Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 02:58:11 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Người Mỹ trầm lặng - Graham Greene  (Đọc 25022 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #70 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2009, 04:54:48 AM »

Chương 29 (tiếp)


Tôi đi lấy chai rượu và cốc. Lần đầu quên một cốc, sau lại phải đi một lần nữa vì quên nước trắng. Hôm nay tôi làm cái gì cũng mất nhiều thì giờ.
- Anh biết đấy, - Pyle nói, - bố mẹ tôi là những người cừ khôi; nhưng hai cụ đều có xu hướng sống nghiêm nghị. Chúng tôi ở tại một ngôi nhà cũ kỹ ở phố Chenus phía bên phải, lên dốc một chút. Mẹ tôi sưu tập những đồ pha lê cổ, và cha tôi, khi không ngụp vào việc nghiên cứu vấn đề xói mòn, thì đi vét hết những cuốn sách chép tay về những tác phẩm Darwin in lần thứ nhất mà cụ phát hiện ra được. Như anh xem, các cụ sống với quá khứ. Có lẽ vì vậy mà York có ảnh hưởng lớn đối với tôi. Ông ta thích ứng với những điều kiện sống hiện đại. Cha tôi thì theo chủ nghĩa biệt lập.
- Chắc là tôi hợp với cụ: tôi cũng là người theo chủ nghĩa biệt lập.
Vốn là người trầm lặng, hôm nay Pyle lại nói quá nhiều. Tôi cố tự nhủ rằng ông Heng đang sẽ có phép thuyết phục hắn khác với một hành động thô bạo và tất yếu... Nhưng trong một cuộc chiến tranh như cuộc chiến ở đây, tôi hiểu người ta không có thì giờ cân nhắc: người ta tiện võ khí gì thì dùng võ khí đó, người Pháp có bom napal, ông Heng có đạn súng ngắn hoặc con dao găm. Tôi tự bảo, nhưng hơi muộn, rằng tôi không đủ tư cách để đứng ra làm quan toà. Tôi để cho Pailơ nói một lúc rồi tôi sẽ bảo hắn đề phòng. Hắn có thể ngủ đêm tại đây. Họ không dám xộc vào nhà tôi. Lúc này hình như hắn đang nói về người vú nuôi của mình...
- ... Bà nhũ mẫu của tôi đóng một vai trò quan trọng hơn mẹ tôi trong cuộc đời của tôi, và sao bà biết làm những chiếc bánh kem mứt ngon đến thế!
Tôi ngắt lời hắn:
- Anh có khẩu súng ngắn nào mang theo người không kể từ cái đêm đáng ghi nhớ đó?
- Không. Quy định của toà lãnh sự...
- Nhưng anh là người có công tác đặc biệt.
- Có súng cũng chẳng được việc gì. Nếu họ định hạ tôi thì chẳng có gì cản được họ. Vả lại, tôi cận thị như một con chồn. ở trường trung học, người ta gọi tôi là Con dơi vì trong đêm tối tôi rất tinh mắt hơn người khác. Một hôm chúng tôi đùa như quỷ sứ...
Hắn lại thao thao bất tuyệt. Tôi quay ra cửa sổ.
Có một chiếc xe xích lô gắn máy đang chờ. Chắc hẳn là một người lái xe khác lúc nãy - tuy tôi không tin hẳn, vì họ giống nhau quá đỗi. Biết đâu người lái đó không thật sự chờ một vị khách. Tôi lại bỗng có ý nghĩ rằng nơi an toàn nhất cho Pyle là Toà Lãnh sự. Từ lúc nhận được ám hiệu của tôi, chắc họ đã chuẩn bị đầy đủ để đêm nay hành động. Cầu Đa Kao hẳn có một vai trò gì đó trong dự định của họ, tôi không hiểu tại sao, hoặc như thế nào mà Pyle lại không điên rồ cả gan qua sông sau khi mặt trời lặn và bên đầu cầu phía này, có công an võ trang gác hẳn hoi.
- Tôi nói hết cả lời của hai người, - Pyle bảo. - Tôi không hiểu tại sao, nhưng chiều nay...
- Xin đừng ngại, - tôi nói, - Tôi là người ít nói, thế thôi. Có lẽ tối nay bỏ bữa cơm chăng...
- Chớ, xin chớ bỏ. Tôi cảm thấy xa anh kể từ khi...trời...
- Kể từ khi anh cứu tôi, - tôi nói tiếp hộ anh, nhưng không giấu nổi sự đau nhói của vết thương mà tôi tự gây cho tôi.
- Không, tôi không muốn nói đến điều đó. Nhưng dù sao chúng ta đã nói được không biết bao nhiêu chuyện trong cái đêm kỳ lạ đó! Y như là chúng ta đang sống những giờ khắc cuối cùng của mình trên dương thế vậy. Qua đó tôi hiểu nhiều điều về anh, anh Thomas ạ. Cứ cho là tôi có nhiều điểm bất đồng tư tưởng với anh, tốt hơn hết là không nên đứng về một phía nào. Anh chịu đựng giỏi đấy, ngay khi đã gẫy chân phải, anh vẫn có thái độ trung lập.
- Bao giờ cũng sẽ tới lúc người ta đổi thay, lúc người ta bị xúc động...
- Anh chưa đến lúc đó đâu. Tôi không tin rằng anh sẽ đến cái lúc đó. Và tôi cũng tin rằng không có gì làm cho tôi thay đổi được...trừ khi chết, - hắn nói tiếp một cách vui vẻ, nhẹ nhõm.
- Ngay cả khi anh đã được chứng kiến cái cảnh sáng hôm nay? Cảnh đó không có điều gì có thể làm anh thay đổi thái độ ư?
- Họ chẳng qua chỉ là những nạn nhân của chiến tranh, - hắn đáp. - Đáng buồn thật đấy, nhưng khi bắn nhau có phải lúc nào cũng bắn trúng đích đâu. Dù sao đó cũng là những người chết cho chính nghĩa.
- Nếu chính bà vú nuôi khéo làm bánh kem mứt của anh bị chết như vậy thì anh nói sao?
Hắn chẳng cần đếm xỉa đến cái lập luận có vẻ rẻ tiền của tôi.
- Xét về một mặt nào đó, có thể nói là họ đã chết cho nền Dân chủ. - hắn nói.
- Tôi không sao dịch nổi ý anh ra tiếng Việt được.
Bỗng dưng tôi thấy mình hết sức mệt mỏi. Tôi mong hắn đi đâm đầu vào chỗ chết cho rảnh. Sau đó tôi lại có thể tìm lại cuộc sống như ở quãng đời tôi trước khi hắn sang đây.
- Hình như anh chưa bao giờ cho tôi là người đúng đắn, anh Thomas, (Hắn phàn nàn như thế, kèm với một tiếng cười rất học sinh trung học mà hình như hắn đã găm lại để dành cho cái đêm nay). Thomas này, Phượng đã đi xem chiếu bóng. Nếu chúng ta thức suốt đêm với nhau? Tôi chẳng bận việc gì cả. (Hình như từ một nơi xa xôi nào đó bên ngoài, có ai mớm lời cho hắn, khiến tôi không còn đường rút lui). Tại sao không lại quán Sale nhỉ? Từ cái đêm đáng ghi nhớ đó, tôi chưa hề trở lại đấy. Ở đó ăn cũng ngon chẳng kém Cối xay cổ, mà lại thêm âm nhạc.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #71 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2009, 04:55:38 AM »

Chương 29 (tiếp)


- Tôi không muốn nhớ lại cái đêm đó.
- Xin lỗi. Lắm lúc tôi thật là ngốc, anh Thomas ạ. Nhưng đi chén cơm Tàu ở Chợ Lớn thì sao?
- Muốn ăn ngon ở đó thì phải đặt trước. Anh sợ quán Cối xay cổ hay sao, Pailơ? ở đó có lưới sắt bảo vệ, và bao giờ cũng có cảnh sát gác trên cầu. Và tôi hy vọng rằng anh sẽ không điên rồ gì mà đi qua cầu.
- Ồ, không phải như thế. Tôi chỉ nghĩ rằng ở với nhau suốt một đêm thì thú biết mấy.
Hắn giơ tay và chạm vào cái cốc khiến nó rơi xuống đất vỡ tan.
- Điềm lành, - hắn nói không suy nghĩ. - Xin lỗi anh Thomas.
Tôi cúi nhặt những mảnh cốc vỡ và để vào trong cái đựng tàn thuốc lá.
- Anh nghĩ sao, anh Thomas?
Tiếng thuỷ tinh vỡ lại làm tôi nhớ lại tiếng những chiếc chai ở tiệm Pavillon trút hết rượu ra sàn.
- Tôi đã báo trước với Phượng rằng đêm nay chắc tôi đi chơi với anh.
Sao mà chữ “báo trước” được lặp lại lúc này khó nghe thế. Tôi nhặt mảnh thuỷ tinh cuối cùng.
- Tôi đã có một cuộc hẹn ở rạp Magestic, - tôi đáp, - và đến chín rưỡi tôi mới được rảnh.
- Thế cũng được. Nếu vậy tôi sẽ trở lại phòng làm việc. Nhưng tôi chỉ luôn sợ rằng họ sẽ tìm được một việc cỏ vê giao cho tôi.
Tại sao không để cho hắn ta được hưởng cái số may đó nhỉ ?
- Có đến chậm một chút cũng đừng ngại nhé, - tôi nói. - Nếu bị cột vào bàn giấy thì sau đó anh cứ về nhà tôi. Tôi về nhà vào mười giờ để chờ anh, nếu anh không tới ăn cơm được.
- Tôi sẽ báo cho anh...
- Khỏi phiền. Hoặc anh lại Cối xay cổ, hoặc tới nhà tôi.
Tôi giao số phận Pyle vào tay cái đấng mà tôi vốn không tin: nếu muốn can thiệp vào đây thì mời ông Trời cứ can thiệp, - một bức điện để trên bàn giấy, một mệnh lệnh của Bộ trưởng. Nếu Trời không có đủ quyền lực để làm thay đổi tương lai, thì quả thật làm gì có Trời.
- Pyle, bây giờ anh đi đi, tôi bận.
Nghe bước chân hắn đi xa, cùng với tiếng chân con chó chạy theo, tôi cảm thấy mệt như đến kiệt sức.
Nếu muốn đi xe thì phải lên tới tận phố Dokmay, cho nén ra khỏi nhà, tôi đi bộ tới tận rạp Magestic và đứng một lúc xem người ta rõ những chiếc máy bay ném bom Hoa Kỳ.
Mặt trời đã lặn hẳn, và công việc này được tiến hành dưới ánh sáng của những ngọn đèn hồ quang. Tôi không có ý định tạo ra một cái cớ vắng mặt, nhưng tôi đã nói với Pyle là tôi tới rạp Magestic, và tự nhiên tôi không thích làm sai với lời nói.
- Chào Fowler.
- Đó là Uynkinx.
- Chào.
- Chân cẳng ra sao rồi?
- Anh đã gửi được một bài hay chứ?
- Tôi để Dominge viết.
- Sao vậy? Người ta nói anh có mặt ở đó cơ mà.
- Đúng, tôi có mặt ở đó. Nhưng ngày nay báo thiếu chỗ. Họ chỉ cần tin ngắn thôi.
- Tin nào cũng như tin nào thôi, phải không? - Uynkinx nói. - Chúng ta đã sống trong thời ông Rusen và báo Time cũ. Tin tức thì gửi bằng khinh khí cầu. Người ta có thì giờ viết kỹ các bài của mình. Người ta có thể viết một bài về chỗ chúng ta đang đứng như sau: khách sạn loại sang, những chiếc máy bay ném bom, đêm đang xuống. Bây giờ có đêm đâu, mỗi chữ là bao nhiêu đồng bạc. (Từ tít trên lầu cao, y như từ trên trời, những tiếng cười vang xuống: ai đó giống như Pyle đã dánh vỡ một chiếc cốc. Tiếng cười nói giống như tiếng mưa đá rơi xuống). Những ngọn đèn toả sáng trên những mỹ nữ và những anh hùng, Uynkinx đọc câu thơ của Bảiơn với một vẻ ác ý. Chiều nay anh làm gì, Fowler? Anh có đi chén với tôi không?
- Tôi sắp đi ăn cơm tối, anh có hiểu không, ở quán Cối xay cổ.
- Tôi chúc anh thật vui: Grand sẽ có mặt ở đó. Họ cần quảng cáo rùm beng nhân dịp những “dạ hội Grand”. Có những người thích những buổi nhạc ồn ào!
Tôi chào từ biệt anh ta và vào rạp chiếu bóng. Erron Fline hay là Tiron Power (khi họ mặc áo
may ô bó sát người thì tôi không thể phân biệt được ai với ai) đánh đu trên những sợi dây thừng, nhảy từ ban công cao xuống và tót lên những con ngựa không yên cương trong ánh bình minh của phim mầu. Anh ta cứu một cô gái, giết chết kẻ thù, còn chính anh thì như có phép thần che chở không sao chết được. Đó là một cuốn phim gọi là phim cho thanh niên; nhưng nếu dựnh cái cảnh Erdip 2 từ lâu đài Teber của mình chạy ra, hai mắt bị chọc mù đang ứa máu, thì còn có tác dụng hơn trong việc chuẩn bị cho họ sống trong cuộc đời hiện tại. Không có cuộc đời của ai được một phép màu che trở mãi. Pyle đã gặp may ở Phát Diệm và trên đường đi Tây Ninh, nhưng cái số đỏ không bền được mãi, và chỉ trong hai giờ nữa, người ta sẽ biết phép đã hết màu rồi. Một người lính Pháp ngồi gần tôi, tay để lên đầu gối của một cô gái, và tôi ao ước được có sự đơn giản của anh ta trong hạnh phúc cũng như trong đơn chiếc. Không chờ hết phim, tôi thuê một xe tay và bảo kéo tới quán Cối xay cổ.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #72 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2009, 04:56:34 AM »

Chương 29 (tiếp)


Tiệm ăn chung quanh có lưới sắt chống lựu đạn và hai người cảnh sát võ trang gác lối vào cầu. Chủ tiệm, béo phệ vì hưởng mãi những món ăn nhiều chất bổ của chính vùng quê Boocginon của ông ta đích thân ra dẫn tôi qua hàng rào lưới thép vào nhà. Trong bầu không khí buổi tối oi bức, mùi gà sống thiến quay với bơ thấm vào mọi thứ trong khách sạn.
- Ông có phải cùng đám với ông Grand không? - Ông chủ hỏi.
- Không.
- Một suất ăn?
Chỉ đến lúc đó tôi mới nghĩ tới tương lai và tới những câu chất vấn mà có lẽ tôi phải trả lời.
- Một suất, - tôi đáp, - và như vậy gần như tôi công bố to lên rằng Pyle đã chết rồi.
Quán ăn chỉ có một phòng, phía trong cùng Grand và những khách của hắn mời chiếm một cái bàn lớn. Ông chủ dành cho tôi một bàn nhỏ kề ngay với hàng lưới. Kính đã được cất đi, sợ khi vỡ sẽ bắn ra nhiều mảnh vụn. Nhận thấy mấy người quen trong đám bạn của Grand, tôi chào họ trước khi ngồi. Còn Grand thì quay nhìn phía khác. Từ mấy tháng nay, tôi không gặp Grand, trừ có một bận, kể từ tối mà Pyle mê Phượng. Có lẽ một lời nói xúc phạm của tôi tối hôm đó đã xuyên qua những đám mây mù của cơn say rượu lọt vào tận tai hắn vì hắn cau có chủ trì bữa tiệc, trong khi bà Depre, phu nhân của viên sĩ quan phụ trách công việc giao tế và đại uý Đuypác phụ trách ban thông tin của Sở báo chí gật đầu với vẻ tán thưởng. Còn có mặt một người to béo làm nghề chủ khách sạn ở Phnôm Pênh thì phải, một cô đầm trẻ tôi chưa hề gặp, và vài ba người mà tôi chỉ thoáng nom thấy mặt ở các phòng nhẩy. Hôm nay có lẽ là hôm duy nhất bữa tiệc lại không nhộn nhạo.
Tôi gọi một cốc rượu, nói vì tôi muốn chờ (nhỡ Pyle đến được)... Có khi một việc định làm lại bị cản trở, và chừng nào tôi chưa bắt đầu ăn, thì hình như còn thì giờ để chờ đợi. Rồi tôi lại tự hỏi xem mình mong đợi điều gì. Mong sự may mắn cho bọn OSS nếu quả đó là tên gọi của tổ chức của Pyle? Mong cho bom làm bằng chất nổ dẻo và tướng Thế sống mãi? Hay là mong (tôi, một con người giữa mọi người) điều kỳ lạ là ông Heng phát minh ra một cách thuyết phục không phải là cái chết? Nếu cả hai chúng tôi cùng thiệt mạng trên đường đi Tây Ninh thì có phải tiện biết mấy không? Tôi chậm rãi uống cốc rượu hồi, mất những hai mươi phút, rồi bắt đầu ăn. Gần chín giờ rưỡu rồi. Chắc hắn không tới.
Tuy không chủ tâm, tôi vẫn cứ lắng tai: để chờ nghe thấy gì? Một tiếng kêu? Một tiếng nổ? Tiếng cảnh binh chạy trên cầu? Nhưng chắc là không nghe được gì, vì những vị khách của Grand đã bắt đầu náo nhiệt. Ông chủ quán, tuy hát không thạo, nhưng tiếng dễ nghe, bắt đầu hát, và khi một chiếc nút chai rượu sâm banh mới đưa thêm ra nổ giòn, thì nhiều người hoà tiếng cùng ông, nhưng Grand thì không. Hắn đứng im, mắt đỏ ngầu nhìn tôi từ phía đầu phòng, một cách hăm doạ. Tôi tự hỏi có lẽ hai người sắp đánh nhau chăng. Tôi không đủ sức để chọi với Grand.
Họ hát một bài hát trữ tình, và trong khi tôi ngắm một cách thiếu hứng thú khẩu phần bé nhỏ được mang tên “Gà thiến kiểu quận công Sáclơ” thì tôi nghĩ tới Phượng, lần đầu tiên kể từ khi biết cô được an toàn lành lặn.
Tôi nhớ lại lúc Pyle ngồi trên mặt đất chờ quân Việt Minh tới, Pyle nói: “Cô ta tươi mát như một bông hoa”. Và tôi đã đáp lại bằng một kiểu nói quá trớn: “Hoa khốn khổ, khốn nạn”. Và bây giờ cô chẳng còn được xem phong cảnh Hoa Kỳ và không bao giờ được biết những bí mật của lôí chơi bài Canarta nữa. Có lẽ cô không bao giờ được hưởng sự an toàn nữa: với tôi, tôi có gì là kém giá trị so với hai người nằm tại quảng trường? Đau khổ nhiều không phải là do nhiều người đau khổ: một tấm thân thôi có thể chứa đựng tất cả đau khổ trên thế gian này. Tôi đã phán xét theo kiểu một nhà báo, đánh giá bằng số lượng, và tôi đã phản lại những nguyên tắc của chính tôi; từ nay trở đi tôi cũng đã đứng hẳn về một phía như Pyle, và tôi thấy hình như không có một sự quyết định nào lại đơn giản cả. Nhìn đồng hồ, tôi thấy đã gần mười giờ kém mười lăm. Có lẽ hắn ta vẫn có thể bị công việc giữ lại ở bàn giấy; có lẽ Thượng đế mà hắn tin đã phù hộ hắn, và lúc này hắn đang phải ngồi trước bàn tại Lãnh sự quán, mải miết và chật vật đọc một bức điện viết bằng mật mã; một lát nữa hắn sẽ leo, bốn bậc một, cầu thang lên phòng tôi ở phố Catina. Nếu sự việc xảy ra như thế thì tôi sẽ nói lại tất cả cho hắn biết.
Bỗng nhiên Grand đứng lên, ra khỏi bàn và đi tới gần tôi. hắn không nom thấy cả chiếc ghế ngang đường, vấp phải nó và chống tay vào mép bàn tôi đẻ gượng lại được.
- Đi ra ngoài kia đi, Fowler.
Tôi đặt tiền trả bữa cơm bên cạnh đĩa và đi theo hắn. Tôi không muốn đánh nhau với hắn, nhưng vào lúc này, dù hắn có đánh tôi nhừ tử, tôi cũng mặc kệ. Chúng ta có quá ít những biện pháp để làm vợi cảm giác tội lỗi của mình.
Grand tựa vào thành cầu và từ xa, hai người cảnh sát nhìn hắn.
- Tôi có chuyện cần nói với anh, Fowler, - hắn nói.
Tôi tiến lại đúng tầm tay hắn và chờ đợi. Hắn không làm một cử động nào. Người ta tưởng hắn là một pho tượng tượng trưng cho tất cả những thứ mà tôi tin rằng tôi rất ghét trong cái quốc gia Hoa Kỳ của hắn; hắn cũng có những nét vụng về, vô nghĩa như tượng thần Tự do.
- Anh tưởng tôi say ư? - hắn nói, người vẫn không động đậy. - Anh lầm đấy.
- Có điều gì thế. Grand?
- Tôi cần nói với anh, Fowler. Tối nay tôi không thể ngồi cùng với những tên lính dù kia. Tôi không ưa anh, nhưng vì anh nói tiếng Anh. Một kiểu tiếng Anh nào đó.
Hắn ta vẫn tựa vào thành cầu, to sù và không ra hình thù gì trong bóng đêm, giống như một lục địa chưa được thám hiểm.
- Anh muốn gì?
- Tôi không yêu những người Anh. Tôi không hiểu sao Pyle lại có thể ưa anh được. Có lẽ vì hắn là người Boston. Tôi, ở Piberk và tự hào về điều đó.
- Tại sao lại không tự hào?
- Được. Anh bắt đầu rồi đấy! (hắn nhại tôi nhưng không thành công). Các anh nói như chó con sủa vậy. Thế mà lại còn loè bịp đấy. Anh tưởng cái gì anh cũng biết.
- Xin chào, Grand. Tôi có một cuộc hẹn.
- Đừng bỏ đi, Fowler. Hãy tốt bụng một tí. Tôi không sao chịu được bọn lính dù kia.
- Anh say rồi.
- Tôi chỉ mới uống hai cốc sâm banh thôi. Nhưng ở vào địa vị tôi, anh cũng say thôi: tôi phải ra miền Bắc.
- Thế rồi sao?
- Ồ, tôi chưa nói anh nghe! Tôi cứ tưởng mọi người đều đã biết. Sáng tôi nhận được một bức điện của vợ.
- Thế ư?
- Con trai tôi mắc bệnh bại liệt trẻ em, nặng lắm.
- Xin chia buồn.
- Đừng có giả tạo. Có phải con anh đâu.
- Anh sẽ về nước bằng máy bay.
- Không thể về được. Họ muốn có một bài về một cuộc tảo thanh quái quỷ gì ở gần Hà Nội, và Conolive lại ốm (Conolive là người trợ tá của hắn).
- Chia buồn Grand. Tôi có thể làm gì hộ anh?
- Chiều nay là ngày kỷ niệm của cháu. Đúng mười giờ rưỡi hôm nay, giờ Hoa Kỳ, nó được tám tuổi, bởi thế tôi đã đặt một bữa tiệc có cả sâm banh... đặt trước khi hay tin. Fowler, tôi cần nói chuyện này với một người nào đó mà tôi lại không thể thổ lộ với những tên lính dù kia.
- Thày thuốc hiện nay chữa được bại liệt.
- Nó tàn tật cũng được, Fowler. Miễn là nó sống. Tôi mà tàn tật thì tôi là đồ bỏ đi thôi, nhưng thằng bé thông minh. Anh có biết khi thằng khốn kia hát khúc tình ca thì tôi làm gì không? Tôi cầu nguyện. Tôi nghĩ nếu Thượng đế muốn lấy đi một sinh mạng thì xin lấy đi mạng của tôi.
- Anh tin ở trời ư?
- Muốn tin lắm.
Logged
Midaxudavo
Thành viên
*
Bài viết: 605


« Trả lời #73 vào lúc: 25 Tháng Bảy, 2009, 04:57:41 AM »

Chương 30


Hắn đưa tay lên mặt, như thể hắn đau đầu, nhưng thật ra để tôi không thấy rằng hắn chùi nước mắt.
- Tôi mà ở vào hoàn cảnh anh thì tôi uống cho thật say.
- Tôi nói với hắn như vậy.
- Ồ, không, tôi không cần giữ đầu óc cho thật sáng suốt. Tôi không thể sống nổi nếu sau này nghĩ lại rằng đêm hôm con tôi chết, thì mình say như một tên ngu. Và còn vợ tôi? Làm sao bà ấy uống được?
- Anh không thể báo cho đồng nghiệp của anh biết ư...?
- Conolive không ốm đâu. Thằng cha ấy đi Singapore theo một con “mèo”. Tôi cần viết thay cả cho hắn. Nếu người ta biết thì nó mất việc. (Hắn thu tấm thân không ra hình thù gì của hắn lại): Xin lỗi vì đã lưu anh lại, anh Fowler. Vì tôi nhất thiết phải nói với một người nào đó. Bây giờ phải vào trong nhà nâng cốc đây. Thật là kỳ khôi là tôi lại gặp đúng anh, con người mà tôi ghét như dịch hạch.
- Tôi có thể viết tin cho anh. Tôi sẽ mạo danh Conolive.
- Anh không viết được đúng giọng đâu.
- Tôi không ghét anh, anh Grand, trước tôi đã nhắm mắt không nhìn thấy khối việc...
- Ồ, tôi với anh như chó với mèo vậy. Cám ơn lòng tốt của anh.
Tôi có khác gì Pyle không? – Tôi tự hỏi. Tôi có cần tự bắt mình dẫm chân vào vũng máu của cuộc đời rồi mới được thấy nỗi đau trên đời không? Grand trở vào phòng, và tôi nghe thấy tiếng hoan nghênh hắn. Tôi tìm một chiếc xíchlô đưa tôi về nhà. Nhà không có ai, tôi ngồi và chờ tới giữa đêm. Tôi đi ra đường, và gặp Phượng.
- Tối nay Vigo có tới thăm anh không? - Phượng hỏi.
- Có. Anh ta vừa về được mười lăm phút. Phim có hay không?
Cô ta đã bày khay ra ở trong buồng và đang thắp đèn.
- Một câu chuyện rất buồn, - cô nói. - Nhưng màu thì thật đẹp đến mê hồn. Ông Vigo muốn cái gì?
- Muốn đặt ra vài câu hỏi.
- Về vấn đề gì?
- Về vấn đề này, vấn đề khác. Tôi tin rằng anh ta không trở lại quấy rầy mình nữa.
- Tôi thích những phim có hậu. - Phượng nói. - Sẵn sàng hút chưa nào?
- Rồi.
Tôi nằm ra giường và Phượng xoay xoay chiếc kim.
- Họ chặt đầu cô con gái, - Phượng nói.
- Làm ăn kiểu gì lạ thế?
- Đó là trong thời Cách mạng Pháp.
- À ra thế là một phim lịch sử. Tôi hiểu rồi.
- Dù sao cũng buồn quá.
- Tôi thì chẳng hơi đâu mà buồn cho những nhân vật lịch sử.
- Còn người yêu của cô kia, anh ta trở về căn phòng tồi tàn của mình... khổ sở lắm, rồi viết một bài ca, vì anh ta, anh biết đấy, là một nhà thơ, và chẳng bao lâu những người chặt đầu cô vợ chưa cưới của anh ta lại đi hát bài hát của anh ta, bài Marceille đấy.
- Chuyện xem chừng không có vẻ đúng lịch sử lắm.
- Anh ta đứng hàng đầu đám đông, và trong khi mọi người hát thì anh ta nghe với một vẻ cay đắng, và khi anh ta cười thì người ta thấy cái cười của anh ta lại càng cay đắng hơn vì anh ta nghĩ đến cô ta. Tôi đã khóc hết bao nhiêu nước mắt, bà chị tôi cũng vậy.
- Bà chị cô à? Khó tin quá.
- Bà ấy thế mà rất dễ bị xúc động. Grand, cái anh khốn kiếp, cũng ở đó. Hắn say rượu và cười luôn miệng. Nhưng câu chuyện có gì là vui đâu, buồn lắm.
- Tôi hiểu Grand. Hắn cần mừng cho một việc: Con của hắn thoát chết rồi. Hôm nay ra khách sạn Côngtinăngtan, tôi nghe nói như vậy. Tôi cũng thích những chuyện có hậu.
Khi tôi đã hút được hai điếu thuốc, tôi ngả người ra đằng sau, gối lên chiếc gối da và đặt tay lên lòng Phượng.
- Cô có sung sướng không?
- Nhất định rồi, - cô thản nhiên trả lời.
Tôi hẳn không đáng cho cô trả lời một cách có suy nghĩ hơn.
- Tất cả mọi việc lại như ngày xưa,- tôi nói một cách giả dối. - Y như trước đây một năm.
- Vâng.
- Lâu nay cô không mua khăn quàng. Tại sao mai không ra cửa hiệu mà mua?
- Mai là ngày lễ.
- Ừ nhỉ. Tôi quên.
- Anh còn quên cả mở bức điện ra xem, - cô nói.
- Chưa mở. Quên cả việc đó nữa. Tối nay không muốn nghĩ đến công việc. Muộn quá rồi, không kịp gửi điện đi nữa. Kể chuyện về cuốn phim nữa đi.
- Thế này nhé, anh chàng định tổ chức cho cô vượt ngục. Người ta đã gửi vào những quần áo đàn ông và một chiếc mũ vải giống như mũ các người coi ngục thường đội; nhưng khi qua hàng rào, tóc cô bỗng sổ ra và mọi người đều kêu to: “Một con mụ quý tộc”. Tôi cho rằng cuốn phim hỏng ở đoạn này. Đáng lẽ phải để cô chốn thoát. Nếu vậy thì cả hai người đều kiếm ra được khối tiền nhờ những bài hát, và họ sẽ đi thật xa, sang Mỹ... hay sang Anh, - cô nói thêm với cái vẻ mà cô cho là láu lỉnh.
- Có lẽ cứ đọc bức điện xem sao. Miễn là, lạy trời, người ta đừng bắt mình phải ra miền Bắc. Tôi chỉ muốn nằm dài, bên cạnh em, Phượng ạ.
Phượng lấy bức điện kẹp giữa các lọ kem và đưa cho tôi.
Tôi mở ra và đọc: “Đã nghĩ kỹ về bức điện của anh stop, đã có một quyết định phi lý như anh hy vọng, stop đã nhờ luật sư tiến hành thủ tục ly hôn với lý do anh bỏ gia đình, stop cầu trời phù hộ anh Hellen”.
- Mai anh phải đi à?
- Không. Tôi không phải đi. Đọc xem này. Có người thích những câu chuyện có hậu.
Cô ta nhảy từ trên giường xuống.
- Thật tuyệt vời! Tôi phải đi báo bà chị biết. Bà sẽ sướng biết bao. Tôi sẽ bảo bà: “Chị có biết tôi là ai không? Là bà Fowler đấy nhé”.
Trước mặt tôi, trên giá sách, cuốn Vai trò phương Tây bật lên, tưởng như đó là bức ảnh, cỡ to như cuốn album, của một người trẻ tuổi tóc cắt kiểu lính thuỷ, sau gót có con chó đen. Từ nay hắn không còn làm hại cho ai nữa.
- Cô có nhớ anh ta lắm không?- Tôi hỏi Phượng.
- Nhớ ai?
- Pyle ấy.
Lạ thật, đến lúc này, ngay cả khi nói với Phượng, tôi cũng không gọi hắn bằng cái tên thánh được.
- Nếu anh bằng lòng thì tôi đến bà chị nhé. Tin vui lớn cho bà ta đấy.
- Cô đã gọi hắn trong khi ngủ.
- Tôi chẳng bao giờ nhớ lại mình mê thấy gì .
- Hai người có thể làm được bao nhiêu việc cùng nhau. Hắn ta còn thanh niên.
- Anh thì đã già đâu.
- Còn nhà chọc trời. Tượng thần Tự do.
Cô ngập ngừng nói với tôi:
- Tôi muốn được xem thung lũng Sedal.
- Đẹp sao bằng thung lũng Colorado được .
Tôi kéo cô xuống giường:
- Tôi cũng tiếc đấy, Phượng ạ.
- Anh chẳng cần tiếc gì cả. Bức điện thật tuyệt vời. Chị tôi...
- Ừ thì đi báo cho bà chị biết đi. Nhưng hôn cái đã...
Trong lúc vội vã, cô chỉ để cặp môi lướt trên mặt tôi và chạy vội đi.
Tôi nhớ tới cái ngày đầu tiên mà Pyle, ngồi cạnh tôi ở khách sạn Côngtinăngtan, đã chăm chăm nhìn sang hiệu sữa bên kia đường. Từ khi hắn chết, tất cả mọi việc đều dễ dàng thuận lợi cho tôi, nhưng tôi vẫn tha thiết mong có một người tôi có thể tâm sự cho biết những nỗi nuối tiếc của tôi.

- Hết -
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM