Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Chín, 2020, 12:06:08 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cách mạng tháng Tám 1945 - Toàn cảnh  (Đọc 165724 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 07:12:36 am »

Cũng dựa trên những nhận thức đúng lịch sử khách quan về cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã rút ra kết luận mang tính định hướng cho việc xác định nội dung con đường cứu nước mới - con đường cách mạng vô sản: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi (tức là thành công triệt để), nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản địa chủ rồi lại ra sức cho công nông các nước và nhân dân các nước và dân bị áp bức các thuộc địa (có nghĩa là ra sức giúp đỡ cho công nông các nước và nhân dân các nước thuộc địa) làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trên thế giới.

Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng cuộc cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hi sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư (tức chủ nghĩa Mác) và Lênin”(1).

Con đường cứu nước theo cách mạng vô sản trong phong trào giải phóng dân tộc là sự khẳng định từ cách mạng dân tộc dân chủ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa và chỉ con đường này mới giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức. Trong Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu được nhân loại, đem lại cho mọi người, không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc, sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc, nói tóm lại là nền cộng hòa thế giới chân chính, xóa bỏ những biên giới tư bản chủ nghĩa cho đến nay chỉ là những vách tường dài ngăn cản những người lao động thế giới hiểu nhau và yêu thương nhau”(2).

Những điều nêu trên hợp thành nguyên tắc phương pháp luận quan trọng nhất trong việc xác định nội dung con đường cứu nước mà sau này Người đã tổng kết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3).” Sự tổng kết này dựa trên cơ sở xác định con đường cứu nước đúng và sự đấu tranh anh dũng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng để giành thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ hai, con đường cứu nước của cách mạng Việt Nam phải đảm bảo sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà người đại diện chân chính duy nhất là đảng mácxít - lêninnít. Điều này được chỉ rõ trong tác phẩm Đường cách mệnh của Nguyễn Ái Quốc. Người nhấn mạnh rằng cuộc cách mệnh ở các nước thuộc địa trước hết là “dân tộc cách mệnh”, bởi vì: “Một nước cậy có sức mạnh đến cướp một nước yếu, lấy võ lực cai trị dân nước ấy và giành lấy quyền kinh tế và chính trị. Dân nước ấy đã mất cả tự do độc lập, lại làm ra được bao nhiêu thì bị cường quyền nó vơ vét bấy nhiêu. Nó đã cướp hết sản vật, quyền lợi của dân rồi, khi có giặc dã nó lại bắt dân đi lính chết thay cho nó… Đánh được thì nó hưởng lợi quyền, thua thì mình đã chết người lại hại của”(4). Cho đến khi “dân nô lệ ấy chịu không nổi nữa tỉnh ngộ lên, đoàn kết lại, biết rằng thà chết được tự do hơn sống làm nô lệ, đồng tâm hợp lực đánh đuổi tụi áp bức mình đi, ấy là dân tộc cách mệnh”(5).

Như vậy, nguyên nhân của cuộc cách mạng này là “vì bị áp bức mà sinh ra”(6). Ai là người bị áp bức nặng nề nhất? Đó là quần chúng nhân dân lao động. Cho nên “ai mà bị áp bức càng nặng thì lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết”(7). Người bị áp bức nặng nề nhất là nông dân và công nhân, nên “công nông là người chủ cách mệnh”. Họ lại “đông nhất cho nên sứ mệnh hơn hết (…) là tay không rồi, nếu thua thì chỉ mất cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”(8). So với các giai cấp khác trong xã hội thuộc địa và phụ thuộc thì công nhân và nông dân là những người cách mạng triệt để nhất. Họ giải phóng cho dân tộc chính là giải phóng cho chính bản thân mình. Giai cấp địa chủ, phong kiến đã đầu hàng, làm tay sai cho thực dân, giai cấp tư sản dân tộc thì dao động, dễ thỏa hiệp, “còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ bằng công nông, ba hạng ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”(9).

Những điều mà Hồ Chí Minh nêu trên đã phản ánh một cách đầy đủ, chính xác tình hình của Việt Nam, cũng như nhiều nước thuộc địa khác. Vì vậy, nó là phương hướng cuộc đấu tranh của nhân dân ta để giành độc lập.

Xét cho cùng, “cuộc “dân tộc cách mệnh” cũng thể hiện tính chất giai cấp rõ rệt. Đó là cuộc đấu tranh của đông đảo nhân dân lao động mà “công nông là cái gốc của cách mệnh” nhằm chống lại “cường quyền” tức là chống lại áp bức của tư bản đế quốc”(10). Do đó, cuộc đấu tranh cứu nước theo con đường cách mạng vô sản phù hợp với sự phát triển trong nước và xu thế phát triển chung của thời đại, công cuộc cứu nước và giải phóng dân tộc phải do giai cấp công nhân lãnh đạo và phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Điều này cũng khẳng định rằng cách mạng muốn thắng lợi: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên hệ với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.

Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(11).


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 280.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 461.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, sđd, tr. 314.
(4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 264, 265.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 296.
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 296.
(10) Phan Ngọc Liên (chủ biên): Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về một số vấn đề quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 69.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, sđd, tr. 264, 267-268.
« Sửa lần cuối: 19 Tháng Tám, 2011, 08:07:23 am gửi bởi macbupda » Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #11 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:06:57 am »

Thực tế Việt Nam đã chứng minh rằng, với Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân - Đản Cộng sản Việt Nam - cách mạng đã đi đúng con đường đã được lựa chọn và khẳng định. Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động mà là “Đảng của dân tộc Việt Nam”(1). Trong quá trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, Đảng không chỉ thực hiện mục tiêu, lí tưởng của mình, mà còn đáp ứng mọi yêu cầu, quyền lợi của các tầng lớp nhân dân lao động, của cả dân tộc.

Sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân là điều kiện để đảm bảo con đường cách mạng vô sản, phân biệt với mọi con đường cứ nước phi vô sản khác, đảm bảo sự thắng lợi to lớn, triệt để.

Nhận thức của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết phải có Đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc đấu tranh cứu nước phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới từ sau Cách mạng tháng Mười Nga. Nó đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân lao động, vốn giầu lòng yêu nước, nhưng thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến, thiếu đường lối cách mạng đúng đắn. Vì vậy, trong 10 năm (1920-1930), sau khi xác định con đường cứu nước đúng cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã chuẩn bị mọi điều kiện cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam: Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tổ chức tiền thân của Đảng, đào tạo cán bộ, Sự ra đời của Đảng chứng tỏ sự sáng tạo của Người trong việc kết hợp 3 nhân tố: phong trào yêu nước, phong trào công nhân, chủ nghĩa Mác - Lênin. Nó chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối yêu nước và là một “bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam”(2), mở đường đi tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Thứ ba, con đường cứu nước theo cách mạng vô sản đã tập hợp mọi lực lượng của nhân dân trong nước và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, xây dựng được khối đoàn kết trong Mặt trận dân tộc thống nhất và Mặt trận đoàn kết quốc tế.

Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc phải chống lại sức mạnh của bọn thực dân đế quốc, tuy giữa các nước đế quốc mâu thuẫn với nhau song cũng liên kết để chống lại cách mạng. Chúng lại được bọn tay sai phải động trong nước giúp sức để đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân.

Sự đoàn kết trong nước trong Mặt trận dân tộc thống nhất, được xây dựng trên cơ sở công nông liên minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân đã tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ địch. Sự đoàn kết quốc tế tăng thêm sức mạnh trong nước. Từ thực tế của cách mạng Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đã rút ra bài học mang tính chất nguyên lí về sự đoàn kết và việc thành công trên con đường cách mạng giải phóng dân tộc:

            “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
            Thành công, thành công, đại thành công”
(3).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế được thể hiện qua việc thành lập và hoạt động của các hình thức tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất và là một nhân tố quan trọng đưa đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Thứ tư, con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, theo cách mạng vô sản là con đường cách mạng không ngừng: từ đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là điểm phân biệt về nguyên tắc giữa con đường cách mạng vô sản với con đường khác. Con đường cứu nước và giải phóng dân tộc theo cách mạng dân chủ tư sản sau khi giành được độc lập sẽ tất yếu dẫn tới sự thống trị của giai cấp tư sản dân tộc. Họ sẽ trở thành giai cấp cầm quyền, thay thế cho bọn tư bản thực dân nước ngoài và phong kiến tay sai trong nước. Dù tiến bộ thế nào đi nữa, giai cấp tư sản dân tộc vẫn bị hạn chế bởi quyền lợi của họ; cho nên mâu thuẫn giữa những kẻ đồng minh cũ trong Mặt trận chống đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc không tránh khỏi nảy sinh và ngày một gay gắt hơn.

Con đường cách mạng vô sản trong đấu tranh cứu nước và giải phóng dân tộc của của nhân dân Việt Nam không dừng ở việc giành chính quyền, xây dựng nền độc lập dân tộc mà chăm lo đến đời sống tự do, hạnh phúc ngày càng tăng của nhân dân lao động. Cho nên đánh đuổi thực dân, giành độc lập chưa phải kết thúc cách mạng. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách mạng ấy đang tiến diễn, nó chưa hoàn thành vì nước ta chưa hoàn toàn độc lập. Nhiệm vụ cứu nước của giai cấp vô sản chưa xong, giai cấp vô sản phải hăng hái kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng ấy. Khẩu hiệu vẫn là Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”(4).

Đặt “vấn đề giải phóng dân tộc lên trên hết” không có nghĩa là dừng cách mạng ở đây, mà chỉ mới thực hiện một nhiệm vụ cơ bản của cách mạng dân tộc dân chủ ở một nước thuộc địa. Sau khi giành được độc lập phải tiến hành xây dựng chế độ mới đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó mới là độc lập thực sự, chứ không phải là độc lập giả hiệu. Con đường giải phóng dân tộc theo cách mạng vô sản ở Việt Nam bao giờ cũng gắn độc lập dân tộc với tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc cho nhân dân. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lí gì”(5) và “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi dân được ăn no mặc đủ”(6).


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, sđd, tr. 175.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, sđd, tr. 8.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, sđd, tr. 607.
(4) Văn kiện Đảng về kháng chiến chống Pháp (1945-1950), tập 1, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 30-31.
(5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, sđd, tr. 56, 152.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #12 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:12:26 am »

2. Những cao trào cách mạng đưa đến thắng lợi Cách mạng tháng Tám 1945

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (từ tháng 10.1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương), phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta phát triển sâu rộng. Dù bị bọn đế quốc, thực dân Pháp và tay sai đàn áp đẫm máu, song cuộc đấu tranh vẫn duy trì và phát triển, đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.

Trước hết, cao trào 1930-1931, với đỉnh cao Xô Viết Nghệ - Tĩnh, nổ ra ngay sau khi Đảng vừa ra đời. Cuộc bạo động Yên Bái, tháng 2.1930 của Việt Nam Quốc dân Đảng bị thất bại, chấm dứt khuynh hướng cứu nước theo lập trường giai cấp tư sản. Từ đây, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đã diễn ra dưới ngọn cờ của cách mạng vô sản.

Cao trào 1930-1931 nổ ra trong khắp nước, với lực lượng đấu tranh to lớn là nông dân, song đã liên minh với giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng vô sản. Khẩu hiệu đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ kết hợp chặt chẽ với các khẩu hiệu mang tính chất giai cấp và quốc tế: đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thế giới. Như vậy, mục tiêu, nội dung đấu tranh của nhân dân ta so với các phong trào yêu nước trướ kia cũng khác hẳn: Không chỉ chống thực dân Pháp mà cả đế quốc, mở rộng sự đoàn kết với nhân dân bị áp bức thế giới, kết hợp đấu tranh chính trị với kinh tế, diễn ra dưới nhiều hình thức.

Đỉnh cao của phong trào 1930-1931 là Xô viết Nghệ - Tĩnh. Từ tháng 9.1930 đến đầu năm 1931, chính quyền Xô Viết được thành lập và phát huy quyền làm chủ nông thôn của quần chúng nhân dân lao động.

Phong trào cách mạng 1930-1931 nói chung, Xô Viết Nghệ - Tĩnh nói riêng thất bại, bị đàn áp dã man, nhưng bị dập tắt mà vẫn được duy trì để rồi phát triển. Phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh là “phong trào quần chúng mạnh lớn nhất xưa nay chưa từng có ở nước ta”(1), đã để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý giá cho cách mạng Việt Nam, đặc biệt việc chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám thắng lợi sau này.

Qua phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cách mạng Việt Nam đã khẳng định rằng, để đi tới thắng lợi, cuộc đấu tranh của nhân dân ta phải đảm bảo hai điều kiện quan trọng bậc nhất: có Đảng lãnh đạo và xây dựng được liên minh công nông, làm cơ sở vững chắc cho việc thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xô viết Nghệ - Tĩnh cũng để lại nhiều bài học quý giá khác mà sau này cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc 1940-1945 và cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã phát huy cao. Đó là việc xây dựng lực lượng vũ trang, hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, trong Xô Viết Nghệ - Tĩnh là đội tự vệ mà nòng cốt là đội Tự vệ đỏ. Đây là lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của Đảng, của nhân dân ta, dẫn tới các đội tự vệ, du kích và Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân sau này. Bài học lớn mà Xô Viết Nghệ - Tĩnh để lại cho Cách mạng tháng Tám 1945 sau này là giành chính quyền và xây dựng chính quyền cách mạng. Đảng ta lãnh đạo nhân dân thực hiện nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về “vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của cách mạng”.

Sau phong trào cách mạng 1903-31, tình hình trong nước và thế giới có nhiều biến đổi: khủng hoảng kinh tế thế giới với nhiều hậu quả to lớn, chủ nghĩa phát xít nảy sinh và nắm quyền ở một số nước tư bản, nguy cơ chiến tranh thế giới…

Trong điều kiện bị khủng bố ác liệt, Đảng ta vẫn giữ vững được tinh thần, ý chí, tổ chức cách mạng và dần dần khôi phục được hoạt động mạnh mẽ trong cả nước. Sau Đại hội đại biểu Đảng lần thứ nhất (27 - 31.3.1935), Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản (25.7 - 20.8.1935), phong trào cách mạng thế giới chuyển sang một thời kì mới. Đó là phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình (1936-1939). Vận dụng đường lối chống chiến tranh của Quốc tế Cộng sản, ở Việt Nam, Đảng đã lãnh đạo đấu tranh một cách sáng tạo. Mục tiêu cách mạng không thay đổi, song trong hoàn cảnh lịch sử mới, hình thức, nội dung đấu tranh rất phong phú, đa dạng, sáng tạo, thu được nhiều kết quả. Đó là cuộc đấu tranh đòi triệu tập Đại hội Đông Dương, đấu tranh công khai trên mặt trận báo chí, ở nghị trường, đẩy mạnh phong trào truyền bá quốc ngữ, đòi tự do, dân chủ, quyền dân sinh… Hầu hết các cuộc đấu tranh đều có sự liên kết với nhau trên quy mô lớn và huy động được đông đảo các tầng lớp nhân dân, đấu tranh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ mà vẫn nhằm tới mục tiêu đấu tranh cuối cùng của cách mạng.

Phong trào cách mạng 1936-1939 cũng được xem như “cuộc tổng diễn tập của Cách mạng tháng Tám 1945”; nhiều bài học, kinh nghiệm của thời kì này được vận dụng vào thời kì cách mạng sau đó. Trước hết là việc thanh lập Mặt trận dân tộc thống nhất với những hình thức tổ chức sinh động, phù hợp với trình độ, yêu cầu của mỗi giai cấp, tầng lớp nhân dân; tập hợp, đoàn kết chung quanh Đảng. Sự hợp đồng các “binh chủng” trong cuộc đấu tranh cách mạng trên mọi lĩnh vực với các hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp đã tạo nên được sức mạnh to lớn, khiến kẻ thù phải hoảng sợ. Thắng lợi của cuộc đấu tranh thời kì 1936-1939 với cao trào Mặt trận dân chủ đã tạo ra lực lượng mới, mở rộng trận địa đấu tranh cho cao trào cứu nước 1940-1945, đưa tới cuộc Tổng khởi nghĩa thắng lợi tháng 8.1945.

Tháng 9.1939, Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến Việt Nam. Thực dân Pháp xóa bỏ mọi quyền tự do, dân chủ mà nhân dân ta đã giành được trong thời kì Mặt trận dân chủ. Chúng tiến hành đàn áp rất dã man, hòng thủ tiêu phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Trước tình thế ấy, Đảng ta chủ động, tích cực chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm công tác về nông thôn. Hội nghị lần thứ VI của Trung ương Đảng (tháng 11.1930) đã nêu rõ, lúc này “giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương”, chủ trương tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ, chỉ đề ra việc đấu tranh chống tô cao, cho vay nặng lãi và tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi của dân tộc chia cho dân cày; thay khẩu hiệu lập Chính phủ Cộng hòa dân chủ và thành lập Mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương”(2).

Như vậy, việc chuyển hướng chủ đạo chiến lược không có nghĩa là Đảng từ bỏ mục tiêu chiến lược mà chỉ thay đổi hình thức đấu tranh, thay đổi những mục tiêu trước mắt không phù hợp với tình hình hiện tại để tiến hành cuộc cách mạng với các mục tiêu, hình thức phù hợp. Ở bất cứ thời kì cách mạng nào, về cơ bản, Đảng vẫn tuân theo đường lối chung mà Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt…) đã xác định. Vì vậy, những bài học khởi nghĩa của thời kì cách mạng 1930-1931, 1936-1939 được vận dụng một cách sáng tạo, có hiệu quả vào thời kì mới. Trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc ở thời kì này, Đảng luôn luôn hướng tới cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Từ cao trào cách mạng 1930-1931, trải qua phong trào Mặt trận dân chủ nhân dân (1936-1939), tuy các cuộc đấu tranh chống Pháp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam lần lượt thất bại, song xét về thực chất, chúng ta nhận thấy phong trào vẫn tiếp tục phát triển, chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. Vì vậy, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VII (tháng 11.1940) nhấn mạnh hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến là “hai bộ phận khăng khít” của cách mạng Đông Dương.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, sđd, tr. 8.
(2) Văn kiện Đảng 1930-1945, tập 3, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội, 1963, tr. 58.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #13 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:18:08 am »

Trong quá trình chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, sự đóng góp của Hồ Chí Minh rất to lớn. Đây là công lao của Người đối với dân tộc tiếp sau việc sác định con đường cứu nước đúng và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể nói rằng, việc Đảng trở lại quan điểm tư tưởng của Hồ Chí Minh từ sau khi Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam là điều kiện quan trọng để Đảng tiến hành cuộc đấu tranh, chuẩn bị cho nhân dân ta vùng lên Tổng khởi nghĩa thắng lợi, giành lấy chính quyền.

Ngày 28.1.1941, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí bí mật về nước. Ngày 8.2, Người ở hang Cốc Bó (thuộc địa phận làng Pác Bó). Từ ngày 10 đến 19.5.1941, Người chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Pác Bó. Hội nghị đã khẳng định nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc, bởi vì “trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(1). Nghị quyết này hoàn toàn đúng, nó không chỉ phản ánh được tình hình, nhiệm vụ cách mạng trước mắt mà còn giữ vững đường lối chung của cách mạng về giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, mà Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định và các văn kiện thành lập Đảng đã thông qua.

Thực hiện đường lối đoàn kết dân tộc với việc thành lập Mặt trận dân tộc mà thời kì trước đó đã tiến hành với nội dung hình thức thích hợp, Hồ Chí Minh đã đóng góp lớn vào việc quyết định và thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thay cho “Mặt trận dân tộc thống nhất Phản đế Đông Dương”, nhằm đoàn kết và phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân, đánh đuổi Pháp, Nhật.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ VIII và lời Kính cáo đồng bào của Nguyễn Ái Quốc, ngày 6.6.1941, đã làm dấy lên phong trào cách mạng trong cả nước. Mọi người ra sức thực hiện Nghị quyết của Đảng và lời kêu gọi của Người: “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đánh đuổi bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi cảnh “nước sôi, lửa bỏng”…

Giờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập, lãnh đạo toàn dân đánh tan thù chung. Tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đương vang dội bên tai các đồng chí! Máu nóng các bậc anh hùng đương sục sôi trong lòng các đồng chí! Chí phấn đấu của quốc dân đương chờ đợi sự lãnh đạo của các đồng chí!”(2).

Bài học về xây dựng lực lượng vũ trang của các thời kì trước, cũng được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, người cha của quân đội nhân dân Việt Nam, coi trọng. Tháng 10.1941, sau hơn 1 năm bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt và đày đọa ở 30 nhà giam thuộc 13 huyện của Quảng Tây, vì bị nghi ngờ là gián điệp, Hồ Chí Minh trở về nước, đề ra chủ trương lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân (ngày 22.12.1944). Đây là chủ trương đúng để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(3). Chủ trương và lời dự đoán của Hồ Chí Minh đã được thực tế chứng minh. Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được nhân dân ủng hộ mọi mặt, đã lập nhiều chiến công lẫy lừng trong Cách mạng tháng Tám 1945, trong 30 năm (1945-1975) kháng chiến chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mĩ và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay.

Việc xây dựng căn cứ địa cách mạng, rồi vùng giải phóng Việt Bắc là một cơ sở quan trọng để bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng, chuẩn bị mọi điều kiện cho việc Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Trong các vùng giải phóng, Mặt trận Việt Minh thực hiện chức năng của một tổ chức chính quyền cơ sở, tổ chức, quản lí mọi mặt của đời sống nhân dân. Có thể xem thời gian ngay trước khi Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ở Việt Bắc và một vài căn cứ địa cách mạng ở Thanh Hóa, Quảng Ngãi, tình thế “hai chính quyền song song tồn tại đã xuất hiện”, ngày càng rõ nét, báo hiệu cho sự sụp đổ của chính quyền địch và sự thành lập, xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng trong cả nước. Ở vùng giải phóng Việt Bắc trước Cách mạng tháng Tám, các tổ chức cứu quốc của quần chúng, các đội tự vệ, việc tiến hành xóa nạn mù chữ, xây dựng đời sống mới được thực hiện.

Từ đầu tháng 5.1945, sau khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh không điều kiện, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, quân phiệt Nhật đã lần lượt thất bại ở nhiều nơi. Thời cơ cách mạng đã hình thành. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa (tháng 8.1945), Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”(4).

Hồ Chí Minh kêu gọi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa khi thời cơ cách mạng đến. Điều này chứng tỏ Người đã thực hiện lời chỉ dẫn của Mác và Lênin. Mác đã nêu rõ: “nghệ thuật lãnh đạo của một đảng cách mạng là nắm đúng được thời cơ”; Lênin nhấn mạnh thêm: khi không có thời cơ mà đã hành động thì là phiêu lưu mạo hiểm, nhất định sẽ thất bại; thời cơ đã đến mà không đấu tranh là hèn nhát, phản bội. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo nguyên lí này trong việc lãnh đạo công cuộc giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Tháng 10.1944, khi thoát khỏi cảnh lao tù Tưởng Giới Thạch trở về Pác Bó, Hồ Chí Minh nghe báo cáo về phong trào cách mạng Cao - Bắc - Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Người đã quyết định hoãn việc thực hiện chủ trương này, vì điều kiện chưa chín muồi, thời cơ chưa đến với cả nước. Người nhấn mạnh không thể chỉ căn cứ vào tình hình một địa phương mà không thấy cục diện của cả nước. Nếu Cao - Bắc - Lạng khởi nghĩa mà các nơi khác chưa có điều kiện hưởng ứng thì cách mạng sẽ thất bại và tổn thất nặng nề. Phân tích tình hình chung, Người nêu rõ: “Bây giờ thời kì cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kì toàn dân khởi nghĩa chưa tới. Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng phát động vũ trang kinh nghiệm ngay thì quân địch sẽ tập trung đối phó. Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới đẩy phong trào tiến lên”(5). Theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ngày 22.12.1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập.


(1) Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương, Hà Nội, 1977, tập III, tr. 196
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 198.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 508.
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 554.
(5) Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 123.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #14 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:21:48 am »

3. Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945

Bước sang năm 1945, tình hình thế giới và trong nước có nhiều thay đổi to lớn. Quân đội phát xít bị quân Đồng minh, đặc biệt là Hồng quân Liên Xô đánh bại trên khắp chiến trường. Phát xít Đức, Italia lần lượt đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Nhiều nước ở Trung, Đông Âu, được sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô, lực lượng kháng chiến do những người Cộng sản lãnh đạo đã giải phóng đất nước, thành lập các nước dân chủ nhân dân.

Sau khi phát xít Đức đầu hàng (9.5.1945), quân Đồng minh tiến hành phản công trên mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương. Ngày 8.8.1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Ngày 6.8, Mĩ ném quả bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima; ngày 9.8, Mĩ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagaxaki, làm chết hàng chục vạn dân thường; cũng trong ngày, với một lực lượng hùng hậu, Hồng quân Liên Xô mở cuộc tổng công kích vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc. Ngày 14.8.1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng trên các làn sóng phát thanh.

Sự đầu hàng của chính phủ Nhật đã đẩy quân Nhật đang chiếm đóng ở Đông Dương vào tình thế tuyệt vọng như rắn mất đầu, hoang mang dao động đến cực độ. Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Tin Nhật đầu hàng đã nhanh chóng lan truyền trong nhân dân. Khắp nơi trên đất nước ta, Việt Minh tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thị uy vũ trang, có tới hàn nghìn quân tham gia. Hàng triệu quần chúng sẵn sàng đứng lên giành chính quyền. Các tầng lớp trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng. Nhiều lính trong quân đội phát xít và lính bảo an, cảnh sát, các công chức trong chính quyền bù nhìn ủng hộ Việt Minh giành độc lập. Thời cơ để nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Trước tình hình như vậy, Hồ Chí Minh (mặc dù đang ốm nặng) đã sáng suốt nhận thức rằng: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”(1). Như đã nói, đây không chỉ là sự nhận thức khách quan khoa học mà còn biểu hiện quyết tâm đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ đã có. Sự kết hợp giữa tình hình khách quan và nhận thức chủ quan một chác chính xác là một trong những điều kiện đưa cách mạng đến thắng lợi.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi to lớn, cách mạng cũng đứng trước những khó khăn không nhỏ. Mặc dù chính phủ Nhật đã đầu hàng Đồng minh nhưng mãi đến 21.8 quân Nhật ở Đông Dương mới được lệnh ngừng bắn. Vì thế quân Nhật ở Hà Nội vẫn đi tuần, canh gác nghiêm ngặt. Ngay 16.8, Nhật tuyên bố trao trả Nam Kỳ cho chính phủ bù nhìn vào ngày 18.8, bày trò “trao trả độc lập cho Việt Nam”. Các tổ chức phản động cũng tìm cách phá phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Trong khi đó các nước lớn như Mĩ, Anh, Pháp, Trung Hoa Quốc dân Đảng cũng có mưu đồ riêng đối với Đông Dương. Chính phủ Trùng Khánh của Tưởng Giới Thạch ráo riết chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” và ngày 9.8.1945 đã ra thông báo sẽ đưa quân vào giải giáp quân đội Nhật ở Bắc Đông dương theo thỏa thuận giữa các nước Đồng minh chống phát xít.

Từ tháng 5.1945, thực dân Pháp đẩy mạnh việc thành lập đạo quân viễn chinh của Pháp ở Đông Dương, tăng cường hoạt động ngoại giao để Anh, Mĩ thừa nhận quyền trở lại Đông Dương của Pháp.

Các đảng phái phản động lưu vong ở Trung Quốc như Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội cũng chuẩn bị núp bóng quân đội Tưởng về nước cướp chính quyền.

Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, ngày 12.8.1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng ra lệnh khởi nghĩa. Ngày 13.8, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy an khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban gồm 5 người: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn. Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách Ủy ban. Vào 23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã ban bố Quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh khởi nghĩa toàn quốc.

“Giờ Tổng khởi nghĩa đã đánh!

Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!

Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng”.

Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta”(2).


(1) Dẫn theo Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, sđd, tr. 196.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 421-422.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #15 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:24:47 am »

Ngày 14 và 15.8.1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang). Tham dự Hội nghị có các đại biểu các Đảng bộ địa phương, đại biểu của khu giải phóng và các chiến khu.

Hội nghị nhận định:

“…

2. Nhân dân Đông Dương cực khổ căm tức, cách mạng hóa; đến tất cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng.



4. Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ.



6. Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa, giành quyền độc lập.

7. Những điều kiện khởi nghĩa như đã chín muồi”(1).

Hội nghị quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Anh, quân Trung Hoa Quốc dân Đảng vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật và khi thực dân Pháp chưa kịp tập hợp tàn quân, điều lực lượng vào xâm lược nước ta một lần nữa. Hội nghị đề ra 3 nguyên tắc để chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất, kịp thời và nêu phương châm hành động trong khởi nghĩa là phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng không kể thành thị hay nông thôn, phải phối hợp chặt chẽ chính trị và quân sự, phải thành lập chính quyền cách mạng ở nhưng nơi đã giành quyền làm chủ.

Hội nghị quyết định chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyền. Về đối nội thi hành 10 chính sách của Việt Minh. Về đối ngoại, chính sách ngoại giao dựa theo nguyên tắc “thêm bạn, bớt thù”, đảm bảo giành và giữ nền độc lập; phải tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Quốc, Pháp, Anh, Mĩ) tràn vào nước ta… triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa hai khối nước lớn Anh - Pháp và Mĩ - Tưởng…, hết sức tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều kẻ địch trong cùng một lúc; tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô, của nhân dân Pháp, nhân dân Trung Quốc và cả loài người tiến bộ.

Trong khi đề cao việc tranh thủ Đồng minh, Hội nghị nhấn mạnh khâu mấu chốt giành thắng lợi của cách mạng là “Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được thắng lợi giữa ta và Đồng minh”(2).

Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa kết thúc, Đại hội Quốc dân cũng được tiến hành tại Tân Trào (Tuyên Quang) vào ngày 16 và 17.8.1945. Hơn 60 đại biểu ở Bắc, Trung, Nam; đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại biểu các đảng phái, các đoàn thể, tôn giáo đã sự Đại hội. Đại hội tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; quyết định lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm Quốc kì, lấy bài hát Tiến quân ca làm Quốc ca.

Sáng ngày 17.8, Ủy ban giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân tại đình Tân Trào. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ủy ban giải phóng dân tộc đọc lời tuyên thệ.

Đại hội Quốc dân bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”(3).

Lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuyển đến các tổ chức Đảng và Việt Minh, chiến sĩ và đồng bào.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 424.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 427.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 3, sđd, tr. 554.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #16 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:26:29 am »

Tuy nhiên, do tình hình phức tạp lúc bấy giờ và những khó khăn về giao thông, thông tin, liên lạc, lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương đến một số nơi bị chậm hoặc không đến được. Nhưng ở những nơi ấy, tổ chức Đảng và Việt Minh, do thấm nhuần các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương trước đó, nhất là chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đã căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, kịp thời phát động quần chúng khởi nghĩa.

Từ ngày 14.8, các xã huyện vùng nông thôn của hầu hết các tỉnh ở châu tổ sông Hồng, cả tỉnh ở Trung Kỳ đã lần lượt nổi dậy giành chính quyền.

Ngày 14.8, nhân dân Quảng Ngãi khởi nghĩa thắng lợi ở hầu hết các địa bàn trong tỉnh, nhưng Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh mãi đến cuối tháng mới ra mắt.

Ngày 16.8, một đơn vị Giải phóng quân tiến công ở thị xã Thái Nguyên.

Ngày 17.8, một số vùng ngoại ô Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 18.8, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam khởi nghĩa thành công ở tỉnh lị.

Ở Hà Nội, Xứ ủy Bắc Kỳ phân công một số ủy viên trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa. Theo nghị quyết cuộc họp ngày 15.8.1945, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội) được thành lập ngày 16.8.

Được biết Tổng hội viên chức sẽ tổ chức một cuộc mít tinh lớn vào chiều ngày 17.8 tại Nhà hát Lớn để ủng hộ Chính phủ bù nhìn, Đảng bộ và Ủy ban khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít tinh đó thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng.

Chiều 17.8, đông đảo các tổ chức cứu quốc ở nội, ngoại thành, cùng tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong được huy động đến Quảng trường Nhà hát Thành phố. Cuộc mít tinh bắt đầu, đại biểu Việt Minh chiếm diễn đàn, diễn thuyết kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Hàng vạn quần chúng hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh. Nhiều lính bảo an, cảnh sát ngả theo cách mạng.

Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng, diễn ra qua các đường phố chính của Hà Nội. Quần chúng biểu tình hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bù nhìn”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Qua cuộc biểu dương lực lượng ngày 17.8, Thành ủy Hà Nội có đủ cơ sở để đi đến quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hà Nội vào ngày 19.8.1945.

Ngày 18.8, cờ đỏ sao vàng được treo trên một số đường phố Hà Nội.

Sáng ngày 19.8, hàng chục vạn quần chúng cách mạng nội và ngoại thành mang theo gậy, dao, mã tấu… rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát Thành phố tham dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức. Cuộc mít tinh bắt đầu lúc 11 giờ.

Sau loạt súng chào cờ và bài Tiến quân ca vang lên, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh. Cuộc mít tinh nhanh chóng chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang. Quần chúng biểu tình chia thành nhiều đoàn tiến về các ngả đường, chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn như Phủ Khâm sai, Tòa Thị chính, Sở Cảnh sát, Trại Bảo an binh… Quân Nhật án binh bất động, binh lính và cảnh sát ngụy cũng bất lực. Chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước gấp rút nổi dậy giành chính quyền. Cùng ngày khởi nghĩa với Hà Nội và giành được chính quyền là các tỉnh: Thái Bình, Khánh Hòa. Sau đó, ngày 20.8: Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Ninh, Sơn Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa; ngày 21.8: Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phúc Yên, Nam Định, Nghệ An, Ninh Thuận; ngày 22.8: Cao Bằng, Kiến An, Hưng Yên, Tân An, Hải Phòng, vv.

Ngày 23.8, nhân dân Thừa Thiên - Huế nổi dậy gianh chính quyền. Huế là nơi đóng đô của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, là một trung tâm chính trị của đất nước. Vì vậy, Huế có vị trí rất quan trọng trong cuộc Tổng khởi nghĩa của cả nước. Ngày 20.8, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Sáng ngày 23.8, kinh đô Huế tràn ngập cờ đỏ sao vàng. Khoảng 15 vạn nhân dân Huế và các phủ, huyện ngoại thành biểu tình chật ních các ngả đường, các khu phố. Đoàn người chiếm các cơ sở của chính quyền địch, kéo đến trung tâm sân vận động thành phố dự mít tinh. Tại đây, ủy ban Việt Minh và Ủy ban khởi nghĩa tỉnh tuyên bố xóa bỏ chính quyền bù nhìn, lập chính quyền cách mạng. Hồi 16 giờ ngày 30.8, hàng vạn nhân dân Huế tập trung ở Ngọ Môn chứng kiến sự kiện vua Bảo Đại thoái vị. Đại diện Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa nhận ấn, kiếm do Bảo Đại trao và tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủ trên đất nước ta, công bố chính sách của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế đã động viên cổ vũ, tạo thêm sức mạnh tinh thần cho nhân dân các tỉnh Nam Trung Kỳ và Nam Kỳ vùng lên.

Cùng ngày khởi nghĩa với Thừa Thiên - Huế, một số tỉnh khác cũng khởi nghĩa giành chính quyền, như Hà Đông, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định, Lâm Viên, Bạc Liêu, Gia Lai.

Ngày 24.8, nhân dân các tỉnh Hà Nam, Phú Yên, Đắk Lắk, Gò Công, Quảng Yên đã khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 25.8, khởi nghĩa thành công ở Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Bình Thuận, Thủ Dầu Một, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tây Ninh, Long Xuyên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #17 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:30:28 am »

Sài Gòn là một trong ba địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất của cả nước, là thủ phủ của Nam Kỳ thuộc Pháp, là nơi đặt đại bản doanh của quân Nhật đóng trên toàn bộ Đông Nam Á. Rạng sáng ngày 25.8, các đường phố Sài Gòn tràn ngập biển cờ, biểu ngữ. Tiếng hô khẩu hiệu quyết tâm bảo vệ nền độc lập tư do vang dội trong thành phố. Cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng biểu dương lực lượng, bắt đầu từ nhà thờ Đức Bà, qua các đường phố Catina, Bengichcơ, Kitsơnê, Bôna rồi hội tụ trước dinh Đốc lí thành phố (vừa chuyển thành trụ sở Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ). Từ trên bao lơn thị sảnh, đại diện Việt Minh Nam Bộ đọc danh sách Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Tiếp đó, đại diện Xứ ủy Nam Kỳ đọc lời kêu gọi nhân dân ủng hộ, bảo vệ cách mạng. Đại diện Tổng công đoàn Nam Bộ đọc lời hứa của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cùng toàn thể nông dân quyết giữ chính quyền cách mạng. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn kết thúc bằng cuộc tuần hành khổng lồ chưa từng thấy.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn làm rung chuyển cả vùng nông thôn Nam Bộ, cổ vũ nhân dân Nam Bộ vùng lên khởi nghĩa thắng lợi. Ngày 26.8: Cần Thơ, Châu Đốc, Biên Hòa; ngày 27.8: Rạch Giá; ngày 28.8: Đồng Nai Thượng, Hà Tiên.

Ở Côn Đảo, khi nhận được tin Tổng khởi nghĩa trong cả nước, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền, làm chủ toàn đảo. Giữa tháng 9.1945, các chiến sĩ cách mạng được đưa về đất liền, tăng cường cho các Đảng bộ Miền Nam.

Một số thị xã do lực lượng Trung Hoa Quốc dân Đảng và tay sai chiếm giữ từ trước như Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh), Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Vĩnh Yên vẫn chưa được giải phóng (sau khi Hiệp định sơ bộ 6.3.1946 được kí kết, quân Trung Hoa Quốc dân Đảng mới trao trả cho ta). Như vậy, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền do Đảng ta lãnh đạo đã thắng lợi trên cả nước trong vòng nửa tháng, từ 14.8 đến 28.8.1945.

Trong khi Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi trên cả nước, ngày 25.8.1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Tuyên Quang) đã về tới Hà Nội.

Theo đề nghị của Người, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Đại hội Quốc dân ở Tân Trào cử ra được cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái yêu nước và những chí sĩ tiến bộ, nhiều ủy viên thuộc Mặt trận Việt Minh trong Chính phủ lâm thời tự nguyện nhường chỗ cho các nhân sĩ yêu nước ngoài Việt Minh.

Ngày 28.8 trên gác hai số nhà 48, phố Hàng Khay, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập.

Hồi 2 giờ chiều ngày 2.9.1946, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh lớn của hàng vạn nhân dân Thủ đô và các vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập.

Bản Tuyên ngôn Độc lập mở đầu bằng những “lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Sự viện dẫn này nhằm khẳng định một chân lí trong sự phát triển xã hội loài người, “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Tuyên ngôn Độc lập nêu lên tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm thống trị đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”(1)… thể hiện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Bản Tuyên ngôn Độc lập cũng nêu rõ khi Nhật vào Đông Dương, chỉ trong vòng 5 năm thực dân Pháp đã 2 lần bán nước ta cho Nhật.

Nhân dân Việt Nam đã đứng dậy đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm, chế độ quân chủ từng tồn tại mấy mươi thế kỉ, giành độc lập và lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.

Cuối bản Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố nước Việt Nam được tự do, độc lập và ý chí quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững tự do và độc lập ấy: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”(2).

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ lâm thời làm lễ tuyên thệ trước Quốc kì.

Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình trong nước và những chính sách của Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại tại Huế. Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng nói về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào nhân dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ.

Tới 3 giờ chiều, toàn thể quốc dân tuyên thệ một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Ngày 2.9.1945 trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, là ngày hội lớn nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 391, tr. 434.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, sđd, tr. 391, 437.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #18 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:35:55 am »

III. Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ NGUYÊN NHÂN THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945. NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ.

Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám không chỉ có ý nghĩa với dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế và sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

1. Ý nghĩa lịch sử và tầm vóc Cách mạng tháng Tám 1945

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong nước mà còn có ý nghĩa quốc tế. Bởi vì, bất cứ sự kiện lịch sử nào, nhất là trong thời đại ngày nay, không thể không chịu ảnh hưởng của tình hình thế giới, của các dân tộc khác và tác động trở lại đối với thế giới. Sự tác động lẫn nhau giữa các quốc gia, các cộng đồng người mang tính quy luật trong lịch sử giữa các nước, các dân tộc thường xuyên xảy ra, ngày càng mạnh mẽ khi mà xu hướng thế giới hóa, toàn cầu hóa ngày càng tăng.

Cách mạng tháng Tám là một sự kiện tiêu biểu như vậy. Nhà sử học Na Uy Stein Tonnesson đã nhận định đúng rằng: Cách mạng Việt Nam quan trọng vì không phải đơn thuần xảy ra trong bối cảnh Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam nằm trong những nguồn cảm hứng chủ yếu về một đường lối đấu tranh lớn khác sau chiến tranh - quá trình phi thực dân hóa. Trong các cuộc cách mạng cộng sản, cuộc cách mạng của người Việt Nam có sức sống và làm đảo lộn nhiều nhất”(1).

Thành công của Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đứng đầu là Hồ Chí Minh. Nó diễn ra đúng với xu hướng phát triển, hợp quy luật của lịch sử. Chính vì vậy, cuộc Cách mạng tháng Tám có ý nghĩa lịch sử thực sự to lớn đối với trong nước và quốc tế.

Ý nghĩa trong nước của Cách mạng tháng Tám được thể hiện ở chỗ: thắng lợi của nó “… mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta, một cuộc đổi mới chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam”(2). Điều này được lịch sử Việt Nam 60 năm qua xác nhận.

Cách mạng tháng Tám đã lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp đè nặng trên đất nước Việt Nam trên 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị trên đất nước ta ngót chục thế kỉ.

Với thắng lợi ủa Cách mạng tháng Tám, lần đầu tiên một nhà nước mới đã được xây dựng ở nước ta - nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, chủ vận mệnh dân tộc.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc. Kỉ nguyên độc lập tự do gắn với chủ nghĩa xã hội.

Ý nghĩa quốc tế và tầm vóc của Cách mạng tháng Tám 1945 cũng rất to lớn.

Trong gần 5 năm đấu tranh chống phát xít Nhật chiếm đóng, khi thờ cơ đến dân ta nổi dậy “lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật”. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã góp phần cùng nhân dân thế giới đánh bại chủ nghĩa phát xít, mang lại hòa bình cho nhân loại.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám đã giáng đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của một dân tộc nhược tiến đã tự giải phóng khỏi ách thống đế quốc thực dân. Thắng lợi đõ đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới, đặc biệt là đối với hai nước Campuchia và Lào. Đó là thắng lợi đầu tiên của đảng vô sản ở nước thuộc địa đã giành được chính quyền cách mạng trong cả nước.

Hồ Chí Minh nói: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bác nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.

Một cách khái quát, ý nghĩa trong nước và quốc tế của Cách mạng tháng Tám 1945 thể hiện ở chỗ; Cách mạng tháng Tám 1945 là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân Việt Nam, nhất là từ khi theo con đường mà Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã vạch ra. Nó có tầm vóc quốc tế, bời vì nó không rập khuôn mà vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, bài học của Cách mạng tháng Mười, góp phần vào sự thắng lợi của thời đại, được mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười.

Quá trình từ lúc xác định con đường cứu nước mới, đúng đến Cách mạng tháng Tám 1945, phải trải qua một sự lựa chọn công phu, sáng suốt, một cuộc đấu tranh tư tưởng của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam. Quá trình này tưởng chừng như đơn giản, và tự nhiên nhưng thực ra đó là chặng đường chiến thắng với bao khó khăn, với sự lựa chọn vững chắc nhằm tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt.


(1) Stein Tonnesson: The Vietnamese Revolution of 1945, Roosevelt, Ho Chi Minh and De Gaulle in a World at war, Sage Publications, 1991, London, New Burry Park, New Dehli, tr. 425-426.
(2) Lê Duẩn: Tiến lên dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 13.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 9989


Lính của PTL


« Trả lời #19 vào lúc: 19 Tháng Tám, 2011, 08:43:04 am »

Như chúng ta đã biết, bước vào thế kỉ 20 xu hướng dân chủ tư sản trong phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới nói chúng, ở Châu Á nói riêng, khá mạnh mẽ. Trong điều kiện lịch sử mới của xã hội loài người từ đầu thế kỉ 20, đặc biệt từ sau Cách mạng tháng Mười Nga, trên thực tế đã tồn tại hai con đường cứu nước - con đường giải phóng dân tộc theo kiểu dân chủ tư sản và con đường cứu nước vô sản.

Vào đầu thế kỉ 20, chủ nghĩa tư bản đã trở thành vật cản chủ yếu trên con đường phát triển lịch sử; giai cấp tư sản và con đường phát triển tư bản chủ nghĩa không còn là triển vọng, tiền đồ của lịch sử loài người, dù trong một thời gian nhất định nó vẫn còn tồn tại.

Trong điều kiện lịch sử mới của xã hội loài người từ đầu thế kỉ 20, đặc biệt là từ sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917, đã hình thành một xu hướng mới, tích cực, đầy triển vọng đối với phong trào giải phóng dân tộc. Đó là con đường cách mạng vô sản, trong đó vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội không gắn với chủ nghĩa tư bản như trước đây mà gắn với chủ nghĩa xã hội. Lịch sử trao cho giai cấp công nhân sứ mệnh lãnh đạo nhân dân các nước bị áp bức đấu tranh thoát khỏi ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc được đặt trong mối liên hệ với sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới.

Sự tồn tại của hai con đường cứu nước dân chủ tư sản và vô sản là một thực tế khách quan. Việc xác định con đường cứ nước nào tùy thuộc không chỉ vào điều kiện cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mà còn tùy thuộc chủ yếu ở sự nhật thức của bộ phận lãnh đạo và đông đảo quần chúng nhân dân. Đồng thời, phải nhìn nhận một cách khoa học con đường nào là con đường đúng để khẳng định và đi theo.

Đối với nhân dân Việt Nam, con đường giải phóng dân tộc duy nhất đúng là con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn, khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1). Thực tiễn đã chứng minh rằng, việc lựa chọn, khẳng định con đường cứu nước này là hoàn toàn đúng đắn, đầy triển vọng dù nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh gian khổ, đầy hi sinh, mất mát và còn phải tiếp tục chịu đựng gian khổ, hi sinh trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước. Học phí phải trả bằng máu, song kết quả thu được cũng rất to lớn. Đó là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 và những thắng lợi tiếp theo. Nếu việc xác định được con đường cứu nước đúng đã mở ra phương hướng mới cho sự thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc, thì việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là “một bước ngoặt vô cùng quan trọng”(2), một nhân tố quyết định sự thắng lợi. Cách mạng tháng Tám 1945 là kết quả hợp lí, sự thắng lợi tất yếu của cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam, tiếp nhận và thể hiện ở mức cao truyền thống dân tộc, theo con đường đúng đắn và được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Hồ Chí Minh. Cách mạng tháng Tám đã mở ra con đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng trong hơn nửa thế kỉ qua và góp phần không nhỏ và sự phát triển lịch sử thế giới.

Tiến hành một sự so sánh - dù có khập khiễng, nhưng cần thiết, giữa Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam với cuộc đấu tranh giành chính quyền ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc khác, chúng ta thấy rõ ý nghĩa to lớn của Cách mạng tháng Tám 1945 đối với thế kỉ 20 trong lịch sử phát triển xã hội loài người.

Cách mạng tháng Tám 1945 ở Việt Nam và cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở một số nước thuộc địa và phụ thuộc nổ ra gần như đồng thời, vào lúc chủ nghĩa phát xít Đức và quân phiệt Nhật bịt thất bại và đầu hàng không điều kiện, và bọn thực dân cũ “quyết tâm” trở lại xâm chiếm và thống trị. Ở Trung Cận Đông, sau khi mở các chiến dịch quân sự giành lại Xyri và Libăng bị phát xít Đức chiếm từ mùa xuân 1941, Anh hầu như khống chế cả vùng này, tuy phải nhân nhượng phần nào cho Pháp. Mãi đến tháng 12.1946, do áp lực của Liên hợp quốc, quân Anh, Pháp và các căn cứ quân sự của họ ở Xyri, Libăng mới được triệt thoát và hủy bỏ. Họ phải trao trả độc lập cho các chính phủ dân tộc, nhưng trên thực tế các nước này vẫn chưa thoát khỏi sự lệ thuộc vào các nước đế quốc.

Ở khu vực Đông Nam Á, giương ngọn cờ “xây dựng khu vực Đại Đông Á thịnh vượng”, quân phiệt Nhật lần lượt chiếm các thuộc địa của Anh, Pháp, Mĩ ở vùng này. Quân phiệt Nhật ra sức lôi kéo những người dân tộc tư sản cánh hữu ở các nước Đông Nam Á để thiết lập sự thống trị của mình. Chế độ tàn bạo của quân phiệt Nhật làm dấy lên phong trào chống Nhật, giành độc lập dân tộc ở khắp các nước Đông Nam Á. Song, ngay lúc bấy giờ phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á, trừ các nước Đông Dương, không đem lại kết quả như mong muốn, không giành được độc lập hoàn toàn.

Ở Malaixia, phong trào đấu tranh vũ trang chống Nhật phát triển khá mạnh mẽ, với Quân đội nhân dân Malaixia chống Nhật (MIPAJA - Malaya People Anti - Japanese Army), có khoảng 7.000 người, được một tổ chức chống Nhật có khoảng 300.000 hội viên, với đội quân du kích khoảng 10 vạn người ủng hộ. Nhưng cuộc chiến đấu của nhân dân Malaixia không đưa cách mạng đến thành công khi quân Nhật đầu hàng vì sự chia rẽ giữa ngươi Malaixia bản địa, người Malaixia gốc Ấn và người Malaixia gốc Hoa. Lợi dụng tình hình này, thực dân Anh đã đàn áp được cuộc chiến tranh du kích của nhân dân Malaixia và trao trả độc lập cho những người dân tộc chủ nghĩa (1957).

Ở Philippin, với đội quân Hukbalahap khoảng 10 vạn người, dày dạn trong đấu tranh chống Nhật, song không đủ sức ngăn được 375.000 quân Mĩ đánh chiếm đất nước khi lực lượng cách mạng bị suy yếu. Tuy nhiên, Mĩ cũng phải công nhận Philippin là quốc gia độc lập, song mọi quyền lợi của Mĩ ở quốc gia này còn nguyên vẹn.

Ở Miến Điện (nay là Myanma), Mặt trận nhân dân chống phát xít bao gồm những người cộng sản, những ngươi dân tộc tư bản và đông đảo các tầng lớp nhân dân, các dân tộc ít người, đã giải phóng đất nước vào tháng 8.1945. Nhưng do sự chia rẽ trong Mặt trận, sự phân hóa trong Đảng Cộng sản thành hai phái “Cờ Đỏ” và “Cờ Trắng”, nên lực lượng cách mạng bị suy yếu và đã thất bại trong cuộc đấu tranh chống quân Anh trở lại xâm lược. Đến năm 1948, Myanma mới được trao trả độc lập.

Ở Inđônêxia, Đảng Cộng sản ra đời sớm (1920), được tôi luyện trong cuộc khởi nghĩa dân tộc 1926-1927, song khuynh hướng tư sản dân tộc vẫn phát triển nhanh chóng, ảnh hưởng sâu rọng trong nhân dân. Với uy tín của mình, Xucacnô đã nắm vai trò lãnh đạo dân tộc, tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám (17.8.1945), công bố Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Inđônêxia. Khi quân Hà Lan trở lại xâm lược, Inđônêxia thành một nước nửa thuộc địa. Mãi đến ngày 15.8.1950, nước Cộng hòa Inđônêxia mới được tuyên bố thành lập, thoát khởi sự thống trị của thực dân Hà Lan.

Ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa khác, như ở Trung Quốc, Triều Tiên, Angiêri… chiến thắng chủ nghĩa phát xít là một cơ hội cho phong trào giải phóng dân tộc phát triển, song không có cuộc cách mạng nào nổ ra để giành được độc lập lúc bấy giờ. Ấn Độ được trao trả độc lập theo “kế hoạch Maobattơn” vào ngay 15.8.1947, với việc hình thành hai nước riêng rẽ: Cộng hòa Ấn Độ và nước Pakixtan. Ở Trung Quốc, phải sau khi cuộc chiến tranh cách mạng đánh đuổi tập đoàn Tưởng Giới Thạch ra khỏi lục địa, cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa mới thắng lợi và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mới được thành lập (1.10.1949). Sự kiện này làm thay đổi cán cân lực lượng giữa cách mạng thế giới và các nước tư bản đế quốc.

Nhìn chung, sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng, ở một số nước Châu Á, nhất là ở Đông Nam Á, đã bùng nổ cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 9, sđd, tr. 314.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, sđd, tr. 8.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM