Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 27 Tháng Mười Một, 2020, 12:50:47 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ  (Đọc 32568 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #130 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:34:02 am »

         

Hoạt động quân sự của phong trào Tây Sơn từ sau khi thống nhất đất nước năm 1786 tới trước ngày Nguyễn Huệ mất năm 1792 và dự kiến kế hoạch đánh Gia Định năm 1792 của Nguyễn Huệ

        Trong khi quân đội Tây Sơn từ Bình Thuận, Qui Nhơn tới Phú Xuân, Bác Hà đều tích cực chuẩn bị tiến công Gia Định như thế thì tình hình Gia Định như thế nào. Tại đây, Nguyễn Ánh cũng nỗ lực xây dựng lực lượng để đối phó với nghĩa quân Tây Sơn. Việc xây dựng lực lượng, đã được tiến hành trong năm 1789 và từ năm 1790 lại càng được đẩy mạnh hơn nữa. Trong công việc xây dựng lực lượng cho bọn phản động Nguyễn Ánh ở thời kỳ này, các quân nhân Pháp, các giáo sĩ Pháp và Bá Đa Lộc đã giữ một vai trò khá quan trọng. Về quân số và vũ khí mà tư bản Pháp đưa vào Gia Định để giúp Nguyễn Ánh, lúc ấy quả là chưa có gì đáng kể. Nhưng về mặt xây dựng các quân binh chủng, huấn huyện binh sĩ theo phương pháp châu Âu, xây dựng các thành lũy theo kiểu châu Âu, chỉ huy các cuộc chiến đấu và đặc biệt là trong việc khuyến khích, động viên, thúc giục Nguyễn Ánh và quân đội của hắn tiến công nghĩa quân Tây Sơn thì Bá Đa Lộc, các giáo sĩ Pháp và các quân nhân Pháp ở Gia Định thời đó đã đóng một vai trò rất tích cực.

        Trước kia, Nguyễn Ánh còn dựa vào người Xiêm, hoặc có những lần có ý định dựa vào người Thanh, người Bồ Đào Nha hoặc các nước tư bản phương Tây khác để đánh lại nghĩa quân Tây Sơn. Nhưng từ năm 1789 trở đi, Nguyễn Ánh hoàn toàn dựa vào Pháp, một lòng trông cậy vào sự giúp đỡ của những người đại diện cho chủ nghĩa thực dân Pháp ở Gia Định thời bấy giờ. Và sự hoạt động cùng những mưu đồ thực dân đen tối của bọn này không phải là không ảnh hưởng tới tư tưởng phản dân, phản nước của Nguyễn Ánh.

        Sang năm 1790, lực lượng vũ trang của Nguyễn Ánh đã lên tới ba vạn người. Tháng Ba năm Canh Tuất (1790), Nguyễn Ánh nhờ Ô-li-vi-ê đờ Puy-ma-nen (Olivier de Puymanel) và Lơ Bờ-roong (Le Brun) đứng ra xây lại thành Gia Định theo kiểu thành châu Âu. Nguyễn Ánh đã đốt nhà, chiếm đất của dân và huy động tới ba vạn dân phục dịch vào việc xây thành. Nhân dân Gia Định vô cùng cực khổ, đã nổi lên phản đối, định tìm giết bọn pháp chỉ huy việc xây thành này1. Cuối năm 1790, Nguyễn Ánh đóng thêm mười lăm thuyền đi biển và một thuyền chiến lớn và cho người đi Giang Lưu Ba (tức Gia-các-ta, thuộc In-đô-nê-xi-a) để tìm mua thêm binh khí của người châu Âu. Đầu năm 1791, Nguyễn Ánh lập xưởng thủy sư lớn (tức xưởng đóng tàu) ở Gia Định và xưởng đóng thuyền chiến ở gần Mỹ Tho. Tháng Hai năm Tân Hợi (1791), Nguyễn Ánh lại nhờ một người lái buôn Bồ Đào Nha là Chu-di-nô-nhi mua giúp một vạn cây súng chim, hai nghìn cỗ đại bác bằng gang, mỗi cỗ nặng một trăm cân, hai nghìn viên đạn nổ đường kính mười tấc. Tháng Tư âm lịch, Nguyễn Ánh đóng thêm hơn một trăm thuyền chiến nữa. Tất cả những việc làm nói trên của Nguyễn Ánh đều có sự giúp sức của bọn Pháp tại Gia Định.

--------------
        1. Điện gửi cho lãnh sự pháp ở Quảng Châu ngày 29 tháng 12 năm 1791. B.S.E.I., Tome XV, 1940, p. 21, note 1.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #131 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:38:46 am »


        Nhưng mặc dầu lực lượng được tăng cường như vậy, Nguyễn Ánh vẫn không dám có ý tiến công quân đội Tây Sơn, đặc biệt là không dám nghĩ đến việc đánh lên những khu vực của Nguyễn Huệ. Điều đó chưa làm thỏa mãn tham vọng của bọn Bá Đa Lộc. Chúng muốn nhanh chóng giết người, cướp của, chiếm đất, nhanh chóng đặt cơ sở cho chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam. Bọn Bá Đa Lộc muốn nhân lúc chúng mới mang tàu bè súng ống tới giúp Nguyễn Ánh, quân đội Tây Sơn chưa biết rõ lực lượng viện trợ ấy như thế nào, nhân dân còn hoang mang nghe ngóng mà đánh ngay thì có thể thắng. Chúng lại cho rằng những "pháp thuật cao cường" mà lên giáo sĩ Boa-xơ-răng đã đem biểu diễn tại Gia Định có thể gây ảnh hưởng lớn cho chúng trong nhân dân, có thể làm cho nhân dân Gia Định hoan nghênh, ủng hộ việc chúng và Nguyễn Ánh tiến công quân đội Tây Sơn. Nhưng Nguyễn Ánh đã không dám làm theo ý muốn của bọn Bá Đa Lộc. Nguyễn Ánh là người đã thật sự nếm mùi thất bại rất nhiều lần trước quân đội Tây Sơn, nhất là trước tài bách chiến bách thắng của Nguyễn Huệ. Nguyễn Ánh biết rõ lực lượng của quân đội Tây Sơn và biết rõ thực lực của hắn. Nguyễn Ánh thấy cần phải xây dựng lực lượng trong một thời gian dài thì họa chăng mới đương đầu được với quân đội Tây Sơn. Mặt khác, Nguyễn Ánh cũng đang rất nản lòng và khó xử đối với sự có mặt của những người Pháp và người Bồ Đào Nha ở Gia Định. Những người này đã làm cho Nguyễn Ánh mất ảnh hưởng một cách nghiêm trọng trong nhân dân Gia Định. Những quân nhân Pháp cũng như quân nhân Bồ Đào Nha lúc ấy, tuy chúng có những hiểu biết về quân sự có thể giúp ích cho Nguyễn Ánh được, nhưng mặt khác, chúng lại là những kẻ côn đồ bất trị. Chúng vừa mang nặng đầu óc thực dân, tham tiền, tham của, tham phú quí giàu sang; vừa mang nặng tính chất "hiếu sát", "hiếu sắc" của những tên lưu manh, thổ phỉ. Những tên giúp việc đắc lực nhất cho Nguyễn Ánh như Đay-ô, Ô-li-vi-ê đờ Puy-ma-nen (Dayot, Olivier de Puyinanel) lại là những tên sống dâm ô, buông tuồng, côn đồ nhất. Lơ La-bu-xơ (Le Labousse), một giáo sĩ giúp việc Bá Đa Lộc, trong thư gửi về Pháp ngày 28 tháng 5 năm 1790, đã phải viết rằng: "Chúng tôi rất buồn hàng ngày phải trông thấy và nghe thấy hàng nghìn chuyện sỉ nhục do những hành động mất phẩm cách của người Pháp và người Bồ Đào Nha gây ra ..."1.

        Chính những hành động tàn bạo, dâm ô, trụy lạc của bọn quân nhân Pháp và Bồ Đào Nha đã làm cho nhân dân Gia Định tăng thêm lòng oán ghét Nguyễn Ánh, và cũng làm cho Nguyễn Ánh phải nản lòng, mất tin tưởng ở bọn người nước ngoài này. Ở trong một hoàn cảnh mất ảnh hưởng trong nhân dân như vậy, Nguyễn Ánh càng không dám nghĩ đến việc tiến công nghĩa quân Tây Sơn, mặc dầu bọn Bá Đa Lộc luôn luôn thúc ép. Nguyễn Ánh lúng túng, nửa muốn dùng người ngoại quốc, nửa không muốn dùng. Vì bị nhân dân Việt Nam căm ghét và không kiếm lợi được gì, đầu năm 1790, nhiều tên Pháp và Bồ Đào Nha đã cuốn gói rời khỏi Gia Định. Nguyễn Ánh cũng buộc lòng phải để cho chúng ra đi. Trong thư viết tháng 6 năm 1790, Bá Đa Lộc phàn nàn rằng: "Trong năm nay, nhà vua (chỉ Nguyễn Ánh - tác giả chú thích) không đánh chác gì, những người Bồ Đào Nha đến để giúp nhà vua, đã quay trở về Ma Cao"2. Sự thật thì những người Bồ Đào Nha cũng như nhiều người Pháp đã ra đi khỏi Gia Định lúc ấy chính là vì họ thấy không bốc được của, hốt được vàng như họ đã tưởng3. Nhưng thái độ của Nguyễn Ánh đối với bọn này không dứt khoát. Nguyễn Ánh vẫn muốn dựa vào khả năng quân sự của chúng. Tuy để một số ít người Bồ Đào Nha ra đi, nhưng Nguyễn Ánh không dám để bọn Pháp ra đi hết, vẫn phải cố giữ một số để chúng giúp đỡ trong việc quân. Chính vì thế mà Nguyễn Ánh phải tìm cách làm hài lòng bọn Bá Đa Lộc. Dưới sự thúc ép của Bá Da Lộc, tháng Năm năm Canh Tuất (1790). Nguyễn Ánh cho một cánh quân gồm sáu nghìn người tiến ra đánh Bình Thuận. Nhưng tới cuối năm 1790, quân Nguyễn Ánh bị quân đội của Nguyễn Nhạc đánh bật khỏi Bình Thuận. Quân Nguyễn Ánh rút lui hẳn về Gia Định và từ đấy y bỏ hẳn ý nghĩ tiến đánh quân Tây Sơn, mặc dầu bọn Pháp luôn luôn thúc giục. Nguyễn Ánh càng chậm tiến công quân đội Tây Sơn thì bọn Bá Đa Lộc càng lo và càng thúc ép Nguyễn Ánh nhiều hơn. Bọn Bá Đa Lộc muốn tiến công trước quân đội Tây Sơn không phải vì chúng tin chắc ở thắng lợi, mà chúng chỉ nghĩ ràng may ra thì thắng, nếu không, ít nhất, quân đội Tây Sơn cũng không vào tới Gia Định, làm nguy hiểm cho sự hoạt động của chúng ở Gia Định. Trong hai năm 1791, 1792, Bá Đa Lộc đã mấy làn muốn bỏ Gia Định mà đi để khỏi nguy hiểm đến thân. Trong một thư gửi về Pháp ngày 26 tháng 5 năm 1791, Bá Đa Lộc đã phải than thở rằng: "Mặc dầu người ta đã nói hết lời, nhà vua vẫn không chịu tiến công quân địch ... Nguy hiểm sẽ tới với tôi, nhất là đối với các giáo sĩ và con chiên, nếu nhà vua một lần nữa phải thất thế, mối nguy hiểm đó buộc tôi phải rời khỏi nơi đây ..."4. Trong một thư khác viết ngày 14 tháng 9 năm 1791, Bá Đa Lộc đã nói rõ hơn lý do phải ra đi của bọn chúng: "Nhà vua đã không biết lợi dụng những phương tiện có trong tay để đánh địch ... Nhà vua đã để cho địch có thời gian hết lo ngại và nắm chắc được rằng những điều người ta đồn đại về viện trợ của châu Âu chỉ là hão huyền ... Quân đội Tây Sơn sẽ báo thù ác liệt như thế nào, nên tôi cứ cố tìnhh ở lại đây cho đến lúc cuối cùng? Trái lại, nếu tôi rời khỏi nơi đây trước khi sự biến xảy ra và tất cả những người Pháp đều đi theo tôi thì tôi có được cách để xoa dịu quân đội Tây Sơn ... Tôi đã xin trở về Pháp ..."5.

-------------------
        1. G. Taboulet; La vie tourmentée de l'Evêque d'Adran, B.S.E I., nouv sér. tome XV, n0s 3 - 4, 1940, pp. 31, 22.

        2, 3. G. Taboulet, La vie tourmentéec de l'Eveque d'Adran, B.S.E.I., nouv. sér. tome XV, n0s 3 - 4, 1940, pp. 31, 22

        4, 5. Talboulet, Tài liệu đã dẫn, tr. 22 - 23.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #132 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:37:42 pm »


        Những sự việc trên đây cho thấy cả Nguyễn Ánh và bọn Pháp giúp việc Nguyễn Ánh đều sợ sức mạnh của quân đội Tây Sơn, cụ thể là quân đội Nguyễn Huệ. Giữa năm 1792, bọn Bá Đa Lộc lại thúc giục Nguyễn Ánh hành động, và cũng dọa sẽ bỏ đi nếu không được như ý1.

        Lần này, Nguyễn Ánh nhận lời bọn Pháp, mưu đồ xuất quân. Nguyễn Ánh biết rằng Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc đang chuẩn bị tích cực để tiến đánh Gia Định. Nguyễn Ánh cũng muốn nhân lúc điều kiện khí hậu chưa cho phép Tây Sơn xuất quân được, đem quân tập kích thủy quân Nguyễn Nhạc, làm hạn chế bớt tốc độ chuẩn bị của Nguyễn Nhạc.

        Thấy Nguyễn Ánh nhận lời xuất quân, Bá Đa Lộc và bọn giáo sĩ Pháp vô cùng mừng rỡ, chúng tiên tiếp viết thư báo tin về Pháp2.

        Tháng Sáu năm Nhâm Tý (1792), Nguyễn Ánh xuất quân từ cửa biển Cần Giờ, đạo bộ binh của Nguyễn Ánh có bốn mươi tên Pháp tham gia, trong thủy quân có hai chiếc tàu chiến châu Âu do các võ quan Pháp chỉ huy3. Đay-ô, Van-ni-ê (Vanier), Ô-li-vi-ê đờ Puy-ma-nen đều có mặt trong trận này. Thủy quân của Nguyễn Ánh tiến tới Vũng Diên, bắt được du thuyền của Tây Sơn, biết ở Thị Nại không có phòng bị liền bí mật tiến quân lên4. Tới Thị Nại chiếc tàu chiến của Đay-ô tiến vào trước. Quân Tây Sơn gác ở cửa biển, tưởng là tầu buôn ngoại quốc cập bến, không đề phòng. Tàu của Đay-ô tiến vào gần, bắn dữ đội lên bờ5. Các thuyền chiến khác của Nguyễn Ánh cũng tiếp theo vào. Quân Tây Sơn phải rút lui. Quân Nguyễn Ánh đổ bộ lên bờ. Nguyễn Ánh cho đốt phá một số thuyền chiến Tây Sơn đậu ở bến6. Nguyễn Ánh chỉ dám đóng quân ở bến Thị Nại hai ngày rồi phải rút về Gia Định ngay7.

        Nguyễn Ánh đã thắng lợi trong trận tập kích này chủ yếu là vì quân của Nguyễn Nhạc ở Thị Nại kém cảnh giác, không đề phòng nghiêm mật.

        Được tin Nguyễn Ánh đánh tập kích Thị Nại, Nguyễn Huệ quyết tâm đem quân thủy bộ vào đánh Nguyễn Ánh và bọn Pháp để trả thù cho trận thất bại của Nguyễn Nhạc ở Thị Nại7. Nhưng Nguyễn Huệ vẫn phải chờ thời tiết thuận lợi mới có thể xuất quân. Để yên lòng quân dân ở Qui Nhơn, Quảng Ngãi thuộc quyền kiểm soát của Nguyễn Nhạc, ngày 10 tháng 7 âm lịch tức ngày 27 tháng 8 năm 1792, Nguyễn Huệ đã gửi hịch cho quân dân miền Quảng Ngãi, Qui Nhơn. Trong bài hịch, Nguyễn Huệ vạch rõ cho quân dân Quảng Ngãi, Qui Nhơn thấy rằng quân đội của ông là quân đội bách chiến bách thắng, đi tới đâu là thắng địch tới đó, đánh quân Nguyễn trăm trận thì cả trăm trận đều thắng lợi. Quân Xiêm, quân Thanh hung bạo cũng đều phải khuất phục. Ông khuyên nhân dân Quảng Ngãi, Qui Nhơn không sợ bọn giặc Pháp, không sợ những khinh khí cầu với những tàu chiến bằng đồng của chúng. Ông nhắc nhở nhân dân nên hết lòng ủng hộ "hoàng đại huynh" Nguyễn Nhạc và ông hứa sẽ tiến quân vào giải phóng Gia Định, đánh tan bọn phản động Nguyễn Ánh và quân Pháp, "dễ dàng như bẻ chiếc củi khô mà thôi"8.

        Bài hịch này gửi đi ngày 27 tháng 8 năm 1792, thì, ngày 16 tháng 9 năm 1792, một sự kiện rất đau đớn xảy ra: Nguyễn Huệ từ trần. Năm đó ông mới 40tuổi. Nếu như ông chưa chết và với kế hoạch tiến công của ông, bọn Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc khó lòng đứng vững được ở Gia Định. Và như thế, tình hình phong trào Tây Sơn và tình hình Việt Nam rất có thể đổi khác, không giống như sau khi ông đã mất. Việc Nguyễn Huệ mất năm 1792 thật là một tổn thất rất lớn cho phong trào nông dân Tây Sơn, và cho toàn thể dân tộc chúng ta ở cuối thế kỷ XVIII.

-------------------
        1. Talboulet, Tài liệu đã dẫn, tr. 22 - 23.

        2 . Thư của Bá Đa Lộc ngày 20 tháng 6 năm 1 792, ngày 9 tháng 7 năm 1792, ngày 18 tháng 7 năm 1792. Thư của Liot ngày 18 tháng 7 năm 1792, - Cadière, Documents relatifs à l'époque de Gia Long. BEFEO, n0 7, 1912, p. 27. Taboulet, Tài liệu đã dẫn, tr. 23.

        3. Thư của Bá Đa Lộc ngày 18 tháng 7 năm 1792.

        4. Đại Nam thực lực, bản dịch của Viện Sử học, t. II, tr. 158 - 159.

        5, 7. Thư của giáo sĩ Tây Ban Nha Ginestar viết ngày 20 tháng 10 năm 1799 - BSEI, nouv. sér. tome XV, n0s 3 - 4, p. 102.

        6. Đại Nam thực lực, Bản dịch, t. II, tr. 159, nói rằng Nguyễn Ánh bắt được của Tây Sơn 5 thuyền chiến lớn, 30 thuyền đi biển, 40 thuyền sai và 3 thuyền của quân Tề ngôi.

        7. Thư của Le Labousse ngày 26 tháng 6 năm 1793 - Arch, M - E, 746, p. 421.

        8. Bản dịch Pháp văn của bài hịch này in trong La Bissachère: Etat actuel du Tonkin ... Paris, 1812, t. II, tr. 306 - 309. Xem bản dịch lại sang tiếng Việt ở phần phụ lục sách này, tr. 434 - 437.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #133 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:38:39 pm »


Chương năm

MẤY NÉT TỔNG HỢP VỀ THIÊN TÀI QUÂN SỰ CỦA NGUYỄN HUỆ

        Thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ đã thể hiện khá rõ nét qua những chiến công rực rỡ của ông, như đã trình bày ở các chương trên. Trong chương này, chúng tôi chỉ muốn nêu lại một cách tổng hợp những nét cơ bản nhất của thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, về hai mặt xây dựng quân đội và chỉ huy chiến đấu, và, trên cơ sở đó, thử tìm hiểu đặc điểm chủ yếu của thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ là gì.

        Mấy nét tổng hợp này chỉ là mấy nét sơ bộ ghi lại, cũng như một số nhận định của chúng tôi ở đây cũng chỉ là những điểm gợi ý, những điểm mà bản thân tác giả cố gắng tìm hiểu, học tập. Thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ rực rỡ lắm và phong phú lắm, đòi hỏi chúng ta nhiều công trình nghiên cứu công phu hơn nữa. Những ý kiến của chúng tôi ở đây có tính chất đề xuất một số vấn đề, để cùng các bạn tiếp tục nghiên cứu thêm sau này.

        XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI ĐÀO LUYỆN BINH SĨ

        Con người và kỹ thuật là những nhân tố chủ yếu quyết định sự phát triển các phương pháp tiến hành chiến tranh và chiến đấu trong đó con người là nhân tố quyết định nhất.

        Người nông dân và những người yêu nước thuộc các tầng lớp khác, một khi tham gia hàng ngũ nghĩa quân, với lòng căm thù chế độ chuyên chế hà khắc của vua quan, căm thù chế độ áp bức bóc lột của địa chủ phong kiến, với lòng yêu nước chống xâm lược, đều mang một phẩm chất mới vào trong quân đội Tây Sơn, điều mà các quân đội phong kiến phản động đương thời, kể cả trong nước và ngoài nước, không thể có được. Chính vì vậy mà họ đoàn kết được với nhân dân, được quảng đại quần chúng ủng hộ. Đó cũng là nguồn gốc của tinh thần chiến đấu cao của binh sĩ quân đội Tây Sơn. Những người phương Tây đương thời có mặt ở Việt Nam đã hết sức ca ngợi người lính Tây Sơn, gọi người lính Tây Sơn là "những người tiên khu của chủ nghĩa xã hội cận đại", vì họ đã thấy tận mắt quân đội Tây Sơn "lấy của cải của bọn quan lại và phú hào để phân phát cho dân nghèo" và thấy "những làng mạc đau khổ dưới gánh nặng thuế má hà khắc đã nhiệt liệt tuyên thệ hưởng ứng khởi nghĩa". Cho nên bất kỳ ở đâu, quân đội Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Huệ cũng được nhân dân hoan nghênh, ủng hộ.

        Trong những ngày đầu gian khổ của cuộc khởi nghĩa, đứng trước những kẻ thù lớn mạnh, chỉ có mục đích chiến đấu được xác định và tinh thần quật khởi của tướng lĩnh và binh sĩ mới có thể khiến họ chiến thắng được mọi kẻ địch. Mục đích chính nghĩa của chiến tranh nông dân và chiến tranh giải phóng dân tộc đã động viên binh sĩ, tướng lĩnh và nhân dân phát huy tinh thần chiến đấu và tính sáng tạo, tinh thần chịu đựng gian khổ, sẵn sàng hy sinh quên mình. Chúng ta biết rằng các cuộc nội chiến, giữa giai cấp bị áp bức bóc lột, và giai cấp áp bức bóc lột, đều nổi bật tính chất khốc liệt, kiên quyết và không nhân nhượng trong hành động của hai bên giao chiến. Lê-nin đã nói: "Nội chiến nghiêm trọng và khốc liệt hơn bất cứ một cuộc chiến tranh nào. Từ những cuộc nội chiến của La mã cổ đại trong lịch sử các cuộc nội chiến đều như vậy, vì các cuộc chiến tranh thế giới bao giờ cũng kết thúc bằng những cuộc giao ước giữa các giai cấp giàu có và chỉ trong nội chiến giai cấp bị áp bức mới hướng mọi nỗ lực để tiêu diệt giao cấp đi áp bức đến cùng, tiêu diệt những điều kiện kinh tế đang tồn tại của giai cấp đó"1. Đây cũng là điều khác nhau căn bản giữa cuộc nội chiến vì tiến bộ mà quân đội Tây Sơn tiến hành với cuộc nội chiến phản tiến bộ kéo dài trong hai thế kỷ giữa quân Trịnh và quân Nguyễn. Cũng là điều khác nhau căn bản giữa binh sĩ Tây Sơn và binh sĩ Trịnh, Nguyễn. Nó cũng là nguyên nhân vì sao ngày thường thì quân lính Trịnh, Nguyễn kiêu ngạo, hung ác, thẳng tay đàn áp nhân dân, nhưng khi giao chiến thì không có gì là dũng cảm, hy sinh, khi được điều động đi đánh quân Tây Sơn, hoặc khi bị quân Tây Sơn tiến công, thì từ tướng đến quân đều đùn nhau ra trận, chưa giao chiến tướng đã trốn, quân đã chạy, khi bắt buộc phải giao chiến, thì rất "khôn ngoan" bằng cách "đánh vào lúc mặt trời lặn để khi có việc gì thì nhờ đêm tối mà rút lui"2. Còn quân Xiêm, đứng trước quân Tây Sơn, đã luồn rừng vượt núi chạy cho mau, "sợ quân Tây Sơn như sợ cọp". Ngay quân Thanh kiêu ngạo đến cao độ chỉ chờ cho "quân gầy đến nộp mình" thì trước sức tiến công mãnh liệt của quân đội Tây Sơn, đã phải rút chạy tan tành, về tới Trung Quốc vẫn chưa hoàn hồn.

----------------
        1. Lê-nin, Toàn tập, t. 29, tr. 341, Nga văn.

        2. Thư của Sérard đã dẫn ở trên.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #134 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:41:08 pm »

       
        Tinh thần chiến đấu cao, chiến đấu vì lý tưởng chống áp bức giai cấp, chống nô dịch dân tộc, đó là đặc điểm thứ nhất của người lính trong quân đội của Nguyễn Huệ.

        Nguyễn Huệ lấy nguyên tắc "Quân lính cốt hòa thuận, không cốt đông"1 để xây dựng quân đội và giáo dục tướng lĩnh và binh sĩ. Đoàn kết là sức mạnh. Không phải là các vua chúa, các tướng lĩnh của các quân đội phong liến không nói đến sức mạnh của đoàn kết trong quân đội, nhất là khi có chiến tranh. Nhưng, trong thực tế, một mặt vì không tin quảng đại binh sĩ, một mặt cần duy trì chính sách chia để trị, cho nên trong các quân đội phong kiến thời đó và các thời trước đó, đều có tổ chức những loại quân đặc biệt làm nòng cốt, có quyền hành đặc biệt, được ưu đãi hơn các quân khác. Các đội cấm quân, quân ngự tiền, ưu binh, cấm vệ, v.v. đều thuộc loại quân đặc biệt này. Ưu binh nhà Trịnh chỉ tuyển trong các trấn Thanh Hóa, Nghệ An. Thân binh nhà Nguyễn chỉ chọn trong huyện Tống Sơn. Dùng địa vị, vật chất để mua chuộc, bọn phong kiến mưu toan xây dựng một nòng cốt vũ trang trung thành với họ. Chính đó lại là nguyên nhân khiến cho nội bộ quân đội không thể đoàn kết, thường xảy ra xung đột. Cho nên, không thể có đoàn kết thực sự trong các quân đội phong kiến, cũng như trong các quân đội phản động.

        Khác với các quân đội Trịnh, Nguyễn, trong quân đội Nguyễn Huệ không có tổ chức loại quân đặc biệt này. Trái lại trong quân đội của Nguyễn Huệ, mỗi khi có tuyển mộ lính mới, thì những người lính mới ấy được đặt ngay dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn huệ, được phiên chế trong những đạo trung quân sống ngay bên mình người anh hùng lỗi lạc ấy. Việc tuyển mộ lính mới và cách thức phiên chế lính mới ở Nghệ An trong khi Nguyễn Huệ tiến ra Bắc đánh quân Thanh đầu năm 1789 dã chứng minh rất rõ điều đó. Thái độ đối xử và cách thức phiên chế lính mới của Nguyễn Huệ như thế đã làm nức lòng họ, làm tăng cường tinh thần chiến đấu của họ, và dưới sự chỉ huy trực tiếp của Nguyễn Huệ, kỹ thuật chiến đấu của những người lính mới ấy, cũng được bảo đảm. Thái độ đối xử và cách thức phiên chế ấy làm cho người lính mới cũng như người lính cũ không có gì cách biệt nhau lắm, về đãi ngộ cũng như về chuyên môn. Do đấy, họ đoàn kết, hòa hợp được với nhau dễ dàng.

        Đoàn kết hòa nhuận, là đặc điểm thứ hai của quân đội Nguyễn Huệ.

        Quân đội của Nguyễn Huệ có kỷ luật nghiêm minh. Nhiều bằng chứng do các giáo sĩ phương Tây, do các thương nhân ngoại quốc ghi lại, đã nêu bật sự hà hiếp, áp bức, cướp bóc của các quân đội Trịnh, Nguyễn đối với nhân dân, nêu bật tình trạng kém kỷ luật trong chiến đấu của binh sĩ trong các quân đội này, đồng thời nêu bật tinh thần kỷ luật của binh sĩ Tây Sơn, trong chiến đấu và đối với nhân dân. Quân đội Tây Sơn tiến đến đâu, giải phóng đến đâu thì trật tự, an ninh được lập lại ở đấy. Một hành động có thể xem là gương mẫu cho tinh thần kỷ luật của quân đội Tây Sơn là việc Nguyễn Huệ trả lại các tặng phẩm cho nhân dân chỉ ấy một ít bánh chưng làm tượng trưng cho lòng tốt của nhân dân mà thôi. Bằng hành động dũng cảm trong chiến dấu, luôn luôn tiến lên trước trong những trường hợp nguy hiểm, gay go nhất, bằng hành động giữ kỷ luật, nhất là lúc đang chiến thắng mạnh mẽ, Nguyễn Huệ đã nêu tấm gương sáng để giáo dục tinh thần dũng cảm và tinh thần kỷ luật cho quân đội.

        Có tinh thần kỷ luật cao, đó là đặc điểm thứ ba của quân đội Nguyễn Huệ.

        Những đặc điểm trên nêu lên cái khác nhau căn bản về nhân tố tinh thần của binh sĩ Tây Sơn và binh sĩ các quân đội phong kiến đương thời. Phẩm chất quý báu đó của tướng lĩnh và binh sĩ Tây Sơn, được phong trào khởi nghĩa và Nguyễn Huệ bồi dưỡng, phát huy, khiến họ có thể hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào, với tinh thần dũng cảm phi thường, tinh thần chịu đựng gian khổ cao độ, tinh thần kỷ luật trong mọi trường hợp.

        Song, quân đội của Nguyễn Huệ không phải chỉ có tinh thần chiến đấu. Họ còn được huấn luyện chu đáo, nắm vững được vũ khí có trong tay, biết phát huy uy lực của vũ khí. Nguyên tắc xây dựng và huấn luyện quân sự của Nguyễn huệ là: "Quân lính cốt tinh nhuệ không cốt nhiều"2. Cũng như các tướng lĩnh thời đó, Nguyễn Huệ đã tiếp thu tư tưởng quân sự của Tôn Tử và nhất là của các nhà quân sự Việt Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, v.v. Song, tính sáng tạo của Nguyễn Huệ là ở chỗ biết vận dụng những nguyên tắc xây dựng, huấn luyện quân đội trong những điều kiện mới. Nội dung của "tinh nhuệ" đã phong phú hơn xưa. Vũ khí của thời Nguyễn Huệ đã khác so với thời đại Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, và Lê Lợi. Người lính bộ binh không những có giáo, kiếm, mà đã có súng trường. Tác chiến không phải chỉ là đánh giáp lá cà, mà đã bao gồm các giai đoạn dùng hỏa lực từ xa và xung phong giáp chiến. Sự hợp đồng giữa nhiều binh chủng trở nên phức tạp. Nhiều hình thức chiến đấu mới xuất hiện. Chiến trường cũng trở thành phức tạp, có nhiều loại địa hình khác nhau. Tác chiến xảy ra lúc thì ở địa hình hẹp, ít đồng bằng nhiều núi như ở Thuận, Quảng, lúc thì ở khu vực đồng bằng rộng rãi có nhiều sông ngòi, kênh đào, đất xốp như ở Gia Định, hoặc ở khu vực đồng bằng rộng rãi có nhiều ruộng nước xen kẽ đồng khô như ở Bắc Hà. Tất cả những điều đó đòi hỏi muốn giành được thắng lợi, binh sĩ phải được huấn luyện chu đáo, công phu. Từ ngày bắt đầu khởi nghĩa đến khi đánh tan cuộc xâm lược của nhà Thanh, trải gần 20 năm, quân đội của Nguyễn Huệ lúc nào cũng ở trong điều kiện tác chiến liên tục. Nhân dân ta vốn có truyền thống thượng võ. Quần chúng thanh niên ta ở các thời đại trước lại có tập quán thường xuyên luyện tập võ nghệ, cho nên một khi ra tòng quân là họ có khả năng chiến đấu khả năng xuất trận được ngay. Với truyền thống ấy và khả năng ấy, người lính trong quân đội Nguyễn Huệ lại được giác ngộ tinh thần chiến đấu vì dân tộc vì giai cấp, được tôi luyện không ngừng trong điều kiện chiến đấu liên tục, nên họ có khả năng chiến đấu cao, đánh đâu thắng đấy.

---------------
        1, 2. Thư của Nguyễn Huệ gửi cho Thang Hùng Nghiệp, trong Tây Sơn bang giao tập.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #135 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:42:27 pm »


        Chỉ cần nêu lên những trận tiến công Gia Định, Ba Vát. Đồng Tuyên, trận đổ bộ Phú Xuân, trận đánh thủy quân Trịnh ở cửa Luộc, các trận tiêu diệt quân Trịnh ở Thúy ái, Vạn Xuân, Thăng Long, và nhất là các trận Ngọc Hồi, Khương Thượng, khi đánh quân Thanh, cũng đủ để chứng minh rằng trình độ chiến thuật, kỹ thuật của tướng lĩnh và binh sĩ của Nguyễn Huệ rất cao, đánh giặc có mưu mẹo, biết cơ trí, linh hoạt, động tác chiến đấu rất mãnh liệt. Khác với binh sĩ của các quân đội thời đó, quân đội Nguyễn Huệ rất cơ động, linh hoạt trong tác chiến. Thọc rất sâu, đánh rất bất ngờ, cơ động rất táo bạo, xung phong mạnh, khuếch trương chiến quả mạnh, truy kích mạnh, đó là đặc điểm về kỹ năng chiến đấu của quân đội Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ trong khi giáo dục lòng quả cảm và kỹ thuật chiến đấu cho tướng lĩnh, binh sĩ Tây Sơn, ông không quên nói đến mưu trí. Trong thư gửi Thang Hùng Nghiệp, Nguyễn Huệ cũng nói: "Người khéo thắng là thắng ở chỗ rất mềm dẻo, chứ không phải tay mạnh đè yếu, lấy nhiều hiếp ít"1. Mềm dẻo nói đây tức là cơ trí, linh hoạt. Đánh thắng không phải chỉ vì số lượng, mà vì mưu trí. ở đây, Nguyễn Huệ đã "gặp" một trong những người nổi tiếng của nước Nga ở thời đại đó, là Ru-mi-an-xép, người đã giáo dục cho tướng lĩnh và binh sĩ Nga theo tinh thần: "Phải cố gắng đánh địch nhiều bằng mưu to hơn là thực lực và dùng biện pháp tiến công để bù vào sự thiếu sót về lực lượng"2.

        Có trình độ chiến thuật và kỹ thuật cao đó là đặc điểm thứ tư của quân đội Nguyễn Huệ. Cho nên, quân đội Nguyễn Huệ vừa có tinh thần chiến đấu cao, có kỷ luật chặt chẽ lại vừa có tài nghệ. Điều đó khiến họ trở nên gan dạ anh dũng, một người địch nổi mười người, đánh đâu được đấy như chúng ta đã biết.

        Chúng ta biết rằng nhân tố tinh thần tác động rất mạnh đến tính chất các kế hoạch chiến lược và kế hoạch chiến dịch. Khi làm kế hoạch chiến lược, song song với việc tính toán các nhân tố khác, phải tính toán đến tình trạng tinh thần của nhân dân và quân đội của cả hai bên. Điều đó, tất nhiên bọn vua chúa, tướng lĩnh phong kiến, bọn Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh, bọn chiêu Tăng, chiêu Sương không thể tính toán chính xác được. Kế hoạch chiến lược của họ biểu hiện sự mất cân đối giữa mục đích chiến lược quá cao và khả năng chiến lược quá thấp, vì họ đánh giá quá cao lực lượng bản thân, đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương. Còn Nguyễn Huệ, vốn xuất thân từ nhân dân lao động, có một tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, lý tưởng, ý chí chiến đấu như quảng đại quần chúng lao động, nên đã "tính toán" được những khả năng vô tận của nhân tố tinh thần, đã biến được sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất.

        Chiến thuật trực tiếp gắn liền với sự hoạt động của đông đảo quần chúng binh sĩ và chỉ huy. Vì vậy chiến thuật là nơi phản ánh rõ ràng chất lượng tinh thần và kỹ năng chiến đấu của quân đội. Với cùng một loại vũ khí, làm sao quân đội Nguyễn Huệ có thể giải quyết thành công vấn đề chọc thủng các thành lũy kiên cố, điều mà quân Trịnh, quân Nguyễn tỏ ra bất lực? Cùng có những phương tiện bảo đảm vận động tương tự, cùng hành động trên một địa hình, vì sao quân đội Nguyễn Huệ lại tỏ ra có tính cơ động rất cao, cao hơn với bất cứ quân đội nào hồi đó? Vì sao Nguyễn Huệ có thể vượt hẳn từng khu vực đất đai rộng lớn, đưa quân đội nhảy sâu vào trong lòng địch, sâu vào sau lưng địch? Vì sao Nguyễn Huệ có thể đề ra những yêu cầu rất cao dối với quân đội, đề ra những nhiệm vụ rất nặng đối với binh sĩ và chỉ huy thuộc quyền? Không có tinh thần chiến đấu cao và trình độ chiến thuật kỹ thuật cao của toàn quân thì không thể làm nổi những việc đó.

        Tính cơ động cao, khả năng giải quyết những nhiệm vụ nặng nề phức tạp của quân đội Nguyễn Huệ bắt nguồn từ tinh thần dũng cảm và thành thạo về kỹ năng chiến đấu của quân đội. Công lao của Nguyễn Huệ là đã biết sử  dụng nhân tố tinh thần đó làm cơ sở cho những phương pháp chiến đấu mới, những hình thức đấu tranh mới. Do đó những kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những nhiệm vụ chiến thuật mà Nguyễn Huệ đề ra là phù hợp với khả năng chiến lược, chiến dịch và chiến thuật.

        Quân đội Tây Sơn dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ là một quân đội bách chiến bách thắng. ở nước ta thời bấy giờ nơi nào và lúc nào có quân đội đó, có Nguyễn Huệ, thì có thắng lợi.

        Những điều trên đã nói lên vai trò quyết định của con người binh sĩ của Nguyễn Huệ trong việc phát triển nghệ thuật giữa quân sự của nước ta trong thời đại đó.

------------------
        1. Thư của Nguyễn Huệ gửi Thang Hùng Nghiệp, trong Tây Sơn bang giao tập.

        2. L.N. Pu-nhin, Cu-tu-dốp, Nhà xuất bản Quân dội nhân dân, Hà Nội, 1963, t. I, tr. 20.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #136 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:44:37 pm »


        SỬ DỤNG VŨ KHÍ

        Như các phần trên đã đề cập, ở nước ta, trong việc trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật cho các quân đội phong kiến ở thế kỷ XVII và XVIII, đã có nhiều thay đổi quan trọng so với các thế kỷ trước. Những thay đổi này biểu hiện chủ yếu trên các mặt sau đây: trong bộ binh, bên cạnh các thứ vũ khí bạch binh như gươm, trùy, giáo, nỏ cung các loại, máy ném đá, v.v. đã xuất hiện vũ khí thuốc cháy như các loại súng trường. Các phương tiện hỏa công trên biển và hỏa hổ trên đất, dùng các loại nhựa để đốt cháy, đã được dần dần thay thế bằng các loại súng đại bác với số lượng nhiều hơn (ở thế kỷ XV, XVI đã có đại bác, song tác dụựng của nó còn kém, trọng lượng nặng, số lượng ít, căn bản chưa thành một binh chủng độc lập). Trong thủy quân có hai biến đổi quan trọng: bên cạnh những thuyền chèo đã có những thuyền buồm với trọng tải ngày càng lớn, và trên các thuyền chiến có dặt nhiều đại bác. ở thời đại đó nước ta chưa có các loại khí tài kỹ thuật có máy móc, động cơ, nhưng so với trước, các vũ khí kiểu mới đó đã là một trong những nhân tố quyết định sự thay đổi phương pháp và hình thức chiến đấu, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nghệ thuật quân sự lên một bước mới, cao hơn.

        Song, so với các quân đội cùng thời ở châu Âu thì vũ khí mới đó của ta còn có những nhược điểm như: súng trường là loại súng nòng trơn, tầm bắn xa chừng 100 mét, lại là loại súng hỏa mai, chưa có lưỡi lê. Do đó, nó có thể sát thương địch ở tầm xa, những bắn không chuẩn xác lắm, và bên cạnh người lính cầm súng, vẫn cần có người lính cầm bạch binh đi kèm để xung phong. Tách rời người lính cầm bạch binh, tác dụng của người lính cầm súng giảm đi, và ngược lại. Do đó, chiến đấu vẫn là đánh gần, kết hợp cả hai yếu tố hỏa lực và xung lực để sát thương địch. Vì tốc độ bắn chậm, súng trường chưa được trang bị cho kỵ binh. Kỵ binh vẫn dùng bạch binh để phóng, chém. Đại bác có những nhược điểm như nạp đạn từ đầu nòng, nặng nề, cồng kềnh, thường chỉ đặt cố định trên thành lũy. Việc sử dụng đại bác trong chiến thuật còn nằm trong phạm vi phòng ngự, chưa thành một vũ khí lợi hại của tiến công, trừ khi tiến công có tính chất trận địa đánh thành và các đồn lũy phòng thủ. Trong thủy quân, thuyền buồm của ta không khác thuyền buồm của phần lớn các nước Âu châu, trừ thủy quân của Anh - Pháp lúc đó đã có thuyền chiến chạy bằng máy. Các loại khí tài khác, chưa có thay đổi nào đáng kể. Vận động chủ yếu vẫn phải dựa vào hai chân của người lính bộ binh. Voi được dùng làm sức mạnh để đột kích.

        Về trang bị, trong những năm đầu, vũ khí thủ yếu của nghĩa quân Tây Sơn là gậy gộc, giáo mác, súng ống, đạn dược có rất ít. Tới những chiến dịch đánh Gia Định, theo báo cáo của Bá Đa Lộc tại triều đình Pháp1, thì nghĩa quân Tây Sơn khi ấy, năm người mới có một người có súng và thủy quân Tây Sơn đã có đại bác đặt trên thuyền chiến, còn lục quân chưa có đại bác. Nhưng từ năm 1786 trở đi, với những chiến dịch đánh ra Bắc của Nguyễn Huệ, quân đội Tây Sơn đã có hỏa lực rất mạnh, có nhiều súng, nhiều đại bác và một loại hỏa lực đặc biệt gọi là "hỏa hổ".

        Như vậy, về mặt trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật, quân đội Tây Sơn về căn bản không khác gì các quân đội Trịnh, Nguyễn, Xiêm, Thanh thời đó. Vậy thì vũ khí và binh khí kỹ thuật đã đóng vai trò và gây tác dụng như thế nào trong việc phát triển nghệ thuật quân sự của quân đội Nguyễn Huệ?

        Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng, ngay trong điều kiện trang bị còn kém xa so với các quân đội phong kiến, quân đội Tây Sơn vẫn chiến thắng oanh liệt. Tinh thần chiến đấu cao của nghĩa quân đã biến thành sức mạnh vật chất áp đảo các quân đội phong kiến có vũ khí nhiều hơn, tốt hơn nhưng tinh thần chiến đấu kém. Thắng lợi càng nhiều, càng lớn, trang bị vũ khí càng được tăng cường, cải tiến, sử dụng vũ khí càng thành thạo, thục luyện, thì tất cả những cái đó đã tác động trở lại tinh thần chiến đấu của nghĩa quân, khiến sức chiến đấu của nghĩa quân càng được nâng cao, nghệ thuật quân sự càng phát triển nhanh chóng và vững chắc. Điều đó nói lên rằng, bên cạnh tác dụng quyết định của tinh thần chiến đấu, vũ khí đã đóng một vai trò quan trọng. Nó biểu hiện trên các mặt: tăng cường vũ khí về số lượng, cải tiến vũ khí về chất lượng, tăng them tính năng chiến thuật và sử dụng nó một cách đúng đắn.

--------------
       1. Báo cáo của Bá Đa Lộc với vua Pháp tại Paris ngày 5 hoặc ngày 6 tháng 5 năm 1787, dẫn trong Al. Faure: Les Francais en Cochinchine au XVIIIlè siècle. Mgr Pigneau de Béhaine, évêque d' Adran. Challamel, Paris, 1891, p. 81.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #137 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:49:32 pm »


        Trong quân đội Tây Sơn, dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Huệ, tỷ lệ trang bị súng trường đã ngày càng cao. Việc tăng cường số lượng súng trường đã thực tế tăng sức mạnh của bộ binh, vì rằng súng trưởng là "hỏa lực" của người lính bộ binh. Từ các trận đánh ở Gia Định và trên miền Bắc, số lượng bạch binh tuy còn khá lớn, nhưng súng trường đã chiếm một tỷ lệ quan trọng. Chiến đấu là sự tiến triển từ xa đến gần, là sự phát huy tương đối nhịp nhàng tác dụng của bạch binh và súng trường. Từ đó dẫn đến một sự thay đổi quan trọng trong chiến thuật: từ chiến đấu của bộ binh chủ yếu dựa vào xung lực để đột kích, đã chuyển hóa thành đột kích bằng xung lực - hỏa lực. Tuy rằng về mặt chất lượng, súng trường chưa có những cải biến đáng kể, nhưng chiến thuật đã phát triển lên một bước mới. Cho lên sức chiến đấu của bộ binh Tây Sơn tăng lên rất nhiều: trong điều kiện quân số ít hơn, nhưng có ưu thế tinh thần và ưu thế hỏa lực, bộ binh Tây Sơn vẫn mạnh ngang hoặc mạnh hơn bộ binh của Trịnh, Nguyễn. Cũng từ đó mà có quan điểm "Quan lính cốt tinh nhuệ, không cốt nhiều" của Nguyễn Huệ.

        Từ thế kỷ thứ XVII, pháo binh đã giữ một vai trò quan trọng trong phòng ngự thành lũy và trong thủy chiến. Quân đội Tây Sơn là một quân đội tiến công, cho nên vấn đề đặt ra là làm sao phát huy được uy lực sẵn có của pháo binh, biến các khẩu đại bác thành phương tiện vừa dùng để phòng ngự, vừa dùng để tiến công, vừa đặt cố định ở thành lũy vừa di chuyển được khi chiến đấu dã ngoại. Quân đội Tây Sơn lại là một quân đội có tính cơ động cao, việc di chuyển pháo theo bộ binh là một vấn đề khó giải quyết. Để khắc phục khó khăn đó, quân đội Nguyễn Huệ phát triển việc dùng voi di chuyển đại bác. Do đó pháo binh dã chiến phát triển, mặc dù trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế, chưa dùng được trên nhiều loại địa hình. Từ một phương tiện chuyên dùng để phòng ngự trong tay quân đội Trịnh, Nguyễn có tác dụng làm cho đối phương hoảng sợ vì tiếng nổ nhiều hơn là tác dụng phá hoại, sát thương, pháo trong tay quân đội Nguyễn Huệ trở thành một phương tiện tiến công có tác dụng phá hoại, sát thương thực sự, cộng với những tác dụng tâm lý và che mắt, làm ngạt thở (đạn nổ, có nhiều khói). Pháo binh bắt đầu trở nên đắc lực, tăng thành phần hỏa lực trong chiến đấu lên rất nhiều.

        Pháo binh dã chiến xuất hiện đã thực sự tăng thêm thành phần chiến thuật (hỏa lực) cho lục quân. Khi tác chiến, pháo binh chuẩn bị và yểm hộ cho bộ binh, tượng binh xung phong vào trận địa.

        Quân đội Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy được trang bị đại bác với số lượng khá lớn so với các quân đội đương thời, và có đủ các loại đại bác nhẹ, nặng. Đó cũng là một ưu thế của quân đội Tây Sơn.

        Chúng ta biết rằng các chúa Nguyễn, chúa Trịnh thường mua súng trường, đại bác của người phương Tây. Chắc chắn rằng những khẩu đại bác đó đã chuyền về tay quân đội Nguyễn Huệ. Những chiến lợi phẩm này, và những đại bác tự sản xuất, đã tăng số lượng lên mức độ khá lớn trong quân đội Tây Sơn. Những con số đại bác mà quân Nguyễn thu được trong những trận phản công thắng lợi (sau khi Nguyễn Huệ chết) chứng minh sức mạnh của pháo binh Tây Sơn. Như trong trận Khố Sơn năm 1793, với 4 nghìn quân phòng ngự, quân đội Tây Sơn có trên 35 đại bác gang và đồng1; năm 1801, tại cửa ải La Qua, quân Tây Sơn đã đặt trên 80 đại bác để phòng thủ2 ; đến trận rút lui trên sông Gianh năm 1802, sau khi đột phá lũy Trấn Ninh không thành công, quân Tây Sơn đã để lại một số lượng đại bác rất lớn: 7 trăm khẩu3. Cũng cần thêm rằng, về mặt tính năng kỹ thuật chiến thuật và uy lục sát thương phá hoại, đại bác Tây Sơn hoàn toàn không kém đại bác của các nước phương Tây mà quân đội nhà Nguyễn có, là loại đại bác gang, nặng một trăm cân mỗi khẩu, với đạn có đường kính mười tấc4. Sử Sách nhà Nguyễn và các sĩ quan thực dân Pháp giúp Nguyễn Ánh khi mô tả các trận chiến đấu, đã nêu lên sức mạnh đáng sợ của pháo binh Tây Sơn.

        Trong quân đội Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng pháo binh, còn trang bị một cách rộng rãi hỏa hổ, là một loại súng dùng để tung lửa, có thể xem hỏa hổ là một loại pháo hạng nhẹ, tuy tác dụng của nó chỉ là đốt phá. Loại phương tiện đặc biệt này được trang bị cho tất cả các binh chủng thuộc lục quân: bộ binh, kỵ binh, tượng binh. Đây cũng là một ưu thế của quân đội Tây Sơn. Khi chiến đấu xa sự chỉ viện của pháo binh, hoặc sự chi viện đó không cần thiết nữa, thì bộ binh, kỵ binh, tượng binh dùng hỏa hổ để đốt cháy doanh trại, công sự, sinh lực của địch. Trước những đám lửa nhựa tung ra, bám vào thân thể, cả người lẫn voi, ngựa của địch đều hoảng sợ.

        Trong tay Nguyễn Huệ, voi trở thành một phượng tiện chiến đấu có nhiều tác dụng lợi hại. Các quân đội phong kiến đương thời đều sử dụng voi thành một phương tiện đột kích. Đội tượng binh quân Trịnh là một đội tượng binh nổi tiếng. Quân đội Tây Sơn cũng có một đội tượng binh lợi hại dùng để đột kích. Bản thân con voi có sức vận động dẻo dai. Nó dùng vòi và sức nặng của toàn thân để đánh phá. Để tăng thêm tính năng chiến đấu của voi, Nguyễn Huệ đã cho voi mang đại bác trên mình hoặc kéo theo sau. Do đó, voi vừa là phương tiện cơ động, vừa là phương tiện đột kích, vừa là phương tiện của hỏa lực. Đoàn tượng binh của Nguyễn Huệ tự nhiên trở thành một binh chủng hợp thành, có đầy đủ ba thành phần chiến thuật: cơ động, đột kích, hỏa lực. Đó là một chất lượng mới mà các đội tượng binh của các quân đội Nguyễn, Trịnh, Thanh không có, và nó chính là một ưu thế của quân đội Nguyễn Huệ. Đoàn tượng binh Tây Sơn đã là mối khiếp sợ cho các quân đội phản động phong kiến đương thời, kể cả trong nước và ngoài nước.

------------------
        1. Đại Nam thực lục, Bản dịch, t. II, tr. 173.

        2, 4. Đại Nam thực lục, t. II. tr. 387, 137.

        3. Đại Nam thực lục, t. III, tr. 6.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #138 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 10:51:34 pm »


        Trong thủy quân, công lao của Nguyên Huệ cũng rất lớn. Nguyễn Huệ có nhiều kinh nghiệm chiến thắng trong các trận thủy chiến với quân Nguyễn, quân Xiêm, là hai quân đội có nhiều sở trường về thủy chiến. Thấy rõ tính chất địa hình và địa thế của nước ta, thấy rõ vai trò của thủy quân, Nguyễn Huệ dồn nhiều nỗ lực để xây dựng một thủy quân hùng mạnh. Cuối đời Nguyễn Huệ, thuyền chiến Tây sơn có những thay đổi quan trọng: sức trọng tải và hỏa lực của thuyền chiến được tăng lên khá cao. Theo Ba-ri-di (Barisy), một người Pháp đã từng "giúp" chúa Nguyễn chống lại Tây Sơn thì thủy quân mà Nguyễn Huệ để lại cho Nguyễn Quang Toản là một thủy quân mạnh, gồm đủ các loại hạm thuyền lớn nhỏ. Ba-ri-di kể rằng: trong trận Thi Nại năm 1801, thủy quân có 9 thuyền chiến loại lớn, mỗi thuyền  chiến được trang bị 60 đại bác và có 7 trăm lính, 5 thuyền chiến loại vừa, mỗi cái mang 50 đại bác và có 5 trăm lính, 40 thuyền chiến loại nhỏ, mỗi cái mang 16 đại bác và có 2 trăm lính, cùng 5 trăm thuyền chiến khác, trang bị 1 đại bác loại lớn hoặc loại nhỏ, chở từ 50, 70 đến 150 lính mỗi thuyền1[/sup. Vẫn theo Ba-ri-di, trong trận đó, Nguyễn Ánh có 26 thuyền chiến, mỗi cái mang 1 đại bác và chở 2 trăm lính.

        Những tài liệu trên đây có thể cho chúng ta thấy rằng, về các mặt kỹ thuật đóng tàu trang bị, sức trọng tải, thuyền chiến Tây Sơn mạnh hơn hẳn so với quân Nguyễn và quân Trịnh thời đó. Do được trang bị nhiều pháo binh và chở nhiều lính chiến đấu, mỗi thuyền chiến của thủy quân Tây Sơn đã trở thành một đơn vị chiến thuật có khả năng hoàn thành những nhiệm vụ tương đối phức tạp, một lực lượng đột kích đường biển đáng sợ cho các quân đội phong kiến phân động. Se-nhô (J.B. Chaigneau), một sĩ quan Pháp đã từng tác chiến với thủy quân Tây Sơn cũng viết: "Trước khi nhìn thấy thủy quân của địch (chỉ thủy quân Tây Sơn – Tác giả chú thích), tôi rất khinh thường, nhưng tôi bảo đảm với các anh rằng đó là sai lầm. Họ có những thuyền chiến mang 50 và 60 đại bác lớn ..." 2[/sup. Với thủy quân đó, Nguyễn Huệ đã từng đánh tan thủy quân Nguyễn, Trịnh, Xiêm, trong nhiều trận thủy chiến ác liệt nhưng rất oanh liệt, phát huy cao độ truyền thống Bạch Đằng quang vinh của thời đại trước.

        Từ những nghiên cứu trên, chúng ta thấy rõ ràng: về chất lượng, vũ khí và phương tiện kỹ thuật của quân đội Tây Sơn chưa có những cải tiến lớn lao, nhưng vì số lượng được tăng cường, vũ khí thuốc cháy các loại được sử dụng với một tỷ lệ khá lớn và ngày càng tăng, cho nên thành phần và sức mạnh hỏa lực trong quân đội Tây Sơn trở thành mạnh hơn lên. Pháo binh của lục quân và pháo binh thủy quân trở thành một binh chủng quan trọng. Điều đó không thể không dẫn đến những thay đổi về phương pháp sử dụng pháo binh, và những thay đổi về hình thức, phương pháp tác chiến nói chung.

--------------------
       1. Thư của Barisy ngày 11 tháng 4 năm 1801, Arch, M-E 801, p. 867.

        2. Cadière, Document relatif à l'époque de Gia Long ... p. 40
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 25080


« Trả lời #139 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2016, 08:18:50 am »


        TỔ CHỨC CÁC QUÂN BINH CHỦNG

        Trong hai phần trên đã nghiên cứu con người và vũ khí trong quân đội Tây Sơn. Những lực lượng lớn lao đó về người và vật chất cần được tổ chức thật khéo léo, vì nghệ thuật quân sự ảnh hưởng đến tổ chức quân đội, đồng thời nghệ thuật quân sự trong quá trình phát triển lại phụ thuộc vào tổ chức của các lực lượng vũ trang.

        Những yếu tố mới xuất hiện trong người lính (tinh thần chiến đấu, tinh thần kỷ luật, tinh thần đoàn kết, tinh thần chịu đựng gian khổ, v.v.), những yếu tố mới xuất hiện trong vũ khí và trang bị kỹ thuật (cải tiến chất lượng, tăng cường số lượng, v.v.) đã đặt cơ sở vững chắc cho việc nâng cao chất lượng của quân đội, đặt cơ sở cho việc phát triển một cách khá cân đối các thành phần đột kích, hỏa lực và cơ động trong quân đội, mở rộng phạm vi tác chiến trên đất liền và trên biển, do đó tạo khả năng rất lớn cho chiến lược chiến dịch và chiến thuật. Nếu biến được khả năng đó thành hiện thực thì nghệ thuật quân sự sẽ có những phương tiện rất mạnh bảo đảm tiến hành chiến tranh thắng lợi. Vấn đề tổ chức quân đội một cách khoa học nổi lên hàng đầu trong những điều kiện bảo đảm sự chuyển biến đó. Tổ chức ấy là cả một quá trình tiến triển theo quá trình của chiến tranh. Kinh nghiệm của nhiều cuộc chiến đấu, chiến dịch khác nhau, trên những địa hình, chiến trường khác nhau, với những kẻ thù khác nhau đã tạo điều kiện cho Nguyễn Huệ không ngừng cải tiến, hoàn chỉnh tổ chức quân đội Tây Sơn. Cho đến trước khi mở chiến dịch tiêu diệt 20 vạn quân Thanh, về tổ chức quân đội Tây Sơn đã có những thay đổi căn bản lớn, có tính chất toàn diện.

        Công lao đầu tiên của Nguyễn Huệ trong lĩnh vực này, là biết phát triển một cách tương đối nhịp nhàng các binh chủng và đưa thủy quân lên hàng quân chủng. Đó là một việc làm có ý nghĩa cách mạng trong việc tổ chức quân đội của nước ta, từ thời xưa cho đến thế kỷ XVIII.

        Trong tất cả các quân đội phong kiến thời đó, binh chủng chủ yếu đã thành hình rõ rệt nhất hàng mấy thế kỷ trước là bộ binh. Bộ binh là lực lượng đột kích cơ bản, dùng phương tiện bạch binh kết hợp với sức xung phong của người lính mà đột kích đối phương. Được xếp vào lực lượng đột kích ở nước ta còn có tượng binh, dùng sức nặng của voi để đè bẹp đối phương, kết hợp với cung, tên, súng phun lửa bắn phóng vào địch. Bộ binh là cơ bản vì có thể sử dụng được trong tiến công và phòng ngự; còn tượng binh thông thường chỉ dùng trong tiến công. Bộ binh được sử dụng trên mọi địa hình, còn tượng binh do sức cơ động bị hạn chế, nên tuy có sức mạnh, vẫn chỉ đóng vai trò bổ trợ cho bộ binh.

        Đã có từng thời kỳ, kỵ binh trở thành binh chủng chủ yếu trong quân đội. So với bộ binh, kỵ binh không khác gì về sức đột kích (vẫn là người và bạch binh) nhưng có ưu điểm là cơ động nhanh chóng, thích hợp với chiến đấu ở dã ngoại.

        Song, bộ binh, tượng binh, kỳ binh của các quân đội thời đó đều thiếu hỏa lực. Đứng trước thành lũy kiên cố, bên tiến công chỉ có thể dùng bộ binh lấy sức mạnh của số đông, đặt thang trèo thành, rồi dùng bạch binh diệt địch. Pháo binh được sử dụng để chuẩn bị cho việc xung phong của bộ binh, với mức độ rất hạn chế. Bên phòng ngự cũng chỉ có một cách là dùng bộ binh giữ thành, chống lại xung phong trèo thang của đối phương, dùng pháo binh để bắn khi địch tiếp cận. Tuy vậy, trong phòng ngự, pháo binh còn phát huy đưọc tác dụng nhiều hơn bên tiến công.

        Nguyễn Huệ tỏ ra quan tâm đến sự phát triển nhịp nhàng của các binh chủng trong lục quân. Quan tâm đó trước hết tập trung vào việc tăng hỏa lực và xung lực cho bộ binh, khiến bộ binh có sức đột kích mạnh, nhất là khi chiến đấu dã ngoại. Việc trang bị cho các đơn vị bộ binh những khẩu pháo dã chiến, làm cho thành phần hỏa lực của bộ binh tăng lên rất nhiều.

        Sự quan tâm đó còn thể hiện ở chỗ tổ chức những đơn vị pháo binh độc lập: binh chủng hỏa lực thành hình, phát huy được tính ưu việt của nó trong phạm vi sử dụng rộng rãi.

        Cũng như pháo binh, kỵ binh và tượng binh một mặt được biên chế vào trong các đơn vị bộ binh, như những thành phần của sức dột kích, một mặt khác được tổ chức thành các đơn vị độc lập.

        Vì vậy bộ binh của quân đội Tây Sơn thực sự là binh chủng chủ yếu của lực quân. Nó là chủ yếu, không phải về mặt hình thức, về mặt chiếm tỷ lệ lớn nhất trong quân đội như trong các quân đội Trịnh, Nguyễn mà là vì nó có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ, trong các hình thức chiến đấu khác nhau. Tính hơn hẳn của bộ binh Tây Sơn, so với quân Trịnh, quân Nguyễn là ở chỗ nó có hỏa lực mạnh; có sức cơ động khá và có sức đột kích lớn. Bộ binh quân Thanh không có tượng binh, vì thế sức đột kích kém bộ binh Tây Sơn trên một mức độ nhất định. Tổ chức bộ binh của quân đội Tây Sơn dẫn đến một phương pháp mới trong thực hành chiến đấu: tác chiến của bộ binh đã vượt phạm vi đơn thuần bộ binh mà tiến vào phạm vi tác chiến hợp đồng các binh chủng. ý nghĩa cách mạng trong tổ chức quân đội Tây Sơn thể hiện trước hết ở điều đó.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM