Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Tư, 2020, 04:57:26 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam  (Đọc 35735 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #50 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 11:56:18 AM »


CHƯƠNG HAI

ĐÁNH PHÁP, ĐUỔI MỸ GIẢI PHÓNG ĐẤT NƯỚC 1945 - 1975


I

CUỘC KHÁNG CHIẾN 9 NĂM CHỐNG THỰC DÂN PHÁP GIẢI PHÓNG NỬA NƯỚC
(1945 - 1954)

        Sau gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên giành độc lập. Cách mạng tháng Tám thành công nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trẻ tuổi ra đời. Đất nước ta lại ngay lập tức đứng trước một thử thách cực kì nghiêm trọng. Tổ quốc lâm nguy trước âm mưu thực dân Pháp mở rộng chiến tranh xâm lược. Ở miền Bắc 20 vạn quân Tưởng Giới Thạnh kéo vào tước vũ khí quân Nhật, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng non trẻ, lập chính quyền tay sai Quốc dân Đảng. Ở miền Nam, quân đội Anh trực tiếp vũ trang và giúp thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta. Mấy vạn quân Nhật tuy đã đầu hàng nhưng chưa bị tước vũ khí, tiếp tục hành động dưới quyền điều động của quân đội Anh. Nạn đói vừa làm chết hơn hai triệu người ở miền Bắc vẫn tiếp tục đe dọa dân ta. Tình trạng kinh tế suy kiệt cũng là khó khăn to lớn của chính quyền cách mạng.

        Theo gót chân Anh, thực dân Pháp quay trở lại Nam Bộ, ngày 23-9-1945 chúng nổ súng gây chiến ở Sài Gòn. Trong một thời gian ngắn chúng đánh chiếm Sài Gòn và sau đó cùng quân Anh, đánh lan ra chiếm các đô thị và trục đường giao thông chủ yếu ở miền Nam với ý đồ chiếm miền Nam trong 10 tháng. Nhân dân miền Nam được chi viện của cả nước, với tinh thần anh dũng tuyệt vời đã dùng gậy tầm vông, súng trường cũ kĩ, kết hợp chiến thuật du kích và phương pháp bất hợp tác để chống lại đội quân xâm lược có đủ phi cơ, pháo binh, xe tăng thiết giáp. Các đội du kích thành lập ở các thôn xã cùng một số trung đoàn từ miền Bắc, miền Trung vào chi viện miền Nam hoạt động cùng nhân dân giữ nông thôn, ngăn chặn sự mở rộng chiếm đóng của thực dân Pháp.

        Thực dân Pháp vấp phải sự chống trả mạnh mẽ của quân dân ta. Sau 5 tháng tiến công chúng chỉ có thể kiểm soát được các đô thị và các đường giao thông chính ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Hàng vạn quân phải rải ra chiếm đóng chống chiến tranh du kích, thực hiện bình định vùng chúng mới chiếm được.

        Pháp tìm cách điều đình với quân Tưởng và giả vờ hòa hoãn với Chính phủ Việt Nam nhằm đánh chiếm nước ta từng bước.

        Với sách lược mềm dẻo tài tình, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tận dụng mâu thuẫn Pháp - Tưởng để tranh thủ củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng cách mạng, đã ký với Pháp Tạm ước 6-3-1946. Riêng đối với miền nam, Tạm ước 6-3 tạo điều kiện pháp lý cho nhân dân ta mở rộng đấu tranh chính trị, phá vỡ ngụy quyền ở cơ sở, thực hiện cuộc khởi nghĩa lần thứ hai, khôi phục và củng cố chính quyền cách mạng ở địa phương. Pháp lợi dụng tạm ước để đưa một số bộ phận quân Pháp vào miền Bắc.

        Sau hơn một năm gây chiến tranh xâm lược ở Nam Bộ và thi hành Tạm ước Việt - Pháp 6-3-1946, với gần mười vạn quân Pháp đứng chân tại một số vị trí chiến lược trên đất nước ta, có đế quốc Anh, quân Tưởng Giới Thạch giúp sức, thực dân Pháp hòng áp đặt lại chế độ thực dân. Chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa và định mở cuộc tiến công bất ngờ, nhanh chóng đảo chính chiếm Thủ đô Hà Nội lật đổ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 17 và 18-12-1946 Hội nghị bất thường Ban Thường vụ Trung ương mở rộng dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra quyết định phát động cả nước kháng chiến và đề ra những vấn đề cơ bản về đường lối kháng chiến.

        Đêm 19-12-1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ.

        Sáng 20-12-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

        Hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Tổ quốc, toàn thể nhân dân Việt Nam đã xiết chặt hàng ngũ, đoàn kết xung quanh Đảng và Chính phủ, nhất tề đứng lên kháng chiến. Sau 9 năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

        Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý báu. Về giải quyết một cuộc chiến tranh vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc, vừa có tính chất giải phóng dân tộc chống thực dân đế quốc phương Tây trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, mở đầu cho việc phá tan chế độ đế quốc thực dân cũ trên toàn thế giới. Cuộc kháng chiến trường kỳ 9 năm đã trải qua nhiều giai đoạn và thời kỳ nhằm đánh bại từng chiến lược của địch
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #51 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 11:59:27 AM »


        1. Phá chiến lược “chớp nhoáng” của địch bằng chiến tranh du kích.

        Sau cách mạng tháng Tám, khí thế cách mạng của cả dân tộc đang dâng lên mạnh mẽ, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đã phát triển sau gần một năm tranh thủ xây dựng, chúng ta bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc trong một thế cách mạng non trẻ đang vươn lên đối chọi lại một tên đế quốc mạnh, hơn ta nhiều lần về trang bị. Vì vậy ngay từ trước và sau ngày toàn quốc kháng chiến Đảng đặc biệt quan tâm xây dựng lực lượng vũ trang, coi đó là công việc quan trọng nhất để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài. Đảng ta cho rằng tiến trình và kết cục của chiến tranh là tùy thuộc vào tương quan thế lực giữa ta và địch. Trong tiến trình chiến tranh, muốn tăng nhanh quá trình thay đổi so sánh lực lượng, làm cho lực lượng ta từ chỗ nhỏ yếu hơn địch, lại ở vào thế bị động, chuyển dần đến chỗ lớn mạnh không ngừng và giành được quyền chủ động, thì không có con đường nào khác là phải trường kỳ kháng chiến, giành thắng lợi từng bước, phải phát động toàn dân chiến đấu. Với vũ khí phương tiện và phương thức phù hợp, lấy tư tưởng “tiêu diệt địch” để bảo vệ mình và bồi dưỡng lực lượng, từng bước chuyển từ thế bị động phòng ngự về chiến lược tiến lên giành quyền chủ động chiến lược, tiêu diệt đại bộ phận quân địch, giành thắng lợi hoàn toàn.

        Vì vậy ngay từ những ngày đầu kháng chiến toàn quốc, Đảng ta đã chủ trương phát động một cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài để đánh bại một đội quân viễn chinh nhà nghề của thực dân Pháp với chiến lược quân sự “chớp nhoáng” hòng chiếm nước ta trong một thời gian ngắn.

        Qua kinh nghiệm của thời kì kháng chiến ở Nam Bộ, chúng ta đã không thành công khi dùng hình thức tác chiến phòng ngự trận địa, bao vây ngăn chặn địch từ trung tâm đô thị, mở rộng cuộc chiến tranh ra toàn Nam Bộ và một phần Trung Bộ. Chỉ trong vài tháng, quân đội Pháp đã phá vỡ được các trận địa bao vây các đô thị như Sài Gòn, Nha Trang, Huế và đã dùng đội quân viễn chinh được trang bị hiện đại mở những cuộc hành quân lớn vu hồi từ Nam Bộ đánh ra Nam Trung Bộ, chiếm cả một vùng lãnh thổ lớn đến khu vực Đại Lãnh, Đèo Cả...

        Kế thừa kinh nghiệm đó của Nam Bộ và truyền thống đánh giặc giữ nước của cha ông ta, lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều, phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, Đảng ta đã chỉ đạo cách đánh cho các lực lượng vũ trang trong giai đoạn này là: “Triệt để dùng du kích, bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài...”1. Đối với một kẻ địch mạnh, có tiềm lực về quân sự, nhưng lại là kẻ đi xâm lược, chúng định thực hiện chiến lược “chớp nhoáng” thôn tính nước ta, trong khi lực lượng ta còn yếu cả về số lượng, trang bị, khả năng chỉ huy và chiến đấu, thì việc vận dụng cách đánh du kích nhằm phân tán binh lực địch, phát động quần chúng, tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, thực hiện kháng chiến lâu dài là chủ trương chính xác, nhằm phá chiến lược “chớp nhoáng” của chúng. Đúng như Ăng-ghen đã viết: “Thường xuyên làm tiêu hao lực lượng của kẻ thù, nghiền nát và tiêu hủy một đội quân lớn ra từng mảnh và điều quan trọng nhất là ta không thấy điều đó được bù lại bởi sự tổn thất tương ứng của phía bên kia”2 và Ăng-ghen còn nói rõ hơn: “Một dân tộc muốn giành được độc lập cho mình thì không được tự giới hạn trong phương thức tiến hành chiến tranh thông thường”3.

        Mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc, quân và dân Thủ đô Hà Nội cùng các địa phương đã đồng loạt nổ súng vào quân xâm lược Pháp đang chiếm đóng ở Thủ đô và một số thành phố thị xã quan trọng. Cuộc chiến đấu chủ động vây đánh địch trong các thành phố lớn, thị xã lớn đã diễn ra hết sức quyết liệt. Nó đã đánh bại hoàn toàn âm mưu và kế hoạch của thực dân Pháp hòng đánh vào cơ quan đầu não của ta ở Hà Nội, tiêu diệt lực lượng vũ trang của ta ở các thành phố, thị xã lớn. Ta đã vây hãm quân địch một số ngày vừa để tiêu hao, bảo toàn mình, mà còn để tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến. Đây là cuộc chiến đấu của các tầng lớp nhân dân thành thị, có vệ quốc quân và tự vệ làm nòng cốt, có nông thôn ngoại thành làm chỗ dựa, chủ động tiến công và chủ động kết thúc trước khi kẻ địch đem toàn lực phản kích, nhằm bảo tồn lực lượng ta. Tiêu biểu của cuộc chiến đấu này là trận chiến đấu trong 60 ngày dêm ở Thủ đô Hà Nội.

        Bằng cách đánh lúc đó ta gọi là “du kích trận địa chiến”, quân và dân Thủ đô đã cùng một số thành thị khác như Nam Định, Huế, Đà Nẵng đã dũng cảm chiến đấu diệt nhiều địch và kìm được quân Pháp để cho toàn quốc chuyển vào chiến tranh.

        Một phóng viên hãng thông tấn AFP của Pháp lúc đó tại Hà Nội đã viết như sau: “Trong cuộc chiến tranh kì dị này, người ta có thể chết một cách dễ dàng ở bất kỳ nơi nào, lúc nào mà không thể biết được... Trong đơn vị đóng ở nhà thờ để trông giữ mặt Hàng Bông, một trung úy chỉ huy, đã tính có tới 35 người chết... Việt Minh ban đêm len lỏi vào các phố một cách nhanh nhẹn, không một tiếng động, không một bóng người. Từ trên gác cao, quân Pháp ném lựu đạn xuống - Họ vẫn tiến công hăng hái và bền bỉ với những tiếng hò hét khủng khiếp. Đến sáng họ lại biến như mây khói - Ban ngày, họ tìm nơi chắc chắn nhất, chĩa súng vào các vị trí của đối phương. Tiếng súng nổ cả ban ngày, không phải chỉ ở những nơi có giới tuyến rõ rệt, mà cả ở những khu vực quân Pháp cho là đã quét sạch. Những nơi mà tôi mới đi qua thì một giờ sau, người ta đã thấy những xác lính Pháp chết gục ở đấy rồi...”.

--------------
1. Chỉ thị toàn dân kháng chiến của ban Thường vụ Trung ương 22-12-1946.

2, 3 Ăng-ghen - Lê-nin - Stalin, Bàn về chiến tranh nhân dân, NXB Sự thật, Hà Nội 1970, trang 195.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #52 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:03:53 PM »


        Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, các đơn vị chủ lực của ta đã rút về hậu phương để bảo toàn lực lượng và xây dựng lực lượng mạnh hơn nữa để kháng chiến lâu dài, và toàn dân đã thực hiện chỉ thị “tiêu thổ kháng chiến”, phá các thành phố, thị xã ta còn làm chủ, không cho địch lợi dụng.

        Đảng đề ra “nhiệm vụ chính lúc này là bảo toàn chủ lực để kháng chiến lâu dài”1 phát động chiến tranh du kích. Các trung đoàn tổ chức lại bao gồm các đại đội độc lập và một tiểu đoàn tập trung. Đưa các đại đội độc lập về các huyện để phát động du kích chiến tại cơ sở, kết hợp với tiểu đoàn tác chiến tập trung trên một địa bàn rộng đánh nhanh thắng nhanh là một chủ trương quan trọng. Đảng đưa ra các phương châm chỉ đạo tác chiến như “chiến thuật căn bản của ta là du kích vận động chiến, chú trọng đánh những trận tiêu diệt để làm cho ta hy sinh ít mà thu được kết quả nhiều, thực hiện càng đánh càng mạnh”2, “để thắng địch, chiến thuật của ta phải là du kích vận động chiến, bộ đội phải biết vận động nhanh chóng mới có thể áp dụng được triệt để chiến thuật du kích”3. “Trong hoạt động du kích cần phải tích cực, bí mật, nhanh chóng, tránh mạo hiểm, thực hiện phương châm càng đánh càng mạnh”4. Những đơn vị chủ lực tiến hành vận động chiến “phải tập trung bộ đội, củng cố tinh thần bộ đội, dùng lối hành binh rất nhanh chóng, rất bí mật mà đánh mạnh vào những chỗ địch tương đối yếu hay mới chiếm chưa củng cố vị trí, sau đó lập tức rút lực lượng đi nơi khác”5. Thực hiện được như vậy nhất định “chiến thuật du kích vận động của quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam sẽ tiêu diệt giặc Pháp”6.

        Đây là sự chỉ đạo tác chiến rất kịp thời và chính xác nhằm phá cuộc tiến công lớn của giặc Pháp, bảo toàn lực lượng ta. Nhờ vậy, khi thực dân Pháp có viện binh vào đầu năm 1947 với lực lượng trên 10 vạn quân, chúng thực hiện cuộc tiến công lớn đánh ồ ạt ở Bắc Bộ, Trung Trung Bộ nhằm giải vây các thành phố, kiểm soát giao thông, định hình thành thế bao vây nhanh chóng chiếm cả nước ta, nhưng đã bị thất bại. Ba thứ quân của ta với phương pháp tác chiến chủ yếu là du kích chiến bám đất bám dân đã phá cuộc tiến công mở rộng địa bàn và tiêu diệt lực lượng của địch. Ta lấy tiến công bất ngờ tiêu diệt địch về chiến đấu - chiến dịch làm phương pháp vừa tiêu hao địch về chiến lược, lấy vũ khí địch đánh địch, vừa bảo toàn lực lượng của ta. Đảng ta đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết quân sự Mác - Lê-nin vào điều kiện của Việt Nam, như Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra: “phòng ngự không nên chỉ là tiêu cực, nó phải tập trung sức mạnh của nó trong tính cơ động ở bất cứ nơi nào mà điều kiện cho phép thì những người phòng ngự đều phải có hành động tiến công”7.

        Do đó phong trào chiến tranh du kích đã nổi lên ở khắp nơi, một trung đội, một tiểu đội, một tổ, thậm chí một người cũng có thể làm nên một trận đánh nếu có thời cơ thuận lợi, nhằm tiêu diệt địch, cướp vũ khí địch trang bị cho ta.

        Nơi nào chưa quán triệt đúng tư tưởng chỉ đạo tác chiến đó thì đều không tránh khỏi bị tổn thất. Như ở Thừa Thiên và Sơn La. Vệ quốc quân và du kích đã rải lực lượng “lập phòng tuyến án ngữ” trên các trục đường giao thông, đương đầu với mũi dùi chủ lực của địch đều bị địch tập trung lực lượng và phương tiện đánh chính diện kết hợp với bao vây vu hồi lần lượt phá vỡ từng tuyến một gây tổn thất cho ta, buộc ta phải rút. Từ đó Bộ Tổng Tham mưu đã phải ra huấn lệnh bỏ cách đánh dàn quân giữ đất, hình thức dồn đống và lối bố trí chính quy hóa, phê phán tư tưởng “phòng ngự bị động rải mành mành, lối trận địa chiến áp dụng và những điều kiện không thể đánh trận địa” đề ra chủ trương “kiên quyết thay đổi cách đánh” và nêu lên sự cần thiết phải chuyển hẳn sang du kích vận động chiến. Những uốn nắn kịp thời này của Bộ Tổng chỉ huy đã làm cho quân và dân ta đứng vững trước các cuộc tiến công ào ạt của địch, rèn luyện quân chủ lực thạo cách đánh du kích, vận động, đồng thời xây dựng lực lượng dân quân du kích đứng chắc tại các địa phương cùng nhân dân đánh dịch. Đây cũng là nét độc đáo về nghệ thuật quân sự của Đảng ta, đã phát động chiến tranh du kích rộng khắp, với sức mạnh của ba thứ quân, với cách đánh du kích vận động chiến, trụ bám dân, bám đất. Ta phân tán chủ lực để hòa vào biển chiến tranh nhân dân, xây dựng và phật huy sức mạnh tổng hợp nhằm chống lại các cuộc phản công và tiến công, phá chiến lược “chớp nhoáng” của địch.

        Mặc dù địch có tăng viện binh lên 11 vạn, thực hiện các cuộc tiến công lớn, đánh thọc sâu vào các vùng hậu phương nhằm khủng bố nhân dân, hòng diệt chủ lực, đánh phá cơ quan chỉ đạo kháng chiến ta để kết thúc chiến tranh nhanh nhưng ở đâu chúng cũng đều vấp phải tinh thần quyết chiến, cách đánh du kích vận động chiến nhằm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, bảo toàn và phát triển lực lượng ta. Như việc quân và dân ta đã đánh bại cuộc hành quân của 5.000 quân Pháp hòng đánh phá cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ ta ở Ứng Hòa, Chương Mỹ, (Hà Tây). Trung đoàn Thủ Đô và trung đoàn Vệ quốc quân Sơn Tây đã cùng dân quân du kích diệt trên 800 tên địch, đẩy lùi cuộc tiến công, buộc chúng phải rút về Hà Nội. Ở Nam Bộ, trên các trục đường giao thông. Vệ quốc quân đã đánh những trận phục kích xuất sắc, phá hủy từng đoàn tàu xe, diệt gọn nhiều trung đội, đại đội địch, có cả chỉ huy như quan năm: Đờ-sát Tờ-rô-ca, bắt nhiều tù binh, trong đó có cả bộ trưởng ngụy quyền Trương Vĩnh Tống, thu nhiều vũ khí, khí tài. Cuộc tiến công chiến lược “chớp nhoáng” lần 1 thất bại, quân Pháp co về các thành phố, ra sức tăng viện để chuẩn bị cho cuộc tiến công mới, quyết tâm thực hiện cuộc tiến công chiến lược “chớp nhoáng” lần thứ 2 vào Thu Đông năm 1947. Lúc này Trung ương Đảng và Chính phủ đã chuyển lên Việt Bắc để chỉ đạo cả nước kháng chiến. Do lực lượng ta bước đầu đã được củng cố và phát triển, tổng số Vệ quốc quân lên tới 125.000 người, gồm 57 trung đoàn, 19 tiểu đoàn độc lập. Những đội du kích ở khắp nơi trên cả nước, nhiều làng xã đã trở thành pháo đài chiến đấu, đã tạo điều kiện cho “bộ đội chính quy bớt phải lo giữ các địa phương” “di động được dễ dàng, nắm hẳn lấy quyền chủ động làm cho giặc bị tê liệt, bị vây hãm, bị đánh lúc chúng không muốn đánh, bị khốn cùng cả về mọi mặt”.

-----------
1. Nghị quyết hội nghị quân sự lần thứ nhất (1-1947).

2. Báo cáo tại hội nghị chính trị viên lần thứ nhất.

3. Huấn lệnh về du kích vận động chiến 1-2-1947, tr. 453.

4. Huấn lệnh ngày 14-11-1947.

5, 6. Huấn lệnh ngày 6-3-1947, tr. 453.

7. Ph.Ăng-ghen. “Chiến tranh rừng núi xưa và nay”.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #53 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:07:41 PM »


        Khi địch mở chiến dịch tiến công lên Việt Bắc, Đảng ta đã ra chỉ thị “phá tan cuộc tiến công mùa đông này của giặc Pháp”, đặt nhiệm vụ cho quân và dân Việt Bắc và cả nước là: “Làm cho địch thiệt hại nặng để không gượng lại được sau chiến dịch mùa đông”1, “bắt địch chuyển sang thế thủ”2. Chỉ thị vạch ra phương hướng hành động là “giam chân quân địch tại các căn cứ đã chiếm, chặt đứt đường giao thông liên lạc giữa các cứ điểm của địch, không cho chúng tiếp ứng và tiếp tế; giữ gìn chủ lực, nhưng cũng phải nhè chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu diệt”3.

        Nên khi mở màn chiến dịch Việt Bắc, quân và dân Bắc Cạn dù bị bất ngờ đã không bị thiệt hại trong cuộc tập kích lớn của quân địch đổ bộ đường không. Binh đoàn Sô-va-nhắc bị quân và dân Bắc Cạn bao vây cô lập giữa rừng sâu. Trên mặt trận Sông Lô, binh đoàn Com-muy-nan vừa đổ bộ lên bến Bình Ca định đánh từ Tuyên Quang lên Chiêm Hóa, đã bị quân ta diệt từng trung đội, đại đội, mất sức chiến đấu, phải rút khỏi Đầm Hồng, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Gọng kìm Sông Lô bị bẻ gãy. Trên mặt trận đường số 4, các tiểu đoàn tập trung cùng dân quân đã đánh vận động diệt hàng trăm tên địch tại Đông Khê, Thất Khê, Vũ Nhai, Tràng Xá và phục kích diệt gọn cả một đoàn 33 xe cơ giới, gần 300 tên địch tại Bông Lau. Đường số 4 thành “con đường máu” đối với giặc Pháp. Trên mặt trận đường số 3, các tiểu đoàn tập trung đã tập kích các vị trí Chợ Mới - Phủ Thông, diệt gọn từng trung đội địch trên đèo Gió, đèo Giàng, cắt đứt đường tiếp viện của địch từ Cao Bằng xuống Bắc Cạn. Địch phải rải quân để chữa đường bị ta phá hoại và đóng đồn bốt trên hàng trăm ki-lô-mét để giữ hành lang tiếp tế, lại liên tiếp bị tiêu hao từng bộ phận, binh đoàn Bô-phơ-rê đến được Bắc Cạn thì hết lực lượng.

        Cuối cùng cả ba binh đoàn tiến công của giặc Pháp đều phải rút chạy khỏi Việt Bắc.

        Kết quả của chiến dịch này, ta đã diệt hơn 3.000 tên địch, làm bị thương hơn 3.000 tên, gọi hàng 270 tên, đánh bại cuộc tiến công chiến lược của hơn 2 vạn quân viễn chinh Pháp.

        Đây là một chiến dịch phản công có quy mô tương đối lớn đầu tiên của ta tại căn cứ địa vùng rừng núi, bao gồm các trung đoàn vệ quốc quân các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang cùng các đơn vị trực thuộc Bộ Tổng chỉ huy và Bộ chỉ huy các chiến khu 1, 10. Các đơn vị này nhanh chóng phân tán thành 30 đại đội độc lập và 18 tiểu đoàn tập trung, cùng dân quân du kích đánh địch ở từng huyện, từng khu vực. Với cách đánh chủ yếu là đánh du kích vận động chiến của bộ đội chủ lực, tác chiến với quy mô từng trận cấp tiểu đoàn, trung đoàn, của nhiều trung đoàn phụ trách từng khu vực theo một kế hoạch và chỉ huy thống nhất ở mức độ thấp của Bộ Tổng tư lệnh trong thế trận chiến tranh nhân dân đã tương đối phát triển, không những đã đẩy lùi chiến dịch tiến công của địch vào Việt Bắc, mà còn giải phóng thêm nhiều thị trấn, mở rộng vùng tự do của ta.

        Kết thúc giai đoạn giữ vững và phát triển lực lượng, bằng chiến tranh du kích, kiềm chế tiêu hao địch, sau một năm kháng chiến toàn quốc, chúng ta đã đánh bại chiến lược “Đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp. Chiến thắng Việt Bắc đã đưa cuộc kháng chiến của ta sang giai đoạn mới. Phương thức tiến hành chiến tranh du kích đã thắng, phá được chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của đội quân nhà nghề có trang bị bảo đảm, có sức mạnh hơn ta.

        Quân địch muốn đánh nhanh thắng nhanh, ta đã bắt chúng phải đánh lâu dài để đưa chúng vào con đường thất bại. Địch muốn có một cuộc chiến tranh chính quy, có chiến tuyến rõ ràng, ta đã bắt chúng phải chấp nhận một cuộc chiến tranh du kích, không chiến tuyến, xen kẽ triệt để. Địch muốn bắt ta giao chiến công khai để tiêu diệt chủ lực ta, ta đã tránh quyết chiến trong điều kiện không có lợi, để bảo toàn được chủ lực, lại tích cực tiến công tiêu diệt địch trong những điều kiện có lợi cho ta. Địch muốn tập trung lực lượng để tiến công ta, ta đã bắt chúng. phải phân tán lực lượng để chống đỡ. Địch muốn bình định củng cố hậu phương của chúng, ta đã đưa chiến tranh vào địch hậu, biến hậu phương của chúng thành tiền tuyến và hậu phương của ta.

------------
1 – 3. Chỉ thị phải phá tan cuộc tiến công mùa đông của giặc Pháp (15-10-1947).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #54 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:12:03 PM »


        2. Phá chiến lược “siết chặt và vết dầu loang” của thực dân Pháp; từ chiến tranh du kích lên chiến tranh chính quy, kết hợp chặt chẽ giữa du kích chiến với vận động chiến.

        Sau chiến dịch Việt Bắc, địch đã thấy hụt hơi, phải bỏ chủ trương tập trung lực lượng viễn chinh từ chính quốc sang mở các cuộc hành quân lớn tiến công vào trung tâm đầu não chỉ đạo chiến tranh và mở rộng địa bàn chiếm đóng để chuyển sang giữ các địa bàn đã chiếm, “tăng cường càn quét bình định, củng cố chính quyền bù nhìn tay sai hòng lấy ngay người và của của ta, dùng người Việt đánh người Việt và mở rộng dần địa bàn theo kiểu “vết dầu loang”.

        Trước tình hình như vậy, Đảng ta đã nhận định: “Ta bổ sung thực lực có hiệu quả, từ chỗ phòng ngự dần dần tiến lên chỗ cầm cự với địch”.

        Chủ trương chiến lược và các phương pháp tác chiến đã được xác định trong các hội nghị của Trung ương Đảng lúc đó là:

        Nhiệm vụ chiến lược “Thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, đẩy địch vào thế đóng giữ” và “Phát triển du kích sau lưng địch, hoạt động du kích một cách tích cực hơn trong vùng địch kiểm soát, ngay trong các thành phố tạm bị chiếm. Học đánh vận động bằng tiểu đoàn tập trung rồi tiến lên thực hiện đánh vận động bằng trung đoàn dã chiến. Đột kích quét cứ điểm nhỏ, chế vũ khí mới để đánh pháo đài (cứ điểm) nhỏ và tiến lên có thể đánh chiến thị trấn. Ra sức chặn đánh các đường giao thông tiếp tế của địch cả trên bộ, dưới thủy và trên không. Mở rộng vũ trang tuyên truyền và địch vận”1.

        Đồng thời phải nắm vững “Mục đích tác chiến thiết thực của ta là, tiêu diệt lực lượng sắc bén của địch cho thật nhiều, giữ gìn và bồi bổ lực lượng của ta chứ không phải lấy việc cố giữ hoặc chiếm lại đất đai làm công việc chính, cũng không phải giữ gìn lực lượng là chạy dài”2.

        Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo đó, chúng ta đã phát triển chiến tranh du kích ở khắp nơi, đập tan các cuộc hành quân đánh phá bình định. Ta đã có khả năng diệt gọn từng trung đội đại đội địch, có trận đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn dù (như ở Giồng Định - Chợ Lớn). Các đại đội độc lập tiến lên đánh đồn, diệt những toán quân nhỏ lưu động (như đại đội độc lập của trung đoàn Bắc Bắc diệt đồn Cẩm Lý; đại đội 87 Quảng Trị diệt gọn 2 trung đội). Dân quân du kích xã đã có khả năng bao vây đồn giặc và tiêu diệt từng tốp giặc như ở Mao Điền (Bắc Ninh). Đồng thời ở nhiều nơi, nhân dân đã rào làng, đắp lũy, xây dựng củng cố làng chiến đấu và căn cứ du kích, hình thái chiến tranh xen kẽ cài răng lược giữa ta và địch xuất hiện ngày càng rõ rệt, như căn cứ du kích ở Lang Tài, Gia Bình (Bắc Ninh) hoặc ở vùng địch hậu Nam Định - Thái Bình và vùng U Minh - Đồng Tháp Mười Nam Bộ.

        Thực hiện chiến lược trên, sau 2 năm từ cuối năm 1947 đến đầu năm 1949, ta đã thành công, “biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta, đó là thành công lớn nhất của ta trong năng 1948”3. Từ đó Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ quân sự là: phải phát triển từ chủ động chiến dịch đi đến chủ động chiến lược từng bộ phận một cách mạnh bạo hơn với tư tưởng chỉ đạo tác chiến “lấy du kích chiến là căn bản, vận động chiến là phù trợ. Nhưng cần mạnh bạo đưa vận động chiến đi tới và khi đủ điều kiện thì kịp thời nâng vận động chiến lên địa vị quan trong”4.

        Trên cơ sở chiến tranh du kích phát triển mạnh, tư tưởng đánh tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta ngày càng được quán triệt trong lực lượng vũ trang cả ba thứ quân, làm cho “chiến lược vết dầu loang, lấy người Việt đánh người Việt của địch bị lung lay và ta ngày càng mạnh”5.

------------
        1, 2. Văn kiện quân sự của Đảng - Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ V (8-8-1948).

        3. Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ V (8-1948)

        4. Nghị quyết Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (1-1949).

        5. Báo cáo quân sự tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ 6 (1-1949).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #55 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:14:32 PM »


        Trong thời kỳ năm 1948 đến 1949 và đầu năm 1950, những sự kiện quân sự chính của chiến tranh đã diễn ra như sau:

        - Bước vào năm 1948 quân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng trên nhiều vùng lãnh thổ nước ta.

        Ở miền Nam chúng chiếm tất cả các thành phố, thị xã. Tại miền Trung ta chỉ còn 2 khu vực tự do là Thanh Nghệ Tĩnh ở Liên khu 4 và ba tỉnh ở Liên khu 5. Ở miền Bắc địch chiếm hầu hết vùng đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc và Đông Bắc, ta còn trung du, Thanh Hóa và căn cứ địa Việt Bắc là vùng tự do.

        Về phía ta, thực tế lực lượng vũ trang cả ba thứ quân, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương có mặt trên hấu hết lãnh thổ đất nước Việt Nam ngay cả ở các thành phố lớn như Hà Nội, ven đô Sài Gòn và vùng ven. Nói chung dân quân du kích, tự vệ của ta thường xuyên có mặt trên các huyện, thị trấn, thị xã trên toàn quốc với số lượng khác nhau. Các trận đánh nổ ra liên tiếp trong hậu phương địch. Các đường như đường số 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng - đường số 4 từ Cao Bằng lên Lạng Sơn đã trở thành “con đường không vui, con đường chết, con đường khủng khiếp” của quân Pháp.

        Hội tề thực sự đại bộ phận là hai mặt, bề ngoài là của địch thực tế là của ta - lòng dân nói chung là ủng hộ kháng chiến. Những làng chiến đấu, khu du kích mọc lên càng ngày càng nhiều, có nơi sát ngay ven đô thị. Trong 2 năm 1948 - 1949, số lần càn quét đánh vào làng chiến đấu chiếm 3/4 tổng số hàng nghìn cuộc hành quân càn quét của địch ở đồng bằng Bắc Bộ.

        Từ Bắc chí Nam những làng chiến đấu nổi tiếng xuất hiện như: Đình Bảng (Bắc Ninh), Chi Lăng (Lạng Sơn), Vật Lại (Sơn Tây), Cảnh Dương, Cư Nương (Quảng Bình), Khu Xi-tơ (Gia Lai), Tân Phú Trung (Củ Chi).

        Quân chủ lực của ta hoạt động càng ngày càng mạnh chủ động mở hàng loạt chiến dịch nhỏ trên các chiến trường Bắc Bộ ở Tây Bắc (chiến dịch Sông Thao) và Đông Bắc (chiến dịch Cao - Bắc - Lạng) tiêu diệt nhiều đồn bốt cấp đại đội như Phú Thông, Bần, trận Phố Ràng, Đại Bục và nhiều đoàn xe của địch trên đường giao thông như ở Bông Lau, Lũng Phầy trên đường số 4 ở La Ngà trên đường 20 (diệt 60 xe, viên quan năm Panuyt, tổng tham mưu Pháp quân viễn chinh chết trận, quan năm Đờ Xerinh bị bắt làm tù binh) ở Tầm Vu.

        Ở Bắc Bộ Thu Đông 1948, ta đã giành chủ động trên một hướng.

        Trong thời gian này cách mạng giải phóng ở Lào và Cam-pu-chia cũng đang được dấy lên với sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam, phong trào kháng chiến chống pháp ở Hạ Lào và Thượng Lào dưới sự chỉ đạo của Khăm Tày Xi Phăn Đon và Xi Thon Bùm Dan ở Hạ lào và Cay Xỏn Phôm Vi Hản ở Thượng Lào đều phát triển, xây dựng lực lượng vũ trang, đẩy mạnh chiến tranh du kích chống thực dân Pháp, tổ chức chiến dịch Sông Mã, tập kích tiêu diệt đồn Xiềng Khọ, các quân khu 7, 8, 9, 5 ở Nam Bộ và Trung phần đưa cán bộ dân vận và các đơn vị vũ trang sang Cam-pu-chia giúp bạn hoạt động xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, ở các tỉnh biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia. Đến cuối năm 1949 phong trào kháng chiến Cam-pu-chia đã phát triển đều khắp trong vùng Tây Nam, Đông Nam, Đông Bắc và Tây Bắc, mười bốn trong mười lăm tỉnh đã có vùng giải phóng và căn cứ du kích.

        Tháng 5 năm 1949, trong tình thế khó khăn, bị động, chính phủ Pháp đã phải cử đại tướng Rơve, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp sang nghiên cứu tình hình và cuối cùng Rơve đi đến kết luận là “không thể có một giải pháp quân sự và cũng không còn hy vọng lật lại tình thế để đặt những điều kiện có lợi trong một cuộc điều đình”1.

        Chiến tranh toàn dân được đẩy mạnh, lực lượng vũ trang nhân dân địa phương được mở rộng. Điều đó đã tạo điều kiện để bộ đội chủ lực có thể tập trung lại xây dựng thành những trung đoàn như trước đây và bắt đầu ra đời đại đoàn, nhằm tăng thêm khả năng đánh tiêu diệt lớn hơn, đẩy nhanh quá trình thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch. Cuối năm 1949 quân chủ lực của ta đã có hai đại đoàn 308, 304 và các trung đoàn bộ binh, các binh chủng thông tin, công binh, pháo binh được tổ chức thành các tiểu đoàn. Lúc này lực lượng chủ lực thuộc Bộ Tổng chỉ huy của ta đã đông hơn lực lượng cơ động của địch (toàn Đông Dương lực lượng cơ động của địch có 12 tiểu đoàn, tính đến tháng 8-1950) do phải phân tán chiếm đóng chống chiến tranh du kích. Điều đó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đến sự phát triển của cục diện kháng chiến.

        Từ Thu Đông 1948 đến cuối 1949 bộ đội ta đã liên tục mở trên 30 trận lớn nhỏ có tính chất du kích trên các chiến trường. Mức tập trung trong mỗi trận đánh từ 3 đến 5 tiểu đoàn, nhưng các trận đánh quy mô tiểu đoàn vẫn là chủ yếu với phương châm tác chiến tích cực, chủ động, linh hoạt tiến công, lúc phân tán đánh du kích tiêu hao, tiêu diệt nhỏ địch, khi thì tập trung đánh vận động, phục kích, tập kích vây đồn diệt viện có cả những trận đánh đồn, như Phố Lu - Lào Cai, Đông Khê, v.v...

--------------
        1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chiến đấu trong vòng vây, Nxb QĐND - Nxb Thanh niên, trang 351.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #56 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:17:50 PM »

       
        Với tương quan thế lực như vậy, bước vào năm 1950, trước thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, nước ta đã nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa. Đây là một sự kiện chiến lược có tính chất bước ngoặt phá vỡ tình trạng chiến đấu trong vòng vây của cuộc chiến tranh chống Pháp xâm lược. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (14-8-1949) đề ra nhiệm vụ tích cực cầm cự ra sức chuẩn bị về mọi mặt để chuyển sang tổng phản công. Giai đoạn phản công và tiến công đi đến giải phóng miền Bắc bắt đầu từ chiến dịch Biên Giới năm 1950 đến chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.

        Đảng đề ra nhiệm vụ quân sự là một mặt chiến đấu để tiêu diệt sinh lực địch, một mặt gấp rút bồi dưỡng và xây dựng quân đội nhân dân”1 nhằm “thực hiện cho kỳ được nhiệm vụ tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch”2 “quyết tâm giành ưu thế quân sự”3 trên chiến trường chính.

        Để mở thông biên giới, thực hiện trực tiếp nối liền nước ta với các nước xa hội chủ nghĩa, đầu tháng 6-1950, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, mở cửa biên giới, củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Kiên quyết tập trung lực lượng tiến công địch trên một hướng quyết định, ở thời điểm quyết định để chuyển từ thế cầm cự, giằng co giữa ta và địch sang thế tiến công, mà lúc đó địch còn tiếp tục tiến công chiến lược với ý định bình định ở hậu địch kết hợp với tiến công mở rộng ra vùng tự do. Nên ta gọi là phản công chiến lược, trên cơ sở tiến triển của thế lực của ta trong nước cộng với sự phá vỡ thế cô lập về chiến lược, kết hợp sức mạnh của toàn dân Việt Nam với sức mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa. Với sự chi viện quốc tế quân chủ lực của ta đã trưởng thành nhanh chóng vượt bậc cả về số lượng, chất lượng, tổ chức trang bị. Chiến tranh du kích tiếp tục được mở rộng, chiến tranh chính quy của các sư đoàn chủ lực bắt đầu xuất hiện và trưởng thành nhanh chóng, càng ngày càng giữ vị trí quan trọng. Hai hình thức chiến tranh song song, kết hợp và thúc đẩy lẫn nhau phát triển, đưa cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam sang một giai đoạn mới vế chất.

        Các chiến dịch lớn bắt đầu xuất hiện trên cơ sở mở rộng vận động chiến của các binh đoàn chủ lực.

        Mở đầu vận động chiến của chủ lực là chiến dịch Biên Giới và cũng là mở đầu việc kết hợp đánh tiêu hao rộng rãi, tiêu diệt nhỏ du kích với tiêu diệt chiến chính quy.

        Từ các chiến dịch với 3 - 5 tiểu đoàn đánh ở cấp tiểu đoàn là chính, quân chủ lực của ta tiến lên mở chiến dịch lớn với 1 đại đoàn, 2 trung đoàn chủ lực cùng với 3 tiểu đoàn địa phương và dân quân du kích của hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn.

        Ý nghĩa của việc tiêu diệt sinh lực địch trong chiến dịch này thể hiện rất cao trong cách đánh vận động kết hợp với đánh công kiên. “Đánh điểm diệt viện đã trở thành một phương thức tác chiến chiến dịch của nghệ thuật quân sự chúng ta trong điều kiện kẻ địch còn mạnh, với những khu vực phòng thủ vững chắc từ Cao Bằng đến Lạng Sơn - Tiên Yên - Móng Cái; còn ta thiếu những binh chủng và vũ khí nặng để công kiên”. Hướng chủ yếu của chiến dịch là nhằm vào khâu quan trọng nhưng có nhiều sơ hở trên phòng tuyến. 

        Sau khi cân nhắc và đối chiếu với nguyên tắc chỉ đạo tác chiến, ta quyết định đánh Đông Khê trước. Phân tích chủ trương này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Ta đánh vào Đông Khê là đánh vào nơi quân địch tương đối yếu, nhưng lại là vị trí rất quan trọng của địch, trên tuyến Cao Bằng - Lạng Sơn. Mất Đông Khê, địch buộc phải cho quân đi ứng cứu, ta có cơ hội diệt chúng trong vận động.

        Phối hợp với chiến dịch Cao - Bắc - Lạng, ta đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các mặt trận Tây Bắc, trung du, đồng bằng Bắc Bộ, Bình - Trị - Thiên, Nam Bộ.

        Mặt trận Tây Bắc thực hiện nghi binh, địch tưởng ta sắp mở chiến dịch ở đây, vội vã cho quân nhảy dù xuống Phú Thọ.

        Theo đúng kế hoạch, ta đánh Đông Khê và tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm này. Tiếp đó, ý đồ tác chiến của ta là nhử địch vào tròng để “khép vòng lưới thép” thực hiện một trận vận động chiến lớn. Binh đoàn Lơ-pa-dơ từ Thái Khê đi ứng cứu định bất ngờ giành lại Đông Khê đã bị ta phục kích, bao vây tiến công liên tục, bị tiêu diệt gọn tại Khâu Luông và Cốc Xá. Binh đoàn Sác-tông từ Cao Bằng rút xuống định hội quân với Lơ-pa-dơ cũng bị ta liên tục bám sát, chặn đánh, bao vây tiến công liên tục, bị tiêu diệt gọn tại điểm cao 477 và Nà Cao đưa chiến dịch tới toàn thắng.

        Trước những diễn biến nhanh chóng bất ngờ như vậy, quân Pháp hoang mang vội vã rút quân từ Thất Khê, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Đình Lập, đến An Châu.

        Kết quả chiến dịch, ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.000 tên địch (trong đó bắt sống 3.500 tên với toàn bộ Bộ chỉ huy của hai binh đoàn). Số đơn vị địch bị diệt gọn lên tới 8 tiểu đoàn, trong đó 5 tiểu đoàn là lực lượng ứng chiến, chiếm tỷ lệ khoảng 50% lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc Đông Dương.

        Đây là con số có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng về khả năng đánh tiêu diệt của quân đội ta, như lời kết luận của đồng chi Tổng bí thư Trường Chinh: “Chiến dịch Cao Bằng - Lạng Sơn đã làm cho ta thấy rõ những khả năng rất lớn của quân và dân ta”, quân đội ta đã tiến bộ, mới ngày nào còn là những đội du kích nhỏ” mà nay đã “tập trung quân lực hàng vạn, đánh theo lối chính quy”.

        Chiến dịch đã thực hiện đúng mục tiêu mà Đảng đã đề ra là “tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch” làm thay đổi thế trận. Hơn nữa, từ kết quả đó, kẻ địch đã buộc phải bỏ vùng chiến lược Đông Bắc hết sức quan trọng, “ta đã phá tan kế hoạch bao vây chia cắt Bắc Bộ, bao vây căn cứ địa Việt Bắc và phong tỏa biên giới Việt - Trung, làm thất bại kế hoạch lập nước Nùng, nước Mường, nước Thái”. Ta lại thực hiện được mục đích mở rộng và củng cố vững chắc hơn vùng giải phóng, làm phá sản những âm mưu chiến lược “vết dầu loang”, làm thất bại kế hoạch Rơ-ve định mở các chiến dịch lớn, tiêu diệt sinh lực ta. Cũng từ đó lực lượng ta được bồi bổ thêm lên làm cho tương quan thế lực giữa ta và địch đã có nhiều thay đổi. Địch buộc phải co lại trong thế phòng ngự bị động. Ta đã bước vào thời kỳ nắm được chủ động về chiến lược ở chiến trường chính là Bắc Bộ.

------------
        1 - 3. Nghị quyết Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng (1-1950).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #57 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 12:23:03 PM »


        3. Đánh bại chiến lược “bình định gấp rút và phản công”, đập tan kế hoạch Tat-xi-nhi của thực dân Pháp, tăng cường du kích chiến tranh kết hợp với phát triển chiến tranh chính quy, đẩy mạnh vận động chiến của chủ lực, đánh địch cả ở ngoài tuyến và trong vùng địch hậu.

        Bước vào những năm 50, được Mỹ tiếp sức, thực dân Pháp chủ trương kiên quyết giữ Đông Dương, tiếp tục thực hiện chính sách “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, “dùng người Việt đánh người Việt”; một cách triệt để hơn, tập trung lực lượng phòng ngự và bình định Bắc Bộ, địa bàn mà chúng coi là “cái then cửa của vùng Đông Nam Á”1. Đồng thời chúng ra sức tăng cường về mọi mặt chuẩn bị điều kiện để phản công tiêu diệt chủ lực ta, cố giành quyền chủ động đã mất.

        Thực hiện chiến lược đó, cuối năm 1950, thực dân Pháp đã cử viên đại tướng Đờ Tát-xi-nhi sang Đông Dương. Kế hoạch của Đờ Tát-xi-nhi với ý đồ chiến lược là gấp rút xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược mạnh và phát triển ngụy quân lập “vành đai trắng” thực hiện bình định vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, bao vây phá hoại vùng tự do của ta. Ý đồ này là nhằm bình định gấp rút và phản công quyết liệt, là sự nỗ lực rất lớn của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ hòng đè bẹp lực lượng ta để giải quyết chiến tranh.

        Vì vậy chiến lược của Trung ương với mục tiêu trước mắt là phải phá kế hoạch củng cố lực lượng và bình định đồng bằng của địch, giữ vững quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường Bắc Bộ với phương châm là “đề cao vận động chiến của bộ đội chủ lực và phát triển du kích chiến”2. “Riêng khu 3, phải đặc biệt chú trọng du kích chiến tranh đều khắp”3 và thực hiện chủ trương củng cố và tăng cường bộ đội chủ lực, đồng thời củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích”4. Ta đã xây dựng thêm ba đại đoàn bộ binh: 312, 316, 320 và đại đoàn công pháo.

        Sau khi nhanh chóng chấn chỉnh bộ đội, ta tranh thủ mở liên tiếp ba chiến dịch đánh vào phòng tuyến của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Trần Hưng Đạo (chiến dịch Trung du) ta dùng hai đại đoàn 308 và 312 nhằm đánh vào phòng tuyến của địch từ Vĩnh Phú đến Hà Bắc. Bộ đội ta với những chiến thuật “bôn tập” diệt đồn, đánh điểm diệt viện, đánh gần, đã tiêu diệt được một số cứ điểm có công sự vững chắc của địch và đánh bại cuộc hành quân ứng chiến của binh đoàn cơ động số 3 của địch. Nhưng địch đã lợi dụng địa hình trống trải, cho máy bay ném bom và pháo binh bắn phá dữ dội vào quân ta. Mặc dù địch có lúng túng, nhưng ta cũng không còn lực lượng dự bị để phát triển chiến dịch.

        Chiến dịch Hoàng Hoa Thám ta dùng 7 trung đoàn đánh vào phòng tuyến của địch trên đường số 18, diệt được 4 cứ điểm, định nhử quân địch tiếp viện, nhưng không thành công.

        Chiến dịch Quang Trung mở ra nhằm vào Hà Nam Ninh. Đây là nơi yếu nhất của địch ở đồng bằng Bắc Bộ. Đại đoàn 308 lần đầu tiên đánh vào một tỉnh lỵ, cùng với một số đơn vị của đại đoàn 304 đánh công kiên vào một số cứ điểm của địch ở Ninh Binh. Sau khi diệt được địch trong thị xã, địch điều quân ứng chiến lớn đối phó với sự chi viện của không quân đã giành lại được thị xã.

        Đây là ba chiến dịch quy mô đầu tiên đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Mặc dù ta đã tiêu diệt được hơn 1 vạn tên địch (trong đó gần một nửa là quân cơ động), nhưng đến khi kẻ địch tăng cường máy bay, đại bác, với hỏa lực mạnh, công sự vững chắc, sức cơ động cao thì lực lượng ta cũng bị tiêu hao, buộc phải lui quân.

        Chúng ta mắc một số khuyết điểm, như lời nhắc nhở của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Khuyết điểm là chủ lực, bộ đội địa phương và du kích đều muốn đánh to, ăn to, thiếu nghiên cứu hiểu rõ tình hình khả năng ta và địch một cách tỉ mỉ để định mục đích và cách đánh thích hợp”5. Vì vậy, trên chiến trường chính tuy vẫn giữ được quyền chủ động, nhưng chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến địch, chưa thay đổi được tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ6.

        Đây cũng là một bài học về chọn hướng tiến công chiến lược. Đồng bằng Bắc Bộ tuy có một vị trí hết sức quan trọng đối với cả ta và địch, ngay từ đầu đến cuối cuộc kháng chiến vẫn là chiến trường chính, nhưng nếu chọn là chiến trường đánh lớn thì khó có thể đạt được mục đích tiêu diệt chiến. Do so sánh trang bị của ta và địch lúc đó, khó có thể đánh tiêu diệt lớn địch ở khu vực trống trải và ở sát ngay trung tâm quân sự, chính trị, kinh tế, nơi địch tập trung và cơ động được thuận lợi, phát huy được sức mạnh của không quân, pháo binh, xe tăng, thiết giáp và cơ giới.

---------------
        1. Hăng-ri Na-va, Đông Dương hấp hối.

        2 - 4. Nghị quyết hội nghị lần thứ nhất của Trung ương Đảng (3-1951).

        5. Hồ Chí Minh. Về vấn đề quân sự, NXB Sự thật, 1975, tr. 219.

        6. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của Trung ương Đảng (9-1951).
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #58 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 02:30:52 PM »


        Sau các chiến dịch dó, địch tăng cường “chiến tranh mọi mặt ở vùng tạm bị chiếm và vùng du kích”, làm cho chiến tranh du kích của ta gặp nhiều khó khăn mới. Chúng ra sức tập trung lực lượng củng cố phòng tuyến quyết giữ đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

        Sau một năm ra sức củng cố thế phòng ngự, tiến hành bình định, tăng cường lực lượng, địch cho rằng, chúng có thể phản công giành lại quyền chủ động chiến lược và quyết định đưa 20 tiểu đoàn gồm phần lớn lực lượng cơ động chiến lược đánh chiếm Hòa Bình, nhằm cắt đứt đường liên lạc tiếp tế, phá sự chuẩn bị tiến công của ta, thu hút chủ lực ta để tiêu diệt.

        Ta quyết định mở hai chiến dịch Hòa Bình, dùng ba đại đoàn 308, 312, 304 vây hãm và tiêu diệt quân cơ động của địch ở mặt trận Hòa Bình, hai đại đoàn 320, 316 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá bình định, phát triển chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ.

        Khi ở mặt trận Hòa Bình ta đã bao vây, kìm chân và tiêu hao một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ và phương tiện chiến tranh của địch thì cuộc tiến công của bộ đội chủ lực tiến sâu vào vùng tạm bị chiến đã tiêu diệt hàng loạt vị trí then chốt của địch, làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của chúng.

        Và ở Hòa Bình sau khi bị thiệt hại nặng, đến tháng 2-1952 quân địch phải rút chạy.

        Kết qủa của chiến dịch là, ta đã tiêu diệt 22.000 tên địch. Riêng ở mặt trận sau lưng địch ta diệt 15.000 tên, diệt và bức hàng hơn 1.000 đồn bốt. Vùng du kích của ta được mở rộng và nối liền với nhau thành thế liên hoàn với 2 triệu dân được giải phóng.

        Đến đây, phần lớn kết qủa bình định đồng bằng Bắc Bộ trong cả năm 1951 của địch bị phá vỡ. Âm mưu phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta, giành lại quyền chủ động chiến lược của địch bị thất bại.

        Tuy vậy, đến giữa năm 1952, thực dân Pháp vẫn cố tập trung binh lực, tiến hành nhiều cuộc càn quét lớn nhỏ nhằm bình định lại đồng bằng Bắc Bộ, cứu vãn tình thế. Nhưng giặc Pháp vẫn không sao gượng lại được như trước khi chúng đánh ra Hòa Bình.

        Quyền chủ động về chiến lược đã chuyển dần về tay ta. Mùa thu năm 1952 Đảng quyết định chuyển hướng tiến công chủ yếu của bộ đội chủ lực đánh vào Tây Bắc, nhằm mục đích: “Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng đất đai”1.

        Các đại đoàn 308, 312, 316, trung đoàn 148 và đại đoàn 351 đánh địch ở Tây Bắc. Đại đoàn 320 và đại đoàn 304 đánh ở vùng sau lưng địch (Liên khu 3).

        Đợt 1 của chiến dịch, ta tiến công phân khu Nghĩa Lộ và tiểu khu Phù Yên. Sau 13 ngày chiến đấu, ta đã quét sạch địch ở khu vực giữa sông Thao và sông Đà từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai. Địch đối phó bằng việc điều 3 GM (binh đoàn cơ động) mở cuộc hành binh đánh lên Phú Thọ, Đoan Hùng, nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch của ta, thu hút chủ lực ta về đỡ đòn cho Tây Bắc nhưng chúng đã bị hai trung đoàn 246, 176 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh ngăn chặn, tiêu hao nhiều sinh lực và cuối cùng bị trung đoàn 36 của sư 308 được Bộ tổng tư lệnh điều từ Tây Bắc hành quân cấp tốc về Phú Thọ đánh tiêu diệt gần trọn một binh đoàn cơ động ở Chân Mộng, Trạm Thản - Phú Lộc. Cuộc hành quân của địch lên Phú Thọ hoàn toàn thất bại, địch bỏ chạy khỏi Phú Thọ.

        Đợt 2 chiến dịch, ta vượt sông Đà đánh vào khu phòng thủ của địch trên cao nguyên Mộc Châu. Bộ đội ta đã tiêu diệt gọn một loạt cứ điểm kiên cố, mỗi cứ điểm trên dưới 1 tiểu đoàn địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn. Để tránh khỏi bị tiêu diệt, địch vội vã co cụm về Nà Sản, xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm mạnh đối phó với ta. Thấy không chắc thắng, ta chủ động kết thúc chiến dịch ngày 10 12-1952.

        Chiến dịch Tây Bắc đã thu được thắng lợi to lớn. Địch bị tiêu diệt 13.800 tên ở cả hai mặt trận Tây Bắc và Đồng Bằng. Nhiều tiểu đoàn, đại dội thuộc các binh đoàn cơ động của địch bị diệt gọn. Hệ thống ngụy quân ngụy quyền của địch ở Tây Bắc bị tan rã. Ta đã giải phóng được tỉnh Sơn La (trừ Nà Sản), một số huyện thuộc các tỉnh Lai Châu, Yên Bái. Căn cứ địa Việt Bắc được mở rộng và củng cố vững chắc.

        Chiến dịch này chứng tỏ bộ đội ta đã tiến bộ rõ rệt về trình độ đánh công kiên và đánh vận dộng, khắc phục được khó khăn về tiếp tế và có khả năng đánh lớn ở một chiến trường cách xa hậu phương.

-----------------
        1. Hồ Chí Minh về quân sự, bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc 9-9-1952, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975 tr. 225.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23100


« Trả lời #59 vào lúc: 06 Tháng Chín, 2016, 02:35:40 PM »


        Sau chiến thắng Tây Bắc, ta cùng với bạn Lào mở chiến dịch Thượng Lào, tiến công Sầm Nưa, đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng phần lớn đất đai Thượng Lào, xây dựng và mở rộng căn cứ du kích, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào. Kế hoạch Đờ Tat-xi-nhi thất bại hoàn toàn. Thực dân Pháp càng lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Chúng ta đã tiêu diệt được một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng chiến lược, đánh bại âm mưu bình định và phản công của địch, giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược của ta, đưa cuộc kháng chiến tiến lên một bước mới, chuẩn bị cho thắng lợi Đông Xuân 1953-1954.

        Trong giai đoạn hai cuộc chiến tranh kéo dài gồm 3 năm từ sau Thu Đông 1947 đến cuối năm 1950 mà ta gọi là giai đoạn cầm cự, với mục tiêu chiến lược được xác định là, tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, ta đã đánh bại chiến lược bình định vùng tạm chiếm, lấy người Việt đánh người Việt và mở rộng địa bàn theo kiểu vết dầu loang của địch và ta đã giành được ưu thế về chiến lược, quyền chủ động chiến lược đã thuộc về ta trên toàn chiến trường.

        Phương thức chiến tranh du kích dã làm thất bại chiến lược đánh nhanh thắng nhanh bằng quân viễn chinh Pháp; phương thức kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy đã đánh bại chiến lược bình định và rnở rộng theo “vết dầu loang”, lấy người và của của Việt Nam đánh người Việt của thực dân Pháp.

        Tăng cường du kích chiến tranh kết hợp với phát triển chiến tranh chính quy của các binh đoàn chủ lực, mở các chiến dịch chính quy cả ở tiền tuyến và hậu phương đã đem lại thắng lợi chiến lược, đưa cuộc chiến tranh trường kỳ sang giai đoạn quyết định, giành thắng lợi cuối cùng. Giai đoạn tổng phản công bắt đầu với chiến cục Đông Xuân 1953-1954.

        4. Đánh bại kế hoạch Na-va bằng cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc chiến tranh.

        Trước những thất bại liên tiếp ở Đông Dương, thực dân Pháp chủ trương tranh thủ thêm viện trợ của Mỹ, tập trung mọi cố gắng đẩy mạnh chiến tranh hòng tìm ra một “lối thoát vinh dự”. Kế hoạch Na-va chính là sản phẩm của chiến lược đó. Nó được đẻ ra từ những thất bại trước đó. Nó cũng là nỗ lực cao nhất và cuối cùng của thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. Na-va chủ trương:

        Bước 1: Thu Đông 1953 và Xuân 1954 giữ thế phòng ngự chiến lược, tránh quyết chiến ở miền Bắc, thực hiện tiến công chiến lược ở miền Nam, nhằm chiếm đóng tất cả các vùng tự do còn lại ở miền Nam, nhất là vùng tự do Liên khu 5 và Hậu Giang - Nam Bộ.

        Bước 2: Vào Đông Xuân 1954 - 1955 với khối chủ lực cơ động xây dựng xong, tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc, giành thắng lợi quyết định.

        Để thực hiện kế hoạch, thực dân Pháp đã tổ chức thêm 107 tiểu đoàn ngụy binh, tăng khối chủ lực cơ động lên đến 100 tiểu đoàn bộ binh và 10 tiểu đoàn dù.

        Trong sáu tháng cuối năm 1953, địch đã mở hàng chục trận càn quét tại các cùng sau lưng chúng ở Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Bộ, ráo riết bình định, bắt lính. Chúng tập trung một nửa lực lượng cơ động chiến lược và một lực lượng chiếm đóng rất lớn (tất cả 106 tiểu đoàn) hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ trên chiến trường chính.

        Thấy rõ âm mưu chiến lược của địch, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá tình hình một cách khách quan, khoa học, đề ra đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiến và quyết tâm đánh bại kế hoạch chiến lược Na-va. Về chiến lược quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm: “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do”1.

        Bộ đội chủ lực ở chiến trường Bắc Bộ thì phải dùng vận động chiến linh hoạt để tiêu diệt từng mảng sinh lực địch, làm cho địch yếu đi, phối hợp với công kiên chiếm từng bộ phận, để giành lấy những cứ điểm và thị trấn nhỏ, ở đó địch sơ hở, yếu ớt. Làm như vậy để đạt mục đích đánh chắc thắng, mở rộng vùng tự do. Đồng thời có thể dùng công kiên chiến hút lực lượng của địch đến mà đánh, phân tán lực lượng địch, làm rối loạn kế hoạch của địch tạo điều kiện cho vận động chiến”2. “Chiến trường sau lưng địch phải mở rộng du kích chiến để tiêu diệt và tiêu hao những bộ phận nhỏ của địch, để chống địch càn quét bảo vệ tính mạng và tài sản cho dân; để quấy rối, phá hoại, kiềm chế địch, tuyên truyền giáo dục quần chúng những vùng đó, thu hẹp nguồn ngụy binh của địch, mở rộng vùng du kích và căn cứ du kích của ta, thành lập và củng cố những căn cứ kháng chiến sau lưng địch”3.

-------------
        1 - 3. Báo cáo của Hồ Chủ tịch tại hội nghị lần thứ IV của Trung ương Đảng (1-1953).
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM