Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 11:47:40 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử quân sự Việt Nam - Tập 13 Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (197  (Đọc 29468 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #100 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:44:58 PM »

Chương III

TỪNG BƯỚC ĐỔI MỚI VỀ XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ
VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG, ĐÁP ỨNG NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC
(1986-2000)

1. Thực hiện đổi mới về xây dựng khu vực phòng thủ và xây dựng lực lượng, hoàn thành nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia và Lào.

Mười năm kể từ khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV và thứ V của Đảng, quân và dân cả nước khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, xây dựng kinh tế đất nước; đồng thời, thực hiện nhiệm vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng Lào và Campuchia, làm thất bại kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sang giai đoạn mới, cách mạng nước ta tiếp tục phát triển trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều biến động. Tình hình thế giới có những chuyển biến mạnh mẽ ảnh hưởng đến cách mạng Việt Nam. Các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Liên Xô đang thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ chế quản lý bằng một cuộc cải tổ rộng lớn. Chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ vẫn không từ bỏ chính sạch chạy đua vũ trang, nhất là vũ khí hạt nhân, gây ra những cuộc xung đột cục bộ, phản kích các lực lượng cách mạng và hòa bình. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chống phá cách mạng ba nước Đông Dương. Chúng dùng mọi thủ đoạn nham hiểm phá hoại, hòng làm suy yếu, gây mất ổn định, chia rẽ tình đoàn kết trong xây dựng, phát triển đất nước và liên minh chiến đấu bảo vệ nền độc lập của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia.

Nhân dân Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong 10 năm (1975-1985) xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng tình hình kinh tế, xã hội của đất nước vẫn còn nhiều khó khăn. Nền kinh tế quốc dân trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Sự chỉ đạo quản lý kinh tế, xã hội có những mặt yếu kém và phạm thiếu sót, sai lầm. Sức sản xuất tăng chậm, không tương xứng với khả năng và công sức bỏ ra. Một số chỉ tiêu về sản xuất lương thực, xi măng, khai thác gỗ xuất khẩu không đạt kế hoạch. Lưu thông phân phối rối ren, giá cả tăng nhanh, lạm phát lớn. Hiện tượng tiêu cực trong xã hội có chiều hướng lan tràn do kỷ cương pháp luật không nghiêm. Thực trạng kinh tế, xã hội phức tạp đã tác động lớn đến đời sống của nhân dân. Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, lực lượng vũ trang hết sức khó khăn. Tình hình tiêu cực xã hội diễn biến phức tạp kéo dài.

Trong thời gian này, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa vụ quốc tế của các lực lượng vũ trang và nhân dân Việt nam đã giành được những thắng lợi to lớn. Quân và dân ta làm thất bại một bước quan trọng âm mưu phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, nền quốc phòng toàn dân được củng cố, lực lượng vũ trang nhân dân được xây dựng và phát triển, sức chiến đấu không ngừng nâng cao. Trên biên giới phía Bắc, quân dân ta xây dựng thế trận phòng thủ ngày càng vững chắc, chiến đấu dũng cảm và có hiệu quả, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ vùng biên giới của Tổ quốc. Đồng thời thực hiện nhiệm vụ truy quét, tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận lực lượng phản động Fulrro ẩn náu ở vùng Tây Nguyên, bắt gọn nhiều nhóm phản động khác, đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Công cuộc xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt được những kết quả đáng kể trên các mặt: Củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, củng cố cơ sở chính trị ở những địa bàn xung yếu, xây dựng lực lượng dự bị động viên. Quân đội nhân dân có bước phát triển theo hướng chính quy, hiện đại, sức mạnh chiến đấu được nâng cao. Lực lượng dân quân tự vệ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, huy động lực lượng quân đội tham gia xây dựng kinh tế, nhất là xây dựng các công trình công nghiệp và tuyến đường giao thông chiến lược quan trọng. Những thành tựu đó bắt nguồn từ đường lối cách mạng, đường lối quân sự được xác định đúng đắn kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, lần thứ V của Đảng và tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất; dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu của quân và dân ta. Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải ra sức phát huy truyền thống vẻ vang, biến chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến tranh giải phóng thành chủ nghĩa anh hùng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới; khắc phục thiếu sót, nhược điểm, thúc đẩy sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến lên một bước mới, ổn định cơ bản tình hình kinh tế và phát triển một cách năng động. Đồng thời, quân và dân ta phải thường xuyên nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ vững chắc đất liền, vùng trời, vùng biển đảo và biên cương của Tổ quốc.

Cách mạng nước ta có những nhân tố thuận lợi mới, nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn gay gắt. Do đó, việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước là nhân tố đặc biệt quan trọng. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, ngày 21-7-1986, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa V) đã ra Nghị quyết ố 33-NQ/TW Về nhiệm vụ quốc phòng 5 năm (1986-1990), chỉ rõ: “Bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Đó là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước”(1).

Về nhiệm vụ quốc phòng những năm 1985-1990, Nghị quyết Bộ Chính trị nhấn mạnh một số vẫn đề: Phát huy sức mạnh tổng hợp của quân và dân cả nước, phối hợp với cách mạng Campuchia, cách mạng Lào, giành cho được thắng lợi to lớn trên các hướng chiến trường, tạo nên thế và lực vững chắc hơn cho cách mạng ba nước, ra sức nâng cao nền quốc phòng toàn dân và xây dựng hậu phương chiến lược vững mạnh, nâng cao chất lượng các lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội chính quy ngày càng hiện đại, đạt cho được một chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng tổng hợp, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế; đẩy mạnh xây dựng hệ thống công nghiệp quốc phòng(2).

Nghị quyết Bộ Chính trị là định hướng lớn, giúp cho các cấp ủy và tổ chức Đảng trong toàn quốc, nhất là Đảng bộ Quân đội thảo luận và quyết định ở Đại hội Đảng toàn quân và lãnh đạo xây dựng quân đội về mọi mặt trong những năm 1986-1990.


(1) Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, t.III, (1975-1985), tr.267.
(2) Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, t.III, (1975-1985), tr.269-270.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #101 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:46:09 PM »

Tiếp theo Nghị quyết Bộ Chính trị, cuối năm 1986, một sự kiện chính trị quan trọng của đất nước đã diễn ra. Đó là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, được tổ chức tại Hà Nội, từ ngày 15 đến ngày 18-12-1980. Trên cơ sở “nhìn thẳng vào sự tật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, làm rõ những thắng lợi, đồng thời nêu rõ những mặt yếu kém, sai lầm và khuyết điểm, phân tích sâu sắc nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện của đất nước Đổi mới tư duy, đổi mới quản lý kinh tế, đổi mới tổ chức cán bộ và đổi mới phong cách lãnh đạo, trước tiến là đổi mới tư duy về kinh tế để đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta tiếp tục tiến lên vững chắc.

Về nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh, Đại hội nêu rõ: “Chúng ta phải thấu suốt và thực hiện đúng quan điểm “Toàn dân xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc”, “Toàn quân bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước”, kiên trì chấp hành và cụ thể hóa đường lối quân sự của Đảng trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chuyên chính vô sản, sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kết hợp chặt chẽ kinh tế, quốc phòng và an ninh, đẩy mạnh công cuộc xây dựng nền quốc phòng và an ninh toàn dân, xây dựng hậu phương đất nước một cách toàn diện”(1).

Đối với nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân, Đại hội quyết nghị: “Xây dựng quân đội nhân dân chính quy, ngày càng hiện đại, có chất lượng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức họp lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu và sức chiến đấu cao. Tổ chức tốt việc bảo vệ chủ quyền và giữ vững an ninh các tuyến biên giới, vùng trời, vùng biển và hải đảo, xây dựng và củng cố bộ đội biên phòng vững mạnh. Tiếp tục phát triển dân quân tự vệ với số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới. Tăng cường xây dựng lực lượng dự bị. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, phát triển nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Phối hợp cố gắng của Nhà nước, nhân dân và các lực lượng vũ trang để đảm bảo những nhu cầu của nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, những nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất và tinh thần của cá lực lượng vũ trang nhân dân. Thực hiện đầy đủ các chính sách hậu phương quân đội. Từng bước phát triển công nghiệp quốc phòng đi đôi với tăng cường tiềm lực kinh tế của đất nước. Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào xây dựng kinh tế”(2).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng thành công tốt đẹp trên cả hai phương diện: Hoạch định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, tăng cường đoàn kết thống nhất ý chí quyết tâm hành động của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và lựa chọn nhân sự bầu Ban Chấp hành mới, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng”(3).

Kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tạo ra sinh khí mới, động viên cổ vũ toàn quân, toàn dân vững tin ở chặng đường mới, quyết tâm vượt khó khăn, tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa cách mạng tiến lên phía trước, phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực. Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ Đại hội VI của Đảng và nhiệm vụ quân sự 5 năm (1986-1990), Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng, tham gia xây dựng kinh tế đất nước.

Thời điểm này, tình hình kinh tế, xã hội đất nước có nhiều khó khăn gay gắt về đời sống, trong khi đó viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa không còn. Trước tình hình đó. Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu chủ trương điều chỉnh lực lượng và thế bố trí chiến lược. Trước mắt, giải quyết các điểm phức tạp trên biên giới phía Bắc, quần đảo Trường Sa theo hướng chấm dứt xung đột vũ trang, giảm một tỷ lệ thích hợp quân thường trực, bố trí lại thế trận, đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên cả nước và từng địa phương, trong đó tập trung xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, đáp ứng nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr. 372.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr. 372.
(3) Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI gồm 124 ủy viên chính thức, 49 ủy viên dự khuyết (Đảng bộ quân đội có 15 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết). Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #102 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:47:16 PM »

*
*   *

Quân đội nhân dân Việt Nam trưởng thành và hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của mình trong 40 năm qua, trước hết là do Đảng cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng và lãnh đạo chặt chẽ. Đảng đã giáo dục cho quân đội lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phấn đấu hoàn thành mọi nhiệm vụ, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng và lòng tin yêu cảu nhân dân. Trong giai đoạn cách mạng mới, quân đội vẫn là lực lượng trung thành tuyết đối dưới sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ vững chắc công cuộc đổi mới đất nước.

Nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, kế hoạch nhà nước 5 năm và kế hoạch quân sự, quốc phòng 5 năm (1986-1990), từ Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng thuộc Tổng cục đến cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị, các đơn vị trong toàn quân đã triển khai nhiều công việc vừa cơ bản, vừa cấp bách và cực kỳ quan trọng, mở đầu cho quá trình đổi mới trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân.

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân là xây dựng vững mạnh về chính trị. Phương châm xây dựng là: Lấy cán bộ làm khâu then chốt, nâng cao phẩm chất đội ngũ cán bộ, đảng viên làm cơ sở để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, ngày càng hiện đại, nâng cao sức mạnh tổng hợp, bảo đảm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Ngày 19-12-1986, Tổng cục Chính trị đề ra kế hoạch thực hiện những công việc chính về công tác đảng, công tác chính trị năm 1971: “Trọng tâm là xây dựng lực lượng vũ trang về mặt chính trị, lấy công tác xây dựng Đảng bộ cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức là khâu then chốt, làm cơ sở xây dựng nâng cao chất lượng quân đội”(1).

Bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngày 18-2-1987, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ký Quyết định số 8782/HĐNN bổ nhiệm Đại tướng Lê Đức Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Đoàn Khuê làm Tổng tham mưu trưởng, Thượng tướng Nguyễn Quyết làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cũng trong tháng 2-1987, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ định 13 ủy viên Trung ương Đảng (khóa VI) kiện toàn Đảng ủy Quân sự Trung ương, gồm 7 đồng chí trực tiếp công tác trong quân đội và 6 đồng chí công tác ngoài quân đội. Ban Thường vụ có 5 đồng chí, do đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư kiêm Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương; đồng chí Lê Đức Anh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng làm Phó Bí thư(2).

Sau khi được kiện toàn, Đảng ủy Quân sự Trung ương quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng theo phân cấp từ Đảng ủy Quân sự Trung ương đến đảng ủy đơn vị cơ sở. Đợt sinh hoạt chính trị tạo được khí thế và động lực mới, nâng cao thêm nhận thức, củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí quyết tâm và hành động của các cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong việc thực hiện đổi mới đất nước, trực tiếp là đổi mới trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, tăng cường sức mạnh tổng hợp của quân đội, đủ sức bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị của đát nước và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.

Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tháng 7-1987, Ban Bí thư Trung ương Đảng quy định tổ chức Đảng và tổ chức cơ quan chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Trong quân đội, tổ chức đảng theo hệ thống dọc từ cơ sở đến toàn quân. Mỗi cấp có ban Chấp hành Đảng bộ (gọi tắt là Đảng ủy). Toàn quân có Đảng ủy Quân sự Trung ương đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị. Dưới Đảng ủy Quân sự Trung ương có đảng ủy tổng cục, quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, học viện, trường sĩ quan, sư đoàn, lữ đoàn các cấp tương đương, các đảng ủy cơ sở. hệ thống tổ chức cơ quan chính trị trong quân đội gồm Tổng cục Chính trị, cục chính trị cấp quân khu, quân đoàn, quân chủng và tương đương, phòng chính trị cấp sư đoàn, cơ quan quân sự địa phương huyện, thị xã và tương đương.

Ngày 19-8-1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Chỉ thị số 189-CT/ĐU Về việc triển khai kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng. Mục đích là góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của các tổ chức Đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch, vững mạnh, bảo đảm hoàn thoàn nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Chỉ thị chỉ rõ: “Đây là bước phát triển mới đòi hỏi công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra Đảng nói riêng là do yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Đảng trong tình hình mới đặt ra, làm tốt việc kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng sẽ góp phần tích cực nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng”(3). Thực hiện Chỉ thị của Đảng ủy Quân sự Trung ương, toàn quân mở đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, phát huy tinh thần phê bình và tự phê bình của cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến mới trong xây dựng cơ sở, nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội.


(1) Hồ sơ số 01-24, tài liệu lưu tại Văn phòng Tổng cục Chính trị, tr.12.
(2) Đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; đồng chí Đoàn Khuê, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Quyết, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Ủy viên Thường vụ.
(3) Chỉ thị số 189-CT/ĐU, tài liệu lưu tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #103 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:48:54 PM »

Cũng trong năm 1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 02-NQ/BCT nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, xác định nhiệm vụ quốc phòng đến năm 1990 và những năm tiếp theo, gồm những nội dung: Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước, bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai là, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước, xây dựng quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, tham gia xây dựng kinh tế. Ba là, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế đối với các mạng Lào và cách mạng Campuchia.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị, các lực lượng vũ trang nhân dân nói chung, quân đội nhân dân nói riêng tập trung học tập, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của bộ đội và nhân dân trong mọi hành động, chấp hành nghiêm chỉnh, bảo đảm tuyệt đối bí mật, không để sơ hở cho kẻ thù lợi dụng, tập trung chống phá những quyết sách chiến lược của Đảng về quân sự, quốc phòng trong bối cảnh tình hình quốc tế đang diễn biến rất phức tạp.

Thực hiện nhiệm vụ theo đường lối đổi mới của Đảng, việc điều chỉnh lực lượng trong quân đội được thực hiện, từng bước “hoàn chỉnh bổ sung kế hoạch xây dựng thế trận phòng thủ, phân công, phân cấp rõ ràng trong việc đối phó với các hoạt động quân sự của địch…”(1). Để thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ đổi mới, Tổng cục Chính trị nhấn mạnh: “Phải coi trọng công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi quân nhân, đề phòng các hiện tượng tiêu cực xảy ra khi thay đổi nơi đóng quân và thay đổi nhiệm vụ”(2).

Ngày 19-11-1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 336/ĐUQSTW về Cuộc vận động làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy nhà nước, làm trong sạch các quan hệ xã hội trong quân đội. Nghị quyết nêu rõ: “Trong quá trình thực hiện cuộc vận động cần tập trung củng cố vững chắc lập trường, quan điểm giai cấp công nhân, phát huy bản chất truyền thống của Đảng, của quân đội, nâng cao cảnh giác cách mạng. nâng cao phẩm chất của người chiến sĩ quân đội. Đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, đặc biệt là giảm sút ý chí chiến đấu”(3). Đây là cuộc vận động lớn của Đảng và Nhà nước được tiến hành trong các lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân đến năm 1990. Cuộc vận động này thực sự là cuộc đấu tranh tư tưởng nhằm giải quyết dứt khoát giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa, giữa tích cực đổi mới và bảo thù trì trệ, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và cá nhân chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa; đồng thời, đấu tranh chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch, góp phần củng cố, nâng cao sự nhất trí đối với với công cuộc đổi mới và những quan điểm cơ bản của Đảng về đường lối quân sự. Sinh hoạt chính trị cơ sở bảo đảm dân chủ công khai, việc xây dựng đội ngũ cán bộ bước đầu đi vào quy hoạch theo quan điểm mới của Đảng.

Quán triệt tinh thần cuộc vận động do Đảng ủy Quân sự Trung ương đề ra, các cơ quan, đơn vị toàn quân phát động thi đua, làm chuyển biến mọi hoạt động trên các lĩnh vực, trong đó tập trung về xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Nhìn chung, trong năm 1977, “toàn quân đã thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, chủ động, tích cực, nhạy bén bám chắc đường lối, quan điểm của Đảng, bám sát sự phát triển của thực tiễn, thực hiện có chất lượng và đạt hiệu quả cao, góp phần tích cực hoàn thành nhiệm vụ”(4).

Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang khẩn trương xây dựng đất nước, củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang theo đường lối đổi mới của Đảng thì tình hình vùng Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có những diễn biến phức tạp do hoạt động của hành quân một số nước trong khu vực gây ra, nhằm do thám, khiêu khích, quấy phá, chiếm đóng một số đảo còn lại. Trước tình hình đó, ngày 30-1-1987, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 66-NQ/TW Về việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tăng cường sự có mặt của Việt Nam trên các đảo và vùng biển thuộc chủ quyền lãnh hải của ta. Nghị quyết nêu rõ: “Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ở Biển Đông từ lâu đã là lãnh thổ của Việt Nam… Hai quần đảo này giữ vị trí hết sức quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế của nước ta. Nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… là nhiệm vụ chung của cả nước… Cần luôn khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; phản ứng kịp thời và kiên quyết đối với các âm mưu, hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo này”(5).

Quán triệt Nghị quyết của bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng chỉ thị cho Quân chủng Hải quân phải bảo vệ các đảo của ta, đặc biệt là không ngừng tăng cường khả năng bảo vệ quần đảo Trường Sa, bao gồm cả việc củng cố, xây dựng thêm các công trình chiến đấu và bảo đảm sinh hoạt cho bộ đội; đồng thời, đưa lực lượng ra các bãi đá cạn. Trước mắt, đưa lực lượng ra đóng giữ các đảo Đá Tây, Chữ Thập, Đá Lớn, Tiên Nữ; khai thác và phát huy mọi khả năng của các lực lượng vũ trang, các ngành và địa phương, sẵn sàng chi viện từ bờ ra đảo xa. Nếu tàu nước ngoài xâm phạm đảo, hoặc dùng vũ lực uy hiếp thì tỉnh táo, không bị khiêu khích và bất ngờ, đánh trả kịp thời.


(1), (2) Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam: quá trình hình thành và phát triển tổ chức và chỉ đạo công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, Sđd, t.III, tr. 91, 95.
(3) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Bộ Quốc phòng 1945-2000 (Biên niên sự kiện), Sđd, tr.710.
(4) Hồ sơ A4, tập 33, tài liệu lưu tại Văn phòng Tổng cục Chính trị.
(5) Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Sđd, tr.772-773.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #104 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:49:55 PM »

Bước sang năm 1988, nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn. Nhiệm vụ chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu diễn ra căng thẳng và phức tạp do các thế lực thù địch thực hiện âm mưu khống chế Biển Đông, chiếm một số điểm trong quần đảo Trường Sa. Từ tháng 1 đến tháng 4-1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng bãi đá Gạc Ma, Châu Viên, Ga Ven, Ken Nan, Xu Ri thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đặc biệt, ngày 14-3-1988, tàu chiến Trung Quốc nổ súng tiến công hai tàu vận tải của ta ở bãi đá Gạc Ma, gây ra tình hình hết sức căng thẳng ở khu vực quần đảo Trường Sa. Trước những hoạt động gây hấn, lấn chiếm của tàu Trung Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương tăng cường củng cố các đơn vị, xây dựng trận địa vững chắc, kiên quyết bảo vệ quần đảo Trường Sa; đồng thời tự kiềm chế khi đối phương gây hấn, chủ động giảm dần cường độ xung đột.

Theo dõi diễn biến tình hình bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo, nhất là Trường Sa, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã mở đợt giáo dục tuyên truyền, sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn dân, toàn quân, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Những tháng cuối năm 1988, trên thế giới cũng như trong khu vực tiếp tục có những chuyển biến phức tạp. Sự nghiệp đổi mới ở nước ta, công cuộc cải tổ ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đặt ra nhiều vấn đề mới, tác động đến nhận thức tư tưởng và tình hình chính trị, xã hội Việt Nam. Cuộc đấu tranh giai cấp trên thế giới tuy đã có một số thay đổi về hình thức nhưng bản chất không hề thay đổi. Các thế lực thù địch tuy đã thay đổi một số sách lược, nhưng chưa từ bỏ âm mưu phá hoại cách mạng nước ta.

Trong bối cảnh đó, ngày 30-11-1988, Tổng cục Chính trị ra Chỉ thị Một số vấn đề về công tác tư tưởng đối với bộ đội trong tình hình hiện tại, đề ra “yêu cầu biện pháp cụ thể để các cấp ủy và tổ chức cơ sở Đảng, cán bộ chỉ huy, cán bộ và cơ quan chính trị nắm chắc và chỉ đạo công tác tư tưởng một cách chặt chẽ, chủ động, nhạy bén trong tất cả các cấp từ trên xuống các đơn vị cơ sở”(1).

Được sự chỉ đạo kịp thời của Tổng cục Chính trị, sự nỗ lực của các cấp ủy và cơ quan chính trị, chúng ta đã bảo đảm cho quân đội vững vàng về chính trị trong mọi thình huống diễn biến phức tạp, luôn thể hiện là công cụ sắc bén và trung thành, chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc.

Từ ngày 20 đến ngày 29-3-1989, đã diễn ra Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI), kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng và bàn phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới. Về quốc phòng, an ninh, Hội nghị đánh giá: “Đã điều chỉnh chiến lược bảo vệ Tổ quốc, hoàn thành nhiệm vụ trên các chiến trường, giảm quân số và bước đầu chấn chỉnh quân đội thường trực, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân. Đã có những chuyển biến về công tác bảo vệ an ninh chính trị phù hợp với tình hình mới”(2). Về phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới, Hội nghị nêu rõ: Tiếp tục đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu nhằm đạt được mục tiêu chung là ổn định một bước quan trọng tình hình kinh tế, xã hội” và tạo thêm tiền đề để tiến lên. Đồng thời có kế hoạch củng cố tổ chức quốc phòng đất nước, nhất là ở các khu vực trọng điểm. Đẩy mạnh xây dựng và sớm hình thành thế trận chiến tranh nhân dân.

Trong hai năm 1989 và 1990, tình hình quốc tế tiếp tục có những diễn biến rất phức tạp. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu rơi vào cuộc khủng hoảng toàn diện, trầm trọng và tan rã, đã tác động trực tiếp về mặt nhận thức tư tưởng. Ở trong nước, tình hình chính trị, xã hội vẫn còn nhiều khó khăn trong bước chuyển cơ chế quản lý kinh tế; sản xuất công nghiệp đình trệ, nhiều lao động không có việc làm. Trong khi đó, chủ nghĩa đế quốc tập trung phá hoại về mặt tư tưởng, hòng gây chia rẽ, làm suy yếu Đảng ta và giảm lòng tin của nhân dân với Đảng.

Năm 1990, công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Đảng trong lực lượng vũ trang nhân dân thu được kết quả đáng kể. Cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang và quân đội được khôi phục, bảo đảm nguyên tắc kỷ cương của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể, củng cố, nâng cao sự nhất trí đối với công cuộc đổi mới và đối với những quan điểm cơ bản trong đường lối quân sự của Đảng. Đây là thành tựu quan trọng trong việc xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội về mặt chính trị.

Có thể nói, từ năm 1986 đến năm 1990, theo tinh thần đổi mới của Đảng, quân và dân ta đã từng bước cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, bước đầu góp phần tạo sự nhất trí về chính trị đối với các công việc đổi mới và chủ trương chuyển hướng chiến lược quốc phòng. Các hình thức sinh hoạt dân chủ, công khai được triển khai rộng rãi; đội ngũ cán bộ bước đầu đi vào quy hoạch theo quan điểm đối với của Đảng và được triển khai trong toàn quân đạt kết quả cao; đồng thời xác định đúng phương hướng, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng vũ trang. Mọi cơ chế lãnh đạo, nguyên tắc sinh hoạt của Đảng được khôi phục và phát triển. Hệ thống tổ chức Đảng được củng cố một bước, được tăng cường trong các hoạt động thực tiễn. Đây la cơ sở quan trọng tạo điều kiện để đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân theo đường lối đổi mới của Đảng.


(1) Hồ sơ b4-56, tài liệu lưu tại Văn phòng Tổng cục Chính trị.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr.466.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #105 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:50:19 PM »

*
*   *

Quán triệt các nghị quyết của Đảng về đổi mới đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bộ Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng từng bước điều chỉnh, sắp xếp lại lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh; đồng thời, triển khai xây dựng, bố trí vững chắc hơn thế trận phòng thủ đất nước, trọng tâm là xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước.

Những vẫn đề cơ bản về nhiệm vụ của khu vực phòng thủ là xây dựng tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc cả về chính trị, kinh tế, xã hội và quân sự, cả trong thời bình và khi chiến tranh xảy ra, bảo đảm đánh thắng kiểu chiến tranh nhiều mặt, kể cả tình huống xảy ra chiến tranh xâm lược quy mô lớn của địch. Nội dung cụ thể về xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố phải đạt được:

1- Bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chủ quyền biên giới, vùng biển, hải đảo, phát hiện và tiêu diệt địch thâm nhập, móc nối, cài cắm, gây cơ sở, đánh bại hành động phá hoại của địch, chủ động đối phó với các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, kích động, khiêu khích và những hiện tượng xung đột bộ phận xảy ra trên biên giới và trên biển.

2- Chuẩn bị tốt mọi mặt cho thời chiến, sẵn sàng và chủ động chuyển địa phương từ trạng thái thời bình sang thời chiến nhanh nhất, đặc biệt là các huyện, thị biên giới, hải đảo, ven biển.

3- Kịp thời phát hiện kẻ địch chuẩn bị tiến công, không để bất ngờ, phải liên tục đánh tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Nếu địch yếu thì tiêu diệt, đánh bật chúng ra khỏi địa phương. Đánh địch thì kìm giữ, liên tục tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận, buộc chúng phải bị động chuyến phòng ngự, tạo điều kiện cho ta chuyển sang phản công, tiến công tiêu diệt chúng.

4- Xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, kịp thời phát hiện và xử trí đúng đắn mọi thủ đoạn phá hoại của địch, tiêu diệt các mầm mống cài cắm gây cơ sở của chúng. Khi xảy ra chiến tranh, phải kết hợp mọi hình thức, biện pháp đánh bại thủ đoạn lập ngụy quân, ngụy quyền của chúng.

5- Khi chiến tranh xảy ra, vừa chiến đấu vừa sản xuất, tích cực lấy trang bị vật chất hậu cần, kỹ thuật của địch để đánh địch.

6- Động viên sức người, sức của phục vụ tiền tuyến và làm nhiệm vụ chi viện theo kế hoạch được giao.

Đây là một chủ trương chiến lược quan trọng, xuất phát từ khả năng và phát huy thế mạnh của các tỉnh, thành phố trên từng địa phương nói riêng, trong thế chiến lược cả nước nói chung.

Xây dựng các khu vực phòng thủ là một chủ trương chiến lược nhằm cân bằng các lực lượng chiến lược theo đường lối quốc phòng toàn dân, quốc phòng toàn diện, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Thực hiện điều chỉnh chiến lược mới, Đảng và Nhà nước chủ trương giảm quân số, thu gọn các đơn vị chủ lực quân khu, quân đoàn, các quân, binh chủng để xây dựng thành các lực lượng cơ động phản công và tiến công bố trí trên các địa bàn chiến lược, chiến dịch. Rút kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh trước đây, trong khi sức cơ động và các phương tiện hiện đại của ta thường thấp so với địch thì việc tổ chức phòng thủ khu vực với các lực lượng quân sự, kinh tế, chính trị tại chỗ của từng tỉnh, thành phố, quận, huyện để tự bảo vệ địa phương mình là hết sức quan trọng.

Khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố còn là những bộ phận hợp thành của nền quốc phòng toàn dân, được xây dựng trên địa bàn tỉnh, thành phố, trong thế trận phòng thủ, thế trận chiến tranh nhân dân của từng quân khu và cả nước.

Ngày 2-1-1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 06-NQ/ĐUQSTW Về nhiệm vụ quân sự năm 1987. Nghị quyết nêu rõ: Có kế hoạch phòng thủ đất nước dài hạn, xây dựng kế hoạch tổ chức lực lượng vũ trang dài hạn đến năm 1990.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #106 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:50:45 PM »

Tiếp theo Nghị quyết của Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 30-7-1987, Bộ Chính trị ra Quyết định số 02/BCT xác định nhiệm vụ quốc phòng đến năm 1990 và những năm tiếp theo: Một là, phát huy sức mạnh tổng hợp cả nước, bảo vệ vững chắc công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai là, tăng cường khả năng phòng thủ đất nước, xây dựng quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, tham gia xây dựng kinh tế. Ba là, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia. Thực hiện chủ trương về xây dựng hệ thống công trình quân sự, các đơn vị phối hợp với từng địa phương tập trung xây dựng công sự và đường hầm bằng bê tông lắp ghép, đáp ứng yêu cầu chiến đấu của các đơn vị phòng thủ.

Như vậy, ngay từ những năm đầu tiến hành sự nghiệp đổi mới, Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương đã ra những nghị quyết quan trọng nhằm xây dựng, bố trí vững chắc hơn thế trận phòng thủ đất nước.

Quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Đảng ủy Quân sự Trung ương, ngày 25-4-1988, Bộ Tổng tham mưu ra Chỉ thị số 44/CT-TM Về xây dựng công trình chiến đấu, nêu rõ: Các quân khu, binh chủng, các đơn vị lập quy hoạch xây dựng công trình phòng thủ dài hạn đến năm 2000. Thứ tự xây dựng tập trung trên hướng chủ yếu, khu vực chủ yếu, hải đảo, ven biển. Ưu tiên xây dựng công trình ở dải phòng ngự phía trước để bảo đảm thường xuyên sẵn sàng chiến đấu. Trong quá trình xây dựng khu vực phòng thủ phải xuất phát từ chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, khí tượng thủy văn.

Cũng trong năm 1988, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ ở một số địa phương. Mục tiêu các cuộc diễn tập nằm nhằm chống bất ngờ, giành chủ động đánh địch, với tư tưởng làm chủ đất nước trong hoàn cảnh không có sự chi viện từ bên ngoài, phá chiến lược đánh mạnh, giải quyết nhanh, quân đông, vũ khí công nghệ cao, bằng lực lượng tại chỗ, truy bám, đánh địch khắp nơi, căng kéo buộc địch phải sa lầy, tạo thời gian để đất nước có điều kiện chuyển sang thời chiến, chuẩn bị lực lượng cơ động chủ lực đánh những trận then chốt quyết định.

Ngày 11-3-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị số 56/CT về xây dựng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập khu vực phòng thủ vững chắc. Cơ chế hoạt động của khu vực phòng thủ là: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, chỉ huy trưởng quân sự thống nhất chỉ huy các lực lượng vũ trang; thành lập đảng ủy quân sự các tỉnh, thành phố, đồng chí bí thư tỉnh (thành) ủy làm bí thư đảng ủy quân sự, ủy viên là phó chủ tịch (sau thay là chủ tịch), giám đốc công an và một số đồng chí trong bộ chỉ huy quân sự. Nghị quyết cũng chỉ rõ: “Khi có chiến sự, đồng chí bí thư tỉnh (thành) ủy cùng chỉ huy trưởng quân sự địa phương chỉ huy quân và dân chiến đấu”. Dưới khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố là các khu vực phòng thủ huyện (quận) trên cơ sở các làng xã, cụm xã chiến đấu, thành lập ban cán sự huyện (quận) do đồng chí bí thư huyện (quận) ủy làm bí thư, các ủy viên tương tự như cấp tỉnh, thành phố. Nơi nào có đại đội, tiểu đoàn bộ đội biên phòng thì thành lập đảng ủy quân sự huyện (quận).

Quán triệt chỉ thị của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đội đẩy mạnh xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố bước đầu đạt được kết quả đáng kể. Một số cuộc diễn tập, trọng tâm diễn tập khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố, huyện (quận), xã là đối phó với các hoạt động của chiến tranh xung đột cường độ thấp diễn ra đạt mục tiêu đề ra.

Từ năm 1990, trọng tâm diễn tập các khu vực phòng thủ đối phó với các tình huống đặc biệt được xác định rõ: Khu vực phòng thủ là thành công quốc phòng, an ninh ở địa phương, là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, có chức năng bảo vệ lãnh thổ (đất, trời, biển) địa phương, bảo vệ chế độ, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, bảo vệ tiềm lực mọi mặt của từng địa phương theo một cơ chế lãnh đạo, điều hành, chỉ huy thống nhất. Nhiệm vụ cơ bản là: Xây dựng vững chắc về chính trị, kinh tế, xã hội, phát triển quân sự mạnh, tích lũy tiềm lực toàn diện cho địa phương và chi viện chung, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch. Về yêu cầu: Mỗi khu vực phòng thủ phải có khả năng thường xuyên, độc lập, tự chủ bảo vệ địa phương mình lâu dài trong thế trận chung; chủ động đánh địch ngay từ đầu, tiến công kiên quyết, bám trụ kiên cường, tiêu hao, tiêu diệt địch, phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực.

Trên cơ sở chủ trương được xác định, ngày 9-1-1990, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết số 02/NQ Về nhiệm vụ lãnh đạo năm 1990, chỉ rõ: Công tác phòng thủ tác chiến phải thường xuyên theo dõi nắm chắc ý đồ, thủ đoạn và hành động của địch. Nghiên cứu, phổ biến cho toàn quân về chiến lược phá hoại toàn diện của địch trong tình hình mới và chủ trương đối phó của ta. Giúp Bộ xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố, chỉ đạo diễn tập khu vực phòng thủ đạt hiệu quả cao và ít tốn kém.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #107 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:51:26 PM »

*
*   *

Theo phương hướng của Bộ Quốc phòng đề ra, quân đội tiến hành kiện toàn tổ chức biên chế giảm quân số với quy mô lớn, nhằm thực hiện chấn chỉnh một bước cơ bản về tổ chức biên chế lực lượng vũ trang, giảm quân số thường trực, đổi mới trong xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại theo đường lối đổi mới của Đảng. Trong những năm 1981-1985, quân đội phát triển lớn về tổ chức và quân số (chiếm 1,7% dân số). Công tác quản lý bộ đội và tổ chức biên chế chưa được chặt chẽ, quân số dư biên chế lớn, chất lượng chiến đấu hạn chế. Trên biên giới phía Bắc, ta bố trí lực lượng quá đông, thường tập trung sát vùng biên giới trên các dải phòng ngự phía trước. Trong khi đó, dải phòng ngự cơ bản chưa được củng cố đủ mạnh. Sự chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng bảo vệ biên giới gồm chủ lực của Bộ và các quân khu, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, bộ đội biên phòng, dân quân, du kích, tự vệ chưa chặt chẽ.

Thực hiện điều chỉnh thế chiến lược phòng thủ, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố theo chủ trương của Đảng, các lực lượng trên tuyến biên giới phía Bắc, nhất là chủ lực được lệnh rút dần về phía sau để củng cố, huấn luyện nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời triển khai thực hiện điều chỉnh lực lượng phù hợp với xu thế hòa bình, đối thoại trên thế giới và khu vực. Bộ Tổng tham mưu ban hành Chỉ lệnh số 98/CL-TM về Chấn chỉnh tổ chức quân đội năm 1987. Chỉ lệnh nêu rõ: “Trong năm 1987, tập trung chấn chỉnh tổ chức biên chế, hệ thống cơ quan, cơ sở bảo đảm, phục vụ các nhà trường hợp lý, gọn, mạnh. Điều chỉnh các lực lượng quân, binh chủng phù hợp với khả năng thực hiện trang bị kỹ thuật. Kiện toàn bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương ở các quân khu, tỉnh, huyện phía sau làm dự bị động viên. Kiện toàn tổ chức các đơn vị bộ đội địa phương, sẵn sàng chiến đấu ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc, những nơi cần thiết ở cá tỉnh thuộc Tây Nguyên và các đảo”(1).

Thực hiện Chỉ lệnh số 98/CL-TM của Bộ Tổng tham mưu trong 2 năm 1987 và 1988, toàn quân điều chuyển, hợp nhất 41 đơn vị cơ quan quân khu, quân đoàn và tổng cục, giải thể 71 đầu mối từ tiểu đoàn đến sư đoàn và tương đương, bổ sung giao nhiệm vụ cho 3 đơn vị, thành lập mới 17 đơn vị đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Toàn quân điều chỉnh tổ chức lực lượng theo quyết định của Bộ. Tất cả các đơn vị tích cực tập trung củng cố, kiện toàn các đơn vị chiến đấu, bảo đảm chiến đấu, các đơn vị rút gọn, các đơn vị khung dự bị động viên, các lực lượng chủ yếu của các quân, binh chủng. Tổng quân số các đơn vị so với quy hoạch của Bộ đạt hơn 90%.

Thực hiện chủ trương chấn chỉnh thế trận phòng thủ trên vùng biên giới phía Bắc, các lực lượng làm nhiệm vụ ở tuyến trước, trong đó có bộ đội chủ lực của Bộ và quân khu chuyển dần về phía sau. Để thống nhất chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng trên địa bàn đồng bằng Bắc Bộ và vùng Đông Bắc của Tổ quốc, tháng 8-1987, Đảng ủy Quân sự Trung ương quyết định hợp nhất Đặc khu Quảng Ninh và Quân khu 3, thành lập Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Ninh nhằm tăng cường hệ thống phòng thủ vùng đảo Quảng Ninh.

Nhằm tăng cường lực lượng bảo vệ tuyến trước, tháng 9-1987, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập 83 đồn biên phòng thuộc 6 tỉnh biên giới phía Bắc. Tiếp đó, Thủ tướng chính phủ ra quyết định về phương thức bảo đảm phương tiện và vật chất cho bộ đội biên phòng như một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 31-5-1988, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị chuyển giao lực lượng bộ đội biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ. Chỉ thị nêu rõ: Việc chuyển giao phải đảm bảo tính liên tục trong xây dựng và chiến đấu nhằm tăng cường công tác biên phòng, xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Chấp hành Chỉ thị của ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hội đồng Bộ trưởng quyết định chuyển giao nhiệm vụ tổ chức biên chế, trang bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của lực lượng bộ đội biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ.

Trước tình hình biên giới phía Bắc dần ổn định, các lực lượng ở tuyến trước rút dần về tuyến sau để củng cố, tinh giản biên chế, điều chỉnh thế bố trí lực lượng, Bộ Quốc phòng quyết định rút Quân đoàn 14 và Quân đoàn 26 (Quân khu 1) về phía sau, đồng thời chuyển Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ từ phía Bắc vào Tây Nguyên. Việc điều động Quân đoàn 3 vào Tây Nguyên nhằm bố trí lực lượng dự bị chiến lược phù hợp với thế trận bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đồng thời giảm bớt một phần về bảo đảm hậu cần các tỉnh biên giới phía Bắc cho lực lượng vũ trang.

Thực hiện chủ trương điều chỉnh tổ chức biên chế, giảm quân số, Bộ Quốc phòng quyết định gải thể một số quân đoàn và một số sư đoàn trực thuộc các quân khu; đồng thời, thực hiện giảm biên chế 20% quân số đối với các cơ quan trực thuộc Bộ. Năm 1989, Bộ Quốc phòng quyết định giải thể 12 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn, 3 trung đoàn, 1 tiểu đoàn thuộc các quân khu, quân đoàn và tổng cục. Sau một thời gian thực hiện tinh giản tổ chức biên chế và quân số, đến cuối năm 1990, toàn quân giảm 64 vạn (chiếm 55% tổng quân số), Quân đoàn 14, Quân đoàn 26 (Quân khu 1), 5 mặt trận (379, 479, 579, 779, 979), 30 sư đoàn bộ binh, 18 tiểu đoàn bộ đội địa phương, 5 trung đoàn và 4 tiểu đoàn pháo binh.


(1) Hồ sơ B3, tài liệu lưu tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #108 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:52:32 PM »

Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, mặc dù quân số thu gọn nhưng các sư đoàn bộ binh trong biên chế của các quân đoàn vẫn duy trì tổ chức sư đoàn bộ binh mạnh. Các sư đoàn ở tuyến 1 luôn được củng cố và trang bị thêm nhiều vũ khí và khí tài mới. Một số sư đoàn bộ binh tiếp tục được xây dựng thành sư đoàn bộ binh cơ giới gồm nhiều thành phần binh chủng, trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, có khả năng cơ động cao, chiến đấu trên các địa hình thời tiết phức tạp như: Sư đoàn 308 (Quân đoàn 1), Sư đoàn 304 (Quân đoàn 2), Sư đoàn 320 (Quân đoàn 3). Ngày 14-7-1987, Bộ Tổng tham mưu ra Nghị quyết số 144/TG-TM điều Sư đoàn 303 thuộc Quân khu 3 về Quân đoàn 1 và Quyết định số 145/QĐ-TM điều Sư đoàn 353 thuộc Quân khu 1 về Quân đoàn 2 làm nhiệm vụ động viên.

Cùng với giảm quân số thường trực (kể cả chủ lực và địa phương), lực lượng dự bị và dân quân tự vệ cũng được chấn chỉnh hợp lý. Đối với lực lượng thường trực, quân số và đầu đơn vị giảm nhưng chất lượng quân đội yêu cầu cao hơn theo tinh thần gọn, mạnh. Vì thế, Đảng ủy Quân sự Trung ương và Bộ Quốc phòng chú trọng xây dựng lực lượng dự bị và dân quân tự vệ, sẵn sàng bổ sung cho quân đội thường trực khi cần thiết.

Tháng 11-1987, Bộ Tổng tham mưu ra Chỉ thị: “Nhanh chóng củng cố, kiện toàn các khung đơn vị động viên. Mỗi đơn vị tỉnh, huyện cầu diễn tập chỉ huy tham mưu về động viên tối thiểu từ một đến hai lần. Tất cả các đơn vị động viên, kể cả bộ binh và binh chủng, sau khi được quy định địa bàn nhận người động viên, yêu cầu xác định biên chế và có kế hoạch tập trung người động viên”(1). Thực hiện Chỉ thị của Bộ Tổng tham mưu, về tổ chức lực lượng dự bị động viên bỏ cấp trung đoàn, sư đoàn, chỉ tổ chức cấp tiểu đội, trung đội và đại đội ở từng địa phương. Hằng năm, các trung tâm huấn luyện quân dự bị động viên tổ chức huấn luyện về quân sự trong một tháng.

Lực lượng dân quân tự vệ gồm 6 triệu người (chiếm 10,7% dân số cả nước), trong đó ở các tỉnh phía Bắc chiếm 12%, các tỉnh phía Nam chiếm 7,8%, riêng các tỉnh ở vùng biên giới phía Bắc chiếm 12,4%. Với chủ trương tinh giản biên chế, giảm quân số, ta đã giảm lực lượng dân quân tự vệ từ 6 triệu xuống còn 1.782.100 người (chiếm 2,8% dân số cả nước)(2). Ở các huyện biên giới phía Bắc, lực lượng dân quân tự vệ giảm, nhưng vẫn nhiều gấp hai lần so với các huyện khác. Các xã vùng trung du, đồng bằng ven biển vẫn tổ chức các đại đội dân quân cơ động, các cụm chiến đấu liên hoàn. Ở thành phố và các khu công nghiệp, lực lượng tự vệ phát triển mạnh. Năm 1987, lực lượng tự vệ cả nước có khoảng 1.503.000 người. Ở các nhà máy, hầm mỏ, nông, lâm trường, tự vệ được tổ chức thành các trung đoàn huấn luyện thường xuyên hằng năm. Nhìn chung, lực lượng dân quân tự vệ đã có bước phát triển đáng kể, hình thành khung sư đoàn động viên cần thiết khi xảy ra chiến tranh. Tuy nhiên, chất lượng chiến đấu của lực lượng này còn hạn chế, kết quả hoạt động ở các địa phương, đơn vị không đồng đều.

Theo kế hoạch kiện toàn cơ cấu tổ chức toàn quân, các học viện, nhà trường trong quân đội được chấn chỉnh, đổi mới phương pháp dạy và học phù hợp với tình hình mới. Mặc dù tổng quân số giảm nhưng nhu cầu đào tạo cán bộ quân đội vẫn lớn đòi hỏi chất lượng ngày càng cao. Tháng 5-1988, Đảng ủy Quân sự Trung ương ra Nghị quyết Về công tác nhà trường trong những năm 1988-1990 và những năm tiếp theo, trong đó xác định: Tiếp tục thực hiện cải cách giáo dục, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công tác nhà trường đi vào chiều sâu. Tập trung nâng cao chất lượng toàn diện và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong quân đội có phẩm chất đạo đức tốt, vững vàng về chính trị, có trình độ năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và phong cách lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có độ tuổi vá sức khỏe phù hợp, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Thực hiện chủ trương củng cố kiện toàn hệ thống nhà trường quân đội, Bộ Tổng tham mưu quyết định sáp nhập Trường Sĩ quan Lục quân 3 và Trường Sĩ quan Lục quân 2, hợp nhất các trường 500, 600 và Đại học Ngoại ngữ quân sự, giải thể phân hiệu Học viện quân y Thành phố Hồ Chí Minh, sáp nhập Trường Văn hóa thuộc Quân khu Thủ đô và Trường Sĩ quan Lục quân 1. Đến cuối năm 1990, toàn quân có 6 học viện, 14 trường sĩ quan, một trường đại học, 2 trường trung cấp và 7 trường quân chính quân khu.

Sau một thời gian phấn đấu, đến cuối năm 1990, việc điều chỉnh lực lượng trong toàn quân đã đạt tỷ lệ tương đối hợp lý, Các quân khu, quân đoàn chuyển một bộ phận lực lượng sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, các quân binh chủng, bộ đội biên phòng, cơ quan cấp chiến lược, chiến dịch, các viện nghiên cứu, hệ thống nhà trường đào tạo sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật, quân sự địa phương, các đoàn an dưỡng… tiếp tục chấn chỉnh theo hướng gọn, nhẹ, lấy chất lượng làm chính để phù hợp với yêu cầu tổ chức quân đội trong thời kỳ mới.


(1) Báo cáo công tác tổ chức lực lượng, tài liệu lưu tại Văn phòng Bộ Tổng tham mưu.
(2) Báo cáo về thực trạng các lực lượng vũ trang số 09/ĐUQSTW, hồ sơ B6/5, tài liệu lưu tại Văn phòng bộ Tổng tham mưu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 8938


Lính của PTL


« Trả lời #109 vào lúc: 22 Tháng Năm, 2016, 05:52:59 PM »

Một trong những nội dung quan trọng giai đoạn này được tập trung thực hiện là công tác huấn luyện, nâng cao trình độ và khả năng chiến đấu của bộ đội. Quán triệt quan điểm đổi mới của Đảng, công tác huấn luyện bộ đội từng bước đổi mới, nâng cao trình độ chính quy, hiện đại, khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu làm thất bại mọi âm mưu, hành động chiến tranh phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch.

Về nội dung huấn luyện, Bộ Tổng tham mưu xác định từng bước đổi mới phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh truyền thống của ta, sát với đối tượng tác chiến chủ yếu đã được xác định, sát với chức năng, nhiệm vụ, địa bàn hoạt động tác chiến của từng lực lượng, phù hợp với tổ chức, biên chế trang bị hiện có; bảo đảm cho các lực lượng vũ trang hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Tổ chức huấn luyện bộ đội giỏi tác chiến bằng vũ khí có trong biên chế, đồng thời giỏi tác chiến hiệp đồng khi được tăng cường binh khí kỹ thuật. Tập trung rèn luyện, nâng cao trình độ chiến đấu của phân đội và năng lực của cán bộ cơ sở lấy đại đội làm trọng điểm; từng bước nâng cao trình độ của cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp và trình độ tác chiến của bộ đội. Đi đôi với huấn luyện để sẵn sàng chiến đấu còn phải coi trọng huấn luyện những nội dung cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình”, giữ gìn an ninh của đất nước.

Nhằm tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo huấn luyện, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo các cơ quan huấn luyện thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về công tác huấn luyện trong toàn quân. Yêu cầu quản lý, chỉ đạo được cả ba thứ quân: bộ đội chủ lực,, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, kể cả quân thường trực, dự bị động viên, cả bộ binh và quân binh chủng.

Từ những chủ trương đổi mới trên đây, cơ quan huấn luyện các cấp xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, phương thức quản lý, chỉ đạo huấn luyện các lực lượng, mối quan hệ với các cơ quan chức năng khác; đồng thời, từng bước bổ sung để hoàn chỉnh các chế độ cho phù hợp với việc huấn luyện, xây dựng quân đội chính quy.

Cuối năm 1986, Bộ Tổng tham mưu ra Chỉ lệnh về công tác huấn luyện chiến đấu năm 1977: Mỗi quân khu, quân đoàn, quân binh chủng phải chọn một trung đoàn làm điểm, cấp sư đoàn, lữ đoàn chọn một tiểu đoàn và tiểu đoàn chọn một đại đội làm điểm để đại biểu cho các đơn vị đến học tập thống nhất nội dung, phương pháp huấn luyện chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có lệnh.

Tháng 1-1987, Bộ Tổng tham mưu mở Hội nghị huấn luyện quân sự toàn quân nghiên cứu, quát triệt Mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chỉ lệnh huấn luyện của Bộ Tổng tham mưu năm 1987. Trên cơ sở quán triệt những quan điểm mới của Đảng, công tác huấn luyện quân sự được đổi mới toàn diện về phương pháp, nhiệm vụ, nội dung, quản lý và điều hành… Huấn luyện sát với thực tế chiến đấu, sát với yêu cầu của từng lực lượng. Phương châm huấn luyện là: “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”. Nội dung huấn luyện phù hợp với nghệ thuật quân sự và cách đánh truyền thống của ta, sát với đối tượng tác chiến, với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, trang bị hiện có của quân đội. Huấn luyện bộ đội giỏi tác chiến hiệp đồng, tập trung rèn luyện, nâng cao trình độ chiến đấu của phân đội và năng lực của cán bộ cơ sở, lấy đại đội làm trọng điểm, từng bước nâng cao trình độ cán bộ chỉ huy, cơ quan các cấp và trình độ tác chiến của bộ đội.

Tháng 4-1987, Bộ Tổng tham mưu mở lớp tập huấn chiến thuật trung đội toàn quân nhằm nâng cao năng lực thực hành cho sĩ quan, hạ sĩ quan phân đội. Chiến sĩ và phân đội học các môn kỹ thuật bộ binh và chiến thuật từ cá nhân đến tiểu đoàn, lấy đại đội làm trọng điểm, làm cơ sở huấn luyện trong đội hình chiến đấu hiệp đồng binh chủng. Đối với phân đội và trung đoàn, sư đoàn tập trung huấn luyện từng bước từ tác chiến bằng vũ khí trang bị trong biên chế đến tác chiến được tăng cường binh kỹ kỹ thuật, tác chiến trong điều kiện địch sử dụng vũ khí hóa học và tác chiến điện tử.

Trong mỗi giai đoạn, nội dung huấn luyện từng môn đượcbố trí gọn theo các hình thức chiến thuật. Giai đoạn 1 huấn luyện chiến thuật từ cá nhân đến đại đội; giai đoạn 2 huấn luyện tiểu đoàn và diễn tập chiến thuật trung đoàn, sư đoàn theo chương trình nội dung do Bộ quy định.

Ngày 31-7-1987, Bộ Tổng tham mưu tổ chức Hội nghị sơ kết công tác huấn luyện giai đoạn 1 năm 1987, đánh giá thực chất mạnh yếu, bàn biện pháp khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện năm 1987. Hội nghị đề ra các biện pháp thiết thực là phải tranh thủ mọi điều kiện đảm bảo hoàn thành kế hoạch huấn luyện 6 tháng cuối năm 1987. Tập trung nâng cao trình độ của người chỉ huy và cơ quan, xây dựng vững chắc nhiều phân đội nhỏ có sức chiến đấu cao; đổi mới tổ chức, phương pháp huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ, gắn lý thuyết với thực hành, giáo dục với rèn luyện, kết hợp bãi tập với chiến trường.

Ngày 24-11-1987, Bộ Tổng tham mưu ra Chỉ lệnh về huấn luyện chiến đấu năm 1988, nêu rõ: Trong năm 1988, tập trung nghiên cứu và thống nhất quan điểm, cách đánh với biên chế, trang bị đã có. Các nội dung huấn luyện phải được tổ chức thí điểm ở một số đơn vị, sau đó rút kinh nghiệm và tổ chức tập huấn cho các sư đoàn trưởng để thống nhất huấn luyện cho toàn quân. Phải gắn lý luận với thực hành, lấy thực hành là chính theo cách đánh của ta và vận dụng những kinh nghiệm được đúc kết vào huấn luyện phù hợp với nhiệm vụ từng đơn vị. Huấn luyện nâng cao trình độ hiệp đồng quân, binh chủng, đồng thời chú trọng huấn luyện tác chiến hiệp đồng giữa các lực lượng, các thứ quân trong khu vực phòng thủ ở cấp tỉnh (thành), quận (huyện).
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM