Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Mười Một, 2019, 09:28:50 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyên thủ thế chiến 2 : Churchill  (Đọc 20161 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #110 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:12:27 PM »


       
*

        Ngày 3 tháng 4, Nội các Anh thực hiện quyết tâm của Hội đồng chiến tranh tối cao. Bộ Hải quân được phép thả mìn vùng Leads của Na Uy ngày 8 tháng 4. Tôi gọi việc thả mìn đó là "Wilfred" vì bản thân nó quả là quá nhỏ bé và đơn giản. Vì việc chúng tôi thả mìn lãnh hải Na Uy có thể gây ra một phản ứng từ phía Đức, nên đã có sự nhất trí là một lữ đoàn Anh và một đơn vị đóng góp của Pháp phải được điều đến Narvik để dọn cảng và tiến đến biên giới Thụy Điển. Các lực lượng khác phải được gửi đến Stavanger, Bergen và Trondheim không để địch chiếm các căn cứ này.

        Những loại tin tức gây lo ngại với độ tin cậy khác nhau bắt đầu được đưa tới. Cùng trong phiên họp ngày 13 tháng 4 của Nội các chiến tranh, Bộ trưởng Chiến tranh cho chúng tôi biết Bộ Chiến tranh có nhận được tin báo là người Đức tập hợp các đơn vị mạnh tại Rostock với ý định chiếm Scandinavia nếu cần thiết. Bộ trưởng Ngoại giao nói là tin tức từ Stockholm có chiều hướng xác nhận tin này. Theo tòa công sứ Thụy Điển tại Berlin, các tàu Đức với tổng trọng tải 200.000T hiện được tập trung tại Stettin và Swinemude với bộ đội trên tàu được tin đồn là tới 400.000 người: có ý kiến cho là các lực lượng này ở tư thế sẵn sàng để phản kích lại một cuộc tấn công khả dĩ có từ phía chúng tôi đánh vào Narvik hoặc các cảng Na Uy khác, một vấn đề mà người Đức được coi là vẫn còn lo ngại.

        Ngày thứ năm 4 tháng 4, ông Chamberlain đọc một bài diễn văn có nội dung lạc quan không bình thường. ông tuyên bố là Hitler "đã lỡ tàu". Thòi gian bảy tháng đã giúp chúng tôi gạt bỏ được cái yếu kém của mình và bổ sung rất lớn cho quân số chiến đấu. Mặt khác, phía Đức đã chuẩn bị hoàn hảo đến mức chỉ con lại rất ít để gọi nhập ngũ. Đây là sự đánh giá sai. Nội dung chính của sự đánh giá cho rằng chúng tôi và người Pháp tương đối mạnh hơn so với lúc thời kỳ đầu cuộc chiến tranh là không hợp lý. Như đã giải thích trước đây, người Đức giờ đây bước vào năm thứ tư của việc sản xuất mạnh vũ khí, đạn dược, trong khi đó chúng tôi ở giai đoạn chậm hơn nhiều có thể là vào năm thứ hai tính về mặt hiệu quả. Hơn nữa, cứ mỗi tháng qua đi, quân đội Đức giờ đây bốn tuổi đời, đang trở thành một vũ khí gia dặn, và tinh xảo, và cái lợi thế xưa kia của quân đội Pháp về mặt huấn luyện và tổ chức chặt chẽ đang đều đặn trôi qua. Tất cả đều ở trong tình trạng hồi hộp. Các biện pháp nhỏ mà tôi có khả năng đưa ra đã nhận được sự chấp thuận, nhưng bên này hoặc bên kia, chưa bên nào làm cái gì lớn cả. Các kế hoạch của chúng tôi, như đã được vạch ra, vẫn là thực hiện việc phong tỏa bằng cách thả mìn hành lang Na Uy ở phía Bắc, và bằng cách cản trở việc tiếp tế dầu của Đức từ phía đông nam. Sự bất động hoàn toàn và yên tĩnh bao trùm lên phía sau chiến tuyến Đức. Đột nhiên, chính sách thụ động hoặc tiểu qui mô của đồng minh bị một dòng thác các điều bất ngờ dữ dội quét sạch. Chúng tôi phải học thế nào là chiến tranh tổng lực
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #111 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:14:41 PM »


21

NA UY

        Trước khi tóm tắt câu chuyện, tôi phải giải thích những sự đổi thay trong vị trí của tôi xảy ra trong tháng 4/1940.

        Cơ quan của Huân tước Chatfield, Bộ trưởng phụ trách phối hợp  quốc phòng đã trở thành kềnh càng, và vào ngày mùng ba ông Chamberlain chấp nhận đơn từ chức tự nguyện của ông này. Ngày mùng bốn, một bản tuyên bố phát đi từ số 10 phố Downing Street (LND: nơi có trụ sở các cơ quan nhà nước và chính phủ) nói là không đề nghị thay ghế trống mà là đang có sự sắp xếp để Bộ trưởng Hải quân, như là Bộ trưởng quân chủng cấp cao hữu quan, - chủ trì ủy ban phối hợp quân sự. Vì vậy tôi ngồi ghế chủ tịch trong các phiên họp của ủy ban diễn ra hàng ngày, thậm chí đôi khi có ngày hai lần, từ 8 đến 15 tháng 4. Ở vị trí này tôi có một trách nhiệm đặc biệt nhưng lại không có quyền chỉ đạo thực tế. Trong các Bộ trưởng quân chủng khác cũng là thành viên của Nội các chiến tranh, tôi là "thứ nhất trong những người ngang nhau". Tuy nhiên, tôi không có quyền ra quyết định hoặc áp đặt quyết định. Tôi phải ngang theo cả các Bộ trưởng quân chủng và các thủ trưởng chuyên môn của họ. Như vậy nhiều người khác quan trọng và có khả năng, có quyền và có nghĩa vụ phát biểu ý kiến của mình đối với các giai đoạn thay đổi nhanh chóng của trận chiến - vì nó là trận chiến - mà giờ đây đã bắt đầu.

        Các Tham mưu trưởng hàng ngày cùng ngồi với nhau thảo luận toàn bộ tình hình với các Bộ trưởng của mình. Sau đó họ đi đến quyết định riêng của mình, những quyết định rõ ràng có tầm quan trọng bao trùm. Tôi hiểu được các điều này qua thành viên hải quân thứ nhất của Hội đồng Đô đốc, ông này không giấu tôi điều gì hết, hoặc qua các bản ghi nhớ do ủy ban các Tham mưu trưởng phát hành. Nếu tôi muốn hỏi về bất kỳ ý kiến nào thì dĩ nhiên là tôi có thể nêu ra trước tiên trước ủy ban điều phối của tôi, nơi mà các Tham mưu trưởng thường kéo theo các Bộ trưởng của mình và được sự ủng hộ của các ông này, tất cả mọi người đều có mặt với danh nghĩa là cá nhân thành viên. Cuộc đàm thoại thật là rôm rả và lịch sự, được khép lại bằng một bản báo cáo tế nhị do thư ký có mặt dự thảo và được ba bộ quân chủng thông qua để tránh có những điều không ăn khớp với nhau. Như vậy, chúng tôi đã đi tới các vùng cao rộng lớn, nơi mà mọi việc đều được giải quyết vì lợi ích to lớn nhất của nhiều người nhất bằng lẽ phải thông thường của đa số sau khi đã tham khảo ý kiến của tất cả mọi người. Tuy nhiên trong chiến tranh kiểu này, giờ đây chúng tôi phải cảm thấy là các điều kiện có khác. Than ôi! Tôi phải viết nó ra: Cuộc xung đột hiện nay rất giống như một kẻ vũ phu vô đạo quật nát mặt mũi kẻ khác bằng cái gậy, cái búa hay cái gì đó mạnh hơn. Tất cả những cái này đều tệ hại và nó là một trong nhiều lý do tốt để tránh chiến tranh, để giải quyết mọi việc bằng sự thỏa thuận hữu hảo với sự coi trọng đầy đủ các quyền của dân tộc ít người và sự ghi nhận trung thanh các ý kiến bất đồng.

        Ủy ban quốc phòng của Nội các chiến tranh hầu như ngày nào cũng họp để thảo luận các báo cáo của Ủy ban đưa phối quân sự và các Tham mưu trưởng. Cái thống nhất và cái bất đồng giữa họ với nhau lại được trình lên các cuộc họp Nội các. Mọi cái đều phải giải thích đi, giải thích lại; và đến khi quá trình này kết thúc, thì toàn cảnh, toàn cục đã thay đổi khác rồi.

        Trong thời chiến Bộ Hải quân nhất thiết phải là một bản doanh tác chiến và nó ra quyết định ngay về những vấn đề đụng chạm đến Hải quân, chỉ những vấn đề hệ trọng nhất mới phải trình Thủ tướng và Thủ tướng ủng hộ chúng tôi trong mọi trường hợp. Nơi nào phải có sự tham gia chiến đấu của các quân chủng khác, thì thủ tục không thể theo kịp sự phát triển của các sự kiện. Tuy nhiên, khi chiến dịch Na Uy bắt đầu, theo tính chất của sự việc, Bộ Hải quân có trong tay mình ba phần tư công việc chấp hành.

        Bất kể quyền lực của tôi như thế nào, tôi không tự cho là tôi phải có khả năng đưa ra những quyết định tốt hoặc đạt được các giải pháp tốt nhất cho những vấn đề mà giờ đây chúng tôi đang phải đương đầu. Tác động của các sự kiện sắp phải mô tả là quá mạnh và các điều kiện quá rối rắm đến mức tôi sớm thấy được chỉ có Thủ tướng mới điều hành được Ủy ban Phối hợp Quân sự. Do đó, ngày 15 tôi yêu cầu ông Chamberlain giữ ghế Chủ tịch và chủ trì trên thực tế mọi cuộc họp tiếp theo của chúng tôi trong chiến dịch Na Uy. Ông ta và tôi tiếp tục cùng đi sát và hợp tác với nhau và với quyền tối cao của mình, ông thông qua những quan điểm mà tôi đưa ra.

        Lòng trung thành và thiện ý đều sẵn có từ tất cả mọi người có liên quan. Tuy vậy, cả Thủ tướng và tôi đều nhận thức rất rõ tính chất phi hình thái của hệ thống của chúng tôi, đặc biệt là khi tiếp xúc với loạt đáng ngạc nhiên những sự kiện. Mặc dù vào lúc này chắc chắn Bộ Hải quân là người khỏi xưởng, có thể có những phản đối rõ ràng được đưa ra đối với một tổ chức mà trong đó một trong những Bộ trưởng quân chủng tìm cách phối hợp tất cả các công việc vận hành của các Bộ quân chủng khác, đồng thời lại quản lý toàn bộ công việc của Bộ Hải quân và có trách nhiệm riêng đối với các cuộc di chuyển của Hải quân. Các khó khăn này không được tháo gỡ do chỗ bản thân Thủ tướng ngồi ghế chủ tịch và ủng hộ tôi. Tuy vậy, từ cái rủi này đến cái rủi khác, kết quả của việc thiếu các phương tiện hoặc của việc quản lý tầm thường rơi xuống đầu chúng tôi hầu như hàng ngày. Dù sao thì tôi vẫn tiếp tục giữ vị trí của mình trong cái nhóm không chặt chẽ, hữu nghị nhưng thiếu tập trung này.

        Sau cùng, nhưng không phải cho tới khi nhiều thảm họa rơi xuống chúng tôi ở Scandinavia, tôi được phép triệu tập và chủ trì các phiên họp của ủy ban các Tham mưu trưởng, những người mà không có họ thì chẳng có thể làm được việc gì cả, và tôi được chính thức giao trách nhiệm "hướng dẫn và chỉ đạo" họ. Tướng Ismay, sĩ quan Tham mưu cao cấp phụ trách Ban Tham mưu trung ương được điều đến là sĩ quan Tham mưu và đại diện của tôi, và với tư cách này trở thành thành viên trọn vẹn của ủy ban các Tham mưu trưởng. Tôi biết ông Ismay nhiều năm trước đây, nhưng giờ đây chúng tôi như hình với bóng và hơn cả thế nữa. Như vậy, các Tham mưu trưởng, trong một chừng mực rộng lớn trên cương vị là một tập thể, phải chịu trách nhiệm trước tôi và do tôi là đại diện của Thủ tướng, trên danh nghĩa tôi có thể có quyền ảnh hưởng đến các quyết định và chính sách của họ. Mặt khác, dĩ nhiên là các Tham mưu trưởng trước hết phải trung thành với Bộ trưởng quân chủng của mình, và các vị này sẽ không hẳn là tốt nếu như họ không cảm thây khó chịu phần nào trước việc trao quyền đại diện một phần quyền hạn của mình cho một trong những người đồng sự của họ. Hơn nữa trách nhiệm của tôi đã được vạch ra một cách rõ ràng, là phải được thực hiện nhân danh Ủy ban Phối họp Quân sự. Như vậy, tôi phải gánh trách nhiệm rộng lớn mà không có quyền lực thực tế trong tay mình để thực hiện trách nhiệm. Tuy thế, tôi có cảm giác là tôi có khả năng làm được công việc tổ chức mới - Số phận của nó chỉ kéo dài được một tuần. Nhưng mối quan hệ về mặt cá nhân và chính thực của tôi với tướng Ismay, và quan hệ của ông này với ủy ban các Tham mưu trưởng được gìn giữ nguyên vẹn và không sa sút từ 1/5/1940 đến 26/7/1945 khi tôi giải nhiệm.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #112 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:15:27 PM »


       
*

        Chiều tối thứ sáu 5 tháng 4, công sứ Đức tại Oslo moi các quan khách trong đó có cả thành viên của chính phủ đến xem phim tại sứ quán. Phim tả lại việc Đức chiếm Ba Lan và đạt tới điểm tột cùng bằng sự tăng tốc về số lượng các cảnh hãi hùng trong đoạn Đức oanh tạc Vácsava. Lời thuyết minh ghi là: "Đối với cái này, họ có thể cảm ơn các ông bạn Anh và Pháp của họ". Cử tọa tỏ vẻ sợ hãi. Tuy vậy, chính phủ Na Uy chủ yếu quan tâm đến các hoạt động của người Anh. Giữa 4h30’ và 5 giờ sáng ngày 8 tháng 4, các khu trục hạm Anh thả các bãi mìn ngoài khơi lối vào eo nhỏ phía tây, con kênh dẫn đến cảng Narvik. Đến 5 giờ sáng tin tức được phát đi từ Luân Đôn và đến 5h30’ một công ham của chính phủ Hoàng gia được trao cho Bộ trưởng Ngoại giao Na Uy. Ở Oslo người ta dành buổi sáng để dự thảo các văn bản phản đối với Luân Đôn. Nhưng về cuối buổi trưa, Bộ Hải quân thông báo tòa Công sứ Na Uy tại Luân Đôn là tàu chiến Đức đã bị phát hiện ngoai khơi bờ biển Na Uy và đi về phía bắc và dự đoán là sẽ tới Narvik. Vào khoảng cùng thời gian này, tin tức tới thủ đô Na Uy cho biết là tàu chở quân của Đức, chiếc Rio de Janeiro bị tàu ngầm Orzel của Ba Lan đánh đắm ngoài khơi bờ biển phía nam của Na Uy, là một số lớn binh lính Đức được ngư dân địa phương cứu hộ, là các binh sĩ này nói họ đi đến Bergen để giúp người Na Uy chống lại người Anh và người Pháp. Con nhiều việc nữa xảy ra. Đức đã thọc vào Đan Mạch nhưng tin này không tới Na Uy cho tới khi chính nước này bị đánh chiếm. Như vậy, Na Uy không nhận được lời cảnh cáo chính thức này. Đan Mạch bị đè bẹp sau một trận chống cự trong đó có một ít binh sĩ trung thanh bị tử trận.

        Đêm đó các tàu chiến Đức tiến gần Oslo. Pháo tiền đồn phát hỏa. Lục lượng bố phòng của Na Uy gồm một tàu thả mìn Olay Tryggvason và hai tàu phá dỡ mìn. Sau lúc mặt trời mọc, hai tàu quét mìn của Đức vào tới của vịnh hẹp để đổ quân gần chỗ bố" trí pháo bờ biển. Một trong hai tàu này bị chiếc tàu Olay Tryggvason đánh đắm, nhưng quân Đức đã đổ bộ và chiếm được các cỗ pháo. Tuy nhiên chiếc quét mìn anh dũng đã chặn đứng hai khu trục hạm Đức ở của vịnh hẹp và đánh hư hại chiếc tuần dương hạm Emden. Một tàu đánh cá voi của Na Uy có lắp một súng máy duy nhất lập túc lao vào cuộc chiến với kẻ xâm lược mà không có lệnh đặc biệt gì hết. Khẩu súng máy bị hất tung và viên thuyền trưởng bị mất cả hai chân. Để tránh làm mất nhuệ khí người dưới quyền của mình, ông ta lăn xuống nước và hy sinh cao cả. Lực lượng chính của Đức đi đầu là chiếc tuần dương hạm loại nặng Bluecher giờ đây đã vào vịnh hẹp và tiến vào của biển hẹp có pháo đài Oscarborg bảo vệ. Pháo Na Uy nổ súng và hai quả ngư lôi từ bờ bể phóng ra ở cự ly 500 thước Anh đã giáng một đòn quyết định, chiếc Bluecher bị chìm nhanh cùng với các sĩ quan tham mưu cao cấp và biệt động của Gestapo. Các chiến hạm khác còn lại của Đức kể cả chiếc Luetzow rút lui. Chiếc Emden bị tổn thất không tham chiến thêm trên biển nữa. Cuối cùng thì Oslo bị thất thủ, không phải từ phía bể mà bằng không vận và bằng đổ bộ vào vịnh hẹp. Kế hoạch của Hitler lập túc được triển khai toàn diện. Các lực lượng Đức kéo xuống Kistiansand, Stavanger và xa về phía Bắc tại Bergen và Trondheim.

        Cú đánh táo bạo nhất là tại Narvik. Trong một tuần lễ, các tàu Đức dùng để chở quặng được giả thiết là đã ngược hành lang dưới sự trung lập của Na Uy để xếp đồ tiếp tế, vũ khí đạn dược và quay trở lại Narvik như những chuyến đi thường lệ. Mười tàu khu trục Đức, mỗi chiếc chở 200 lính có sự yểm trợ của hai chiếc Scharnhorst và Gneisenau đã rời Đức vài ngày trước đó và đến Narvik sớm vào ngày 9.

        Hai tàu chiến Na Uy Norge và Eidsvold nằm ở vịnh nhỏ và chuẩn bị để đánh đến cùng. Vào lúc bình minh, hai chiếc khu trục hạm được phát hiện là đang tiến vào cảng với tốc độ cao, nhưng vì có nhiều tảng băng dập dềnh nên ban đầu không nhận rõ được là tàu nào. Chẳng mấy chốc một sĩ quan Đức xuất hiện trên một chiếc tàu đáy bằng và yêu cầu tàu Eidsvold đầu hàng. Khi nhận được câu trả 1ời cụt ngùn "tôi tấn công" của viên chỉ huy trưởng tàu, hắn ta rút lui, nhưng gần như ngay lập tức và hầu hết thủy thủ trên tàu bị tiêu hủy bởi một loạt ngư lôi. Trong khi đó, tàu Norge khai hỏa, nhưng chỉ trong ít phút nó cũng trúng thủy lôi và chìm. Trong sự kháng cự anh hùng và tuyệt vọng này 287 thủy thủ Na Uy bị chết, số sống sót là dưới 100 người. Từ giờ trở đi việc chiếm Narvik là dễ dàng. Nó là điểm chiến lược mà chúng tôi bị mất vĩnh viễn.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #113 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:16:14 PM »


        Sáng hôm đô đốc Forbes với hạm đội chủ lực ở ngang tầm Bergen, tình hình Narvik được coi là đen tối. Vói hy vọng chặn trước được việc Đức chiếm cảng, ông tư lệnh hạm đội ra lệnh cho các khu trục hạm của chúng tôi tiến vào vịnh nhỏ và ngăn chặn mọi sự đổ bộ. Theo lệnh này, Hạm trưởng Warburton-Lee cùng với năm khu trục hạm thuộc đội của ông ta là Hardy, Hunter, Havock, Hotspur, Hostile kéo vào vịnh nhỏ phía Tây. Ông được các người Na Uy ở Tranoy cho biết có sáu chiếc tàu lớn hơn tàu ông ta và một tàu ngầm Đức đã đi vào cảng đã bị thả mìn. Ông phát ra tin này bằng tín hiệu và thêm "định tấn công  vào lúc bình minh". Giữa ngày 10 tháng 4, và trong bão tuyết, năm khu trục hạm Anh chạy về phía vịnh nhỏ, và đến bình minh thì ở cách xa Narvik. Trong cảng là năm khu trục hạm địch. Trong đợt tấn công đầu chiếc Hardy phóng ngư lôi trúng chiếc tàu có treo cơ của viên chỉ huy người Đức và viên này bị chết, một chiếc khu trục hạm khác bị trúng hai quả ngư lôi và chìm; ba chiếc còn lại bị pháo kích đến mức không thể kháng cự có hiệu quả được. ơ trong cảng cũng còn có 23 tàu buôn thuộc các quốc tịch khác nhau trong có năm cái là thuộc quốc tịch Anh; sáu chiếc của Đức bị tiêu diệt. Cho đến lúc này chỉ có ba khu trục hạm trong năm chiếc của chúng tôi là có tham chiến. Chiếc Hotspur và Hostile được coi là lực lượng dự phòng chống lại pháo từ bờ biển bắn ra hoặc chống các tàu Đức mới khác đang tiến gần. Giờ đây hai tàu tham gia đợt tấn công thứ hai và chiếc Hotspur đánh chìm thêm hai tàu buôn bằng phóng ngư lôi. Các tàu của hạm trưởng Warburton-Lee đều vô sự; pháo của địch có vẻ đã câm họng và sau một giờ chiến đấu không có tàu nào xuất hiện trên các lối vào để chống lại ông ta.

        Nhưng sau đó tình hình đã thay đổi. Trên đường từ trận đánh trở về, Thuyền trưởng Warburton-Lee nhìn thấy ba tàu khác đang tiến gần. Chúng không có biểu hiện tiến gần thêm nhưng đột nhiên, từ đám sương mù trước mặt, xuất hiện thêm hai chiến hạm. Chúng không phải là quân Anh tăng viện như thoạt tiên người ta hy vọng, mà là tàu khu trục của Đức đã thả neo ở một vịnh nhỏ kế cận. Chẳng mấy chốc, pháo cỡ lớn nhất trên các chiến hạm Đức bắt đầu lên tiếng. Đài chỉ huy của chiếc Hardy bị tan ra từng mảnh, Warburton-Lee bị tử thương, các sĩ quan dưới quyền và bạn chiến đấu của ông ta bị chết hoặc bị thương, trừ người chỉ huy phó và là thư ký của ông ta tên là Stanning lên điều khiển tàu. Sau đó một viên đạn nổ trúng buồng máy, tàu bốc cháy lớn phải đưa vào bờ. Tín hiệu cuối cùng của Hạm trưởng Hardy gửi cho hải đội của mình là: "Tiếp tục chiến đấu với địch".

        Trong khi đó, chiếc Hunter đã bị đánh chìm, còn chiếc Hotspur và Hostile đều bị tổn thương, và cùng với chiếc Havock đi ra ngoài biển khơi. Quân thù lúc trước đã chặn lối đi của tàu, giờ đây không có điều kiện để buộc tàu dừng lại. Nửa giờ sau, đoàn tàu này gặp một tàu lớn từ phía biển khơi đi vào và được xác định là tàu Rauenfels chuyên chở vũ khí đạn dược dự trữ của Đức. Chiếc Rauenfels bị tàu Havock bắn trúng và sau đó thì nổ tung. Những người sống sót của tàu Hardy phấn đấu vật lộn để lên bờ cùng với xác của người chỉ huy mình; ông này được truy tặng Huân chương Chiến thắng và cùng với những người thuộc hạ để lại dấu ấn trong sử sách Hải quân Anh.

        Bất ngờ, tàn bạo và chính xác là đặc trưng của cuộc tấn công  ác liệt vào người Na Uy nhỏ bé và trơ trọi. Bảy sư đoàn lục quân Đức đã được huy động vào việc này. Tám trăm phi cơ chiến thuật và khoảng 250 đến 300 phi cơ vận tải tham dự trận chiến. Trong 48 giờ, toàn bộ các cảng chính của Na Uy đã ở trong nanh vuốt người Đức. Sự căm phẫn của nhà vua, chính phủ, quân đội và nhân dân ngay sau đó khi thấy được cái gì đã xảy ra đối với họ. Nhưng tất cả đã quá muộn. Sự thâm nhập và tuyên truyền của Đức cho đến nay đã làm mờ tầm nhìn của họ và lúc này đã chặt đứt sức đề kháng của họ. Thiếu tá Quisling phát biểu trước đài phát thanh giờ đây do Đức kiểm soát với cương vị là người thân Đức trị vì đất nước bị xâm chiếm. Gần như tất cả các quan chúc Na Uy từ chối phục vụ ông ta. Quân đội được động viên và ngay lập túc bắt đầu chiến đấu chống lại kẻ xâm lược đang từ Oslo tiến lên phía bắc. Những người yêu nước có thể kiếm được vũ khí thì rút vào núi rừng để chiến đấu. Nhà vua, các Bộ trưởng và Quốc hội ban đầu rút lui về Hamar cách Oslo 100 dặm. Họ bị xe thiết giáp Đức truy đuổi ráo riết và đã có những cố gắng tàn bạo nhằm tiêu diệt họ bằng phi cơ dội bom hoặc xả đạn súng máy. Tuy vậy họ tiếp tục phát ra những rơi tuyên bố trước toàn quốc yêu cầu triệt để cố gắng chiến đấu. Phần dân còn lại thì lực chẳng được là bao bị khủng bố bằng các cảnh đẫm máu làm cho u mê, sững sờ hoặc chán nản khuất phục. Bán đảo Na Uy dài gần 1000 dặm, dân cư sống rải rác, đường xá và đường sắt không có nhiều, đặc biệt là về hướng bắc. Tốc độ mà Hitler thực hiện việc đô hộ đất nước này là một kỳ công đáng ghi nhận về chiến tranh và chính sách, cũng như là một ví dụ bền vững về tính chính xác và tàn bạo của Đức.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #114 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:17:28 PM »


       
*

        Chính phủ Na Uy, cho đến nay do sợ nước Đức và tỏ ra rất lạnh lùng đối với chúng tôi, thì giờ đây đã mạnh mẽ kêu gọi sự giúp đỡ. Rõ ràng là từ lúc đầu chúng tôi không cứu được miền nam Na Uy. Hầu hết các đơn vị được huấn luyện của chúng tôi - mà rất nhiều chỉ được huấn luyện một nửa - đều ở Pháp. Lực lượng không quân khiêm tốn nhưng đang được phát triển của chúng tôi đã được phân công triệt để vào các nhiệm vụ yểm trợ. Đội quân Viễn chinh Anh, bảo vệ nội địa và ra sức huấn luyện, không thể làm các việc khác được nữa. Toàn bộ pháo phòng không của chúng tôi cần phải tăng gấp mười lần cho các điểm dễ bị đánh có tầm quan trọng lớn nhất. Tuy vậy, chúng tôi cảm thấy phải làm hết sức mình để giúp họ cho dù các sự chuẩn bị và lợi ích của chúng tôi có bị xáo trộn mạnh. Hình như chắc chắn có thể chiếm và giữ được Narvik có lợi cho sự nghiệp của toàn thể đồng minh. Ở đây, vua Na Uy có thể cắm lá cơ bất khả xâm phạm của mình. Phải chiến đấu cho Trondheim và bằng mọi giá, để làm chậm bước bắc tiến của kẻ xâm lược cho tới khi có thể tái chiếm Narvik làm căn cứ cho một quân đoàn. Việc này hình như có thể làm được từ ngoài bể với một lực lượng lớn hơn bất cứ cái gì được dùng vào cùng mục đích ở trên đất liền và xuyên qua 500 dặm đường rừng núi. Nội các toàn tâm ủng hộ mọi biện pháp khả dĩ để tái chiếm và bảo vệ Narvik và Trondheim. Các đơn vị được giải phóng khỏi kế hoạch Phần Lan và một đơn vị cốt lõi trong tay dành cho Narvik có thể sớm sẵn sàng. Đám quân này thiếu máy bay, pháo phòng không, súng chống tăng, xe tăng, xe vận tải và thiếu cả huấn luyện. Toàn bộ miền bắc Na Uy phủ tuyết dày tới mức không một người lính nao của chúng tôi được nhìn thấy, có cảm giác như thế nào, hoặc tưởng tượng được ra sao. Không có cả giầy đi trên tuyết lẫn gậy trượt tuyết, lại càng có ít người trượt tuyết. Chúng tôi phải làm hết sức mình. Một chiến dịch ọp ẹp bắt đầu như vậy.

        Chúng tôi đã đổ bộ hoặc tìm cách đổ bộ vào Narvik, Trondheim và các địa điểm khác. Sự vượt trội của người Đức về thiết kế, quản lý và nghị lực là rõ ràng. Họ thực hiện một cách tàn nhẫn một kế hoạch hành động được chuẩn bị kỹ lưỡng. Họ nắm bắt rất vững việc sử dụng không quân trên qui mô lớn và về mọi mặt. Hơn nữa, quyền lực của từng cá nhân rất rõ ràng và đặc biệt hơn là trong các tốp nhỏ. Ở Narvik, một lực lượng hỗn hợp Đức dù không có sự chuẩn bị trước, chỉ gồm chưa đầy 6000 người đã kìm chân vài chục ngàn quân đồng minh trong sáu tuần, và tuy bị đẩy ra khỏi thành phố lực lượng vẫn tồn tại để nhìn quân đồng minh ra đi. Cuộc tấn công bằng đường bể do Hải quân mở ra một cách xuất sắc bị sa lầy do người chỉ huy quân sự không chấp nhận cái được thùa nhận là một mạo hiểm tuyệt vọng. Chúng tôi phân chia lực lượng cho Narvik và Trondheim và làm hỏng cả hai kế hoạch của mình. Tại Namsos phải đi tới đi lui bì bõm trên đường lầy. Chỉ có một lần hành quân sang Andolnes là chúng tôi trụ được. Tuy phải vượt qua hàng trăm dặm trên một nước có địa hình gồ ghề, và tuyết phủ, người Đức đẩy lùi chúng tôi mặc dầu chúng tôi chiến đấu anh hùng - chúng tôi những người làm chủ ngoài biển và có thể bắn phá bất cứ nơi nào trên một bờ biển không có phòng ngự đã không bắt kịp kẻ địch vận động trên những cự ly rất rộng trên đất liền với mọi thứ cản trở phía trước.

        Theo tiếng gọi của nghĩa vụ, chúng tôi gắng hết súc lao vào những khó khăn và gắn bó với Na Uy. Chúng tôi nghĩ rằng số phận đã nghiệt ngã đối với chúng tôi. Giờ đây chúng tôi thấy la chúng tôi không còn gì ỏ đất Na Uy nữa. Trong khi đó, vào đầu tháng 5, chúng tôi cũng phải tự hài lòng hết mức với một loạt các cuộc rút quân thành công của mình. Xét vai trò quan trọng của tôi trong các sự kiện này, cũng như là không thể giải thích được những khó khăn mà chúng tôi không khắc phục được hoặc những sai lầm, thiếu sót về mặt tổ chức chính phủ và bộ máy nhân sự, và các phương pháp chỉ đạo chiến tranh của chúng tôi, thì điều kỳ lạ là tôi đã sống sót và giữ vị trí của mình với sự quý mến của công chúng và tín nhiệm của Quốc hội. Sở dĩ như vậy là trong thời gian từ sáu đến bảy năm tôi đã tiên liệu sự phát triển của sự việc một cách đúng đắn và đã không ngừng cảnh cáo, lúc bấy giờ chẳng ai nghe nhưng bây giờ thì được nhớ lại.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #115 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:18:32 PM »


        Chiếc hàng không mẫu hạm Glorious bị các tuần dương hạm thiết giáp cỡ lớn Scharnhorst và Gneisnau tấn công ngày 8 tháng 6 và phá hủy trong 90 phút. Hạ sĩ quan hải quân C. Carter, người sống sót duy nhất của một trong những chiếc khu trục hạm hộ tống chiếc Glorious là tàu Acasta đã bị phá, cho thấy một hình ảnh sống động đặc trung của cuộc đụng độ ngoài biển:

        "Trên tàu chúng tôi, một sự yên lặng như chết hầu như không có lây một tiếng nói, giờ đây con tàu mở hết tốc độ chạy xa khỏi kẻ thù, tiếp đến là một loạt mệnh lệnh chuẩn bị các màn khói, nối các đầu ống, chuẩn bị nhiều việc khác, chúng tôi vẫn chạy trốn, nhả khói, và vận hành toàn bộ hệ nhả khói. Hạm trưởng ra lệnh cho tất cả các vị trí: "Các anh có thể nghĩ là chúng tôi đang tháo chạy, không phải như vậy, đồng đội thân thiết của ta, tàu Ardent đã chìm, tàu Glorious đang chìm, điều tối thiểu mà chúng tôi có thể làm là làm cho địch biết tay một cái, chúc tất cả may mắn". Lập tức chúng tôi chuyển hướng đi vào ngay trong màn khói của mình. Tôi ra lệnh sẵn sàng để phóng ống phóng ngư lôi số 6 và số 7. Chúng tôi ra khỏi màn khói, quặt sang bên phải và phóng ngư lôi từ sườn trái của tàu. Và bây giờ tôi mới thoáng nhìn thấy kẻ thù lần đầu tiên, nói cho công bằng nó xuất hiện trước mắt tôi như là một chiếc tàu lớn và một chiếc nhỏ, và chúng tôi ở cự ly rất gần nhau. Tôi phóng hai quả ngư lôi từ các ống phóng phía sau, các ống phóng phía đầu tàu cũng nhả đạn, tất cả chúng tôi đang chờ đợi kết quả. Tôi sẽ không bao giờ quên được tiếng hò reo được phát ra lúc ấy. Ở phía bên trái mũi của một trong hai chiếc tàu, bật lên một tia chóp màu vàng và một cột nước và khói to. Chúng tôi biết là chúng tôi đã bắn, cá nhân tôi không hiểu tại sao gần như vậy mà chúng tôi lại trượt mục tiêu. Kẻ địch đã không bắn phát nào vào chúng tôi, tôi cảm thấy là họ rất ngạc nhiên, sau khi đã phóng các quả ngư lôi, chúng tôi lại quay vào trong màn khói của mình, và di quặt sang bên phải, "sẵn sàng để phóng số ngư lôi còn lại", và lần này, vừa nhô ra khỏi màn khói, thì địch phát hỏa. Một viên đạn rơi trúng buồng máy, giết chết các tổ xạ thủ phóng ngư lôi của tôi. Tàu dừng lại nghiêng về một phía. Đây là một cái gì đây, tin là thật hay là không, tôi lại leo lên ghế chỉ huy, tôi nhìn thấy hai con tàu đó, tôi phóng nốt số thủy lôi còn lại, không ai bảo tôi làm như vậy, tôi đoán là tôi đang điên giận. Chỉ có trời mới biết tại sao tôi lại bắn, nhưng tôi đã bắn. Súng trên tàu Acasta đã bắn cả suốt thời gian, thậm chí tàu thủng vẫn bắn. Rồi địch đánh chúng tôi nhiều lần, nhưng có một tiếng nổ ngay sau đó, và tôi luôn luôn tự hỏi là phải chăng địch đánh chúng tôi bằng phóng ngư lôi, nên nó có vẻ như đã hất tàu chúng tôi lên khỏi mặt nước. Sau chót, Hạm trưởng ra lệnh rời khỏi tàu. Tôi sẽ không bao giờ quên Trung úy giải phẫu1, tàu đầu tiên của ông ta, cuộc chiến đấu đầu tiên của ông ta. Trước khi tôi nhảy ra khỏi mạn tàu, tôi vẫn thấy ông ta đang săn sóc cho thương binh, một nhiệm vụ tuyệt vọng, và khi tôi đã ở dưới nước tôi thấy Hạm trưởng dựa lưng vào đài chỉ huy, rút một điếu thuốc lá trong bao ra và châm hút. Chúng tôi gọi ông xuống mảng của chúng tôi, ông vẫy tay chào từ biệt và chúc may mắn - sự ra đi của một người anh dũng.

        Nhưng từ tất cả sự rối loạn và thiệt hại về tàu bè nổi lên một sự việc có tầm quan trọng lớn ảnh hưởng mạnh đến tương lai của chiến tranh. Trong cuộc vật lộn vô vọng với Hải quân Anh, người Đức đã hủy hoại hải quân của mình như đã xảy ra trên thực tế, vì nguy cơ điểm đỉnh sắp xảy ra. Tổn thất của Đồng minh trong các trận hải chiến ngoài khơi Na Uy gồm một hàng không mẫu hạm, hai tàu con và tám khu trục hạm bị loại ra khỏi vòng chiến, nhưng có thể sửa lại được trong phạm vi khả năng hải quân của chúng tôi. Mặt khác, đến cuối tháng 6/1940, một thời điểm rất quan trọng, hạm đội Đức thực lực gồm có một tuần dương hạm có pháo 8 inches, hai tuần dương hạm loại nhẹ và bốn khu trục hạm. Mặc dầu nhiều tàu của họ bị hư hại nhưng cũng giống như của chúng tôi, có thể sửa chữa được. Hải quân Đức không phải là một yếu tố quan trọng trong việc chiếm đánh nước Anh.

        Chiến tranh hủy diệt chấm dứt với việc Hitler tấn công Na Uy. Nó đã chuyển thành một ánh chớp của sự bùng nổ quân sự đáng sợ nhất mà loài người cho tới nay chưa được biết. Tôi đã mô tả tình trạng hôn mê trong tám tháng mà Anh và Pháp quanh quẩn trong đó, trong khi cả thế giới ngạc nhiên. Giai đoạn này đã tỏ ra rất tai hại cho Đồng minh. Từ lúc Staline dàn xếp với Hitler, người Cộng sản ở Pháp theo gương Matxcova và tố cáo chiến tranh là "một tội ác của đế quốc và tư bản chổng lại nền dân chủ". Họ làm cái họ có thể làm để phá hoại tinh thần trong quân đội và cản trở sản xuất trong các nhà máy. Tinh thần của Pháp, thể hiện ở người lính và người dân trong tháng năm, giờ đây rõ ràng là thấp hơn so với lúc mới nổ ra chiến tranh.

        Không có cái gì giống cái này đã xảy ra ở Anh, nơi mà chủ nghĩa Cộng sản do Liên Xô chỉ huy tuy có hoạt động ráo riết nhưng yếu, không mạnh. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn là chính phủ có đảng phái, dưới sự lãnh đạo của một Thủ tướng mà phái đối lập chống đối một cách gay gắt, và không có sự ủng hộ nhiệt tình và tích cực của các phong trào công đoàn. Tính chất điềm tĩnh, đàng hoàng, thành thực nhưng giữ nếp cũ của chính quyền không gọi ra được sự cố gắng lớn mang tính sống còn trong các giới thuộc Chính phủ hoặc trong các công binh xưởng. Cú đánh của thảm họa và cái quất của hiểm họa là cần thiết để khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn của dân tộc Anh. Cái mõ đã sắp sửa lên tiếng..

-------------
        1. H.s. Stammer. Trung úy giải phẫu lâm thời. RNVR.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #116 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:19:31 PM »


22

CHÍNH PHỦ SỤP ĐỔ

        Nhiều thất vọng và tai họa do chiến dịch Na Uy ngắn ngủi gây ra đã tạo nên sự xáo trộn sâu sắc trong nước và làn sóng xúc động trào lên thậm chí tới lòng ngực một số những người uể oải, cầu an trong những năm trước chiến tranh. Phe đối lập yêu cầu có một cuộc thảo luận về tình hình chiến tranh, và cuộc họp được sắp xếp vào ngày 7 tháng 5. Hạ viện đầy những thành viên lộ vẻ bực tức và tuyệt vọng. Lời phát biểu khai mạc của ông Chamberlain không ngăn chặn được làn sóng phản đối. Người ta cắt lời ông một cách nhạo báng, người ta nhắc lại bài diễn văn ngày 4 tháng 4 của ông mà trong đó, trong một mối liên quan hoàn toàn khác, ông đã sơ ý nói "Hitler đã lỡ tàu". Ông vạch rõ vị trí mới của tôi và mối quan hệ giữa tôi với các Tham mưu trưởng, và khi trả lời ông Herbert Morrisson, ông đã nói rõ là tôi không có những quyền lực đó trong các cuộc hành quân ở Na Uy. Từ hai phía của phòng họp, hết đại biểu này đến đại biểu khác công kích chính phủ, đặc biệt là các trưởng đoàn có thái độ gay gắt, xung khí khác thường và được sự hưởng ứng vỗ tay mỗi lúc một tăng từ tứ phía. Ngài Roger Keyes muốn nổi trội trong cuộc chiến tranh mới này, phê bình kịch liệt Bộ Tham mưu Hải quân đã thất bại trong việc chiếm lại Trondheim. Ông ta nói "khi tôi thấy các việc làm kém cỏi đang diễn ra như thế nào, tôi không ngừng yêu cầu Bộ Hải quân và Nội các chiến tranh giao cho tôi toàn bộ trách nhiệm và lãnh đạo việc tấn công". Mặc bộ quân phục đô đốc Hải quân bốn sao, ông ta ủng hộ những ý kiến phê phán của phe đối lập bằng các chi tiết kỹ thuật và uy tín nghề nghiệp của mình với một phong cách thích hợp với trạng thái tâm lý của Hạ viện. Từ hàng ghế phía sau dãy ghế của chính phủ, và trong sự hân hoan ồn ào, ông Amery nhắc lại câu nói trịnh trọng của vua Cromwell với Quốc hội (được triệu tập lần đầu tiên vào năm 1911). "Các vị đã ngồi ở đây quá lâu vì bất cứ lợi ích gì mà các vị đang làm" - Tôi nói - "các vị đi đi. Hãy để chúng tôi cắt đứt quan hệ với các vị. Nhân danh chúa! Đi đi". Đây là những từ ngữ kinh khủng phát ra từ một người bạn và đồng nghiệp vong niên, một bạn cùng là thành viên Birmingham và một số cố vấn của Hội đồng cơ mật ưu tú và cố kinh nghiệm.

        Ngày thứ hai 8 tháng 5, tuy là tiếp tục, một kiến nghị hoãn cuộc thảo luận mang tính chất một sự bỏ phiếu không ủng hộ và ông Morrisson, nhân danh đối lập, tuyên bố phe này muốn có một cuộc bỏ phiếu. Thủ tướng lại đứng dậy, chấp nhận sự thách thức này và trong một đoạn đáng tiếc, đã kêu gọi các bạn be hãy đứng bên cạnh mình. Ông có quyền làm như vậy, vì bạn bè  ông đã ủng hộ hành động hoặc bất hành động của ông, và như vậy đã chia sẻ trách nhiệm với ông trong "những năm bị châu chấu phá hoại" trước chiến tranh. Nhưng hôm nay họ ngồi đó, im lặng và lúng túng và một số trong họ cũng đúng về phía chống đối. Cũng trong ngày này người ta chứng kiến sự can thiệp lần chót vào quyết định của ông Lloyd George tại Hạ nghị viện. Trong một bài diễn văn không quá 20 phút, ông giáng một đòn nặng vào người đứng đầu chính phủ. Ông ta cố gắng không buộc tội tôi: "Tôi không nghĩ là Bộ trưởng Hải quân phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi sự việc đã xảy ra ở Na Uy". Tôi lập tức nói xen: "Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi việc mà Bộ Hải quân đã làm và tôi xin nhận phần của mình trong gánh nặng". Sau khi cảnh cáo tôi không nên để tự mình biến thành một cái hầm trú ẩn phòng không che chắn cho các đồng nghiệp của mình, ông Lloyd George quay sang phía ông Chamberlain: "Vấn đề không phải những ai là bạn bè của Thủ tướng - mà là vấn đề lớn hơn nhiều". Ồng ta kêu gọi hy sinh. "Đất nước sẵn sàng cho mọi sự hy sinh chừng nào có sự lãnh đạo, chừng nào chính phủ trình bày rõ cái mà nó đang nhằm vào, và chừng nào đất nước tin là những người lãnh đạo đang làm hết sức mình". Ông chấm dứt bằng câu: "Tôi long trọng nói Thủ tướng phải là tấm gương về mặt hy sinh, vì không có gì có thể đóng góp nhiều hơn vào thắng lợi trong cuộc chiến tranh này bằng việc ông phải từ chức".
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #117 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:20:11 PM »


        Trên cương vị là Bộ trưởng, tất cả chúng tôi đều đứng dậy. Các Bộ trưởng Chiến tranh và Không quân đã phát biểu. Tôi đã tự nguyện kết thúc cuộc tranh luận, một việc không vượt quá bổn phận của tôi, không những vì lòng trung thành đối với thủ trưởng mà tôi đã phục vụ dưới trướng, mà còn vì tôi đã có vai trò cực kỳ quan trọng ở phần sử dụng các lực lượng không đầy đủ của chúng tôi trong mưu đồ tuyệt vọng nhằm cứu giúp Na Uy. Tôi đã làm hết súc mình để lấy lại quyền kiểm soát Hạ viện cho chính phủ bất chấp các giai đoạn liên tiếp chủ yếu do phía Công đảng đối lập gây ra. Tôi làm việc đó với chân tâm khi tôi nghĩ đến những sai lầm và chủ nghĩa hòa bình nguy hiểm của họ trong các năm về trước, và cách mà chỉ bốn tháng trước khi chiến tranh nổ ra họ đã liên tục bỏ phiếu chống lại việc gọi lính nhập ngũ. Tôi nghĩ rằng tôi và một số ít bạn bè hành động với tôi mới có quyền đưa ra những lời phê phán, còn họ thì không. Khi họ chĩa vào tôi, tôi phản ứng lại và thách thức họ, và nhiều lần có những tiếng nói to, la hét ầm ĩ đến mức không ai nghe được lời phát biểu của tôi nữa. Tuy vậy, trong suốt thời gian này, rõ ràng là họ không hướng sự tức giận vào tôi mà vào Thủ tướng, người mà tôi đã bảo vệ hết sức mình bất chấp các điều cần phải lưu ý xem xét. Tôi ngồi xuống ghế vào lúc 11 giờ khi Hạ viện đã bị chia rẽ trầm trọng. Chính phủ chiếm đa số 81 phiếu nhưng trên 30 nghị sĩ bảo thủ bỏ phiếu cho Công đảng và các phe đối lập thuộc đảng Tự do, ngoài ra có 60 đại biểu không bỏ phiếu. Rõ ràng là trên thực tế, tuy không phải trên hình thức, cuộc tranh cãi và sự chia rẽ là một biểu hiện mạnh mẽ của sự mất lòng tin vào ông Chamberlain và chính phủ của ông.

        Sau khi cuộc tranh luận chấm dứt, Thủ tướng yêu cầu tôi đến buồng ông và lập túc tôi thấy ông ta rất lo về thái độ của Hạ viện đối với bản thân ông. Ông cảm thấy ông không thể tiếp tục được nữa. Phải có một chính phủ liên hiệp quốc gia. Một đảng không thể kham nổi gánh nặng. Một người nào đó phải thành lập một chính phủ mà mọi đảng phái đều tham gia, nếu không thì không ổn. Nhận thúc được những mâu thuẫn trong cuộc tranh luận, và tin vào quá khứ công tác của mình về những vấn đề tranh cãi này, tôi mạnh dạn tiếp tục đấu tranh. "Đây là cuộc tranh cãi tai hại, nhưng ông có đa số cao. Ông không nên để tâm nhiều có hại đấy. Chúng tôi có một tình hình về Na Uy tốt hơn mức có thể được đưa ra trước Hạ viện. Hãy củng cố chính phủ của ông từ mọi phía và chúng tôi tiếp tục dấn bước cho tới khi đám đa số rơi bỏ chúng ta". Tôi nhằm vào mục đích đó mà nói, nhưng ông Chamberlain không chịu nghe ra và cũng không yên tâm, và đến khoảng nửa đêm tôi ra về với cảm giác là ông sẽ không rời bỏ quyết tâm hy sinh cá nhân mình, nếu không còn cách nào khác, hơn là tìm cách tiếp tục tiến hành chiến tranh với chính phủ một đảng.

        Tôi không nhớ rõ sự việc đã xảy ra như thế nào vào buổi sáng ngày 9 tháng 5, nhưng cái sau đây đã xảy ra: Ngài Kinsley Wood là người bạn và đồng sự thân thiết của Thủ tướng, đã từ lâu hai người cùng làm việc và hoan toàn tin cậy lẫn nhau. Ông Kinsley cho tôi biết ông Chamberlain đã quyết tâm thành lập một chính phủ liên hiệp, và nếu ông ta không thể là người đứng đầu chính phủ, thì ông sẽ nhường bước cho bất cứ ai có thể chiếm được lòng tin của ông. Như vậy, đến buổi chiều tôi được biết là tôi rất có thể được mời là Thủ tướng. Tôi không hoảng hốt và cũng không bị kích động trước triển vọng này. Tôi nghĩ đó là kế hoạch tốt nhất. Tôi bằng lòng để cho sự việc diễn biến. Đến buổi trưa, Thủ tướng triệu tôi đến Downing Street. Tói nơi tôi đã thấy Huân tước Halifax, và sau một cuộc trao đổi về tình hình chung, chúng tôi được báo cho biết là các ông Atlee và Greenwood ít phút nữa sẽ ghé qua gặp chúng tôi để tham khảo ý kiến.

        Khi họ đến, ba Bộ trưởng chúng tôi ngồi ở một phía bên bàn, phía bên kia là các lãnh tụ đối lập. Ông Chamberlain tuyên bố về sự tối cần thiết phải có một chính phủ liên hiệp và tìm cách biết chắc liệu Công đảng có sẽ phục vụ dưới sự lãnh đạo của ông không. Đảng này đang họp hội nghị tại Bournemouth. Cuộc nói chuyện diễn ra hết sức lịch sự, nhưng rõ ràng là các lãnh tụ Công đảng sẽ không cam kết gì mà chưa tham khảo ý kiến người của mình, và tỏ ý rõ ràng là theo họ thì câu trả lời sẽ không thuận lợi. Sau đó, họ rút lui. Buổi chiều hôm đó đẹp trời, Huân tước Halifax và tôi ngồi một lúc trong quán giải khát ngoài trời số 10 và nói chuyện chung chung. Rồi tôi quay lại Bộ Hải quân và vùi đầu vào công việc suốt buổi tối cho đến khuya.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #118 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:20:40 PM »

        
*

        Sáng ngày 10 tháng 5, mặt trời ló ra mang theo những tin túc khủng khiếp. Tin điện dồn dập đổ đến từ phía Bộ Hải quân, Bộ Chiến tranh và Bộ Ngoại giao, cuộc tấn công được chờ đợi từ lâu từ phía người Đức đã nổ ra. Đức kéo quân vào cả Bỉ và Hà Lan tại nhiều điểm trên biên giới của hai nước này. Toàn bộ sự vận động của quân đội Đức trong việc kéo quân vào các nước Bỉ - Hà - Lục và Pháp đã bắt đầu.

        Vào khoảng 10 giờ sáng, ngài Kinsley Wood đến gặp tôi sau khi vừa gặp Thủ tướng, ông ta nói ông Chamberlain có khuynh hướng cảm thấy do trận chiến lớn xảy ra với chúng tôi nên ông ấy thấy cần phải ở lại vị trí của mình. Kinsley, trái lại, nói với Thủ tướng là cuộc khủng hoảng mới lại càng làm tăng sự cần thiết phải có một chính phủ liên hiệp mới có thể đương đầu được; ông ta thêm nữa là ông Chamberlain đã chấp thuận quan điểm này. Đến 11 giờ sáng, Thủ tướng lại triệu tôi đến Downing street, ơ đây, một lần nữa tôi lại gặp Huân tước Halifax. Chúng tôi ngồi vào ghế đối diện với ông Chamberlain. Ông ta cho biết ông ta hài lòng với việc thành lập một chính phủ liên hiệp là ngoài tầm với của mình. Câu trả lời ông nhận được từ phía các lãnh tụ Công đảng làm cho ông không còn chút hoài nghi gì về việc này. Bởi vậy, vấn đề là ông phải đề xuất người nào với nhà Vua sau khi đơn xin từ chức của ông được chấp nhận. Thái độ của ông là lạnh lùng, tỉnh khô và có vẻ như hoàn toàn không dính dáng đến khía cạnh cá nhân của vấn đề. Ông nhìn chúng tôi từ phía đối diện bên kia bàn.

        Trong đời sống ngoài xã hội, tôi có rất nhiều cuộc gặp gỡ quan trọng, và chắc chắn lần này là quan trọng nhất. Thông thường, tôi nói rất nhiều, nhưng lần này thì tôi giữ im lặng. Rõ ràng là ông Chamberlain còn trong đầu cảnh trao đi đổi lại nẩy lửa ở Hạ viện hai đêm trước đây khi mà tôi có vẻ như là tranh luận rất găng với Công đảng. Mặc dầu cái đó là để ủng hộ và bảo vệ ông, nhưng ông vẫn cảm thấy nó có thể cản trở việc tôi tranh thủ được sự tham gia của họ vào lúc này. Tôi không nhớ những từ ngữ ông đã dùng, nhưng đó là sự hàm ý. Ông Felling, người viết tiểu sử của ông nói rõ là ông ta thích Huân tước Halifax hơn. Vì tôi không lên tiếng, nên có một thời gian ngừng nghỉ dài. Nó có vẻ dài hơn hai phút, thời gian được dành ra trong các cuộc kỷ niệm Ngày Đình Chiến. Rồi ông Halifax phát biểu. Ông nói ông cảm thấy do vị trí của mình là người cùng vai phải lứa, từ Hạ viện mà ra, nên rất khó thực hiện nhiệm vụ Thủ tướng trong một cuộc chiến tranh như kiểu này. Ông ta sẽ bị coi là chịu trách nhiệm về mọi việc, nhưng sẽ không có quyền hướng dẫn quốc hội, mà sự tín nhiệm của quốc hội lại quyết định sự tồn tại của mọi chính phủ. Ông nói theo hướng này trong vài phút và khi ông chấm dứt thì rõ ràng là trách nhiệm sẽ rơi vào tôi và trên thực tế đã là như vậy. Rồi lần đầu tiên tôi phát biểu. Tôi nói tôi không có liên lạc với bất cứ đảng đối lập nao cho tới khi nhà Vua yêu cẩu tôi thành lập chính phủ. Đến đây thì cuộc đàm thoại quan trọng chấm dứt và chúng tôi trở lại phong cách thoải mái và quen thuộc thông thường của những người đã cùng làm việc với nhau nhiều năm, đã trải qua cuộc sống trong và ngoài cơ quan đầy ắp tình thân thiện của nghệ thuật chính trị của người Anh. Rồi tôi quay lại Bộ Hải quân, nơi mọi người đang sốt ruột chờ tôi.

        Các Bộ trưởng Hà Lan đã ở trong phòng của tôi. Ngơ ngác và mệt mỏi, với sự hoảng sợ hiện trên đôi mắt, họ vừa mới bay từ Hà Lan sang: đất nước họ bị tấn công hoàn toàn vô cớ và bất ngừ. Dòng thác lửa và sắt thép đã tràn qua biên giới và khi kháng chiến nổ ra và lính biên phòng Hà Lan nổ súng, thì một cuộc tấn công ào ạt và tàn bạo đã được tiến hành từ trên không. Toàn bộ đất nước ở trong trạng thái hỗn loạn hoàn toàn, kế hoạch phong thủ chuẩn bị từ lâu đã được thực hiện, các đê được tháo ra, nước tràn khắp nơi. Nhưng người Đức đã vượt qua tuyến tiền phương và giờ đây đang đổ xuống theo triền sông Rhine và đi qua tuyến phòng thủ bên trong Gravelines. Chúng uy hiếp con đường đắp cao bao bọc vùng Zuyder Zee. Chúng tôi có thể làm được bất cứ cái gì để ngăn cản được việc này? May thay, chúng tôi có một hải đội không ở xa lắm và lập tức ra lệnh cho hải đội dội lửa vào con đường đắp cao để tiêu diệt đám quân xâm lược đông như kiến càng nhiều càng tốt. Nữ hoàng vẫn ở trong nước Ha Lan, nhưng hình như không thể ở lâu được.
 
        Các cuộc thảo luận đi đến kết quả là Bộ Hải quân đã phát đi một số lớn mệnh lệnh cho tất cả các tàu của chúng tôi ở vùng lân cận và mối quan hệ chặt chẽ được thiết lập với Hải quân Hà Lan. Tuy con nguyên trong đầu việc Na Uy và Đan Mạch bị người Đức đè bẹp mới đây, các Bộ trưởng Hà Lan hỉnh như không thể hiểu làm thế nào mà nước Đại Đức cho đến đêm gần đây không rao giảng cái gì hết ngoài tình hữu nghị, lại đột nhiên thực hiện việc tấn công kinh khủng và tàn bạo này. Một hoặc hai giờ dùng cho việc thảo luận và một số việc khác đã trôi qua. Một loạt các điện báo được dồn dập gửi về từ các biên giới bị đợt sóng đầu tiên quân Đức xâm phạm. Hình như kế hoạch Schlieffen cũ được tân tạo lại với sự kéo dài đến Hà Lan đang được triển khai đầy đủ. Năm 1914 cánh phải cơ động của đạo quân xâm lược Đức đã ào ạt kéo qua Bỉ nhưng gần tới Hà Lan thì dừng lại. Lúc bấy giờ, người ta biết rõ ràng là nếu chiến tranh chậm nổ ra ba hoặc bốn năm thì quân đoàn đặc biệt có thể đã sẵn sàng và đầu mối cuối cùng đường sắt và đường giao thông được bố trí để thích ứng với sự vận động hành quân xuyên qua Hà Lan. Giờ đây cuộc hành quân nổi tiếng đã được tung ra với tất cả các tiện nghi này và với mọi tình huống bất ngờ và lật lọng. Nhưng các sự kiện khác đang ở phía trước. Cú đánh quyết định của quân địch không phải là đánh vòng thọc ngang sườn mà là chọc thủng mặt trận chính: không ai trong chúng tôi hoặc người Pháp, có trách nhiệm chỉ huy, thấy trước được việc này. Trước đó, trong năm, trên một bài phỏng vấn được công bố, tôi đã cảnh cáo các nước trung lập này về số phận đang treo trên đầu họ, căn cứ vào các việc bố trí quân, việc phát triển đường xá và đường sắt cũng như các kế hoạch bắt được của Đức. Lời nói của tôi đã gặp sự phản ứng chua chát.
Logged

Giangtvx
Trung tá
*
Bài viết: 21720


« Trả lời #119 vào lúc: 06 Tháng Một, 2019, 11:21:25 PM »


        Trong sự đổ vỡ tan tành của trận chiến rộng lớn này, các cuộc trao đổi không ồn ào của chúng tôi tại Downing Street đã mờ nhạt đi hoặc rơi vào tiềm thúc của con người. Tuy nhiên, tôi nhớ lại là người ta cho tôi biết ông Chamberlain đã hoặc đang đến gặp nhà vua và điều nay dĩ nhiên là được mong đợi. Bấy giờ, có giấy triệu tập tôi đến hoàng cung vào 6 giờ sáng. Từ Bộ Hải quân đến đó, đi xe chỉ mất hai phút chạy dọc theo pho Mali. Tuy tôi giả thiết báo buổi chiều phải đăng tải đầy tin túc khủng khiếp từ lục địa châu Âu, nhưng không thấy có tin gì về cuộc khủng hoảng nội các. Công chúng không có thì giờ để tiếp nhận điều gì đã xảy trong nước hoặc ở bên ngoài, và không thấy có đám đông tụ tập trước của Hoàng cung.

        Tôi được đưa ngay vào gặp nhà vua. Nhà vua tiếp tôi rất lịch sự và mời tôi ngồi. Người nhìn tôi một cách hóm hỉnh và như để tìm hiểu trong một lát, rồi hỏi: "Tôi giả thiết là ông không rõ vì sao tôi lại triệu tập ông?". Cùng theo phong cách này của nhà vua tôi trả lời: "Đon giản là tôi không thể tưởng tượng được vì sao". Người cười to và nói: "Tôi muốn ông thành lập một chính phủ?" Tôi nói nhất định là tôi sẽ làm điều đó. Nhà vua không định rõ chi tiết về chính phủ mang tính chất dân tộc, và tôi cảm thấy không có nghi thức nào qui định nhiệm vụ tôi được giao phải bị lệ thuộc vào điểm này. Nhưng vì do chính cái gì đã xảy ra và các điều kiện đã đưa đến sự từ chức của ông Chamberlain, nên một chính phủ mang tính chất dân tộc rõ ràng là gắn liền với tình hình. Nếu tôi thấy không thể thống nhất với các đảng đôi lập, thì về mặt hiến pháp tôi không bị cẩm thành lập một chính phủ mạnh nhất có thể được của tất cả những ai đứng bên cạnh đất nước vào giờ phút hiểm nguy, miễn là một chính phủ như vậy có thể nắm được đa số trong Hạ viện. Tôi nói với nhà vua là tôi sẽ lập túc cho mời các lãnh tụ Công đảng và Đảng Tự do, và đề nghị lập ra một Nội các Chiến tranh gồm 5-6 bộ trưởng, và tôi hi vọng báo cáo với Người ít nhất năm, sáu tên các nhân vật trước nửa đêm. Sau đó tôi xin phép rút lui và trở về Bộ Hải quân.

        Theo yêu cầu của tôi, từ 7 đến 8 giờ, ông Atlee đến gặp tôi. Ông ta đến cùng với ông Greenwood. Tôi cho ông ta biết là tôi được giao quyền thành lập một chính phủ và hỏi liệu Công đảng có tham gia không. Ông ta nói là có thể. Tôi đề nghị họ sẽ có trên 173 số ghế, hai ghế trong số năm ghế của Nội các chiến tranh và có thể Nội các có tới sáu ghế. Tôi yêu cầu ông Atlee cho tôi một danh sách người của ông để chúng tôi có thể trao đổi về các ghế đặc biệt. Tôi nêu tên các ông Emest Bevin, Alexander, Morrison và Dalton là những người mà cơ quan cấp cao cần gấp. Dĩ nhiên, tôi từ lâu đã quen biết hai ông Atlee và Greenwood ở Hạ viện. Trong mười năm trước khi nổ ra chiến tranh, tôi đi đến chỗ luôn luôn và chạm với chính phủ của các Đảng Bảo thủ, Đảng Quốc gia và nhiều hơn so với Công đảng và Đảng Tự do đối lập. Chúng tôi có một cuộc nói chuyện vui vẻ và ngắn ngủi và hai ông đó ra về để nói lại tình hình bằng điện thoại với bạn bè và người theo mình tại Bournemouth và dĩ nhiên đó là những người mà họ tiếp xúc chặt chẽ nhất trong 48 giờ trước đó.

        Tôi mời ông Chamberlain lãnh đạo Hạ viện với danh nghĩa là Chủ tịch Hội đồng, ông trả lời qua điện thoại là ông chấp nhận và chuẩn bị thông báo trên đài vào chín giờ tôi nay là ông đã từ chúc và yêu cầu mọi người ủng hộ và giúp đỡ người thay ông. Ông làm việc này với tinh thần cao cả. Tôi yêu cầu Huân tước Halifax tham gia Nội các Chiến tranh trong khi vẫn giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao. Vào khoảng 10 giờ tôi gửi lên nhà vua danh sách năm người như tôi đã hứa. Việc chỉ định ba bộ trưởng quân chủng là cực kỳ cấp thiết. Tôi đã quyết định trong đầu ba người đó phải là ai. Ông Eden phải về Bộ Chiến tranh, ông Alexander về Bộ Hải quân và Ngài Archibald Sinclain, lãnh tụ đảng Tự do phải nắm Bộ Không quân. Tôi đồng thời kiêm chức Bộ trưởng Quốc phòng mà không tìm cách định ra phạm vi và quyền hạn của Bộ này.

       
*

        Như vậy, rồi đây vào đêm ngày 10 tháng 5, khi trận cường chiến bắt đầu, tôi có được quyền lực chính của nhà nước mà từ nay trở đi tôi nắm và sử dụng trên một phạm vi không ngừng tăng trong 5 năm ba tháng của cuộc Chiến tranh Thế giới. Đến khi chiến tranh chấm đứt, tất cả các quân thù của chúng tôi đã đầu hàng vô điều kiện hoặc sắp sửa làm như vậy, thì ngay lập tức các cử tri người Anh không để tôi tiếp tục lãnh đạo các công việc của họ nữa.

        Trong những ngày bận rộn cuối cùng này của cuộc khủng hoảng chính trị, không lúc nào mạch tôi đập nhanh cả. Tôi chấp nhận mọi sự đã xảy ra. Nhưng tôi không thể giấu được độc giả chuyện kể thực là khi tôi lên giường ngủ vào lúc ba giờ sáng, tôi có một cảm giác sâu sắc về thư giãn. Rốt cuộc tôi đã có quyền ra những chỉ thị đối với mọi tình huống. Tôi cảm thấy như đang đi tới số phận, và toàn bộ cuộc đời quá khứ của tôi chỉ là một sự chuẩn bị cho giờ phút này, cho thử thách này. Mười năm với một chân dung mơ nhạt trên chính trường đã giải phóng tôi khỏi mọi sự đối địch tầm thường về đảng phái, sự cảnh báo của tôi trong sáu năm chót là rất nhiều, rất chi tiết và sự đúng đắn của nó được cực lực bảo vệ đến nỗi không ai có thể phủ định tôi được. Tôi cũng không thể bị chê trách là đã làm chiến tranh hoặc là đã không có chuẩn bị cho chiến tranh. Tôi nghĩ là tôi biết khá nhiều về tất cả mọi thứ và tôi tin là tôi không được thất bại. Bởi vậy, tuy bứt rứt, sốt ruột lúc ban mai, tôi ngủ ngon và không cần có những giấc mơ hoa. Sự việc tốt hơn là mơ mộng.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57 58 59 60 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM