Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Tám, 2019, 06:49:57 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 13 Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (197  (Đọc 28055 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #50 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 09:56:13 AM »

Bộ đội chủ lực Quân khu 2, bộ đội địa phương tỉnh Hoàng Liên Sơn trên các trận địa chốt phối hợp giữa bộ binh, pháo binh, dân quân tự vệ các xí nghiệp, hầm mỏ, lâm trường chiến đấu quyết liệt. Trung đoàn pháo binh 190 (Sư đoàn 345) được lệnh chi viện hỏa lực đã bắn dồn dập vào đội hình trung đoàn bộ binh cơ giới của địch trên đường 44. Trong khi đó, trên đường số 7, bộ đội ta chiến đấu dũng cảm, bẻ gãy các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Đại đội 2 Tiểu đoàn 15 công binh bí mật gài mìn dọc đường sắt ven sông Hồng đến làng Giàng… Trong cuộc chiến đấu trên mặt trận Hoàng Liên Sơn đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo, đạt hiệu suất chiến đấu cao như Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 98 (Sư đoàn 316), Đại đội 5 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 46 (Sư đoàn 326), Tiểu đoàn tự vệ tiểu khu Duyên Hải thị xã Lào Cai… Đó là các liệt sĩ Phạm Xuân Hân, Nguyễn Xuân Kim, Đỗ Duy Phu; các đồng chí Lê Đình Thịnh, Trần Nghiêm, Nguyễn Ngọc Hà… Những thắng lợi của các lực lượng vũ trang ta trên mặt trận Hoàng Liên Sơn góp phần đánh bại ý đồ đánh nhanh, chiếm nhanh, ngăn chặn bước tiến của quân Trung Quốc, giữ vững địa bàn chiến lược ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc.

Ở mặt trận Lai Châu (Quân khu 2), phía Trung Quốc huy động Quân đoàn 11 đánh vào Pa Nậm Cúm, Nậm Cáy, Nậm Xe; mục tiêu chính là thị trấn Phong Thổ. Sáng ngày 17-2, hai sư đoàn thuộc Quân đoàn 11 cùng lực lượng dân binh, có xe tăng và pháo binh hỗ trợ, chia làm ba mũi tiến vào Lai Châu. Ý đồ của quân Trung Quốc là nhanh chóng đánh chiếm Nậm Cáy, Mô Sy Câu và huyện lỵ Phong Thổ. Nếu có điều kiện phát triển đánh chiếm Sìn Hồ và thị xã Lai Châu. Các lực lượng vũ trang ta, từ bộ đội địa phương tỉnh, huyện, đến dân quân tự vệ và một số đơn vị chủ lực của Quân khu 2 tăng cường phối hợp cùng với nhân dân địa phương đánh trả quyết liệt.

Trên hướng Pa Nậm Cún - Mù San (huyện Phong Thổ), ngày 17-2, bộ đội ta chốt giữ các khu vực Ma Ly Pho, Mù San, Tà Phin kiên cường bám trụ chiến đấu suốt 4 ngày liền, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân Trung Quốc, ở Hổi Luông, Pa Tần (huyện Sìn Hồ), bộ đội địa phương chốt giữ các điểm cao 551, 800, 1262, kiên cường bám trụ trận địa chiến đấu.

Tại hướng Si Lơ Lầu, từ ngày 17 đến 20-2, lực lượng vũ trang địa phương đánh chặn quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Điển hình là Đại đội 3, Tiểu đoàn 907, Trung đoàn 471 tổ chức đánh tan nhiều đợt tiến công của quân Trung Quốc ở Pa Tần, giữ vững trận địa. Trong các trận chiến đấu đã xuất hiện nhiều gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu dũng cảm như các chiến sĩ Vũ Hồng Ca, Trần Đắc Trí, Nguyễn Tài Cừ, Hoàng Minh Phương…, góp phần vào thắng lợi của quân và dân ta trên mặt trận Lai Châu. Phát huy thế chủ động tiến công, ngày 20-2, lực lượng vũ trang ta ở Sìn Hồ, Phong Thổ liên tiếp đánh ở các khu vực Pa Nậm Cúm, Mù Sang, Malipho, Yoa Khao Chai, Pò Tô (cạnh đường số 6)…

Những ngày cuối tháng 2 và đầu tháng 3-1978, trên hướng Phong Thổ, Tiểu đoàn pháo binh 25 (Lai Châu) và 3 đại đội pháo 122, 85 mm của Trung đoàn 187 (Sư đoàn 316) liên tục chi viện cho Trung đoàn bộ binh 46 phản kích, giữ vững khu vực trận địa được giao. Sau chục ngày chiến đấu, các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, bộ đội biên phòng, dân quân du kích, tự vệ tại chỗ và cơ động của các xã, lâm trường, cơ quan, xí nghiệp đã bám sát địa bàn chiến đấu bằng nhiều hình thức. Các đơn vị chủ lực Quân khu 2 được cử đến tăng cường đã phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu quyết liệt. Nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, quân và dân Lai Châu và tây Hoàng Liên Sơn ở ngã ba Bình Lư - Than Uyên, hạn chế không cho quân Trung Quốc đánh vào sâu trong lãnh thổ nước ta.

Tại mặt trận Hà Tuyên (Hà Giang, Tuyên Quang) thuộc Quân khu 2, phía Trung Quốc huy động 2 sư đoàn và một số trung đoàn địa phương chia làm ba mũi tiến công vào các khu vực Thanh Thủy, Đồng Văn và Mèo Vạc (nay thuộc tỉnh Hà Giang). Quân và dân Hà Tuyên đã chiến đấu quyết liệt. Lực lượng công an nhân dân vũ trang ở các đồn Lũng Làn, Bản May, trạm Thanh Thủy, Đại đội 5 và Đại đội 3 cơ động của tỉnh chiến đấu liên tục. Trong hai ngày 17 và 18-2, cán bộ, chiến sĩ đồn Lũng Làn vận dụng cách đánh linh hoạt, giữ vững địa bàn. Trong khi đó, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân các xã Bản May, Xín Mần, Phố Bản (huyện Đồng Văn) liên tục đánh chặn, giữ vững địa bàn.

Ngày 18-2, phía Trung Quốc huy động bộ binh và pháo binh hỗ trợ mở cuộc tiến công vào các chốt của Đội tự vệ 884 Lâm trường Mèo Vạc và dân quân Thượng Phòng (huyện Mèo Vạc) trấn giữ. Sau hai ngày chiến đấu, Đội tự vệ 784 và dân quân xã Thượng Phòng đã bẻ gãy hàng chục đợt tiến công của quân Trung Quốc đông gấp nhiều lần.

Kiên quyết đánh trả các đợt tiến công của quân Trung Quốc, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng cùng dân quân tự vệ và nhân dân địa phương chiến đấu quyết liệt, lập chiến công sản xuất ở San Pun (Mèo Vạc), Bản Páng (Xín Mần), Thanh Thủy (Vị Xuyên), cá điểm cao 1.800, 1.785, mỏm Đồi Xanh… Hai trung đội thuộc Đại đội 10, Đại đội 11 (Trung đoàn 122) chốt giữ các chốt ở Tây Côn Lĩnh (Lao Chải) chiến đấu dũng cảm, bẻ gãy 22 đợt xung phong của quân Trung Quốc trong một ngày. Trung đoàn bộ binh 112 tổ chức phòng ngự ở khu vực Thanh Thủy đánh chặn quyết liệt các đợt tiến công quân Trung Quốc.

Điểm đáng lưu ý trên hướng Hà Tuyên là, để phối hợp với các đơn vị của ta chiến đấu trên các hướng khác, các lực lượng vũ trang Hà Tuyên đã chủ động tổ chức một số trận đánh vào lực lượng quân Trung Quốc ngay tại vị trí xuất phát tiến công của họ. Điển hình là các trận đánh của Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 122) tiến công quân Trung quốc ở điểm cao 1.875 (23-2-1979); Tiểu đoàn huyện Mèo Vạc tập kích quân Trung Quốc đột nhập xã Thượng Phùng và tập kích đồn Hòa Bình (25-2-1979).

Hướng ra mặt trận, nhiều đơn vị dân quân tự vệ và đồng bào các dân tộc hăng hái tham gia chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu như trung đội dân quân xã Thượng Phùng, Đại đội tự vệ 789 Lâm Trường Mèo Vạc… Trong khi đó, hàng vạn dân quân các huyện vùng thấp tình nguyện lên giúp đỡ bộ đội và dân quân tuyến trước đào đắp hàng chục kilômét hào giao thông, phục vụ chiến đấu. Các đội cứu thương, phẫu thuật cũng chuyển lên phía trước ngày đêm cứu chữa thương binh. Sau hơn chục ngày chiến đấu, quân và dân Hà Tuyên đánh trả quyết liệt quân Trung Quốc, bẻ gãy các mũi tiến công vào các huyện Mèo Vạc, Đồng Văn, Thanh Thủy, lập nhiều chiến công.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #51 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 09:56:38 AM »

Ở mặt trận Quảng Ninh, quân Trung Quốc huy động 2 sư đoàn bộ binh, chia làm hai mũi: một mũi tiến công vào Thán Phán (huyện Móng Cái) và một mũi tiến công vào Cao Ba Lanh (huyện Bình Liêu); đồng thời, dùng pháo bắn dữ dội vào thị xã Móng Cái và các khu vực Hoành Bồ, Đồng Văn, hòng phối hợp với cánh quân chủ yếu ở Lạng Sơn.

Trước cuộc tiến công của quân Trung Quốc, các lực lượng vũ trang tỉnh và các huyện Bình Liêu, Móng Cái, Tiên Yên anh dũng đánh trả. Ngày 17-2, Trung đoàn 48 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Ninh cùng tự vệ Lâm trường Bình Liêu, dân quân xã Đồng Văn đánh chặn quyết liệt cánh quân tiến vào Đồng Văn. Ở huyện Bình Liêu, cán bộ và chiến sĩ đồn Pò Hèn, tự vệ Lâm trường Hải Sơn dũng cảm đánh tan hàng chục đợt tiến công, giữ vững địa bàn. Ngày 19-2, Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương huyện Hải Ninh, tự vệ Lâm trường Móng Cái và dân quân các xã Thán Phán, Tàng Vinh, Lộc Phủ trấn giữ điểm cao 404 (xã thán Phán, huyện Hải Ninh), chiến đấu quyết liệt, đánh tan 8 đợt tiến công của một trung đoàn quân Trung Quốc.

Trong khi đó, các đơn vị bộ đội địa phương huyện trấn giữ các chốt phối hợp với lực lượng ở các đồn Hoành Bồ, Đồng Văn, Móng Cái; tự vệ các lâm trường Bình Liêu, Hải Sơn và dân quân tự vệ chiến đấu ngoan cường, giữ vững trận địa. Ngày 20-2, lực lượng vũ trang ta chiến đấu anh dũng, đánh tan một sư đoàn mở cuộc tiến công vào các khu vực Thán Phán, Pò Hén, Cao Ba Lanh. Cuối tháng 2-1979, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân chiến đấu quyết liệt, bẻ gãy các đợt tiến công vào các khu vực ngã ba Lục Tâm (tây bắc thị xã Móng Cái), Hoành Bồ, Cao Ba Lanh, Đồng Văn (huyện Bình Liêu). Ngày 1-3-1979, Đại đội 6 bộ đội biên phòng và tự vệ Lâm trường Bình Liêu, đánh chặn quyết liệt ở Hoành Bồ; đồng thời bộ đội ta đẩy lùi các đợt tiến công vào các điểm cao ở Cao Ba Lanh. Ngày 2-3, phía Trung Quốc tăng quân mở cuộc tiến công vào các điểm cao 500, 600, 781, hòng đánh vào khu vực Cao Ba Lanh. Bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ chiến đấu dũng cảm, đẩy lùi các đợt tiến công, buộc quân Trung Quốc phải rút về bên kia biên giới.

Để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ huy các lực lượng chiến đấu, đầu tháng 3-1979, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Mặt trận Quảng Ninh trên cơ sở tổ chức Bộ chỉ huy quân sự thống nhất được tăng cường. Đây là cơ quan chỉ huy chiến dịch ở hướng chiến lược quan trọng thuộc Quân khu 1, do Bộ Quốc phòng trực tiếp chỉ huy. Nhiệm vụ của Mặt trận Quảng Ninh là tổ chức phòng thủ vững chắc, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, chỉ huy các lực lượng vũ trang gồm bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, công an nhân dân, dân quân tự vệ, lực lượng hải quân ở khu vực Quảng Ninh; tổ chức thực hiện quân sự hóa toàn dân và vũ trang toàn dân bảo vệ Tổ quốc.

Như vậy, trải qua hơn 10 ngày chiến đấu, các lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Nhiều nơi, bộ đội địa phương, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ độc lập, hoặc phối hợp với bộ đội chủ lực quân khu chiến đấu ngay khi quân Trung Quốc vượt qua biên giới mở cuộc tiến công sang nước ta. Các trận chiến đấu diễn ra quyết liệt trên các mặt trận, điển hình là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai. Với cách đánh linh hoạt bằng các hình thức tập kích, phục kích, chia cắt, kết hợp đánh phía trước, đánh bên sườn và đánh phía sau, các lực lượng vũ trang ta đã bẻ gãy nhiều mũi tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm ý đồ đánh nhanh, chiếm nhanh các mục tiêu theo kế hoạch ban đầu, buộc quân Trung Quốc phải đưa lực lượng dự bị chiến lược vào hỗ trợ, cứu nguy cho lực lượng bị bao vây, cô lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai.

Tuy nhiên, do có ưu thế quân đông và nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, nên quân Trung Quốc đã tiến sâu vào nội địa ta trên một số hướng như Cao Bằng (từ 40-50 km), Lạng Sơn, Lào Cai (từ 10-15 km) và lần lượt chiếm các thị xã Lào Cai (19-2), Cao Bằng (24-2), Cam Đường (25-2), Lạng Sơn (5-3), thị trấn Phong Thổ (5-3) và một số địa bàn trên vùng biên giới phía Bắc sau khi ta chủ động chuyển lực lượng về tuyến sau.

Trên các hướng khác, không những ta đã đánh ngăn chặn, không chỉ gây tổn thất cho quân Trung Quốc mà còn đánh bật chúng về bên kia biên giới như Đình Lập (Lạng Sơn), Trà Lĩnh, Trùng Khánh (Cao Bằng), Thanh Thủy, Mèo Vạc, Đồng Văn (Hà Giang), Bình Liêu, Móng Cái (Quảng Ninh).

Quá trình diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu đã lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy quân va dân ta phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng vũ trang các Quân khu 1, 2 trực tiếp chiến đấu và điều động một bộ phận lực lượng của các quân khu, tỉnh phía sau lên tăng cường sức mạnh chiến đấu.

Ngay khi diễn ra cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc, Bộ Tổng tham mưu đã triệu tập tư lệnh các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng phổ biến tình hình, xác định nhiệm vụ mới và ra lệnh cho toàn quân chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Tiếp đó, Bộ ra lệnh điều động Sư đoàn bộ binh 327 (Quân khu 3), Sư đoàn 337 (Quân khu 4) cơ động lên Quân khu 1; đồng thời điều động 4 tiểu đoàn bộ đội địa phương thành phố Hà Nội lên mặt trận Lạng Sơn, 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương thành phố Hải Phòng lên mặt trận Quảng Ninh, 3 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Hà Sơn Bình lên mặt trận Hoàng Liên Sơn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #52 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 09:57:45 AM »

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, bộ tư lệnh các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng ở tuyến sau ra lệnh cho các cơ quan, đơn vị chuyển trạng thái bảo đảm 24/24 giờ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. cuối tháng 2-1979, Quân đoàn 1 điều động Sư đoàn bộ binh 390 và Trung đoàn bộ binh 209 thuộc Sư đoàn 312 lên Chi Lăng (Lạng Sơn), triển khai lực lượng, sẵn sàng cùng lực lượng vũ trang tại chỗ chiến đấu.

Đối với một số binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chủ trương chuyển dần lực lượng trở về nước chuẩn bị đối phó với tình hình khẩn trương trên các hướng trọng yếu ở biên giới phía Bắc. Thực hiện chủ trương đó, đầu tháng 3-1979, Quân đoàn 2 nhanh chóng chuyển toàn bộ lực lượng từ Campuchia về tập kết ở khu vực phía bắc Hà Nội bí mật, an toàn.

Trong khi đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không khẩn trương bố trí lực lượng trên các hướng chiến lược quan trọng. Sư đoàn 377 triển khai lực lượng bảo vệ khu vực công nghiệp Việt Trì, Lâm Thao (Phú Thọ) và cả sân bay Nội Bài, Yên Bái. Sư đoàn 365 bảo vệ khu vực phía Bắc Hà Nội, Sư đoàn 361 bảo vệ Thủ đô Hà Nội, Sư đoàn 363 bảo vệ thành phố Hải Phòng và Sư đoàn 369 làm nhiệm vụ ở mặt trận Quảng Ninh. Các sư đoàn phòng không xây dựng phương án độc lập tác chiến; đồng thời sẵn sàng phối hợp chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành, chống đổ bộ đường không, tập kích đường không.

Quân chủng Không quân lệnh cho Sư đoàn không quân 371 sẵn sàng cất cánh trên các hướng bảo vệ vùng trời phía bắc, đông bắc và tây bắc của Tổ quốc. Nhiệm vụ của bộ đội không quân là độc lập tác chiến, hoặc hiệp đồng với các lực lượng lục quân chiến đấu nếu quân Trung Quốc đánh sâu vào nội địa ta; đồng thời phối hợp với Quân chủng Hải quân bảo vệ vùng trời, hải đảo phía đông và vùng ven biển đông bắc của Tổ quốc.

Cùng thời gian này, các binh chủng Pháo binh, Công binh, Đặc công, Tăng - Thiết giáp, Hóa học, Thông tin liên lạc chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu cao nhất. Binh chủng Đặc công điều động Tiểu đoàn đặc công 45 lên Quân khu 1 và Tiểu đoàn đặc công 46 lên Quân khu 2. Binh chủng Thông tin chỉ đạo, chỉ huy Trung đoàn 134 quản lý và khai thác các trạm cơ vụ, các tuyến hữu tuyến điện chiến lược bảo đảm liên lạc từ Bộ đến các quân khu phía bắc và phục vụ Sở chỉ huy tiền phương Quân khu 1, Quân khu 2 chỉ đạo, chỉ huy các sư đoàn ở tuyến một chiến đấu.

Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật luôn bám sát tình hình, bảo đảm lương thực, vũ khí đạn dược, thuốc men… phục vụ kịp thời các đơn vị chiến đấu. Tổng cục Kỹ thuật cử 20 đội, tổ sửa chữa cơ động gồm hơn 300 cán bộ, nhân viên kỹ thuật đến các đơn vị, bảo đảm kỹ thuật, sửa chữa vũ khí, trang bị kỹ thuật, hướng dẫn các đơn vị sử dụng hiệu quả vũ khí, trang bị mới; đồng thời phối hợp với Tổng cục Hậu cần vận chuyển vũ khí đạn dược tới các căn cứ phía trước của Quân khu 1, Quân khu 2. Đối với các sư đoàn, trung đoàn tuyến trước đang chiến đấu quyết liệt, Tổng cục Kỹ thuật tổ chức vận chuyển vũ khí thẳng đến từng đơn vị, bảo đảm kịp thời cho bộ đội chiến đấu.

Nhằm phát huy sức mạnh cao độ tổng hợp của cả nước, ngày 4-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra lời kêu gọi quân và dân cả nước, trong đó nêu rõ: “Đồng bào và chiến sĩ cả nước hãy phát huy khí thế cách mạng, hăng hái thi đua lao động sản xuất với kỷ luật chặt chẽ và năng suất cao, chi viện nhiều nhất cho tiền tuyến, hăng hái luyện tập quân sự, nâng cao cảnh giác”(1); quyết tâm “giữ vững biên cương của Tổ quốc”(2).

Ngày 5-3, chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cùng ngày 5-3, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 83-CP quy định mọi công dân (nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi) có đủ điều kiện đều gia nhập dân quân du kích tự vệ; thực hiện chế độ làm việc và luyện tập quân sự, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Đáp lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Lệnh tổng động viên của chủ tịch nước, cả nước hết lòng hết sức chi viện cho cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu người chủ yếu là thanh niên ở hầu hết các tỉnh, thành phố đã tình nguyện đăng ký gia nhập lực lượng vũ trang, ra mặt trận lên tuyến trước xây dựng trận địa chống quân thù. Nhiều đoàn viên, thanh niên ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc, Phú Thọ), Hải Hưng (Hải Dương, Hưng Yên), Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình), Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh), Bình Trị Thiên (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế), Đắc Lắc (nay là Đắk Lắk, Đắk Nông), Gia Lai - Kon Tum (Gia Lai, Kon Tum), Phú Khánh (Phú Yên, Khánh Hòa)… đã viết đơn, trong đó có những thanh niên viết đơn bằng máu tình nguyện lên biên giới phía Bắc để được trực tiếp tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.

Trong quá trình diễn ra cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc, quân và dân ta tiếp tục nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng tiến bộ và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới. Các tổ chức quốc tế như Hội đồng hòa bình thế giới, Liên hiệp Công đoàn thế giới, Liên hiệp Thanh niên dân chủ thế giới… đều tuyên bố lên án hành động của Trung Quốc và kêu gọi ủng hộ Việt Nam. Hội nghị quốc tế khẩn cấp ủng hộ Việt Nam hợp ở Henxinhki (Thủ đô Phần Lan) từ ngày 6 đến 8-3-1979, gồm đại biểu hơn 100 nước và 30 tổ chức quốc tế tham dự lên án hành động gây chiến tranh, đòi Trung Quốc rút quân đội ra khỏi Việt Nam và đề ra chương trình hành động quốc tế đoàn kết, bảo vệ Việt Nam.


(1), (2) Báo Nhân dân, ngày 5-3-1979.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #53 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 09:58:09 AM »

Trước những đòn giáng trả mạnh mẽ, quyết liệt của quân và dân ta, bị tổn thất nặng nề và trước sự lên án lịch liệt của dự luận tiến bộ trên thế giới và trong nước, ngày 5-3-1979, Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Với truyền thống nhân nghĩa và lòng mong muốn củng cố hòa bình, hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Trung ương Đảng và Chính phủ ta chỉ thị cho các lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để Trung Quốc được yên ổn rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh về nước. Từ ngày 6-3-1979, phía Trung Quốc vừa rút quân, vừa đánh phá, gây nhiều thiệt hại và của đối với đồng bào ta ở các vùng Giáo San (Lai Châu), Sa Pa, Cam Đường (Hoàng Liên Sơn), Đông Khê, Thất Khê, Hòa An, thị xã Cao Bằng (Cao Bằng), thị trấn Lộc Bình (Lạng Sơn)… Nhiều nhà cao tầng, trường học, bệnh viện, cửa hàng và hàng nghìn ngôi nhà của nhân dân ở một số tỉnh biên giới, kể cả một số công trình văn hóa, lịch sử bị tàn phá. Hang Pác Bó, một di tích lịch sử thiêng liêng đối với các thế hệ người Việt Nam bị phá sập bằng bộc phá.

Trung tuần tháng 3-1979, chiến sự vẫn tiếp diễn ở ngã ba Khâu Đồn, Lò Gạch, Nà Cáp, Trả Lĩnh (Cao Bằng), Chi Ma (Lạng Sơn) và một số nơi thuộc các tỉnh Hoàng Liên Sơn, Lai Châu, Quảng Ninh, Hà Tiên. Đến ngày 18-3-1979, về cơ bản Trung quốc đã rút quân khỏi nước ta. Nhưng thực tế, phía Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số nơi thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên, có nơi sâu từ 300 đến 500 mét, thường xuyên gây xung đột vũ trang, làm cho tình hình luôn căng thẳng, kéo dài đến những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX.

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đề ra nhiệm vụ cho quân và dân ta là khẩn trương khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân; đồng thời gấp rút tăng cường khả năng phòng thủ tại chỗ, phát triển lực lượng vũ trang, đặc biệt là bộ đội chủ lực trên tất cả các hướng chiến lược ở biên giới phía Bắc. Tiếp theo việc thành lập Quân đoàn 5 (sau đổi thành Quân đoàn 14) trực thuộc Quân khu 1, ngày 16-4-1979, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Quân đoàn 6 (sau đổi thành Quân đoàn 29) thuộc Quân khu 2. Tiếp đó, ngày 16-7, thành lập Quân đoàn 8 - Binh đoàn Pắc Bó (sau đổi thành Quân đoàn 26) thuộc Quân khu 1. Việc thành lập các Quân đoàn 5, 6, 8 đánh dấu bước phát triển lớn về quy mô tổ chức lực lượng cấp quân khu. Với các quân đoàn binh chủng hợp thành, trang bị khá mạnh, sức đột kích lớn và sức cơ động cao, ta có khả năng mở các chiến dịch tiến công, phản công bằng lực lượng hợp thành quy mô lớn trên các hướng chiến lược quân khu, đánh tiêu diệt về chiến dịch, giữ vững địa bàn trọng yếu, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ vùng biên giới thiêng liêng của Tổ quốc.

Cùng với việc tổ chức và bố trí các Quân đoàn 5, 6, 8 trên địa bàn chiến lược Quân khu 1 và Quân khu 2, ngày 16-4-1979, Bộ Chính trị ra Quyết định số 769-NG/NS-TW thành lập Quân đoàn 7 trực thuộc Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Ngày 20-4-1979, Bộ Chí trị ra Quyết định số 700-QĐ/TW thành lập Đặc khu Quảng Ninh trên cơ sở tách tỉnh Quảng Ninh khỏi Quân khu 1, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ huy trước tiếp của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng. Thiếu tướng Nguyễn Anh Đệ làm Tư lệnh và Đại tá Nguyễn Trọng Yên làm Chính ủy.

Công việc xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trên cả nước, đặc biệt là trên địa bàn Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh được tăng cường nhanh chóng. Các Quân đoàn 1, 2, 3, 4, 7 trực thuộc Bộ và các Quân đoàn 5, 6, 8 trực thuộc Quân khu 1, Quân khu 2 nhanh chóng được kiện toàn về tổ chức biên chế, vũ khí trang bị, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng cơ động hoàn thành mọi nhiệm vụ trên các hướng chiến lược quan trọng của quân khu và trên phạm vi cả nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tiếp theo thắng lợi oanh liệt của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, quân và dân Việt Nam lại giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc. Thực tiễn cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc diễn ra từ ngày 17-2 đến ngày 18-3-1979 cho thấy: Tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, quân Trung Quốc mới sử dụng lực lượng lục quân ở các quân khu phía Nam, chưa dùng không quân, tên lửa, hải quân và chưa đánh sâu vào nội địa của ta. Chúng ta dựa vào lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 và một số đơn vị của quân khu, tỉnh tuyến sau (phần lớn là các đơn vị mới xây dựng), chưa huy động các binh đoàn cơ động chiến lược, các quân chủng Phòng không, Không quân, Hải quân và lực lượng chủ yếu của các binh chủng Pháo binh, Công binh, Đặc công, Tăng - Thiết giáp, Hóa học, Thông tin liên lạc.

Cuộc chiến tranh diễn ra trong một thời gian ngắn và phạm vi không rộng lắm. Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân, quân và dân ta trên tuyến đầu Tổ quốc đã kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vùng biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Chủ trương của ta là phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân địa phương, sử dụng lực lượng tại chỗ của Quân khu 1, Quân khu 2 là chính và tăng cường lực lượng của các quân khu, tỉnh phía sau hỗ trợ đánh tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh, kiên quyết ngăn chặn quân Trung Quốc tiến công, tạo điều kiện tổ chức phản công, tiến công ở vùng biên giới, không cho quân Trung Quốc mở rộng chiến tranh đánh sâu vào nội địa ta; đồng thời chuẩn bị cả nước sẵn sàng đối phó với tình huống chiến tranh mở rộng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #54 vào lúc: 27 Tháng Ba, 2016, 09:59:27 AM »

Tuy nhiên, trong quá trình chiến đấu, chúng ta cũng còn những hạn chế, thiếu sót: “Khi đối phương tiến công biên giới, thời gian đầu ta bị bất ngờ về tác chiến chiến lược (quy mô lực lượng và không gian tiến công của đối phương), bất ngờ cả về chiến dịch, chiến thuật, có nơi xe tăng đối phương vào sâu 10-12 km mới biết. Các tỉnh, huyện biên giới chưa có kế hoạch chuẩn bị sang thời chiến”(1). Một số đơn vị có lúc nắm địch chưa sát với tình hình cụ thể (mục tiêu, lực lượng sử dụng trên từng hướng…), vận dụng cách đánh chưa tốt, chưa kết hợp chặt chẽ cách đánh của bộ đội chủ lực với cách đánh của bộ đội địa phương, dân quân du kích, chưa kết hợp chặt chẽ phòng ngự kiên cường, vững chắc với tích cực phản công, tiến công phía trước với cơ động đánh bên sườn và sau lưng địch. Việc quản lý bộ đôi, quản lý vũ khí trang bị, giáo dục ý chí chiến đấu chưa tốt, duy trì kỷ luật chưa nghiêm. Một số cán bộ, chiến sĩ tự động rút lui khi chưa có lệnh, ảnh hưởng đến sức mạnh chiến đấu của một số đơn vị.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, chỉ huy của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 1, Quân khu 2, các đơn vị và địa phương trên vùng biên giới phía Bắc đã kịp thời rút kinh nghiệm qua từng trận chiến đấu và đề ra phương thức tác chiến phù hợp, chiến đấu hiệu quả; đồng thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương tuyến sau chuẩn bị mọi mặt, chi viện sức người, sức của cho các lực lượng vũ trang và nhân dân vùng biên giới phía Bắc chiến đấu, giành thắng lợi.

Kết quả, quân và dân ta đã gây tổn thất cho 9 quân đoàn chủ lực, loại khỏi vòng chiến đấu 62.500 quân (hơn 1/10 tổng quân số Trung Quốc huy động vào cuộc chiến tranh), tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng và xe bọc thép, phá hủy 115 khẩu pháo và cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự(2). “Như vậy, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược này, đối phương đã bị thất bại toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao. Thất bại ở chiến trường, ở trong nước họ và trên thế giới”(3).

Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc là thắng lợi bước đầu, nhưng có ý nghĩa rất to lớn cả về quân sự, chính trị và ngoại giao. Thắng lợi này khẳng định sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam, đặc biệt là sức mạnh của lực lượng vũ trang tại chỗ (gồm bộ đội chủ lực quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, công an nhân dân vũ trang, dân quân tự vệ), của chiến tranh nhân dân địa phương và sức mạnh của hậu phương cả nước trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Tóm lại, trong những năm đầu đất nước vừa thống nhất và thực hiện nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế, khắc phục những hậu quả nặng nề sau chiến tranh, quân và dân ta lại phải tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Quyết tâm bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, hoàn thành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, tiếp đó, giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trên biên giới phía Bắc.

Thắng lợi của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc thể hiện đường lối chính trị, quân sự đúng dắn của Đảng, trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo chiến lược tìa tình, sắc bén của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, kịp thời nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của đối tượng chiến lược cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng là đối tượng tác chiến của quân và dân ta. Trên cơ sở đó, chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân cùng toàn dân từng bước chuẩn bị mọi mặt đối phó. Như vậy, ta đã kịp thời chiến đấu ngay khi cuộc chiến tranh diễn ra trên toàn tuyến biên giới Tây Nam, sau đó diễn ra trên biên giới phía Bắc, từng bước ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực, phá hủy nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật và phương tiện chiến tranh, làm thất bại ý đồ gây chiến tranh của đối phương, đẩy Việt Nam vào tình thế luôn mất ổn định va suy yếu.

Thắng lợi này khẳng định ý chí của quân và dân ta, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, kiên cường chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cửa Tổ quốc trong những năm đầu đất nước thống nhất; đồng thời thể hiện sức mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân, nhất là lực lượng tại chỗ của chiến tranh nhân dân địa phương và sức mạnh to lớn của hậu phương cả nước. Qua cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc lần này, quân và dân ta đã trưởng thành, tích lũy được những kinh nghiệm về âm mưu, thủ đoạn của đối tượng tác chiến mới, vận dụng phương châm và phương thức tác chiến, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, chuẩn bị chiến trường, xây dựng thế trận, lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy tác chiến, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, kết hợp kinh tế với quốc phòng trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đây là cơ sở tạo tiền đề để quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong hoàn cảnh, điều kiện mới, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả đối với hai nước Lào và Campuchia anh em.


(1) Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết công tác chỉ huy tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2000), Sđd, tr. 53.
(2) Thông báo của Bộ Quốc phòng ngày 19-3-1979.
(3) Bộ Tổng tham mưu: Tổng kết công tác chủ trương tham mưu chiến lược trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-2000), Sđd, tr. 53.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #55 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 09:48:11 PM »

Chương II

TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG TIỀM LỰC QUÂN SỰ
VÀ THẾ TRẬN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN,
BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, TOÀN VẸN LÃNH THỔ CỦA TỔ QUỐC,
LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ
(1980-1985)

1. Củng cố và phát triển lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc

Thắng lợi liên tiếp của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc của quân và dân ta đã làm thất bại âm mưu thâm độc của bọn đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đối với cách mạng Việt Nam, khẳng định sức mạnh giữ nước của toàn dân, của các lực lượng vũ trang, đánh dấu bước phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy thất bại, nhưng các thế lực phản động quốc tế vẫn câu kết với đế quốc Mỹ ráo riết tiến hành kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt chống lại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và công cuộc lao động yên bình của nhân dân ta, hòng làm cho ta suy yếu. Đồng thời, luôn đe dọa sẽ phát động trở lại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn.

Mặc dù Trung Quốc đã rút quân về nước, nhưng tình hình trên vùng biên giới phía Bắc của Tổ quốc vẫn thường xuyên căng thẳng. Các cuộc xung đột vũ trang, các cuộc bắn pháo dữ dội và tiến công đánh chiếm một số địa bàn quan trọng trên lãnh thổ biên giới phía Bắc của ta vẫn liên tục diễn ra. Thế lực phản động được Mỹ tiếp sức gây chiến tranh phá hoại đối với Việt Nam trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa bằng nhiều thủ đoạn rất thâm độc, vừa trắng trợn, vừa ngấm ngầm; chúng phá ta trên nhiều mặt và từ mọi hướng. Trong khi đó, Mỹ vẫn thực hiện cấm vận, hối thúc Nhật Bản và các nước Tây Âu đình chỉ viện trợ cho Việt Nam, hòng thi hành chính sách cô lập Việt Nam trên trường quốc tế, chia rẽ nhân dân ba nước Đông Dương.

Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dân tộc Việt Nam phải đương đầu với vô vàn khó khăn và thử thách mới, khó khăn lớn nhất là nền kinh tế bị tàn phá sau gần 40 năm chiến tranh liên miên, mất cân đổi nghiêm trọng về nhiều mặt. Nhu cầu tối thiểu của một bộ phận nhân dân về đời sống không được đáp ứng. Lương thực là vấn đề hết sức căng thẳng, hàng tiêu dùng thiếu nghiêm trọng. Lợi dụng những khó khăn của ta, các thế lực thù địch tiến hành một cách liên tục và tìm chỗ sơ hở của ta để khoét sâu, nhằm phá con người và tổ chức, đặc biệt đối với các đơn vị, các ngành quan trọng. Chúng chia rẽ khối đoàn kết giữa các dân tộc, chia rẽ quần chúng với lãnh đạo, quân đội với nhân dân và xác định lực lượng vũ trang nhân dân ta là một đối tượng trọng điểm để phá hoại hòng làm cho lực lượng vũ trang nhân dân ta phải đối phó, không thể tập trung xây dựng cơ bản theo kế hoạch dài hạn, cơ sở vật chất bị tiêu mòn, giảm sức chiến đấu. Việc phá hoại của các thế lực thù địch tác động đến sự ổn định chính trị và quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế - xã hội đất nước ta.

Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương gắn nhiệm vụ bảo vệ đất nước với tăng nhanh tiềm lực kinh tế và quân sự, quốc phòng, kết hợp chặt chẽ xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Toàn quân, toàn dân thâu suốt quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, giữa nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, củng cố quốc phòng, sẵn sàng đánh bại chiến tranh xâm lược và mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, thực hiện “toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc.

Đảng ta xác định đường lối quân sự trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là: Tăng cường tiềm lực quân sự, trong đó tập trung xây dựng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang đủ sức để giữ vững hòa bình lâu dài cho Tổ quốc, sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân ta là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền của dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của Tổ quốc, bảo vệ nền chuyên chính vô sản, chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc lao động xây dựng đất nước của nhân dân, góp phần vào sự nghiệp cách mạng và hòa bình của nhân dân, góp phần vào sự nghiệp cách mạng và hòa bình ở Đông Dương, khu vực Đông Nam Á và thế giới. Toàn quân ta phải ra sức làm tốt nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, đồng thời làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế và thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia.

Đặc điểm của đất nước ta trong giai đoạn này là vừa có hòa bình, vừa phải đương đầu với kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, đồng thời sẵn sàng đối phó với nguy cơ chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Tình hình đó đòi hỏi đất nước ta phải khẩn trương chuẩn bị mọi mặt, trong đó tập trung củng cố, phát triển lực lượng vũ trang cả về quân số và tổ chức biên chế, trang bị, làm nòng cốt cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta chủ trương tập trung xây dựng lực lượng vũ trang có bộ đội chủ lực mạnh, có bộ đội địa phương và dân quân tự vệ rộng khắp, lực lượng dự bị hùng hậu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #56 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 09:51:26 PM »

Ngày 19-1-1980, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01/80-NQ-TW chỉ rõ nhiệm vụ quốc phòng trong thời gian tới: kiểm tra và chỉ đạo chặt chẽ công tác củng cố quốc phòng, sẵn sàng chiến đấu trên các hướng và các tuyến, chỉ đạo tốt việc tuyển quân, nâng cao hơn nữa chất lượng các lực lượng vũ trang; xây dựng đơn vị chủ lực cơ động đi đôi với phát triển và củng cố quân sự địa phương trên địa bàn các tỉnh, huyện và cơ sở. Động viên và tổ chức bộ đội xây dựng kinh tế, trước mắt tham gia giải quyết tốt vấn đề lương thực, thực phẩm, góp phần khắc phục khó khăn chung của Nhà nước.

Cùng trong tháng 1-1980, nhằm tăng cường lực lượng, Chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Lệnh số 15/LCT thành lập Quân đoàn 68 trực thuộc Quân khu 3 và Lệnh số 16/LCT thành lập Quân đoàn 34 trực thuộc Quân khu Thủ đô.

Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 19-5-1980, Quân ủy Trung ương ra Chỉ thị số 04/CT-QW về việc quán triệt đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã chỉ rõ: “Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh có lực lượng thường trực mạnh và lực lượng dự bị rộng rãi, được huấn luyện tốt; có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết, có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, có lực lượng dân quân tự vệ và lực lượng hậu bị hùng hậu”(1).

Thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Quân ủy Trung ương, lực lượng vũ trang nhân dân được củng cố, xây dựng cân đối, đồng bộ cả lực lượng thường trực và lực lượng dự bị, cả quân chủ lực và quân địa phương, có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng và lực lượng vũ trang quần chúng rộng khắp, tạo thành lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ bố trí hợp lý trên các hướng chiến lược.

Trong điều kiện hết sức khẩn trương, chúng ta vừa nhanh chóng xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, vừa điều chỉnh thế bố trí chiến lược, củng cố lực lượng vũ trang, đặc biệt là trên biên giới phía Bắc. Các quân khu, quân đoàn được củng cố về tổ chức biên chế, trang bị thêm nhiều vũ khí mới hiện đại. Bộ Quốc phòng tăng cường lực lượng cho Quân khu 1, Quân khu 2, tổ chức thêm Quân khu Thủ đô và 2 đặc khu (Đặc khu Quảng Ninh, Đặc Khu Vũng Tàu - Côn Đảo), thành lập 6 quân đoàn (5, 6, 7, 8, 34, 68)(2) và nhiều sư đoàn, lữ đoàn, trung đoàn binh chủng. Mỗi quân khu có một đến hai quân đoàn bố trí trên các hướng chiến lược. Quân đoàn 14 đảm nhiệm hướng Lạng Sơn. Quân đoàn 26 hướng Cao Bằng. Quân đoàn 29 hướng Lào Cai. Sở chỉ huy hỗ trợ của Quân khu 1 được tổ chức ở khu vực Đình Lập, Tiên Yên (giữa Lạng Sơn và Quảng Ninh). Các Quân đoàn 1, 2, 3 là lực lượng dự bị chiến lược đảm nhiệm cơ động phía sau.

Chủ trương của Đảng là xây dựng bộ đội chủ lực mạnh, chính quy hiện đại, thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để xây dựng lực lượng chủ động tinh nhuệ có khả năng nhanh chóng xử lý các tình huống, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắn lợi, ta thành lập thêm nhiều đơn vị chủ lực, trang bị vũ khí hiện đại với nhiều đơn vị binh chủng, bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu chiến tranh ngày càng mở rộng.

Các sư đoàn bộ binh thuộc các Quân đoàn 1, 2, 3, 4 được tổ chức thành sư đoàn bộ binh mạnh, bổ sung quân số trang bị thêm xe và vũ khí mới, tăng thêm hỏa lực và sức cơ động. So với các sư đoàn bộ binh cũ thì số lượng đầu nòng pháo, cối của sư đoàn bộ binh biên chế mới tăng gấp ba lần. Sư đoàn bộ binh ở tuyến một được củng cố và trang bị thêm nhiều vũ khí, khí tài mới. Các Quân đoàn 1, 2, 3 thực hiện huấn luyện, xây dựng chính quy, sẵn sàng cơ động chiến đấu trên các hướng trọng yếu thuộc địa bàn Quân khu 1 và Quân khu 2. Quân đoàn 4 đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia cũng được củng cố, bổ sung quân số, đổi mới và trang bị thêm vũ khí mới. Đặc biệt là các quân đoàn đã tập trung xây dựng sư đoàn bộ binh cơ giới. Quân đoàn 1 xây dựng Sư đoàn 308, Quân đoàn 2 xây dựng Sư đoàn 304 và Quân đoàn 3 xây dựng Sư đoàn 320 thành sư đoàn bộ binh cơ giới(3) gồm nhiều thành phần binh chủng, trang bị nhiều vũ khí, phương tiện hiện đại, có khả năng cơ động cao, chiến đấu trên các địa hình thời tiết phức tạp trong chiến tranh hiện đại.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 408.
(2) Ngày 18-1-1980, Bộ Quốc phòng quyết định đổi phiên hiệu Quân đoàn 5 thành Quân đoàn 14, Quân đoàn 6 thành Quân đoàn 29, Quân đoàn 7 thành Quân đoàn 65, Quân đoàn 8 thành Quân đoàn 26. Ngày 25-1-1980, Quân khu Thủ đô thành lập Quân đoàn 34, Quân đoàn 3 thành lập Quân đoàn 68 (khung dự bị động viên).
(3) Sư đoàn bộ binh 308 (Quân đoàn 1), Sư đoàn bộ binh 304 (Quân đoàn 2) là 2 sư đoàn đầu tiên của Quân đội ta được xây dựng thành Sư đoàn bộ binh cơ giới kể từ ngày 22-8-1979. Tiếp đó, ngày 8-1-1981, Sư đoàn bộ binh 320 (Quân đoàn 3) được xây dựng thành sư đoàn bộ binh cơ giới thứ ba của quân đội ta.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #57 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 09:52:34 PM »

Các quân chủng, binh chủng được củng cố, phát triển lực lượng và trang bị vũ khí, khí tài hiện đại phù hợp với yêu cầu tác chiến mới. Quân chủng Phòng không thành lập thêm Lữ đoàn phòng không 378 bảo vệ khu vực Cam Ranh, nâng hai trung đoàn tên lửa 236 và 255 thành 2 lữ đoàn tên lửa hỗn hợp trang bị hệ thống chỉ huy tự động (trực thuộc Sư đoàn phòng không 361 và 363) bảo vệ hai khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Đồng thời, thành lập 4 trung đoàn tên lửa (281, 351, 253, 258), nâng số trung đoàn tên lửa từ 10 lên 14 trung đoàn. Đây là thời kỳ lực lượng phòng không phát triển nhanh, trang bị nhiều vũ khí, khí tài hiện đại, hỏa lực phòng không được bố trí nhiều tầng, cánh sóng ra đa vươn rộng đủ sức bảo vệ vững chắc bầu trời Tổ quốc(1).

Quân chủng Không quân thành lập Trung đoàn không quân hải quân 954 và 6 tiểu đoàn bảo đảm thông tin ra đa hoạt động ở các sân bay Vĩnh Phúc, Kép, Yên Bái, Thọ Xuân, Kiến An, Đà Nẵng. Quân chủng được trang bị thêm nhiều máy bay chiến đấu hiện đại hoạt động trong điều kiện thời tiết phức tạp. Quân chủng còn tổ chức chấn chỉnh hệ thống sở chỉ huy chiến đấu từ quân chủng đến các trung đoàn bay và các ga hàng không quân sự trong quân chủng; đồng thời củng cố, mở rộng nhiều sân bay, xây dựng mới 5 sân bay ở phía bắc, sẵn sàng đánh ngay từ tuyến đầu và phối hợp với Quân chủng Phòng không, Quân chủng Hải quân bảo vệ vùng trời, vùng biển, thềm lục địa của cả nước.

Quân chủng Hải quân thành lập Lữ đoàn tàu tên lửa phóng lôi 162, căn cứ Hạ Long, cảng quân sự Cửa Hội trực thuộc Vùng 1, căn cứ 305 trực thuộc Vùng 5, Hải đội tàu vận tải 384, Hải đội đặc biệt 182, chấn chỉnh Hạm đội 171 thành Lữ đoàn 171. Quân chủng được trang bị nhiều tàu tên lửa phóng lôi, chống ngầm, tàu ngầm, tàu tuần tiễu, quét mìn, đổ bộ, đo đạc có khả năng mở rộng phạm vi bảo vệ hải phận.

Binh chủng Pháo binh thành lập 2 lữ đoàn tên lửa đất đối đất 380 và 490 trang bị tên lửa 8K.14E (hai lữ đoàn tên lửa đất đối đất đầu tiên của quân đội ta); đồng thời kiện toàn các lữ đoàn pháo dự bị chiến lược và trang bị nhiều loại pháo dã chiến mới, nhiều giàn hỏa tiễn hiện đại có sức cơ động nhanh, tiêu diệt có hiệu quả nhiều cụm mục tiêu lớn trong mọi điều kiện khí tượng phức tạp.

Binh chủng Công binh chuyển 2 trung đoàn công binh công trình 229 và 279 thành 2 lữ đoàn. Trung đoàn 289 thành lữ đoàn 289 và làm nhiệm vụ nòng cốt xây dựng và sửa chữa sân bay, khôi phục Lữ đoàn cầu đường 38RG thành lữ đoàn làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu... Binh chủng được trang bị thêm phà tự hành và nhiều thiết bị hiện đại bảo đảm chiến đấu cho các lực lượng vũ trang, tăng khả năng cơ động của các binh đoàn chủ lực và các quân chủng, binh chủng trong chiến tranh hiện đại.

Binh chủng Thông tin liên lạc thành lập Trung đoàn vô tuyến tiếp sức đối lưu 612, chuyển các Trung đoàn 205, 134, 396 thành các lữ đoàn. Binh chủng được trang bị các khí dài thông tin đối lưu, tiếp ức, mạng thu phát vô tuyến công suất lớn, bảo đảm chỉ huy chiến đấu. Sự phát triển về tổ chức, trang bị đánh dấu bước trưởng thành của Binh chủng Thông tin liên lạc, tạo sự chuyển biến về quản lý, bảo đảm chỉ huy chiến đấu thắng lợi.

Binh chủng Tăng - Thiết giáp tiếp tục chấn chỉnh các trung đoàn, chuyển xưởng sửa chữa X.32 thành tiểu đoàn sửa chữa cơ động phục vụ các đơn vị thiết giáp toàn quân và củng cố, xây dựng 3 trường bắn (Cam Lâm, Hòa Thạch, Phước Hòa) trang bị thiết bị hiện đại phục vụ huấn luyện. Binh chủng được trang bị thêm nhiều xe tăng T.55 cải tiến hiện đại hơn.

Binh chủng Đặc công thành lập thêm 7 trung đoàn đặc công tăng cường cho Quân khu 1 và Quân khu 2, kiện toàn Trung đoàn 112 làm nhiệm vụ huấn luyện chiến sĩ mới bổ sung cho các đơn vị dặc công toàn quân. Tháng 5-1982, bộ điều Trung đoàn 117 (Bộ Tư lệnh 470 về trực thuộc Bộ Tư lệnh Đặc công xây dựng thành trung đoàn huấn luyện chiến sĩ mới ở phía Nam, đưa lực lượng đặc công toàn quân lên 10 trung đoàn và tương đương, nhiều đại đội đặc công thuộc các tỉnh, huyện.

Binh chủng Hóa học cũng có bước phát triển mới về tổ chức, lực lượng và trang bị kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang nhân dân phòng chống có hiệu quả các loại vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân của địch. Các cơ quan và phân đội hóa học trực thuộc quân khu, quân đoàn được kiện toàn. Binh chủng tổ chức Trung đoàn phòng hóa 86, phát triển 6 tiểu đoàn hóa học ở Quân khu 1, Quân khu 2 và Đặc khu Quảng Ninh. Lực lượng hóa học các quân khu, quân đoàn, sư đoàn triển khai ở các hướng quan trọng làm nòng cốt cho công tác phòng chống vũ khí hóa học.

Bộ đội biên phòng được tăng cường lực lượng tại chỗ và lực lượng cơ động gắn với hoạt động và nhiệm vụ quân sự của địa phương, tổ chức thêm Trung đoàn 695 (Lạng Sơn), Trung đoàn 694 (Cao Bằng), 7 tiểu đoàn và nhiều đại đội cơ động, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, bờ biển và hải đảo của Tổ quốc.


(1) So với năm 1978, lực lượng phòng không năm 1985 tăng từ 4 sư đoàn lên 10 sư đoàn, lữ đoàn, đưa số trung đoàn tên lửa và trung đoàn pháo phòng không tăng lên gần 3 lần.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #58 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 09:54:39 PM »

Trong thời gian ngắn, ta xây dựng được lực lượng bộ đội chủ lực rất lớn, đáp ứng yêu cầu cấp bách của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong công tác xây dựng lực lượng chủ lực sau một vài năm do quân số tăng lên quá đông(1) đã tác động đến kinh tế đất nước. Công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật chưa đáp ứng với yêu cầu sinh hoạt và chiến đấu của bộ đội.

Trước tình hình đó, ta chủ trương điều chỉnh quân số thích hợp. Đối với lực lượng chủ lực ta chủ trương từ năm 1981 giảm dần quân số, nhưng vẫn duy trì đầu mối đơn vị cho phù hợp với tình hình thực tiễn, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Trên các hướng biên giới phía Bắc, mỗi sư đoàn và trung đoàn đều giải thể các đơn vị trung đoàn và tiểu đoàn thứ tư, thực hiện biên chế rút gọn đối với các sư đoàn bộ binh, các trung đoàn binh chủng phía sau. Kết quả trong 5 năm (1981-1985) ta giảm được 34 vạn quân nhưng vẫn bảo đảm giữ được các đầu mối tổ chức thuộc Bộ. Đồng thời, bố trí lực lượng cân đối, hợp lý trên các hướng chiến lược.

Cùng với sự phát triển tăng nhanh lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương cũng có bước phát triển mới về số lượng, quy mô tổ chức và trang bị. Các địa phương trong cả nước đã gắn nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế với củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, xây dựng các lực lượng vũ trang địa phương, củng cố hệ thống làng xã chiến đấu, triển khai xây dựng pháo đài quân sự huyện, xây dựng các tuyến phòng thủ vững chắc. Căn cứ vào đặc điểm, vị trí và nhiệm vụ của từng địa phương trong hệ thống quốc phòng và thế trận chung của cả nước, các địa phương đã xây dựng, phát triển bộ đội địa phương đủ sức bảo vệ địa phương và góp phần tích cực vào việc bảo vệ cả nước.

Trước yêu cầu phát triển liên tục chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, công tác xây dựng quân đội nói chung, xây dựng lực lượng quân sự địa phươg nói riêng được đẩy mạnh. Bộ Tổng tham mưu và Bộ Quốc phòng chỉ đạo chấn chỉnh tổ chức lực lượng, ổn định và tăng cường công tác quân sự địa phương. Bộ đội địa phương của quân khu được tăng nhanh quân số và mở rộng về quy mô, thực hiện phòng giữ và chiến đấu tại chỗ, hỗ trợ đắc lực cho quân chủ lực chiến đấu, bảo vệ biên giới Tổ quốc. Mỗi tỉnh biên giới tổ chức 1 đến 2 trung đoàn, tỉnh tuyến hai 1 trung đoàn, huyện kế cận có 1 tiểu đoàn hoặc 2 đến 10 đại đội. Năm 1984, bộ đội địa phương có 17 trung đoàn, 69 tiểu đoàn, 74 đại đội (trong đó có 7 trung đoàn, 37 tiểu đoàn, 20 đại đội ở các tỉnh, huyện biên giới phía Bắc). Bên cạnh đó có 34 trung đoàn, 170 tiểu đoàn, 175 đại đội khung thường trực sẵn sàng khôi phục đủ quân số khi có chiến tranh.

Đi đôi với việc xây dựng lực lượng thường trực đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ công cuộc lao động hòa bình của nhân dân, lực lượng dự bị, dân quân tự vệ trong cả nước được khẩn trương xây dựng, đáp ứng yêu cầu sẵn sàng chiến đấu, mở rộng quân đội khi cần thiết.

Dân quân tự vệ có bước phát triển mới về quy mô tổ chức, về số lượng và trang bị. Với chức năng vừa lao động sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, dân quân tự vệ là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân, là công cụ bạo lực của Đảng và chính quyền cơ sở, có vai trò nòng cốt cả trong sản xuất, quốc phòng và an ninh nên được tổ chức, quản lý chặt chẽ, huấn luyện chu đáo, có kế hoạch tập trung thống nhất và được nâng cao chất lượng về mọi mặt. Đầu những năm thập kỷ 80 của thế kỷ XX, lực lượng dân quân tự vệ có bước chuyển biến quan trọng. Bên cạnh những đơn vị dân quân xã, phường, tự vệ nhà máy, xí nghiệp, dân quân tự vệ binh chủng đã xuất hiện một hình thức mới: tổ chức trung đội dân quân tập trung ở các xã trọng điểm trên tuyến biên giới và các đảo, ven bờ biển. Trên tuyến biên giới, nhiều nơi lực lượng dân quân tự vệ đã bảo vệ được cơ sở để bộ đội chủ lực tập trung làm nhiệm vụ cơ động.

Trong giai đoạn này, dân quân tự vệ phát huy được vị trí chiến lược, xung kích trong lao động sản xuất và cùng công an nhân dân bảo vệ trị an nội địa, tích cực tham gia truy quét Fulro ở Tây Nguyên, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, phối hợp với bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực đánh thắng địch, bảo vệ biên giới Tổ quốc. Trong chiến tranh biên giới, ta tăng cường, phát triển lực lượng dân quân tự vệ ở các địa phương nhất là là ở các tỉnh, huyện biên giới phía Bắc và vùng biển. Ta đưa hàng vạn lao động từ miền xuôi lên miền núi, biên giới và tổ chức các đơn vị tự vệ trong các đơn vị hành chính. Dân quân tự vệ được chú trọng củng cố, nên chuyển biến cả về số lượng và tăng cường chất lượng. Năm 1983, lực lượng dân quân tự vệ có 4.892.308 người tổ chức thành 4 sư đoàn, 99 trung đoàn, 1.217 tiểu đoàn, 17.843 đại đội, trang bị 660.897 súng các loại (trong đó có 6.219 khẩu pháo mặt đất, súng cối và súng phòng không). Riêng các huyện biên giới phía Bắc, dân quân tự vệ của Quân khu 1 và Quân khu 2, lực lượng và trang bị tăng gấp 3 lần so với năm 1977.


(1) Tổng quân số tăng gần gấp đôi, từ 92,8 vạn cuối năm 1976 tăng lên 1,6 triệu trong năm 1981.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8677


Lính của PTL


« Trả lời #59 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2016, 09:55:09 PM »

Các xã vùng trung du, đồng bằng ven biển tổ chức đại đội dân quân cơ động, cụm chiến đấu liên hoàn, tiểu đoàn cơ động. Các xã trọng điểm ven biển từ bắc Quân khu 4 trở ra có các phân đội dân quân pháo bờ biển, phân đội pháo phòng không, không thoát ly sản xuất. Hầu hết các xã đều có phân đội dân quân thường trực làm nhiệm vụ an ninh, quốc phòng. Các hợp tác xã đánh cá, vận tải trên biển tổ chức hải đội dân quân. Ở vùng đồng bằng ven biển miền Nam có tiểu đội, trung đội dân quân tại ấp, trung đội hoặc đại đội dân quân cơ động xã. Một số xã xây dựng phân đội dân quân trong các tập đoàn đánh cá biển. Các thành phố, khu công nghiệp, lực lượng tự vệ phát triển ở các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ, nông trường, lâm trường, công trình giao thông vận tải. Một số nhà máy, hầm mỏ, nông trường, lâm trường, tự vệ được tổ chức đến quy mô trung đoàn bộ binh, có nơi tổ chức lữ đoàn (Hải Phòng), hoặc sư đoàn (mỏ than Hòn Gai, Khu gang thép Thái Nguyên). Các cơ sở quốc doanh đánh cá, vận tải biển trung ương và địa phương thành lập 9 hải đoàn tự vệ. Cục Quân sự địa phương đổi thành Cục Dân quân tự vệ.

Đối với quân dự bị được xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ và huấn luyện chu đáo. Đây là lực lượng hùng hậu sẵn sàng bổ sung quân số cho lực lượng thường trực khi cần thiết. Đảng ta luôn chủ trương kết hợp xây dựng cả lực lượng thường trực và lực lượng dự bị. Lực lượng dự bị là toàn thể quân nhân dự bị và phương tiện đã được lựa chọn, chuẩn bị sẵn sàng đáp ứng yêu cầu động viên về người và phương tiện theo kế hoạch động viên. Thời bình, lực lượng dự bị động viên được đăng ký quản lý thành đơn vị huấn luyện theo chương trình quy định. Khi có lệnh động viên, lực lượng này được huy động để khôi phục và mở rộng lực lượng quân đội theo tổ chức biên chế thời chiến.

Bộ Quốc phòng giúp Chính phủ, Nhà nước quản lý lực lượng dự bị động viên, hướng dẫn, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế - xã hội trong việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên. Tư lệnh các quân khu giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng và huy động lực lượng dự bị động viên của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trên địa bàn quân khu. Các quân khu thành lập khung trung đoàn, sư đoàn làm nhiệm vụ đăng ký, huấn luyện, quản lý quân dự bị và huấn luyện chiến sĩ mới trực thuộc bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Đến năm 1983, lực lượng dự bị động viên có 16 khung sư đoàn trực thuộc các Quân khu 3, 4, 5, 7, 9; 28 khung trung đoàn trực thuộc bộ chỉ huy quân sự các tỉnh; 85 khung tiểu đoàn, 245 khung đại đội trực thuộc ban chỉ huy quân sự các huyện và có hàng vạn quân dự bị được đăng ký. Đây là lực lượng hùng hậu bổ sung cho quân đội thường trực, đáp ứng yêu cầu mở rộng xây dựng các quân chủng, binh chủng trong giai đoạn cách mạng mới.

Các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng được chấn chỉnh và tổ chức thêm một số đơn vị mới. Ngày 26-4-1980, thành lập Cục Chính trị của các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị. Tổng Cục chính trị thành lập Cục Chính sách, Cục Cán bộ chính trị và nâng Phòng Quản lý thành Cục Quản lý, Cục Địch vận đổi tên thành Cục Tuyên truyền đặc biệt. Nhằm tăng cường quản lý nhà nước về xuát bản trong toàn quân, ngày 7-8-1982, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 1217/QĐ-QP thành lập Cục Xuất bản trực thuộc Bộ Quốc phòng, đồng thời là Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Cơ quan chức năng này đã giúp đỡ Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị tăng cường hiệu lực chỉ đạo, quản lý xuất bản, in phát hành trong toàn quân, bảo đảm đúng định hướng chính trị, giữ bí mật, góp phần đấu tranh bảo vệ trận địa tư tưởng và môi trường văn hóa quân đội trong sạch, lành mạnh.

Tổng cục Kỹ thuật chấn chỉnh Viện, Phân viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, cơ quan kỹ thuật Mặt trận 719, Cục Vũ khí đạn, Trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật ôtô và Trường sĩ quan chỉ huy kỹ thuật vũ khí đạn. Hệ thống các viện, bệnh viện, kho, trạm, xưởng trực thuộc Tổng cục Kỹ thuật được thành lập, kiện toàn, phục vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu.

Cùng thời gian này, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần và các cơ quan trực thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện chấn chỉnh về tổ chức biên chế, nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Việc xây dựng quân đội với số lượng lớn (tổng số quân năm 1981 tăng 6% so với năm 1980) đặt ra nhu cùa mới về bảo đảm vật chất. Do nền kinh tế đất nước có nhiều khó khăn, sản xuất chưa phát triển, nhiều mặt mất cân đối, nhất là lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vận tải, tài chính, mức cung cấp thực phẩm cho quân đội giảm 30%, đời sống của bộ đội và các lực lượng vũ trang nhân dân rất khó khăn, gian khổ. Giá cả thị trường không ổn định, tác động trực tiếp đến việc đảm bảo cho các lực lượng vũ trang trong quản lý và xây dựng đơn vị.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM