Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 21 Tháng Hai, 2020, 04:37:44 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ  (Đọc 26993 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:49:54 AM »

        - Tác giả: Nguyễn Lương Bích
        - Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
        - Năm xuất bản: 1977
        - Số hoá: tuaans
        - Hiệu đính: Giangtvx  



LỜI GIỚI THIỆU

        Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, một anh hùng của dân tộc.

        Khởi nghĩa Tây Sơn là một cuộc chiến tranh nông dân chống chế độ đương trị hà khắc của phong kiến Trịnh - Nguyễn, đồng thời cũng là cuộc chiến tranh giải phóng để bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta, bảo vệ sự thống nhất của đất nước ta.

        Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã góp một phần lớn lao vào lịch sử võ công của dân tộc ta, và đã đóng góp nhiều kinh nghiệm phong phú vào lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, làm giàu thêm cho kho tàng lý luận đấu tranh vũ trang của nhân dân ta.

        Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn mà linh hồn là vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ là biểu hiện cụ thể của tinh thần anh hùng quật cường bất khuất, tài thao lược trí dũng của dân tộc ta. Cuốn sách này đã nói lên được điều đó đồng thời cũng đã giới thiệu được những kinh nghiệm đầu tranh vũ trang quý báu của dân tộc ta để cho chúng ta học tập và vận dụng một cách thắng lợi vào công cuộc đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ và bọn tay sai hiện nay.

        Đúng như cái tên của nó, cuốn sách đi sâu vào việc trình bày và phân tích những vấn đề quân sự của nghĩa quân Tây Sơn và của Nquyễn Huệ. Cuốn sách đã trình bày được tương đối tỉ mỉ diễn biến của cuộc chiến tranh và của từng trận đánh. Tài liệu được sưu tầm tương đối đầy đủ, giúp cho người đọc hiểu được rõ ràng hơn, có căn cứ hơn về tình hình quân sự thời đó.

        Điều đáng chú ý là người viết không những chỉ trình bày diễn biến, mà còn tôn lên một bước nữa phân tích được những sự việc đã xảy ra. Do phân tích tỉ mỉ và nắm được mặt quân sự người viết đã nêu ra được một số nguyên tắc về quân sự, qua đó người xem nhận thức được rõ và sâu hơn về các vấn đề chiến lược, chiến thuật cúa nghĩa quân Tây Sơn và tài chỉ huy bản lĩnh quân sự cao cường của Nguyễn Huệ.

        Muốn tìm hiểu nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Tây Sơn và thiên tài qluân sự của Nguyễn Huệ, cần căn cứ vào điều kiện xã hội của nước Việt Nam lúc bấy giờ, tính chất của hoạt động quân sự của thời đại đó, và tình hình lực lượng so sánh giữa các tập đoàn quân sự đối lập hồi đó.

        Do điều kiện chính trị thời bấy giờ, xã hội Việt Nam bị chia cắt thành hai miền Nam Bắc do hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn thống trị và đấu tranh liên tục với nhau.

        Do đó mà tình hình kinh tê rất khó khăn, bị ngừng trệ, xã hội không phát triển, nhân dân bị áp bức bóc lột nặng nề, đời sống vô cùng cực khổ. Đó là điều kiện xã hội, điều kiện khách quan của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

        Nghĩa quân là những người nông dân bị áp bức vươn mình nổi dậy với khí thế bừng bừng của một tinh thần quyết tử chiến đấu để giải phóng cho mình.

        Đội quân đó đã được sự tham gia và ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân khác.

        Đó là những cơ sở tạo nên sức mạnh của nghĩa quân.

        Về phía quân thù thì lực lượng thống trị bị chia rẽ và có nhiều mâu thuẫn, xung đột với nhau.

        Nội bộ của từng tập đoàn phong kiến thống trị cũng luôn luôn lục đục, tranh giành quyền lợi, địa vị, vơ vét bóc lột nhân dân; các mặt chính trị, quân sự, kinh tế không được xây dụng, củng cố.

        Nhân dân và quân lính đều chán ghét và căm thù chúng.

        Đó là cái yếu cơ bản của bọn thống trị.

        Trên đây là những điều kiện khách quan cho việc đề ra đường lối chính trị và quân sự của nghĩa quân.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #1 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:51:33 AM »

       Về chủ quan, bộ chỉ huy nghĩa quân đã biết căn cứ vào điều kiện thực tế đó giữa địch và ta mà đề ra được đường lối chính trị và quân sự đúng đắn và biết chỉ đạo thực hiện một cách khéo léo và đã thành công.

        Nguyễn Huệ, người lãnh tụ xuất sắc của nghĩa quân, đã biết lợi dụng và phát huy những chỗ mạnh của mình và lợi dụng chỗ yếu của địch để lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng và chỉ huy các trận đánh một cách tài giỏi.

        Trong lịch sử chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta, tùy điều kiện lịch sử có thể khác nhau mà mỗi cuộc chiến tranh đều có những điểm chung giống nhau và cũng có những điểm riêng khác nhau.

        Những điểm chung giống nhau là chính nghĩa thắng phi nghĩa, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều và dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân, v,v.

        Còn những điểm khác nhau thì thường là về phương pháp tiến hành chiến tranh.

        Lý Thường Kiệt lấy tiến công trước, đánh phủ đầu để phá tan âm mưu xâm lược của địch.

        Trần Hưng Đạo thì dử địch vào sâu rồi phản công tiêu diệt chúng.

        Lê Lợi thì đánh từ nhỏ đến lớn, dùng kế lâu dài để giành lấy thiên hạ.

        Nguyễn Huệ thì tiến nhanh đánh mạnh, dùng đòn bất ngờ áp đảo để chiến thắng quân địch.

        Thật là mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.

        Nguyễn Huệ đã sáng tạo phát triển thêm một lối đánh mới.

        Đến thời đại Nguyễn Huệ thì nghệ thuật quân sự của dân tộc ta được giàu có thêm và càng được toàn vẹn hơn.

        Nghĩa quân Tây Sơn cũng tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa thắng phi nghĩa, yếu thắng mạnh, ít thắng nhiều, đánh lâu dài, đánh từ khó đến lớn, v,v ... như những cuộc chiến tranh giải phóng khác của nhân dân ta, nhưng trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc đó, tinh thần chiến đấu của quân đội cũng như khí thế cách mạng của quần chúng rất cao, trong khi kẻ địch là các tập đoàn phong kiến thống trị trong nước đang hủ bại, yếu đuối và mâu thuẫn, lục đục với nhau.

        Trong điều kiện như thế, vấn đề yếu thắng mạnh, đánh từ nhỏ đến lớn cũng có những điểm khác; có những cho không giống như nghĩa quân Lam sơn.

        Nguyễn Huệ đã phát huy được cái tinh thần quật khởi của một đội nghĩa quân. Nghĩa quân Tây Sơn đã phát huy được thế tấn công liên tục, vươn lên một cách nhanh mạnh, đánh những đòn mạnh mẽ, làm cho lực lượng lớn lên không ngừng và nhanh chóng.  

        Điều đó khác với nghĩa quân Lam Sơn, lúc đầu phải chống chọi với một quân thù lớn mạnh hơn mình gấp bội, nên phải trải qua một thời kỳ đầu chiến đấu gian khổ, một thời kỳ phòng ngự lâu dài, rồi mới tiến lên giành thế tiến công được.

        Còn về đánh lâu dài, thì nghĩa quân Tây Sơn cũng có điểm khác với nghĩa quân Lam Sơn.

        Từ khi bắt đầu khởi nghĩa năm 1771 cho đến năm 1789 đánh tan quân xâm lược nhà Thanh, nghĩa quân Tây Sơn phải trải qua 18 năm trời mới giành được thắng lợi. Nhưng cho đến khi Nguyễn Huệ mất năm 1792, bọn phản động đối địch vẫn còn có cơ sở ở trong nước để chống lại phong trào và tiến tới phá hoại phong trào.

        Còn nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu nổi dậy từ năm 1418 cho đến năm 1427, tiêu diệt được đạo quân của Liễu Thăng, thì giải phóng được đất nước. Như thế là mất 10 năm trời.

        Hai thứ lâu dài đó đều có điều kiện khách quan và chủ quan khác nhau.

        Tây Sơn đánh với các tập đoàn phong kiến thống trị trong nước, có nhiều bè đảng, thế lực khác nhau. Mỗi lãnh tụ phong kiến, tù trưởng nắm lực lượng một vùng, giữ quyền lợi một vùng.

        Việc thống nhất đoàn kết toàn dân ở đây cũng có chỗ khác nhau với việc thống nhất, đoàn kết toàn dân khi chống bọn xâm lược nước ngoài.

        Ngoài ra, một số tên phong kiến vô sỉ lại đi câu kết với các thế lực phản động nước ngoài. Do đó mà chúng cũng có một chỗ dựa nhất định để chống lại nghĩa quân.

        Về phía chủ quan của nghĩa quân, các lãnh tụ Tây Sơn đã có một đường lối, chính sách đoàn kết, tập hợp cán bộ đúng đắn chưa? chính sách cô lập kẻ thù đầu sỏ, trung lập các phần tử lừng khừng, lôi kéo các phần tử trung gian, v,v, như thế nào? Đó còn là vấn đề cần nghiên cứu thêm. Nhưng ở đây chúng ta cũng thấy vấn đề thống nhất đất nước và việc giải quyết nạn cát cứ của các tập đoàn phong kiến thời Tây Sơn cũng có những điểm khác nhau với những vấn đề ấy ở thời 12 sứ quân cát cứ.

        Nghiên cứu các diều kiện trên đây, chúng ta có thể hình dung được phần nào một số điểm khác nhau về đánh lâu dài, yếu đánh mạnh, ít đánh nhiều, đánh từ nhỏ đến lớn giữa nghĩa quân Tây Sơn với một số cuộc chiến tranh giải phóng khác.

        Với những đặc điểm của cuộc khởi nghĩa, với sở trường tài năng chỉ huy của Nguyễn Huệ, nghệ thuật quân sự của nghĩa quân Tây Sơn cũng có những điểm độc đáo.

        Tư tưởng quân sự của Nguyễn Huệ có tính tích cực và kiên quyết. Nghệ thuật tác chiến của ông là tiến nhanh đánh mạnh, dùng thế bất ngờ đánh đòn quyết định.

        Cách đánh của ông là đánh tập trung, đối chọi mặt giáp mặt, với kiểu đột kích nhiều mặt, kết hợp đột phá trước mặt với bao vây vu hồi.

        Đó là điểm nổi bật và cũng là sở trường quân sự của Nguyễn Huệ. Mỗi một cuộc hành binh, mỗi một trận đánh trong thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa cho đến thời kỳ cuối của cuộc chiến tranh giải phóng, Nguyễn Huệ đều tập trung lực lượng đánh thẳng vào tập đoàn chủ yếu của địch, dàn quân ra mặt đối mặt với địch.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #2 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:52:48 AM »


        Thế trận của ông do sử dụng tài tình đội hình trung quân, và tả, hữu quân mà hình thành. Ông thường dùng đội chủ quân, do chủ tướng chỉ huy, đánh thẳng vào mặt chính trận địa của địch.

        Ngoài đạo chủ quân ra, còn có các mũi đánh vào các hướng khác nhau của trận địa địch, hình thành thế bao vây vu hồi.

        Trong các mũi này có một mũi hiểm đánh vào chỗ quan trọng trong tập đoàn chủ yếu của địch, kết hợp với các mũi khác và tác dụng với mũi chủ quân tạo thành thắng lợi quyết định cho trận đánh.

        Trong trận đánh quân Trịnh ở Phú Xuân và trận đại phá quân Thanh ở Thăng Long, cách đánh này đã được thể hiện tương đối rõ nét.

        Trong trận Phú Xuân, Nghiễn Huệ thân tự chỉ huy đạo chủ quân đánh theo đường bộ, vượt qua phòng tuyến của quân Trịnh ở đèo Hải Vân, rồi tiến đánh thành Phú Xuân.

        Mũi thứ hai là mũi quan trọng đi theo đường biển đánh vào Phú Xuân. Mũi thứ ba là mũi vu hồi đi theo đường biển đánh vào phòng tuyến sông Gianh.

        Trong trận đại phá quân Thanh ở Thăng Long, Nguyễn Huệ tự chỉ huy đạo chủ quân, theo đường số 1, đánh vào mặt chính Hà Hồi, Ngọc Hồi rồi tiến vào Thăng Long.

        Mũi thứ hai là mũi quan trọng có tính chất bao vây đánh vào chỗ hiểm của địch ở Khương Thượng. Mũi thứ ba là đánh bao vây bên phải đánh vào Khoái châu, Văn Giang (Hưng Yên); và mũi thứ tư là mũi vu hồi chiến luợc đánh vào Phượng Nhỡn, Bắc Giang.

        Thế trận của Nguyễn Huệ rất mạnh mà lại rất kín. Luôn luôn ông tìm cách bao vây, cô lập và chia cắt tập đoàn chủ yếu của quân địch, rồi dùng những mũi dùi sắc nhọn xuyên thẳng vào cho hiểm yếu của địch, giải quyết trận đánh một cách kiên quuyết, nhanh gọn và có tính chất quyết định.

        Tác phong chỉ huy của ông thật là dũng cảm, mạnh bạo, kiên quyết và linh hoạt.

        Kiểu cách quân sự này của Nguyễn Huệ vận dụng vào trong chiến dịch thì rất tốt. Nhưng Nguyễn Huệ có bị ảnh hưởng phần nào cái kiểu cách này trong việc vận dụng vào chiến lược.

        Tuy cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là một cuộc chiến tranh lâu dài, nhưng Nguyễn Huệ thuờng giải quyết các tập đoàn phong kiến Phản động bằng một vài đòn chiến lược quyết định. Vấn đề cơ bản là triệt được gốc rễ của đối phương, triệt được chân tay của nó; chứ không phải chỉ là đánh tan đối phương, chiếm được thành quách của đối phương là đã giải quyết được. Vấn đề là đánh đến đâu phải củng cố tới đấy, phải kết hợp quân sự với chính trị, phải lợi dụnq kết quả của quân sự mà mở rộng thắng lợi của chính trị.

        Nguyễn Huệ đã 4, 5 lần đánh thắng ở Gia Định mà vẫn không giải quyết được vấn đề. Về mặt chiến dịch thì giá trị thắng lợi của từng trận đánh là rất lớn. Nhưng vấn đề cần giải quyết là giành lấy thắng lợi quyết định về chiến lược chứ không phải đơn thuần thắng lợi về chiến dịch. Tuy thắng lợi về chiến dịch của Nguyễn Huệ có phát triển thành thắng lợi về chiến lược, nhưng không được vững chắc.

        Nguyên nhân của vấn đề này như thế nào, còn phải nghiên cứu thêm, hiện nay chúng ta chưa đủ tài liệu để có một kết luận xác đáng. Nhưng từ đó, chúng ta cũng có thể rút ra được một bài học lịch sử rất lớn là việc kết hợp chặt chẽ giữa quân sự với chính trị, việc mở rộng thắng lợi quân sự thành thắng lợi chính trị và phải củng cố thắng lợi đó.

        Những khi đánh ra Bắc Hà, tình hình cũng gần giống như thế trong một số trường hợp.

        Tư tưởng quân sự của Nguyễn Huệ thuộc hệ thống tư tưởng quân sự thời cổ phương Đông, chủ yếu là Việt Nam và Trung Quốc, nhưng ông vận dụng có nhiều độc đáo và sáng tạo.

        Tính tích cực, cơ động và linh hoạt trong nghệ thuật quân sự của ông tương đối cao.

        Ông là một người tướng bách chiến bách thắng. Trảỉ hơn 20 năm chiến đấu llên tục, Nguyễn Huệ đã đánh hàng trăm trận và đánh đâu thắng đấy. Càng đánh càng thắng lớn. Càng về cuốt đời chiến đấu của ông, thắng lợi càng huy hoàng, chiến công càng hiển hách.

        Thật cũng là một người tướng hiếm có trong lịch sử.

        Sau khi xem cuốn sách này, chúng tôi có một số thu hoạch và cảm nghĩ như trên. Nói lên được cảm nghĩ đó, cũng tức là muốn nói lên giá trị của cuốn sách.

        Đây là một cuốn sách lịch sử đi sâu được về mặt quân sự. Các tác giả đã phân tích một cách công phu về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật của nghĩa quân Tây Sơn và tài chỉ huy của Nguyễn Huệ. Đặc biệt, các tác giả đã đi sâu trình bày về tư tưởng và nguyên tắc chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của nghĩa quân.

        Qua đó, người đọc càng hiểu rỡ hơn tài năng quân sự của Nguyễn Huệ. Do đó mà hiểu biết, đánh giá Nguyễn Huệ một cách đúng đắn hơn, và càng khâm phục Nguyễn Huệ hơn, càng tự hào về dân tộc ta đã có người anh hùng tài giỏi như thế, càng tin tưởng vào tài năng, trí tuệ của dân tộc, lại càng tin tưởng và quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch ở thời đại ngày nay.

        Đó là thành công của cuốn sách.

        Bên cạnh mặt thành công là căn bản đó, cuốn sách cũng còn một số nhược điểm, khuyết điểm không tránh khỏi. Đó là vấn đề còn bị ảnh hưởng phần nào về ngôn ngữ hiện đại, và bị ảnh hưởng phần nào về nguyên tắc chiến lược, chiến dịch hiện đại trong việc phân tích nguyên tắc chiến lược, chiến dịch của nghĩa quân Tây Sơn, v,v.

        Hiện nay, vấn đề này cũng còn là một vấn đề cần phải nghiên cứu việc dùng tiếng nói của ông cha ta, của Việt Nam, cũng như việc dùng nghệ thuật quân sự Việt Nam để phân tích lịch sử nói chung hiện nay vẫn còn có chỗ lúng túng. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu để dần dần giải quyết vấn đề này.

        Tuy còn một số nhược điểm như trên, nhưng cuốn sách vẫn là một tài liệu lịch sử quân sự tốt, giúp cho chúng ta nghiên cứu học tập rất nhiều.

        Chúng tôi rất hoan nghênh sự có mặt của cuốn sách trong kho sách lịch sử quân sự của nước ta và mong các tác giả đóng góp nhiều hơn nữa vào trong kho tàng lý luận lịch sử quân sự của nước ta.


Thiếu tướng               
HOÀNG MINH THẢO       
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #3 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:54:50 AM »


LỜI NÓI ĐẦU

        Dân tộc Việt Nam là một Dân tộc anh hùng. Điều đó đã được lịch sử chứng minh rõ rệt và cả thế giới ngày nay thừa nhận.

        Sống trong những điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, sống trên một vị trí đầu sóng ngọn gió của châu á, sống giữa chặng đường qua lại của bao thế hệ thực dân cướp nước ở các thời đại, dân tộc Việt Nam từ khi dựng nước đén nay đã trải bao phen sóng gió, đổ xương máu để tự cứu mình, cứu nước, và dân tộc Việt Nam đã trường tồn mạnh mẽ. Từ năm ba mươi của thế kỷ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng và của Hồ Chủ tịch, dân tộc Việt Nam đã kiên cường đấu tranh chống thực dân dế quốc. Dân tộc Việt Nam đã làm Cách mạng tháng Tám thành công. Dân tộc Việt Nam đã kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Hiện nay, dân tộc chúng ta đang ở trong giai đoạn quyết liệt nhất của lịch sử, dân tộc chúng ta đang anh dũng ngoan cường đánh đế quốc Mỹ xâm lược, kẻ thù hung bạo nhất của thời đại, để cứu mình, cứu nước, góp phần bảo vệ hòa bình và hạnh phúc của toàn thể loài người. Chúng ta rất tự hào với nhiệm vụ chiến đấu vẻ vang của chúng ta hiện nay, rất tự hào với dũng khí của chúng ta trước mọi kẻ thù tàn bạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với truyền thống anh hùng của dân tộc, với dũng khí cách mạng của chúng ta hiện nay, chúng ta nhất định thắng lợi, đế quốc Mỹ nhất định phải thất bại thảm hại.

        Dũng khí của chúng ta là biểu hiện trách nhiệm của chúng ta đối với Tổ quốc, đối với Tổ tiên, đã đời nọ nối đời kia đổ xương máu để giữ gìn Tổ quốc cho chúng ta đến ngày nay. Dũng khí của chúng ta là kế thừa truyền thống anh hùng của dân tộc từ ngàn xưa để lại. Truyền thống anh hùng ấy đã thể hiện rực rỡ trong rất nhiều sự nghiệp hiển hách của Tổ tiên chúng ta, và ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những truyền thống anh hùng ấy càng được phát huy cao độ. Tìm hiểu, phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc tức là góp phần nâng cao hơn nữa dũng khí của chúng ta.

        Truyền thống anh hùng thể hiện trong lịch sử anh hùng của dân tộc. Lịch sử dân tộc chúng ta là lịch sử dấu tranh vũ trang lien tục để xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước. Có thể nói là từ khi dựng nước đến nay, Tổ tiên chúng ta đã không ngừng cầm vũ khí để chiến đấu. Khi thì chiến đấu giải phóng dân tộc, đánh đuổi kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc. Khi thì chiến đấu chống lại mọi áp bức, kìm hãm của các tập đoàn thống trị trong nước, mở đường cho dân tộc không ngừng tiến lên trên đà phát triển lịch sử của mình.

        Trong tất cả những cuộc chiến dấu ấy, Tổ tiên chúng ta đều đã chiến thắng và trải mấy nghìn năm đấu tranh liên tục chống thù trong giặc ngoài, nhân dân Việt Nam đã có một truyền thống quân sự rất vẻ vang. Truyền thống đánh thắng mọi kẻ thù ở mọi thời đại.

        Cũng từ muôn vàn cuộc chiến đấu thắng lợi vẻ vang ấy, đã lần lượt xuất hiện trên lịch sử nhiều bậc tướng lĩnh kiệt xuất, nhiều nhà quân sự lỗi lạc, đứng ngang hàng với những tướng lĩnh và những nhà quân sự danh tiếng trên thế giới. Những chiến công oanh liệt của các bậc anh hùng như Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ, v,v, còn mãi mãi ghi sâu trong tâm trí người dân Việt Nam. Đường lối quân sự, các chiến lược, các chiến thuật... của các nhà quân sự lỗi lạc và các danh tướng Việt Nam ở các thời trước đều muôn hình muôn vẻ, linh hoạt vô cùng. Nhưng dù khác nhau ở rất nhiều vẻ, tất cả các bậc anh hùng quân sự Việt Nam ở các thời đại trước đều giống nhau ở một điểm, mà đó là điểm đặc sắc nhất của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam đã sớm hình thành từ hàng nghìn năm nay. Điểm đặc sắc đó là: chỉ bằng những đội quân nhỏ, vũ khí ít, các bậc anh hùng ấy đều đã chiến thắng mọi kẻ địch đông gấp bội mình. Chỉ với hai mươi vạn quân, Trần Quốc Tuấn đã ba lần chiến thắng quân Nguyên, đập tan sự xâm lược của một đế quốc lớn mạnh nhất, hung hãn nhất của thời đại đó. Chỉ với vài nghìn nghĩa quân lúc ban đầu, Lê Lợi đã tiến tới đánh thắng hàng mấy chục vạn quân Minh giành lại độc lập cho Tổ quốc. Chỉ với mười vạn quân, Nguyễn Huệ đã tiêu diệt hoàn toàn hai mươi vạn quân Thanh, vĩnh viễn chấm dứt nạn xâm lăng của các tập đoàn phong kiến phương Bắc đã không ngừng đe dọa dân tộc Việt Nam trong hàng chục thế kỷ.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #4 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:55:55 AM »


        Tất cả những chiến thắng rực rỡ đã có trong lịch sử, tất cả các tướng lĩnh và các nhà quân sự lỗi lạc của chúng ta ở các thời đại trước đều đã để lại cho chúng ta rất nhiều kinh nghiệm, rất nhiều bài học quân sự vô cùng quý giá mà chúng ta cần khai thác. Khai thác để vận dụng vào cuộc chiến tranh cứu nước của chúng ta hiện nay, khai thác để xây dựng nền khoa học quân sự hiện đại của chúng ta, khai thác để vận dụng vào việc giữ gìn non sông đất nước của muôn đời con cháu chúng ta.

        Nội dung tập sách "Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ" là một thí nghiệm bước đầu nhằm thực hiện những mục đích ấy. Khai thác những kinh nghiệm và những bài học chiến đấu của Tổ tiên chúng ta là nhiệm vụ của toàn thể quân đội chúng ta, nhiệm vụ của tất cả những người am hiểu và nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam. Tập sách này chỉ là một đóng góp nhỏ vào công cuộc lớn lao đó. Ngay đối với thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, vị anh hùng dân tộc vĩ đại của chúng ta, tập sách này cũng chỉ làm nhiệm vụ sơ bộ gợi lên một số vấn đề mà khả năng có hạn của tác giả có thể đề cập tới. Muốn thật hiểu Nguyễn Huệ và thiên tài quân sự của ông, chúng ta còn phải có nhiều công trình nghiên cứu sâu sắc hơn nữa.

        Nguyễn Huệ là một trong những nhân vật khá đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Ông là người biểu hiện tập trung nhiều sứ mệnh lịch sử của đương thời và cũng tập trung nhiều tài năng xuất sắc về nhiều mặt.

        Nguyễn Huệ vừa là anh hùng vĩ đại của dân tộc, vừa là lãnh tụ kiệt xuất của nông dân Việt Nam cuối thế kỷ XVIII. Nguyễn Huệ là một nhà chính trị giỏi, đồng thời là một nhà quân sự thiên tài. Ông không chỉ đánh một trận mà ông đã đánh nhiều trận, ông không chỉ chiến đấu một lần mà ông đã chiến đấu liên tục trong hơn hai mươi năm. Ông không chỉ chiến đấu với một quân thù mà ông đã chiến đấu với nhiều quân thù: khi đánh chúa Nguyễn, khi đánh chúa Trịnh, khi đánh quân Xiêm, khi đánh quân Thanh, khi đánh quân Vạn Tượng.

        Ông là tướng lĩnh chỉ huy, đồng thời cũng là người trực tiếp ra mặt trận chiến đấu, cầm vũ khí giao chiến với địch. Trải hơn hai mươi năm chiến đấu liên tục với mọi kẻ thù trong nước và ngoài nước, Nguyễn Huệ chỉ có thắng mà không có bại. Mặc cho quân thù đông đảo, hung tợn đến đâu, Nguyễn Huệ chưa hề chùn bước chiến đấu. Nguyễn Huệ tin tưởng vào quần chúng nhân dân và có một quyết tâm chiến đấu phi thường, quyết tâm ấy đã thành hiện thực: đánh trận nào cũng thắng, đánh quân thù nào cũng thắng.

        Thật là một bậc thiên tài quân sự.

        Như tên tập sách đã định rõ, trong nội dung tập sách này chúng tôi không đề cập tới toàn bộ phong trào Tây Sơn và những hoạt động của Nguyễn Huệ về các mặt chính tri, kinh tế, văn hóa, xã hội, mà chỉ nghiên cứu riêng về những chiến công và thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ cùng những vấn đề có liên quan chặt chẽ với đời làm tướng của ông.

        Khi viết tập sách này, chúng tôi không có ý định đứng về phía sử học thuần túy để nghiên cứu vấn đề, cũng như không muốn đi sâu vào phương pháp khảo chứng của những nhà làm sử, để cho tập sách có được nhiều tính chất phổ cập và đáp ứng đúng yêu cầu phục vụ quân đội về mặt khoa học quân sự và học tập truyền thống.

        Nhưng vì đây là một tập sách nghiên cứu về thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, chúng tôi thấy cần cố gắng sưu tầm thêm nhiều tài liệu mà những sách đã viết về Nguyễn Huệ và phong trào Tây Sơn trước đây ít nói tới, để có thể trình bày những chiến công và thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ được sáng rõ, đầy đủ hơn.

        Trên cơ sở đó, chúng ta có thể nhận định và đánh giá đúng đắn tài năng, tư tưởng quân sự của Nguyễn Huệ cũng như tư tưởng chính trị và đạo đức người làm tướng của ông. Trong tập sách này, chúng tôi đã chú trọng nhiều về mặt sử liệu, chính vì lý do nói trên. Với những sử liệu mà các sách trước đây ít đề cập tới, chúng tôi đều ghi xuất xứ đầy đủ để bạn đọc có thể tra cứu dễ dàng. Với những sử liệu đã được dùng phổ biến nhưng theo chúng tôi, chưa thật xác đáng hoặc các sách đã dùng và nhận định khác nhau, chúng tôi đều ghi chú thích nói rõ ý kiến của mình.

        Mong rằng những sử liệu trong tập sách này sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về Nguyễn Huệ, về phong trào Tây Sơn, và phần phân tích nhận định trong tập sách sẽ đem tới bạn đọc một vài ý niệm sơ bộ về thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, một danh tướng và một anh hùng dân tộc vĩ đại của chúng ta ở nửa cuối thế kỷ XVIII.

        Đó cũng là những điều mong muốn cao nhất của những người viết tập sách này.

Hà Nội - Sơn La       
1963 - 1966       
Tác giả             
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #5 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 02:57:26 AM »

       
Chương một

NGUYỄN HUỆ MƯỜI NĂM ĐÁNH ĐUỔI CHÚA NGUYỄN,
GIÀNH CHỦ QUYỀN ĐẤT NƯỚC Ở MIỀN NAM VIỆT NAM
CHO NGHĨA QUÂN TÂY SƠN

NƯỚC VIỆT NAM Ở THẾ KỶ XVIII

        Trong lịch sử các nước trên thế giới, có lẽ Việt Nam là một trong những nước đất không rộng, người không đông mà trong thời kỳ phong kiến lại có nhiều phong trào nông dân khởi nghĩa nhất. Xã hội Việt Nam đã trải qua hơn một nghìn năm dưới chế độ phong kiến thì xã hội Việt Nam cũng đã có tới hàng nghìn phong trào khởi nghĩa chống phong kiến của nông dân Việt Nam. Dưới chế độ phong kiến Việt Nam, không thời nào và không chỗ nào là không có nông dân khởi nghĩa. Chế độ phong kiến càng đi sâu vào bước suy vong của nó thì phong trào nông dân khởi nghĩa càng nhiều, càng mạnh. Đặc biệt là trong thế kỷ XVIII, phong trào nông dân khởi nghĩa lại càng sôi nổi, rầm rộ, lớn mạnh hơn bao giờ hết: suốt từ đầu thế kỷ tới cuối thế kỷ, không lúc nào là không có nông dân khởi nghĩa.

        Chính trong hoàn cảnh đó đã xuất hiện phong trào nông dân Tây Sơn với vị lãnh tụ kiệt xuất của phong trào là anh hùng Nguyễn Huệ.

        Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo có thể coi là một phong trào nông dân rất độc đáo trong lịch sử Việt Nam. Độc đáo ở chỗ phong trào Tây Sơn là một phong trào nông dân lớn mạnh bậc nhất và cũng là một cuộc chiến tranh nông dân duy nhất trong lịch sử Việt Nam, đã tiến tới giành được chính quyền trong cả nước về tay nông dân. Độc đáo ở chỗ phong trào Tây Sơn vừa là một phong trào nông dân chống áp bức phong kiến, đánh đổ một tập đoàn phong kiến thống trị ở trong nước, lại vừa là một phong trào giải phóng dân tộc, đánh thắng mọi kẻ thù ngoài nước âm mưu can thiệp và xâm lược Việt Nam.

        Độc đáo ở chỗ người lãnh đạo phong trào Tây Sơn, tức Nguyễn Huệ, vừa là một nhà quân sự thiên tài, vừa là một lãnh tụ kiệt xuất của phong trào nông dân, vừa là một anh hùng  cứu nước vĩ đại của dân tộc. Một phong trào nông dân có được những nét đặc sắc ấy, đạt được những sự nghiệp lớn lao như vậy, quả thật là hiếm có trong lịch sử Việt Nam.

        Chế độ phong kiến Việt Nam bước sang thế kỷ XVIII là bước sang thời kỳ suy vong nghiêm trọng của nó. Tình trạng nước nhà phân chia làm hai miền, bọn vua Lê chúa Trịnh thống trị ở Đàng ngoài và bọn chúa Nguyễn cát cứ ở Đàng trong vẫn tồn tại. Các tập đoàn phong kiến ở cả hai miền ngày càng sa đọa, suy đồi, ngày càng tăng cường đàn áp bóc lột nhân dân một cách tàn khốc.

        Sang thế kỷ XVIII, ở Đàng ngoài, quảng đại quần chúng nông dân cùng khổ đến cực độ, không có ruộng đất để sinh sống. Ruộng đất tư của nông dân phần nhiều bị bọn phong kiến, địa chủ chiếm đoạt mất hết. Bản thân chúa Trịnh đương thời là Trịnh Cương cũng phải thừa nhận rằng "dân nghèo mảnh đất cắm dùi cũng không có”1. Ruộng đất công ở các làng bị lấn chiếm gần hết, chỉ còn đủ để cung cấp lương cho binh lính và ngụ lộc cho quan lại, người nông dân không còn có thể trông nhờ gì vào ruộng đất công để tìm nguồn sống. Trong khi đó, sưu thuế chồng chất lên đầu người dân lại càng nặng nề khắc nghiệt.

        Nạn bóc lột cướp đoạt ấy đã dẫn đến kết quả là ở Đàng ngoài, khoảng những năm 40 của thế kỷ XVIII "dân phiêu tán dắt díu nhau đi kiếm ăn đầy đường. Giá gạo cao vọt, một trăm đồng tiền không được một bữa no. Nhân dân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết đói chồng chất lên nhau, số dân còn lại mười phần không được một. Làng nào vốn có tiếng trù mật cũng chỉ còn lại độ năm ba hộ mà thôi”2.

        Trong khi ấy, tình hình Đàng trong cũng không kém phần nghiêm trọng. Lê Quí Đôn, một quan lại Đàng ngoài đương thời, khi vào Phú Xuân đã nhận định về đời sống của các tầng lớp xã hội ở Đàng trong như sau: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa trạm trổ, tường xây bằng gạch đá, trướng vóc màn the, đồ dùng toàn bằng đồng, bằng sứ, bàn ghế bằng gỗ đàn, gỗ trắc, ấm chén bằng sứ, yên ngựa dây cương đều trạm vàng, nạm bạc, áo quần là lượt, nệm hoa chiếu mây...

        Kẻ sắc mục trong dân gian cũng mặc áo đoạn, còn áo the, áo sa là đồ mặc thường, lấy việc mặc đồ vải mộc mạc làm hổ thẹn. Binh sĩ cũng ngồi chiếu mây, dựa gối xếp, ấp lò hương cổ, uống nước trà ngon, chén sứ bịt bạc, ống nhổ bằng đồng thau, bát đĩa ăn uống đều là đồ sứ Trung Quốc... coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ rất mực”3.

        Bọn nhà chúa lại càng xa hoa dâm dật đến cực độ. Chỉ lấy riêng một việc chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 - 1725) có tới 146 đứa con cũng đủ thấy bọn chúng xa hoa dâm dật đến chừng nào.

----------------
       1. Lê Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ. Sách chữ Hán, bản chép tay của Viện Sử học, ký hiệu H.V, 175, q. 3, tờ 54.

        2. Việt sử thông giám cương mục, Bản dịch của Viện Sử học. Nhà xuất bản Sử học. Hà Nội, 1960, t. XVIII, fr. 15.

        3. Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục, Sách chữ Hán, bản chép tay của viện sử học, ký hiệu H.V. 190, q. 6, tờ 14.
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Chín, 2016, 03:04:55 AM gửi bởi Giangtvx » Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #6 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 03:00:01 AM »


        Từ sau khi chúa Nguyễn là Phúc Khoát chết năm 1765, giai cấp phong kiến thống trị ở Đàng trong lại đi sâu thêm một bước nữa vào con đường suy đốn của nó. Phúc Khoát có nhiều con, ngôi chúa đã định truyền cho một trong những người con lớn tuổi. Nhưng quyền thần Trương Phúc Loan đã mưu lập người con thứ 16 là Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi1 lên làm chúa để hắn có thể nắm giữ mọi quyền bính, lũng đoạn triều đình. Nguyễn Phúc Thuần nhỏ tuổi, ham chơi, dâm loạn. Trước khi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, Phúc Thuần mới chừng 16, 17 tuổi, mà đã mắc "bệnh không gần đàn bà được”2 và mới một tí tuổi đầu như vậy hắn đã thường ngày "bắt phường hát trẻ tuổi dâm loạn với cung nữ để làm trò vui”3.

        Chúa đã như vậy, thì bọn triều thần cũng ăn chơi rượu chè, dâm dật không kém. Một đại thần như Nguyễn Hoãn, suốt ngày đêm say rượu. Một đại thần khác như Nguyễn Nghiễn có tới 120 vợ lẽ nàng hầu. Mọi việc triều chính đều ở trong tay Trương Phúc Loan. Mà quyền thần Trương Phúc Loan thì lũng đoạn triều chính, mỗi năm tham nhũng hàng chục vạn quan tiền. Những quan lại khác cũng đua theo những hành động bỉ ổi, cướp đoạt để ăn chơi như vậy.

        Bọn phong kiến càng tăng cường bóc lột, cướp đoạt để ăn chơi bao nhiêu thì dân tình càng khổ cực bấy nhiêu.

        Thời bấy giờ Quảng Nam là miền trù phú nhất ở Đàng trong. Quảng Nam, đặc biệt là Qui Nhơn, sản xuất rất nhiều thóc gạo, lạc, mía, hạt tiêu, thuốc lá, trầu cau. Hàng thủ công rất phát triển. Tơ lụa, nhiễu, đường, miến, dầu dừa đều là hàng xuất khẩu. Quảng Nam lại có nhiều ruộng muối, nhiều mỏ vàng, mỏ sắt. Do chỗ Quảng Nam có nhiều hàng nông, lâm, hải sản để xuất khẩu, nên việc vận tải thong thương ở đây cũng rất phát triển. Năm 1768, số thuyền chuyên chở ở Đàng trong là 447 chiếc, thì Quảng Nam có 60 chiếc, riêng Qui Nhơn có 93 chiếc, còn những nơi khác như châu Bố Chính chẳng hạn chỉ có 10 chiếc.

        Thời bấy giờ các nhà buôn Trung Quốc và các nước khác thường ra vào buôn bán ở Quảng Nam, coi Quảng Nam như là trung tâm kinh tế văn hóa bậc nhất ở Đàng trong, họ đã gọi Đàng trong là Quảng Nam quốc. Một nhà buôn Trung Quốc thời ấy đã miêu tả nền thương nghiệp thịnh vượng ở Quảng Nam như sau :

        "Ở Sơn Nam3  khi về chỉ mua được một thứ  củ nâu. Ở Thuận Hóa khi về chỉ mua được hồ tiêu. Còn như ở Quảng Nam thì đủ trăm thứ hóa vật, không có nơi nào sánh kịp. Các hóa vật từ các phủ Thăng Hoa, Điện Bàn, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Bình Khang và dinh Nha Trang đều theo đường thủy, đường bộ tập trung về Hội An. ở đó, rất nhiều nhà buôn phương Bắc đến mua hàng đem về nước. Trước đây, hàng hóa rất nhiều, dù hàng trăm tàu lớn đến chuyên chở một lúc cũng không hết được"4.

        Chính cái cảnh trù phú, thịnh vượng ấy của Quang Nam đã khiến Quảng Nam trở thành một trung tâm bóc lột của bọn phong kiến Đàng trong ở nửa cuối thế kỷ XVIII. Ở Quảng Nam, các thứ thuế má rất nhiều và cực kỳ nặng nề, phiền nhiễu. Theo Lê Quí Đôn thì "bọn cai trưng và quan lại các nha quá nhiều, mỗi một trường thu thuế có tới vài ba mươi người, đốc thúc, tra khảo rất là phiền nhiễu, lại còn truy hỏi, hành hạ ân lậu, cố tình thêm bớt, sinh sự làm khổ dân"5.

----------------------
       1. Tính tuổi theo dương lịch.

        2, 3. Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục. q. 1.

        4. Tức ngoài Bắc Hà.

        5.  Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục, q. 3, 4.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #7 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 03:03:13 AM »


        Đối với các thuyền buôn ngoại quốc, bọn chúa tôi nhà Nguyễn đánh thuế rất nặng. Đối với những thuyền buôn thông thương trong nội địa, chúng bắt chịu rất nhiều tầng thuế và đặt sở tuần ty để thu thuế ở khắp mọi nơi.

        Đối với mọi thứ thuế khác, người dân Quảng Nam cũng phải chịu nặng nề hơn cả. Riêng các thứ tiền thuế rừng núi, thuế đầm ao, thuế cửa quan, thuế chợ ở hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, hàng năm họ Nguyễn thu vào trên 76.467 quan thì trong số đó Quảng Nam chiếm sáu phần, Thuận Hóa một phần1. Đồng bào Chăm, Thượng ở miền núi cũng phải chịu rất nhiều thứ thuế thổ sản, thuế nguồn, thuế ruộng miền núi, v.v. Lê Quí Đôn, đã phải nhận định rằng: "Lệ phú thuế ở quảng Nam khác với Thuận Hoá Lệ trưng thu so với Thuận Hóa nặng nề hơn, cho nên số thu vào kho rất nhiều và bổng lộc của quan lại cũng rất phiền nhiễu. Dân ở đấy khởi loạn đầu tiên cũng vì cớ ấy"2.

        Đó là toàn bộ tình hình Việt Nam ở thế kỷ XVIII. Giai cấp phong kiến thống trị ở hai miền Nam, Bắc đều thối nát ươn hèn, quảng đại quần chúng nhân dân trong cả nước đều cùng khổ cực độ. Trong hoàn cảnh dở sống dở chết ấy người nông dân Việt Nam đương thời không thể không vùng dậy để giành lấy quyền sống. Chính vì thế mà ngay từ những năm đầu của thế kỷ XVIII, những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống lại sự áp bức bóc lột của các tập đoàn phong kiến thống trị Lê, Trịnh, Nguyễn đã liên tiếp nổ ra. Trong suốt thời phong kiến ở Việt Nam, khởi nghĩa nông dân đã có nhiều, nhưng chưa bao giờ nhiều bằng thế kỷ XVIII. Người ta có thể gọi thế kỷ XVIII trong lịch sử Việt Nam là "thế kỷ của nông dân khởi nghĩa".

        Ở Bắc Hà, ngoài những cuộc khởi nghĩa nhỏ, nổ ra lẻ tẻ khắp các địa phương mà sử sách phong kiến thường gọi là "giặc cỏ", từ năm l734 tới khoảng giữa thế kỷ XVIII đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nổ ra, như khởi nghĩa của người Mường do Quách Công Thi lãnh đạo, khởi nghĩa của nông dân Sơn Tây Thái Nguyên do nhà sư Nguyễn Đương Hưng lãnh đạo, khởi nghĩa của Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển, Vũ Trác Oánh ở Hải Dương, khởi nghĩa của Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao ở Nam Định, khởi nghĩa của Toàn Cơ ở Lạng Sơn, v.v. Có những cuộc khởi nghĩa kéo dài tới trên mười năm như khởi nghĩa ở vùng miền Bắc Hà do Nguyễn Hữu Căn lãnh đạo, khởi nghĩa ở vùng Sơn Tây, Tam Đảo do Nguyễn Danh Phương lãnh đạo. Có những cuộc khởi nghĩa kép dài tới trên ba mươi năm như khởi nghĩa của Hoàng Công Chất ở vùng Tây Bắc và khởi nghĩa của Lê Duy Mật ở vùng Thanh Hóa, Trấn Ninh.

        Cùng hòa một nhịp với phong trào đấu tranh của nông dân Bắc Hà, phong trào khởi nghĩa của nông dân Đàng trong cũng vô cùng sôi nổi. Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, các phong trào nông dân khởi nghĩa ở Đàng trong đã liên tiếp nổ ra. Năm 1695, nông dân và thương nhân Quảng Ngãi, Qui Nhơn khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Linh Vương và Quảng Phú. Năm 1697, đồng bào Thượng ở năm sách thuộc Quảng Nam nổi lên chống lại nhà Nguyễn. Năm 1708, đồng bào thiều số miền Bà Ria khởi nghĩa. Năm 1746, đồng bào Chăm ở Trấn Biên (miền Gia Định) khởi nghĩa do Dương Bao Lai và Diệp Mã Lăng lãnh dạo. Năm 1747 , cũng tại Trấn Biên, lại nổ ra khởi nghĩa do một người Hoa kiều là Lý Văn Quang lãnh đạo.

        Năm 1770, tại Hà Tiên nổ ra một cuộc khởi nghĩa vũ trang gồm ngót 1.000 người, có 15 chiến thuyền và do một người lính là Phạm Lam cùng mấy người Chà Và, Chân Lạp lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa có qui mô khá lớn, được đông đảo quần chúng các dân tộc ủng hộ. Cũng năm 1770, tức là một năm trước ngày phong trào Tây Sơn xuất hiện, cũng tại Quảng Ngãi, Qui Nhơn, quê hương của phong trào Tây sơn, đã bùng nổ một cuộc khởi nghĩa khá lớn của đồng bào Thượng. Nghĩa quân đánh phá miền Quảng Ngãi, Qui Nhơn. Bọn chúa Nguyễn phải cho toàn bộ quân lính các đạo ở Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Phú Yên cùng hợp lực đi đánh dẹp.

        Nhưng ở miền Nam cũng như ở miền Bắc, tất cả những phong trào nông dân khởi nghĩa nói trên đều không thành công, đều không chiến thắng được giai cấp phong kiến thống trị. Tuy vậy, những cuộc khởi nghĩa ấy nổ ra liên tiếp khắp mọi nơi trong hơn nửa thế kỷ, đã có một tác động rất lớn, làm cho các thế lực phong kiến thống trị ở Đàng ngoài cũng như ở Đàng trong đều lung lay đến tận gốc. Mặt khác, những phong trào nông dân vũ trang đấu tranh liên tiếp ấy cũng đã cung cấp được nhiều tướng tài cho phong trào như Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Văn Chất, Lê Duy Mật, v.v. và đem lại nhiều kinh nghiệm chiến đấu cho người nông dân làm cách mạng ở thế kỷ XVIII, nâng cao nghệ thuật chiến đấu và trình độ tổ chức quân sự của người nông dân, đồng thời phát huy them một bước nghệ thuật quân sự Việt Nam ở thế kỷ XVIII.

        Tình thế cách mạng sôi sục trong cả nước như thế cùng với sự suy yếu cực độ của các thế lực phong kiến và sự dày dạn chiến đấu của người nông dân ở thế kỷ XVIII đã là những yếu tố hết sức quan trọng giúp cho phong trào nông dân ở cuối thế kỷ XVIII có thể phát động thành một cuộc chiến tranh nông dân lớn mạnh đủ sức đánh tan mọi thế lực phong kiến lớn nhỏ trong cả nước.

        Chính trong hoàn cảnh lịch sử thuận lợi đó, phong trào nông dân Tây Sơn đã xuất hiện và có điều kiện để phát triển ngày càng lớn mạnh.


----------------------
        1, 2.  Lê Quí Đôn, Phủ biên tạp lục, q. 3, 4.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #8 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 03:07:40 AM »

        
NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA CUỘC KHỞI NGHĨA

        Trước căm hờn sôi sục của nhân dân Đàng trong đối với bọn phong kiến nhà Nguyễn, năm 1771 ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ, người Tây Sơn1 nhóm họp quần chúng khởi nghĩa.

        Ba anh em đều rất trẻ, Nguyễn Huệ khi ấy mới 19 tuổi. Nhưng họ đã nắm đúng thời cơ khởi nghĩa, và đã chuẩn bị tốt cho cuộc khởi nghĩa.

        Quân thù của phong trào Tay Sơn cũng như của toàn thể nông dân Việt Nam thời ấy là bọn chúa Nguyễn ở Đàng trong và bọn vua Lê, chúa Trịnh ở Đàng ngoài. Nói rằng ở nửa cuối thế kỷ XVIII, cả hai tập đoàn ấy đều đã suy yếu hoặc suy yếu đến cực độ là nói suy yếu về mặt chính trị, kinh tế... nhưng về mặt quân sự thì chúng, bằng nhiều biện pháp, vẫn còn duy trì được một lực lượng mạnh, nếu so với những lực lượng quật khởi chống lại chúng thì chúng vẫn mạnh hơn hẳn. Bởi vì chúng là những tập đoàn thống trị, lúc nào cũng có lực lượng vũ trang trong tay để tự vệ. Quân đội của chúng có tổ chức, có thao luyện, có kinh nghiệm chiến đấu, đủ sức đối phó với mọi phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra ở cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII cho đến trước ngày phong trào Tây Sơn quật khởi. Và những lực lượng quân sự ấy vẫn có thể là những trở lực lớn cho phong trào nông dân Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XVIII.

        Quân số và trang bị của những lực lượng quân sự ấy có thể thay đổi ở từng thời kỳ, thời chiến khác, thời bình khác, nhưng đại thể thì con số không xê xích nhau nhiều lắm. Nhà Nguyễn lúc nào cũng có khoảng non 10 vạn lục quân. Thủy quân có khoảng 200 thuyền chiến. Mỗi thuyền chiến của nhà Nguyễn có từ 50 đến 60 mái chèo, và từ 3 đến 5 khấu đại bác. Kỳ binh của nhà Nguyễn có khoảng từ 200 đến 300 ngựa chiến. Không thấy tài liệu nào nói nhà Nguyễn có tổ chức tượng binh.

        Quân đội nhà Trịnh còn mạnh hơn quân đội nhà Nguyễn. Lục quân nhà Trịnh lúc nào cũng có trên 10 vạn người. Có khi có tới ngót 20 vạn người. Thủy quân gồm có khoảng 500 thuyền chiến, trang bị của thuyền chiến Trịnh cũng tương tự như thuyền chiến Nguyễn. Quân đội Trịnh có một đội tượng binh lớn gồm từ 300 đến 500 voi chiến. Mỗi voi chiến có 6, 7 binh sĩ cầm vũ khí ngồi trên. Voi chiến của nhà Trịnh đôi khi mang cả đại bác nữa.

        Cả hai quân đội Trịnh, Nguyễn đều dùng vũ khí đạn dược kiểu phương Tây, hoặc mua của ngoại quốc, hoặc dựng xưởng chế lấy, thuê người phương Tây trông nom như bọn chúa Nguyễn đã làm.

        Trước những quân thù còn có lực lượng mạnh như vậy, ba anh em Tây Sơn quyết tâm tìm mọi biện pháp để tiến tới đấu tranh vũ trang với địch và nắm chắc phần thắng lợi ít ra là những thắng lợi bước đầu về mình. Họ đã để một thời gian dài, khoảng từ 1771 đến 1773, để xây dựng căn cứ, tuyên truyền khởi nghĩa và tổ chức lực lượng.

        Họ lấy ngay nơi họ sinh trưởng là vùng Tây Sơn, An Khê thuộc miền rừng núi Qui Nhơn làm căn cứ địa. Như trên đã trình bày, phong trào bùng nổ ở quảng Nam đã là một điều thuận lợi, các lãnh tụ Tây Sơn lại chọn miền rừng núi Qui Nhơn làm căn cứ địa khiến cho phong trào càng có thêm nhiều điều kiện để phát triển. Phủ Qui Nhơn ở thế kỷ XVIII bao gồm ba tỉnh Bình Định, Công Tum và Plây-cu ngày nay. Vùng rừng núi Qui Nhơn gồm ba phần tư đất đai phủ Qui Nhơn và là một vòng đai siết chặt lấy phủ thành Qui Nhơn là dinh lũy của chính quyền phong kiến của phủ này. Chiếm giữ được vùng rừng núi và chưa cần đánh, phủ thành Qui Nhơn của nhà Nguyễn cũng đã trở thành cô lập, chơ vơ, đợi ngày mất về tay nghĩa quân mà thôi. Nghĩa quân Tây Sơn lại đóng bản doanh tại An Khê, một cao nguyên rất bằng phẳng, cao 600 mét, rộng một chiều 50 ki-lô-mét, một chiều 35 ki-lô-mét. Đây là một địa điểm rất tốt cho việc bố trí doanh trại và tập luyện quân sự. Từ Qui Nhơn lên An Khê chỉ có một đường độc đạo vô cùng nguy hiểm. Chính vì thế từ năm 1771 là năm nghĩa quân Tây sơn bắt đầu nhóm họp đến năm 1773  là năm nghĩa quân đánh chiếm phủ thành Qui Nhơn, quân đội nhà Nguyễn chưa một lần nào dám tiến công vào căn cứ địa An Khê. Con đường Qui Nhơn lên An Khê không những là con đường độc đạo nguy hiểm ở thế kỷ XVIII, mà ngay cho tới ngày nay, con đường ấy - tức con dường 19 - cũng đã nhiều lần là mồ chôn quân Pháp và quân Mỹ xâm lược. Từ vùng rừng núi tiến xuống chiếm nốt vùng đồng bằng Qui Nhơn, nghĩa quân Tây Sơn đã có một vị trí vô cùng xung yếu về mặt chiến lược, nó cắt đứt giang sơn nhà Nguyễn ra làm đôi khiến sự liên hệ tiếp tế cho nhau bị gián đoạn, đồng thời nó cũng chia tách quân đội nhà Nguyễn ra làm hai bộ phận rời nhau, làm cho lực lượng chiến đấu của chúng bị giảm sút, khi một bộ phận nào đó bị nghĩa quân tiến công thì bộ phận khác muốn ứng cứu cũng rất khó khăn. Vùng rừng núi Qui Nhơn, đặc biệt là miền An Khê lại là nơi tập trung nhiều thành phần dân tộc, người Kinh có, người Chàm có, người Ba Na, người Gia Rai, người Xê Đăng đều có. Đó là một nguồn cung cấp nhân lực rất tốt cho phong trào. Miền An Khê lại là nơi đông đúc giàu có nhất vùng rừng núi Qui Nhơn (tức vùng Bình Định - Công Tum - Plây-cu ngày nay), cho nên đó cũng là nguồn cung cấp lương thực tốt nhất cho phong trào Tây Sơn trong thời kỳ đầu khởi nghĩa. Vùng rừng núi Qui Nhơn còn là nơi có sẵn voi lớn, ngựa hay, sẵn mỏ sắt, diêm tiêu, gỗ tốt cho nên nó cũng là nguồn cung cấp vật liệu và phương tiện chiến tranh rất phong phú cho nghĩa quân Tây Sơn.

--------------------
       1. Anh em Tây Sơn có bốn người, một người em gái là út. Tây Sơn, sau đổi thành hai xã An Khê và Cửu An, thuộc huyện Tân An, tỉnh Công Tum. Thời bấy giờ phủ Qui Nhơn gồm cả 3 tỉnh Bình Định, Công Tum và Plây-cu sau này. Cách đây 40 - 50 năm, An Khê và Cửu An vẫn là hai xã đông dân nhất, giàu nhất trong số 29 xã của huyện Tân An, và cũng đông nhất, giàu nhất trong tỉnh Công Tum.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 22680


« Trả lời #9 vào lúc: 12 Tháng Chín, 2016, 03:11:19 AM »


        Người Qui Nhơn lại có truyền thống thượng võ. Cho đến thể kỷ XIX người ta vẫn còn ca ngợi truyền thống đó:

"Ai vào Bình Định1 mà coi
Con gái cũng biết đi roi, đi quyền".

        Cùng với tinh thần sôi sục căm thù bọn phong kiến nhà Nguyễn của nhân dân Qui Nhơn, truyền thống tốt đẹp đó cũng khiến họ nhiệt liệt hưởng ứng phong trào Tây Sơn và tham gia đông đảo vào đội quân khởi nghĩa.

        Để phát động quần chúng vùng lên đánh đổ giai cấp thống trị anh em Tây Sơn lợi dụng những mâu thuẫn rất sâu sắc trong nội bộ tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn làm mục tiêu tuyên truyền khởi nghĩa.

        Năm 1765, chúa Nguyễn là phúc Khoát chết. Trước kia, Phúc Khoát đã lập người con duy nhất của chính phí lên làm thế tử đi nối ngôi chúa, nhưng người đó chết sớm, để lại một đứa con là Nguyễn Phúc Dương. Khi Nguyễn Phúc Khoát chết, hoàng tôn tức Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ tuổi quá không lên cầm quyền chính được, đáng lẽ ngôi chúa phải thuộc về người con lớn tuổi hơn cả của Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Phúc Luân và chính Nguyễn Phúc Khoát cũng đã có ý như vậy từ khỉ còn sống. Nhưng Nguyễn Phúc Khoát chết, quyền thần Trương Phúc Loan đã phế lập Nguyễn Phúc Luân, bắt Luân bỏ ngục, giết chết mọi người thân cận của Luân và đưa người con 11 tuổi của Nguyễn Phúc Khoát là Nguyên Phúc Thuần lên làm chúa. Từ đấy, quyền thần Trương Phúc Loan ngày càng tham tàn, bạo ngược. Bọn quan lại và các tầng lớp trên của xã hội Đàng trong lúc ấy đều oán ghét Trương Phúc Loan, thâm tâm muốn phù hoàng tôn Dương lên ngôi chúa, nhưng không có phương sách hoạt động.

        Nắm được tình hình đó, năm 1771, các lãnh tụ Tây Sơn nêu khẩu hiệu: "Đánh đổ Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Dương" để phất cờ khởi nghĩa. Trong một bài hịch xuất quân của nghĩa quân Tây Sơn sau này, phương hướng đấu tranh đầu tiên là đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan đã được nhắc lại rõ ràng:

        "Giận quốc phó2 ra lòng bội bạc, lên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương
        Trước là ngăn cột đá giữa dòng, kẻo đảng nghịch đặt mưu ngấm nghé,
        Sau là tưới mưa dầm khi hạn, kéo cùng dân ra chốn lầm than.
        Ví lòng trời còn nền nếp Phú Xuân, ắt dấu cũ lại cơ đồ Hữu Hạ ...”.


        Trong những ngày đầu khởi nghĩa, nghĩa quân Tây Sơn đã tự nhận mình là quân của hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương để chống lại quân của quốc phó Trương Phúc Loan, cho nên người đương thời đã gọi:

"Binh triều là binh quốc phó,
Binh ó là binh hoàng tôn".

        Ó nghĩa là hò reo. Nghĩa quân đi tới đâu cũng la ó, hò reo, kêu gọi mọi người lên đường đấu tranh để ủng hộ hoàng tôn Dương.

        Trong mấy năm đầu khởi nghĩa, những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn đã không tự nhận mình là người lãnh đạo phong trào, chỉ xưng mình là những chủ trại bình thường và vẫn lấy danh nghĩa hoàng tôn Dương làm người cầm đầu nghĩa quân. Khẩu hiệu đấu tranh này thật là sát hợp tình hình và nó đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia phong trào Tây Sơn ngay từ thời kỳ đầu. Nhưng đối với quảng đại quần chúng nông dân thì khẩu hiệu đấu tranh ấy chưa đủ. Phải có một khẩu hiệu đấu tranh cụ thể hơn sát hợp bởi quyền lợi trước mắt của người nông dân hơn nữa. Cho nên bên cạnh khẩu hiệu đấu tranh nói trên, những người lãnh đạo phong trào Tây Sơn đã đề ra khẩu hiệu "lấy của kẻ giàu, giúp người nghèo" và khẩu hiệu ấy đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc khởi nghĩa. Chính vì có khẩu hiệu sát hợp với quần chúng như thế mà phong trào Tây Sơn đã lôi cuốn được đông đảo nông dân tham gia và sớm có một lực lượng hùng hậu ngay từ những ngày đầu để đối phó với quân thù.

-------------------
        1. Bình Định là tên nhà Nguyễn đặt cho Qui Nhơn từ đầu thế kỷ XIX

        2. Chỉ Trương Phúc Loan.

Logged

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM