Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Bảy, 2020, 01:21:38 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Theo vết xích xe tăng-Tập 2  (Đọc 67652 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #30 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 05:09:55 pm »

NGƯỜI ANH HÙNG VÀ NHỮNG BÀI CA (1972).

Nhạc Thượng Tá: Minh Chiến
(Nguyên Chính trị viên đội Tuyên văn Binh Chủng 1970 - 1974)
Thơ: Trần Ba
(Nguyên trợ lý Tuyên Huấn Binh chủng)

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 05:11:15 pm »

XE TĂNG BÍ MẬT TIẾN VÀO TUYẾN LỬA VĨNH LINH

Đại tá Bùi Văn Tùng
nguyên Chính ủy Lữ đoàn 203


Tháng 5-1965 Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp được thành lập, ngày đó mới có 2 trung đoàn xe tăng: Trung đoàn 202 và Trung đoàn 203. Đế quốc Mỹ ngày đó đã mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc bằng không quân vì vậy để bảo đảm an toàn lực lượng, hai trung đoàn được bố trí phân tán trên hai tỉnh Hoà Bình và Vĩnh Phú; xe tăng được đặt dưới hầm, trên nóc hầm có mái tranh che phủ như các lán của nhân dân sơ tán, tránh bom Mỹ. 

Đầu năm 1966 tôi và anh Phạm Bân nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng - Thiết giáp chỉ huy khung gồm đầy đủ cán bộ chiến sĩ của một tiểu đoàn tăng hành quân vào chiến trường Tây Nguyên (B3).  Trước khi vào chiến trường chúng tôi phải luyện tập hành quân mang vác nặng, leo dốc và học tập các kỹ thuật đặc công. Nhiệm vụ được giao là vào chiến trường nhằm vào các căn cứ thiết giáp nguỵ mà đánh và cướp xe tăng địch để đánh địch, từng bước thành lập lực lượng xe tăng Quân giải phóng miền Nam. 

Đến ngày lên đường: được lệnh tạm hoãn. Giữa năm 1966, tôi và anh Lê Ngọ được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đoàn xe tăng 4 thuộc Trung đoàn 202, trang bị xe tăng lội nước (PT 76) hành quân vào bắc vĩ tuyến 17.  Tôi là Chính trị viên tiểu đoàn, anh Lê Ngọ là tiểu đoàn trưởng. Hành quân và trú quân phải giữ tuyệt đối bí mật. Đây là công việc hết sức khó khăn; Mấy chục chiếc xe tăng hành quân vào Vĩnh Linh, chứ đâu phải là vài chục cái xe đạp...

Nhiệm vụ của Tiểu đoàn là sẵn sàng cùng các đơn vị bạn đánh tiêu diệt quân Mỹ - nguỵ nếu chúng đưa quân ra bắc vĩ tuyến 17, song đồng thời sẵn sàng cơ động vào chiến trường miền Nam (B), cùng quân dân miền Nam đánh Mỹ xâm lược.

Xe tăng phải cơ động trên đoạn đường dài từ huyện Bình Xuyên (Vĩnh phú) vào Vĩnh Linh trong điều kiện Không quân Mỹ ngày đêm đánh phá rất ác liệt, đây lại là đơn vị xe tăng đầu tiên tiến vào hướng chiến trường B; Vì vậy Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tổ chức một bộ phận đi trực tiếp chỉ đạo Tiểu đoàn và rút kinh nghiệm. 

Đoàn cán bộ do anh Đào Huy Vũ là người chỉ huy cao nhất đi cùng Tiểu đoàn chúng tôi nên cán bộ, chiến sĩ rất phấn khởi. Đi cùng Phó Tư lệnh có các anh Dương Đằng Giang. Tham mưu phó Binh chủng (chưa có Tham mưu trưởng), anh Lê Đức Ôn phó Chính uỷ Trung đoàn 202 cùng một số cán bộ các cơ quan. 

Ngày 22 tháng 8 nam 1966, Tiểu đoàn lên đường. Để luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ quyết tâm đánh Mỹ, Bộ Tư lệnh lấy ngày 17- 7- 1966, ngày Bác Hồ kêu gọi cả nước quyết tâm đánh Mỹ, đặt tên cho Tiểu đoàn là 177. Thế là Tiểu đoàn 4 xe tăng lội nước bí mật hành quân vào tuyến lửa Vĩnh Linh với cái tên mới: Tiểu đoàn 177.

Đơn vị lên tàu hoả từ ga Vĩnh Yên, sau khi xuống tàu hoả, xe tăng phải hành quân bộ từ ga Cát Đằng (Nam Hà) đi theo quốc lộ 1 rồi vào đường 15 theo đường quân sự làm gấp, thật là gian truân. Đường thì hẹp, nhiều “cua” gấp, có đoạn dốc cao, ngầm sâu. Kẻ thù đánh phá bằng đủ loại: Bom phá, bom bi, rốc két, nhất là bất thình lình mới nghe thấy tiếng máy bay thì bom đã nổ chúng phóng bom, bắn rốc két từ xa.

Ngày nay viết những dòng này, không chỉ tôi mà những ai đã từng hành quân vào chiến trường “B” ngày đó không thể quên được các trọng điểm mà không quân Mỹ bắn phá rất ác liệt như: Dốc Bò Lăn, Ngã ba Đồng Lộc, Bến phà Long Đại v.v. Cuộc hành quân của Tiểu đoàn 177 ngày đó thực sự là những cuộc thử thách rèn luyện lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí của người chiến sĩ xe tăng mà còn là sự “đấu trí” với kẻ thù... 

Sau 10 ngày hành quân, Tiểu đoàn đã vào tới vị trí giấu quân an toàn 100% người và trang bị kỹ thuật.  Tạm giấu quân ở nam tỉnh Quảng Bình, khu vực này có đường vào Quảng Trị, ngày đêm địch soi mói bắn phá, tôi và anh Lê Ngọ đi tìm nơi giấu quân an toàn hơn, vừa bảo đảm được việc triển khai đội hình chiến đấu, lại vừa đảm bảo được sinh hoạt, học tập bình thường cho đơn vị. 

Sau một thời gian nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vùng đồng bằng nam Quảng Bình và tây Vĩnh Linh, nơi đó đồi trọc xen lẫn ruộng vườn và nhà của nhân dân thưa thớt, về mặt địa hình là nơi trống trải, theo mắt các nhà quân sự, chính cái trống trải về địa hình ấy máy bay địch lại ít nhòm ngó tới. Chúng tôi quyết định đưa xe tăng xuống giấu quân ở vùng đồng bằng trống trải ấy, cái nơi bất ngờ ấy lại là nơi an toàn nhất.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 05:11:39 pm »

Kinh nghiệm giấu quân trong thời gian ở Vĩnh Yên đã cho chúng tôi những bài học tốt. Xe tăng bố trí phân tán rộng. Mỗi xe đào hầm sâu xuống mặt đất, trên nóc hầm lợp mái tranh lụp xụp như nhà dân, trong hầm, dưới bụng xe tăng là căn hầm nhỏ để cả “kíp” xe làm nơi ở. Còn cán bộ, chiến sĩ xe tăng thì mặc quần áo như nông dân địa phương...

Khó khăn nhất phải xoá vết xích của xe tăng, cả số đất mới đào hầm cho xe tăng phải làm sao khỏi lộ, để máy bay địch không phát hiện ra.  Sau khi đào xong công sự mới cho xe tăng, lần lượt vài chiếc xuống hầm trong một đêm. Xe tăng đi kéo theo cành cây lớn để xoá nốt các vết xích dù còn rất mờ và nguỵ trang xe cẩn thận. Để việc tăng “số chuồng bò” (câu gọi vui về số nhà hầm xe tăng) ở vùng dân cư không thành đột xuất, chúng tôi phải mất ba bốn tháng mới hoàn tất việc bố trí đội hình xe tăng mai phục ở đồng bằng.

Bộ đội ở phân tán trong công sự đào dưới gầm xe. Ba bốn anh em một công sự rộng rãi, mát mẻ, đủ tiện nghi, không khác gì sống trong doanh trại.  Trung đội, đại đội có nhà hầm sinh hoạt ở trung tâm đội hình. Đại đội có bãi tập bắn, Tiểu đoàn có bãi tập lái ở chân núi An Mã. Lái xe vào chiến trường toàn đạt cấp cao. Thỉnh thoảng mới tổ chức một đêm lái ôn tập và cũng là một đêm lao động khá vất vả của lính tăng để xoá sạch vết xích ở bãi lái.

Về mặt tăng gia sản xuất, chăn nuôi, rau xanh, hoa quả đủ dùng quanh nam, xe có đàn gà vịt, trung đội có đàn lợn, đại đội có đàn bò.  Sức khoẻ của đại đội luôn luôn bảo đảm 100% quân số.  Là một địa bàn máy bay địch bắn phá quanh năm nhưng bộ đội và dân chúng vẫn đảm bảo cuộc sống bình thường. Ngoài thời gian luyện tập quân sự, hàng tháng vào các ngày lễ lớn đơn vị cùng với thanh niên các xã tổ chức sinh hoạt văn nghệ, thể thao.

Cái khó của chúng tôi là lãnh đạo bộ đội yên tâm kiên trì mai phục. Địa bàn đóng quân cũng là nơi dừng chân của các đơn vị từ Bắc vào Nam chiến đấu nên lính tăng thường gặp đồng hương ở Bắc vào. Sẵn có gia cầm chăn nuôi, anh em thường tiếp đãi nhau những bữa chén rôm rả. Những đơn vị chiến đấu tại Quảng Trị thì căn cứ của chúng tôi cũng là hậu phương của những đơn vị ấy. Bộ đội ta ra vào chiến đấu liên tục. Qua chiến đấu nhiều đồng chí binh nhì vào chiến trường, khi ra ngoài gặp lại nhau, có người là trung sĩ, thượng sĩ có anh đã lủng lẳng súng ngắn bên hông. Lính tăng năm này qua năm nọ cao nhất cũng chỉ là trung sĩ, thượng sĩ. Một số lên rừng đốn củi gặp đồng hương lủng lẳng súng ngắn bên hông đã lảng tránh chào hỏi.

Qua chiến đấu trưởng thành được đề bạt: thay thế là lẽ đương nhiên, nhưng đối với chiến sĩ xe tăng có lúc suy nghĩ day dứt, nhưng lính xe tăng chất lượng rất cao nên anh em đều tự giải quyết tốt. Một dạo anh Đàm Quang Trung (thủ trưởng cũ của tôi trong kháng chiến chóng pháp và đương nhiệm Tư lệnh B5) cùng với anh Doãn Tuế, Tư lệnh Pháo binh vào Vĩnh linh chuẩn bị cho trận tập kích pháo vào các cứ điểm của địch nằm ở bờ nam vĩ tuyến. Trên tuyến đường vào có một vài trọng điểm địch bắn phá mà xe con khó có thể vượt qua, anh điện cho tôi đưa xe tăng ra đón. Tôi cử một đại đội phó kỹ thuật chỉ huy xe ra đón và vào tạm nghỉ ở sở chỉ huy của chúng tôi. Gặp tôi anh nói ngay: “Bộ đội của các cậu kỷ luật khá đấy, lính này đánh nhau là ăn chắc”.

Chưa rõ lý do gì mà mới gặp tôi anh đã vội khen.  Tôi đáp: “ Bộ binh ra vào đánh nhau như cơm bữa, lính chúng tôi nằm chờ ngày đêm lệnh xuất kích của thủ trưởng để có việc làm, anh em sốt ruột lắm”. Suy nghĩ một lát anh nói tiếp: “ Được, tớ sẽ tìm cách để các cậu có việc làm”.

Xe tăng lội nước có cửa nắp xe rộng, đồng chí đại đội phó (người ra đón) kê một tấm ván dài để hai thủ trưởng ngồi ló đầu ra ngoài. Trời vừa tối, địch đã rải pháo sáng để kiểm tra mặt đường nhất là những trọng điểm khó vượt. Mặt đường trong chiến tranh lồi lõm nhưng xe chạy bằng xích êm ả. Trời đầy sao, gió trời mát rượi. hai thủ trưởng cảm thấy dễ chịu, chuyện trò rôm rả. Khi xe sắp vào trọng điểm, đồng chí đại đội phó mời hai thủ trưởng vào trong và đóng nắp cửa xe lại. 

Trong xe dù đã mở quạt nhưng vẫn nóng bức và ngột ngạt. Anh Quang Trung bị huyết áp cao nên đã mấy lần đề nghị mở nắp xe, nhưng đồng chí đại đội phó không mở, cuối cùng anh Quang Trung quát lớn “Tớ chịu hết nổi rồi”. Đồng chí đại đội phó nói: “Thủ trưởng chịu thêm vài phút nữa xe ra khỏi trọng điểm bắn phá, em sẽ sắp xếp các thủ trưởng ngồi lại như cũ, thủ trưởng Tùng dặn em là phải bảo đảm an toàn cho các thủ trưởng.

Sau khi nghe lại mẩu chuyện đi đường thì vỡ lẽ ra anh khen kỷ luật lính tăng là như vậy. Vào sở chỉ huy B5 anh điện cho chúng tôi vào nhận vị trí đào công sự cho đại đội xe tăng vào tham gia trận pháo kích. Đêm hành quân chiếm lĩnh trận địa, hành quân được nửa đường tôi nhận được điện của anh Nguyễn Chí Tam, phó Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng:

“Dừng hành quân quay về vị trí giấu quân như cũ”. Sau đợt tập kích mấy ngày anh Quang Trung điện cho tôi lên sở chỉ huy và cho biết: “Tớ báo cáo ra Bắc, tớ và anh Doãn Tuế cho các cậu tham gia, Anh Văn (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) không cho và nói là phải bảo đảm an toàn bí mật cho các cậu. Thôi thì dịp khác vậy, nằm chờ cũng là một nhiệm vụ”- Anh an ủi tôi.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 05:12:16 pm »

Sau đó anh trao đổi với anh Tống Sỹ Nguỵ, trung đoàn trưởng bộ binh cho bộ đội chúng tôi ghép cùng bộ binh chiến đấu bằng vũ khí bộ binh, vừa rèn luyện trận mạc và có thời cơ lấy xe tăng địch. Số anh em chúng tôi đi tham gia đã có 2 chiến sĩ hy sinh. Tất cả đều được trung đoàn đề nghị và được trên tặng huân chương.

Khu vực chúng tôi đóng quân địch ngày càng đánh phá ác liệt, một đại đội pháo cao xạ 100 ly và một giàn tên lửa bị địch bắn trúng. Sở chỉ huy trung đoàn cũng bị đánh bom. Tôi đã nhường công sự của đại đội công binh để sở chỉ huy trung đoàn tạm trú chờ lập sở chỉ huy mới. Địch cũng đánh trúng vị trí giấu quân của chúng tôi, nhưng đội hình phân tán rộng nên chỉ hỏng một xe công trình.

Có thời kỳ được thông báo máy bay địch có thể dùng kỹ thuật phát hiện những khối thép lớn, anh em lại phải đan hàng trăm sọt tre đựng đầy đất đắp dầy trên xe tăng.  Cuộc tấn công và nổi dậy năm Mậu Thân, chúng tôi được lệnh chuẩn bị có thể hành quân vào chi viện cho Huế, nhưng rồi Mậu Thân qua đi, chúng tôi vẫn ở tư thế sẵn sàng.


Bước sang năm 1968, chúng tôi nhận được lệnh chuẩn bị cho đại đội xe tăng do anh Võ Bá Linh là đại đội trưởng và anh Phan Ánh chính trị viên vào. Tôi và anh Lê Ngọ tới Bộ Tư lệnh B5 nhận lệnh hành quân. Tư lệnh Đàm Quang Trung cho biết: “Đây là lệnh của Bộ, tăng cường xe cho chiến trường Tây Nguyên (B3)”. Đảng uỷ chúng tôi đề nghị tôi và anh Phạm Xuân Cát tham mưu trưởng Tiểu đoàn chỉ huy hành quân, tôi không được chuẩn y cho đi cùng đơn vị, chỉ có các anh Lê Ngọ, Nguyễn Cận chính trị viên phó tiểu đoàn và Nguyễn Lương tiểu đoàn phó kỹ thuật chỉ huy đơn vị vào Tây Nguyên. Tôi ở lại tiếp tục xây dựng đơn vị nhận nhiệm vụ mới.

Đại đội xe tăng của Võ Bá Linh là đại đội đầu tiên có mặt tại chiến trường Tây Nguyên, hợp đồng với bộ binh đánh một số trận và là đơn vị tiền nhân của Trung đoàn xe tăng 273 do anh Lê Ngọ làm trung đoàn trưởng và cũng là lữ đoàn xe tăng sau này. 

Cuối năm 1969 theo lệnh của Bộ Tư lệnh Binh chủng Tăng anh Võ Ngọc Hải (Chính ủy Trung đoàn 202) và anh Lê Quang Xỳ (Trung đoàn phó) chuẩn bị cho đơn vị chúng tôi ra Nghệ An theo trục đường 7 hành quân lên Mường Xén được bổ sung thêm một đại đội súng máy cao xạ tự hành quân qua Thượng Lào tham gia chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Anh Võ Ngọc Hải ở sở chỉ huy Mặt trận, tôi và anh Lê Quang Xỳ chỉ huy đơn vị tham gia tiêu diệt địch ở sân bay, giải phóng Cánh Đồng Chum. Sau trận này tôi được điều về Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp và được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 203, sau đó thay anh Lê Quang Phước làm Chính uỷ Trung đoàn tham gia chiến dịch giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972.

Đoàn 177 trụ lại chiến đấu ở chiến trường Thượng Lào, là đơn vị đầu tiên tham gia thành lập Trung đoàn 206 thuộc Quân khu 4. Sau này trung đoàn xe tăng được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi có dịp ra Bắc đã ghé vào thăm bà con nơi đóng quân cũ ngày nào. Xe của chúng tôi vừa đến đầu làng bà con đã túa ra tay bắt mặt mừng. Định chỉ lưu lại vài giờ để thăm các cụ già và viếng mộ đồng chí Thoàn đại đội trưởng công binh hy sinh do địch cắt bom trúng đơn vị, nhưng bà con nhất định giữ chúng tôi lại.

Đêm đó bà con yêu cầu kể lại trận đánh giải phóng Sài Gòn và các trận đánh của đoàn 177 năm xưa ai còn ai mất. Tôi không ngờ thời gian đã gần chục năm qua mà vẫn còn mới mẻ như ngày nào, bà con nhắc đến tính nết của từng lái xe, pháo thủ, số hiệu của từng xe và giấu ở góc vườn nào.  Tình cảm quân dân mà chúng tôi sống ở đất Quảng Bình sâu đậm là như vậy. Tình cảm ấy quyện chặt chúng tôi trên mọi miền đất nước trong Nam ngoài Bắc đã giúp chúng tôi giừ vững phẩm chất “Anh bộ đội Cụ Hồ” và có đủ sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.

Thành phố Hồ Chí Minh
30-4-2003
B.V.T
ĐT: 08. 9303282
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Bảy, 2009, 05:17:28 pm »

XÂY DỰNG Ý CHÍ QUYẾT ĐÁNH THẮNG TRẬN ĐẦU

Đào Văn Xuân
Đại tá nguyên Phó Chính ủy
Bộ Tư lệnh Tăng - Thiết giáp


Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi năm 1954. Tôi cùng một số cán bộ được điều về Tổng cục Chính trị tham gia biên soạn tài liệu tổng kết công tác chính trị. Nay hầu hết những người tham gia biên soạn ngày ấy không còn nữa. Đọc lại cuốn sách tôi nhớ mãi câu “Công tác chính trị muốn thực sự là mạch sống, là linh hồn của Quân đội không thể chỉ nắm những nguyên tắc chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà phải đi sâu vào các hoạt động của Quân đội ta, thoát ly đời sống thực tế đó của Quân đội, công tác chính trị sẽ trở thành chung chung, thiếu sức sống, kém tác dụng...”. Đó là sự khái quát tổng kết các mặt hoạt động công tác chính trị của Quân đội ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nó cũng được kiểm chứng qua các hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị của Quân đội ta trong sự nghiệp chống đế quốc Mỹ cứu nước.

Công tác chính trị là mạch sống vì nó bám sát thực tế cuộc sống của Quân đội, từ đó cho ta một hệ quả là: Muốn hiểu đầy đủ sức sống của công tác chính trị cũng phải xem xét cụ thể thực tế cuộc sống của đơn vị trong thời gian đó. Vì lẽ đó nếu tìm hiểu việc xây dựng ý chí quyết tâm của bộ đội xe tăng trong chiến thắng làng Vây cách đây trên 30 năm mà chỉ dừng lại ở chỗ xem xét việc quán triệt mục đích, yêu cầu của chiến dịch của trận đánh sẽ là chưa đầy đủ, tuy việc đó là cần, song mới chỉ là tán lá, cái ngọn vì thế không thể thấy toàn bộ cái đẹp đẽ của một cây cổ thụ.

Từ 1965 về trước, Quân đội ta mới có một Trung đoàn xe tăng (E202). Tới 2 năm 1964, 1965, trên đưa về 2 khung trung đoàn cán bộ hoàn chỉnh, từ cán bộ trung đội đại đội trở lên, đủ cả cán bộ chỉ huy, kỹ thuật, chính trị được đào tạo chính quy ở Liên Xô và Trung Quốc về Trung đoàn. Điều đó nói lên:

Quyết tâm chiến lược của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh, xây dựng lực lượng xe tăng để đáp ứng yêu cầu cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thời gian tới.

Đến tháng 5-1965, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng đã thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh xuống họp với Đảng ủy và Thủ’ trưởng Trung đoàn 202 chúng tôi và công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Thiết giáp, một binh chủng mới của quân đội ta ra đời và có trong biên chế, 2 trung đoàn (Trung đoàn 202 và Trung đoàn 203).  Thời gian đó tình hình đất nước có những diễn biến mới phức tạp:

- Tháng 7-1964, Mỹ dùng Hải quân đánh phá các đảo Hòn Ngư (Nghệ Tĩnh), Hòn Mê (Thanh Hóa). Tiếp theo chúng dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ, rồi 5-8-1964 dùng không quân đánh phá nhiều nơi trên miền Bắc Tổ quốc ta: sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (thành phố Vinh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi Cháy (Quảng Ninh). 

- Ở miền Nam trong 2 tháng (7-1965/9-1965) Mỹ ồ ạt đổ quân vào, số lượng lên tới 200.000 quân (hiện nay Mỹ chuẩn bị đánh Irắc, tính đến 20-3-2003, quân đội Mỹ - Anh tấn công Irắc tổng số quân Mỹ - Anh đã huy động là 250.000).

Tình hình đất nước ta ngày đó rất nghiêm trọng: Từ hoàn cảnh một nửa nước có hòa bình, một nửa nước có chiến tranh sang tình thế cả nước có chiến tranh. Tháng 4 - 1965, tại kỳ họp Quốc hội khóa 3, Bác Hồ đã ra lời kêu gọi “Lúc này chống Mỹ cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết triệu người như một quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. 

Toàn dân Việt Nam đã đứng lên, cả nước cuồn cuộn dâng lên cao trào “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.  Tình hình đó tác động không nhỏ đến tâm tư tình cảm và nguyện vọng cháy bỏng của mọi người chiến sĩ xe tăng: Xin đi đánh Mỹ. Xe tăng chưa có điều kiện và thời cơ lên đường, thế là nguyện vọng chân chính đó đã được chấp thuận, với tinh thần vào chiến trường B đánh địch, lấy xe tăng địch để tổ chức các đơn vị xe tăng tại chiến trường, đón thời cơ cùng cả nước xung trận.

Trong 2 năm 1964-1965 đã có ba đoàn lên đường:

- Tháng 2-1964 - đoàn đầu tiên do hai anh Mai Văn Phúc và Lâm Kim Chung chỉ huy gồm 49 đồng chí.

- Tháng 4-1964 - đoàn thứ hai tổ chức thành khung một đại đội xe tăng hoàn chỉnh, do hai anh Nguyễn Đình Doãn làm đại đội trưởng và Phan Quế làm chính trị viên. Đoàn gồm 40 đồng chí.

- Tháng 3-1965 - Đoàn thứ ba đông nhất, gồm 228 đồng chí - đầy đủ khung cho một trung đoàn xe tăng lên đường vào B2. Đoàn do hai anh: Thế Hùng làm đoàn trưởng và Bùi Tân làm chính trị viên.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2009, 12:13:37 am »

Một sự kiện khác nữa cũng tác động không nhỏ đến tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ xe tảng, đó là vào tháng 10 1966, theo lệnh trên, xe tăng niêm cất, chỉ để lại một số để bảo quản xe, rút quân số ra tổ chức thành 11 đại đội trang bị cao xạ 37 mm, đi tham gia bắn máy bay Mỹ bảo vệ bầu trời miền Bắc (gọi chung là 510)... 

- Trung đoàn 202 tổ chức ra 6 đại đội. ngoài các đại đội ra, còn rút cán bộ trung đoàn lập Ban chỉ huy nhẹ đi phụ trách: Ban chỉ huy Trung đoàn 202 gồm hai anh Lê Quang Xỳ, trung đoàn phó và Lê Đức Ôn, phó chính ủy.

- Trung đoàn 203 tổ chức ra 5 đại đội, Ban chỉ huy Trung đoàn 203 do hai anh Nguyễn Văn Lãng, Trung đoàn phó và Lê Minh Tân chủ nhiệm chính trị trung đoàn phụ trách.

Sự kiện này là một nhiệm vụ cấp thiết ngày đó, xong tác động rất mạnh đến tinh thần yên tâm xây dựng Binh chủng.

Từ tình hình trên mặt lãnh đạo của Đảng ủy Binh chủng đã đặt ra yêu cầu: Xây dựng lòng thiệt tha yêu mến Binh chủng, người đi bắn máy bay thì chiên đấu tốt đợi ngày trở về Binh chủng, những người ở lại Binh chủng kiên trì huấn luyện, làm tột công tác kỹ thuật, chăm sóc, bảo đảm tốt xe. Tất cả đợi ngày cùng xe tăng lên đường đánh Mỹ. Chính đặt tên cho bộ phận đi bắn máy bay là 510, xuất phát từ mục tiêu giáo dục chính trị ấy, vì ngày truyền thống của Binh chủng là 5-10-1959.

Khẩu hiệu được cuốc chạy ngang lưng chừng núi Đanh: “Quyết đánh, quyết thắng Đế quốc Mỹ” sau sự kiện ngày 5-8-1964 là việc mở đầu cho giai đoạn bền bỉ, liên tục xây dựng một quyết tâm, một ý chí kiên trì đợi ngày cùng xe tăng lên đường đánh Mỹ. Cái day dứt trong tâm tư còn ở chỗ cán bộ, chiến sĩ xe tăng đều là lớp có chất lượng cao, được chọn lọc và huấn luyện kỹ. Nhưng vì không có nhu cầu phát triển, nên không thể đề bạt quân hàm. Mặt khác, về chính sách ngày đó quá chặt chẽ tới mức hẹp hòi, ở một binh chủng kỹ thuật hạ sĩ quan được đào tạo kỹ về kỹ thuật cũng không được đề bạt thành sĩ quan. Đây là quy định của Tổng cục Chính trị: Để quản lý chặt chẽ đầu vào đội ngũ sĩ quan phải do Tổng cục Chính trị quyết định. Ngày đó, tỷ lệ hạ sĩ quan giữ chức sĩ quan khá cao: Năm 1965 là 22,5% trong tổng số cán bộ ở Binh chủng. Năm 1966 là 15,9% trong tổng số cán bộ ở Binh chủng. Cho nên mới có câu ca dao của quần chúng từ những năm tháng ấy:

Bao giờ mọt đục xe tăng
Thì lính thiết giáp được thăng quân hàm.

Nhưng ý chí quyết tâm chờ đợi ngày lên đường để “chia lửa” với miền Nam đau thương đã tạo nên sức mạnh để mọi người chịu đựng và vượt qua những thiệt thòi của riêng mình.

Trong những ngày thăng trầm ấy, các thủ trưởng trên Bộ Tổng tư lệnh thường xuyên đến Binh chủng.  Tôi nhớ mãi lời Đại tướng - Bộ trưởng Quốc phòng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói trong Thường vụ Đảng ủy Binh chủng “Hãy kiên trì xây dựng đơn vị cho tốt, nhất định sẽ có ngày xe tăng lên đường”. Và Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng nói với tôi và anh Đào Huy Vũ phó Tư lệnh:

- Hãy làm mọi việc cho tốt, làm sao như chiếc lò xo bằng thép, càng nén chặt bao nhiêu thì sức bung ra càng mạnh bấy nhiêu.

Các thủ trưởng cấp trên đã dạy chúng tôi một tầm nhìn chiến lược, công tác chính trị phát huy được sức mạnh cũng từ tầm nhìn ấy, và trận đánh đầu tiên thắng lợi, chính là sức mạnh bung ra của cái lò xo bằng thép, được tăng dần lực lên tới mức cao từ những năm trước.

Có thể nói rằng xây dựng quyết tâm chiến đấu, và chiến thắng cho trận ra quân mùa xuân 1968 là một quá trình liên tục bền bỉ, thắp sáng lên và giữ mải ngọn lửa rực cháy trong tim mỗi chiến sĩ, cán bộ xe tăng: “Kiên trì chờ đợi ngày cùng xe tăng lên đường xung trận”.

Công tác chính trị, không chỉ dừng lại ở việc phổ biến nghị quyết, ở những khẩu hiệu “Xây dựng lòng thiết tha yêu mến Binh chủng” mà những hoạt động cụ thể đã gắn chặt. nhuần nhuyễn với các mặt công tác huấn luyện, kỹ thuật, hậu cần, công tác xây dựng Đảng... Nhằm tạo thành một sức mạnh tổng hợp, đạt phục tiêu chính trị, tư tưởng ấy.  Có thể nói rằng, các mặt hoạt động của công tác chính trị thật là phong phú. Cái phong phú đặc sắc nhất là sự gắn kết các mặt thành một khối thống nhất, nhằm mục tiêu xây dựng Binh chủng vừng nạnh toàn diện.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2009, 12:14:20 am »

Như phong trào xây dựng “Đơn vị quyết thắng”, nội dung quyết thắng đã được gắn chặt các nội dung một cách toàn diện: đạt quyết thắng phải là đơn vị huấn luyện quân sự tốt, công tác kỹ thuật tốt, hoạt động văn hóa văn nghệ quần chúng tốt nuôi quân phòng bệnh giỏi, điều này có ý nghĩa rất thiết thực, nói đến sức khỏe của cán bộ chiến sĩ xe tăng ngày đó.

Qua tài liệu nghiên cứu của cơ quan quân y từ 1964 đến 1969, đối với 100 chiến sĩ xe tăng và pháo thủ (61 đồng chí lái xe, 39 đồng chí pháo thủ) cho thấy:

- Cả 100 đồng chí lái xe và pháo thủ: Tăng cân: 9,1%. Giữ cân: 45%. Sụt cân: 45,9%.

- 61 đồng chí lái xe tăng: Tăng cân: 31,1%. Giữ cân: 12,2%. Sụt cân: 57,7%.

- Riêng về mắt: Tăng thị lực: 14,94%. Giữ thị lực: 32,60%. Giảm thị lực: 52,46%.

Hoạt động trong xe tăng trong huấn luyện chịu nhiệt độ cao hơn bên ngoài rất nhiều.

- Về mùa hè: Từ 11 giờ đến 14 giờ chênh lệch từ 4oC -. 7oC . Từ 14 giờ đến 21 giờ chênh lệch từ 10oC – 12oC.

Chính các cán bộ lãnh đạo chủ trì về công tác Đảng và công tác chính trị đã quan tâm tìm hiểu kỹ tình lãnh và số liệu trên, nên phong trào thi đua nuôi quân phòng bệnh tốt có ý nghĩa thiết thực. Mặt khác cũng có sức cổ vũ về trách nhiệm công tác ngay đôi với người cán bộ làm công tác hậu cần, quân y. 

Trong công tác xây dựng Đảng: “Xây dựng Chi bộ 4 tốt và Đảng viên 4 tốt” - Nội dung để bình bầu 4 tốt cũng gắn chặt các nội dung trên, như muốn đạt danh hiệu Chi bộ 4 tốt, phải xem công tác kỹ thuật có tốt không, công tác nuôi quân có tất không v.v...  Mỗi nội dung có những yêu cầu cụ thể. Ví dụ khẩu hiệu “văn hóa văn nghệ tốt” là: Mỗi đại đội là một vườn hoa, mỗi hầm xe tăng là một căn nhà ấm cúng, sinh hoạt ca hát đều, bích báo đẹp, nội dung phản ánh sinh hoạt phong phú, nhằm tạo cho cán bộ, chiến sĩ một không khí vui tươi, lành mạnh.

Để thúc đẩy phong trào có nền nếp, từng phong trào có tiến hành bình bầu, sau đó được Binh chủng công nhận, thường là 6 tháng và 1 năm. Cán bộ cơ quan chính trị Binh chủng do chủ nhiệm chính trị dẫn đầu có đại diện các bộ phận: Tổ chức, tuyên huấn, cán bộ, kiểm tra, bảo vệ... Thường xuyên đi các đại đội kiểm tra tình hình...

Phát huy sức mạnh công tác kiểm tra của Đảng ủy cũng định kỳ tiến hành kiểm tra một số chi bộ, chủ yếu xung quanh nội dung Đảng viên 4 tốt và Chi bộ 4 tốt nhằm thúc đẩy hoạt động của tổ chức cơ sở Đảng trong phong trào xây dựng đơn vị. Việc bình Đảng viên 4 tốt gắn chặt trách nhiệm của từng đảng viên giữ cương vị chính quyền, như tiêu chuẩn quyết thắng mà đơn vị không đạt thì đảng viên là đại đội trưởng hay chính trị viên đại đội không thể đạt tiêu chuẩn Đảng viên 4 tốt... 

Công tác phát triển Đảng cũng chú trọng, qua phong trào để bồi dưỡng đảng viên và phát triển thêm chiến sĩ ưu tú kết nạp vào Đảng. Ngày đó chất lượng tổ chức Đảng ở cơ sở đã cao, vì vậy: mục tiêu của Chi bộ 4 tốt có nội dung phấn đấu là: Các trung đội có tổ chức Đảng, từng xe có đảng viên. Mục tiêu trên là nhằm vào yêu cầu chiến đấu sau này có thể chỉ vài xe tham gia một trận đánh và có thể có hoàn cảnh nào đó, chỉ còn một xe chiến đấu v.v... chỉ tiêu đó không phải là khẩu hiệu chung, mà xuất phát từ dự kiến tình hình có thể xảy ra để xây dựng một tổ chức Đảng cho phù hợp với nhiệm vụ lãnh đạo trong chiến đấu. 

Tôi nhớ một lần cùng cán bộ cơ quan xuống một đại đội ở Trung đoàn 203, ngồi nói chuyện với chiến sĩ sau giờ bảo dưỡng kỹ thuật, có một chiến sĩ hỏi: Tại sao chúng em bị hắc lào nhiều lắm.  Tôi vạch áo chiến sĩ đó xem, thấy một vùng hắc lào to gần khắp bụng, rồi buột miệng nói: Tại bẩn chứ sao. Người chiến sĩ nói: Thủ trưởng xem, làm sao sạch được, quần áo thường ngày chỉ có 2 bộ, còn quần áo công tác chỉ một bộ duy nhất. Xà phòng mỗi tháng chỉ có một bánh to bằng nửa bàn tay. Suốt ngày lăn lộn với xe, với dầu mỡ, nếu trời nắng to một tuần mới giặt quần áo một lần còn mưa thì cả tháng không dám giặt. 

Tôi quay sang hỏi quân y sĩ của tiểu đoàn đang ngồi cạnh thì được biết ngay “A.S.A” là thuốc trị hắc lào ngày đó cũng không có đủ để phát...  Thế là sau lần trao đổi ấy tôi về bàn với cơ quan hậu cần và quân y bổ sung vào nội dung thi đua nuôi quân phòng bệnh tốt khẩu hiệu: “Mỗi đại đội có một vườn thuốc Nam, đặc biệt phải có nhiều cây “ba gạc” để trị nấm cho chiến sĩ.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Bảy, 2009, 12:15:06 am »

Năm 1967 khi cán bộ, chiến sỹ đi bắn máy bay trở về Binh chủng và có lệnh chuẩn bị xe tăng đi chiến đấu thì công tác chính trị đã chuyển sang mục tiêu mới, đó là yêu cầu được quán triệt trong toàn Binh chủng: “Đảm bảo 100% người và xe an toàn tới nơi, sẵn sàng chiến đấu được ngay”.

Tất cả các mặt hoạt động đều tập trung xoay quanh yêu cầu chính trị trên, vì yêu cầu đó phù hợp với nguyện vọng của tất cả, để đảm bảo đánh thắng trận đầu Điểm qua vài số hếu để thấy hết sự nỗ lực của toàn Binh chủng cho chiến thắng đầu tiên ấy.  Về tổ chức, chỉ huy, theo nghị quyết của Thường vụ Đảng ủy, gần như tập trung số lượng lớn cán bộ có năng lực, kinh nghiệm để đảm bảo cho cuộc hành quân lịch sử đầu tiên ấy: Từ Lương Sơn (Hòa Bình) vào đường số 9.

Trên Bộ Tư lệnh có cả một tổ chức gồm các cơ quan tharn mưu, chính tn, hậu cẩn, kỹ thuật. ở trung đoàn có ban chỉ huy và cán bộ các cơ quan... Nhìn vào mặt kỹ thuật sau khi Tiểu đoàn 198 đến địa điểm tập kết chiến dịch và chỉ tính một đại đội: Bánh chịu nặng hỏng 111, tỷ lệ 84%. Xích hỏng 920 miếng, tỷ lệ 44%. Dầu diezen tiêu thụ hết 18.968 lít. Dầu nhờn hết 994 lít.

Qua đó ta thấy một khối lượng khổng lồ công việc đảm bảo cho Tiểu đoàn 198 (phiên hiệu tiểu đoàn xe tăng PT76) tiến vào chiến dịch như thế nào. Người cán bộ chính trị phải bám sát hoạt động của đơn vị, phải biết từng con số đó, không phải để làm công tác kỹ thuật, mà để hiểu con người ở binh chủng kỹ thuật, bởi vì công tác chính tn là công tác đối với con người đang làm các công việc như thế.

Công tác chính trị đi sâu vào các mặt hoạt động của Binh chủng, nhất là công tác kỹ thuật. Sức mạnh của công tác chính trị cũng là ở chỗ đó. Ngày ấy, đưa được Tiểu đoàn 198 đã vào tới điểm tập kết chiến dịch, là đã đưa “lò xo được nén căng tôi đa đến nơi chuẩn bị cho thời điểm bật chết”, còn hướng sức bật của lò xo ra sao để phát huy sức mạnh tối đa là các công việc làm tiếp ở chiến dịch. 

Nhìn lại những điều đã trải nghiệm, gần 40 năm về trước, tôi nghĩ rằng các hoạt động phong phú, nhịp nhàng ngày ấy, yếu tố quyết định nhất là mọi vấn đề đều được bàn bạc, nhất trí cao trong ban Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Binh chủng. Ban Thường vụ Đảng ủy chúng tôi ngày ấy có ba người: Đồng chí Lê Ngọc Quang chính ủy - bí thư (chưa có phó chính ủy); Tôi, chủ nhiệm chính trì, phó bí thư; Đồng chí Đào Huy Vũ, phó tư lệnh (chưa có tư lệnh), ủy viên Thường vụ.

Mặt khác, một yếu tố cũng rất quan trọng đó là đội ngũ cán bộ chính trị từ trên Bộ Tư lệnh tới đại đội đều được đào tạo chính quy về khoa học quân sự và ký thuật binh chủng, đội ngũ đó hiểu biết kỹ về kỹ thuật lại toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp xây dựng và chiến đấu, nên đã tạo ra được sự chủ động ăn ý cao trong cán bộ các cấp giữa quân sự, chính trị, kỹ thuật, qua đó tạo ra sức mạnh tổng hợp các mặt.

Tôi muốn kể lại một mẩu chuyện về sự chưa am hiểu về kỹ thuật binh chủng của một cán bộ lãnh đạo.  Đại đội xe tăng 9, đơn vị đạt ba năm liền danh hiệu quyết thắng, lá cờ đầu về công tác kỹ thuật của Binh chủng, năm 1969 được điều động sang tham gia chiến đấu trên chiến trường Lào. Đơn vị nằm trong đội hình 195 của Trung đoàn 202. Trong một trận đánh, phải vượt dốc cao 1800m ở địa hình rừng núi. Xe tăng T34 nặng 32 tấn khả năng leo dốc hạn chế. Khả năng leo dốc lớn nhất là 30o (đường tốt), đi độ nghiêng lớn nhất 25o, vì vậy Cán bộ đơn vị xe tăng đã phải yêu cầu Binh chủng hợp thành cho công binh hạ thấp độ dốc đoạn đường đó để đạt yêu cầu cho xe tăng vượt dốc.

Sau chiến dịch tôi đã được cán bộ báo cáo tỷ mỹ về chuyện này. Do hiểu kỹ thuật, tôi cho yêu cầu phải bạt bớt độ dốc và độ nghiêng đó là hợp lý đảm bảo cho chiến thắng.  Vài năm sau, đồng chí chính ủy sư đoàn bộ binh ngày đó lại có dịp công tác cùng tôi ở Binh chủng Tăng.  Anh và tôi đã công tác chiến đấu cùng nhau trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Anh rất tin ở tôi và tôi cũng quý mến anh. Một hôm trong câu chuyện xây dựng ý chí chiến đấu cho xe tăng, anh đưa câu chuyện xe tăng yêu cầu bạt độ dốc ở chiến trường Lào năm xưa (ngày đó anh là Chính ủy Sư đoàn 312) và hạ kết luận: “Ngày đó Binh chủng đã đưa đơn vị xe tăng sang, ý chí chiến đấu không cao...”.

Tôi không ngạc nhiên, vì đã nghe báo cáo rồi, nên nói lại cho anh rõ: Đại đội 9 ngày đó là đơn vị mạnh nhất, anh em ấp ủ nguyện vọng cùng xe tăng đi chiến đấu đấy Sau đó tôi đem công thức tính toán khả năng vượt dốc của xe tăng để nói cho anh rõ và khẳng định yêu cầu của anh em ngày đó là đúng, vì mục tiêu: chiến thắng. Anh đã hiểu ra, và nói mình không hiểu biết nên đã đánh giá anh em không đúng.

Tổng quát một kinh nghiệm nữa cũng chẳng mới mẻ gì xưa như Trái Đất, nhưng nó vẫn còn ý nghĩa cho ngày hôm nay, là những người làm công tác Đảng, công tác chính trị phải sáng suốt, công tâm, “đánh giá cán bộ cho đúng, xếp người đúng chỗ, thường xuyên bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho cán bộ phát huy hết tài năng, sức lực của mình”. Đây là bài học rất cơ bản, lại rất cụ thể bởi vì những người làm công tác Đảng, công tác chính trị thường giữ chức vụ chủ chốt trong cấp ủy Đảng, và có trách nhiệm lớn trong công tác cán bộ. 

Chúng tôi ngày đó luôn ghi nhớ lời dạy của Hồ Chủ tịch để tránh sai lầm trong công tác cán bộ là: "Ham dùng người bà con, anh em quen biết, cho là họ chắc chắn hơn người ngoài, ham dùng những người khéo nịnh mình mà chán ghét những người chính trực; ham dùng những người tính tình thích hợp với mình mà tránh những người không thích hợp với mình, kết quả là họ làm bậy mà mình vẫn cố bao dung, che chở, bảo hộ, khiến họ ngày càng hư hỏng, còn đối với những người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù” . (Hồ Chí Minh: Tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc).

Hà Nội
7-2-2003
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #38 vào lúc: 22 Tháng Bảy, 2009, 11:15:48 pm »



Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #39 vào lúc: 23 Tháng Bảy, 2009, 12:38:40 am »

XE TĂNG TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI

Đại tá Võ Ngọc Hải
nguyên Chính uỷ Trung đoàn xe tăng 202


Mùa thu năm 1969 Mỹ huy động lực lượng lớn, có không quân trực tiếp ủng hộ, lần đầu tiên dùng B52 mở cuộc hành quân “cù kiệt”  (rửa hận) lấn chiếm cao nguyên Cánh Đồng Chum. Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng quân đội Lào anh em phản công.

Về Binh chủng Tăng - Thiết giáp, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tổ chức đoàn 195A do tôi (Chính uỷ) và đồng chí Lê Quang Xỳ (trung đoàn phó) phụ trách. Đoàn 195 gồm: Đại đội 18, trang bị 11 xe tăng PT76 (xe tăng lội nước), 1 trung đội phá bom từ trường, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thiết giáp bánh hơi có gắn trọng liên 14,5 mm, 1 bộ phận chỉ huy nhẹ.

Đoàn cán bộ chúng tôi từ Vĩnh Phú vào huyện Lệ Thuỷ - tỉnh Quảng Bình; từ Quảng Bình đến bản Ban, Xiêng Khoảng.  Trước đó vào khoảng tháng 8-1966 Tiểu đoàn 177 của trung đoàn đã hành quân 896 km, vượt qua nhiều đoạn đường địch đánh phá ác liệt như dốc Bò Lăn, ngã ba Đồng Lộc, phà Long Đại, Lèn Bạc (ngầm Thác Cóc).

Xe phải tự bơi qua sông Mã, sông Gianh, đưa toàn bộ quân số, trang bị vào tập kết ở huyện Lệ Thuỷ - Quảng Bình, do đó chúng tôi đã có ít nhiều kinh nghiệm, tổ chức chỉ huy hành quân trong điều kiện chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đoàn cán bộ chúng tôi đi đến Mường Xén - Nghệ An, vượt qua sông Nậm Mộ sang đất Lào, dự kiến từ đó tiến lên nghiên cứu Cánh đồng Chum.

Đoàn gồm trinh sát, điện đài, cán bộ kỹ thuật xe tăng. Có một chiều trú quân tại một cánh rừng thưa. ờ đây có nhiều chum vại, bên trong toàn tro, có lộn những mẩu xương. Có lẽ đây là những ngôi mộ trong chum của một dòng họ nào đó. Đằng sau chúng tôi là một đồi Thông. Đại đội Đặc công Sư đoàn 312 đóng ở đấy. Tôi đến đoàn cử một số cán bộ, chiến sĩ quay lại đồi thông, đến kho Sư đoàn 312 lãnh gạo để tiếp tục hành quân. 

Vừa đến chân đồi thì bị phi cơ địch oanh tạc, đại đội Đặc công bị thương vong nặng. Đơn vị chúng tôi có một đồng chí hy sinh và vài người bị thương. Thế là kế hoạch hành quân trinh sát bị lộ, không thể tiếp tục theo hướng nam Xiêng Khoảng nửa; phải quay lại ngay trong đêm đó để đưa tử sĩ và thương binh về biên giới và tìm đi hướng khác.

Tôi và một chiến sĩ liên lạc cùng vừa đi vừa hỏi thăm thương binh. Đồng chí liên lạc nhập đoàn đi trước. Trời sụp tối rất nhanh. Tôi lầm lủi đi đáng lẽ phải đi về phía đông, nhưng tôi lại theo đường mòn đi lên phía bắc. Đi một quãng thấy lá phủ đầy đường. Tôi biết bị lạc giữa rừng một mình. Không thể tiếp tục đi, tôi dừng lại với tư thế sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc. Tôi nghĩ nếu gặp bọn phỉ Vàng Pao thì với khẩu súng ngắn sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Nếu gặp tình thế hiểm nghèo tôi lao xuống vực phía Đông, không để cho địch bắt.

Một đêm hết sức căng thẳng trôi qua. Trời vừa hửng sáng tôi quay lại đường mòn cũ. Đang đi, trời êm gió sao lại thấy bụi cây bên đường lay động. Bỗng thấy có một người tay cầm súng chĩa về phía mình. Tôi chợt hỏi: “Các anh có phải lính của anh Nguyên không). Thấy người đó hạ súng xuống, tôi nói tiếp “tôi là cán bộ đoàn Thiết giáp, sau trận bom hôm qua bị lạc, anh chỉ dùm đường trở lại”. Bấy giờ mới nhìn rõ người chiến sĩ. Họ nhìn tôi từ đầu đến chân, với trang phục bộ đội Việt Nam, khẩu súng k59 bên hông, họ biết ngay là cán bộ bộ đội Việt Nam và phải từ cấp tá trở lên (vì thời bấy giờ cấp tá mới được trang bị k59). Họ đưa tôi trở lại đường cũ.

Sở dĩ tôi trấn an họ ngay ở phút đầu tiên vì gọi đúng tên chủ nhiệm hậu cần 312, thủ trưởng họ. Tuy là một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một kinh nghiệm xử trí khi gặp tình huống bất trắc: bình tĩnh, chủ động, nhanh trí.

Quay về biên giới Việt Lào, lại vượt sông Nậm Mộ lần 2. Cột chặt ba lô vào túi ni lông làm phao và cứ thế bơi sang sông. Thời gian đó tôi đã ghi vào nhật ký của mình vài cảm xúc:
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM