngày 25 tháng 7. Trong buổi sáng, đảng viên Quốc xã ở Vienna được huy động. Trước lúc một giờ chiều, một toán phiến loạn được vũ trang tiến vào phủ Thủ tướng, Dollfuss bị bắn trúng bằng hai viên đạn súng lục, bị bỏ mặc, mất máu dần rồi chết. Một phân đội Quốc xã khác chiếm đài phát thanh báo tin chính phủ Dollfuss đầu hàng và Rintelen nhận nhiệm vụ. Nhưng những thành viên khác của nội các Dollfuss ra sức kiên quyết chống lại. Tổng thống, tiến sĩ Miklas, ban bố một mệnh lệnh chính thức nhằm vãn hồi trật tự bằng mọi giá. Tiến sĩ Schuschnigg nắm giữ chính quyền. Đại bộ phận quân đội và cảnh sát Áo tập họp lại theo chính phủ của mình, bao vây dinh Thủ tướng, tại đây một toán nhỏ quân phiến loạn vây quanh Dollfuss đang hấp hối. Cuộc nổi loạn cũng nổ ra ở các tỉnh và nhiều toán trong quân đoàn Áo ở Bavaria vượt biên giới. Lúc này Mussolini đã được tin. Ông đánh điện ngay lập tức hứa rằng Ý ủng hộ nền độc lập của Áo. Lãnh tụ Ý còn đặc biệt bay đến Venice tiếp bà quả phụ Tiến sĩ Dollfuss với mọi nghi thức thông cảm. Cùng lúc đó, ba sư đoàn Ý được phái đến Brenner Pass. Cơ sở vào tình hình này, Hitler biết giới hạn sức lực của mình, đành rút lui. Viên Công sứ Đức ở Vienna và những sĩ quan Đức khác dính líu đến cuộc nổi dậy đều bị triệu hồi hoặc thải hồi. Việc dành quyền lực thất bại. Cần một quá trình lâu dài hơn. Papen vừa mới thoát khỏi cuộc tàn sát, được bổ nhiệm làm Công sứ Đức ở Vienna, với những chỉ thị là phải làm việc với những phương pháp tế nhị hơn.

        Giữa những bi kịch và những đợt báo động này, trong mấy tháng hầu như hoàn toàn suy yếu và hơn bao giơ hết là lợi khí của The Reichswehr, vị Thống chế già nua Hindenburg ra đi. Và Hitler trở thành người đứng đầu nhà nước Đức trong lúc vẫn giữ chức Thủ tướng. Bấy giờ y là chúa tể nước Đức. Y mặc cả với The Reichswehr bị bịt miệng và bị để riêng ra một bên vào lúc cuộc thành trừng đẫm máu. Bọn quân Áo nâu bị buộc phải phục tùng mệnh lệnh và xác nhận một lần nữa sự trung thành của họ với The Fuehrer. Mọi kẻ thù và địch thủ tiềm tàng đều bị loại triệt để khỏi hàng ngũ họ. Từ nay trở đi họ mất tác dụng và trở thành một thứ cảnh sát đặc biệt cho các buổi nghi lễ. Mặt khác, đội quân Áo đen phát triển về số lượng và được củng cố bằng nhiều đặc quyền và kỷ luật, trở thành đội cận vệ của The Fuehrer dưới sự lãnh đạo của Himmler, và là một đối trọng đối với các chỉ huy quân đội và đẳng cấp quân sự, đồng thời cũng là đội quân chính trị, cùng với lực lượng quân đội hùng hậu, trang bị cho các hoạt động của lực lượng cảnh sát bí mật đang phát triển hay là Gestapo. Chỉ cần bằng sự đồng ý chính thức của một cuộc trưng cầu dân ý có tính toán trước, trao những cơ quan có quyền lực đó, khiến cho chế độ độc tài của Hitler trở nên tuyệt đối và hoàn hảo.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:01:13 AM

*

        Những sự kiện ở Áo lôi cuốn cùng một lúc Pháp và Ý, và cú sốc do vụ ám sát Dollfuss đưa tới những cuộc tiếp xúc của Bộ tổng tham mưu. Mối đe dọa đối với nền độc lập của Áo thúc đẩy việc xem lại các mối quan hệ Pháp - Ý, và điều này phải bao gồm không chỉ cán cân quyền lực ở Địa Trung Hải và Bắc Phi mà còn những vị trí có liên quan của Pháp và Ý ở đông nam châu Âu. Nhưng Mussolini không chỉ lo lắng bảo vệ địa vị của Ý ở châu Âu chống lại mối đe dọa tiềm tàng của Đức mà còn lo củng cố tương lai huy hoàng của nó ở châu Phi. Chống lại Đức, quan hệ chặt chẽ với Pháp và Anh, nhất định là có lợi, nhưng ở vùng Địa Trung Hải và châu Phi, không thể tránh bất hòa với cả hai cường quốc này. Lãnh tụ phát xít Ý tự hỏi liệu sự cần thiết một nền an ninh chung mà cả Ý, Pháp và Anh đều cảm thấy, có thể không thuyết phục được hai đồng minh cũ của Ý chấp nhận chương trình đế quốc của Ý ở Châu Phi chăng. Trong bất cứ trường hợp nào, điều này dường như là chiều hướng đầy hứa hẹn đối với chính sách của Ý.

        Nước Pháp, lúc ấy do ông Doumergue làm Thủ tướng, ông Barthou Bộ trưởng ngoại giao, từ lâu ao ước một hiệp định chính thức về các biện pháp an ninh ở phía đông. Nhưng Anh miễn cưỡng bảo đảm những cam kết ở bên kia sông Rhine. Đức từ chối thực hiện các hiệp định ràng buộc với Ba Lan và Tiệp Khắc, khối tiểu liên minh (Nam Tư, Tiệp Khắc và Rumani) thì lo sợ ý định của Nga, còn Nga ngờ vực các nước tư bản phương Tây, tất cả tình hình đó dồn lại để cản trở một hiệp định như vậy. Tuy vậy, tháng chín năm 1934 Louis Barthon quyết định đi trước. Kế hoạch độc đáo của ông ta là đề nghị một hiệp ước cho phía Đông, tập hợp cùng một lúc Đức, Nga, Ba Lan, Tiệp Khắc và các nước vùng Baltic dựa trên sự bảo đảm của Pháp đối với biên giới phía châu Âu của Nga, và sự đảm bảo của Nga đối với biên giới phía đông của Đức. Cả Đức và Ba Lan đều chống lại một hiệp ước phía đông như vậy, nhưng Barthou lại thành công trong việc đưa Nga vào Hội Quốc Liên ngày 18 tháng 9 năm 1934. Điều này là một bước quan trọng. Litvinov, đại diện chính phủ Xô Viết, giỏi mọi mặt công tác ngoại giao, thích nghi với không khí Hội Quốc Liên, diễn đạt rất thành công cách nói năng, đạo lý của Hội, nên chẳng mấy chốc, ông trở thành một nhân vật nổi tiếng.

        Trong việc tìm kiếm đồng minh chống lại nước Đức mới đã được công nhận là trưởng thành, dĩ nhiên nước Pháp phải ngoảnh nhìn về phía Nga và cố gắng tạo lại cán cân quyền lục đã tồn tại trước chiến tranh. Nhưng vào tháng 10 xảy ra một bi kịch. Vua Alexander của Nam Tư được mời đến thăm chính thức Paris, lên bờ tại cảng Marseilles, ông Barthou ra đón, nhà vua cùng ông này và tướng Georges đi xe qua đám quần chúng hoan nghênh chật ních đường phố rực rỡ cơ hòa. Lại một lần nữa, từ noi thầm kín tối tăm của bọn vô lại Serbie và Croatie, một âm mưu giết người ghê tởm xuất hiện trên vũ đài Châu Âu. Cũng như ở Sarajevo năm 1914, một bọn ám sát sẵn sàng hy sinh ngay sát nách, cảnh sát Pháp chuẩn bị lỏng lẻo, cẩu thả. Một tên xông ra từ đám đông tung hô, treo lên bậc xe, nổ súng tự động vào nhà vua và đoàn tùy tùng, mọi người đều bị trúng đạn. Kẻ sát nhân bị vệ binh cộng hòa giết ngay. Hắn đã lẻn vào sau lung người vệ binh cộng hòa này. Túc thì một cảnh tượng lộn xộn hỗn loạn. Nhà vua Alexander gần như chết. Tướng Georges và ông Barthou bước ra khỏi xe, máu chảy ròng ròng.

        Viên tướng quá yếu không đi nổi nhưng được chạy chữa nhanh chóng. Còn ông Bộ trưởng lạc vào đám đông, phải hai mươi phút sau, mới được chăm sóc. Ông đã mất nhiều máu và sau đó vài giơ thì chết ở tuổi sáu mươi hai. Đó là một điều bất hạnh nặng nề cho chính sách đối ngoại của Pháp, đang bắt đầu đi theo một thể thức chặt chẽ rõ ràng, dưới sự lãnh đạo của ông ta, Pierre Laval kế tục ông làm Bộ trưởng ngoại giao.

        Lý lịch và số phận đáng hổ thẹn sau này của Laval chắc hẳn không làm mờ sự thật về ảnh hưởng và năng lục cá nhân của ông. Ông có tầm nhìn sáng suốt, sắc bén. Ông tin rằng nước Pháp phải tránh chiến tranh với bất cứ giá nào, ông hy vọng đạt được điều này bằng hòa giải với các nhà độc tài Ý và Đức. Tiếp xúc với chế độ của họ, ông không ấp ủ định kiến. Ông ngờ vực nước Nga Xô Viết. Mặc dù trong các dịp đặc biệt ông long trọng xác nhận tình hữu nghị, ông vẫn không ưa nước Anh, cho nước Anh là bạn đồng minh không xứng đáng. Quả thực tiếng tăm nước Anh không cao lắm ở Pháp. Mục tiêu trước nhất của Laval là đạt một thỏa thuận rõ ràng với Ý và cho rằng cơ hội đã chín muồi. Chính phủ Pháp đã bị ám ảnh bởi mối đe dọa từ nước Đức nên sẵn sàng thực hiện những nhượng bộ thực sự để giành lấy nước Ý. Tháng giêng năm 1935 Laval đến Rome và ký một loạt hiệp nghị nhằm xóa bỏ những trở ngại chủ yếu giữa hai nước, cả hai chính phủ nhất trí chống lại việc tái vũ trang bất họp pháp của Đức. Họ thỏa thuận sẽ tham khảo lẫn nhau trong trường hợp nền độc lập của Áo bị đe dọa. Trong lĩnh vục thuộc địa Pháp cam kết thực hiện những nhân nhượng về quản lý hành chính đối với địa vị người Ý ở Tunisia, giao cho Ý một vài vùng lãnh thổ nào đó trên biên giới của cả Lybia và của Somali, cùng một lúc với 20% cổ phần trong đường sắt Jibuti-Addis-Ababa. Những cuộc đàm thoại này đều được trù tính để đặt nền móng cho các cuộc thảo luận chính thúc hơn giữa Pháp, Ý và Anh về một mặt trận chung chống lại mối đe dọa đang lớn lên từ phía Đức. Nhung trong những tháng tiếp theo, sự kiện Ý xâm lược Abyssinia đã cắt ngang tất cả những cuộc thảo luận đó.

        Tháng chạp năm 1934, xung đột xảy ra giữa quân đội Ý và Abyssinia trên biên giới Abyssinia và Somali thuộc Ý. Điều này sẽ là cái cớ cho việc trình diễn cuối cùng trước thế giới, những yêu sách của Ý chống lại vương quốc Ethiopia. Như vậy, từ nay trở đi, vấn đề kiềm chế nước Đức ở Châu Âu rối rắm và méo mó theo số phận của Abyssinia.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:03:11 AM

6

THẤT THẾ VỀ KHÔNG QUÂN, 1934-1935

        Bộ Tổng Tham mưu Đức không tin rằng quân đội Đức được tổ chức và hoàn thiện trên qui mô lớn hơn quân đội Pháp và được cung cấp thích hợp kho vũ khí và trang bị trước năm 1943. Hải quân Đức, trừ tàu ngầm, không thể được xây dựng lại trong tình trạng cũ kỹ trong 12 hay 15 năm, và trong quá trình xây dựng đó phải đua tài nặng nề với những cách làm khác. Nhung nhờ có việc khám phá không may của một nền văn minh non nót, động cơ đốt và nghệ thuật bay trên không, mà một vũ khí của sự ganh đua trong nước xuất hiện, có thể thay đổi nhanh chóng hơn nhiều khả năng chiến tranh tương đối của các nước - Cứ cho là một phần đóng góp trong sự tích lũy kiến thức từ trước đến nay của loài người và trong sự tiến triển của khoa học, một nước có tầm quan trọng bậc nhất chỉ cần 4 hay 5 năm hiến mình cho nhiệm vụ, để tạo ra một lực lượng không quân hùng mạnh và có thể lớn nhất. Thời kỳ này dĩ nhiên phải được thu ngắn do bất kỳ một công việc và ý định sơ bộ nào.

        Như trong trường hợp quân đội Đức, việc tạo dụng lại lục lượng không quân là lâu dài và được chuẩn bị chu đáo bí mật. Ngay từ năm 1923 đã có quyết định rằng lực lượng không quân tương lai của Đức phải là một bộ phận của bộ máy chiến tranh Đức. Trong thời gian này, Bộ Tổng tham mưu bằng lòng xây dựng trong "quân đội không có không quân" một bộ khung không quân rất ăn khớp không thể bị phát hiện, hoặc trong bất cứ trường hợp nào không bị phát hiện trong những năm đầu, từ bên ngoài. Không quân là thể loại khó đánh giá nhất trong tất cả các thể loại quân lực hoặc thậm chí diễn đạt bằng những thuật ngữ chính xác. Quy mô mà theo đó các nhà máy và bãi tập của hàng không dân dụng vào một lúc nhất định đạt được giá trị và ý nghĩa quân sự, là không thể dễ dàng đánh giá và vẫn còn ít được vạch rõ đúng đến từng chi tiết. Những cơ hội để che dấu, ngụy trang và lảng tránh hiệp ước thì nhiều và lắm vẻ. Máy bay, và chỉ có máy bay, mới đưa lại cho Hitler dịp may cho một lối đi tắt, trước hết đến sự ngang bằng rồi đến ưu thế về một binh chủng quan trọng trong lực lượng vũ trang hơn Anh và Pháp. Nhưng Anh và Pháp phải làm gì?

        Mùa thu năm 1923, rõ ràng không phải do mệnh lệnh nào sai khiến càng không phải do muốn nêu gương mà nước Anh vẫn khăng khăng cứ tiếp tục giải trừ quân bị. Thậm chí sự kiện nghiêm trọng là nước Đức rút khỏi Hội Quốc Liên cũng không tác động đến chủ nghĩa hòa bình của Công đảng và Đảng Tự do. Cả hai đảng với danh nghĩa của hòa bình tiếp tục nhấn mạnh việc Anh giải trừ quân bị, ai có ý kiến khác đều bị gọi là "Kẻ hiếu chiến" và là "người phao tin đồn gây hoang mang". Hình như cảm nghĩ của họ được nhân dân tán thành mà nhân dân thì dĩ nhiên là không hiểu điều gì đang xảy ra. Tại cuộc bầu cử phụ ở vùng đông Fulham ngày 25 tháng mười, những người theo chủ nghĩa hòa bình hăng hái tăng phiếu cho Đảng Xã hội gần 9.000 và số phiếu của Đảng Bảo thủ tụt xuống trên 10.000. Sau cuộc bầu, người trúng cử tuyên bố rằng "Nhân dân Anh yêu cầu chình phủ Anh phải làm trước để hướng dẫn toàn thế giới bằng cách lập tức đề xướng một chính sách tổng giải trừ quân bị". Và ông Lansbury, lãnh tụ Công đảng lúc ấy, tuyên bố rằng tất cả các quốc gia phải "giải trừ quân bị đến mức của Đức như là một biện pháp sơ bộ để tiến tới tổng giải trừ quân bị". Cuộc bầu cử này để lại một ấn tượng sâu sắc đối với ông Baldwin, và 3 năm sau, ông ta đã nhắc đến nó trong một bài diễn văn đặc biệt. Tháng 11 diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội Đức, không ai được phép ứng cử trừ những người được Hitler tán thành, và những đảng viên quốc xã thu được 95% số phiếu.

        Hẳn là sai lầm khi đánh giá chính sách của chính phủ Anh mà không nhớ tới khát vọng hòa bình tha thiết, đã cổ vũ số đông mặc quân phục và số nhân dân Anh bị thông tin sai lệch, và dường như đã đe dọa tiêu diệt về mặt chính trị bất kỳ đảng phái hay chính khách nào dám theo một đường lối khác. Dĩ nhiên điều này không phải là lý do bào chữa cho các lãnh tụ chính trị không đạt được nhiệm vụ. Tốt hơn nhiều cho những đảng phái hay chính khách bị thải ra khỏi chức vụ hơn là làm cho sự sinh tồn của quốc gia lâm nguy, vả chăng trong lịch sử chúng ta không có khoản ghi chép của bất kỳ chính phủ nào bị từ chối khi đoi hỏi Quốc hội và nhân dân thực hiện những biện pháp phòng thủ cần thiết. Tuy nhiên, những ai đã làm cho chính phủ MacDonald - Baldwin nhút nhát, sợ hãi, bằng đường lối của họ ít nhất cũng phải giữ im lặng.

        Dự thảo ngân sách máy bay tháng 3 năm 1934 chỉ lên tới hai chục triệu và bao gồm đồ dự trữ cho 4 phi đội mới hoặc sự tăng thêm đội không quân chính quy đầu tiên của Anh từ 850 lên 890. Chi phí tài chính trong năm đầu là 130.000 bảng Anh.

        Về vấn đề này, tôi tuyên bố tại Hạ nghị viện:

        "Chúng ta chỉ là cường quốc không quân thứ 5 mà thôi, điều này được thừa nhận - Chúng ta chỉ mới bằng nửa số quân hiện có của Pháp, người láng giềng gần nhất của chúng ta. Nước Đức đang tự trang bị nhanh chóng và không ai đề ra một cuộc chiến tranh phòng ngừa để ngăn chặn Đức vi phạm hiệp ước Versailles. Họ sắp sửa cầm vũ khí chiến đấu. Họ đang làm việc này, họ đã làm việc này. Đã đến lúc chúng ta thực hiện những biện pháp cần thiết nhưng là những biện pháp chúng ta đang thiếu. Chúng ta không có những biện pháp để giành sự cân bằng. Trên thế giới không có dân tộc nào giữ vai trò chúng ta đang đóng và khát khao được đóng, lại có quyền tồn tại ở một vị trí họ có thể bị hăm dọa. Tôi kêu gọi ông Baldwin hành động với tư cách là người có quyền lực. Ông là người cầm quyền và có trách nhiệm."


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:03:54 AM

        Trong lời đáp, ông Baldwin tuyên bố:

        "Nếu mọi cố gắng của chúng ta cho một hiệp định bị thất bại và nếu không thể đạt được thế cân bằng trong những vấn đề như tôi đã nêu, lúc đó, bất kỳ chính phủ nào của xứ sở này - một chính phủ liên hiệp, hơn bất cứ chính phủ nào - sẽ thấy rằng về sức mạnh không quân và vai trò cương quốc không quân, đất nước này, không lâu nữa sẽ ở vào một vị trí thấp so với bất kỳ nước nào trong phạm vi đánh được, cách bờ biển của mình."

        Đây là một 1ời cam kết long trọng, rõ ràng nhất, được đưa ra vào một thời điểm có thể gần như chắc chắn được thực hiện bằng một hành động mạnh mẽ với qui mô lớn. Tuy nhiên, ngày 20 tháng 7 khi chính phủ đưa ra khá nhiều đề nghị quá muộn màng và không thỏa đáng, nhằm tăng cường không lực Hoàng gia đến mức 41 đội máy bay hoặc khoảng 820 máy bay "chỉ được bổ sung trong 5 năm”, thì Công đảng được đảng viên Tự do ủng hộ, gây ra một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm chống lại các đề nghị đó tại Hạ viện. Lúc ấy, ông Attlee nhân danh họ tuyên bố: "Chúng tôi phản đối sự cần thiết tăng lực lượng vũ trang không quân... Chúng tôi phản đối kế hoạch cho rằng lực lượng không quân Anh được tăng thêm sẽ hướng tới hòa bình thế giới, và chúng tôi bác bỏ hoàn toàn việc đòi cân bằng". Đảng Tự do ủng hộ bản kiến nghị chỉ trích này và lãnh tụ của họ, ngài Herbert Samuel tuyên bố: "Về trường hợp của Đức thì sao? Chúng tôi chưa từng nghe hoặc thấy điều gì ám chỉ rằng sức mạnh không quân hiện nay của chúng ta không đủ để đương đầu với bất cứ hiểm họa nào lúc này từ hướng ấy".

        Khi chúng tôi nhớ lại rằng đó là lời nói được dùng sau cuộc bàn cãi kỹ lưỡng của những người đứng đầu có trách nhiệm của các đảng, thì mối hiểm họa của đất nước đã trở nên rõ rành rành. Đó là thời gian hình thành khi do những cố gắng tột độ chúng tôi có thể bảo tồn sức mạnh không quân và dựa vào đó mà chúng tôi độc lập hành động. Nếu Anh và Pháp mỗi nước duy trì số lượng ngang nhau với Đức, thì cùng một lúc, họ phải mạnh gấp đôi, và sự nghiệp tàn bạo của Hitler có thể bị bóp chết ngay từ khi còn trứng nước mà không phải mất dù là một mạng sống.

        Sau đó thì đã muộn quá rồi. Người ta không thể nghi ngờ sự chân thành của lãnh tụ hai đảng Xã hội và Tự do. Họ hoàn toàn sai lầm và chịu phần trách nhiệm nặng nề trước lịch sử. Quả thật lạ lùng là Đảng Xã hội, trong những năm sau này, đáng lẽ phải cố gắng khẳng định sự lo xa hơn của mình, và đáng lẽ phải quở trách địch thủ của mình đã làm suy yếu sự an toàn của quốc gia.

        Lúc ấy, tôi được hưởng ít nhất một lần, hoàn cảnh thuận lợi để có thể đề xuất việc tái vũ trang dưới chiêu bài một người bảo vệ chính phủ. Bởi vậy, đảng Bảo thủ nghe tôi trình bày ý kiến, với thái độ thân mật khác thường.

        Tôi không nghĩ rằng sẽ có một chính phủ có khuynh hướng hòa bình chủ nghĩa như vậy - Đó là Thủ tướng (ông Ramsay MacDonald) trong chiến tranh đã chứng minh một cách cực đoan nhắt và với lòng dũng cảm rất cao quý niềm tin của mình và những hy sinh ông đã làm đối với điều mà ông tin là sự nghiệp của chủ nghĩa hòa bình. Ngài Chủ tịch hội đồng, ông Baldwin chủ yếu gắn bó với bài học thuộc lòng về lời cầu xin theo tâm trí của quần chúng "Hãy đem lại hòa bình trong thời đại chúng ta". Người ta có thể nghĩ rằng khi các bộ trưởng ưa thích những điều này, đứng ra tuyên bố rằng họ cảm thấy nhiệm vụ của họ phải đòi tăng thêm chút ít biện pháp nào đó mà họ có được nhằm bảo đảm an toàn cho dân chúng, thì điều này nhất định tác động đến đảng Đối lập và nhất định được xem như bằng chúng về mối hiểm họa hiện hữu và họ tìm cách bảo vệ chúng tôi thoát khỏi hiểm họa đó... Chúng tôi còn là con mồi ngon và dễ xơi. Không có quốc gia nào đó có thể bị tấn công như vậy và không có quốc gia nào đánh trả lại sự cướp bóc tốt hơn nước chúng tôi... Và thủ đô Luân Đôn đồ sộ của chúng tôi đây, cái đích lớn nhất trên thế giới, một giống bò cái to lớn, béo phị, quý giá bị cột trói để thu hút thú săn mồi, chúng tôi đang ở một vị trí trước kia chua bao giờ có, mà cũng không nước nào khác hiện nay có được. Chúng ta hãy nhớ điều này: Tình trạng yếu kém của chúng tôi, không chỉ quan hệ đến chúng tôi mà còn quan hệ đến sự ổn định của Châu Âu. Lúc đó tôi tiếp tục biện luận rằng không quân Đức đã gần cân bằng với Anh.

        Trước hết tôi quả quyết rằng Đức đang vi phạm hiệp ước, liệu đã tạo ra một lực lượng không quân gần bằng 2/3 hùng mạnh như lực lượng không quân phòng vệ nội địa của chúng ta hiện nay. Đó là lời phát biểu đầu tiên của tôi trước chính phủ để chính phủ xem xét. Lời phát biểu thứ hai là Đức nhanh chóng tăng thêm lực lượng không quân, không chỉ cân bằng số tiền lớn thể hiện trong dự thảo ngân sách của họ mà còn bằng tiền quyên góp của dân chúng, việc đóng góp này hầu như bị bắt buộc, còn đang xúc tiến và cũng đã được xúc tiến một vài lần khắp nước Đức. Cuối năm 1935, lực lượng Không quân Đức về số lượng và hiệu suất, gần bằng lực lượng Không quân bảo vệ nội địa của chúng tôi vào thời điểm này, ngay cho dù những đề nghị của Chính phủ được thực hiện.

        Lời tuyên bố thứ ba là nếu Đức tiếp tục việc bành trướng này và nếu chúng tôi tiếp tục thực hiện kế hoạch của mình thì lúc nào đó trong năm 1936, rõ ràng về căn bản, Đức sẽ hùng mạnh hơn Anh về không quân. Thứ tư và đây là điều gây nên lo lắng, một khi họ được quyền đánh đầu tiên thì chúng tôi có thể không bao giơ có khả năng vượt được họ... Nếu bất cứ lúc nào trong mấy năm sau, chính phủ buộc phải chấp nhận rằng lực lượng Không quân Đức sẽ hùng mạnh hơn không quân chúng tôi, rồi thì họ sẽ bị kiềm lại - tôi nghĩ đúng là bị kiềm lại - để đi đến thất bại trong nhiệm vụ hàng đầu của họ đối với Tổ quốc...

        Việc bỏ phiếu tín nhiệm của Công đảng dĩ nhiên thất bại do một đa số lớn và tôi không nghi ngờ rằng nếu giải tán và tổ chức bầu lại Quốc hội với sự chuẩn bị thích đáng về những vấn đề này, thì quốc gia nhất định đủ khả năng chấp nhận những biện pháp cần thiết cho sự an toàn của xứ sở.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:05:04 AM

*

        Không thể nói đến chuyện này mà không ghi lại những cột mốc lịch sử chúng tôi đã trải qua trên chặng đường dài từ sự an ninh đến tay thần Chết. Khi quay lại nhìn tôi lấy làm ngạc nhiên về chiều dài của thời gian dành cho chúng tôi. Năm 1933 hoặc thậm chí năm 1934, nước Anh có thể tạo nên một sức mạnh không quân có thể áp đặt những hạn chế cần thiết đối với tham vọng của Hitler, hoặc có thể cho phép những nhà chỉ huy quân sự Đức kiềm chế những hành động bạo lực của y. Vậy mà hơn 5 năm đã trôi qua trước khi chúng tôi phải đương đầu với sự thử thách lớn nhất. Mặc dù thế, nếu chúng tôi có hành động khôn ngoan hợp lý và với nghị lực lành mạnh, có thể điều đó không bao giơ xảy ra. Dựa vào sức mạnh không quân trội hơn, Anh, Pháp có thể tin cậy và kêu gọi sự giúp đỡ của Hội Quốc Liên, và tất cả các quốc gia châu Âu có thể tập họp lại đằng sau họ. Lần đầu tiên Hội Quốc Liên có thể cho ra đời một công cụ quyền lục.

        Khi phiên họp mùa đông khai mạc vào ngày 28 tháng 11 năm 1934 nhân danh một số bạn bè1 tôi đề nghị bổ sung bài diễn văn và tuyên bố rằng "số quân hiện có cho việc phòng thủ quốc gia đặc biệt về mặt phòng không, không còn đủ để bảo đảm hòa bình, an ninh và tự do cho các thần dân trung thành của Nhà Vua". Nghị viện tập họp lại và rất sẵn sàng lắng nghe. Sau khi dùng mọi lý lẽ để nhấn mạnh mối hiểm họa nặng nề đối với chúng tôi và thế giới, tôi đi vào sự việc chính: "Trước nhất tôi quả quyết rằng lúc này Đức đã có một lực lượng không quân... và rằng điều này... đang nhanh chóng gần cân bằng với không quân chúng ta. Hai là vào thời điểm này năm sau không quân Đức ít nhất trên thực tế sẽ mạnh bằng không quân chúng ta, và có thể còn hùng mạnh hơn. Ba là vào cuối năm 1936, nghĩa là một năm nữa trở đi và hai năm kể từ đây, lực lượng không quân Đức sẽ hùng mạnh hơn gần 50% và đến năm 1937 thì mạnh hơn gần gấp đôi".

        Ông Baldwin đối mặt trục tiếp với vấn đề này, lập tức chăm chú nghe tôi và dựa vào tình hình do các cố vấn Bộ Không quân dựng lên, đến gặp tôi và thẳng thừng bác bỏ ý kiến của tôi:

        "Không phải tình hình nước Đức đang nhanh chóng tiến gần tới chỗ cân bằng với chúng ta... Đức đang tích cực bận rộn sản xuất phụ tùng máy bay, nhung số quân hiện có thực tế của họ không bằng nửa số quân hiện có của chúng ta hiện ở châu Âu. Con về tình thế vào thời điểm này năm sau... cho đến nay dựa vào chỗ lực lượng không quân Đức ít nhất cũng hùng mạnh bằng không quân của ta, và chắc hẳn là hùng mạnh hơn không quân ta, chúng ta ước tính rằng chúng ta sẽ có một số dự trữ chỉ riêng ở Châu Âu là gần năm chục phần trăm. Tôi không thể mong đọi xa hơn 2 năm sau. Ông Churchill nói về điều có thể xảy ra năm 1937. Những cuộc điều tra nghiên cứu như vậy mà tôi có thể thực hiện, khiến tôi tin rằng những tính toán bằng con số của ông ta là quá khuếch đại".

        Sự bảo đảm chung chung của vị Thủ tướng thực sự xoa dịu hầu hết nhiều người chỉ trích đã từng hoảng hốt, lo sợ, và nay phải cứng họng. Ai nấy đều vui mừng thấy những lời phát biểu chính xác của tôi bị phủ nhận dựa trên quyền lực không chê vào đâu được. Nhưng tôi không bị thuyết phục chút nào. Tôi tin rằng ông Baldwin không được các cố vấn của mình cho biết sự thật, và dẫu sao chăng nữa, ông cũng không biết hết sự thật.

        Những tháng đông trôi qua như vậy, và không phải tiến đến mùa xuân tôi mới lại có dịp nêu lên vấn đề này. Trước khi nêu vấn đề, tôi có lời báo trước đầy đủ rõ ràng với ông Baldwin vào ngày 10 tháng 3 năm 1935, khi dự trù ngân sách cho không quân được trình ra Nghị viện, tôi lặp lại tuyên bố hồi tháng 11 của tôi và một lần nữa thẳng thắn tỏ ý nghi ngờ những đảm bảo đã đưa ra của ông. Thứ trưởng không quân đưa ra một câu trả lời hết sức tin tưởng. Tuy nhiên vào cuối tháng 3, Bộ trưởng ngoại giao và ông Eden đi thăm Hitler ở Đức và trong quá trình một cuộc đàm phán quan trọng, mà văn bản được ghi vào hồ sơ, họ được Hitler thông báo riêng rằng lực lượng không quân Đức đã đạt được cân bằng với Anh. Ngày 3 tháng 4 Chính phủ công bố sự kiện này. Đầu tháng 5 Thủ tướng viết một bài báo cáo cho cơ quan ngôn luận riêng của ông là to The News Letter, nhấn mạnh mối hiểm họa của việc tái vũ trang của Đức bằng những lời lẽ na ná như lời lẽ tôi thường phát biểu từ năm 1923. Ông dùng rõ chữ "phục kích", danh từ này hẳn là xuất phát từ tâm trạng lo lắng của ông. Quả thực chúng ta đã rơi vào một trận địa phục kích. Ông MacDonald đích thân mở đầu cuộc thảo luận - Sau khi nhắc đến ý định của Đức công nhiên xây dựng một lực lượng hải quân vượt quá xa hòa ước và có tàu ngầm vi phạm hòa ước, ông thừa nhận rằng Hitler khẳng định là mình đã đạt được cân bằng với Anh về không quân. Dù sự giải thích chính xác của cách nói bằng các thuật ngữ về sức mạnh không quân như thế nào, không nghi ngờ gì nữa, điều này chỉ ra rằng sức mạnh của Đức phát triển đến một điểm đáng kể quá số lượng ước đoán mà chúng tôi có thể đánh giá trước nghị viện năm vừa qua. Đó là một sự kiện nghiêm trọng mà cả chính phủ và Bộ Không quân đã chú ý đến ngay. Khi được mời đúng lúc tôi nói:

-----------------
        1. Số bạn bè này là các ông Churchill, ngài Robert Horme, ông Amery, đại tá hải quân F.E Guest, Huân tước Winterton và ông Boothby.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:05:28 AM

        "Thậm chí đến bây giờ chúng ta cũng không thi hành những biện pháp đúng với tầm vóc nhu cầu của chúng ta. Chính phủ phải đương đầu với giông tố, sẽ phải đọ sức với mọi hình thức công kích bất công. Lý do của chính phủ sẽ bị xuyên tạc. Chính phủ sẽ bị vu khống và bị gọi là hiếu chiến. Nhiều lực lượng hùng mạnh đông đảo và cực kỳ lớn tiếng trong đất nước này sẽ chuẩn bị mọi thứ công kích chống chính phủ, dù sao chính phủ cũng hiểu điều đó. Tại sao chúng ta không chiến đấu cho nền an ninh của chúng ta? Tại sao chúng ta không dám vượt qua mọi công kích đòi phải cung cấp đầy đủ cho lực lượng không quân?"

        Mặc dù Nghị viện chú ý cẩn thận nghe tôi, tôi vẫn cảm thấy thất vọng. Kinh nghiệm đã cho tôi suy nghĩ đầu hàng những thách thúc sẽ là một bi kịch lớn cho cả dân tộc, nhưng vượt qua được thách thức thế này không đơn giản...

        Không phải đến ngày 22 tháng 5 năm 1935, ông Baldwin mới có một lời thú nhận nổi tiếng. Tôi buộc phải nêu ra đây.

        "Trước hết, tôi không biết gì về con số máy bay Đức tôi đưa ra hồi tháng 11. Kể từ khi điều đó khiến tôi nghĩ rằng con số đó là sai. Lúc ấy tôi tin rằng con số đó là đúng. Tôi sai ở chỗ ước đoán tương lai, tôi hoàn toàn sai ở chỗ đó. Chúng ta hoàn toàn bị lừa dối về vấn đề đó..."

        "Tôi phải nhắc lại ở đây rằng không có lý do để sợ hãi về điều gì chúng ta đang làm. Nhưng tôi nhất định tuyên bố điều này một cách có cân nhắc rằng với mọi tình hình tôi nắm được, nhất định tôi không ở lại dù là chốc lát, trong bất kỳ chính phủ nào thi hành những biện pháp kém kiên quyết hơn những biện pháp chúng ta có thể thực hiện hôm nay. Tôi nghĩ đã có một số lớn lời chỉ trích cả trên báo chí và bằng lời nói về Bộ Không quân và như thế là họ phải chịu trách nhiệm về một chương trình có thể không thích đáng, về việc không tiến lên nhanh và về nhiều vấn đề khác. Tôi chỉ muốn nhắc lại rằng dù trách nhiệm có thể là thế nào - và chúng ta sẵn sàng đương đầu với sự chỉ trích - rằng trách nhiệm không phải riêng của bộ trưởng nào, mà đó là trách nhiệm của chính phủ và của tất cả chúng ta".

        Tôi hy vọng rằng sự thú nhận làm cho người ta sửng sốt này phải là một sự kiện dứt khoát và ít nhất một ủy ban thuộc nghị viện của tất cả các đảng phái được thành lập để báo cáo về sự thật và về sự an toàn của chúng tôi. Hạ nghị viện có một phản ứng khác. Công đảng và Đảng Tự do đối lập có 9 tháng sớm hơn đã đưa ra hoặc ủng hộ một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm thậm chí chống lại những biện pháp khiêm tốn mà chính phủ thực hiện, nay đều bất lực và do dự - Họ hân hoan chờ đợi một cuộc tuyển cử chống lại sự "vũ trang của đảng Bảo thủ" - Người phát ngôn của Công đảng cũng như Đảng Tự do không chuẩn bị tư tưởng cho mình đối với những điều tiết lộ và thú nhận của ông Baldwin và họ cũng chẳng cố gắng sửa lại diễn văn của họ cho phù họp với đoạn đáng chú ý này. Không có lời phát biểu nào của họ dù ở mức độ rất mong manh liên quan dến những tình trạng khẩn cấp chúng tôi đang trải qua hoặc thậm chí liên quan đến những sự thật nghiêm trọng hơn nhiều ở đằng sau tình trạng khẩn cấp đó mà lúc bấy giờ chúng tôi đều biết.

        Về phần mình, đa số trong chính phủ tỏ ra bị tính thật thà của ông Baldwin quyến rũ. Sự thật thú nhận sai lầm hoàn toàn của ông với tất cả những nguồn tin tức của ông về một vấn đề sống còn mà ông chịu trách nhiệm, được bù đắp lại bằng sự chân thực trong lời tuyên bố đó và thái độ gánh chịu khiển trách của ông - Lại có cả một làn sóng nhiệt tình lạ thường đối với một Bộ trưởng không do dự tuyên bố rằng mình sai lầm. Quả thật nhiều đảng viên Bảo thủ dường như tức giận tôi đã đưa vị lãnh đạo được tín nhiệm của họ vào một hoàn cảnh mà chỉ có tính kiên cường và tính trung thực bẩm sinh của ông ta mới giải thoát được ông, nhưng than ôi, không phải giải thoát tổ quốc ông. Một thảm họa có tầm quan trọng bậc nhất đã giáng lên chúng ta, Hitler đã đạt được sự cân bằng với Anh. Từ nay trở đi y chỉ phải bắt các nhà máy và các trường huấn luyện của y mở hết tốc độ không chỉ nhằm giữ vị trí nay một cách vững chắc. Từ nay về sau, mọi đe dọa công kích trên không chưa ai từng biết, không thể đo lường được, đã treo lơ lửng trên thủ đô Luân Đôn, phải là một điều rõ ràng và đanh thép trong tất cả các quyết định của chúng tôi. Lòng tin là do Chính phủ và Bộ Không quân dành cho hiệu quả cao của lực lượng Không quân Hoàng gia. Nhưng lời cam kết phải giữ vững thế quân bình về máy bay bị tan vỡ không thể cứu vãn - Đúng là sự bành trướng hơn nữa trước mắt của lực lượng không quân Đức không tiếp diễn với tốc độ như nhau trong thời kỳ họ đạt tới thế quân bình. Không nghi ngờ gì nữa họ thực hiện một cố gắng lớn nhất để vươn lên giành lấy vị trí bao quát và để giúp đỡ và khai thác vị trí đó trong ngành ngoại giao của họ - Điều này tạo cơ sở cho hành động gây hấn đã được Hitler trù tính trước và nhũng hành động gây hấn đó lúc ấy chẳng mấy chốc đã diễn ra. Trong bốn năm tiếp theo Chính phủ Anh đã có những cố gắng rất lớn. Những mẫu máy bay Hurricane đầu tiên mãi mãi nổi tiếng và máy bay khu trục Spitfire lần lượt cất cánh vào tháng 11-1935 và tháng 3-1936 - Lập tức có lệnh sản xuất đại qui mô và một số lượng đáng kể đã sẵn sàng không phải là quá sớm. Không con nghi ngờ gì nữa chúng tôi đã trội hơn về chất lượng máy bay nhưng về mặt số lượng thì từ nay trở đi sẽ là thời kỳ rất khó khăn đối với chúng tôi - Khi chiến tranh bùng nổ, số máy bay của chúng tôi mới vừa bằng nửa của Đức.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:06:32 AM

7

THÁCH THỨC VÀ ỨNG PHÓ, NĂM 1935

        Những năm tháng tìm tòi điều tra bí mật, nhũng sự chuẩn bị thầm kín hoặc được ngụy trang giơ đây đã kết thúc và Hitler cuối cùng cảm thấy mình đã đủ mạnh để bắt đầu ra mặt thách thúc. Ngày 9 tháng 3 năm 1935, lực lượng không quân Đức được chính thức thông báo thành lập và ngày 16 người ta tuyên bố rằng quân đội Đức từ nay về sau phải dựa trên chế độ quân dịch quốc gia cưỡng bách - Luật lệ nhằm thực thi những quyết định này chẳng mấy chốc được ban hành, nhưng công việc thì đã bắt đầu từ trước. Chính phủ Pháp được báo cho biết rõ về điều gì sắp tới, đã thực sự gia hạn chế độ quân dịch của họ lên hai năm, sớm hơn mấy giờ trong cùng ngày quan trọng này - Hành động của Đức là một sự lăng nhục công khai chính thúc đối với hòa ước là chỗ dựa của Hội Quốc Liên. Chừng nào mà những sự vi phạm, mang hình thức những sự thoái thác hoặc những vấn đề chuyên nghiệp bằng những tên gọi khác nhau thì các cường quốc thắng trận có trách nhiệm, bị chủ nghĩa hòa bình ám ảnh và còn bận tâm vào những hoạt động chính trị đối nội, sẽ dễ dàng trốn tránh trách nhiệm để tuyên bố rằng Hba ước đang bị phá vỡ hoặc không được thừa nhận. Trong tình thế đó, lối thoát sẽ đến cùng với súc mạnh thẳng thừng và tàn bạo. Cùng ngày gần như Chính phủ Ethiopia cũng kêu gọi Hội Quốc Liên chống lại những đòi hỏi đe dọa của Ý. Ngày 24 tháng 3, dựa vào bối cảnh này, khi ngài John Simon cùng với Huân tước Privy Seal, ông Eden đi thăm Berlin theo lời mời của Hitler, thì Chính phủ Pháp cho rằng họ chọn dịp này là không thuận lợi - Lúc ấy cùng một lúc, tự họ phải đương đầu không phải với việc cắt giảm quân đội đè nặng lên họ do ông MacDonald năm trước, mà còn với sự gia hạn quân dịch cưỡng bách từ một lên hai năm. Trong tình thế công luận đang thịnh hành thì việc này là một nhiệm vụ nặng nề. Không chỉ những người Cộng sản mà cả những đảng viên Xã hội cũng bỏ phiếu chống lại biện pháp này. Khi ông Leon Blum tuyên bố: "Giai cấp công nhân Pháp nhất định đứng lên chống lại sự xâm lược của Hitler" thì Thorez đáp lại giữa tiếng hoan hô tán thưởng của phái hướng về phía Xô Viết "chúng ta nhất định không chấp nhận việc giai cấp công nhân bị lôi kéo vào cái gọi là cuộc chiến tranh bảo vệ nền Dân chủ chống chủ nghĩa Phát xít".

        Nước Mỹ phủi tay khỏi mọi lo lắng ở châu Âu, ngoài việc chúc cho mọi người gặp điều tốt lành và tin chắc rằng họ nhất định không bao giờ phải lo ngại đối với chuyện đó nữa. Nhưng Pháp, Anh và dứt khoát Ý cũng vậy, mặc dù bất hòa với nhau, buộc lòng phải phản đối hành động vi phạm rõ ràng hòa ước này của Hitler. Một cuộc họp của các nước đồng minh chủ yếu trước kia được triệu tập dưới sự bảo trợ của Hội Quốc Liên tại Stresa và tất cả các vấn đề này được đem ra thảo luận.

        Một thỏa thuận chung tuyên bố không thể cho phép công khai vi phạm các hiệp ước mà nhờ có hàng triệu người đã chết mới đạt được. Nhưng đoàn đại biểu Anh từ đầu đã nói rằng họ không xem xét. khả năng trừng phạt trong trường hợp vi phạm hòa ước - Dĩ nhiên điều nay hạn chế cuộc hội nghị vào lĩnh vục từ ngữ. Một quyết định được nhất trí thông qua với ý nghĩa rằng "đơn phương" vi phạm các hiệp ước - ý muốn nói một bên - là không thể chấp nhận và Hội đồng quản trị của Hội Quốc Liên được mời tuyên bố về tình thế đã được vạch trần. Vào buổi chiều thứ hai của hội nghị Mussolini kiên quyết ủng hộ hành động này và thẳng thắn chống lại việc cường quốc này xâm lược cường quốc kia. Tuyên bố cuối cùng như sau:

        "Ba cường quốc mà mục đích trong chính sách của mình là tập thể duy trì hòa bình trong khuôn khổ Hội Quốc Liên, thống nhất hoan toàn với nhau, bằng mọi biện pháp có thể thực hiện được, phản đối bất cứ sự bác bỏ đơn phương nào đối với các hiệp ước, một sự bác bỏ có thể gây nguy hiểm cho hòa bình ở châu Âu, và nhằm mục đích này, ba cường quốc sẽ hành động trong sự họp tác chặt chẽ và chân thành".

        Trong diễn văn của mình, nhà độc tài Ý nhấn mạnh mấy chữ "hòa bình ở châu Âu" và ngắt giọng rõ rệt sau hai chữ "Châu Âu" - Sự nhấn mạnh hai từ "Châu Âu" này được lập tức khiến các đại diện Bộ Ngoại giao Anh chú ý - Họ vểnh tai nghe và hiểu rõ trong lúc Mussolini phải cùng hành động với Anh, Pháp nhằm ngăn ngừa nước Đức tái vũ trang, thì ông ta lại dành cho mình bất cứ cuộc tấn công nào vào châu Phi chống Abyssinia mà ông có thể quyết định sau này. Vấn đề này có phải nêu ra hay không? Tối hôm đó, các nhân viên bộ ngoại giao tiến hành các cuộc tranh luận. Mọi người đều lo ngại sự ủng hộ của Mussolini trong việc đối phó với Đức, đến nỗi vào lúc này không ai muốn cảnh cáo ông ta từ bỏ Abyssinia, điều này rõ ràng đã chọc tức ông ta rất nhiều. Bởi vậy vấn đề không được đặt ra do đối phương vắng mặt, và Mussolini cảm thấy về một ý nghĩa nào đó có lý do để cảm thấy, rằng khối đồng minh đã đồng ý với tuyên bố của ông và để ông rảnh tay chống lại Abyssinia. Người Pháp vẫn im hơi lặng tiếng về điểm này và hội nghị chia tay.

        Đúng vào các ngày 15-17 tháng 4 Hội đồng Hội Quốc Liên xem xét việc Đức vi phạm Hòa ước Versailles đã được khẳng định với việc ra sắc lệnh tổng cưỡng bách quân dịch. Các cường quốc sau đây có mặt ở hội đồng: Cộng hòa Argentine, Australia, Anh, Chile, Tiệp Khắc, Đan Mạch, Pháp, Ý, Mehico, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và Liên Xô. Tất cả bỏ phiếu ủng hộ nguyên tắc là mọi hiệp ước không được đơn phương vi phạm, và chuyển vấn đề này lên phiên họp toàn thể của Hội Quốc Liên xem xét giải quyết. Cùng lúc đó Bộ trưởng ngoại giao ba nước Scandinave là Thụy Điển, Na Uy và Đan Mạch lo lắng sâu sắc về cán cân lực lượng hải quân trong vùng Baltic, cũng họp nhau cùng ủng hộ nguyên tắc này. Tổng cộng 19 nước chính thức phản đối. Nhưng vô ích biết bao khi mọi biểu quyết của họ không có cường quốc nào liệu trước được việc sử dụng vũ lực như là phương sách cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:07:31 AM

*

        Laval không muốn thăm dò ý kiến Nga theo tinh thần kiên quyết của Barthou. Nhưng bây giờ ở Pháp có một nhu cầu cấp bách, dường như điều đó cần thiết cho những gì liên quan đối với sự sinh tồn của nước Pháp, nhằm đạt được sự thống nhất quốc gia về hai năm quân dịch được một đa số hẹp phê chuẩn hồi tháng 3 - Ngoài ra, ở Pháp còn có mong muốn chung là phục hồi khối liên minh ngày xưa năm 1895 hoặc một cái gì giống như thế. Ngày 2 tháng 5 năm 1935, chính phủ Pháp ký hiệp ước Pháp-Xô. Đây là một văn kiện mơ hồ, bảo đảm sự tương trợ trong thời gian năm năm.

        Nhằm giành được kết quả rõ ràng trên trường chính trị Pháp, bây giờ Laval thực hiện một chuyến đi thăm Matxcơva ba ngày, ở đây ông được Staline hoan nghênh. Cũng tại đây đã diễn ra nhũng cuộc thảo luận dài, nhưng cho đến nay, không một công bố nào được ghi chép - Dĩ nhiên trước hết, Staline và Molotov khao khát muốn biết số quân Pháp hiện có ở mặt trận phía tây: Bao nhiêu sư đoàn? Thời gian phục vụ như thế nào? Sau khi lĩnh vực này đã được thăm dò, Laval nói: "Các ông không thể làm gì để giúp đỡ tôn giáo và tín đồ công giáo ở Nga sao? Đối với Giáo hoàng, điều này nhất định giúp tôi nhiều lắm". "Chà chà" Staline đáp - "Giáo hoàng à! ông ấy có bao nhiêu sư đoàn?" Tôi không được nghe kể lại câu trả lời của Laval, nhưng chắc ông ta có thể đã kể ra một số quân đoàn thỉnh thoảng thấy diễu hành. Laval không hề có ý định đưa nước Pháp vào bất cứ nghĩa vụ đặc biệt nào theo thói quen đòi hỏi của phía Xô Viết. Tuy nhiên ông cũng đạt được một tuyên bố công khai với Staline vào ngày 15 tháng 5, tán thành chính sách phòng thủ quốc gia của Pháp nhằm duy trì lực lượng vũ trang của họ ở mức bảo đảm - Dựa vào chiều hướng này, nhũng người Cộng sản Pháp lập tức quay ngược lại, rùm beng ủng hộ chương trình phòng thủ và chế độ quân dịch hai năm. Là một nhân tố trong nền an ninh châu Âu, nhưng hiệp ước Pháp-Xô này không chứa dụng nhũng cam kết ràng buộc cả hai bên trong trường họp Đức xâm lược, nên chỉ có nhũng lợi thế hạn chế. Không đạt được sự liên minh nào với Nga. Hơn nữa, trên đường về, Bộ trưởng ngoại giao Pháp dừng lại ở Cracow để dự đám tang Thống chế Pilsudski. Ở đây ông gặp Goering, nói chuyện rất thân mật với ông này. Và những biểu lộ về sự ngờ vực, không ua thích Liên Xô của ông được thuật lại đầy đủ cho Matxcova qua những nguồn tin của Đức.

*

        Súc khỏe và khả năng của ông MacDonald bấy giờ suy sụp đến mức không thể tiếp tục làm thủ tướng - Ông không bao giờ được Đảng Bảo thủ ưa thích. Họ đánh giá ông do những thành tích chính trị và chiến tranh của ông, do lòng trung thành của người đảng viên xã hội của ông, cùng với thành kiến nuôi dưỡng từ lâu có dịu đi trong những năm sau này vì lòng thương hại. Chẳng biết có phải với lý do chính xác không mà không người nào bị Đảng Lao động Xã hội căm ghét hơn như ông, nguôi tạo lập nên Đảng này quy mô như thế vậy mà sau đó vào năm 1931, ông lại bị lật đổ bằng điều mà người ta xem như là sự đào ngũ phản bội của ông. Trong đa số của Chính phủ, ông chỉ có bảy người theo mình. Chính sách giải trừ quân bị mà ông hiến dâng những cố gắng cá nhân tối đa của mình vào, bây giờ chúng tỏ một thất bại tai hại. Trong một cuộc tổng tuyển cử có thể không xa lắm, ông không thể đóng một vai tro có ích. Trong những tình huống như thế không lấy gì làm ngạc nhiên, khi ngày 7 tháng 6 người ta báo rằng ông và ông Baldwin thay đổi vị trí và nhiệm vụ, và ông Baldwin trở thành Thủ tướng lần thứ ba - Bộ Ngoại Giao cũng chuyển sang người khác - Công việc của ngài Samuel Hoare ở Ấn Độ đã được hoàn thành do chính phủ thông qua dự luật về Ấn Độ và bây giờ ông ta rảnh để quay sang một công việc quan trọng cấp bách hơn. Trong một thời gian chính sách đối ngoại của Ngài John Simon bị các đảng viên Bảo thủ có thế lực hợp sức chặt chẽ với chính phủ công kích gay gắt. Bây giờ ông chuyển sang bộ Nội Vụ nơi mà ông rất quen thuộc và ngài Samuel Hoare trở thành Bộ trưởng ngoại giao.

        Cùng một lúc, ông Baldwin thực hiện một thủ đoạn mới lạ. Ông bổ nhiệm ông Anthony Eden làm công sứ phụ trách công việc của Hội Quốc Liên. Gần mười năm Eden hầu như hiến thân hoàn toàn cho việc nghiên cứu công tác đối ngoại. Khi được 18 tuổi, ông tham gia Chiến tranh thế giới, ông đã phục vụ xuất sắc bốn năm trong đội quân vũ trang và trải qua nhiều trận đẫm máu nhất, ông leo lên chức Thiếu tá lữ đoàn với Bội tinh chiến công. Ông làm việc ở Bộ Ngoại Giao, địa vị ngang Bộ trưởng có quyền quyết định và sử dụng các cán bộ nhân viên của bộ. Mục tiêu của ông Baldwin không nghi ngờ gì nữa là gây được một trào lưu công luận bền vững kết hợp với Hội Quốc Liên bằng cách chứng minh sự quan trọng ông dành cho Hội và cho sự chỉ đạo công việc ở Geneve. Khoảng một tháng sau, có dịp bình luận về điều tôi mô tả là "kế hoạch mới lạ cho phép hai Bộ trưởng ngoại giao ngang bằng nhau" tôi đã làm cho mọi người chú ý đến những nhược điểm rõ ràng của nó.

        Trong khi người và việc ở trong tình thế này thì chính phủ Anh phạm phải một hành động đáng kinh ngạc nhất. Ít nhất có một vài người bốc đồng trong số này là của bộ Hải quân. Thường là nguy hiểm khi binh lính, thủy thủ hoặc phi công mà làm chính trị. Họ bước vào một môi trường mà những nguyên lý tiêu chuẩn hoàn toàn khác với những điều họ đã quen thuộc.

        Trước kia có lúc đã có những cuộc đàm luận giũa bộ Hải quân Anh và Đức về tầm vóc của hai hạm đội. Theo hòa ước Versailles người Đức không có quyền xây dựng quá sáu tàu bọc sắt 10.000 tấn, thêm vào sáu tuần dương hạm không quá 6.000 tấn. Bộ hải quân Anh vừa mới khám phá rằng hai tàu chiến nhỏ sau cùng đang đóng, chiếc Schamhorst và chiếc Gneisenau có kích thước lớn hơn kích thước hòa ước cho phép và kiểu mẫu hoàn toàn khác. Trên thực tế hai tàu này trở thành tuần dương hạm 26.000 tấn hoặc là tàu khu trục đánh phá thương thuyền loại lớn nhất, và đều đóng một vai trò quan trọng trong thế chiến thứ hai.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:07:52 AM

        Mặc dù việc vi phạm hòa ước một cách trơ tráo và gian lận này, được trù tính chu đáo và bắt đẩu ít nhất sớm hơn hai năm (1933), bộ Hải quân vẫn thực sự nghĩ rằng cần ký một thỏa ước về hải quân Anh-Đức. Chính phủ Hoàng gia làm việc này không tham khảo người đồng minh Pháp hoặc báo cho Hội Quốc Liên. Ngay lúc ấy, khi bản thân chính phủ khẩn khoản yêu cầu Hội Quốc Liên và tranh thủ được sự ủng hộ của các nước hội viên nhằm phản đối, chống lại sự vi phạm của Hitler đối với các điều khoản quân sự của hòa ước, thì chính phủ lại hành động bằng một thỏa ước riêng rẽ nhằm gạt bỏ các điều khoản về hải quân trong cùng hòa ước ấy.

        Nét đặc biệt chủ yếu của thỏa ước là hải quân Đức không được quá một phần ba hải quân Anh - Điều này rất hấp dẫn dối với Bộ Hải quân khi nhìn lại những ngày trước Chiến tranh Thế giói lần thứ nhất, khi chúng tôi bằng lòng với tỷ lệ mười sáu chọi mười. Vì triển vọng đó, trong khi chấp nhận những điều bảo đảm của Đức chỉ có hình thức giá trị bề ngoài. Chính phủ tiếp tục thừa nhận Đức có quyền đóng tàu ngầm, rõ ràng quyền này không được hòa ước cho phép - Đức có thể xây dựng một số lượng tàu ngầm bằng sáu chục phần trăm của Anh, và nếu họ quyết định đó là trường hợp ngoại lệ thì có thể xây dựng tới một trăm phần trăm. Dĩ nhiên người Đức bảo đảm rằng tàu ngầm của họ không bao giờ dùng để chống lại tàu buôn. Vậy thì tại sao lại cần những tàu đó? Bởi vì rõ ràng là nếu phần còn lại của thỏa ước được thi hành đúng, thì những tàu đó không thể ảnh hưởng đến quyết định về hải quân ở chùng mực có liên quan đến tàu chiến.

        Việc giới hạn hạm đội Đức tới một phần ba hạm đội Anh cho phép Đức có một chương trình xây dựng mới có thể bố trí các xưởng phải hoạt động tối đa ít nhất trong 10 năm - Bởi vậy không có giới hạn thực tế hoặc bất cứ loại hạn chế nào áp đặt lên việc phát triển hải quân Đức - Họ xây dựng nhanh theo quy luật tự nhiên - Chỉ tiêu số tàu ấn định cho Đức theo kế hoạch của Anh về thực tế, là hậu hĩ hơn mức thiết thực cần có của Đức. Như bây giờ chúng ta biết, Hitler đã cho đô đôc Reader biết rằng chiến tranh với Anh nhất định không thể xảy ra trước 1944-45. Vì vậy sự phát triển hải quân Đức được trù tính trên cơ sở dài hạn. Chỉ riêng tàu ngầm họ có đóng theo giới hạn giấy tờ đầy đủ cho phép không? Ngay khi họ có thể vượt quá 60% giới hạn, họ viện điều khoản được phép xây dựng đến 100% và 57% đã thực sự được xây dựng khi bắt đầu chiến tranh.

        Về đồ án thiết kế tàu chiến mới, người Đức có thuận lợi hơn là không trở thành người tham gia các điều khoản của hiệp nghị hàng hải Washington hoặc hội nghị Luân Đôn. Họ lập tức bắt đầu chiếc Bismarck và chiếc Tirpitz, và trong khi Anh, Pháp và Mỹ bị ràng buộc hoàn toàn bởi giới hạn 35.000 tấn thì hai chiếc tàu thủy to lớn này được thiết kế có trọng lượng 45.000 tấn, và một khi đã được đóng xong thì chắc chắn đó là hai chiếc tàu trên biển kiên cố nhất thế giới.

        Cũng vào lúc này, Hitler có một lợi thế ngoại giao lớn để ly gián các nước đồng minh, để có một nước trong số đồng minh sẵn sàng bỏ qua những vi phạm hòa ước Versailles và để dành cho việc hồi phục tự do tái vũ trang hoàn toàn bằng sự thừa nhận thỏa thuận với Anh. Tác dụng của lời loan báo này là một đòn nặng nữa nhằm vào Hội Quốc Liên - Người Pháp có mọi quyền để kêu ca rằng quyền lợi sinh tử của họ bị động chạm do việc Anh cho phép Đức đóng tàu ngầm. Qua bằng chứng tình tiết này, Mussolini thấy Anh hành động không thiện ý với các đồng minh khác, miễn là quyền lợi hải quân đặc biệt của mình được bảo đảm thì Anh quyết tâm làm bất cứ điều gì để thỏa hiệp với Đức. Điều này được coi như là thái độ bất chấp đạo lý và ích kỷ của Anh - Các cường quốc bắc Âu mà trước đó hai tuần lễ đã dũng cảm duy trì sự phản đối chống Hitler áp dụng quân dịch cưỡng bách trong quân đội Đức, bây giờ nhận thấy Anh đã bí mật thỏa thuận cho hải quân Đức dù chỉ bằng một phần ba của Anh, sẽ làm chủ vùng biển Baltic trong giới hạn này.

        Các bộ trưởng Anh còn tiến hành cách chơi đặc sắc với đề nghị của Đức hợp tác với chúng ta hủy bỏ tàu ngầm. Xét rằng điều kiện gắn với điều này, là tất cả các nước khác phải đồng thời đồng ý, và biết rõ ràng chẳng có chút cơ hội mong manh các nước khác tán thành, đối với người Đức đây là một sự trả giá rất an toàn. Điều này cũng hợp với thỏa thuận của Đức nhằm hạn chế việc sử dụng tàu ngầm chống việc buôn bán không mang tính nhân đạo. Ai có thể tin rằng người Đức có đội tàu ngầm to lớn, đứng nhìn đàn bà, trẻ con họ bị bỏ đói do sự phong tỏa của Anh mà cứ nhất định phải kiềm chế hết sức việc sử dụng vũ khí này? Tôi mô tả quang cảnh này như là tột đỉnh của tính cả tin.

        Chẳng những không trở thành một bước đi tới giải trừ quân bị, thỏa ước này, nếu được thực hiện qua một thời gian vài năm, chắc chắn đã kích thích khắp thế giới việc phát triển đóng tàu chiến mới. Không kể những tàu thủy mới đây nhất của họ, hải quân Pháp phải được xây dựng lại - Điều này nhất định tác động trở lại đối với Ý. về phía chúng tôi, rõ ràng chúng tôi phải xây dựng lại hạm đội Anh trên một qui mô rất rộng lớn để duy trì ưu thế ba chọi một của chứng tôi về tàu hiện đại.

        Có lẽ Bộ Hải quân nghĩ rằng hải quân Đức bằng một phẩn ba hải quân Anh thì Hải quân Anh phải gấp ba lần Hải quân Đức. Điều này có thể làm sáng tỏ con đường dẫn tới việc xây dựng lại hợp lý và quá chậm hạm đội chúng tôi - Nhưng đâu là những chính khách thông minh?

        Bộ trưởng hải quân công bố thỏa ước này với Nghị viện ngày 21 tháng 6 năm 1935, tôi là người lên án sớm nhất thỏa ước này. Trên thực tế điều đã được thực hiện là nhằm cho phép Đức xây dựng khả năng tột đỉnh của họ trong năm hoặc sáu năm sắp tới.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:14:49 AM

*

        Trong phạm vi quân sự lúc đó, việc thiết lập chính thúc chế độ cưỡng bách quân dịch ở Đức ngày 16 tháng 3 năm 1935 đánh dấu sự thách thúc cơ bản với hòa ước Versailles. Nhưng những biện pháp theo đó quân đội Đức được mở rộng và tổ chức lại, không chỉ quan tâm đến mặt kỹ thuật. Cái tên Reichswehr đổi thành Wehrmacht. Quân đội phải chịu sự lãnh đạo tối cao của Quốc trưởng - Mỗi người lính tuyên thệ không phải với hiến pháp như trước đây mà còn với cá nhân Adolf Hitler - Bộ chiến tranh trực tiếp dưới quyền của Quốc trưởng. Một loại đội hình mới được dụ kiến - Sư đoàn thiết giáp hay Panzer - và chẳng mấy chốc ba sư đoàn này ra đời. Những sự chuẩn bị chi tiết cũng được xúc tiến cho việc tổ chức thanh niên Đức thành những trung đoàn. Bắt đầu trong hàng ngũ thanh niên Hitler, thiếu niên Đức đến tuổi 18 thì vào đội xung kích trên cơ sở tự nguyện hai năm - Sự phục vụ trong các tiểu đoàn dân công hay là Arbeitsdienst trở thành một nhiệm vụ cưỡng bách đối với đàn ông Đức bước vào tuổi 20. Trong sáu tháng, họ phải phục vụ tổ quốc làm đường, xây dụng doanh trại, hoặc tháo nước đầm lầy, chuẩn bị sẵn sàng về vật chất và tinh thần cho nhiệm vụ của một công dân Đức là hầu hạ lực lượng vũ trang - Trong tiểu đoàn dân công thì việc thủ tiêu giai cấp và sự đoàn kết xã hội của dân tộc Đức được nhấn mạnh; trong quân đội thì áp đặt kỷ luật và vấn đề thống nhất lãnh thổ quốc gia.

        Nhiệm vụ cực kỳ lớn về huấn luyện con người mới và phát triển cán bộ bây giờ bắt đầu. Ngày 15 tháng 10 năm 1935 bất chấp các điều khoản của hòa ước Versailles, Hitler mở lại trường đại học tham mưu Đức với nghi lễ chính thức có chỉ huy các lực lượng vũ trang tháp tùng - ở đây là đỉnh của hình chóp mà dưới chân là vô số đội hình tiểu đoàn dân công. Ngày 7 tháng 11 khóa đầu tiên của học sinh sinh năm 1914 được gọi nhập ngũ: 596000 thanh niên sẽ được huấn luyện về binh nghiệp. Như vậy, ít nhất là trên giấy tờ, quân đội Đức được tăng lên gần 700.000 lính chiến đấu.

        Cần hiểu rằng sau đợt gọi nhập ngũ đầu tiên khóa lính sinh năm 1914, ở Đức cũng như ở Pháp, những năm tiếp theo, số lính mới bị giảm bớt, do vậy vào tháng 8 năm 1936, thời gian quân dịch tại ngũ tăng lên tới hai năm. Khóa lính sinh năm 1915 là 464.000 người và với việc giữ lại khóa lính năm 1914 một năm nữa thì số người Đức đang được tập luyện thành quân chính quy năm 1936 là 1.511.000 người. số đủ súc khỏe của quân đội Pháp, ngoài quân dự bị ra, trong cùng năm đó là 623000 người, mà ở tại Pháp chỉ có 407000 người.

        Những con số sau đây do các chuyên viên thống kê có thể dự kiến với khá nhiều chính xác, tự chúng sẽ giải thích:

        Bản so sánh những con số của Pháp và Đức về các khóa binh lính, sinh từ năm 1914 đến 1920, và được gọi nhập ngũ từ 1934 đến 1940.

Khóa    Người Đức              Người Pháp           
1914596.000 người279.000 người
1915464.000 người184.000 người
1916351.000 người165.000 nguôi
1917314.000 người171.000 người
1918326.000 người197.000 người
1919485.000 người218.000 người
1920636.000 người360.000 nguôi
TC:3.172.000 người 1.574.000 người
       
        Cho đến khi những con số này trở thành sự thật theo năm tháng tiếp diễn thì chúng vẫn chỉ là những điềm cảnh cáo báo trước - Tất cả những gì được thực hiện đến năm 1935 đều không đạt được số lượng đầy đủ và sức mạnh của quân đội Pháp và lực lượng dự bị rộng lớn của họ, ngoài các đồng minh đông đảo và hùng mạnh của họ ra. Thậm chí lúc này một quyết định cương quyết dựa vào uy quyền của Hội Quốc Liên - quyết định này sẽ dễ dàng giành được - có thể đã ngăn chặn được toàn bộ quá trình - Nước Đức hoặc bị đưa ra tòa ở Geneve, được mời giải thích đầy đủ và để cho phái đoàn điều tra giữa các đồng minh thẩm tra tình hình lực lượng vũ trang và các tổ chức quân sự đang vi phạm hòa ước, hoặc, trong trong họp bị khước từ thì các đầu cầu trên sông Rhine có thể bị tái chiếm cho đến khi hòa ước được bảo đảm thi hành đúng, không có bất kỳ kháng cự thực sự nào hoặc nhiều khả năng đổ máu. Theo cách này, chiến tranh thế giới lần thứ hai có thể ít nhất cũng chậm lại không biết đến bao giờ. Nhiều sự việc và chiều hướng chung Bộ tham mưu Pháp và Anh đều biết rõ, và trong một chừng mực ít hơn, các chính phủ cũng hiểu. Chính phủ Pháp tuy tình trạng không ổn định liên tục do mưu đồ của các hoạt động chính trị đảng phái, và chính phủ Anh cũng vấp phải những thiếu sót tương tự do cách thức tiến hành trái ngược thỏa thuận chung nhằm giữ kín tình hình, đều không có khả năng tiến hành bất cứ hành động quyết liệt hay dứt khoát nào, dù chính đáng đến đâu theo hòa ước và theo sự khôn ngoan thông thường.



Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:16:11 AM

8

TRỪNG PHẠT Ý -1935

        Nền hòa bình thế giới lúc này chịu một đòn thứ hai nặng nề. Theo sau sự mất quân bình về không quân của Anh là việc nước Ý chuyển sang đi với Đức. Hai sự kiện này kết hợp lại cho phép Hitler đẩy tới tiến trình chết người đã định trước. Chúng ta thấy Mussolini có ích biết bao trong sự bảo vệ nền độc lập của Áo với tất cả những gì việc đó bao hàm ở trung và đông nam Châu Âu. Giờ đây, ông ta định qua phe đối lập. Nước Đức Quốc Xã không còn đơn độc. Một trong số đồng minh chủ yếu trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chẳng mấy chốc nhập bọn với họ. Diễn biến bất lợi nghiêm trọng này về cán cân an toàn đè nặng tâm trí tôi.

        Ý đồ của Mussolini chống Abyssinia không thích họp với đạo lý thế kỷ hai mươi. Nó thuộc về thời đại trung cổ, khi người da trắng tự thấy mình có quyền chinh phục người da vàng, da nâu, da đen hay đỏ và nô dịch họ bằng súc mạnh và vũ khí nhiều hơn của mình. Trong thời đại ánh sáng của chúng ta, khi tội ác và hành động tàn bạo xảy ra, những người man rợ thuở xưa chùn lại trước tội ác và hành động tàn bạo đó, hoặc ít nhất họ không có khả năng phạm phải, tư cách đạo đức như thế vừa lỗi thời và vừa đáng chê trách. Hon nữa Abyssinia là thành viên của Hội Quốc Liên. Theo một sự đảo ngược lạ lùng, năm 1923 chính Ý đã thúc ép Abyssinia gia nhập, còn Anh thì chống lại việc này. Quan điểm của người Anh là tính chất của chính phủ Ethiopia và những điều kiện đang thịnh hành trong xứ sở man rợ của chính thể chuyên chế, chiếm hữu nô lệ và của chiến tranh bộ tộc này là không phù hợp với tư cách hội viên của Hội Quốc Liên. Nhưng người Ý làm theo ý họ và Abyssinia trở thành hội viên của Hội Quốc Liên với mọi quyền hạn của mình và những bảo đảm như thế mà cơ quan này có thể cung cấp. Thực vậy, ở đây là một trường họp thử thách đối với công cụ của chính quyền thế giới, chỗ dựa của những hy vọng của mọi người tốt bụng.

        Nhà độc tài Mussolini của Ý không chỉ bị thúc đẩy bởi lòng thèm muốn lợi lộc về lãnh thổ. Quyền lực của ông, sự an toàn của ông tùy thuộc vào uy tín. Sự bại trận nhục nhã mà Ý phải chịu bốn mươi năm trước ở Adowa, sự nhạo báng của thế giới khi quân đội Ý không chỉ bị tiêu diệt hoặc bị bắt mà là bị tổn thương một cách đáng hổ thẹn, day dứt trong tâm trí mọi nguôi Ý. Họ đã thấy Anh sau những năm tháng trôi qua đã báo thù Khartom và Majuba như thế nào. Công bố dũng khí của mình bằng cách trả thù Adowa ở Ý có nghĩa hầu như chẳng khác gì việc lấy lại vùng Alsace Lorraine ở Pháp - Dường như Mussolini không có cách nào có thể củng cố quyền lực cá nhân dễ dàng hoặc ít rủi ro, tốn kém, hoặc như ông ta hiểu điều đó, tăng thêm uy quyền của Ý ở châu Âu, hơn là rủa mối nhục của những năm qua và thêm Abyssinia vào Đế quốc Ý vừa mới được xây dựng.

        Trong cuộc đấu tranh chống nước Đức Quốc Xã tái vũ trang mà tôi cảm thấy đang tới gần với những bước dài không lay chuyển được, tôị không muốn ghẻ lạnh với nước Ý, thậm chí đẩy họ vào phe đối lập. Không con nghi ngờ gì, sự công kích của một hội viên khác trong tình hình này, nếu không cảm thấy cay đắng, nhất định cuối cùng gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho Hội Quốc Liên, với tư cách là một nhân tố gắn chặt các lực lượng với nhau, mới có thể kiềm chế sức mạnh của nước Đức hồi sinh và mối đe dọa khủng khiếp của Hitler. Uy quyền được xác nhận của Hội Quốc Liên có lẽ có thể đạt được nhiều hơn là nước Ý đã từng đóng góp, hoặc chuyển nhượng. Nếu vì thế mà Hội Quốc Liên sẵn sàng sử dụng súc mạnh đoàn kết của tất cả các thành viên nhằm kiềm chế chính sách của Mussolini thì nhiệm vụ bắt buộc của chúng ta là thực hiện phần đóng góp của mình và đóng một vai trò đáng tin cậy. Hình như trong mọi trường hợp, nước Anh không có nghĩa vụ tự mình đúng ra giữ vai trò lãnh đạo. Nước Anh có nhiệm vụ đánh giá sự yếu kém của chính mình do sự mất cân bằng về lực lượng không quân và thậm chí hơn nữa, do việc Pháp mất thế quân sự trước nước Đức tái vũ trang. Một vấn đề rõ ràng và chắc chắn, các biện pháp thỏa hiệp là vô dụng đối với Hội Quốc Liên và nguy hại cho Anh nếu Anh gánh vác vai trò lãnh đạo. Nếu chúng ta nghĩ rằng tranh cãi đến cùng với nước Ý của Mussolini là đúng và cần thiết cho luật lệ và cho sự thịnh vượng của châu Âu thì chúng ta cũng cần thiết phải đánh ngã ông ta. Sự sụp đổ của nhà độc tài nhỏ bé hơn có thể phối hợp và đưa vào trận chiến tất cả các lực lượng - các lực lượng này vẫn còn rất lớn - các lực lượng này nhất định cho phép chúng ta kiềm chế nhà độc tài lớn hơn và như vậy ngăn ngừa được cuộc chiến tranh thứ hai của Đức.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười Hai, 2018, 10:23:42 AM

*

        Liên tục kể từ hội nghị Stresam, những sự chuẩn bị của Mussolini cho cuộc chinh phục Abyssinia đã rõ rành rành. Hiển nhiên dư luận Anh nhất quyết chống đối một hành động xâm lược như vậy của Ý. Những người đó của chúng ta thấy ở nước Đức của Hitler một hiểm họa không những cho hòa bình mà còn cho những người còn lại, họ khiếp sợ hành động này của một cường quốc loại một, như Ý được xếp loại lúc bấy giờ, từ phe chúng ta nhảy sang phe khác. Tôi nhớ một bữa ăn tối, có ngài Robert Vansittart và ông Duff Cooper, lúc đó chỉ có một thủ tướng cùng dự, chúng tôi đã dự đoán rõ ràng sự thay đổi có hại trong cán cân châu Âu. Kế hoạch được nêu lên để bàn bạc của mấy người chúng tôi là đi ra nước ngoài gặp Mussolini để giải thích cho ông ta hậu quả không thể tránh được đối với Anh. Việc này không có kết quả mà cũng chẳng đi đến đâu. Mussolini cũng như Hitler xem đế quốc Anh như một bà già hoảng sợ, mềm yếu, lúc tình hình xấu nhất chỉ nhất mực hăm dọa ầm ĩ và dù thế nào đi nữa cũng không thể gây chiến tranh. Huân tước Lloyd có quan hệ thân thiện với ông ta nhớ rằng Nghị quyết theo cảm hứng của ông Joad của đám sinh viên đại học chua tốt nghiệp Oxford, năm 1933 khước từ "chiến đấu cho nhà vua và tổ quốc đã đập ông ta như thế nào.

        Tháng tám, Bộ trưởng ngoại giao mời tôi và các lãnh tụ đảng đối lập riêng rẽ đến thăm ông ta tại Bộ ngoại giao, sự thật của các cuộc hội đàm này được chính phủ công bố. Ngài Samuel Hoare nói với tôi nỗi lo lắng ngày càng tăng về việc Ý xâm lược Abyssinia và hỏi tôi phải sẵn sàng trong bao lâu để chống lại việc này. Ước ao muốn biết nhiều hơn tình hình trong nước và riêng Bộ Ngoại giao trong tình trạng hai chính quyền, trước khi trả lời, tôi hỏi về quan điểm của Eden - nhất định tôi khiến ông ấy đến - Hoare nói và mấy phút sau, Anthony đến, mỉm cười, tâm trạng vui vẻ.

        Chúng tôi nói chuyện thoải mái. Tôi nói tôi nghĩ ông Bộ Trưởng ngoại giao được chứng minh là đúng khi nhất trí với Hội Quốc Liên chống lại Ý chừng nào mà ông có thể giành được sự ủng hộ của nước Pháp. Nhưng tôi nói thêm rằng ông không nên gây sức ép nào đối với Pháp do hiệp định quân sự của Pháp với Ý và mối bận tâm của họ về nước Đức và rằng trong trường họp như vậy tôi không hy vọng Pháp cứ phải đi quá xa. Nói chung tôi kiên quyết khuyên hai Bộ trưởng đừng có cố nắm vai trò lãnh đạo hoặc tự đề cao nổi bật quá.

        Gần tới mùa hạ năm 1935, sự di chuyển của tàu chở lính Ý qua kênh Suez vẫn tiếp tục và những lực lượng và quân nhu lớn được tập hợp dọc theo biên giới phía đông Abyssinia. Sau cuộc trò chuyện của tôi ở Bộ Ngoại giao, bỗng một sự kiện khác thường và đối với tôi là một sự kiện bất ngờ xảy ra. Ngày 24 tháng 8, nội các quyết định và tuyên bố rằng Anh nhất định duy trì nghĩa vụ của mình theo các hiệp ước và điều khoản của Hội Quốc Liên - Ông Eden bộ trưởng phụ trách các công việc của Hội Quốc Liên, gần như ngang hàng với Bộ trưởng Ngoại giao, đã ở Geneve trong mấy tuần. Tại đây, ông đã tập hợp Hội đồng hướng tới một chính sách trừng phạt Ý nếu Ý xâm lược Abyssinia. Nhiệm vụ đặc biệt của ông do bản chất thực sự của nó, đã khiến ông tập trung vào vấn đề Abyssinia nặng hơn các mặt khác. Trừng phạt tức là cắt đứt tất cả mọi viện trợ tài chính và trợ cấp kinh tế dành cho Ý và trao mọi khoản viện trợ này cho Abyssinia. Đối với một nước như Ý, phụ thuộc vào nhiều hàng hóa nhập không bị ngăn trở từ hải ngoại, thì điều này quả là một sự răn đe ghê gớm. Sự hăng hái và cách nói năng của ông Eden và những nguyên tắc ông công bố, chi phối được Hội đồng. Ngày 11 tháng 9 ông Bộ trưởng ngoại giao, ngài Samuel Hoare đến Geneve diễn thuyết trước Hội đồng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:16:08 AM

        "Tôi vui lòng bắt đầu việc xác nhận một lần nữa sự ủng hộ của chính phủ mà tôi là đại diện đối với Hội Quốc Liên và sự quan tâm của nhân dân Anh về an ninh chung... Những ý tưởng thiêng liêng trong quy ước Hội Quốc Liên và đặc biệt khát vọng thiết lập uy quyền của luật pháp trong giao dịch quốc tế, đã trở thành nhiệm vụ của lương tâm dân tộc chúng tôi. Chính là với những nguyên tắc của Hội Quốc Liên chứ không phải với bất cứ lời tuyên bố cá biệt nào mà nước Anh biểu thị sự gắn bó của mình. Bất kỳ quan điểm nào khác sẽ là sự đánh giá thấp thiện ý của chúng tôi và là sự buộc tội đối với sự chân thành của chúng tôi. Theo đúng những nghĩa vụ rõ ràng dứt khoát của mình, Hội Quốc Liên và nước tôi cũng vậy, ủng hộ sự duy trì tập thể quy ước trọn vẹn của Hội Quốc Liên và đặc biệt ủng hộ sự kháng cự tập thể và kiên định đối với mọi hành động xâm lược vô cớ."

        Mặc dù tôi lo lắng về nước Đức và vì tôi ít thích cách luận giải những công việc của chúng ta, tôi nhớ lại là tôi bị kích động bởi bài diễn văn này khi đọc nó trên báo Rivera Sunshine. Nó thức tỉnh mọi người và có ảnh hưởng khắp nước Mỹ. Nó liên kết tất cả các lực lượng kia ở Anh đang ủng hộ sự phối hợp dũng cảm đạo đức và sức mạnh. Đây ít nhất là một chính sách. Nếu chỉ một mình nhà hùng biện hiểu rõ những quyền lực kinh khủng nào ông nắm trong tay được buông lỏng lúc đó thì quả thực ông có thể trong một lúc đã lãnh đạo thế giới. Như nhiều nguyên nhân trong quá khứ đã cho thấy sự sống còn đối với tiến bộ và tự do của nhân loại, những tuyên bố này thu lượm được giá trị của chúng nhờ có Hải quân Anh đằng sau. Lần đầu và cũng là lần cuối cùng, Hội Quốc Liên dường như tùy ý sử dụng một vũ khí muôn thuở. Đây là lực lượng cảnh sát quốc tế có quyền lực tối thượng có thể được sử dụng cho mọi sức ép kinh tế ngoại giao và sự thuyết phục. Ngày 12 tháng 9, đúng ngày hôm sau khi tuần dương hạm Hood và Renown được đội tàu tuần dương thứ hai và một đội tàu khu trục nhỏ hộ tống, tới cảng Gibraltar, phải thừa nhận rằng về mọi mặt người Anh phải bảo vệ lời nói bằng hành động. Chính sách cũng như hành động đều giành được sự ủng hộ lập tức, áp đảo trong nước. Dĩ nhiên, không phải giả tạo, không có việc tuyên bố mà cũng không có việc di chuyển tàu chiến mà không có sự tính toán thận trọng về mặt chuyên môn của Tổng tư lệnh Hải quân hoặc hạm đội bắt buộc phải có mặt ở Địa Trung Hải để cho các cam kết của chúng ta được chắc chắn.

        Cuối tháng 9 tôi phải chuẩn bị một bài diễn văn ở City Carlton Club, một tổ chức chính thống có một ít ảnh hưởng. Tôi cố gắng chuyển lời cảnh cáo tới Mussolini mà tôi tin ông sẽ đọc, nhung đến tháng 10, do Hải quân Anh di chuyển đến chậm không làm ông nao núng, nên ông tung quân đội Ý vào cuộc xâm lược Abyssinia. Ngày thứ 10 bằng cuộc bỏ phiếu của năm mươi nước có chủ quyền chọi một, hội đồng Hội Quốc Liên quyết định thi hành những biện pháp tập thể chống Ý, một ủy ban mười tám nước được cử ra để thực hiện những cố gắng thêm nữa cho một giải pháp hòa bình. Như vậy, khi bị đối chất, Mussolini đã ra một tuyên bố dứt khoát, khôn ngoan và thâm hiểm. Thay vì tuyên bố "Ý sẽ cam chịu trùng phạt bằng chiến tranh", ông tuyên bố "Nước Ý sẽ cam chịu trừng phạt bằng kỷ luật, bằng tiết kiệm và bằng hy sinh". Tuy vậy đồng thời ông cho biết ông nhất định không chịu bất kỳ sự trừng phạt nào cản trở sự xâm lược của ông đối với Abyssinia. Nếu việc làm táo bạo này lâm nguy, ông nhất định tiến hành chiến tranh với bất kỳ ai cản trở ông. ông tuyên bố: "50 quốc gia! 50 quốc gia do một quốc gia lãnh đạo!". Tình thế là như vậy vào những tuần trước ngày giải tán Quốc hội ở Anh, và theo hiến pháp, lúc bấy giơ cuộc tổng tuyển cử đã đến hạn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:16:31 AM

*

        Sự đổ máu ở Abyssinia, lồng căm thù chủ nghĩa Phát xít, sự viện dẫn việc trừng phạt của Hội Quốc Liên gây chấn động trong Công đảng Anh. Đoàn viên công đoàn, nổi bật là ông Emest Bevin, quyết không theo chủ nghĩa hòa bình. Từ những người làm công ăn lương khỏe mạnh dấy lên lời đề nghị đanh thép chiến đấu chống nhà độc tài Ý, thúc ép phải trừng phạt kiên quyết và nếu cần, sử dụng hạm đội Anh. Tại các cuộc mít tinh sôi nổi người ta dùng những lời lẽ thô sơ cộc cằn. Có lần ông Bevin đã phàn nàn rằng ông chán ngấy phải nghe ông George Lansbury lải nhải về lương tâm "quanh quẩn từ hội nghị này đến hội nghị khác". Nhiều đảng viên Công đảng trong Nghị viện cũng chia xẻ tâm trạng của công đoàn. Trong một phạm vi rộng rãi hơn, tất cả lãnh tụ của Hội Quốc Liên cảm thấy mình bị ràng buộc với sự nghiệp của Hội. Ở đây có nguyên tắc là sự phục tùng, những kẻ suốt đời theo chủ nghĩa nhân đạo sẵn sàng chết cho những nguyên tắc này và nếu phải sẵn sàng chết thì cũng sẵn sàng chém giết cho những nguyên tắc ấy. Ngày 8 tháng 10 ông Lansbury từ chức lãnh đạo Công đảng trong Nghị viện và thiếu tá Attlee người có thành tích tốt trong chiến tranh thay ông ta.

        Nhưng sự bừng tỉnh của dân tộc này không phù hợp với quan điểm hay ý định của ông Baldwin. Không phải đợi đến nhiều tháng sau cuộc bầu cử, tôi mới bắt đầu hiểu những nguyên tắc làm cơ sở cho các biện pháp trừng phạt. Thủ tướng tuyên bố rằng một là trừng phạt, có nghĩa là xảy ra chiến tranh, hai là không cần phải có chiến tranh, ba là quyết định chống các biện pháp trừng phạt. Dĩ nhiên không thể điều hòa ba điều kiện này. Dưới sự hướng dẫn của Anh và súc ép của Laval một ủy ban của Hội Quốc Liên được giao trách nhiệm đề ra các biện pháp trừng phạt, và phải tránh bất cứ biện pháp nào gây ra chiến tranh. Một số lớn hàng hóa, trong đó có vật liệu chiến tranh bị cấm đưa vào Ý, và một bản danh mục rất nghiêm ngặt được vạch ra. Nhưng dầu, không có nó thì không thể duy trì chiến dịch ở Abyssinia, lại tiếp tục được đưa vào tự do, vì hiểu rằng ngừng đưa dầu vào có nghĩa là chiến tranh. Ở đây thái độ của Hoa Kỳ, không phải là thành viên của Hội Quốc Liên, không phải là nước cung cấp dầu chủ yếu trên thế giới, mặc dù rộng lượng, là không đáng tin cậy. Hơn nữa ngăn chặn dầu vào Ý cũng kéo theo việc ngăn chặn dầu vào Đức. Việc xuất khẩu aluminium cho Ý bị cấm ngặt, nhung aluminium gần nhu là kim khí duy nhất Ý sản xuất rất nhiều vượt xa yêu cầu của họ. Nhân danh công lý việc nhập khẩu sắt vụn và quặng sắt vào Ý bị phủ quyết nghiêm khắc. Nhưng vì công nghiệp luyện kim của Ý chỉ sử dụng ít sắt vụn và quặng sắt và vì không cần dùng đến những thanh thép nhỏ và gang nên Ý không bị trở ngại. Nhu vậy những biện pháp được nhấn mạnh với một sự phô trương lớn lao cũng không làm tê liệt kẻ xâm lược, mà chỉ là những biện pháp trừng phạt yếu ớt đến nỗi kẻ xâm lược nhất định chịu đựng được, bởi vì thực tế là dù phiền hà, những biện pháp đó đã khuyên khích khí thế chiến tranh của Ý. Bởi vậy Hội Quốc Liên đã đeo đuổi việc cứu nguy cho Abyssinia theo nguyên tắc không nên làm việc gì ngăn trở quân xâm lược Ý. Công chúng Anh không được biết sự thật này trong thời gian bầu cử. Họ sốt sắng ủng hộ chính sách trừng phạt và tin rằng đây là con đường chắc chắn đưa cuộc tấn công của Ý chống Abyssinia đi đến chấm dứt.

        Ấy thế mà chính phủ Hoàng gia còn dự định sử dụng hạm đội ít hơn. Mọi thứ chuyện đồn đại được kể về đội máy bay ném bom bổ nhào tự sát của Ý lao xuống làm nổ tung boong tàu chúng ta ra từng mảnh. Hạm đội Anh đang thả neo nằm ở bến cảng Alexandria lúc ấy được tăng cường. Bằng một hành động, hạm đội có thể khiến các tàu chở quân Ý xuất phát từ kênh Suez phải quay trở lại và tất nhiên đã phải nghênh chiến với hải quân Ý. Người ta nói với chúng ta rằng không thể làm vừa lòng một đối thủ như vậy. Tôi đã nêu vấn đề lên từ đầu, nhưng lại được xoa dịu và bỏ qua. Dĩ nhiên tàu chiến lớn của chúng ta đã cũ kỹ và bây giờ hình như chúng ta không có lực lượng không quân yểm trợ và đạn dược cho súng cao xạ rất ít. Tuy nhiên điều đó để lộ ra rằng viên đô đốc chỉ huy không bằng lòng với ý kiến quy cho ông là không đủ kiên quyết để đánh một trận tốc chiến. Có lẽ dường như trước khi thực hiện quyết định đầu tiên nhằm phản đối sự xâm lược của Ý, chính phủ Hoàng gia lẽ ra đã phải nghiên cứu kỹ cách thức và biện pháp và cũng phải đi đến những quyết định.

        Căn cứ vào sự hiểu biết hôm nay của chúng ta, không nghi ngờ gì một quyết định dũng cảm nhất định cắt được liên lạc của Ý với Ethiopia và chúng ta lẽ ra thắng lợi trong bất kỳ trận thủy chiến nào nếu nó xảy ra sau đó. Tôi không bao giờ ủng hộ hành động riêng rẽ của Anh, nhưng tới múc độ như vậy thì rút lui là một hành động tai hại. Mussolini không bao giờ dám đánh giáp lá cà với một chính phủ Anh kiên quyết. Gần như cả thế giới chống lại ông ta, và dựa vào một cuộc chiến tranh đơn thương độc mã với Anh, ông đã đánh liều chế độ của mình, và trong cuộc chiến tranh này, một trận tốc chiến ở Địa Trung Hải sẽ là thử thách đầu tiên và quyết định. Ý có thể lao vào cuộc chiến tranh này như thế nào? Ngoài lợi thế hạn chế về tàu tuần tiễu hiện đại loại nhẹ ra, hải quân của họ chỉ bằng một phần tư quy mô của hải quân Anh. Đội quân nghĩa vụ đông đảo của họ, được khoác lác có tới hàng triệu, không thể giao chiến. Lực lượng không quân của họ về số lượng và chất lượng kém nhiều thậm chí so với quân số khiêm tốn của chúng ta. Lục lượng này sẽ bị bao vây ngay. Quân đội Ý ở Abyssinia sẽ phải đói nguồn tiếp tế và đạn dược. Lúc đó, Đức không thể giúp đỡ có hiệu quả. Nếu từ trước đến nay, có dịp nào đánh một cú quyết định vì một lý do hào hiệp ít rủi ro nhất, thì chính là ở đây và lúc này. Sự thật là cái gan của chính phủ Anh không đủ khả năng đối phó với tình hình chỉ có thể được bào chữa bằng lòng thành thật yêu hòa bình của mình. Trên thực tế điều đó đóng một vai trò trong việc đưa đến một cuộc chiến tranh vô cùng khủng khiếp hơn. Trò bịp của Mussolini thành công và một khán giả quan trọng rút ra những kết luận có thể áp dụng rộng rãi từ sự kiện này. Hitler từ lâu kiên quyết tiến hành chiến tranh để mở rộng nước Đức. Lúc này ý nghĩ ra một quang cảnh suy đồi của Anh thay đổi quá chậm đối với hòa bình và quá chậm đối với y. Ở Nhật cũng có những người suy nghĩ đăm chiêu như vậy.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:17:12 AM
       
*

        Hai quá trình đối lập nhằm đạt tới thống nhất quốc gia về vấn đề nóng hổi lúc này, sự xung đột quyền lợi đảng phái không thể tách rời khỏi cuộc tổng tuyển cử, cùng tiến về phía trước. Điều này rất có lợi cho ông Baldwin và những người ủng hộ ông. "Như trước đây Hội Quốc Liên vẫn là yếu tố quyết định trong chính sách đối ngoại của Anh". Tuyên ngôn bầu cử của chính phủ có nội dung như vậy. "Việc ngăn ngừa chiến tranh, thiết lập hòa bình trên thế giới luôn luôn phải là mối quan tâm sống còn của nhân dân Anh, và Hội Quốc Liên là công cụ được tạo dựng mà chúng ta dựa vào nhằm đạt những mục tiêu này. Vì thế chúng ta sẽ tiếp tục làm tất cả theo khả năng chúng ta để giữ gìn Quy ước, duy trì và tăng thêm hiệu lực của Hội Quốc Liên. Trong sự tranh chấp đáng tiếc hiện nay giữa Ý và Abyssinia, sẽ không có nao núng trong chính sách mà chúng ta đã đeo đuổi cho đến nay".

        Công Đảng, mặt khác, bị chia xẻ nhiều, số đông theo chủ nghĩa hòa bình, nhưng cuộc vận động tích cực của ông Bevin khiến nhiều người ủng hộ trong quần chúng lao động. Vì thế những nhà lãnh đạo chính quyền cố gắng để lộ sự hài lòng chung bằng cách cùng một lúc vạch ra những đường lối trái ngược. Một mặt họ hò hét đòi hành động kiên quyết chống nhà độc tài Ý, mặt khác họ phản đối kịch liệt chính sách tái vũ trang. Do đó ngày 22 tháng 10 tại Hạ viện, ông Attlee tuyên bố: "Chúng tôi cần những biện pháp trừng phạt có hiệu quả, được áp dụng có hiệu quả. Chúng tôi ủng hộ những biện pháp trừng phạt kinh tế. Chúng tôi ủng hộ tổ chức Hội Quốc Liên". Nhưng rồi sau đó, trong cùng một diễn văn: "Chúng tôi không tin chắc rằng cách đi tới an toàn là chất đống vũ khí lại. Chúng tôi không tin rằng trong lúc này có một kiểu quốc phòng như thế. Chúng tôi nghĩ rằng người ta phải tiến tới giải trừ quân bị chứ không phải chất đống vũ khí lại". Thường thường không bên nào có nhiều điều để kiêu căng vào thời gian bầu cử. Không nghi ngờ gì, bản thân Thủ tướng cũng biết số quân hiện có đang phát triển đằng sau chính sách đối ngoại của chính phủ. Tuy vậy ông ta quyết định không để bị lôi kéo vào chiến tranh bằng bất cứ lý do nào. Quan sát hành động bên ngoài, tôi thấy dường như ông lo thu thập càng nhiều sự ủng hộ càng tốt, và sử dụng sự ủng hộ đó vào việc bắt đầu tái vũ trang nước Anh trên một quy mô khiêm tốn.

        Trong cuộc tổng tuyển cử, ông Baldwin bằng lời lẽ kiên quyết, nói về sự cần thiết tái vũ trang và bài diễn văn chủ yếu của ông dành hết cho tình trạng không thỏa đáng của hải quân.

        Tuy nhiên khi đạt được những gì rõ ràng về một chương trình trừng phạt và tái vũ trang, ông lại rất nóng lòng khuyên giải những phần tử yêu chuộng hòa bình chuyên nghiệp trong nước, nóng lòng làm dịu sự lo ngại của họ qua bài nói chuyện về nhu cầu của hải quân của ông. Ngày 1 tháng 10 sáu tuần trước cuộc bầu cử, trong một bài diễn văn đọc trước Hiệp hội Hòa bình tại phòng họp của hội đồng thành phố Luân Đôn, ông tuyên bố: "Tôi hứa với các ông là sẽ không có chuyện vũ trang lớn". Dưới ánh sáng của tin tức chính phủ có được về sự chuẩn bị tích cực của Đức thì đó là một lời hứa kỳ quặc. Như vậy những lá phiếu của cả những ai mưu cầu lo liệu cho quốc gia, tự mình chuẩn bị phòng chống hiểm họa tương lai và cả những ai tin rằng hòa bình có thể được duy trì do đánh giá cao tác dụng của nó đều có lợi. Kết quả là một thắng lợi lớn của ông Baldwin, cử tri đã ban cho ông một đa số 247 phiếu nhiều hơn tất cả các đảng khác hợp lại, và sau năm năm giữ chức vụ, ông với tới một vị trí quyền lực cá nhân không có bất kỳ thủ tướng nào bằng, từ khi kết thúc cuộc đại chiến. Tất cả những ai chống đối ông về vấn đề Ấn Độ hay về sự phòng thủ cẩu thả của chúng ta, đều cảm thấy chán ngắt do sự bỏ phiếu tín nhiệm gia hạn này mà ông giành được nhờ sách lược khéo léo và may mắn của ông trong đời sống chính trị trong nước và sự quý trọng rộng rãi dối với danh tiếng riêng của ông. Như vậy một chính quyền tai hại hơn bất kỳ chính quyền nào trong lịch sử, chúng ta đã nhận ra mọi sai lầm, thiếu sót của mình từng được dân tộc hoan nghênh. Tuy nhiên có một dự luật phải trả giá, và nó đòi hỏi Hạ viện mới gần mười năm để trả giá.

        Có tiếng đồn tràn lan rằng tôi sẽ tham gia chính phủ, làm Bộ trưởng Hải quân. Nhưng sau khi những con số thắng lợi của ông được công bố, ông Baldwin tranh thủ thời gian thông báo qua cơ quan Trung ương (Central office) rằng ông không có ý định đưa thêm tôi vào chính phủ.

        Báo chí chế nhạo nhiều về việc tôi bị loại trừ. Nhưng lúc này người ta có thể thấy tôi may mắn bao nhiêu. Tôi như được chắp đôi cánh vô hình.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:21:01 AM

        Và tôi được hưởng niềm an ủi thích thú. Tôi bắt đầu lên đường với hộp thuốc vẽ đi đến những vùng ấm áp, không chờ cuộc họp của Quốc hội.

        Đối với thắng lợi lớn của ông Baldwin, có một hậu quả rắc rối mà vì thắng lợi đó, chúng ta có thể hy sinh khoa niên đại học. Ông bộ trưởng ngoại giao của ông, ngài Samuel Hoare, đi du lịch xuyên qua Paris đến Thụy Sĩ vào một ngày nghỉ trượt băng đáng được hưởng, có một cuộc nói chuyện với Laval còn là Bộ trưởng Ngoại giao Pháp. Kết quả hội đàm là Hiệp ước Hoare - Laval ngày 9 tháng 12. Bối cảnh của việc bất ngờ nổi tiếng này xảy ra đáng được xem xét một chút.

        Ý đồ của Anh dẫn dắt Hội Quốc Liên chống lại sự xâm lược phát xít của Mussolini đối với Abyssinia đã đưa quốc gia vào một trong những diễn biến lớn. Nhưng một khi cuộc tuyển cử kết thúc và các vị bộ trưởng thấy mình đã khống chế được một đa số có thể trao cho họ quyền lãnh đạo quốc gia trong năm năm, thì nhiều hậu quả chán ngắt phải được xem xét đến: Mọi hậu quả đó bắt nguồn từ khẩu hiệu "Không được có chiến tranh" và cả "không được có việc tái vũ trang lớn" của ông Baldwin, ông bầu xuất sắc này của đảng thắng cử nhờ dựa vào việc lãnh đạo thế giới chống xâm lược, tin chắc sâu sắc chúng ta phải giữ gìn hòa bình với bất cứ giá nào.

        Ngoài ra lúc nay, từ bộ Ngoại giao xảy ra một sự công kích kịch liệt. Ngài Robert Vansittart lúc nào cũng theo dõi để ý mối hiểm họa Hitler. Ông và tôi nhất trí với nhau về điểm này. Bấy giờ chính sách của Anh buộc Mussolini thay đổi thái độ. Đức không còn bị cô lập. Bốn cường quốc phương tây chia ra thành hai chống hai. (Đáng lẽ là ba chống một). Công việc của chúng ta rõ ràng càng làm trầm trọng thêm mối lo lắng ở Pháp. Hồi tháng giêng chính phủ Pháp đã đạt được hiệp ước Pháp - Ý. Theo ngay sau đó là hiệp định quân sự với Ý. Phải tính rằng hiệp định này đã cứu mười tám sư đoàn Pháp ra khỏi mặt trận Ý để chuyển sang mặt trận chống Đức. Trong cuộc điều đình của mình, chắc Laval đã gọi ý với Mussolini rằng Pháp không băn khoăn lo lắng về bất cứ điều gì có thể xảy đến cho Abyssinia. Người Pháp có những lý lẽ to tát để tranh cãi với các bộ trưởng Anh. Thứ nhất, trong nhiều năm chúng tôi cố gắng buộc họ giảm quân mà họ thì phải sống dựa vào quân đội là tất cả. Thứ hai người Anh rất khéo léo trong việc dẫn dắt Hội Quốc Liên chống lại Mussolini. Họ còn thắng cử nhờ việc này, ở những nước theo chế độ dân chủ các cuộc bầu cử là rất quan trọng. Ba là chúng tôi đã có được một hiệp định hải quân rất có lợi làm cho chúng tôi hoàn toàn yên tâm trên biển, ngoài cuộc chiến tranh tàu ngầm ra.

        Bấy giờ, vào tháng chạp năm 1935, xuất hiện một trận tranh cãi mới. Có tin đồn Mussolini bị các biện pháp trừng phạt o ép, và dưới sự đe dọa hết súc nặng nề của "50 quốc gia do một nước cầm đầu" phải hoan nghênh một thỏa hiệp về vấn đề Abyssinia. Một nền hòa bình đem lại cho Ý những thứ mà Ý hung hăng đòi hỏi và bỏ mặc bốn phần năm lãnh thổ Abyssinia, không thể được thực hiện chăng? Tình cơ Vansittart có mặt ở Paris lúc Bộ trưởng Ngoại giao đi qua, vì vậy bị lôi kéo vào sự việc, lẽ ra ông không bị đánh giá sai vì ông vẫn nghĩ đến mối đe dọa của Đức và mong Anh và Pháp chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm đương đầu với mối hiểm họa lớn này. Và họ mong Ý ở đằng sau với tư cách là một người bạn, chứ không phải là kẻ thù, để đương đầu với mối hiểm họa đang tới.

        "Baldwin" và các bộ trưởng của ông đã đem lại cho nước Anh một yếu  tố kích thích to lớn trong việc họ chống lại "Mussolini" ở Geneve. Họ đã đi quá xa đến nỗi việc cứu rỗi linh hồn duy nhất của họ rước lịch sử phải là hành động đến nơi đến chốn. Trừ khi họ sẵn sàng ủng hộ lời hứa và cử chỉ bằng hành động, có thể tốt hơn là đứng ngoài tất cả việc đó, như Hoa Kỳ, để cho mọi sự trôi đi, không việc gì phải lo và xem điều gì xảy ra. Có một kế hoạch đáng ngơ ở đây. Nhung không phải kế hoạch họ đã thông qua. Họ kêu gọi quần chúng và những người tay không, và những người cho đến nay vô tư lự hãy la hét ầm ĩ áp đảo mọi tiếng hò reo khác: "Vâng, chúng tôi quyết chống điều ác, chúng tôi quyết hành quân ngay bây giờ . Hãy trao vũ khí cho chúng tôi".


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:22:16 AM

        Hạ viện mới là một tổ chúc đầy khí thế. Họ cần sông với tât cả những gì có thể chấp nhận được trước mắt họ trong mười năm sau. Bỏi vậy trong khi rộn lên với cuộc bầu cử, thì như phải một cú sốc khủng khiếp họ nhận được tin tức về một sự thỏa hiệp giữa ngài Samuel Hoare và ông Laval về Abyssinia. Con khủng hoảng này gần như phải trả giá bằng sinh mệnh chính trị của ông Baldwin. Nó lung lay tận gốc Quốc hội và Quốc gia. Ông Baldwin trong chốíc lát gần như rơi từ điểm cao của người lãnh đạo quổíc gia được hoan hô, xuống vực thẳm, bị nhạo báng và khinh miệt. Địa vị của ông trong nghị viện trong những ngày này là đáng thương hại. Ông không bao giờ hiểu tại sao nhân dân phải lo nghĩ về tất cả những công việc ngoại giao gây phiền hà kia. Nguôi ta đánh lừa một đa số trong Đảng Bảo thủ, thế la không có chiến tranh. Ngườị ta có thể muốn gì nữa? Nhưng người lái máy bay có kinh nghiệm cảm thấy và lường được hoàn toàn súc mạnh của con giông tố.

        Ngày 9 tháng Chạp, Nội các phê chuẩn kế hoạch Hoare - Laval chia cắt đất nước Abyssinia giữa Ý và Hoàng đế. Ngày thứ 13 toàn văn kê hoạch đề xuất của Hoare - Laval được trình bày trước Hội Quốc Liên. Ngày thứ 18 Nội các hủy bỏ kế hoạch đề xuất của Hoare-Laval, như vậy đưa đến việc ngài Samuel Hoare từ chúc. Con khủng hoảng đã đi qua, trên con đường về từ Gen'eve, ông Eden được thủ tướng mòi đến số 10 Downing Street để thảo luận tình hình tiếp sau việc ngài Samuel Hoare từ chúc. Ông Eden gọi ý ngay rằng nên mời ngài Austen

        Chamberlain tiếp quản bộ Ngoại giao và nói thêm rằng nếu được yêu cầu, ông ta sẵn sàng phục vụ dưới quyền ông ấy bất kỳ với tư cách gì. ổng Baldwin trả lời rằng ông đã suy nghĩ vấn đề này, đã đích thân báo cho ngài Austen biết rằng ông cảm thấy không thể trao Bộ ngoại giao cho ông ấy - Điều này có thể là do sức khỏe của Ngài Austen. Ngày 22 tháng chạp ông Eden trở thành Bộ trưởng Ngoại giao.

        Nhà tôi và tôi trải qua tuần lễ hứng thú này ở Barcelona. Nhiều bạn tốt nhất của tôi khuyên tôi đừng trở về. Họ bảo tôi sẽ chỉ làm hại tôi nếu tôi dính dáng tới cuộc xung đột kịch liệt này. Khách sạn đủ tiện nghi Barcelona của chúng tôi là nơi tụ họp của phái tả Tây Ban Nha. Tại quán ăn thượng hạng này chúng tôi ăn trưa và tối, thường có nhiều nhóm thanh niên làm việc văn phòng, nét mặt hăm hở cùng nhau trò chuyện râm ran, cặp mắt long lanh, về đời sống chính trị của Tây Ban Nha, trong đó đúng là chẳng bao lâu nữa một triệu người Tây Ban Nha phải chết. Quay lại nhìn, tôi nghĩ phải trở về quê hương. Tôi có thể đưa ra một yếu tố có thể kết thúc chế độ Baldwin. Có lẽ một chính phủ dưới quyền ngài Austen Chamberlain có thể được thành lập vào lúc này. Mặt khác các bạn tôi lớn tiếng: "Tốt hơn là đừng có dây vào. Việc anh trở về sẽ bị xem như một sự thách thức trực tiếp đối với chính phủ". Tôi không thích thú lời khuyên này, chắc chắn không phải là xu nịnh, nhưng nghĩ rằng việc làm của mình có thể chẳng đi đến đâu, thế là tôi lưu lại Barcelona thêm một thời gian nữa, để mà vẽ bôi bác lên vải bạt dưới ánh nắng. Sau đó Frederick Lindemann đến gặp tôi, thế là chúng tôi đi chơi biển trên một chiếc tàu chạy bằng hơi nước xinh đẹp vòng quanh bờ biển phía đông Tây Ban Nha và cập bến ở Tangier. Tại đây tôi gặp ngài Rothermere cùng với một nhóm vui đùa. Ông ta cho biết ông Lloyd George đang ở Marrakesh, ở đây tời tiết tốt đẹp. Tất cả chúng tôi đi xe hơi tới đó. Tôi nán lại dùng son vẽ bức tranh Vương quốc Morocco duyên dáng và không quay về cho đến ngày 20 tháng giêng xảy ra cái chết đột ngột của vua George V.

*

        Cuộc kháng chiến sụp đổ của Abyssinia và việc Ý thôn tính toan bộ nước này không gây tác động gì trong dư luận công chúng Đức. Thậm chí những phần tử này tuy không tán thành chính sách hoặc hành động của Mussolini hình như cũng thán phục cách chỉ đạo chiến dịch mau lẹ, tàn nhẫn và có hiệu quả. Nhìn chung một nước Anh hết súc suy yếu nổi bật, bị Ý mãi mãi căm ghét; nó làm tan vỡ mặt trận ở Stressa lần này là lần cuối cùng; và việc Anh mất uy tín trên thế giới trái ngược hẳn một cách thú vị với sức mạnh và tiếng tăm đang lên của nước Đức mới. Một đại diện của chúng ta ở Bavaria viết "Tôi nhận thức sâu sắc cái giọng khinh thường liên quan đến Anh ở nhiều nơi... Phải lo ngại rằng thái độ của Đức trong đàm phán cho một thỏa thuận ở Tây Âu và cho một thỏa thuận chung hơn về các vấn đề châu Âu và ngoài châu Âu sẽ càng cứng rắn hơn". Tất cả điều này đều rất đúng. Để bảo vệ sự nghiệp vĩ đại của thế giới, chính phủ Hoàng gia đã tiến lên một cách không khôn ngoan. Người ta lãnh đạo năm mươi quốc gia xông lên với lời nói rất mục hào hoa. Chạm trán với sự thật tàn bạo, ông Baldwin đã rút lui. Chính sách của họ trong một thời gian dài được phác họa nhằm thỏa mãn dư luận của những phần tử có thế lực lớn trong nước hơn là nhằm vào tình hình thực tế của châu Âu. Bằng cách xa lánh Ý, họ đã làm đảo lộn toàn bộ cán cân châu Âu và chẳng giành được gì cho Abyssinia. Họ đã dẫn dắt Hội Quốc Liên vào một sự thất bại hoàn toàn, có hại nhất nếu không muốn nói là có hại chết người đối với sinh mạng thực sự của Hội với tư cách là một thể chế.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:23:49 AM

9

NHỮNG CUỘC TẤN CÔNG CỦA HITLER -1936

        Cuối tháng giêng năm 1936, khi trở về, tôi nhận ra không khí mới ở Anh. Cuộc chinh phục Ethiopia của Mussolini bằng những biện pháp tàn bạo, cú sốc về cuộc đàm phán Hoare - Laval, sự thất bại của Hội Quốc Liên, sự tan vỡ rõ ràng của cái "an ninh tập thể" đã thay đổi tâm trạng không những của Công đảng và Đảng Tự do mà còn của một khối lượng lớn ý kiến có thiện chí nhưng cho đến nay vẫn là phù phiếm. Tất cả những lực lượng nay lúc ấy sẵn sàng chờ đợi một cuộc chiến tranh chống phát xít hay là chống chính thể chuyên chế của Quốc xã. Chẳng những được loại trừ khỏi tư tưởng hợp pháp, việc sử dụng súc mạnh dần dần trở thành một vấn đề quyết định trong tư tưởng của đa số rộng rãi nhân dân yêu chuộng hòa bình và thậm chí của nhiều người cho đến bây giờ tự hào được gọi là những người hòa bình chủ nghĩa. Nhưng theo những nguyên tắc mà người ta phụng sự, sức mạnh chỉ có thể được sử dụng theo sáng kiến và dưới quyền của Hội Quốc Liên. Mặc dù cả hai đảng đối lập tiếp tục chống đối mọi biện pháp tái vũ trang, vẫn có một biện pháp hòa hợp to lớn để ngỏ, và phải chăng chính phủ Hoàng gia đã tỏ ra có khả năng đối phó với một tình huống bất ngờ là họ có thể lãnh đạo một dân tộc đoàn kết tiến vào toàn bộ công tác chuẩn bị theo một tinh thần khẩn cấp.

        Chính phủ trung thành với chính sách ôn hòa, biện pháp thỏa hiệp và giữ cho tình hình yên ổn. Thật lạ lùng đối với tôi là chính phủ không cố gắng sử dụng mọi sự hòa hợp dân tộc đang phát triển lúc bấy giờ. Bằng cách này, họ có thể làm cho mình vô cùng vững mạnh và giành được khả năng củng cố quốc gia. Ông Baldwin không có những khuynh hướng đó. Ông đang già đi nhanh. Ông ỉ vào cái đa số to lớn mà cuộc bầu đã đem lại cho ông và Đảng Bảo thủ nằm yên dưới quyền kiểm soát của ông.

*

        Một khi nước Đức của Hitler được phép tái vũ trang mà không có sự can thiệp tích cực của các nước đồng minh và các cường quốc liên minh trước kia, thì Chiến tranh Thế giới thứ hai gần như chắc chắn xảy ra. Càng lảng tránh lâu hơn một cuộc thử sức quyết định trước hết nhằm ngăn chặn Hitler mà không phải đánh nhau ghê gớm, đến giai đoạn hai thì chiến thắng có thể chỉ có được sau một cuộc thử thách khủng khiếp, thì số phận chúng tôi nhất định càng tồi tệ hơn. Mùa hè năm 1935 Đức tiến hành trở lại chính sách cưỡng bách tòng quân, vi phạm các hiệp ước. Anh bỏ qua việc này, và bằng một thỏa thuận riêng rê, bỏ qua việc Đức xây dựng lại lực lượng hải quân nếu họ muốn với tàu ngầm theo quy mô của Anh. Mùa xuân năm 1935, nước Đức Quốc xã bí mật và không hợp pháp xây dựng một lực lượng không quân được công khai khẳng định là bằng lực lượng không quân Anh. Lúc này họ đã bước vào năm thứ hai của việc tích cực sản xuất đạn dược sau một thời gian dài chuẩn bị vụng trộm. Anh và toàn thể châu Âu, và lúc đó nước Mỹ xa xôi nghĩ gì, đều đối mặt với một sức mạnh có tổ chức và quyết tâm tiến hành chiến tranh với bảy chục triệu người của một chủng tộc có năng lực nhất châu Âu đang nóng lòng mong đợi lấy lại vinh dự Tổ quốc, và nếu do dự, họ sẽ bị dồn vào một chế độ xã hội đảng trị, quân phiệt tàn nhẫn.

        Có lẽ vẫn còn thì giờ để khẳng định một nền an ninh tập thể dựa vào sự sẵn sàng được tuyên bố công khai của mọi thành viên có liên quan bắt buộc tôn trọng các quyết định của Hội Quốc Liên. Các nước dân chủ và các nước phụ thuộc họ thực tế vẫn còn và có khả năng mạnh hơn rất nhiều so với các nước có chế độ độc tài, nhưng vị trí của họ đối với các đối thủ thì không bằng nửa so với mười hai tháng trước đây. Bị tính trì trệ, rụt rè nhút nhát ngăn trở, động cơ đoan chính không phải là đối thủ của sự độc ác kiên quyết được vũ trang. Một sự yêu chuộng hòa bình chân thành không có lý do bào chữa cho việc làm rối tung rối mù hàng trăm triệu quần chúng thấp hèn vào cuộc chiến tranh tổng lực. Sự cổ vũ của những hiệu lệnh tập hợp yếu đuối có thiện chí chẳng mấy chốc cũng hết giá trị. Số phận bất hạnh đang bước tiếp.

        Trong năm 1935, Đức đã từ chối và phá hoại cố gắng của các cường quốc phương Tây nhằm đàm phán một hiệp ước Locamo về phía đông. Lúc này nhà nước Đức mới tự tuyên bố là bức tường thành chống chủ nghĩa Bôn-sê-vích và đối với họ, họ tuyên bố không thể có vấn đề làm việc với những người Xô Viết. Hitler nói với đại sứ Ba Lan ở Berlin ngày 18 tháng chạp rằng y kiên quyết phản đối bất kỳ sự cộng tác nào của phương Tây với nước Nga. Với tâm trạng này, y cố gắng cản trở và phá hoại những cố gắng của Pháp nhằm đạt một hiệp ước trực tiếp với Matxcơva. Hiệp ước Pháp - Xô ký tháng 5 nhưng không được hai bên phê chuẩn. Nó trở thành mục tiêu chủ yếu của thuật ngoại giao của Đức nhằm ngăn cản một sự phê chuẩn như vậy. Berlin cảnh cáo Laval rằng nếu bước đó xảy ra thì không thể hy vọng một sự xích gần lại nào giữa Pháp và Đức. Sự chống đối kiên trì của ông ta sau đó trở nên rõ rệt, nhưng không ảnh hưởng tới sự kiện.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:24:17 AM

        Ngày 27 tháng 2 Nghị viện Pháp phê chuẩn hiệp ước và ngày hôm sau, đại sứ Pháp ở Berlin được chỉ thị thăm dò ý kiến chính phủ Đức và điều tra trên cơ sở nào những cuộc đàm phán toàn bộ cho một thỏa thuận Pháp - Đức có thể bắt dầu. Đáp lại, Hitler yêu cầu để suy nghĩ ít ngày. Mười giờ sáng ngày 7 tháng 3 Herr von Neurath, Bộ trưởng ngoại giao Đức triệu tập các đại sứ Anh, Pháp, Bỉ, Ý đến trụ sở Bộ Ngoại giao ở đại lộ Wihelmstrasse để báo cho họ đề nghị về một hiệp ước hai mươi lăm năm, về phi quân sự hóa cả hai biên giới sông Rhin, về một hiệp ước hạn chế lực lượng không quân, còn các hiệp ước không gây chiến sẽ được đàm phán với các nước láng giềng phía đông và phía tây.

        Khu phi quân sự vùng sông Rhine đã được thiết lập theo điều 42, 43 và 44 của Hòa ước Versailles. Theo những điều khoản này, Đức không được có hoặc xây dựng công sự ở tả ngạn sông Rhine hoặc trong vòng năm mươi kilômet phía hữu ngạn. Trong vùng này Đức không được có lực lượng quân sự nào mà bất cứ lúc nào cũng không có bất kỳ cuộc thao diễn quân sự nào, cũng không được duy trì bất cứ điều kiện thuận lợi nào cho việc điều động quân đội. Ngoài điều này còn hiệp ước Locarno được coi là hợp pháp đã dược hai bên đàm phán một cách thoải mái. Theo hiệp ước này, các cường quốc đã ký cam kết song phương rằng biên giới giữa Đức và Bỉ, gữa Đức và Pháp là vĩnh cửu. Điều 2 của Hiệp ước Locamo đảm bảo rằng Đức, Pháp và Bỉ không bao giờ được xâm lấn hoặc tấn công qua những biên giới này. Tuy nhiên nếu những điều 42 hay 43 của Hòa ước Versailles bị vi phạm và một sự vi phạm như vậy sẽ tạo thành "một hành động gây hấn vô cớ" do việc tập hợp các lực lượng Vũ trang trong khu phi quân sự. Các nước ký kết bị xúc phạm cần đến một hành động tức thì. Một sự vi phạm như vậy phải ngay lập tức đưa ra trước Hội Quốc Liên và sau khi xác minh sự kiện vi phạm, Hội Quốc Liên phải báo cho các cường quốc ký kết rằng họ phải giúp đỡ cường quốc bị tấn công về mặt quân sự.

        Trưa cùng ngày 7 tháng 3 năm 1936, hai giờ sau khi đề nghị một hiệp ước hai mươi lăm năm, Hitler thông báo cho Quốc Hội rằng y có ý định chiếm lại vùng Rhineland (vùng phía tây nước Đức) và ngay trong khi y phát biểu, những đội hình quân Đức hàng dọc ùa ngang qua đường biên giới, đi vào tất cả những thành phố chủ yếu của Đức. Dâu đâu họ cũng được tiếp đón vui mùng, nhung cũng có phần tự kiềm chế do sợ hành động của đồng minh. Cùng một lúc nhằm đánh lạc hướng dư luận công chúng Anh, Mỹ, Hitler tuyên bố rằng sự chiếm đóng này là thuần túy tượng trưng. Đại sứ Đức ở Luân Đôn cũng chuyển giao cho ông Eden những đề nghị tương tự như những đề nghị mà Neurath ở Berlin lúc sáng đã trao cho các đại sứ các cường quốc khác đã ký hiệp ước Locamo. Việc này đem lại niềm an ủi cho mọi người ở cả hai bên bờ Đại tây dương dù là bị lùa - Ông Eden trả lbi nghiêm khắc cho vị đại sứ. Dĩ nhiên lúc này người ta biết rằng Hitler chỉ dùng những đề nghị xoa dịu này như là một trong những mưu đồ của y nhằm che đậy hành động bạo lực nguy hiểm của người đứng đầu nhà nước Đức.

        Đây không phải chỉ là sự vi phạm một nghĩa vụ của hiệp ước Locamo được ký kết, mà con là sự lợi dụng việc các nước đồng minh rút khỏi vùng Rhineland một cách thân thiện trước thời hạn nhiều năm để bước những bước nguy hiểm bằng vũ lực tiếp theo. Những tin tức này làm náo động dư luận khắp thế giới. Chính phủ Pháp dưới sự lãnh đạo của ông Sarraut, trong đó ông Flandin là Bộ trưởng Ngoại giao, tức giận dữ dội và cầu cứu các nước đồng minh của mình và Hội Quốc Liên. Trước hết Pháp quan tâm đến việc chúng tôi bảo đảm biên giới Pháp chống Đức xâm lược và việc chúng tôi ép Pháp rút sớm khỏi vùng Rhineland, nên Pháp cũng có quyền trông cậy vào Anh. Ở đây nếu có sự vi phạm thì không chỉ vi phạm Hòa ước mà còn vi phạm Hiệp ước Locamo.

        Các ông Sarraut và Flandin lập tức bốc đồng ra lệnh tổng động viên. Giá mà họ đủ khả nang làm tròn nhiệm vụ của họ thì họ có thể hành động như vậy, và như vậy thúc ép được mọi người khác đồng tình. Nhưng không có sự nhất trí của Anh họ tỏ ra không có khả năng hành động. Điều này là một lời giải thích nhưng không phải lý do để bào chữa. Hậu quả là nguy hiểm đối với Pháp, và bất kỳ chính phủ nào xứng đáng với danh nghĩa, lẽ ra phải đi đến một quyết định và lẽ ra phải trông mong vào những điều khoản của hòa ước. Nhiều lần trong những năm không ổn định này, các bộ trưởng Pháp trong các chính phủ luôn luôn thay đổi, đều bằng lòng tìm thấy ở chủ nghĩa hòa bình Anh một cái cớ để bào chữa cho bản thân họ. Nhưng dù có thế chăng nữa, họ cũng không gặp được sự cổ vũ nào của người Anh nhằm chống lại sự xâm lược của Đức. Trái lại, nếu họ do dự trong hành động thì người đồng minh Anh không do dự khuyên can họ. Trong cả ngày chủ nhật những cuộc nói chuyện bằng điện thoại cứ rộn lên giũa Luân Đôn và Paris. Chính phủ Hoàng gia hô hào chính phủ Pháp phải đợi, cốt để cả hai nước có thể cùng hành động, sau khi suy nghĩ cân nhắc chu đáo.

        Phản úng không chính thúc của Luân Đôn là lạnh nhạt. Ông Lloyd George vội vàng nói: "Theo ý kiến tôi, tội ác lớn nhất của ông Hitler không phải là vi phạm hòa ước, bởi vì có sự khiêu khích", ông nói thêm: "Tôi hy vọng chúng ta phải bình tĩnh". Điều khiêu khích có lẽ là sự thất bại của các nước đồng minh tự tước vũ khí hơn là hành động. Ngài đảng viên Xã hội Snowden tập trung vào dự thảo hiệp ước không gây chiến, và nói rằng những đề nghị hòa bình trước đây của Hitler đã bị lơ đi, nhưng các vấn đề dân tộc quyết không cho phép bỏ qua lời đề nghị hòa bình này. Những lời phát biểu này có thể diễn đạt dư luận công chúng Anh bị lầm lạc lúc ấy, nhưng sẽ không đáng dược ca ngọi đối với tác giả. Nội các Anh cố tìm cho được con đường kháng cự tối thiểu, cảm thấy rằng lối ra dễ dàng nhất là thúc ép Pháp kêu cứu thêm nữa với Hội Quốc Liên.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:24:34 AM

        Có một sự chia rẽ lớn ở Pháp. Các nhà chính trị muốn động viên quân đội và gửi tối hậu thư cho Hitler, còn đám tướng lĩnh Pháp giống như tướng lĩnh Đức đều kề cà, không sốt ruột và cầu mong tình hình yên tĩnh. Bây giờ chúng tôi biết có những quan điểm mâu thuẫn xảy ra vào lúc này giữa Hitler và Bộ tư lệnh tối cao Đức. Nếu chính phủ Pháp động viên quân đội gần một trăm sư đoàn và lực lượng không quân của họ (lúc đó vẫn còn lầm tưởng là mạnh nhất châu Âu) thì không nghi ngờ gì nữa, Hitler có thể bị Bộ Tổng tham mưu của mình buộc phải rút lui và những tham vọng của y có thể rõ ràng là tai hại cho quyền lực của y, có thể được ngăn chặn. Phải nhớ rằng vào lúc ây chỉ một mình Pháp hoàn toàn đủ mạnh để đánh đuổi bọn Đức ra khỏi vùng Rhineland. Thay vào đó, Chính phủ Pháp được Anh khuyến khích phó thác trách nhiệm nặng nề của mình cho Hội Quốc Liên đã suy yếu và mất nhuệ khí do các biện pháp trừng phạt thất bại, và do hiệp ước hải quân Anh - Đức năm trước.

        Ngày thứ hai mồng 9 tháng 3 ông Eden đi Paris, cùng đi có Huân tước Halifax và Ralph Wigram. Kế hoạch đầu tiên là phải triệu tập một cuộc hội nghị Hội Quốc Liên tại Paris, nhưng ngay sau đó, Wigram, theo lệnh của Eden được phái đi, bảo Flandin đến Luân Đôn dự họp của Hội Quốc Liên ở Anh, bởi vì như vậy, ông ta sẽ nhận được sự ủng hộ có hiệu quả hơn ở Anh. Đây là một sứ mệnh khó chịu đối với một công chức có lương tâm. Trở về Luân Đôn ngày 11/3, ông ta đến thăm và trò chuyện với tôi. Cũng tối hôm đó, Flandin đến muộn, khoảng 8 giơ rưỡi sáng ngày thứ 5 ông mới đến căn phong của tôi tại lâu đài Morpeth. Ông nói với tôi rằng ông dự định yêu cầu Chính phủ Anh động viên cùng một lúc hải lực không quân của cả hai nước và rằng ông đã nhận được sự bảo đảm ủng hộ của ba nước nhỏ Hiệp ước liên minh (Tiệp Khắc - Nam Tư - Rumani) và của các nước khác. Không còn nghi ngờ gì, mặt mạnh trội hơn vẫn là nhiệm vụ của các nước đồng minh trong cuộc chiến tranh trước đây. Họ chỉ còn phải hành động để mà chiến thắng. Dù chúng tôi không biết điều gì được thông qua giữa Hitler và các tướng lĩnh của y, rõ ràng sức mạnh áp đảo thuộc về phía chúng tôi.

        Ông Neville Chamberlain lúc này là Bộ trưởng Tài chính, là thành viên có ảnh hưởng nhất trong chính phủ. Người viết tiểu sử có tài của ông ta là ông Keith Felling, đã đưa ra đoạn sau đây trích từ sổ nhật ký của ông ta: "Ngày 12 tháng 3 nói chuyện với Flandin, nhấn mạnh rằng dư luận quần chúng nhất định không ủng hộ chúng ta trong bất kỳ hình thúc trừng phạt nào. Quan điểm của ông ấy là nếu duy trì một mặt trận vững chắc thì Đức sẽ đầu hàng mà không có chiến tranh. Chúng ta không thể chấp nhận điều này như là sự đánh giá đáng tin cậy về phản ứng điên cuồng của một nhà độc tài". Khi Flandin đề xuất ít ra một sự tẩy chay kinh tế thì Chamberlain trả lời bằng đề nghị một lực lượng quốc tế trong lúc đàm phán, tán thành một hiệp ước tương trợ lẫn nhau và tuyên bố rằng nếu do nhượng một thuộc địa mà có thể đạt được hòa bình lâu dài thì ông ta sẽ xem xét điều đó.

        Trong lúc đó phần lớn báo chí Anh như tơ Times và tờ Daily Herald ở hàng đầu, bày tỏ sự tin tưởng của mình vào sự thành thật của các đề nghị của Hitler về một hiệp ước không tấn công - Austen Chamberlin trong một bài diễn văn ở Cambridge, công bố quan điểm ngược lại. Wigram nghĩ rằng đưa Flandin tiếp xúc với mọi người, có thể là của Trung tâm Tài chính Thương mại, của giới báo chí, và của chính phủ và cùng với Huân tước Lothian, là nằm trong nhiệm vụ của mình. Trước những người mà Flandin gặp ở nhà Wigram, ông ta tuyên bố bằng những lời lẽ như sau: "Toàn thế giới và đặc biệt các dân tộc nhược tiểu ngày nay đều nhìn về nước Anh. Nếu bây giờ nước Anh cương quyết hành động thì nó có thể lãnh đạo châu Âu. Các ông phải có một đường lối hành động, cả thế giới sẽ theo các ông và như vậy các ông nhất định ngăn ngừa được chiến tranh. Đó là cơ may cuối cùng của các ông. Nếu các ông bây giờ không ngăn chặn nước Đức, thế là hết. Nước Pháp không thể bảo đảm cho Tiệp Khắc được nữa, vì điều này không làm được về mặt địa lý. Nếu các ông không bảo vệ hiệp ước Locarno thì các ông chỉ còn có chờ nước Đức tái vũ trang mà thôi, còn nước Pháp không thể làm gì được để chống lại. Nếu ngày nay các ông không ngăn chặn nước Đức bằng vũ lực thậm chí nếu các ông có quan hệ hữu nghị nhất thời với Đức thì chiến tranh là không tránh khỏi, về phẩn tôi, tôi không tin có thể có quan hệ hữu nghị giữa Đức và Pháp, hai nước cứ luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng. Tuy nhiên nếu các ông từ bò hiệp ước Locamo, tôi sẽ thay đổi chính sách của tôi, vì chẳng có việc gì khác để làm". Đây là những lời nói dũng cảm, nhưng việc làm có thể nói lên nhiều hơn lời nói.

        Phần đóng góp của huân tuốc Lothian là "Rốt cuộc họ chỉ đi sâu vào mảnh vườn sau của họ". Đó là quan điểm tiêu biểu của người Anh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:25:31 AM

*

        Khi tôi nghe sự việc đang trở nên quá xấu, và sau cuộc nói chuyện với Wigram, tôi khuyên ông Flandin yêu cầu một cuộc nói chuyện riêng với ông Baldwin, trước khi ra về. Việc này diễn ra ở phố Downing. Thủ tướng tiếp ông Flandin hết sức lịch sự. Ông Baldwin thanh minh rằng tuy ít hiểu biết về công việc ngoại giao, ông có thể hiểu chính xác cảm nghĩ của nhân dân Anh. Họ cần hòa bình. Ông Flandin cãi lại rằng con đường duy nhất để chắc chắn giành được điều này là phải ngăn chặn Hitler gây hấn, trong lúc vẫn còn khả năng hành động như vậy. Nước Pháp không muốn lôi kéo Anh vào chiến tranh. Không đòi hỏi viện trợ thiết thực, nước Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm công việc như một cuộc hành quân cảnh sát đơn giản, vì theo tin tức của Pháp, quân Đức ở vùng Rhineland đã có lệnh rút lui nếu bị phản đối bằng sức mạnh. Flandin khẳng định điều ông nói rằng tất cả những gì Pháp đòi hỏi ở đồng minh của mình là được toàn quyền hành động. Điều này chắc không đúng. Làm sao Anh có thể cản trở Pháp hành động đối với điều mà họ có quyền được làm một cách hợp pháp theo hiệp ước Locamo. Thủ tướng Anh nhắc lại rằng nước ông không thể chấp nhận nguy cơ chiến tranh. Ông hỏi chính phủ Pháp quyết định làm gì. Không có câu trả lời thẳng thắn. Theo Flandin lúc ấy ông Baldwin nói "có lẽ ông đúng, nhưng nếu vạn nhất chiến tranh xảy ra do cuộc hành quân cảnh sát của ông thì tôi không có quyền để nước Anh phải liên lụy. Sau một lát tạm dừng, ông nói thêm "Anh không ở trong tình trạng bắt đầu tham gia chiến tranh". Điều này không được xác nhận, ông Flandin trở về Pháp, tin rằng một là bản thân nước ông bị chia rẽ không thể thống nhất trừ phi trước mắt là một nước Anh ý chí kiên cường, hai là không thể hy vọng một hành động mạnh mẽ đột xuất của Anh, điều này con lâu mới xảy ra. Hoàn toàn sai lầm, ông đi tới một kết luận buồn nản là nước Pháp chỉ con hy vọng duy nhất là hoa giải với một nước Đức hung hãn hơn bao giờ.

        Tuy nhiên do điều tôi nhận ra ở thái độ của Flandin trong những ngày nguy ngập này, mặc dù có những lầm lẫn tiếp theo của ông, tôi vẫn cảm thấy nhiệm vụ của mình phải giúp đỡ ông ta theo khả năng của tôi, trong những năm sau này. Mùa đông năm 1943-1944 tôi sử dụng quyền hạn của tôi để che chở ông ta khi ông ta bị chính quyền De Gaulle bắt ở Algeria, về việc nay tôi yêu cầu và nhận được sự giúp đỡ tích cực của Tổng thống Roosevelt. Sau chiến tranh Flandin bị đưa ra tòa, con trai tôi là Randolph đã nhiều lần gặp Flandin trong chiến dịch châu Phi, bị gọi tới như một nhân chứng, tôi lấy làm vui mừng nghĩ rằng sự làm chứng của con tôi và một cái thư tôi viết cho Flandin dùng để bào chữa cho ông, không phải là không ảnh hưởng đến việc tòa án Pháp tha bổng ông. Tính nhu nhược không phải là sự phản bội dù rằng nó có thể tai hại. Tuy vậy không gì có thể làm nhẹ bớt trách nhiệm hàng đầu của chính phủ Pháp. Clémenceau hay Poincaré có thể đã không để cho ông Baldwin có quyền lựa chọn.

        Sự khuất phục của Anh - Pháp đối với những vi phạm hiệp ước Versailles và Locamo dính dáng đến việc Hitler chiếm đoạt vùng Rhineland là một đòn chết người đối với Wigram. "Sau khi phái đoàn Pháp đi rồi", vợ ông ta viết cho tôi, "Ralph về nhà, ngồi trong một góc phòng trước đây anh ấy chưa bao giờ ngồi và nói với tôi, bây giờ thì chiến tranh là không tránh khỏi và sẽ là một cuộc chiến tranh khủng khiếp nhất từ trước đến nay. Tôi hoảng sợ. Ông tiếp "Mọi việc của tôi trong nhiều năm này là vô tích sụ. Tôi là người thất bại. Tôi đã không có khả năng làm cho nhân dân ở đây hiểu cái gì đang bị đe dọa. Tôi cho rằng tôi không đủ kiên quyết. Tôi không thể làm cho họ hiểu. Winston thì luôn luôn hiểu, ông ấy kiên quyết và sẽ đi đến cùng".

        Dường như bạn tôi không bao giờ bình tĩnh lại sau cơn sốc. Ông ta quá lo lắng buồn phiền về việc này. Xét cho cùng người ta có thể luôn luôn tiếp tục làm điều gì người ta tin đó là nhiệm vụ của mình và lao vào những rủi ro bao giờ cũng to lớn hơn cho đến khi bị đánh bại. Sự nhận thúc sâu sắc của Wigram tác động quá đáng đến bản chất nhạy cảm của ông. Cái chết yểu của ông hồi tháng chạp năm 1936 là một tổn thất không thể bù đắp đối với Bộ Ngoại giao và đã góp phần vào sự suy sụp khốn khổ của cơ đồ chúng tôi.

*

        Sau vụ tái chiếm vùng Rhineland, khi gặp các tướng lĩnh, Hitler có đủ tư cách làm cho họ phải đương đầu với những nỗi sợ hãi do sai lầm của họ, và chứng tỏ sức phán đoán hay khả năng trực giác của y cao hơn nhiều so với quân nhân bình thường. Các tướng cúi chào. Là những người Đức tốt bụng, họ vui mừng thấy nước họ giành được đất đai nhanh như thế ở châu Âu, và những kẻ địch trước kia của họ chia rẽ và bị chế ngự đến như thế. Không nghi ngờ gì tình tiết này đủ để tôn lên uy tín và uy quyền của Hitler trong giới tối cao chính quyền Đức nhằm cổ vũ và cho phép y hành quân về phía trước đi đến những thử thách lớn hơn. Y tuyên bố với thế giới: "Tất cả những hoài bão về lãnh thổ của Đức giờ đây đã được đáp ứng”.

        Nước Pháp lại rơi vào tình trạng chán nản rời rạc. Trong đó trội hẳn là nỗi lo sợ chiến tranh và tâm trạng nhẹ nhõm do chiến tranh đã tránh được. Báo chí đơn giản của người Anh hồn nhiên đã dạy cho họ tự khuyên giải bằng cách suy nghĩ "xét cho cùng người Đức chỉ trở về xứ họ. Chúng ta sẽ cảm thấy thế nào nếu chúng ta không phải vào Yorkshire trong mười hay mười lăm năm chẳng hạn". Không một người nào không nhận thấy rằng những vị trí xuống xe lửa, từ đó quân Đức có thể xâm lược Pháp đã dịch tới phía trước khoảng một trăm dặm. Không một người nào lo lắng về chứng cứ đã đưa ra cho các cường quốc khối Tiểu liên minh và cho châu Âu rằng nước Pháp sẽ không chiến đấu, nước Anh sẽ kiềm chế Pháp ngay dù nước Pháp sẽ chiến đấu. Tình tiết nay củng cố quyền lực của Hitler khắp nước Đức.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:26:43 AM

10

SỰ TẠM NGỪNG NẶNG NỀ 1936-1938

        Hai năm tròn trôi qua giũa sự kiện Hitler chiếm lấy Rhineland tháng 3 năm 1936 và sự cưỡng đoạt nước Áo tháng 3 năm 1938. Đây là một khoảng thời gian dài hơn tôi tưởng. Trong thời kỳ này nước Đức không lãng phí thời gian nào. Việc xây dựng công sự ở Rhineland hay là "bức tường phía Tây" tiếp diễn mau lẹ và một phòng tuyến rộng lớn công sự kiên cố và bán kiên cố liên tiếp mọc lên. Quân đội Đức bây giờ dựa vào cơ sở hoàn toàn có phương pháp của chế độ quân dịch cưỡng bách, và được củng cố bằng chế độ quân tình nguyên sôi nổi, phát triển mạnh mẽ hơn từng tháng. Lục lượng không quân Đức giữ được và cải thiện vững chắc vị trí đứng đầu - hơn nước Anh. Các nhà máy đạn dược Đức hoạt động hết sức khẩn trương. Bánh xe quay tròn, búa nện xuống ngày đêm ở Đức biến toàn bộ nền công nghiệp của họ thành một xưởng chế tạo vũ khí đạn dược. Họ kéo nhân dân họ vào một bộ máy chiến tranh có qui luật. Ớ trong nước, mùa thu năm 1936, Hitler mở đầu kế hoạch bốn năm nhằm tổ chúc lại nền kinh tế Đức tự cung tự cấp to lớn hơn trong chiến tranh. Ở nước ngoài y đạt được sự liên minh vững chắc mà y đã tuyên bố trong cuốn Mein Kampf (Cuộc chiến đấu của tôi) cần thiết cho chính sách đối ngoại của Đức. Y giao hảo với Mussolini và trục La Mã - Berlin hình thành.

        Cho đến giữa năm 1936 chính   sách xâm lược và vi phạm hiệp  ước của Hitler không phải dựa vào sức mạnh của Đức mà dựa vào   sự chia rẽ, sự rụt rè nhút nhát của Anh, Pháp và sự cô lập của Mỹ. Mỗi một bước mở đầu của y là một cuộc mạo hiểm mà y biết mình có thể không đủ khả năng chịu đựng sự thách thức nghiêm trọng. Việc chiếm lấy Rhineland và tiếp đó xây dựng công sự là canh bạc lớn nhất. Canh bạc đó thành công rực rỡ. Các đối thủ của y quá do dự không dám thách đố y. Lần sau năm 1938, khi y hành động thì trò bịp của y không còn là trò bịp nữa. Sự xâm lược được hậu thuẫn bằng sức mạnh, và rõ ràng điều này có thể xảy ra nhờ quân đội mạnh hơn. Khi các chính phủ Anh, Pháp hiểu rõ sự thay đổi khủng khiếp này đã xảy ra thì đã quá muộn.

*

        Vào cuối tháng bảy năm 1936 tình trạng suy đồi ngày càng tăng của chế độ nghị trường ở Tây Ban Nha và sức mạnh ngày càng tăng của các phong trào ủng hộ một cuộc cách mạng Cộng sản hoặc xen kẽ một cuộc cách mạng theo chủ nghĩa vô chính phủ; dẫn đến một cuộc nổi dậy quân sự đã được chuẩn bị từ lâu. Nó là bộ phận cấu thanh của chủ nghĩa và lý thuyết quân sự Cộng sản do bản thân Lénine đề ra, chủ trương những người Cộng sản phải giúp đỡ mọi phong trào hướng về phía tả và giúp đỡ các chính thể lập hiến, cấp tiến hoặc xã hội non kém cầm quyền. Họ phải phá hoại những chính thể này, và từ chỗ có quyền hành trong tay họ nắm lấy quyền lực tuyệt đối và thành lập nhà nước Mác xít. Thực tế một sự sao chép hoàn toàn thời kỳ Kerensky ở Nga đang xảy ra ở Tây Ban Nha. Nhưng số quân hiện có của Tây Ban Nha không bị tan vỡ do chiến tranh ở ngoài nước.

        Sự thâm nhập của Cộng sản trong chính thể đại nghị mục nát đã diễn ra việc thủ tiêu các đối thủ chính trị ở ngoài phố hoặc ngay trên giường họ ngủ. Đã xảy ra một số lớn vụ ám sát như vậy trong và xung quanh thành phố Madrid. Điểm cao nhất là vụ giết ông Sotelo, lãnh tụ đảng Bảo thủ, na ná như kiểu ngài Edward Casson trong trò đấu đá chính trị ở Anh trước cuộc chiến tranh 1914. Sự kiện này là tín hiệu cho các tướng lĩnh trong quân đội hành động. Trước một tháng, tướng Franco có thư cho Bộ trưởng Chiến tranh Tây Ban Nha, nói rõ nếu chính phủ Tây Ban Nha không thể duy trì an toàn luật pháp bình thường trong đời sống hàng ngày thì quân đội sẽ can thiệp. Trong quá khứ Tây Ban Nha đã từng có nhiều tuyên ngôn của các thủ lĩnh quân sự. Khi giương ngọn cơ nổi loạn, tướng Franco được quân đội ủng hộ, kể cả lính địa phương. Giáo hội - chỉ trừ các thầy tu dòng Đôminích - và gần như tất cả những phần tử phái hữu và trung dung vẫn trung thành với ông, thế là ông lập tức làm chủ được nhiều tỉnh quan trọng. Thủy thủ Tây Ban Nha giết sĩ quan của họ và gia nhập vào cái mà chẳng mấy chốc trở thành phe Cộng sản. Vào lúc chính thể văn minh sụp đổ, phái Cộng sản giành được quyền lực và hành động theo đúng qui luật chặt chẽ của họ. Bây giơ nội chiến ác liệt bắt đầu. Những người Cộng sản nắm chính quyền đã gây ra hàng loạt cuộc thanh trừng những đối thủ chính trị của họ. Những lực lượng quân sự dưới quyền Franco đã đánh trả dữ dội hơn. Nhiều người Tây Ban Nha phải đi đến cái chết, số lớn của cả hai bên đều bị bắn. Học viên trường sĩ quan bảo vệ trường họ tại cung điện Aleazar ở Toledo một cách hết sức ngoan cường, và quân Franco xông lên mở đường từ hướng nam qua mọi làng Cộng sản đều có để lại dấu vết báo thù của họ, ngay sau đó họ hoàn tất cuộc giải vây. Tình tiết này đáng cho các nhà viết sử chú ý.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười Hai, 2018, 08:56:28 AM

        Trong cuộc tranh chấp này tôi đứng trung lập. Dĩ nhiên tôi không ủng hộ những người Cộng sản. Tôi có thể sống ra sao, khi nếu tôi là người Tây Ban Nha, họ có thể giết tôi, gia đình tôi và bạn bề tôi? Tuy vậy tôi chắc rằng với tất cả quyền hành con lại, chính phủ Anh có lý khi đứng ngoài sự kiện Tây Ban Nha. Pháp đề nghị một kế hoạch không can thiệp để mặc cả hai bên tự giải quyết lấy không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài. Các chính phủ Anh, Đức, Ý và Nga tán thành kế hoạch này. Vì thế chính phủ Tây Ban Nha lúc bây giờ dưới quyền kiểm sọát của những nhà cách mạng quá khích nhất thấy mình bị tước ngay cả quyền đặt mua vũ khí bằng số vàng thực sự của họ. Có thể hợp lý hơn là theo cách giải quyết thông thường và thừa nhận tình trạng giao tranh của cả hai bên, như đã làm trong cuộc nội chiến ở Mỹ năm 1861-1865. Tuy nhiên đáng lẽ tất cả các cường quốc lớn phải áp dụng và chính thức tán thành chính sách không can thiệp. Anh nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận này, nhưng Đức, Ý một bên và Nga Xô Viết một bên luôn luôn vi phạm cam kết của họ, giúp bên này chống lại bên kia. Riêng Đức sử dụng không quân của mình gây nên những cảnh khủng khiếp như đã thấy, như cuộc ném bom xuống quận Guemica bé nhỏ không được phòng thủ.

        Chính phủ của ông Leon Blum kế tục nội các của ông Albert Sarraut ngày 4 tháng 6 dưới sức ép của những người Cộng sản ủng hộ ông ta nhằm giúp đỡ vật liệu chiến tranh cho chính phủ Tây Ban Nha. ông Cot, bộ trưởng không quân, không quan tâm quá nhiều đến sức mạnh của không quân Pháp lúc ấy ở trong tình trạng sa sút, bí mật giao máy bay và thiết bị cho quân đội cộng hòa. Tôi lấy làm lo sợ những diễn biến như vậy. Ngày 31 tháng 7 năm 1936, tôi viết cho đại sứ Pháp:

        "Một trong những khó khăn lớn nhất tôi vấp phải trong khi cố giữ vững quan điểm cũ là người Đức nói rằng những nước chống Cộng phải cùng nhau giữ vũng lập trường. Tôi chắc rằng nếu Pháp gửi máy bay v.v... cho chính phủ Madrid hiện nay và Đức, Ý cũng chen vào theo một khía cạnh khác, thì lực lượng có ưu thế hơn ỏ đây sẽ hài lòng về Đức và Ý và sẽ xa lánh Pháp. Tôi hy vọng ông sẽ không khó chịu về điều tôi viết này, dĩ nhiên hoàn toàn vì lợi ích của riêng tôi. Tôi không thích nghe dân chúng nói Anh, Đức, Ý tập hợp lại chống chủ nghĩa Cộng sản ở châu Âu. Chẳng phải quá khó khăn gì để thấy đó là điều không hay.

        Tôi chắc rằng một sự trung lập tuyệt đối kiên quyết cùng với sự phản đối mạnh mẽ chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của sự trung lập đó, là cách giải quyết duy nhất đúng đắn và an toàn trong tình hình hiện nay. Dù có sự bế tắc, thắng lợi có thể tới, khi Hội Quốc Liên có thể can thiệp để kết thúc những cảnh khủng khiếp. Nhưng cả điều đó cũng rất đáng ngờ."



Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 07:57:38 PM

*

        Lợi thế dành được trong chiến tranh, cũng như trong chính sách ngoại giao và các công việc khác là nhờ có sự lụa chọn vấn đề chủ yếu trong nhiều giải pháp hấp dẫn hoặc không vừa ý. Tư tưởng quân sự Mỹ chủ chương: "mục tiêu chiến lược toàn bộ”. Khi sĩ quan chúng tôi lần đầu nghe điều này, họ cười cợt, nhưng về sau, sự uyên thâm của cụm từ này trở nên không thể chối cãi và được thừa nhận. Hiển nhiên điều này phải trở thành nguyên tắc và những công việc to lớn khác phải được bố trí trong mối quan hệ phụ thuộc với điều đó. Việc không tôn trọng nguyên tắc đơn giản này gây ra hành động hỗn loạn, không kết quả và gần như luôn luôn làm cho mọi việc về sau càng tồi tệ hơn.

        Riêng về phần mình, tôi không khó khăn gì trong việc tuân theo nguyên tắc này trước khi tôi nghe điều đó được công bố. Tâm trí tôi bị ám ảnh bởi ấn tượng nước Đức khủng khiếp tôi đã nhìn thấy và chịu đựng trong chiến đấu những năm 1914-1918, nay bỗng nhiên có mọi khả năng quân sự, trong khi các nước đồng minh, thì bất lực và lúng túng. Vì thế, bằng mọi cách, mọi cơ hội, tôi tiếp tục sử dụng ảnh hưởng của tôi với Hạ viện, cũng như với cá nhân các bộ trưởng nhằm thúc giục đi tới việc chuẩn bị quân sự cho chúng ta, nhằm tìm kiếm đồng minh và bầu bạn cho điều chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành sự nghiệp chung.

        Một hôm ông bạn giữ địa vị cao được tín cẩn trong chính phủ vượt sang Chartwell cùng bơi với tôi trong bể bơi của tôi khi mặt tròi đã chiếu sáng và nước đã khá ấm. Chúng tôi không nói chuyện gì trừ cuộc chiến tranh sắp tới mà ông hoàn toàn không tin là sẽ xảy ra. Khi tôi tiễn ông ra về, bỗng bất chợt ông quay sang tôi nói: "Bọn Đức đang tốn một nghìn triệu sterling mỗi năm vào lục lượng vũ trang của họ". Tôi nghĩ Nghị viện của công chúng Anh phải biết nhũng sự thật này. Vì vậy tôi bắt đầu lao vào tiến hành nghiên cứu tình hình tài chính Đức. Ngân sách được đưa ra và vẫn công bố hàng năm ở Đức, nhưng từ nhũng con số to lớn của nó, rất khó nói điều gì đang xảy ra. Tuy nhiên vào tháng 4/1936 tôi tiến hành riêng biệt hai cách xem xét kỹ khác nhau. Cách thứ nhất dựa vào hai người ty nạn Đức có năng lực cao và ý định không lay chuyển. Họ hiểu mọi chi tiết về cách trình bày ngân sách của Đức, giá trị của đồng mark v.v... Đồng thời tôi hỏi bạn tôi là ngài Henri Strakosch có phải ông không thể khám phá ra điều gì đang xảy ra chăng. Strakosch đứng đầu một công ty gọi là Liên đoàn Hiệp hội có nhũng tài nguyên lớn và một đội ngũ cán bộ công nhân viên tận tâm tay nghề cao. Trong nhiều tuần, người tài giỏi nhất của trung tâm tài chính thương mại này quay sang theo dõi vấn đề này. Chẳng mấy chốc, họ báo cáo chi tiết một cách chính xác và chi tiết rằng số chi tiêu cho chiến tranh mỗi năm của Đức chắc chắn là trong khoảng một nghìn triệu sterling. Cùng lúc ấy hai người Đức ty nạn, bằng một loạt lý lẽ hoàn toàn khác nhau, đều độc lập đi đến cùng một kết luận như vậy. Một nghìn triệu sterling mỗi năm theo trị giá tiền tệ năm 1936!

        Như vậy tôi có hai cơ cấu sự thật riêng rẽ để dựa vào đó mà công khai khẳng định. Thế là tôi bắt chuyện với ông Néville Chamberlain vẫn còn là Bộ trưởng tài chính, trong hành lang trước ngày cuộc thảo luận, và nói với ông: "Ngày mai tôi sẽ hỏi ông việc người Đức đang chi phí mỗi năm một nghìn triệu bảng để chuẩn bị chiến tranh liệu không phải là sự thật chăng, và tôi sẽ yêu cầu ông xác nhận hay phủ nhận". Chamberlain đáp: "Tôi không thể phủ nhận điều này, nhưng nếu ông nói thẳng ra thì tôi sẽ xác nhận điều đó".

        Tôi dùng con số tám trăm triệu bảng thay cho một nghìn triệu bảng để che giấu nguồn tin bí mật của tôi và cũng để cho chắc ăn, thế là ông Chamberlain thừa nhận tại Nghị viện rằng sự ước lượng của tôi không phải là quá đáng.

        Bằng nhiều cách tôi cố gắng đưa ra tình trạng tương đối lực lượng vũ trang Anh và Đức với số lượng rõ ràng. Tôi đòi họp kín để thảo luận, bị từ chối. "Điều này sẽ gây hoảng sợ không cần thiết". Tôi nhận được ít sự ủng hộ. Tất cả các phiên họp bí mật đều không có giới báo chí tham dự. Lúc đó ngày 20 tháng 7 tôi hỏi thủ tướng có phải ông sắp tiếp một đoàn đại biểu ủy viên Hội đồng cơ mật và một vài người khác để nghe họ trình bày sự việc trong chừng mực họ biết, có phải không. Huân tước Salisburg đề nghị một đoàn đại biểu tương tự của Thượng nghị viện sẽ đến. Điều này đã được thỏa thuận. Mặc dù tôi khẩn khoản yêu cầu riêng cả hai ông Attlee và Ngai Archibald Sinclair, hai Đảng Lao động và Tự do từ chối làm đại diện. Vì vậy ngày 28 tháng 7, tại căn phòng của Thủ tướng ở Hạ nghị viện, chúng tôi được các ông Baldwin, huân tước Halifax và ngài Thomas Inskip tiếp, ông Baldwin đã bổ nhiệm ông Thomas Inskip, một luật gia có năng lực; lợi thế là ít người biết, và không biết gì về các vấn đề quân sự làm Bộ trưởng Phối họp Phòng thủ. Một nhóm quan chức quan trọng của Đảng Bảo thủ và không đảng phái cùng đến với tôi. Ngài Austen Chamberlain giới thiệu chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 07:58:35 PM

        Đây là một cơ hội tốt. Tôi không thể nhớ lại bất cứ việc gì như thế ở con người tôi đã tùng gặp trong đời sống công cộng của Anh. Nhóm người nổi tiếng này, không nghĩ đến lợi riêng, nhưng cuộc đời họ lại đặt vào giữa những công việc chung, họ tiêu biểu cho sức mạnh của quan điểm của Đảng Bảo thủ. Không ai có thể dễ dàng coi thường. Nếu những lãnh tụ Công Đảng và Đảng Tự do đối lập đến với chúng tôi, thì có thể tình hình chính trị đã căng thẳng đến mức phải đòi cho được một hành động sửa chữa. Mỗi ngày trong hai ngày liên tiếp, phần nghi thức chiếm hết ba hay bốn giờ. Tôi thường nói chuyện với ông Baldwin là người chịu lắng nghe. Cùng với ông còn có nhiều thành viên bộ Tham mưu của Ủy ban Phòng thủ Vương quốc Anh. Ngày đầu tiên, tôi mở đầu tình hình bằng một bản tuyên bố trong một giờ mười lăm phút và kết thúc như sau:

        "Trước hết chúng ta đang đứng trước hiểm hoa lớn nhất và tình trạng khẩn cấp trong lịch sử chúng ta. Hai là chúng ta không hy vọng giải quyết vấn đề của chúng ta mà không liên kết với nước cộng hòa Pháp. Việc liên kết hạm đội Anh và lục quân Pháp cùng với lực lượng không quân phối hợp của họ hoạt động từ bên trong đằng sau biên giới Pháp và Bỉ, cùng với tất cả những gì Anh và Pháp đại diện, tạo thành một sự răn đe và sự bảo vệ có thể tập trung vào sự răn đe này. Dầu sao chăng nữa, đó là nguồn hy vọng đẹp nhất. Đi vào chi tiết, chúng ta phải gác sang một bên mọi trở ngại trong việc tăng thêm số quân hiện có của chính mình. Chúng ta có lẽ không thể chuẩn bị đầy đủ để chống lại tất cả mọi hiểm nguy có thể xảy ra. Chúng ta phải tập trung vào việc gì quan trọng và chịu trừng phạt ở một nơi nào khác. Đi đến những mục tiêu rõ ràng hơn nữa, chúng ta phải tăng thêm phát triển sức mạnh không quăn của chúng ta ưu tiên hơn mọi cân nhắc khác. Bằng bất cứ giá nào chúng ta phải thu hút tinh hoa thanh niên chúng ta đi vào nghề lái máy bay. Đừng quan tâm đến những chuyện đút lót chắc hắn là có. Chúng ta phải thu hút từ mọi nguồn, bằng mọi cách. Chúng ta phải thúc đẩy và đơn giản hóa việc sản xuất máy bay, mở rộng sản xuất đến quy mô lớn nhất, và không do dự ký hợp dồng với Mỹ và nơi nào khác cho những số lượng có thể lớn nhất về mọi thứ nguyên liệu và thiết bị hàng không. Chúng ta đang lâm vào cảnh hiểm nguy dù trước đây chúng ta chưa bao giờ lâm vào cảnh này. Không, không, ngay cả vào lúc quyết liệt nhất của chiến dịch tàu ngầm (1917). Sự suy nghĩ này giày vò tôi: năm tháng thấm thoát trôi nhanh. Nếu chúng ta chậm trề quá lâu trong việc hồi phục sự phòng thủ của chúng ta, chúng ta có thể bị cường quốc mạnh hơn ngăn cản hoàn thành việc tiến hành công việc".

        "Ông bộ trưởng tài chính không có mặt làm cho chúng ta thất vọng. Rõ ràng sức khỏe ông Baldwin dang giảm sút và ai cũng biết chẳng bao lâu nữa, ông phải rời khỏi trách nhiệm nặng nề tìm chỗ nghỉ ngơi. Ai sẽ kế nghiệp ông, có thể không nghi ngờ gì nữa. Không may ông Neville Chamberlain lại đang được đi nghỉ nên vắng mặt và không có dịp đối chất trực tiếp với những sự thật do các thành viên của Đảng Bảo thủ đưa ra, gồm có em ông và nhiều bạn bè được quý trọng nhất".


        Nhiều suy nghĩ đúng đắn nhất được các bộ trưởng nêu ra cho những đại diện đáng gờm chúng tôi, nhưng không phải mãi tới sau thời gian ngừng họp, mà ngày 23 tháng 11 năm 1936, ông Baldwin mời tất cả chúng tôi đến tiếp nhận một tuyên bố được cân nhắc đầy đủ hơn về lập trường toàn bộ. Lúc đó ngài Thomas Inskip đưa ra một giải thích thẳng thắn và hay, trong đó ông không giấu giếm với chúng tôi hoàn cảnh nghiêm trọng hiện nay. Về căn bản điều này, những tuyên bố của tôi là chứa đựng một cái nhìn quá ảm đạm về tiền đồ của chúng tôi; rằng phải thực hiện những cố gắng lớn (như thực tế chúng đang diễn ra) nhằm giành lại vị trí đã mất; nhưng không trường hợp hiện hữu nào có thể biện hộ chính phủ trong việc áp dụng những biện pháp khẩn cấp; là những biện pháp này tất yếu sẽ có tính cách làm đảo lộn toàn bộ hoạt động công nghiệp của xứ sở này, sẽ gây ra sự hoảng sợ rộng rãi và sẽ báo cho biết trước bất kỳ những thiếu hụt nào đang có, và rằng trong giới hạn này mọi việc có thể được thực hiện. Dựa vào việc này, ngài Austen Chamberlain ghi lại cảm tưởng chung của chúng tôi, những lo lắng của chúng tôi không giảm bớt và chúng tôi tuyệt nhiên không hài lòng. Đến đó chúng tôi cáo từ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 07:59:46 PM

        Trong cả năm 1936 sự lo lắng của dân tộc và Nghị viện tiếp tục tăng lên, và đặc biệt tập trung vào vấn đề phòng không. Trong bài diễn văn ngày 12 tháng 11 tôi nghiêm khắc trách ông Baldwin đã không giữ lời hứa rằng "bất kỳ chính phủ nào của nước này - một chính phủ liên hiệp hơn bất cứ chính phủ nào - cũng phải bảo đảm chắc chắn rằng, về mặt quân số hiện có và sức mạnh của không quân, nước này sẽ không còn ở vị trí thấp kém hơn nước nào, trong phạm vi đánh được, cách bờ biển". Tôi nói: "Chính phủ thường là không thể quyết định hoặc không thể khiến cho Thủ tướng quyết định. Như vậy, chính phủ tiếp tục ở trong một nghịch lý kỳ quặc, kiên quyết để mà do dự, quyết tâm để mà lưỡng lự, cứng rắn để mà ỳ ra thụ động, vững chắc để mà hay thay đổi, có mọi quyền lực để mà bất lực".

        Trong một bài diễn văn đặc biệt, ông Baldwin trả lời tôi:

        "Tôi muốn nhắc nhờ Hạ viện rằng không phải một lần mà trong nhiều dịp trong diễn văn và tại nhiều nơi, khi tôi nói và chủ trương nguyên tắc dân chủ, trong chừng mực khả năng của tôi, tôi đã tuyên bố rằng một nền dân chủ luôn luôn ở đằng sau nhà độc tài hai năm (ý nói sau khi nhà độc tài ra đi hai năm thì mới có dân chủ-ND). Tôi tin điều này sẽ đúng. Trong trường hợp này nó cũng đúng. Tôi vô cùng chân thật trình bày trước toàn thể hạ viện những quan điểm riêng của tôi. Các ông sẽ nhớ lại lúc ấy, hội nghị giải trừ quân bị họp ở Genève. Các ông sẽ nhớ lại lúc bấy giờ (1931-1932) hầu như chắc chắn một cảm nghĩ tin vào chủ nghĩa hòa bình lan truyền khắp nước, mạnh hơn bất kỳ thời gian nào từ sau chiến tranh, các ông sẽ nhớ lại cuộc bầu cử ở Fulham mùa thu năm 1933, khi chính phủ liên hiệp mất một ghế do khoảng 7.000 lá phiếu, không có vấn đề gì ngoài việc do người theo chủ nghĩa hòa bình".

        "... Địa vị của tôi với tư cách là lãnh tụ của một đảng lớn, nhìn chung không phải là dễ chịu. Tôi tự hỏi có sự ngẫu nhiên gì ỏ đó - khi mà cảm nghĩ kia biểu lộ ở Fulham lại phổ biến khắp cả nước - sự ngẫu nhiên gì ở đó mà trong vòng một hay vài năm tới cảm nghĩ đó biến đổi đến mức khiến nước nhà phải đưa ra lệnh tái vũ trang? Giả sử tôi giải tán Quốc Hội, tổ chức tổng tuyển cử và tuyên bố rằng Đức đang tái vũ trang, rằng chúng ta cũng phải tái vũ trang thì có ai đó nghĩ rằng nước dân chủ ưa hòa bình này có thể tập hợp lại vì lời kêu gọi đó vào lúc đó không? Tôi không thể nghĩ đến bất cứ điều gì có thế khiến cho cuộc tuyển cử theo quan điểm của tôi thất bại chắc chắn hơn".

        Tình hình này là cực kỳ xấu. Nó đưa sự thật trần trụi về động cơ của ông ta vào chỗ không đứng đắn. Điều mà Thủ tướng phải thú nhận rằng ông không thực hiện trách nhiệm của mình đối với an toàn quốc gia vì ông sợ thất cử, là một việc xảy ra không gì so sánh được trong lịch sử Nghị viện chúng tôi. Dĩ nhiên ông Baldwin không có ý mong muốn ở lại chức vụ. Năm 1936, thực tế ông tha thiết muốn về hưu. Chính sách của ông xuất phát từ chỗ sợ rằng nếu những người xã hội nắm quyền thì hoạt động thậm chí sẽ kém hơn chính quyền ông dự định. Mọi tuyên bố và số phiếu của họ chống các biện pháp phòng thủ đều được ghi nhận. Điều này không phải là lời biện hộ hoàn toàn và còn kém hơn sự đánh giá đúng tinh thần nhân dân Anh. Sự thành công kèm theo việc thú nhận khờ khạo tính sai quân bình không quân năm trước không được nhắc lại trong dịp này. Hạ viện lấy làm bàng hoàng. Thực vậy cảm giác buồn phiền đến nỗi có thể tai hại nhiều cho ông Baldwin, lúc ấy sức khỏe rất sút kém.

        Vào lúc này có một bức tranh đồ họa lớn gồm đàn ông đàn bà của tất cả các đảng phái ở Anh nhận ra mối hiểm họa tương lai, kiên quyết dựa vào những biện pháp thực tế nhằm bảo đảm sự an toàn và sự nghiệp tự do cùng với những thôi thúc chuyên chế và tính tự mãn của chính phủ. Kế hoạch của chúng tôi là tái vũ trang nước Anh nhanh nhất với quy mô rộng lớn kết hợp với sự thừa nhận hoàn toàn công việc và quyền lực của Hội Quốc Liên. Tôi gọi chính sách này là "vũ khí cộng với Hiệp ước". Tất cả chúng tôi có thái độ khinh thường cuộc biểu dương của ông Baldwin ở Hạ nghị viện. Kết quả cuối cùng của cuộc vận động này phải là cuộc hội nghị ở Albert Hall. Tại đây, ngày 3 tháng chạp, chúng tôi tập hợp nhiều nhân vật lãnh đạo của tất cả các đảng phái - những đảng viên kiên quyết của Đảng Bảo thủ thuộc cánh hữu tin chắc mối hiểm họa của quốc gia - các nhà lãnh đạo Hội Quốc Liên - các đại diện nhiều công đoàn lớn, kể cả ông bạn địch thủ ngày xua của tôi trong cuộc Tổng bãi công là ngài Walter Citrine - Đảng Tự do, và lãnh tụ của đảng, ngài Archibald Sinclair. Chúng tôi có cảm tưởng rằng chúng tôi đang trên ngưỡng cửa không những của việc giành được sự tôn trọng những quan điểm của chúng tôi mà còn làm cho những quan điểm đó có ảnh hưởng lớn. Chính vào lúc này sự đam mê của nhà vua muốn cưới người đàn bà mình yêu mến đã làm cho mọi việc khác phải gác lại đằng sau. Cuộc khủng hoảng thoái vị sắp xảy ra.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:01:17 PM

        Trước khi tôi đáp lại tràng vỗ tay hoan hô, thì có tiếng hò reo "Xin Chúa cứu vớt nhà vua" và điều này kích động tiếng hoan hô kéo dài. Vì vậy, do sự thôi thúc của tình thế, tôi giải thích quan điểm cá nhân của tôi.

        Đêm nay có một vấn đề nghiêm trọng khác làm cho chúng tôi kém vui. Trong vài phút nữa chúng tôi sắp sủa hát "Xin Chúa cứu vớt nhà vua". Tôi sẽ hát với nhiệt tình chân thành hơn bao giờ hết trong đời tôi. Tôi hy vọng và cầu nguyện rằng không có quyết định nào được thực hiện vội vàng, và dư luận công chúng sẽ được phép giữ vai trò quan trọng của mình và rằng một nhân vật được yêu mến, duy nhất, không bỗng nhiên bị tách khỏi nhân dân, người được yêu mến sâu sắc đến thế. Tôi hy vọng Hạ viện sẽ được phép hoàn thành nhiệm vụ trong những vấn đề có tầm cao này thuộc về Hiến pháp. Tôi tin rằng những ý kiến giờ đây lần đầu được phát biểu của quốc gia Anh và của đế chế Anh sẽ hướng dẫn nhà vua chúng tôi và rằng nhân dân Anh đến lượt họ, họ sẽ tỏ khả năng tôn kính rộng rãi đối với người giữ ngai vàng.

        Thật không thích hợp đối với bản tường thuật này nhằm miêu tả cuộc tranh luận ngắn gọn nhưng cực kỳ dữ dội sau đây.

        Tôi biết vua Edward VIII từ ngày ông còn bé, năm 1910 với tư cách là Bộ trưởng Nội vụ, tôi đọc to trước một hội đồng đặc biệt lòi tuyên cáo phong ông là Hoàng tử xứ Wales ở lâu đài Carnavon. Tôi buộc phải đặt sự trung thành của cá nhân tôi với ông trên múc độ cao nhất. Dù trong mùa hè tôi được cho biết đầy đủ điều gì xảy ra, nhưng tôi chẳng có cách nào can thiệp hoặc liên lạc với ông bất cứ lúc nào. Tuy nhiên ngay sau đó ông xin phép Thủ tướng để hỏi ý kiến tôi. Ông Baldwin chính thức đồng ý, dựa vào điều này truyền đạt đến tôi, tôi tới nhà vua ở Fort Belvedere. Tôi vẫn tiếp xúc với nhà vua cho đến khi ngài thoái vị và cố gắng hết sức cầu xin nhà vua và dân chúng hãy nhẫn nại và trì hoãn mọi việc. Tôi không hề hối hận về việc này, quả thật tôi không thể làm gì khác.

        Thủ tướng chứng tỏ mình là người am hiểu sắc sảo cảm nghĩ dân tộc của người Anh. Không nghi ngờ gì nữa, ông nhận thức và diễn đạt nguyện vọng sâu xa của dân tộc. Việc ông xử lý khéo léo tài tình vấn đề thoái vị đã đưa ông trong hai tuần lễ từ vực thẳm lên đỉnh núi cao. Có nhiều lúc dường như tôi hoàn toàn đon độc chống lại cả một Hạ nghị viện đang phẫn nộ - Trong công việc tôi không xúc động quá đáng do những ý kiến có chiều hướng chống đối, nhưng hơn một lần, hầu như không thể có được theo quy luật tự nhiên, nó phải khiến cho tôi được nghe thấy như vậy. Vói phương châm "Vũ khí cộng với hiệp ước" tôi tập trung cùng một lúc mọi lực lượng, những lực lượng mà chính tôi hình dung là động cơ chính, bị ly gián hoặc tan rã, còn bản thân tôi bị dư luận quần chúng tấn công đến nỗi có ý kiến phổ biến là sinh mệnh chính trị của tôi rốt cuộc đã kết thúc.

        Thật kỳ lạ biết bao nhiêu, cái Hạ nghị viện thực sự này đã nhìn tôi với nhiều thái độ thù địch đến thế, lẽ ra phải là một công cụ đã lắng nghe tôi chỉ dẫn và ủng hộ tôi qua những năm dài chiến tranh đối địch cho đến khi đánh thắng mọi kẻ thù! Làm sao mà đưa ra chứng minh ở đây rằng cách giải quyết khôn ngoan và an toàn duy nhất là ngày này qua ngày khác, phải hành động đúng với điều dường như là mệnh lệnh của chính lương tâm mình!

        Do việc thoái vị của một ông vua, chúng tôi đi qua lễ đăng quang của ông vua khác, và cho đến cuối tháng Năm năm 1937, nghi lễ và cảnh tượng lộng lẫy của tiết mục trọng thể của quốc gia nhằm bày tỏ sự ủng hộ và sự hiến dâng lòng trung thành của thần dân Anh trong nước và khắp Đế chế đối với vua mới, choán hết mọi tâm trí. Công việc ngoại giao và tình trạng phòng thủ của chúng tôi đã bỏ lỡ mọi đòi hỏi theo tâm trạng của dân chúng. Hòn đảo của chúng tôi có thể cách châu Âu mười nghìn dặm. Tuy nhiên tôi được phép ghi lại rằng ngày 18 tháng 5 năm 1937, vào buổi sáng lễ đăng quang, tôi nhận được một bức thư viết tay của nhà vua mới lên ngôi.

        The Royal Lodge The Great Park Windsor Berks

        Ông Churchill thân mến của tôi,

        Tôi viết cảm ơn ông về bức thư rất thân mật ông gửi tôi. Tôi hiểu ông đã và đang tận tụy nhiệt tình biết bao với người anh thân thiết của tôi, tôi xúc dộng không sao tả xiết trước sự thông cảm và sự hiểu biết của ông trước những vấn đề rất khó khăn nảy sinh từ khi anh ấy xa rời chúng tôi hồi tháng chạp. Tôi hoàn toàn nhận thức rõ trách nhiệm và nỗi lo âu mà tôi phải gánh vác với tư cách là quốc vương, tôi cũng cảm thấy được khích lệ khi nhận được những lời chúc mừng tốt đẹp của ông với tư cách là một trong số chính khách vĩ dại có tài của chúng ta, và của một người phụng sự Tố quốc mình như thế.

        Tôi chỉ có thể hy vọng và tin tưởng rằng cảm nghĩ tốt lành và hy vọng đang tồn tại ở Tổ quốc và Đế chế giờ đây sẽ chứng minh một tấm gương tốt cho các quốc gia khác trên thế giới.

Bạn rất chân thành của ông       
George VI                   

        Cử chỉ cao thượng này đối với một con người mà ảnh hưởng lúc bấy giơ tụt xuống đến con số không, mãi mãi sẽ là một khích lệ đáng ghi nhớ trong cuộc đời tôi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:01:41 PM

*

        Ngày 28 tháng 5 năm 1937 sau khi vua George VI lên ngôi, ông Baldwin về hưu. Với cuộc đòi công tác lâu dài, ông được tặng thưởng một cách thích hợp tước bá và cấp tước Ga-tơ. Ông từ bỏ quyền lực rộng lớn mà ông đã thu gom lại và cẩn thận giữ vững nhưng đã sử dụng càng ít càng tốt. Ông ra về trong niềm biết ơn và quý trọng nhiệt tình của quần chúng. Không còn nghi ngờ gì nữa về ai là người sẽ thay thế ông ta. ông Neville Chamberlain Bộ trưởng Tai chính không những đã hoàn thành tốt công việc chủ yếu của chính phủ trong năm năm qua mà còn là vị Bộ trưởng lành nghề nhất, có sức thuyết phục nhất, có tài năng lớn và tên tuổi được ghi vào lịch sử. Một năm trước, ở Birmingham, tôi đã miêu tả ông theo cách nói của Shakespeare là "con ngựa thồ trong những công việc vĩ đại của chúng ta", và ông ta tiếp nhận cách miêu tả này như một lòi khen. Tôi không mong ông thích làm việc với tôi, cũng chẳng biết ông có thể sáng suốt làm như thế vào một thời điểm như vậy chăng. Ý kiến của ông rất khác ý kiến tôi trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng nhất của thời cuộc. Nhưng tôi hoan nghênh một nhân vật hoạt động, có đủ khả năng, có quyền hành pháp, nắm quyền lực. Nhưng các cuộc giao thiệp của chúng tôi cả công khai và bí mật, vẫn tiếp tục nhạt nhẽo, chỉ dễ dãi và lịch sự mà thôi. Tôi có thể ghi lại đây sự đánh giá so sánh hai ông thủ tướng, Baldwin và Chamberlain tôi từng biết lâu đến thế, đã từng phục vụ hoặc phải phục vụ dưới quyền họ, Stanley Baldwin là người tùng trải hơn, nhận thức thấu đáo hơn, nhưng không có khả năng thực hành tỉ mỉ. Ở mức độ lớn, ông ta không dính dáng đến những công việc đối ngoại và quân sự. Ông hiểu biết ít về châu Âu, cũng không thích điều gì mình biết. Ông hiểu sâu công việc chính trị của đảng phái ở Anh, ông tiêu biểu một cách rõ ràng cho một vài mặt mạnh và nhiều tính nhu nhược của chủng tộc sống ở đảo chúng tôi. Là lãnh tụ của Đảng Bảo thủ ông đã tham gia năm cuộc Tổng tuyển cử và thắng được ba cuộc. Ông có thiên tài bám sát các sự kiện và bình tĩnh khi bị phê bình có tính chất chống đối. Ông đặc biệt khéo léo để cho sự kiện hoạt động cho mình và có tài chớp lấy thời cơ chín mùi khi nó xuất hiện. Đối với tôi dường như ông làm sống lại những ấn tượng mà lịch sử đem lại cho chúng tôi về ngài Robert Walpole, dĩ nhiên là không có sự thối nát của thế kỷ 18, và ông là bậc thầy trong đời sống chính trị ở Anh trong thời gian gần đây cũng như trong thời gian sắp tới.

        Con Neville Chamberlain thì nhanh nhẹn tháo vát, khăng khăng giữ ý kiến của mình, tự tin rất cao. Không như Baldwin, ông ta tự nghĩ rằng mình có thể hiểu toàn bộ phạm vi châu Âu và chắc là cả thế giới nữa. Đáng lẽ là một trực giác mơ hồ tuy vậy mà thâm căn cố đế, giờ đây lại có được một năng lực sắc bén hạn hẹp trong giới hạn chính sách mà ông tin tưởng. Vừa là Bộ trưởng Tài chính, vừa là Thủ tướng, ông ta giữ quyền điều khiển chặt chẽ nhất, khắt khe nhất đối với chi phí quân sự. Suốt thời kỳ này ông là người phản đối kiên quyết mọi biện pháp ban bố tình trạng khẩn cấp. Ông nghĩ ra những cách đánh giá dứt khoát tất cả nhân vật chính trị của thời đại, cả trong nước và ngoài nước và dám tự chủ giao thiệp với họ. Hy vọng tràn ngập tha thiết nhất của ông là được ghi lại trong lịch sử như một người hòa giải vĩ đại và để được như vậy, ông vui lòng liên tục phấn đấu bất chấp sự thật, và đương đầu với mọi rủi ro nguy hiểm đối với mình và quốc gia. Không may ông lại rơi vào dòng nước có sức mạnh ông không thể lường được, còn gặp bão tố ông không chùn bước nhưng cũng không thể đối phó được. Trong những năm cuối cùng trước chiến tranh lẽ ra tôi đã phải nhận thấy dễ làm việc với Baldwin khi tôi hiểu ông ta, hơn là với Chamberlain, nhưng chẳng ai trong họ muốn làm việc với tôi, trừ phi đó như là phương sách cuối cùng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:02:57 PM

*

        Năm 1937 một hôm tôi có cuộc họp với ông Von Ribbentrop, Đại sứ Đức tại Anh. Trong một bài báo của tờ bán nguyệt san của tôi, tôi nhận thấy ông ta bị xuyên tạc trong bài diễn văn nào đó do ông viết. Dĩ nhiên nhiều lần tôi gặp ông trong giới thượng lưu. Lúc ấy ông hỏi tôi không biết có phải tôi muốn đến gặp ông và nói chuyện không. Ông tiếp tôi trong căn phòng rộng lớn trên gác Đại sứ quán Đức. Chúng tôi đàm luận trong hơn hai giờ. Ribbentrop lịch thiệp lắm, chúng tôi đề cập đến tình hình hiện hành ở châu Âu cả về lực lượng vũ trang và về đường lối hành động. Thực chất 1ời phát biểu của ông với tôi là nước Đức tìm kiếm tình hữu nghị của Anh (Trên lục địa châu Âu người ta vẫn thường gọi chúng tôi là England - Anh Quốc). Ông nói có thể ông đã là Bộ trưởng Ngoại giao Đức, nhưng ông đã yêu cầu Hitler cứ để ông sang Luân Đôn nhằm chuẩn bị toàn bộ vấn đề cho một hiệp ước thân thiện Anh - Đức hoặc thậm chí liên minh. Nước Đức sẽ hành động như người đứng gác cho toàn bộ Đế chế rộng lớn của Anh. Họ có thể đòi lại các thuộc địa của Đức nhưng dĩ nhiên đây không phải là điều chủ yếu. Điều họ đòi hỏi là Anh phải để cho Đức toàn quyền hành động ở Đông Âu. Họ phải có không gian sinh tồn cho dân số ngày càng tăng. Bởi vậy Ba Lan và hành lang Danzig phải được gộp vào. Bạch Nga và Ukraine là không thể thiếu cho sự sinh tồn trong tương lai của Đế chế Đức với khoảng chừng bảy chục triệu dân. Không được đáp ứng ít hơn. Tất cả những điều đó đòi hỏi khối thịnh vượng chung của Anh và Đế chế Anh là không can thiệp vào. Trên tường có treo một tấm bản đồ lớn, và nhiều lần Đại sứ chỉ dẫn cho tôi trên đó để minh họa cho các dự án của mình.

        Sau khi nghe tất cả những điều đó, tôi nói ngay rằng chắc chắn chính phủ Anh nhất định không đồng ý để cho Đức toàn quyền hành động ở Đông Âu. Đúng là chúng tôi đang có quan hệ xấu với nước Nga Xô Viết, chúng tôi không thích chủ nghĩa Cộng sản nhưng không nhiều như Hitler, nhưng ông ta có thể chắc chắn rằng dù cho nước Pháp được bảo vệ, thì Anh cũng nhất định không bao giờ từ bỏ quyền can thiệp vào vận mệnh lực địa châu Âu tới mức có thể cho phép Đức giành được quyền thống trị Trung và Đông Âu. Khi tôi tuyên bố điều này thì thực sự chúng tôi đứng trước bản đồ. Ribbentrop đột ngột quay mặt đi. Khi đó ông ta nói: "Trong trường hợp này, chiến tranh là không tránh khỏi. Không có đường ra. The Fuehrer đã quyết tâm. Nhất định không có gì ngăn chặn được ông ấy và cũng nhất định không có gì ngăn chặn được chúng tôi". Lúc đó chúng tôi trở lại ghế ngồi. Tôi chỉ là một thành viên trơn trong chính phủ nhưng cũng có được ít tiếng tăm gì đó. Tôi nghĩ là tôi có quyền chính đáng để nói với đại sứ Đức. Thực tế, tôi nhớ kỹ những lòi đã nói. "Khi ngài nói tới chiến tranh, thì không nghi ngờ gì đó phải là chiến tranh tổng lực, ngài không được đánh giá thấp nước Anh. Đó là một nước kỳ lạ, ít người nước ngoài có thể hiểu được năng lực trí tuệ của nó. Ngài đừng xét đoán theo thái độ của chính quyền hiện thời. Một khi đại nghĩa được nêu ra với nhân dân thì chính phủ thực sự này và dân tộc Anh có thể thực hiện mọi hành động bất ngờ". Và tôi nhắc lại "Đừng có đánh giá thấp nước Anh. Nó rất thông minh. Nếu các ngài đẩy tất cả chúng tôi vào một cuộc đại chiến khác thì nước Anh sẽ làm cho toàn thế giới chống lại các ngài như thời gian vừa qua". Tôi nói đến đó thì đại sứ giận dữ đứng dậy nói: "Chà, nước Anh có thể rất thông minh, nhưng lúc này nhất định nó không làm cho thế giới chống lại Đức được đâu". Rồi chúng tôi xoay câu chuyện sang những vấn đề khác thoải mái hơn, và không có điều gì nữa xảy ra. Tuy nhiên việc bất ngờ xảy ra này vẫn còn trong ký ức tôi, và khi báo cáo lại với Bộ Ngoại giao, tôi cho là việc này phải được chính thức ghi nhận.

        Khi phải ra hầu tòa, để thoát chết trước những người chiến thắng, Ribbentrop thuật lại một cách xuyên tạc cuộc nói chuyện này và yêu cầu phải mời tôi đến như một nhân chứng. Điều tôi đã ghi lại về việc này là điều lẽ ra tôi phải nói nếu tôi được mời.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:04:08 PM

11

ÔNG EDEN Ở BỘ NGOẠI GIAO - VIỆC ÔNG TỪ CHỨC

        Bộ trưởng Ngoại giao có một vị trí đặc biệt trong nội các Anh.

        Ông được kính trọng rõ rệt trong chức vụ cao cả, đầy trọng trách, nhưng ông thường chỉ đạo công việc dưới sự xem xét kỹ lưỡng không ngừng nếu không phải của toàn nội các thì ít nhất cũng phải của những thành viên chủ yếu. Ông có nghĩa vụ phải làm cho họ nắm được tình hình. Theo thủ tục thường lệ, ông thông báo cho các đồng sự, tất cả những bức điện tín của ông về việc thực hiện các quyết định, các báo cáo của các đại sứ quán ở nước ngoài, những ghi chép các cuộc gặp gỡ với các đại sứ nước ngoài hoặc những người có danh vọng khác, ít nhất, đó là tình huống tôi đã từng trải trong sinh hoạt của nội các. Dĩ nhiên thủ tướng đặc biệt duy trì việc giám sát này, hoặc đích thân thủ tướng hoặc thông qua nội các, chịu trách nhiệm kiểm tra và có quyền kiểm tra đường lối đối ngoại chủ yếu, ít nhất chẳng có điều gì là bí mật đối với ông. Không có Bộ trưởng Ngoại giao nào có thể hoàn thành công việc của mình nếu không được thủ trưởng kiên trì ủng hộ. Để cho sự việc diễn ra êm thấm, không những phải có sự thỏa thuận giữa họ với nhau trên những nguyên tắc cơ bản mà còn dựa vào sự hòa hợp quan điểm và thậm chí còn dựa vào mức độ tính khí nào đó của nhau. Điều này càng quan trọng hơn nếu bản thân Thủ tướng dành hết sự chú ý đặc biệt vào công tác ngoại giao.

        Eden là Bộ trưởng Ngoại giao của ông Baldwin, một người ai cũng biết là ngoài việc mong muốn hòa bình là chủ yếu và một đời sống yên ổn, không đóng góp tích cực gì vào chính sách đối ngoại. Ông Chamberlain thì khác, ông cố gắng thực hiện một cách điều khiển theo kiểu mệnh lệnh trong nhiều lĩnh vực. Ông có những quan điểm kiên quyết về công tác đối ngoại và khẳng định rõ ràng từ đầu quyền được tranh luận với các đại sứ nước ngoài. Cách ông đảm nhiệm vai trò Thủ tướng vì thế bao hàm một sự thay đổi tế nhị nhưng có thể cảm thấy được về vị trí Bộ trưởng Ngoại giao.

        Thêm vào điều này là sự khác biệt về nghị lực và quan điểm sâu sắc dù lúc đầu còn tiềm tàng. Thủ tướng mong được quan hệ tốt với hai nhà độc tài châu Âu, và tin rằng sự hòa giải này và việc tránh bất cứ điều gì có thể xúc phạm họ là phương pháp tốt nhất.

        Eden thì khác, ông được danh tiếng ở Geneve do tập hợp các nước châu Âu chống lại một nhà độc tài, và rất có thể tự mình đưa ra các biện pháp trừng phạt đến ngưỡng cửa của chiến tranh và có thể còn xa hơn nữa. Ông là người sốt sắng ủng hộ hiệp ước thân thiện với Pháp. Ông thiết tha muốn quan hệ mật thiết hơn với nước Nga xô viết, ông cảm thấy và lo ngại mối hiểm họa Hitler. Ông lấy làm lo sợ tình trạng non kém của các lực lượng vũ trang của chúng ta và các mặt phản tác dụng của chúng về công tác đối ngoại. Có thể nói rằng gần như không có bất đồng nhiều về quan điểm giữa ông và tôi, dĩ nhiên trừ khi ông đang làm công việc thường xuyên. Cho nên từ đầu đối với tôi, dường như những bất đồng sẽ có thể nảy sinh giữa hai nhân vật lãnh đạo cùng cương vị bộ trưởng khi tình hình thế giới trở nên nghiêm trọng hơn.

        Hon nữa, ở Huân tước Halifax, Thủ tướng có được một đồng sự dường như chia sẻ những quan điểm của mình, một cách đồng tình và tin tưởng chắc chắn về công việc ngoại giao. Sự kết giao lâu dài mật thiết của tôi với Edward Halifax bắt đầu từ năm 1922 trong thời Lloyd George khi ông trở thành thứ trưởng của tôi trong Bộ lãnh thổ tự trị và thuộc địa của khối thịnh vượng chung của Anh. Những sự bất đồng chính trị, thậm chí nghiêm trọng kéo dài như những bất đồng giữa chúng tôi về chính sách của ông với tư cách là phó vương Ấn Độ, cũng không hề phá hoại mối quan hệ riêng tư của chúng tôi. Tôi nghĩ là tôi hiểu ông rất nhiều, và tôi chắc rằng giữa chúng tôi có một hố sâu ngăn cách. Tôi cũng cảm thấy cũng cái hố sâu ngăn cách ấy hoặc một hố sâu ngăn cách tương tự mở ra giữa ông và Anthony Eden. Tóm lại, có thể ông Chamberlain sáng suốt hơn mới bổ nhiệm Huân tước Halifax làm Bộ trưởng Ngoại giao khi ông thành lập chính phủ. Eden có thể rất may mắn hơn được cử vào Bộ Chiến tranh hoặc Bộ Hải quân, và Thủ tướng có thế nắm chắc một người rất tâm đầu ý hợp và là người của mình ở Bộ Ngoại giao. Giữa thời gian mùa hè và cuối năm 1937, nảy sinh sự bất đồng cả về cách thức và mục tiêu, giữa Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao. Sự nối tiếp các sự kiện theo một quá trình diễn biến hợp lý đã dẫn đến việc từ chức của ông Eden.

        Những điểm bất đồng chính nảy sinh về mối quan hệ của chúng tôi với Đức và Ý. Ông Chamberlain nhất quyết nài nỉ một cách ôn hóa với hai nhà độc tài. Tháng 7 năm 1937, ông ta mời bá tước Grandi, đại sứ Ý đến phố Downing. Cuộc đàm luận diễn ra tuy ông Eden có biết nhưng không tham gia. ông Chamberlain nói về mong muốn của mình về một sự cải thiện quan hệ Anh - Ý. Bá tước Grandi gợi ý với ông rằng có lẽ là nên, nếu Thủ tướng viết một lời thỉnh cầu riêng cho Mussolini xem như một bước sơ bộ. ông Chamberlain ngồi xuống và viết một lá thư như thế ngay trong cuộc hội đàm. Bức thư được gửi đi không hòi ý kiến Bộ trưởng Ngoại giao đang ở tại Bộ Ngoại giao cách đó một vài mét. Bức thư không đem lại kết quả cụ thể, còn quan hệ của chúng tôi với Ý ngày càng xấu đi do sự can thiệp ngày càng tăng của họ vào Tây Ban Nha.

        Ông Chamberlain thấy cần thiết phải có một phái đoàn đặc biệt, dành riêng để trực tiếp nói chuyện thì mới mong đạt được quan hệ hữu nghị với hai nhà độc tài Ý và Đức, và ông nghĩ chỉ có đích thân ông mới có khả năng hoàn tất mối quan hệ đó. Đối với Mussolini ông muốn công nhận việc Ý xâm lược Abyssinia như là mở đầu cho một cuộc dàn xếp những bất đồng. Đối với Hitler, ông sẵn sàng đưa ra việc nhượng bộ về thuộc địa. Đồng thời ông không muốn quan tâm đến việc cải tiến lực lượng vũ trang của Anh một cách lộ liễu hoặc đến sự cần thiết phải hợp tác chặt chẽ với Pháp ở cấp nhân viên và cấp chính phủ. Còn ông Eden thì tin chắc rằng bất cứ sự dàn xếp nào với Ý phải là bộ phận của một thỏa thuận chung về Địa Trung Hải, thỏa thuận này phải bao gồm cả Tây Ban Nha và phải được đạt tới theo sự thỏa thuận sơ bộ kín đáo với Pháp. Trong cuộc đàm phán cho một cuộc dàn xếp như vậy, việc chúng tôi công nhận vị trí của Ý ở Abyssinia rõ ràng sẽ là một cú phản công mặc cả quan trọng. Theo ý kiến Bộ Ngoại giao, nếu bỏ đi điều này và tỏ ra tha thiết khỏi xướng đàm phán là không khôn ngoan.

        Trong mùa thu năm 1937, những bất đồng nay trở nên nghiêm trọng hơn. Ông Chamberlain cho rằng Bộ Ngoại giao đang gây trở ngại cho những cố gắng của mình nhằm mở các cuộc thảo luận với Đức và Ý, còn ông Eden thì thấy thủ trưởng mình đang tỏ ra hấp tấp thái quá trong việc tiếp xúc với các nhà độc tài, đặc biệt trong lúc lực lượng vũ trang của Anh còn yếu đến như vậy. Nói tóm lại có một sự bất đồng quan điểm sâu xa, thực sự, có ảnh hưởng đến tâm lý.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:05:08 PM

*

        Mặc dù có những bất đồng với chính phủ, tôi rất đồng tình với Bộ trưởng Ngoại giao. Đối với tôi, dường như ông là nhân vật kiên quyết và dũng cảm nhất trong chính quyền dù là với tư cách là bộ trưởng thường và sau đó với tư cách là thứ trưởng Bộ Ngoại giao, ông ta có bổn phận phải thích nghi với nhiều việc mà tôi công kích và còn lên án, tôi vẫn tin chắc ông tốt bụng và nắm được thực chất của vấn đề. Về phần ông, ông coi việc mời tôi vào công tác ở Bộ Ngoại giao là cần thiết, và chúng tôi trao đổi thư từ thoải mái. Dĩ nhiên không có chuyện không đúng đắn trong thói quen này, còn ông Eden giữ vững tiền lệ đã tồn tại trong một thời gian dài nhờ đó Bộ Ngoại giao mới có thói quen tiếp xúc với những nhân vật chính trị nổi tiếng đương thòi về mọi vấn đề quốc tế rộng rãi.

        Mùa thu năm 1937, Eden và tôi, dù đường lối có khác nhau một chút, đều đi đến một lập trường giống nhau chống lại sự can thiệp tích cực của phe Trục vào cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Tôi luôn luôn ủng hộ ông tại Nghị viện khi ông hành động kiên quyết thậm chí dù trên một phạm vi rất hạn chế. Tôi hiểu rõ những sự phản đối gì của ông với một vài đồng nghiệp cao cấp hơn trong nội các và với thủ trưởng của ông, và hiểu rằng ông sẽ hành động dũng cảm hơn nếu ông không lúng túng. Chẳng mấy chốc, ở Địa Trung Hải xảy ra một cuộc khủng hoảng được giải quyết theo một mức độ nào đó mang lại một chút tin cậy vào đường lối của chứng tôi. Một số tàu buôn bị một số gọi là tàu ngầm Tây Ban Nha đánh đắm. Không nghi ngờ gì, sự thật đó không phải tàu của Tây Ban Nha mà là của Ý. Đây hoàn toàn là vụ cướp biển, nó kích thích tất cả những ai biết về việc này đứng lên hành động. Ngày 10 tháng 9 một cuộc hội nghị các cường quốc ở vùng Địa Trung Hải được triệu tập ở Nyon. Bộ trưởng Ngoại giao dự cuộc họp này, tháp tùng có Vansittart và Huân tước Chatfield, chủ tịch hội đồng đô đốc. Hội nghị ngắn gọn, có kết quả. Nhũng đội tuần tra chống tàu ngầm Anh - Pháp được thỏa thuận thiết lập với mệnh lệnh phải tiêu diệt bất cứ tàu ngầm nào họ bắt gặp. Điều này được Ý chấp thuận và những sự vi phạm trắng trợn lập tức chấm dứt.

        Dù là chuyện bất ngờ, nhưng đây là bằng chứng nói lên uy thế kết hợp của Anh, Pháp có tác động mạnh biết bao nhiêu, nếu nó được biểu lộ cùng với việc lên án và sẵn sàng sử dụng sức mạnh, thì có thể chống lại chính sách của các nhà độc tài. Ở giai đoạn này, một chính sách có thể ngăn ngừa chiến tranh như thế không được khẳng định. Nó có thể dễ dàng đẩy lùi chiến tranh. Sự thật là trong khi sự nhân nhượng vô nguyên tắc bằng mọi hình thúc, chỉ khuyến khích xâm lược và đem lại nhiều quyền lực hơn cho các nhà độc tài đối với nhân dân họ, thì bất cứ dấu hiệu phản công tích cực nào của các nước dân chủ phương tây đều lập tức làm giảm bớt tình hình căng thẳng. Quy luật này chiếm ưu thế trong cả năm 1937. Sau đó tình hình và hoàn cảnh có khác đi.

        Trong tháng 11 Eden ngày càng lo lắng về việc tái vũ trang chậm chạp của chúng tôi. Ngày 11 ông gặp riêng Thủ tướng, cố gắng trình bày những nỗi lo ngại của mình. Ông Neville Chamberlain, sau một lúc suy nghĩ, từ chối lắng nghe ông. Thủ tướng khuyên ông về nhà uổng một viên aspirin. Tháng 2 năm 1938, Bộ trưởng Ngoại giao thấy mình hầu như bị cô lập trong Nội các. Được ủng hộ mạnh mẽ, Thủ tướng chống lại ông va quan điểm của ông. Toàn thể một nhóm bộ trưởng quan trọng cho rằng chính sách của Bộ Ngoại giao là nguy hiểm, thậm chí có tính chất khiêu khích. Mặt khác một số bộ trưởng trẻ hơn lại rất nhanh chóng hiểu ra quan điểm của ông. Một vài người trong bọn họ phàn nàn rằng ông không thổ lộ những bí mật của mình với họ. Tuy nhiên ông không có ý định chống lại người lãnh đạo của mình. Các tham mưu trưởng không thể giúp đỡ ông. Thực vậy, họ buộc phải thận trọng và nhắc đi nhắc lại về tình thế hiểm nguy. Họ miễn cưỡng trong tiếp xúc quá chặt chẽ với người Pháp, sợ chúng tôi phải đi vào những cam kết ngoài khả năng thực hiện. Họ giữ một cái nhìn ảm đạm về sức mạnh quân sự của Nga sau cuộc thanh trừng của Staline, về sau càng nhiều hơn. Họ tin rằng cần phải giải quyết các vấn đề của chúng tôi, xem như chúng tôi có ba kẻ thù Đức, Ý và Nhật. Tất cả bọn họ có thể cùng một lúc tấn công chúng tôi và có ít nước giúp chúng tôi. Chúng tôi có thể yêu cầu được sử dụng các căn cứ không quân trên đất Pháp, nhưng ở giai đoạn đầu, chúng tôi không thể phái đi một đạo quân. Thậm chí điều gọi ý khiêm tốn nhất này cũng vấp phải sự chông đối mạnh mẽ trong nội các.

        Nhưng mối bất hòa thực sự trùm lên một vấn đề mới và riêng rẽ. Tối ngày 11 tháng giêng năm 1938 ông Sumner Welles, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ trân trọng triệu tập Đại sứ Anh ở Washington. Ông là người đem một mật điện riêng của Tổng thống Roosevelt gửi ông Chamberlain. Tổng thống lấy làm lo lắng sâu sắc về tình hình quốc tế trở nên xấu hơn, và đề nghị khỏi xướng việc mời đại diện một số chính phủ đến Washington để thảo luận những nguyên nhân cơ bản của những khó khăn hiện thời. Tuy nhiên trước khi thực hiện bước này, ông muốn hỏi ý kiến chính phủ Anh về một kế hoạch như vậy, và yêu cầu không một chính phủ nào khác được thông báo hoặc về tính chất, hoặc về sự hiện hữu của một đề nghị như vậy. Tổng thống yêu cầu phải được phúc đáp không chậm hơn ngày 17 tháng giêng, và cho biết rằng chỉ bất kỳ lúc nào ý kiến đề nghị của ông ta được chính phủ Hoang gia chân thành chấp thuận và hết lòng ủng hộ, thì lúc đó ông sẽ thăm dò ý kiến các chính phủ Pháp, Đức và Ý. Đây là một biện pháp quá khó khăn không lường được.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:05:37 PM

        Trong khi gửi đề nghị tối mật này về Luân Đôn, đại sứ Anh, ngài Ronald Lindsay thúc giục chính phủ chấp thuận ngay. Bộ Ngoại giao nhận được điện của Washington ngày 12 tháng giêng và tối hôm đó, gửi các bản sao đến Thủ tướng đang ở nông thôn. Sáng hôm sau, ông đến Luân Đôn và căn cứ vào chỉ thị của ông, một bản phúc đáp được gửi trả lời điện của Tổng thống. Lúc ấy, ông Eden đang nghỉ ngắn ngày ở miền nam nước Pháp. Trả lời của ông Chamberlain bảo rằng ông đánh giá cao sự tin cậy của Tổng thống Roosevelt đã hỏi ý kiến ông theo cách này về kế hoạch của Tống thống đề nghị làm dịu tình hình càng thẳng đang tồn tại ở châu Âu, nhưng ông mong muốn giải thích quan điểm của các cố gắng của chính mình nhằm đạt một sự thỏa thuận với Đức và Ý, đặc biệt đối với trường hợp Ý. "Chính phủ Hoàng gia, về phần mình, nếu có thể với quyền lực của Hội Quốc Liên, sẽ sẵn sàng thừa nhận về mặt pháp lý, việc Ý chiếm đóng Abyssinia, nếu nhận thấy chính phủ Ý về phía mình, sẵn sàng chứng tỏ họ mong muốn góp phần khôi phục các quan hệ hữu nghị và tin cậy". Thủ tướng đề cập những sự việc này trong bức điện để Tổng thống có thể cân nhắc.

        Ồng Roosevelt nhận được phúc đáp này khá thất vọng.

        Ông cho biết sẽ trả lời bằng thư cho ông Chamberlain vào ngày 17 tháng giêng. Tới ngày 15 tháng giêng, Bộ trưởng Ngoại giao trở về Anh. Ông bị thúc giục phải trở về, không phải do thủ trưởng của ông không bằng lòng khi hành động thiếu ông, mà do các nhân viên trung thành của ông ở Bộ Ngoại giao. Ông Alexander Codogan cẩn mật đợi ông trên bến tàu ở Dover. Ông Eden, người hoạt động tích cực lâu dài để cải thiện quan hệ Anh Mỹ lấy làm lo ngại sâu sắc. Ông gửi ngay một bức điện cho ngài Ronald Lindsay yêu cầu cố gắng giảm đến mức tối thiểu hậu quả của lời phúc đáp làm cụt hứng của ông Chamberlain. Sáng 18 tháng giêng thư của Tổng thống đến Luân Đôn. Trong thư ông đồng ý hoãn thực hiện đề nghị của mình vì xét thấy chính phủ Hoàng gia đang dự định những cuộc đàm phán trực tiếp, nhưng ông thêm rằng ông hết sức lấy làm lo lắng về ý kiến của chính phủ Hoàng gia khi chấp nhận việc thừa nhận vị trí của Ý ở Abyssinia. Ông nghĩ rằng điều này sẽ tác động tai hại nhất đối với chính sách của Nhật ở Viễn Đông và đối với dư luận công chúng Mỹ. Ông Cordell Hull, khi đọc thư này cho Đại sứ Anh ở Washington thậm chí phát biểu ý kiến còn nhấn mạnh hơn nữa. Ông nói rằng một sự thừa nhận như vậy nhất định khêu gọi một cảm giác ghê tởm, nhất định làm sống lại và tăng lên nhiều lần mọi nỗi lo sợ; điều đó phải được miêu tả như một cuộc mặc cả không công chính ở châu Âu làm tổn hại đến các quyền lợi ở Viễn Đông có liên quan mật thiết đến nước Mỹ.

        Bức thư của Tổng thống được xem xét cân nhắc tại một loạt các cuộc hội nghị của ủy ban đối ngoại của chính phủ. Ông Eden thành công trong việc sửa đổi đáng kể quan điểm trước đây. Hầu hết các bộ trưởng nghĩ rằng ông ta lấy làm vừa 1òng. Nhưng ông lại không làm cho họ rõ rằng ông không hài lòng. Tiếp theo các cuộc thảo luận này là hai bức điện gửi đến Washington ngày 21 tháng giêng. Nội dung các phúc đáp này là Thủ tướng nhiệt liệt hoan nghênh sáng kiến của Tổng thống nhưng không muốn chịu bất kỳ trách nhiệm nào về sự thất bại của nó nếu những đề nghị của Mỹ được tiếp nhận một cách không thỏa đáng. Ông Chamberlain muốn chỉ ra rằng chúng ta hoàn toàn không chấp nhận thủ tục do Tổng thống đề nghị rõ ràng có thể chọc tức cả hai nhà độc tài Ý và Nhật. Chính phủ Hoàng gia cũng không cảm thấy Tổng thống hoàn toàn hiểu quan điểm của chúng tôi đối với việc thừa nhận về pháp lý. Bức điện thứ hai thực tế là sự giải thích quan điểm của chúng tôi về vấn đề này. Chúng tôi có ý định chấp nhận sự công nhận như thế chỉ là một bộ phận của một sự dàn xếp chung với Ý.

        Đại sứ Anh báo cáo cuộc nói chuyện giữa ông và ông Sumner Welles khi ông trao các bức điện này cho Tổng thống ngày 22 tháng giêng. Ông tuyên bố rằng ông Welles nói với ông là Tổng thống xem việc công nhận như một viên thuốc khó chịu cả hai bên chúng ta phải nuốt và Tổng thống mong rằng cả hai bên chúng ta phải nuốt cùng một lúc.

        Như vậy là ông Chamberlain đã từ chối kế hoạch đề xuất của Tổng thống Roosevelt dùng ảnh hưởng của Mỹ cho mục đích hợp lại các cường quốc quan trọng nhất châu Âu để thảo luận về khả năng một sự dàn xếp chung, tuy vậy dĩ nhiên điều này đòi hòi một cách không dứt khoát phải có sức mạnh hùng cường của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:06:11 PM

*

        Rõ ràng không có chuyện Bộ trưởng Ngoại giao từ chức căn cứ vào việc ông Chamberlain khước từ đề nghị của Tổng thống. Ông Roosevelt quả thực đang gặp nguy cơ lớn trong hoạt động chính trị trong nước của chính mình do chủ tâm đưa nước Mỹ vào sân khấu châu Âu đang tối tăm. Tất cả những lực lượng của chủ nghĩa biệt lập có thể được khuấy động nếu bất kỳ bộ phận nào của những sự trao đổi này diễn ra. Mặt khác không có sự kiện nào có thể có khả năng hơn để phòng ngừa và thậm chí ngăn chặn chiến tranh là Mỹ đi vào vòng tròn những căm thù và sợ hãi của châu Âu. Đối với Anh đó gần như là một vấn đề sinh tử. Nhìn lại thì không người nào có thể lường được tác động của nó đối với quá trình diễn biến các sự kiện ở Austria và sau đó ở Munich. Chúng ta phải đánh giá sự bác bỏ nó - thực tế là như vậy - như là sự thất bại của cơ may mong manh cuối cùng nhằm cứu thế giới khỏi sự bạo ngược bằng cách khác hơn là bằng chiến tranh. Rằng ông Chamberlain với cách nhìn hạn chế của ông, và thiếu kinh nghiệm về tình hình châu Âu, lẽ ra phải có tính độc lập, đưa thẳng tay qua Đại Tây Dương, lại bỏ mặc người ta nín thở vì sửng sốt ngay vào ngày tháng đó. Ở một con người ngay thẳng có đủ khả năng, có thiện chí được giao phó vận mệnh của Tổ quốc và tất cả những ai trông mong vào đó, trong giai đoạn này, lại thiếu rất nhiều những khả năng cân đối và ngay cả đến khả năng tự bảo toàn. Thậm chí ngày nay người ta không thế diễn lại tâm trạng đã khiến cho những hành động như vậy có thể xảy ra.

        Chắc chắn với 1òng tự tin vào tương lai đang giảm sút, ngày 25 tháng giêng, ông Eden đi Paris để trao đổi ý kiến với Pháp. Mọi việc lúc này tùy thuộc vào thành công của việc tiếp xúc với Ý mà chúng tôi đã nêu rõ vấn đề trong các bản phúc đáp của chúng tôi với Tổng thống. Các bộ trưởng Pháp đã làm cho ông Eden thấy rõ sự cần thiết phải đưa Tây Ban Nha vào bất cứ sự dàn xếp nào với người Ý. Về vấn đề này, ông không cần có sự thuyết phục gì nhiều. Ngày 10 tháng hai, Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao gặp Bá tước Grandi, ông này tuyên bố về nguyên tắc người Ý sẵn sàng mở đàm phán.

        Ngày 15 tháng 2 tin tức đưa việc Thủ tướng Áo, Schuschnigg, phục tùng đòi hỏi của Đức về việc giới thiệu vào nội các Áo, một nhân viên Quốc Xã quan trọng bậc nhất, Seyss-Inquart, với tư cách là Bộ trưởng nội vụ và là cảnh sát trưởng của Áo. Sự kiện nghiêm trọng này không ngăn chặn được cuộc khủng hoảng riêng giữa ông Chamberlain và ông Eden. Ngày 18 tháng 2 họ lại gặp bá tước Grandi. Đây là việc cuối cùng mà họ cùng nhau chỉ đạo. Đại sứ từ chối hoặc thảo luận về lập trường của Ý đối với Áo hoặc xem xét kế hoạch của Anh về việc rút quân tình nguyện hay cái gọi là quân tình nguyện - về trường hợp năm sư đoàn quân chính quy Ý - ra khỏi Tây Ban Nha. Tuy nhiên Grandi yêu cầu cuộc đàm phán toàn bộ phải được mở tại Rome. Thủ tướng thì ước mong những cuộc đàm phán này, còn Bộ trưởng Ngoại giao thì kiên quyết phản đối một bước đi như vậy.

        Đã diễn ra những cuộc đàm phán kéo dài và những cuộc họp nội các. Cuối cùng ông Eden bất ngờ đưa đơn xin từ chức vào lúc các cuộc đàm phán ở Ý diễn ra ở giai đoạn rất nhạy cảm. Các đồng nghiệp của ông lấy làm ngạc nhiên. Họ không hiểu rằng những bất đồng giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Thủ tướng đã đi tới chỗ đổ vỡ. Rõ ràng nếu sự từ chức của ông Eden là rắc rối thì một vấn đề mới nổi lên to lớn hơn và nhiều vấn đề toàn bộ hơn được đặt ra. Tuy nhiên tất cả mọi người đều nói thẳng ra dựa trên lẽ phải trái của vấn đề đang tranh cãi. Trong ngày còn lại dài đằng đẵng người ta cố gắng thuyết phục ông Bộ trưởng Ngoại giao thay đổi ý kiến. Ông Chamberlain lấy làm xúc động vì cảnh cùng quẫn của nội các. "Nhìn các đồng sự của tôi sửng sốt như thế nao, tôi đề nghị ngừng họp cho đến ngày hôm sau". Nhưng Eden thấy tiếp tục tìm kiếm những công thức là vô ích và vào nửa đêm ngày 20 việc từ chức của ông trở thành dứt khoát. "Ông ta thật hết sức đáng khen như tôi nhận thấy", Thủ tướng lưu ý. Lập tức Huân tước Halifax được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Ngoại giao thay ông Eden.

        Dĩ nhiên những sự bất đồng nghiêm trọng trong nội các trở nên quen thuộc mặc dù ít người biết được lý do. Tôi có nghe điều gì đó thuộc về việc này, nhưng tôi cẩn thận tránh giao tiếp với ông Eden. Tôi hy vọng không lý do gì khi từ chức mà ông lại không biện minh trước trường hợp của mình và đem lại cho nhiều bạn bè trong Nghị viện cơ hội đưa ra nhiều lối thoát. Nhưng lúc ấy chính phủ có uy quyền lớn và có thái độ bàng quan đến nỗi cuộc đấu tranh chỉ được giải quyết bên trong các buổi họp kín của các bộ trưởng và chủ yếu là giữa hai người.

        Vào cuối đêm ngày 20 tháng 2 cú điện báo qua dây nói đến với tôi khi tôi ngồi trong căn phòng cũ kỹ của mình ở Chartwell (như tôi thường hay ngồi bây giờ) nói rằng Eden đã từ chúc. Tôi phải thú nhận là lòng tôi se lại và trong một lúc nỗi thất vọng như những đợt thủy triều đen tối chôn vùi bản thân tôi. Trong cuộc đời tôi đã trải qua bao nhiêu chuyện thăng trầm. Trong suốt cuộc chiến tranh chẳng mấy chốc xảy ra và trong những thời kỳ đen tối nhất, bao giờ tôi cũng ngủ yên. Trong cuộc khủng hoảng năm 1940 khi bao nhiêu trách nhiệm thuộc về tôi đến như vậy, cũng nhiều lúc rất nguy ngập khó xử trong năm năm tiếp theo, luôn luôn tôi có thể ngồi phịch xuống giường và ngủ sau khi xong công việc hàng ngày, dĩ nhiên cũng dễ bị triệu tập khẩn cấp bất kỳ lúc nào. Tôi ngủ ngon và thức dậy khoan khoái, như không có gì xảy ra trừ việc sốt ruột chờ bất kỳ món ăn sáng nào mang tới. Nhưng lúc này vào đêm 20 tháng 2 năm 1938 này và chỉ lúc này thôi, tôi không ngủ được. Từ nửa đêm cho tới sáng tinh mơ, tôi nằm trên giường mà long dạ héo hon, xúc động buồn phiền và lo ngại. Hình như có một nhân vật còn trẻ kiên quyết đứng lên chống lại những trào lưu thụ động, đầu hàng, những cách xử trí sai trái và những cơn bốc đồng yếu ớt cứ kéo dài, dây dưa và buồn nản. Sự điều khiển công việc của tôi có thể khác sự điều khiển công việc của ông ấy ở nhiều cách riêng, nhưng đối với tôi hình như ông là hiện thân của niềm hy vọng sinh tồn của quốc gia Anh, của chủng tộc Anh vĩ đại và lão luyện, đã hoạt động rất nhiều cho con người và hãy còn phải cống hiến khá nhiều hơn nữa. Giờ đây ông ta đã ra đi. Tôi nhìn ánh sáng bình minh chầm chậm lẻn vào qua cửa sổ và với cái nhìn chằm chằm mất trí, tôi thấy hình ảnh của Thần Chết.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười Hai, 2018, 08:33:53 PM

12

SỰ CƯỚP ĐOẠT NƯỚC ÁO - THÁNG 12/1938

        Thông thường trong thời đại văn minh, các nước bại trận vẫn giữ được cấu trúc, bản sắc và bí mật về tài liệu lưu trữ của mình. Trong trường hợp này do tiến hành chiến tranh để kẻ mất người còn, chúng tôi có thể kiểm tra lại với một sự chính xác nào đó tin tức chúng tôi thu thập được với trình độ của mình. Tháng 7/1936 Hitler chỉ thị cho Bộ Tổng Tham Mưu vạch ra kế hoạch quân sự chiếm đóng nước Áo khi thời điểm phải đến đã đến. Cuộc hành quân này mang tên "kế hoạch Otto". Giờ đây vào ngày 5/11/1937, y nói rõ cho tướng lĩnh các lực lượng vũ trang biết các ý đồ tương lai của mình. Nước Đức cần có thêm "không gian sinh tồn". Điều này có thể tìm thấy, tốt nhất, ở Đông Âu - Ba Lan, Bạch Nga và Ucraina, và để đạt được mục đích thì phải có một cuộc chiến tranh lớn với hệ quả khả dĩ là sự tiêu diệt nhân dân sống trên các phần đất này. Nước Đức phải tính đến Pháp và Anh là 2 kẻ thù đáng căm ghét, không tha thứ sự có mặt một "nước Đức khổng lồ ở Trung Âu". Để lợi dụng được vị thế dẫn đầu trong việc sản xuất vũ khí đạn dược, cũng như lòng nhiệt tình yêu nước do Đảng Đức Quốc Xã dấy lên và là đại diện, nước Đức phải làm chiến tranh ngay khi gặp cơ hội hứa hẹn đầu tiên và đối phó với hai địch thủ hiển nhiên trước khi những nước này sẵn sàng để chiến đấu.

        Neurath, Fritsch và cả Blomberg nữa, tất cả đều bị chi phối bởi quan điểm của Bộ Ngoại giao, Bộ TTM và Đoàn sĩ quan Đức, đã hoảng hốt trước chủ trương trên. Họ nghĩ rằng rủi ro phải gánh là quá lớn. Họ thùa nhận là với sự táo bạo của Hitler, họ nhất định đi trước các nước đồng minh trên mọi hình thái tái vũ trang. Lục quân trưởng thành lên từng tháng. Nội bộ nước Pháp suy yếu, nước Anh thiếu ý chí là những yếu tố có thể phát triển sung mãn. Một hoặc hai năm chả là gì khi mọi việc đều trôi chảy. Họ phải có thời gian để hoàn chỉnh bộ máy chiến tranh và thỉnh thoảng thủ lĩnh lại đưa ra 1ời phát biểu hòa giải để các nền dân chủ suy đồi và vô bổ ngồi lại trao đổi với riêng nhau. Nhưng Hitler vẫn chua an tâm về việc này. Thiên tài của y đã dạy y hiểu là thắng lợi không thể đạt được bằng các quá trình vận động để có lợi thế. Phải chấp nhận rủi ro. Phải làm một bước nhảy vọt. Y hân hoan trước những thành công của mình trong 4 lĩnh vực một là tái vũ trang, hai là luật nghĩa vụ quân sự, ba là địa phận Đức có sông Rhine chảy qua, bốn là Mussolini nắm chính quyền - Chờ đợi cho đến khi mọi việc đều sẵn sàng chắc chắn là quá muộn. Các sử gia và những người khác có thể nói rất dễ dàng là Hitler có thể nắm trong tay toàn bộ vận mệnh thế giới nếu y tiếp tục tăng trưởng về sức mạnh trong 2, 3 năm nữa trước khi mở cuộc tấn công. Tuy nhiên điều đó đã không diễn ra. Trong đời sống của con người hoặc của các quốc gia, không có những sự chắc chắn nào cả. Hitler đã quyết định, phải hành động gấp và mở cuộc chiến tranh trong khi ở tư thế sung mãn.

        Blomberg đối với Đoàn sĩ quan, trở nên kém quyết tâm do một cuộc phối hợp không thỏa đáng, bị cách chức đầu tiên. Sau đó, ngày 4-2-1938, Hitler cách chức Fritsch và đích thân nắm quyền Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Với sức khá dĩ có được của một người, dù cho anh ta có quyền lực và tài ba đến mấy, dù cho anh ta có thể giáng những đồn trừng phạt khủng khiếp như thế nào, để thực hiện ý chí của mình trên những lĩnh vục rộng lớn bao la như vậy, Hitler đã nắm quyền kiểm soát trực tiếp không những đường lối chính sách quốc gia mà cả bộ máy quân sự nữa. Vào thời điểm này, Hitler có một cái gì đó giống như quyền lực của Napoleon sau các trận Austerlitz và Jena - và dĩ nhiên là không có được cái vinh quang của Napoleon trên lưng ngựa đích thân chỉ huy những trận đánh thắng lớn, nhưng là giành những chiến thắng về mặt ngoại giao và chính trị mà những người cùng hội cùng thuyền cũng như người ủng hộ đều biết rõ là do bản thân Hitler, sự phán đoán, và sự táo bạo của ông ta tạo ra.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 07:55:55 PM

*

        Ngoài quyết tâm như đã được nói trong cuốn Mein Kampf (Cuộc chiến đấu của tôi) nhằm gom các dân tộc Teuton (Anglo Saxon, Đức, Hà Lan và Bắc Âu) vào trong nước Đức Quốc Xã, Hitler có hai lý do để sát nhập nước Áo. Nước này ăn thông với Tiệp Khắc và có nhiều lối rộng hơn sang Đông Nam Âu. Từ khi Thủ tướng Dolfuss nước Áo bị giết tháng 7/1934 bởi bộ phận Quốc Xã Áo, quá trình phá hoại quyền lực của chính phủ Áo bằng tiền bạc, mánh khóe, bạo lực, diễn ra liên tục. Phong trào Quốc Xã ở Áo phát triển với mọi thắng lợi mà Hitler thừa hưởng kết quả ở các nơi khác, hoặc trên đất Đức hoặc từ phía Đồng minh. Tiến hành từng bước một là cần thiết, về mặt chính thức, Papen nhận được chỉ thị phải duy trì quan hệ thân thiết nhất với chính phủ Áo và đạt được việc chính phủ này công nhận chính thức Đảng Quốc Xã Áo là một tổ chức hợp pháp. Vào thời điểm đó, Mussolini giữ thái độ kiềm chế. Sau khi Tiến sĩ Dolfuss bị sát hại, nhà Độc tài Ý này bay đến Venice để tiếp và an ủi bà quả phụ tìm đến nơi này lánh nạn, và những lực lượng của Ý đã tập trung ở đường biên giới phía Nam nước Áo. Nhưng giờ đây, vào buổi bình minh của năm 1938, đã diễn ra những thay đổi dứt khoát về sự tập hợp các lực lượng và giá trị ở Châu Âu. Chiến lũy Siegfried bằng thép và xi măng ngày càng phát triển án ngữ nước Pháp và có vẻ như là muốn chọc thủng nó, Pháp phải hy sinh một số lượng đồ sộ về nhân mạng. Cánh của từ phía Tây đã khép chặt. Mussolini bị đẩy vào hệ thống của Đức bằng những chế tài vô hiệu đến mức làm cho ông ta tức giận, nhưng không làm suy yếu quyền lực ông ta được. Ông ta rất có thể nghiền ngẫm một cách thích thú về lời nhận xét nổi tiếng của Machiavelli. "Con người trả thù những hành động sai lầm nhỏ, cái lớn thì không". Trên hết các nền dân chủ phương Tây có vẻ đã liên tục chứng tỏ là họ chịu khuất phục trước bạo lực chừng nào họ không bị tấn công trực tiếp. Papen đã hoạt động rất khôn khéo bên trong cấu trúc chính trị của nước Áo. Các nhà tai to mặt lớn Áo đã không chống nổi sức ép và mưu đồ của ông ta. Ngành du lịch rất quan trọng đối với Vienna, bị trở ngại vì tình hình bất ổn. Phía sau, các hoạt động khủng bố và đánh bom ác liệt làm chấn động đời sống non yếu của nước Cộng hòa Áo.

        Người ta nghĩ rằng giờ đây là thời điểm của việc nắm lấy quyền kiểm soát đường lối của nước Áo thông qua việc Đức tạo lối vào nội các Áo cho những người lãnh đạo của Đảng Quốc Xã mới được hợp pháp hóa gần đây. Ngay 12 tháng hai, 8 ngày sau khi nắm quyền chỉ huy tối cao, Hitler triệu ngài Von Schuschnigg là thủ tướng Áo đến Bechtesgaden. ông này tuân lệnh và đến cùng với Bộ trưởng Ngoại giao Guido Schmidt. Giờ đây chúng tôi có băng ghi âm Schuschnigg trong đó có cuộc đối thoại sau đây1, Hitler nói tới tuyến phòng thủ ở biên giới Áo. Các công sự này không đến mức cần phải có một cuộc hành quân để vượt qua, và như vậy vấn đề chiến tranh và hòa bình được nêu ra:

        Hitler: Tôi chỉ cần ra lệnh và chỉ trong một đêm, tất cả những con ngoáo ộp buồn cười ở biên giới sẽ biến mất. Ông có thực sự không tin là ông có thể giữ chân tôi lại được nửa giờ không? Ai biết được tôi có thể đột nhiên có mặt tại Vienna: giống như là một cơn bão bật lò so. Rồi thì ông sẽ thực sự thấm thìa một điều gì đó. Tôi muốn tránh cho người Áo điều đó; nó sẽ tốn nhiều sinh mạng lắm. Sau đó bộ đội sẽ đi theo đội quân đặc biệt và quân lê dương! Không ai có thể ngăn cản được sự trả thù của họ, ngay cả chính tôi nữa. Ông có muốn biến nước Áo thành một nước Tây Ban Nha nữa không? Tất cả những điều này, tôi muốn tránh, nếu có thể được.

        Schuschnigg: Tôi sẽ nắm tin tức cần thiết và chấm dứt việc xây dựng các công trình phòng thủ ở biên giới với Đức. Dĩ nhiên, tôi nhận thức là ông có thể tiến vào nước Áo, nhưng, thưa Ngài Thủ tướng, dù muôn hay không thì việc đó cũng sẽ dẫn đến đổ máu. Chúng tôi không đon độc trên thế giới. Điều đó có nghĩa là chiến tranh.

        Hitler: Bây giờ chúng ta đang ngồi trên ghế bành câu lạc bộ thì nói như vậy chẳng khó gì, nhưng tất cả đằng sau là máu và nước mắt. Thưa ngài Schuschnigg, ngài có dám chịu trách nhiệm về cái đó không? Đừng tin rằng trên thế giới sẽ có bất cứ người nào cản trở quyết định của tôi! Nước Ý à? tôi rất hiểu Mussolini, tôi có quan hệ gần gũi nhất với Ý. Nước Anh? Anh quốc sẽ không giúp Áo đâu... Còn nước Pháp? Hai năm trước đây khi chúng tôi tiến vào vùng đất bên bờ sông Rhine với một nhúm tiểu đoàn - lúc bấy giờ tôi đánh liều với một rủi ro lớn. Nếu khi đó Pháp động binh thì chúng tôi có thể sẽ phải rút lui... Nhưng mà đối với Pháp thì lúc này đã quá chậm!

---------------
        1. Schuschnigg: Ein Requien in Rot-Weis-Rot - Trang 37


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 07:58:24 PM

        Lần trao đổi thứ nhất diễn ra vào 11 giờ sáng. Sau bữa tiệc ăn trưa chính thức, các người Áo được đưa vào một phòng nhỏ và ở đây Ribbentrop và Papen để ra trước mắt họ một bức tối hậu thư. Không dành chỗ cho sự thảo luận. Điều kiện trong đó bao gồm việc đưa Seyss-Inguart một đảng viên Quốc Xã Áo làm Bộ trưởng An ninh, đặc xá cho người Quốc Xã Áo đang bị giam cầm, và đưa Đảng Quốc Xã Áo làm thành viên chính thức của Mặt trận Tổ quốc Áo được chính phủ bảo trợ.

        Sau đó, Hitler tiếp Thủ tướng Áo. "Tôi nhắc lại với ông, đây thực sự là cơ hội cuối cùng. Tôi trông chờ sự thỏa thuận này được thực hiện trong vòng ba ngày". Trong nhật ký của Jold có ghi Von Schuschnigg cùng Guido Schmidt lại bị đặt dưới sức ép lớn nhất về chính trị và quân sự. Vào 11 giờ sáng, Schuschnigg ký nghị định thư1. Khi Papen quay về cùng với Schuschnigg bằng xe trượt tuyết trên những con đường đầy tuyết phủ dẫn tới Salsburg, ông ta bình luận: "Vậy đấy, Quốc Trưởng hắc lắm, bây giờ thì bản thân ông đã thấy, nhưng lần sau ông đến thì dễ chịu hơn nhiều. Quốc trưởng có thể thực sự là dịu dàng".

        Tấn thảm kịch diễn biến theo dòng chảy của nó. Giờ đây, Mussolini gửi một thông điệp miệng cho Schuschnigg với nội dung coi thái độ của Áo tại Berchtesgaden là đúng và khôn khéo, đồng thời bảo đảm với Schuschnigg về tình hữu nghị của cá nhân ông ta cũng như thái độ không thay đổi của Ý về vấn đề Áo. Ngay 24/2 Thủ tướng Áo đích thân báo cáo với Quốc hội Áo ông hoan nghênh việc giải quyết với Đức, nhưng lại nhấn mạnh có phần sâu sắc là nước Áo sẽ không bao giờ đi xa hơn các điều khoản chuyên biệt của Hiệp ước. Ngày 3/3, thông qua tùy viên quân sự Áo ở Roma, ông gửi một thông điệp mật cho Mussolini và báo cho thủ lĩnh đảng Phát xít Ý biết mình có ý định tăng cường vị thế chính trị ở Áo bằng một cuộc trưng cầu dân ý. Hai mươi bốn giơ sau đó, ông ta nhận được từ tùy viên quân sự một thông điệp tả lại cuộc gặp của người này với Mussolini, trong đó Mussolini phát biểu một cách lạc quan. Tình hình sẽ được cải thiện. Một sự hòa hoãn sắp đến nơi giữa Rome và Luân Đôn sẽ bảo đảm giảm bớt áp lực hiện hữu... Đối với việc trưng cầu dân ý. Mussolini cảnh báo "E un erore" (Đó là một sai lầm). "Nếu kết quả là thỏa đáng, người ta sẽ cho là nó không thực. Nêu xấu, thì tình thế của chính phủ sẽ ở vào tình thế không thể chịu nổi được, và nếu nó nhùng nhằng thì không bõ". Nhưng Schuschnigg đã xác định thái độ. Ngày 9/3 ông ta tuyên bố công khai sẽ có cuộc trưng cầu dân ý trên khắp nước Áo vào chủ nhật 13/3 tiếp theo.

        Ban đầu, không có việc gì xảy cả, Seyss-Inguart có vẻ chấp nhận vấn đề không phản đối gì. Tuy nhiên, vào lúc 5h30’ sáng ngày 11, có điện thoại từ Tổng hành dinh cảnh sát gọi Schuschnigg báo tin là biên giới Đức tại Salzburg đã đóng của một giờ trước đây. Nhân viên hải quan Đức đã rút đi, các tuyến đường sắt bị cắt. Bức điện tiếp là từ Tổng lãnh sự Áo tại Munich gửi cho Thủ tướng Áo báo tin quân đoàn Đức tại nơi đó đã được lệnh động viên với giả thiết là tiến về phía nước Áo.

        Cuối buổi sáng, Seyss-Inquart đến nói là Goering vừa điện thoại cho ông ta báo tin việc trưng cầu dân ý phải hủy ngay trong vòng một giờ. Nếu trong thời gian này mà không nhận được trả lời thì Goering coi là Seyss-Inquart bị cản trở trong việc gọi điện thoại và ông ta sẽ có hành động thích ứng. Sau khi được các quan chức có trách nhiệm cho biết là cảnh sát và lục quân không hoàn toàn tin cậy được, Schuschnigg báo Seyss-Irquart biết cuộc trưng cầu dân ý sẽ được hoãn lại. Mười lăm phút sau, Seyss-Irquart quay lại với bức điện trả lời của Goering viết vội trên một tờ giấy để viết điện:

        Tình thế chỉ có thể dược cứu vãn, nếu Thủ tướng từ chức ngay và nếu trong vòng 2 giờ, Tiến sĩ Seyss-Irquart được chỉ định làm Thủ tướng. Nếu không có hành động gì trong thời gian này thì Đức sẽ tiến vào Áo2 ngay sau đó.

----------------
        1. Tài liệu về Nuremberg (Cơ quan phát hành sách báo và tài liệu của chính phủ Anh trang 249).

        2. Schuschnigg - Trang 51-52, 66, 72


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:00:55 PM

        Schuschnigg sang gặp Tổng thống Miklas để đệ đơn xin từ chức. Trong khi ở trong phòng Tổng thống, ông nhận được một bức điện được giải mã của chính phủ Ý với nội dung là chính phủ Ý không thể có ý kiến gì để góp cả. Vị Tổng thống già nua là người ngoan cố: "Như vậy, chỉ còn có một mình tôi vào giờ phút quyết định". Ông ta kiên quyết từ chối chỉ định một Thủ tướng thuộc đảng Quốc Xã. Ông quyết định dồn người Đức vào một hành động bạo lực và đáng xấu hổ. Nhưng phía Đức đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này rồi. Hitler ra lệnh cho các lực lượng võ trang xâm chiếm nước Áo bằng quân sự. Cuộc hành quân Otto được nghiên cứu từ rất lâu và chuẩn bị chu đáo, được bắt đầu. Tổng thống Miklas kiên cường đối đầu với Seyss-Irquart và các lãnh tụ đảng Quốc xã ở Vienna ròng rã một ngày trời. Cuộc nói chuyện bằng điện thoại giữa Hitler và đặc phái viên của ông ta bên cạnh Mussolini là Hoàng tử Philip of Hesse được dẫn ra làm chứng cớ tại Nuremberg1 và đáng được chú ý:

        Hesse: Tôi vừa mới về từ Palazzo Venezia. Ngài Mussolini chấp nhận toàn bộ vấn đề với thái độ rất hữu nghị. Ông ta gửi lời chào ông. Ông đã được thông báo từ Áo, Schuschnigg cung cấp tin cho ông ta. Tiếp đó, ông ta nói cái đó (nghĩa là sự can thiệp của Ý) là điều hoàn toàn không thể xảy ra được, nó là một sự lừa bịp; không thể làm được một việc như vậy. Bởi vậy ông (Schuschnigg) được bảo là nó chẳng may được sắp xếp như vậy và không thể sửa đổi thêm được nữa. Tiếp đó, Mussolini nói là nước Áo không quan trọng đối với ông ta.

        Hitler: Vậy thì ông nói với Mussolini là tôi không bao giờ quên được thái độ này của ông ta.

        Hesse: Vâng.

        Hitler: Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ, bất chấp việc gì xảy ra. Tôi vẫn còn sẵn sàng để có một thỏa hiệp hoàn toàn khác với ông ta.

        Hesse: Vâng, tôi cũng đã nói điều nay với ông ta.

        Hitler: Ngay sau khi việc Áo được giải quyết, tôi phải sẵn sàng cùng đi với ông ta bất chấp mọi khó khăn; không có vấn đề gì cả.

        Hesse: Vâng, thưa Quốc trưởng

        Hitler: Nghe này, tôi sẽ hành động để có bất cứ sự thỏa thuận nào. Tôi không còn sợ cái tư hế kinh khủng có thể có về mặt quân sự trong trường hợp chúng ta bị cuốn hút vào một cuộc xung đột. Ông có thế nói với ông ta là tôi nhớ ơn ông suốt đời; không bao giơ, không bao giơ tôi quên được điều đó.

        Hesse: Vâng, thưa Quốc trưởng

        Hitler: Tôi sẽ không bao giơ quên điều đó bất chấp điều gì có thể xảy ra nếu ông ta cần bất cứ sự giúp đỡ nào, hoặc bị lâm nguy, ông ta có thể yên tâm là tôi sẽ ở bên cạnh ông ta, bất chấp điều gì có thể xảy ra, dù cho toàn thế giới chống lại ông ta.

        Hesse: Vâng, thưa Quốc trưởng

        Chắc chắn là khi cứu Mussolini khỏi chính phủ lâm thời Ý năm 1943, Hitler đã giữ lời hứa.

        Việc kéo quân thắng lợi vào Vienna là giấc mơ của viên hạ sĩ người Áo (Hitler). Vào đêm thứ bảy ngày 12/3, Đảng Quốc xã ở thủ đô đã hoạch định một cuộc diễu hành rước đuốc để nghênh đón người chinh phục anh hùng. Nhưng không có ai tới cả. Ba người xứ Bavaria thuộc binh chủng hậu cần đi bằng tàu hỏa đến để chuẩn bị chỗ ở cho bộ đội nhưng vì bị lạc đường nên không đến được.

        Lý do của sự trục trặc này dần dần bị tiết lộ. Cỗ máy chiến tranh của Đức vận động một cách lặc lề, rối rắm qua biên giới và gần đến Linz thì phải dừng hẳn lại. Mặc dầu thời tiết và đường xá rất tốt, đại bộ phận các xe tàng bị hỏng máy. Con đường từ Vienna đến Linz chật cứng xe đứng tại chỗ. Tướng Von Reichnau, người được Hitler rất sủng ái và là tư lệnh sư đoàn 4 được coi là phải chịu trách nhiệm về sự hỏng hóc này, nó đã phơi bày điều kiện chưa chín mùi của quân đội Đức trong việc tái thiết ở giai đoạn này.

        Bản thân Hitler ngồi trên xe đi qua Linz đã chứng kiến cảnh ách tắc giao thông và ông ta đã nổi giận. Các xe tăng loại nhẹ tách ra khỏi sự tắc nghẽn và ì ạch tiến vào Vienna vào sáng sớm chủ nhật. Xe thiết giáp và pháo hạng nặng tự hành được xếp lên các toa xe hỏa và như vậy chỉ vừa đến kịp tham gia lễ diễu hành. Những bức ảnh Hitler ngồi trên xe đi qua giữa những đám đông hân hoan hoặc hoảng sợ được nhiều người biết. Tuy nhiên giờ phút vinh quang bí ẩn này có một bối cảnh không yên ổn. Trên thực tế, Quốc trưởng nổi điên trước những thiếu sót hiển nhiên của bộ máy quân sự của mình. Y nhận xét các tướng lĩnh và tướng lĩnh phản ứng trở lại. Họ nhắc y nhớ lại việc không chịu nghe ý kiến của Fritsch đã cảnh báo là nước Đức không ở vị thế để chấp nhận rủi ro của một cuộc xung đột lớn. Các chương trình công diễn được giữ nguyên. Vẫn có duyệt binh và các nghi lễ. Ngày chủ nhật, sau khi một số lớn đơn vị Đức và các đảng viên Quốc xã Áo đã chiếm đóng Vienna, Hitler tuyên bố giải tán nước Cộng hòa Áo và sát nhập lãnh thổ nước này vào nước Đức Quốc xã.

-----------------------
        1. Schuschnigg op. át, pp. vo2-3 và Hồ sơ Nuremberg l.pp.238-9.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:02:24 PM

*

        Vào thời điểm này. Ngài Von Ribbentrop sắp sủa rời Luân Đôn để về nhận chúc Bộ trưởng Ngoại giao Đức. Chamberlain tiễn chân ông ta tại một bữa ăn trưa ở Bộ Ngoại giao. Tôi và vợ tôi nhận lời mời của Chamberlain cùng đến tham dự. Số khách dự tiệc có thể tới 16 người. Vợ tôi ngồi ở gần đầu bàn cạnh ngài Alexander Cadogan. Đến giữa bữa ăn, một nhân viên đưa tin của Bộ Ngoại giao đến trao cho Alexander một bì thư. Ông ta bóc xem một cách chăm chú, rồi đứng lên, bước đến chỗ Thủ tướng ngồi và trao bức thông điệp. Tuy thái độ của Cadogan không bộc lộ bất cứ điều gì xảy ra nhưng tôi vẫn nhận thấy Thủ tướng rõ ràng lộ vẻ lo âu. Bây giờ Cadogan quay lại chỗ ngồi với bì thư trong tay. Sau này tôi được biết nội dung của bức thông điệp là Hitler đã xâm lăng Áo và các lực lượng cơ giới Đức đang tiến nhanh vào Vienna. Bữa cơm tiến diễn không chút gián đoạn nào, nhưng chẳng mấy chốc bà Chamberlain sau khỉ nhận được tín hiệu của chồng thì đứng dậy và nói: "Tất cả chúng ta sang dùng cafe bên phòng khách". Chúng tôi kéo sang đó và tôi có thể cùng một số người khác nữa thấy rõ ràng là ông bà Chamberlain muốn kết thúc bữa cơm. Một kiểu không khí lo âu tràn ngập gian phòng và mọi người đều ở tư thế đứng sẵn sàng chào từ biệt các khách danh dự.

        Tuy nhiên, ngài Von Ribbentrop và phu nhân hình như không nhận ra chút nào không khí này. Trái lại, họ nán lại gần nửa giờ và câu chuyện rôm rả diễn ra giữa các vị nam, nữ tân khách. Có một lúc tôi đến gần Von Ribbentrop phu nhân và nói lời tiễn biệt khả ái: "Tôi hy vọng Anh và Đức sẽ giữ được tình thân hữu". Bà ta nối lời một cách rất có duyên: "Hãy cẩn thận xin ngài đừng làm hỏng điều đó". Tôi chắc họ hiểu rất rõ việc gì đã xảy ra nhưng họ nghĩ tốt nhất là cách ly Thủ tướng ra khỏi công việc và chiếc máy điện thoại. Cuối cùng thì Chamberlain nói với ông Đại sứ như sau: "Xin lỗi, tôi phải đi vì có việc gấp" và ra khỏi phòng ngay. Vợ chồng ngài Ribbentrop chần chừ muốn lùi lại nên đa số chúng tôi đã xin lỗi và ra về. Cuối cùng tôi cho là họ đã ra đi. Đây là lần chót tôi gặp Von Ribbentrop trước khi ông ta bị treo cổ.

        Bây giờ thì người Nga rung chuông báo động và ngày 18/3 họ đề nghị một cuộc hội nghị về tình hình đang xảy ra. Họ muốn thảo luận, giá mà trên đại thể, về cách thức và phương tiện thực hiện Hiệp ước Pháp - Nga trong khuôn khổ một hành động của Hội Quốc Liên trong trường hợp có một sự đe dọa lớn đối với hòa bình từ phía nước Đức: Paris và Luân Đôn tỏ ra không mấy thiện cảm đối với đề nghị này. Chính phủ Pháp còn bận về nhiều vấn đề quan tâm khác. Có những cuộc đình công lớn trong các nhà máy chế tạo máy bay. Quân của Franco đang tiến sâu vào lãnh thổ nước Tây Ban Nha Cộng sản. Chamberlain thì vừa hoài nghi vừa mệt mỏi, ông ta bất đồng sâu sắc đối với sự hiểu biết của tôi về các nguy cơ trước mắt cũng như các phương tiện để chiến đấu chống lại. Tôi đã nhấn mạnh các triển vọng của một liên minh Pháp - Anh - Nga như là một hy vọng duy nhất chặn được sự lao tới của Đức Quốc xã.

        Ông Felling cho chúng tôi hay là Thủ tướng đã bày tỏ tâm trạng của mình trong thư gửi cho người chị ngày 20/3:

        Kê hoạch "Đại đồng minh" như cách gọi của Winston đã đến với tôi từ lâu trước khi ông ta nêu ra. Tôi nói với Halifax về vấn đề này và chúng tôi đã đệ trình nó lên các tham mưu trưởng và các chuyên gia ngoại giao. Đó là một ý kiến rất hấp dẫn, thực ra, hầu như có đủ mọi điều để nói về kế hoạch này cho tới khi chỉ đi đến việc xem xét tính khả thi của nó. Kể từ lúc đó, tính hấp dẫn của nó tan biến. Chỉ cần nhìn vào bản đồ thì thấy không có cái gì mà nước Pháp hoặc chúng ta có thể làm được để cứu Tiệp Khắc khỏi bị người Đức đè bẹp, nếu người Đức muốn. Bởi vậy, tôi đã từ bỏ mọi ý nghĩ về việc đảm bảo cho Tiệp Khắc, hoặc cho Pháp, về những nghĩa vụ của Pháp đối với Tiệp1. Ở đây cần có một quyết định với bất cứ giá nào. Quyết định đã được đưa ra trên cơ sở lập luận sai lầm. Trong chiến tranh hiện đại mà các nước lớn hoặc các đồng minh tiến hành thì việc phòng thủ những khu vực đặc biệt không chỉ dựa vào nội lực đơn thuần. Phần rộng lớn còn lại của toàn bộ mặt trận đều bị lôi cuốn vào. Điều này lại càng đúng hơn về mặt chính sách trước khi chiến tranh bắt đầu và khi còn có thể tránh được. Chắc chắn là các Tham mưu trưởng và chuyên gia ngoại giao không phải suy nghĩ nhiều khi nói với thủ tướng là Hải quân Anh và Lục quân Pháp không thể triển khai trên mặt trận rừng núi xứ Bohemia để đứng giữa nước cộng hòa Tiệp Khắc và quân đội xâm lăng Đức. Thực ra nhìn vào bản đồ thì thấy rõ.

        Tuy nhiên, chắc chắn là việc vượt qua biên giới Bohemia sẽ dẫn đến một cuộc chiến tranh toàn cục tại châu Âu, và vào thời điểm đó, có thể ngăn chặn hoặc làm chậm lại cuộc tấn công tiếp theo của Hitler. Lập luận riêng và dứt khoát của ông Chamberlain sai lầm đến mức nào khi chúng ta hướng sự suy nghĩ của mình về sự bảo đảm ông ta phải thực hiện với Ba Lan trong phạm vi một năm sau khi toàn bộ giá trị chiến lược của Tiệp Khắc đã bị vứt bỏ, và quyền lực, uy tín của Hitler đã tăng gấp đôi!

------------------
        1. Keith Felling - Cuộc đời Neville Chemberlain pp.347-8


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:03:32 PM

*

        Bây giơ mòi độc giả chuyển sang hướng tây phía Ailen. "Đi đến Tipperary là một quãng đường xa." Nhưng đôi khi không cưỡng nổi việc đến viếng thăm nơi này. Trong thời gian giữa việc Hitler chiếm đóng nước Áo và việc y triển khai kế hoạch đối với Tiệp Khắc, chúng ta phải quay sang và hứng chịu một loại bất hạnh hoàn toàn khác.

        Từ đầu 1938, giữa chính phủ Anh và chính phủ của ông De Valera ở Nam Alien đang có những cuộc thương lượng, và ngày 25/4 hai bên đã đi đến một sự thỏa thuận về nhiều vấn đề trong đó có việc Anh từ bỏ mọi quyền chiếm đóng để sử dụng vào mục đích hải quân ở 2 cảng phía nam của Alien là Queenstown và Berahaven và căn cứ Lough Swilly. Hai quân cảng này là một nét đặc thù quan trọng của việc hải quân bảo vệ việc tiếp tế lương thực.

        Năm 1922 khi tôi là Bộ trưởng Bộ thuộc địa và các xứ Tự trị trong Liên Hiệp Anh, tôi đã xử lý các chi tiết của việc giải quyết vấn đề Alien mà Nội các thời bấy giơ đảm nhiệm, tôi đã đưa Đô đốc Beatty đến trụ sở Bộ thuộc địa để giải thích cho Michael Collins tầm quan trọng của các cảng nói trên đối với toàn bộ hệ thống đưa hàng tiếp tế tới Anh. Collins bị thuyết phục ngay lập tức. Ông ta nói:"Dĩ nhiên là ông phải có được cảng đó; các cảng đó cần thiết cho cuộc sống của ông". Và như vậy, vấn đề đã được dàn xếp, và trong suốt 16 năm qua, mọi việc đều trôi chảy. Lý do vì sao Queenstown và Bevhaven cần thiết cho sự an toàn của chúng tôi là dễ hiểu. Chúng là căn cứ tiếp tế nhiên liệu cho hạm đội khu trục của chúng tôi theo phía tây tỏa ra Đại Tây Dương để săn các tàu ngầm Đức cũng như bảo vệ các đoàn tàu vào đất liền khi đi tới khúc cổ họng của các biển nhỏ. Tương tự, cảng Lough Swilly cũng cần cho việc bảo vệ các lôi vào Clyde và Mersey1. Bỏ những điểm này có nghĩa là các hạm đội nhỏ của chúng tôi sẽ phải xuất ở phía bắc từ cảng Lamlash, và ỏ phía nam từ cảng Pembroke Doch hoặc Falmouth, và như vậy bán kính hoạt động cũng như vùng bảo vệ đất liền và mặt biển bị giảm đi mất trên 400 dặm.

        Tôi không thể tin được là các Tham mưu trưởng lẽ ra đã đồng ý bỏ qua vật bảo đảm lớn này, và đến giờ chót, tôi nghĩ ít nhất chúng tôi đã bảo vệ quyền của chúng tôi chiếm giữ các cảng của Alien trong trường hợp xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, ông De Valera thông báo tại Quốc hội lập hiến Alien là không có điều kiện nào kèm theo việc nhượng quyền. Sau này, tôi được đảm bảo là ông De Valera tỏ ra ngạc nhiên trước việc chính phủ Anh đã nhanh chóng chấp nhận yêu cầu của ông ta. Ông ta đã đưa ra điểm này vào trong các đề nghị của mình như là một đối trọng mặc cả có thể gạt ra được khi các điều kiện khác được thỏa mãn.

        Trong cuốn sách cuối cùng của mình, huân tước Chatfiel dành hẳn một chương để giải thích cách giải quyết của ông và các Tham mưu trưởng. Chắc chắn là những người nào muốn theo dõi tìm hiểu việc này đều phải đọc quyển sách này. Bản thân tôi, tôi khẳng định là việc từ bỏ vô điều kiện quyền của chúng tôi được sử dụng các cảng Alien trong chiến tranh là một tổn thương lớn đối với vận mệnh dân tộc và sự an toàn quốc gia. Một hành động vô trách nhiệm khó có thể tưởng tượng được, và nhất là trong thời điểm đó. Rõ ràng là chúng tôi đã sống sót khi chiến tranh chấm dứt mà không cần có các cảng. Cũng rõ ràng là nếu chúng tôi không thể làm được gì mà không có các cảng, chúng tôi đã phải lấy lại cảng bằng vũ lực hơn là để phải chịu chết đói. Nhưng đó không phải là lý do. Biết bao sinh mạng, biết bao tàu bè sẽ phải bị mất vì hậu quả của việc nhượng bộ này.

---------------------
        1. Huân tước Chatfield - Nó có thể lại xảy ra - chương 18.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:05:27 PM

13

TIỆP KHẮC

        Trong khi cuộc tấn công vào Áo đang diễn ra ào ạt, Hitler ngồi trong xe nói với Tướng Von Halder: "Người Tiệp rất khó chịu về việc này? Von Halder nhận thấy ngay ý nghĩa của nhận xét này. Nó rọi ánh sáng vào tương lai. Nó nói rõ ý đồ, đồng thời, theo ý ông, thì cả sự không hiểu biết về quân sự của Hitler. Ông ta giải thích là trên mặt thực tế quân Đức không thể tấn công Tiệp Khắc từ phía nam. Con đường sắt đơn chạy qua Linz hoàn toàn trống trải và không có lợi thế của sự bất ngờ. Nhưng quan niệm chủ yếu về chiến lược chính trị của Hitler là đúng. Bức tường phía tây hay là tuyến chiến lũy Siegfried đang được phát triển, và tuy còn lâu mới hoàn thành đã làm cho lực quân Pháp bị ám ảnh bởi những ký úc về các trận ác chiến ở Somme và Passchendaele. Hitler tin chắc là Pháp và Anh không ai muốn đánh cả.

        Vào ngay quân đội Đức tiến vào Áo, chúng tôi được tin là Goering đã long trọng cam kết với Tham tán Công sứ Tiệp tại Berlin là nước Đức "Không có những ý đồ xấu với Tiệp Khắc". Ngày 14/3 ông Blum Thủ tướng Pháp đã trịnh trọng tuyên bố với Tham tán Công sứ Tiệp tại Paris là nước Pháp sẽ thực hiện hoàn toan lời cam kết đối với Tiệp Khắc. Những lời cam kết về ngoại giao này không che đậy nổi sự thật phũ phang. Toàn bộ vị thế chiến lược trên lục địa châu Âu đã thay đổi. Giơ đây, người Đức có thể tập trung quân và các lý lẽ hướng thắng vào biên giới phía Bắc nước Tiệp Khắc, nơi có các quận giáp biên mang tính chất Đức về mặt chủng tộc và có một đảng Quốc xã hoạt động tích cục và táo tợn, sẵn sàng trở thành một đạo quân thứ 5 trong trường hợp có biến loạn.

*

        Với hy vọng ngăn chặn nước Đức, theo quyết định của ông Chamberlain, chính phủ Anh tìm kiếm một sự dàn xếp với Ý ở Địa Trung Hải. Việc này sẽ tăng cường tư thế của Pháp và cho phép Anh và Pháp dồn sức vào Trung Âu. Phần nào yên tâm trước sự sụp đổ của Eden, Mussolini cảm thấy mình ở tư thế mạnh để mặc cả, nên đã không gạt bỏ sự ân hận của người Anh. Ngày 16/4/1938 một thỏa ước được ký giũa Anh và Ý cho phép Ý được rảnh tay hành động tại Abyssinia và Tây Ban Nha để đổi lấy thiện ý vô giá của Ý đối với Trung Âu. Bộ Ngoại giao tỏ ý hoài nghi về việc dàn xếp này. Người viết tiểu sử của Chamberlain nói với chúng tôi là trong một bức thư riêng với danh nghĩa cá nhân, ông viết: "Ông hẳn là đã phải xem bản dự thảo Bộ Ngoại giao trình tôi; nó có thể đông kết một con gấu bắc cực"1.

        Tôi chia sẻ sự hoài nghi của Bộ Ngoại giao đối với việc này. Hitler đang theo dõi tình hình với tinh thần cảnh giác. Đối với y, việc Ý nhiên hậu cùng hội cùng thuyền với nước nào trong một cuộc khủng hoảng ở châu Âu là quan trọng. Trong cuộc họp cuối tháng tư với các Tham mưu trưởng, y xem xét cách làm thế nào để thúc ép tiến độ. Mussolini muốn được tự do hành động tại Abyssinia. Mặc dầu có sự thỏa thuận của chính phủ Anh, nhiên hậu Ý có thể cần sự hỗ trợ của Đức trong kế hoạch này, và nếu đúng như vậy, Ý sẽ phải chấp thuận hành động của Đức chống lại Tiệp Khắc. Phải đẩy vấn đề này lên tới điểm đỉnh và trong việc giải quyết vấn đề Tiệp Khắc, Ý có thể bị lôi cuốn vào phía Đức. Dĩ nhiên các tuyên bố của các chính khách

        Anh và Pháp được Berlin nghiên cứu. Ý đồ của các cường quốc phương tây thuyết phục người Tiệp nên tỏ ra biết điều vì lợi ích của hòa bình ở Châu Âu được ghi nhận với sự hài lòng. Đảng Quốc xã vùng Sudetenland do Henlein lãnh đạo, giơ đây đòi chế độ tự trị cho các vùng giáp biên giới Đức-Tiệp và các tham tán công sứ Anh, Pháp tại Praha ngay sau đó đến gặp Bộ trưởng Ngoại giao Tiệp để "bày tò niềm hy vọng là chính phủ Tiệp Khắc sẽ đi tới nỗ lực tối đa để giải quyết vấn đề."

        Trong tháng 5, người Đức trên đất Tiệp được lệnh tăng cường khuấy động. Cuộc bầu cử hội đồng thành phố đã đến hạn và chính phủ Đức bắt đầu tính toán một cuộc chiến tranh cân não. Không ngót có tin đồn về các cuộc chuyển quân Đức tới biên giới Tiệp. Việc Đức cải chính không làm yên tâm người Tiệp. Đêm 20 rạng 21/5 Tiệp đã ra lệnh động viên từng phần.

-----------------
        1. Keith Felling. Cuộc đời Neville Chamberlain, trang 330.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:06:03 PM

        Đã có lúc Hitler tin chắc là cả Anh và Pháp đều không muốn chiến đấu cho Tiệp Khắc. Ngày 28/5 y triệu tập các cố vấn chính và ra chỉ thị chuẩn bị tiến công Tiệp Khắc. Tuy vậy, các cố vấn quân chủng không đồng thanh nhất trí với lòng tin không gì ngăn cản nổi của y. Không thể thuyết phục được các tướng lĩnh Đức là Anh và Pháp sẽ khuất phục trước sự thách thúc của Quốc trưởng vì, trừ không quân ra, lực lượng Đồng minh vẫn ở thế thượng phong. Để đánh gãy lục quân Tiệp Khắc thì thực tế cần phải có ít ra 35 sư đoàn. Các Tham Mưu trưởng Đức báo Hitler biết phải coi lực quân Tiệp là có hiệu quả và được trang bị vũ khí thiết bị đương đại. Các pháo đài của bức tường phía tây hay là chiến lũy Siegfried tuy đã có tạm thời trên hiện trường nhưng còn lâu mới hoàn thành được: và vào lúc tấn công quân Tiệp, chỉ có thể có 5 sư đoàn tác chiến có hiệu quả và 5 sư đoàn dự bị để bảo vệ toàn bộ biên giới phía tây chống lại lục quân Pháp, mà Pháp lại có thể điều động 100 sư đoàn. Các tướng lĩnh Đức rất hoảng sợ trước các rủi ro này mà chỉ cần chờ một ít năm nữa thì lực quân Đức sẽ nắm vai trò anh cả. Mặc dầu phán quyết chính trị của Hitler tỏ ra đúng đắn vì phe Đồng minh nhu nhược và theo hòa bình chủ nghĩa trong các vấn đề động viên, vùng Rhineland, Áo, Bộ tư lệnh tối cao Đức, không thể tin là Hitler có thể bịp được đến lần thứ tư. Các nước lớn thắng trận với ưu thế rõ ràng về quân sự, có vẻ như là đã vượt quá xa giới hạn của lẽ phải khi mà một lần nữa họ rời bỏ con đường nghĩa vụ và danh dự đồng thời cũng là con đường của sự khôn ngoan và lương tri của họ. Bên cạnh đó, còn có Nga, với một cảm tình cùng gốc slave với Tiệp Khắc, và có thái độ hăm dọa đối với Đức vào thời điểm này.

        Quan hệ của Nga Xô đối với nhà nước Tiệp Khắc và với cá nhân Tổng thống Benès là thân thiết va hữu nghị. Gốc rễ của việc này là mối quan hệ cùng nguồn gốc nào đó và nằm trong các sự kiện tương đối gần đây, cần phải đi ra ngoài đề một chút để hiểu. Khi Tổng thống Benès đến thăm tôi tại Marrakesh hồi tháng giêng 1944, ông ta cho tôi biết chuyện này.

        Năm 1935, Hitler đề xuất với ông là sẽ tôn trọng, trong mọi trường hợp, sự toàn vẹn lãnh thổ Tiệp, đổi lại Tiệp phải trung lập trong trường hợp một cuộc chiến tranh Đức - Pháp xảy ra. Khi Benès nêu ra hiệp ước buộc ông phải cùng hành động với Pháp trong trường hợp này, đại sứ Đức trả lời là không cần phải tuyên bố bãi ước. Chỉ cần bất tuân thủ, nếu và khi nào thời cơ đến, bằng cách không động viên hoặc hành quân. Nước Cộng hòa nhỏ bé này không ở vị thế tự do nổi giận được trước sự gợi ý này. Họ rất sợ Đức, nhất là nước này bất kỳ lúc nào cũng có thể nêu lên và khuấy động vấn đề người Đức vùng Sudetenland làm cho họ cực kỳ bối rối và đứng trước nguy cơ ngày càng tăng. Do đó họ, bỏ mặc vấn đề không bình luận, mà cũng không cam kết gì và vấn đề không có động tĩnh gì hết trong hơn một năm. Mùa thu 1936, một thông điệp từ một nguồn quân sự cấp cao Đức được chuyển đến Tổng thống Benes với nội dung là việc Tổng thông muốn tranh thủ ý kiến đề xuất của Hitler thì nên làm nhanh vì các sự kiện sẽ sớm xảy ra ở nước Nga làm cho bất cứ sự giúp đỡ nào Tiệp Khắc muốn dành cho Đức trở thành vô nghĩa.

        Trong khi Benes đang cân nhắc về lời gợi ý gây lo ngại này, ông ta được biết đang có sự thông tin giữa các yếu nhân ở Nga và chính phủ Đức thông qua sứ quán Liên Xô tại Praha. Đó là một phần của cái gọi là âm mưu lật đổ Staline của các nhà cách mạng lão thành và quân sự Cộng sản để lập ra một chế độ mới có đương lối thân Đức. Tổng thông Benès thông báo ngay cho Staline tất cả những gì ông phát hiện được. Từ đó trở đi, ở Nga Xô xảy ra cuộc thanh lọc không tiếc tay và có thế là cần thiết về chính trị và quân sự, và hàng loạt vụ xét xử tháng giêng 1937 trong đó Vychinsky, công tố viên giữ vai trò chi phối.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:07:16 PM

        Tuy việc những người Cộng sản lão thành có chung mục đích với các nhà lãnh đạo quân sự hay không là vấn đề không đặt ra, nhưng chắc chắn trong lòng họ có sự ghen ghét Staline là người đã gạt họ khỏi chính trường. Vì vậy, có thể là thuận tiện khi thanh toán cùng một lúc cả hai nhóm theo các tiêu chuẩn được duy trì trong một nhà nước chuyên chế. Zinoviev, Bukharin và các lãnh tụ ban đầu của cuộc cách mạng, Thống chế Tukachevssky, đại diện Liên Xô được mời tham dự lễ đăng quang của vua George 6 va nhiều sĩ quan cao cấp trong lực quân đều bị xử bắn. Tổng cộng không dưới 5000 sĩ quan và viên chức trên cấp đại úy đã bị "thanh toán". Việc các phần tử thân Đức bị thanh trừng khỏi lực quân Nga làm giảm nhiều tính hiệu quả của quân đội. Thành kiến của chính phủ Nga được hướng sang phía Đức một cách rõ rệt. Staline thấy được món nợ cá nhân đối với Tổng thống Benes và ý muốn mãnh liệt của ông ta giúp Tổng thống và nước Tiệp Khắc bị hiểm họa Đức Quốc Xã đe dọa, đã thôi thúc chính phủ Xô Viết. Dĩ nhiên, Hitler hiểu rất rõ tình hình nhưng tôi không rõ là các chính phủ Pháp và Anh có hiểu được như vậy không. Đối với ông Chamberlain và các Tham mưu trưởng Anh và Pháp, thì việc thanh lọc năm 1937 chủ yếu là hình ảnh của nội bộ quân đội bị xé nát ra từng mảnh cũng như của Liên bang Xô Viết bị lòng căm ghét và sự trả thù tàn bạo băm vụn nát. Đây có thể là một cách nhìn thái quá, bởi vì một cơ chế nhà nước dựa trên sự khủng bố rất có thể được củng cố bằng sự khẳng định quyền lực của mình một cách tàn bạo và mang lại kết quả. Sự kiện nổi bật nhất của mưu đồ tính toán này là sự liên kết chặt chẽ giữa nước Nga và Tiệp, giữa Staline và Benès.

        Nhưng các sức ép trong nội bộ nước Đức cũng như mối quan hệ giữa Staline và Benès đều không được thế giới bên ngoài biết hoặc được các Tham tán Công sứ Pháp, Anh quan tâm: Tuyến chiến lũy Siegfried, tuy chưa hoàn thiện, có vẻ là vật cản đáng sợ. Quân số và khả năng tác chiến của quân đội Đức tuy còn là mới, không thể đánh giá chính xác được và chắc chắn là đã được thổi phồng lên. Ngoài ra còn có những cái nguy hiểm không tính được của các cuộc không tập vào các thành phố không có bố phòng. Trên hết, là sự căm ghét chiến tranh trong thâm tâm nhân dân của các nước dân chủ.

        Tuy nhiên, ngày 12/6 ông Daladier giờ đây là Thủ tướng Pháp tiếp tục lời cam kết của người tiền nhiệm ngày 14/3 và tuyên bố các cam kết của Pháp đối với Tiệp Khắc "là thiêng liêng và không thể trốn tránh được". Lời tuyên bố đáng kể này quét sạch các lời bàn tán về hòa ước Locamo 13 năm trước đã hàm ý để lại mọi sự việc ở phía đông trong mơ hồ, trong khi đổi một Locarno cho phương đông. Trước lịch sử, không có gì là không rõ ràng, Hiệp ước năm 1924 ký giữa Pháp và Tiệp Khắc có giá trị hoàn toàn về mặt pháp lý cũng như trên thực tế và đã được các nguyên thủ nối tiếp nhau của chính phủ Pháp khẳng định lại trong tất cả mọi trường hợp trong năm 1938.

        Tuy nhiên, về vấn đề này Hitler tin chắc rằng sự phán đoán riêng của y là đúng, và vào ngày 18/6 trong quyết định cuối cùng, y ra lệnh tấn công Tiệp Khắc, và trong quá trình này y tìm cách trấn an các tướng lĩnh - "Tôi sẽ quyết định" -  y nói với Keitel - "là chỉ hành động chống Tiệp Khắc nếu tôi vững tin, như trong trường hợp khu phi quân sự (ở Rhineland) và cuộc kéo quân vào Áo, là Pháp sẽ không hành quân, và do đó Anh sẽ không can thiệp1."

        Vào ngày 26/7/1938, Chamberlain thông báo cho Quốc hội biết sứ mệnh đi Praha của Huân tước Runciman với mục đích tìm kiếm một giải pháp cho các sự dàn xếp giữa chính phủ Tiệp Khắc và ngài Henlein. Ngày hôm sau, phía Tiệp Khắc đưa ra một dự thảo về qui chế cho các dân tộc thiểu số để làm cơ sở cho các cuộc thương lượng. Cùng ngày, Huân tước Halifax tuyên bố trước Quốc hội "Tôi không tin là những người có trách nhiệm về mặt chính phủ của bất cứ nước nào ở Châu Âu hiện nay lại muốn chiến tranh?" Ngày 3/8, Huân tước Runcima tới Praha và ở đây đã diễn ra một loạt các cuộc thảo luận phức tạp và liên miên giữa các bên liên quan. Trong vong nửa tháng thì các cuộc đàm phán tan vỡ và từ đó các sự việc xảy ra rất nhanh.

        Ngày 27/8, Ribbentrop giờ đây là Bộ trưởng Ngoại giao báo tin ông đã tiếp Đại sứ Ý tại Berlin, người này "đã nhận được chỉ thị bằng văn bản của Mussolini yêu cầu Đức thông báo ngày giờ chắc chắn Đức sẽ tiến công Tiệp". Mussolini yêu cầu như vậy để "có thể kịp thời có những biện pháp cần thiết trên biên giới với Pháp".

-----------------
        1. Tài liệu về Nuremberg - Phần 2 - số 16.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:10:19 PM

*

        Sự lo âu tăng mạnh trong tháng 8; vào buổi chiều ngày 2 tháng Chín1 tôi nhận được một thông điệp của Đại sứ Liên Xô nói là ông ta sẽ đến Chartwell để gặp tôi ngay lập tức vì có việc khẩn cấp.

        Trước kia, tôi có quan hệ cá nhân thân hữu với ông Maisky và ông nay cũng khá quen biết con trai tôi là Randolph. Bởi vậy tôi tiếp ông Đại sứ và sau vài câu mở đầu ngắn, ông ta kể cho tôi biết câu chuyện sau đày một cách chi tiết, chính xác. Trước khi ông đi thật sâu vào câu chuyện, tôi thấy là ông ta đang đưa ra một tuyên bố với tôi, một cá nhân, vì chính phủ Liên Xô thích dùng cách này hơn là trực tiếp với Bộ Ngoại giao, e rằng có thể bị gạt đi. Rõ rang là câu chuyện này buộc tôi phải báo cáo lên chính phủ Hoàng gia, và điều này, Đại sứ trên thực tế không nói ra, nhưng lại có hàm ý như vậy vì Đại sứ không có yêu cầu tôi phải giữ bí mật. Nhận thức ngay được tầm quan trọng số một của vấn đề, tôi thận trọng không làm ảnh hưởng đến sự xem xét của Halifax và Chamberlain bằng bất cứ sự cam đoan nào của mình, hoặc dùng ngôn ngữ có thể gây ra tranh cãi giũa chúng tôi.

        Nội dung mà Đại sứ nói với tôi như sau:

        Đại biện (Đại sứ đang đi nghỉ phép) Pháp tại Matxcova cùng ngày hôm đó đến gặp Litvinov, và nhân danh chính phủ Pháp muốn biết nước Nga sẽ giúp Tiệp gì trong trường hợp nước này bị Đức tấn công, có chú ý đặc biệt đến những khó khăn có thể gây ra do thái độ trung lập của Ba Lan hoặc Rumani. Litvinov trả lời là Liên Xô quyết tâm làm tròn các nghĩa vụ của mình. Ông ta xác nhận những khó khăn xuất phát từ thái độ của Ba Lan và Rumani, nhưng nghĩ rằng trong trường hợp của Rumani thì khó khăn có thể khắc phục được. Ví dụ, nếu Hội Quốc Liên quyết định Tiệp Khắc là nạn nhân của sự xâm lược và Đức là người xâm lược, thì điều đó chắc chắn sẽ thuyết phục Rumani để cho quân đội và các lực lượng của Nga đi qua lãnh thổ nước mình...

        Ngay trong trường hợp Hội đồng Hội Quốc Liên không hoàn toan nhất trí, ông Litvinov nghĩ là chỉ cần một quyết định theo đa số và Rumani chắc chắn sẽ ngã theo. Vì vậy, ông ta khuyến cáo phải triệu tập Hội đồng theo điều khoản 11 với lý do là có nguy cơ chiến tranh và các cường quốc trong Hội Quốc Liên phải tham khảo lẫn nhau. Làm được việc này càng sớm càng tốt, vì thời gian còn quá ít. Các sĩ quan tham mưu của Nga, Pháp và Tiệp Khắc phải ngồi bàn vói nhau về biện pháp chi viện.

        Ông ta cũng ủng hộ việc các cường quốc yêu chuộng hòa bình  tham khảo với nhau về phương pháp tốt nhất để gìn giữ hòa bình nhằm có thể đưa ra một tuyên bố chung bao gồm Pháp, Nga và Anh quốc.

        Ông ta tin tưởng là Hoa Kỳ sẽ ủng hộ về tinh thần một bản tuyên bố như vậy.

        Ông Maisky nói tới mức đó. Tôi nói không chắc chính phủ Anh sẽ xem xét thêm cho đến khi, hoặc trừ phi có một sụ gián đoạn mới về các cuộc đàm phán Henlein-Benes trong đó không được đổ lỗi cho chính phủ Tiệp Khắc trên bất cứ lý do nào. Chúng ta không nên làm cho Hitler nổi cáu, nếu thực tế ông ta hướng về một giải pháp hòa bình.

        Tôi gửi một báo cáo về toàn bộ vấn đề này cho Huân tước Halifax ngay sau khi tôi đọc chi tiết. Ngày 5/9 ông ta thận trọng trả lời là hiện tại ông không nghĩ rằng việc triệu tập Hội đồng Hội Quốc Liên như đề nghị theo điều khoản 11 sẽ có lợi nhung ông ta ghi nhớ vấn đề này. Như ông đã chỉ ra "tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta phải xem xét lại tình hình dưới ánh sáng của bản báo cáo mà Henlein mang theo khi ông ta từ Berchtergaden trở về". Ông nói thêm là tình hình rất đáng lo ngại.

        Tờ báo Times ngày 7/9 trong cột tin quan trọng viết:

        Giơ đây nếu nguòi Sudetes yêu cầu vượt quá cái mà chính phủ Tiệp Khắc sẵn sàng chấp nhận trong các đề xuất chót của mình, thì chỉ có thể kết luận được là người Đức đang đi xa hơn việc gạt bỏ đon thuần những bất cập cho nhũng người cảm thấy mình không ổn trong khuôn khổ nước Cộng hòa Tiệp Khắc. Trong trường hợp đó thì cũng bõ công cho chính phủ Tiệp Khắc để xem xét có nên gạt bỏ hoàn toàn dự án (được một số giói ủng hộ) làm cho quốc gia Tiệp Khắc đồng nhất hơn bằng cách nhường lại các dải vành đai có dân cư ngoại tộc sát liền với quốc gia mà họ là đồng tộc.

        Dĩ nhiên, điều này kéo theo việc bỏ cả toàn bộ tuyến pháo đài ở Bohemia. Tuy chính phủ Anh tuyên bố ngay là bài báo, trong tờ Times, không đại diện cho ý kiến của mình, dư luận nước ngoài, đặc biệt là Pháp rất không yên tâm. Ông Bonnet khi đó là Bộ trưởng Ngoại giao Pháp tuyên bố là ngày 10/9/1938, ông đã đưa ra câu hỏi sau với ngài Eric Phipps, Đại sứ của chúng ta: "Ngày mai, Hitler có thể tấn công Tiệp Khắc. Nếu như vậy, Pháp sẽ động viên ngay lập tức. Tiệp Khắc sẽ tìm đến ông và nói: "Chúng tôi đánh, các ông có cùng đánh với chúng tôi không?". Nước Anh sẽ trả lời như thế nào?"

        Dưới đây là câu trả lời được Nội các thông qua mà ngày 12 Huân tước Halifax đã gửi qua Ngài Eric Phipps:

        Đương nhiên tôi công nhận tầm quan trọng đối với chính phủ Pháp để có một câu trả lời rõ ràng cho một câu hỏi như vậy. Nhưng, như ông đã chỉ ra cho ông Bonnet, bản thân câu hỏi, mặc dầu rõ ràng về hình thức nhưng không thể tách rời khỏi các hoàn cảnh trong đó có thể được đặt ra, mà hiện nay nhất thiết các hoàn cảnh đó hoàn toàn là giả thiết.

        Hơn nữa, trong vấn đề này, chính phủ Hoàng gia không thể chỉ quan tâm đến vị thế của mình, ở chỗ trên thực tế bất cứ quyết định nào mà mình có thể đi tới hoặc bất cứ hành động nào mà mình có thể có, sẽ lôi kéo theo các nước tự trị trong khối Liên Hiệp Anh. Chính phủ các nước này dứt khoát không muốn vị trí của họ bị quyết định theo bằng bất cứ cách nào trước khi tình huống thực tế xảy ra, mà họ muốn tự mình đánh giá tình huống.

        Bỏi vậy, ở tư thế mà tôi có thể có bất cứ câu trả lời nào, ở giai đoạn này, cho câu hỏi của ông Bonnet, thì nó phải là trong khi chính phủ Hoàng gia không bao giờ cho phép nền an ninh của Pháp bị đe dọa thì chính phủ không thể ra tuyên bố rõ ràng về tính chất của hành động của mình sau này, hoặc khi nào thì có hành động mà sự diễn biến của tình huống không thể thấy được.

        Khi có tuyên bố là "Chính phủ Hoàng gia sẽ không bao giờ cho phép nền an ninh của Pháp bị đe dọa" phía Pháp hỏi họ hy vọng được chi viện gì nếu có. Câu trả lời từ Luân Đôn, theo ông Bonnet là hai sư đoàn không có cơ giới và 150 phi cơ trong 6 tháng đầu của cuộc chiến. Nếu ông Bonnet tìm một cớ để bào chữa việc bỏ rơi người Tiệp Khắc, thì phải nhận là việc làm đó của ông đã phần nào có kết quả.

        Cùng ngày 12/9 này, tại một cuộc họp đảng tại Nuremberg, Hitler công kích kịch liệt người Tiệp - ngày hôm sau Tiệp Khắc đáp lại bằng việc thiết quân luật của thời chiến trong một số quận thuộc nước Cộng hòa. Ngày 14/9 cuộc đàm phán với Henlein chấm dứt hoàn toàn và sang ngày 15/9 lãnh tụ người Sudete chạy trốn sang Đức.

---------------------
        1. Tài liệu Nuremberg


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:12:33 PM

14

BI KỊCH MUNICH

        Nhiều tập sách đã, và sẽ được viết về cuộc khủng hoảng đã chấm dứt tại Munich bằng sự hy sinh của nước Cộng hòa Tiệp Khắc. Ở đây chỉ có ý đưa ra một số ít trong các sự kiện chủ yếu và dựng lại những qui mô chính của sự kiện. Tại cuộc họp Đại hội đồng Hội Quốc Liên ngày 21/9, Litvinov đã đưa ra một sự cảnh báo chính thức:

        "... Vào thời điểm hiện nay, Tiệp Khắc đang bị nước láng giềng can thiệp vào công việc nội bộ của mình và công khai lớn tiếng đe dọa tấn công. Một trong những dân tộc Âu Châu có văn hóa nhất, cần cù nhất đã giành đưọc độc lập sau nhiều thế kỷ bị áp bức, hôm nay hay ngày mai có thể quyết định cầm vũ khí để bảo vệ nền độc lập dó... Một vài ngày trước khi tôi đi Genève, khi lần đầu tiên chính phủ Pháp tìm hiểu thái độ của chúng tôi trong trường hợp Tiệp Khắc bị tấn công, nhân danh chính phủ, tôi đã dưa ra câu trả lời rất rõ ràng, không do dự: "Chúng tôi có ý dinh hoàn thành nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước, và cùng với Pháp, chi viện cho Tiệp Khác theo con đường mở ra cho chúng tôi. Bộ chiến tranh chúng tôi ngay lập tức sẵn sàng tham dự hội nghị đại diện các Bộ chiến tranh Pháp và Tiệp Khắc, để thảo luận các biện pháp thích hợp với tình thế..."

        "Chỉ cách đây hai hòm, chính phủ Tiệp Khắc chính thức đặt vấn đề với chính phủ tôi để tìm hiểu là liệu chính phủ Liên Xô có chuẩn bị theo Hiệp ước Xô - Tiệp, để chi viện ngay cho Tiệp một cách có hiệu quả, và liệu Pháp trung thành với nghĩa vụ của mình, có sẽ chi viện tương tự như vậy không? Về vấn đề này, câu trả lời của chính phủ tôi là rõ ràng và tích cực".

        Lời tuyên bố công khai và hết mức này của một trong các đại cường quốc không có vai trò gì trong các cuộc thương lượng của Ô. Chamberlain, hoặc trong việc xử lý cuộc khủng hoảng của Pháp. Thực vậy, đề xuất của Liên Xô không được đếm xỉa tới. Nó không được xếp lên bàn cân làm đối trọng với Hitler, và không được chú ý nếu không nói là coi thường - và để lại một dấu ấn trong đầu óc Staline. Các sự kiện diễn ra như thể là không có nước Nga - Xô Viết, vì vậy sau này chúng tôi phải trả giá đắt.

        Chiều tối ngày 26, Hitler phát biểu ở Berlin. Nói về Pháp và Anh, ông ta dùng lời lẽ dè dặt, đồng thời công kích Benès và người Tiệp Khắc một cách tàn bạo và sống sượng. Ông ta nói thắng thừng là người Tiệp phải rút khỏi Sudetenland, và một khi vấn đề này được giải quyết thì ông ta không còn quan tâm nữa đến điều gì xảy ra với Tiệp Khắc "Đây là việc đòi lãnh thổ cuối cùng mà tôi phải làm ở Âu châu?" Vào khoảng 8 giơ tối hôm đó, ông Leeper khi đó là Vụ trưởng vụ báo chí Bộ Ngoại giao trình ông Bộ trưởng Ngoại giao một thông cáo báo chí và dưới đây là nội dung chủ yếu:

        "Mặc dầu có những cố gắng của thú tướng Anh, nếu Đức tấn công vào Tiệp Khắc, thì kết quả tức thời phải là Pháp sẽ chi viện cho Tiệp, và chắc hắn là Anh và Nga sẽ đứng bên cạnh Pháp".

        Thông cáo này được Huân tước Halifax thông qua và cho công bố ngay. Có vẻ như là thời điểm đối đầu đã đến và các lực lượng đối kháng đã bày binh bố trận. Người Tiệp có một triệu rưởi quân bố trí phía sau một tuyến pháo đài mạnh nhất châu Âu, và được trang bị bởi một bộ máy công nghiệp hùng mạnh và có tổ chức cao. Pháp động viên từng phần và tuy rằng miễn cưỡng, các Bộ trưởng Pháp sẵn sàng làm trọn nghĩa vụ của mình đối với Tiệp Khắc. Vào lúc llh20 sáng ngày 28/9 Bộ Hải quân Anh ra lệnh động viên.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười Hai, 2018, 08:56:28 PM

*

        Giữa Hitler và các cố vấn chuyên môn đã bắt đầu có sự đấu tranh, mạnh mẽ và liên tục. Có vẻ như cuộc khủng hoảng đã tạo ra những tình huống mà các tướng lĩnh Đức rất sợ. Khoảng giữa 30 và 40 sư đoàn Tiệp đang triển khai dọc theo biên giới phía đông của Đức, và súc nặng của lục quân Pháp với tỉ lệ xấp xỉ 8 trên 1 bắt đầu uy hiếp chiến lũy phía tây. Một nước Nga thù địch có thể sử dụng các sân bay của Tiệp Khắc và quân đội Xô Viết có thể cất quân qua Ba Lan và Rumani. Một số trong họ có âm mưu bắt Hitler và "bảo vệ nước Đức chống lại con người điên rồ này". Một số khác tuyên bố là tinh thần thấp của dân chúng Đức không có khả năng chịu nổi một cuộc chiến tranh châu Âu và lực lượng vũ trang Đức chưa sẵn sàng cho cuộc chiến. Đô đốc Raeder, tư lệnh hải quân Đức, đưa ra lời kêu gọi Quốc trưởng một cách quyết liệt và được nhấn mạnh sau đó một vài giờ, vì có tin hạm đội của Anh đang được huy động. Và Hitler đã dao động. Vào 2 giơ sáng đài phát thanh Đức chính thức báo tin Đức có ý định động viên ngày 29, và cùng ngay lúc llh45, một thông báo tương tự được cơ quan thông tấn Đức trao cho báo chí Anh. Lúc này, con người độc nhất và ý chí kỳ lạ của y phải chịu một sức ép rất lớn. Rõ ràng y đã tự đua mình đến miệng hố một cuộc chiến tranh toàn diện. Liệu y có thể cúi gằm xuống trước dư luận bất lợi của công chúng và sự cảnh báo nghiêm túc của các tư lệnh hải, lục, không quân không? Mặt khác y có thể rút lui được không sau khi đã sống rất lâu bằng uy tín?

        Nhưng ông Chamberlain cũng không ngồi yên và lúc này ông hoàn toàn kiểm soát chính sách đối ngoại của Anh. Huân tước Halifax tuy có những hoài nghi ngày một tăng xuất phát từ không khí của bộ mình, vẫn tuân thủ sự hướng dẫn của cấp trên. Nội các bị rối loạn sâu sắc, nhưng vẫn tuân lệnh phe đa số của chính phủ trong Hạ viện, được lãnh tụ đảng leo lái một cách khéo léo. Công việc của chúng ta chỉ do một người điều khiển, và chỉ một người thôi. Ông ta không co lại trước trách nhiệm của mình, hoặc những cố gắng cá nhân cần phải có. Ngày 14/9 theo sáng kiến của riêng mình, ông đã điện mời Hitler đến gặp ông. Tất cả 3 lần, Thủ tướng Anh bay sang Đức, cả ông và Huân tước Runciman đều thực sự thấy là duy nhất việc nhường lại vùng Sudete có thể can ngăn được Hitler không tiến vào Tiệp Khắc. Lần cuối cùng là ở Munich, Thủ tướng Pháp Daladier và Mussolini đều có mặt. Nước Nga không được mời, cả người Tiệp Khắc cũng không được có mặt tại các cuộc họp. Chiều tối ngày 28, chính phủ Tiệp Khắc được thông báo bằng lời lẽ không che giấu là đại diện tứ cường sẽ họp vào ngày tiếp theo. "Tứ cường" đạt được thỏa thuận nhanh chóng. Các cuộc hội đàm bắt đầu 12 giơ trưa và mãi đến 2 giơ sáng hôm sau mới chấm dứt. Một bị vong lục được thảo ra và ký vào lúc 2 giờ sáng, ngày 30/2. Nội dung chủ yếu của văn bản này là sự chấp nhận các yêu sách của Đức. Vùng Sudetenland được giải phóng theo 5 giai đoạn bắt đầu từ 1/10 và hoàn thành trong 10 ngày. Một ủy ban quốc tế phải xác định biên giới cuối cùng.

        Văn bản này được đặt trước mặt các đại biểu Tiệp Khắc. Họ cúi đầu trước các quyết định. Họ nói "họ mong muốn" đăng ký sự phản đối của mình trước thế giới đối với một quyết định mà họ không được tham gia. Tổng thống Benès từ chúc vì "giờ đây ông có thể là vật cản cho những sự phát triển mà bản thân Quốc gia mới của chúng tôi phải thích ứng". Ông ta rời Tiệp sang trú ngụ tại Anh quốc. Việc chia cắt nước Tiệp tiếp diễn. Người Đức không phải là những con diều hâu duy nhất trên các xác chết. Chính phủ Ba Lan gửi cho người Tiệp Khắc một bức tối hậu thư hạn trong 24 giờ phải giao cho Ba Lan quận Teschen ở biên giới. Không có cách nào để cưỡng lại yêu cầu ác nghiệt này. Người Hung cũng kéo đến yêu sách.

*

        Trong khi 4 chính khách đang chờ các chuyên viên dự thảo văn kiện cuối cùng thì Thủ tướng hỏi Hitler có quan tâm đến một cuộc hội đàm riêng không. "Hitler vồ lấy ý kiến này". Ngày 30/9, hai nhà lãnh đạo gặp riêng nhau tại căn nhà của Hitler tại Munich, người phiên dịch là người thứ ba duy nhất. Chamberlain đưa ra bản dự thảo tuyên bố mà ông ta đã chuẩn bị trước, nói là "vấn đề quan hệ Đức-Anh có tầm quan trọng số 1 đối với 2 nước và Châu Âu" và "chúng tôi coi bản Hiệp nghị ký tối qua và bản Hiệp nghị về hải quân Anh - Đức là tượng trưng cho ý muốn của nhân dân 2 nước không bao giờ trở lại chiến tranh với nhau nữa".

        Hitler đọc và ký ngay không do dự.

        Chamberlain trở về Anh. Tại Heston, noi mà máy bay hạ cánh, ông rút ra và vẫy đi vẫy lại bản tuyên bố chung mà ông đã lấy được chữ ký của Hitler, rồi đọc to trước đám chức sắc và những người ra đón ông. Khi xe hơi ông rời phi trường đi qua đám người hân hoan đón ông, ông nói với người ngồi bên cạnh là Huân tước Halifax: "Mọi việc rồi sẽ qua đi trong ba tháng", nhưng từ cửa sổ của Bộ Ngoại giao, ông một lần nữa lại vẫy đi vẫy lại tờ tuyên bố chung và dùng các từ sau đây: "Trong lịch sử chúng ta, đây là lần thứ hai, từ nước Đức, hòa bình trong danh dự đã trở về phố Downing (dinh Thủ tướng Anh). Tôi tin đó là hòa bình cho thời đại chúng ta"1.

        Một lần nữa, sự phán đoán của Hitler được minh chứng dứt khoát hơn. Bộ Tổng tham mưu Đức cực kỳ lúng túng và bẽ mặt. Một lần nữa, Hitler cuối cùng là người có lẽ phải. Bản thân ông ta, riêng với thiên tài và linh cảm đã đánh giá đúng mọi tình huống, chính trị và quân sự. Một lần nữa, như ở vùng Rhineland, sự lãnh đạo của Quốc trưởng đã vượt lên trên sự cản trở từ phía các Tham mưu trưởng. Tất cả các vị tướng này đều là những người yêu nước. Họ rất mong muốn Tổ quốc họ lấy lại được vị thế của mình trên thế giới. Họ ngày đêm dồn hết sức lực vào mọi quá trình có thể tăng cường sức mạnh quân đội của Đức. Vì vậy, họ cảm thấy đau nhói trong tim khi thấy mình quá lạc hậu với tình hình, và trong nhiều trường hợp, một mặt họ chán ghét và không tin cậy Hitler, nhưng ngược lại, những tình cảm này lại bị đề bẹp bởi sự thán phục của họ đối với thiên tài chỉ huy và sự may mắn kỳ lạ của ông ta. Chắc chắn đây là một ngôi sao dẫn đường, chắc chắn đây là người lãnh đạo để phục tùng. Như vậy, Hitler trở thành người làm chủ không ai phủ nhận được của nước Đức, và con đường đi của những ý đồ của y là quang đãng. Những người mưu phản đã chịu thất bại.

------------------
        1. Keith Felling - Cuộc đời Neville Chamberlain - T.376 mục 381.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:17:36 AM

*

        Những ngày sau này không mấy dễ dàng khi chúng ta đã qua nhiều năm tháng cố gắng chịu đựng sức ép về thể xác và tinh thần để ghi lại cho một thế hệ khác những tình cảm bùng lên trong khắp nước Anh do Hiệp ước Munich gây ra. Trong đảng Bảo thủ, nội bộ các gia đình và bạn bè thân thiết có một sự chia rẽ đến mức độ tôi chưa tùng thấy. Đàn ông và đàn bà từ lâu gắn bó với nhau trên tình nghĩa đảng viên, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội nơi mình ở, nhìn nhau với con mắt khinh bỉ hoặc giận dữ. vấn đề này là một vấn đề mà cả việc các đám người hoan nghênh đón ông Chamberlain ở sân bay trở về hoặc vây kín lối vào dinh Thủ tướng, cũng như áp lực đáng sợ của ban kiểm tra kỷ luật đảng viên tại quốc hội đều không giải quyết được. Vào thời điểm này, chúng tôi, những người thuộc phái thiểu số, không chú ý gì tới sự vui mừng hoặc sự giận dữ của những người ủng hộ chính phủ. Chính phủ bị chao đảo đến tận gốc, nhưng sự việc đã xảy ra và họ đoàn kết với nhau. Riêng có một bộ trưởng đứng tách ra. Ông Duff Cooper rút khỏi Bộ Hải quân, một bộ quan trọng đã ra lệnh động viên các hạm đội. Tại thời điểm mà ông Chamberlain hoàn toàn làm chủ được công luận, ông mở đường đi qua đám đông hân hoan để tuyên bố là mình hoàn toàn bất đồng với người lãnh đạo của họ.

        Khi cuộc tranh luận 3 ngày về Munich bắt đầu, ông tuyên bố từ chức. Đây là một sự kiện sinh động trong sinh hoạt Quốc hội. Phát biểu trơn tru không một lời bình luận trong 40 phút, ông làm cho phe đa số đối lập trong đảng ngồi im thin thít. Thật là dễ dàng cho các đảng viên Công đảng và Đảng Tự do chống đối kịch liệt chính phủ lúc bấy giờ vỗ tay hoan hô ông ta. Đây là một sự câu xé lẫn nhau trong nội bộ Đảng Bảo thủ.

        Cuộc tranh luận đã diễn ra không phải là không xứng đáng với việc nó đã gây ra những xáo trộn về tình cảm cũng như những vấn đề gây cấn. Tôi nhớ rất rõ là khi tôi nói: "Chúng ta đã chịu một thất bại hoàn toàn và tuyệt đối", thì ý kiến trong phòng họp nổi lên như một cơn bão, nên phải ngùng lại một chút trước khi tiếp tục có một sự thán phục thực sự và rộng khắp đối với những cố gắng không sờn để bảo vệ và duy trì hòa bình của ông Chamberlain cũng như những việc sử dụng ảnh hưởng cá nhân của ông ta. Về mặt này ông không thể tránh được việc dựa vào hàng loạt các tính toán sai lầm, đánh giá sai người và sai việc, nhung động cơ của ông không hề bị hoài nghi, và với cách giải quyết của mình ông đã phải có một sự dũng cảm ở mức cao nhất, về điều này, tôi đã tỏ lòng khâm phục trong bài diễn văn 2 năm sau của tôi sau khi ông mất.

        Cũng có một loại lý lẽ nghiêm túc và thực tiễn tuy không đáng khen đối với họ mà chính phủ có thể dựa vào. Không ai có thể phủ nhận được sự việc ghê tởm là chúng ta đã không chuẩn bị cho chiến tranh. Không ai sát hơn tôi và các bạn tôi để chứng minh việc này. Nước Anh đã để Đức vượt xa mình về mặt không quân. Tất cả các điểm dễ bị tấn công của chúng ta đều không được bảo vệ, chỉ có chưa đến 100 pháo phòng không để bảo vệ một thành phố lớn nhất, một trung tâm dân cư lớn nhất trên thế giới. Và những cái đó lại nằm trong tay phần lớn nhũng người không được huấn luyện. Nếu Hitler thành thực và nếu thực tế đã đạt được một nền hòa bình bền vững thì ông Chamberlain đúng. Nếu bất hạnh mà ông ta bị lừa dối, thì ít nhất chúng ta phải có một thời gian để sửa chữa sự coi thường tệ hại nhất của mình. Sự nhìn nhận như vậy, cùng với sự hân hoan thở phào nhẹ nhõm trước việc tạm thời tránh được những cái khủng khiếp của chiến tranh, để chiếm được sự đồng ý của quần chúng ủng hộ chính phủ. Hạ nghị viện thông qua "chính sách của chính phủ hoàng gia đã tránh được chiến tranh trong cuộc khủng hoảng vừa qua" bằng 366 phiếu thuận so với 144 phiếu chống. Ba hoặc bốn chục đảng viên Bảo thủ không làm gì hơn được để tỏ sự bất đồng của mình là không bỏ phiếu. Chúng tôi làm việc này như là một hành động chính thức và thống nhất.

        Ngày 1/11, Tiến sĩ Hacha một người không có tên tuổi được bầu làm Chủ tịch những người Tiệp Khắc còn sót lại. Một chính phủ mới đứng ra nhận việc tại Praha. Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ không được ai chú ý tới, nói: "Điều kiện ở Châu Âu và thế giới nói chung chưa là cái gì để cho người ta phải hy vọng có một thời gian yên tĩnh trong tương lai gần". Hitler cũng nghĩ như vậy. Đầu tháng 11, người Đức thành lập chính thức 1 sư đoàn quân Tiệp Khắc mà họ bắt được. Người Ba Lan chiếm đóng quận Teschen một cách êm thấm. Người Slovac, một con cờ trong tay người Đức được hưởng một nền tự trị không chắc chắn. Hungari được chia một miếng thịt lấy của người Slovac. Khi các hậu quả này của Munich được nêu ra trước Hạ nghị viện, Chamberlain giải thích là sau Hiệp ước Munich, Anh và Pháp đưa ra một bảo đảm quốc tế cho Tiệp Khắc, sự bảo đảm này không ảnh hưởng đến các biên giới hiện hữu của nước này mà chỉ liên quan đến giả thiết một cuộc xâm lược vô cớ. Ông ta nói "cái mà chúng ta đang làm hiện nay" - với thái độ hết súc thản nhiên - "là chứng kiến việc điều chỉnh lại các biên giới được vạch ra trong Hiệp ước Versailles. Tôi không biết liệu những người có trách nhiệm về các biên giới đó có nghĩ là sẽ vĩnh viễn không có sự thay đổi về biên giới như đã được vạch ra. Tôi rất hoài nghi là họ nghĩ như vậy. Chắc chắn họ trông đợi là thỉnh thoảng biên giới sẽ phải điều chỉnh... Tôi nghĩ là tôi đã nói nhiều về Tiệp Khắc...". Tuy nhiên, sau này phải có một cơ hội nữa.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:18:22 AM

*

        Vấn đề được bàn cãi là liệu Hitler hoặc Đồng minh có tạo thêm được sức mạnh trong các năm sau vụ Munich. Không nhiều người ở Anh có biết sự trơ trụi của chúng tôi về mặt quốc phòng thì cảm thấy bớt lo ngại trước việc cứ mỗi tháng không quân được phát triển và các chiến đấu cơ Hurricane và Spitfire tiến gần mức ùn ùn xuất xưởng. Con số các phi đội tăng trưởng và pháo phòng không cũng tăng theo cấp số nhân. Ngoài ra, áp lục đối với việc chuẩn bị về mặt công nghiệp cho chiến tranh tiếp tục tăng. Tuy nhiên, những cải tiến này tuy có vẻ là vô giá, nhưng là nhỏ so với bước tiến mạnh mẽ của Đức trên mặt vũ trang. Như đã giải thích, sản xuất vũ khí trong toàn quốc là một nhiệm vụ 4 năm. Năm đầu chưa cho ra cái gì cả... năm thứ 2 chút ít, năm thứ ba thì nhiều và năm thứ tư thì ồ ạt. Trong thời gian này, nước Đức của Hitler đã ở năm thứ 3 hoặc thứ tư của công cuộc chuẩn bị khẩn trương trong những điều kiện hối thúc và không khác gì trong thời chiến cả. Mặt khác, nước Anh lại chuẩn bị trên cơ sở phi khẩn cấp, sự quyết đoán ít hơn và qui mô nhỏ hơn rất nhiều. Năm 1938-1939, chi phí quân sự về mọi mặt là 304 triệu bảng còn Đức thì ít nhất 1.500 triệu bảng. Chắc chắn là năm chót, trước khi chiến tranh bùng nổ, mức sản xuất của Đức gấp đôi và có thể gấp 3 tổng số vũ khí trang bị của cả Anh và Pháp cộng lại, và các nhà máy lớn (của Đức sản xuất xe tăng hoạt động hết công suất. Do vậy, tốc độ sản xuất vũ khí của họ cao hơn của chúng ta rất nhiều.

        Việc chinh phục Tiệp Khắc đã tước mất của Đồng minh 24 sư đoàn chính qui Tiệp, 15 hoặc 16 sư đoàn tuyến 2 đã được huy động, cũng như tuyến pháo đài trên núi mà trong thời gian xảy ra sự kiện Munich, muốn chiếm được, thì Đức phải triển khai 30 Sư đoàn hay là đại bộ phận quân chủ lực cơ động và được huấn luyện đầy đủ của mình. Theo các tướng Đức Halden và Jodi; trong thời gian xảy ra sự kiện Munich, ở hướng Tây, Đức chỉ để lại vẻn vẹn 13 sư đoàn trong đó có 5 sư đoàn là bộ đội tuyến 1. Chắc chắn là qua sự sụp đổ của nước Tiệp Khắc chúng ta chịu một sự tổn thất tương đương với khoảng 35 sư đoàn. Ngoài việc này ra nhà máy Skoda, đứng hàng hai trong số các nhà máy quân giới quan trọng nhất ở Trung Âu, và có sản lượng từ 8/1938 đến 9/1939 xấp xỉ ngang với sản lượng của các nhà máy quân giới Anh trong cùng thời kỳ, đã bị buộc phải quay sang với đối phương. Trong khi mọi người Đức đều lam việc cật lực như có áp lực của chiến tranh, thì người lao động Pháp từ năm 1936 đã hưởng chế độ mong ước từ lâu là 40 giờ một tuần.

        Điều tai hại hơn là tương quan lực lượng giữa Đức và Pháp đã thay đổi. Từ năm 1938 trở đi, cứ mỗi tháng trôi qua, lục quân Đức không chỉ tăng về số lượng, về tổ chức các đơn vị, về tích lũy dự trữ mà cả về chất lượng và sự trưởng thanh. Sự tiến triển về huấn luyện và hiệu quả chúng về chiến đấu đi song song với sự tăng trưởng về trang thiết bị. Lục quân Pháp không có sự tiến bộ và mở rộng tương tự và đang do dự trước các nẻo đường. Năm 1935, tuy không có sự chi viện của các Đồng minh trước đây, Pháp vẫn có thể tái chiếm Đức mà không cần có giao chiến lớn. Năm 1936, chắc chắn là quân lực Pháp vẫn còn ưu thế tuyệt đối. Giờ đây, qua tiết lộ của phía Đức, chúng ta biết tình hình đó kéo dài đến 1938, và sự nhận thức về yếu kém của mình đã đẩy Bộ tư lệnh tối cao Đức làm hết súc mình ngăn chặn mọi nước cờ thành công của Hitler làm tăng uy tín của ông ta. Trong năm tiếp theo sự kiện Munich mà chúng ta đang nghiên cứu, lục quân Đức, tuy còn yếu hơn Pháp về mặt quân dự bị được huấn luyện, nhưng đã đạt trình độ hiệu quả đầy đủ. Vì dân số Đức gấp đôi dân số Pháp, nên ưu thế quân số quân đội Đức chỉ còn là vấn đề thời gian khi mà nó trở thành mạnh hơn thông qua mọi thử thách. Về mặt tinh thần, người Đức cũng có thuận lợi hơn. Việc một đồng minh trốn tránh nghĩa vụ nhất là vì sợ chiến tranh, lam suy sụp tinh thần của bất cứ quân đội nào. Cảm giác bị buộc phải chịu thua làm cho tinh thần cả sĩ quan và binh lính suy sụp. Trong khi ở phía Đức, sự tin tưởng, sự thành công và cảm giác về sức mạnh đang tăng trưởng thổi bùng lên bản năng quân sự của dân tộc, thì việc chấp nhận sự yếu kém đã làm nản lòng các binh sĩ Pháp ở mọi cấp. Tuy nhiên, có một lĩnh vục sống còn trong đó chúng tôi bắt đầu vượt Đức và cải thiện được vị trí của mình. Năm 1938, quá trình thay thế phi cơ Gladiator loại 2 thân của Anh bằng loại Hurricane kiểu hiện đại hơn và sau đó là Spitfire, chỉ vừa mới bắt đầu. Tháng 9/1938, chúng ta chỉ có 5 phi đội Hurricane. Hon nữa, dự trữ và phụ tùng các kiểu chiến đấu cũ kỹ thôi không được sản xuất nữa vì đang trở thành vô dụng. Người Đức tiến xa hơn chúng ta nhiều trong việc trang bị lại bằng phi cơ chiến đấu hiện đại. Họ đã có khá nhiều phi cơ chiến đấu Me. 109, mà phi cơ chiến đấu cổ của chúng ta sẽ khó lòng địch nổi. Trong suốt cả năm 1939, vị trí của chúng ta có được cải thiện qua việc lập ra được nhiều phi đội mới. Tháng 9 năm đó, chúng ta có 26 phi đội phi cơ chiến đấu hiện đại gắn 8 súng, mặc dầu thời gian có ít để lập kho dự trữ và phụ tùng ở qui mô đầy đủ. Tháng 9/1940, vào thời điểm chiến dịch đánh phá nước Anh, chúng tôi đã sẵn sàng có trung bình 47 phi đội chiến đấu hiện đại.

        Về phía mình, nước Đức đã thực hiện đại bộ phận chương trình phát triển không lực cả về số lượng lẫn chất lượng trước khi chiến tranh bắt đầu. So với Đức nhũng cố gắng của chúng tôi bị chậm mất gần 2 năm. Giữa các năm 1939-1940 sự tăng trưởng của họ chỉ đạt 20% trong khi số lượng phi cơ chiến đấu của chúng tôi tăng 80%. Trên thực tế, năm 1938 chứng kiến sự yếu kém đáng buồn của chúng tôi về mặt chất lượng, và tuy rằng sang năm 1939, chúng tôi đã phần nào tiến tới giải quyết sự không cân đối, tương đối vẫn còn trong tình trạng tồi tệ hơn so với năm 1940, khi sự thử thách xảy ra.

        Năm 1938, Luân Đôn có thể đã bị oanh tạc và lúc đó chúng tôi không được chuẩn bị chút nào. Tuy nhiên, không thể có một cuộc kháng chiến trên nước Anh khi Đức chưa chiếm đóng được Pháp và các nước vùng trũng (Bỉ, Hà, Lục) để làm căn cứ xuất phát gần với bờ biển chúng tôi. Không có các căn cứ này, Đức không có thể dùng phi cơ chiến đấu thời kỳ đó để yểm hộ các máy bay oanh tạc. Quân đội Đức không thể đánh bại người Pháp năm 1938 hoặc 1939. Việc sản xuất các xe tăng có thể chọc thủng phong tuyến Pháp chưa ra đời cho mãi tới năm 1940, và với lực lượng Pháp mạnh hơn ở hướng tây cũng như một nước Ba Lan chưa chiếm được ở hướng đông, chắc chắn Đức đã không thể tập trung toàn bộ không quân vào hướng nước Anh như là họ đã có thể làm khi Pháp buộc phải đầu hàng. Điều này không tính đến thái độ của nước Nga hoặc bất cứ sự kháng cự có thể có nào của Tiệp Khắc. Vì tất cả những lý do trên so với nước Đức của Hitler, thời gian nghỉ ngơi của năm có thể coi là do Munich mà có, đã đưa Anh và Pháp vào một vị thế còn tồi tệ hơn nhiều so với thời kỳ có cuộc khủng hoảng Munich.

*

        Sau hết, có một sự việc kỳ lạ là chỉ trong năm 1938, Hitler đã sát nhập vào nước Đức Quốc xã và đặt dưới sự kiểm soát tuyệt đối của mình 6.750.000 người Áo và 3.500.000 người Sudete, tổng cộng trên 10 triệu dân, lao động và lính tráng. Thực vậy cán cân khủng khiếp đã nghiêng về phía y.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:19:17 AM

15

PRAHA, ALBANIA VÀ SỰ ĐẢM BẢO ĐỐI VỚI BA LAN

        Sau khi cảm giác thư dãn tạo ra từ Hiệp ước Munich đã tiêu tan, ông Chamberlain và chính phủ của ông đứng trước tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Thủ tướng nói: "Tôi tin đây là hòa bình cho thời đại chúng ta". Nhưng đa số các đồng sự của ông muốn sử dụng "thời đại chúng ta" để tái vũ trang càng nhanh càng tốt. Ở đây có một sự chia rẽ trong Nội các. Cuộc khủng hoảng Munich đã gây ra một sự báo động và cùng với tình hình yếu kém của chúng tôi bị bóc trần, nhất là về mặt pháo phòng không, buộc phải ráo riết tái vũ trang. Điều này dĩ nhiên bị chính phủ Đức và báo chí của họ đồng thanh công kích. Tuy nhiên, không có điều gì nghi ngờ về dư luận công chúng Anh. Một mặt họ hân hoan trước việc Thủ tướng đã tránh được chiến tranh và trước các khẩu hiệu nghênh đón hòa bình, mặt khác họ cảm thấy rất cần phải có vũ khí. Tất cả các Bộ chức năng đối chiếu với những thiếu thốn ở mức báo động mà cuộc khủng hoảng được bóc trần ra đều có yêu cầu như vậy. Nội các đạt được một sự thỏa thuận trên cơ sở mọi sự chuẩn bị khả dĩ thực hiện mà không cản trơ mậu dịch của đất nước hoặc gây khó chịu cho người Đức và Ý bằng các biện pháp đại qui mô.

        Ông Chamberlain tiếp tục tin là mình chỉ phải tạo ra một sự tiếp xúc cá nhân với các nhà Độc tài để thực hiện một sự cải thiện tình hình thế giới một cách rõ ràng. Ông không biết là họ đã có những quyết định rồi. Trên tinh thần hi vọng, ông đề nghị là ông cùng Huân tước Halifax sẽ thăm Ý trong tháng giêng. Lời mời được đưa ra có phần nào chậm trễ và cuộc gặp mặt diễn ra ngày 11.1.1939. Thật đáng ngạc nhiên khi đọc nhật ký của Ciano có những lời bình luận phía sau hội trường Ý về đất nước Anh và những người đại diện. Ciano viết: "Cái chính là cuộc viếng thăm được đặt ở mức độ thấp... Tiếp xúc hữu hiệu thực tế không diễn ra. Con một khoảng cách rất xa giữa chúng ta với họ!". Đó là một thế giới khác. Chúng tôi nói về vấn đề này với Mussolini sau bữa cơm tối. Mussolini nói: "Những người này không có cái thế của Francis Drake và những nhà mạo hiểm cừ khôi khác đã xây dựng nên Đế quốc Anh. Sau hết họ là những đứa con mệt mỏi của một dòng dõi lâu đoi các nhà giàu có". Ciano bình luận "người Anh không muốn chiến tranh. Họ tìm cách kéo dài cuộc rút lui càng lâu càng tốt, nhưng họ không muốn chiến đấu... Đàm thoại của chúng ta với họ đã chấm dứt. Chẳng thực hiện được cái gì cả. Qua điện thoại, tôi nói với Ribbentrop đây là một thất bại hoàn toàn vô hại..." Và rồi một tháng sau đó "Huân tước Perth (Đại sứ Anh) trình chúng tôi thông qua bài diễn văn mà Chamberlain sẽ đọc trước Hạ viện để chúng tôi thêm bớt, nếu cần". Mussolini đồng ý và bình luận: Tôi tin đây là lần đầu tiên người đúng đầu chính phủ Anh đưa sườn của một trong những bài diễn văn của mình cho một chính phủ nước ngoài thông qua. Đây là dấu hiệu không tốt cho họ". Tuy nhiên, rốt cuộc thì chính Ciano và Mussolini lại là nhũng người đang đi dần đến ngày tận số.

        Trong khi đó, cũng trong tháng 1/1939 tại Vácsava, Ribbentrop tiếp tục tấn công Ba Lan về mặt ngoại giao: Tiếp theo việc xâm chiếm nước Tiệp là việc bao vây Ba Lan. Màn đầu của chiến dịch này là phong tỏa Ba Lan về mặt biển với cái cớ là Danzig thuộc chủ quyền của Đức và bằng cách kéo dài việc kiểm tra đường biển cảng yết hầu Nemel của Litva. Chính phủ Ba Lan biểu thị một sự kháng cự mãnh liệt đối với áp lực này và trong một thời gian, Hitler quan sát và chờ đến mùa chiến dịch.

        Trong tuần thứ 2 tháng 3, có nhiều tin đồn về các cuộc động binh tại Đức và Áo, nhất là ở vùng Vienna - Salsloburg. Có tin báo là 40 sư đoàn Đức đã được huy động theo qui chế thời chiến. Yên tâm với sự hỗ trợ của Đức, người Slovac có kế hoạch tách lãnh thổ của mình ra khỏi nước Cộng hòa Tiệp Khắc. Bộ trưởng ngoại giao Ba Lan, Đại tá Beck cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy làn gió Teuton (LND: Anglo-Saxon, Đức; Hà Lan và Bắc Âu) thổi sang hướng khác, ông ta tuyên bố công khai ở Vácsava là chính phủ Ba Lan hoàn toàn có cảm tình với nguyện vọng của người Slovac. Đức cha Tiso, lãnh tụ của người Slovac được Hitler tiếp tại Berlin với nghi thức dành cho một thủ tướng. Vào ngày 12 khi được chất vấn tại Quốc hội về việc bảo đảm đường biên giới của Tiệp Khắc, ông Chamberlain đã lưu ý Hạ viện là đề nghị của ông ta được hướng vào sự chống lại một cuộc xâm lược vô cớ. Tuy nhiên sự xâm lược nay đã diễn ra. Ông ta hẳn là không còn phải chờ đợi lâu.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:19:52 AM
     
        Một sự lạc quan vô lý tràn qua nước Anh trong những ngày tháng 3 này năm 1939. Mặc dầu ở Tiệp Khắc có sự dồn nén gia tăng dưới sức ép của Đức từ cả bên trong lẫn bên ngoài, các vị Bộ Trưởng và báo chí đồng tình với Hiệp ước Munich, vẫn không mất lòng tin vào đường lối mà họ đã kéo đất nước vào. Ngay 10/3 Bộ trưởng Nội vụ nói với chủ trì của mình về hi vọng của ông ta là kế hoạch hòa bình 5 năm sẽ kịp tạo ra thời kỳ "Hoàng Kim". Một chương trình về một Hiệp nghị mậu dịch với Đức vẫn đang được bàn luận theo chiều hướng có triển vọng. Tập san Punch nổi tiếng trình bày một biếm họa tả ông John Bull xã một hơi thở dài nhẹ nhõm trong một giấc mộng kinh hoàng trong khi đó tất cả những lời đồn dữ, những cái bất thường, những hoai nghi trong đêm tối đều bay biến qua cửa sổ.

        Cũng đúng vào ngày 10/3 khi bức biếm họa này xuất hiện trên mặt báo thì Hitler gửi tối hậu thư cho chính phủ Tiệp đang choáng váng vì những quyết định về Munich đã cắt mất phòng tuyến phòng thủ của mình. Quân đội Đức tiến vào Praha và hoàn toàn làm chủ một quốc gia không có sự chống đối nào cả. Tôi nhớ lại là đã cùng ngồi với ông Eden trong phòng hút thuốc của Hạ viện khi các báo xuất bản buổi chiều đăng tải các sự kiện này được đưa đến. Ngay cả nhũng người ưa thích chúng tôi là những người thực tế, những nhân chứng nghiêm túc, cũng đều ngạc nhiên trước cường độ bất thần của sự xâm phạm này. Người ta khó có thể tin là với tất cả những thông tin bí mật của mình có, tại sao chính phủ Hoàng gia lại có thể bị lúng túng, vô hiệu như vậy được. Ngày 14/3 đã chứng kiến sự tan rã và khuất phục của nước Cộng hòa Tiệp Khắc. Người Slovac chính thúc tuyên bố độc lập. Quân đội Hungari với sự ủng hộ của Ba Lan tiến vào Carpatho-Ucraina một tỉnh phía đông Tiệp Khắc mà họ yêu sách. Hitler có mặt ở Praha tuyên bố Tiệp Khắc là một nước thuộc sự bảo hộ của Đức và do vậy mà được sát nhập vào nước Đức Quốc xã.

        Ngày thứ 15, ông Chamberlain nói trước Hạ viện là "Việc quân đội Đức chiếm đóng xứ Bohemia bắt đầu từ 6 giờ sáng hôm nay, người Tiệp Khắc được lệnh của chính phủ là không chống cự gì hết". Sau đó ông ta tiếp tục tuyên bố là theo ý ông ta, lời cam kết của ông đối với Tiệp Khắc không còn giá trị gì nữa: "... Tình hình đã thay đổi từ khi nghị viện Slovac tuyên bố nước Slovakia độc lập. Với sự đổ vỡ nội bộ, lời tuyên bố này đã chấm dứt một quốc gia mà chúng ta đề nghị đảm bảo đường biên giới, và vì vậy chính phủ Hoàng gia không thể bị ràng buộc bởi nghĩa vụ này".

        Điều này có vẻ như là đã được quyết định. Trong lời kết luận, ông Chamberlain nói: "Đuơng nhiên tôi phải cay đắng lấy làm tiếc về việc giờ đây đã xảy ra, nhưng không phải vì thế mà chúng ta đi chệch khỏi con đường đã đi. Chúng ta hãy nhớ là các dân tộc trên thế giới vẫn tập trung hi vọng vào hòa bình".

        Chamberlain phải phát biểu tại điện Birmingham hai ngày sau. Tôi hoàn toàn trông đợi ông ta sẽ chấp nhận điều đã xảy ra với một thái độ dễ được lòng nhất. Sự phản ứng của Thủ tướng làm tôi ngạc nhiên. Ông ta tự cho mình có một sự hiểu biết riêng về tình hình của Hitler cũng như có khả năng lường được là các bên đã thực sự có tiếng nói chung tại Munich, và ông ta, Hitler và Mussolini đã cứu thế giới khỏi sự khủng khiếp vô biên của chiến tranh. Đột nhiên, như là chịu tác động của một sự bùng nổ đột ngột, lòng tin của ông và tất cả cái gì đã diễn ra từ các việc làm và lý lẽ của ông đều bị tan vỡ. Chịu trách nhiệm về những sai lầm lớn trong sự đánh giá các sự việc, tự lừa dối mình và áp đặt các sai lầm của bản thân cho các đồng nghiệp ngoan ngoãn của mình và dư luận công chúng bất hạnh Anh, nhưng ông ta chỉ qua một đêm đã quay ngoắt lại với quá khứ của ông ta. Nếu như Chamberlain đã không hiểu được Hitler, thì Hitler lại hoàn toàn đánh giá thấp bản chất của Thủ tướng Anh. Hitler đã lầm khi cho là lòng thiết tha với hòa bình của Chamberlain biểu thị đầy đủ nhân cách của ông này và nghĩ rằng chiếc ô là biểu tượng của Thủ tướng. Ông ta đã không nhận thúc được Neville Chamberlain có bản chất rất cứng rắn và không thích để bị chơi khăm.

        Bài phát biểu tại điện Birmingham có một giọng điệu mới. Chamberlain trách Hitler đã đích thân phản bội lời hứa về Hiệp ước Munich và đưa ra tất cả những điều mà Hitler đã cam kết. "Đây là yêu sách đất đai cuối cùng của tôi ở Âu Châu. Tôi không phải quan tâm gì thêm nữa đến quốc gia Tiệp Khắc và tôi có thể đảm bảo điều đó. Tôi không cần gì đến người Tiệp Khắc nữa". Thủ tướng nói: "Tôi tin chắc là sau Munich đại bộ phận dân chúng Anh cùng chia sẻ nguyện vọng chân thanh của tôi là phải khuếch trương thêm đường lối chính sách, nhưng hôm nay tôi chia sẻ sự tức giận va thất vọng của họ trước việc những hi vọng đó bị tan vỡ mà không có lý do chính đáng. Làm sao mà các sự kiện đó trong tuần này lại có thể hòa hợp với những lời đảm bảo mà tôi vừa nói trong bài phát biểu này?... Đó có phải là sự tấn công chót vào một quốc gia bé nhỏ không, hay là một cuộc tiến công khác sẽ xảy ra tiếp theo? Thực tế có phải đó là một bước nhằm mưu tìm cách thống trị thế giới bằng vũ lực không?"


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:20:16 AM

        Không dễ gì mà hình dung được sự mâu thuẫn lớn lao giữa thái độ và chính sách trong bài phát biểu của Thủ tướng trước Hạ nghị viện trước đây. Hẳn là ông ta đã phải ở trong một thời kỳ rất căng thẳng. Hơn nữa, việc thay đổi tình cảm của Chamberlain không dừng ở ngôn từ. "Quốc gia nhỏ bé" tiếp theo trong bảng danh mục của Hitler là Ba Lan. Khi tầm quan trọng của quyết định cũng như của những người cần phải tham khảo ý kiến, thì những ngày này hẳn phải là rất bận rộn. Trong vòng nửa tháng (31/3) Thủ tướng phát biểu trước Quốc hội:

        "... Trong trường hợp có bất cứ hành động nào rõ ràng đe dọa độc lập của Ba Lan mà chính phủ Ba Lan thấy nhất thiết phải chống lại bằng lục lượng của quốc gia mình, thì ngay lập tức chính phủ Hoàng gia phải thấy mình có trách nhiệm hoàn toàn ủng hộ Chính phủ Ba Lan trong phạm vi quyền lực của mình. Chính phủ Ba Lan đã được chính phủ Hoàng gia bảo đảm về việc này. Tôi có thể nói thêm là chính phủ Pháp đã cho phép tôi nói rõ là họ có chung một lập trường với chính phủ Hoàng gia về vấn đề này..."

        Và sau này các nước tự trị cũng đã được thông báo đầy đủ tình hình.

        Bây giờ không phải lúc oán trách quá khứ. Việc bảo đảm đối với chính phủ Ba Lan đã được sự ủng hộ của các lãnh tụ của tất cả các đảng phái và các nhóm ở Hạ viện. Cái mà tôi đã nói là "Lạy Chúa chúng ta không làm cái gì khác được". Tại điểm mà chúng tôi đã đi tới thì đó là một hành động cần thiết. Nhưng không người nào am hiểu tình thế lại có thể nghi ngơ điều đó có nghĩa là một cuộc đại chiến với mọi xác suất tính trên cơ sở con người, và chúng tôi ắt phải bị lôi cuốn vào.

        Trong câu chuyện đáng buồn về những đánh giá sai lầm của những người tốt và có khả năng, chúng tôi giờ đây đã đi tới điểm cực. Tiếc rằng việc tất cả chúng tôi đều phải lâm vào tình hình khó khăn này làm cho những người có trách nhiệm bị phê phán trước lịch sử, cho dù động cơ của họ là đáng kính đến mấy. Hãy nhìn lại phía sau và thấy cái mà chúng tôi đã lần lượt chấp nhận hoặc bác bỏ: một nước Đức phải giải giáp thông qua một Hiệp ước nghiêm túc, một nước Đức tái vũ trang, vi phạm Hiệp ước, vứt bỏ ưu thế hoặc thậm chí thế quân bình về không lực; cưỡng chiếm vùng Rhineland và đã hoặc đang dựng phòng tuyến Siegfried. Trục Berlin-Roma được thành lập. Nước Áo bị nhãi ngấu nghiên. Nước Tiệp Khắc bị bỏ rơi và tàn phá vì Hiệp ước Munich, tuyến pháo đài rơi vào tay Đức; công binh xưởng Skoda hùng mạnh từ nay trở đi sản xuất trang bị vũ khí cho quân đội Đức, một mặt gạt những cố gắng của Tổng thống  Roosevelt nhằm ổn định hoặc đưa tình hình Âu Châu vào hàng đầu bằng sự can thiệp của Hoa Kỳ, còn một mặt không thèm biết đến ý chí rõ ràng của Liên Xô, muốn cùng các cường quốc phương tây quyết tâm cứu vãn Tiệp Khắc. Ba mươi lăm sư đoàn quân Tiệp Khắc để đối phó với lục quân Đức chưa hoàn chỉnh về tổ chức đã bị bỏ rơi, khi mà Anh Quốc chỉ có thể đóng góp 2 sư đoàn để tăng cường mặt trận Pháp, tất cả đều theo gió bay đi.

        Và giờ đây, khi mọi trợ giúp và thuận lợi đều đã bị lãng phí hoặc quẳng đi, Anh quốc tiến bước, giơ tay kéo Pháp về phía mình trong việc đảm bảo sự nguyên vẹn của Ba Lan - nước Ba Lan mà chỉ mới 6 tháng trước đây, với tính phàm ăn của con linh cẩu đã tham gia vào việc cướp bóc và tàn phá quốc gia Tiệp Khắc. Năm 1938, đã có sự cảm nhận về công cuộc chiến đấu cho Tiệp Khắc, khi mà người Đức cố gắng lắm mới chỉ bố trí được 6 sư đoàn ở mặt trận phía Tây, khi mà với gần 6 hoặc 7 chục sư đoàn, người Pháp chắc chắn có thể kéo quân vượt qua Sông Rhine hoặc vào tận hạt Ruhr. Nhưng điều này được coi là vô lý, thiếu cân nhắc, ở dưới mức tư duy trí tuệ và đạo lý hiện đại. Tuy vậy, giờ đây có 2 nền dân chủ phương Tây đã tuyên bố sẵn sàng đem mạng sống ra đánh cuộc cho sự bảo toàn lãnh thổ của Ba Lan... người ta nói lịch sử chủ yếu là sự ghi chép các tội ác, các sự điên cuồng khổ cực của loài người, nó có thể bị tẩy xóa, lục soát để tìm ra một trường hợp giống hệt  như sự đảo ngược hoàn toàn của một chính sách hòa hiếu thoải mái trong 5-6 năm và biến đối của nó, hầu như chỉ trong một đêm, thành sự sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến tranh rõ ràng sắp xảy ra trong những điều kiện rất tồi tệ và trên một qui mô lớn nhất.

        Hơn nữa, làm thế nào chúng tôi có thể bảo vệ Ba Lan và thực hiện lời đảm bảo của mình được? Chỉ bằng cách tuyên chiến với Đức và tấn công 1 bức tường phía tây kiên cố hơn và một lục quân Đức hùng mạnh hơn so với đội quân bị chúng tôi đẩy lùi tháng chín năm 1938. Đây là một dãy cột mốc dẫn đến thảm họa. Đây là một danh mục các sự đầu hàng (ban đầu khi mọi việc đều dễ dàng, về sau khi tình hình gay cấn hơn) trước sự hùng mạnh không ngừng phát triển của Đức. Nhưng giờ đây thì cuối cùng là Anh và Pháp đã chấm dứt sự khuất phục. Cuối cùng, đây là quyết định đưa ra trong thời điểm tồi tệ nhất, trên một cơ sở ít xác đáng nhất, một quyết định chắc chắn sẽ đưa đến việc hàng chục triệu người bị chém giết. Đây là lý do về đạo lý được sử dụng một cách có dụng ý và với một nghệ thuật đảo lộn vào cuộc chiến chết người sau khi đã lãng phí tất cả nhũng thuận lợi của nó. Tuy nhiên, nếu người ta không chiến đấu  khi chiến thắng là chắc chắn và với giá không quá đắt, thì người ta sẽ có thể, đến một lúc nào đó, phải chiến đấu với đủ các thứ rủi ro với một cơ may sống sót không chắc chắn. Thậm chí có thể có trường hợp tồi tệ. Người ta có thể phải chiến đấu khi không có hy vọng chiến thắng, vì chết đi còn tốt hơn là sống như những kẻ nô lệ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:21:54 AM
     
*

        Bằng thái độ đáng xấu hổ trong việc thanh toán quốc gia Tiệp Khắc, người Ba Lan đã lấy được Teschen. Chẳng bao lâu họ phải trả giá về việc này. Ngày 21/3 khi Ribbentrop gặp Đại sứ Ba Lan ở Berlin, giọng điệu của ông ta cúng rắn hơn so với các lần bàn luận trước đây. Do việc chiếm đóng xứ Bohemia và thành lập ra nước chư hầu Tiệp Khắc, quân đội Đức đã tiến sát biên giới phía nam của Ba Lan. Đại sứ giải trình là người Ba Lan bình thường không hiểu vì sao nước Đức lại đảm nhận việc bảo hộ nước Tiệp, việc này đang ngầm chống Ba Lan. Ông ta cũng tìm hiểu về các cuộc trao đổi mới đây giữa Ribbentrop và Bộ trưởng Ngoại giao Lithuania: Liệu chúng có liên quan đến cảng Memel không? (Một cảng của Lithuania trông ra biển Baltic-LND). Đại sứ, nhận được câu trả lời hai ngày sau đó (23/3) là quân đội Đức đã chiếm Memel.

        Giơ đây các phương tiện để tổ chức bất cứ một sự kháng cự nào chống lại sự xâm lược của Đức ở Đông Âu hầu như là đã cạn kiệt. Nước Hungari đứng trong phe Đức - Ba Lan đứng tách ra khỏi người Tiệp và không muốn hợp tác chặt chẽ với Rumani. cả Ba Lan lẫn Rumani đều không chấp nhận việc nước Nga dùng lãnh thổ của mình để can thiệp chống lại Đức. Chìa khóa của việc lập ra một khối Đại đồng minh là sự hiểu biết với nước Nga. Ngày 19/3, chính phủ Nga bị ảnh hưởng sâu sắc của tất cả nhũng gì đang xảy ra đã đề nghị một cuộc hội nghị 6 cường quốc, tuy mình bị gạt ra ngoài trong cuộc khủng hoảng Munich, về vấn đề này, ông Chamberlain cũng đã có định kiến. Trong một bức thư riêng, ông đã "công khai bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc đối với nước Nga. Tôi không tin chút nào vào khả năng nước Nga có thể duy trì được một cuộc phản công hữu hiệu, dù cho Nga có muốn đến    mấy. Và tôi   không tin vào các động cơ của họ, theo tôi chúng   có vẻ rất ít liên quan đến các ý tưởng về tự do của chúng ta    mà chỉ quan tâm đến việc xỏ mũi những người khác. Hơn nữa, nhiều quốc gia nhỏ, nhất là Ba Lan, Rumani và Phần Lan đều thù ghét và hoài nghi nước Nga".

        Vì vậy đề nghị của phía Liên Xô về việc họp 6 cường quốc được tiếp nhận một cách lạnh nhạt và bỏ lời luôn.

        Khả năng kéo nước Ý ra khỏi khối Trục, trước đây hiện rõ trong tính toán công khai của nước Anh, cũng đang tan biến dần. Ngày 26/3 Mussolini trong một bài diễn văn cứng rắn, đưa ra  những yêu sách với Pháp trên Địa Trung Hải. Rạng sáng 7/4/1939, Ý đổ bộ quân vào Anbani và sau một cuộc hỗn chiến ngắn ngủi đã chiếm toàn bộ nước này. Vì Tiệp Khắc là căn cứ để xâm lược Ba Lan, nên Anbani cũng được Ý sử dụng làm bàn đạp tấn công Hi Lạp và trung lập hóa Nam Tư. Chính phủ Anh đã có một sự cam kết vì lợi ích của hòa bình ở bắc đông Âu. Còn sự đe dọa đang phát triển ở Đông Nam thì sao? Hạm đội Địa Trung Hải của Anh có khả năng ngăn chặn hành động của Ý nhung đã được phép phân tán rồi. Con tàu hòa bình bị thẩm thấu ở từng mối hàn. Ngày 15/4, sau khi Đức tuyên bố đặt các vùng Bohemia và Moravia dưới sự bảo hộ của mình, Goering gặp Mussolini và Ciano tại Roma để giải thích về những tiến bộ trong các sự chuẩn bị cho chiến tranh của Đức. Cùng ngày hôm đó, Tổng thống Roosevelt gửi một bức thông điệp cá nhân cho Hitler và Mussolini yêu cầu hai người này đảm bảo không tiến hành thêm bất cứ sự xâm lược nào trong 10, hoặc thậm chí 25 năm, nếu chúng ta phải thấy trước vấn đề xa như vậy. Ban đầu Mussolini từ chối không chịu đọc tài liệu và rồi nhận xét: "Đó là kết quả của bệnh bại liệt trẻ em!". Ông ta không nghĩ là bản thân mình sẽ phải chịu những tai họa tồi tệ.

*

        Ngày 27/4 Thủ tướng ra quyết định động viên theo nghĩa vụ quân sự tuy rằng ông đã nhiều lần cam kết không làm việc này. Sự thức tỉnh muộn màng này là do có sức ép của ông Hore - Belisha, Quốc vụ khanh Bộ Chiến tranh. Chắc hẳn ông ta nắm vũng sinh mệnh chính trị của mình, và nhiều cuộc gặp gỡ cấp trên của ông mang tính cách đáng sợ. Tôi thấy một cái gì đó của con người ông trong sự thử thách gay go, gian khổ này, và không bao giờ ông tin chắc là ngày hôm nay còn làm ở cơ quan không phải là ngày cuối cùng. Dĩ nhiên, việc gọi lính nhập ngũ ở giai đoạn này không tạo cho chúng ta một đội quân. Nó chỉ áp dụng với người 20 tuổi. Tuyển xong họ còn phải huấn luyện; huấn luyện xong con phải trang bị. Tuy nhiên, đó là một hành động tượng trưng có ảnh hưởng rất lớn tới Pháp và Ba Lan và các quốc gia khác mà chúng tôi đã đảm bảo một cách hào phóng. Trong cuộc tranh luận, phe đối lập đã không làm được nhiệm vụ của họ. Cả Đảng Bảo thủ và Đảng Tự do đều co lại trước thành kiến lâu đời có ở nước Anh đối với việc cưỡng bách quân dịch và các lãnh tụ của đảng đều có lý do để chống đối việc này. Những người này rất đau khổ vì đảng mà phải làm như vậy. Nhưng họ vẫn làm và đưa ra hàng loạt lý do. Sự chia rẽ trong đảng là trên đường lối của Đảng Bảo thủ thực hiện chính sách của mình bằng 380 phiếu thuận và 143 phiếu chống. Trong bài phát biểu của mình, tôi đã tìm hết cách thuyết phục phe đối lập ủng hộ chủ trương cần thiết này, nhưng cố gắng của tôi là vô vọng. Tôi hoàn toàn thông cảm với những khó khăn của họ, đặc biệt là phải đương đầu với một chính phủ mà họ thuộc phe đối lập. Tôi phải ghi lại sự kiện vì nó đã tước đi bất cứ quyền kiểm soát nào của đảng viên Đảng Tự do và Đảng Lao động đối với chính phủ đương thời. Họ tỏ thái độ riêng của họ đối với sự kiện một cách quá rõ ràng. Hiện nay họ phải tỏ một thái độ trung thực hơn.

        Trong tháng 3 tôi cùng ông Eden và khoảng ba chục đảng viên bảo thủ đưa ra một nghị quyết về một chính phủ liên hiệp. Trong mùa hè, ở trong nước có một sự khuấy lên đáng kể ủng hộ nghị quyết này, hoặc ít nhất là việc đưa tôi và ông Eden vào trong nội các. Ngài Stafford Cripps, trong tư thế độc lập của mình, rất lo buồn về nguy cơ của quốc gia. Ông ta đến gặp tôi và các Bộ trưởng khác, và yêu cầu lập ra cái mà ông gọi là "Chính phủ của mọi đảng phái". Tôi không thể làm được gì hết; nhưng ông Stanley - Bộ trưởng Thương mại - rất xúc động. Ông ta viết cho Thủ tướng nói là ông nhường cơ quan mình nếu điều đó tạo thuận lợi cho việc tái thiết. Ông Chamberlain bằng lòng với 1 sự xác nhận chính thức.

        Từng tuần lễ trôi qua, hầu hết các báo đi đầu là tờ Daily Telegraph và được tờ Manchester Guardian nhân thêm, đều phản ánh sự bột phát dư luận này. Tôi ngạc nhiên trước luận điệu lặp đi lặp lại hàng ngày trên báo chí. Hàng ngàn biểu ngữ khổng lồ được trưng bày nhiều tuần liên tục tại khu quảng cáo nội đô với khẩu hiệu "Churchill phải quay trở lại". Hàng chục thanh niên nam nữ tình nguyện đeo các khẩu hiệu tương tự trên vai diễu hành qua lại trước Hạ viện. Tôi không dính dáng gì với các hình thức khuấy động này, nhưng chắc chắn là nếu được mời, tôi chắc chắn phải tham gia chính phủ. Ở đây, một lần nữa, vận may của tôi đúng vững và các cái khác còn lại vận động theo một trình tự lôgic tự nhiên và khủng khiếp.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:23:56 AM
         
16.

Ở NGƯỠNG CỬA

        Chúng tôi tới thời kỳ mà mọi mối quan hệ giữa Anh và Đức đã cáo chung. Dĩ nhiên, giờ đây chúng tôi biết là chẳng bao giờ  có mối quan hệ trung thực giữa hai nước từ khi Hitler lên nắm quyền, ông ta chỉ hi vọng thuyết phục, hoặc dọa nạt Anh để cho mình được rảnh tay ở Đông Âu, và ông Chamberlain đã nuôi hi vọng xoa dịu và cải biến Hitler, đưa ông ta đến chỗ hòa mục. Tuy nhiên, thời điểm đã đến khi mà các ảo vọng của chính phủ Anh bị xua tan. Nội các, sau hết, cũng phải nhận ra Đức Quốc xã là hiện thân của chiến tranh, và Thủ tướng đưa ra những đảm bảo cũng như sự kết giao đồng minh từ mọi hướng con mở, bất kể liệu chúng ta có thể viện trợ hữu hiệu cho các nước hữu quan hay không. Bên cạnh đảm bảo cho Ba Lan, chúng tôi đảm bảo thêm cho Hi Lạp và Rumani và ngoài hai nước này ra còn có một liên minh với Thổ Nhĩ Kỳ.

        Giờ đây chúng tôi phải nhớ lại tâm giấy đáng buồn mà ông Chamberlain đã lấy được chữ ký của Hitler tại Munich, tấm giấy mà ông ta vẫn phất cao một cách thắng lợi trước đám đông khi ông nêu ra hai mối liên hệ mà ông cho là có được giữa mình và Hitler, giữa Anh - Đức. Việc thôn tính nước Tiệp Khắc đã phá hủy mối liên hệ thứ nhất; ngày 28/4 Hitler gạt bỏ mối liên hệ thứ hai. Ý cũng hủy bỏ Hiệp ước bất xâm phạm Đức - Ba Lan.

        Chính phủ Anh phải cấp tốc xem xét những hệ lụy thực tế của sự đảm bảo cho Ba Lan và Rumani. Các sự đảm bảo nói trên đều không có giá trị gì về quân sự, trừ trường hợp trong khuôn khổ một sự thỏa thuận chung với Nga. Do đó, thì cuối cùng đàm phán về chủ đề nay bắt đầu diễn ra tại Matxcova ngày 15/4 giữa Đại sứ Anh và ông Litvinov. Căn cứ vào cách lâu nay người Nga được nhìn nhận và đối xử, nên giờ đây cũng không hi vọng gì được nhiều ở họ. Tuy vậy, ngày 16/4 họ đưa ra một đề nghị chính thúc (văn bản không được công bố) thành lập một mặt trận thống nhất tương trợ giữa Anh, Pháp và Liên Xô.

        Ngoài ra, Tam cường này, cộng thêm Ba Lan, nếu có thể được phải đảm bảo cho các quốc gia ở Trung và Đông Âu đang đứng trước nguy cơ bị xâm lược từ phía Đức. Vật cản đối với một sự thỏa thuận như vậy là ở chỗ các nước có chung biên giới hoảng sợ việc tiếp nhận viện trợ của Liên Xô dưới dạng quân đội Xô Viết kéo qua lãnh thổ của họ để bảo vệ họ, chống lại người Đức và nhân thể sát nhập họ vào hệ thống Xô Viết Cộng sản mà họ là những người chống đối kịch liệt nhất. Ba Lan, Rumani, Phần Lan và ba quốc gia Baltic không biết trong hai cái Đức xâm lược và Nga cứu nguy cái nào đáng sợ hơn. Chính sự lựa chọn khủng khiếp nay đã làm tê liệt chính sách của Anh và Pháp.

        Tuy nhiên, không thể nghi ngờ gì được, ngay cả dưới ánh sáng của những sự kiện sau này, là Anh và Pháp đã phải chấp nhận đề nghị của Nga, tuyên bố đồng minh ba bên và để các nước trong khối đồng minh cùng có một kẻ thù chung, tự sắp xếp một phương pháp có thể làm cho đồng minh này có hiệu quả trong trường hợp có chiến tranh. Trong những trường hợp như vậy, có một tâm trạng phổ biến khác. Các đồng minh trong chiến tranh thường dành cho yêu cầu của nhau nhiều thuận lợi, mọi thủ đoạn trong thời chiến coi là ghê tởm thì nay đều được hoan nghênh. Trong một đại đồng minh như kiểu có thể được thành lập, thì một nước đồng minh không dễ gì vào được lãnh thổ của một nước trong phe trừ phi được mời vào.

        Nhưng ông Chamberlain và Bộ Ngoại giao bị rối rắm trước cái điều bí hiểm, khó hiểu này khi các sự kiện ở thời điểm này xảy ra một cách dồn dập và với một khối lượng lớn như vậy, thì đi từng bước một là điều khôn ngoan: Việc Anh, Pháp và Nga đồng minh với nhau có thể làm cho nước Đức năm 1939 hoảng sợ và không ai có thể chứng minh rằng chiến tranh là có thể tránh được. Thời điểm của bước thứ hai là khi thế mạnh đã ở bên phía các nước đồng minh thì hoạt động ngoại giao của mình, đồng minh có thể lấy lại được thế chủ động. Hitler không dám tiến hành chiến tranh trên hai mặt trận, điều mà ông ta lên án sâu sắc cũng như không chịu đựng nổi sự đánh trả. Tiếc là đã không đẩy Hitler vào tình thế khó khăn này, một tình thế có thể làm cho ông ta mất mạng. Các chính khách không được kêu gọi chỉ để giải quyết những vấn đề dễ dàng. Những vấn đề này luôn luôn tự nó được giải  quyết. Nơi nào mà cán cân không ổn định và tương quan lực lượng còn ở trạng thái không rõ ràng, thì nơi đó xuất hiện các cơ hội cho những quyết định cứu vãn thế giới. Chúng ta đã lâm vào cảnh hãi hùng của năm 1939 thì vấn đề sống còn là phải bám chắc lấy phần hy vọng lớn hơn. Ví dụ, nếu sau khi nhận được đề nghị của Nga, ông Chamberlain trả lời là: "Đồng ý - Ba chúng ta cùng hợp sức bẻ gẫy Hitler" hoặc những ngôn từ tương tự thì Quốc hội có lẽ đã thông qua, Staline có lẽ đã thông cảm và lịch sử có lẽ đã đi theo một hướng khác - ít nhất thì lịch sử đã không thể đi vào con đường tồi tệ.

        Thay vào đó là một sự im lặng kéo dài trong khi các biện pháp nửa vời và các thỏa hiệp đúng đắn đang được chuẩn bị... Sự chậm trễ này ảnh hưởng tai hại đến Litvinov. Cố gắng cuối cùng của ông nhằm đưa các vấn đề đến một quyết định dứt khoát với các cường quốc phương tây được coi như là đã thất bại. Uy tín của chúng ta rất thấp, cần có một chính sách ngoại giao hoàn toàn khác cho sự an toàn của nước Nga và phải tìm ra được người đề xuất. Ngay 3/5 Matxcơva công khai thông báo là M.Litvinov thôi giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao theo yêu cầu của ông ta và Thủ tướng Molotov sẽ kiêm nhiệm chức vụ này. M.Litvinov, một người Do Thái lỗi lạc, một đối thủ mà Đức nhằm vào, giờ đây đã bị quẳng ra một bên như một công cụ bị gẫy, mà không được phép có một lời giải thích nào, bị vứt từ sân khấu thế giới vào bóng tối với một khẩu phần đạm bạc và bị cảnh sát giám sát. Molotov, người ít được nước ngoài biết đến trở thành Bộ trưởng Ngoại giao cùng cánh và thân cận nhất của Staline, không bị vướng vào các lời tuyên bố phiền toái trước đây, và tách khỏi không khí của Hội Quốc Liên, ông ta có thể di chuyển theo bất cứ hướng nào mà sự tự vệ có lợi cho nước Nga. Trên thực tế, chỉ có một con đường duy nhất mà giờ đây chắc ông ta phải đi. Ông ta luôn luôn ủng hộ một sự dàn xếp với Hitler. Chính phủ Xô Viết, từ vụ Munich và từ nhiều cái khác nữa, tin rằng cả Anh và Pháp không ai muốn chiến đấu trừ phi bị tấn công và như vậy thì không phải là tốt lắm. Cơn bão được tích tụ sắp sửa nổ ra. Nước Nga phải tự lo cho mình.

        Việc đảo ngược chính sách một cách không bình thương và mạnh mẽ của Nga là một sự thay đổi hoàn toàn và kỳ lạ chỉ có thể có trước ở các quốc gia có chế độ độc tài. Cách đây chưa đầy hai năm, các nhà lãnh đạo quân đội Nga và hàng vạn tướng lĩnh có tài nhất đã bị khử chỉ vì đã có những khuynh hướng mà ngày nay đã trở thành chấp nhận được đối với một dúm người không yên tâm trong điện Kremli. Chủ nghĩa thân Đức là điên rồ và phản bội. Giờ đây, trong chốc lát, điều đó đã trở thành chính sách của nhà nước, và thảm họa sẽ đến một cách cơ học với bất cứ ai dám có ý kiến cũng như luôn luôn tới với những ai chậm trở mình để thích ứng.

        Đối với nhiệm vụ trong tay, không ai có thể sánh được với tân Bộ trưởng Ngoại giao về mặt thích hợp hoặc trang bị.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:26:02 AM

*

        Người mà giờ đây Staline đưa ra làm Bộ trưởng Ngoại giao có một gương mặt mà chính phủ Anh và Pháp thời đó không rõ, cần được phác họa. Vyacheslav Molotov là người có tài năng xuất chúng và tàn bạo một cách lạ lùng. Ông đã sống sót qua các rủi ro và thử thách đáng sợ, các thử thách mà các lãnh tụ Bônsêvích đã phải trải qua trong các năm thắng lợi của cách mạng. Ông đã sống và thành công trong một xã hội mà những mưu đồ thiên hình vạn trạng thường đi kèm với sự đe dọa thường xuyên về thanh toán cá nhân. Cái đầu có dáng một viên đạn đại bác? Bộ ria đen, đôi mắt thông minh, khuôn mặt chữ điền, thái độ rất điềm tĩnh, ăn nói khôn khéo, tất cả là những biểu hiện thích hợp của đức tính và kỹ xảo của ông ta. Ông hơn tất cả mọi người khi giữ vai trò tay sai và công cụ của một chính sách thuộc một bộ máy không thể lường trước được. Tôi chỉ gặp ông ta trên các điều kiện bình đẳng tại các nơi dành cho các cuộc họp giữa các bên đối kháng nhau trong đó đôi khi có xuất hiện một tâm trạng hóm hỉnh, hoặc tại các bữa tiệc trong đó ông ta liên tục nâng cốc chúc một cách lịch sự theo quy ước hoặc chẳng có ý nghĩa gì. Tôi chưa bao giờ thấy có người nào đại diện một cách hoàn hảo cho quan niệm hiện đại về người máy hơn ông ta. Tuy nhiên với tất cả nhũng cái trên, vẫn con có một nhà ngoại giao có vẻ biết điều và thật sự hào nhoáng. Tôi không thể nói được ông ta là người thế nào đối với người dưới quyền. Qua các cuộc hội thoại được ghi lại, có thể thấy được ông là người thế nào đối với Đại sứ Nhật Bản trong những năm sau hội nghị Teheran khi mà Staline hứa sẽ tấn công Nhật Bản ngay khi quân Đức bị đánh bại. Các cuộc phỏng vấn tế nhị, tìm hiểu, gây khó chịu, cuộc này nối tiếp cuộc kia, được tiến hành một cách đàng hoàng đạt mức hoàn hảo, với một mục đích khó hiểu, và một sự đứng đắn, nhã nhặn theo nghi thúc. Không bao giờ có sơ hở, không bao giờ có một hành động không cần thiết. Nụ cười giá lạnh xứ Sibêri, ngôn từ đắn đo và khôn ngoan, thái độ khả ái, tất cả những cái nay kết hợp với nhau tạo ông thành một người hoàn hảo của chính sách Xô Viết trong một thế giới đầy chết chóc này. Thư từ trao đổi qua lại với ông ta về các vấn đề tranh cãi luôn luôn là vô bổ và nếu đẩy xa hơn nữa, sẽ kết thúc bằng các việc nói sai sự thật hoặc thóa mạ. Thí dụ: Duy nhất có một lần hình như tôi nhận được một sự phản công, tự nhiên, nhân bản. Đó là vào mùa xuân 1942, khi ông ta ghé lại nước Anh trên đường từ Mỹ về. Ông ta đã ký hiệp ước Anh - Xô và sắp sửa đáp chuyến bay nguy hiểm về nước. Tại cửa nhìn ra vườn của Bộ Ngoại giao Anh, mà chúng tôi sử dụng khi cần giữ bí mật, tôi nắm chặt tay ông ta và hai người nhìn thẳng vào mặt nhau. Đột nhiên, ông tỏ ra rất xúc động. Trong hình ảnh này con người thực xuất hiện. Ông ta đã nắm chặt tay tôi không kém. Chúng tôi xiết chặt tay nhau một cách im lặng. Nhưng rồi chúng tôi cùng đứng bên nhau, và cả hai đều là đối tượng của cái sống hoặc cái chết. Quanh năm ngày tháng, ông sống trong nguy cơ của sự tàn phá, và đổ nát sắp rơi xuống đầu ông hoặc do ông mang đến cho người khác. Bộ máy Xô Viết chắc chắn là đã tìm thấy ở Molotov một đại diện có khả năng và đặc trưng về nhiều mặt luôn luôn là một đảng viên trung thành và một đồ đệ của chủ nghĩa Cộng sản. Tôi thật là hạnh phúc biết bao khi đến cuối đời không bị những căng thẳng dằn vặt mà ông ta phải gánh chịu; tốt hơn là đừng sinh ra đời làm gì. Trong việc điều hành công tác ngoại giao, Mazarin, Talleyrand, Metternich sẽ hoan nghênh ông cùng đúng trong hàng ngũ họ nếu có một thế giới khác mà người Bôn-sê-vích tự cho phép mình tham gia.

        Kể từ khi trở thành Bộ trưởng Ngoại giao, Molotov chủ trương dàn xếp với Đức có hại cho Ba Lan. Các cuộc đàm phán của phía Nga với Anh được tiến hành chậm chạp, uể oải và ngày 19/5, toàn bộ vấn đề được đưa ra trước Hạ viện. Cuộc tranh luận ngắn và nghiêm túc thực chất được giới hạn trong phạm vi lãnh tụ các đảng và các cựu Bộ trưởng có uy tín. Lloyd, George, Eden và tôi nhấn mạnh với chính phủ sự bức xúc phải tiến hành ngay với Nga một cuộc dàn xếp có tính chất qui mô và trên cơ sở bình đẳng. Thủ tướng trả lời, và lần đầu tiên cho chúng tôi biết quan điểm của mình đối với đề xuất của phía Liên Xô. Thái độ ứng xử của ông ta là lạnh lùng và thực chất là coi thường và có vẻ thiếu bình đẳng như là đã thể hiện trong việc gạt bỏ các đề nghị của Roosevelt một năm trước đây. Attlee, Sinclair và Eden nói những nét đại thể về nguy cơ sắp xảy ra và sự cần thiết phải liên minh với Nga. Khó có thể nghi ngờ là giờ đây tất cả cái đó đã quá chậm. Những cố gắng của chúng tôi đã tiến tới điểm bế tắc gần như không thể tháo gỡ được. Các chính phủ Ba Lan và Rumani chấp nhận sự đảm bảo của Anh, nhưng lại không sẵn sàng để chấp nhận một việc tương tự như vậy từ phía chính phủ Nga. Một thái độ tương tự như vậy cũng có ở vùng chiến lược quan trọng - đó là các nước vùng Baltic. Chính phủ Xô Viết nói rõ là họ sẽ chỉ tham gia một hiệp ước hỗ tương nếu Phần Lan và các nước vùng Baltic là đối tượng của một sự đảm bảo tổng quát. Giờ đây bốn nước này từ chối, và vì khiếp sợ, sẽ vẫn từ chối điều kiện bảo đảm đó trong một thời gian dài. Phần Lan và Esthonia thậm chí khẳng định sẽ coi một sự đảm bảo đối với họ mà không được họ chấp nhận là một hành động xâm lược. Ngày 7/6, Esthonia và Latvia ký một hiệp ước không xâm lược với Đức. Như vậy Hitler thâm nhập một cách dễ dàng vào công sự phòng thủ cuối cùng của một liên minh chậm trễ và không dứt khoát chống lại y.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:26:21 AM

        Mùa hè tiến tới, những sự chuẩn bị cho chiến tranh trực tiếp trên khắp Âu Châu và các thái độ của các nhà ngoại giao, các diễn văn của các chính trị gia và ước mong của loài người hàng ngày ít được coi trọng, những cuộc điều động quân sự của Đức hình như báo trước việc dùng vũ lục để giải quyết tranh chấp với Ba Lan về Danzig là bước tiên khởi của việc tấn công vào chính nước Ba Lan. Ngay 10/6 Chamberlain phát biểu trước quốc hội về sự lo lắng của mình, và lặp lại ý định đứng về phía Ba Lan nếu nền độc lập của nước này bị đe dọa. Trên tinh thần tách rời khỏi sự việc, chính phủ Bỉ, dưới ảnh hưởng lớn của nhà vua, ngày 23 thông báo là họ phản đối việc đàm phán cấp Tham mưu trưởng với Anh và Pháp, và Bỉ có ý định duy trì một nền trung lập tuyệt đối. Ngọn triều các sự kiện kéo theo việc siết chặt hàng ngũ giữa Anh và Pháp, cũng thoải mái như ở nhà mình. Trong tháng bảy có sự đi lại dồn dập giữa Paris và Luân Đôn. Lễ kỷ niệm ngày quốc khánh Pháp (14/7) là một dịp để phô bày sự liên kết Anh - Pháp. Tôi được Chính phủ Pháp mời tham dự cảnh tượng huy hoàng này.

        Khi tôi rời sân bay Le Bourget sau cuộc diễu hành, tướng Gamelin gợi ý tôi phải đi thăm mặt trận Pháp. Ông ta nói: "Ông chưa bao giờ xem khu vực Rhine. Vậy tháng 8 ông nên đến đó, tôi sẽ đưa ông đi xem mọi cái". Sau đó một kế hoạch được vạch ra và ngày 15/8 tướng Spears và tôi được tướng Georges, bạn thân của Gamelin tư lệnh lục quân vùng đông bắc và là người có thể kế vị Bộ Tư lệnh tối cao chào đón. Tôi rất thích thú được gặp người tướng rất có tài năng và dễ chịu này, và trong 10 ngày tiếp theo cùng với ông ta xem xét các vấn đề quân sự, gặp gỡ Gamelin, người cũng đang thị sát một số điểm tại khu vực này của mặt trận.

        Bắt đầu từ góc sông Rhine gần Lauterbourg, chúng tôi đi xuyên qua toàn khu vực tới biên giới Thụy Sĩ. Ở nước Anh, như là vào năm 1914, người dân thoải mái đi nghỉ và chơi với con cái trên bãi cát. Nhưng ở đây, dọc sông Rhine có một thứ ánh sáng chói chang khác. Tất cả các cầu bắc tạm bợ qua sông đều được dẹp lại hoặc về phía bờ bên này, hoặc phía bờ bên kia. Các cầu vĩnh cửu đều được canh gác cẩn mật và đặt mìn. Các sĩ quan tin cẩn được bố trí ngày đêm tại đây để ấn nút mìn phá cầu khi có lệnh. Con sông lớn phình ra do tuyết trên dãy núi Alpine tan ra đổ xuống, uốn khúc theo một dòng nước chảy cuồn cuộn đen ngòm. Các tiền đồn Pháp với những công sự đào xuống đất để đặt súng trường giữa các lùm cây. Hai hoặc ba người trong bọn tôi có thể đi đến tận bờ sông, nhưng người ta nói là không nên để lộ bất cứ cái gì giống như là mục tiêu. Ở phía xa hơn cách 300 thước Anh, có thể nhìn thấy những người Đức với cuốc chim và xẻng đang thong thả lao động tại các điểm bố phòng. Toàn bộ dân chúng vùng bờ sông của Strasbourg đã sơ tán. Tôi đúng trên cầu một lúc và quan sát một vài chiếc hơi chạy qua cầu. Hai bên đầu cầu diễn ra việc kiểm tra kỹ lưỡng các hộ chiếu và giấy chứng nhận. Ở đây trạm kiểm tra của Đức cách trạm kiểm tra của Pháp khoảng hơn 100 thước Anh. Không có giao dịch giữa họ với nhau. Tuy vậy, Châu Âu vẫn có hòa bình. Không có tranh chấp giữa Đức và Pháp. Dòng sông Rhine vẫn trôi, cuộn xoáy, lúc nhanh lúc chậm với tốc độ 6-7 dặm một giờ. Một hoặc hai xuồng có đám con trai ngồi phóng trên mặt sông. Tôi không trở lại sông Rhine cho tới tháng 3/1945, nghĩa là 5 năm sau, khi tôi vượt sông trên một chiếc tàu nhỏ cùng với Thống chế Montgomery. Nhưng là ở gần Wesel, xa hơn về phía bắc.

        Điều đặc biệt mà tôi học được qua chuyến thăm của tôi là sự chấp nhận hoàn toàn thế phòng ngự nó quán triệt các ông chủ Pháp có trách nhiệm cao nhất của tôi và buộc tôi phải chấp nhận không thể cưỡng lại. Trong khi nói chuyện với các sĩ quan rất có tài năng này của Pháp, người ta có cảm giác là người Đức mạnh hơn, là nước Pháp không còn có sinh lực để tổ chúc một cuộc phản công lớn. Nước Pháp sẽ chiến đấu để tồn tại -  chỉ có thế thôi! Còn có chiến lũy Siegfried với hỏa lực gia tăng của vũ khí hiện đại. Tôi ớn đến tận xương sự khủng khiếp của các trận tấn công Somme và Passchendaele. Tất nhiên so với thời điểm Munich, người Đức đã mạnh hơn rất nhiều. Chúng ta không rõ những lo âu sâu sắc đã dày vò Bộ Tư lệnh của họ. Chúng ta đã tự cho phép mình, về mặt thể chất cũng như tâm lý, sa vào một điều kiện mà không một người nào có tinh thần trách nhiệm - và đến điểm này tôi không có trách nhiệm gì hết - có thể hành động trên cơ sở mình cho là đúng - và đúng thật - là chỉ có 42 sư đoàn Đức được trang bị và huấn luyện dở dang bảo vệ một tuyến dài từ Biển Bắc đến Thụy Sĩ. Con số này là so sánh với 13 sư đoàn vào thời điểm sự kiện Munich.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:26:44 AM

*

        Trong những tuần lễ cuối cùng, tôi có cái lo là chính phủ Hoàng gia, mặc dầu có sự bảo đảm của chúng tôi, sẽ chùn lại không lâm chiến với Đức trong trường hợp Ba Lan bị Đức tấn công. Không nghi ngờ gì ở thời điểm này, ông Chamberlain đã quyết tâm đi đến một quyết định mặc dầu là cay đắng. Nhưng tôi lại không hiểu ông nhiều như là sau đó một năm. Tôi sợ rằng Hitler có thể đưa ra một trò bịp về một hoạt động mới chưa từng có, hoặc về một vũ khí bí mật có thể gây khó khăn hoặc như đánh đố một nội các đã bị quá tải về công việc. Thỉnh thoảng giáo sư Lindemann nói chuyện với tôi về năng lượng nguyên tử. Do đó tôi yêu cầu ông ta cho tôi biết tình hình trong lĩnh vực này như thế nào và sau khi hội thoại với ông tôi viết bức thư dưới đây cho Kingsley Wool, Quốc vụ khanh về hàng không, người mà tôi có quan hệ khá thân mật.

        Một vài tuần trước đây, một trong những tờ báo "Ngày Chủ Nhật" trang trọng đưa một câu chuyện về một khối năng lượng khổng lồ có thể có được từ Uranium thông qua một chuỗi qui trình mới được tìm ra gần đây khi loại nguyên tử đặc biệt này bị neutron phá vỡ. Mói đầu thì điều này có thể báo trước sự xuất hiện nhiều chất nổ mới có sức tàn phá lớn, vì vậy điều quan trọng là phải nhận thức được là không có nguy cơ gì về sự khám phá nay sẽ đem lại những kết quả khả dĩ ứng dụng được trên qui mô to lớn trong nhiều năm, cho dù giá trị về mặt khoa học và có thể cuối cùng là tầm quan trọng về mặt thực tiễn của nó to lớn như thế nào đi chăng nữa.

        Có những chỉ dẫn là những câu chuyện sẽ được truyền bá với dụng ý, khi sự căng thẳng quốc tế đạt điểm cao về việc ứng dụng qui trình này để sản xuất ra một loại chất nổ mới khủng khiếp có thể xóa sạch thành phố Luân Đôn. Chắc chắn là Đạo quân thứ 5 thông qua sự đe dọa này sẽ tìm cách buộc chúng ta phải chấp nhận một sự đầu hàng nữa. Vì lý do này, cần thiết phải nói rõ tình thế đích thực.

        ... Việc lo sợ sự khám phá mới của ông ta đã cung cấp cho Đức Quốc xã một chất nổ khủng khiếp mới, bí mật, dùng để tiêu diệt kẻ thù, rõ ràng là không có cơ sở. Những lời nói bóng gió đen tối chắc chắn sẽ được thốt ra và những lời đồn đại kinh khủng sẽ không ngót được truyền bá, nhung người ta hy vọng là không ai bị mắc bẫy cả. Thật đặc biệt khi dự báo nay trở thành chính xác. Và cũng không phải là người Đức đã tìm ra con đường. Thực vậy họ đi theo một con đường sai, và thực tế họ đã từ bỏ việc tìm kiếm bom nguyên tử để chuyển sang hỏa tiễn và phi cơ không người lái vào thời điểm mà Tổng thống Roosevelt và tôi đã có quyết định và đi tới những thỏa thuận đáng ghi nhớ về sản xuất bom nguyên tử trên qui mô lớn. Các quyết định và thỏa thuận này sẽ được mô tả ở đúng vị trí của chúng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Một, 2019, 10:37:58 AM

*

        Ngày 7/7 Mussolini nói với Đại sứ Anh là "báo cho ông Chamberlain biết nếu Anh Quốc sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Ba Lan thì Ý sẽ chiến đấu cùng với đồng minh của mình là Đức". Nhưng ở hậu trường thì thái độ ông ta là ngược lại. Trên hết ông ta tìm cách củng cố quyền lợi của mình ở Địa Trung Hải và Bắc Phi, gặt hái những kết quả của việc Ý can thiệp vào Tây Ban Nha và nuốt trôi Albania. Ông ta không thích bị kéo vào một cuộc chiến tranh ở Châu Âu để Đức chiếm Ba Lan. về những lời khoe khoang của ông trước công chúng, hơn ai hết ông biết rõ thế mong manh của Ý về quân sự và chính trị. Ông muốn nói đến chiến tranh năm 1942, nếu Đức cung cấp vũ khí, trang bị, nhưng năm 1939 - thì không!

        Trong khi súc ép đối với Ba Lan tăng lên trong mùa hè, Mussolini quay sang ý nghĩ lặp lại vai trò trung gian của mình về Munich và gọi tới một Hội nghị về hòa bình thế giới. Hitler gạt ngay những ý nghĩ đó. Trong tháng 8, Hitler nói rõ cho Ciano biết là ông ta có ý định giải quyết với Ba Lan, là ông ta buộc phải đánh nhau với cả Anh và Pháp và ông ta muốn Ý cùng vào cuộc. Ông nói: " Nếu Anh giữ lại trong nước các lực lượng  cần thiết, thì quá lắm cũng chỉ có thể đưa sang Pháp hai sư đoàn bộ binh và một sư đoàn cơ giới, còn lại thì có thể cung cấp một số ít biên đội oanh tạc cơ nhưng hầu như không có bất cứ phi cơ chiến đấu nào vì không quân Đức sẽ đột ngột tấn công Anh và như vậy Anh rất cần phi cơ chiến đấu để tự bảo vệ", về Pháp ông ta nói sau khi tiêu diệt xong Ba Lan - việc này không lâu - Đức có thể tập trung hàng trăm sư đoàn dọc theo bức tường phía Tây do đó Pháp buộc phải tập trung toàn bộ lực lượng hiện có ở các thuộc địa, ở biên giới Ý và các nơi khác trên chiến tuyến Maginot để chiến đấu một mất một còn. Sau những cuộc trao đổi này, Ciano buồn rầu trở về báo cáo với chủ của mình, người mà ông thây đã nhận thức sâu sắc được ý chí chiến đấu của các chế độ dân chủ, và thậm chí càng quyết tâm đứng ngoài cuộc chiến tranh.

*

        Giờ đây các chính phủ Anh và Pháp có cố gắng mới để đi đến một sự dàn xếp với Nga Xô Viết. Người ta đã quyết định gửi một đặc phái viên đến Matxcơva. Eden, người đã có những tiếp xúc bổ ích với Staline vài năm trước đây, tình nguyện đi. Thủ tướng không chấp nhận sự tình nguyện khảng khái này. Ngày 12/6, Strang, một quan chức có khả năng nhưng không có uy tín gì đặc biệt bên ngoài Bộ Ngoại giao, được giao phó nhiệm vụ rất quan trọng nay thay cho Eden. Đây lại là một sai lầm nữa. Việc cử một người với gương mặt tầm thường đến như vậy thực tế là một sự xúc phạm. Người ta nghĩ là không rõ ông ta có khả năng chọc thủng được cái vỏ ngoài của tổ chức Xô Viết hay không. Dù sao thì đã quá chậm trong mọi trường hợp. Nhiều việc đã xảy ra từ khi Maisky được phái đến gặp tôi tại Chartwell hồi tháng 9/1938. Sự kiện Munich đã xẩy ra. Quân đội của Hitler đã có thêm một năm để trưởng thành. Các công binh xưởng Đức được tăng cường thêm các nhà máy Skoda hoạt động hết công suất. Chính phủ Liên Xô rất quan tâm đến Tiệp Khắc, nhưng nước Tiệp Khắc đã mất rồi. Ông Benes bị đi đày. Một Gauleiter Đức trị vì ở Praha.

        Mặt khác đối với Nga thì Ba Lan là một chùm vấn đề lâu đời về chính trị và chiến lược hoàn toàn khác. Cuộc gặp gỡ lớn lần chót là trận đánh Vácsava năm 1920 khi các đạo quân Bônsêvích do Kamieniev chỉ huy bị đẩy lui bởi Pilsudski có sự giúp đỡ ý kiến của Weygand và của phái đoàn Anh do huân tước Lord d’Abem cầm đầu, và sau đó là sự hận thù đẫm máu. Trong tất cả các năm đó, Ba Lan là mũi lao nhọn chống Bônsêvích, tay trái thì bắt tay và ủng hộ các nước Baltic, tay phải thì vào thời điểm sự kiện Munich, góp phần vào việc cướp phá nước Tiệp. Chính phủ Xô Viết biết chắc là Ba Lan căm ghét họ và Ba Lan cũng không có súc để chịu nổi sự tấn công dữ dội của Đức. Tuy nhiên họ cũng thấy rất rõ nguy cơ của chính mình, cũng như là cần phải có thời gian để sửa chữa tổn thất lớn trong các Bộ Tư lệnh quân đội. Trong tình hình như vậy, triển vọng về sứ mệnh của ông Strang không phải là dồi dào.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Một, 2019, 11:31:18 PM

        Các cuộc đàm phán xoay quanh việc Ba Lan và các nước Baltic không muốn được người Xô Viết cứu họ khỏi tay người Đức, và vì vậy đàm phán dẫm chân tại chỗ. Suốt tháng 7, các cuộc tranh luận được tiếp tục một cách lừng chừng và sau chót chính phủ Xô Viết đề nghị các cuộc trao đổi phải được tiếp tục trên cơ sở quân sự với các đại diện của Pháp và Anh. Vì vậy, chính phủ Anh cử đô đốc Drax cùng đi đến Matxcova với một phái bộ vào ngày 10/8. Các sĩ quan nay không có ủy nhiệm bằng văn bản để đàm phán. Phái bộ Pháp do tướng Doumenc dẫn đầu. Phía Nga do Thống chế Voroshilov chủ trì. Giờ đây chúng tôi biết là cùng thời gian này, chính phủ Nga đồng ý cho một nhà đàm phán Đức vào Matxcơva. Hội nghị quân sự này tan vỡ khi Ba Lan và Rumani từ chối không để cho quân đội Nga đi qua lãnh thổ của mình. Thái độ của Ba Lan là "Với người Đức, chúng tôi có nguy cơ mất tự do; với người Nga chúng tôi có nguy cơ mất phần hồn"1.

        Tháng 8/1942, tại điện Kremli, vào những giờ đầu buổi sáng, Staline cho tôi biết một khía cạnh của lập trường Xô Viết. "Chúng tôi có cảm giác" - Staline nói - "Là chính phủ Anh và Pháp không quyết định tham chiến nếu Ba Lan bị tấn công, nhưng họ hy vọng là một sự thống nhất về ngoại giao giữa các nước Pháp - Anh - Nga sẽ ngăn chặn được Hitler. Chúng tôi chắc là không được". Staline hỏi: "Nước Pháp sẽ đưa ra bao nhiêu sư đoàn để chống lại việc Đức động viên?". Câu trả lời là "Khoảng 100". Rồi ông lại hỏi: "Nước Anh sẽ đưa ra bao nhiêu?". Câu trả lời là: "Hai hay hơn hai sau đó" Stalin nhắc lại: "À, hai và hơn hai sau đó". Ông ta hỏi: "Ông có biết chúng tôi phải đưa bao nhiêu sư đoàn ra mặt trận Nga nếu chúng tôi phải tiến hành chiến tranh với Đức?" tạm ngừng một lúc. "Trên ba trăm". Tôi không được cho biết thời điểm và đối tượng của cuộc đối thoại này. Phải nhận đây là một cơ sở vững chãi, nhưng bất lợi cho Strang của Bộ Ngoại giao.

        Stalin và Molotov cho là vì mục đích mặc cả, cần phải giấu kín ý đồ của họ cho đến thời điểm cuối cùng có thể được. Molotov và các người dưới quyền tỏ ra có tài đánh lừa trong các cuộc tiếp xúc với cả hai phía. Vào buổi tối ngày 19/8, Staline thông báo Bộ Chính Tri về ý định của ông muốn ký một hiệp ước với Đức. Ngày 22 tháng 8, phía Đồng minh không tìm thấy thông chế Voroshilov cho đến tận buổi tối. Ngày hôm sau, Ribbentrop đến Matxcova. Trong một hiệp ước bí mật, Đức tuyên bố không có ý đồ chính trị gì đối với Latvia, Esthonia và Phần Lan, nhưng coi Lithuania nằm trong phạm vi ảnh hưởng của mình. Một đường giới tuyến được vạch ra cho sự chia cắt Ba Lan. Trong các nước Baltic, Đức chỉ có yêu sách về quyền lợi kinh tế. Hiệp ước bất xâm phạm và hiệp ước bí mật được ký muộn vào đêm 23/82.

        Mặc dầu tất cả cái đó được ghi một cách khách quan trong chương này, chỉ có chủ nghĩa cực quyền độc tài ở cả hai nước mới có thể chịu nổi sự kinh tởm của một hành động không bình thường chút nào như vậy. Vấn đề là liệu Hitler hay Staline có ghê tởm điều đó không, cả hai người đều biết rằng nó chỉ là một thủ đoạn nhất thời. Sự đối kháng giữa hai đế quốc và hai chế độ là một mất một còn, chắc chắn Staline cảm thấy Hitler sẽ bớt ý tưởng bất cộng đới thiên với Nga hơn sau 1 năm chiến tranh với các cường quốc phương Tây. Hitler đi theo phương pháp "Mỗi lần giải quyết một việc". Việc một hiệp ước như vậy được ký kết nói lên sự thất bại hoàn toàn của Anh và Pháp trên mặt chính sách ngoại giao trong nhiều năm. Về phía Xô Viết, phải nói cái cần thiết nhất của họ là giữ cho được quân Đức triển khai càng lùi về phía Tây bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, để họ có thêm thời gian tập hợp lực lượng từ khắp nơi trên đế quốc bao la của họ. Họ đã chôn sâu trong đầu sự thất bại của quân đội họ năm 1914, trong việc lao lên phía trước để tấn công quân Đức khi mới huy động được một phần lực lượng của mình. Nhưng ngày nay biên giới của họ nằm xa về phía Đông biên giới của cuộc chiến tranh trước. Họ phải chiếm đóng các nước Baltic và một bộ phận lớn lãnh thổ Ba Lan bằng vũ lục hoặc bằng gian lận trước khi họ bị tấn công. Nếu chính sách của họ là tàn bạo, thì giờ đây nó cũng rất thực tế.

        Ghi lại các điều kiện của hiệp ước vẫn còn là việc đáng làm.

        "Hai bên ký kết tự buộc mình chấm dứt bất cứ hành động bạo lực nào, hành động xâm lược nào, và cuộc tấn công nào đối với bên kia hoặc do một mình hoặc cùng với các cường quốc khác".

------------------
        1. Trích trong "Nước Pháp đã cứu Châu Âu" của Paul Reynaud I. Trang 587.

        2. Hồ sơ Nuremberg.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:04:52 PM
 
        Hiệp ước này có hiệu lực 10 năm; nếu không bị bên nào tỏ ý muốn chấm dứt 1 năm trước khi mãn hạn này, thì mặc nhiên hiệp ước có hiệu lực thêm 5 năm nữa. Một không khí vui mừng hớn hở và nhiều cuộc nâng cốc chúc tụng trong phòng hội nghị. Staline tự mình nâng cốc chúc Hitler như sau: "Tôi biết dân tộc Đức yêu quí Quốc trưởng của mình như thế nào, bởi vậy tôi phải nâng cốc chúc súc khỏe ông ấy". Một bài học có thể được rút ra từ tất cả những cái này, đó là sự đơn giản, rõ ràng. "Trung thực là chính sách tốt nhất". Nhiều ví dụ loại này sẽ được giới thiệu trong các trang sách này. Các gương mặt gian ngoan, các chính khách mắc sai lầm vì những tính toán quá chi tiết sẽ được nói đến. Nhưng đây là một ví dụ mang tính chất tín hiệu. Chỉ mới có 20 tháng trôi qua trước khi Staline và dân tộc Nga phải trả một cái giá khủng khiếp bằng sinh mạng của hàng chục triệu người. Nếu một chính phủ không có lương tâm nó có vẻ như luôn luôn được thuận lợi lớn và tự do hành động, nhưng "mọi việc sẽ lộ ra lúc cuối ngày và sẽ lộ ra nhiều hơn, thậm chí khi tất cả các ngày đều chấm dứt".

        Những tin tức buồn thảm đến với thế giới như một sự bùng nổ. Sự sợ hãi không có trong bất kể các cảm xúc nào mà chính phủ Anh có thể đã nếm trải. Chính phủ đã không chần chừ khi tuyên bố "Một sự kiện như vậy sẽ không còn cách nào ảnh hưởng đến nghĩa vụ của mình và chính phủ quyết tâm hoàn thành nghĩa vụ đó". Lập tức các biện pháp đề phòng được đề ra. Lệnh được truyền ra cho việc tập hợp pháo cao xạ và các nhóm công tác chủ chốt ở bờ bể cũng như cho sự bảo vệ các điểm yếu. Điện báo động được gửi tới chính phủ các nước tự trị và các thuộc địa. Ngừng tất cả các việc đi phép trong tất cả các quân, binh chủng chiến đấu. Bộ Tư lệnh Hải quân báo động cho các thương thuyền. Nhiều biện pháp khác được đề ra. Ngày 25/8, chính phủ Anh tuyên bố một hiệp ước chính thức với Ba Lan xác nhận việc bảo đảm đã được đưa ra. Với bước đi này, người ta hy vọng tạo ra một cơ may tốt nhất cho việc giải quyết bằng thương lượng trực tiếp giữa Đức và Ba Lan bất chấp sự việc là nếu không xong thì Anh sẽ đứng bên cạnh Ba Lan. Trên thực tế, Hitler đã lùi ngày D từ 25/8 đến 1/9 và đi vào đàm phán trục tiếp với Ba Lan như ý muốn của Chamberlain. Tuy nhiên mục đích của y không phải là đạt được một thỏa thuận với Ba Lan, mà để tạo cho chính phủ hoàng gia mọi cơ hội lẩn tránh nghĩa vụ bảo đảm. Ý nghĩ của họ cũng như của Quốc hội và các dân tộc là ở trên một bình diện khác. Đây là một điều kỳ lạ về người Anh, không thích thủ tục và không bị xâm lăng trong gần 1000 năm, là khi nguy hiểm tới gần, và thậm chí tăng lên, họ lại trở nên ít hoảng hốt; khi nó sắp xẩy ra họ không biết sợ gì hết. Những thói quen này đã dẫn họ đến chỗ hút chết đôi lần. Qua các văn bản trao đổi với Mussolini về điểm này, giờ đây Hitler thấy rằng, nếu y không đoán được trước điều này thì không thể dựa vào sự can thiệp quân sự của Ý nếu xảy ra chiến tranh. Có vẻ như tin tức từ phía Anh hơn là từ phía Đức đã giúp Mussolini biết được các quyết định cuối cùng. Ciano ghi trong nhật ký ngày 27/8: "Người Anh cho chúng ta biết văn bản về đề nghị của Đức, với Luân Đôn mà chúng ta hoàn toàn không được biết"1. Cái duy nhất mà Mussolini cần hiện nay là Hitler đồng ý để Ý được trung lập.

        Ngày 31/8 Hitler "phát lệnh số 1 về điều hành chiến tranh".

        1. Giờ dây mọi khả năng về chính trị dể giải quyết bằng phương pháp hòa bình một vấn đề rất nhức nhối mà nước Đức không chịu nổi ở biên giới phía Đông đã cạn kiệt, tôi đã xác định một giải pháp thi hành bạo lực.

        2. Việc tấn công Ba Lan phải được tiến hành theo đúng sự chuẩn bị đã được thực hiện... Ngày tấn công - 1/9/1939. Giờ tấn công - 04 giờ 45 (được ghi bằng bút chì đỏ).

        3. Ỏ phía tây, điều quan trọng là Pháp và Anh dứt khoát phải chịu trách nhiệm về việc gây hấn. Ban đầu, một hành động đơn thuần mang tính chất địa phương phải được sử dụng để chống lại những vi phạm biên giới không đáng kể2.


*

        Trên đường về từ mặt trận sông Rhine, tôi lưu lại một vài ngày tốt trời tại chỗ ở của bà Balsan, cùng với bạn bè, nhưng rất lo âu, trong một lâu đài cổ mà Vua Henry of Navarre đã ngủ đêm trước khi diễn ra trận đánh Ivry. Người ta cảm thấy một sự lo sợ đè nặng lên tất cả. Thậm chí ánh sáng trên thung lũng xinh đẹp của sông Eure cũng có vẻ mất đi tia thần kỳ của nó. Tôi thấy vẽ bức tranh là một công việc khó khăn trong tình hình bất ổn định này. Ngày 26/8 tôi quyết định về nhà, nơi mà ít nhất tôi có thể thấy được cái gì đang diễn ra. Tôi nói với vợ tôi là tôi sẽ báo tin đúng lúc. Khi đi qua Paris, tôi mời tướng Georges ăn cơm trưa. Ông này cho biết tất cả những số liệu về quân đội Pháp và Đức và xếp loại các sư đoàn theo chất lượng. Kết quả gây cho tôi ấn tượng lớn đến mức lần đầu tiên tôi nói: "Nhưng các ông là bậc thầy". Ông ta trả lời: "Người Đức có một quân đội rất mạnh, và chúng tôi không bao giờ cho phép mình đánh trước. Nếu họ tấn công, hai nước chúng ta sẽ sát cánh với nhau vì nghĩa vụ".

        Đêm đó tôi ngủ ở Chartwell và ở đây tôi yêu cầu Tướng Ironside ở cùng với tôi ngày hôm sau. Ông ta vừa trở về từ Ba Lan và cho biết tình hình quân đội Ba Lan đặc biệt khả quan. Ông ta chứng kiến trận diễn tập của sư đoàn tấn công dưới lưới lửa đạn thật mà không phải là không có thương vong. Tinh thần Ba Lan là cao. Ông ta ở với tôi ba ngày và chúng tôi tìm cách ước lượng cái không biết được. Cũng trong thời gian nay, tôi hoàn thành việc xây cái bếp của ngôi nhà mà năm qua tôi đã chuẩn bị cho gia đình tôi những năm sau này. Vợ tôi được tin của tôi đã đến ngày 30/3 qua đường Dunkirk. Được biết có 20.000 tên Đức quốc xã có tổ chức ở nước Anh vào thời gian này, và chứng đã thống nhất với nhau về cách làm trên lãnh thổ các nước bạn bè khác là trước khi nổ ra chiến tranh phải có một màn mở đầu rõ nét bằng hành động phá hoại và mưu sát. Vào thời điểm đó tôi không có sự bảo vệ của nhà nước và tôi không yêu cầu được bảo vệ chút nào; nhưng tôi nghĩ là tôi đủ nổi bật để phải đề phòng. Tôi có khá đủ tin tức thuyết phục rằng Hitler thừa nhận tôi là một kẻ thù. Thanh tra Thompson, cựu thám tử Scotland Yard là nhân viên bảo vệ cũ của tôi và ông ta đã nghỉ hưu. Tôi gọi ông ta đến và mang theo súng ngắn. Tôi lấy những vũ khí của tôi ra, chúng còn tốt. Khi người này ngủ thì người kia thức. Trong những giờ phút nay, tôi biết rằng nếu chiến tranh xảy ra - và ai có thể hoài nghi là nó không đến? - thì một gánh nặng lớn sẽ rơi xuống vai tôi.

-------------------
        1. Nhật ký của Ciano trang 136.

        2. Hồ sơ Nuremberg. Trang 172.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:07:23 PM
    
17

CHIẾN TRANH HỦY DIỆT

        Ba Lan bị Đức tấn công vào lúc bình minh ngày 1/9. Trong buổi sáng có lệnh động viên toàn bộ các lực lượng. Thủ tướng yêu cầu tôi đến gặp ông vào buổi chiều tại dinh chính phủ. Ông nói với tôi là không thấy có hy vọng tránh được một cuộc chiến tranh với Đức và ông ta đề nghị lập ra một Nội các Chiến tranh gồm các Bộ trưởng nhưng không có bộ để lãnh đạo chiến tranh. Ông lưu ý là Công đảng theo ông ta hiểu, không muốn tham gia một chính phủ liên hiệp. Ông vẫn hy vọng vào sự tham gia của Đảng Tự do. Ông đề nghị tôi là một thành viên của Nội các Chiến tranh. Tôi đồng ý và không bình luận gì, và trên cơ sở này chúng tôi nói với nhau lâu về nhân sự và các biện pháp.

        Tôi ngạc nhiên thấy không được tin gì hết của ông Chamberlain trong suốt ngày 2/9 là ngày có khủng hoảng lớn. Tôi nghĩ rằng chắc là đang có một sự cố gắng phút chót để cứu vãn hòa bình; và điều đó đã tỏ ra là đúng. Tuy vậy, khi Quốc hội họp buổi chiều đã xảy ra một cuộc tranh luận, ngắn nhưng gay gắt trong đó một lời phát biểu của Thủ tướng có tính chất hòa hoãn không mấy được Hạ viện hưởng ứng. Khi ông Greenwood đúng lên phát biểu thay mặt cho Công đảng đối lập, ông Amery từ hàng ghế của Đảng Bảo thủ nói to "Hãy nói cho nước Anh". Các tràng pháo vỗ tay nổi lên. Chắc chắn là Hạ viện chủ chiến. Tôi thậm chí cho là Hạ viện quyết tâm và đoàn kết hơn so với cuộc họp tương tự ngày 8/3/1914 mà tôi đã tham gia. Sau này, tôi được biết là hồi 9h30 sáng ngày 1/9 Anh đã phát đi một tối hậu thư cho Đức, tiếp theo đó là một bức tối hậu thư thứ hai vào lúc

        9 giờ sáng ngày 3/9. Buổi phát tin sớm ngày thứ ba thông báo là Thủ tướng sẽ phát biểu trên đài phát thanh vào lúc llhl5.

        Qua đài phát thanh, Thủ tướng báo cho chúng tôi biết là chúng ta ở trong tình trạng chiến tranh, và khi ông ta chua ngừng hẳn thì có một tiếng rền rĩ kỳ lạ, kéo dài, sau đó trở thanh quen thuộc, đập vào tai người nghe. Vợ tôi vào trong phòng, vững vàng thêm trước cuộc khủng hoảng và có nhận xét tốt về sự nhanh nhậy và chính xác của người Đức và chúng tôi đi lên sân thượng để xem cái gì đang xẩy ra. Từ mọi phía xung quanh chúng tôi, các mái nhà và đỉnh tháp nhà thơ Luân Đôn nhô lên trong ánh sáng trong và lạnh của tháng 9, trên nữa là 30 hay 40 khinh khí cầu hình trụ đang từ từ nhô lên. Chúng tôi cho chính phủ một điểm cao về việc chuẩn bị đã được thể hiện rõ ràng và thời gian mà theo hướng dẫn chúng tôi mong đợi có được là 15 phút sắp hết đến nơi, chúng tôi đi vào nơi trú ẩn dành cho mình và được trang bị một chai rượu Brandy và một số thuốc trợ lực thích hợp khác.

        Noi trú ẩn của chúng tôi ở cách cuối phố 90 thước Anh, nó chỉ là một tầng ngầm trống rỗng, bao cát cũng không có, và chủ nhân của sáu căn hộ đã tập trung ở đây rồi. Mọi người đều vui vẻ và hài hước theo phong cách người Anh khi sắp sủa phải đối phó với cái chưa biết. Qua lối của ra, ngó nhìn theo dọc dãy phố vắng ngắt và xuống đám đông ở buồng dưới, tôi tưởng tượng thấy hình ảnh của sự tàn phá và chém giết, các tiếng nổ làm rung chuyển nền đất, các nhà của đổ sập ngổn ngang, bụi mù, các nhân viên cứu hỏa và xe chữa cháy chạy hối hả qua các đám khói cháy, dưới tiếng động cơ của phi cơ địch. Phải chăng tình hình này dành cho tất cả chúng tôi mà trước đó đã không được hướng dẫn về các cuộc không tập khủng khiếp như thế nào? Bộ không lực với bản chất tự cho là quan trọng đã quá tâng bốc sức mạnh của mình. Các người theo chủ nghĩa hòa bình tìm cách khai thác sự sợ hãi của công chúng, và những người trong số chúng tôi đã từ lâu thúc ép phải có một sự chuẩn bị và một không lực mạnh hơn, thì lại bằng lòng với việc họ phải đóng vai trò kích thích, trong khi họ gạt bỏ những dự đoán kinh khủng nhất. Tôi biết, trong những ngày đầu của cuộc chiến tranh, chính phủ đã chuẩn bị trên 250.000 giường bệnh cho nạn nhân của các cuộc không tập. Ít nhất thì ở đây cũng không có sự đánh giá thấp. Giờ đây chúng tôi phải xem sự thật là gì.

        Khoảng 10 phút sau, tiếng rên rỉ lại bật ra, bản thân tôi cũng không tin chắc là đó không phải là sự lặp lại lời cảnh báo trước, nhưng có một người chạy dọc theo phố và hét to "Còi báo yên" và chúng tôi ai nấy về chỗ ở của mình và bắt tay vào việc. Công việc của tôi là đi đến hạ viện. Hạ viện họp đúng vào giờ ngọ với thủ tục chậm rãi và với lời cầu nguyện nghiêm trang và ngắn gọn. Ở đây tôi nhận được giấy của Thú tướng yêu cầu tôi đến phủ Thủ tướng ngay sau khi tan họp... Khi ngồi tại ghế lắng nghe các bài phát biểu, một cảm giác yên tĩnh đến với tôi sau những hồi hộp và cảm xúc sâu sắc trong mấy ngày qua. Tôi cảm thấy thanh thản trong lòng và thấy mình tách khỏi bụi trần. Vinh quang của một nước Anh cổ kính, yêu hòa bình, không có chuẩn bị gì hết, nhưng bật lên ngay theo tiếng gọi của danh dự không chút sợ hãi, làm rung động dữ dội lòng tôi và có vẻ như là nâng vận mệnh của chúng ta lên tới các lĩnh vục tách khỏi các việc trần tục và các cảm xúc vật chất. Tôi tìm cách chuyển tới cuộc họp ở Hạ viện phần nào cái tâm tưởng này, khi tôi phát biểu, cử tọa hưởng ứng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:09:08 PM

        Ông Chamberlain cho tôi biết giờ đây ông ta có thể trao cho tôi bộ Hải quân và dành cho tôi một ghế trong nội các chiến tranh. Tôi vui mừng trước việc này vì tuy không nêu lên vấn đề, tôi dĩ nhiên thích một nhiệm vụ cụ thể hơn là một nhiệm vụ được đề cao bao trùm lên công việc của người khác đã làm và người đó rất có thể là một bộ trưởng không bộ nào mặc dầu rất có uy tín. Ra chỉ thị dễ hơn là làm cố vấn, và càng dễ chịu hơn khi có quyền hành động, dù trong một phạm vi hạn chế, hơn là có quyền được nói dài dòng. Trong trường hợp thứ nhất,  nếu Thủ tướng dành cho tôi sự lựa chọn giữa Nội các Chiến tranh và Bộ Hải quân, thì dĩ nhiên tôi chọn Bộ Hải quân. Giờ đây  tôi có cả hai. Không thấy có ai nói gì cả khi tôi phải chính thức nhận nhiệm vụ từ nhà vua và trên thực tế, tôi chưa làm thủ tục hôn tay cho mãi tới ngày thứ năm. Những giờ phút đầu của cuộc chiến tranh có thể là sống còn đối với hải quân. Tôi báo cho Bộ Hải quân biết là tôi sẽ nhận nhiệm vụ này và tới Bộ Hải quân lúc 6h sáng. Nhận được tin, Bộ đã có lòng tốt báo ngay cho lực lượng hải quân biết là "Winston đã quay trở lại". Và như vậy, tôi quay trở về căn phòng mà tôi đã ra đi với sự đau đớn và buồn rầu 25 năm trước đây, khi việc Huân tước Fisher từ chức đã kéo theo việc tôi bị gạt khỏi ghế Bộ trưởng Hải quân. Tôi ngồi vào ghế và sau lung tôi vài bước là chiếc khung bằng gỗ để treo bản đồ mà tôi đã cho treo năm 1911; Hơn 1/4 thế kỷ đã trôi qua, nhưng hiểm họa từ một quốc gia này còn đe dọa chúng tôi. Một lần nữa, việc bảo vệ quyền của một quốc gia yếu kém bị xúc phạm và xâm lược vô cớ, buộc chúng tôi phải rút kiếm ra khỏi vỏ. Một lần nữa, chúng tôi phải chiến đấu vì cuộc sống và danh dự, chống lại toàn bộ sức mạnh, tính tàn ác của dân tộc Đức, một dân tộc gan dạ, có kỷ luật và cường bạo. Lại một lần nữa! Cho dù như vậy đi!

        Hiện giờ, thành viên nghiệp vụ trong ban lãnh đạo của Bộ Hải quân đến gặp tôi. Tôi có biết qua Dulley Pound trong thời gian trước khi tôi giữ chức Bộ trưởng Hải quân; ông này là một trong những sĩ quan tham mưu được Huân tước Fischer tin cẩn. Tại quốc hội, tôi đã lên án mạnh mẽ việc sắp xếp bố trí đội hình của hạm đội Địa Trung Hải dưới sự chỉ huy của ông ta, vào lúc nước Ý tiến xuống Anbani. Giờ đây chúng tôi gặp nhau trên cương vị những người đồng nghiệp và việc vận hành suôn sẻ bộ máy to lớn của Bộ Hải quân sẽ tùy thuộc vào mối quan hệ thân thiết và thống nhất với nhau về căn bản giữa hai người. Chúng tôi nhìn nhau một cách thân thiện tuy còn nghi ngờ. Nhưng từ những ngày đầu tiên, tình thân thiện và tin cậy lẫn nhau giữa chúng tôi phát triển viên mãn. Tôi đánh giá và tôn trọng phẩm chất cao về cá nhân và nghiệp vụ của Đô đốc Pound. Chiến tranh với những thăng trầm và may rủi của nó giáng những cú đinh tai nhức óc xưởng chúng tôi, tình bạn và tinh thần chiến hữu giữa hai người lại càng trở nên thắm thiết hơn. Bốn năm sau, khi ông ta qua đời vào lúc cuộc đại thắng trên mặt trận Ý, tôi khóc với niềm thương vô hạn tất cả những gì mà Hải quân và đất nước đã mất.
       
*

        Như độc giả có thể biết, tôi có hiểu biết đáng kể về Bộ Hải quân và Hải quân Hoang gia. Bốn năm, từ 1911 đến 1915, khi tôi có bổn phận chuẩn bị hải quân cho chiến tranh và nhiệm vụ điều khiển Bộ Hải quân trong mười tháng đầy gay go, là thời kỳ sôi động nhất của đời tôi. Tôi đã thu thập được một khối lượng rất lớn về tin tức chi tiết và đã có rất nhiều bài học về Hải quân và chiến tranh ngoài biển. Trong lúc nghỉ ngơi tôi đã nghiên cứu và viết rất nhiều về các vấn đề hải quân. Tôi đã nói nhiều về những vấn đề này ở Hạ Viện. Tôi luôn luôn tiếp cận chặt chẽ với Bộ Hải quân và mặc dầu có những 1ời phê phán mạnh mẽ nhất trong những năm đó, tôi vẫn được chia sẻ những tin tức bí mật của Bộ. Bốn năm công tác tại Ủy ban Nghiên cứu Phòng không tôi đã tiếp xúc với tất cả các phát triển hiện đại về rađa, một vấn đề sống còn đối với ngành Hải quân. Tháng 6/1938, Huân tước Chatfield khi đó là Bộ trưởng Bộ Hải quân đã đích thân đưa tôi đi tham quan Học viện chống tàu ngầm tại Porland, và chúng tôi lên khu trục hạm ra biển dự một cuộc diễn tập dùng máy để phát hiện tàu ngầm bằng sóng âm (Asdic). Mối quan hệ thân thiết của tôi với cố đô đốc Henderson, Thanh tra Hải quân cho tới 1938, và những cuộc tranh luận có sự khuyên khích của Đệ nhất Huân tước phụ trách Hải quân tại Quốc hội hồi đó với Huân tước Chatfield về thiết kế của chiến hạm và tuần dương hạm kiểu mới đã giúp chúng tôi có được cái nhìn toàn cảnh về lĩnh vực chế tạo mới. Dĩ nhiên qua những tư liệu được công bố thì lực lượng, thành phần, cấu trúc, về mặt hiện đại cũng như triển vọng của Hạm đội cũng như của Hải quân Đức, Ý, Nhật là điều quen thuộc đối với tôi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:13:27 PM

*

        Một trong những việc làm bước đầu khi nhận phụ trách Bộ Hải quân và trở thành một thành viên của Nội các Chiến tranh, là lập riêng cho mình một Cục Thống kê. Để làm việc này, tôi dựa vào giáo sư Lindeman, một người bạn thân tín của tôi từ nhiều năm. Chúng tôi cùng nhau xây dựng quan điểm và đánh giá nhận xét về toàn cục. Giờ đây tôi bố trí giáo sư tại Bộ Hải quân cùng với nửa tá các nhà thống kế và kinh tế và tin là họ không quan tâm đến cái gì hết ngoài cái xác thực ra. Nhóm người có khả năng này qua tiếp cận với tất cả các tin tức chính thức và dưới sự hướng dẫn của Lindeman, có khả năng thường xuyên cung cấp cho tôi các bản và biểu đồ minh họa toàn bộ cuộc chiến tranh trong chừng mực sự hiểu biết của chúng tôi. Họ nghiên cứu và phân tích với một sự kiên định không mệt mỏi tất cả các giấy tờ thuộc cấp bộ lưu hành trong Nội các Chiến tranh, và cũng tiến hành tất cả các cuộc điều tra mà bản thân tôi muốn làm.

        Vào thời điểm đó, không có tổ chức thống kê chung của chính phủ. Từng bộ trình bày chuyện của mình trên cơ sở số liệu và dữ liệu của mình. Bộ Không quân kể chuyện theo cách này thì Bộ Chiến tranh theo cách khác. Bộ Cung cấp và Bộ Thương mại tuy nghĩa có giống nhau nhưng lại dùng các thổ ngữ khác nhau. Tình hình này đôi khi dẫn đến hiểu lầm và lãng phí thời gian khi vấn đề này hoặc vấn đề khác đi đến thời điểm quyết định trong Nội các. Tuy vậy, ngay từ lúc đầu, tôi đã có nguồn tin đều đặn của riêng mình, các tin cục bộ đều ăn khớp với nhau và với tổng thể. Tuy rằng, đầu tiên tin tức chỉ có phạm vi cục bộ, nhưng nó đã giúp tôi tạo lập được một cách nhìn đúng đắn và thấu đáo về vô vàn sự kiện và số liệu ùn ùn xảy ra và đến với chúng tôi.

        Tình hình đặc biệt về Hải quân năm 1914 không hề diễn lại. Khi đó chúng tôi bước vào cuộc chiến với tỷ lệ 16 trên 10 đối với tàu lớn và 2 trên 1 đối với tuần dương hạm. Trong những ngày đó, chúng tôi huy động tám hải đội đặc nhiệm gồm tám thiết giáp hạm, mỗi hải đội có kèm theo một hải đội tuần dương hạm và một tiểu đội tàu nhỏ, tất cả cùng với các lực lượng  tuần dương hạm quan trọng biệt phái, và tôi chờ đón một hành động tổng thể của một hạm đội tuy yếu hơn nhưng vẫn đáng sợ. Giờ đây, Hải quân Đức chỉ mới bắt đầu được xây dựng lại nhưng không có đủ sức để lập được một chiến tuyến. Hai chiến hạm lớn Bismark và Tirpitz của họ phải được coi là đã vi phạm hiệp ước về mức trọng tải, và chỉ còn ít nhất một năm nữa là đóng xong. Các tuần dương hạm loại nhẹ, Schamhorst và Gneisenau, mà người Đức đã gian lận đưa mức trọng tải từ 10.000T lên 26.000T, đã được đóng xong năm 1938. Ngoài ra, nước Đức còn có sẵn sàng ba chiến hạm loại bỏ túi trọng tải 10.000T, chiếc Đô đốc Grafspee, Đô đốc Scheer, và Deutschland cùng với hai tuần dương hạm 10.000T có trang bị pháo bắn nhanh 8 inches, sáu tuần dương hạm loại nhẹ, sáu khu trục hạm và các tàu nhỏ hơn. Như vậy, về mặt tàu nổi, việc kiểm soát các đại dương của chứng ta không gặp thử thách gì. Không có gì để hoài nghi là Hải quân Anh vượt hẳn Hải quân Đức về số lượng, cũng như không có lý lẽ để cho là khoa học huấn luyện, kỹ năng về bất cứ mặt nào của Anh không hoàn hảo ngoài việc thiếu tuần dương hạm và khu trục hạm, Hải quân Anh được duy trì ở mức cao thường xuyên. Nó phải đối phó với hằng hà vô số nhiệm vụ to lớn hơn là đối với một kẻ thù.

        Ý chưa tuyên chiến, và đã rõ ràng là Mussolini đang chờ cơ hội. Trong tình hình không chắc chắn này và để có biện pháp đề phòng cho tới khi mọi việc của chúng tôi được sắp xếp xong xuôi, chúng tôi nghĩ tốt nhất là chuyển hướng hạm đội đi vòng quanh mũi Hảo vọng. Tuy nhiên, bên cạnh uy thế của chúng tôi so với cả Đức và Ý, còn có hạm đội hùng mạnh của Pháp dưới sự quản lý tài năng của Đô đốc Darlan đã được đưa lên trình độ cao nhất về sức mạnh và tính hiệu quả mà Hải quân Pháp đạt được từ thời kỳ quân chủ. Nếu Ý trở thành thù địch, thì chiến trường đầu tiên của chúng ta phải là Địa Trung Hải. Trừ trong trường hợp được coi như là một thuận tiện nhất thời, tôi hoàn toàn phản đối tất cả các kế hoạch bỏ điểm trung tâm mà chỉ đơn thuần bịt hai đầu của một biển lớn trong nội địa. Riêng lực lượng của Anh, thậm chí không có sự viện trợ của Hải quân Pháp và quân cảng của nước này, cũng đủ để đẩy lùi các tàu Ý khỏi biển và phải hoàn toàn kiểm soát được Địa Trung Hải trong thời gian hai tháng, thậm chí sớm hơn.

        Dư luận báo chí, đi đầu là tờ Times tán thành nguyên tắc một Nội các chiến tranh gồm không quá năm hoặc sáu bộ trưởng và các vị này phải hoàn toàn không phải lo công việc của bộ. Người ta lập luận là riêng việc này có thể giúp có được một cách nhìn rộng rãi và thống nhất về chính sách chiến tranh, đặc biệt là trên các khía cạnh rộng lớn hơn của chiến tranh. Nói một cách ngắn gọn "năm người không làm gì hết ngoài việc điều hành chiến tranh" được coi là lý tưởng. Tuy nhiên có nhiều lập luận thực tiễn chống lại cách làm này. Một nhóm các chính khách được tách ra, cho dù quyền hạn trên danh nghĩa của họ có lớn đến mây, cũng ở thế rất bất lợi trong việc xử lý với các Bộ trưởng các bộ có liên quan một cách sống còn. Điều này đặc biệt đúng với các Bộ Quân chủng. Các nhân vật của Nội các chiến tranh không thể có trách nhiệm trực tiếp đối với các sự kiện xảy ra hàng ngày. Họ có thể có những quyết định quan trọng, họ có thể góp ý kiến trước về đại thể hoặc phê bình sau đó, nhưng không ai có thể ngang tầm được, ví dụ với ông Bộ trưởng Bộ Hải quân hoặc một Quốc vụ khanh về Chiến tranh hoặc Không quân là người biết mọi chi tiết của vấn đề, được sự ủng hộ về chuyên môn của các bạn đồng nghiệp và chịu gánh nặng trách nhiệm về hành động. Thống nhất với nhau thì ít có việc mà họ không giải quyết được, nhưng thông thường trong họ có nhiều ý kiến khác nhau. Ngôn từ và lý lẽ không khi nào chấm dứt, trong khi đó dòng thác chiến tranh vẫn cuồn cuộn chảy. Bản thân các Bộ trưởng trong Nội các chiến tranh đương nhiên thiếu tự tin trong việc thách thúc ông Bộ trưởng phụ trách là người có đầy đủ sự kiện và các con số. Họ cảm thấy có lỗi làm tăng thêm sự căng thẳng của những người đang nắm quyền điều hành. Vì vậy, họ có khuynh hướng trở thanh những người giám sát và bình luận ngày càng nặng về mặt lý thuyết, hàng ngày đọc không biết bao nhiêu tài liệu mà kể, nhưng lại nghi ngại về sử dụng sự hiểu biết của mình như thế nào mà không hỏng nhiều hơn là được. Luôn luôn họ không làm gì hơn là đóng vai trọng tài hoặc tìm ra một sự dàn xếp cho những cuộc tranh chấp liên bộ. Do đó, các bộ trưởng phụ trách bộ Ngoại giao và các bộ tác chiến nhất thiết phải là thành viên không tách rơi được của cơ quan tối cao.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:13:59 PM

        Thông thường, ít nhất một số trong "Năm ông lớn" được chọn trên cơ sở ảnh hưởng chính trị của họ hơn là vì kiến thức và năng khiếu về các hoạt động quân sự. Vì vậy, các con số bắt đầu phình ra quá xa vượt khỏi khung hạn chế được hình dung lúc ban đầu. Dĩ nhiên, nơi nào mà bản thân Thủ tướng trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, thì đạt được một sức ép mạnh. Bản thân tôi khi được sắp xếp công tác, tôi không muốn có những Bộ trưởng không có tác dụng xung quanh mình. Tôi thích giao dịch với các thủ trưởng các tổ chức hơn là các cố vấn. Mọi người đều phải hoàn thành tốt công việc hàng ngày và phải chịu trách nhiệm về một nhiệm vụ nhất định, và như vậy không gây rối để mà gây rối hoặc ngồi vẽ voi chơi. Kê hoạch ban đầu về một Nội các chiến tranh của Chamberlain hầu như được triển khai ngay lập tức. Do tình thế bắt buộc. Nó bao gồm Huân tước Halifax Bộ trưởng Ngoại giao, Sir Samuel Hoare, Huân tước Chưởng Ấn. Sir John Simon Bộ trưởng Tài chính, Huân tước Chatfield Bộ trưởng phối họp công việc quốc phòng, và Huân tước Hankey, Bộ trưởng không bộ nào. Ngoài ra con có thêm các Bộ trưởng các Bộ Quân chủng trong đó tôi là một cùng với ông Hore Belisha, Bộ trưởng chiến tranh và Sir Kingsley Wood, Bộ trưởng không quân. Thêm vào đó, điều cần thiết là ông Eden giờ đây lại tham gia chính phủ làm Bộ trưởng các nước tự trị, và ông John Anderson Bộ trưởng Nội vụ và An ninh tuy không phải là thành viên thực sự của Nội các chiến tranh, nhưng đều phải có mặt trong mọi trường hợp. Như vậy tổng số của chúng tôi là 11.

        Trừ tôi ra, tất cả các bộ trưởng đã điều khiển công việc của chúng ta từ nhiều năm hoặc có tham gia vào các tình thế mà hiện nay chúng ta phải đương đầu trong cả hai lĩnh vục ngoại giao và chiến tranh. Tôi không tham gia công việc từ gần 11 năm. Do vậy tôi không có trách nhiệm gì đối với quá khứ hoặc với bất cứ nhu cầu nào về chuẩn bị mà giờ đây đã rõ ràng. Trái lại, trong sáu hoặc bảy năm qua, tôi liên tục là người tiên đoán các tai họa mà nay đã xảy ra một cách rộng lớn. Như vậy, với trong tay bộ máy hải quân hùng mạnh chịu gánh nặng duy nhất của việc tác chiến thực sự trong giai đoạn này, tôi không cảm thấy có bất cứ bất lợi nào và nếu tôi cảm thấy như vậy, thì bất lợi đó sẽ được lòng tốt và trung thanh của Thủ tướng và người đồng sự của ông ta tháo gỡ. Tôi biết rất rõ tất cả các vị này. Phần lớn chúng tôi đã cùng phục vụ trong 5 năm trong nội các của ông Baldwin, và dĩ nhiên chúng tôi thường xuyên tiếp xúc với nhau, vui vẻ hoặc bất đồng, mặc dù cảnh sắc sinh hoạt của nghị viện thay đổi hàng ngày. Tuy nhiên, ngài John Simon và tôi là đại diện cho một thế hệ chính trị gia già hơn. Trong thời gian 15 năm tôi đã phục vụ không liên tục trong các chính phủ Anh và ông ta cũng suýt soát như vậy trước khi bất cứ những người khác nào có chân trong nhà nước. Tôi đã là Thủ trưởng Bộ Hải quân hoặc Bộ Vũ khí trang bị suốt thời gian dồn nén của Đại chiến 1. Tuy Thủ tướng hơn tôi vài tuổi, tôi hầu như là người già nua duy nhất. Điều này có thể đáng khiển trách, trong thời kỳ khủng hoảng, khi cần có xung lực của những người trẻ và những ý kiến mới là lẽ tự nhiên và phổ biến. Bởi vậy, tôi thây phải hết sức cố gắng để bắt kịp thế hệ hiện nay đang nắm quyền cũng như những người khổng lồ trẻ và mới, có thể xuất hiện ở bất cứ thời điểm nào. về điều này tôi dựa vào sự hiểu biết cũng như mọi sự tận tâm và trí lục có thể có được.

        Nhằm mục đích này, tôi phải dựa vào cách sống mà tôi buộc phải chấp nhận tại Bộ Hải quân những năm 1914 và 1915 và tôi thấy cách đó đã kéo dài thêm nhiều khả năng làm việc hàng ngày của tôi. Buổi chiều tôi bao giờ cũng đi ngủ sớm ít nhất phải một giờ càng nhiều hơn càng tốt và lợi dụng triệt để cái giời phú cho là nằm xuống là ngủ ngay và ngủ sâu. Như vậy tôi có thể dồn công việc của một ngày rưỡi vào một ngày. Thiên nhiên không có ý định để loài người làm việc từ 8 giờ sáng đến tận nửa đêm mà không được cái khoan khoái, tĩnh dưỡng của sự lãng quên thần thánh này dù chỉ trong 20 phút, nhưng cũng đủ để khôi phục lại toàn bộ sinh lực. Tôi lấy làm tiếc phải lên giường nằm vào mọi buổi trưa như đứa con nít nhưng lại có cái lợi là có thể làm việc thâu đêm cho tới 2 giờ sáng, thậm chí muộn hơn, đôi khi kéo tới đến tận sáng và bắt đầu ngày mới từ 8 đến 9 giờ sáng. Tôi quen với lề thói nay trong suốt cuộc chiến tranh và tôi giới thiệu nó với người khác nếu và khi nào họ thấy cần phải có khoảng thời gian nghỉ dài để khai thác mẩu cuối cùng của cấu trúc con người. Đô Đốc Pound, Đệ nhất Huân tước lãnh đạo nghiệp vụ Bộ Hải quân, ngay sau khi nhận ra kỹ thuật của tôi, đã áp dụng cho mình và thay vì lên giường nằm thì ông ta ngồi thiêm thiếp trong chiếc ghế bành. Ông ta thậm chí còn đi xa hơn nữa là luôn luôn đi ngủ trong các phiên họp nội các. Tuy nhiên chỉ một tiếng nói đến hải quân cũng đủ làm ông tỉnh và hoạt động ở mức tỉnh táo nhất. Không có gì lọt khỏi cái tai cảnh giác hoặc cái đầu óc tỉnh táo của ông.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:14:21 PM

*

        Trong khi đó thì xung quanh bàn họp của Nội các, chúng tôi đang chứng kiến sự tàn phá nhanh chóng và hầu như máy móc một quốc gia nhỏ yếu hơn theo phương pháp và ý đồ lâu dài của Hitler. Trên 1500 máy bay hiện đại lao vào Ba Lan và đội quân xâm lược bao gồm 50 sư đoàn trong đó có toàn bộ 9 sư đoàn cơ giới và thiết giáp, về số lượng và trang bị, người Ba Lan không phải là địch thủ của quân xâm lược, kể cả về mặt đội hình, sắp xếp cũng vậy. Họ dàn trải toàn bộ lực lượng dọc theo các biên giới của quê hương. Họ không có lực lượng dự trữ ở trung ương. Trong khi đó đường lối kiêu hãnh và ngạo mạn trước sự ham muốn của Đức, họ lại sợ bị coi là khiêu khích khi huy động đúng lúc chống lại các khối quân tập hợp xung quanh họ. Ba mươi sư đoàn đại diện cho 2/3 số quân tại ngũ đã sẵn sàng hoặc hầu như đã sẵn sàng để đối phó với cú đụng độ đầu tiên. Tốc độ của các sự kiện và sự can thiệp mãnh liệt của không quân Đức làm cho số quân còn lại chưa kịp kéo ra tiền tuyến thì đại sự đã đổ vỡ và chỉ tham chiến trong thảm họa cuối cùng. Như vậy người Ba Lan phải đối diện với số quân nhiều gấp đôi trên một vành đai dài mà đằng sau lưng mình không có gì hết, mà cũng không phải họ chỉ bị thua kém về số lượng. Họ kém Đức về mặt phẩm cấp pháo binh và chỉ có duy nhất một lữ đoàn thiết giáp để đối phó với 9 lữ đoàn tăng "con báo" như đã được gọi như vậy. Họ có 12 lữ đoàn ky binh đã chiến đấu dũng cảm bằng kiếm và lao chống lại các đoàn xe tăng và thiếp giáp đông như kiến, nhưng không thể gây ra thiệt hại gì cho đối phương cả. 900 máy bay thuộc tuyến một mà một nửa có thể là loại hiện đại, bị đánh bất ngơ, nhiều chiếc bị phá hủy trước khi kịp cất cánh. Trong hai ngày, không quân Ba Lan coi như là bị xóa sổ. Trong bảy ngày, quân đội Đức đã ngoạm sâu vào đất Ba Lan. Kháng chiến khắp nơi, tuy dũng cảm nhưng vô hiệu, về danh nghĩa gồm khoảng hai triệu người đã không còn tồn tại như là một lực lượng có tổ chức, sau hai tuần lễ.

        Bây giờ đến lượt người Xô Viết, cái mà giờ đây họ gọi là "Dân chủ" đi vào hoạt động. Ngày 17/9 quân đội Nga ào ạt tràn qua biên giới phía đông Ba Lan hầu như không có phòng thủ gì hết và tiến về phía tây trên một mặt trận rộng. Ngày 18 họ gặp người cộng sự Đức tại Brest Litovsk. Ớ đây, trong cuộc chiến tranh trước, người Bônsêvích đã xé bỏ những hiệp ước long trọng ký với đồng minh phương tây và dàn xếp hòa bình riêng rẽ với Hoàng đế Đức. Giờ đây, tại Brest-Litosvsk, những người Cộng sản Nga lại cười hơ hớ và bắt tay với nước Đức của Hitler. Sự tàn phá và đè nén người Ba Lan diễn ra nhanh chóng, sự kháng chiến của thành phố Vacsava phần lớn do công dân Ba Lan nổi dậy là huy hoàng nhưng vô vọng. Sau nhiều ngày oanh tạc dữ dội bằng phi và pháo mà đại bộ phận được nhanh chóng đưa đến từ mặt trận yên tĩnh phía tây bằng các con đường quốc lộ lớn bình hành. Đài phát thanh Vacsava không phát bài quốc ca Ba Lan nữa và Hitler vào trong thành phố đổ nát. Trong một tháng, mọi việc đều xong, và một quốc gia 35 triệu người rơi vào nanh vuốt dữ dằn của những kẻ tìm kiếm không chỉ sự chiếm đóng mà cả sự nô lệ hóa và thực tế là tiêu diệt trên số lượng lớn.

        Chúng ta đã thấy một kiểu hoàn hảo về chiến tranh chóp nhoáng hiện đại; họp đồng chặt chẽ giữa lục và không quân trên chiến trường; oanh tạc dữ dội các tuyến giao thông và bất cứ thành phố nào có vẻ là một mục tiêu hấp dẫn; trang bị một đạo quân thứ năm năng động, tự do sử dụng gián điệp và quân nhảy dù. Va trên hết những cú thọc không gì chống nổi của các đạo quân thiết giáp lớn. Người Ba Lan không phải là người cuối cùng chịu đựng sự thử thách khó khăn và đau đớn này.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:15:19 PM

18

NHIỆM VỤ CỦA BỘ HẢI QUÂN

        Khắp thế giới ngạc nhiên khi cuộc tấn công khốc liệt và đột ngột của Hitler vào Ba Lan và lời tuyên chiến với Đức của Anh và Pháp chỉ được tiếp theo bằng một cuộc tạm dừng kéo dài và khiên cưỡng. Trong một bức thư riêng được người viết tiểu sử của mình công bố, Chamberlain tả giai đoạn này là "chiến tranh hủy diệt" và tôi thấy cụm từ này quá đúng và biểu cảm nên tôi đã lấy nó làm tiêu đề cho thời kỳ này. Quân đội Pháp không tấn công vào Đức. Tổng động viên xong, họ ém quân dọc toàn bộ chiến tuyến và án binh bất động. Không có không tập trên đất Anh trừ hoạt động trinh sát, cũng không có máy bay Đức xuất kích vào Pháp. Chính phủ Pháp yêu cầu chúng tôi không tấn công bằng phi cơ vào Đức, nói là như vậy sẽ gây ra việc trả đũa vào các nhà máy quốc phòng không được bảo vệ của họ. Chúng tôi tự bằng lòng với việc thả truyền đơn để khuấy động hơn tinh thần người Đức. Mọi người hết đỗi ngạc nhiên trước giai đoạn kỳ lạ này của chiến tranh trên mặt đất cũng như trên không. Pháp và Anh thụ động còn Ba Lan thì trong một vài tuần đã bị cỗ máy chiến tranh hùng mạnh của Đức tàn phá hoặc khuất phục. Hitler không có lý do gì để than phiền về điều này cả.

        Trái lại, ngoài biển chiến tranh nổ ra ác liệt ngay từ giờ phút đầu và Bộ Hải quân trở thành trung tâm của các sự kiện. Ngày 3/9 toàn bộ tàu bề của chúng tôi đi lại trên thế giới với công việc làm ăn thông thương của mình. Đột nhiên họ gặp các tàu ngầm của Đức phục kích sẵn từ trước, đặc biệt là ở các lối vào phía tây. Vào 9 giờ tối đêm đó tàu chở khách 13.500T Athenia trên hành trình bị trúng phóng ngư lôi thủng vỏ và chìm với tổn thất là 112 mạng người trong đó có 28 công dân Mỹ, chỉ trong vài giờ hành động tàn bạo nay làm toàn thế giới căm phẫn. Chính phủ Đức đề phòng mọi sự hiểu lầm ở nước Mỹ, lập tức ra một tuyên bố mới rằng chính tôi đã ra lệnh đặt một quả bom trên tàu để thông qua việc phá tàu mà làm tổn thương đến quan hệ Đức - Mỹ. Sự man trá này cũng được một số giới không thân thiện tin. Ngày 5 và 6 các tàu Bosnia, Royal Sceptre và Rio Claro bị đánh chìm ngoài khơi bờ biển Tây Ban Nha. Cả 3 chiếc đều là những tàu quan trọng. Bộ Hải quân đã có những chương trình toàn diện để nhân lên số tàu chống tàu ngầm, và một chương trình sản xuất khu trục hạm trong thời chiến, cả hai loại lớn, nhỏ và tuần dương hạm với nhiều tàu phụ trợ đã sẵn sàng tới từng chi tiết và mặc nhiên chuyển qua giai đoạn thực hiện cùng với việc tuyên chiến. Cuộc xung đột trước đã chúng minh ưu điểm tốt nhất của hệ thống đoàn hộ tống và chúng tôi đã áp dụng ngay lập tức ở biển phía bắc Đại Tây Dương. Trước cuối tháng các đoàn tàu hộ tống hoạt động đều đặn ra đi từ sông Thames và Liverpool và từ Halifax, Gibraltar và Freetown quay về. Toàn bộ sự cần thiết sống còn phải tiếp tế cho đất liền và phát triển khả năng làm chiến tranh của chúng ta giờ đây phải hứng chịu tức thời sự tổn thất đau đớn  của việc mất các cảng phía nam Ái Nhĩ Lan. Nó hạn chế lớn bán kính hoạt động của các khu trục hạm vốn đã ít ỏi của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:16:14 PM

*

        Sau việc thiết lập hệ thống đoàn tàu, hộ tống, cái cần thiết sống còn tiếp theo là một căn cứ an toàn cho Hải quân. Trong một cuộc chiến với Đức, Scapa Flow là điểm chiến lược đích thực từ đó Hải quân Anh có thể kiểm soát các lối ra từ Biển Bắc và thực hiện việc phong tỏa, và tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải thị sát Scapa vào lúc sớm nhất. Do đó tôi được phép nghỉ sinh hoạt nội các hàng ngày và đi đến Wick cùng với một nhóm nhỏ nhân viên vào đêm 14/9. Hai ngày tiếp theo, tôi dùng hầu hết thời gian để đi thị sát cảng và các lối vào cảng, các hàng rào gỗ nổi, lưới chắn của cảng. Tôi được đảm bảo là chúng vẫn còn tốt như là ở trong chiến tranh trước, và những cải tiến, phát triển quan trọng đang được thực hiện hoặc đi vào thực hiện. Tôi cùng ở trên kỳ hạm Nelson với ngài Charles Forbes, Tư lệnh hạm đội, và trao đổi không riêng về Scapa mà toàn bộ vấn đề hải quân với ông và các sĩ quan chủ yếu của ông. Phần con lại của hạm đội nấp trong biển hồ Loch Ewe, mà ngày 17 Tư lệnh đưa tôi đến thăm trên kỳ hạm Nelson. Con đường hẹp đi vào biển hồ được chặn bằng nhiều lóp lưới chỉ dẫn, có nhiều tàu tuần tra có hệ thống phát hiện mục tiêu bằng sóng âm (Asdics) và thủy lôi chống tàu ngầm. Hai bên lối vào là hai dãy đồi tím của Scotland nhô lên rực rỡ và huy hoàng. Ý nghĩ của tôi quay trở lại một phần tư thế kỷ vào đúng ngày tháng 9 khác ấy khi tôi là người cuối cùng đến gặp ngài John Jellicoe và các hạm trưởng của ông ở chính cái vịnh này, và thấy họ cùng với các dãy dài chiến hạm và tuần dương hạm dàn ra buông neo, một cái mồi cho những bất trắc tương tự mà giờ đây chúng tôi đang gặp. Đại bộ phận các hạm trưởng và đô đốc đã qua đời, hoặc đã về hưu từ lâu. Các sĩ quan cao cấp chịu trách nhiệm được giới thiệu với tôi khi tôi đến thăm các hạm tàu lúc này thì trước đây lâu là các sĩ quan dưới cấp hạm trưởng, thậm chí dưới cấp thiếu úy. Trước cuộc chiến tranh trước, tôi có thời gian ba năm chuẩn bị trong đó có việc làm quen và thông qua việc sắp xếp đại bộ phận các nhân viên cao cấp, nhưng giờ đây những người này đều là những nhân vật mới, những diện mạo mới. Kỷ luật hoàn hảo, phong cách, dáng điệu, lễ tiết thường nhật, tất cả đều không thay đổi. Nhưng những người mặc quân phục, đeo quân hàm hiện nay thuộc một thế hệ hoàn toàn khác. Chỉ có đại bộ phận hạm tàu là được đóng trong nhiệm kỳ của tôi. Không có chiếc nào là mới cả. Đó là một kinh nghiệm kỳ lạ giống như đột nhiên lập lại kiếp trước. Hình như tôi là tất cả, cái đã sống sót trong cùng một vị trí trong quá khứ. Nhưng không; các sự nguy hiểm cũng sống sót. Nguy hiểm từ dưới mặt nước, và nghiêm trọng hơn với những tàu ngầm của Đức mạnh hơn, nguy hiểm từ trên không, không chỉ đơn thuần là bị phát hiện nơi ẩn nấp là các cuộc oanh kích nặng nề và có thể là hủy diệt!

        Không ai trong một khoảng cách như vậy giữa hai thời điểm, đã hai lần nếm trải cùng một diễn biến kinh khủng. Không ai đã cảm nhận thấy những hiểm nguy của diễn biến đó, và trách nhiệm của người đứng ở cấp cao nhất như là tôi đã cảm nhận hoặc là, xuống một mức tháp nữa hiểu được các vị Bộ trưởng Bộ Hải quân bị xử lý như thế nào khi các chiến hạm lớn bị đánh chìm hoặc công việc đi chệch đường. Nếu, trên thực tế, chúng tôi đang đi lại chu kỳ này lần thứ hai, liệu tôi có phải chịu đựng một lần nữa cái cảm giác đau đớn của việc bị cách chức không?

        Fisher, Wilson, Battenburg, Jellicoe, Pakenham, Sturdee, tất cả đều đã ra di!
        Tôi có cảm giác
        Giống như người đi một mình
        Nơi sảnh đường yến tiệc nào đó vắng ngắt
        Ánh sáng đã mờ tắt
        Các vòng hoa đã héo khô
        Tất cả, trừ hắn, đã ra di.


        Còn sự thử thách cuối cùng và vô hạn mà chúng ta buộc phải lao vào thì sao? Ba Lan trong con hấp hối, Pháp chỉ là cái bóng mơ nhạt của nhuệ khí thiện chiến thời trước; người khổng lồ Nga không còn là đồng minh, thậm chí không trung lập, và khả dĩ trở thành kẻ thù. Ý không phải là bạn. Nhật không là đồng minh. Liệu Mỹ có thể lại có mặt được không? Đế quốc Anh vẫn nguyên vẹn và thống nhất một cách vinh quang, nhưng chuẩn bị tồi, không sẵn sàng. Tuy vậy chúng tôi vẫn kiểm soát được đường bể. Chúng tôi bị thua kém một cách buồn thảm về mặt số lượng đối với thứ vũ khí giết người mới trên không. Dù sao thì ánh sáng đã tắt dần trên cảnh quan. Chúng tôi lên tàu hỏa tại Inverness và đi suốt chiều và đêm về Luân Đôn. Sáng hôm sau, khi xưởng tàu tại Euston, tôi ngạc nhiên thấy Đệ nhất thành viên hải quân của Hội đồng Đô đốc có mặt tại sân ga. Đô đốc Pound có vẻ lo lắng. Tôi được biết một tin không hay: "Chiến hạm Courageous đã bị đánh chìm tôi qua tại kênh Bristol". Chiến hạm Courageous là một trong số các hàng không mẫu hạm già cũ nhất của chúng tôi, nhưng nó lại rất cần lúc này. Tôi cám ơn ông ta đã đích thân đến thông báo cho tôi việc này, và nói: "Chúng ta không thể hy vọng làm chiến tranh như thế này mà lại không có rủi ro xẩy ra lúc này hay lúc khác, trước đây tôi đã thấy khá nhiều rủi ro rồi". Và rồi đi tắm, một ngày vất vả khác bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:16:45 PM

       
*

        Đến cuối tháng chín, chúng tôi có rất ít lý do để phàn nàn với kết quả ban đầu của cuộc chiến ngoài bể. Tôi có thể cảm thấy là tôi đã thực sự tiếp quản một bộ lớn mà tôi quá quen biết và yêu mến với một con mắt cá biệt. Giờ đây tôi biết cái gì đã có trong tay, cái gì sắp có. Tôi biết vị trí của mọi việc, mọi cái. Tôi đã thăm tất cả các quân cảng lớn và gặp toàn bộ các vị tư lệnh. Theo văn bản chứng nhận sự thành lập Bộ Hải quân, thì Bộ trưởng "chịu trách nhiệm trước Nhà vua và Quốc hội về tất cả các công việc của bộ" và chắc chắn là tôi cảm thấy mình sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ trên thực tế cũng như trên hình thức.

        Chúng tôi đã thực hiện bước quá độ rộng lớn, tế nhị, đầy rủi ro từ hòa bình sang chiến tranh. Trong những tuần lễ đầu, việc thương mại rộng khắp thế giới đã phải trả giá vì cuộc tấn công bất ngờ, bừa bãi, trái với thỏa thuận quốc tế, bằng tàu ngầm, nhưng hệ thống tổ chức đoàn hộ tống giờ đây đã được triển khai hoàn toàn và hàng chục đoàn thương thuyền hàng ngày rời cảng của chúng ta, có trang bị súng và một tổ xạ thủ được huấn luyện. Các tàu đánh cá có trang bị máy phát hiện mục tiêu bằng siêu âm, và các tàu nhỏ khác có trang bị thủy lôi, tất cả đều được Bộ Hải quân chuẩn bị tốt trước khi chiến tranh nổ ra và giờ đây tấp nập vào vận hành thử. Tất cả chúng tôi cảm thấy là cuộc tấn công đầu tiên của tàu ngầm Đức vào mậu dịch của nước Anh đã bị bẻ gãy và nguy cơ đã được kiểm soát gắt gao từ đầu đến cuối. Rõ ràng là người Đức sản xuất hàng trăm tàu ngầm và hàng loạt đã được đánh dấu qua các khâu hoàn thiện. Trong 12 tháng, chắc chắn hơn là 18 tháng, chúng tôi phải đón chờ cuộc chiến lớn bằng tàu ngầm diễn ra. Nhưng vào thời gian đó, chúng tôi hy vọng là hàng loạt các hạm đội nhỏ và tàu mới chống tàu ngầm - ưu tiên số một của chúng tôi - sẽ sẵn sàng để đương đầu với ưu thế tương xứng và hữu hiệu.

        Trong khi đó việc chuyển đạo quân viễn chinh sang Pháp cũng diễn ra suôn sẻ, và việc phong tỏa Đức đang được thực hiện bằng các phương pháp giống như trong cuộc chiến tranh trước. Ngoài biển khơi, các tuần dương hạm của chúng ta đang săn tìm để diệt các tàu Đức, đồng thời bảo vệ các tàu vận tải của chúng ta chống lại biệt kích. Việc vận tải của Đức bị khựng lại, và 325 tàu Đức tổng cộng 750.000T bị giữ lại tại các cảng nước ngoài. Đồng minh của chúng ta cũng đóng vai trò của họ. Pháp giữ phần quan trọng trong việc kiểm soát Địa Trung Hải. Trong hải phận quốc gia và vịnh Biscay, trong trận chiến chống tàu ngầm Đức và ở giữa Đại Tây Dương, một căn cứ hùng mạnh đặt ở Dakar là một phần trong các kế hoạch của đồng minh chống lại tàu biệt kích nổi.

        Cùng trong tháng này, tôi sung sướng nhận được một thư riêng của Tổng thống Roosevelt. Tôi gặp ông ta có một lần trong đại chiến trước trong một bữa ăn tối tại khách sạn nhỏ Gray’s Inn và sự hiện diện lộng lẫy của ông ở tuổi thanh xuân và sung súc nhất đã gây ấn tượng lớn đối với tôi. Cơ hội không dành cho cái gì hết, trừ cho lời chào mừng, chúc tụng. Ngày 11, ông ta viết: "Vì ông và tôi có những vị trí giống nhau trong Thế chiến nên tôi muốn ông biết là tôi vui sướng thế nào khi ông lại trở lại Bộ Hải quân. Tôi nhận thức là các vấn đề của ông trở nên phức tạp vì những nhân tố mới, nhưng về cơ bản thì không khác mấy. Cái mà tôi cần ông và Thủ tướng biết là lúc nào tôi cũng hoan nghênh việc cho tôi được biết bất cứ cái gì mà các ông muốn. Lúc nào ông cũng có thể gửi thư có niêm phong qua túi thư riêng của ông hoặc của tôi".

        Tôi sẵn sàng và mau lẹ trả lời ngay, dùng chữ ký của "người Hải quân" và như vậy bắt đầu cuộc trao đổi thư từ lâu dài và đáng ghi nhớ này lên tới mỗi bên gần 1000 lần cho đến khi ông ta mất 5 năm sau đó.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 10:17:19 PM

       
*

        Trong tháng mười, đột nhiên có một sự kiện nổ ra chạm vào điểm nhạy cảm nhất của Bộ Hải quân.

        Có báo cáo là một tàu ngầm Đức vào trong khu vực Scapa Flow và đẩy Đại hạm đội ra ngoài khơi trong đêm 17/10/1914. Báo động này là hấp tấp. Giờ đây, đúng 1/4 thế kỷ (sai lệch xấp xỉ vài ngày) nó đã trở thành đúng. Hồi lh30’ sáng 14/10/1939 một tàu ngầm Đức vượt thủy triều và dòng nước đi sâu vào các vị trí phòng thủ của chúng ta và đánh đắm chiến hạm lớn Royal Oak (có vỏ thép trang bị đại pháo) khi nó ở tư thế buông neo. Trước tiên, trong cả một loạt thủy lôi chỉ có một quả phóng trúng mũi tàu và gây ra một tiếng nổ không rõ lắm. Đô đốc và hạm trưởng trên tàu không thể nào tin được tàu bị trúng ngư lôi vì tàu ở vùng an toàn Scapa Flow, đến mức họ cho là tiếng nổ do một sự cố nào đó trong tàu gây ra. Hai mươi phút trôi qua, tàu ngầm Đức trong hoàn cảnh như vậy, lại nạp đạn vào ống phóng và phóng ra loạt ngư lôi thứ hai. Rồi ba hoặc bốn quả ngư lôi nối tiếp nhau bóc xé đáy tàu. Trong vòng 10 phút tàu nghiêng đi và chìm. Đại bộ phận sĩ quan, binh lính đều ở vị trí của mình, nhưng tàu bị lật nhanh quá cho nên hầu như không ai ở dưới có thể thoát chết được.

        Sự kiện này phải coi như là một thành tựu về sử dụng vũ khí của Đại úy Prien, Hạm trưởng tàu ngầm Đức, nó đã gây ra một cú sốc trong dư luận công chúng. Nó có thể gây thảm họa về mặt chính trị cho bất cứ Bộ trưởng nào chịu trách nhiệm về những sự phòng bị trước khi có chiến tranh. Vì là một người mới đến, tôi được miễn trách nhiệm trong các tháng đầu này, hơn nữa phe đối lập không tìm cách lợi dụng để khai thác điều bất hạnh này. Tôi hứa sẽ điều tra một cách triệt để nhất. Sự kiện xảy ra cho thấy tầm quan trọng là như thế nào đối với việc hoàn thiện bố phòng Scapa chống lại mọi kiểu tấn công trước khi cho phép dùng nó. Phải mất sáu tháng trước khi chúng tôi có thể hưởng những thuận lợi về mặt chỉ huy của nó.

        Hiện tại, một hiểm họa mới và kinh khủng đe dọa cuộc sống  chúng tôi. Trong các tháng 9 và 10, gần một tá tàu buôn bị đánh đắm tại lối vào các cảng của chúng tôi, mặc dầu cảng đã được rà quét mìn cẩn thận. Bộ Hải quân lập tức nghi là mìn từ trường đã được sử dụng. Điều này không có gì mới lạ đối với chúng tới, thậm chí chúng tôi đã bắt đầu sử dụng nó trên một qui mô nhỏ vào thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh lần trước nhưng người ta chưa nhận thức được hết tổn thất khủng khiếp gây ra bởi thủy lôi lớn được phi cơ hoặc tàu thủy thả ở dưới mặt nước ở một độ sâu đáng kể. Không có được một mìn mẫu thì không thể thiết kế được cách chống lại. Trong các tháng 9 và 10, tổn thất tàu bè vì mìn chủ yếu từ phía Đồng minh hoặc các nước trung lập đã lên tới 56.000T, và sang tháng 11 Hitler được khuyên khích, đã nói bóng gió về một loại "vũ khí bí mật" mới của mình không gì địch nổi. Một đêm, khi tôi đang ở Chartwell thì đô đốc Pound đến gặp tôi với vẻ lo lắng sâu sắc. Sáu tàu bị đánh đắm ở các lối vào sông Thames. Hàng ngày, hàng trăm tàu ra vào các cảng của Anh và sự sống còn của chúng tôi phụ thuộc vào hoạt động của tàu bè. Các chuyên gia của Hitler có thể đã cho y biết lối đánh kiểu này sẽ đưa đến sự tan vỡ của chúng tôi. May mà y bắt đầu bằng một qui mô nhỏ với số lượng và khả năng chế tạo hạn chế. May mắn cũng đến với chúng tôi trực tiếp hơn. Ngày 12/11 giữa 9 và 10 giờ tối, một máy bay Đức bị phát hiện là đã thả một vật lớn bằng dù xuống bờ gần Shoeburyness. Bờ biển ở đây bị bao bọc bởi bùn trên các vùng rộng lớn lộ ra khi thủy triều xuống và rõ ràng là bất cứ vật đó là cái gì nó có thể được quan sát và thu hồi ở mực nước cạn. Đây là cơ hội hãn hữu của chúng tôi. Trước nửa đêm hôm đó, hai sỹ quan có nghiệp vụ cao, thuyền phó Ouvry và Lewis thuộc chiến hạm HMS Vemon, một cơ sở phụ trách phát triển các vũ khí dưới mặt nước, được gọi tới Bộ Hải quân để Đệ nhất thành viên hải quân của Hội đồng Đô đốc và tôi phỏng vấn và nghe báo cáo về kế hoạch của họ. Vào lúc 1 giờ 30’ sáng họ trên đường đi xe hơi đến Southend để làm một việc nguy hiểm là thu hồi vật lạ. Sáng sớm ngay 23 trước rạng đông, trong đêm tối như mục, với một cái đèn tín hiệu họ phát hiện có mìn ở độ sâu khoảng 500 thước Anh so với mực nước cao, nhưng vì lúc đó thủy triều đang dâng, cho nên họ chỉ có thể quan sát và chuẩn bị phá sau đợt nước cao tiếp theo.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Một, 2019, 11:03:33 PM

        Việc phá mìn khó khăn này bắt đầu vào đầu giờ buổi chiều, lúc mà một trái mìn thứ hai được phát hiện cũng ở trên đám bùn gần chiếc thứ nhất. Ouvry và Thượng sĩ Baldwin giải quyết trái thứ nhất, con Lewis và thủy thủ có khả năng Vearncombe đứng chờ ở một khoảng cách an toàn đề phòng sự cố. Sau mỗi việc làm đã được sắp xếp trước, Ouvry ra hiệu cho Lewis để anh này nắm được vấn đề khi đến lượt phải phá trái mìn thứ hai. Cuối cùng sự phối hợp những cố gắng của bốn người để xử lý trái thứ nhất đã được tưởng thưởng đích đáng. Chiều tối hôm đó, một vài người trong nhóm đến báo cáo Bộ Hải Quân là trái mìn được lấy ra nguyên vẹn và đang được đưa đến Portsmouth để nghiên cứu kỹ lưỡng. Tôi hân hoan tiếp họ. Tôi tập hợp 80 hoặc 100 sĩ quan và viên chức trong một phòng rộng nhất và thính giả hồi hộp theo dõi câu chuyện và cảm nhận được tất cả cái gì là nguy khốn.

        Toàn bộ sức mạnh và khoa học của Bộ Hải Quân giờ đây được áp dụng vào những cuộc thí nghiệm và thử nghiệm cũng nhanh chóng đưa lại kết quả. Ngay lập tức chúng tôi tiến hành đủ mọi cách đầu tiên thiết kế các phương pháp mới tích cực tấn công mìn bằng cách rà mìn và kích thích hạt nổ, và sau đến các phương pháp phong thủ thụ động cho tất cả các tàu đối với mìn có thể có trong các kênh chưa rà quét, hoặc rà quét không có hiệu quả. Phương pháp này được gọi là "giải từ" và ngay lập tức áp dụng cho tất cả các loại tàu. Nhưng các thiệt hại nghiêm trọng khác tiếp tục xảy ra. Chiếc Belfast là một tuần dương hạm mới bị đánh mìn ngày 21/11 tại Firth of Forth và ngày 4/2 chiến hạm Nelson bị đánh mìn trên đường đi vào Loch Ewe. Tuy vậy hai chiếc này vẫn có thể cập một cảng có xưởng sửa chữa và đóng tàu. Điều đáng được chú ý là tình báo Đức không chọc thủng được các biện pháp bảo mật các tổn thương của tàu Nelson cho tới khi chữa xong và tiếp tục hoạt động được. Tuy vậy ngay từ ban đầu hàng ngàn người Anh đã phải biết sự việc đích thực.

        Kinh nghiệm sớm cho chúng tôi các phương pháp mới và đơn giản hơn về giải từ. Thành công có một tác động tinh thần rất lớn, nhưng để đánh bại những cố gắng của địch, chúng tôi chủ yếu dựa vào công việc đáng tin cậy, dũng cảm không mệt mỏi của các tàu rà quét mìn và nhiệm vụ của các chuyên gia kỹ thuật cần cù đã tự thiết kế và tự cung cấp các thiết bị mà họ dùng. Từ thời gian này trở đi, mặc dầu có những thời kỳ lo âu, nguy cơ về mìn luôn luôn được kiểm soát và cuối cùng thì sự nguy hiểm bắt đầu lui dần. Nên suy nghĩ kỹ về mặt này của thủy chiến. Trường họp xảy ra toàn bộ cố gắng phục vụ chiến tranh phải được dành ra một phần có ý nghĩa cho việc chống mìn. Một sản lượng lớn về vật tư và tiền của phải tách ra từ các nhiệm vụ khác và hàng ngàn người ngày đêm đã xả thân phục vụ riêng cho việc quét mìn. Tháng 6/1944 đạt con số cao nhất khi gần 6000 người tham gia vào việc này. Không sợ hãi cái gì hết, lòng hăng hái và tinh thần của đội thương thuyền tăng cao trước các phức tạp chết người của cuộc tấn công bằng mìn và các biện pháp đối phó hữu hiệu của chúng tôi. Sự vất vả và kiên dũng của họ đã cứu chúng tôi. Trong lĩnh vục rộng lớn hơn của hoạt động hải quân, vị trí của chúng tôi chưa bị thực sự thách thức. Thách thức phải đến và sự mô tả hai cuộc xung đột lớn với biệt kích trên mặt nước của Đức có thể kết thúc báo cáo của tôi về chiến tranh ngoài biển trong năm 1939.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 09:47:08 PM

       
*

        Tuyến phong tỏa mỏng và dài của chúng tôi ở phía bắc Orkneys mà đại bộ phận là tàu buôn có trang bị thành tàu tuần dương được chiến hạm yểm trợ từng quãng, dĩ nhiên phải bị các chiến hạm lớn của Đức tấn công đột ngột, đặc biệt là hai tuần dương hạm bọc thép và có pháo lớn là chiếc Schamhorst, và chiếc Gneisenau. Chúng tôi không thể phòng ngừa nổi việc đó. Hy vọng của chúng tôi là đưa những kẻ đột nhập vào cuộc giao chiến quyết định.

        Cuối chiều ngày 23/11, tàu buôn trang bị thành tuần dương hạm Rawalpindi trong khi tuần tra giữa Băng đảo và Faroes phát hiện một tàu chiến địch đang tiếp cận mình một cách nhanh chóng. Rawalpindi tưởng đó là chiến hạm bỏ túi Deutschland và báo cáo về như vậy. Đại úy Kennedy, sĩ quan chỉ huy có thể không có ảo tưởng gì về kết quả của một cuộc đụng độ như vậy. Tàu của ông ta chỉ là một tàu chở khách cải biến thành chiến hạm có trang bị bốn đại bác 6 inches một bên mạn tàu và tôi đoán chừng tàu địch có sáu pháo cỡ 11 inches và một trang bị trợ chiến hùng mạnh. Tuy vậy, ông ta chấp nhận rủi ro, quyết tâm đánh đến cùng. Địch nổ súng ở khoảng cách 10.000 thước Anh và tàu Rawalpindi phản pháo. Một hành động xạ kích từ một mạn tàu như vậy không thể kéo dài được, nhưng cuộc chiến cứ tiếp diễn cho tới khi toàn bộ pháo không hoạt động được nữa và Rawalpindi bốc cháy, và sau khi trời tối được một lúc thì chìm cùng với cái chết của hạm trưởng và 270 thủy thủ thuyền viên anh dũng.

        Thực ra không phải là chiến hạm Deutschland mà là hai tuần dương hạm Schamhorst và Gneisenau đã tham chiến. Các tàu này đã rời nước Đức hai ngày trước đây để tấn công các đoàn tàu hộ tống của chúng tôi, nhưng sau khi đã gặp và đánh chìm tàu Rawalpindi và vì sợ bị lộ, nên chúng đã bỏ phần còn lại của nhiệm vụ và quay ngay về Đức. Do vậy cuộc chiến đấu anh dũng của chiếc Rawalpindi không phải là vô ích. Tuần dương hạm New Castle đi tuần gần đấy nhìn thấy lửa đạn và đáp ứng ngay lời kêu gọi của Rawalpindi, cùng với tuần dương hạm Delhi kéo đến nơi thì thấy tàu đang bốc cháy vẫn chưa chìm: New Castle rượt đuổi tàu địch và vào 6hl5’ tối phát hiện ra hai tàu trong bóng đêm và mưa to. Một trong tàu đó được nhận ra là tuần dương hạm bọc sắt cỡ to và nhanh, nhưng do tối trời nên tàu địch đã chạy thoát.

        Hy vọng lừa được 2 chiến hạm tối quan trọng của Đức vào vòng chiến bao trùm lên tất cả mọi người có liên quan, và Tư Lệnh trưởng lập tức đưa ra khơi toàn bộ hạm đội của ông ta. Vào ngày 25, 14 tuần dương hạm Anh cha đi xát lại biển bắc cùng với sự phối hợp của khu trục hạm và tàu ngầm và sự yểm hộ của hạm đội trợ chiến. Nhưng cơ may không đến, chẳng phát hiện ra tàu nào hết, cũng chẳng thấy có dấu hiệu địch vận động theo hướng tây. Mặc dù thời tiết khắc nghiệt, việc săn lùng miệt mài vẫn được duy trì trong 7 ngày, và cuối cùng chúng tôi biết là chiếc Scharnhorst và Gneisenau đã quay lại biển Baltic an toàn. Được biết là sáng ngày 26 hai tàu này đã đi qua tuyến tuần tra gần bờ biển Na Uy của tàu tuần dương chúng tôi. Sương mù dày quá nên hai bên đều không nhìn thấy nhau. Radar hiện đại có thể đảm bảo được việc tiếp cận, nhưng khi đó lại không có radar. Dư luận công chứng là bất lợi đối với Bộ Hải quân chúng tôi không thể làm cho thế giới bên ngoài hiểu rõ được cái rộng bao la của đại dương hoặc là những cố gắng lớn lao của Hải quân trong rất nhiều năm. Sau hơn 2 tháng chiến tranh và những mất mát quan trọng, chúng tôi không có gì phát hiện ở phía bên kia cả, mà chúng tôi cũng không thể trả lời được câu hỏi "Hải quân đang làm cái gì?"


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 09:48:15 PM

       
*

        Sự tấn công vào thương thuyền của chúng tôi bằng tàu nổi biệt kích có thể khủng khiếp hơn nếu có thể được duy trì. Ba tàu chiến bỏ túi mà Đức có theo Hiệp ước Versailles đã được thiết kế với ý nghĩ sẽ là khu trục hạm để phá tàu buôn. Chúng có pháo 11 inches, tốc độ 26 hải lý và lá chắn thép được ép với một kỹ sảo bậc thầy để tàu không vượt quá giới hạn trọng tải 10.000T. Không một tuần dương hạm đơn chiếc nào của Anh có thể sánh được với chúng. Các tuần dương hạm có pháo 8 inches của Đức hiện đại hơn tàu của chúng tôi và nếu được dùng như là tàu biệt kích chống tàu buôn thì sẽ là một sự đe dọa khủng khiếp. Ngoài ra, kẻ thù có thể sử dụng những người giả trang là thủy thủ tàu buôn và có trang bị nhiều vũ khí. Chúng tôi con nhớ như in những tổn thất của tàu Emden và Koenigsberg năm 1914 cũng như của trên 30 chiến hạm và các người có vũ trang giả dạng là thủy thủ thương thuyền, đã buộc chúng tôi phải phối hợp đế tiêu diệt.

        Trước khi chiến tranh nổ ra, có những tin tức và lời đồn là một hoặc nhiều chiến hạm bố trí đã rời khỏi nước Đức. Hạm đội nội địa đi lùng sục nhưng không thấy gì. Bây giờ chúng tôi biết là tàu Deutschland và Grafspee đã rơi Đức trong khoảng 21 đến 24 tháng 8, đã lọt qua vùng nguy hiểm và đang tự do ở ngoài biển khơi trước khi chúng tôi tổ chức được việc phong tỏa và tuần tra phía Bắc. Ngày 3/9, tàu Deutschland, sau khi đi qua eo biển Đan Mạch, đang phục kích gần Greenland. Tàu Graf Spee đã qua con đường Đại Tây Dương, không bị phát hiện và hiện ở cách xa Azores về phía nam. Mỗi tàu đều có một tàu phụ đi theo để tiếp tế nhiên liệu và vật tư. Ban đầu cả hai không động tĩnh gì và mất hút trong biển khơi. Họ không bị nguy hiểm gì cho đến khi họ xuất kích. Ngày 30/9, tàu buồm Clement của Anh trọng tải 5000T đi độc lập bị Graf Spee đánh chìm ngoài khơi Pernambuco. Nghe tin nay Bộ Hải quân như bị điện giật. Đó là tín hiệu mà chúng tôi đang chờ. Lập tức các nhóm săn tàu địch được thành lập bao gồm các hàng không mẫu hạm hiện có, có sự yểm trợ của các chiến hạm bọc thép, tuần dương hạm bọc thép, tuần dương hạm thường. Mỗi nhóm gồm hai hoặc ba tàu được coi là có đủ khả năng bắt và tiêu diệt một chiến hạm bỏ túi.

        Trong các tháng tiếp theo, việc truy tìm hai tàu biệt kích kéo theo sự thành lập tất cả 9 nhóm săn tàu bao gồm 23 tàu cỡ lớn và mạnh. Hoạt động xuất phát từ các căn cứ cũ phân tán trên khắp Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương, các nhóm này có thể kiểm soát được các vùng chủ chốt mà tàu bè chúng tôi qua lại. Muốn tấn công việc thương mại của chúng tôi, kẻ địch cũng phải có mặt tại một địa điểm trong tầm với ít nhất của một trong các vùng chủ chốt.

        Tàu Deutschland có nhiệm vụ quấy phá tuyến giao thông huyết mạch xuyên Tây bắc Đại Tây Dương của chúng tôi đã làm sáng tỏ những mệnh lệnh của mình với một sự thận trọng thấu đáo. Trong hai tháng rưỡi trên biển nó không khi nào tiếp cận một đoàn tàu hộ tống. Nó hạ quyết tâm tránh các lực lượng Anh và vì vậy không vượt quá hai vụ đánh đắm trong đó có một tàu Na Ủy nhỏ. Đầu tháng 11, nó lầm lũi quay về Đức, lại qua đường bắc cục. Tuy nhiên riêng sự hiện diện có mục đích của chiếc tàu loại mạnh này trên con đường thông thương chính của chúng tôi đã tạo ra một sự căng thẳng đối với các tàu hộ tống và các nhóm săn lùng tàu địch ở bắc Đại Tây Dương. Trên thực tế, chúng tôi thích nó hành động thực sự hơn là sự đe dọa không rõ ràng mà nó biểu hiện.

        Tàu Graf Spee táo bạo hơn, giàu trí tưởng tượng hơn cả và sớm đã trở thành trung tâm chú ý ở nam Đại Tây Dương. Cách làm của nó là xuất hiện trong chốc lát tại một địa điểm nào đó, tuyên bố là đã diệt được địch và rồi biến mất trên Đại Tây Dương hoang vu không có đường đi lối lại gì hết. Sau lần xuất hiện thứ hai, xa hơn về phía nam con đường mũi Hảo Vọng trong đó nó đã đánh đắm một tàu duy nhất, nó lại mất hút trong gần một tháng và các đội săn tàu của chúng tôi đã đi tìm ngang dọc khắp nơi, khắp chốn và có lệnh phải cảnh giác đặc biệt đối với vùng Ấn Độ Dương. Đây đúng là nơi đến của nó và ngay 15 tháng 11 nó đã đánh chìm một tàu chở dầu nhỏ tại kênh Mozambique, giữa Madagascar và đại lục. Như vậy, giả vờ là mình có mặt tại Ấn Độ Dương để kéo việc săn tàu về hướng này, Langsdorff hạm trưởng, một người có đẳng cấp cao nhanh chóng vòng quanh trở lại vượt mũi Hảo Vọng ở một cự ly khá xa, và đi vào Đại Tây Dương. Hành động này không qua được dự kiến trước của chúng tôi, nhưng việc rút lui của Langsdorff quá nhanh nên chúng tôi không thực hiện được kế hoạch chặn bắt. Bộ Hải quân không có cách nào để biết rõ là trên thực tế có một hay hai tàu biệt kích đang đi lại, lảng vảng, dò la, và đã có những cố gắng ở cả Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương. Chúng tôi cũng ngờ rằng tàu Spee là tàu cùng loại với tàu Scheer. Sự mất cân đối giữa lực lượng của địch và những biện pháp phản công mà chúng tôi buộc phải có là vấn đề phiền toái. Nó nhắc lại cho tôi những tuần lễ lo âu trước hành động tại Coronel và sau đó tại Falkland Islands tháng 12/1914, khi mà chúng tôi phải chuẩn bị tại 7 hoặc 8 điểm khác nhau ở Thái Bình Dương và nam Đại Tây Dương cho chuyến đi tới của Đô đốc Von Halder Spee với sự ra mắt sớm của loại tàu kiểu Scharnhorst và Gneisenau. Một phần tư thế kỷ đã trôi qua, nhưng chuyện như đánh đố vẫn không thay đổi. Vói một cảm giác thực sự nhẹ nhõm, chúng tôi được biết là một lần nữa tàu Spee lại xuất hiện trên cung đường Cape - Free Town, đánh chìm tàu Doric star và một tàu khác vào ngày 2 tháng 12 và thêm một chiếc nữa vào ngày 7.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 09:51:37 PM

*

        Từ đầu cuộc chiến, Đại tá hải quân Harwood có nhiệm vụ đặc biệt quan tâm bảo vệ tuyến tàu về Anh đi lại ngoài khơi River Plate và Rio de Janeiro. Ông ta tin chắc là sớm hay muộn tàu Spee sẽ đến Plate, nơi có nhiều ảnh hưởng tốt nhất. Ông đã suy nghĩ kỹ về các chiến thuật mà ông sẽ dùng đến khi đụng độ. Các tuần dương hạm Cumberland và Exeter có pháo 8 inches cùng với Ajax và Achilles có pháo 6 inches (chiếc sau cũng là của Tân Tây Lan chủ yếu do người Tân Tây Lan vận hành) của ông ta có khả năng không những bắt kịp mà còn phá hủy được. Tuy nhiên, với các nhu cầu về nhiên liệu và chỉnh trang lại thì khó lòng có đủ cả bốn chiến hạm vào "ngày hành động". Nếu quả như vậy, thì vấn đề có thể tranh cãi được. Khi nghe tin tàu Doric Star bị đánh chìm ngày 2 tháng 12 Harwood đã đoán đúng. Tuy tàu ở cách xa trên 3.000 hải lý, ông cho là tàu Spee có lẽ đi về hướng Plate. Vói một sự may mắn và khôn ngoan, ông ước tính tàu có thể đến vào ngày 13. Ông ra lệnh cho toàn bộ các lực lượng sẵn có phải tập trung ở đó vào ngày 12 tháng 12. Than ôi! tàu Cumberland đang phải chỉnh trang lại tại Falklamds; nhưng vào buổi sáng ngày 13, tàu Exeter, Ajax và Achilles cùng đi với nhau ở trung tâm các đường hàng hải ngoài khơi của sông đổ ra bể. Khá chắc chắn, đến 6hl4’ sáng, thấy có khói ở phía đông. Cuộc đụng độ được chờ đợi từ lâu đã đến

        Trên tàu Ajax, Harwood bố trí lực lượng của mình theo cách tấn công chiến ham bỏ túi từ nhiều ngả xa cách nhau để địch bị lúng túng trong việc sử dụng hỏa lực, và đưa hải đội nhỏ của mình mở hết tốc lực xông vào. Thoạt nhìn, hạm trưởng Langsdorff cho rằng mình phải đối phó với một tuần dương hạm loại nhẹ và hai khu trục hạm, và ông ta cũng phóng hết tốc lực lên phía trước, nhưng ít phút sau ông nhận ra được chất lượng của đối phương và biết rằng một trận tử chiến sắp xảy ra. Hai bên đôi phương đang áp sát vào nhau với tốc độ gần 50 hải lý/giờ. LangsdoríT chỉ còn có một phút để quyết định: Việc đúng đắn mà ông làm là quay hướng khác ngay lập tức để giữ kẻ địch càng lâu càng tốt trong tầm đại pháo 11 inches ưu việt của mình mà lúc đầu phía Anh không thể phản pháo được. Như vậy ông đã mang lại cho hỏa lực ổn định của mình cái lợi là hiệu số giữa cộng thêm và trừ bớt tốc độ. ông rất có thể gây tổn thương nặng cho một trong những kẻ thù của mình trước khi bất cứ kẻ thù nào trong đám ấy có thể nã súng vao ông. Trái lại, ông đã quyết định không thay đổi cách làm và đi tới chỗ tàu Exeter. Do đó hầu như hai bên đều đồng thời cùng hành động. Chiến thuật của Đại tá hải quân Harwood tỏ ra có lợi thế. Ngay từ các giai đoạn sớm nhất của cuộc chiến, pháo 8 inches của tàu Exeter đã nã hàng loạt đạn vào tàu Spee, trong khi đó các tuần dương hạm với pháo 6 inches cũng xạ kích rất và có hiệu quả. Chẳng mấy chốc tàu Exeter bị trúng đạn, tháp pháo B bị phá sập, thông tin liên lạc trên cabin chỉ huy bị phá hủy và hầu hết các người trên đó bị chết hoặc bị thương, tàu tạm thời không thể điều khiển được nữa. Tuy vậy, vào thời điểm này, địch cũng không thể tiếp tục coi thường các tuần dương hạm có pháo cỡ 6 inches, và tàu Spee chuyển hỏa lục chính sang các đối tượng này, thành ra chiếc Exeter được yên thân trong lúc khó khăn này. Bị bắn phá từ ba phía, chiến hạm Đức thấy phía Anh tấn công quá rát, bèn sớm nhả khói mù để chuyển hướng với ý đồ rõ ràng là đi về phía River Plate. Langsdorff lẽ ra phải làm việc này sớm hơn.

        Sau lần thay đổi hướng này, tàu Spee một lần nữa lại tấn công tàu Exeter và tàu này bị trúng nặng đạn 11 inches. Toàn bộ pháo phía trước bị hỏng, phía giữa thân tàu bốc cháy, thiệt hại to lớn. Hạm trưởng Bell thoát nạn khi cabin chỉ huy bị nổ, và tập hợp quanh mình hai hoặc ba sĩ quan tại trạm điều khiển phía đuôi tàu và giữ cho tàu hoạt động với tháp pháo duy nhất còn lại cho mãi tới 7h30’, khi áp suất không còn nữa thì pháo này cũng hỏng nốt. Ông có thể làm gì hơn được nữa. Đến 7h40’, tàu Exeter đổi hướng đi để tiến hành sửa chữa và không tiếp tục tham chiến nữa.

        Các tàu Ajax và Achilles đã ở tư thế truy đuổi, tiếp tục hành động với tinh thần sôi nổi. Tàu Spee chĩa toàn bộ pháo nặng vào hai tàu này. Đến 7h35’ hai tháp pháo phía đuôi tàu bị phá tung và tàu Achilles cũng bị tổn thất. Hai tuần dương hạm loại nhẹ này không phải là địch thủ của đối phương về mặt hỏa lực, và khi thấy đạn được đang cạn dần, Hardwood trên tàu Ajax quyết định ngừng đánh đến tận đêm tối để có cơ may tốt hơn trong việc sử dụng có hiệu quả pháo loại nhẹ của mình và có thể cả thủy lôi nữa. Vì vậy, ông cho tàu nhả khói để chuyển hướng và địch cũng không đuổi theo. Cuộc giao chiến ác liệt này kéo dài lh20’. Trong thời gian còn lại của ngày, tàu Spee đi về Montevedeo, các tuần dương hạm Anh bám sát, thỉnh thoảng hai bên có đối pháo. Quá nửa đêm một chút, Spee vào Montevideo và nằm lại để sửa chữa những chỗ bị hỏng, lấy thêm đồ tiếp tế, đưa thương binh xưởng, chuyển nhân viên sang một tàu buôn Đức và báo cáo với Quốc trưởng. Tàu Ajax và Achilles nằm ở phía bên ngoài quyết tâm bám sát địch từng bước cho đến ngày nó tận số nếu nó tiếp tục phiêu lưu. Trong khi đó thì vào đêm 14, tàu Cumberland rồi Falklands và chạy hết tốc độ đến thế chỗ của tàu Exeter bị tổn thất nặng nề. Việc có mặt của chiếc tuần dương hạm có pháo 8 inches này rút ngắn khoảng cách tương quan lực lượng giữa hai bên trong một tình thế không chắc chắn.

        Ngày 16 tháng 12, Hạm trưởng Langsdorff điện cho Bộ tu lệnh Hải quân Đức biết việc trốn thoát là vô vọng. "Yêu cầu quyết định là phải đánh chìm tàu mặc dù của sông Plate không đủ chiều sâu, hay là nên chôn tàu".

        Tại một cuộc họp do Hitler chủ trì, có mặt của Raeder và Jodi, câu trả lời sau đây đã được quyết định:

        "Bằng mọi cách, tìm cách kéo dài thời gian ở các vùng thủy phận trung lập... Nếu có thể được thì mở đường qua Buenos Aires - không chôn tàu ở Uruguay - Nếu đánh chìm tàu thì tìm cách phá tàu triệt để".

        Đúng như vậy, trong chiều ngay 17, tàu Spee chuyển trên 700 người với hành lý và lương thực sang một chiếc tàu buôn Đức đậu tại cảng. Tiếp ngay sau đó Đô đốc Harwood được tin là tàu đang nhổ neo. Hồi 6hl5’ chiều, trước đám rất đông đúng nhìn, tàu rời cảng, từ từ ra khơi và được các tuần dương hạm Anh hăm hở đón chờ. Đến 8h54’ tối khi mặt trời lặn, phi cơ của chiếc Ajax đưa tin: "Tàu Graf Spee đã tự cho nổ tung". Langsdorff đau quặn tim vì tàu của mình không còn nữa và hai ngày sau đó ông ta tự sát bằng súng.

        Như vậy cuộc thử thách thứ nhất bằng tàu nổi đối với mậu dịch của nước Anh trên mặt các đại dương đã chấm dứt. Không có tàu biệt kích nào xuất hiện cho tới mùa xuân 1940. Những tàu này dễ tránh khỏi bị phát hiện, nhưng mặt khác lại có thể bị khống chế bằng các lực lượng ít hơn so với lực lượng cần thiết để phá hủy một chiến hạm bỏ túi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 09:55:58 PM

19

MẶT TRẬN TRÊN ĐẤT PHÁP

        Ngay khi chiến tranh nổ ra, đội quân viễn chinh của Anh gọi tắt là "B.E.F" bắt đầu chuyển sang Pháp. Vào trung tuần tháng 10, bốn sư đoàn Anh tạo thành hai quân đoàn nhà nghề đã ở vị trí của mình dọc theo biên giới Pháp - Bỉ và đến tháng 3/1940 có thêm sáu sư đoàn được phái đến để bổ sung, như vậy tổng số là 10 sư đoàn. Vói số quân tăng thêm, chúng tôi tiếp quản thêm nhiều tuyến. Dĩ nhiên chúng tôi không tiếp cận với địch ở bất cứ điểm nào. Khi BEF tới vị trí được qui định, họ thấy đã có một hào chống tăng nhân tạo khá hoàn hảo được chuẩn bị sẵn dọc theo tuyến một và cứ cách nhau khoảng 1.000 thước Anh lại có một boong ke rộng và dễ nhìn thấy, có bố trí súng máy và súng chống tăng bắn dọc theo hào. Cũng có cả một vành đai liên tục bằng giây thép gai. Đại bộ phận công việc của bộ đội chúng tôi trong các mùa thu và mùa đông kỳ dị nay là tập trung cải tiến công sự phòng ngự của Pháp và tổ chức một kiểu phong tuyến Siegfried. Tuy có băng nhưng công việc xúc tiến nhanh. Ảnh chụp từ trên không cho thấy tốc độ mà người Đức đang phát triển tuyến Siegfried của họ từ Moselle lên phía Bắc. Chứng tôi có vẻ như theo kịp họ mặc dù họ có nhiều thuận lợi về nguyên vật liệu trong nước và lao động bắt buộc. Các căn cứ rộng lớn được thiết lập, đường xá cải tiến, và đường sắt khổ rộng được đặt trên một cung dài 100 dặm. Xấp xỉ 50 sân bay mới và các bộ phận vệ tinh được phát triển hoặc cải tiến. Phía sau tuyến chúng tôi những số lượng lớn nguyên vật liệu, vũ khí trang bị, được xếp trong kho dọc các tuyến giao thông. Dự trữ tiếp tế đủ cho mười ngày được thiết lập giữa sông   

        Seine và sông La Somme và phụ thêm bảy ngày nữa cho phía bắc sông La Somme. Dự trữ phụ này đã cứu vãn được quân đội sau khi quân Đức chọc thủng phòng tuyến. Do tình hình yên tĩnh bao trùm, dần dần nhiều cảng phía bắc Le Havre được đưa vào sử dụng lần lượt và sau cùng chúng tôi sử dụng tất cả 13 cảng Pháp.

*

        Năm 1914 tinh thần của quân đội và dân tộc Pháp rất hăng, hùng hục cương quyết kịch liệt tấn công. Chủ nghĩa của họ là nước yếu hơn về mặt số lượng chỉ có thể chống lại sự xâm lăng bằng phản công, không chỉ về chiến lược mà về chiến thuật ở mọi điểm. Giờ đây là một nước Pháp khác hẳn với nước Pháp đã lăn xả vào kẻ thù hồi tháng 8 năm 1914. Tinh thần phục thù đã làm tròn sứ mệnh và đã dốc kiệt lực thành thắng lợi. Những người lãnh đạo nuôi dưỡng nó đã chết từ lâu. Nhân dân Pháp đã kinh qua sự tàn sát khủng khiếp một triệu rưỡi đồng bào của mình. Trong đầu óc đại bộ phận người Pháp, hành động phản công gắn với những thất bại ban đầu của cuộc tấn công ác liệt năm 1914, với cuộc đẩy lùi của tướng Nivelle năm 1917, với sự dãy chết kéo dài của các trận La Somme và Passchendaele, và trên hết với nhận thức hỏa lực của vũ khí hiện đại đem lại sự tàn phá cho kẻ tấn công. Ở Pháp cũng như ở Anh đều không có sự hiểu biết thực sự về hậu quả của một sự kiện mới có thể làm cho xe thiết giáp chịu đựng được hỏa lực của pháo binh và có thể tiến với tốc độ 100 dặm một ngày. Một cuốn sách minh họa vấn đề này do tướng De Gaulle công bố mấy năm trước đã không có được sự hưởng ứng. Quyền lực của Thống chế Petain già nua trong hội đồng chiến tranh tối cao đã ảnh hưởng sâu nặng đến tư duy quân sự của Pháp trong việc không tiếp thu các ý kiến mới, và đặc biệt là làm nản lòng cái được gọi một cách cũ kỹ là "Vũ khí tấn công".

        Vói sự hiểu biết sau này, chính sách về chiến lũy Maginot thường bị lên án. Chắc chắn là nó tạo ra một tâm lý phòng ngự. Tuy vậy, trong việc phòng ngự một đường biên giới dài hàng trăm dặm, thì dùng pháo đài càng nhiều càng tốt làm vật cản luôn luôn là một sự thận trọng khôn ngoan và như vậy tiết kiệm được việc sử dụng bộ đội trong các vai trò tĩnh tại và trên hết "ép sự xâm lăng có tiềm lục phải theo một hướng nhất định". Nếu được sử dụng đúng theo kế hoạch chiến tranh của Pháp thì công của chiến lũy Maginot là lớn đôi với nước Pháp. Có thế coi nó như chứa đựng một dãy dài các điểm xuất kích bất ngờ vô giá, và trên hết, là phân cách các đoạn lớn của phòng tuyến thành phương tiện tích lũy tổng dự trữ hay là "Đội quân chiến lược dự trữ". Nếu tính đến sự mất cân bằng về dân số giữa Pháp và Đức, thì phòng tuyến Maginot phải được coi là một biện pháp khôn ngoan và đứng đắn. Thực vậy, ta lấy làm lạ là nó lại không được kéo dài tới ít nhất là dọc theo sông Meuse, và như vậy nó có thể được dùng làm một lá chắn đáng tin cậy để cho thanh kiếm tấn công, nặng và sắc của Pháp, được tự do hoành hành. Nhưng thống chế Pétain đã phản đối sự kéo dài này. Ông ta một mực cho rằng dãy Ardennes không phải là lối xâm nhập vì địa hình của nó. Do đó nó đã bị gạt bỏ. Trong dịp tôi đến thăm Metz năm 1937, tướng Giraud có giải thích cho tôi những quan niệm về phản công của chiến lũy Maginot. Tuy nhiên quan niệm này không được thực hiện, và phòng tuyến này không những đã hút những số lượng lớn về binh lính và kỹ thuật viên được đào tạo kỹ, mà còn tác động tiêu hao sức mạnh về chiến lược quân sự và sự cảnh giác của quốc gia.

        Sức mạnh mới của không quân được đánh giá đúng là một yếu tố cách mạng trong mọi cuộc hành quân. Xem xét các số lượng tương đối nhỏ về phi cơ của phía bên này cũng như bên kia, vào thời gian này, ta thấy tác dụng của không quân thậm chí đã bị thổi phòng và đại bộ phận phi cơ chủ yếu được dùng cho việc phòng thủ bằng cách gây khó khăn cho việc tập trung và giao liên của các binh đoàn lớn một khi được đưa vào tấn công. Ngay cả thời kỳ động viên cũng được Bộ Tư lệnh tối cao Pháp coi là gay go nhất vì có khả năng đường sắt bị phá hủy, tuy rằng số lượng phi cơ Đức cũng như của Đồng Minh là quá ít để làm được một nhiệm vụ như vậy. Những suy nghĩ này của các tư lệnh không quân là theo đường lối đúng đắn và được các năm cuối cuộc chiến tranh chứng minh khi mà không lực đã tăng lên gấp từ 10 đến 20 lần. Ở giai đoạn đầu, suy nghĩ như vậy là quá sớm.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 09:57:52 PM

*

        Ở Anh có câu nói đùa là Bộ Chiến Tranh lúc nào cũng đang chuẩn bị cho cuộc chiến tranh cuối cùng. Nhưng câu này có thể đúng với các bộ khác và các nước khác và nó chắc chắn là đúng với quân đội Pháp. Tôi vẫn có cảm giác về thế mạnh hơn của việc phòng ngự miễn là nó được chỉ đạo một cách tích cực. Tôi không có trách nhiệm và cũng không được thông tin đều đặn để làm một sự đo lường mới. Tôi biết là sự tàn sát chém giết của chiến tranh trước đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân Pháp. Người Đức đã có thời gian để xây phòng tuyến Siegfried. Thật là khủng khiếp khi đẩy những người còn lại của nước Pháp vào bức tường lửa và xi măng cốt sắt này! Trong đầu tôi, cách nhìn trong những tháng đầu của cuộc thế chiến thứ hai này, không bất đồng với quan điểm chung về phòng ngự, và tôi tin là vật cản chống tăng và pháo dã chiến được bố trí một cách thông minh với đạn được thích hợp có thể ngăn cản hoặc phá hủy xe tăng trừ trong trường hợp trời tối đen hoặc có sương mù, tự nhiên hay nhân tạo. Trong các vấn đề mà đấng Tối cao đặt ra cho những người hèn mọn dưới quyền, sự việc ít khi lặp lại hai lần, hoặc nếu chúng có vẻ như vậy thì có một vài biến thể làm vô hiệu việc phổ cập hóa thái quá. Đầu óc con người, trừ trường hợp có thiên tài đặc biệt, không thể vượt qua được những kết luận đã được khẳng định và nó là môi trường trong đó mình được nuôi dưỡng và giáo dục. Tuy nhiên sau tám tháng bất động ở cả hai bên, chúng tôi thấy Hitler tung ra một cuộc tấn công rộng lớn, đi đầu là các khối lớn mũi nhọn, các xe thiết giáp vỏ dày, hoặc pháo bắn không thủng, chọc thủng mọi sự chống đỡ phòng ngự, và lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ thậm chí kể từ khi có thuốc súng, đã làm cho pháo binh có lúc gần như bất lực trên chiến trường. Chúng ta cũng phải thấy sự tăng gia hỏa lực làm cho các trận chiến bớt đổ máu thông qua việc chỉ cần một số lượng rất ít người để giữ một địa hình cần thiết, và như vậy mục tiêu là con người sẽ nhỏ hơn nhiều.

        Dù sao, thời gian mà Pháp có thể tổ chức một cuộc tấn công lớn có lẽ là cuối tuần thứ ba của tháng 9. Nhưng ở thời điểm này thì chiến dịch Ba Lan đã kết thúc. Vào trung tuần tháng 10, người Đức đã có 70 sư đoàn ở mặt trận phía Tây. Ưu thế ngắn ngủi về quân số của Pháp ở phía Tây đã qua rồi. Một cuộc tấn công của Pháp từ biên giới phía đông sẽ làm hở tuyến phía bắc của họ quan trọng hơn nhiều. Ngay lúc đầu nếu quân Pháp giành được thắng lợi, thì trong phạm vi một tháng, họ sẽ có những khó khăn cực kỳ to lớn để giữ được cái đã chiếm được ở phía đông và sẽ là mục tiêu của toàn bộ sức mạnh của cuộc phản kích ở phía bắc từ phía Đức.

        Đây là câu trả lời cho câu hỏi "Tại sao lại giữ thế thụ động cho đến khi Ba Lan bị tiêu diệt?" Nhưng trận đánh này đã thua từ mấy năm trước rồi. Năm 1938 đã có một cơ hội tốt để chiến thắng khi nước Tiệp vẫn còn tồn tại. Năm 1936 cũng có thể không có sự chống đối có hiệu quả. Năm 1933, một tuyên bố từ Genéve có thể đem lại một sự chấp thuận không đổ máu. Tướng Gamelin không phải là người phải khiển trách duy nhất, vì năm 1939 ông ta đã không chấp nhận những rủi ro đã tăng lên vùn vụt từ cuộc khủng hoảng trước mà cả Anh và Pháp đều không dám đương đầu.

       
*

        Vậy những khả năng về một cuộc chiến với Đức tấn công vào Pháp là gì? Dĩ nhiên có ba phương pháp khả dĩ. Thứ nhất, qua đường Thụy Sĩ. Như vậy, có thể phải vòng sườn phía nam của phòng tuyến Maginot nhưng lại có nhiều khó khăn về địa lý và chiến lược. Thứ hai, thọc vào Pháp qua đường biên giới chung. Phương án nay có vẻ không chắc vì quân đội Đức chưa tin là đã được trang bị hoặc vũ trang hoàn hảo cho một cuộc tấn công lớn vào phòng tuyến Maginot. Và thứ ba là qua Hà Lan và Bỉ. Phương án này phải đi vòng sau phòng tuyến Maginot và sẽ không gây ra những tổn thất mà chắc là sẽ đến với một cuộc tấn công trực diện vào các pháo đài cố định. Chúng ta không thể đương đầu với một sự tấn công dữ dội xuyên qua các nước thuộc vùng thấp quá xa như Hà Lan, nhưng vì quyền lợi của đồng minh, nếu có thể được, nên chặn nó ở Bỉ và ở thời kỳ này, có hai tuyến dọc theo đó, đồng minh có thể tiến đến để cứu nước Bỉ nếu quyết định làm như vậy, hoặc là chiếm lấy hai tuyến đó bằng một kế hoạch bí mật và bất ngờ được chuẩn bị chu đáo, nếu được yêu cầu làm như vậy. Tuyến thứ nhất được gọi là tuyến Scheldt. Từ biên giới Pháp đi tới đó không phải là một cuộc hành quân lớn và có ít rủi ro nghiêm trọng. Trong trường hợp tồi tệ nhất, thì giữ lấy nó như là một mặt trận giả và cũng không có hại gì. Trong trường hợp tốt nhất nó có thể được xây dựng củng cố theo tình hình. Tuyến thứ hai thì có nhiều tham vọng hơn. Nó theo sông Meuse đi qua Givet, Dinant và Namur gần Louvain đến Antwerp. Nếu đồng minh chiếm được tuyến này và giữ nó bằng những trận đánh ác liệt, thì cánh quân xâm lược phía phải của Đức sẽ bị khống chế mạnh mẽ; và nếu quân đội Đức tỏ ra kém sức, thì đây sẽ là khúc dạo đầu tuyệt diệu của việc kéo vào và kiểm soát trung tâm cực kỳ quan trọng chế tạo đạn dược vũ khí ở vùng Ruhr.

        Các Tham mưu trưởng viết "Chúng tôi hiểu ý kiến1 của Pháp là với điều kiện người Bỉ còn trụ được trên sông Meuse, quân đội Anh và Pháp phải chiếm tuyến Givet Namur, còn đội quân Viễn chinh Anh thì hoạt động bên cánh trái. Chúng tôi cho rằng chấp nhận kế hoạch này là không đúng trừ phi các kế hoạch có kết hợp với người Bỉ để chiếm giữ tuyến này một thời gian đầy đủ trước khi quân đội Đức tiến lên. Trừ phi thái độ hiện nay của Bỉ có thay đổi và các kế hoạch có thể được chuẩn bị để sớm chiếm tuyến Givet Namur (còn gọi là Meuse Anvers) chúng tôi khẳng định là cản bước tiến quân Đức phải dựa vào các vị trí đã được chuẩn bị trên biên giới Pháp.

        Hội đồng tối cao Đồng minh họp ở Paris ngay 17 tháng mười một. Ông Chamberlain và các Huân tước Halifax, Huân tước Chafield và Ngài Kingsley Wood cùng đi theo. Cuộc họp đã quyết định là: "Xét quan trọng của việc giữ các lực lượng Đức càng xa về phía đông càng tốt, điều chủ yếu là phải có mọi cố gắng giữ được tuyến Meuse Anvers, trong trường hợp Đức xâm lăng Bỉ". Tại cuộc họp, ông Chamberlain và ông Daladier nhấn mạnh tầm quan trọng của quyết định này và từ đó trở đi nó chỉ đạo mọi hành động. Do vậy, trong tư thế này, chúng tôi đã qua mùa đông và chờ mùa xuân. Không có các quyết định mới nào về nguyên tắc chiến lược được các bộ trưởng bộ Tham mưu Anh và Pháp hoặc chính phủ của họ đề ra trong thời gian sáu tháng, phân cách chúng tôi với cuộc tấn công bất ngờ của Đức.

------------------
        1. Được biết là kế hoạch D.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:00:15 PM

 
*

        Trong mùa đông và mùa xuân, quân viễn chinh Anh cực kỳ bận rộn, sắp xếp công việc của mình đâu vào đây, củng cố phòng tuyến và chuẩn bị chiến tranh dù là tấn công hay phòng ngự. Từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất, mọi người đều lam việc cật lực, và thành tích sau chót mà họ đạt được phần lớn là do sử dụng triệt để các cơ hội do mùa đông mang lại: người Anh là một đội quân tốt hơn nhiều vào cuối cuộc chiến tranh hủy diệt. Đội quân đó cũng to lớn hơn. Nhưng khoảng trống khủng khiếp được phản ảnh trên các việc sắp xếp của chúng tôi trước chiến tranh, là sự vắng mặt của thậm chí một sư đoàn thiết giáp trong đội quân Viễn chinh Anh. Nước Anh, cái nôi của xe tăng ở mọi biến thể của nó, giữa các cuộc chiến tranh đã coi nhẹ việc phát triển loại vũ khí sớm chiếm ưu thế trên các chiến trường này, đến nỗi, tám tháng sau khi tuyên chiến, lục quân nhỏ nhưng giỏi của chúng tôi khi thời khắc thử thách đã điểm, chỉ có lữ đoàn xe tăng thứ nhất gồm 17 tăng loại nhẹ bắn đạn 2 lb (llb = 453g) và "Tăng Bộ binh". Chỉ có 23 trong số tăng bộ binh la bắn đạn 21b, những chiếc còn lại toàn là súng máy. Cũng còn có 7 trung đoàn thiết giáp và ky binh Yéomanry được trang bị thiết vận xa và tăng, loại nhẹ, đang trong quá trình chuyển biên chế thành hai lữ đoàn thiết giáp nhẹ.

        Các sự triển khai trên mặt trận Pháp ít hoàn hảo hơn. Trong đại bộ phận bộ đội nhập ngũ theo lệnh động viên, thì tâm lý của người dân được phản ảnh rõ rệt, nhất là khi bộ đội đóng quân ngay trong nước và các sự tiếp xúc với dân chúng là gần gũi. Không thể nói là nước Pháp năm 1939-1940 nhìn chiến tranh với một tinh thần cao hoặc thậm chí với một lòng tin sâu sắc. Chính phủ ổn định thập kỷ qua đã nuôi dưỡng sự bất động và bất mãn. Các thành phần quan trọng, phản ứng trước chủ nghĩa Cộng sản đang phát triển, đã nhảy sang chủ nghĩa Phát xít, sẵn sàng lắng nghe lời lẽ tuyên truyền có kỹ sảo của Goebbel, rồi chuyển nó thành lời bàn tán gẫu, và đưa tin. Như vậy trong quân đội ảnh hưởng chia rẽ của các chủ nghĩa Cộng sản lẫn chủ nghĩa Phát xít có tác động: các tháng chờ đợi dài trong mùa đông đã tạo ra thời gian và cơ hội cho chất độc hại được tạo thành.

        Rất nhiều yếu tố đóng góp vào sự xây dựng một tinh thần lành mạnh trong quân đội, những yếu tố quan trọng nhất là con người phải được sử dụng hết thời gian vào những công việc hữu ích và thích thú. Nhàn cư vi bất thiện. Trong suốt mùa đông có nhiều việc phải làm, công tác huấn luyện đòi hỏi phải được quan tâm liên tục; công sự còn lâu mới hoàn hảo hoặc hoàn thiện - ngay cả chiến lũy Maginot cũng còn thiếu nhiều công sự đã chiến phụ, muốn giữ sức bền bỉ phải luyện tập. Tuy nhiên các người đến tham quan mặt trận Pháp thường ngạc nhiên trước cái không khí bao trùm của sự cách biệt, yên tĩnh, cái chất lượng có vẻ tầm thường của công việc trong tay, cái thiếu hoạt động rõ ràng về bất cứ điều gì. Cảnh các con đường vắng vẻ phía sau phòng tuyến đối lập hoàn toàn với quanh cảnh đi, lại trên các cung đường dài phía sau khu vực Anh.

        Không có gì để hoài nghi là chất lượng của quân đội Pháp đã xấu đi trong mùa đông và họ sẽ chiến đấu tốt hơn trong mùa thu hơn là mùa xuân. Chẳng mấy chốc họ sẽ bị choáng ngợp trước tốc độ và cường độ của cuộc tấn công của Đức. Không phải chờ đến các giai đoạn chót của chiến dịch ngắn ngủi này, thì chất lượng chiến đấu đích thực của người chiến binh Pháp mới thể hiện đến cục độ để bảo vệ đất nước chống lại kẻ thù lâu dài. Nhưng khi đó thì đã quá muộn.

        Ngày 10/1/1940, những sự lo âu về Mặt trận phía Tây đã được khẳng định. Một Thiếu tá tham mưu Đức thuộc Sư đoàn không quân thứ bảy được lệnh mang một số tài liệu đến Tổng hành dinh ở Cologne. Ông ta lỡ tàu hỏa và quyết định đi bằng máy bay. Máy bay của ông ta vượt quá đích và buộc phải hạ cánh xuống đất Bỉ, bị bộ đội Bỉ bắt và tịch thu các giấy tờ mà ông ta tìm cách hủy đi một cách vô vọng. Các giấy tờ nay là toàn bộ kế hoạch thực về sự xâm lăng nước Bỉ, Hà Lan, Pháp đã được Hitler quyết định. Liền sau đó viên Thiếu tá Đức được thả cho về báo cáo sự việc với cấp trên của mình. Tôi được biết chuyện này vào thời gian đó và tôi thấy không tin được việc người Bỉ không có kế hoạch mời chúng tôi tham gia. Nhưng họ không làm gì hết về việc này. Trong ba nước có liên quan, người ta lập luận có thể đó là một đồn tình báo. Nhưng điều này không thể đúng được. Nói người Đức tìm cách làm cho người Bỉ tin là Đức sẽ tấn công Bỉ trong một tương lai gần là điều vô lý. Điều này có thể làm cho người Bỉ làm chính cái việc cuối cùng mà người Đức muốn, cụ thể là lập một kế hoạch cùng với quân đội Anh và Pháp xuất hiện một cách bí mật và nhanh chóng vào một đêm đẹp trời. Vì vậy tôi tin là cuộc tấn công sắp xảy ra đến nơi.

        Chúng tôi kêu gọi nước Bỉ, nhưng vua Bỉ và Bộ Tham mưu chỉ chờ đợi, hy vọng là mọi sự rồi ra sẽ tốt lành. Mặc dầu có chuyện các tài liệu của viên thiếu tá Đức, không có thêm bất cứ loại hành động nào từ phía đồng minh hoặc các nước bị đe dọa. Mặt khác, như chúng ta biết, Hitler gọi Goering đến và khi được biết là các giấy tờ bị tịch thu đúng là các kế hoạch xâm lược hoàn chỉnh đã ra lệnh, sau khi đã bộc lộ hết cơn tức giận của mình, phải chuẩn bị các biến thể mới của các kế hoạch nói trên. Dĩ nhiên, nếu chính sách của Anh và Pháp trong 5 năm trước khi nổ ra chiến tranh có tính cách kiên quyết và cứng rắn , trong sự thiêng liêng của các Hiệp ước và sự chấp thuận của Hội Quốc Liên, nước Bỉ đã có thể cùng đi với các đồng minh của mình và cho phép thành lập một mặt trận chung. Một sự liên minh như vậy mà được tổ chức thích hợp sẽ dựng lên một lá chắn dọc theo biên giới Bỉ ra đến biển chống lại trận vu hồi khủng khiếp ấy, nó hầu như bao ham sự tiêu diệt chúng tôi năm 1914 và có vai trò trong việc tàn phá nước Pháp năm 1940. Trường họp xấu nhất thì Bỉ có thể chịu một số phận không xấu hơn cái mà họ thực tế đang gánh chịu. Khi chúng tôi nhớ lại chính sách không can thiệp của Mỹ, chiến dịch của Pháp giải trừ quân bị của Ramsay MacDonald; những sự cự tuyệt, những sự làm nhục được lặp đi lặp lại mà chúng tôi phải chấp nhận trước việc Đức nhiều lần vi phạm các điều khoản giải trừ quân bị của hiệp ước; sự khuất phục của chúng tôi trước việc Đức vi phạm vùng Rhineland; sự đồng ý của chúng tôi với việc Đức thôn tính nước Áo; hiệp định của chúng tôi ở Munich và sự chấp nhận Đức chiếm đóng Praha - khi chúng tôi nhắc lại tất cả những cái đó, không ai ở Pháp hay Anh có trách nhiệm về hành động của công chúng lại có quyền phê phán nước Bỉ. Trong một thời kỳ chao đảo và lắng dịu, người Bỉ bám vào lập trường trung lập và tự yên lòng với lòng tin có thể giữ chân người Đức trên phòng tuyến của ho., cho tới khi quân đội Anh và Pháp có thể kéo đến cứu họ.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:02:13 PM

20

SCANDINAVIA - PHẦN LAN

        Bán đảo kéo dài 1.000 hải lý từ cửa biển Baltic đến vòng cung Bắc Cực có ý nghĩa chiến lược rộng lớn. Các núi của Na Uy chạy ra biển tạo thành một đường viền liên tục các đảo. Giữa các đảo nhỏ này và đại lục là một hành lang trong vùng lãnh hải mà Đức có thể dùng để đi ra đại dương phía ngoài, gây thiệt hại cho cuộc phong tỏa của chúng tôi. Công nghiệp chiến tranh của Đức chủ yếu trông vào nguồn cung cấp quặng sắt của Thụy Điển, được giao trong mùa hè tại cảng Lulea (Thụy Điển) phía đầu vịnh Bothnia và vào mùa đông, khi nơi này bị đóng băng, tại Narvik thuộc phía tây bờ biển Na Uy. Tôn trọng các "Leads" (tên gọi hải phận được che chắn này) có nghĩa là cho phép toàn bộ sự đi lại được tiến hành dưới cái lá chắn của sự trung lập, trước mũi chúng tôi là người có thế mạnh hơn về hải quân. Bộ tham mưu Hải quân rất lấy làm lo sợ vì cái lợi thế lớn này cho phía Đức, và tôi đã sớm nêu ngay vấn đề này ra trước Nội các.

        Ban đầu việc tôi nêu lên được tiếp nhận thuận lợi. Tất cả các bạn đồng nghiệp của tôi đều có ấn tượng sâu sắc đối với tai ương này, nhưng tôn trọng triệt để sự trung lập của các quốc gia nhỏ bé là một nguyên tắc ứng xử mà tất cả chúng tôi đều tuân theo. Vào tháng chín theo lời mời của các bạn đồng nghiệp và sau khi toàn bộ vấn đề đã được Bộ Hải quân xem xét kỹ luỡng, tôi thảo một văn bản về đề tài này cho Nội các và về việc thuê tàu trung lập có liên quan đến đề tài. Một lần nữa mọi người đều thấy sự cần thiết, nhưng tôi lại không đạt được sự đồng ý để hành động. Lý lẽ của bộ Ngoại giao về vấn đề  trung lập rất mạnh nên tôi không thắng được. Như sẽ thấy rõ, tôi tiếp tục nhấn mạnh quan điểm của mình bằng mọi cách và trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, phải đợi đến tháng 4/40 thì mới có được quyết định liên quan đến cái mà tôi yêu cầu trong tháng 9/1939. Đến tháng 4 thì muộn quá rồi.

        Như giờ đây chúng ta biết, gần như đúng vào thời điểm này, người Đức cũng quan tâm tới hướng này. Ngày 3 tháng 10 Đô đốc Raeder, Tham mưu trưởng Hải quân trình Hitler một đề nghị có tiêu đề "Tạo căn cứ ở Na Uy" ông ta yêu cầu "Quốc trưởng cần được báo tin sớm nhất có thể được về ý kiến của Bộ Tham mưu Chiến tranh Hải quân đối với khả năng kéo dài căn cứ hành quân về phía bắc. Phải xác định chắc chắn xem có thể lập căn cứ ở Na Uy dưới sức ép hỗn hợp của Đức và Nga, nhằm mục đích cải thiện vị thế chiến lược hỗ trợ các cuộc hành quân của chúng ta". Do đó ông ta thảo ra một loạt các văn thư và đệ trình Hitler ngày 10 tháng 10. "Trong các văn thư này" ông viết "tôi nhấn mạnh những bất lợi do người Anh chiếm Na Uy sẽ gây ra cho chúng ta: Sự kiểm soát các lối vào Baltic, các cuộc hành quân trên biển và không tập của chúng ta mất lợi thế bất ngờ; áp lực của chúng ta đối với Thụy Điển cũng chấm dứt. Tôi cũng nhấn mạnh những lợi thế của việc ta chiếm đóng bờ biển Na Uy: lối ra Bắc Đại Tây Dương không có khả năng lập hàng rào bằng mìn Anh như vào năm 1917-1918".

        Rosenberg, một chuyên viên về ngoại giao của đảng Quốc Xã, phụ trách một văn phòng chuyên xử lý các hoạt động tuyên truyền ở nước ngoài, cùng chia sẽ ý kiến của Đô Đốc. Ông ta mơ ước "chuyển đổi Scandinavia thành khái niệm một cộng đồng Bắc Âu bao gồm các dân tộc phương bắc dưới sự lãnh đạo đương nhiên của Đức". Đầu năm 1939 ông nghĩ mình đã phát hiện ra một công cụ trong Đảng Quốc gia Cực đoan của Na Uy do cựu bộ trưởng chiến tranh Na Uy tên là Vidkun Quisling lãnh đạo. Các cuộc tiếp xúc được thiết lập, và hoạt động của Quisling gắn với các kế hoạch của Bộ Tham mưu Hải quân Đức tại Oslo. Quisling và người phụ tá tên là Hagclin đi Berlin ngày 14 tháng 12 và được Raeder đưa đến gặp Hitler để bàn về vấn đề chính trị ở Na Uy. Quisling đến với một kế hoạch cụ thể. Hitler thận trọng về mặt bí mật, làm ra vẻ lưỡng lự không tăng cường sự cam kết và nói ông ta thích có một Scandinavia trung lập hơn. Tuy nhiên, theo Raeder, chính vào ngày hôm đó Hitler ra lệnh cho viên Tổng Tu lệnh chuẩn bị một cuộc hành quân vào Na Uy.

        Dĩ nhiên chúng tôi không hay biết gì về tất cả những điều này.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:03:48 PM

       
*

        Trong khi đó, bán đảo Scandinavia trở thành nơi xảy ra một sự xung đột bất ngờ làm nẩy ra những phản ứng mạnh mẽ ở Anh và Pháp và ảnh hưởng lớn đến việc thảo luận về Na Uy . "Hiệp ước tương trợ lẫn nhau" Staline ký với Esthonia, Latvia và Lithuania đã đưa đến sự chiếm đóng và tàn phá các nước này, và giờ đây Hồng quân và không quân, xét về mặt thuận tiện trong vùng Baltic, đã chặn bằng mọi giá các lối vào Liên Xô từ phía Tây, chỉ còn lại duy nhất con đường qua Phần Lan.

        Đầu tháng 10, Ông Paasikivi, một trong những chính khách Phần Lan đã ký Hiệp ước 1921 với Liên Xô, sang Matxcơva. Yêu cầu của phía Xô Viết mang tầm vóc lớn: Biên giới Phần Lan trên eo bể Karel phải lui về phía sau trên một cự ly đáng kể để đưa Leningrad ra khỏi tầm đại bác của đối phương. Việc nhượng lại một số đảo nhỏ của Phần Lan ở Vịnh Phần Lan; việc thuê cảng duy nhất Petsamo không bị đóng băng của Phần Lan ở biển Bắc cực; và trên hết, việc thuê cảng Hango trên đường vào vịnh Phần Lan để Nga dùng làm căn cứ hải và không quân. Người Phần Lan đã chuẩn bị để nhượng bộ trên mọi điểm trừ điểm cuối. Với các điểm chốt ở vịnh trong tay người Nga thì, dưới con mắt họ, an toàn quốc gia và chiến lược có vẻ như đã tiêu tan. Cuộc đàm phán tan vỡ ngày 13 tháng 11 và chính phủ Phần Lan bắt đầu tổng động viên. Ngày 28 tháng 11 Molotov hủy hiệp ước bất khả xâm phạm ký giữa Phần Lan và Nga; hai ngày sau, người Nga tấn công tại tám điểm trên dọc biên giới dài 1.000 dặm của Phần Lan, và trong buổi sáng cùng ngày thủ đô Helsingfors bị không quân đỏ oanh tạc.

        Ban đầu, người Nga tấn công chủ yếu công trình bố phòng trên biên giới Phần Lan ở eo biển Karel, bao gồm một vùng có công sự phòng ngự rộng khoảng 20 dặm chạy từ Bắc đến Nam xuyên qua một xứ sở của rùng phủ tuyết day. Đó là tuyến gọi là Mannerheim theo tên vị Tổng Tư lệnh, người đã cứu Phần Lan khỏi sự khuất phục của Bônsêvich năm 1917. Sự phẫn nộ bị kích thích ở Anh, Pháp, thậm chí mạnh hơn ở Mỹ trước việc một cường quốc Xô Viết khổng lồ vô cớ tấn công một nước nhỏ, có tinh thần và có trình độ văn minh cao, chang mấy chốc đã chuyển thành sự ngạc nhiên và phấn khởi. Những tuần đầu cuộc chiến không mang lại thắng lợi cho các lực lượng Xô Viết. Quân đội Phần Lan với số lượng chỉ vào khoảng 200.000 người, đã chứng tỏ họ kiên cường như thế nào. Xe tăng Xô Viết gặp sự chống trả dũng cảm và một loại lựu đạn cháy ném tay mới được gọi là "Cocktail Molotov" (lựu đạn chống tăng).

        Có thể chính phủ Xô Viết đã nghĩ rằng sẽ đánh thắng dễ dàng. Những cuộc không kích ban đầu vào Helsingfors và nơi khác, tuy không ở qui mô lớn, nhưng hy vọng là gây ra hoảng sợ. Nhưng bộ đội mà họ sử dụng ban đầu tuy lớn hơn nhiều về số lượng nhưng kém về mặt chất lượng và được huấn luyện tồi. Các cuộc oanh kích của phi cơ cũng như việc kéo quân vào Phần Lan làm cho người dân nước nay đúng lên và tập hợp xung quanh một người chống lại kẻ xâm lăng với tinh thần vô cùng kiên quyết và với kỹ" xảo cao nhất. Cuộc tấn công vào nước Phần Lan đã tạo ra một tai họa cho kẻ xâm lược. Nông thôn ở đây hầu như hoàn toàn là rừng thông uốn lượn mềm mại và ở thời gian này thì tuyết dày đến 30cm. Trơi rất rét. Người

        Phần Lan được trang bị tốt bằng gậy trượt tuyết và mang áo ấm mà cả hai thứ này người Nga đều không có. Hơn nữa, người Phần Lan tỏ ra là những chiến binh xung kích xông xáo được huấn luyện rất tốt về trinh sát cũng như chiến tranh trong rừng. Người Nga dựa vào số lượng và vũ khí nặng, nhưng những cái này chẳng mang lại hiệu quả gì. Trên suốt dọc tuyến đầu này, các đồn biên phòng Phần Lan rút lui từ từ xưởng các con đường theo sau là các binh đoàn Nga. Khi quân Nga đã kéo sâu vào khoảng 30 dặm thì người Phần Lan phản công. Bị chặn tại các phòng tuyến Phần Lan được xây dựng trong rừng, ngày đêm bị tấn công dữ dội vào suờn, đường giao thông phía sau lưng bị gián đoạn, các binh đoàn Nga bị cắt ra từng mảnh, hoặc nếu gặp may thì rút lui được về đến điểm xuất kích với tổn thất lớn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:05:47 PM

        Đến cuối tháng 12, cuộc tấn công trên tuyến Mannerheim thuộc eo biển Karel cũng không có gì tốt đẹp hơn. Đầu tháng 12, gần 12 sư đoàn mở hàng loạt các cuộc tấn công ồ ạt và kéo dài trong suốt cả tháng. Đến cuối năm, sự thất bại trên dọc tuyến đã cho chính phủ Xô Viết thấy họ phải đối phó với một kẻ thù hoàn toàn khác với những gì mà họ đã trông đợi. Sự kiện gây ngạc nhiên này, được tiếp nhận một cách phấn khởi như nhau tại nhiều nước trên thế giới, dù là hiếu chiến hay trung lập. Nó là một lời cảnh cáo khá xấu cho quân đội Xô Viết. Trong chính giới Anh, nhiều người tự khen mình là chúng tôi đã không đi lệch đường để đưa người Xô Viết về cùng một phía với mình, cũng như tự khen về sự nhìn xa trông rộng của mình. Kết luận được rút ra một cách quá vội vã là quân đội Nga đã bị việc thanh trừng tàn phá, và bản chất thối nát và biến chất của hệ thống chính quyền và xã hội của họ giờ đây đã được chúng minh. Cách nhìn này không chỉ riêng có ở Anh, chắc chắn Hitler và các tướng lĩnh của y đã suy nghĩ rất kỹ về vị trí trống trải của Phần Lan và điều này đóng một vai trò quan trọng trong việc tác động đến suy nghĩ của Hitler. Mọi sự căm phẫn đối với chính phủ Xô Viết về hiệp ước Ribbentrop - Molotov được thổi bùng lên thành lửa bởi sự phơi bày thái độ xâm lược và bắt nạt tàn bạo. Cùng kết hợp với sự kiện này là sự khinh thường tính hiệu quả của quân đội Xô Viết, và cảm tình đối với người Phần Lan anh dũng. Mặc dầu cuộc Đại chiến đã được tuyên bố, ở Anh, Mỹ và nhiều hơn là ở Pháp có một ý muốn mãnh liệt viện trợ cho người Phần Lan phi cơ, các vật tư chiến tranh quý giá khác và quân tình nguyện. Việc cung cấp vũ khí đạn dược cũng như người tình nguyện chỉ có một con đường duy nhất khả dĩ vào được Phần Lan, đó là cảng Narvik để chuyên chở quặng sắt với đường sắt chạy trên núi đến các mỏ sắt Thụy Điển. Những nơi này có một ý nghĩa mới về chiến lược. sử dụng cảng như là đường tiếp tế cho quân đội Phần Lan ảnh hưởng đến sự trung lập của cả Thụy Điển và Na Uy. Hai nước này đều sợ Đức và Nga như nhau và không có mục đích gì khác là đứng ngoài các cuộc chiến tranh mà họ đang ở trong vòng vây và có nguy cơ bị chìm ngập trong đó. Đối với họ, điều này có vẻ là cơ may sống sót duy nhất. Nhưng trong khi một mặt chính phủ Anh dĩ nhiên là không muốn xâm phạm, dù chỉ là về mặt kỹ thuật, đến vùng lãnh hải của Na Uy  bằng việc thả mìn ở Leads vì lợi ích của riêng mình chống lại Đức, nhưng mặt khác, vì một sự xúc động hào hiệp chỉ liên quan gián tiếp đến vấn đề chiến tranh, đã đi đến một yêu cầu có tầm quan trọng lớn hơn nhiều đối với Na Uy và Thụy Điển là mở lối cho binh lính và đồ tiếp tế vào Phần Lan.

        Tôi rất có cảm tình với người Phần Lan và ủng hộ mọi đề nghị về việc giúp đỡ họ, và tôi hoan nghênh làn gió mới và thuận lợi này như là một phương tiện để đạt được một lợi thế chiến lược chủ yếu là cắt đứt được việc tiếp tế quặng sắt, một vấn đề sống còn của Đức. Nếu Narvik sê trở thanh một căn cứ của đồng minh để tiếp tế cho người Phần Lan, chắc chắn là dễ dàng chặn không cho tàu Đức vào cảng xếp quặng sắt và theo đường Leads mà về Đức an toàn. Một khi sự phản đối của Na Uy và Thụy Điển là quan trọng hơn thì mặc dù lý do nào di chăng nữa, trong những biện pháp lớn có biện pháp nhỏ. Vì vậy, ngày 16 tháng 12, tôi lặp lại những cố gắng để tranh thủ được sự đồng tình về việc làm đơn giản và không đổ máu: thả mìn Leads.

        Bản ghi nhớ của tôi được nội các xem xét ngày 22 tháng 12 và tôi đã làm hết sức để bảo vệ ý kiến của mình. Tôi không có được bất cứ quyết định nào được đưa ra để hành động. Có thể phản đối về mặt ngoại giao với Na uy về việc Đức sử dụng sai trái hải phận của nước này, và các tham mưu trưởng được lệnh "xem xét các hậu quả về quân sự của các cam kết trên đất Scandinavia". Nhũng người này được phép "lập kế hoạch để bộ một lực lượng vào Narvik để giúp Phần Lan, và cũng để đối phó với khả năng Đức chiếm đóng miền Nam Na Uy". Nhưng không thể ra lệnh thực hiện cho Bộ Hải quân. Trong một văn bản tôi lưu hành ngày 21 tháng 12, tôi tóm tắt các tin tình báo nói lên các khả năng Nga có một ý đồ đối với Na Uy. Được biết người Xô Viết có ba sư đoàn tập trung tại Murmansk chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh bằng đường bể. Tôi kết luận "có thể chiến trường này sẽ trở thành nơi xảy ra các biến động sớm". Điều này đã tỏ ra rất đúng; nhưng ở một hướng hoàn toàn khác.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:07:48 PM

       
*

        Đã tữ lâu tôi quan tâm đến việc phải tóm được tàu Altmark, một tàu phụ của tàu Spee. Altmark là một nhà giam nổi để giam thủy thủ đoàn các tàu buôn của chúng tôi bị đánh chìm. Những người Anh bị bắt giữ và được Hạm trưởng Langsdorff thả ra tại cảng Montevideo theo luật pháp quốc tế cho chúng tôi biết là có gần 300 thủy thủ tàu buôn Anh ở trên tàu Altmark. Tàu này nấp gần hai tháng ở phía Nam Đại Tây Dương và sau đó, với hy vọng là cuộc săn lùng đã chấm dứt, hạm trưởng quyết định quay về Đức. Tàu gặp may là thời tiết tốt trước ngày 14 tháng 2, sau đó nó qua Băng đảo và Faroes, bị máy bay chúng tôi phát hiện ở trong lãnh hải Na Uy.

        Theo từ ngữ trong bản thông cáo của Bộ Hải quân, thì "một số tàu chiến Hoàng gia đã bố trí sẵn sàng để đưa vào hoạt động". Một hải đội khu trục hạm dưới sự chỉ huy của Hạm trưởng tàu HMS Cossack là Philip Vian chặn tàu Altmark lại nhưng không gây khó khăn cho tàu ngay. Altmark ẩn trong vịnh hẹp Josing khoảng 1,5 dặm xung quanh là các dãy núi phủ tuyết. Hai khu trục hạm Anh được lệnh lên tàu để khám xét và ở lối vào vịnh hẹp thì gặp hai pháo thuyền Na Uy, hai chiếc này cho biết Altmark không có trang bị vũ khí, đã bị khám xét ngày hôm trước và được phép đi về Đức qua hải phận của Na Uy . Thấy vậy, các khu trục hạm của chúng tôi rút lui.

        Khi nguồn tin này tới Bộ Hải quân, tôi liền can thiệp và với sự hợp tác của Bộ trưởng Ngoại giao, đã ra lệnh cho tàu của chúng tôi đi vào vịnh hẹp, việc con lại do Vian gánh hết. Đêm đó, trên tàu Cossack Vian dùng đền soi sáng đưa tàu vào vịnh nhỏ qua các tảng băng trôi nổi. Trước hết, ông ta lên pháo hạm Kjell của Na Uy nhắc lại lời, đảm bảo là Altmark đã được khám xét hai lần, tàu không mang vũ khí và không có tù binh nào người Anh được phát hiện. Thấy vậy, Vian nói là ông ta sẽ lên tàu, và moi người sĩ quan Na Uy cùng đi. Cuối cùng thì lời mời bị từ chối.

        Trong khi đó chiếc Altmark ở thế chuẩn bị và khi tìm cách lao vào chiếc Gossack thì lại bị mắc cạn. Chiếc Cossack buộc phải cặp mạn chiếc Altmark và sau khi móc được hai tàu với nhau, một tổ nhảy sang. Một cuộc đánh nhau giáp lá cà xảy ra, bên Đức có 4 chết và 5 bị thương; một bộ phận thủy thủ đoàn chạy trốn lên bờ, số còn lại đầu hàng. Cuộc tìm kiếm tù nhân Anh bắt đầu. Chẳng mấy chốc, hàng trăm người được phát hiện, cột chặt vào hầm, nhốt trong các phòng kho khóa chặt, thậm chí cả ở trong các thùng dùng để chứa nhiên liệu. Rồi có tiếng kêu: "Hải quân đây rồi!". Cánh của mở được phá tung và những người bị bắt giữ chạy xô lên boong tàu. Người ta cũng thấy Altmark còn có hai ngù len và bốn khẩu súng máy và tuy người Na Uy đã hai lần lên tàu, nhưng tàu không bị khám xét. Trong suốt quá trình sự việc này, các pháo hạm Na Uy đứng ngoài quan sát một cách thụ động. Vào nửa đêm, Vain ra khỏi vịnh nhỏ và đi về hướng Forth.

        Đô đốc Pound và tôi cùng ngồi với nhau trong phòng chiến tranh của Bộ Hải quân, trong lòng có phần nào lo lắng. Tôi đã gây áp lực với Bộ Ngoại giao và tôi biết rất rõ tính chất hệ trọng về mặt kỹ thuật của các biện pháp được thực hiện. Nhưng đối với trong nước và nội các thì điều quan trọng là tìm được hay không tìm được tù nhân người Anh trên tàu. Chúng tôi sung sướng, khi vào lúc ba giờ sáng, tin đến là đã tìm thấy và cứu được 300 người. Đó là sự kiện nổi bật.

        Như đã thấy, ngày 14 tháng 12 Hitler quyết định kéo quân vào Na Uy và công tác tham mưu đang tiến hành dưới sự điều hành của Keitel. Chắc chắn là sự kiện tàu Altmark đã thúc đẩy hành động này. Theo đề xuất của Keiteil, ngày 21 tháng 2 Hitler triệu gấp về Berlin tướng Von Haider Falkenhorst khi đó là tư lệnh quân đoàn tại Coblenz - Falkenhorst đã tham gia chiến dịch Phần Lan của Đức năm 1918, và buổi chiều 20 tháng 2, ông ta thảo luận với Hitler, Keitel và Jodi các kế hoạch hành quân chi tiết của cuộc viễn chinh vào Na Uy mà giờ đây Falkenhorst phải chỉ huy. Vấn đề ưu tiên và quan trọng: liệu Hitler có hạ quyết tâm về vấn đề Na Uy trước hoặc sau việc tấn công nước Pháp? Ngày 1 tháng 3 y ra quyết định: Na Uy phải được chú ý trước tiên. Ngày 16 tháng 3, vào buổi chiều, Quốc trưởng triệu tập một cuộc hội nghị quân sự và ngày D đã được tạm thời ấn định có thể là 9 tháng 4.

        Trong thời gian này, người Nga đã dồn lực lượng chủ yếu của mình để ép người Phần Lan. Họ dốc sức chọc thủng chiến tuyến Mannerheim trước khi tuyết tan. Than ôi, năm ấy mùa xuân và thời tiết ấm áp của nó, cơ sở của niềm hy vọng của người Phần Lan đang chịu sức ép lớn, lại đến muộn gần 6 tuần lễ. Cuộc tấn công lớn của phía Xô Viết vào eo biển được mở ra từ ngày 1 tháng 2, kéo dài 42 ngày, kết hợp với những cuộc không kích lớn vào các nhà ga lớn và các khu đầu mối đường sắt phía sau chiến tuyến. Mười ngày oanh tạc dữ bằng pháo, xe kéo pháo cái nọ nối đuôi cái kia, báo hiệu cuộc tấn công lớn của bộ binh. Sau nửa tháng chiến đấu, phòng tuyến bị phá vỡ. Cường độ của các cuộc oanh tạc vào pháo đài chính và căn cứ Viipuri tăng lên. Đến cuối tháng, hệ thống phòng thủ Mannerhein bị rối loạn về tổ chức và người Nga có thể tập trung đánh vào vịnh Viipuri. Người Phần Lan thiếu đạn dược và bộ đội kiệt sức.

        Tính đúng đắn trong danh dự không cho phép chúng tôi có được bất cứ một sáng kiến chiến lược nào và nó cũng cản trở mọi biện pháp hữu hiệu để gửi vũ khí, đạn dược sang Phần Lan. Tuy nhiên ở Pháp tràn lan một tình cảm nồng nhiệt và sâu đậm hơn được ông Daladier thúc đẩy mạnh mẽ. Ngày 2 tháng 3, không có sự tham khảo ý kiến với chính phủ Anh, ông đồng ý gửi 50.000 người tình nguyện và 100 oanh tạc cơ sang Phần Lan. Chắc chắn là chúng tôi không thể hành động trên quy mô này, xét vì có các tài liệu tìm thấy trong người viên thiếu tá Đức tại Bỉ và các tin liên tục của tình báo về việc Đức không ngừng tập trung quân tại mặt trận phía Tây, thì quy mô này đi quá xa mức mà sự khôn ngoan cho phép. Tuy nhiên, đã có sự thỏa thuận gửi 50 oanh tạc cơ của Anh. Ngày 23 tháng 3, nội các lại quyết định khôi phục các kế hoạch đổ bộ quân sự vào Narvik và Trondheim, tiếp theo đó đến Stavanger và Bergen, coi như là một bộ phận của viện trợ mở rộng cho Phần Lan mà Pháp lôi kéo chúng tôi vào. Các kế hoạch này phải sẵn sàng cho hành động vào ngày 20 tháng 3, mặc dầu chưa được phép của Na Uy và Thụy Điển. Trong thời gian này, ngày 7 tháng 3, ông Paasikivi lại đi Matxcova, lần này thì để thảo luận các điều kiện đình chiến. Ngày 12, người Phần Lan đã chấp thuận điều kiện của người Nga. Một lần nữa, toan bộ các kế hoạch đổ bộ quân sự của chúng ta phải gác lại, và các lực lượng điều động cho việc này phần nào được giải tán. Giờ đây hai sư đoàn găm lại trong nước được phép kéo sang Pháp, và lực lượng xung kích của chúng tôi dành cho hướng Na Uy giảm xưởng còn 11 tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Một, 2019, 10:45:56 PM

       
*

        Thất bại của Phần Lan về quân sự dẫn đến các hậu quả tiếp theo. Ngày 18 tháng 3, Hitler gặp Mussolini tại đèo Brenner. Hitler cố tình làm cho chủ nhà người Ý có cảm giác là không có việc Đức mở một cuộc tấn công trên lục địa ở phía Tây. Ngày 19, ông Chamberlain phát biểu tại Hạ viện. Do có sự chỉ trích ngày một tăng, ông điểm qua, có kèm theo một số chi tiết, câu chuyện Anh viện trợ cho Phần Lan. ông nhấn mạnh một cách đúng đắn điều quan tâm xem xét chủ yếu của nước Anh là ý muốn tôn trọng sự trung lập của Na Uy và Thụy Điển, và ông cũng cho rằng chính phủ đã không bị đẩy vào các mưu toan cứu giúp người Phần Lan khi không có mấy cơ may thành công. Thất bại của Phần Lan là một đồn chí tử đối với chính phủ của ông Daladier, vị Thủ tướng đã có một chủ trương hành động rõ nét, tuy muộn như vậy, và đã đích thân làm cho cái phần lo âu ấy của chúng tôi nổi lên quá mức. Ngày 21 tháng 3 nội các mới do ông Reynaud làm thủ tướng cam kết tăng cường lãnh đạo mạnh mẽ chiến tranh.

        Các mối quan hệ của tôi với ông Reynaud, ở trên một cơ sở quan hệ không giống với bất cứ quan hệ nào tôi có với ông Daladier. Các ông Reynaud, Mandel và tôi đều có chung cảm nghĩ về vụ Munich. Daladier thì lại đứng ở về bên kia. Do đó, tôi hoan nghênh sự thay đổi. Các Bộ trưởng Pháp tới Luân Đôn ngày 28 tháng 3 để tham dự cuộc họp của hội đồng chiến tranh tối cao. Ông Chamberlain khai mạc cuộc họp bằng một sự mô tả đầy đủ và rõ ràng sự việc xảy ra như cách nhìn của mình. Ông nói nước Đức có hai cái yếu: nguồn cung cấp quặng sắt và dầu mỏ, hai mặt hàng này lại nằm ở hai đầu trái ngược nhau của Châu Âu. Quặng sắt có ở phía Bắc. Ông lần lượt giới thiệu một cách chính xác trường hợp chặn nguồn cung cấp quặng sắt của Đức từ Thụy Điển. Ông cũng đề cập đến các mỏ dầu ở Rumani và Bacu không được để cho Đức sử dụng, nếu có thể được, bằng đường ngoại giao. Tôi lắng nghe lập luận chắc nịch này với một sự thích thú mỗi lúc một tăng. Tôi không nhận thức  được đầy đủ việc tôi và ông Chamberlain đã nhất trí với nhau như thế nào.

        Ông Reynaud nói về tác động tuyên truyền của Đức đối với tinh thần người Pháp. Đêm nào cũng vậy, đài phát thanh Đức cũng oang oang nói là Đức không có tranh chấp gì với nước Pháp cả, là phải tìm nguyên nhân của chiến tranh ở việc Anh đã cho Ba Lan toàn quyền hành động, là nước Pháp đã bị kéo vào cuộc chiến theo gót chân người Anh và dù như vậy, Pháp cũng không ở vị thế theo đuổi được cuộc chiến. Chính sách của Goebbel đối với Pháp có vẻ như là để cho cuộc chiến tiếp diễn với tốc độ chậm lại như hiện nay, trông chờ vào sự nản lòng đang tăng lên trong đám 5 triệu người giờ đây được gọi nhập ngũ, cũng như sự xuất hiện một chính phủ Pháp muốn dàn xếp với Đức bất lợi cho chính phủ Anh.

        Ông nói câu hỏi được đưa ra rộng rãi trong nước Pháp là "Đồng Minh có thể thắng như thế nào?" Con số sư đoàn "mặc dầu người Anh có những cố gắng, tăng nhanh hơn bên phía Đức so với phía chúng ta. Vì vậy khi nào chúng ta có thể hy vọng đảm bảo có được số quân đông hơn, cần thiết cho hoạt động thành công ở phía Tây? Chúng ta không biết được cái gì đang diễn ra ở Đức về mặt trang thiết bị". Ở Pháp có cảm giác chung là cuộc chiến tranh đã đi đến chỗ bế tắc, và phía Đức chỉ cần phải chờ thôi. Trừ phi có một hành động nào đó để cắt đứt sự tiếp tế của địch về mặt nhiên liệu và các nguyên liệu khác, nếu không thì "có thể tăng lên cái cảm giác cho rằng phong tỏa không phải là vũ khí đủ mạnh để đảm bảo chiến thắng cho sự nghiệp của Đồng minh", ông hưởng ứng mạnh việc cắt đứt sự tiếp tế quặng sắt Thụy Điển và ông tuyên bố có một mối tương quan chính xác giữa việc cung cấp quặng sắt Thụy Điển cho Đức và sản lượng công nghiệp gang thép Đức. Kết luận của ông là Đồng minh phải thả mìn vùng lãnh hải dọc bờ biển Na Uy và sau đó, cũng bằng biện pháp tương tự, chặn không cho quặng sắt được đưa từ cảng Lulea về Đức. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngăn chặn Đức tiếp tế bằng dầu mỏ của Rumani.

        Cuối cùng thì đi đến quyết định là sau khi gửi một bản tin với lời lẽ chung chung cho Na Uy và Thụy Điển, chúng tôi phải thả mìn vùng lãnh hải Na Uy vào ngày 5 tháng 4. Các bên cũng đồng ý là nếu Đức kéo quân vào Bỉ, thì ngay lập tức Đồng minh cũng phải kéo đến nước này mà không cần chờ phía Bỉ có yêu cầu chính thức, và nếu Đức kéo quân vào Hà Lan mà Bỉ không giúp nước này thì Đồng minh phải tự coi mình có quyền tự do vào Bỉ để giúp Hà Lan. Cuối cùng thì như là một điểm rõ ràng mà mọi người đều thống nhất, bản thông cáo nói các chính phủ Anh và Pháp đã nhất trí về lời tuyên bố long trọng sau đây: Trong cuộc chiến tranh hiện nay, họ sẽ không thương lượng mà cũng không ký kết một cuộc đình chiến hoặc một hòa ước, trừ phi có sự đồng ý qua lại. Sau này, thỏa ước này có một tầm quan trọng lớn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:12:27 PM

       
*

        Ngày 3 tháng 4, Nội các Anh thực hiện quyết tâm của Hội đồng chiến tranh tối cao. Bộ Hải quân được phép thả mìn vùng Leads của Na Uy ngày 8 tháng 4. Tôi gọi việc thả mìn đó là "Wilfred" vì bản thân nó quả là quá nhỏ bé và đơn giản. Vì việc chúng tôi thả mìn lãnh hải Na Uy có thể gây ra một phản ứng từ phía Đức, nên đã có sự nhất trí là một lữ đoàn Anh và một đơn vị đóng góp của Pháp phải được điều đến Narvik để dọn cảng và tiến đến biên giới Thụy Điển. Các lực lượng khác phải được gửi đến Stavanger, Bergen và Trondheim không để địch chiếm các căn cứ này.

        Những loại tin tức gây lo ngại với độ tin cậy khác nhau bắt đầu được đưa tới. Cùng trong phiên họp ngày 13 tháng 4 của Nội các chiến tranh, Bộ trưởng Chiến tranh cho chúng tôi biết Bộ Chiến tranh có nhận được tin báo là người Đức tập hợp các đơn vị mạnh tại Rostock với ý định chiếm Scandinavia nếu cần thiết. Bộ trưởng Ngoại giao nói là tin tức từ Stockholm có chiều hướng xác nhận tin này. Theo tòa công sứ Thụy Điển tại Berlin, các tàu Đức với tổng trọng tải 200.000T hiện được tập trung tại Stettin và Swinemude với bộ đội trên tàu được tin đồn là tới 400.000 người: có ý kiến cho là các lực lượng này ở tư thế sẵn sàng để phản kích lại một cuộc tấn công khả dĩ có từ phía chúng tôi đánh vào Narvik hoặc các cảng Na Uy khác, một vấn đề mà người Đức được coi là vẫn còn lo ngại.

        Ngày thứ năm 4 tháng 4, ông Chamberlain đọc một bài diễn văn có nội dung lạc quan không bình thường. ông tuyên bố là Hitler "đã lỡ tàu". Thòi gian bảy tháng đã giúp chúng tôi gạt bỏ được cái yếu kém của mình và bổ sung rất lớn cho quân số chiến đấu. Mặt khác, phía Đức đã chuẩn bị hoàn hảo đến mức chỉ con lại rất ít để gọi nhập ngũ. Đây là sự đánh giá sai. Nội dung chính của sự đánh giá cho rằng chúng tôi và người Pháp tương đối mạnh hơn so với lúc thời kỳ đầu cuộc chiến tranh là không hợp lý. Như đã giải thích trước đây, người Đức giờ đây bước vào năm thứ tư của việc sản xuất mạnh vũ khí, đạn dược, trong khi đó chúng tôi ở giai đoạn chậm hơn nhiều có thể là vào năm thứ hai tính về mặt hiệu quả. Hơn nữa, cứ mỗi tháng qua đi, quân đội Đức giờ đây bốn tuổi đời, đang trở thành một vũ khí gia dặn, và tinh xảo, và cái lợi thế xưa kia của quân đội Pháp về mặt huấn luyện và tổ chức chặt chẽ đang đều đặn trôi qua. Tất cả đều ở trong tình trạng hồi hộp. Các biện pháp nhỏ mà tôi có khả năng đưa ra đã nhận được sự chấp thuận, nhưng bên này hoặc bên kia, chưa bên nào làm cái gì lớn cả. Các kế hoạch của chúng tôi, như đã được vạch ra, vẫn là thực hiện việc phong tỏa bằng cách thả mìn hành lang Na Uy ở phía Bắc, và bằng cách cản trở việc tiếp tế dầu của Đức từ phía đông nam. Sự bất động hoàn toàn và yên tĩnh bao trùm lên phía sau chiến tuyến Đức. Đột nhiên, chính sách thụ động hoặc tiểu qui mô của đồng minh bị một dòng thác các điều bất ngờ dữ dội quét sạch. Chúng tôi phải học thế nào là chiến tranh tổng lực


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:14:41 PM

21

NA UY

        Trước khi tóm tắt câu chuyện, tôi phải giải thích những sự đổi thay trong vị trí của tôi xảy ra trong tháng 4/1940.

        Cơ quan của Huân tước Chatfield, Bộ trưởng phụ trách phối hợp  quốc phòng đã trở thành kềnh càng, và vào ngày mùng ba ông Chamberlain chấp nhận đơn từ chức tự nguyện của ông này. Ngày mùng bốn, một bản tuyên bố phát đi từ số 10 phố Downing Street (LND: nơi có trụ sở các cơ quan nhà nước và chính phủ) nói là không đề nghị thay ghế trống mà là đang có sự sắp xếp để Bộ trưởng Hải quân, như là Bộ trưởng quân chủng cấp cao hữu quan, - chủ trì ủy ban phối hợp quân sự. Vì vậy tôi ngồi ghế chủ tịch trong các phiên họp của ủy ban diễn ra hàng ngày, thậm chí đôi khi có ngày hai lần, từ 8 đến 15 tháng 4. Ở vị trí này tôi có một trách nhiệm đặc biệt nhưng lại không có quyền chỉ đạo thực tế. Trong các Bộ trưởng quân chủng khác cũng là thành viên của Nội các chiến tranh, tôi là "thứ nhất trong những người ngang nhau". Tuy nhiên, tôi không có quyền ra quyết định hoặc áp đặt quyết định. Tôi phải ngang theo cả các Bộ trưởng quân chủng và các thủ trưởng chuyên môn của họ. Như vậy nhiều người khác quan trọng và có khả năng, có quyền và có nghĩa vụ phát biểu ý kiến của mình đối với các giai đoạn thay đổi nhanh chóng của trận chiến - vì nó là trận chiến - mà giờ đây đã bắt đầu.

        Các Tham mưu trưởng hàng ngày cùng ngồi với nhau thảo luận toàn bộ tình hình với các Bộ trưởng của mình. Sau đó họ đi đến quyết định riêng của mình, những quyết định rõ ràng có tầm quan trọng bao trùm. Tôi hiểu được các điều này qua thành viên hải quân thứ nhất của Hội đồng Đô đốc, ông này không giấu tôi điều gì hết, hoặc qua các bản ghi nhớ do ủy ban các Tham mưu trưởng phát hành. Nếu tôi muốn hỏi về bất kỳ ý kiến nào thì dĩ nhiên là tôi có thể nêu ra trước tiên trước ủy ban điều phối của tôi, nơi mà các Tham mưu trưởng thường kéo theo các Bộ trưởng của mình và được sự ủng hộ của các ông này, tất cả mọi người đều có mặt với danh nghĩa là cá nhân thành viên. Cuộc đàm thoại thật là rôm rả và lịch sự, được khép lại bằng một bản báo cáo tế nhị do thư ký có mặt dự thảo và được ba bộ quân chủng thông qua để tránh có những điều không ăn khớp với nhau. Như vậy, chúng tôi đã đi tới các vùng cao rộng lớn, nơi mà mọi việc đều được giải quyết vì lợi ích to lớn nhất của nhiều người nhất bằng lẽ phải thông thường của đa số sau khi đã tham khảo ý kiến của tất cả mọi người. Tuy nhiên trong chiến tranh kiểu này, giờ đây chúng tôi phải cảm thấy là các điều kiện có khác. Than ôi! Tôi phải viết nó ra: Cuộc xung đột hiện nay rất giống như một kẻ vũ phu vô đạo quật nát mặt mũi kẻ khác bằng cái gậy, cái búa hay cái gì đó mạnh hơn. Tất cả những cái này đều tệ hại và nó là một trong nhiều lý do tốt để tránh chiến tranh, để giải quyết mọi việc bằng sự thỏa thuận hữu hảo với sự coi trọng đầy đủ các quyền của dân tộc ít người và sự ghi nhận trung thanh các ý kiến bất đồng.

        Ủy ban quốc phòng của Nội các chiến tranh hầu như ngày nào cũng họp để thảo luận các báo cáo của Ủy ban đưa phối quân sự và các Tham mưu trưởng. Cái thống nhất và cái bất đồng giữa họ với nhau lại được trình lên các cuộc họp Nội các. Mọi cái đều phải giải thích đi, giải thích lại; và đến khi quá trình này kết thúc, thì toàn cảnh, toàn cục đã thay đổi khác rồi.

        Trong thời chiến Bộ Hải quân nhất thiết phải là một bản doanh tác chiến và nó ra quyết định ngay về những vấn đề đụng chạm đến Hải quân, chỉ những vấn đề hệ trọng nhất mới phải trình Thủ tướng và Thủ tướng ủng hộ chúng tôi trong mọi trường hợp. Nơi nào phải có sự tham gia chiến đấu của các quân chủng khác, thì thủ tục không thể theo kịp sự phát triển của các sự kiện. Tuy nhiên, khi chiến dịch Na Uy bắt đầu, theo tính chất của sự việc, Bộ Hải quân có trong tay mình ba phần tư công việc chấp hành.

        Bất kể quyền lực của tôi như thế nào, tôi không tự cho là tôi phải có khả năng đưa ra những quyết định tốt hoặc đạt được các giải pháp tốt nhất cho những vấn đề mà giờ đây chúng tôi đang phải đương đầu. Tác động của các sự kiện sắp phải mô tả là quá mạnh và các điều kiện quá rối rắm đến mức tôi sớm thấy được chỉ có Thủ tướng mới điều hành được Ủy ban Phối hợp Quân sự. Do đó, ngày 15 tôi yêu cầu ông Chamberlain giữ ghế Chủ tịch và chủ trì trên thực tế mọi cuộc họp tiếp theo của chúng tôi trong chiến dịch Na Uy. Ông ta và tôi tiếp tục cùng đi sát và hợp tác với nhau và với quyền tối cao của mình, ông thông qua những quan điểm mà tôi đưa ra.

        Lòng trung thành và thiện ý đều sẵn có từ tất cả mọi người có liên quan. Tuy vậy, cả Thủ tướng và tôi đều nhận thức rất rõ tính chất phi hình thái của hệ thống của chúng tôi, đặc biệt là khi tiếp xúc với loạt đáng ngạc nhiên những sự kiện. Mặc dù vào lúc này chắc chắn Bộ Hải quân là người khỏi xưởng, có thể có những phản đối rõ ràng được đưa ra đối với một tổ chức mà trong đó một trong những Bộ trưởng quân chủng tìm cách phối hợp tất cả các công việc vận hành của các Bộ quân chủng khác, đồng thời lại quản lý toàn bộ công việc của Bộ Hải quân và có trách nhiệm riêng đối với các cuộc di chuyển của Hải quân. Các khó khăn này không được tháo gỡ do chỗ bản thân Thủ tướng ngồi ghế chủ tịch và ủng hộ tôi. Tuy vậy, từ cái rủi này đến cái rủi khác, kết quả của việc thiếu các phương tiện hoặc của việc quản lý tầm thường rơi xuống đầu chúng tôi hầu như hàng ngày. Dù sao thì tôi vẫn tiếp tục giữ vị trí của mình trong cái nhóm không chặt chẽ, hữu nghị nhưng thiếu tập trung này.

        Sau cùng, nhưng không phải cho tới khi nhiều thảm họa rơi xuống chúng tôi ở Scandinavia, tôi được phép triệu tập và chủ trì các phiên họp của ủy ban các Tham mưu trưởng, những người mà không có họ thì chẳng có thể làm được việc gì cả, và tôi được chính thức giao trách nhiệm "hướng dẫn và chỉ đạo" họ. Tướng Ismay, sĩ quan Tham mưu cao cấp phụ trách Ban Tham mưu trung ương được điều đến là sĩ quan Tham mưu và đại diện của tôi, và với tư cách này trở thành thành viên trọn vẹn của ủy ban các Tham mưu trưởng. Tôi biết ông Ismay nhiều năm trước đây, nhưng giờ đây chúng tôi như hình với bóng và hơn cả thế nữa. Như vậy, các Tham mưu trưởng, trong một chừng mực rộng lớn trên cương vị là một tập thể, phải chịu trách nhiệm trước tôi và do tôi là đại diện của Thủ tướng, trên danh nghĩa tôi có thể có quyền ảnh hưởng đến các quyết định và chính sách của họ. Mặt khác, dĩ nhiên là các Tham mưu trưởng trước hết phải trung thành với Bộ trưởng quân chủng của mình, và các vị này sẽ không hẳn là tốt nếu như họ không cảm thây khó chịu phần nào trước việc trao quyền đại diện một phần quyền hạn của mình cho một trong những người đồng sự của họ. Hơn nữa trách nhiệm của tôi đã được vạch ra một cách rõ ràng, là phải được thực hiện nhân danh Ủy ban Phối họp Quân sự. Như vậy, tôi phải gánh trách nhiệm rộng lớn mà không có quyền lực thực tế trong tay mình để thực hiện trách nhiệm. Tuy thế, tôi có cảm giác là tôi có khả năng làm được công việc tổ chức mới - Số phận của nó chỉ kéo dài được một tuần. Nhưng mối quan hệ về mặt cá nhân và chính thực của tôi với tướng Ismay, và quan hệ của ông này với ủy ban các Tham mưu trưởng được gìn giữ nguyên vẹn và không sa sút từ 1/5/1940 đến 26/7/1945 khi tôi giải nhiệm.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:15:27 PM

       
*

        Chiều tối thứ sáu 5 tháng 4, công sứ Đức tại Oslo moi các quan khách trong đó có cả thành viên của chính phủ đến xem phim tại sứ quán. Phim tả lại việc Đức chiếm Ba Lan và đạt tới điểm tột cùng bằng sự tăng tốc về số lượng các cảnh hãi hùng trong đoạn Đức oanh tạc Vácsava. Lời thuyết minh ghi là: "Đối với cái này, họ có thể cảm ơn các ông bạn Anh và Pháp của họ". Cử tọa tỏ vẻ sợ hãi. Tuy vậy, chính phủ Na Uy chủ yếu quan tâm đến các hoạt động của người Anh. Giữa 4h30’ và 5 giờ sáng ngày 8 tháng 4, các khu trục hạm Anh thả các bãi mìn ngoài khơi lối vào eo nhỏ phía tây, con kênh dẫn đến cảng Narvik. Đến 5 giờ sáng tin tức được phát đi từ Luân Đôn và đến 5h30’ một công ham của chính phủ Hoàng gia được trao cho Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy. Ở Oslo người ta dành buổi sáng để dự thảo các văn bản phản đối với Luân Đôn. Nhưng về cuối buổi trưa, Bộ Hải quân thông báo tòa Công sứ Na Uy tại Luân Đôn là tàu chiến Đức đã bị phát hiện ngoai khơi bờ biển Na Uy và đi về phía bắc và dự đoán là sẽ tới Narvik. Vào khoảng cùng thời gian này, tin tức tới thủ đô Na Uy cho biết là tàu chở quân của Đức, chiếc Rio de Janeiro bị tàu ngầm Orzel của Ba Lan đánh đắm ngoài khơi bờ biển phía nam của Na Uy, là một số lớn binh lính Đức được ngư dân địa phương cứu hộ, là các binh sĩ này nói họ đi đến Bergen để giúp người Na Uy chống lại người Anh và người Pháp. Con nhiều việc nữa xảy ra. Đức đã thọc vào Đan Mạch nhưng tin này không tới Na Uy cho tới khi chính nước này bị đánh chiếm. Như vậy, Na Uy không nhận được lời cảnh cáo chính thức này. Đan Mạch bị đè bẹp sau một trận chống cự trong đó có một ít binh sĩ trung thanh bị tử trận.

        Đêm đó các tàu chiến Đức tiến gần Oslo. Pháo tiền đồn phát hỏa. Lục lượng bố phòng của Na Uy gồm một tàu thả mìn Olay Tryggvason và hai tàu phá dỡ mìn. Sau lúc mặt trời mọc, hai tàu quét mìn của Đức vào tới của vịnh hẹp để đổ quân gần chỗ bố" trí pháo bờ biển. Một trong hai tàu này bị chiếc tàu Olay Tryggvason đánh đắm, nhưng quân Đức đã đổ bộ và chiếm được các cỗ pháo. Tuy nhiên chiếc quét mìn anh dũng đã chặn đứng hai khu trục hạm Đức ở của vịnh hẹp và đánh hư hại chiếc tuần dương hạm Emden. Một tàu đánh cá voi của Na Uy có lắp một súng máy duy nhất lập túc lao vào cuộc chiến với kẻ xâm lược mà không có lệnh đặc biệt gì hết. Khẩu súng máy bị hất tung và viên thuyền trưởng bị mất cả hai chân. Để tránh làm mất nhuệ khí người dưới quyền của mình, ông ta lăn xuống nước và hy sinh cao cả. Lực lượng chính của Đức đi đầu là chiếc tuần dương hạm loại nặng Bluecher giờ đây đã vào vịnh hẹp và tiến vào của biển hẹp có pháo đài Oscarborg bảo vệ. Pháo Na Uy nổ súng và hai quả ngư lôi từ bờ bể phóng ra ở cự ly 500 thước Anh đã giáng một đòn quyết định, chiếc Bluecher bị chìm nhanh cùng với các sĩ quan tham mưu cao cấp và biệt động của Gestapo. Các chiến hạm khác còn lại của Đức kể cả chiếc Luetzow rút lui. Chiếc Emden bị tổn thất không tham chiến thêm trên biển nữa. Cuối cùng thì Oslo bị thất thủ, không phải từ phía bể mà bằng không vận và bằng đổ bộ vào vịnh hẹp. Kế hoạch của Hitler lập túc được triển khai toàn diện. Các lực lượng Đức kéo xuống Kistiansand, Stavanger và xa về phía Bắc tại Bergen và Trondheim.

        Cú đánh táo bạo nhất là tại Narvik. Trong một tuần lễ, các tàu Đức dùng để chở quặng được giả thiết là đã ngược hành lang dưới sự trung lập của Na Uy để xếp đồ tiếp tế, vũ khí đạn dược và quay trở lại Narvik như những chuyến đi thường lệ. Mười tàu khu trục Đức, mỗi chiếc chở 200 lính có sự yểm trợ của hai chiếc Scharnhorst và Gneisenau đã rời Đức vài ngày trước đó và đến Narvik sớm vào ngày 9.

        Hai tàu chiến Na Uy Norge và Eidsvold nằm ở vịnh nhỏ và chuẩn bị để đánh đến cùng. Vào lúc bình minh, hai chiếc khu trục hạm được phát hiện là đang tiến vào cảng với tốc độ cao, nhưng vì có nhiều tảng băng dập dềnh nên ban đầu không nhận rõ được là tàu nào. Chẳng mấy chốc một sĩ quan Đức xuất hiện trên một chiếc tàu đáy bằng và yêu cầu tàu Eidsvold đầu hàng. Khi nhận được câu trả 1ời cụt ngùn "tôi tấn công" của viên chỉ huy trưởng tàu, hắn ta rút lui, nhưng gần như ngay lập tức và hầu hết thủy thủ trên tàu bị tiêu hủy bởi một loạt ngư lôi. Trong khi đó, tàu Norge khai hỏa, nhưng chỉ trong ít phút nó cũng trúng thủy lôi và chìm. Trong sự kháng cự anh hùng và tuyệt vọng này 287 thủy thủ Na Uy bị chết, số sống sót là dưới 100 người. Từ giờ trở đi việc chiếm Narvik là dễ dàng. Nó là điểm chiến lược mà chúng tôi bị mất vĩnh viễn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:16:14 PM

        Sáng hôm đô đốc Forbes với hạm đội chủ lực ở ngang tầm Bergen, tình hình Narvik được coi là đen tối. Vói hy vọng chặn trước được việc Đức chiếm cảng, ông tư lệnh hạm đội ra lệnh cho các khu trục hạm của chúng tôi tiến vào vịnh nhỏ và ngăn chặn mọi sự đổ bộ. Theo lệnh này, Hạm trưởng Warburton-Lee cùng với năm khu trục hạm thuộc đội của ông ta là Hardy, Hunter, Havock, Hotspur, Hostile kéo vào vịnh nhỏ phía Tây. Ông được các người Na Uy ở Tranoy cho biết có sáu chiếc tàu lớn hơn tàu ông ta và một tàu ngầm Đức đã đi vào cảng đã bị thả mìn. Ông phát ra tin này bằng tín hiệu và thêm "định tấn công  vào lúc bình minh". Giữa ngày 10 tháng 4, và trong bão tuyết, năm khu trục hạm Anh chạy về phía vịnh nhỏ, và đến bình minh thì ở cách xa Narvik. Trong cảng là năm khu trục hạm địch. Trong đợt tấn công đầu chiếc Hardy phóng ngư lôi trúng chiếc tàu có treo cơ của viên chỉ huy người Đức và viên này bị chết, một chiếc khu trục hạm khác bị trúng hai quả ngư lôi và chìm; ba chiếc còn lại bị pháo kích đến mức không thể kháng cự có hiệu quả được. ơ trong cảng cũng còn có 23 tàu buôn thuộc các quốc tịch khác nhau trong có năm cái là thuộc quốc tịch Anh; sáu chiếc của Đức bị tiêu diệt. Cho đến lúc này chỉ có ba khu trục hạm trong năm chiếc của chúng tôi là có tham chiến. Chiếc Hotspur và Hostile được coi là lực lượng dự phòng chống lại pháo từ bờ biển bắn ra hoặc chống các tàu Đức mới khác đang tiến gần. Giờ đây hai tàu tham gia đợt tấn công thứ hai và chiếc Hotspur đánh chìm thêm hai tàu buôn bằng phóng ngư lôi. Các tàu của hạm trưởng Warburton-Lee đều vô sự; pháo của địch có vẻ đã câm họng và sau một giờ chiến đấu không có tàu nào xuất hiện trên các lối vào để chống lại ông ta.

        Nhưng sau đó tình hình đã thay đổi. Trên đường từ trận đánh trở về, Thuyền trưởng Warburton-Lee nhìn thấy ba tàu khác đang tiến gần. Chúng không có biểu hiện tiến gần thêm nhưng đột nhiên, từ đám sương mù trước mặt, xuất hiện thêm hai chiến hạm. Chúng không phải là quân Anh tăng viện như thoạt tiên người ta hy vọng, mà là tàu khu trục của Đức đã thả neo ở một vịnh nhỏ kế cận. Chẳng mấy chốc, pháo cỡ lớn nhất trên các chiến hạm Đức bắt đầu lên tiếng. Đài chỉ huy của chiếc Hardy bị tan ra từng mảnh, Warburton-Lee bị tử thương, các sĩ quan dưới quyền và bạn chiến đấu của ông ta bị chết hoặc bị thương, trừ người chỉ huy phó và là thư ký của ông ta tên là Stanning lên điều khiển tàu. Sau đó một viên đạn nổ trúng buồng máy, tàu bốc cháy lớn phải đưa vào bờ. Tín hiệu cuối cùng của Hạm trưởng Hardy gửi cho hải đội của mình là: "Tiếp tục chiến đấu với địch".

        Trong khi đó, chiếc Hunter đã bị đánh chìm, còn chiếc Hotspur và Hostile đều bị tổn thương, và cùng với chiếc Havock đi ra ngoài biển khơi. Quân thù lúc trước đã chặn lối đi của tàu, giờ đây không có điều kiện để buộc tàu dừng lại. Nửa giờ sau, đoàn tàu này gặp một tàu lớn từ phía biển khơi đi vào và được xác định là tàu Rauenfels chuyên chở vũ khí đạn dược dự trữ của Đức. Chiếc Rauenfels bị tàu Havock bắn trúng và sau đó thì nổ tung. Những người sống sót của tàu Hardy phấn đấu vật lộn để lên bờ cùng với xác của người chỉ huy mình; ông này được truy tặng Huân chương Chiến thắng và cùng với những người thuộc hạ để lại dấu ấn trong sử sách Hải quân Anh.

        Bất ngờ, tàn bạo và chính xác là đặc trưng của cuộc tấn công  ác liệt vào người Na Uy nhỏ bé và trơ trọi. Bảy sư đoàn lục quân Đức đã được huy động vào việc này. Tám trăm phi cơ chiến thuật và khoảng 250 đến 300 phi cơ vận tải tham dự trận chiến. Trong 48 giờ, toàn bộ các cảng chính của Na Uy đã ở trong nanh vuốt người Đức. Sự căm phẫn của nhà vua, chính phủ, quân đội và nhân dân ngay sau đó khi thấy được cái gì đã xảy ra đối với họ. Nhưng tất cả đã quá muộn. Sự thâm nhập và tuyên truyền của Đức cho đến nay đã làm mờ tầm nhìn của họ và lúc này đã chặt đứt sức đề kháng của họ. Thiếu tá Quisling phát biểu trước đài phát thanh giờ đây do Đức kiểm soát với cương vị là người thân Đức trị vì đất nước bị xâm chiếm. Gần như tất cả các quan chúc Na Uy từ chối phục vụ ông ta. Quân đội được động viên và ngay lập túc bắt đầu chiến đấu chống lại kẻ xâm lược đang từ Oslo tiến lên phía bắc. Những người yêu nước có thể kiếm được vũ khí thì rút vào núi rừng để chiến đấu. Nhà vua, các Bộ trưởng và Quốc hội ban đầu rút lui về Hamar cách Oslo 100 dặm. Họ bị xe thiết giáp Đức truy đuổi ráo riết và đã có những cố gắng tàn bạo nhằm tiêu diệt họ bằng phi cơ dội bom hoặc xả đạn súng máy. Tuy vậy họ tiếp tục phát ra những rơi tuyên bố trước toàn quốc yêu cầu triệt để cố gắng chiến đấu. Phần dân còn lại thì lực chẳng được là bao bị khủng bố bằng các cảnh đẫm máu làm cho u mê, sững sờ hoặc chán nản khuất phục. Bán đảo Na Uy dài gần 1000 dặm, dân cư sống rải rác, đường xá và đường sắt không có nhiều, đặc biệt là về hướng bắc. Tốc độ mà Hitler thực hiện việc đô hộ đất nước này là một kỳ công đáng ghi nhận về chiến tranh và chính sách, cũng như là một ví dụ bền vững về tính chính xác và tàn bạo của Đức.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:17:28 PM

       
*

        Chính phủ Na Uy, cho đến nay do sợ nước Đức và tỏ ra rất lạnh lùng đối với chúng tôi, thì giờ đây đã mạnh mẽ kêu gọi sự giúp đỡ. Rõ ràng là từ lúc đầu chúng tôi không cứu được miền nam Na Uy. Hầu hết các đơn vị được huấn luyện của chúng tôi - mà rất nhiều chỉ được huấn luyện một nửa - đều ở Pháp. Lực lượng không quân khiêm tốn nhưng đang được phát triển của chúng tôi đã được phân công triệt để vào các nhiệm vụ yểm trợ. Đội quân Viễn chinh Anh, bảo vệ nội địa và ra sức huấn luyện, không thể làm các việc khác được nữa. Toàn bộ pháo phòng không của chúng tôi cần phải tăng gấp mười lần cho các điểm dễ bị đánh có tầm quan trọng lớn nhất. Tuy vậy, chúng tôi cảm thấy phải làm hết sức mình để giúp họ cho dù các sự chuẩn bị và lợi ích của chúng tôi có bị xáo trộn mạnh. Hình như chắc chắn có thể chiếm và giữ được Narvik có lợi cho sự nghiệp của toàn thể đồng minh. Ở đây, vua Na Uy có thể cắm lá cơ bất khả xâm phạm của mình. Phải chiến đấu cho Trondheim và bằng mọi giá, để làm chậm bước bắc tiến của kẻ xâm lược cho tới khi có thể tái chiếm Narvik làm căn cứ cho một quân đoàn. Việc này hình như có thể làm được từ ngoài bể với một lực lượng lớn hơn bất cứ cái gì được dùng vào cùng mục đích ở trên đất liền và xuyên qua 500 dặm đường rừng núi. Nội các toàn tâm ủng hộ mọi biện pháp khả dĩ để tái chiếm và bảo vệ Narvik và Trondheim. Các đơn vị được giải phóng khỏi kế hoạch Phần Lan và một đơn vị cốt lõi trong tay dành cho Narvik có thể sớm sẵn sàng. Đám quân này thiếu máy bay, pháo phòng không, súng chống tăng, xe tăng, xe vận tải và thiếu cả huấn luyện. Toàn bộ miền bắc Na Uy phủ tuyết dày tới mức không một người lính nao của chúng tôi được nhìn thấy, có cảm giác như thế nào, hoặc tưởng tượng được ra sao. Không có cả giầy đi trên tuyết lẫn gậy trượt tuyết, lại càng có ít người trượt tuyết. Chúng tôi phải làm hết sức mình. Một chiến dịch ọp ẹp bắt đầu như vậy.

        Chúng tôi đã đổ bộ hoặc tìm cách đổ bộ vào Narvik, Trondheim và các địa điểm khác. Sự vượt trội của người Đức về thiết kế, quản lý và nghị lực là rõ ràng. Họ thực hiện một cách tàn nhẫn một kế hoạch hành động được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ nắm bắt rất vững việc sử dụng không quân trên qui mô lớn và về mọi mặt. Hơn nữa, quyền lực của từng cá nhân rất rõ ràng và đặc biệt hơn là trong các tốp nhỏ. Ở Narvik, một lực lượng hỗn hợp Đức dù không có sự chuẩn bị trước, chỉ gồm chưa đầy 6000 người đã kìm chân vài chục ngàn quân đồng minh trong sáu tuần, và tuy bị đẩy ra khỏi thành phố lực lượng vẫn tồn tại để nhìn quân đồng minh ra đi. Cuộc tấn công bằng đường bể do Hải quân mở ra một cách xuất sắc bị sa lầy do người chỉ huy quân sự không chấp nhận cái được thùa nhận là một mạo hiểm tuyệt vọng. Chúng tôi phân chia lực lượng cho Narvik và Trondheim và làm hỏng cả hai kế hoạch của mình. Tại Namsos phải đi tới đi lui bì bõm trên đường lầy. Chỉ có một lần hành quân sang Andolnes là chúng tôi trụ được. Tuy phải vượt qua hàng trăm dặm trên một nước có địa hình gồ ghề, và tuyết phủ, người Đức đẩy lùi chúng tôi mặc dầu chúng tôi chiến đấu anh hùng - chúng tôi những người làm chủ ngoài biển và có thể bắn phá bất cứ nơi nào trên một bờ biển không có phòng ngự đã không bắt kịp kẻ địch vận động trên những cự ly rất rộng trên đất liền với mọi thứ cản trở phía trước.

        Theo tiếng gọi của nghĩa vụ, chúng tôi gắng hết súc lao vào những khó khăn và gắn bó với Na Uy. Chúng tôi nghĩ rằng số phận đã nghiệt ngã đối với chúng tôi. Giờ đây chúng tôi thấy la chúng tôi không còn gì ỏ đất Na Uy nữa. Trong khi đó, vào đầu tháng 5, chúng tôi cũng phải tự hài lòng hết mức với một loạt các cuộc rút quân thành công của mình. Xét vai trò quan trọng của tôi trong các sự kiện này, cũng như là không thể giải thích được những khó khăn mà chúng tôi không khắc phục được hoặc những sai lầm, thiếu sót về mặt tổ chức chính phủ và bộ máy nhân sự, và các phương pháp chỉ đạo chiến tranh của chúng tôi, thì điều kỳ lạ là tôi đã sống sót và giữ vị trí của mình với sự quý mến của công chúng và tín nhiệm của Quốc hội. Sở dĩ như vậy là trong thời gian từ sáu đến bảy năm tôi đã tiên liệu sự phát triển của sự việc một cách đúng đắn và đã không ngừng cảnh cáo, lúc bấy giờ chẳng ai nghe nhưng bây giờ thì được nhớ lại.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:18:32 PM

        Chiếc hàng không mẫu hạm Glorious bị các tuần dương hạm thiết giáp cỡ lớn Scharnhorst và Gneisnau tấn công ngày 8 tháng 6 và phá hủy trong 90 phút. Hạ sĩ quan hải quân C. Carter, người sống sót duy nhất của một trong những chiếc khu trục hạm hộ tống chiếc Glorious là tàu Acasta đã bị phá, cho thấy một hình ảnh sống động đặc trung của cuộc đụng độ ngoài biển:

        "Trên tàu chúng tôi, một sự yên lặng như chết hầu như không có lây một tiếng nói, giờ đây con tàu mở hết tốc độ chạy xa khỏi kẻ thù, tiếp đến là một loạt mệnh lệnh chuẩn bị các màn khói, nối các đầu ống, chuẩn bị nhiều việc khác, chúng tôi vẫn chạy trốn, nhả khói, và vận hành toàn bộ hệ nhả khói. Hạm trưởng ra lệnh cho tất cả các vị trí: "Các anh có thể nghĩ là chúng tôi đang tháo chạy, không phải như vậy, đồng đội thân thiết của ta, tàu Ardent đã chìm, tàu Glorious đang chìm, điều tối thiểu mà chúng tôi có thể làm là làm cho địch biết tay một cái, chúc tất cả may mắn". Lập tức chúng tôi chuyển hướng đi vào ngay trong màn khói của mình. Tôi ra lệnh sẵn sàng để phóng ống phóng ngư lôi số 6 và số 7. Chúng tôi ra khỏi màn khói, quặt sang bên phải và phóng ngư lôi từ sườn trái của tàu. Và bây giờ tôi mới thoáng nhìn thấy kẻ thù lần đầu tiên, nói cho công bằng nó xuất hiện trước mắt tôi như là một chiếc tàu lớn và một chiếc nhỏ, và chúng tôi ở cự ly rất gần nhau. Tôi phóng hai quả ngư lôi từ các ống phóng phía sau, các ống phóng phía đầu tàu cũng nhả đạn, tất cả chúng tôi đang chờ đợi kết quả. Tôi sẽ không bao giờ quên được tiếng hò reo được phát ra lúc ấy. Ở phía bên trái mũi của một trong hai chiếc tàu, bật lên một tia chóp màu vàng và một cột nước và khói to. Chúng tôi biết là chúng tôi đã bắn, cá nhân tôi không hiểu tại sao gần như vậy mà chúng tôi lại trượt mục tiêu. Kẻ địch đã không bắn phát nào vào chúng tôi, tôi cảm thấy là họ rất ngạc nhiên, sau khi đã phóng các quả ngư lôi, chúng tôi lại quay vào trong màn khói của mình, và di quặt sang bên phải, "sẵn sàng để phóng số ngư lôi còn lại", và lần này, vừa nhô ra khỏi màn khói, thì địch phát hỏa. Một viên đạn rơi trúng buồng máy, giết chết các tổ xạ thủ phóng ngư lôi của tôi. Tàu dừng lại nghiêng về một phía. Đây là một cái gì đây, tin là thật hay là không, tôi lại leo lên ghế chỉ huy, tôi nhìn thấy hai con tàu đó, tôi phóng nốt số thủy lôi còn lại, không ai bảo tôi làm như vậy, tôi đoán là tôi đang điên giận. Chỉ có trời mới biết tại sao tôi lại bắn, nhưng tôi đã bắn. Súng trên tàu Acasta đã bắn cả suốt thời gian, thậm chí tàu thủng vẫn bắn. Rồi địch đánh chúng tôi nhiều lần, nhưng có một tiếng nổ ngay sau đó, và tôi luôn luôn tự hỏi là phải chăng địch đánh chúng tôi bằng phóng ngư lôi, nên nó có vẻ như đã hất tàu chúng tôi lên khỏi mặt nước. Sau chót, Hạm trưởng ra lệnh rời khỏi tàu. Tôi sẽ không bao giờ quên Trung úy giải phẫu1, tàu đầu tiên của ông ta, cuộc chiến đấu đầu tiên của ông ta. Trước khi tôi nhảy ra khỏi mạn tàu, tôi vẫn thấy ông ta đang săn sóc cho thương binh, một nhiệm vụ tuyệt vọng, và khi tôi đã ở dưới nước tôi thấy Hạm trưởng dựa lưng vào đài chỉ huy, rút một điếu thuốc lá trong bao ra và châm hút. Chúng tôi gọi ông xuống mảng của chúng tôi, ông vẫy tay chào từ biệt và chúc may mắn - sự ra đi của một người anh dũng.

        Nhưng từ tất cả sự rối loạn và thiệt hại về tàu bè nổi lên một sự việc có tầm quan trọng lớn ảnh hưởng mạnh đến tương lai của chiến tranh. Trong cuộc vật lộn vô vọng với Hải quân Anh, người Đức đã hủy hoại hải quân của mình như đã xảy ra trên thực tế, vì nguy cơ điểm đỉnh sắp xảy ra. Tổn thất của Đồng minh trong các trận hải chiến ngoài khơi Na Uy gồm một hàng không mẫu hạm, hai tàu con và tám khu trục hạm bị loại ra khỏi vòng chiến, nhưng có thể sửa lại được trong phạm vi khả năng hải quân của chúng tôi. Mặt khác, đến cuối tháng 6/1940, một thời điểm rất quan trọng, hạm đội Đức thực lực gồm có một tuần dương hạm có pháo 8 inches, hai tuần dương hạm loại nhẹ và bốn khu trục hạm. Mặc dầu nhiều tàu của họ bị hư hại nhưng cũng giống như của chúng tôi, có thể sửa chữa được. Hải quân Đức không phải là một yếu tố quan trọng trong việc chiếm đánh nước Anh.

        Chiến tranh hủy diệt chấm dứt với việc Hitler tấn công Na Uy. Nó đã chuyển thành một ánh chớp của sự bùng nổ quân sự đáng sợ nhất mà loài người cho tới nay chưa được biết. Tôi đã mô tả tình trạng hôn mê trong tám tháng mà Anh và Pháp quanh quẩn trong đó, trong khi cả thế giới ngạc nhiên. Giai đoạn này đã tỏ ra rất tai hại cho Đồng minh. Từ lúc Staline dàn xếp với Hitler, người Cộng sản ở Pháp theo gương Matxcova và tố cáo chiến tranh là "một tội ác của đế quốc và tư bản chổng lại nền dân chủ". Họ làm cái họ có thể làm để phá hoại tinh thần trong quân đội và cản trở sản xuất trong các nhà máy. Tinh thần của Pháp, thể hiện ở người lính và người dân trong tháng năm, giờ đây rõ ràng là thấp hơn so với lúc mới nổ ra chiến tranh.

        Không có cái gì giống cái này đã xảy ra ở Anh, nơi mà chủ nghĩa Cộng sản do Liên Xô chỉ huy tuy có hoạt động ráo riết nhưng yếu, không mạnh. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn là chính phủ có đảng phái, dưới sự lãnh đạo của một Thủ tướng mà phái đối lập chống đối một cách gay gắt, và không có sự ủng hộ nhiệt tình và tích cực của các phong trào công đoàn. Tính chất điềm tĩnh, đàng hoàng, thành thực nhưng giữ nếp cũ của chính quyền không gọi ra được sự cố gắng lớn mang tính sống còn trong các giới thuộc Chính phủ hoặc trong các công binh xưởng. Cú đánh của thảm họa và cái quất của hiểm họa là cần thiết để khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc Anh. Cái mõ đã sắp sửa lên tiếng..

-------------
        1. H.s. Stammer. Trung úy giải phẫu lâm thời. RNVR.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:19:31 PM

22

CHÍNH PHỦ SỤP ĐỔ

        Nhiều thất vọng và tai họa do chiến dịch Na Uy ngắn ngủi gây ra đã tạo nên sự xáo trộn sâu sắc trong nước và làn sóng xúc động trào lên thậm chí tới lòng ngực một số những người uể oải, cầu an trong những năm trước chiến tranh. Phe đối lập yêu cầu có một cuộc thảo luận về tình hình chiến tranh, và cuộc họp được sắp xếp vào ngày 7 tháng 5. Hạ viện đầy những thành viên lộ vẻ bực tức và tuyệt vọng. Lời phát biểu khai mạc của ông Chamberlain không ngăn chặn được làn sóng phản đối. Người ta cắt lời ông một cách nhạo báng, người ta nhắc lại bài diễn văn ngày 4 tháng 4 của ông mà trong đó, trong một mối liên quan hoàn toàn khác, ông đã sơ ý nói "Hitler đã lỡ tàu". Ông vạch rõ vị trí mới của tôi và mối quan hệ giữa tôi với các Tham mưu trưởng, và khi trả lời ông Herbert Morrisson, ông đã nói rõ là tôi không có những quyền lực đó trong các cuộc hành quân ở Na Uy. Từ hai phía của phòng họp, hết đại biểu này đến đại biểu khác công kích chính phủ, đặc biệt là các trưởng đoàn có thái độ gay gắt, xung khí khác thường và được sự hưởng ứng vỗ tay mỗi lúc một tăng từ tứ phía. Ngài Roger Keyes muốn nổi trội trong cuộc chiến tranh mới này, phê bình kịch liệt Bộ Tham mưu Hải quân đã thất bại trong việc chiếm lại Trondheim. Ông ta nói "khi tôi thấy các việc làm kém cỏi đang diễn ra như thế nào, tôi không ngừng yêu cầu Bộ Hải quân và Nội các chiến tranh giao cho tôi toàn bộ trách nhiệm và lãnh đạo việc tấn công". Mặc bộ quân phục đô đốc Hải quân bốn sao, ông ta ủng hộ những ý kiến phê phán của phe đối lập bằng các chi tiết kỹ thuật và uy tín nghề nghiệp của mình với một phong cách thích hợp với trạng thái tâm lý của Hạ viện. Từ hàng ghế phía sau dãy ghế của chính phủ, và trong sự hân hoan ồn ào, ông Amery nhắc lại câu nói trịnh trọng của vua Cromwell với Quốc hội (được triệu tập lần đầu tiên vào năm 1911). "Các vị đã ngồi ở đây quá lâu vì bất cứ lợi ích gì mà các vị đang làm" - Tôi nói - "các vị đi đi. Hãy để chúng tôi cắt đứt quan hệ với các vị. Nhân danh chúa! Đi đi". Đây là những từ ngữ kinh khủng phát ra từ một người bạn và đồng nghiệp vong niên, một bạn cùng là thành viên Birmingham và một số cố vấn của Hội đồng cơ mật ưu tú và cố kinh nghiệm.

        Ngày thứ hai 8 tháng 5, tuy là tiếp tục, một kiến nghị hoãn cuộc thảo luận mang tính chất một sự bỏ phiếu không ủng hộ và ông Morrisson, nhân danh đối lập, tuyên bố phe này muốn có một cuộc bỏ phiếu. Thủ tướng lại đứng dậy, chấp nhận sự thách thức này và trong một đoạn đáng tiếc, đã kêu gọi các bạn be hãy đứng bên cạnh mình. Ông có quyền làm như vậy, vì bạn bè  ông đã ủng hộ hành động hoặc bất hành động của ông, và như vậy đã chia sẻ trách nhiệm với ông trong "những năm bị châu chấu phá hoại" trước chiến tranh. Nhưng hôm nay họ ngồi đó, im lặng và lúng túng và một số trong họ cũng đúng về phía chống đối. Cũng trong ngày này người ta chứng kiến sự can thiệp lần chót vào quyết định của ông Lloyd George tại Hạ nghị viện. Trong một bài diễn văn không quá 20 phút, ông giáng một đòn nặng vào người đứng đầu chính phủ. Ông ta cố gắng không buộc tội tôi: "Tôi không nghĩ là Bộ trưởng Hải quân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi sự việc đã xảy ra ở Na Uy". Tôi lập tức nói xen: "Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi việc mà Bộ Hải quân đã làm và tôi xin nhận phần của mình trong gánh nặng". Sau khi cảnh cáo tôi không nên để tự mình biến thành một cái hầm trú ẩn phòng không che chắn cho các đồng nghiệp của mình, ông Lloyd George quay sang phía ông Chamberlain: "Vấn đề không phải những ai là bạn bè của Thủ tướng - mà là vấn đề lớn hơn nhiều". Ồng ta kêu gọi hy sinh. "Đất nước sẵn sàng cho mọi sự hy sinh chừng nào có sự lãnh đạo, chừng nào chính phủ trình bày rõ cái mà nó đang nhằm vào, và chừng nào đất nước tin là những người lãnh đạo đang làm hết sức mình". Ông chấm dứt bằng câu: "Tôi long trọng nói Thủ tướng phải là tấm gương về mặt hy sinh, vì không có gì có thể đóng góp nhiều hơn vào thắng lợi trong cuộc chiến tranh này bằng việc ông phải từ chức".


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:20:11 PM

        Trên cương vị là Bộ trưởng, tất cả chúng tôi đều đứng dậy. Các Bộ trưởng Chiến tranh và Không quân đã phát biểu. Tôi đã tự nguyện kết thúc cuộc tranh luận, một việc không vượt quá bổn phận của tôi, không những vì lòng trung thành đối với thủ trưởng mà tôi đã phục vụ dưới trướng, mà còn vì tôi đã có vai trò cực kỳ quan trọng ở phần sử dụng các lực lượng không đầy đủ của chúng tôi trong mưu đồ tuyệt vọng nhằm cứu giúp Na Uy. Tôi đã làm hết súc mình để lấy lại quyền kiểm soát Hạ viện cho chính phủ bất chấp các giai đoạn liên tiếp chủ yếu do phía Công đảng đối lập gây ra. Tôi làm việc đó với chân tâm khi tôi nghĩ đến những sai lầm và chủ nghĩa hòa bình nguy hiểm của họ trong các năm về trước, và cách mà chỉ bốn tháng trước khi chiến tranh nổ ra họ đã liên tục bỏ phiếu chống lại việc gọi lính nhập ngũ. Tôi nghĩ rằng tôi và một số ít bạn bè hành động với tôi mới có quyền đưa ra những lời phê phán, còn họ thì không. Khi họ chĩa vào tôi, tôi phản ứng lại và thách thức họ, và nhiều lần có những tiếng nói to, la hét ầm ĩ đến mức không ai nghe được lời phát biểu của tôi nữa. Tuy vậy, trong suốt thời gian này, rõ ràng là họ không hướng sự tức giận vào tôi mà vào Thủ tướng, người mà tôi đã bảo vệ hết sức mình bất chấp các điều cần phải lưu ý xem xét. Tôi ngồi xuống ghế vào lúc 11 giờ khi Hạ viện đã bị chia rẽ trầm trọng. Chính phủ chiếm đa số 81 phiếu nhưng trên 30 nghị sĩ bảo thủ bỏ phiếu cho Công đảng và các phe đối lập thuộc đảng Tự do, ngoài ra có 60 đại biểu không bỏ phiếu. Rõ ràng là trên thực tế, tuy không phải trên hình thức, cuộc tranh cãi và sự chia rẽ là một biểu hiện mạnh mẽ của sự mất lòng tin vào ông Chamberlain và chính phủ của ông.

        Sau khi cuộc tranh luận chấm dứt, Thủ tướng yêu cầu tôi đến buồng ông và lập túc tôi thấy ông ta rất lo về thái độ của Hạ viện đối với bản thân ông. Ông cảm thấy ông không thể tiếp tục được nữa. Phải có một chính phủ liên hiệp quốc gia. Một đảng không thể kham nổi gánh nặng. Một người nào đó phải thành lập một chính phủ mà mọi đảng phái đều tham gia, nếu không thì không ổn. Nhận thúc được những mâu thuẫn trong cuộc tranh luận, và tin vào quá khứ công tác của mình về những vấn đề tranh cãi này, tôi mạnh dạn tiếp tục đấu tranh. "Đây là cuộc tranh cãi tai hại, nhưng ông có đa số cao. Ông không nên để tâm nhiều có hại đấy. Chúng tôi có một tình hình về Na Uy tốt hơn mức có thể được đưa ra trước Hạ viện. Hãy củng cố chính phủ của ông từ mọi phía và chúng tôi tiếp tục dấn bước cho tới khi đám đa số rơi bỏ chúng ta". Tôi nhằm vào mục đích đó mà nói, nhưng ông Chamberlain không chịu nghe ra và cũng không yên tâm, và đến khoảng nửa đêm tôi ra về với cảm giác là ông sẽ không rời bỏ quyết tâm hy sinh cá nhân mình, nếu không còn cách nào khác, hơn là tìm cách tiếp tục tiến hành chiến tranh với chính phủ một đảng.

        Tôi không nhớ rõ sự việc đã xảy ra như thế nào vào buổi sáng ngày 9 tháng 5, nhưng cái sau đây đã xảy ra: Ngài Kinsley Wood là người bạn và đồng sự thân thiết của Thủ tướng, đã từ lâu hai người cùng làm việc và hoan toàn tin cậy lẫn nhau. Ông Kinsley cho tôi biết ông Chamberlain đã quyết tâm thành lập một chính phủ liên hiệp, và nếu ông ta không thể là người đứng đầu chính phủ, thì ông sẽ nhường bước cho bất cứ ai có thể chiếm được lòng tin của ông. Như vậy, đến buổi chiều tôi được biết là tôi rất có thể được mời là Thủ tướng. Tôi không hoảng hốt và cũng không bị kích động trước triển vọng này. Tôi nghĩ đó là kế hoạch tốt nhất. Tôi bằng lòng để cho sự việc diễn biến. Đến buổi trưa, Thủ tướng triệu tôi đến Downing Street. Tói nơi tôi đã thấy Huân tước Halifax, và sau một cuộc trao đổi về tình hình chung, chúng tôi được báo cho biết là các ông Atlee và Greenwood ít phút nữa sẽ ghé qua gặp chúng tôi để tham khảo ý kiến.

        Khi họ đến, ba Bộ trưởng chúng tôi ngồi ở một phía bên bàn, phía bên kia là các lãnh tụ đối lập. Ông Chamberlain tuyên bố về sự tối cần thiết phải có một chính phủ liên hiệp và tìm cách biết chắc liệu Công đảng có sẽ phục vụ dưới sự lãnh đạo của ông không. Đảng này đang họp hội nghị tại Bournemouth. Cuộc nói chuyện diễn ra hết sức lịch sự, nhưng rõ ràng là các lãnh tụ Công đảng sẽ không cam kết gì mà chưa tham khảo ý kiến người của mình, và tỏ ý rõ ràng là theo họ thì câu trả lời sẽ không thuận lợi. Sau đó, họ rút lui. Buổi chiều hôm đó đẹp trời, Huân tước Halifax và tôi ngồi một lúc trong quán giải khát ngoài trời số 10 và nói chuyện chung chung. Rồi tôi quay lại Bộ Hải quân và vùi đầu vào công việc suốt buổi tối cho đến khuya.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:20:40 PM
        
*

        Sáng ngày 10 tháng 5, mặt trời ló ra mang theo những tin túc khủng khiếp. Tin điện dồn dập đổ đến từ phía Bộ Hải quân, Bộ Chiến tranh và Bộ Ngoại giao, cuộc tấn công được chờ đợi từ lâu từ phía người Đức đã nổ ra. Đức kéo quân vào cả Bỉ và Hà Lan tại nhiều điểm trên biên giới của hai nước này. Toàn bộ sự vận động của quân đội Đức trong việc kéo quân vào các nước Bỉ - Hà - Lục và Pháp đã bắt đầu.

        Vào khoảng 10 giờ sáng, ngài Kinsley Wood đến gặp tôi sau khi vừa gặp Thủ tướng, ông ta nói ông Chamberlain có khuynh hướng cảm thấy do trận chiến lớn xảy ra với chúng tôi nên ông ấy thấy cần phải ở lại vị trí của mình. Kinsley, trái lại, nói với Thủ tướng là cuộc khủng hoảng mới lại càng làm tăng sự cần thiết phải có một chính phủ liên hiệp mới có thể đương đầu được; ông ta thêm nữa là ông Chamberlain đã chấp thuận quan điểm này. Đến 11 giờ sáng, Thủ tướng lại triệu tôi đến Downing street, ơ đây, một lần nữa tôi lại gặp Huân tước Halifax. Chúng tôi ngồi vào ghế đối diện với ông Chamberlain. Ông ta cho biết ông ta hài lòng với việc thành lập một chính phủ liên hiệp là ngoài tầm với của mình. Câu trả lời ông nhận được từ phía các lãnh tụ Công đảng làm cho ông không còn chút hoài nghi gì về việc này. Bởi vậy, vấn đề là ông phải đề xuất người nào với nhà Vua sau khi đơn xin từ chức của ông được chấp nhận. Thái độ của ông là lạnh lùng, tỉnh khô và có vẻ như hoàn toàn không dính dáng đến khía cạnh cá nhân của vấn đề. Ông nhìn chúng tôi từ phía đối diện bên kia bàn.

        Trong đời sống ngoài xã hội, tôi có rất nhiều cuộc gặp gỡ quan trọng, và chắc chắn lần này là quan trọng nhất. Thông thường, tôi nói rất nhiều, nhưng lần này thì tôi giữ im lặng. Rõ ràng là ông Chamberlain còn trong đầu cảnh trao đi đổi lại nẩy lửa ở Hạ viện hai đêm trước đây khi mà tôi có vẻ như là tranh luận rất găng với Công đảng. Mặc dầu cái đó là để ủng hộ và bảo vệ ông, nhưng ông vẫn cảm thấy nó có thể cản trở việc tôi tranh thủ được sự tham gia của họ vào lúc này. Tôi không nhớ những từ ngữ ông đã dùng, nhưng đó là sự hàm ý. Ông Felling, người viết tiểu sử của ông nói rõ là ông ta thích Huân tước Halifax hơn. Vì tôi không lên tiếng, nên có một thời gian ngừng nghỉ dài. Nó có vẻ dài hơn hai phút, thời gian được dành ra trong các cuộc kỷ niệm Ngày Đình Chiến. Rồi ông Halifax phát biểu. Ông nói ông cảm thấy do vị trí của mình là người cùng vai phải lứa, từ Hạ viện mà ra, nên rất khó thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng trong một cuộc chiến tranh như kiểu này. Ông ta sẽ bị coi là chịu trách nhiệm về mọi việc, nhưng sẽ không có quyền hướng dẫn quốc hội, mà sự tín nhiệm của quốc hội lại quyết định sự tồn tại của mọi chính phủ. Ông nói theo hướng này trong vài phút và khi ông chấm dứt thì rõ ràng là trách nhiệm sẽ rơi vào tôi và trên thực tế đã là như vậy. Rồi lần đầu tiên tôi phát biểu. Tôi nói tôi không có liên lạc với bất cứ đảng đối lập nao cho tới khi nhà Vua yêu cẩu tôi thành lập chính phủ. Đến đây thì cuộc đàm thoại quan trọng chấm dứt và chúng tôi trở lại phong cách thoải mái và quen thuộc thông thường của những người đã cùng làm việc với nhau nhiều năm, đã trải qua cuộc sống trong và ngoài cơ quan đầy ắp tình thân thiện của nghệ thuật chính trị của người Anh. Rồi tôi quay lại Bộ Hải quân, nơi mọi người đang sốt ruột chờ tôi.

        Các Bộ trưởng Hà Lan đã ở trong phòng của tôi. Ngơ ngác và mệt mỏi, với sự hoảng sợ hiện trên đôi mắt, họ vừa mới bay từ Hà Lan sang: đất nước họ bị tấn công hoàn toàn vô cớ và bất ngừ. Dòng thác lửa và sắt thép đã tràn qua biên giới và khi kháng chiến nổ ra và lính biên phòng Hà Lan nổ súng, thì một cuộc tấn công ào ạt và tàn bạo đã được tiến hành từ trên không. Toàn bộ đất nước ở trong trạng thái hỗn loạn hoàn toàn, kế hoạch phong thủ chuẩn bị từ lâu đã được thực hiện, các đê được tháo ra, nước tràn khắp nơi. Nhưng người Đức đã vượt qua tuyến tiền phương và giờ đây đang đổ xuống theo triền sông Rhine và đi qua tuyến phòng thủ bên trong Gravelines. Chúng uy hiếp con đường đắp cao bao bọc vùng Zuyder Zee. Chúng tôi có thể làm được bất cứ cái gì để ngăn cản được việc này? May thay, chúng tôi có một hải đội không ở xa lắm và lập tức ra lệnh cho hải đội dội lửa vào con đường đắp cao để tiêu diệt đám quân xâm lược đông như kiến càng nhiều càng tốt. Nữ hoàng vẫn ở trong nước Ha Lan, nhưng hình như không thể ở lâu được.
 
        Các cuộc thảo luận đi đến kết quả là Bộ Hải quân đã phát đi một số lớn mệnh lệnh cho tất cả các tàu của chúng tôi ở vùng lân cận và mối quan hệ chặt chẽ được thiết lập với Hải quân Hà Lan. Tuy con nguyên trong đầu việc Na Uy và Đan Mạch bị người Đức đè bẹp mới đây, các Bộ trưởng Hà Lan hỉnh như không thể hiểu làm thế nào mà nước Đại Đức cho đến đêm gần đây không rao giảng cái gì hết ngoài tình hữu nghị, lại đột nhiên thực hiện việc tấn công kinh khủng và tàn bạo này. Một hoặc hai giờ dùng cho việc thảo luận và một số việc khác đã trôi qua. Một loạt các điện báo được dồn dập gửi về từ các biên giới bị đợt sóng đầu tiên quân Đức xâm phạm. Hình như kế hoạch Schlieffen cũ được tân tạo lại với sự kéo dài đến Hà Lan đang được triển khai đầy đủ. Năm 1914 cánh phải cơ động của đạo quân xâm lược Đức đã ào ạt kéo qua Bỉ nhưng gần tới Hà Lan thì dừng lại. Lúc bấy giờ, người ta biết rõ ràng là nếu chiến tranh chậm nổ ra ba hoặc bốn năm thì quân đoàn đặc biệt có thể đã sẵn sàng và đầu mối cuối cùng đường sắt và đường giao thông được bố trí để thích ứng với sự vận động hành quân xuyên qua Hà Lan. Giờ đây cuộc hành quân nổi tiếng đã được tung ra với tất cả các tiện nghi này và với mọi tình huống bất ngờ và lật lọng. Nhưng các sự kiện khác đang ở phía trước. Cú đánh quyết định của quân địch không phải là đánh vòng thọc ngang sườn mà là chọc thủng mặt trận chính: không ai trong chúng tôi hoặc người Pháp, có trách nhiệm chỉ huy, thấy trước được việc này. Trước đó, trong năm, trên một bài phỏng vấn được công bố, tôi đã cảnh cáo các nước trung lập này về số phận đang treo trên đầu họ, căn cứ vào các việc bố trí quân, việc phát triển đường xá và đường sắt cũng như các kế hoạch bắt được của Đức. Lời nói của tôi đã gặp sự phản ứng chua chát.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:21:25 PM

        Trong sự đổ vỡ tan tành của trận chiến rộng lớn này, các cuộc trao đổi không ồn ào của chúng tôi tại Downing Street đã mờ nhạt đi hoặc rơi vào tiềm thúc của con người. Tuy nhiên, tôi nhớ lại là người ta cho tôi biết ông Chamberlain đã hoặc đang đến gặp nhà vua và điều nay dĩ nhiên là được mong đợi. Bấy giờ, có giấy triệu tập tôi đến hoàng cung vào 6 giờ sáng. Từ Bộ Hải quân đến đó, đi xe chỉ mất hai phút chạy dọc theo pho Mali. Tuy tôi giả thiết báo buổi chiều phải đăng tải đầy tin túc khủng khiếp từ lục địa châu Âu, nhưng không thấy có tin gì về cuộc khủng hoảng nội các. Công chúng không có thì giờ để tiếp nhận điều gì đã xảy trong nước hoặc ở bên ngoài, và không thấy có đám đông tụ tập trước của Hoàng cung.

        Tôi được đưa ngay vào gặp nhà vua. Nhà vua tiếp tôi rất lịch sự và mời tôi ngồi. Người nhìn tôi một cách hóm hỉnh và như để tìm hiểu trong một lát, rồi hỏi: "Tôi giả thiết là ông không rõ vì sao tôi lại triệu tập ông?". Cùng theo phong cách này của nhà vua tôi trả lời: "Đon giản là tôi không thể tưởng tượng được vì sao". Người cười to và nói: "Tôi muốn ông thành lập một chính phủ?" Tôi nói nhất định là tôi sẽ làm điều đó. Nhà vua không định rõ chi tiết về chính phủ mang tính chất dân tộc, và tôi cảm thấy không có nghi thức nào qui định nhiệm vụ tôi được giao phải bị lệ thuộc vào điểm này. Nhưng vì do chính cái gì đã xảy ra và các điều kiện đã đưa đến sự từ chức của ông Chamberlain, nên một chính phủ mang tính chất dân tộc rõ ràng là gắn liền với tình hình. Nếu tôi thấy không thể thống nhất với các đảng đôi lập, thì về mặt hiến pháp tôi không bị cẩm thành lập một chính phủ mạnh nhất có thể được của tất cả những ai đứng bên cạnh đất nước vào giờ phút hiểm nguy, miễn là một chính phủ như vậy có thể nắm được đa số trong Hạ viện. Tôi nói với nhà vua là tôi sẽ lập túc cho mời các lãnh tụ Công đảng và Đảng Tự do, và đề nghị lập ra một Nội các Chiến tranh gồm 5-6 bộ trưởng, và tôi hi vọng báo cáo với Người ít nhất năm, sáu tên các nhân vật trước nửa đêm. Sau đó tôi xin phép rút lui và trở về Bộ Hải quân.

        Theo yêu cầu của tôi, từ 7 đến 8 giờ, ông Atlee đến gặp tôi. Ông ta đến cùng với ông Greenwood. Tôi cho ông ta biết là tôi được giao quyền thành lập một chính phủ và hỏi liệu Công đảng có tham gia không. Ông ta nói là có thể. Tôi đề nghị họ sẽ có trên 173 số ghế, hai ghế trong số năm ghế của Nội các chiến tranh và có thể Nội các có tới sáu ghế. Tôi yêu cầu ông Atlee cho tôi một danh sách người của ông để chúng tôi có thể trao đổi về các ghế đặc biệt. Tôi nêu tên các ông Emest Bevin, Alexander, Morrison và Dalton là những người mà cơ quan cấp cao cần gấp. Dĩ nhiên, tôi từ lâu đã quen biết hai ông Atlee và Greenwood ở Hạ viện. Trong mười năm trước khi nổ ra chiến tranh, tôi đi đến chỗ luôn luôn và chạm với chính phủ của các Đảng Bảo thủ, Đảng Quốc gia và nhiều hơn so với Công đảng và Đảng Tự do đối lập. Chúng tôi có một cuộc nói chuyện vui vẻ và ngắn ngủi và hai ông đó ra về để nói lại tình hình bằng điện thoại với bạn bè và người theo mình tại Bournemouth và dĩ nhiên đó là những người mà họ tiếp xúc chặt chẽ nhất trong 48 giờ trước đó.

        Tôi mời ông Chamberlain lãnh đạo Hạ viện với danh nghĩa là Chủ tịch Hội đồng, ông trả lời qua điện thoại là ông chấp nhận và chuẩn bị thông báo trên đài vào chín giờ tôi nay là ông đã từ chúc và yêu cầu mọi người ủng hộ và giúp đỡ người thay ông. Ông làm việc này với tinh thần cao cả. Tôi yêu cầu Huân tước Halifax tham gia Nội các Chiến tranh trong khi vẫn giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao. Vào khoảng 10 giờ tôi gửi lên nhà vua danh sách năm người như tôi đã hứa. Việc chỉ định ba bộ trưởng quân chủng là cực kỳ cấp thiết. Tôi đã quyết định trong đầu ba người đó phải là ai. Ông Eden phải về Bộ Chiến tranh, ông Alexander về Bộ Hải quân và Ngài Archibald Sinclain, lãnh tụ đảng Tự do phải nắm Bộ Không quân. Tôi đồng thời kiêm chức Bộ trưởng Quốc phòng mà không tìm cách định ra phạm vi và quyền hạn của Bộ này.

       
*

        Như vậy, rồi đây vào đêm ngày 10 tháng 5, khi trận cường chiến bắt đầu, tôi có được quyền lực chính của nhà nước mà từ nay trở đi tôi nắm và sử dụng trên một phạm vi không ngừng tăng trong 5 năm ba tháng của cuộc Chiến tranh Thế giới. Đến khi chiến tranh chấm đứt, tất cả các quân thù của chúng tôi đã đầu hàng vô điều kiện hoặc sắp sửa làm như vậy, thì ngay lập tức các cử tri người Anh không để tôi tiếp tục lãnh đạo các công việc của họ nữa.

        Trong những ngày bận rộn cuối cùng này của cuộc khủng hoảng chính trị, không lúc nào mạch tôi đập nhanh cả. Tôi chấp nhận mọi sự đã xảy ra. Nhưng tôi không thể giấu được độc giả chuyện kể thực là khi tôi lên giường ngủ vào lúc ba giờ sáng, tôi có một cảm giác sâu sắc về thư giãn. Rốt cuộc tôi đã có quyền ra những chỉ thị đối với mọi tình huống. Tôi cảm thấy như đang đi tới số phận, và toàn bộ cuộc đời quá khứ của tôi chỉ là một sự chuẩn bị cho giờ phút này, cho thử thách này. Mười năm với một chân dung mơ nhạt trên chính trường đã giải phóng tôi khỏi mọi sự đối địch tầm thường về đảng phái, sự cảnh báo của tôi trong sáu năm chót là rất nhiều, rất chi tiết và sự đúng đắn của nó được cực lực bảo vệ đến nỗi không ai có thể phủ định tôi được. Tôi cũng không thể bị chê trách là đã làm chiến tranh hoặc là đã không có chuẩn bị cho chiến tranh. Tôi nghĩ là tôi biết khá nhiều về tất cả mọi thứ và tôi tin là tôi không được thất bại. Bởi vậy, tuy bứt rứt, sốt ruột lúc ban mai, tôi ngủ ngon và không cần có những giấc mơ hoa. Sự việc tốt hơn là mơ mộng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Một, 2019, 11:42:41 PM
         
Phần 2

ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ

        Chúng tôi đơn thương độc mã đối phó trực diện với sự tấn công chí tử từ phía nước Đức thắng trận và nước Ý, với việc Nga Xô một nước trung lập thù địch tích cực giúp đỡ Hitler, và với Nhật Bản, một mối đe dọa không thể biết được.

1

SỰ LIÊN KẾT QUỐC GIA

        Cuối cùng thì con thịnh nộ bị dồn nén từ lâu đã trút xuống chúng tôi. Bốn hoặc 5 triệu người gặp nhau trong cuộc đụng độ đầu tiên của một trận chiến khốc liệt nhất trong các cuộc chiến đã được ghi nhận. Trong vòng một tuần, mặt trận Pháp mà chúng tôi đã từng trải qua ở tuyến sau trong các năm gian khổ của cuộc thế chiến trước, thì trong giai đoạn đầu của thế chiến lần này đã bị vỡ mà không sao cứu vãn được. Trong 3 tuần, quân đội Pháp, nổi tiếng từ lâu, đã bị đánh tan tác trong khi quân đội Anh bị hất ra biển và mất toàn bộ vũ khí trang bị. Trong vòng 6 tuần chúng tôi thấy mình trơ trọi, hầu như bị giải giáp, với nước Đức và Ý chiến thắng ở ngay sát nách, với toàn bộ châu Âu mở cửa cho quyền lục của Hitler, và Nhật Bản nổi trội đánh phá phía bên kia địa cầu. Trong khung cảnh đầy các sự kiện và viễn cảnh đe dọa này, tôi nhận trách nhiệm của một Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng, tôi tập trung vào nhiệm vụ đầu tiên là thành lập một Chính phủ của tất cả các đảng phái để điều hành công việc đối nội cũng như đối ngoại của nhà vua bằng bất cứ các phương tiện nào được cho là thích hợp  nhất với quyền lợi quốc gia.

        Suýt soát đúng 5 năm sau, có thể có một cái nhìn thuận lợi hơn đối với hoàn cảnh của chúng tôi. Nước Ý bị chiếm đóng và Mussolini bị giết. Quân đội Đức hùng mạnh đã đầu hàng vô điều kiện, Hitler đã tự sát. Ngoài số rất lớn người và vật bị tướng Eisenhower bắt giữ, xấp xỉ 3 triệu lính Đức bị Thống chế Alexander ở mặt trận Ý và Thống chế Montgomery ở mặt trận Đức bắt làm tù binh trong vòng 24 giờ. Nước Pháp được giải phóng, tập hợp trở lại và hồi sinh. Sát cánh với các Đồng minh, là hai đế quốc hùng mạnh nhất trên thế giới, chúng tôi tiến bước nhanh chóng tiêu diệt sức đề kháng của Nhật. Con đường xuyên qua 5 năm này là dài, vất vả và nguy hiểm. Những người bỏ mạng trên con đường đó đã không chết vô ích. Những người đã tiến đến cùng sẽ tự hào về chặng đường mình đã vinh dự đi qua.

       
*

        Khi báo cáo về công việc quản lý của tôi, cũng như kể lại về chính phủ liên hiệp quốc gia nổi tiếng, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là làm rõ qui mô và sức mạnh của sự đóng góp của Đại Anh Quốc và đế quốc Anh mà sự hiểm nguy chỉ làm tăng thêm tình đoàn kết, vào cái mà nhiên hậu đã trở thành sự nghiệp chung của nhiều quốc gia và dân tộc. Khi làm việc nay tôi không muốn đưa ra các so sánh làm cho người ta khó chịu hoặc làm nẩy sinh những cạnh tranh vô ích với đồng minh vĩ đại nhất của chúng tôi là nước Mỹ, một nước mà chúng tôi mãi mãi biết ơn vô hạn. Tuy nhiên, vì lợi ích kết hợp của thế giới nói tiếng Anh mà tầm quan trọng của những cố gắng của Anh trong chiến tranh phải được biết đến và ghi nhận, vì vậy, tôi đã cho làm một bản kê sau đây bao trùm toàn bộ thời gian chiến tranh. Bản này cho thấy là cho đến tháng 7/1944 số các sư đoàn tiếp cận với địch của Anh và Đế quốc Anh nhiều hơn đáng kể so với Mỹ, bao gồm không chỉ các phạm vi ở Âu Châu và Phi Châu mà cả toàn bộ cuộc chiến chống Nhật ở Châu Á. Cho tới khi đại quân Mỹ kéo đến Normandie vào mùa thu 1944, chúng tôi luôn luôn có quyền phát ngôn ít nhất cũng là trên cương vị bình đẳng, và thông thương là một đối tác có nhiều ảnh hưởng trên mọi chiến trường, trừ Thái Bình Dương và Châu Úc. Điều này, tính đến thời gian được nói đến, vẫn đúng đối với số tính gộp tất cả các sư đoàn trên mọi chiến trường cho một tháng nhất định. Từ tháng 7/1944, mặt trận tác chiến của Mỹ được biểu hiện dưới dạng các sư đoàn tiếp cận với địch, ngày càng trở thành bao trùm và cứ tiếp tục đà này đi lên và chiến thắng cho tới thắng lợi cuối cùng 10 tháng sau đó.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:19:10 PM

        Một sự so sánh khác nữa mà tôi đã làm, cho thấy sự hy sinh về tính mạng của Anh và Đế quốc Anh thậm chí còn lớn hơn so với người Đồng minh anh dũng của chúng tôi. Tổng số chết, mất tích, coi như là đã chết, của các lực lượng vũ trang lên tới con số 303.240, thêm vào đó là trên 109.000 từ các nước tự trị, Ấn Độ và các thuộc địa, tổng cộng tất cả là 412.240. Con số này không bao gồm 60.500 thường dân bị chết trong các trận không tập trên lãnh thổ Liên hiệp Anh, cũng như tổn thất về đội thương thuyền, ngư dân, cộng khoảng 30.000. So sánh với số này, số tử vong trong lục quân, không quân, hải quân, thủy quân lục chiến và đội bảo vệ bờ biển của Mỹ là 320.188. Tôi kế ra những bảng vang danh dự buồn thảm này với niềm tin mạnh mẽ của mình là tình chiến hữu bình đẳng, đã được biết bao xương máu làm cho thiêng liêng, sẽ tiếp tục chiếm được sự kính phục của thế giới nói tiếng Anh.

(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/49569632_360045844725302_4185020982240477184_n.jpg?_nc_cat=103&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=22116480fd480e9a7b7b05358e158ddf&oe=5CC594A2)

        Ghi chú cho bảng :

        + Đội quân viễn chinh Anh tại Pháp

        + Không tính quân du kích tại Abyssinia

        + Không tính quân đội Phi Luật Tân

        Đường ranh giới giữa các chiến trường Đông và Tây là dường Bắc-Nam đi qua Karachi.

        Những khu vực sau đây không được coi là chiến trường có hành quân: Biên giới Tây Bắc Ấn Độ; Gibraltar; Tây Phi; Băng Đảo; Hawai; Palestine; Irắc-Syria (trừ ngày 1-7-1941), Malta được coi là chiến trường có hành quân; cả Alaska nữa từ 1-42 dến 1943. Các nhóm nước ngoài như Pháp Tự do, Ba Lan, Tiệp không được tính gộp vào.



        Trên các đại dương, đương nhiên là Mỹ chịu hầu như toàn bộ gánh nặng của cuộc chiến trên Thái Bình Dương, các trận đánh quyết định tại đảo Midway, Guadalcanal và ở biển san hô năm 1942 làm cho họ chủ động hoàn toàn trên đại dương rộng lớn, cũng như tạo điều kiện để họ tấn công tất cả các khu vực chiếm đóng của Nhật và cuối cùng là đánh vào chính nước Nhật. Hải quân Mỹ không thể trong cùng một thời gian chịu được gánh nặng chính trên Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Ớ đây, một lần nữa việc ghi lại các sự kiện là một nghĩa vụ: Trong số 781 tầu ngầm của Đức và 85 chiếc của Ý bị tiêu diệt tại chiến trường châu Âu, Đại Tây Dương và Ân Độ Dương, có 594 chiếc là công của lực lượng hải và không quân Anh và lực lượng này cũng thanh toán toàn bộ các chiến hạm, tuần dương và khu trục hạm, chưa kể việc phá hủy hoặc bắt giữ toàn bộ hạm đội của Ý. Dưới đây là bản thống kế các tổn thất về tầu ngầm:

        Tổng số tầu ngầm bị tổn thất:

Các tàu ngầm bị tiêu diệtĐức          Ý          Nhật       
Do các lực lượng Anh525699.1/2
Do các lực lượng Hoa Kỳ1745110.1/2
Bởi các lý do khác và không rõ821110
Tổng cộng78185130

        Chú thích cho bảng :

        Cụm từ các lực lượng Anh và Mỹ bao gồm các lực lượng đồng minh dưới sự chỉ huy hành quân của Anh và Mỹ. Các tổn thất biểu diễn dưới dạng phân số là "thành tích chung của các bên". Có rất nhiều trường hợp "thành tích chung của các bên", nhưng trong tổng số về Đức thì các phân số được cộng vào các con số toàn bộ. Trên không, nước Mỹ có những cố gắng tuyệt vời trong việc tham chiến, đặc biệt là việc sử dụng ban ngày pháo đài bay trên qui mô lớn nhất và sớm nhất sau sự kiện Trân Châu cảng để chống lại Nhật và cả Đức nữa từ các căn cứ trên các đảo của Anh quốc. Tuy nhiên, khi chúng tôi tới Casablanca tháng 1/1943, không một chiếc oanh tạc cơ nào của Mỹ đã đơn độc ném 1 trái bom xuống Đức lúc ban ngày. Các cố gắng lớn của Mỹ đã mang lại kết quả, nhưng cho tới cuối 1943, số lượng bom mà Anh đã thả xưởng đất Đức vượt tỉ lệ 8 trên 100 với số bom được phóng ra từ các cỗ máy của Mỹ ngày cũng như đêm, và mãi tới mùa xuân 1944 thì phần của Mỹ mới hơn hẳn. Ở đây, về mặt lục quân cũng như ngoài biển, chúng tôi thực hiện đầy đủ kế hoạch ngay từ buổi đầu, và chưa tới năm 1944 thì Mỹ đã vượt chúng tôi về những cố gắng cho chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:25:40 PM

        Phải nhớ là sự cố gắng của chúng tôi trên mặt vũ khí đạn dược  từ lúc bắt đầu Lend-lease (một sự thỏa thuận trong đó Mỹ cung cấp vũ khí đạn dược để đổi lấy quyền sử dụng căn cứ hải quân - L.N.D) vào tháng 1/1941 đã tăng thêm trên 20% nhờ có sự hào hiệp của Mỹ. Với số trang bị máy móc và vũ khí do Mỹ trao cho, chúng tôi thực sự có khả năng làm chiến tranh như một nước có 58 triệu dân thay vì 48 triệu, về mặt hàng hải, việc sản xuất đáng ngạc nhiên các tầu Tự do đã giúp duy trì luồng tiếp tế xuyên Đại Tây Dương. Mặt khác, phải chú ý đến sự phân tích các tổn thất về tàu bè do địch gây ra cho tất cả các nước trong suốt cuộc chiến tranh. Dưới đây là các số liệu:

Quốc tịch                              Tổn thất tính theo tấn thô     Tỉ lệ phần trăm
Anh                                      11.357.000                                 54
Mỹ                                         3.334.000                                  16
Các nước khác                         6.503.000                                  30
----------------------------------------------------------------------------------------------
Cộng                                     21.194.000                                100


        Phải nhớ là sự cố gắng của chúng tôi trên mặt vũ khí đạn dược  từ lúc bắt đầu Lend-lease (một sự thỏa thuận trong đó Mỹ cung cấp vũ khí đạn dược để đổi lấy quyền sử dụng căn cứ hải quân - L.N.D) vào tháng 1/1941 đã tăng thêm trên 20% nhờ có sự hào hiệp của Mỹ. Với số trang bị máy móc và vũ khí do Mỹ trao cho, chúng tôi thực sự có khả năng làm chiến tranh như một nước có 58 triệu dân thay vì 48 triệu, về mặt hàng hải, việc sản xuất đáng ngạc nhiên các tầu Tự do đã giúp duy trì luồng tiếp tế xuyên Đại Tây Dương. Mặt khác, phải chú ý đến sự phân tích các tổn thất về tàu bè do địch gây ra cho tất cả các nước trong suốt cuộc chiến tranh. Dưới đây là các số liệu:
       
        80% các tổn thất nói trên xẩy ra trên Đại Tây Dương bao gồm cả vùng bờ biển Anh quốc và Biển bắc. Chỉ có 5% là xẩy ra ở Thái Bình Dương.

        Điều này được ghi lại tất cả, không phải để đòi hỏi một vinh dự không xứng đáng mà là thiết lập một nền tảng khả dĩ chinh phục được sự kính trọng của những người có đầu óc công bằng đối với kết quả to lớn của mọi hoạt động đóng góp cho chiến tranh của nhân dân trên hòn đảo nhỏ này, những người phải hứng chịu gánh nặng của cuộc khủng hoảng trong lịch sử thế giới.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:26:17 PM

       
*

        Trong khói lửa chiến tranh, việc lập một chính phủ, nhất là chính phủ liên hiệp, dễ dàng hơn so với thời kỳ yên tĩnh. Ý thúc trách nhiệm là trên hết, yêu cầu về cá nhân phải nhường chỗ. Một khi các sự sắp xếp chủ yếu đã được giải quyết với các lãnh tụ các đảng và các bộ phận có thẩm quyền của các tổ chức đảng, những người mà tôi mời đều có thái độ của những người lính với hành động sẵn sàng đi nhận ngay nhiệm vụ được giao, không có vấn đề gì thắc mắc cả. Cơ sở về đảng trong chính phủ đã được chính thức thiết lập, tôi thấy không ai trong số rất lớn các vị mà tôi phải gặp, có mang cái "Tôi" trong đầu cả. Nếu có một ít do dự thì cái đó cũng chỉ vì lý do cân nhắc trước dư luận công chúng. Tinh thần cao này thậm chí cũng có ở một số lớn các Bộ trưởng thuộc các Đảng Bảo thủ, Tự do là những người phải rơi nhiệm sở và bỏ nghề nghiệp của mình, cũng như bước ra - nhiều trường hợp là vĩnh viễn - khỏi đời sống viên chức vào thời điểm của lợi ích cao và gây xúc cảm mạnh mẽ này.

        Các người thuộc Đảng Bảo thủ có một đa số ghế là trên 120 so với tổng số ghế của các đảng khác trong Hạ Viện cộng lại. Ông Chamberlain được chọn làm lãnh tụ đảng. Tôi không thể không nhận ra là việc tôi thay ông Chamberlain làm cho nhiều người Bảo thủ không vui vẻ gì sau nhiều năm dài tôi phê phán và thường là chỉ trích kịch liệt. Ngoài ra, đa số họ đều biết rõ cuộc đời tôi đã có những sự đụng chạm cọ xát và cãi cọ thực sự với Đảng Bảo thủ, tôi đã bỏ họ trên vấn đề Mậu dịch tự do và quay lại với chức Bộ trưởng Tài chính sau đó, trong nhiều năm tôi là địch thủ chính của họ trên các vấn đề về Ấn Độ, về chính sách ngoại giao, và về sự thiếu chuẩn bị cho chiến tranh. Chấp nhận tôi làm Thủ tướng là điều rất khó đối với họ. Nó gây đau đớn cho nhiều người có danh giá. Hơn nữa, trung thành với người được chọn làm lãnh tụ của Đảng là một đặc thù chính của những người Bảo thủ. Nếu trong những năm trước chiến tranh, họ không làm tròn nghĩa vụ đôi với quốc gia dân tộc trên một số vấn đề, thì đó là vì ý thức trung thành của họ đối với thủ trưởng được chỉ định của mình. Tôi không mảy may lo phiền về bất cứ điều nào kể trên cả. Tôi tin tất cả họ đều chìm lấp trong tiếng súng rền.

        Ban đầu, tôi đề nghị ông Chamberlain làm nhiệm vụ lãnh đạo Hạ viện và là chủ tịch Hội đồng Tư vấn Hoàng gia và ông đã chấp nhận. Không điều gì được công bố cả. Ông Atlee cho tôi biết là với sự sắp xếp như vậy, Công đảng sẽ khó làm việc. Trong một chính phủ liên hiệp một người lãnh đạo Hạ viện phải được mọi người chấp nhận. Tôi nêu vấn đề này với ông Chamberlain, và với sự sẵn sàng đồng ý của ông ta, tôi trực tiếp nắm quyền lãnh đạo và giữ cương vị này cho tới tháng 2/1942. Trong thời gian nay, ông Atlee đại diện tôi giải quyết các công việc hàng ngày. Kinh nghiệm lâu năm trong phe đối lập của ông rất quí giá. Tôi chỉ can thiệp trong những trường hợp tối khẩn thiết. Tuy nhiên những trường hợp này thường xẩy ra luôn. Nhiều đảng viên Bảo thủ cảm thấy lãnh tụ của họ bị coi nhẹ. Mọi người đều thán phục tư cách của ông ta. Lần đầu khi vào Hạ viện với cương vị mới (13/5) toàn thể Đảng của ông - một đa số lớn trong Hạ Viện - đã đứng dậy nhiệt liệt bày tỏ tình cảm và lòng kính trọng đối với ông. Trong những tuần đầu, tôi được chào mừng chủ yếu từ các dẫy ghế của Công đảng. Nhưng ông Chamberlain giữ vững trung thành và sự ủng hộ đối với tôi, và tôi tự tin vào mình.

        Có một áp lục đáng kể từ các phần tử của Công đảng và một số trong nhiều gương mặt có khả năng, có nhiệt tình không ở trong thành phần chính phủ mới, yêu cầu phải thanh trừ "các người có tội" và các Bộ trưởng chịu trách nhiệm về vụ Munich hoặc có thể bị phê phán về nhiều khuyết điểm trong việc chuẩn bị chiến tranh của chúng tôi. Nhưng đây không phải là lúc để trừng phạt những người có khả năng, yêu nước, có kinh nghiệm lâu năm ở các cơ quan cao của nhà nước. Nếu những người chủ trương trừng phạt thực hiện được ý đồ thì ít nhất 1/3 các bộ trưởng Đảng Bảo thủ đã bị buộc phải từ chức. Xét vì ông Chamerlain là lãnh tụ của Đảng Bảo thủ, việc đòi trừng phạt rõ ràng sẽ phá hoại sự thống nhất quốc gia. Hơn nữa, tôi thấy không cần phải tự hỏi mình là liệu trách nhiệm chỉ do một bên chịu. Trách nhiệm chính thức thuộc về chính phủ đương thời. Nhưng trách nhiệm tinh thần trải rộng hơn nhiều. Tôi còn nhớ một cách chi tiết một danh mục dài và kinh khủng những trích dẫn từ các bài phát biểu, các chính kiến thông qua bằng bỏ phiếu được Công Đảng ghi lại, (đảng Tự do, các Bộ trưởng cũng ghi lại không kém) tất cả đều bị các sự kiện phủ nhận. Không ai có quyền hành hơn tôi để xóa bỏ quá khứ. Bởi vậy tôi chống lại các khuynh hướng gây rối loạn. Một vài tuần sau, tôi nói "Nếu hiện tại tìm cách lập phiên tòa để kết tội quá khứ, nó sẽ xóa sạch cái tương lai". Lập luận này và áp lục kinh khủng của thời điểm đã loại bỏ những ai có thể là những người săn lùng điều phi đạo lý.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:26:44 PM

        Kinh nghiệm của tôi trong những ngày đầu ấy có tính chất đặc biệt. Con người sống với trận mạc, mọi ý nghĩ đều tập trung vào đó và cũng chẳng có thể làm được cái gì hơn. Luôn luôn có việc phải thành lập chính phủ, đi thăm các vị khả kính, điều chỉnh sự hài hòa giữa các đảng. Tôi không thể nhớ, mà sổ sách của tôi cũng không ghi là toàn bộ thời gian được sử dụng như thế nào. Vào thời gian đó, một Bộ của Anh có 60 - 70 quan chức cấp cao và phải sắp xếp họ vào những chỗ giống như là giải quyết một câu đố trong một trò chơi xếp hình, có tính đến các yêu sách của cả ba đảng. Tôi cần phải gặp không chỉ tất cả các nhân vật chính, mà ít nhất là trong một vài phút, cả đám đông những người có khả năng cần được chọn ra cho các nhiệm vụ quan trọng. Khi thành lập một chính phủ liên hiệp, người Thủ tướng phải chú ý đúng mức đến các nguyện vọng của các lãnh tụ đảng về những ai trong số đảng viên phải được bố trí vào những cương vị được phân phối cho đảng. Tôi chủ yếu phải tuân thủ nguyên tắc này. Nếu như có bất cứ ai xúng đáng hơn mà bị bỏ ra theo ý kiến tham vãn của đảng họ, hoặc thậm chí bất chấp ý kiến tham vấn đó, thì tôi chỉ có thể bày tỏ sự đáng tiếc. Tuy nhiên về đại thể, thì khó khăn không nhiều:

       Ở ông Clement Atlee, tôi có một đồng sự có nhiều kinh nghiệm chiến tranh, có hiểu biết sâu về Hạ nghị viện. Khác nhau duy nhất về cách nhìn giữa chúng tôi là cách nhìn về Chủ nghĩa Xã hội, các khác biệt này bị chiến tranh làm lu mờ và chiến tranh đã mau chóng kéo theo việc cá nhân hầu như hoàn toàn phục tùng Nhà nước. Trong suốt nhiệm kỳ của Chính phủ, chúng tôi làm việc với nhau rất thoải mái và tin tưởng nhau. Ông Arthur Greenwood là một cố vấn khôn khéo, rất dũng cảm, và là một người bạn tốt và có tinh thần giúp đỡ.

        Là lãnh tụ chính thức của Đảng Tự do, Ngài Archibald Sinclair cảm thấy lúng túng khi nhận chức Bộ trưởng Không quân, vì các đồng chí của ông ta cho là thay vì vị trí này, ông phải có một ghế trong Nội các Chiến tranh, nhưng điều này trái với nguyên tắc của một nội các chiến tranh nhỏ. Do đó, tôi đề nghị ông ta phải tham gia Nội các Chiến tranh khi xẩy ra những vấn đề về đường lối cơ bản hoặc liên hiệp đảng phái. Ông là bạn của tôi và chỉ huy phó của tôi vào năm 1916, khi tôi là chỉ huy trưởng Trung đoàn Khinh binh Scotland số 6 tại "Plug street" và bản thân ông mong muốn tham gia lĩnh vực hoạt động rộng lớn mà tôi danh cho ông. Việc này được giải quyết một cách hữu hảo không phải thương lượng nhiều. Ông Emest Bevin mà tôi quen biết từ buổi đầu chiến tranh, khi tôi tìm cách giảm bớt yêu cầu khắt khe của Bộ Hải quân về tầu kéo lưới vét, đã phải tham khảo ý kiến Tổng Liên đoàn Công nhân và Vận tải mà ông ta là thư ký, trước khi ông có thể tham gia ê kíp trong cơ quan tối quan trọng của Bộ trưởng Lao động. Việc nay phải mất hai hoặc ba ngày nhưng cũng đáng. Liên đoàn này, tổ chức công nhân lớn nhất nước Anh, nhất trí với việc làm này của Bevin và giữ vững lập trường trong 5 năm cho tới khi chúng tôi chiến thắng.

        Khó khăn lớn nhất là với Huân tước Beaverbrook. Tôi tin là ông có những việc để đóng góp với chất lượng rất cao. Trên cơ sở những kinh nghiệm của tôi trong các năm trước, tôi quyết định chuyển việc cung cấp và thiết kế máy bay ra khỏi Bộ Không quân và tôi muốn ông làm Bộ trưởng sản xuất Máy bay. Ban đầu, ông có vẻ chần chừ trong việc lãnh trách nhiệm này và đương nhiên Bộ Không quân không muốn ngành cung cấp bị tách ra. Còn có một số bất đồng khác về việc bổ nhiệm ông. Tuy vậy, tôi cảm thấy cuộc sống của chúng tôi tùy thuộc vào dong chảy liên tục của sự xuất xưởng các máy bay mới, tôi cần cái nghị lục dồi dào và cần thiết cho sự thành công của ông ta, và tôi giữ quan điểm nay.

        Để tôn trọng dư luận phổ biến trong quốc hội và trên báo chí, thì điều cần thiết là Nội các Chiến tranh phải nhỏ. Bởi vậy tôi bắt đầu bằng 5 thành viên thôi và chỉ ông Bộ trưởng Ngoại giao mới có một bộ riêng. Đương nhiên các vị này là chính khách lớn đương thời của các đảng phái. Để tiện cho việc điều hành công việc, Bộ trưởng Tài chính và lãnh tụ Đảng Tự do thường cần phải có mặt và cùng với thời gian, số "người tham dự thường xuyên" tăng lên. Nhưng toàn bộ trách nhiệm được đặt lên vai 5 vị bộ trưởng trong Nội các Chiến tranh. Họ là những người có quyền được mất đầu tại nhà giam Tower Hill nếu chúng tôi không chiến thắng. Những người còn lại thì chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong phạm vi cấp bộ, không chịu trách nhiệm về chính sách của Nhà nước. Ngoài Nội các Chiến tranh, không ai có thể nói "Tôi không chịu trách nhiệm về cái này hoặc cái kia". Gánh nặng của chính sách do cấp cao hơn hứng chịu. Điều này làm cho nhiều người trút được nỗi lo trong những ngày sắp giáng xuống đầu chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:27:06 PM

       
*

        Trong kinh nghiệm về chính trị lâu năm của mình, tôi đã giữ những chức vụ quan trọng nhất của Nhà nước, nhưng tôi sẵn sàng thừa nhận là chức vụ giờ đây đã rơi vào tay tôi là chức vụ mà tôi thích nhất. Quyền lực thường được đánh giá là điều cơ bản khi dùng nó để trị người đồng loại hoặc để tăng thêm sự phô trương cá nhân. Nhưng trong con khủng hoảng của quốc gia thì quyền lực là điều mang lại hạnh phúc khi một người biết rõ phải đưa ra những mệnh lệnh gì. Trong bất cứ lãnh vục hoạt động nào, không thể có được sự so sánh giữa các vị trí số 1, với số 2, 3 hoặc 4... Nhũng nghĩa vụ, những vấn đề của tất cả mọi người ngoài người số 1 ra là hoàn toàn khác và khó hơn về nhiều mặt. Luôn luôn là điều bất hạnh khi người số 2 hoặc số 3 phải đề xưởng một kế hoạch hoặc chính sách quan trọng nhất. Người đó không những phải cân nhắc cái được của chính sách mà cả tâm tư người thủ trưởng của mình; cái phải khuyên cáo cần cân nhắc là ở vị trí mình có nên khuyến cáo hay không. Hơn nữa, người số 2 hoặc 3 cũng sẽ phải tính đến người số 4, 5 và 6 và có thể cả số 20, người ngoài cuộc sáng nước hơn. Ở trong đầu mỗi người, tham vọng không được dành nhiều cho những mục đích tầm thường cho danh vọng cho hào quang. Luôn luôn có thể có những quan điểm đúng và nhiều quan điểm hợp lý. Vào thời gian này năm 1915, tôi bị phá sản trong vấn đề Dardanelles và qua việc tôi tìm cách thực hiện một chiến dịch quân sự lớn và cơ bản từ cương vị của một cấp dưới, một công trình trọng đại đã bị quẳng đi. Những người dại dột mới cố gắng làm những công việc liều lĩnh như vậy. Bài học này đã thấm vào da thịt của tôi.

        Ở cấp thượng đỉnh có nhiều cái đơn giản. Một lãnh tụ được công nhận chỉ cần biết chắc làm cái gì là tốt nhất, hoặc ít nhất là xác định phải làm việc đó. Những cam kết trung thành tập trung vào người số 1 là to lớn. Nếu người đó trượt chân thì phải được giúp đỡ. Nếu phạm sai lầm thì không được phanh phui ra; nếu đang ngủ thì không được cố tình làm mất giấc ngủ; nếu không giỏi thì phải hạ gục. Nhưng biện pháp cuối cùng và cực đoan này không thể thực hiện như cơm bữa được, và chắc hẳn là không phải trong thời gian sau khi người đó đã được chọn lựa.

        Những sự thay đổi cơ bản trong bộ máy chỉ đạo chiến tranh thì thực tế hơn là có vẻ như vậy. Napoléon nói: "Hiến pháp phải ngắn và tối nghĩa". Nhũng tổ chức hiện hữu vẫn nguyên vẹn. Không có sự thay đổi nào về nhân vật cả. Ban đầu, Nội các Chiến tranh và các Tham mưu trưởng gặp nhau hàng ngày như đã làm trước đây. Với sự đồng ý của nhà vua, việc tôi nhận là Bộ trưởng Quốc phòng không tạo ra một sự thay đổi hợp pháp hoặc hợp hiến nào cả. Tôi đã cẩn thận xác định quyền hạn và nghĩa vụ của mình. Tôi không yêu cầu Nhà vua hoặc Quốc hội cho tôi những quyền hạn đặc biệt. Tuy nhiên, người ta hiểu và chấp nhận tôi phải đảm nhiệm việc lãnh đạo Chiến tranh với điều kiện là được sự ủng hộ của Nội các Chiến tranh và Hạ viện. Khi tôi nhận việc, có một sự thay đổi chủ yếu và đương nhiên là Bộ trưởng Quốc phòng nắm quyền giám sát và lãnh đạo các Tham mưu trưởng với các quyền hạn không được định rõ. Vì ông Bộ trưởng này đồng thời là Thủ tướng nên ông ta có tất cả các quyền gắn với nhiệm vụ này bao gồm những quyền rất rộng về tuyển lựa hoặc bãi nhiệm tất cả các nhân vật chuyên môn và chính trị. Như vậy, lần đầu tiên Ủy ban các Tham mưu trưởng đảm nhiệm vị trí đúng và thích hợp trong việc tiếp xúc trực tiếp và hàng ngày với người đứng đầu chính phủ, và với sự đồng ý của ông này, có toàn quyền kiểm soát việc chỉ đạo chiến tranh và các lực lượng võ trang.

        Ví trị của Bộ trưởng Bộ Hải quân và Quốc Vụ Khanh Bộ Chiến tranh và Bộ Không quân nhất định bị ảnh hưởng trên thực tế mặc dù không phải trên hình thức. Họ không phải là thành viên của Nội các Chiến tranh và cũng không tham dự các cuộc họp của Ủy ban các Tham mưu trưởng. Họ vẫn chịu trách nhiệm hoàn toàn về bộ của mình, nhưng hết trách nhiệm một cách nhanh chóng và hầu như không thể thấy được đối với việc đề ra các kế hoạch chiến lược và sự điều hành tác chiến hàng ngày. Những công việc này do Ủy ban và Tham mưu trưởng giải quyết dưới quyền trục tiếp của Bộ trưởng Quốc phòng và Thủ tướng, và như vậy là được phép của Nội các Chiến tranh. Bộ trưởng ba bộ quân chủng, những người được tôi chọn vào các chức vụ này, là những bạn có khả năng và đáng tin cậy của tôi, họ không bị lễ tiết ràng buộc. Họ tổ chức và quản lý các lực lượng luôn luôn phát triển và hỗ trợ hết sức mình theo cách thoải mái, thực tế của người Anh. Do họ là thành viên của Hội đồng Quốc phòng, nên họ có thông tin đầy đủ nhất và thường xuyên tiếp xúc với tôi. Các Tham mưu trưởng, những nhà chuyên môn dưới quyền họ, trao đổi mọi việc với họ và rất tôn trọng họ. Nhưng có một sự chỉ đạo trọn vẹn về chiến tranh mà họ phục tùng một cách chân thành. Không bao giờ xẩy ra trường hợp mà quyền lực của họ bị thách thức hoặc hủy bỏ, và bất cứ ai trong giới này cũng có thể nói ra điều mình suy nghĩ, nhưng thực tế việc chỉ đạo chiến tranh chẳng bao lâu đã ổn định vào trong tay một số ít người, và cái mà trước đây có vẻ như là đầy rẫy khó khăn thì nay đã trở thành đơn giản nhiều, và dĩ nhiên là không kể từ phía Hitler tới. Bất kể sự hỗn loạn của các sự kiện và rất nhiều tai họa mà chúng tôi phải chịu đựng, bộ máy hoạt động hầu như tự động, và người ta sống trong một dòng tư duy mạch lạc khả dĩ chuyển rất nhanh thành hành động điều hành.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:29:36 PM

       
*

        Tuy cuộc chiến đấu khủng khiếp đang diễn trên biển Manche và độc giả chắc chắn nóng lòng muốn đến nơi đó, nhưng tới điểm này, nên mô tả hệ thống và bộ máy chỉ đạo các vấn đề quân sự và các việc khác mà tôi đã dụng lên và vận hành từ những ngày đầu tôi nắm quyền. Tôi là người tin tưởng mạnh mẽ vào việc giải quyết việc công bằng văn bản. Hắn là sau này khi xem xét lại thì thấy nhiều điều được ghi trên giấy từ giờ này, qua giờ khác dưới tác động của các sự kiện, có thể đã thiếu cân xứng hoặc có thể không thành sự thực được. Tôi muốn mạo hiểm làm việc này. Trừ trong trường hợp quân kỷ, lúc nào cũng nên biểu đạt ý kiến hoặc nguyện vọng hơn là ra lệnh. Tuy nhiên, chỉ thị bằng văn bản phát ra từ bản thân ông Thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng hợp pháp được coi trọng tới mức là luôn luôn đem lại kết quả trong công việc, mặc dầu không được biểu hiện dưới dạng mệnh lệnh.

        Để đảm bảo việc tên tôi không bị sử dụng tùy tiện, trong cuộc khủng hoảng tháng 7, tôi phát ra biên bản sau đây:

        "Hãy hiểu dứt khoát là mọi chỉ thị từ tôi phát ra đều bằng văn bản, hoặc phải được xác nhận ngay sau đó bằng văn bản, và tôi không chịu trách nhiệm về các vấn đề có liên quan đến quốc phòng mà tôi được cho là người đã ra những quyết định, trừ khi chúng được làm bằng văn bản".

        Khi thức dậy từ 8 giờ sáng, tôi đọc tất cả các điện báo, và từ trên giường tôi đọc cho viết một loạt liên tục các biên bản và chỉ thị cho các bộ và cho Ủy ban các Tham mưu trưởng. Nhũng văn bản này được xử lý bằng máy tiếp sóng và chuyển ngay lập túc đến tướng Ismay là Thứ trưởng (Quân sự) trong Nội các Chiến tranh và đại diện tôi tại Ủy ban các Tham mưu trưởng khi ông này hàng ngày đến gặp tôi vào buổi sáng. Như vậy, ông ta có nhiều văn bản để mang đến trước cuộc họp của Ủy ban các Tham mưu trưởng vào lúc 10g30 phút sáng. Các vị này coi trọng các ý kiến của tôi trong khi họ thảo luận về tình hình chung. Như vậy, trừ khi trong chúng tôi có những khó khăn cần phải tham khảo thêm ý kiến thì vào thời gian từ 3 giờ đến 5g chiều, đã có đầy đủ một loạt các mệnh lệnh và điện tín của tôi hoặc của các Tham mưu trưởng đã được thống nhất và thường chứa đựng các quyết định cần phải có ngay.

        Trong chiến tranh tổng lực, không thể vạch ra được đường ranh giới rõ ràng giữa các vấn đề quân sự và phi quân sự. Việc không có và chạm như vậy giữa bên phía quân sự và người của Nội các Chiến tranh chủ yếu là do cách của ngài Eduard Bridges. Quốc vụ khanh Nội các Chiến tranh. Là con của một nhà thơ được Vua mời vào làm thơ trong các dịp nghi lễ, ông ta không những là người cực kỳ tài giỏi và làm việc không biết mệt mỏi, mà còn là người có nghị lực và khả năng phi thường, có duyên, bản chất không gọn dấu vết của sự đố ky. Đối với ông ta, thì điều quan trọng là văn phòng Nội các Chiến tranh, như là một tổng thể, phải phục vụ hết mình Thủ tướng và Nội các Chiến tranh. Không bao giờ ông nghĩ đến vị trí cá nhân mình, và không khi nào có trò chơi ô chữ giữa các bên, quân sự và dân sự trong văn phòng cả.

        Trên các vấn đề rộng lớn hơn, hoặc các trường hợp có ý kiến khác nhau, tôi triệu tập một cuộc họp của ủy ban Quốc phòng của Nội các Chiến tranh ban đầu gồm các ông Chamberlain, Atlee, bộ trưởng ba quân chủng với cả các Tham mưu trưởng. Sau 1941, các cuộc họp này bớt đi nhiều1.

        Do bộ máy làm việc suôn sẻ hơn, tôi đi đến kết luận là các cuộc họp hàng ngay của Nội các Chiến tranh với các Tham mưu trưởng không còn cần thiết nữa. Do đó, cuối cùng tôi lập ra cái mà giữa chúng tôi với nhau được gọi là "cuộc diễu hành sáng thứ hai của Nội các". Sáng thứ hai nào cũng vậy, có một cuộc họp lớn - toàn bộ Nội các Chiến tranh, các bộ trưởng ba quân chủng, Bộ trưởng Anh ninh, Bộ trưởng Tài chính, các Quốc vụ khanh về các xứ tự trị và Ấn Độ, Bộ trưởng Thông tin, các Tham mưu trưởng lần lượt báo cáo những gì đã xẩy ra trong tuần trước tiếp theo là Quốc vụ khanh Bộ ngoại giao báo cáo bất cứ các diễn biến quan trọng nào về ngoại giao. Các ngày khác trong tuần, Nội các Chiến tranh họp nội bộ và mọi việc quan trọng đều phải đưa ra trước Nội các. Các Bộ trưởng khác quan tâm chủ yếu đến các vấn đề được đưa ra để thảo luận, thì tham dự họp về phần việc riêng của mình.

        Các thành viên Nội các Chiến tranh đều được cung cấp đầy đủ tất cả các văn bản có tác động đến chiến tranh và biết tất cả các bức điện quan trọng tôi phát đi.

        Do sự tin cậy tăng lên, Nội các Chiến tranh bớt dần can thiệp vào các vấn đề tác chiến, tuy vẫn theo dõi chặt chẽ và nắm chắc vấn đề. Hầu như Nội các giải phóng tôi khỏi gánh nặng của việc trong nước và việc Đảng, làm cho tôi được tự do tập trung vào vấn đề chính. Đối với tất cả các việc tác chiến quan trọng trong tương lai, tôi luôn luôn tham khảo kịp thời ý kiến của họ. Tuy nhiên, một mặt họ nghiên cứu thận trọng các vấn đề phát sinh, mặt khác họ không yêu cầu được thông báo về các thời điểm và chi tiết, và trên thực tế nhiều lần họ chặn lại khi tôi sắp sửa báo cáo các điểm này.

--------------------
        1. Ủy ban quốc phong họp 40 lần năm 1940, 76 lần năm 1941, 20 lần năm 1942, 14 lần năm 1943 và 10 lần năm 1944.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:30:38 PM

        Tôi không bao giờ có ý định thể hiện nhiệm vụ và vị trí của Bộ trưởng Quốc phòng trong một bộ. Làm điều này phải thông qua lập pháp và tất cả các sự sắp xếp tế nhị tôi đã tả ở trên mà đại bộ phận được thỏa thuận trên cơ sở thiện chí của cá nhân, sẽ phải tranh luận triệt để và thông qua theo một quá trình lập hiến vào những thời điểm không thích hợp. Tuy vậy, vẫn có bộ phận quân sự hiện hữu và đang hoạt động trong Văn phòng Nội các Chiến tranh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thủ tướng, và trong thời kỳ trước chiến tranh là văn phòng của Ủy ban Quốc phòng Hoàng gia. Đứng đầu bộ phận này là Tướng Ismay với hai sĩ quan đầu trò là Đại tá Hollis và Đại tá Jacob và 1 tổ sĩ quan trẻ chọn đặc biệt từ ba quân chủng. Vàn phòng này trở thành nhóm cán bộ tham mưu cho Bộ trưởng Quốc phòng. Tôi mang nặng nợ đối với các thành viên của nhóm. Tướng Ismay, Đại tá Hollis, Đại tá Jacob được đề bạt và nổi danh một cách đều đặn trong khi chiến tranh diễn biến và không một ai trong họ bị thuyên chuyển cả. Việc thuyên chuyển là bất lợi cho việc giải quyết công việc một cách có hiệu quả và liên tục trong một lĩnh vục đầy ắp tình thân mật và sự quan tâm đến các vấn đề bảo mật. Sau một vài thay đổi ban đầu, tính ổn định trong ủy ban các Tham mưu trưởng hầu như là đồng đều. Sau khi hết nhiệm kỳ Tham mưu trưởng không quân vào tháng 9/1940, Nguyên soái không quân Newal trở thành Toàn quyền Tân Tây Lan. Nguyên soái Portal lên thay và được chấp nhận là một ngôi sao trong ngành không quân. Ông Portal ở với tôi trong suốt cuộc chiến tranh. Ngài John Dill thay thế Tướng Ironside tháng 5/1940 và vẫn là Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia cho tới khi ông theo tôi đến Washington vào tháng 12/1941. Khi đó tôi để ông đại diện tôi về mặt quân sự bên cạnh Tổng thống và đồng thời là Trưởng phái bộ Tham mưu liên quân.

        Quan hệ của ông ta với Tướng Marshall là mối liên kết vô giá trong toàn bộ các công việc của chúng tôi, và khi ông chết tại ngũ được vài năm, ông có cái vinh hạnh duy nhất là được chôn cất tại Nghĩa trang Arlington, một Valhalla (thiên đường để dừng chân), cho đến nay chỉ dành riêng cho các chiến binh Mỹ. Người thay thế ông trên chức vụ Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia là ngài Alan Brooke và ông này ở với tôi cho đến cùng.

        Từ 1941 trở đi, trong gần 4 năm mà thời gian đầu là bất hạnh và thất vọng, sự thay đổi duy nhất ở đám ít người này hoặc là trong hàng ngũ các Tham mưu trưởng, hoặc trong nhân viên Bộ Quốc phòng là do cái chết trong lúc làm việc của Đô đốc Pound. Đây có thể là một thành tích trong lịch sử quân sự Anh Quốc. Tổng thống Roosevelt cũng đạt được một mức liên tục tương tự trong chính giới của ông ta. Các Tham mưu trưởng của Mỹ - Tướng Marshall, Đô đốc King và Tướng Arnold và tiếp sau đó là Đô đốc Leahy, cùng bắt đầu với nhau khi Mỹ nhảy vào vòng chiến và không có sự thay đổi gì hết. Vì hiện tại, người Anh và Mỹ cùng lập ra Ủy ban Tham mưu hỗn hợp, thì đây là một thuận lợi vô kể với tất cả mọi người. Trước đây không hề có chuyện này trong các nước Đồng minh.

        Tôi không thể nói là chúng tôi không bao giờ bất đồng với nhau thậm chí ngay cả những lúc thoải mái, nhưng có một sự hiểu ngầm giữa tôi và các Tham mini trưởng Anh là các bên phải thuyết phục, làm cho nhau tin hơn là tìm cách bác bỏ nhau. Dĩ nhiên việc này có cái tiện là chúng tôi cùng có một ngôn ngữ về kỹ thuật và một cơ sở chủ yếu chung về học thuyết quân sự và kinh nghiệm chiến tranh. Trong hoàn cảnh luôn luôn thay đổi này, chúng tôi hành động như một thể thống nhất và Nội các Chiến tranh luôn tăng thêm cho chúng tôi quyền được tự do quyết định, và ủng hộ chúng tôi không mệt mỏi, với một sự kiên định không lay chuyển. Không có sự chia rẽ, như trong cuộc chiến tranh trước, giữa người lính và các chính trị gia, giữa các "binh lính" và các "sĩ quan cao cấp", những thuật ngữ đáng ghét làm phức tạp thêm tình trạng khó xử, rắc rối. Thực vậy, chúng tôi đi sát nhau và tình thân hữu đã được tạo lập mà chúng tôi tin là có giá trị sâu sắc. Hiệu quả của việc điều hành chiến tranh tùy thuộc chủ yếu vào việc liệu các quyết định của cấp có thẩm quyền cao nhất, trên thực tế có được tuân thủ một cách nghiêm túc, trung thực và đúng hạn hay không. Điều này được thực hiện ở Anh, vào thời điểm khủng hoảng nay, do lòng trung thành vô hạn, sự hiểu biết và sự quyết định toàn tâm toàn ý của Nội các Chiến tranh đối với mục đích chủ yếu mà chúng tôi đã dốc sức phục vụ. Chỉ thị phát ra, chiến hạm, bộ đội, máy bay đi vào hoạt động; trong nhà máy, các bánh xe quay. Bằng tất cả các sự vận động này, bằng lòng tin yêu, sự dam mê, lòng trung thành, tôi đã đứng vững và sớm có thể đưa ra  những chỉ thị trọn vẹn về hầu hết các mặt của chiến tranh. Điều này thực sự là cần thiết vì thời buổi quá khó khăn. Cách làm của tôi được chấp nhận vì ai cũng nhận thức được là cái chết và sự tàn phá ở ngay sát nách. Không những cái chết của cá nhân, không từ một ai, ở kề bên, mà ngàn lần quan trọng hơn là sự sống còn, sự vinh quang của nước Anh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:31:08 PM
        
*

        Bất cứ báo cáo nào về các kiểu chính phủ ra đời trong khuôn khổ liên hiệp quốc gia sẽ không đầy đủ nếu không giải thích một loạt các thông điệp cá nhân mà tôi gửi Tổng thống Hoa Kỳ và người đứng đầu các nước ngoài, cùng chính phủ các xứ tự trị. Quan hệ thư từ này cần được mô tả. Khi nhận được từ Nội các bất cứ quyết định cụ thể nào về chính sách, tôi đích thân soạn thảo và đọc phát các văn kiện này phần lớn trên cơ sở chúng là những bản giao dịch thân mật không chính thức với các bạn bè và người cùng ngành nghề. Thông thương con người có thể biểu đạt ý nghĩ tốt hơn bằng những từ ngữ của chính mình. Chỉ thỉnh thoảng tôi mới đọc trước nội dung văn bản gửi Nội các. Do đã nắm được quan điểm của Nội các, tôi được tự do và thoải mái để làm việc của mình. Đương nhiên tôi hợp tác chặt chẽ với Bộ trưởng Ngoại giao và cơ quan của ông ta, và cùng nhau giải quyết bất cứ các khác biệt nào. Tôi gửi các bức điện này - trong một vài trường hợp, sau khi điện được phát đi - cho các thành viên chính của Nội các chiến tranh và Bộ trưởng khối các xứ tự trị nếu có liên quan đến ông này. Trước khi phát đi, dĩ nhiên tôi đã cho kiểm tra trên phạm vi bộ, các quan điểm và các sự kiện tôi đưa ra, và hầu như tất cả các thông điệp quân sự đều qua tay ông Ismay trước khi tới các Tham mưu trưởng. Văn bản này không hề trái với thông tin chính thức hoặc công việc của các đại sứ. Tuy vậy trên thực tế nó đã trở thành kênh của nhiều công việc quan trọng sống còn và trong việc chỉ đạo chiến tranh của tôi, nó đã góp một phần không kém quan trọng, đôi khi thậm chí còn hơn cả những nhiệm vụ của tôi trên cương vị Bộ trưởng Quốc phong.

        Nhóm rất chọn lọc và hoàn toàn tự do bày tỏ ý kiến của mình này hầu như lúc nào cũng bằng lòng với các dự thảo của tôi và dành cho tôi một sự tin tưởng ngày một tăng. Ví dụ, các sự bất động với quan chức Mỹ ở cấp 2 thì không sao giải quyết nổi, nhưng trực tiếp với người đứng đầu thì luôn luôn là vượt qua được trong một vài giờ. Thực ra, với thời gian hiệu quả của việc giải quyết công việc ở cấp cao là quá rõ ràng nên tôi phải thận trọng không để nó biến thành cái kênh để giải quyết công việc thông thường thuộc cấp bộ. Tôi luôn luôn từ chối việc các đồng nghiệp của tôi yêu cầu tôi đích thân nói với Tổng thống về các vấn đề chi tiết quan trọng. Nếu nhét quá mức các vấn đề này vào văn thư giao dịch cá nhân thì chúng sẽ sớm phá hoại tính chất riêng tư và do đó giảm cả giá trị của loại văn thư này.

        Quan hệ của tôi với Tổng Thống dần dần trở nên chặt chẽ đến mức công việc chủ yếu giữa hai nước chúng tôi hầu như được điều khiển thông qua sự trao đổi cá nhân giữa ông ta và tôi. Bằng cách này, chúng tôi đạt được sự thông cảm lẫn nhau hoàn hảo. Trên cương vị vừa là Nguyên thủ Quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ, ông Roosevelt có thẩm quyền phát ngôn và hành động trong mọi lĩnh vục. Và với Nội các Chiến tranh mà mình phải gánh vác, tôi đại diện cho Anh quốc trên một phạm vi hầu như tương đương. Như vậy, một sự phối hợp ở một trình độ cao đã được đạt tới, và việc tiết kiệm được thời gian cũng như giảm thiểu số lượng người phải thông báo là vô giá. Tôi gửi những bức điện của mình cho Đại sứ quán Mỹ tại Luân đôn, và sứ quán quan hệ trực tiếp với Tổng thống ở Nhà Trắng bằng các máy mã hóa đặc biệt. Các văn bản trả lời được nhận và công việc được giải quyết với tốc độ được tạo nên bởi sự chênh lệch về múi giờ. Bất cứ thông điệp nào mà tôi soạn thảo vào buổi chiều hoặc ban đêm, thậm chí vào 2 giờ sáng hôm sau sẽ tới tay Tổng Thống trước khi ông đi ngủ, và luôn luôn trả lời của ông đền tay tôi khi tôi thức dậy sáng hôm sau. Tôi gửi cho ông tất cả 950 bức thông điệp và nhận được khoảng 800 bức trả lời. Tôi cảm thấy là tôi tiếp cận với một nhân vật rất vĩ đại đồng thời cũng là một người bạn có nhiệt tình và là chiến sĩ đấu tranh cho những sự nghiệp cao cả mà chúng tôi phục vụ.

       
*

        Vào ngày thứ hai 13/5/1940, trong một phiên họp đặc biệt được triệu tập, tôi yêu cầu Hạ viện bỏ phiếu tín nhiệm đối với chính quyền mới. Sau khi báo cáo tiến độ đạt được trong các nhiệm vụ được giao, tôi nói: "Tôi không có gì để đề nghị cả mà chỉ có máu, nước mắt, mồ hôi và sự vất vả".

        Trong suốt chiều dài lịch sử lâu đòi của chúng tôi, không có Thủ tướng nào có khả năng đưa ngay lập tức ra trước Quốc hội và quốc dân một chương trình ngắn gọn và phổ cập đến như vậy. Và tôi chấm dứt:

        Các ngài hỏi, chính sách của chúng tôi là gì? Tôi sẽ trả lời: Là làm chiến tranh, trên đất liền, ngoài biển, trên không với tất cả cường độ và sức mạnh mà thượng đế có thể cho chúng ta, làm chiến tranh chống lại sự bạo ngược quái ác của con người. Đó là chính sách của chúng tôi. Các ngài hỏi, mục đích của chúng tôi là gì? Tôi có thể trả lời bằng một từ là: Chiến thắng - chiến thắng bằng mọi giá, chiến thắng bất chấp mọi nỗi kinh hoàng; chiến thắng dù cho con đường còn dài và khó khăn; vì không chiến thắng thì không có tồn tại. Không chiến thắng tức là: không có sự tồn tại cho Đế quốc Anh, không có sự tồn tại cho tất cả những gì mà Đế quốc Anh đại diện. Nhưng tôi nhận nhiệm vụ một cách vui vẻ và với niềm vọng. Tôi cảm thấy một cách chắc chắn là chính nghĩa của chúng ta sẽ đứng vững trong lòng người. Ở thời điểm này, tôi cảm thấy có quyền yêu cầu sự giúp đỡ của mọi người, và tôi nói: Chúng ta hãy cùng tiến lên với sức mạnh đoàn kết của mình.

        Hạ viện đã thống nhất bỏ phiếu tán thành các vấn đề đơn giản này, sau đó hoãn họp đến 21/5

        Như vậy sau đó tất cả chúng tôi đều bước vào nhiệm vụ chung. Chưa bao giờ một Thủ tướng Anh lại nhận được từ các đồng sự trong Nội các sự giúp đỡ đích thực và trung thành mà tôi được hưởng trong 5 năm tiếp theo từ các người này thuộc tất cả các đảng phái trong nước. Quốc hội một mặt duy trì sự phê bình tự do và tích cục, mặt khác ủng hộ liên tục và tuyệt đối tất cả các biện pháp mà chính phủ đề nghị, và quốc gia thì đoàn kết và hăng hái, tích cực như chua từng thấy trước đây bao giờ. Thực thế, việc đó phải như vậy, vì chúng tôi sẽ phải đối phó với các sự kiện thuộc loại kinh khủng hơn cả những gì mà bất cứ ai đã nhìn thấy trước.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:34:06 PM

2

TRẬN ĐÁNH Ở NƯỚC PHÁP

        Khi chiến tranh bùng nổ tháng chín năm 1939, thì quân chủ lực của lục quân và không quân Đức được tập trung vào việc đánh chiếm Ba Lan. Dọc theo toàn bộ chiến tuyến phía tây, từ Aix-la-Chapelle tới biên giới Thụy Sĩ, có 42 sư đoàn quân Đức, không có binh chủng thiết giáp. Sau khi động viên, nước Pháp có thể triển khai tương đương với 70 sư đoàn đối diện với quân Đức. Vì những lý do đã được giải thích, lúc đó người ta cho rằng khó lòng tấn công Đức được. Tình hình vào ngày 10/5/1940 là rất khác. Kẻ thù lợi dụng 8 tháng chậm trễ và sự tàn phá nước Ba Lan, đã vũ trang và trang bị huấn luyện khoảng 155 sư đoàn trong đó có 10 sư đoàn thiết giáp "Con báo". Sự thỏa thuận giữa Hitler và Staline đã giúp Hitler giảm lực lượng vũ trang ở phía Đông xưởng qui mô nhỏ nhất. Theo tướng Halder, Tổng Tham mưu trưởng Đức thì đối diện với nước Nga chỉ "Có không quá một lực lượng bảo vệ nhỏ, gần đủ để làm nhiệm vụ thu thuế quan". Không có linh cảm gì về tương lai của chính mình, chính phủ Xô Viết theo dõi sự tàn phá "mặt trận thứ 2 ấy" ở phía tây mà họ sớm phải lớn tiếng kêu gọi và chờ  đợi từ lâu trong ngắc ngoải. Vì vậy, Hitler ở trong tư thế mở một cuộc tấn công vào Pháp bằng 126 sư đoàn và toàn bộ sức mạnh rất lớn của 10 sư đoàn thiết giáp "Con báo" gồm xấp xỉ 3.000 xe bọc thép trong đó có ít nhất 1.000 là xe tăng loại nặng.

        Đối lập với các lực lượng này của đối phương mà dĩ nhiên chúng tôi không biết chính xác số lượng và đội hình, người Pháp có tổng số tương đương với 103 sư đoàn trong số đó có cả quân Anh. Nếu quân đội của Bỉ và Hà Lan bị lôi vào vòng chiến, thì con số trên sẽ tăng thêm 22 sư đoàn Bỉ, và 10 sư đoàn Hà Lan. Khi hai nước này bị bất ngơ tấn công thì tổng số các sư đoàn Đồng minh đủ chất lượng và có sẵn trên danh nghĩa vào ngày 10/5 sẽ la 135, hay la gần như con số có của địch mà chúng tôi biết được lúc bấy giờ. Được tổ chức và trang bị thích hợp, huấn luyện và lãnh đạo tốt, thì theo tiêu chuẩn của cuộc chiến tranh trước, lực lượng này phải có cơ may chặn đứng cuộc tấn công.

        Tuy nhiên, người Đức có hoàn toàn tự do để chọn thời điểm, hướng và lực lượng của cuộc tấn công. Hơn một nửa lục quân Pháp dàn ở phía đông và nam nước Pháp, và 51 sư đoàn Pháp và Anh thuộc Tập đoàn quân số 1 của Tướng Billotte cùng với bất cứ viện trợ sắp có nào của Bỉ và Hà Lan phải đương đầu với sự tấn công khủng khiếp của trên 70 sư đoàn địch dưới quyền chỉ huy của Bock và Rundstedt ở giữa Longwy và bể. Việc phối hợp xe tăng mà hầu như đại bác bắn không thủng với phóng pháo cơ tỏ ra rất có hiệu quả ở Ba Lan trên qui mô nhỏ hơn, lại được sử dụng tạo thành mũi nhọn của cuộc tấn công chính, và một cụm gồm 5 sư đoàn xe tăng "Con báo" và 5 sư đoàn cơ giới dưới sự chỉ huy của Kleist hướng vào Sedan và Monthermé qua dẫy Ardennes. Để đối phó với kiểu chiến tranh hiện đại như vậy, người Pháp đã triển khai khoảng 2.300 xe tăng, đại bộ phận thuộc loại nhẹ. Biên chế thiết giáp của họ có một số kiểu hiện đại, nhưng hơn một nửa tổng số thiết giáp được phân tán trong các tiểu đoàn xe tăng loại nhẹ để phối hợp với bộ binh. Sáu sư đoàn thiết giáp của họ - riêng lực lượng này có thể đối phó được với sự tấn công ào ạt của xe tăng "Con báo" - được phân bổ trên khắp chiến tuyến và không thể tập trung để hoạt động có hiệu quả được. Anh quốc, nơi phát minh ra xe tăng, mới chỉ hoàn thành việc lập biên chế và đào tạo sư đoàn đầu tiên của mình (328 tăng) và sư đoàn này vẫn ở bên Anh.

        Chiến đấu cơ Đức giờ đây tập trung ở phía Tây hơn hẳn Pháp về mặt số lượng và chất lượng. Lục lượng không quân Anh trên đất Pháp gồm 10 phi đoàn chiến đấu cơ Hurricane được lấy ra từ lực lượng phòng thủ nội địa, và 19 phi đoàn các chiến đấu cơ kiểu khác. Các quan chức hàng không Anh cũng như Pháp đều không trang bị cho mình các phóng pháo cơ lúc này làm cho lục quân Pháp, đặc biệt là quân da màu của họ, mất tinh thần.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:35:19 PM

       
*

        Trong đêm 9 rạng sáng 10/5, mở đầu bằng các trận không kích khắp nơi vào các sân bay, đường giao thông, tổng hành dinh, kho vũ khí, toàn bộ các lực lượng Đức ào ào kéo vào đất Pháp qua các đường biên giới với Bỉ, Hà Lan, Lục xâm bảo. Hầu như yếu tố bất ngơ về chiến thuật được thể hiện trong mọi trường hợp. Đột nhiên từ trong bóng tôi xuất hiện các đội quân xung kích hăng hái, vũ trang đầy đủ luôn luôn có pháo binh nhẹ đi theo, và khi còn lâu trời mới sáng thì chiến tuyến đã bốc cháy trên 150 dặm. Bị tấn công hoàn toàn vô cớ và không được cảnh báo, Hà Lan và Bỉ lên tiếng kêu cứu. Người Hà Lan quá tin vào hệ thống phòng thủ bằng đê của mình. Toàn bộ các cống không bị đánh chiếm đều được mở, và người Hà Lan đã xả súng vào kẻ xâm lược.

        Ông Coliin khi còn là Thủ tướng Hà Lan có thăm tôi năm 1937 và giải thích cho tôi tác dụng lạ kỳ của việc nước ngập ở Hà Lan. ông nói là bằng một cú điện thoại từ bàn ăn ở Chartwell, ông có thể ra lệnh bấm nút là có thể dùng nước làm chướng ngại vật không thể vượt qua được đối với kẻ xâm nhập. Nhưng điều này trở thành vô nghĩa. Sức mạnh của một nước lớn tấn công một nước nhỏ trong những điều kiện hiện đại là bất khả địch. Quân Đức chọc thủng tại mọi điểm, bắc cầu qua kênh hoặc chiếm giữ các khóa cống và các bộ phận kiểm soát mực nước. Riêng trong 1 ngày, toàn bộ phòng tuyến phía ngoài của Hà Lan đã bị địch kiểm soát. Cùng trong thời gian nay, không quân Đức bắt đầu sử dụng sức mạnh của mình đối với 1 nước không có phòng thủ. Rotterdam chỉ còn là một đám cháy. Số phận của The Hague, Utrecht và Amsterdam cũng bị đe dọa như vậy. Người Ha Lan hi vọng là như trong chiến tranh trước, cánh quân bên phải của Đức sẽ đi đường vòng không qua Ha Lan, nhưng điều này không xẩy ra.

        Trong ngày thứ 14, tin xấu bắt đầu đến. Ban đầu tất cả đều không rõ ràng, đến 7 giờ tối, tôi đọc cho Nội các nghe một bức điện của ông Reynaud cho biết quân Đức đã chọc tới Sedan, người Pháp không thể chống lại việc kết hợp xe tăng với oanh tạc cơ và yêu cầu gửi thêm mười phi đoàn chiến đấu nữa để lập lại chiến tuyến. Các thông điệp khác mà các Tham mưu trưởng nhận được cũng phát những tin tương tự và cho biết thêm các tướng Gamelin và Georges lo lắng trước tình hình, và tướng Gamelin bị bất ngơ trước tốc độ tiến quân của địch. Tại hầu hết các điểm mà hai bên chạm trán với nhau, sức mạnh và tính chất dữ dội trong tấn công của Đức là vượt trội. Tất cả các phi đội của Anh chiến đấu liên tục và tập trung vào đánh phá các cầu phao trong khu vực Sedan. Nhiều cầu phao bị phá hủy, các chiếc khác bị hư hại trong các cuộc không kích tối đa nhưng tuyệt vọng. Những tổn thất do pháo phòng không Đức gây ra cho phi cơ oanh tạc các cầu ở tầm thấp là nặng nề, đau đớn. Có trường hợp 6 chiếc xuất kích, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, chỉ còn 1 chiếc quay về. Riêng trong một ngày này, chúng tôi mất cả 67 chiếc và do phải đương đầu chủ yếu với pháo mặt đất nên chỉ hạ được 53 phi cơ địch. Đêm đó, trong 474 phi cơ của không quân hoàng gia đưa sang Pháp, chỉ còn lại 206 chiếc còn chiến đấu được.

        Thông tin chi tiết này chỉ dần dần mới đến tay được. Nhưng hiện đã thấy rõ là tiếp tục qui mô tác chiến này sẽ tiêu hao hoàn toàn không lực hoàng gia mặc dù uy lực cá nhân của nó. Từ nay trở đi, chúng tôi chịu sức ép của vấn đề nan giải là có thể gởi sang Pháp được bao nhiêu mà không ảnh hưởng đến việc phòng thủ của mình cũng như khả năng tiếp tục chiến tranh. Những sự nhanh nhậy tự nhiên của chúng tôi và nhiều lý lẽ quân sự có trọng lượng đã tăng sức mạnh cho các lời kêu gọi quyết liệt và liên tục của Pháp. Mặt khác, có một giới hạn, vượt quá giới hạn đó sẽ làm cho chúng tôi mất mạng.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Một, 2019, 11:51:50 PM

        Vao thời điểm nay, Nội các họp toàn thể và nhiều lần trong ngày đê thảo luận các vấn đề này. Nguyên soái không quân Dowding chỉ huy trưởng Bộ tư lệnh chiến đấu của bản thân nước Anh tuyên bố với tôi là với 25 phi đoàn chiến đấu cơ ông ta có thể bảo vệ hòn đảo Anh quốc nhưng nếu ít hơn thì ông ta sẽ bị đè bẹp. Sự thất bại sẽ kéo theo không những việc toàn bộ các sân bay và không lực của chúng tôi bị phá hủy mà còn cả các nhà máy sản xuất máy bay có ảnh hưởng đến toàn bộ tương lai chúng tôi. Các bạn đồng sự và bản thân tôi quyết tâm chấp nhận, trong phạm vi trận chiến và vì trận chiến, mọi rủi ro - và các rủi ro này rất lớn - nhưng không đi quá phạm vi này, bất kể hậu quả ra sao.

        Vào khoảng 7 giờ 30 sáng ngày thứ 15, tôi thức giấc vì có chướng điện thoại reo ở cạnh giường, ông Reynaud muốn nói chuyện với tôi. Ông ta nói bằng tiếng Anh và rõ ràng là ông ta ở trong trạng thái căng thẳng: "Chúng tôi đã bị đánh bại" Khi tôi chưa trả lời ngay thì ông ta nói tiếp "Chúng tôi đã bị đánh túi bụi, chúng tôi đã thất trận". Tôi nói: "Việc đó chắc không thể xẩy ra sớm như vậy được". Nhưng ông ta trả lời "Mặt trận đã bị vỡ gần Sedan: chúng kéo vào đông lắm bằng xe tăng và cơ giới bọc thép" - hoặc những từ ngữ có nghĩa tương tự như vậy. Tôi nói tiếp: "Mọi kinh nghiệm đều cho thấy cuộc tấn công sẽ chấm dứt sau một thời gian ngắn". Tôi nhớ lại ngày 21/3/1918, sau 5 hoặc 6 ngày tấn công, người ta phải ngừng lại để chờ tiếp tế và lại xuất hiện cơ hội để phản công. Tôi biết được tất cả điều này vào thời gian đó từ chính miệng Thống chế Foch nói ra. Thực vậy, đó là điều mà chúng tôi đã thấy trong quá khứ và cũng là điều mà chúng tôi phải thấy hiện nay. Tuy nhiên, vị Thủ tướng Pháp trở lại câu nói ban đầu, một thực tế quá đúng: "Chúng tôi bị đánh bại, chúng tôi đã thất trận". Tôi nói tôi muốn sang bên đó để nói chuyện.

        Chiến tuyến của Pháp bị chọc thủng trên một chiều dài 50 dặm qua đó đại quân thiết giáp của địch tràn vào. Quân đoàn 9 ở trong tình trạng hoàn toàn tan rã. Vào đêm ngày thứ 5, theo tin báo cáo, thì xe thiết giáp Đức ở sâu trong nội địa Pháp, cách phòng tuyến ban đầu là 60 dặm. Cũng ngày này, cuộc chiến đấu  trên đất Hà Lan đã chấm dứt. Do Bộ Tư lệnh tối cao Hà Lan đầu hàng hồi 11 giờ sáng, chỉ có một số ít quân Ha Lan được di tản. Dĩ nhiên tình thế tạo nên một cảm giác chung về thất bại. Tôi đã nhìn thấy nhiều cảnh này trong cuộc chiến tranh trước, và ý nghĩ về chiến tuyến bị chọc thủng ngay cả trên một diện rộng, cũng không làm cho tôi liên tưởng tới các hậu quả khủng khiếp hiện nay toát ra từ cảnh này. Sau nhiều năm dài tôi không có được những thông tin chính thức nên tôi không hiểu thấu nổi cường độ của một cuộc tấn công được thực hiện khác với cuộc chiến tranh trước, bởi sự đột nhập ào ạt của xe thiết giáp hạng nặng. Tôi có biết điều này, nhưng nó đã không làm thay đổi lòng tin trong đáy lòng của tôi mà đáng ra nó đã phải làm như vậy. Không có gì tôi có thể làm được, nếu nó đã làm thay đổi lòng tin của tôi. Tôi gọi điện thoại cho tướng Georges, ông này có vẻ rất bình thản và cho biết là chỗ bị chọc thủng tại Sedan đang được bịt lại. Một bức điện từ Tướng Gamelin phát đi cũng nói tuy tình hình ở cung Namur và Sedan là nghiêm trọng, nhưng ông ta nhìn tình hình với thái độ điềm tĩnh. Đến 11 giờ sáng, tôi báo cáo với Nội các nội dung bức điện của ông Reynaud và các tin tức khác.

        Nhưng vào ngày thứ 16 thì tin quân xâm lăng vượt qua biên giới gần Sedan tiến sâu vào nội địa trên 60 dặm đã được xác nhận. Tuy Bộ chiến tranh có biết được 1 số chi tiết cũng như không thể đưa ra được một nhận định rõ ràng về những gì đã xẩy ra, nhưng tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng là rõ ràng. Tôi cảm thấy nhất thiết phải đi Paris trưa hôm đó.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:17:28 PM

       
*

        Vào khoảng 3 giờ chiều, chiếc Flamingo, một phi cơ chở khách của chính phủ gồm 3 người là Tướng Dill, Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng gia, tướng Ismay và tôi. Chiếc phi cơ này tốt, có nhiều tiện nghi và có tốc độ khoảng 160 dặm/giờ. Do nó không được vũ trang, nên được hộ tống, nhưng chúng tôi bay vút lên tầng mây lúc đang mưa và tới sân bay Bourget sau hơn một giờ bay. Từ lúc chúng tôi bước ra khỏi máy bay, rõ ràng tình hình đã tồi tệ đi rất nhiều hơn là chúng tôi tưởng tượng trước đó. Các sĩ quan ra đón chúng tôi cho Tướng Ismay biết là người ta tin rằng quân Đức sẽ đến Paris tối đa trong vòng vài ngày nữa thôi. Sau khi được đại sứ quán cho biết tình hình, tôi lên xe đi đến Bộ Ngoại giao Pháp và tới đó hồi 5h30 chiều. Người ta đưa tôi vào một trong các phòng xinh đẹp. Reynaut đã có mặt ở đó, cùng với Daladier, Bộ trưởng Quốc phòng và Chiến tranh và tướng Gamelin. Mọi người đều ở tư thế đứng. Không lúc nào chúng tôi ngồi xung quanh chiếc bàn cả. Nét mặt của mọi người đậm vẻ buồn nản cực độ. Trước mặt Gamelin là một bản đồ đặt trên giá vẽ của học sinh, rộng khoảng hai thước vuông; có một đường mực đen để giới thiệu chiến tuyến Đồng minh. Trên đường đen, chỗ vị trí của Sedan có một đường vòng nhỏ nhưng ảm đạm.

        Viên Tổng tư lệnh giải thích ngắn gọn sự việc đã xẩy ra. Tại phía bắc và phía nam Sedan, quân Đức đã chọc thủng một chiến tuyến dài 50 hoặc 60 dặm. Quân Pháp đối diện bị tiêu diệt hoặc bị tan rã hoàn toàn. Xe thiết giáp ào ạt lao với một tốc độ chưa từng nghe thấy về phía Amiens và Arras và có ý định rõ ràng là đi tới bờ biển Abbeville hoặc nơi nào gần đó, hoặc có thể kéo về Paris. Ông ta nói phía sau xe thiết giáp, 8 đến 10 sư đoàn cơ giới Đức đang tiếp tục tiến, và tự bảo vệ hai sườn khi chúng tiến đánh hai đạo quân Pháp bị cắt đứt dạt ra hai bên. Tướng Pháp này nói có lẽ đến 5 phút mà không ai nói một câu nào cả. Khi ông ta ngừng thì có một sự im lặng đáng kể. Tôi liền bật ra câu hỏi bằng tiếng Pháp "Thế dự trữ chiến lược ở đâu?" mà tôi sử dụng một cách bâng quơ (theo mọi nghĩa): "Oil est la masse de manoeuvre?". Tướng Gamelin quay lại phía tôi và nói với một cái lắc đầu và nhún vai: "chẳng có gì hết".

        Lại có một sự tạm ngừng lâu nữa. Bên ngoài, trong vườn của Bộ ngoại giao, các đám khói phát ra từ những đống lớn giấy đốt, và qua của sổ tôi thấy các quan chức đáng kính trọng đẩy hồ sơ, giấy tờ vào đổng lửa. Như vậy thì việc di tản khỏi Paris đang được chuẩn bị.

        Kinh nghiệm đã qua có những cái được, nhưng cũng có cái bất lợi là sự việc không bao giờ xẩy ra hệt như lần trước cả. Không như vậy thì tôi nghĩ rằng cuộc sống có thể dễ dàng. Xét cho cùng, trước khi luôn luôn các mặt trận của ta bị phá vỡ trước, nhưng chúng ta luôn luôn có khả năng tiến hành mọi việc có tổ chức và làm suy giảm cường lực của trận đột kích. Nhưng ở đây có hai yếu tố mới tôi không bao giờ ngờ tới. Một là toàn bộ các tuyến giao thông và nông thôn bị xe thiết giáp xâm nhập tràn vào không gì cản nổi, thứ đến là "không có dự trữ chiến lược", không có gì hết. Tôi ngạc nhiên hết sức, chúng tôi phải nghĩ gì về quân đội vĩ đại của Pháp và các tướng lĩnh cao cấp nhất của họ? Tôi chưa bao giờ thấy có những người chỉ huy nào phải bảo vệ mặt trận đang giao chiến dài 500 dặm mà lại tự để mình không có dự trữ chiến lược. Không người nào có thể bảo vệ chắc chắn được mặt trận rộng lớn đến như vậy; nhưng khi kẻ thù đã quyết tâm làm một cuộc tấn công thọc sâu lớn và chọc thủng tuyến, thì người ta lúc nào cũng phải có một lực lượng hàng loạt sư đoàn để phản công mãnh liệt vào thời điểm mà con lốc đầu tiên của cuộc tấn công đã dốc hết lực lượng  của nó rồi.

        Mục đích của phong tuyến Maginot là gì? Nó phải tiết kiệm được lực lượng quân đội trên một khu vực rộng lớn của biên giới, không chỉ cung cấp nhiều điểm ra vào nhỏ cho các trận phản công cục bộ, mà con cho phép duy trì được các lực lượng dự trữ lớn. Và đó là cách duy nhất mà các việc này có thể thực hiện được. Nhưng lúc này thì chẳng có dự trữ gì hết. Tôi công nhận đây là một trong các bất ngờ lớn nhất trong đời tôi. Tại sao tôi lại không biết nhiều hơn về việc này, ngay cho dù tôi quá bận việc tại Bộ Hải quân? Tại sao, trên hết, chính phủ Anh và Bộ chiến tranh lại không biết gì hơn để cho chúng tôi hoặc huân tước Gort biết những sự sắp xếp, bố trí của họ trừ những nét khái quát không rõ ràng. Chúng tôi có quyền được biết. Chúng tôi phải đòi hỏi điều đó. cả 2 quân đội đều cùng chiến đấu trên một tuyến. Tôi trở lại cửa sổ và các cuộn khói bốc lửa lên từ chất đốt các tài liệu quốc gia của nước Cộng Hoa Pháp. Các vị già khả kính vẫn tiếp tục đẩy xe tài liệu tới và cần cù quẳng vào đám lửa.

        Lúc này Tướng Gamelin lại nói. Ông ta đang bàn luận liệu lúc này có phải tập trung lực lượng để đánh vào hai bên sườn cánh quân địch đã thâm nhập, nơi mà sau này chúng tôi thường gọi là "chỗ phình ra" trên phòng tuyến. Tám hoặc chín sư đoàn đang được rút khỏi các nơi yên tĩnh của mặt trận (chiến lũy Maginot); cũng có hai hoặc ba sư đoàn thiết giáp chưa tham chiến; thêm tám hoặc chín sư đoàn đang được điều từ Châu Phi về sẽ tới vùng có chiến sự trong khoảng 2 hoặc 3 tuần tới. Từ nay trở đi, quân Đức sẽ tiến theo một hành lang giữa 2 mặt trận trong đó có thể tiến hành chiến tranh như kiểu năm 1917, 1918. Có lẽ quân Đức không duy trì được hành lang do việc bảo vệ hai bên sườn ngày càng phải được tăng cường thêm, đồng thời lại phải tiếp tế, nuôi dưỡng đạo quân thiết giáp xâm nhập. Gamelin hình như muốn nói cái gì đó theo hướng này, và tất cả điều ông nói hoàn toàn có cơ sở. Tuy vậy, tôi biết rõ là nó không chuyển tải được lòng tin trong đám người làm việc cùng nhau này tuy nhỏ bé nhưng cho đến nay vẫn có thế lực và có trách nhiệm. Lúc này tôi yêu cầu tướng Gamelin cho biết thời gian và địa điểm ông ta định tấn công các sườn của "chỗ phình ra". Câu trả lời của ông ta là: Kém về số lượng, kém về trang thiết bị, kém về phương pháp - và tiếp theo đó là một cái nhún vai. Không có tranh luận; không cần thiết phải tranh luận, và người Anh chúng tôi, với sự đóng góp nhỏ bé - 10 sư đoàn sau 8 tháng chiến tranh, và thậm chí không có lấy 1 sư đoàn tăng hiện đại tham chiến, chúng tôi ở vị trí nào?


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:17:48 PM

       
*

        Nhận xét của tướng Gamelin và chắc chắn là của toàn bộ Bộ Tư lệnh Tối cao Pháp sau đó, nhấn mạnh vào sự yếu kém của Pháp về mặt không quân, và yêu cầu khẩn thiết Không lục Hoang gia phái thêm nhiều phi đoàn phóng pháo và khu trục, và chủ yếu là khu trục. Lời thỉnh nguyện xin thêm khu trục cơ này như một lời định mệnh, được lặp lại tại các cuộc hội nghị tiếp theo đó, cho tới khi nước Pháp sụp đổ. Trong quá trình đưa ra lời kêu gọi của mình, Tướng Gamalin nói cần phải có khu trục cơ không những để bảo vệ quân Pháp mà còn để chặn xe tăng Đức. về điều này, tôi nói: "Không, đó là công việc của pháo binh phải chặn xe tăng. Công việc của khu trục cơ là làm sạch bầu trời trên chiến địa". Bất kể vì lý do nào, lực lượng chiến đấu cơ bảo vệ chính quốc không được điều ra khỏi nước Anh, đây là vấn đề sống còn. Sự tồn tại của chúng tôi tùy thuộc vào điều này. Tuy vậy, cần phải giảm đi rất nhiều. Vào buổi sáng trước khi tôi khỏi hành, Nội các cho tôi quyền điều thêm 4 phi đoàn khu trục cơ sang Pháp. Khi quay về Đại sứ quán, và sau khi trao đổi kỹ tình hình với Dill, tôi quyết định yêu cầu trên cho phép được điều thêm 6 phi đoàn nữa. Như vậy chúng tôi chỉ còn có 25 phi đoàn khu trục cơ ở trong nước, và đó là giới hạn cuối cùng. Đây là một quyết định giật gấu vá vai.

        Tôi bảo tướng Ismay gọi điện thoại về Luân Đôn yêu cầu Nội các họp ngay lập tức để xem xét một bức điện khẩn sẽ được phát đi sau đó độ khoảng một giờ gì đó.

        Vào khoảng llh30’ thì điện tới. Nội các trả lời "đồng ý". Tôi lập tức kéo Isma cùng lên xe đến nhà ông Raynaud. Tôi thấy ngôi nhà ít nhiều nằm trong bóng tối. Sau một chập, ông Reynaud từ giường bước ra trong áo choàng ngủ và tôi thông báo tin mừng cho ông ta. Mười phi đoàn khu trục cơ! Rồi tôi thuyết phục ông cho đi tìm ông Daladier, ông nay được mời và đưa ngay đến để nghe quyết định của Nội các Anh. Theo cách này tôi hi vọng vục lại tinh thần của những người bạn Pháp của chúng tôi lên tới mức mà các phương tiện hạm chế của chúng tôi cho phép. Daladier không bao giờ nói một câu. Ông ta từ từ đứng lên và siết chặt tay tôi. Vào khoảng hai giờ sáng, tôi quay về sứ quán, và đánh một giấc ngủ ngon tuy tiếng pháo trong các cuộc không tập nhỏ làm cho người ta thỉnh thoảng phải trở mình. Buổi sáng tôi bay về nước và bất kể công việc quan trọng khác, lao vào việc xây dựng nấc thứ hai của tân chính phủ.

        Nội các Chiến tranh họp vào 10 giờ sáng ngày thứ 17, tôi báo cáo lại kết quả chuyến đi Paris và tình hình theo nhận định của mình. Tôi nói tôi đã cho người Pháp hay là trừ phi họ có một cố gắng phi thường, chúng tôi không có lý do để chấp nhận một hiểm họa lớn đối với đất nước của mình khi gửi thêm các phi đoàn khu trục cơ sang Pháp. Tôi cảm thấy việc tăng cường không quân là một vấn đề nghiêm trọng nhất mà chính phủ Anh đang phải đối phó. Người ta cho là tổn thất về không quân Đức nhiều hơn chúng tôi từ 4 đến 5 lần, nhưng tôi cũng được biết là Pháp chỉ còn lại một phần năm số lượng khu trục cơ mà thôi. Vào ngày này, Gamelin cho tình thế là "không cứu vãn được" và ông ta, theo lời kể lại, đã nói: "Tôi sẽ đảm bảo sự an toàn của Paris chỉ cho ngày hôm nay, ngày mai (ngày thứ mười tám) và đêm tiếp theo mà thôi". Tính chất khủng hoảng của cuộc chiến gia tăng cường độ từng giờ. Trưa hôm đó, quân Đức kéo vào nước Bỉ, ngày hôm sau chúng tới Cambrai, vượt qua núi St. Quentin, và chạm súng sơ sơ với các toán nhỏ của chúng tôi bên ngoài Perone. Quân Bỉ, Anh và Pháp có liên quan tiếp tục cuộc rút lui về Scheldt.

        Nửa đêm ngày 18 rạng 19/5 Tướng Billotte đến chỉ huy sở của Huân tước Gort. Nhân cách của vị tướng Pháp này cũng như những đề nghị của ông ta không hề gây được lòng tin trong các bạn đồng minh. Từ giờ phút này, khả năng của một cuộc rút lui ra bờ biển bắt đầu đến với Tổng tư lệnh quân đội Anh. Trong bản thông báo tháng 3/1941, ông viết: "Giờ đây (đêm ngày thứ 19) tình thế không còn là hình ảnh một tuyến bị bẻ cong hoặc tạm thời bị gẫy, mà là một pháo đài bị vây hãm".


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:18:21 PM

       
*

        Bây giờ ông Reynaud đã có những thay đổi sâu rộng trong Nội các và Bộ Tổng chỉ huy. Ngày 18, Thống chế Pétain được chỉ định làm phó chủ tịch Hội đồng. Ông Daladier chuyển sang Bộ Ngoại giao và bản thân ông Reynaud giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Chiến tranh. Đến 7 giờ tối ngày 19 ông ta chỉ định Weygand khi ông là cánh tay phải của thông chế Foch và thán phục sự can thiệp bậc thầy của ông ta vào trận đánh Vácsava chống lại sự xâm nhập Ba Lan tháng 8 năm 1920 của người Bôn-Sê-Vích - một sự kiện có tính chất quyết định đối với châu Âu vào thời gian đó - Bây giờ ông ta 73 tuổi và người ta cho biết là ông vẫn sung sức và có hiệu quả ở mức độ rất cao. Lệnh cuối cùng (số 120) hồi 9h45 của Tướng Gamelin là các quân đoàn phía bắc, thay vì để bị bao vây, phải bằng mọi cách chọc xuống hướng nam về phía sông Lasomme để tấn công các sư đoàn thiết giáp "Con báo" đã cắt đứt đường giao thông liên lạc của mình. Đồng thời quân đoàn 2 và quân đoàn 6 mới thành lập phải chuyển sang tấn công vào Mezières. Những quyết định này là hợp lý. Thực vậy, một mệnh lệnh cho các quân đoàn phía bắc rút lui toàn bộ về phía nam đã là chậm mất 4 ngày rồi. Một khi tính chất trầm trọng của việc phong tuyến trung tâm của Pháp ở Sedan bị chọc thủng đã rõ ràng, thì hi vọng duy nhất của các quân đoàn phía bắc là tiến về phía sông Lasomme, nhưng dưới sự chỉ huy của tướng Billotte, họ mới chỉ rút lui dần dần từng phần về Scheldt và lập tuyến phòng thủ sườn về phía phải. Thậm chí ngay lúc này cũng có thể còn thời gian cho việc tiến về phía nam.

        Sự lúng túng của Bộ chỉ huy miền bắc, sự tê liệt rõ ràng của quần đoàn 1 Pháp và sự không chắc chắn của điều gì đang diễn biến làm cho Nội các Chiến tranh cực kỳ lo ngại. Mọi sự tiến hành của chúng tôi đều không ồn ào, nhưng chúng tôi có ý kiến thống nhất và quyết tâm, đằng sau đó là sự xúc động thầm lặng. Ngày thứ 19 vào 4h30 sáng, chúng tôi được tin Huân tước Gort "đang xem xét khả năng một sự rút lui về Dunkirk nếu ông ta buộc phải làm như vậy" Tướng Ironside (Tổng Tham mưu trưởng Hoàng gia) không thể chấp thuận đề nghị này, vì giống như đa số chúng tôi, ông ta nghiêng về việc điều quân về phía nam. Do đó chúng tôi phái ông ta đến gặp Huân tước Gort kềm theo chỉ thị là điều quân đội Anh sang hướng tây nam và vượt mọi trở ngại để kết hợp với quân Pháp ở phía nam, có thể chúng tôi sẽ sơ tán càng nhiều càng tốt bộ đội của họ khỏi các cảng thuộc biển Manche. Phải nói cho ông ta biết là đích thân chúng tôi sẽ báo chính phủ Pháp biết những điều đã được quyết định. Cũng tại Nội các Chiến tranh, chúng tôi phái Dill đến sở chỉ huy của tướng Georges, nơi có đường giây điện thoại trực tiếp với chúng tôi. Dill phải ở lại đó 4 ngày và báo chúng tôi biết kết quả công việc. Các sự    tiếp sức ngay cả với Huân tước Gort là thất thường và khó khăn,   nhưng có tin báo cáo là chỉ có dự trữ đạn dược và tiếp tế đủ cho một trận   đánh.

        Tại phiên họp buổi sáng ngày 20/5 của nội các chiến tranh, chúng tôi thảo luận về tình hình của quân đội chúng tôi. Thậm chí cứ cho là có một cuộc chiến để rút lui chót lọt về Lasomme, tôi nghĩ rằng chắc chắn sẽ có một số đáng kể quân bị cô lập hoặc bị đẩy ra ngoài biển. Trong biên bản cuộc họp có ghi: "Thủ tướng nghĩ rằng, như là một biện pháp đề phòng, Bộ Hải quân phải tập trung một số lượng lớn các tầu nhỏ sẵn sàng để đi tới các cảng và các vịnh nhỏ trên bờ biển Pháp". Bộ Hải quân hành động ngay lập tức và với một tinh thần khẩn trương mỗi lúc một tăng, vì thời gian ngày một trôi qua và tình hình trở nên đen tối. Ngày thứ 19, Đô Đốc Ramsay chỉ huy tại Dover được ủy quyền kiểm soát việc điều hành tác chiến và chiều ngày thứ 20 do có các mệnh lệnh của Luân Đôn, cuộc hội nghị thứ nhất gồm đủ mọi thành phần, hữu quan kể cả Bộ Hàng hải được triệu tập tại Dover để xem xét "Việc khẩn cấp rút lui các lực lượng rất lớn qua biển Manche". Kế hoạch đề ra là, nếu cần thiết, thì mỗi ngày đêm rút 10 ngàn người qua từng cảng Calais, Boulogne và Dunkirk. Từ Haewich vong đến Weymouth, các sĩ quan vận tải đường bể được giao nhiệm vụ lên danh sách toàn bộ các tầu thích hợp có trọng tải tới 1000t, và điều tra đầy đủ tất cả tàu thuyền tại các cảng Anh. Các kế hoạch này phục vụ cái được gọi là "Cuộc hành quân Dynamo" đã chứng minh sự cứu vãn được quân đội 10 ngày sau đó.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:18:42 PM

        Hướng tiến của người Đức giờ đây đã trở nên rõ ràng hơn. Các sư đoàn thiết giáp và cơ giới tiếp tục ào ạt kéo qua chỗ bị chọc thủng giữa Amiens và Arras và lượn vòng về phía tây dọc theo sông Lasomme về phía biển. Vào đêm ngày thứ 20 chúng tiến vào Albertville sau khi đã đi qua và cắt đút toàn bộ hệ thống  giao thông của các quân đoàn phía bắc. Những lưỡi hái kinh khủng chết người này hầu như không vấp phải sự đối kháng nào một khi mặt trận đã bị vỡ. Nhũng "xe tăng kinh hoàng của Đức" tự do di chuyển khắp vùng nông thôn không có sự bảo vệ, và với sự trợ giúp và tiếp tế bằng phương tiện cơ giới, chúng tiến được 30 hoặc 40 dặm một ngày. Chúng đã đi qua hàng chục thị trấn và hàng trăm làng mạc mà không gặp sự kháng cự nào, các sĩ quan nhìn qua vòm nóc xe và vui vẻ vẫy tay trước dân chúng. Những người đã chứng kiến bằng mắt thì đó là các đám đông tù binh Pháp cùng đi theo xe tăng, có nhiều người vẫn còn mang súng trường, chốc chốc họ bị thu gom lại và chết gục dưới xích xe. Tôi bị sốc trước sự thất bại hoàn toàn của việc chống lại thiết giáp Đức mà một vài ngàn chiếc đang tiêu diệt hoàn toàn các đội quân hùng mạnh, tôi cũng thất vọng trước sự sụp đổ nhanh chóng của toàn bộ sự kháng cự của Pháp một khi mặt trận tác chiến đã bị chọc thủng. Toàn bộ sự di chuyển của Đức đang diễn ra trên các trục đường chính, và hầu như họ không bị chặn ở nơi nào cả.

        Việc đầu tiên của Weygand là bàn với các sĩ quan cao cấp của mình, ông ta muốn đích thân xem tình hình ở miền bắc và tiếp sức cho các người chỉ huy ở đó. Phải châm chước cho một ông tướng tiếp nhận nhiệm vụ chỉ huy trong thời điểm khủng hoảng nhất của một cuộc chiến mà sự thất bại đang diễn ra. Nhưng lúc này không còn thời gian nữa. Ông ta không được rơi bỏ đỉnh cao của những quyền điều khiển còn lại và bị lôi cuốn vào những sự chậm trễ và căng thẳng trong hoạt động cá nhân. Sáng ngày thứ 20, được đặt vào ghế của Gamelin, Weygand thu xếp đi thăm các quân đoàn phía bắc vào ngày thứ 21.

        Sau khi được tin các đường đến phía bắc đã bị quân Đức cắt, ông ta quyết đinh đi bằng phi cơ. Phi cơ của ông ta bị tấn công và buộc phải hạ cánh xuống Calais. Ở đây ông ta gặp vua Leopold của Bỉ và tướng Billotte. Huân tước Gort không được thông báo về thời gian và địa điểm nên không có mặt, cũng không có sĩ quan Anh nào cả. Vua Leopold mô tả cuộc họp như là "4 giờ hội thoại rối rắm". Hội nghị bàn việc phối hợp giữa ba quân đội, việc thực hiện kế hoạch của Weygand và nếu thất bại thì việc rút lui của quân Anh và Pháp về sông Lys và quân Bỉ về sông Ypres. Vào 7 giờ tối thì tướng Weygand phải về. Huân tước Gort mãi đến 8 giờ mới đến khi ông ta được tướng Billotte thông báo biên bản của cuộc họp. Tướng Weygand đi xe về Calais, đáp tầu ngầm đi Dieppe rồi quay về Paris, Billotte ra đi bằng ô tô để đối phó tình hình nguy cấp và trong vòng một giờ thì bị chết trong một vụ xe đâm phải nhau. Như vậy, tất cả mọi việc lại rơi vào tình trạng bất an.

        Vào ngày thứ 21, Ironside trở về và báo cáo là khi nhận chỉ thị của Nội các, Huân tước Gort có vẻ không đồng tình với việc điều quân về phía nam. Việc này bao hàm một hành động hậu vệ từ phía Scheldt, đồng thời là tiến đánh một khu vực được địch phòng thủ bằng các đơn vị thiết giáp cơ động. Trong một cuộc hành quân như vậy thì phải bảo vệ hai bên sươn, và nếu có thử làm thì cả quân đoàn 1 của Pháp và người Bỉ chắc chắn không có khả năng thích ứng với kiểu hành quân này. Ironside nói thêm là tình hình rối rắm bao trùm trong nội bộ chỉ huy miền bắc, tướng Billotte không thực hiện được nhiệm vụ điều phối trong tám ngày qua và có vẻ như không có kế hoạch gì hết, và đạo quân viễn chinh Anh còn mạnh và cho tới nay mới chỉ có 500 trường hợp thương vong. Ông ta mô tả một cách sinh động tình hình đường xá, đầy người tị nạn, bị phi cơ Đức bắn phá. Bản thân ông ta cũng gặp đầy khó khăn. Bởi vậy, Nội các đứng trước hai sự lựa chọn đáng sợ. Một là bằng mọi giá có hoặc không có sự hợp tác của Pháp và Bỉ, quân đội Anh phải mở đường về phía nam và sông Somme, một nhiệm vụ mà Huân tước Gort hoài nghi khả năng thực hiện. Hai là rút lui về Dunkirk và di tản bằng đường bộ dưới sự tấn công của không quân địch chắc chắn là sẽ mất tất cả pháo binh và trang thiết bị, lúc đó rất khan hiếm và quí giá.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:19:24 PM

        Rõ ràng là phải chấp nhận những rủi ro lớn để thực hiện chọn một, nhưng không lý giải được vì sao mọi sự đề phòng và chuẩn bị khả dĩ thực hiện lại không được đề ra để di tản bằng đương bể nếu kế hoạch tiến sang phía nam bị thất bại. Tôi đề nghị với các bạn đồng sự là tôi phải đi Pháp để gặp Reynaud và Weygand và đi tới một quyết định. Dill từ chỉ huy sở của tướng Georges sẽ gặp tôi ở đó.

        Ngày 22 tháng 5 khi tôi tới Paris thì có một sự sắp đặt mới. Tướng Gamelin ra đi, Daladier từ giã sân khấu chiến tranh. Reynaul là Thủ tướng kiêm Bộ trường chiến tranh... Vì cuộc tấn công ồ ạt của Đức chuyển ra hướng biển, Paris không còn bị đe dọa nữa!

        Tổng hành dinh vẫn còn ở Vincennes. Reynaud đưa tôi xuống đó vào buổi trưa bằng xe hơi. Ở trong vườn, một số những gương mặt mà tôi đã thấy xung quanh Gamelin - một sĩ quan ky binh rất cao đi đi, lại lại một cách rầu rĩ. Một sĩ quan tùy tùng đưa ra một nhận xét: "Đó là chế độ cũ". Reynaud và tôi được đưa vào phòng của Weygand và sau đó sang phòng đồ bản có những bản đồ lớn của Bộ Tư lệnh. Weygand tiếp chúng tôi. Tuy phải vận động nhiều và qua một đêm lữ hành, ông vẫn nhanh nhẹn, sôi nổi và sắc sảo. Ông gây ấn tượng rất tốt cho tất cả mọi người. Ông trình bày kế hoạch chiến tranh của mình. Ông không bằng lòng với việc hành quân sang phía nam hoặc việc rút lui của các quân đoàn phía bắc. Các quân đoàn này phải từ vùng Cambrai và Arras đánh sang phía đông nam theo hướng chung nhằm về Saint Quetin, và như vậy là chọc sườn các sư đoàn thiết giáp Đức giờ đây đang sa vào cái mà ông gọi là túi Quentin - Amiens. Ông ta nghĩ rằng phía sau sẽ có quân đội Bỉ bảo vệ này có thể hướng đến phía đông và phía bắc, nếu cần thiết. Trong khi đó, dưới sự chỉ huy của tướng Frere là một quân đoàn mới gồm từ 18 đến 20 sư đoàn được rút về từ Alsace, chiến tuyến Maginot. Từ Phi Châu và từ mọi nơi khác, bắt đầu lập thành một mặt trận mới dọc sông Lasomme.

        Cánh trái của đạo quân này thọc xuống Arras qua Amiens, và như vậy, bằng sự cố gắng hết sức của mình tiếp cận với các quân đoàn phía bắc. Phải gây sức ép thường trực với quân thiết giáp địch. Weygand nói: "Không được cho phép các sư đoàn xe tăng Con Báo giành thế chủ động." Mọi chỉ thị cần thiết đã được ban hành rộng rãi tới mức có thể được, để ra lệnh bằng bất cứ giá nào: "Giờ đây, chúng tôi được biết là tướng Billote, người được ông phổ biến toàn bộ kế hoạch của mình, đã bị chết trong một tai nạn xe cơ giới. Dill và tôi đều thống nhất là chúng tôi không có sự lựa chọn nào hết, và thực sự không có ý định nào hết, ngoài việc hoan nghênh kế hoạch. Tôi nhấn mạnh là "cần thiết phải mở lại sự liên lạc giữa các quân đoàn phía bắc và quân đoàn phía nam bằng con đường qua Arras. Tôi giải thích là huân tước Gort khi tấn công về hướng nam cũng phải bảo vệ con đương ra bờ biển của mình. Để đảm bảo không có sự nhầm lẫn về điều gì đã được giải quết, bản thân tôi đọc để viết lại một bản tóm tắt các quyết định và đưa cho Weygand xem, ông ta đồng ý. Tôi báo cáo lại kết quả với Nội các và chuyển tin cho Huân tước Gort.

        Chúng ta sẽ thấy là trừ việc nhấn mạnh kế hoạch mới của Weygand, không có sự khác biệt nào đối với chỉ thị số 12 đã được hủy bỏ của tướng Gamelin mà nó cũng không phải là không nhất quán với ý kiến mạnh mẽ của Nội các Chiến tranh phát biểu ngày thứ 19. Các quân đoàn phía bắc phải lách đường về phía nam bằng hành động tấn công, và nếu có thể được, thì tiêu diệt quân thiết giáp xâm nhập.

        Quân đoàn mới thành lập dưới sự chỉ huy của tướng Frère phải mở một cuộc tấn công mạnh mẽ có hiệu quả chọc qua Amiens để bắt liên lạc với quân phía bắc. Việc này sẽ là tối quan trọng nếu nó trở thành sự thực. Lúc vắng người, tôi phàn nàn với ông Reynaud là trong 4 ngày liền, Gort bị bỏ rơi hoàn toàn mà không có lệnh gì hết. Thậm chí từ khi nhận nhiệm vụ chỉ huy, Weygand cũng phải mất ba ngày để ra được các quyết định.

        Việc thay đổi trong Bộ Tư lệnh tối cao là đúng. Nhưng sự chậm trễ kế đó là có hại.

        Trong khi không có bất cứ sự chỉ huy tối cao nào về chiến tranh, thì địch nắm quyền kiểm soát. Người Anh đơn độc đánh một trận nhỏ xung quanh Arras giữa ngày thứ 21 và ngày thứ 23, nhưng quân thiết giáp địch quá mạnh và trong đó có một số ít do một viên tướng chỉ huy tên là Rommel. Cho tới thời điểm này, tướng Weygand trông cậy vào quân đoàn của tướng Frere bắc tiến về Amiens, Albert và Peronne. Trên thực tế, lực lượng này chưa đạt được tiến bộ rõ ràng và vẫn còn đang trong giai đoạn xây dựng và tập hợp.

       
*

        Trong Nội các và trong các giới quân sự cao cấp, người ta có cảm giác mạnh mẽ là khả năng và kiến thức chiến lược của ngài John Dill, người nhận chức Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia, từ ngày 23 tháng 4 sẽ phải phát huy được hết tác dụng mà ông được chỉ định làm cố vấn quân sự chính của chúng tôi. Không ai có thể nghi ngờ trình độ nghề nghiệp của ông ta về nhiều mặt hơn ông Ironside.

        Vì cuộc chiến đấu bất lợi đi tới điểm đỉnh, tôi và các bạn đồng sự rất muốn ngài John Dill trở thành Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia. Chúng tôi cũng phải chọn một Tổng tư lệnh cho quốc đảo Anh, nếu chúng tôi là người bị xâm lược. Về khuya đêm 25/5, Ironside, Dill, Ismay và tôi cùng với một hoặc hai người khác trong phòng của tôi tại Bộ Hải quân tìm cách đánh giá tình hình. Tướng Ironside tự nguyện chấp nhận thôi không giữ chức Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia, nhưng tuyên bố là bản thân ông ta muốn chỉ huy các lực lượng Anh ở trong nước, xét rằng việc chỉ huy vào thời điểm này được coi là bao hàm một nhiệm vụ không có hứa hẹn, đề nghị của Ironside là vô tư, không vụ lợi và có khí thế, do đó tôi đã chấp nhận đề nghị này; sau nay cấp bậc và danh hiệu cao danh cho ông được xuất phát từ sự đánh giá của tôi đối với thái độ của ông trong công việc lúc bấy giờ của chúng tôi. Nói chung, trong thời điểm đang diễn ra, những sự thay đổi được đánh giá là thích hợp.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:20:38 PM

3

CUỘC RÚT QUÂN RA BIỂN

        Giờ đây, chúng ta có thể điểm lại sự diễn biến của trận chiến đấu đáng ghi nhớ này.

        Chỉ có Hitler là đã chuẩn bị để xâm phạm sự trung lập của Bỉ và Hà Lan. Bỉ sẽ không mời Đồng minh vào cho tới khi nước này bị tấn công. Vì vậy, thế chủ động về mặt quân sự thuộc về Hitler. Ngày 10/5 y ra lệnh tấn công. Tập Đoàn quân số 1 có quân Anh ở giữa, thay vì đứng sau các chiến lũy của mình, đã nhảy lên phía trước tiến vào Bỉ trong một sứ mệnh cứu hộ vô hiệu và muộn mằn theo kế hoạch D của tướng Gamelin. Người Pháp đã không củng cố công sự phòng ngự và tăng cường bảo vệ khu trống đối diện dãy núi Ardennes nên một cuộc tấn công bất ngờ bằng thiết giáp chưa từng thấy trong chiến tranh đã chọc thủng tâm điểm tuyến bố trí các quân đoàn Pháp, và tương tự như vậy trong vòng 48 giờ, đã uy hiếp toàn bộ các đường giao thông phía nam và đường ra biển của toàn bộ các quân đoàn phía bắc. Vào ngày thứ 14 là chậm nhất. Bộ chỉ huy tối cao Pháp ra lệnh bắt buộc các quân đoàn này phải cấp tốc rút lui toàn bộ và chấp nhận không chỉ rủi ro mà còn cả các tổn thất nặng nề về trang thiết bị. Vấn đề này không được Gamelin xử lý trong thực tế phũ phàng của nó. Billotte chỉ huy tập đoàn quân phía bắc không tự mình có những quyết định cần thiết. Tình hình rối loạn ngự trị trong các quân đoàn thuộc cánh phía trái đang bị uy hiếp.

        Khi thấy địch mạnh hơn, họ rút lui. Khi bị đột ngột đánh bọc sườn bên phải họ lập tuyến phong thủ sườn. Nếu họ rút lui vào ngày thứ 14 thì họ đã có thể tới tuyến cũ của mình ngày thứ 17 và có thể có cơ may mở được lối thoát. Ít nhất đã để mất 3 ngày hiểm nguy. Từ ngày thứ 17 trở đi Nội các Chiến tranh Anh đã thấy rõ chỉ có một cuộc hành quân cấp tốc mở đường về phía nam thì mới cứu được quân đội Anh. Và đã quyết định thúc ép Chính phủ và tướng Gamelin chấp nhận quan điểm của mình, nhưng chính người chỉ huy quân Anh, Huân tước Gort, thì không tin là có thể rút ra khỏi mặt trận được và còn khó hơn nữa là cùng một lúc chọc thủng chiến tuyến để kéo quân qua. Vào ngày thứ 19 Tướng Gamelin bị cách chức và thay vào đó là tướng Weygand. Bản chỉ thị số 12, bản cuối cùng của Gamelin tuy chậm mất 5 ngày nhưng là hợp lý trên nguyên tắc và cũng phù hợp với các kết luận chính của Nội các Chiến tranh và các Tham mưu trưởng Anh. Sự thay đổi trong Bộ chỉ huy tối cao, hoặc không có sự chỉ huy, dẫn đến việc làm chậm thêm 3 ngày nữa. Kế hoạch mạnh mẽ mà tướng Weygand đề xuất sau khi đi thăm các quân đoàn miền bắc chỉ là một kế hoạch trên giấy tờ. Về cơ bản, kế hoạch Gamelin càng trở thành tuyệt vọng thêm do có sự chậm trễ kéo dài.

        Trong sự tiến thoái lưỡng nan khủng khiếp xuất hiện giờ đây, chúng tôi chấp nhận kế hoạch Weygand và cố gắng thực hiện một cách trung thực và bền bỉ, tuy vô hiệu cho đến tận ngày thứ 25, khi mọi hy vọng thoát về phía nam đều tan biến, vì mọi đường giao thông đều bị cắt, cuộc phản công yếu của chúng tôi bị đẩy, lùi, tiếp theo là việc mất Arras, mặt trận Bỉ bị vỡ và vua Bỉ Leopold sắp sửa đầu hàng, mọi hy vọng thoát ra phía nam đều tiêu tan, chỉ con đi ra biển mà thôi. Liệu chúng tôi có thể ra tới biển được không hay là bị bao vây và đánh gục ở giữa đồng không mông quạnh? Trong bất luận trường hợp  nào, chúng tôi phải mất toàn bộ pháo binh và trang thiết bị không thể thay thế được trong nhiều tháng. Nhưng cái đó đáng gì so với việc cứu vãn quân đội, cái cốt lõi và cũng là cấu trúc mà nước Anh chỉ cần dựa vào đó để xây dựng lực lượng vũ trang tương lai. Từ ngày thứ 25 trở đi, Huân tước Gort đã cảm thấy rút lui bằng đường bể là cơ may duy nhất và giờ đây ông khởi công thành lập một cầu xung quanh Dunkirk và đánh để mở đường vào đó với lực lượng còn lại. Tất cả tinh thần kỷ luật của người Anh, các phẩm chất của những người chỉ huy Anh bao gồm Brooke, Alexander và Montgomery là cần phải có không thể thiếu được. Còn cần thiết nhiều hơn nữa. Tất cả cái gì con người có thể làm đều đã được làm. Như vậy liệu sẽ đủ không?


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:21:03 PM

       
*

        Giờ đây cần phải xem xét một giai đoạn được tranh cãi rất nhiều. Tướng Halder, Tổng Tham mưu trưởng Đức tuyên bố là vào thời điểm đó đích thân Hitler đã có một sự can thiệp có hiệu quả vào trận chiến. Theo lời quan chức này, thì "ông ta hoảng sợ về các đội hình thiết giáp, vì chúng có những nguy cơ đáng kể trong một nước có địa hình khó khăn, sông ngòi ngang dọc, và không có khả năng đạt được những kết quả quyết định. Ông ta cảm thấy không thể hy sinh một cách vô ích các đơn vị thiết giáp vì binh chủng này rất quan trọng trong giai đoạn 2 của chiến dịch. Chắc chắn ông ta tin là ưu thế về không quân của mình có thể đủ để ngăn chặn một sự rút lui qui mô lớn ra bể. Bởi vậy, theo Halder, ông ta gửi một thông điệp qua Thống chế Brauchitsch ra lệnh ngừng tất cả các đội hình thiết giáp, thậm chí rút lại cả các đội tiền trạm". Halder nói "như vậy là dọn đường ra Dunkirk cho quân Anh". Bằng mọi cách, chúng tôi đã bắt được 1 thông điệp của Đức phát rõ vào lúc 11 giờ 42 sáng ngày 24/5 báo trước mắt phải đình lại việc tấn công con đường ra Dunkirk. Haider nói, thay mặt Bộ Tư lệnh tối cao, là ông ta từ chối can thiệp vào sự di chuyển của Tập đoàn quân Rundstedt đã được lệnh rõ ràng là chặn không cho địch tới bờ biển. Ông ta lập luận rằng thành công càng nhanh và hoàn toàn ở đây thì sau này sẽ dễ dàng đền bù lại sự tổn thất một số xe tăng.

        Cuộc tranh luận chấm dứt băng một lệnh dứt khoát của Hitler mà Halder bổ sung việc thực hiện bằng cách phái các sĩ quan liên lạc của mình ra mặt trận. Halder nói: "Tôi chưa bao giờ  có thể hình dung được Hitler quan niệm như thế nào về việc gây nguy hiểm một cách vô ích cho các đội hình thiết giáp. Có rất nhiều khả năng là Keitel đã ở vùng Flandre một thời gian đáng kể trong thế chiến 1 và là người đã khởi xướng ra những ý kiến nay bằng các câu truyện đồn đại của mình".

        Các tướng lĩnh Đức khác cũng nói nhiều về câu truyện này, họ thậm chí đã có ý cho là lệnh của Hitler được cảm hứng từ một ý đồ chính trị nhằm cải thiện các khả năng có hòa bình với Anh sau khi Pháp bị đánh gục. Chứng cứ từ các tài liệu đích thực giờ đây đã ra trước ánh sáng dưới dạng nhật ký thực của chỉ huy sở của Rundstedt viết vào thời gian đó. Tài liệu này nói lên một truyện khác. Vào nửa đêm ngày thứ 23 lệnh phát ra từ Tổng hành dinh Thống chế Brauchitsch xác nhận là đệ tứ quân đoàn, phải để lại dưới quyền của Rundstedt và dành cho "hành động cuối cùng" của "trận bao vây". Sáng hôm sau Hitler gặp Rundstedt, Rundstedt trình bày là quân thiết giáp của ông ta đến từ quá xa và quá nhanh đã bị giảm nhiều về mặt lực lượng và cần phải nghỉ để tổ chức lại và lấy lại thăng bằng, chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng chống một kẻ địch mà theo nhật ký tham mưu "đang chiến đấu với một sự bền bỉ phi thường". Hơn nữa Rundstedt đã nhìn thấy trước khả năng các cuộc tấn công từ phía bắc và phía nam vào các lực lượng của mình phân tán trên một diện rộng. Trên thực tế, kế hoạch Weygand nếu là khả thi, thì đó là một cuộc phản công rõ ràng của Đồng minh. Hitler "thống nhất hoàn toàn". Ý nhắc đi nhắc lại sự tối cần thiết phải bảo tồn lực lượng thiết giáp cho các cuộc hành quân tiếp. Tuy nhiên, ngày thứ 25 khi còn rất sớm, Brauchitsch với danh nghĩa Tổng tư lệnh phát ra 1 lệnh mới cho quân thiết giáp tiếp tục tiến lên. Được hỗ trợ bởi sự đồng ý bằng miệng của Hitler, Rumdstedt không ra lệnh gì hết. ông ta không chuyển lệnh cho Kluge. Tư lệnh đệ tứ quân đoàn, người được bảo là phải tiếp tục tiết kiệm các sư đoàn xe tăng Con Báo. Kluge phản đối sự chậm trễ nhưng chưa tới ngày hôm sau tức là 26, Rundstedt đã giải tỏa các sư đoàn xe tăng Con Báo, tuy rằng thậm chí lúc đó ông ta ra lệnh chính Dunkirk chưa phải là mục tiêu tấn công trực tiếp. Nhật ký ghi là đệ tứ quân đoàn phản đối sự hạn chế này, và viên Tham mưu trưởng của đơn vị này đã nói qua điện thoại ngày thứ 27 như sau: "Hình ảnh của các cảng biển Manche như sau: Các tầu lớn đến tận cầu cảng, các tấm ván đã được hạ xuống, đầy binh lính trên tàu. Mọi máy móc vật liệu đều bị bỏ lại phía sau. Nhưng chúng tôi không nhiệt tình trong việc tìm kiếm họ, những người có trang bị mới, chống lại chúng tôi sau này".

        Do vậy, chắc chắn là quân thiết giáp đã dừng lại, việc này thuộc sáng kiến không phải của Hitler mà của Rundstedt. Chắc chắn Rundstedt có lý lẽ cho quan điểm của mình về cả hai mặt: điều kiện của quân thiết giáp và trận đánh chung, nhưng ông ta nhất thiết phải tuân lệnh chính thức của Bộ tư lệnh quân đội, hay ít nhất nói cho họ biết cái điều Hitler đã nói trong cuộc nói chuyện. Trong các tướng lĩnh Đức có sự nhìn nhận thống nhất chung là một cơ hội lớn đã mất.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:21:49 PM

       
*

        Tuy nhiên có một nguyên nhân riêng rẽ ảnh hưởng đến các sự di chuyển của quân thiết giáp Đức vào điểm quyết định.

        Sau khi vượt quá Abbeville ra biển vào đêm ngày thứ 20, các binh đoàn thiết giáp quan trọng nhất và cơ giới Đức di chuyển theo hướng bắc dọc bờ biển về phía Boulongne, Calais và Dunkird với ý đồ rõ ràng là cắt đứt mọi lối thoát bằng đường bể. Hình ảnh vùng này trong Thế chiến Thứ nhất vẫn sáng rực trong đầu tôi, khi đó tôi duy trì lữ đoàn lính thủy đánh bộ cơ động hoạt động từ Dunkirk đánh vào hậu quân của các đạo quân Đức tiến đánh Paris. Do đó, tôi không phải tìm hiểu về hệ thống làm ngập lụt giữa Calais và Dunkirk hoặc ý nghĩa của thủy đạo ở Gravelines. Các cổng đã được mở và lụt lan rộng hàng ngày, và như vậy, tạo sự bảo vệ về phía nam cho đường rút lui của chúng tôi. Việc phòng thủ Boulogne và quan trọng hơn nữa là Calais, đến giờ chót đã thoát ra khỏi cảnh rối loạn và binh lính đồn trú được gửi từ Anh ngay lập tức sang các vị trí này.

        Bỉ bị cố lập và tấn công ngày 22/5, Boulogne được phòng thủ  bằng hai tiểu đoàn cận vệ và một trong số ít ỏi cỗ pháo của Anh cùng với một số binh lính Pháp. Sau 36 giờ cầm cự có tin báo về là không giữ nổi hai vị trí này, và tôi đồng ý để số quân đồn trú có cả quân Pháp được rút lui bằng đường bể. Trong đêm 23 rạng 24 quân cận vệ được đưa lên 8 khu trục hạm với mức tổn thất chỉ là 200 người. Người Pháp tiếp tục chiến đấu trong thành cho tới sáng ngày thứ 25. Tôi lấy làm tiếc phải rút quân.

        Trước đây một vài ngày, tôi đặt việc bảo vệ các cảng biển Manche dưới sự chỉ huy trục tiếp của Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia; người mà tôi thường xuyên tiếp cận, giờ đây, tôi quyết định là phải tử thủ Calais, quân đồn trú không được phép rút lui bằng đường bể, đạo quần này gồm 1 tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn khinh binh, một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn khinh binh thứ 60, Trung đoàn khinh binh Queen Victoria, đơn vị pháo phòng không thứ 229 thuộc pháo binh Hoàng gia. Tiểu đoàn thuộc Trung đoàn xe tăng Hoàng gia với 21 tăng loại nhẹ và 27 tăng tiễu, và một số quân Pháp tương đương. Như vậy thật là đau long phải hy sinh những đơn vị được huấn luyện tuyệt vời này mà chúng ta chỉ tính được trên đầu ngón tay, để tranh thủ được 2 hoặc có thể 3 ngày mà mục đích sử dụng không được rõ ràng cũng như lợi ích của việc sử dụng không chắc chắn. Bộ trưởng Tổng tham mưu trưởng Hoàng gia đã đồng ý biện pháp cứng rắn này.

        Chiều 26/5 thì có quyết định cuối cùng là không chi viện cho quân đồn trú. Cho tới lúc đó, các khu trục hạm đều ở tư thế sẵn sàng. Eden và Ironside có mặt cùng với tôi tại Bộ Hải quân, ăn xong bữa cơm tối, chúng tôi xuất hiện và đưa ra quyết định này. Nó có liên quan đến Trung đoàn của chính Eden mà ông đã chiến đấu và phục vụ trong một thời gian lâu trong cuộc chiến tranh lần trước. Trong chiến tranh, con người phải ăn và uống, nhưng tôi không tránh được cảm giác là mình đang bị ốm yếu về thể xác khi chúng tôi vào bàn sau đó.

        Calais là vấn đề then chốt. Nhiều nguyên nhân khác đã có thể cản trở việc giải tỏa Dunkirk, nhưng có điều chắc là việc bảo vệ Calais đã dành ra được 3 ngày để giữ được tuyến nước Gravelines, nếu không thì mặc dù có sự do dự của Hitler và mệnh lệnh của Rundstedt, tất cả đã có thể bị cắt đứt và mất hết.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:22:14 PM

       
*

        Giờ đây, một tai họa rút ngắn sự việc đã ập xuống toàn bộ tình hình. Cho đến nay người Đức không gây sức ép nặng nề ở mặt trận Bỉ, thì ngay 24/5 chọc thủng chiến tuyến Bỉ ở hai bên Courtrai, một địa điểm chỉ cách Ostend và Dunkirk có 30 dặm. Vua Bỉ sớm thấy tình hình là vô hy vọng và tự chuẩn bị việc đầu hàng.

        Chiều tối ngay thứ 25. Huân tước Gort ra 1 quyết định sống còn. Mệnh lệnh của ông là vẫn tiếp tục thực hiện một kế hoạch tấn công của Weygand về phía nam nhằm vào Cambrai và có sử dụng các sư đoàn 5 và 50 phối hợp với quân Pháp. Không thây có dấu hiệu thực tế là quân Pháp có tấn công về hướng bắc xuất phát từ sông La Somme như đã hứa. Những người bảo vệ cuối cùng Boulogne đã được di tản. Calais vẫn còn cầm cự. Bây giờ thì Gort bỏ kế hoạch Weygand vì ông cho là không hy vọng gì cho một cuộc hành quân về phía nam và La Somme. Hơn nữa, trong cùng thời gian này việc phòng thủ của Bỉ sụp đổ và việc mở ra khoảng trống ở phía bắc tạo thành một mối nguy cơ mới, tự thân nó mang tính chất bao trùm. Tin vào bản lĩnh quân sự của mình và nhận ra được sự sụp đổ của mọi quyền kiểm soát từ các phía chính phủ Anh và Pháp hoặc từ Bộ chỉ huy tối cao Pháp, Gort quyết định từ bỏ việc tấn công xuống phía nam bịt khoảng trống mà việc đầu hàng của Bỉ sắp tạo ra ở phía bắc, và tiến ra phía biển. Vào thời điểm này thì đây là hy vọng duy nhất cứu vãn được bất cứ cái gì khỏi bị tiêu diệt hoặc đầu hàng. Vào 6 giờ chiều, ông ta ra lệnh cho các sư đoàn thứ 5 và thứ 50 tham gia với binh đoàn Anh thứ 2 vào việc lấp khoảng trông sắp xảy ra từ phía Bỉ. Ông ta báo cho Tướng Blanchard, người thay Billotte đang chỉ huy binh đoàn thứ nhất biết hành động này của mình, và viên sĩ quan này, xác nhận sức mạnh của các sự kiện, đã ra lệnh vào lúc 11 giờ 30 đêm cho việc rút lui vào ngày thứ 20 về tuyến sau sông Lys ở phía tây Lille, nhằm mục đích lập một đầu cầu xung quanh Dunkirk.

        Sớm ngay 26/5, Gort và Blanchard vạch kế hoạch rút lui ra biển. Vì quân đoàn I Pháp còn phải đi xa hơn, những cuộc di chuyển ban đầu của Đạo quân viễn chinh Anh trong đêm 26 rạng 27 phải có tính chất chuẩn bị, và hậu quân của binh đoàn 1 và binh đoàn 2 Anh vẫn chốt lại ở phòng chiến tuyến biên giới cho tới đêm 27 rạng 28. Tất cả sự việc này đều do Gort quyết định và tự chịu trách nhiệm. Nhưng vào giờ này, chúng tôi ở nhà với 1 góc độ thông tin có phần nào khác, đã đi đến những kết luận tương tự. Ngày thứ 26, Bộ Chiến tranh phát đi một bức điện tán thành hành động của ông và cho phép "hành quân phía bờ biển ngay lập tức, cùng phối hợp với đạo quân của Pháp và Bỉ". Việc tập trung khẩn cấp trên quy mô lớn tất cả hải quân đủ các cỡ và các loại đã là giai đoạn triển khai rầm rộ nhất rồi.

        Trong thời gian này, việc tổ chức các đầu cầu xung quanh Dunkirk vẫn tiếp tục. Người Pháp phải giữ vòng cung từ Gravelines đến Bergues và người Anh từ đó dọc con kênh bên cạnh Fumes đến Newport và biển. Các cụm và nhóm của tất cả các nhánh quân từ hai phía kéo đến đều được đan xen vào tuyến nay. Huân tước Gort nhận được một điện báo phát đi lúc 1 giờ chiều ngày 27 từ Bộ chiến tranh xác nhận các mệnh lệnh ngày 26 và cho ông này biết từ nay trở đi nhiệm vụ của ông ta là "di tản quân đến mức tối đa có thể được". Tôi báo cho Reynaud ngày hôm trước biết chính sách di tản đạo quân Viễn chinh Anh và yêu cầu ông ta ra những mệnh lệnh tương ứng. Thông tin hên lạc bị gián đoạn tới mức mà hồi 2 giờ chiều hôm thứ 27 viên chỉ huy quân đoàn thứ nhất Pháp ra lệnh sau cho đơn vị mình: "Trận đánh sẽ diễn ra mà không được phép rút lui về vị trí sông Lys".

        Giờ đây, 4 sư đoàn Anh và toàn bộ quân đoàn thứ nhất Pháp thực sự đứng trước nguy cơ bị chặn đường rút lui xung quanh Lille. Hai cánh của cuộc hành quân bao vây của Đức cố gắng xiết chặt các đạo quân Anh và Pháp nay vào thế gọng kìm. Tuy vậy, đây là một trong những thời điểm hiếm hơi những quyết định, khi việc vận tải cơ giới thực hiện quyền hạn của nó. Khi lệnh của Gort được phát ra, tất cả 4 sư đoàn nay rút về với một tốc độ đáng kinh ngạc, hầu như chỉ trong một đêm. Trong thời gian này, thông qua những trận đánh dữ dội dọc hai bên hanh lang, số quân còn lại của đạo quân Anh vẫn đảm bảo được lối ra biển.

        Hai gọng kìm bị sư đoàn thứ hai làm chậm lại và sư đoàn thứ 5 cầm chân trong 3 ngày, cuối cùng thì cũng gặp nhau đêm 29/5 giống như kiểu chiến dịch bao vây lớn của Nga năm 1942 xung quanh Stalingrad, cần phải mất 2 ngày rưỡi cái bẫy mới khép kín lại, và trong thời gian này, các sư đoàn Anh và một bộ phận lớn quân đoàn thứ nhất Pháp, trừ binh đoàn thứ 5, đã rút lui rất có trật tự qua cái bẫy, tuy rằng Pháp chỉ có ngựa làm phương tiện vận tải và con đường chính đến Dunkirk đã bị cắt, còn các con đường phụ thì đầy dẫy bộ đội rút lui, các đoàn vận tải kéo dài và hàng vạn người tị nạn.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:26:15 PM

       
*

        Vấn đề khả năng chúng ta hành động đơn độc mà mười ngày trước đây tôi yêu cầu ông Chamberlain xem xét cùng với các Bộ trưởng khác, giờ đây tôi lại nêu ra chính thức với các cố vấn quân sự của chúng tôi. Tôi dự thảo bản tham khảo với những thuật ngữ tuy có định hướng nhưng vẫn để cho các Tham mưu trưởng được tự do phát biểu bất cứ ý kiến nào của mình. Tôi biết trước là họ đã hạ quyết tâm, nhưng tốt hơn nên có những quyết định bằng giấy tờ. Hơn nữa, tôi muốn mình có thế đảm bảo với Quốc hội là quyết định của chúng tôi có ý kiến của giới chuyên môn ủng hộ. Dưới đây là quyết định và câu trả lời:

        1. Chúng tôi đã xem xét lại tờ trình của chúng tôi về "chiến lược của Anh quốc trong một tình huống chắc chắn xảy ra" dưới ánh sáng của các nguyên tắc sau đây:

        "Trong trường hop Pháp không tiếp tục chiến tranh được và trở thành trung lập, người Đức giữ vững vị thế hiện nay của họ và quân đội Bỉ buộc phải đầu hàng sau khi đã hỗ trợ đạo quân viễn chinh Anh tới được bờ biển, trong trường hop các điều kiện đưa ra là Anh hoàn toàn lệ thuộc vào Đức thông qua việc giải giáp và từ bỏ các căn cứ hải quân ở Orkneys v.v... thì triển vọng sẽ ra sao đối với việc chúng ta tiếp tục chiến tranh một mình với Đức và chắc chắn là với Ý nữa? Liệu Hải quân và Không quân có thể giữ được những hy vọng phải chăng về khả năng ngăn chặn một cuộc xâm lược nghiêm trọng, liệu các lực lượng tập trung trên Hòn đảo này có thể đối phó với các cuộc không tập bao gồm các biệt đội có qui mô không quá 10.000 người không? Việc Anh kéo dài kháng cự được coi là rất nguy hiểm cho Đức, nước đã lao vào việc phải khống chế 1 bộ phận lớn hơn của Châu Âu.

        2. Kết luận nằm trong các chương sau đây:

        3. Trong khi không lực vẫn tồn tại, Hải quân và Không quân cúa chúng ta phải có khả năng ngăn chặn được cuộc đổ bộ lớn bằng đường biển của Đức vào đất nước này.

        4. Với giả thuyết Đức chiếm ưu thế tuyệt đối trên không, chúng tôi cho là Hải Quân có thể chặn đứng một cuộc xâm lăng trong một thời gian, nhưng không thể là vô hạn định được.

        5. Nếu Hải quân bất lực trong việc ngăn chặn xâm lăng và không quân không tồn tại nữa trong khi Đức lại mưu tính một cuộc xâm lăng, các bố phòng bờ biển và bãi biển của chúng ta sẽ không ngăn cản được xe tăng và bộ binh Đức đổ bộ vào bãi biển Anh và trụ lại ở đó. Trong các trường hợp dự kiến trên, lực lượng lục quân của chúng ta sẽ không đủ để dối phó với một cuộc xâm lăng qui mô lớn.

        6. Then chốt của vấn đề là ưu thế về không quản. Một khi Đức dạt được điểm này, thì họ có thể tìm cách khuất phục chúng ta chỉ bằng không quân mà thôi.

        Tuy nhiên Đức không thể dạt được ưu thế hoàn toàn về không quân trừ khi họ có thể hạ gục không lực và các ngành công nghiệp chế tạo máy bay của chúng ta mà một số cơ số quan trọng sống còn được tập trung ở Coventry và Birmingham.

        7. Việc công kích các nhà máy chế tạo máy bay có thể được tiến hành ban ngày hoặc ban đêm. Chúng tôi cho là chúng ta phải có khả năng ban ngày giáng những đòn như vậy vào địch để phòng ngừa những tổn thất nghiêm trọng. Tuy nhiên, bất kể cái gì ta làm theo cách phòng ngự - và chúng ta đang cấp tốc nhấn mạnh vào các biện pháp phòng ngự - chúng ta cũng không tin chắc là có thể bảo vệ được các trung tâm công nghiệp rộng lớn chi phối mạnh mẽ công nghiệp chế tạo máy bay của chúng ta, tránh được những tổn thất nghiêm trọng về vật chất do các cuộc oanh kích ban đêm gây ra. Kẻ địch có thể không phải dùng cách oanh tạc chính xác để đạt được mục đích đó.

        8. Liệu các cuộc tấn công có đạt được hiệu quả là tiêu diệt kỹ nghệ chế tạo máy bay hay không, điều đó còn tùy thuộc không chỉ tổn thất vật chất do bom gây ra mà còn phải kể đến tác động vào tinh thần những người làm việc và quyết tâm của họ thực hiện nhiệm vụ trước cảnh tiêu diệt và hủy hoại hàng loạt.

        9. Vậy thì, nếu địch giành lợi thế tối đa bằng cách dồn dập dành phá công nghiệp chế tạo máy bay của ta, chắc chắn họ phải gây được những tổn thất vật chất và tinh thần như vậy trong phạm vi công nghiệp hữu quan để toàn bộ các công nghiệp phải dừng lại.

        10. Phải nhớ là về mặt số lượng người Đức hơn ta 4 lần. Hơn nữa, các nhà máy Đức sản xuất máy bay được phân tán khá tốt và tương đối khó tiếp cận.

        11. Mặt khác, chừng nào chúng ta còn có được một lực lượng phản công bằng oanh tạc cơ, chúng ta có thể thực hiện những cuộc đánh phá tương tự vào các trung tâm công nghiệp và thông qua những tác động về vật chất và tinh thần làm cho một số trung tâm phải ngừng hoạt dộng.

        12. Tóm lại, kết luận của chúng tôi là thoạt nhìn Đức có đại bộ phận các con bài trong tay. Nhưng điều thử thách thực sự là liệu tinh thần của đội ngũ chiến đấu và dân chúng ta có chống lại được những ưu điểm về số lượng và vật chất mà Đức có lợi thế - chúng tôi tin là sẽ chống lại được.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Một, 2019, 11:39:57 PM

        Bản báo cáo này dĩ nhiên được thảo ra trong thời điểm đen tối nhất trước khi Dunkirk được giải thoát và có mang chữ ký không những của các Tham mưu trưởng 3 quân chủng là Newall, Pound và Ironside mà cả 3 vị Tham mưu phó nữa là Dill, Phillips và Peirse. Đọc nó trong các năm sau này, tôi phải công nhận tính chất nghiêm trọng và khủng khiếp của nó. Tuy nhiên, Nội các Chiến tranh và một số ít bộ trưởng biết việc này đều một lòng một dạ. Không có ban cãi gì hết. Tất cả đều thống nhất với nhau.

        Ở nhà, tôi phát ra một lệnh chung sau đây:

        (Tuyệt mật) 28.5.40

        "Trong những ngày đen tối này, Thủ tướng sẽ biết ơn nếu tất cả các vị đồng nghiệp trong chính phủ cũng như các quan chức quan trọng giữ vững tinh thần cao trong giới mình, không coi thường tính chất nghiêm trọng của các sự kiện mà là tỏ lòng tin vào khả năng và hạ quyết tâm tiếp tục chiến tranh cho tới khi chúng ta đập tan được ý chí của kể thù nhằm đưa toàn thể Âu Châu vào sự đô hộ của họ.

        Không tha thứ cho ý nghĩ là nước Pháp sẽ lập một nền hòa bình riêng rẽ, tuy nhiên bất kể điều gì có thể xảy ra ở lục địa Châu Âu, chúng ta cũng không nghi ngờ gì nhiệm vụ của mình và nhất định chúng ta sẽ đem hết sức mình để bảo vệ Anh quốc, Đế chế Anh và sự nghiệp của chúng ta".


       
*

        Trong những thời khắc đầu của ngày thứ 28, quân dội Bỉ đã đầu hàng. Huân tước Gort chỉ được thông báo trước 1 giờ, nhưng sự sụp đổ đã được dự kiến 3 ngày trước đó, và bằng cách này hay cách khác thì khoảng trống đã được bít lại. Suốt ngày hôm đó, việc rút lui của quân đội Anh đã đến điểm đỉnh với cả hai khả năng hoặc thành công hoặc thất bại. Trên mặt trận từ Comines tới Ypres và từ đó ra biển, hướng về phía đông và tìm cách lấp lỗ hổng do Bỉ tạo ra, tướng Brooke và binh đoàn thứ 2 của ông ta đã đánh một trận tuyệt hay, nhưng vì quân Bỉ rút về phía Bắc rồi đầu hàng sau đó, nên khoảng trống trải rộng ra vô phương cứu chữa. Cú thọc sườn của Đức vào giữa hai cánh quân Anh và Bỉ không cần phải phòng ngừa. Nhưng hệ lụy tai hại của một cuộc vượt sông Yser đánh vu hồi có thể đưa địch đến các bãi biển sau lưng bộ đội chiến đấu của chúng tôi, đã được tiên liệu và chặn trước ở khắp mọi nơi.

        Quân Đức qua một trận đánh đẫm máu phải chùn lại. Phía sau trận tuyến của Brooke chỉ khoảng 4 dặm, suốt ngay đêm bộ đội và các phương tiện được ùn ùn đổ vào khu đầu cầu Dunkirk đang phát triển và được ứng tác bố trí một cách khéo léo vào việc phòng thủ. Đến ngày thứ 29 đại bộ phận đạo quân viễn chinh Anh đã tới được phạm vi của khu vực và lúc này, các biện pháp hải quân phục vụ việc rút quân bắt đầu đạt được hiệu quả đầy đủ. Ngày thứ 30, Tổng hành dinh báo tin là tất cả các sư đoàn Anh, hoặc bộ phận còn lại đã tới Dunkirk. Hơn một nửa quân đoàn số 1 Pháp đã tìm cách đến được Dunkirk và đại bộ phận đã xuống tàu an toàn. Nhưng đường rút lui của ít nhất 5 sư đoàn bị các vận động chiến theo kiểu gọng kìm của quân Đức cắt đứt ở phía tây Lille. Người Pháp ở Lille chiến đấu trên các mặt trận cứ dần dần bị co lại trước một súc ép mỗi lúc một tăng cho đến chiều ngày thứ 31 thì hết lương thực và đạn dược, họ buộc phải đầu hàng. Như vậy khoảng 50 ngàn người rơi vào tay quân Đức. Dưới sự lãnh đạo quả cảm của tướng Molinié, những người Pháp nay trong 4 ngày cực kỳ gay go đã cầm chân được không dưới 7 sư đoàn Đức, nếu không thì chúng đã tham gia vào cuộc tấn công vành ngoài khu Dunkirk. Đây là một sự đóng góp rục rỡ vào việc chạy thoát của các đồng đội may mắn hơn của họ và của đạo quân viễn chinh Anh.

       
*

        Thật là một sự thử thách gay go khi mà với một trách nhiệm toàn diện nặng nề trong những ngày này, tôi phải theo rõi, bằng những cái nhìn thoáng qua một tấn bi kịch trong đó tình thế là không thể kiểm soát nổi và sự can thiệp chắc chắn có hại hơn là có lợi. Chừng nào mà chúng tôi còn bị thúc ép một cách hết súc trung thực kế hoạch rút quân của Weygand về sông La Somme, thì không con nghi ngờ gì nữa, nguy cơ của chúng tôi sẽ là rất trầm trọng và sẽ còn tăng thêm. Nhưng quyết định của Gort mà chúng tôi nhanh chóng hưởng ứng về việc bỏ kế hoạch Weygand và tiến ra phía biển đã được ông ta và bộ tham mưu thực hiện một cách thành công tuyệt vời và sẽ được coi là một chương sáng lạn trong biên niên sử quân sự của Anh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:08:16 PM

4

GIẢI THOÁT KHỎI DUNKIRK

        Đó là thứ ba 28/5, và tôi lại không đến Hạ viện tính ra được 1 tuần kể từ thời điểm đó. Một tuyên bố trong thời gian nói trên không mang lại gì, và các Hạ nghị sĩ cũng không muốn có một tuyên bố. Nhưng mọi người đều nhận thức được số phận của bộ đội chúng tôi và nhiều điều khác nữa rất có thể được quyết định trước khi tuần lễ chấm dứt. Tôi đã nói: "Hạ viện phải chuẩn bị đón chờ những tin tức nặng nề và dữ dội. Tôi chỉ phải nói thêm là không có gì có thể xảy ra bằng bất cứ cách nào trong trận chiến này có thể miễn chúng tôi khỏi nghĩa vụ bảo vệ chính nghĩa của thế giới mà chúng tôi đã nguyện phục vụ; cũng như nó không thể triệt tiêu được lòng tin của chúng tôi vào sức mạnh của mình để tìm đương ra, như chúng tôi đã từng lâm vào trong các thời điểm lịch sử của chúng tôi trước đây, trải qua thảm họa và đau khổ, cho kẻ thù của chúng tôi cuối cùng sụp đổ. Từ khi thành lập chính phủ, tôi không gặp nhiều bạn đồng nghiệp bên ngoài Nội các Chiến tranh, trừ trường hợp cá nhân, và tôi nghĩ là phải có một cuộc họp tất cả các Bộ trưởng cấp Nội các, trừ các thành viên của Nội các Chiến tranh, tại phòng của tôi ở Hạ viện. Có lẽ có đến 25 người xung quanh bàn họp. Tôi mô tả diễn biến của các sự kiện và nói rõ với họ là hiện chúng ta đang ở đâu và tất cả những cái gì con bấp bênh chưa chắc chắn. Tiếp đó, hoàn toàn vô tình, không cho đó là một điểm có ý nghĩa đặc biệt, tôi nói: "Dĩ nhiên, cho dù bất cứ gì xảy ra ở Dunkirk, chúng ta phải tiếp tục chiến đấu".

        Một cuộc biểu tình của 25 nhà chính trị và nghị sĩ quốc hội có kinh nghiệm đại diện cho tất cả các quan điểm, đúng hay sai, trước khi có chiến tranh, đã làm tôi ngạc nhiên, xét về tính chất của cuộc tập hợp này. Một số rất đông đã nhảy ra khỏi bàn của họ và chạy đến chỗ tôi, họ hét và vỗ vào lung tôi. Không con nghi ngờ gì nữa, nếu tôi do dự, ngập ngừng trong việc lãnh đạo đất nước, người ta đã la ó, đuổi tôi ra khỏi nhiệm sở. Tôi biết chắc là mọi Bộ trưởng sẵn sàng chấp nhận để mình bị chết thật sớm và toàn bộ gia đình của cải của họ bị tiêu diệt còn hơn là đầu hàng. Trong việc này họ chính là đại biểu của Hạ viện và hầu như của toàn thể dân chúng. Trong những ngày và tháng tới tôi có nhiệm vụ biểu đạt tình cảm của họ trong những trường hợp thích hợp. Tôi có thể làm được việc này vì nó cũng là việc của bản thân tôi. Một ánh hào quang sáng trắng, áp đảo tuyệt vời trải suốt đất nước chúng ta, từ đầu này đến đầu kia.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:08:44 PM

       
*

        Những báo cáo chính xác, ưu việt đã được viết về việc quân Anh và Pháp rút khỏi Dunkirk. Liên tục từ ngày thứ 20, việc tập trung các tàu bè và thuyền còn được tiến hành dưới sự kiểm soát của đô đốc Ramsay, người chỉ huy tại Dover. Chiều ngày thứ 26, Bộ Hải quân phát tín hiệu cho cuộc "hành quân Dynamo" và các binh sĩ đầu tiên được đưa về nước đêm đó. Sau khi Boulogne và Calais bị thất thủ, chúng tôi chỉ còn trong tay những phần còn lại của cảng Dunkirk và các bãi bể để trống gần biên giới Bỉ. Vào thời điểm này, người ta nghĩ rằng nhiều lắm thì chúng tôi cũng chỉ có thể cứu nổi 45.000 người trong hai ngày. Sáng sớm ngày hôm sau, 27/5 các biện pháp khẩn cấp khác được đề ra nhằm tìm thêm các tầu nhỏ cho "một yêu cầu đặc biệt". Việc này cũng không kém hơn nhu cầu di tản cả đạo quân viễn chinh Anh. Rõ ràng những số lượng lớn các loại tầu này là cần có để làm việc trên các bãi biển, hỗ trợ thêm cho các tầu lớn hơn, có thể xếp hàng ở cảng Dunkirk. Theo gọi ý của ông H.C.Riggo thuộc Bộ Hàng hải, các sĩ quan Bộ Hải quân đã lục soát các xuống tàu từ Tedington tới Brighingsea thu được trên 40 chiếc thuyền gắn máy và xuồng máy lớn được lắp ráp lại tại Sheeness vào ngay hôm sau. Cùng thời gian nay, xuồng cứu hộ của các tàu chợ thuộc các bến Luân Đôn, tàu từ sông Thames, tàu đánh cá, thuyền buồm, phà, xà lan, tàu thuyền phục vụ thể thao du lịch và bất kể cái gì sử dụng được dọc bãi biển, được huy động để phục vụ nhu cầu này. Vào đêm ngày thứ 27, hàng loạt tàu bắt đầu đi ra phía biển, trước hết là tới các cảng biển Manche của chúng tôi, rồi từ đó đi tới các bãi thuộc cảng Dunkirk.

        Một khi sự cần giữ bí mật được nới lỏng, Bộ Hải quân không ngần ngại phóng tay buông cương cho phong trào tự phát và rầm rộ của dân đi biển thuộc bờ biển phía nam và đông nam nước chúng tôi. Mọi người có thuyền bất kể là chạy bằng hơi nước hay bằng buồm đều để dành cho Dunkirk, và rất may là công tác chuẩn bị được bắt đầu trước đó một tuần thì giờ đây các người tình nguyện hỗ trọ bằng một sự linh biến thông minh và trên qui mô kỳ lạ. Con số các thuyền tới trong ngày thứ 20 còn nhỏ bé, nhưng đó là tốp đi đầu của gần 400 thuyền nhỏ đã đóng một vai trò rất quan trọng, kể từ ngày thứ 31 trỏ đi, trong việc nói lỏng xấp xỉ 100.000 người từ bờ biển ra các tầu đậu bên ngoài. Trong những ngày này tôi không gặp người Trưởng phòng đồ bản Bộ Hải quân, Đại úy Pim và một hoặc một vai khuôn mặt thân quen khác. Họ đã tìm được và sử dụng một chiếc tàu Hà Lan và trong 4 ngày đã chở thoát được 800 binh sĩ. Dưới sự oanh tạc liên tục của phi cơ, khoảng 860 tầu bề trong đó 700 là của Anh, còn lại là của Đồng minh đã đến cứu hộ quân đội.

        Trong thời gian này, trên đất liền xung quanh Dunkirk, việc chiếm giữ vòng ngoài được thực hiện một cách chính xác. Bộ đội kéo đến trong hỗn loạn và xếp thành đội hình dọc các công sự phòng ngự đã được phát triển thậm chí mới được có 2 ngày. Những người nào còn dáng vẻ khỏe mạnh thì quay trở lại để thành lập tuyến. Các sư đoàn như sư đoàn thứ 2 và sư đoàn thứ 5 đã bị tổn thương nhất thì được giữ lại ở tư thế dự bị ngoài bãi biển và sau đó được xuống tàu sớm. Ban đêm, phải có 3 binh đoàn ngoài mặt trận, nhưng đến ngay thứ 29 thì hai là đủ vì người Pháp tham gia nhiều hơn vào việc phòng thủ. Địch bám sát cuộc rút lui và chiến đấu ác liệt diễn ra liên tục, đặc biệt là các phía bên sườn gần Newport và Bergses. Cuộc di tản tiếp diễn, số quân Anh và Pháp giảm đi không ngừng và tuyến phong thủ co lại một cách tương ứng. Trên bãi biển, giữa các doi cát, trong 3, 4 hoặc 5 ngày, hàng trăm ngàn người sống dưới cảnh máy bay bắn phá không ngót. Hitler tin là không quân Đức sẽ chặn đứng được việc rút lui và vì vậy việc y phải dành các đội hình thiết giáp cho cú đánh cuối cùng của chiến dịch là một sai lầm nhưng không phải là không có lý.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:09:24 PM

        Ba nhân tố đã chứng minh những trông đợi của y là sai. Thứ nhất, việc dùng máy bay liên tục oanh kích các đoàn quân tập trung dọc biển gây được rất ít tổn thất. Các trái bom đâm xuống bãi cát xốp nên không nổ. Trong các giai đoạn đầu, sau 9 trận địch không kích ác liệt, bộ đội rất ngạc nhiên thây hầu như không có ai bị chết hoặc bị thương. Chỗ nào cũng thấy có tiếng nổ, nhưng hầu như không có vụ nổ nào là tồi tệ cả. Một bờ biển có đá có thể gây ra những kết quả về chết chóc hơn nhiều. Bấy giờ những người lính coi khinh các cuộc không kích. Họ quỳ thấp xuống trên các đụn cát một cách bình tĩnh với hy vọng mỗi lúc một tăng. Trước mặt họ là biển màu xám nhưng không thù địch. Phía xa kia, là các tầu cứu hộ - là nhà.

        Nhân tố thứ hai mà Hitler không thấy trước được là việc hạ sát các phi công Đức. Chất lượng về không quân của Anh và Đức được thử thách trực tiếp. Bằng những cố gắng lớn. Bộ Tư lệnh khu trục cơ duy trì các cuộc tuần tra liên tiếp trên chiến trường và chiến đấu với nhiều lợi thế hơn. Giờ này sang giờ khác phi cơ của chúng tôi lăn xả vào các tốp khu trục cơ và oanh tạc cơ Đức, gây thiệt hại lớn, đánh tan tác và đuổi chúng đi. Tình hình này diễn ra ngày này qua ngay khác cho tới khi không lực Hoàng gia đạt được thắng lợi vinh quang. Bất cứ nơi nào khi chạm trán máy bay Đức - đôi khi có đến 4, 5 chục chiếc - lập tức chúng bị tấn công thường là do các tốp đơn độc hoặc ít hơn, và bị bắn rơi rất nhiều cộng lại lên tới hàng trăm chiếc lúc ấy.

        Toàn bộ không lực của Thủ đô, lực lượng dự trữ cuối cùng, của chúng tôi, đã được sử dụng. Đã đạt được một kết quả rõ ràng. Kẻ địch mạnh hơn đã bị giết hoặc đánh tơi bời, và mặc dù sự dũng cảm của họ bị khống chế hoặc thậm chí bị hăm dọa. Đây là một cuộc đụng độ quyết định. Bất hạnh thay, bộ đội ở ngoài bãi biển rất ít thấy cuộc chiến đấu vĩ đại trên không, luôn luôn xảy ra ở tầm xa và trên tầng mây cao. Họ không biết tí gì về các tổn thất giáng vào địch. Tất cả những gì họ cảm thấy là các trái bom tan phá bãi biển mà quân thù thả xuống, tuy chúng vào lọt nhưng có thể không quay trở về được. Thậm chí có một sự giận dữ chua chát của lục quân đối với không quân, và một số bộ đội được đổ lên Dovor hoặc tại các cảng sông Thames, vì không có thông tin, đã xúc phạm những người mặc quân phục không quân. Họ phải xiết tay nhau nhưng làm sao họ biết được. Tại Quốc hội, tôi đã nêu lên sự thật một cách đau lòng.

        Nhưng mọi sự hỗ trợ của cát và tất cả các tài năng trên không sẽ chẳng giúp được gì nếu không có biển. Trước sức ép và sự kích động của các sự kiện, các chỉ thị được phát ra 10 hoặc 12 ngày trước đã đem lại những kết quả đáng ngạc nhiên: Tình hình kỷ luật là hoàn hảo tại bờ biển và trên mặt nước. Biển yên lặng. Các thuyền bé nhỏ đi đi, lại lại giữa các con tầu

        và bờ biển thu thập các binh sĩ đang lặn lội dưới bùn nước hoặc vớt họ lên từ mặt nước, hoàn toàn không để ý đến máy bay địch bắn phá và luôn luôn gây ra tổn thất, chỉ có bọn họ coi thường không tập. Hạm đội các khinh hạm loại "con muỗi" dưới dạng một tổng thể thì không thể bị đánh chìm được. Từ trong cái thất bại, vinh quang đến với người dân Anh, đoàn kết và bất khả chinh phục, và câu chuyện về các bãi biển Dunkirk sẽ sáng ngời trong bất cứ tài liệu nào được lưu giữ về sự nghiệp của chúng tôi.

        Tuy không coi nhẹ công việc dũng cảm của các thuyền nhỏ nhưng cũng không được quên là công việc nặng nề nhất rơi vào các tầu đến và rời Dunkirk mà ở đó 2/3 số binh sĩ được đưa xuống tầu. Phần bao trùm thuộc về các khu trục hạm như đã được chứng minh trong các bản kế khai về tổn thất. Cũng không nên coi nhẹ phần đóng góp của các tầu chở binh sĩ cùng với thủy thủ đoàn dân sự.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:10:21 PM

       
*

        Sự tiến bộ của việc di tản được theo rõi bằng các cặp mắt lo âu và với một niềm hy vọng tăng dần. Chiều ngày thứ 27, chức trách Hải quân thấy Huân tước Gort ở vào vị trí nguy khốn, và Phố Đô đốc Tennant thuộc Bộ Hải quân, người nhận nhiệm vụ của Sĩ quan cấp tướng tại Dunkirk, phát đi tín hiệu yêu cầu phải ngay lập tức đến các bãi biển các tầu sẵn có vì "việc di tản đến mai là không chắc chắn". Tình cảnh này phản ảnh sự chán nản thậm chí tuyệt vọng. Có những cố gắng cực lớn để đáp ứng yêu cầu, và một tuần dương hạm, 8 khu trục hạm và 26 tầu khác được phái đi. Ngày thứ 28, một ngày căng thẳng dần dần dịu đi khi tình thế trên đất liền được củng cố nhờ có sự yểm trợ hùng mạnh của không quân Hoàng gia. Các kế hoạch của hải quân được thực hiện tuy có nhiều tổn thất lớn vào ngày 29 khi 3 khu trục hạm và 21 tầu khác bị đánh chìm và rất nhiều chiếc khác bị tổn thất. Vào ngày thứ 30, tôi chủ trì một cuộc họp ba Bộ trưởng chúc năng và các Tham mưu trưởng tại phòng họp của Bộ Hải quân. Chúng tôi xem xét các sự kiện trong ngày ở bờ biển Bỉ. Tổng số quân đội được rút đi lên tới 120.000 người trong đó chỉ có 6.000 người Pháp; 860 tầu đủ các loại đang hoạt động. Một thông điệp của Đô Đốc Wake Walker tại Dunkirk nói là bất chấp sự bắn phá và không kích dữ dội 4.000 người đã được đưa lên tầu trong một giờ trước đây. Ông ta cũng nghĩ rằng chắc Dunkirk sẽ không thể trụ lại được vào ngày tiếp theo. Tôi nhấn mạnh sự cần thiết phải mang đi thêm nhiều binh sĩ Pháp nữa, không làm như vậy sẽ gây ra những tổn thất không bù đắp được cho các mối quan hệ giữa chúng tôi và đồng minh của chúng tôi. Tôi cũng nói là khi quân lực của Anh bị giảm xuống mức 1 binh đoàn, thì chúng tôi phải bảo Huân tước Gort xuống tàu và quay về Anh, công việc giao lại cho người chỉ huy binh đoàn. Biết rõ tính nết của Huân tước Gort, đích thân tôi viết ra mệnh lệnh sau đây cho ông ta do Bộ Chiến tranh chính thức gửi đi hồi 2 giờ chiều ngày thứ 30...

        Tiếp tục bảo vệ hết sức vành đai hiện thời để che chắn cho mức di tản tối đa hiện đang tiếp diễn tốt. Báo cáo về đều đặn ba giờ 1 lần qua La Panne. Nếu còn có thể liên lạc được, tôi sẽ phát cho ông một mệnh lệnh yêu cầu ông quay về Anh cùng với các sĩ quan mà ông có thể lụa chọn vào thời điểm mà chúng tôi cho là việc chỉ huy của ông giảm đi tới mức có thể giao phó lại cho một người chỉ huy binh đoàn. Giờ đây ông phải chỉ định người chỉ huy này. Nếu thông tin liên lạc bị gián đoạn, ông phải bàn giao và quay về như qui định khi lực lượng tác chiến hữu hiệu của ông không vượt quá mức 3 sư đoàn. Điều này phù hợp với thủ tục quân sự đúng đắn và trong vấn đề này ông không được tự do hành động theo ý kiến của mình. Trên cơ sở chính trị mà nói, đối với địch thì bắt được ông khi ông chỉ còn một dúm quân dưới trướng không phải là một chiến thắng cần thiết. Viên chỉ huy binh đoàn do ông chọn phải được lệnh tiếp tục phòng thủ cùng với người Pháp và việc di tản khỏi Dunkirk hoặc các bãi biển, nhưng nếu người đó cho là không thể tiếp tục tổ chức di tản được nữa và không thể gây thêm tổn thất tương xứng cho địch, thì người ấy được phép tham khảo ý kiến của người chỉ huy cao cấp Pháp và chính thức đầu hàng để tránh sự chém giết vô ích.

        Có thể bức thông điệp cuối cùng này ảnh hưởng đến các sự kiện lớn khác và đến vận hội của một người chỉ huy can đảm khác. Khi tôi ở Nhà Trắng vào cuối tháng 12/1941, qua Tổng Thống và ông Stimson tôi được biết số phận đến với Mac Arthur và đạo quân đồn trú Mỹ tại Corregidor. Tôi nghĩ là nên trình bày rõ cách chúng tôi xử lý với một Tổng Tư lệnh mà lực lượng còn lại chỉ là 1 phân số lúc ban đầu. Tổng thống và ông Stimson, cả hai đều đọc bức điện báo một cách rất chăm chú và ấn tượng mà bức điện có vẻ như đã gây cho họ đã tác động mạnh đến tôi. Vào gần cuối ngay ông Stimson quay lại và yêu cầu có được 1 bản sao bức điện và tôi đáp ứng ngay. Có thể là (vì tôi không rõ) bức điện đã tác động đến việc họ có 1 quyết định đúng là ra lệnh cho Tướng Mac Arthur bàn giao lại quyền chỉ huy cho một trong các nội tướng dưới quyền mình, và như vậy là cứu vãn toàn bộ sự công hiến oanh liệt sau này của một người chỉ huy xuất sắc mà nếu không thì có lẽ đã bỏ mạng hoặc đi qua cuộc chiến tranh như một tù nhân của Nhật bản. Tôi phải nghĩ điều đó là đích thực.

        Cùng ngày 30/5/1940, các thành viên Bộ Tham mưu của Huân tước Gort trong cuộc họp đối với Đô đốc Ramsay tại Dover báo ông này biết ngày 1/6 vào lúc ban ngày là thời gian chót có thể hy vọng giữ được vanh đai ngoài phía đông. Do vậy, phải hết sức khẩn trương đẩy mạnh việc di tản tới mức có thể 4.000 người ở lại bờ biển. Sau này thấy con số này không đủ để phòng thủ  các vị trí bảo vệ cuối cùng và người ta đã quyết định giữ khu vục Anh cho tới nửa đêm, trong khi đó việc di tản quân Anh vẫn tiếp tục trên cơ sở hoàn toàn bình đẳng giữa các lực lượng  Pháp và Anh.

        Đó là tình hình vào chiều ngày thứ 31, Huân tước Gort, theo lệnh đã đưa ra, bàn giao việc chỉ huy cho tướng Alexander và quay về Anh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:12:55 PM

        Đó là tình hình vào chiều ngày thứ 31, Huân tước Gort, theo lệnh đã đưa ra, bàn giao việc chỉ huy cho tướng Alexander và quay về Anh.

        Để tránh hiểu lầm theo quan hệ cá nhân, tôi thấy cần phải bay đi Paris ngày 31/5 để dự họp Hội đồng Chiến tranh tối cao. Cùng đi với tôi trên máy bay có ông Atlee và các Tướng Dill và Ismay. Tôi cũng kéo theo tướng Spears, người đã bay qua vào ngày thứ 31 cùng với các tin tức mới nhất từ Paris. Người sĩ quan và nghị sĩ quốc hội ưu tú này là bạn của tôi từ thế chiến I. Là sĩ quan liên lạc giữa cánh trái của quân Pháp và cánh phải của quân Anh, ông đã dẫn tôi đi vòng quanh dẫy núi Vimy năm 1916. Nói tiếng Pháp rất chuẩn, trên cánh tay có phù hiệu 5 vạch xoắn, ông ta lúc này là 1 nhân vật thích hợp cho mối quan hệ đang gây lo âu cho chúng tôi khi người Pháp và người Anh cùng gặp rắc rối, và khiến công việc với người Pháp cấp cao có thể diễn ra một cách thoải mái, dễ dàng và có sức mạnh mà tôi không bao giờ bắt kịp được. Lần này chúng tôi không đến Bộ Ngoại giao Pháp, mà đến phòng của ông Raynaud tại Bộ Chiến tranh ở phố Saint Dominique. Atlee và tôi thấy trước mắt chúng tôi là Reynaud và Thống chế Pétain, những Bộ trưởng Pháp duy nhất. Đây là lần xuất hiện đầu tiên của Pétain, giờ đây là Phó Chủ tịch Hội đồng Chiến tranh tại bất cứ các cuộc họp nào của chúng tôi. Ông ta ăn bận đơn giản. Phía chúng tôi gồm có cả Dill, Ismay và Spears, bên phía Pháp là Weygand, Darlan, Đại úy De Margerie phụ trách văn phòng riêng của Reynaud và ông Baudouin, Bộ trưởng trong Nội các Chiến tranh của Pháp. Người Pháp hình như không có ý kiến gì hơn về điều gì đã xảy ra với các quân đoàn phía bắc so với những điều chúng tôi đã biết về mặt trận chính của Pháp. Khi tôi nói với họ là 165.000 người trong đó có 15.000 người Pháp đã được rút đi, họ tỏ ra ngạc nhiên. Dĩ nhiên họ quan tâm đến việc người Anh chiếm số đông rõ rệt. Tôi giải thích điều đó chủ yếu do sự kiện là nhiều đơn vị hành chính ở Anh ở tuyến sau đã kịp xuống tầu trước khi các đơn vị tác chiến được rút khỏi mặt trận. Hơn nữa, cho tới lúc này, người Pháp vẫn chưa ra lệnh di tản. Một trong những lý do chính vì sao tôi phải sang Paris là để đảm bảo phía Pháp cũng ra lệnh di tản như phía Anh. Chính phủ Hoàng gia Anh cảm thấy trong trường hợp thảm khốc, cần thiết phải ra lệnh cho Huân tước Gort đưa lính chiến đấu đi và để thương binh lại. Nếu những hi vọng hiện nay được xác nhận có thể mang đi 200.000 người còn khỏe mạnh. Đây có thể là một sự diệu kỳ. Bốn ngay trước đây, có lẽ tôi đã không đánh cuộc là con số tối đa sẽ không quá 50.000. Tôi nghĩ nhiều đến những tổn thất kinh khủng của chúng tôi về trang thiết bị. Ông Reynaud ca ngợi một cách hào hiệp công việc của Hải quân và không quân Anh, tôi cảm ơn ông về sự ca ngợi đó. Tiếp theo, chúng tôi phát biểu dài là có thể 1àm gì để xây dụng lại các lực lượng Anh trên đất Pháp.

        Trong khi đó thì Đô đốc Darlan dự thảo một bức điện gửi cho Đô đốc Abrial tại Dunkirk.

        1. Phải tổ chức 1 đầu cầu xung quanh Dunkirk bằng các sư đoàn dưới sự chỉ huy của ông và sư đoàn thuộc quyền chỉ huy của Anh.

        2. Ngay sau khi thực sự là không có binh sĩ nào ngoai khu đầu cầu có thể tới được các điểm xuống tầu thì bộ đội giữ đầu cầu phải rút xuống tầu, lực lượng Anh xuống trước.

        Tôi nói xen ngay lập tức là Anh sẽ không xuống tàu trước, nhưng việc di tản phải được tiến hành trên cơ sở như nhau giữa người Anh và người Pháp. Người Anh sẽ đi đoạn hậu. Điều này được nhất trí.

        Cuộc hội thoại tiếp theo chuyển sang vấn đề Ý. Tôi trình bày quan điểm của Anh là nếu Ý nhảy vào, chúng tôi sẽ đánh ngay lập tức theo một cách có hiệu quả nhất. Nhiều người Ý chống chiến tranh, vả lại mọi người buộc phải hiểu tính chất khốc liệt của nó. Tôi đề nghị chúng ta oanh tạc khu tam giác công nghiệp phía tây bắc gồm 3 thành phố Milan, Turin và Genoa. Reynaud tán thành việc đồng minh phải đánh trước ngay lập tức và Đô đốc Darlan nói ông ta đã có kế hoạch oanh tạc bằng không và hải quân các nguồn cung cấp nhiên liệu được bố trí chủ yếu dọc bờ biển từ phía biên giới đến Naples. Các cuộc bàn luận cần thiết về kỹ thuật đã được sắp xếp.

        Sau một vai cuộc nói chuyện về tầm quan trọng của việc giữ Tây Ban Nha ngoài vòng chiến, tôi phát biểu về triển vọng chung của tình hình. Tôi nói Đồng minh phải duy trì một mặt trận cứng rắn không chùn bước trước tất cả các kẻ thù. Các sự kiện gần đây đã thức tỉnh nước Mỹ và dù cho họ không tham chiến thì họ cũng sớm sẵn sàng cung cấp viện trợ hùng mạnh cho chúng tôi. Một cuộc xâm lăng nước Anh, nếu xảy ra và sẽ gặp kháng cự mãnh liệt tại từng làng xã, thôn xóm. Chỉ khi nào các nhu cầu chủ yếu về quân đội của mình được đáp ứng thì số thừa ra trong các lực lượng vũ trang mới để cho đồng minh Pháp sử dụng. Tôi tuyệt đối tin tưởng chúng tôi chỉ cần tiếp tục chiến đấu để gianh chiến thắng. Thậm chí có một người trong chúng tôi bị đánh gục, thì người khác không được bỏ cuộc. Chính phủ Anh chuẩn bị chiến tranh từ Tân thế giới, nếu vì một thảm họa nào đó, nước Anh trở thành hoang phế. Nếu Đức đánh bại Anh hoặc Pháp hoặc cả hai, họ cũng chẳng khoan dung với ai hết; chúng tôi sẽ bị đưa vào quy chế vĩnh viễn của những kẻ chư hầu hoặc nô lệ. Thà rằng nền văn minh phương Tây với tất cả các thành tựu của nó phải bị chấm dứt bi thảm nhưng huy hoàng, còn hơn là nền dân chủ vĩ đại phải tồn tại 1 cách lay lắt và bị tước hết tất cả những gì cần thiết cho cuộc đời đáng sống.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:13:22 PM

        Tiếp đến ông Atlee phát biểu là ông hoàn toàn tán thành quan điểm của tôi "Người dân Anh giờ đây nhận thức được nguy cơ họ đang phải đối đầu và biết là trong trường hợp Đức chiến thắng, mọi cái mà người dân đã tạo dưng lên sẽ bị hủy diệt. Người Đức, không chỉ tiêu diệt con người mà còn tiêu diệt cả ý tưởng nữa. Nhân dân Anh quyết tâm hơn bao giờ hết trong lịch sử của mình". Ông Reynaud cám ơn những lời chúng tôi đã phát biểu. Ông ta tin chắc là tinh thần người dân Đức không đáp ứng được tới mức của chiến thắng ngắn ngủi của quân đội nước mình. Nếu Pháp có thể giữ được phong tuyến Lasomme với sự chi viện của nước Anh và nếu nền công nghiệp Mỹ nhảy vào để sửa lại sự mất cân đối về vũ khí, thì chúng tôi có thể chắc chắn chiến thắng. Ông ta nói ông ta rất cảm ơn việc khẳng định lại nếu một nước thua cuộc, nước kia sẽ không bỏ cuộc.

        Sau đó, cuộc họp chính thức kết thúc.

        Khi chúng tôi đúng lên rơi khỏi bàn, một số nhân vật chính nói chuyện với nhau tại chỗ của sổ trong một bầu không khí có phần nào khác. Trong đám này, người có cấp bậc cao nhất là Thống chế Pétain. Ông Spears ở bên tôi hỗ trợ tôi khi tôi nói về việc giải quyết bằng chiến đấu tại Châu Phi. Nhưng thái độ thơ ơ và rầu rĩ của Pétain làm cho tôi cảm thấy ông ta sẽ hướng về 1 nền hòa bình riêng rẽ. Ngoài bất cứ từ ngữ nào mà ông ta sử dụng, ảnh hưởng của nhân cách, tiếng tăm, việc chấp nhận một cách thanh thản sự diễn biến các sự kiện của ông ta hầu như có sức quyến rũ áp đảo đối với người nghe. Một người Pháp mà tôi không nhớ rõ là ai, nói theo cách tế nhị của họ là sự tiếp diễn các thất bại quân sự, trong một số tình huống khả dĩ xảy ra, có thể buộc Pháp phải có một sự thay đổi chính sách đổi ngoại. Đến đây, Spears nắm cơ hội đứng dậy và nói trực tiếp đặc biệt với Thống chế Pétain bằng tiếng Pháp hoàn hảo: "Thưa Thống chế, tôi giả định là Ngài hiểu điều đó có nghĩa là phong tỏa". Một người nào đó nói: "Có lẽ không tránh được điều đó". Nhưng rồi Spears nói thẳng với Pétain để ai cũng nghe thấy: "Điều đó không chỉ có nghĩa phong tỏa mà còn là oanh tạc tất cả các cảng Pháp trong tay người Đức". Tôi vui mừng thấy điều này được nói ra. Tôi hát bài tôi thường hát: "Chúng ta phải tiếp tục chiến dấu, bất kể điều gì xảy ra hoặc bất kể người nào đã ngã xuống". Chúng tôi lại qua 1 đêm có những cuộc oanh kích nhỏ, và tôi ra về trong buổi sáng.

        Ngày 31/5 và 1/6 chứng kiến điểm đỉnh tuy không phải là sự cáo chung tại Dunkirk. Trong 2 ngày này, trên 132.000 người đã an toàn về tới nước Anh, 1/3 trong số họ đã được các hạm thuyền nhỏ chở về từ các bãi biển dưới sự đánh phá của không quân và pháo binh. Ngày 1/6 từ tảng sáng trở đi, oanh tạc cơ của địch đã có những cố gắng lớn, luôn luôn chọn thời điểm khi chiến đấu cơ của chúng tôi đã bay đi để nạp nhiên liệu. Các cuộc tấn công này gây thiệt hại lớn cho các tầu, thuyền chen chúc nhau ngang với mức tổn thất trong cả tuần lễ trước. Chỉ tính trong 1 ngày này, 31 tàu bị đánh chìm và 11 chiếc bị hư hại do phi cơ, mìn, tầu loại 2 và những tai nạn rủi ro khác gây nên. Trên đất liền, địch tăng cường sức ép vào đầu cầu, tìm mọi cách để chọc thủng. Địch bị chặn lại không tiến gần được bởi sự kháng cự dữ dội của quân chặn hậu của Đồng minh.

        Giai đoạn cuối cùng được thực hiện trót lọt một cách chính xác hơn, có kỹ thuật hơn. Lần đầu tiên đã có thể lập kế hoạch trước thay vì buộc phải dựa vào sự ứng biến tùng giờ một. Ngày 2/6 lúc rạng đông khoảng 4.000 quân Anh với 7 khẩu pháo cao xạ và 12 pháo chống tăng còn ở lại vong ngoại vi Dunkirk cùng các lực lượng Pháp chốt ở vòng ngoài đang bị thu hẹp lại. Giờ đây , việc di tản chỉ có thể thực hiện được trong đêm tối, và Đô đốc Ramsay quyết định đêm đó cùng tất cả lực lượng sẵn có của mình tổ chức đưa quân xuống cảng hàng loạt. Ngoài các tàu lai dắt và tầu thuyền nhỏ, bên Anh phái sang đêm đó 44 chiến hạm bao gồm 11 khu trục hạm và 14 quét mìn. 40 tầu Pháp và Bỉ cùng tham gia, trước nửa đêm thì cánh quân chặn hậu của Anh xuống tàu.

        Đây cũng chưa phải là đoạn kết thúc của câu chuyện về Dunkirk. Đêm đó, chúng tôi đã chuẩn bị đưa quân Pháp đi với những số lượng lớn hơn là họ tự đề xuất. Kết quả là, khi các tầu của chúng tôi mà một số đông còn lại trông rỗng, phải rút ra vào lúc bình minh, thì rất nhiều đơn vị bộ đội Pháp con ở lại bờ biển. Nhiều người con tiếp cận địch, cần phải có thêm một cố gắng nữa. Mặc dầu các công ty tầu đã kiệt súc sau nhiều ngày phải làm việc liên tục, không nghỉ ngơi, nhưng lời kêu gọi đã được đáp ứng. Ngày 4/6, 26.175 người Pháp được đưa sang đất Anh, 21.000 người trong số này do tầu Anh chở. Bất hạnh thay, hàng 100.000 người còn lại tiếp tục chiến đấu ở đầu cầu mà chu vi đang co lại dần cho tới sáng ngày thứ 4, khi địch đã tới ngoại ô thị trấn, và họ đã hoàn toàn kiệt lực. Trong nhiều ngày, họ đã chiến đấu anh dũng để bảo vệ việc di tản của các người bạn chiến đấu Anh và Pháp của mình. Họ phải qua tình trạng bị giam giữ trong những năm sau đó, chúng ta hãy nhớ là không có sự chịu đựng bền bỉ của quân chặn hậu Dunkirk, việc tái lập tại Anh quốc một quân đội bảo vệ đất nước và đi đến thắng lợi cuối cùng sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng.

        Cuối cùng thì vào 2 giờ 23 chiều ngày 4/6, Bộ Hải quân với sự nhất trí của người Pháp, tuyên bố là "cuộc hành quân Dynamo giờ đây đã hoàn thành. Trên 338.000 bộ đội Anh và Đồng minh đã được đưa về đất Anh.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:13:44 PM

       
*

        Quốc hội nhóm họp ngày 4 tháng 6 và nghĩa vụ của tôi là trình bày toàn bộ sự việc cả công khai lẫn trong các phiên họp kín sau đó. Tôi chỉ trích dẫn một số ít trong bài diễn văn của tôi. Điều quan trọng là phải giải trình không những đối với nhân dân mà cả với thế giới về quyết tâm của chúng tôi tiếp tục chiến đấu dựa trên những cơ sở nghiêm túc chứ không phải là những cố gắng tuyệt vọng đơn thuần. Nói rõ về những lý do riêng của mình và lòng tin chắc chắn là việc làm hợp lẽ phải.

        Chúng tôi phải lưu ý là không nên coi sự giải thoát là tiêu biểu của chiến thắng. Không thể thắng được các cuộc chiến tranh bằng các cuộc di tản. Nhưng có một chiến thắng bên trong sự giải thoát mà cần phải ghi nhớ. Chiến thắng đó là của không quân. Rất nhiều binh sĩ của chúng tôi trở về không được thấy công lao của không quân. Họ đánh giá thấp thành tích của không quân. Tôi được nghe khá nhiều chuyện về việc này. Đó là lý do vì sao tôi đã làm một việc không bình thường để nói ra điều này.

        Đây là một sự thử thách lớn về sức mạnh giữa không quân Anh và Đức. Đối với người Đức, ai có thể quan niệm được một mục tiêu nào lớn hơn mục tiêu chặn việc di tản và đánh đắm tất cả các tầu được tung ra hầu như là tới mức hàng ngàn chiếc? Có thể có mục tiêu nào lại có tầm quan trọng và ý nghĩa lớn hơn mục tiêu này đối với mục đích toàn diện của cuộc chiến tranh? Chúng đã ráng hết sức và bị đánh lui, chúng đã không thanh công trong nhiệm vụ của chúng. Chúng tôi đã cản được quân lính: và chúng đã phải trả giá gấp 4 lần bất cứ các thiệt hại nào do chúng gây ra...

        Toàn bộ các phi cơ và phi công của chúng tôi đã chứng minh được tính hơn hẳn của mình so với những gì mình đang phải đối phó hiện nay.

        Khi xem xét lợi thế của chúng tôi lớn hơn như thế nào trong việc bảo vệ vùng trời của quốc đảo này chống lại một cuộc không tập, tôi phải nói là tôi thấy trong các sự kiện này là một nền tảng vững chắc cho một tư duy thực tế và vững tin. Tôi sẽ tỏ lòng cảm phục của mình đối với các phi công trẻ này; quân đội vĩ đại Pháp giờ đây đang bị đẩy lùi trên một phạm vi rộng lớn, và bị xáo trộn bởi một số vài ngàn xe thiết giáp lao vào.

        Chúng tôi được tin cho hay là Hitler có kế hoạch kéo quân vào các đảo của nước Anh. Điều này đã luôn luôn được dự trù trước đây. Khi Napoléon nằm ở Boulogne trong một năm với các chiến thuyền đáy bằng và đại quân của mình, có người nào đó đã nói với ông ta là "Có nhiều cỏ dại đắng trên đất Anh". Chắc chắn là có nhiều hơn nữa từ khi đạo quân viễn chinh Anh quay về.

        Dĩ nhiên, toàn bộ vấn đề quốc phòng chống xâm lăng chịu sự tác động mạnh mẽ của sự kiện là hiện nay, trên đảo quốc này, có những lực lượng quân sự với sức mạnh có một không hai so với những gì đã có ở bất kỳ thời điểm nao trong cuộc chiến này, hoặc cuộc chiến trước kia. Nhưng đây chỉ là giai đoạn, chúng tôi không thể bằng lòng với một cuộc chiến tranh phòng ngự. Chúng tôi có nghĩa vụ với Đồng minh, một lần nữa, chúng tôi  phải lập lại và xây dựng đạo quân Viễn chinh Anh dưới sự chỉ huy của Tư lệnh anh dũng Huân tước Gort. Tất cả việc này đã được chuẩn bị, nhưng trong khi chờ đợi, chúng tôi phải nâng việc tổ chức bố phòng trên đảo quốc này lên một trình độ cao tới mức chỉ cần những số lượng nhỏ nhất khả dĩ để có được một sự an toàn hữu hiệu cũng như có thể thực hiện được một khả năng lớn nhất về các cố gắng phả công. Chúng tôi hiện đang đi vào con đường này.

        Tôi chấm dứt bài diễn văn bằng một đoạn phải chứng minh được như sẽ thấy sau này, một yếu tố kịp thời quan trọng trong các quyết định của Mỹ. Mặc dầu nhiều vùng của Âu Châu và nhiều quốc gia lâu đời và nổi tiếng đã hoặc có thể rơi vào móng vuốt của Gestapo và tất cả bộ máy cai trị ghê tởm của đảng Phát - xít, chúng tôi không được chùn bước hoặc suy sụp. Chúng tôi phải đi đến cùng. Chúng tôi phải chiến đấu trên đất Pháp, chúng tôi phải chiến đấu trên bể và các đại dương, chúng tôi phải chiến đấu bằng lòng tin ngày một tăng và với sức mạnh ngày một tăng trên không trung, chúng tôi phải bảo vệ đảo quốc của chúng tôi với bất cứ giá nào. Chúng tôi phải chiến đấu ngoài biển, chúng tôi phải chiến đấu trên các bãi đổ quân, chúng tôi phải chiến đấu trên đồng ruộng, trong thành phố, chúng tôi phải chiến đấu trên đồi núi, chúng tôi không bao giờ được hạ vũ khí và dù cho tuy tôi không hề có lúc nào tin là - đảo quốc này hoặc một phần lớn của đảo quốc bị lệ thuộc và chết đói, thì Đế quốc sẽ tiếp tục chiến đấu cho tới khi nào vào thời điểm do Chúa quyết định, Tân Thế giới với tất cả khả năng và sức mạnh của nó, tiến lên phía trước để cứu và giải phóng Cựu Thế giới.


Tiêu đề: Re: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Một, 2019, 11:15:14 PM
           
5

LAO VÀO KIẾM CHIẾN LỢI PHẨM

        Tình hữu nghị giữa nhân dân Anh và nhân dân Ý xuất phát từ thời các ông Garibaldi và Cavour. Mọi giai đoạn trong việc giải phóng miền bắc nước Ý khỏi sự cai trị của nước Áo và mọi giai đoạn tiến tới sự thống nhất và độc lập đều giành được tình cảm của chủ nghĩa tự do của Nữ hoàng Victoria. Ảnh hưởng của Anh đã đóng góp mạnh mẽ vào việc Ý gia nhập phe Đồng minh trong thế Chiến Thứ I. Việc Mussolini lên nắm quyền và thành lập chủ nghĩa Phát xít để làm đối trọng với chủ nghĩa Bôn-sê-vích, trong các giai đoạn đầu đã chia rẽ dư luận Anh theo đường lối của các đảng phái, nhưng không ảnh hưởng đến các cơ sở rộng rãi của thiện chí giữa hai dân tộc. Chúng tôi thấy những ý đồ của Mussolini đối với Abyssinia đã mang lại cho chúng tôi điều tồi tệ nhất của cả Tân và Cựu thế giới ra sao, chúng tôi đã xa lánh nhà độc tài Ý như thế nào mà không phá vỡ quyền lực của ông ta, và Hội Quốc Liên đã bị tổn thương ra sao, mà không cứu vãn được nước Abyssinia. Chúng tôi cũng đã thấy những cố gắng nghiêm túc nhưng vô bổ của ông Chamberlain, ngài Samuel Hoare và Huân tước Halifax để giành lại thiện ý đã mất của Mussolini trong thời gian lắng dịu. Và cuối cùng, trong đầu Mussolini đã phát triển lòng tin vững chãi là mặt trời nước Anh đã lặn và với sự giúp đỡ của Đức, tương lai của nước Ý có thể được dựng trên đống tro tàn của Đế quốc Anh - Tiếp theo đó là việc lập ra trục Berlin-Roma mà với sự kiện này, nước Ý có thể được trông đợi để tham chiến chống Anh và Pháp ngay từ ngày đầu tiên.

        Chắc hẳn Mussolini có sự khôn ngoan, thận trọng thông thường để xem xét chiến tranh sẽ diễn tiến ra sao trước khi bản thân mình xác định đưa nước Ý vào vòng chiến. Quá trình chờ  đợi không có gì bất lợi cả. Ý được cả hai phía ve vãn, và nước này đã làm cho những quyền lợi của nước mình được quan tâm, đạt được nhiều hợp đồng có lợi, và có thời gian để cải tiến trang bị vũ khí cho mình. Như vậy các tháng tranh tối tranh sáng đã qua: Vận hội may rủi của Ý sẽ như thế nào nếu chính sách này được duy trì là một sự suy đoán lý thú. Với lá phiếu có tầm cỡ của mình về vấn đề Ý, nước Mỹ rất có thể nói rõ cho Hitler biết việc y tìm cách kéo Ý về phía mình bằng vũ lực sẽ làm nẩy sinh các vấn đề nghiêm trọng nhất. Hòa bình, thịnh vượng và sức mạnh ngày một tăng là phần thưởng cho một nền trung lập bền vững. Một khi Hitler đã giao thiệp với Nga thì tình trạng tốt lành này sẽ kéo dài vô thời hạn với các lợi ích luôn luôn tăng trưởng, và Mussolini có thể đứng ở phía trước, trong hòa bình và trong năm kết thúc chiến tranh, như một nhà chính trị khôn ngoan nhất mà nước Ý với dân tộc cần cù và lắm con nhiều cái có được. Đây là một tình thế dễ chịu hơn so với điều gì thực tế đã chờ đợi nơi ông ta.

        Trong 2 trường hợp vào năm 1927, khi tôi gặp Mussolini, mối quan hệ cá nhân của chúng tôi là thân mật và dễ chịu. Tôi sẽ không bao giờ khuyến khích nước Anh phá vỡ quan hệ thân hữu với ông ta về vấn đề Abyssinia hoặc kích động Hội Quốc Liên chống lại ông ta, trừ phi chúng ta chuẩn bị để lam chiến tranh ở mức độ cao nhất. Giống như Hitler, ông ta hiểu và trong một chừng mục nào đó đã tôn trọng chiến dịch của tôi phục vụ việc tái võ trang nước Anh, mặc dầu ông ta rất vui vì dư luận công chúng Anh không ủng hộ quan điểm của tôi.

        Trong cuộc khủng hoảng đến với chúng tôi về trận đánh gây tai họa cho nước Pháp, với cương vị Thủ tướng tôi có nghĩa vụ rõ ràng là phải làm hết sức mình để giữ nước Ý ngoài vòng xung đột, và tuy không tự cho phép mình có những hi vọng hão huyền, tôi lập tức sử dụng những nguồn lực và ảnh hưởng nào mà tôi có thể có. Sáu ngày sau khi trở thành người đứng đầu chính phủ, theo mong muốn của Nội các, tôi viết lời kêu gọi Mussolini, được công bố hai năm sau đó cùng với phúc thư của ông ta trong những trường hợp rất khác nhau: Lời kêu gọi này đề ngày 16/5/1940.

       "Giờ đây tôi đã nhận chức Thủ Tướng và Bộ trưởng Quốc phòng, tôi nhìn lại các cuộc gặp nhau giữa chúng ta ở Rome, tôi muốn nói với ngài là nguyên thủ quốc gia, những lời lẽ thiện chí. Có phải là đã quá muốn để chặn lại dòng máu chảy như sông giữa nhân dân Anh và Ý không ? Chắc chắn chúng ta có thể gây cho nhau những thương tổn nặng nề. Đối xử với nhau một cách tàn bạo và làm u ám Địa Trung Hải bằng cuộc xung đột giữa chúng ta. Nếu ngài ra lệnh như vậy thì nó phải như vậy nhưng tôi tuyên bố tôi chưa khi nào là kẻ thù đối với sự vĩ đại của nước Ý, cũng như không bao giữ là kẻ thù về thực chất của nhà làm luật Ý. Dự báo diễn biến của các trận chiến lớn hiện dang xảy ra dữ dội ở Âu châu là một việc làm vu vơ, vô bổ, nhưng tôi chắc bất kể điều gì có thể xảy ra với Tây Ầu, nước Anh sẽ đi đến cùng, dù chỉ là một mình, như chúng tôi đã làm trước đây, nhưng tôi tin với một sự chắc chắn là chúng tôi phải được sự chi viện ngày một tăng của Hoa Kỳ và thực tế là tất cả các nước Châu Mỹ.

        Xin ngài tin là không phải tôi nhu nhược và sợ hãi mà tòi đưa ra lời kêu gọi long trọng này, bởi vì nó sẽ tồn tại trong bộ phận lưu trữ. Qua các thời đại, trên tất cả các lời kêu gọi khác, là tiếng gọi của các người kế thừa nền văn minh la-tinh và công giáo không được chống lại nhau trong một cuộc xung đột chết người. Trong danh dự và với lòng kính trọng, tôi khẩn thiết yêu cầu ngài hãy lắng nghe điều đó trước khi tín hiệu khủng khiếp được phát ra. Chúng tôi sẽ không bao giờ phát ra tín hiệu này."


        Câu trả lời là cứng rắn. Nó ít nhất cũng có được sự ngay thẳng.

       "Trả lời bức thông diệp ông gửi cho tôi, tôi nói để ông rõ là chắc chắn ông