Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Sáu, 2020, 05:24:23 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ  (Đọc 30104 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #120 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 06:19:32 am »


        Trong tiến công vào vị trí Khương Thượng thì sự vận dụng chiến thuật của quân đội Tây Sơn có khác. Khương Thượng không phải là một vị trí có công sự kiên cố, nên tiến công có tính chất tập kích lớn. Sự hiệp đồng binh chủng ở đây là hiệp đồng giữa sức đột kích của tượng binh và xung lực, có sự hỗ trợ của hỏa hổ.

        Trận đánh tiêu diệt ở đầm Mực có đặc điểm là phát huy ưu thế tuyệt đối về tinh thần, dồn địch vào một địa hình bất lợi, bao vây ba mặt, hiệp đồng giữa tượng binh, pháo binh và bộ binh để tiêu diệt mấy vạn quân Thanh.

        Nghiên cứu một số vấn đề chủ yếu về chiến thuật trên đây chúng ta thấy quân đội Tây Sơn giỏi đánh tiến công vận động, mà cũng thạo đánh tiến cống đồn phòng thủ. Trong tiến công vận động, quân đội Tây Sơn biết vận dụng rộng rãi vu hồi bao vây, biết sử dụng thành thạo đột kích và cơ động, biết hiệp đồng động tác chặt chẽ giữa bộ binh, kỵ binh, tượng binh, do đấy, binh lực ít hơn, nhưng đủ khả năng tiêu diệt hàng hai, ba vạn quân địch trong từng trận đánh. Trong tiến công đồn phòng thủ, quân đội Tây Sơn biết tập trung ưu thế lực lượng, kết hợp tiến công mặt chính vào cạnh sườn, bao vây ba, bốn mặt, sử dụng thành thạo đột kích, hỏa lực và cơ động, hiệp đồng động tác chặt chẽ giữa pháo binh, tượng binh, bộ binh và kỵ binh, chọc thủng và phát triển nhanh chóng, có khả năng tiêu diệt hàng vạn quân trong từng trận đánh.

        Trong chiến dịch này, đặc điểm của chiến thuật là:

        - Vận dụng thành thạo và linh hoạt binh lực, binh khí và mọi phương tiện chiến đấu.

        - Vận dụng linh hoạt các thủ đoạn chiến thuật thích hợp với nhiều tình huống khác nhau, nổi nhất là thủ đoạn bao vây vu hồi.

        - Hành động tiến công với tốc độ cao.

        - Động tác mãnh liệt, có tính chất quyết định.

        Thắng lợi rực rỡ của chiến dịch đại phá quân Thanh là một chiến công hiển hách vào bậc nhất trong lịch sử nước ta. Nó đưa nghệ thuật quân sự của dân tộc ta đến một bước phát triển cao. Nó chứng minh một sự thật: một quân đội chiến đấu vì chính nghĩa, tuy ở địa vị yếu về số lượng, hoàn toàn có khả năng chiến thắng những quân đội có ưu thế về số lượng.

        Bất luận về mặt chiến lược, chiến dịch hay chiến thuật, thiên tài của Nguyễn Huệ đểu nổi bật lên ở dũng khí áp đảo địch và năng lực chế ngự toàn bộ sự phát triển biến hóa của chiến tranh, chiến dịch và chiến đấu. Quân đội Tây Sơn do ông chỉ huy đã từ những trận đánh và chiến dịch nhỏ, tiến lên đánh những trận và chiến dịch lớn, từ tiêu diệt vài ngàn tiến lên tiêu diệt vài vạn dịch trong chiến đấu, từ tiêu diệt vài vạn tiến lên tiêu diệt đến 20 vạn địch trong chiến dịch. Rõ ràng là, không có tinh thần tích cực tiến công, dũng cảm tiêu diệt địch, thì không thể làm nổi những kỳ công đó.

        Trong chiến dịch đánh quân Thanh, tính vận động và cơ động nhanh chóng của quân đội Tây Sơn đã bổ sung, thay thế cho thế yếu về quân số. Chính viên bại tướng Tôn Sĩ Nghị cũng đã thấy rõ ưu điểm nổi bật đó của quân đội Tây Sơn, khi hắu chỉ kịp thốt lên "sao mà thần thế” sau lúc được tin đạo quân Hứa Thế Hanh và đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt.

        Cố nhiên, không phải là ưu điểm của quân đội Tây Sơn chỉ thu gọn vào tính vận động nhanh chóng; cũng không phải chỉ đến chiến dịch này quân đội Tây Sơn mới có hai đặc điểm đó của quân đội cận đại. Truyền thống đánh lớn, đánh vận động đã được Nguyễn Huệ xây dựng từ các cuộc tiến công quân Nguyễn ở phía Nam, phát triển hơn nữa trong các chiến dịch tiêu diệt quân Trịnh. Nhưng đến chiến dịch này thì hai đặc điểm đó càng nổi bật hơn bao giờ hết và cũng ở trong chiến dịch này mới nổi lên rõ nét nhất sự bổ sung của tính vận động nhanh chóng để bù vào chỗ yếu về mặt quân số. Chỗ yếu nói ở đây tất nhiên là so sánh với quân Thanh. Thực ra, mười vạn quân đã là một đội quân rất lớn rồi.

        Cũng như chiến thắng Chương Dương - Bạch Đằng thời Trần Quốc Tuấn, chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang thời Lê Lợi - Nguyễn Trãi và nhiều chiến thắng khác, chiến thắng Thăng Long của quân đội Tây Sơn sẽ mãi mãi tiêu biểu cho tinh thần quật cường bất khuất của dân tộc ta, mang sức mạnh vô địch của đoàn kết chiến đấu, của tinh thần anh dũng tuyệt vời của một dân tộc nhỏ, một quân đội nhỏ nhưng anh hùng, để chiến thắng những quân đội xâm lược và phản động tay sai lớn mạnh.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #121 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 06:21:17 am »


Chương bốn

NGUYỄN HUỆ PHÁ TAN MỌI ÂM MƯU CÂU KẾT CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG TRONG NƯỚC, NGOÀI NƯỚC VÀ CHUẨN BỊ KẾ HOẠCH TIẾN ĐÁNH NGUYỄN ÁNH Ở GIA ĐỊNH

        Chiến thắng 20 vạn quân Thanh xâm lược ở những ngày đầu năm 1789 của Nguyễn Huệ là một chiến thắng lừng lẫy bậc nhất trong lịch sử Việt Nam: nó đã giữ vững nền độc lập của Tổ quốc ở cuối thế kỷ XVIII và vĩnh viễn chấm dứt nạn xâm lược của phong kiến phương Bắc luôn luôn đe dọa dân tộc Việt Nam. Nhưng không phải vì thế mà sau chiến thắng oanh liệt này, dân tộc Việt Nam, trong những năm cuối cùng của thế kỷ XVIII đã có thể bắt tay ngay vào xây dựng một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc, nghĩa quân Tây Sơn đã có thể coi biên cương của Tổ quốc là bất khả xâm phạm và lãnh tụ Nguyễn Huệ đã có thể ung dung ngồi trên ngai vàng như bọn đế vương phong kiến ở các thời. Nước Việt Nam, sau chiến thắng quân Thanh, ở vào một tình thế vô cùng phức tạp, khó khăn, đòi hỏi Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn phải có nhiều cố gắng để khắc phục, phải phát huy mọi khả năng của mình, không phải chỉ về quân sự, mà về cả các mặt chính trị, ngoại giao, kinh tế và văn hóa để đưa nước nhà vượt qua những khó khăn nghiêm trọng lúc ấy.

        Liền sau chiến thắng quân Thanh, trong toàn quốc, từ Nam chí Bắc, đều có nhiều vấn đề lớn phải giải quyết, nhiều vấn đề mà người lãnh đạo không thật sáng suốt và kiên trì thì không thể giải quyết nổi.

        Trong khi Nguyễn Huệ đang lo đối phó với nạn xâm lược của quân Thanh ở miền Bắc thì ở miền Nam, bọn phản động Nguyễn Ánh cũng đang đánh phá dữ dội vào Gia Định. Đầu năm 1789, trong khi Nguyễn Huệ chiến thắng quân Thanh một cách vô cùng oanh liệt thì tướng của Nguyễn Nhạc là Phạm Văn Tham chỉ huy quân Tây Sơn chống giữ với Nguyễn Ánh ở Gia Đinh đang thất bại liên tiếp và cuối cùng đã phải đầu hàng địch. Trong tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), Nguyễn Ánh đã đánh chiếm được cả miền Gia Định. Lợi dụng cơ hội Nguyễn Huệ và đại bộ phận quân đội của ông còn ở Thăng Long, Nguyễn Ánh có thể mưu đồ tiến công ra các căn cứ trung tâm của nghĩa quân Tây Sơn là Qui Nhơn, Phú Xuân. Đó là một khó khăn lớn, một vẩn đề cấp bách ở phía Nam mà Nguyễn Huệ không thể không lo tính đến.

        Ở phía Bắc, nghĩa quân Tây Sơn đã chiến thắng oanh liệt, bảo vệ được nền độc lập của Tổ quốc, nhưng nạn ngoại xâm vẫn đe dọa nghiêm trọng. Hai mươi vạn quân Thanh bị hoàn toàn tiêu diệt trên đất nước Việt Nam là một thất bại nhục nhã cho bọn xâm lược. Chúng không thể không tính đến việc trả thù. Tin Tôn Sĩ Nghị thất bại thảm hại đưa về tới Yên Kinh, vua tôi nhà Thanh vội vàng cho Phúc Khang An thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc lưỡng Quảng, kiêm đề đốc chín tỉnh với trọng trách điều động quân dân chín tỉnh, lấy 50 vạn quân tiến sang Việt Nam đánh trả thù cho trận thất bại thảm hại vừa qua.

        Nguyễn Huệ và quân đội tây Sơn đã chiến thắng 20 vạn quân Thanh một cách thật nhanh chóng, thật vẻ vang, nhưng nếu tiếp theo đó lại phải đương đầu với 50 vạn quân xâm lược mới tiến sang nữa, thì trước tình hình ấy, quân đội Tây Sơn muốn giành phần thắng lợi về mình không phải là việc dễ dàng, chắc chắn lắm. Như vậy là trong những tháng đầu năm 1789, nghĩa quân Tây Sơn ở vào một tình thế thật nguy hiểm, có khả năng bị tiến đánh ở cả hai phía: ở phía Nam, bọn phản động Nguyễn Ánh đánh lên, ở phía Bắc, 50 vạn quân Thanh xâm lược đánh xuống.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #122 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 06:21:50 am »


        Trong khi đó, nội tình Bắc Hà không phải là đã hoàn toàn ổn định. Bọn chân tay của Lê Chiêu Thống, không chạy kịp sang Trung Quốc, vẫn còn lén lút, mưu đồ khởi loạn ở một số nơi. Dương Đình Tuấn, sau khi tiễn Lê Chiêu Thống ra khỏi biên giới, đã đem một số tàn quân "cần vương" về chiếm giữ vùng Yên Thế. Tại Lạng Giang, Phạm Đình Đạt cùng hai em là Phạm Đình Phan, Phạm Đình Dữ và các con là Phạm Duật, Phạm Đình Cù, Phạm Đình Ninh cũng mộ quân mưu lọan. Một người em thứ tư của Phạm Đình Đạt là Phạm Đình Chẩn cũng mộ hơn 500 hương binh hoạt động ở vùng Võ Giàng. Một số tướng lĩnh cao cấp của Lê Chiêu Thống còn ở lại trong nước cũng đem bọn tàn quân, bại tướng của mình hoạt động chống Tây Sơn ở nhiều nơi. Lê Ban hoạt động ở Nghệ An. Trần Quang Châu đánh phá các miền Kinh Bắc, Hải Dương. Lê Duy Chi, em thứ ba của Lê Chiêu Thống cùng với bọn thổ tù Hoàng Văn Đồng, Nông Phúc Tấn hoạt động mạnh ở vùng Tuyên Quang, Bảo Lạc. Tất cả những bọn này, nếu không sớm trừ diệt được, chúng sẽ phá rối trị an, làm cho dân tình khổ sở, và khi có chiến tranh xâm lược, chúng sẽ là những kẻ nội ứng đắc lực cho giặc, hoạt động phá hoại ngay trong lòng nghĩa quân Tây Sơn. Để trấn áp bọn phản động nhà Lê hoạt động trên đất Bắc Hà ở nhiều nơi như thế, quân đội Tây Sơn cần phải có ngay những hành động tích cực và mạnh mẽ thì mới đi tới thành công.

        Trong tình hình suốt cả nước, từ biên giới phía Bắc tới Hà Tiên, chỗ nào cũng có kẻ thù đang lăm le tàn phá đất nước, tiêu diệt nghĩa quân, Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh Tây Sơn cần phải có một kế hoạch, một sách lược mầu nhiệm như thế nào để đối phó với tình thế cực kỳ nguy hiểm ấy. Làm thế nào để không lâm vào thế bị động, không bị mọi kẻ thù trong nước, ngoài nước cùng tiến công một lúc ở khắp nơi, trên khắp các chiến trường. Làm thế nào để đánh kẻ địch này mà không bị những kẻ địch khác đánh vào sau lưng, vào cạnh sườn. Xác định như thế nào cho đúng những mục tiêu chiến đấu ở từng thời kỳ để nắm chắc phần thắng lợi: kẻ địch nào đánh trước, kẻ địch nào đánh sau, kẻ địch nào không cần đánh, chỉ dùng những biện pháp không quân sự cũng có thể chế ngự được.

        Nhưng dù muốn tiến hành chiến tranh với bất cứ kẻ địch nào, việc trước tiên vẫn là phải nhìn vào dân, trông vào sức dân, xét xem quảng đại quần chúng có đủ sức tham gia chiến tranh, có đủ khả năng đưa chiến tranh đến thắng lợi hay không. Đồng thời cũng phải tranh thủ được sự đồng tình của các tầng lớp nhân dân. Trước đó nhân dân Bắc Hà đã bị nhiều năm đói kém. Khi quân Thanh sang xâm lược, nhân dân Bắc Hà càng đói trầm trọng hơn nữa, vừa mất mùa, vừa phải cung đốn lương thực cho quân xâm lược và bè lũ bán nước, vừa bị chúng cướp bóc. Nguời dân Bắc Hà thật là kiệt quệ. Khắp nơi, ruộng đất bỏ hoang, không người cày cấy. Công thương nghiệp đều đình đốn. Nền kinh tế Bắc Hà lúc ấy thật tiêu điều. Đời sống của nhân dân Bắc Hà thật là khổ sở cùng cực. Tình hình đó đòi hỏi một thời gian để phục hồi và củng cố mới có thể tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô. Nguyễn Huệ và các tướng lĩnh Tây Sơn không thể không thấy vấn đề cấp thiết đó.

        Đối với những cựu thần nhà Lê còn lừng chừng và những sĩ phu còn hoang mang nằm chờ ở các địa phương, nghĩa quân Tây Sơn cũng cần phải có những biện pháp thiết thực để tập hợp thu dùng họ, vừa giữ chân để họ không chạy theo bọn phản động, vừa phát huy khả năng của họ phục vụ cho sự nghiệp của quần chúng.

        Trước tình hình cực kỳ nghiêm trọng của nước nhà lúc ấy, Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn phải lo đối phó như thế nào để vượt qua mọi hiểm nghèo. Nếu sai lầm trong đường lối, sách lược đối phó là có thể đưa phong trào Tây Sơn đến chỗ bị diệt vong nhanh chóng và đưa dân tộc Việt Nam vào bước lầm than khổ cực, nước mất nhà tan. Một cảnh tượng bi thảm sẽ hiện lên trên toàn đất nước, nếu Nguyễn Huệ không phải là người thật sáng suốt trong việc định ra đường lối giải quyết những khó khăn bậc nhất của thời đại ấy.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #123 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 06:23:31 am »


        Để xảy ra chiến tranh ở phía Bắc thì bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định sẽ lợi dụng cơ hội nhảy ra đánh phá Qui Nhơn, Phú Xuân. Để xảy ra chiến tranh ở phía Nam, thì Bắc Hà sơ hở sẽ là điều kiện cho 50 vạn quân Thanh tiến vào xâm lược Việt Nam. Để xảy ra chiến tranh ở bất cứ phía nào cũng đều tạo cơ hội cho các nhóm phản động ở Bắc Hà tăng cường hoạt động phá hoại chính quyền Tây Sơn. Trong tình hình ấy, chiến tranh đã nổ ra được ở một nơi, thì chiến tranh nhất định sẽ nổ ra ở nhiều nơi, nghĩa quân Tay Sơn sẽ bị đánh ở tứ phía, đối phó không kịp, mà nhân dân Bác Hà thì kiệt quệ lại chưa kịp chuẩn bị tổ chức để sẵn sàng tham gia chiến tranh, phục vụ chiến tranh. Cho nên biện pháp tốt nhất để đối phó với tình hình lúc đó là phải làm thế nào ngăn ngừa không cho chiến tranh xảy ra hoặc chưa xảy ra ngay, ở phía Nam cũng như ở phía Bắc, để nghĩa quân Tây Sơn có thời gian xây dựng đất nước, phục hồi kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, tiễu trừ dần dần từng nhóm phản động ở trong nước, tăng cường lực lượng vũ trang, củng cố quốc phòng, củng cố chính quyền, củng cố hậu phương, bảo đảm độc lập của Tổ quốc và tiến tới tiêu diệt bọn phản động Nguyễn Ánh, giải phóng Gia Định, thực hiện thống nhất nước nhà.

        Đó là những biện pháp hiệu nghiệm nhất, những chủ trương đúng đắn nhất để đối phó với tình hình nghiêm trọng lúc ấy và chính Nguyễn Huệ đã có những chủ trương như vậy. Sau chiến thắng 20 vạn quân Thanh, Nguyễn Huệ và nghĩa quân Tây Sơn đã để mấy năm liền và dốc toàn lực ra thực hiện mọi biện pháp quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, nhằm khắc phục mọi khó khăn đã xảy ra Nhiều biện pháp rất đúng đắn, rất linh hoạt đã được Nguyễn Huệ đề ra để thực hiện.

        Đối với triều đình nhà Thanh, Nguyễn Huệ dùng biện pháp ngoại giao tích cực, đặt quan hệ hữu hảo để ngăn chặn âm mưu xâm lược của họ. Đối với bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định, Nguyễn Huệ sẽ dùng thanh thế sẵn có của nghĩa quân Tây Sơn và lấy sự có mặt của chính bản thân ông ở Phú Xuân để ngăn chặn âm mưu tiến lên của chúng. Đồng thời với những biện pháp ngăn ngừa chiến tranh ấy, Nguyễn Huệ lập tức cho thi hành một số biện pháp kinh tế, văn hóa và bắt đầu tiễu trừ những nhóm phản động lẻ tẻ ở Bắc Hà. Trong hơn ba năm trời từ sau chiến thắng 20 vạn quân Thanh tới khi Nguyễn Huệ chết, ông đã thực hiện thành công những kế hoạch nói trên.

        Trước hết là việc đối phó với nhà Thanh, ngăn chặn 50 vạn quân xâm lược không tiến vào Việt Nam. Đây là một việc hết sức khó khăn. Dùng quân sự thì không được. Dùng biện pháp ngoại giao thì ngoại giao như thế nào để nắm chắc phần thắng lợi, ngoại giao như thế nào để xóa bỏ được chính sách phục thù của bọn vua tôi nhà Thanh, giữ được quốc thể không thiệt thòi cho dân tộc Việt Nam. Nguyễn Huệ, với sự nỗ lực của các tướng sĩ và của toàn dân, đã vượt qua được những khó khăn ấy.

        Đối với quân Thanh xâm lược, mặc dầu chúng hùng hổ, hăm he, mưu toan phục thù, nhưng chiến thắng rực rỡ của quân đội Tây Sơn và sự thất bại nhục nhã của chúng đã buộc chúng, nhất là những kẻ vừa chiến bại ở Việt Nam về phải suy nghĩ và phải chủ động đặt vấn đề giảng hòa. Tin quân đội Tây Sơn sẽ vượt biên giới đi sâu vào nội địa nhà Thanh để truy nã bọn bán nước Lê Chiêu Thống đã làm náo động cả miền Hoa Nam. Quan quân của nhà Thanh ở miền biên giới không thể không lo đối phó. Người chịu trách nhiệm về việc quân ở miền biên giới Quảng Tây lại chính là "Tả giang binh bị đạo" Thang Hùng Nghiệp, vừa chết hụt ở Việt Nam, mới chạy trốn được về tới Quảng Tây. Thang Hùng Nghiệp tự lượng thấy không thể đương đầu được với quân đội Tây Sơn, một khi Nguyễn Huệ cho quân vượt biên giới tiến sang. Cho nên y tìm cách hòa hoãn với quân đội Tây Sơn. Sáng sớm ngày mồng 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789), Thang Hùng Nghiệp từ bến Tây Long, theo Tôn Sĩ Nghị, lật đật chạy trốn lên phía ải Nam Quan, qua biên giới về nước. Vừa tới Quảng Tây, ngày 18  tháng Giêng y vội vàng viết thư cho đại tướng Việt Nam, Hám hổ hầu1 đề nghị hoãn binh và yêu cầu Hám hổ hầu trình bày với Nguyễn Huệ những lẽ hơn thiệt về việc nên giảng hòa với triều đình nhà Thanh, Thang Hùng Nghiệp xin tình nguyện đứng ra làm trung gian điều đình.

-------------
        1. Trong chiến dịch đại phá 20 vạn quân Thanh của Tôn Sĩ Nghị, đại tướng Hám hổ hầu đốc xuất hậu quân, làm đốc chiến. Có lẽ sau khi quân đội Tây Sơn vào Thăng Long, Hám hổ hầu được chỉ định đem quân truy kích bọn Tôn Sĩ Nghị lên tận biên giới, do đấy mà Thang Hùng Nghiệp viết thư cho Hám hổ hầu.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #124 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2016, 06:24:40 am »


                Cũng tháng Giêng năm Kỷ Dậu, Phúc Khang An, người thay quyền Tôn Sĩ Nghĩ làm tổng đốc lưỡng Quảng, tới Quảng Tây thi hành nhiệm vụ điều động 50 vạn quân để tiến đánh Việt Nam, phục thù cho trận thất bại của Tôn Sĩ Nghị. Nhưng Phúc Khang An là người phụ trách quân lương trong đoàn quân xâm lược của Tôn Sĩ Nghị trước đây, đã chứng kiến sự thất bại nhục nhã của Tôn Sĩ Nghị, cho nên cũng thấy cái thế khó thắng của mình. Vì vậy cũng như Thang Hùng Nghiệp, Phúc Khang An cũng muốn hòa hoãn với quân đội Tây Sơn, dập tắt mưu đồ phục thù của triều đình nhà Thanh. Tới Quảng Tây, Phúc Khang An vội vàng cho viên phân phủ Thái Bình viết thư sang Việt Nam cho Ngô Thời Nhiệm nói rõ lẽ nên cùng nhau giảng hòa và Phúc Khang An cũng tình nguyện xin làm trung gian đứng ra điều đình giữa triều đình Việt Nam và triều đình nhà Thanh.

        Nắm lấy thời cơ ngoại giao thuận lợi, tháng Giêng Kỷ Dậu, Nguyễn Huệ cho Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Phác sang gặp Thang Hùng Nghiệp, tháng Hai năm Kỷ Dậu lại cho Ngô Thời Nhiệm sang Quảng Tây gặp Phúc Khang An. Biết rõ bọn tướng lĩnh nhà Thanh ở Quảng Đông, Quảng Tây còn đang trong cơn hoảng sợ sau trận thất bại thảm hại ở Việt Nam, việc điều động 50 vạn quân sang đánh Việt Nam chưa thể thực hiện ngay được, quan hệ với nhà Thanh có thể tạm thời hòa hoãn, Nguyễn Huệ được rảnh tay ở phía Bắc để lo đối phó với tình hình ở phía Nam.

        Cuối tháng Hai năm kỷ Dậu (1789), Nguyễn Huệ quyết định trở về Phú Xuân, trao binh quyền ở Bắc Hà cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Vũ Văn Dũng và trao toàn quyền giao thiệp với nhà Thanh cho Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy ích. Thượng tuần tháng Ba âm lịch, Nguyễn Huệ vào tới Nghệ An. Nguyễn Huệ cho Trần Quang Diệu làm tổng trấn Nghệ An và để lại đây một bộ phận lực lượng quân sự quan trọng, để khi căn thiết, có thể tiếp viện cho Bắc Hà, và đề phòng những bất trắc ở biên giới phía tây.

        Khoảng cuối tháng Ba đầu tháng Tư âm lịch, Nguyễn Huệ về tới Phú Xuân. Sự có mặt của Nguyễn Huệ ở Phú Xuân quả thật là cần thiết và rất kịp thời. Lợi dụng cơ hội Nguyễn huệ mắc bận ở Bắc Hà, trong những tháng đầu năm 1789, Nguyễn Ánh ở Gia Định đã tích cực chuẩn bị lực lượng để đánh ra Qui Nhơn, Phú Xuân. Nhưng tới tháng Năm nhuận âm lịch năm đó, Nguyễn Ánh được tin Nguyễn Huệ đã trở về Phú Xuân và đang đóng thêm thuyền chiến, chuẩn bị đánh vào Gia Định. Nguyễn Ánh đành phải bãi bỏ ý đồ tiến đánh quân Tây Sơn. Như thế là chiến sự đã bị đẩy lùi ở cả hai miền Nam Bắc, Nguyễn Huệ có thời gian và điều kiện lo tính những công việc nội bộ, tiễu trừ các toán tàn quân nhà Lê và ổn định đời sống nhân dân Bắc Hà.

        Nguyễn Huệ hạ chiếu khuyến nông, nhằm mục đích "phục hồi dân phiêu tán. khai khẩn ruộng đất bỏ hoang" và quy định đến tháng Chín Kỷ Dậu (1789), các xã trưởng phải lập sổ đinh điền khai rõ số nhân đinh phiêu tán đã trở về làm ăn, số ruộng đã được khai khẩn và số ruộng đất còn bỏ hoang. Để phục hồi tình hình công thương nghiệp trong nước, Nguyễn Huệ cho viết thư cho Phúc Khang An ở Quảng Tây yêu cầu "mở cửa ải, thông chợ búa, khiến cho hàng hóa không ngừng đọng để làm lợi cho dân dùng". Phúc Khang An phải cho mở các cửa ải Bình Nhi, Thủy Khẩu, Du Thôn để nhân dân hai nước Việt - Trung qua lại buôn bán. Tới năm 1790, Phúc Khang An lại nhận lời để lập một nha hàng (tức thương điếm) của nhà nước Việt Nam tại phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây.

        Cũng trong năm 1789, nhiều toán tàn quân của bọn phản động Lê Chiêu Thống đã bị tiễu trừ. Lê Ban quấy rối ở vùng Nghệ An bị quân đội Tây Sơn bắt sống và được tha về cho sồng tự do. Mấy anh em, cha con nhà họ Phạm hoạt động ở vùng Võ Giàng, Lạng Giang đều bị quân đội Tây Sơn đánh tan tác: Phạm Đình Cù, Phạm Đình Ninh bị bắt, Phạm Đình Phan tự tử. Bọn Dương Đình Tuấn quấy rối ở vùng Yên Thế cũng bị quân đội Tây Sơn truy nã ráo riết, phải lẩn trốn trong rừng. Không bao lâu, Dương Đình Tuấn chết, dư đảng của chúng tan. Trong các toán phản động còn lại ở Bắc Hà, có lực lượng hơn cả là bọn Lê Duy Chi, em ruột Lê Chiêu Thống. Chúng dựa vào một số tù trưởng thiểu số, hoạt động mạnh ở vùng Bảo Lạc, Mục Mã, Thái Nguyên. Tướng Tây Sơn Phan Văn Chuẩn đem quân từ Thăng Long lên đánh, đồng thời thông báo cho tri phủ Thái Bình (Trung Quốc) đem quân chặn giữ biên giới không để cho Lê Duy Chi trốn được sang đất Thanh. Bọn Lê Duy Chi bị thất bại phải lẩn trốn vào rừng.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #125 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:17:53 am »


        Đối với nhà Thanh, từ sau khi Ngô Thời Nhiệm gặp Phúc Khang An, việc giao thiệp giữa hai nước được tiến hành khẩn trương. Tháng Ba năm Kỷ Dậu (1789), một sứ bộ Việt Nam gồm có Nguyễn Quang Hiển, Võ Huy Tấn, Ngô Vi Quí, Nguyễn Đình Cử, lên đường sang Yên Kinh gặp Càn Long. Việt Nam trao trả cho nhà Thanh tám trăm tù binh. Nhà Thanh phải đem một số cựu thần nhà Lê là bọn Nguyễn Đình Bài cùng với gia đình họ, gồm khoảng ngót một trăm người trao trả cho quân đội Tây Sơn. Càn Long yêu cầu Nguyễn Huệ, lãnh tụ lây Sơn, (năm 1790), sang thăm Càn Long, nhân dịp lễ mừng thọ Càn Long 80 tuổi. Sứ bộ Việt Nam nhận lời. Cuối tháng Bảy năm Kỷ Dậu (1789), Càn Long làm chỉ dụ phong Nguyễn Huệ làm An-nam quốc vương. Tháng Một âm lịch, Càn Long cho sứ bộ mang chiếu phong vương sang Thăng Long. Ngô Thời Nhiệm cho người giả làm Nguyễn Huệ đứng ra nhận chiếu phong vương.

        Như vậy là trong năm 1789, tình hình Bắc Hà mới bước đầu ổn định, chưa phải là một hậu phương vững mạnh để có thể tiến hành được một cuộc chiến tranh mới. Đối với nhà Thanh, mối quan hệ bang giao tuy có được cải thiện nhiều, nhưng bọn phản động Lê Chiêu Thống vẫn được bọn phong kiến nhà Thanh nuôi dưỡng trên đất Thanh. Nạn xâm lăng vẫn còn đe dọa nhân dân Việt Nam và có thể xảy ra, nếu chính quyền Tây Sơn không giải quyết được những khó khăn ở trong nước.

        Ở phía Nam, trong khi Nguyễn Huệ chưa có điều kiện đem quân vào đánh Gia Định thì Nguyễn Ánh ở Gia Định cũng tích cực tăng cường lực lượng của hắn. Từ đầu năm 1789, Nguyễn Ánh đã có 6 sĩ quan Pháp, hầu hết là từ Ma Cao tới, để giúp việc huấn luyện binh sĩ 1. Tháng 7 năm 1789, giám mục Bá Đa Lộc và con Nguyễn Ánh là Cảnh, sau hơn 4 năm sang Pháp cầu viện đã về tới Gia Định. Tại Pháp, Bá Đa Lộc và triều đình Pháp đã mưu đồ ký một hiệp ước, ngày 28 tháng 11  năm 1787 tại Véc-xai-ơ (Versailles), trong đó vua Pháp nhận giúp Nguyễn Ánh bốn tàu chiến, 1.650 quân cùng súng ống đạn dược cần thiết và Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Ánh xin cam kết mấy điều:

        1. Nguyễn Ánh xin nhường hẳn cho Pháp đảo Côn Lôn và cửa biển Hội An.

        2. Sau khi đã khôi phục được chính quyền, Nguyễn Ánh phải trả lại cho Pháp bốn chiếc tàu chiến mới như Pháp đã giúp mỗi, năm một chiếc.

        3. Nguyễn Ánh phải để cho người Pháp có đặc quyền vào buôn bán ở Việt Nam và không được để một người Âu châu nào khác tới giao thương ở Việt Nam.

        4. Khi nào Pháp có chiến tranh ở phương Đông, Nguyễn Ánh phải cung cấp đủ thứ: lính bộ, lính thủy, tàu bè, lương thực cho Pháp.

        Với bản hiệp ước nhục nhã trên đây, tư bản Pháp bắt đầu đi sâu vào âm mưu xâm lược Việt Nam. Giám mục Bá Đa Lộc là kẻ tích cực đưa đường cho chủ nghĩa thực dân Pháp vào Việt Nam và tên phản bội Nguyễn Ánh, tham chiếc ngai vàng, đã cam tâm dâng đất, xin làm tôi tớ cho người nước ngoài.

        Nhưng bản thân nước Pháp lúc ấy cũng đang ở trong tình trạng rối ren. Cuộc cách mạng tư sản Pháp sắp sửa bùng nổ, triều đình Pháp còn phải lo tự vệ, không có quân đâu gửi sang Gia Định. Việc giúp Nguyễn Ánh, triều đình Pháp trao cho toàn quyền Pháp ở Pông-đi-sê-ry là Đờ Công-vay lo liệu. Nhưng toàn quyền Pháp ở Pông-đi-sê-ry cũng đang lo những bất trắc có thể xảy ra, nên hắn không chịu sẻ một phần lực lượng vũ trang của hắn cho Bá Đa Lộc đem đi nơi khác. Tuy vậy, Đờ Công-vay vẫn tạo điều kiện cho Bá Đa Lộc có tàu bè, khí giới và một số quân tình nguyện đem đi giúp Nguyễn Ánh. Bá Đa Lộc và Hoàng Tử Cảnh đã đưa được hai mươi võ quan cùng năm trăm lính Pháp2 và một số tậu bè, khí giới về Gia Định.

        Với sự khuyến khích của Bá Đa Lộc, những võ quan Pháp này, sau khi đặt chân tới Gia Định, đã nỗ lực giúp đỡ Nguyễn Ánh xây dựng thêm pháo binh và củng cố thủy quân. Tháng 9 năm 1789 Nguyễn Ánh đóng thêm hơn bốn mươi thuyền chiến hạng lớn và hơn một trăm thuyền đi biển. Nguyễn Ánh lại mộ thêm các sĩ quan Bồ Đào Nha từ Ma Cao tới. Khí thế quân Nguyễn ngày càng được nâng lên. Cùng đi với Bá Đa Lộc tới Gia Định, còn có bảy giáo sĩ Pháp. Phần lớn những giáo sĩ này đều có tham gia vào những chiến dịch chống Tây Sơn sau này. Trong số những giáo sĩ ấy, có một người là Boa-xơ-răng (Boisserant) thông thạo vật lý học. Boa-xơ-răng thường làm những thí nghiệm về điện và thả những khinh khí cầu lên trời để gây hoang mang trong nhân dân, lòe bịp nhân dân là trong quân đội nhà Nguyễn có những người Pháp có pháp thuật cao cường giúp đỡ. Trước tình hình quân địch ở Gia Định như vậy, Nguyễn Huệ nhất thiết phải có thời gian để chuẩn bị một lực lượng mạnh có thể đánh địch một cách chắc thắng.

--------------
        1. Thư của giáo sĩ Tây Ban Nha Castuera viết từ Chợ Quán (Gia Định) ngày 11 tháng 6 năm 1789 - B.E.S.E.I, nouv. sér. tome XV, n0s 3-4. 1940. p. 101.

        2. M. ??spert, Histoire des Missions dominicaines au Tonkin, Avila, 1928, p. 513.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #126 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:19:07 am »


        Đối với nhà Thanh, việc ngoại giao thân thiện vẫn cần phải tiếp tục. Đầu năm 1790, Ngô Thời Nhiệm lấy một võ tướng là Nguyễn Quang Thực, người làng Mạc Điền, huyện Nam Đường, trấn Nghệ An1, giả làm quốc vương Nguyễn Huệ, cầm đầu phái đoàn gồm 150 người sang giao hiếu với nhà Thanh, nhằm mục đích thăm dò thái độ của nhà Thanh đối với chính quyền Tây Sơn và cách xử sự của nhà Thanh đối với bọn phản động Lê Chiêu Thống. Ngày 29 tháng Giêng năm Canh Tuất (1790)2, phái bộ lên đường sang Yên Kinh. Phúc Khang An cùng các tướng lĩnh và quan lại nhà Thanh ai cũng biết quốc vương Việt Nam cầm đầu phái bộ này không phải là Nguyễn Huệ, nhưng không ai dám nói ra3. Phái bộ Việt Nam được nhà Thanh tiếp đón vô cùng long trọng. Ngày 29 tháng Một âm lịch (Mười một âm lịch) năm đó phái bộ mới trở về tới Thăng Long. Phái bộ này đã có ảnh hưởng lớn tới thái độ của nhà Thanh. Tháng Tư năm Tân Hợi (1791), triều đình nhà Thanh cho đem đày bọn cựu thần nhà Lê đi các nơi. Còn Lê Chiêu Thống và gia đình hắn đều bị giam lỏng tại "Tây an-nam dinh" trong kinh thành Yên Kinh. Như thế là với thực lực của quân đội Tây Sơn và với tài ngoại giao của các tướng lĩnh Tây Sơn, mưu đồ phục thù của bọn xâm lược nhà Thanh bị đẹp tan.

        Yên tâm về việc bang giao với phía Bắc, Nguyễn Huệ quyết định đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức lực lượng vũ trang để trước hết thanh toán mọi thế lực phản động ở Bắc Hà và tiến tới giải phóng miền Gia Định khỏi ách thống trị của Nguyễn Ánh. Trong khi đó, bọn phản động Lê Duy Chi cũng hoạt động mạnh. Được sự giúp sức của bọn tù trưởng Nông Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng ở vùng Cao Bằng, Tuyên Quang, Lê Duy Chi và bọn cựu thần nhà Lê là Nguyễn Đình Lượng lại tìm cách câu kết với những thế lực phong kiến nước ngoài, có bất mãn với chính quyền nông dân Tây Sơn ở Việt Nam. Bọn phong kiến Xiêm, từ sau trận thua cay ở Rạch Gầm - Xoài Mút, vẫn có ý muốn phục thù, tiến đánh nghĩa quân Tây Sơn. Lúc ấy, nước Xiêm đang nắm quyền khống chế nước Vạn Tượng. Xiêm đang tìm cách dụ dỗ tù trưởng các xứ Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quí Hợp (thuộc Việt Nam) theo về mình để chống lại Tây Sơn. Bọn phản động Lê Duy Chi ở Bắc Hà và các thế lực phản động ở Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quí Hợp, Vạn Tượng, Xiêm La đã liên hệ được với nhau.

        Bọn phong kiến Xiêm lại bắt liên lạc với Nguyễn Ánh ở Gia Định. Mưu đồ câu kết của các thể lực phản động trong nước ngoài nước lần này là muốn mở một cuộc tổng công kích vào quân đội nông dân Tây Sơn ở khắp các mặt. Bọn phản động Lê Duy Chi sẽ từ trên đánh xuống. Bọn phản động Nguyễn Ánh sẽ từ phía dưới đánh lên và phía biển đánh vào. Những quân đội phản động Xiêm, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quí Hợp sẽ từ phía tây đánh vào Nghệ An, Thanh Hóa. Chúng có thể phát động thêm những lực lượng phản động ở Nghệ An, Bắc Hà nổi lên để phối hợp hành động với chúng. Mưu đồ tổng công kích này khá lớn, khá quy mô, có thể gây nguy hiểm cho quân đội Tây Sơn và chính quyền Tây Sơn. Trong khối câu kết phản động này, người ta thấy vắng bóng quân Thanh xâm lược cũng là do chính sách ngoại giao khéo léo của chính quyền Tây Sơn đã trung lập hóa được bọn vua tôi nhà Thanh.

        Đứng trước mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền an ninh của Tổ quốc, Nguyễn Huệ quyết định đập tan sự câu kết của các thế lực phản động trong nước và ngoài nước.

---------------
        1. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 374. Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập là sách viết sau Hoàng Lê nhất thống chí lại nói người giả làm Nguyễn Huệ là Phạm Công Trị, cháu gọi Nguyễn Huệ bằng cậu, nhưng không có những chi tiết cụ thể đáng tin hơn.

        2. Phan Huy ích, Dụ am thi văn tập, Sách chữ Hán, bản chép tay của Viện Sử học, ký hiệu H. V. 167, q. I.

         3. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 374.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #127 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:20:30 am »


        Tháng Sáu năm Canh Tuất (1790), Nguyễn Huệ cho lập sổ đinh để tuyển lính và cứ ba suất đinh lấy một người ra tòng quân. Nguyễn Huệ lại cho đóng nhiều thuyền chiến và nhiều tàu lớn có thể chở voi đi đường biển được1. Đầu năm 1791, Nguyễn Huệ cho người đi sang các xứ Trấn Ninh, Trịnh Cao, Qui Hợp và nước Vạn Tượng để thông hiếu và thăm dò tình hình. Đoàn sứ giả Tây Sơn tới Vạn Tượng thì bị vua Vạn Tượng bắt giữ và giải sang Xiêm.

        Tháng Năm âm lịch năm 1791 vua Xiêm cho sứ thần là Sa-lật-vằn-trì Khôn-sĩ-thi-na đem sản vật và cờ trống của Tây Sơn sang Gia Định biếu Nguyễn Ánh để khuyến khích Nguyễn Ánh tiến đánh Tây Sơn.

        Cũng trong lúc này, một nhóm cựu thần nhà Lê mưu loạn ở huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An2 do Trần Phương Bính cầm đầu. Đã đến lúc cần phải hành động kiên quyết, Nguyễn Huệ mở cuộc tiến công lớn vào các tập đoàn phản động trong nước và ngoài nước. Con trai Nguyễn Huệ là Nguyễn Quang Thùy cùng các tướng lĩnh Tây Sơn ở Thăng Long được trao trách nhiệm tiến đánh bọn Lê Duy Chi.

        Đốc trấn Nghệ An là Trần Quang Diệu và đô đốc Lê Văn Trung3 được trao trách nhiệm dẹp loạn ở Nghệ An và tiến đánh các xứ Trấn Ninh, Trịnh Cao, Quì hợp, Vạn Tượng. Tại Thăng Long, Nguyễn Quang Thùy cùng điều bát4 Lợi đem quân lên Bảo Lạc, được một tướng người thiểu số là quận Diễn ở Tụ Long dẫn đường, đã đánh bắt được toàn bộ bọn phản động Lê Duy Chi, Nông Phúc Tấn, Hoàng Văn Đồng. Bọn này bị đưa về Phú Xuân chịu tội.

        Tại Nghệ An, sau khi tiêu diệt bọn phiến loạn Trần Phương Bính tại xã Bình Lãng, ven núi Hồng Lĩnh, Trần Quang Diệu đem ba vạn quân5 sang đánh các tập đoàn phản động ở phía tây. Tháng Sáu năm Tân Hợi (1791).

        Trần Quang Diệu tiến đánh Trấn Ninh bắt được các tù trưởng xứ đó là thiệu Kiểu, thiệu Đế6. Tháng Tám, Trần Quang Diệu đánh thắng hai xứ Trịnh Cao, Qui Hợp. Tháng Mười âm lịch, quân Tây Sơn tiến vào Vạn Tượng. Vua Vạn Tượng là Chao Nan7 không thể đương đầu nổi phải bỏ trốn. Trần Quang Diệu vào thành Viêng Chăn và cho quân truy kích Chao Nan. Quân Tây Sơn đánh đuổi quân Vạn Tượng tới biên giới nước Xiêm. Quân Vạn Tượng bị đánh tan. Các tướng Vạn Tượng là tả phan Dung, hữu phan Siêu đều bị chết tại trận. Vua Vạn Tượng Chao Nan chạy trốn sang Xiêm.

        Việc quân đội Tây Sơn tiêu diệt toàn bộ bọn phản động Lê Duy Chi, đánh thắng Trấn Ninh, Trịnh Cao, Qui Hợp, Vạn Tượng, tiến tới sát biên giới Xiêm làm khiếp sợ các thế lực phản động ở phía Nam Việt Nam. Bọn phong kiến Xiêm và bọn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định không dám đem quân ứng cứu Vạn Tượng.

-------------------
        1. Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 373.

        2. Huyện Thiên Lộc nay là huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

        3. Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 388. Đại Nam chính biên liệt truyện, sơ tập, q. 33, chép phó tướng là đô đốc Nguyễn Văn Uyển.

        4. Điều bát là một chức quan, chưa rõ thứ bậc và nhiệm vụ như thế nào.

        5. Đại Nam chính liên liệt truyện, sơ tập, q. 33 chép là hơn 1 vạn quân, quyển 30 chép là 5 nghìn quân. Thư của Le Labousse ngày 16 tháng 6 năm 1792 viết là 3 vạn quân.

        6. Thiệu là phiên âm chữ Hán, cũng có nghĩa như chiêu, chiếu, chao, chẩu để chỉ các vua chúa, tù trưởng ở các miền người Thái.

        7. Các tài liệu của ta thường viết là Chiêu Ấn. Nhưng theo lịch sử Lào thì lúc ấy vua Vạn Tượng là Chao Nan tức Nanthasène làm vua từ 1781 đến 1794. Còn Chiêu Ấn tức Intharavon, hoặc Sai Setthathirat III làm vua từ 1795 đến 1804.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #128 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:21:50 am »

       
        Chân Lạp vẫn là đồng minh cũ của Tây Sơn, nhiệt liệt hoan nghênh những chiến thắng mới của quân đội Tây Sơn, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng phối hợp chiến đấu1 nếu quân đội Tây Sơn từ biên giới Vạn Tượng tiến sang đánh Xiêm hay đánh Gia Định.

        Bọn giáo sĩ Pháp ở Gia Định lo sợ cuống cuồng, chuẩn bị tìm đường chạy trốn2. Nhưng, nhiệm vụ của đạo quân Tây Sơn do Trần Quang Diệu chỉ huy, tới đây hoàn thành. Đầu năm 1792, Trần Quang Diệu đưa quân từ Vạn Tượng rút về Nghệ An. Như thế là khối câu kết giữa các thế lực phản động trong nước và ngoài nước nhằm tổng công kích quân đội Tây Sơn hùng mạnh bị phá tan nhanh chóng. Đầu năm 1792, quân đội Tây Sơn tiêu diệt nốt một toán phản động nhà Lê cuối cùng ở Bắc Hà là bọn Trần Quang Châu ở vùng Kinh Bắc. Trần Quang Châu bị bắt sống. Tình hình Bắc Hà hoàn toàn ổn định.

        Năm 1792 là năm Nguyễn Huệ có đầy đủ điều kiện thuận lợi để thực hiện kế hoạch tiến đánh tập đoàn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định. Nhưng trước khi tiến quân vào Nam, vẫn có một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt là việc đối phó với nhà Thanh, làm thế nào để quân Thanh không mưu đồ xâm lược Bắc Hà, trong khi Nguyễn Huệ và quân đội Tây Sơn mắc bận ở Gia Định. Để chặn giữ những bất trắc ấy không thể xẩy ra, Nguyễn Huệ đã cho thi hành một số biện pháp như sau.

        - Về ngoại giao, đầu năm 1792, sau những chiến thắng ở phía tây, Nguyễn Huệ cho người đem tặng phẩm sang biếu nhà Thanh. Tặng phẩm gồm có: những chiến lợi phẩm lấy được ở Vạn Tượng, những sách binh thư Việt Nam và một quyển sử viết về triều đại thối nát Lê Chiêu Thống3. Những tặng phẩm ấy vừa có ý nghĩa biểu dương sức mạnh của quân đội Tây Sơn, vừa nói lên lòng tự hào về nghệ thuật quân sự của dân tộc mình, vừa vạch rõ cho bọn phong kiến nhà Thanh biết rằng những hành động theo gót bọn phản động nhà Lê, xâm lược Việt Nam là trái với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, không thể được nhân dân Việt Nam ủng hộ và nhất định phải thất bại.

        Tiếp theo đó, Nguyễn Huệ cho người sang giao thiệp với nhà Thanh nêu vấn đề đòi lại một số đất cũ ở vùng biên giới mà các triều đại phong kiến phương Bắc trước đây đã chiếm đoạt mất4. Thời ấy cũng có tin đồn Nguyễn Huệ muốn đòi đất hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Nhưng sử cũ cũng đã ghi rõ "đó không phải là bản tâm của của Quang Trung"5. Lúc này, Nguyễn Huệ tập trung mọi chú ý vào việc thực hiện kế hoạch tiến đánh Gia Định, vấn đề đòi đất nhà Thanh được nêu lên chỉ nhằm mục đích làm cho bọn phong kiến nhà Thanh phải bận tâm về những vấn đề ngoại giao6, không tính toán được tới những hành động võ sang xâm lược, trong khi Nguyễn Huệ và quân đội Tây Sơn tiến hành cuộc chiến tranh chống nội phản ở Gia Định.

-----------------------
        1, 2. Thư của Le Labousse ngày 16 tháng 6 năm 1792, Arch, M - E, 746, p. 359.

        3. Ngụy Nguyên, Thánh vũ ký, q. 6, tờ 41.

        4. Xem những bài biểu về vấn đề đòi đất trong Tây sơn bang giao tập và Quang Trung, anh hùng dân tộc Của Hoa Bằng.

        5. Ngô gịa văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 385.

        6. Hoàng Lê nhất thống chí và một vài tài liệu khác có nói đến việc Nguyễn Huệ cho "Vũ văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn". Sự việc này không rõ có thật không, vì lúc này Nguyễ Huệ đã 40 tuổi mà đặ vấn đề cầu hôn thì có vẻ ngang trái quá. Nhưng có điều chắc chắn rằng khoảng đầu năm 1792, bà hoàng hậu vợ cả Nguyễn Huệ ốm nặng và chết (Thư của Le Labousse ngày 16 tháng 6 năm 1792). Có thể là Nguyễn Huệ đã cho người sang Thanh báo tang hoàng hậu Việt Nam. Nhân đấy, cũng có thể là sứ giả việt Nam đã có ý định đặt vấn đề ướm hỏi cầu hôn để làm khó xử thêm cho nhà Thanh về mặt ngoại giao.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23700


« Trả lời #129 vào lúc: 27 Tháng Chín, 2016, 08:29:23 am »


        Về quân sự, Nguyễn Huệ chủ trương liên kết và giúp đỡ những tổ chức nghĩa quân Trung Quốc đang chống nhau với nhà Thanh, khiến triều đình nhà Thanh phải lo đối phó
 với họ, không rảnh tay để nhòm ngó Bắc Hà. Tại nội địa Trung Quốc, Nguyễn Huệ liên kết với các tổ chức Thiên địa hội ở Tứ Xuyên1. Tại vùng duyên hải Quảng Đông, Phúc Kiến, Nguyễn Huệ liên kết vớt các toán nghĩa quân mà bọn phong kiến đương thời gọi là "giặc tàu ô" (tàu ô nghĩa là thuyền sơn đen) và sử sách nhà Nguyễn sau này gọi họ là giặc biển Tề ngôi. Những nghĩa quân Trung Quốc ở miền duyên hải là một lực lượng tương đối quan trọng. Họ có hơn một trăm thuyền chiến. Nguyễn Huệ đã phong cho mười hai người thủ lĩnh của họ làm tổng binh và ban bằng sắc, ấn tín Việt Nam cho họ2. Những toán nghĩa quân này sẽ một mặt đánh phá các miền duyên hải Trung Quốc giữ chân quân đội nhà Thanh không cho chúng xâm lấn Bắc Hà, một mặt theo lệnh của Nguyễn Huệ tiến xuống vùng ven biển Bình Khang, Bình Thuận, hợp tác với quân đội của Nguyễn Nhạc cùng đánh phá vùng duyên hải Gia Định.

        Sau khi thi hành mọi biện pháp đối phó với nhà Thanh, Nguyễn Huệ ấn định kế hoạch tiến đánh Gia Định như sau:

        1. Quân thủy bộ của Nguyễn Nhạc và quân "tàu ô" sẽ từ Qui Nhơn, Bình Khang, Bình Thuận đánh thẳng vào Biên Hòa, Gia Định3.

        2. Bộ binh của Nguyễn Huệ sẽ từ Phú Xuân, theo đường núi xuống Nam Vang, phối hợp với quân Chân Lạp, đánh vào sau lưng Sài Gòn và chặn giữa đường biên giới Chân Lạp4.

        3. Thủy quân của Nguyễn Huệ sẽ tiến thẳng vào tận Côn Lôn, Hà Tiên, theo đường Long Xuyên, Kiến Giang, đánh ngược lên Sài Gòn5 và chặn mọi ngả đường không cho bọn Nguyễn Ánh chạy trốn ra các hải đảo và chạy trốn sang Xiêm.

        Từ những tháng đầu năm 1792, Nguyễn Ánh đã được tin rằng Nguyễn Huệ đang chuẩn bị một lực lượng lớn gồm "hơn hai ba mươi vạn người"6 để đánh vào Gia Định. Các giáo sĩ Pháp ở Gia Định cũng phải thừa nhận rằng Nguyễn Huệ lúc này hùng mạnh hơn bao giờ hết và chắc chắn sẽ đàn áp được Nguyễn Ánh, nếu Nguyễn Ánh không có những biện pháp phi thường nào đó để đối phó lại7.

        Với một lực lượng hùng hậu, với một kế hoạch chặt chẽ như trên, Nguyễn Huệ quyết tâm tiêu diệt toàn bộ tập đoàn phản động Nguyễn Ánh ở Gia Định, tiến công chúng trên mọi mặt, mọi hướng, bít mọi ngả đường, không cho chúng trốn thoát khỏi Gia Định như các lần trước. Kế hoạch định xong, nhưng lúc ấy đã là mùa hè, mùa gió nồm thổi mạnh, không thuận lợi cho việc tiến quân vào Nam, quân đội Tây Sơn phải chờ tới vụ đông xuân mới xuất phát.

        Trong thời gian chờ đợi đó, Nguyễn Huệ đã cho 40 thuyền chiến của quân "Tề ngôi" (Trung Quốc) đi trước vào vùng Bình Khang, Bình Thuận cùng với quân đội Nguyễn Nhạc đánh phá vùng ven biển Gia Định8. Tháng Năm năm Nhâm Tý (1792), Nguyễn Ánh phải cho tả quân phó tướng Nguyễn Long đem binh thuyền đi phòng giữ các cửa biển. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Nhạc đã tích cực chuẩn bị lực lượng, đóng thêm nhiều thuyền chiến để ở cửa biển Thị Nại9, nhằm phối hợp với quân đội của Nguyễn Huệ trong kế hoạch tiến công sắp tới.

----------------
       1, 2. Hoàng Lê nhất thống chí, Bản dịch đã dẫn, tr. 383. Đại Thanh thực lục, q. 13, tờ 6b.

        3. Đại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, t. II, tr. 157 - 158.

        4, 5. Đại Nam thực lục, Bản dịch đã dẫn, t. II, tr. 155.

        6, 8, 9. Đại Nam thực lục, Bản dịch đã dẫn, t. II, tr. 157-158.

        7. Thư của giáo sĩ Liot viết từ Tân triều (Gia Định) ngày 18 tháng 7 năm 1792, Arch, M - E, 744, p. 392.
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM