Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Tám, 2020, 07:33:01 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trường Sơn - Đường khát vọng  (Đọc 150297 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #60 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:19:47 pm »

Tuyến vận tải quân sự chiến lược 559 tuy gặp khó khăn bước đầu, nhưng đó là những thử thách không thể tránh. Ta không có cách lựa chọn nào khác, trong khi yêu cầu của chiến trường ngày càng lớn; Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, Bộ Tư lệnh 559 phối hợp với các địa phương, các lực lượng chiến trường ta và bạn, sử dụng mọi biện pháp tổng hợp, từng bước phát triển vận tải cơ giới đường bộ, đường sông là chủ yếu, đồng thời tùy tình hình cụ thể từng nơi từng lúc mà kết hợp vận chuyển thô sơ. Giao đồng chí Đinh Đức Thiện phối hợp với các tổng cục trực tiếp chỉ đạo giúp đỡ Tuyến 559. .

Theo phương hưởng chỉ đạo của Thường trực Quân ủy Trung ương, khối lượng vận tải năm 1967 được xác định là 20.235 tấn, trong đó chi viện cho chiến trường miền Nam và Lào 8.765 tấn, cho các lực lượng nội bộ Đoàn 559 là 11.470 tấn và đảm bảo hành quân cho 37.000 người.

Thường trực Quân ủy Trung ương chỉ rõ khối lượng vận chuyển và hành quân đó là yêu cầu thấp nhất, Đảng ủy Tổng cục Hậu cần và Đảng ủy 559 phải nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được và cố gắng thực hiện vượt mức càng nhiều càng tốt. Phải giáo dục nhiệm vụ và lãnh đạo tư tưởng thật chặt chẽ, để phòng hiện tượng thấy kế hoạch mới thấp hơn kế hoạch cũ sinh ra chủ quan, lơi lỏng. Phải tận dụng những điều kiện thuận lợi và kinh nghiệm sẵn có ra sức vượt qua mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành vượt mức kế hoạch mùa khô 1966 - 1967, sau đó sẽ rút quân ra hậu phương nhằm giảm tiêu thụ nội bộ và tăng khối lượng vận chuyển cho chiến trường.

Đầu tháng 10 năm 1966, Đảng ủy Đoàn họp bàn kế hoạch triển khai thực hiện. Trên cơ sở đánh giá chất lượng các tuyến đường, Đảng ủy chủ trương lấy tuyến đường 12 làm trục vượt khẩu chủ yếu, tuyến đường 20 làm trục bổ trợ. Sử dụng tuyến vận chuyển cơ giới trên các đoạn từ Mụ Giạ vào Sa Đi - La Hợp - A Túc, từ Chà Vằn vào Tà Xẻng, từ Phi Hà đi Tà Ngâu, còn các đoạn khác thì dùng xe thồ.Tuyến sông Sê Kông từ Bạc đi Pác Ca Don và Sa Khe thì dùng vận chuyển thuyền.

Đảng ủy nhấn mạnh: muốn thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vận chuyển phải tiến hành các biện pháp tổng hợp, trước hết là phát động toàn tuyến "đánh địch mà đi”. Phát huy tất cả các lực lượng đánh máy bay, biệt kích, để bảo vệ hành lang, bảo vệ cầu đường, bảo vệ vận tải. Lực lượng đảm bảo giao thông phải coi cầu đường là chiến trường, bám sát cầu đường, làm đường và sửa đường ban ngày là chính, kết hợp khôi phục đường cũ với mở thêm đường mới để đảm bảo giao thông thông suốt cả mùa khô. Tổ chức vận chuyển phải vận dụng cách "đánh nhỏ ăn chắc” đi theo đội hình trung đội, tiểu đội là chủ yếu.

Đặc biệt phải tăng cường lãnh đạo, chỉ huy chặt chẽ. Giao cho các binh trạm trực tiếp chỉ huy lãnh đạo các lực lượng xe, công binh, cao xạ, giao liên trong biên chế; tăng cường cán bộ đốc chiến tại các trọng điểm. Công tác lãnh đạo của Đảng và công tác chính trị phải tập trung giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm chính trị với chiến trường, sẵn sàng hy sinh xả thân vì nhiệm vụ, nêu cao ý thức đoàn kết hiệp đồng chiến đấu giữa các lực lượng, ý thức tổ chức kỷ luật.

Trung tuần tháng 10 năm 1966, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh 559 tổ chức hội nghị quân chính toàn tuyến tại Cự Nẫm (Bố Trạch, Quảng Bình) nhằm nghiên cứu quán triệt nghị quyết của Bộ Chính trị về tình hình nhiệm vụ, giúp mọi người nhận rõ thắng lợi to lớn và tình thế mới của cách mạng miền Nam, thế bị động thất bại của địch; đánh giá đúng khả năng có hạn của địch về biện pháp chiến tranh ngăn chặn tuyến chi viện 559. Từ đó củng cố lòng tin và khả năng hoàn thành kế hoạch sắp tới. Đồng thời quán triệt nghị quyết của Đảng ủy Đoàn về nhiệm vụ mùa khô 1966 - 1967 và phát động phong trào thi đua "quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, phục vụ chiến trường đánh to thắng lớn".

Riêng với lực lượng xe, phát động phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ 10.000 tấn/km" cho các lái xe loại 4 tấn, và "dũng sĩ 5.000 tấn/km" cho các lái xe loại 2 tấn; các lực lượng phòng không "thi đua bắn rơi chiếc máy bay thứ 100”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #61 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:20:23 pm »

Hội nghị quân chính Cự Nẫm có ý nghĩa quan trọng. Lần đầu tiên cán bộ chủ trì các cấp được nhận thức có hệ thống tình hình mới của nhiệm vụ cách mạng, nhiệm vụ chi viện chiến lược, các biện pháp tổng hợp, trên cơ sở đó đã tạo được sự nhất trí về tư tưởng và quyết tâm cao, báo hiệu sự "chuyển mình" của Đoàn trong cuộc chiến đấu sắp tới. Quyết tâm của hội nghị đã nhanh chóng biến thành hành động tự giác của cán bộ, chiến sĩ toàn tuyến, tạo được khí thế thi đua lập công mạnh mẽ ngay từ đầu mùa.

Đầu tháng 11, các đơn vị công binh đã dàn xong đội hình. Trên trục đường dài khoảng 1.200km, bố trí 2 trung đoàn và 10 tiểu đoàn với số quân 7.786 người. Lực lượng đảm bảo giao thông lên tới 12 tiểu đoàn với số quân 4.786 người, trung bình 1km có 4 người, ở những đoạn xung yếu lên tới 7 - 8 người/ 1 km. Cán bộ, chiến sĩ đều đã có kinh nghiệm chiến đấu bước đầu.

Song mùa mưa năm này kéo dài hơn bình thường. Đến giữa tháng 11, trên tuyến vẫn còn mưa, nhất là khu vực từ bắc Bạc trở ra. Mặt đường nhiều chỗ còn lầy. Mức nước ở các đường ngầm quan trọng nhiều ngày vẫn cao từ 1,5 đến 1,7m. Cầu Na Tông, các đường ngầm Pác Pha Năng, Tha Mé, Tà Khống chưa qua được. Thời gian bước vào kế hoạch vận chuyển chậm hơn mọi năm nửa tháng.

Trong khi đó hoạt động của địch cũng tăng dần. Không quân địch tăng cường trinh sát dọc tuyến vận chuyển, tập trung từ các cửa khẩu đường 12, đường 20 đến đường 9, đánh mạnh đường 128 và phà Tha Mé, chặn đánh đội hình xe ban đêm từ Pắc Pha Năng đến đường 9. Ở phía trong, chúng rải chất độc hóa học xuống khu vực Phi Hà, dốc 200 (đường C4); thả biệt kích dọc tuyến từ Bô Phiên đến Tà Xẻng. 

Theo kế hoạch, ngày 15 tháng 11 năm 1966, toàn tuyến mở đầu hoạt động vận chuyển. Các xe đều ngụy trang tốt, đội hình hành tiến có chỉ huy chặt chẽ, xử lý các tình huống trên các đường khá linh hoạt. Khi địch đánh chặn, xe vẫn cứ tiến và lợi dụng ánh sáng đèn dù của địch vượt nhanh qua các khu vực trọng điểm. Vì vậy các đội hình khi tới đích tương đối an toàn và đúng thời gian quy định. Ba lực lượng công binh, cao xạ, lái xe, bắt đầu xây dựng được quan hệ hiệp đồng trong chiến đấu.

Trong chuyến vận chuyển đầu tiên từ Lùm Bùm xuống đường 9, trung đội xe của đại đội 5 - tiểu đoàn 54 do đai đội trưởng Trần Ngọc Tẩn chỉ huy bị máy bay địch chặn đánh ở đoạn đường Noọng Kà Đeng - Nậm Mi. Bom phá, bom bi, đạn 20 ly của địch đánh phá rất ác liệt nhưng đội hình xe vẫn dũng cảm băng qua. Mặt đường ngổn ngang đất đá cây đổ, cán bộ chiến sĩ lái xe chủ động dùng cưa cắt cây dùng thuốc nổ đánh bật những chướng ngại vật. Công binh cũng lao đến ứng cứu, cùng bộ đội lái xe sửa đường và dùng súng bộ binh bắn trả máy bay địch, chi viện cho đội hình xe vượt qua an toàn. Trận thắng này thể hiện một nét mới trong phong cách chiến đấu của bộ đội xe và công binh. .

Ở phía nam, do tình hình Campuchia có biến động nên ta không mua được xăng. Binh trạm 5 phải dùng xe thồ kết hợp với một số ô tô chạy từng đoạn, cố gắng đảm bảo gạo cho các đơn vị hành quân và giao cho chiến trường Tây Nguyên được 52 tấn. Cung đường từ A Túc đi Bù Lạch chưa làm kịp đường thồ nên phải tổ chức gùi bộ, giao cho Trị - Thiên được 24 tấn vũ khí và Khu 5 được 45 tấn vũ khí. Kết quả vận chuyển tháng 11 của toàn tuyến còn thấp nhưng đã khởi đầu thắng lợi làm cho mọi người phấn khởi, tăng thêm tin tưởng vào khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

Cũng trong tháng này, tuyến giao liên mới từ Mụ Giạ qua Lùm Bùm vào đường 9 đã triển khai xong, cơ bản hoàn thành việc mở đường, rải trạm, bắt đầu phục vụ bộ đội hành quân.

Từ tháng 12, thời tiết khô ráo, đường cầu thông suốt, các đơn vị xe vào cung. Mọi mặt hoạt động được triển khai nhanh mạnh trên toàn tuyến. Khó khăn lớn nhất là máy bay địch đánh phá mạnh từ cửa khẩu vào đến nam đường 9, chủ yếu đánh đường giao thông, tập rung vào các trọng điểm Pác Pha Nang (60 lần/chiếc/ngày), Tà Khống, Tha Pa Chôn (77 lần/chiếc/ngày), Văng Mu (68 lần/chiếc/ngày), Tha Mé (601 lần/chiếc/ngày). Mặt đường có chỗ bị phá hoại hàng trăm mét khối. Các đơn vị công binh tích cực bám trụ mặt đường, tranh thủ khắc phục phá hoại ngay sau trận đánh nên ban đêm vẫn đảm bảo thông đường. Trong lực lượng công binh xuất hiện khẩu hiệu thi đua "Địch đánh ngày coi như không đánh". Một số trường hợp bị địch đánh tắc đường vào ban đêm, các đội trực chiến cơ động ứng cứu khắc phục thông xe ngay trong đêm, hạn chế số giờ tắc đường.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #62 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:20:57 pm »

Bộ đội phòng không cũng có chuyển biến tích cực trong nhiệm vụ đánh địch bảo vệ vận chuyển. Trong tháng 12 năm 1966 và tháng 1 năm 1967, các lực lượng trên tuyến bắn rơi được 35 máy bay. Vấp phải hỏa lực đánh trả ngày càng mạnh, máy bay địch buộc phải nâng độ cao hoạt động, hiệu quả đánh phá giảm nhiều. Tỷ lệ bom trúng đường chỉ từ 2% đến 3%, tạo điều kiện cho công binh khắc phục nhanh, giữ đường cầu luôn thông suốt. Chỉ tiêu quy định mỗi tháng không để tắc đường quá 5 đêm nhưng trong tháng 12 năm 1966 và tháng 1 năm 1967 toàn tuyến không có đêm nào bị tắc..

Thắng lợi của lực lượng phòng không và công binh đã tạo thuận lợi và khích lệ bộ đội xe. Ý thức rõ vai trò xung kích trên mặt trận vận chuyển, cán bộ chiến sĩ các đơn vị xe coi nhiệm vụ vận chuyển là nhiệm vụ chiến đấu, mỗi chuyến xe là một trận đánh, động viên nhau dũng cảm vượt qua bom đạn đưa hàng đến đích.

Trong lán trại, trong các buồng lái, đâu đâu cũng gặp khẩu hiệu hành động: "Thà hy sinh trên vành tay lái, quyết không để chiến trường thiếu hàng". Trong mỗi chuyến đi, dù đêm nào cũng bị máy bay địch săn chặn, cán bộ chiến sĩ các đơn vị đều dũng cảm chiến đấu, mưu trí nắm quy luật đánh phá của địch để vượt qua an toàn. Tuy các đơn vị đều có tổn thất, xe cháy, người bị thương vong nhưng luôn động viên nhau giữ vững ý chí chiến đấu, cứu xe, cứu hàng, cứu thương binh.

Không khí thi đua hoàn thành nhiệm vụ ngày càng sôi nổi. Cán bộ, chiến sĩ lái xe nô nức phấn đấu vượt cung, tăng chuyến, quyết giành danh hiệu "Dũng sĩ lái xe quyết thắng”. Phong trào thi đua giải phóng xe nhanh của các đơn vị kho cũng phối hợp tạo thuận lợi cho xe quay vòng nhanh. Chỉ tiêu mỗi tháng một xe phải thực hiện được 7 đến 8 chuyến, nhưng phần lớn đã đi được 10 đến 11 chuyến. Khối lượng hàng đến đích ngày càng tăng. Binh trạm 1 và Binh trạm 2 đạt 115% đến 125% kế hoạch, luân phiên được Bộ Tư lệnh Đoàn tặng cờ thi đua luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhằm tăng thêm tính vững chắc cho kế hoạch, đầu tháng 12 năm 1966, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đề nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cho mở tuyến vận tải thô sơ xuyên từ ngã ba biên giới qua Tây Nguyên để chuyển vũ khí cho Nam Bộ đề phòng tình hình chính trị ở Campuchia còn khó khăn và tăng cường lực lượng mở nhanh đường xe cơ giới nhẹ có trọng tải khoảng 500kg (loại Gát 69B) từ A Túc vào Bù Lạch để tăng khả năng bảo đảm cho hướng trọng điểm là Khu 5.

Kế hoạch mở đường từ A Túc đi Bù Lạch được Bộ chấp thuận và chỉ thị phải làm gấp để kịp sử dụng trong mùa khô 1967. Bộ cũng cấp ngay cho tuyến 20 xe Gát 69B để sử dụng vận chuyển khi thông đường. Vì công việc quan trọng và cấp bách, Bộ Tư lệnh Đoàn cử Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân và Phó Tham mưu trưởng công binh Lê Nam Hải vào trực tiếp chỉ đạo, khảo sát và thi công.

Những tháng cuối năm 1966, Mỹ bắt đầu cuộc phản công chiến lược lần thứ hai nhằm “tìm diệt” quân chủ lực, phá căn cứ kháng chiến của ta và "bình định", giành dân, mở rộng phạm vi kiểm soát, giải tỏa thế uy hiếp của ta xung quanh Sài Gòn và các đô thị hòng giành thắng lợi về quân sự, làm chuyển biến cục diện chiến tranh.

Nhiệm vụ tăng cường lực lượng vật chất cho các chiến trường miền Nam ngày càng lớn. Bộ Quốc phòng và các Tổng cục khẩn trương bổ sung lực lượng và phương tiện cho Đoàn 559, tăng cường nhiều cán bộ có kinh nghiệm vào vị trí chủ chốt ở Bộ Tư lệnh Đoàn và các binh trạm. Đầu tháng 1 năm 1967, đại tá Đồng Sĩ Nguyên - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đặc trách Tổng cục Hậu cần tiền phương ở tuyến nam Quân khu 4 được chỉ định kiêm Tư lệnh Đoàn 559 nhằm tăng cường công tác chỉ huy tuyến 559 đồng thời đảm bảo sự hợp đồng chặt chẽ giữa tuyến trước và tuyến sau.

Ngay sau khi nhận nhiệm vụ, được sự đồng ý của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 559, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên đã cùng cán bộ các cơ quan khảo sát tình hình cầu đường và hoạt động của các lực lượng trên toàn tuyến, trước hết là các binh trạm từ đường 9 trở ra. Sau đợt khảo sát, đồng chí Tư lệnh đã báo cáo trước Đảng ủy thực trạng tình hình, biểu dương ý chí kiên cường và những nỗ lực lớn của cán bộ, bộ đội, thanh niên xung phong trong các hoạt động bảo đảm giao thông, đánh địch, vận tải. ..; đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề cần nhanh chóng và kiên quyết khắc phục như không đánh giá đúng tình hình so sánh lực lượng địch - ta trên tuyến.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #63 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:21:29 pm »

Do địch đánh phá liên tục và ngày càng ác liệt một số cán bộ, chiến sĩ mới thấy cái mạnh của địch mà chưa thấy những hạn chế của chúng, chỉ nhìn thấy hoặc quá nhấn mạnh cái khó khăn, yếu kém, mà chưa nhận rõ đánh giá đúng những mặt mạnh của ta. Từ đó, dẫn đến đánh giá cao địch, tư tưởng dao động, nặng về phòng tránh, làm ăn nhỏ lẻ, rụt rè, hiệu quả thấp, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các chiến trường. Đồng chí Tư lệnh phân tích:

Tình hình hoạt động, sự đánh phá của địch trên tuyến thời gian qua cho thấy, không quân Mỹ với nhiều loại máy bay và bom đạn hiện đại, có sức tàn phá ngăn chặn lớn, song trên một tuyến có chính diện rộng, kéo dài, đã bộc lộ rõ khả năng có hạn, không thể kiểm soát hết mọi chỗ.

Tại những điểm tập trung cao, mỗi ngày địch đánh phá từ 6 đến 10 đợt, mỗi đợt từ 15 đến 25 phút, cộng lại thời gian đánh phá mỗi ngày cao lắm khoảng hơn 3 giờ. Nhưng tập trung đánh nơi này thì bỏ lỏng nơi khác, đánh phía cửa khẩu nhiều thì giảm phía trong, đánh ban ngày nhiều thì giảm ban đêm. Thực chất không quân Mỹ có làm chủ ở mức độ nhất định, chứ không phải làm chủ hoàn toàn về thời gian và không gian.

Dưới mặt đất, ta mới là người làm chủ. Ta lại có nhiều thế lợi am hiểu địa hình, có công sự, có cây rừng che phủ, cán bộ chiến sĩ đều dũng cảm mưu trí, nếu được trang bị kiến thức quân sự và tư tưởng chủ động tiến công, thực sự biến tuyến vận tải thành một chiến trường "Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến" thì nhất định hiệu quả sẽ khác, sức mạnh của địch còn hạn chế hơn nữa. Để nâng cao hiệu suất chiến đấu, cần vận dụng các quan điểm tư tưởng quân sự của Đảng vào lĩnh vực vận tải quân sự, quan trọng nhất là tư tưởng tiến công, tư tưởng đánh tập trung, đanh tiêu diệt, đánh gần, vào hoạt động của từng lực lượng.

Tư tưởng tiến công phải được cụ thể hóa, nhất là ở các binh chủng chủ yếu.

Đối với bộ đội cao xạ phải bố trí lại trận địa bám sát các mục tiêu bảo vệ, lấy chốt trọng điểm là chính, kết hợp với cơ động thích hợp. Từ trận địa bám trụ ở trọng điểm mà đánh tiêu diệt máy bay địch để bảo vệ đội hình hành tiến của bộ đội xe, đội hình tác nghiệp của công binh và cầu đường, làm cho xác suất bom đạn giảm, tổn thất của ta ít, tốc độ vận chuyển tăng.

Đối với bộ đội công binh phải xây dựng công sự bám trụ ở ngay trọng điểm, lấy chốt trọng điểm như trận địa chiến, tăng công cụ cải tiến, tăng máy húc, xe ben, thuốc nổ để giảm bớt người mà vẫn ứng cứu khắc phục phá hoại nhanh. Kết hợp chống phá hoại với mở rộng mặt đường, thực hiện "Địch càng đánh thì mặt đường càng rộng, xe qua càng nhanh". Đồng thời dành một lực lượng cơ động để liên tục mở đường mới. Từ việc mở các đường tránh cục bộ ở từng trọng điểm sẽ nổi dần lại thành một tuyến mới song song. Nắm vững quy luật đánh phá của địch, lợi dụng thời tiết, sương mù, mây thấp, từ lấn sáng, lấn chiều chuyển sang làm đường ban ngày là chính, ban đêm tập trung khắc phục hậu quả và ứng cứu cho đội hình xe.

Đối với bộ đội xe vận tải phải chuyển sang tổ chức thành đội hình nhiều thê đội quy mô đại đội hoặc tiểu đoàn, có chỉ huy chặt chẽ; xóa lối đi tự do từng chiếc, từng tốp nhỏ. Xây dựng các căn cứ tập kết xuất phát an toàn với nhiều đường tiếp cận ra đường trục; tận dụng sương mù và thời tiết chạy lấn chiều lấn sáng để tăng thời gian xe lăn bánh, lợi dụng pháo sáng và quy luật đánh phá của địch, chủ động và liên tục tiến công, luôn đạt hiệu suất cao, vượt cung tăng chuyến.

Không quân địch thường tập trung đánh vào trọng điểm nhằm tạo ưu thế chặn đứng đội hình xe tiến công, chia cắt bệ thống giao thông. Vì vậy phải tổ chức chiến đấu hiệp đồng binh chủng tại nơi đó, đánh bật địch, bảo vệ đội hình xe vượt trọng điểm. Đây là hình thức tác chiến ở trình độ cao, bảo đảm thắng lợi cho từng chuyến vận chuyển.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #64 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:22:08 pm »

Các binh trạm phải trở thành một tổ chức chỉ huy chiến đấu thực sự của bộ đội hợp thành, biết nắm và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự vào đặc điểm chiến đấu trên tuyến vận tải chiến lược, khắc phục cách làm cũ chỉ biết vận tải đơn thuần. Cơ quan Bộ Tư lệnh cũng chuyển hẳn sang chỉ huy hợp đồng binh chủng, không phải dừng lại ở chỉ đạo. Tăng cường nhanh trang thiết bị xây dựng mạng thông tin đa phương tiện, thông suốt liên tục, đảm bảo chỉ huy trực tiếp của Đoàn với các binh trạm phía bắc (từ cửa khẩu đến bắc Bạc), nắm trực tiếp từ một đến hai trọng điểm ở gần như Văng Mu, Cốc Mạc. Sau đó khẩn trương triển khai bảo đảm chỉ huy trực tiếp của Đoàn với các binh trạm phía nam.

Vấn đề có ý nghiã đặc biệt quan trọng là phải biết tạo thời cơ và nắm thời cơ. Khi thời cơ đến phải huy động cao độ sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Hiện nay mùa khô chỉ còn 3 tháng. Phải động viên các lực lượng tranh thủ từng giờ từng phút, bằng mọi biện pháp thực hiện chỉ tiêu vận tải tháng 2 năm 1967 với khối lượng trên 6.000 tấn, tăng gấp đôi so với tháng 1 năm 1967, giao đến các chiến trường đủ số lượng, chủng loại, kịp thời, ưu tiên với các chiến trường xa.

Công tác chính trị tư tưởng lúc này phải quán triệt, làm chuyển biến cho được tu tưởng tiến công, khắc phục tư tưởng dao động, phòng tránh đơn thuần, đồng thời đề phòng chủ quan, mất cảnh giác.

Theo đề nghị của Chính ủy Vũ Xuân Chiêm, báo cáo của Tư lệnh được bổ sung,  xây dựng thành một nghị quyết quan trọng của Đảng ủy và cần được tổ chức quán triệt ngay cho cán bộ các cấp.

Trong các cuộc họp cán bộ ở cơ quan và các binh trạm phía bắc, khi nghe trình bày nội dung nghị quyết mới, mọi người đều rất phấn khởi trước những nhận định, phân tích sắc sảo tình hình, những chủ trương mới mẻ, sát thực tiễn, có sức thuyết phục cao và tin tưởng sẽ tạo được sự chuyển biến mạnh trong các lực lượng. Sau hội nghị, cán bộ hối hả về ngay đơn vị để lo triển khai nhanh công việc mới.

Thời gian này, tin chiến thắng trên các chiến trường ngày càng dồn dập. Ở miền Bắc, quân và dân các địa phương liên tiếp đánh thắng giòn giã, bắn rơi được nhiều máy bay địch; sản xuất được giữ vững, đởi sống của nhân dân trong chiến tranh vẫn căn bản được ổn định; giao thông vận tải tuy gặp nhiều khó khăn, nhưng ngày càng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu chi viện tiền tuyến.

Chiến trường miền Nam cũng đang thắng to. Các cuộc hành quân Attơnborơ, Xêđaphôn của Mỹ - ngụy vào chiến khu Dương Minh Châu và vùng tam giác Củ Chi - Bến Cát - Bến Súc bị quân và dân miền Nam bẻ gãy. Các chiến trường đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Khu 5, Trị-Thiên đẩy mạnh hoạt động phối hợp với miền Đông Nam Bộ làm cho Mỹ - ngụy rất lúng túng.

Cuối tháng 1 năm 1967, Quốc hội và Chính phủ công bố quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho nhiều đơn vị và cá nhân. Đây là nguồn cổ vũ rất lớn, làm cho cán bộ, chiến sĩ Tuyến 559 thêm tin tưởng vào thắng lợi, càng thấy rõ sự gắn bỏ của hoạt động trên tuyến với cuộc chiến đấu trên các chiến trường. Không khí thi đua phục vụ chiến trường đánh to thắng lớn sôi nổi trong các đơn vị.

Từ tháng 2 năm 1967, cường độ đánh phá của địch tăng gấp từ 2 đến 3 lần, tập trung ở khu vực cửa khẩu vào đến đường 9; đồng thời bắt đầu đánh mạnh ở phía trong như Tà Beng, La Hạp, dốc 105, phà Bạc, dốc Bô Phiên.

Sang tháng 3 và tháng 4 năm 1967, địch bắt đầu đánh mạnh vào khu vực Binh trạm 7 và đường B45 đi Thừa Thiên. Địch cũng tăng hoạt động biệt kích, thám báo phá hoại ở mặt đất, dùng trực thăng đổ bộ quân xuống những nơi quan trọng như ngã ba La Hạp và những nơi tiếp giáp với chiến trường. Chúng còn tung các trung đội quân ngụy miền Nam có trang bị cả súng cối 81 ly, đại liên, trung liên vào khu vực Chà Vằn, Phi Hà uy hiếp đường giao liên của ta.

Thường vụ Đảng ủy Đoàn động viên cán bộ, chiến sĩ các lực lượng quyết thắng địch trong bất kỳ tình huống ác liệt nào; đồng thời đề nghị Bộ Quốc phòng cho phép được tự điều chỉnh lực lượng, tổ chức thêm một số đơn vị từ cấp tiểu đoàn trở xuống để tăng thêm lực lượng chiến đấu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #65 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:22:49 pm »

Quán triệt tư tưởng tiến công, cả mặt trận vận tải Trường Sơn hừng hực khí thế lập công, quyết tâm đóng góp cao nhất vào nhiệm vụ chi viện. Những tấm gương về chủ nghiã anh hùng cách mạng xuất hiện ngày càng nhiều. Phong trào đánh máy bay địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay phát triển mạnh.

Các đơn vị cao xạ mở hội nghị quân sự dân chủ nghiên cứu cách đánh địch có hiệu quả hơn, tìm cách khắc phục trở ngại về địa hình, xây dựng trận địa ngay tại trọng điểm để đánh địch ngay trên mục tiêu bảo vệ. Tiểu đoàn 1 8, tiểu đoàn 10 bảo vệ tốt các khu vực Pác Pha Nang, Lùm Bùm, Noọng Kà Đeng. Tiểu đoàn 14 vừa được xây dựng lại sau trận tổn thất nặng ở Rừng Thông năm 1966, được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực Tha Pa Chôn đã bố trí ngay cạnh đường, đánh trả địch quyết liệt, liên tiếp bắn rơi 3 máy bay. Tiểu đoàn 7 bảo vệ khu vực từ Sa Đi đến Sê La Măng, trong tháng 2 năm 1967 đánh 3 trận đều bắn rơi máy bay; riêng ngày 5 tháng 2 bắn rơi 4 chiếc. Ở đèo Tha Mé, ngày 15 tháng 3, đại đội 1 thuộc tiểu đoàn 16 mặc dù bị tổn thất nặng, chỉ còn 2 khẩu đội vẫn ngoan cường chiến đấu bắn rơi 1 máy bay.

Các ổ thổ phỉ, biệt kích bị truy lùng ráo riết, bị đánh bật khỏi các cao điểm ven hành lang, làm đảo lộn hệ thống hoạt động thám báo của địch khiến chúng không chỉ điểm được cho không quân đánh phá. Khu vực Bản Sọc (đông nam Sa Ra Van) có 2 đại đội ngụy Lào thường xuyên nống ra vùng Chà Vằn - Pa Hưng quấy phá dân, bắt người, uy hiếp tuyến đường sông từ Bạc đi Sa Khe. Binh trạm 3 đã tập trung lực lượng bộ binh và bộ đội thồ, tiến công tiêu diệt gọn căn cứ Bản Sọc, diệt và gọi hàng 253 tên; toàn bộ vùng Bản Sọc được giải phóng.

Bộ đội công binh ngày càng có kinh nghiệm chống phá hoại. Các đội ứng cứu giao thông bám sát mặt đường, bám sát các trọng điểm. Địch đánh xong là trinh sát tình hình và tổ chức khắc phục ngay, giành giật với địch từng thước đường, từng giờ thông đường. Binh trạm 1 bị đánh rất quyết liệt nhưng là đơn vị có nhiều kinh nghiệm nên thường khắc phục nhanh, ít để ảnh hưởng đến cung độ của xe.

Các điểm vượt sông quan trọng (Pác Pha Năng, Tà Khống, Tha Mé) đều tạo được nhiều bến vượt; tắc bến này điều chỉnh cho xe đi bến khác. Các đơn vị thường chuẩn bị sẵn vật liệu, dự trữ đá, vỏ phuy xăng hỏng, gỗ..., để san lấp các hố bị phá hoại được nhanh. Các cầu hiểm yếu đều có sẵn vật liệu thay thế. "Cầu ông Giảng” - một cầu hiểm yếu ở chân đèo Văng Mu, cao hơn 5m bị đánh gãy phải thay mặt cầu khác nhưng chỉ đến nửa đêm đã khắc phục xong.

Các đơn vị xe động viên nhau nâng cao đầu xe hoạt động, vượt cung tăng chuyến đưa nhiều hàng ra phía trước. Trong bom đạn ác liệt, các dũng sĩ lái xe nêu cao khí phách anh hùng, mưu trí, dũng cảm xả thân vì nhiệm vụ. Nhiều chiến sĩ lái xe bị thương nặng vẫn dũng cảm chịu đau đưa xe vượt khỏi vùng bom đạn để cứu xe, cứu hàng. Chiến sĩ bị thương vong thì cán bộ lái thay. Hành động tiên tiến xuất hiện ngày càng phổ biến trong các đơn vị. Bộ Tư lệnh 559 đánh giá đó là những con người "gan vàng dạ ngọc".

Các chỉ tiêu về cung độ liên tiếp được nâng lên. Từ 050 (Mụ Giạ) đi Lùm Bùm đường dài 110km, gần 50% số xe của tiểu đoàn 51 đã rút xuống 2 đêm 1 chuyến. Từ Lùm Bùm vào Na Hi, tiểu đoàn 102 và tiểu đoàn 52 thực hiện phổ biến 2 đêm 1 chuyến. Cung 050 vào Ka Vát, tiểu đoàn 101 cũng rút xuống 2 đêm 1 chuyến. Các cung Na Hi đi Sa Đi, Sa Đi vào Bạc, vào A Túc, tiểu đoàn 54 và tiểu đoàn 55 cũng rút xuống 3 đêm 1 chuyến.

Cách phục vụ của các đơn vị kho chuyển biến hẳn. Các kho đều cải tiến quy hoạch cho phù hợp với yêu cầu vận chuyển lớn giải phóng xe nhanh như: Tổ chức từng khu kho cho từng mặt hàng, làm bãi đỗ xe trong khu vực kho để tiện lấy và trả hàng, mở đường ra vào thuận tiện để xe không bị ùn tắc, mở đường tiếp cận trục đường chính để xe xuất phát được nhanh. Việc bốc dỡ được thực hiện theo khẩu hiệu "Tất cả để chuyển nhanh hàng ra phía trước", "Kho chờ xe chứ không để xe chờ kho".

Bất kể ngày đêm, xe đến lúc nào cán bộ chiến sĩ kho khẩn trương bốc dỡ lúc đó, đưa năng suất lên rất cao: Xếp dỡ một xe 2 tấn chỉ hết 4 đến 5 phút, xe 4 tấn chỉ cần 6 - 8 phút. Trong khoảng 30 đến 40 phút đã xếp dỡ xong cho một đại đội xe. Bình quân mỗi chiến sĩ kho bốc dỡ một ngày từ 14 tấn đến 15 tấn có người đạt 21 tấn một ngày.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #66 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:23:28 pm »

Ngày 22 tháng 2 năm 1967, địch huy động 45.000 quân, 11.000 xe cơ giới (có 2.000 xe tăng, xe bọc thép), 600 máy bay các loại mở cuộc hành quân Gian xơn Xi ti đánh phá căn cứ Dương Minh Châu. Đây là cuộc hành quân lớn nhất trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, cũng là đỉnh cao nhất trong các cuộc tiến công của Mỹ ở chiến trường miền Nam.

Để đảm bảo đánh bại cuộc hành quân của địch, kế hoạch vận chuyển tháng 2 được giao gần gấp rưỡi. Mặc dù Đoàn đã rất cố gắng, nhưng tính đến ngày 18 tháng 3, toàn tuyến mới đạt hơn 50% kế hoạch. Từ bắc đường 9 trở ra không quân địch thay đổi thủ đoạn đánh phá, một mặt tăng cường săn đuổi xe, mặt khác chúng bất ngờ tập trung lực lượng mở trọng điểm mới khiến hàng mấy trăm xe của các tiểu đoàn 102, 52 ứ lại nằm rải rác từ đèo Pa Kha đến Lùm Bùm. Lượng hàng từ ngoài vào đường 9 bị cắt đứt, gây nguy cơ đổ vỡ kế hoạch chi viện chiến trường.

Trước khó khăn mới trên toàn tuyến, Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Đoàn chỉ thị cho các đơn vị phải nhanh chóng khắc phục hiện trạng về tổ chức chỉ huy; mấu chốt là tổ chức hiệp đồng chiến đấu ở các khu vực trọng điểm. Cán bộ chỉ huy phải quán triệt tư tưởng tiến công và tiến công liên tục, dũng cảm, có gan phụ trách, dám thích ứng cái mới, không ngừng khắc phục những biểu hiện trì trệ lạc hậu để giành thắng lợi từng ngày, từng tuần, tiến lên giành thắng lợi cả tháng. Tại các trọng điểm Văng Mu, Tha Mé, Tà Khống hình thành cụm chỉ huy hiệp đồng chiến đấu mạnh, tạo điều kiện cho các đội hình xe tiến công liên tục.

Cùng thời gian này, Bộ Tư lệnh Đoàn cử Phó Chính ủy Hồng Kỳ vào kiểm tra và chỉ đạo Binh trạm 3 để chấn chỉnh và đẩy mạnh vận chuyển từ Bạc vào phía nam, nhất là đẩy mạnh kế hoạch vận chuyển vũ khí ĐKB. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo mới, các lực lượng trong Binh trạm nhanh chóng cải tiến phương pháp hoạt động, tập trung khôi phục đoạn đường ô tô từ Bạc vào Chà Vằn và làm đường ngầm vượt sông Bạc thay cho phà, lấy vận chuyển cơ giới là chính để tăng nhanh khối lượng.

Đường ngầm qua sông Bạc có khó khăn vì nước còn sâu, phải khai thác và vận chuyển đá cách ngầm gần 10km. Đại đội công binh cầu phà được một đại đội 12,7 ly bảo vệ tổ chức làm suốt ngày đêm, hoàn thành công việc sau 9 ngày. Cung ô tô từ Bạc vào Chà Vằn, trước đây phải đi mất 8 đêm một chuyến, nay có mạng thông tin và tổ chức chỉ huy chặt chẽ, chuyến đầu đi mất 5 đêm, rồi rút xuống 3 đêm.
Vận chuyển đường sông cũng phát triển tốt, Binh trạm đóng thêm thuyền, chấn chỉnh lại các cung, chỉ huy chặt chẽ, nắm chắc tình hình địch, vận chuyển lấn chiều, lấn sáng. Khối lượng tăng dần lên 10 tấn, rồi 15 tấn một ngày, có ngày đạt tới 20 tấn.

Phối hợp với chiến dịch vận chuyển trên tuyến 559, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên chỉ đạo Binh trạm 12 thuộc Tổng cục Hậu cần tiền phương dồn nhanh chân hàng vào Tổng kho 050 và dùng một số chuyến xe đưa thẳng hàng vào Lùm Bùm, tạo điều kiện cho Đoàn 559 vận chuyển vượt đường 9 đưa hết hàng về các điểm tập kết.

Trong những ngày này, Tư lệnh Đoàn còn chỉ đạo Binh trạm 1 thí điểm chạy ngày, sử dụng một trung đội xe của tiểu đoàn 52 tranh thủ lúc trưa máy bay địch ít hoạt động mật tập vượt nhanh một cung ngắn qua các trọng điểm cua Chữ A, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích (ATP) về kho K4 gần Lùm Bùm, đường dài khoảng 45 km, nhằm tăng thêm một chuyến trong ngày. Chuyến thứ nhất trót lọt, chuyến thứ hai về gần đến căn cứ bị máy bay trinh sát địch phát hiện đánh chặn; cao xạ phải đánh trả để bảo vệ cho đội hình xe rút nhanh, sơ tán. Kế hoạch tổ chức chạy ngày tạm ngừng.

Phát triển thắng lợi, Đoàn 559 tổ chức "Tổng công kích” trong tháng 4 nhằm kết thúc kế hoạch mùa khô với mục tiêu giao xong hàng năm 1967 cho các chiến trường Nam Bộ, Tây Nguyên, Lào; dồn đủ chân hàng vào các khu vực Bù Lạch, Động Con Tiên, La Hạp, Bạc để tiếp tục vận chuyển cho Khu 5, Trị - Thiên; đồng thời đáp ứng các yêu cầu về đảm bảo cho bộ đội hành quân trong mùa mưa và dự trữ cho các lực lượng ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu, vận chuyển và xây dựng cầu đường chuẩn bị cho năm sau. .

Khối lượng tháng 4 còn lại hơn 3.000 tấn, Tổng cục Hậu cần lại giao thêm nhiệm vụ chuyển gấp 300 khẩu súng cối 60 "Giải phóng" cho Nam Bộ và 119 khẩu cho Tây Nguyên. Kế hoạch bảo đảm hành quân làm đường cũng tăng thêm. Trong khi đó do hoạt động liên tục, bộ đội đã mệt mỏi, đầu xe hao hụt khá nhiều. Tuy nhiên lợi thế lúc này là thời tiết rất thuận lợi, đến hết tháng 4 vẫn chưa có mưa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #67 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2010, 01:24:05 pm »

Hoạt động của địch càng về cuối tháng càng giảm, cách đánh rời rạc, chủ yếu nhằm vào kho tàng và nơi trú quân của ta. Địch bắt đầu tăng các hoạt động ở mặt đất, tổ chức 10 vụ đổ bộ bằng trực thăng từ một trung đội đến một đại đội biệt kích với âm mưu trinh sát, phá hoại. Nhưng xuống nơi nào chúng cũng bị ta đánh thiệt hại, phải rút chạy.

Tin thắng lớn của các chiến trường, dồn dập đến với Bộ đội 559, quân và dân Đông Nam Bộ đánh bại các cuộc hành quân "Gaxđơn" ở biên giới Việt Nam - Campuchia, cuộc hành quân "Tắcxơn" ở khu vực Minh Thạnh, Dầu Tiếng, Bến Củi Và đặc biệt là đánh bại cuộc hành quân lớn Gianxơn Xi ty, đỉnh cao của cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai của Mỹ.

Tổng kho Long Bình, sân bay Tân Sơn Nhất, căn cứ Suối Rầm, Biên Hòa, sân bay Plây Cu, trường bắn Nam Giao (Huế); các sân bay Đà Nẵng, Phú Lợi, Sóc Trăng, Chu Lai, An Khê, Cà Mau... đều bị quân ta tiến công dữ dội, diệt hàng vạn tên Mỹ - ngụy và chư hầu, phá hỏng hàng trăm máy bay, hàng nghìn tăng, xe bọc thép...

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta đánh bại cuộc phản công chiến lược lần thứ hai của Mỹ càng làm nức lòng Bộ đội 559. Không khí lạc quan, tin tưởng, quyết tâm thi đua lập công, đạt thành tích cao hơn tháng trước dâng lên trong các lực lượng. Đến cuối tháng 4 năm 1967, kế hoạch vận chuyển đạt cao nhất trong cả quý 1. Hàng giao chiến trường Nam Bộ được 768 tấn (156%(, chiến trường Lào 1.360 tấn (110%). Rải gạo đảm bảo hành quân và dự trữ chiến đấu đều đạt 100%.

Tranh thủ thời tiết còn nắng, Bộ Tư lệnh Đoàn quyết định kéo dài vận chuyển sang nửa đầu tháng 5 để dồn hết hàng vào các khu vực tập kết, tăng thêm một số hàng dự trữ ở Bạc, Chà Vằn, Phi Hà, sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu của Khu 5 và Tây Nguyên trong đầu mùa khô năm sau.

Công tác chỉ huy và phục vụ bộ đội hành quân cũng từng bước được cải tiến. Ngay từ tháng 12 năm 1966, lực lượng giao liên đã triển khai xong tuyến hành quân từ Mụ Giạ (đường 12) và từ Ta Lê (đường 20) vào đến Noọng Khung phía đông Lùm Bùm, từ đó nhập làm một theo tuyến cũ vượt đường 9 đi vào các chiến trường.

Lưu lượng quân vào ngày càng đông. Từ đầu năm 1967, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo đẩy nhanh kế hoạch hành quân. Tuyến Tổng cục Hậu cần tiền phương tổ chức chuyển quân bằng ô tô vào Liên trạm I, nên quân vào hàng ngày dồn dập. Bộ đội hành quân phải hợp lực với bộ đội giao liên làm bãi trú quân, đào hầm hố, làm công trình vệ sinh, nấu ăn và thu xếp chỗ nghỉ. Nhờ tuyến hành quân mới khô ráo, thuận lợi hơn nên các đơn vị đã nhanh chóng hoàn thành.

Từ tháng 2 năm 1967, công tác phục vụ của tuyến giao liên, nhất là các trạm từ Bạc trở ra có bước chuyển biến khá mạnh. Theo chỉ đạo của Đoàn, công tác chỉ   huy và phục vụ bộ đội hành quân cũng phải quán triệt tư tưởng tiến công, không ngừng vươn lên phục vụ bộ đội hành quân với số lượng lớn, đảm bảo cho quân đi nhanh, an toàn mạnh khỏe, phấn khởi, phục vụ được yêu cầu tác chiến lớn của các chiến trường.

Trong khí thế chung, các trạm giao liên đã hăng hái thi đua thực hiện khẩu hiệu “biến bãi trú quân thành doanh trại thoải mái”. Các khu vực trú quân đều chọn nơi thoáng mát, sạch sẽ, quy hoạch từng khu vực ngăn nắp, có giá cho bộ đội mắc võng, có lán cho người ốm; có bếp Hoàng Cầm cho bộ đội nấu cơm; có đủ hố xí, hố tiểu đảm bảo vệ sinh chung. Từng thời gian, quân y lại phun thuốc DDT diệt muỗi khắp các khu vực trú quân.

Kết hợp rèn luyện bộ đội trong quá trình hành quân, các trạm đã cùng cán bộ chỉ huy các đơn vị hướng dẫn bộ đội củng cố hệ thống công sự phòng không, đồng thời có kế hoạch sẵn sàng chiến đấu đánh địch ở mặt đất. Mỗi đơn vị đến bãi trú quân đều tranh thủ đào một số hầm. Đơn vị đi sau lại củng cố thêm, dần dần các bãi đều có đủ công sự cho bộ đội.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #68 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 07:02:02 pm »

Đầu tháng 3 năm 1967, Trạm 1 ở chân đèo Mụ Giạ bị máy bay B52 oanh tạc trúng nơi trú quân. Cây rừng, đất đá, mảnh bom văng đi khắp phía, nhưng nhờ có đủ công sự nên chỉ có 3 chiến sĩ bị thương nhẹ. Một số trường hợp khác ở nam - bắc đường 9, địch đánh sát gần nơi trú quân, nhưng bộ đội vẫn an toàn. Nhiều bãi trú quân làm được cả báo liếp và khẩu hiệu để động viên bộ đội.

Từ tháng 2 năm 1967, trên Tuyến bắt đầu cấp phát bổ sung cho bộ đội một số thực phẩm khô như mì chính, ruốc khô, đường, sữa; bổ sung quân trang, túi thuốc bị tổn thất dọc đường. Các trạm còn được giao nhiệm vụ quan hệ với chính quyền và nhân dân bạn, khai thác tại chỗ, tổ chức cho bộ đội được ăn thịt tươi, một tuần một lần. Anh em thương bệnh binh được cung cấp thêm thực phẩm, đường sữa, bảo đảm đủ mức ăn 0,90 đồng một ngày.

Trang bị của bộ đội hành quân lúc này còn rất nặng. Cả quân trang, vũ khí, lương thực, mỗi người phải mang trên dưới 25 kg. Để giảm bớt khó khăn này, Bộ Tư lệnh Đoàn cho sử dụng ô tô chở bớt các vũ khí trang bị nặng cho bộ đội đến vị trí tập kết của tùng đơn vị và chỉ đạo các binh trạm khắc phục đường sá, tăng thêm các trạm cấp phát gạo dọc đường để bộ đội chỉ phải mang theo từ 3 đến 5 ngày lương thực .

Riêng các đoàn cán bộ đi công tác được bố trí chỗ nghỉ trong lán và hưởng tiêu chuẩn thống nhất do Tổng cục Hậu cần quy đinh.

Trước tình hình vận chuyển cơ giới phát triển thuận lợi, Bộ Tư lệnh Đoàn chỉ thị cho các binh trạm từ khu vực Bạc trở ra, sử dụng xe quay ra chuyển thương binh về phía sau. Các xe chuyển thương đi thành đoàn, có tổ chức quân y đi hộ tống, được theo dõi, chỉ huy, bảo vệ chặt chẽ; nếu bị địch đánh hoặc gặp trở ngại dọc đường thì các đơn vị công binh có nhiệm vụ cấp cứu và đảm bảo việc ăn nghỉ. Sau hơn hai tháng, 1.526 thương binh được chuyển về hậu phương an toàn, không để ứ đọng trên tuyến.

Đến hết tháng 4 năm 1967, bộ đội giao liên đã phục vụ 57.726 người vào chiến trường bằng 156% kế hoạch ban đầu. Giao đến chiến trường 46.733 người với tỷ lệ quân số khỏe từ 94% đến 97,8%; chuyển ra được 1.914 thương, bệnh binh và phục vụ cho 115 đoàn gồm 740 người từ các chiến trường ra miền Bắc. Ngoài ra còn chuẩn bị đủ gạo, thực phẩm cho 30.000 quân đi tiếp trong mùa mưa.

Giữa tháng 5 năm 1967, thời tiết tây Trường Sơn bắt đầu chuyển sang mùa mưa. Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, Đoàn 559 để lại một phần lực lượng tiếp tục làm nhiệm vụ vận chuyển hàng cho các chiến trường Khu 5, Trị - Thiên; bảo đảm công tác giao liên chuyển thương xây dựng đường cầu, bảo vệ kho tàng và chống địch lấn chiếm, phá hoại. Bộ Tư lệnh 559 tổ chức Sở chỉ huy tiền phương đóng tại La Hạp, trực tiếp chỉ đạo công việc trên tuyến.

Phần lớn lực lượng của đoàn tập kết về khu vực Hương Sơn, Hương Khê - Hà Tĩnh để tổng kết, tập huấn bồi dưỡng sức khỏe, củng cố bổ sung lực lượng, chuẩn bị các mặt cho nhiệm vụ năm sau. Các Binh trạm nam Bạc trở vào tập kết về khu vực Lâm Phu (đường C4). Riêng lực lượng xe đưa ra vùng Vân Đình, Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây để Tổng cục Hậu cần trực tiếp chỉ đạo khôi phục sửa chữa và bổ sung trang bị, phụ tùng. Số xe, máy, phương tiện của các lực lượng phòng không, công binh đưa vào các xưởng trung tu A 1 (Nghệ An), A2 (Hà Tĩnh) xưởng Tạ Công Nông (Con Cuông - Nghệ An) để sửa chữa.

Cuối tháng 5, các lực lượng đã tập kết về địa điểm quy đinh.

Đúng vào thời điểm đó, hoạt động vận chuyển trên tuyến đường phía tây Thừa Thiên bước vào giai đoạn quan trọng nhất nhưng cũng gian khổ ác liệt nhất.

Sau nhiều năm khai phá, đường cơ giới đã được mở tiếp từ A Túc đến Bù Lạch. Đoạn đường này đi vào thung lũng A Chiêng Chăn vùng núi A Dai Nhơ, từ đó liên tiếp leo dốc theo sườn núi qua Động Con Tiên, Động Tam Bôi, vượt qua dốc "Con Mèo” cao 630m rồi lao tụt xuống Hà Tia, theo dãy thung lũng tây Trị - Thiên dài gần một trăm kilômét, qua A Lê Thiêm, A Lưới, Ta Bát đến A Sầu, Bù Lạch. Địa hình từ A Túc đến La Đụt dốc cao, vực sâu hiểm trở, đường độc đạo, rất hẹp, xe chỉ đi được một chiều. Nền đường dễ lầy bùn khi có mưa.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #69 vào lúc: 30 Tháng Tư, 2010, 07:02:41 pm »

Từ Tây Trường Sơn vượt qua Đông Trường Sơn, thời tiết mưa nhiều nắng ít (mưa 9 tháng nắng khoảng 3 tháng). Phía tây nắng thì phía đông mưa và ngược lại. Dân vùng này gồm các dân tộc Vân Kiều, Pa Cô - quê hương của nữ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng Kan Lịch.

Tuy đời sống còn đói khổ nhưng tinh thần chống Mỹ rất cao, mỗi người hăng hái tham gia các phong trào dân quân du kích, diệt biệt kích, bắn trực thăng vũ trang của địch, xung phong đi dân công phục vụ chiến trường. Khi bộ đội mở đường cơ giới sâu vào chiến trường, dân ở những bản ven đường đã vui vẻ dời đi nơi khác...

Tuy địa hình và thời tiết vùng này khó khăn như vậy, nhưng nơi đây vẫn là hướng ưu việt nhất để mở đường chi viện cho Khu 5, vì nếu đi qua phía Tây Nguyên thì quá xa, tốn công sức gấp bội, thời gian cũng lâu hơn. Vì vậy Bộ Tư lệnh chủ trương mở đường cơ giới, song do địa hình phức tạp nên phương án đầu tiên định mở đoạn đường từ La Đụt vào A Sầu cho xe con (Gát 69B) chạy, còn phía ngoài khó đi hơn thì vẫn dùng gùi thồ kết hợp với một đoạn chạy xe con.

Nhưng thực tế trong quá trình mở đường, ta phát hiện khả năng phía trong hay phía ngoài đều có thể mở cho xe cơ giới chạy được. Bộ Tư lệnh điều chỉnh phương án mở toàn bộ đường vận tải cơ giới. Việc thiết kế thi công do đó lại bị động, chắp vá, kéo dài. Thời gian thông đường định vào cuối tháng 2 năm 1967 nhưng phải kéo đến tháng 4 năm 1967. Vì vậy khối lượng hàng quan trọng của Khu 5 và Trị - Thiên bị dồn lại chờ thông đường mới vận chuyển được. .

Đợt vận chuyển này là cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt với địch, với thời tiết. Tuy là những tháng nắng ráo nhưng ở đây vẫn xen kẽ có mưa. Đường mới mở nên khi gặp mưa là lầy lội, nhất là đoạn từ Động Con Tiên qua dốc "Con Mèo", công binh đã dùng đá rải đường để chống lầy nhưng vùng này chỉ có đá "sít” non, xe chỉ đi được một chuyến là đá lại tan vụn thành bùn lầy. Binh trạm phải vận chuyển theo lối cuốn chiếu, tranh thủ dồn hết chân hàng sang dốc "Con Mèo". Tại đây thiếu kho phải dùng các hố bom B52 của địch tạm chứa hàng để kịp chạy đua với thời tiết.

Tuyến đường này đi vào chiến trường Khu 5, thọc vào sườn vùng chiến thuật I của địch, nên chúng ngăn chặn quyết liệt. Khi đường mới vươn tới A Túc, chúng đã thả biệt kích thám báo xuống ngăn chặn, đồng thời ném bom không ngớt, kết hợp rải chất độc hóa học phát quang tuyến đường.

Đường càng vươn sâu vào, địch đánh phá càng dữ dội. Trực thăng vũ trang bay suốt ngày từ 6 giờ sáng đến 5 giờ chiều, nghi ngờ đâu, bắn phá đó. Hàng ngày địch thả biệt kích, nhảy cóc xuống chỗ này rồi lại bốc lên đi chỗ khác. Ban đêm máy bay B52 đánh từ 2 đến 3 đợt, lúc vào đường giao thông, lúc vào sâu các suối nơi bộ đội ta đóng quân. Có trận trúng vào sở chỉ huy Binh trạm, có trận trúng vào chỗ đóng quân của đơn vị gây thương vong cả trung đội.

Ngày 14 tháng 4 năm 1967, bộ phận chỉ huy tiền phương của Binh trạm 2 do Phó Chính ủy Nguyễn Lan phụ trách đặt tại kho S4C gần chỉ huy sở Binh trạm 7, bị đánh gần chục đợt B52, hy sinh hơn 50 người. Trước tình hình đó, Binh trạm 7 quyết định lợi dụng những nơi trống trải gần trọng điểm địch không chú ý, huy động cơ quan và đơn vị đào địa đạo sâu vào lòng núi để ăn ở, sinh hoạt và làm việc. Nhờ đó sau một tháng từ A Túc đến Bù Lạch, các đơn vị giữ được hoạt động và sinh hoạt bình thường.

Tuy phải chịu đựng những hy sinh to lớn nhưng cán bộ, chiến sĩ vẫn chiến đấu rất kiên cường.

Đại đội 634 bộ binh ngày đêm bám sát địch truy lùng đánh hơn 20 trận tiêu diệt gọn một toán biệt kích Mỹ - ngụy, tiêu hao nhiều toán khác, bắn rơi 3 trực thăng vũ trang.

Đại đội 4 súng máy 12,7 ly - đơn vị Anh hùng cơ động phục kích đánh địch ở Động Con Tiên bắn rơi 1 chiếc F105. Khi phát hiện máy bay địch thường bay thấp hơn đỉnh núi đã đưa khẩu đội lên điểm cao 1.000 m đánh địch theo góc tà âm bắn rơi thêm 1 chiếc F4. Những ngày sau cơ động sang dốc Chè (La Đụt), Đại đội liên tiếp bắn rơi tại chỗ 1 trực thăng vũ trang, 1 máy bay trinh sát L19. Từ đó trực thăng vũ trang giảm hẳn hoạt động. Cuối tháng 3, Đại đội chuyển vào vùng A So bảo vệ ngầm km 7 1 -73, chính trị viên đại đội Phan Văn Nhật trực tiếp chỉ huy bắn rơi 1 chiếc B57.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM