Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 08 Tháng Tư, 2020, 12:13:03 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thế chiến thứ ba : chiến tranh mạng lưới  (Đọc 289 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #30 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2020, 07:56:18 PM »


        CÁC NHÓM MẠNG LƯỚI: MẠNG ĐẠI TÂY DƯƠNG

        Nghiên cứu chiến tranh mạng lưới, đầu tiên chúng ta sẽ nói về mạng Đại Tây Dương, tức mạng lưới của Hoa Kỳ trên lục địa Á - Âu, bởi đến lúc này chỉ có một mạng lưới này. Không có mạng ngược lại. Không có mạng Á - Âu trên lục địa Bắc Mỹ, chỉ có mạng Đại Tây Dương ở Á - Âu. Các nút của mạng lưới này là các nhóm đủ kích cỡ những người tích cực, năng động, trí thức hay không cần trí thức lắm, với bất kỳ tư tưởng nào. Nút mạng có thể là nhóm bắt đầu chỉ từ hai hay ba người: một nhóm nhỏ hoặc một kết cấu nghiên cứu về bất cứ điều gì, các nhạc cụ dân gian truyền thống, nghiên cứu xuất bản một “fenzina”1 nào đó, nghiên cứu và sưu tập tem, cung cấp các hỗ trợ pháp lý, đó cũng có thể là một phương tiện truyền thông hay một quỹ từ thiện. Tức về nguyên tắc, bất cứ một nhóm hoạt động xã hội nào cũng có thể trở thành nút, một thành tố của mạng lưới, nếu nó được tổ chức và điều hướng đúng.

        Đầu thập niên 1990, mạng Đại Tây Dương được hình thành bằng cách sử dụng một thành tố xã hội năng động là trợ cấp. Thí dụ, nhà đầu cơ tài chính George Soros, người đang xúc tiến các dự án toàn cầu hóa, đã phân phát những khoản tài trợ không lớn cho các nhóm hoạt động xã hội. Trong môi trường quần chúng thụ động theo cách hiểu của xã hội học, dần dần xuất hiện những nhóm xã hội nhỏ tích cực. Họ tập hợp vì những mục đích khác nhau theo những nguyên nhân khác nhau. Đó có thể là các nhóm không chính thức, với xu hướng chính trị nào đó, các nhóm lợi ích. Trong mọi trường hợp, nhóm này liên kết những công dân tích cực về xã hội để làm việc mình thích. Dồn nghị lực vào những gì quan tâm, đó là nhóm những người liên kết với nhau vì cùng lợi ích.

        Nếu được cho tiền, hoạt động của những nhóm như thế sẽ tích cực lên, đồng thời nó sẽ rất biết ơn người tài trợ. Ban đầu những nhóm này hoạt động không vì tiền mà vì sở thích và những mục tiêu có tính lý tưởng, nhưng giờ đây đã xuất hiện khả năng phát triển qui mô hoạt động của mình. Những người này, xét không gian Âu - Á của chúng ta, theo tâm lý của những đại diện nền văn minh lục địa, sẽ rất biết ơn những ai hỗ trợ mình. Nhưng sau khi nhận tài trợ, các nhóm này đã được đưa vào danh sách mạng Hoa Kỳ. Tức nếu nó nhận tiền từ Soros, có nghĩa theo mặc định nó bắt đầu làm việc cho dự án toàn cầu của phương Tây. Nó đã mắc nợ.

        Theo số lượng, các thành viên của nhóm này có thể không đáng kể, nhưng trong chiến tranh mạng, số lượng đã mất đi ý nghĩa: số lượng các đảng phái hiện nay không phải là rất quan trọng trong việc đạt được những mục đích chính trị, cũng như số binh lính của quân đội. Nhưng số nhiều các nút này - hàng trăm thậm chí hàng nghìn nhóm, được mua đứt với những khoản tiền hoàn toàn không lớn - đã trở thành nền tảng cho mạng lưới Hoa Kỳ, bao phủ lục địa Á - Âu.

        Thập niên 1990, trên lãnh thổ của không gian hậu Xô viết lần đầu tiên xuất hiện khái niệm NGO, tổ chức phi chính phủ. Rồi một lúc nào đó các NGO bắt đầu được thành lập chính là để nhận tài trợ. Người ta vỡ lẽ ra người Mỹ - G. Soros và những quỹ của Hoa Kỳ hay châu Âu hoạt động dưới sự bảo trợ của Mỹ - đã cho tiền. Và để nhận tiền, cần phải tập hợp lại, đăng ký thành NGO và làm việc gì đó. Tốt hơn là phát biểu, khi đó có thể nhận được nhiều tiền hơn. Hay đơn giản là làm gì đó cũng được dù khi đó có thể nhận ít tiền hơn. Các tiêu chí để nhận các khoản tài trợ đã được biết trước đó khá chính xác: Đó là luận điệu chống nhà nước, chống Nga, thúc đẩy các quan điểm tự do, đấu tranh với các cơ cấu quyền lực, bảo vệ quyền người thiểu số, chủ nghĩa sinh thái cực đoan, v.v... Việc tuân thủ những tiêu chuẩn này trở thành bộ lọc cho những kẻ tử vì đạo, là công cụ mà nhờ đó những người tích cực ít hay nhiều đã bị định vị trong những cộng đồng phi quốc gia này và được mua đứt. Nhưng lịch sử cũng từng biết những trường hợp khi việc mua chuộc này diễn ra không chỉ ở những cơ cấu phi nhà nước, mà cả ở trong nhà nước, dấu hiệu của việc hoàn toàn mất chủ quyền.

---------------------
        1. Ấn bản tự In (chủ yếu là tạp chi), làm theo phương pháp thủ công với số bản giới hạn.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #31 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2020, 07:57:16 PM »


        Như thế, đến cuối những năm 1990, một số lượng lớn những nhóm xã hội tích cực, được hỗ trợ tài chính của khối Đại Tây Dương, đã bao phủ toàn bộ không gian nước Nga cũng như ở nhiều nước cộng hòa SNG. Thường là không phụ thuộc vào những quan điểm thực tiễn, thành phần của mạng Hoa Kỳ có thể là một yếu tố ngoại lai về mặt ý thức hệ, nhưng dự đoán được, tức có thể hiểu được trong kế hoạch hành động, và do đó, nằm dưới sự kiểm soát. Nếu hiểu nhóm nào đó sẽ hành động thế nào trong tình huống này, khác thì có thể sử dụng nó khi cần.

        Và như vậy, trong những năm 1990 ở Nga, những mạng Đại Tây Dương như thế, tức những cấu trúc, các tổ chức phi chính phủ và các quỹ - được tổ chức chỉ nhằm nhận tài trợ, trong điều kiện phái tự do và chính phủ tự do ở Kremlin đang nắm quyền - đã được thành lập để thực hiện những nhiệm vụ của khối Đại Tây Dương và hiện thực hóa những chiến lược chống Nga. Tất cả những điều này diễn ra dưới sự đồng tình của chính quyền, bởi trong các cơ cấu chính quyền khi đó, những người mang ý thức hệ Đại Tây Dương đang điều hành. Mọi người đều nhớ vị bộ trưởng thời Yeltsin là Andrei Kosyrev khi bị chỉ ra đã hành động vì lợi ích của chủ nghĩa Đại Tây Dương1, bỏ qua cách tiếp cận Á – Âu trong địa chính trị, đã trả lời: “Theo cách phân loại này thì tôi là một người theo chủ nghĩa Đại Tây Dương. Thì sao nào? Tôi tự hào vì điều đó”2. Mà chính con người này điếu hành cơ quan chính trị đối ngoại của nước Nga. Ý thức hệ của chủ nghĩa Đại Tây Dương đã là đường lối hợp pháp của đất nước. Trên cơ sở đó những trung tâm ảnh hưởng Đại Tây Dương được thiết lập công khai, được phương Tây công khai tài trợ với sự ủng hộ của tầng lớp tinh hoa Nga.

        Kết quả là lãnh thổ Nga được gài mìn bằng các nút mạng Đại Tây Dương. Những nhóm chuyên gia hàng đầu và các phương tiện truyền thông đại chúng đầy các cán bộ theo chủ nghĩa Đại Tây Dương, và chỉ những người theo đường lối tự do mới được nhận vào. Nếu không tuyên truyền giáo điều chủ nghĩa Đại Tây Dương, anh sẽ không thể làm trong các phương tiện truyền thông và ngay lập tức sẽ tự động ra rìa, chỗ của anh tốt nhất là ở những tờ báo yêu nước, trong các tầng hầm, ở các sân sau. Còn nếu muốn làm trong một ấn bản nghiêm túc, anh phải là nhà tự do. Khả năng các chuyên gia tiếp cận các kênh truyền hình và các phương tiện truyền thông khác được qui định ngặt nghèo với các tiêu chuẩn không thể bỏ qua. Theo hướng này, những người tự do đã làm được một công việc khổng lồ.

        Vì nhiều đại diện tầng lớp tinh hoa đất nước Xô viết quay lưng với hệ tư tưởng Marxist, họ dễ dàng tiếp nhận tất cả các mô hình tư tưởng Đại Tây Dương, dễ dàng tiếp xúc, hành động ngược lại; việc này trên nguyên tắc là một kiểu đặc tình trực tiếp, nhưng là loại đặc tình mềm. Họ chẳng bị đòi hỏi gì, không cần thông tin mật nào, không có sự căng thẳng tình báo hay hoạt động phá hoại nào. Họ phải làm đúng việc đã làm, đơn giản chỉ cần công khai truyền bá những cái nhìn mà họ tiếp nhận từ các nhà tự do phương Tây.

-----------------
        1. Thuật ngữ sử dụng để mô tả ảnh hưởng văn hóa và địa chính trị của các khu vực đối với nhau và đối với thế giới , ở mỗi thời kỳ, thuật ngữ này được bổ sung ngữ nghĩa không giống nhau. Trong lịch sử, chủ nghĩa Đại Tây Dương nhằm nói về nền văn minh phương Tây, lan truyền từ Địa Trung Hải lên phía bắc, tới các đảo của Anh quốc, sau đó lan sang phương Tây, tới Bắc Mỹ. Trong địa chính trị, chủ nghĩa Đại Tày Dương được sử dụng khi chia Tây Âu ra thành hai nền văn minh biển và văn minh lục địa, mà cuộc chiến giữa hai nền văn minh này trong hai thế chiến đã kết thúc bằng chiến thắng của văn minh biển. Trong văn hóa, thuật ngữ này thể hiện ảnh hưởng có tính quyết định của văn hóa Anh - Mỹ với những giá trị của nó như chủ nghĩa tự do, xã hội mở, chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cá nhản... (ND - Theo Bách khoa toàn thư triếthọc mới, 4 tập. M., Mysl. v.c. Styopina, 2001.)

        2. Dugin A.G. Sự tiến hóa Á Âu: Từ khởi nguồn đến hiện đại// Sứ mệnh Á Âu của Nursultan Nazarbayev. - M: Á Âu 2004

Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #32 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2020, 07:57:56 PM »

     
       TỰ ĐỒNG BỘ HÓA NHÂN VIÊN MẠNG LƯỚI —  HIỆN TƯỢNG CHARLES CLOVER

        Tiếp nhận những mô hình thế giới quan có tính hủy diệt đối với nước Nga, các đặc tình Đại Tây Dương dù sao vẫn bất khả xâm phạm, kể cả đối với cơ quan an ninh Nga. Và không phải chỉ vì các cơ quan an ninh này tuân thủ ý chí chính trị của ban lãnh đạo cấp cao vốn tiếp nhận đường lối phản bội của kẻ thù địa chính trị chúng ta. Công nghệ mạng lưới rất linh hoạt và khéo léo, không đòi hỏi phải luôn có liên lạc thường xuyên trực tiếp giữa “trung tâm” với “sở đặc tình” của mình. Và không chỉ vì mạng lưới trên nguyên tắc không dùng những phạm trù lỗi thời, mà chỉ sử dụng chúng tượng trưng. Bản thân nguyên tắc mạng lưới đã loại trừ khả năng này khi thay thế vừa “trung tâm” vừa “sở đặc tình” bằng một khái niệm then chốt của mạng lưới: tự đồng bộ hóa.

        Có lần tham gia thảo luận trên một kênh truyền hình với tác giả những dòng này, trưởng ban biên tập văn phòng Moskva của The Financial Times, một người Mỹ tên Charles Clover, đã định nghĩa thế này về bản chất của cách tiếp cận mạng lưới: “Công nghệ mạng lưới - đó là một hệ thống, một kết cấu không “đầu”, không người lãnh đạo. Nó không có thứ bậc, mà nằm ngang, một cơ cấu phi tập trung. “Không gian thông tin” - đó không phải là hệ thống phân cấp. Vâng, tôi đại diện cho tờ báo, nhưng không ai bảo với tôi là phải in gì, thật sự không ai ra lệnh là tờ báo chúng tôi phải đưa những ý kiến nào”. Đây là phát biểu rất quan trọng, bởi nó đã truyền tải chính xác không khí mạng lưới. Nhân viên mạng lưới - đó là người tham gia vào mạng lưới, tự đưa ra quyết định và được hướng dẫn phản ứng thế nào trước một sự kiện, bởi anh ta đã được định hình trước sao cho quyết định của mình đồng bộ hóa với tâm trạng chung của mạng lưới. Chính vì thế mà một người Mỹ đã qua đào tạo và học hành (chủ nhiệm khoa của Clover là nhân vật không phải kém danh tiếng Paul Wolfowitz, chứ không phải người Nga, người Serbia thậm chí người Anh). Đó là một khía cạnh tiêu biểu của cách tiếp cận mạng lưới: thực tế được hình thành, được lập trình trước. Thí dụ, nhớ lại các sự kiện tháng 8/2008 ở Nam Osettia, Clover lúc nào cũng lặp lại đúng một chuyện: “Không ai bảo tôi phải viết gì, viết thế nào, không ai kiểm duyệt các bài báo của tôi, không ai định hình nội dung, không ai can thiệp vào những gì tôi viết. Tôi làm theo ý mình, hoàn toàn tự do. Khi các sự kiện ở Tskhinval bắt đầu, tự tôi - chứ chẳng ai gọi tôi từ Washington - mua vé đi đến Gruzia. Và ở đó, tại Tbilisi, tôi đã nhận được các băng cassette thích hợp từ chính quyền Gruzia. Không ai chỉ thị tôi mà tự tôi viết về việc Nga ra tay trước, đánh bom Gruzia, và bằng cách đó đã thực hiện hành vi xâm lược chống lại một đất nước nhỏ bé, đang trong giai đoạn hình thành nền dân chủ Gruzia. Bởi vì tôi thấy tình hình như thế ở Tbilisi”. Dĩ nhiên, ông ta thừa nhận, “sau đó một tháng tôi hiểu mọi chuyện không như vậy. Tôi viết một bài báo khác rằng việc mọi chuyện hoàn toàn không như trước, trong đó tôi thú nhận chúng tôi đã sai, và không phải Nga, mà chính Gruzia đánh trước. Chúng tôi là một tờ báo nghiêm túc, vì thế một tháng sau, chúng tôi viết cải chính, bác bỏ thông tin này”.

        Nhưng bản chất vấn đề là ở chỗ, một tháng sau thì chẳng còn ai quan tâm tới chuyện đó. Và ở đây sự tự đồng bộ hóa mạng đã giao nhau với khái niệm thời điểm. Trong chiến tranh mạng lưới, yếu tố quyết định là tính linh hoạt của việc ra quyết định và thực hiện nó. Mệnh lệnh bắt đầu chiến dịch, nếu không được thực hiện sau 5 phút, thì 6 phút sau nó đã không còn thời sự, không thể làm bởi trong thời gian đó tình hình đã đổi khác và phải thực hiện chỉ thị khác. Đánh mất ý nghĩa là bởi những gì thời sự 5 phút trước, 10 phút sau có thể hoàn toàn mâu thuẫn với tình huống trước. Khái niệm “thời điểm” được tương tác với chiến lược mạng lưới của những thị trường chứng khoán, các nhà môi giới, những ai chuyên bán mua cổ phiếu. Nếu cổ phiếu tăng giá trong 10 phút, thì 12 phút sau nó đã sụt. Ai không kịp bán trong 10 phút, sau 12 phút sẽ không thể bán.

        Như thế, nếu Clover đưa một bài báo linh hoạt, theo sát diễn biến, ngay lúc xung đột về việc nước Nga tấn công Gruzia, thì một tháng sau việc ông ta viết cải chính đã không còn làm ai quan tâm, bởi đến khi đó mọi người cũng đã biết cả rồi. Về mặt hình thức, ông ta đã tuân thủ mọi qui định, giữ được thề diện cho tờ báo cũng như không đánh mất tính hiệu quả.

        Vâng, ông ta không phỉnh phờ khi bảo không ai từ Washington gọi ông ta và bảo: “Charles này, hãy viết về việc Nga đánh Gruzia”. Ngay lúc đó ông ta đã biết rõ điều đó. Một người Mỹ được Paul Wolfowitz đào tạo và đã được định hình một cách đúng đắn - đó là một sản phẩm có sẵn của chiến lược Đại Tây Dương: trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù ông ta ở đâu, Tskhinval, Kazakhstan, Trung Đông, Trung Quốc - ông ta sẽ hành động từ quan điểm của chiến lược thông tin Đại Tây Dương, bởi ông ta đã được định hình như thế. Không cần phải mỗi phút mỗi ra chỉ thị cho ông ta hay gởi ông ta tới điểm này hay điểm kia, bảo ông ta phải làm gì. Bản thân ông ta tự biết và cảm thấy bằng trực giác cẩn phải làm gì. Có mặt ở hiện trường sự kiện, thậm chí nếu ông ta nhận hai thông tin có giá trị như nhau nhưng mâu thuẫn nhau - cả từ phía Nga và cả từ phía Gruzia, ông ta thể nào cũng lựa chọn phía Gruzia một cách mặc nhiên, do góc nhìn Đại Tây Dương của mình. Sau đó, để giữ tính không thiên vị, ông ta viết bài báo trên cơ sở quan điểm đối nghịch - sau một thời gian khi điều đó đã không quá gây phê phán. Tức là ông ta đã tự đồng bộ hóa với chiến lược cần thiết. Tại sao trưởng ban biên tập của tờ Financial Times ở Moskva không thể là một người Hindu? Bởi vì người Hindu tư duy khác. Và dĩ nhiên, nếu xảy ra chiến tranh khi ông ta ở đó, ông ta sẽ chẳng đi đâu cả. Thứ hai, nếu cuối cùng ông ta cũng tới đó, sau khi tổng biên tập nhiều lần gọi ông ta, ông ta cũng sẽ phải lượng định tình hình rất lâu. Cuối cùng ông ta sẻ viết những người Nga tốt thế nào, nhân dân ở đó vĩ đại ra sao với truyền thống vĩ đại ra sao, và sẽ không nhắc gì về xung đột.
Logged

Giangtvx
Thượng tá
*
Bài viết: 23130


« Trả lời #33 vào lúc: 07 Tháng Tư, 2020, 07:59:46 PM »


        Còn một người Mỹ, tốt nghiệp đại học Mỹ và trải qua các khóa hướng dẫn của CIA, nhà báo ấy sẽ phản ứng linh hoạt, nhanh chóng xuất quân, trên đường đi chuẩn bị tâm lý kết nối vào tình huống ngay lập tức trong tâm thế cần thiết. Sự ưu việt của những nút mạng được hình thành trước là ở chỗ chúng sẽ được kết nối ngay khi cần thiết. Chúng có thể thụ động trong một thời gian dài, không làm gì cả, chỉ sưu tập và trao đổi tem. Nhưng khi cán thiết, chúng sẽ được kích hoạt và tự đồng bộ hóa để thực hiện sứ mệnh mạng lưới của mình.

        Tự đồng bộ hóa là tình trạng lên giây sẵn, để vào lúc kích hoạt mạng lưới các nút mạng sẽ tự động hòa vào, không cần xung lực bổ trợ. Không ai kiểm soát từng bước đi của nó, không ai gửi hay nhúng mũi chỉ thị mỗi phút. Nút mạng tự biết phải làm gì. Nút mạng, khi được xây dựng đúng, là một thành phần có chất lượng của mạng Đại Tây Dương.

        Một thí dụ rõ nét của tự đồng bộ hóa mạng là tình huống cách mạng thường trực ở Ukraine. Sau hai thập niên, ở Ukraine nhiều NGO được hình thành và hoạt động, những tổ chức chuyên về bảo vệ nhân quyền, các phương tiện truyền thông đại chúng được thành lập để đấu tranh vì sinh thái, một mạng lưới ngầm các tổ chức Hổi giáo cũng ra đời, chủ nghĩa dân tộc nổi lên, phong trào Banderov1 phát triển. Nhưng khi người ta bắt đầu xuống đường ở Maidan, nút xuất phát của cuộc đảo chính “màu cam” được khởi động và vòng thứ ba được tuyên - những tổ chức này bắt đầu tích cực nhập cuộc. Họ thậm chí ném bom xăng vào các binh lính “Berkut”2 hồi tháng 2/2014. Khi nào đó họ đã nhận một ít tiền, trải qua một vài khóa huấn luyện, nên họ thấy có nghĩa vụ với người Mỹ. Quỹ Soros, Quỹ “Âu Á mới”, Quỹ Mac Arthur, các chuyên gia sinh thái phương Tây, những người cánh tả và nhiều quỹ khác của Hoa Kỳ và châu Âu phân bổ nhau tiền của người đóng thuế Mỹ cho những NGO nhỏ này của Ukraine. Vào giờ X họ được kích hoạt, tự định hình và lên tiếng ủng hộ phe mà người đặt hàng các quá trình đã được khởi động này, mong muốn. Ai đó tham gia vào những biến cố đẫm máu của Maidan vì tiền, nhưng đa số mọi người đến đây vì họ thật sự nghĩ thế, bởi những thập niên qua một mã mạng tương ứng đã được phương Tây hình thành ở Ukraine.

        Một số lớn các nút mạng Đại Tây Dương không thể được xây dựng một cách giả tạo, bắt buộc theo kiểu nhất cử nhất động phải có ai đó từ Washington gọi, kiểm soát, ra chỉ thị riêng từng nút. Việc này quá mất sức và phân hóa, đơn giản là bất khả thi. Các nút thắt này phải tự xoay xở, tự đưa ra quyết định ngay thời điểm đó xem phải làm thế nào, đứng về phía ai: tham gia Maidan hay không, viết bài báo này hay bài báo khác, ủng hộ Yanukovich3 hay Yuschenko4, đi hay ở, mang đến đó bánh mì kẹp thịt hay Coca Cola.

        . Mạng lưới - đó là một số lượng rất lớn các nút thắt tự điều chỉnh, hoạt động trên nguyên tắc đống bộ hóa dựa vào một mô hình thế giới quan đã xây dựng trước.

        Được thành lập vào đầu những năm 1990, các mạng Đại Tây Dương của Nga đã bình thản ngồi chờ qua những năm 2000 êm ả và tự đẩy mạnh hoạt động đầu những năm 2010, khi chính quyền quyết định kiểm soát hoàn toàn tình hình chính trị đổi nội với sự hỗ trợ của “hàng dọc”, bắt tay vào việc đưa nước Nga trở lại với khung cảnh chính trị đối ngoại toàn cầu. Quá trình đồng bộ hóa những mạng lưới được thành lập trước đây bắt đầu khởi động...

--------------------------
        1. Phong trào Banderov: phong trào của một nhóm các tổ chức dân tộc Ukraine, hoạt động tích cực từ sau năm 1940 và hiện đang hoạt động mạnh tại Ukraine. Tên phong trào xuất phát từ tên một trong những nhà hoạt động chính trị tích cực người Ukraine Stepan Bandera, một nhân vật lịch sử gây tranh cãi. Trong khi những nhóm chủ trương dân tộc (như tó chức“Cánh hữu") ca ngợi ông ta, thì Bandera bị lên án như một kẻ tàn sát người Ba Lan và Do Thái. Năm 1941, tám ngày sau khi Đức tấn công Liẻn Xô, Bandera tuyên bố thành lập Ukraine độc lập, cho rằng có thể dựa vào sự hỗ trợ của Đức để chống lại Liên Xô. Từ năm 1943, cánh quân sự của Tổ chức những nhà dân tộc Ukraine của Bandera đã sát hại 100.000 người Ba Lan ở Volhynia và Đông Galicia. Năm 1944, khi quân Đức bị phản công mạnh, quân của Bandera đã nhận được hỗ trợ tài chính, hậu cấn của phát xít Đức để cùng chống lại hồng quân. (ND)

        2. Một nhánh cảnh sát đặc biệt của Bộ nội vụ Ukraine, tồn tại từ năm 1992-2014. Nhiệm vụ chính ngoài bảo vệ trật tự xã hội còn là giải thoát con tin, đấu tranh chống khủng bố và đàn áp nổi dậy. (ND)

        3. Tổng thống Ukraine Viktor Yanukovich trước khi bị Maidan lật đổ năm 2014. (ND)

        4. Viktor Yushchenko, cựu tống thổng Ukraine (2005-2010), một trong nhứng lãnh đạo "cách mạng cam" ở Ukraine. (NO)
Logged

Trang: « 1 2 3 4   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM