Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Tư, 2020, 06:03:30 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vạn Lý Trường Chinh - Nguyễn Vạn Lý  (Đọc 34811 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:04:47 PM »

Nguồn: vnthuquan.net

Lời nói đầu

Cuộc chiến giữa Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch và lực lượng cộng sản Trung hoa bắt đầu từ năm 1928. Phe cộng sản lúc đầu do Trương Quốc Ðào và Mao Trạch Ðông lãnh đạo. Trương Quốc Ðào và Mao Trạch Ðông là những sáng lập viên cộng đảng Trung Hoa tại Thượng Hải năm 1921. Ðảng cộng sản đưa ra những mục tiêu rất hấp dẫn đối với nông dân nghèo, chẳng hạn như tịch thu ruộng đất của địa chủ đem chia cho nông dân, và bãi bỏ mọi bất công xã hội. Chính vì thế đảng cộng sản đã thu hút được một số đông đảo nông dân, tình nguyện chiến đấu cho mục đích cao cả giải phóng cho nước Trung Hoa nhiều tệ đoan thối nát, khỏi những áp bức của ngoại bang, và giải phóng cho chính bản thân của họ đang bị đàn áp bóc lột.

Ý thức được vai trò và quyền lợi của mình, người cộng sản Trung Hoa trở thành những binh sĩ có tinh thần cao. Trong khi đó, người lính Quốc dân đảng Trung Hoa nổi tiếng tham lam tàn ác, đến nỗi người Trung Hoa thường nói: "Sắt tốt thì không dùng làm đinh, và người tốt thì không thể là lính." Một số lớn quân đội của các sứ quân dưới quyền của Tưởng Giới Thạch vừa thiếu kỷ luật vừa nghiện hút bạc nhược, không có tinh thần chiến đấu, chỉ mong hưởng thụ cầu an. Nhiều đạo quân trong quân đội Quốc dân đảng được gọi là những đạo quân "hai súng", có nghĩa là họ đeo một khẩu súng thiệt, và một khẩu súng thứ hai là tẩu hút thuốc phiện. Các binh sĩ này mang theo bàn đèn thuốc phiện trong ba lô, và mỗi ngày phải ngả bàn đèn ít nhất là hai cữ. Tại Bắc Việt năm 1945, khi "quân đội chiến thắng" của Trung Hoa do tướng Lư Hán chỉ huy, sang tước khí giới của quân Nhật bại trận, chúng ta cũng đã có dịp kinh ngạc khi được chứng kiến một "quân đội chiến thắng" mà lại có thể ô hợp, thiếu tác phong đến như thế.

Vào đầu năm 1930, Tưởng Giới Thạch bắt đầu lo ngại trước sự bành trướng mau lẹ và mạnh mẽ của hồng quân, nên tung hết sức mạnh vào việc tiêu diệt cộng sản. Nhưng quân đội Quốc dân đảng cứ tiếp tục bại trận. Chiến thuật của hồng quân Trung hoa theo đúng khẩu hiệu:

Khi địch tiến, ta lui.

Khi địch dừng lại và đóng trại, ta quấy rối.

Khi địch không muốn giao chiến, ta tấn công.

Khi địch rút lui, ta truy kích.

Nhờ chiến thuật này, hồng quân thắng được hai đợt bao vây tiêu điệt đầu tiên của Quốc dân đảng. Năm 1931, Tưởng tập trung một lực lượng hùng hậu trên 300 ngàn binh sĩ, với ý định tràn ngập căn cứ sô viết Giang Tây chỉ có 30 ngàn hồng quân. Nhưng may mắn cho hồng quân, chính lúc đó quân Nhật tiến chiếm Mãn Châu, khiến Tưởng Giới Thạch phải tạm hoãn chiến dịch bao vây lần thứ ba, để lo đối phó với quân xâm lăng Nhật Bản. Nhờ vậy, hồng quân có đủ thời giờ dưỡng sức và bồi dưỡng, đủ sức đánh bại được đợt bao vây lần thứ tư vào mùa đông năm 1933.

Hitler rất quan ngại đến sự bành trướng của cộng sản thế giới, nên cử tướng Hans von Seeckt sang Trung Hoa giúp Tưởng Giới Thạch tiêu diệt cộng sản. Hans von Seeckt áp dụng một chiến thuật bao vây tiêu diệt bằng cách thiết lập hàng loạt pháo đài và xa lộ bao vây khu vực cộng sản. Vòng vây này cứ từ từ xiết chặt lại, cắt đứt mọi nguồn tiếp tế quân nhu thực phẩm từ bên ngoài. Chiến lược bao vây như vậy rất là tốn kém, nhưng gây thiệt hại lớn lao cho phe cộng sản và dân chúng sống trong vùng cộng sản kiểm soát. Người ta ước tính ít nhất trên một triệu người Trung Hoa trong khu sô viết Giang Tây đã bị tiêu diệt, hoặc bằng bom đạn hoặc vì thiếu thuốc men và lương thực.

Nga sô thấy thế nguy của cộng sản Trung hoa nên phái một danh tướng cộng sản, cũng người Ðức, tướng Otto Braun, sang giúp phe cộng. Otto Braun lấy tên Trung hoa là Lý Ðức. Phe cộng sản thành công tránh né được bốn đợt bao vây tấn công của Quốc dân đảng, và Mao chủ trương bỏ thành thị lấy thôn quê làm điểm tựa cho cuộc trường kỳ kháng chiến. Cuối tháng 10 năm 1933, Tưởng động viên toàn lực, tung ra cuộc tổng tấn công lần thứ năm. Cuộc bao vây tấn công này kéo dài trong nhiều tháng và kết quả đã gây khốn quẫn cho phe cộng sản, đặc biệt là thiếu muối ăn. Chính quyền Nam Kinh tin tưởng nỗ lực tiêu diệt trọn vẹn cộng sản sắp thành công, vì địch quân bị bao vây và không đường trốn thoát. Trong đợt bao vây tấn công lần thứ năm, 50 ngàn quân cộng sản tử trận, cả khu vực bị tàn phá, dân chúng hoặc bị xử tử hoặc bị bắt buộc phải di cư đi nơi khác.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #1 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:05:23 PM »

Cuối cùng Lý Ðức đành phải thay đổi chiến lược, bỏ chiến thuật du kích, tung 180 ngàn quân đánh chiếm và giữ thành phố, và đương đầu với quân Quốc dân đảng bằng trận địa chiến, nhưng bị quân cơ giới của Tưởng đánh bại. Cuối cùng phe cộng sản chỉ còn lại 90 ngàn quân. Sau 7 năm chiến đấu tại sô viết Giang Tây, các lãnh tụ cộng sản chỉ còn hai lựa chọn: hoặc đầu hàng Quốc dân đảng hoặc phải rút lui lẩn tránh đại quân của Tưởng. Bằng một quyết định táo bạo, các lãnh tụ cộng sản quyết định dẫn đám tàn quân trốn lên vùng hoang giá của miền bắc Trung Hoa, để tránh bị tiêu diệt và chờ cơ hội phục thù.

Ngày 16-10-1934, các lãnh tụ cộng sản và đám tàn quân bắt đầu cuộc rút lui lịch sử mà ngày nay người ta gọi là cuộc Vạn Lý Trường Chinh, hay là cuộc Trường Hành, một cuộc chạy trốn dài 6 ngàn dậm, bắt đầu từ Giang Tây và Phúc Kiến, tiến về phía tây tới Tây Tạng rồi đi ngược lên phía bắc, tới tận Diên An của tỉnh Thiểm Tây ở miền bắc hẻo lánh của Trung Hoa. Trong lịch sử Trung Hoa cũng đã có một cuộc rút lui tương tự của Lưu Bang vào đất Ba Thục, đốt đường sạn đạo để tránh bị Hạng Võ tiêu diệt, và chờ ngày phục hận.

Tuy nhiên cuộc Vạn Lý Trường Chinh của người cộng sản Trung Hoa gian nan gấp bội lần cuộc rút lui của Lưu Bang vào đất Ba Thục. Không những con đường của họ dài hơn nhiều, mà trên đường chạy trốn, những người cộng sản bại trận luôn luôn bị đại quân của Tưởng Giới Thạch đuổi theo truy kích. Không những thế, họ còn phải đương đầu với những khó khăn kinh hồn của thiên nhiên, núi cao sông rộng, đói khát, bệnh tật và tuyết lạnh. Khi khởi đầu cuộc rút lui, hồng quân có 90 ngàn người, nhưng một năm sau khi tới Diên An thì chỉ còn 7 ngàn người sống sót.

Sự nguy hiểm của hồng quân trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh thật khủng khiếp. Chu Ân Lai phải xác nhận: "Ðối với chúng tôi, giờ phút đen tối nhất của lịch sử là cuộc Vạn Lý Trường Chinh, nhất là khi chúng tôi phải băng qua Cánh Ðồng Cỏ Hoang gần Tây Tạng. Hoàn cảnh của chúng tôi lúc đó thật tuyệt vọng. Không những chúng tôi không có gì để ăn, mà chúng tôi không có cả nước uống. Vậy mà chúng tôi vẫn thoát hiểm và chiến thắng." Mao Trạch Ðông cũng kể lại: "Mỗi giấc ngủ của tôi phải trả giá bằng sự hy sinh của một đồng chí."

Người cộng sản hãnh diện nhắc nhở đến cuộc Vạn Lý Trường Chinh như là một thiên anh hùng ca độc nhất trong lịch sử nhân loại. Họ vượt qua được mọi trở ngại vô cùng to lớn, để rồi chiến thắng làm chủ lục địa Trung Hoa. Người ta không thể phủ nhận rằng đây là một cuộc "trường chinh" vĩ đại, nhưng huy chương nào cũng có mặt trái của nó. Các lãnh tụ cộng sản không hề cho binh sĩ biết sự thực của cuộc rút lui. Cán binh cộng sản chỉ tưởng cuộc rút lui là một chiến dịch tấn công mới, chứ không hề hay biết họ sẽ phải dấn thân vào một cuộc ra đi đầy nguy hiểm, mười người không sống sót được một. Trên đường rút lui, khi tới những nơi có thể dừng lại được, các lãnh tụ cộng sản tịch thu lương thực tài sản của nhà giầu, gọi là để chia cho người nghèo, nhưng phần lớn là để cho quân cộng sản dùng. Rồi cộng sản tổ chức chế độ cộng sản, chia ruộng cho nông dân và đấu tố địa chủ và giai cấp cai trị. Khi quân cộng sản bị áp lực của quân Quốc dân đảng phải rút đi thì các nông dân vừa mới được hưởng "phú quý" vài ngày lâm vào thế kẹt. Nếu họ ở lại thì họ sẽ bị địa chủ và quân Quốc dân đảng trừng phạt. Những nông dân này chỉ còn một con đường duy nhất là phải đi theo hồng quân. Các lãnh tụ cộng sản cần rất nhiều quân lót đường để họ đi tới đích. Như vậy số quân rút lui bị thiệt mạng trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh không phải chỉ có gần 90 ngàn người lúc ban đầu ra đi từ Giang Tây, mà còn có thêm hàng trăm ngàn dân bị đặt vào thế kẹt mà phải đi theo hồng quân ở dọc đường.

Trên đường trốn chạy, trong lúc binh sĩ phải trèo núi vượt sông đầy gian lao nguy hiểm, thì các lãnh tụ cao cấp được nằm trên cáng gần như suốt lộ trình, hoặc người khoẻ thì được cưỡi ngựa. Khi leo núi không dùng được cáng thì các lãnh tụ được binh sĩ khoẻ mạnh cõng trên lưng. Chuyến đi tuy gian nan vất vả và nguy hiểm, nhưng đối với các lãnh tụ cao cấp thì tương đối nhàn nhã bình yên. Binh sĩ không ai được đem theo vợ con, nhưng các lãnh tụ hoặc cấp chỉ huy quân sự cao cấp đều đem theo vợ. Lãnh tụ nào không có vợ thì dọc đường cũng tìm được người bầu bạn giải khuây. Khi các bà vợ của các lãnh tụ mang thai và chửa đẻ thì binh sĩ phải quây lều vải ngay trên đường đi để các "bà lớn" có chỗ lâm bồn. Ðó là tình "huynh đệ chi binh" và chủ trương "đồng lao cộng khổ" kiểu Trung cộng. Chính vợ Mao Trạch Ðông đã sinh đẻ hai lần trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Sau khi vợ đẻ xong, Mao gửi con cho các nông dân tại địa phương nuôi dùm, dự định sau này sẽ trở lại tìm kiếm. Nhưng về sau các nông dân nghèo bị chiến tranh xua đuổi lạc lõng khắp nơi, hoặc chết đói chết đạn nên hai đứa con của Mao mất tích luôn.

Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày tất cả những điều chưa được nói đến trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh, và cuộc đời thầm kín của các lãnh tụ cộng sản Trung Hoa.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #2 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:06:36 PM »

Tẩu Vi Thượng Sách

Buổi chiều ngày 9-10-1934, Chu Ân Lai đến thăm Trần Nghị tại một quân y viện của hồng quân Trung hoa, và báo cho Trần Nghị một tin không vui. Ủy Ban Trung Ương đã quyết định trong vài ngày nữa, lực lượng chính quy của hồng quân sẽ rút lui khỏi căn cứ sô viết tại Giang Tây, cố gắng phá vòng vây của quân Quốc dân đảng, rồi tiến về phía tây lập một căn cứ mới. Hồng quân đang lâm vào thế quẫn bách, không thể chống lại được quân Quốc dân đảng, và bắt buộc phải lui binh để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn, trước Chiến Dịch Tiêu Diệt Quân Cướp Ðỏ của Tưởng Giới Thạch.

Trần Nghị lúc đó đang bị thương nặng. Trong một trận giao chiến với quân Quốc dân đảng một tháng trước đó, Trần Nghị bị trúng một viên đạn vào mông, xương hông bị vỡ, và vết thương nhất định không chịu lành. Các điều kiện của quân y viện quá nghèo nàn, không có máy chiếu điện nên các y sĩ không biết tình trạng xương hông của Trần Nghị ra sao. Trần Nghị là một tướng trẻ có tài, gốc người Tứ Xuyên. Tuy mới 33 tuổi mà Trần Nghị đã tạo được nhiều thành tích chiến đấu lẫy lừng, và được coi là một viên tướng thông minh nhất của hồng quân Trung hoa. Sau này Trần Nghị được phong chức thống chế, và một thời gian giữ chức ngoại trưởng của Trung cộng.

Chu Ân Lai còn cho Trần Nghị biết thêm rằng, tình trạng sức khoẻ của Trần Nghị không cho phép Trần Nghị di chuyển theo đại quân. Trần Nghị được giao phó trọng trách ở lại, áp dụng chiến thuật du kích, khuấy phá hậu phương của địch. Trần Nghị đã từng chiến đấu tại Tỉnh Cương Sơn với Mao Trạch Ðông và Chu Ðức từ năm 1929. Họ Trần rất am tường địa hình địa vật của chiến khu này. Trần Nghị và Mao cùng với Chu Ðức thành công mở rộng khu vực sô viết lên đến 33 quận tại Giang Tây, tới sát biên giới Phúc Kiến. Dân chúng sống dưới quyền kiểm soát của cộng sản lên đến ba triệu người.

Trần Nghị là một người thực tế. Viên tướng cộng sản này biết rất rõ trong một năm gần đây, hồng quân đã chịu những tổn thất rất nặng nề. Trong đợt bao vây lần thứ năm của Quốc dân đảng, hồng quân thua hết trận này đến trận khác, và đã hy sinh 60 ngàn quân chính quy. Bây giờ hồng quân phải chấp nhận chiến bại, và phải đương đầu với một cuộc rút lui vô cùng nguy hiểm. Hồng quân không thể rút ra biển hoặc về đồng bằng được, vì những khu vực ấy hiện nằm dưới sự kiểm soát của Tưởng Giới Thạch. Hồng quân bắt buộc phải đi vào chỗ nguy hiểm nhất, đi vào chỗ chết để tìm sự sống. Sinh lộ duy nhất của hồng quân là tiến vào các khu vực núi non hiểm trở, lấy thiên nhiên che chở chống lại chiến dịch tiêu diệt của quân Quốc dân đảng.

Quân số dưới quyền Trần Nghị chỉ còn vào khoảng 30 ngàn người, trong đó có trên 10 ngàn bị thương nặng như Trần Nghị. Quân số này sẽ phải ở lại với Trần Nghị, lẩn vào rừng núi và áp dụng chiến thuật du kích tiêu hao chiến, chống lại một kẻ thù đông gấp bội và được trang bị đầy đủ. Quân số thực sự có thể chiến đấu được của Trần Nghị chỉ có vào khoảng 16 ngàn người, trong đó chỉ có bảy ngàn được huấn luyện như quân chính quy, số còn lại chỉ là dân quân du kích, phần lớn chưa hề được dùng súng, chỉ được cung cấp dao và lựu đạn. Một lực lượng như thế phải đương đầu với 200 ngàn quân của Tưởng Giới Thạch, được cơ giới hóa, trang bị đầy đủ quân nhu và lương thực. Trần Nghị không dám hỏi Chu Ân Lai xem lực lượng ở lại của mình sẽ được tiếp tế đầy đủ vũ khí đạn dược không. Trần Nghị cũng biết dù có đòi hỏi thì Ủy Ban Trung Ương cũng không thể làm gì được. Ngay quân chính quy còn phải chịu thiếu thốn quân trang và vũ khí thì quân du kích làm sao có đủ được.

Chu Ân Lai cũng biết Trần Nghị không hào hứng lắm với mệnh lệnh và nhiệm vụ mới được giao phó. Tuy nhiên Chu Ân Lai cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của Trần Nghị. Trước hết quân du kích của Trần Nghị có nhiệm vụ cầm chân quân Quốc dân đảng để cuộc rút lui của hồng quân có thể thực hiện thành công. Trong số các tướng của Trung cộng thì không ai sánh bằng Trần Nghị trong nhiệm vụ ở lại. Không một khe núi, một nhánh sông nào trong vùng mà Trần Nghị không biết rõ. Trần Nghị cũng có uy tín lớn đối với dân chúng trong khu vực. Trần Nghị ở lại sẽ nâng cao tinh thần chiến đấu của quân và dân.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #3 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:07:06 PM »

Trần Nghị không phải là người duy nhất Chu Ân Lai thông báo quyết định rút lui. Trước đó Chu Ân Lai đã cho mời Mao Trạch Ðông từ Vu Ðô tới trụ sở của Ủy Ban Trung Ương tại Thụy Kim và báo cho Mao biết quyết định trên. Mao lúc đó vừa đúng 40 tuổi và đang ở trong tình trạng thất thế. Gần một năm rồi, Mao bị bệnh sốt rét hành hạ, và không được tham gia vào các cuộc họp quan trọng của đảng. Mao hầu như sống trong tình trạng bị giam lỏng tại gia. Ủy Ban Trung Ương gồm có ba người: Lý Ðức, tư lệnh hồng quân, Bác Cổ, tổng bí thư đảng, và Chu Ân Lai, chủ tịch Ủy Ban Quân Sự và phụ trách các vấn đề hành chánh. Lệnh rút lui này là của Lý Ðức và được Bác Cổ mau lẹ chấp thuận. Lý Ðức và Bác Cổ là người của Nga sô và liên kết với nhau. Chu Ân Lai chỉ là tiếng nói thiểu số. Phe thân Nga đang lấn át tất cả những đảng viên không được huấn luyện tại Nga sô, như trường hợp Mao Trạch Ðông.

Nhóm thân Nga chủ trương trục xuất Mao ra khỏi đảng, và không muốn Mao tham dự cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Hai năm trước Mao bị loại ra khỏi các chức vụ quân sự và chính trị, và chỉ được giữ một chức vụ tượng trưng, là chủ tịch đảng tại quận Vu Ðô, một thị trấn có khoảng 10 ngàn dân. Nhiệm vụ của Mao lúc ấy là chủ tọa các cuộc họp của ủy ban địa phương tại Vu Ðô. Mao cư ngụ trong một căn nhà tại phía bắc Vu Ðô, cùng với Hạ Tử Trân, người vợ thứ hai, 24 tuổi, và đang có thai đứa con thứ tư. Mao bị cô lập, không được liên lạc với các giới chức cao cấp về quân sự và chính trị.

Hai tháng trước cuộc bao vây tiệu diệt lần thứ năm của Quốc dân đảng, Mao đã đề nghị tung những lực lượng chủ yếu của hồng quân đánh sâu vào khu vực Giang Tô - Triết Giang - An Huy - Giang Tây, với Triết Giang là trung tâm và quét sạch một vùng rộng lớn giữa Hàng Châu, Tô Châu, Nam Kinh, Ngũ Hồ, Nam Xương và Phúc Châu, biến thế phòng ngự chiến lược của hồng quân thành thế tấn công chiến lược, uy hiếp những trung tâm trọng yếu của Quốc dân đảng, và tìm những trận đánh tại những vùng rộng lớn, không có những lô cốt bao vây như tại Giang Tây. Mao cho rằng bằng cách như vậy, hồng quân có thể buộc quân Quốc dân đảng lúc đó đang tiến vào phía nam Giang Tây và phía tây Phúc Kiến, phải quay về bảo vệ những trung tâm trọng yếu. Mao tin rằng hồng quân có thể phá vỡ được cuộc bao vây tấn công lần thứ năm của Quốc quân vào khu sô viết Giang Tây. Lần khác Mao đề nghị tiến quân đánh Hán Khẩu và tiến thẳng tới Nam Kinh. Nhưng tại Bộ Chính Trị chẳng ai nghe lời của Mao. Lý Ðức còn đề nghị đưa Mao sang điều trị bệnh sốt rét tại Nga sô, một hình thức loại trừ. Nhưng Nga sô thấy còn cần đến uy tín của Mao đối với dân chúng, nên bác bỏ đề nghị của Lý Ðức. Mao cũng kịch liệt chống đối việc phải sang chữa bệnh tại Nga sô, vì Mao biết một khi ra khỏi Trung hoa thì Mao sẽ không có cơ hội trở về, và mất hẳn quyền chính trị. Bệnh sốt rét đã hủy hoại sức khỏe và thân thể của Mao rất nhiều, nhưng lúc nào Mao cũng cố giữ vững tinh thần cho minh mẫn, và cảnh giác trước những âm mưu hãm hại của kẻ thù là những lãnh tụ cộng sản thân Nga sô, đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong đảng và chính quyền. Chính vì thế khi Chu Ân Lai thông báo lệnh rút lui thì Mao chỉ im lặng chấp nhận. Lúc nào Mao cũng đề phòng Bác Cổ kết tội rồi thủ tiêu.

Ngoài Mao Trạch Ðông và Trần Nghị, Chu Ân Lai còn thông báo quyết định quân sự tối mật này cho 5 tư lệnh các quân đoàn, trong đó có Lâm Bưu và Bành Ðức Hoài. Lâm Bưu tìm cách lén đến nơi cư ngụ của Mao Trạch Ðông, và hỏi ý kiến Mao về cuộc rút lui. Mao dè dặt khuyên Lâm Bưu: "Tướng quân nên tuân lệnh trên và phải đi tới nơi đã được chỉ định." Mao biết địa điểm phải tới, nhưng đây là một mật lệnh quân sự, Mao không dám nhắc đến địa danh đó, dù với Lâm Bưu, một người có vẻ trung thành với Mao. Mao thận trọng tránh không tiết lộ bí mật quân sự để Bác Cổ không có lý do hãm hại mình. Một số người thân tín của Mao Trạch Ðông phải ở lại, như vợ chồng em ruột của Mao như Mao Trạch Ðàm có vợ là em ruột Hạ Tử Trân, và một số bạn thân của Mao. Hình như tất cả những người Mao đề nghị cho đi theo đều bị Lý Ðức và Bác Cổ từ chối. Tuy cuộc rút lui vào nơi hoang dã đã nguy hiểm, nhưng số phận những người ở lại khi quân Quốc dân đảng tiến tới còn nguy hiểm gấp bội, cơ hội sống sót trong trường hợp này không bằng một phần mười. Chính Mao Trạch Ðàm, em của Mao, và thân phụ của Hạ Tử Trân đã là những người đầu tiên bị quốc quân hành quyết, khi khu vực sô viết Giang Tây lọt vào tay quốc quân.

Theo chương trình của Ủy Ban Trung Ương thì hồng quân sẽ tập trung và tấn công quốc quân tại mặt trận phía tây, rồi từ đó tiến về một căn cứ mới do tướng Hạ Long đã thiết lập được tại vùng tây bắc, nằm giữa biên giới hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc. Quân số còn lại của hồng quân sẽ rút lui có khoảng 86 ngàn, trực thuộc năm quân đoàn. Ngoài năm quân đoàn này ra còn có thêm 30 phụ nữ và hai lộ quân gồm chín ngàn người, thuộc Ủy Ban Quân Sự và Lộ quân Trung ương. Ðệ nhất quân đoàn do Bành Ðức Hoài chỉ huy có nhiệm vụ đi tiên phong, mở đường máu cho đại quân đi sau. Ðệ nhất quân đoàn của Bành Ðức Hoài thành công trong nhiệm vụ giao phó, nhưng đã phải chịu những tổn thất vô cùng nặng nề.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #4 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:07:35 PM »

Buổi chiều ngày 10-10-1934, một đám đông bắt đầu tụ tập trước trụ sở Ủy Ban Trung Ương tại Thụy Kim để chuẩn bị lên đường. Hôm đó là một ngày rất đẹp trời và ấm áp. Những người tập hợp tại đây không phải là quân nhân; có khoảng một trăm đàn ông và vài chục phụ nữ. Tất cả được xung vào đoàn "dưỡng nhân" - những người yếu đuối hoặc già cả, bệnh tật hoặc bị thương, và đàn bà. Mỗi người mang theo một cái mền, một bao lương thực, mười cân gạo đủ dùng cho mười ngày, một túi quần áo và các đồ vật dụng hàng ngày. Mỗi người còn nhét vào thắt lưng một chiếc ly sành, trong đựng một bàn chải đánh răng và một chiếc khăn tay nhét đầy cái ly. Một số người được cưỡi ngựa, như Mao Trạch Ðông, Sử Thế Ly vị sư phụ 57 tuổi từng dậy Mao tại trường Sư Phạm Trường Sa trước kia, Ðổng Tất Vũ một đảng viên cộng sản đầu tiên 48 tuổi, Hạ Tử Trân vợ của Mao đang mang bầu sắp tới ngày sinh, và một số phụ nữ.

Cái đám đông lếch thếch ấy sau đó được phân thành từng đội nhỏ, và đặt dưới quyền chỉ huy của Ðặng Phát, chỉ huy trưởng ngành an ninh của đảng. Những người thuộc đoàn "dưỡng nhân" này được đi trước. Riêng Mao Trạch Ðông chưa đi ngay, vì Mao còn phải làm một vài công việc cần thiết, và việc khó khăn nhất là đọc một bài diễn văn trước các cán bộ tại Vu Ðô và dân chúng ở lại. Mao muốn chỉ dẫn cho những người ở lại một vài ý niệm về những gì sẽ xảy tới, và phải đối phó thế nào khi hồng quân đã rút hết và quốc quân tới nơi. Tuy sức khỏe suy nhược, Mao đã cố hết sức nói một cách đầy tin tưởng vào chiến thắng cuối cùng, mặc dầu những khó khăn to lớn mà hồng quân hiện đang phải đối phó. Các lãnh tụ Trung cộng đều có biệt tài tuyên truyền. Chính Mao cũng không chắc sống sót được trong cuộc chạy trốn, nhưng Mao vẫn hùng hồn nói đến chiến thắng cuối cùng, và kêu gọi dân chúng tiếp tục hy sinh chiến đấu!
Trong khi đó hồng quân ra sức tuyển mộ những thanh niên tình nguyện, bổ xung thêm quân số. Tất cả hồng quân được lệnh chuẩn bị cho một cuộc hành quân quan trọng nhằm phá vỡ vòng vây của địch quân. Mỗi người phải mang theo lương thực đủ dùng cho mười ngày. Mọi người tưởng sắp sửa tham gia một trận đánh mới, nên họ rất đỗi ngạc nhiên khi được lệnh phải đem theo quần áo ấm mùa đông, mặc dù thời tiết tháng mười chưa lạnh lắm.

Ngày 12-10, tất cả các cán bộ mọi cấp rút lui từ Thụy Kim về Vu Ðô. Họ đi ban đêm để tránh sự nghi ngờ của quốc quân. Hàng ngàn phu khuân vác đem theo tất cả những gì có thể đem theo được, kể cả những dụng cụ rất nặng nề, như máy in, những tủ đựng hồ sơ, những chiếc rương lớn chứa đầy vàng bạc thuốc men, các cỗ súng nặng, các bộ phận phát thanh và điện thoại. Ngày 16-10 là ngày hồng quân chính thức rút lui. Từng đoàn quân từ nhiều nơi khác nhau tiến ngang qua Vu Ðô, vượt qua con sông Vu Giang để tới An quận về phía nam.

Mãi chiều tối ngày 18-10, Mao Trạch Ðông và đoàn tùy tùng khoảng hai mươi người, gồm cả thư ký và vệ sĩ, mới bắt đầu lên đường, gia nhập vào Lộ Quân Trung Ương. Mao mang theo một túi đựng đầy sách, một chiếc dù gẫy cán, hai cái mền, và một áo choàng đã rách. Tất cả di chuyển một cách âm thầm kín đáo, hy vọng các oanh tạc cơ của quốc quân không khám phá ra họ. Kể từ Lý Ðức và Bác Cổ trở xuống, không ai biết chắc hồng quân sẽ thành công đi đến đâu. Nhiều người nghĩ rằng cuộc rút lui vào nơi hoang dã, bỏ lại các căn cứ đã được tổ chức thành công từ nhiều năm qua là một hành động tự sát. Vì mang theo quá nhiều đồ nặng nề, nên có những phu khuân vác mỗi ngày chỉ tiến được vài dậm.

Một tiểu đoàn công binh bắc năm cây cầu nổi qua con sông Vu Giang. Nước sông chảy về phía đông nam ra biển cả, trong khi hồng quân đi ngược chiều của dòng sông, đi về phía tây bắc, tới những ngọn núi cao chìm vào mây. Phần lớn hồng quân là những nông dân, những người vốn nặng lòng quyến luyến quê hương làng mạc và gia đình cùng lối xóm. Lần ra đi này, mọi nguời linh cảm ít có hy vọng trở lại làng cũ và gặp lại cha mẹ, vợ con. Tới bờ sông, nhiều người quay lại nhìn con đường cũ, rồi im lặng nhìn nhau và cùng hoang mang cảm thấy một nỗi buồn xót xa.

Về mùa này nước sông rất thấp, nhiều chỗ quân sĩ có thể lội qua được. Mao và đoàn tùy tùng đi dọc theo bờ sông. Mặt sông phẳng lặng và bóng loáng dưới ánh trăng. Mọi người qua con sông nhỏ một cách dễ dàng. Sự im lặng, ánh trăng và tiếng nước vỗ nhẹ vào các cây cầu nổi đã gây cảm hứng và nâng cao tinh thần mọi người. Bỗng một vài người bắt đầu cất tiếng hát. Tiếng hát của họ có vui tươi hùng hồn, nhưng không khỏi cảm khái bùi ngùi. Họ biết họ đang tiến vào một con đường vô định, với một mục tiêu còn rất xa vời.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #5 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:08:34 PM »

Những Ngày Ðầu Của Hồng Quân

Ðối với Tưởng Giới Thạch thì chưa bao giờ mọi việc lại tốt đẹp đến như thế. Ngày 15-10-1934, Tưởng cùng bà vợ Tống Mỹ Linh lên phi cơ từ Nam Xương để đi quan sát chiến trường vùng tây bắc. Kể từ ngày kết hôn với Tưởng Giới Thạch, trở thành vị đệ nhất phu nhân đầy quyền thế đến nay, bà Tống Mỹ Linh, cô con gái út của Tống Giáo Nhân, ít khi xa chồng, kể cả những lúc Tưởng đi quan sát chiến trường. Kể từ năm 1930, khi mà Tưởng tung hết sức mạnh nhằm diệt trừ "Quân Cướp Ðỏ", thì Tưởng có mặt thường xuyên tại Nam Xương. Bây giờ thì Tưởng hài lòng lắm. Nhờ chiến pháp của Hans von Seeckt, quân Quốc dân đảng đã dồn hồng quân vào chân tường, và số phận của "Quân Cướp Ðỏ" chỉ còn được tính từng ngày. Tưởng sẽ loại được mối lo tâm phúc nhất, để dồn hết nỗ lực còn lại vào việc chinh phục các sứ quân, và thống nhất nước Trung hoa. Giấc mơ làm chúa tể Trung hoa của Tưởng chưa bao giờ hứa hẹn rực rỡ như lúc đó.

Các tay đao phủ của Tưởng Giới Thạch đã chặt đầu rất nhiều đảng viên cộng sản, và cả những người thân cộng, đến nỗi hàng ngũ cộng sản không thể phát triển mạnh về nhân lực được. Số người bị Tưởng hạ lệnh chém đầu nhiều hơn con số tuyển mộ bổ xung của hồng quân. Tuy vậy Tưởng cũng phải thầm khen những cấp chỉ huy của hồng quân tại Giang Tây. Tưởng cũng quen biết nhiều người trong nhóm này, khi mà tất cả cùng kết hợp nhau dưới lá cờ của Tôn Dật Tiên. Một trong những thủ lãnh cộng sản mà Tưởng căm thù nhất là Chu Ân Lai. Trước kia Chu Ân Lai là phụ tá của Tưởng tại trường võ bị danh tiếng Hoàng Phố. Lúc đó Tưởng là chỉ huy trưởng, còn Chu Ân Lai phụ trách việc huấn luyện chính trị. Nhiều lãnh tụ quân sự của hồng quân cũng đã từng học tại Hoàng Phố. Cũng có những người chưa được đào luyện tại Hoàng Phố, như Mao Trạch Ðông và Chu Ðức. Tưởng cũng từng nghe nói rất nhiều về Mao Trạch Ðông, mặc dầu hai người chưa từng có dịp gặp nhau. Về phần Chu Ðức trước kia cũng là một sứ quân, có rất nhiều vợ và nghiện thuốc phiện. Nhưng về sau Chu Ðức giải tán các bà vợ, bỏ thuốc phiện và gia nhập hồng quân. Mao Trạch Ðông và Chu Ðức chiến đấu sát cánh nhau rất thân thiết thành cặp bài trùng Chu Mao. Nhiều người lúc đầu không biết, cứ tưởng Chu Mao là một người. Tuy nhiên Mao Trạch Ðông và Chu Ðức chỉ hợp tác chặt chẽ với nhau trong những ngày chiến đấu gian khổ; khi phe cộng sản đạt được chiến thắng làm chủ Hoa Lục, Mao và Chu Ðức thường chống đối nhau vì quyền lợi cá nhân.

Tuy Tưởng gọi những kẻ thù cộng sản là "Quân Cướp Ðỏ", nhưng Tưởng không bao giờ đánh giá họ quá thấp. Họ đã liên tiếp thành công đánh bại quân của Tưởng trong suốt bảy năm vừa qua. Nhờ Hans von Seeckt đến giúp, làm thay đổi hẳn cục diện. Hans von Seeckt tiến quân rất chậm và thận trọng. Trong khi tiến quân, Hans von Seeckt thiết lập những pháo đài, đồn bót ngăn chặn tất cả mọi con đường dẫn vào khu vực cộng sản. Vòng vây của Hans von Seeckt cứ từ từ xiết chặt lại. Việc buôn bán giữa khu vực cộng sản và khu vực Quốc dân đảng hoàn toàn bị cắt đứt. Không ai vào được khu vực cộng sản, và cũng không ai đi ra được từ khu vực cộng sản. Người dân sống trong khu vực cộng sản không bán được lúa gạo và ngô khoai, nhưng lại thiếu thốn muối, dầu lửa và vải.

Trước khi Tưởng tung ra đợt tấn công thứ năm, quân cộng sản vẫn tiếp tục chiến thắng bằng chiến thuật du kích, tấn công lén rồi rút lui. Hồng quân dụ cho quân Quốc dân đảng tiến sâu vào khu vực cộng sản, rồi dùng những cuộc phục kích để tiêu diệt. Hồng quân chiếm được rất nhiều lương thực và vũ khí. Rất nhiều quân Quốc dân đảng bị bắt làm tù binh, rồi bị cộng sản cải tạo để trở thành những người thay thế cho những tổn thất về quân số của hồng quân.

Nhưng bây giờ thì hồng quân không thể nào đối địch trực tiếp với quân Quốc dân đảng được nữa. Trong trận Quảng Xương tháng 4-1934, hồng quân và quốc quân đã chiến đấu bất phân thắng bại. Ðây là lần đầu tiên quân của Tưởng có thể cầm cự nghiêng ngửa với hồng quân. Cả hai bên đều không tiến lên được, dù là một tấc đất. Hồng quân bị tổn thất tám ngàn quân trong trận đánh này. Quân của Tưởng cũng bị thiệt hại tương tự. Nhưng Tưởng có thể bổ xung số quân tử trận mau lẹ, trong khi hồng quân không có khả năng thay thế được những thiệt hại to lớn về quân số được, vì nhân sự trong khu vực cộng sản đã được xử dụng tới tối đa, nay đã đến lúc kiệt quệ.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #6 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:09:04 PM »

Chưa bao giờ Tưởng lên tinh thần như hiện nay. Cộng sản là lực lượng chính yếu cản trở mộng thống nhất Trung Hoa của Tưởng. Bây giờ hồng quân sắp bị tiêu diệt. Tưởng hy vọng có thể xin được viện trợ ngoại quốc để tạo thế mạnh trong cuộc thương thuyết đòi lại đất Mãn Châu trong tay người Nhật. Hitler hiện đang giúp Tưởng đánh lại hồng quân, nhưng Hitler sẽ không dám công khai giúp Tưởng chống lại Nhật, vì Hitler đang muốn lấy lòng Nhật để Nhật trở thành đồng minh với Ðức. Tuy vậy Tưởng vẫn lạc quan hy vọng có được sự trợ giúp ngầm của Hitler. Về phần Stalin thì Tưởng tin rằng Stalin là người thực tế, nghĩ đến quyền lợi của Nga sô trước hết. Stalin sẽ không bao giờ trợ giúp Tưởng đánh bại cộng sản Trung hoa. Nhưng khi cộng sản Trung Hoa bị tiêu diệt rồi, thì Stalin sẽ nghiêng về Tưởng, vì một nước Trung Hoa thống nhất dưới quyền lãnh đạo tối cao của Tưởng sẽ có lợi cho Nga nhiều hơn.

Phi cơ của Tưởng tiếp tục bay từ Nam Xương, dọc theo sông Dương Tử, trên những cánh đồng lúa mì phì nhiêu và qua những vùng đồi vàng một mầu đất hoàng thổ. Ðằng sau Tưởng là Giang Tây, một khu vực mà hồng quân đang bị vây tứ phía, không còn đường rút lui. Tưởng lẩm bẩm: "Chúng bay sẽ bị tiêu diệt trọn ổ trong nay mai. Cái ngày tàn của chúng bay không còn xa đâu." Tưởng định khi trở về Nam Xương sẽ ra lệnh mở cuộc tấn công tàn sát cuối cùng.

Nhiều người tại Nam Xương cũng phải chia xẻ sự lạc quan của Tưởng Giới Thạch cho rằng có thể tiêu diệt hết quân cộng sản tại Giang Tây. Người Trung hoa tại các nơi khác biết rất ít về sự hiện diện của cộng sản, nhưng người dân tại Nam Xương biết rõ khí thế và hoạt động của cộng sản hơn. Họ đã biết quân cộng sản từ ngày 1-8-1927, khi cộng sản vùng lên chiếm thành phố, rồi gióng cờ lên tiến về phía nam, trong hy vọng khôi phục lại một cuộc cách mạng mà Tưởng Giới Thạch đã hủy diệt trong biển máu tại Thượng Hải. Nhân vật nổi bật nhất trong cuộc nổi dậy tại Nam Xương là một thanh niên đẹp trai, lúc đó mới có 29 tuổi. Chàng thanh niên đó là Chu Ân Lai, một người tự nhận là "sản phẩm của một gia đình quan lại băng hoại." Giống phần đông thanh niên Trung hoa cùng thế hệ, Chu Ân Lai đã không bỏ lỡ cơ hội đầu tiên gia nhập các phong trào sinh viên quá khích. Sau đó Chu Ân Lai xuất ngoại sang Âu châu, làm việc tại hãng xe hơi Renault của Pháp, rồi học tại Ba Lê và Bá Linh, Ðức quốc. Chu Ân Lai là đảng viên sáng lập cộng đảng Trung hoa tại Âu châu.

Năm 1927 là một cái mốc lớn trong lịch sử Trung hoa. Chính năm đó Tưởng Giới Thạch từ Quảng Ðông mở cuộc chinh phạt miền bắc, với sự hợp tác của phe cộng sản. Thực ra phe cộng sản Trung Hoa liên kết với Quốc dân đảng chỉ là giai đoạn tạm thời trong lúc phe cộng sản còn yếu kém, và họ luôn luôn tìm mọi cơ hội để khai thác và chiếm đoạt chiến thắng của phe Quốc dân đảng. Mục tiêu đầu tiên của cuộc Bắc phạt là Thượng Hải, và sau đó hy vọng sẽ là Bắc Kinh. Chu Ân Lai định cướp công của Quốc dân đảng bằng cách lén tới Thượng Hải trước, âm mưu tổ chức các cuộc nổi dậy của công nhân, đặt bước đầu cho các hoạt động của đảng cộng sản sau này. Hai cuộc nổi dậy đầu tiên của công nhân thất bại vì thiếu chuẩn bị. Ðợt nổi dậy lần thứ ba thành công. Hàng trăm ngàn công nhân tiến ra đường, đoạt quyền chỉ huy thành phố, và sửa soạn chào đón Tưởng Giới Thạch và quân đội Quốc dân đảng.

Nhưng biến cố buổi sáng ngày 12-4-1927 không phải là chiến thắng mà Chu Ân Lai và các lãnh tụ cộng sản mong đợi. Trong khi công nhân giăng biển ngữ "Hoan Hô Quân Ðội Giải Phóng Quốc Gia" và "Hoan Hô Tưởng Giới Thạch" thì Tưởng Giới Thạch âm thầm liên kết với các bang hội, các nhóm anh chị của Hoàng Mặt Rỗ và Ðỗ Nguyệt Thăng có biệt hiệu là Ðỗ Ðại Nhĩ, để triệt hạ giới công nhân. Tưởng trông thấy âm mưu hớt tay trên của Chu Ân Lai cho mục tiêu cộng sản sau này. Bề ngoài công nhân có vẻ ủng hộ đại quân của Tưởng, nhưng Tưởng biết rõ lý do của sự ủng hộ bất đắc dĩ này chỉ vì lực lượng cộng sản chưa đủ mạnh. Tưởng đã làm một điều cần thiết để tránh hậu họa. Trong khi đại quân của Tưởng án binh bất động, thì từng nhóm anh chị của các bố già Hoàng Mặt Rỗ và Ðỗ Ðại Nhĩ xông ra, mặc sức "làm thịt" công nhân tại chỗ. Hàng ngàn công nhân bị các tay anh chị tàn nhẫn bắn giết, chặt đầu, hoặc bị quẳng vào luộc sống trong những lò nước sôi. Tưởng treo giải thưởng 80 ngàn đô la cho ai bắt được hoặc giết được Chu Ân Lai. Các cơ sở của cộng sản tại Thượng Hải bị tàn phá, nhiều lãnh tụ bị bắt và bị giết.

Người ta đồn Chu Ân Lai đã bị quân của Tưởng bắt được, nhưng sau Chu Ân Lai phải mặc giả làm đàn bà mới trốn thoát. Nhưng thực ra Chu bị đệ nhị sư đoàn Quốc dân đảng bắt giữ trong khi sư đoàn này có nhiệm vụ tái lập trật tự và tước vũ khí của dân quân. Một số sĩ quan cao cấp trong đệ nhị sư đoàn đã biết Chu từ thời còn học tại trường võ bị Hoàng Phố, và họ có thiện cảm với Chu. Sau một hồi bàn cãi sôi nổi giữa các cấp chỉ huy sư đoàn, Chu được thả. Lập tức Chu tìm đường trốn về Vũ Hán. Giai thoại Chu Ân Lai phải mặc giả đàn bà để trốn bắt nguồn từ sự kiện Chu Ân Lai là người rất đẹp trai, và hồi còn học tại Thiên Tân, Chu Ân Lai hay đóng kịch, và thường phải đóng những vai giả làm con gái. Trong khi đó người yêu của Chu Ân Lai là Ðặng Dĩnh Siêu thường phải đóng giả làm đàn ông, có lẽ tại Ðặng Dĩnh Siêu thiếu nhan sắc.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #7 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:09:36 PM »

Lúc đó phe cộng sản và Quốc dân đảng đang trong thời kỳ hợp tác với nhau, và đặt chính phủ tại Vũ Hán. Sự hợp tác Quốc Cộng là chủ trương của Tôn Dật Tiên. Tưởng Giới Thạch là một lãnh tụ chống cộng triệt để, và không chịu hợp tác với phe cộng. Sau biến cố đẫm máu đánh bại phe cộng sản tại Thượng Hải, Tưởng gạt bỏ những người cộng sản ra khỏi tổ chức Quốc dân đảng và chính phủ tại Vũ Hán. Liền sau đó là một cuộc đàn áp công nhân và nông dân tại Vũ Hán. Các lãnh tụ cộng sản phải bỏ trốn, đi vào con đường hoạt động bí mật. Tưởng Giới Thạch dời thủ đô về Nam Kinh. Việc khai trừ và đàn áp người cộng sản tại Vũ Hán của Tưởng Giới Thạch đã đẩy một số lãnh tụ cộng sản mở những cuộc nổi dậy, chiếm một số thành phố của Quốc dân đảng. Các cuộc nổi dậy này khởi sự vào mùa thu, vì thế được gọi là Những Cuộc Nổi Dậy Mùa Thu.

Các lãnh tụ cộng sản hy vọng dùng được một số đơn vị nhỏ của tướng Trương Phát Khuê cho mục tiêu đánh chiếm Nam Xương, rồi tiến về chiếm Quảng Châu ở phía nam. Trương Phát Khuê không phải là cộng sản, nhưng nhiều cấp chỉ huy dưới quyền của họ Trương lại là cộng sản, như Diệp Dĩnh, tư lệnh Nam Xương và sư đoàn 24, Diệp Kiếm Anh tham mưu trưởng quân đoàn 4, Hạ Long tư lệnh quân đoàn 20, và thiếu tướng Chu Ðức là giám đốc sở công an Nam Xương. Với nhiều nhân sự nắm giữ những chức vụ quân sự quan trọng như thế, Nam Xương quả thực là một mục tiêu lý tưởng cho cộng sản.

Chu Ân Lai Và Cuộc Nổi Dậy Tại Nam Xương

Chu Ân Lai sinh năm 1899 tại tỉnh Hoài An, trong một gia đình quan lại. Thân phụ của Chu có một người em trai sắp chết mà chưa có con trai, và sợ rằng người em sau này không có ai nối dõi để tiếp tục việc thờ phụng, nên lúc Chu Ân Lai được bốn tuổi thì bị thân phụ đem cho người chú nuôi. Sau khi người chú chết rồi thì Chu vẫn tiếp tục ở nhà người chú với người mẹ nuôi là thím ruột của mình. Người thím của Chu là người hay chữ và thích đọc sách. Bà ta rất thích đọc những sách bị cấm hồi đó, như những sách nói về những cuộc nổi loạn chống lại triều đình, và đưa cho Chu đọc. Chu rất say mê những sách này. Chu bắt đầu học tại nhà do một thày đồ đến dạy. Khi Chu 14 tuổi thì được gia đình gửi tới Nam Khai Học Hiệu tại Thiên Tân, và hoàn toàn bị ảnh hưởng Quốc dân đảng của Tôn Dật Tiên. Năm 1917, Chu sang Nhật Bản và giao du với rất nhiều sinh viên cách mạng.

Ðầu năm 1919, Chu trở về nước và học tại đại học Thiên Tân. Trong thời gian học tại Nam Khai Học Hiệu, Chu Ân Lai bị tù 5 tháng vì lãnh đạo học sinh trong Phong Trào Sinh Viên Ngũ Tứ. Gia đình tức giận không gửi tiền trợ giúp Chu nữa. Chu phải tự lo liệu bằng cách viết báo hoặc bằng học bổng, vì Chu là một học sinh xuất sắc. Trong thời gian này, Chu thành lập hội Thức Tỉnh, bao gồm những phần tử quá khích. Trong số những hội viên của Hội Thức Tỉnh, có một nữ sinh viên tên là Ðặng Dĩnh Siêu. Năm 1925, Chu Ân Lai và Ðặng Dĩnh Siêu kết hôn với nhau, và cùng đi chung một con đường phục vụ cộng đảng Trung hoa. Ðây là một cặp vợ chồng son sắt nhất trong cộng đảng Trung hoa; hai người yêu nhau, kính trọng nhau và sống bên nhau suốt đời, kể cả những lúc gian lao nhất trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh, và mặc dù không có con. Khi Chu làm thủ tướng, nhiều người đề nghị Chu nên kết hôn với một người con gái trẻ khác để có con, nhưng Chu từ chối và nói: "Tôi không cần có con riêng. Tất cả trẻ con Trung Hoa đều là con tôi." Trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh, vì không chịu đựng nổi những gian khổ, Ðặng Dĩnh Siêu mắc bệnh lao phổi, và phải được chở đi bằng cáng. Sau đó Ðặng Dĩnh Siêu phải lén trở lại Bắc Kinh để chữa bệnh phổi.
Hội Thức Tỉnh của Chu Ân Lai tan rã vào năm 1920, khi Chu và Ðặng Dĩnh Siêu đuợc đi Pháp du học theo chương trình "Làm Việc Và Học Tập" do Trần Ðộc Tú tổ chức. Tại Pháp, Ðức và Anh quốc, Chu Ân Lai làm đủ mọi thứ việc, như bồi bàn, thợ mỏ, thợ xe hơi để học, và thành lập chi bộ cộng đảng Trung hoa tại Âu Châu. Năm 1924 Chu Ân Lai trở về nước, và dừng lại tại Mạc Tư Khoa để tham dự một vài khóa huấn luyện đặc biệt. Tại Quảng Ðông năm đó, Chu Ân Lai trở thành phụ tá cho Tưởng Giới Thạch, giảng dạy chính trị tại trường võ bị Hoàng Phố.

Một ngày cuối tháng 7 năm 1927, một thanh niên đẹp trai, dong dỏng cao, trong bộ âu phục màu xám, xách cặp da màu đen, bước vào Ðại Khách Sạn tại Nam Xương, và thuê phòng số 25. Chàng thanh niên đó chính là Chu Ân Lai. Khách sạn này lúc đó hầu như không còn phòng trống nữa. Tướng Hạ Long cũng đã thuê phòng số 20. Lưu Bá Thừa có biệt danh là Ðộc Nhãn Long vì chột một bên mắt, thì chiếm phòng số 9. Lâm Bưu lúc đó chỉ là một trung đội trưởng nên không được dành phòng tại đây, kể cả Chu Ðức lúc đó vẫn chưa chính thức gia nhập đảng cộng sản, và còn đang đứng trong hàng ngũ Quốc dân đảng và phụ trách ngành an ninh tại Nam Xương. Các lãnh tụ cộng sản cao cấp đang âm thầm kéo về Nam Xương trong một mưu toan lớn.

Chu Ân Lai là người được cộng đảng giao phó trọng trách tổ chức cuộc nổi dậy tại Nam Xương. Phe cộng sản có vẻ nắm chắc phần thắng tại đây, vì cộng quân tung vào cuộc nổi loạn 20 ngàn quân để chống lại 10 ngàn quân chính phủ. Tuy nhiên nếu Chu Ân Lai không cương quyết thì mọi kế hoạch của cộng sản đã không thể thi hành được. Stalin mới phái Lominadze, một đảng viên Nga sô mới 29 tuổi, sang làm cố vấn cho cộng đảng Trung hoa. Lominadze không hiểu biết gì về Trung hoa, nhưng được lòng Stalin. Khi tới Trung hoa, Lominadze ra lệnh ngưng cuộc nổi dậy tại Nam Xương. Lệnh của Lominadze đưa ra 25 giờ trước khi cuộc nổi dậy khởi sự. Trương Quốc Ðào được lệnh tới Nam Xương để thuyết phục Chu Ân Lai bãi bỏ cuộc nổi dậy. Họ Trương nhấn mạnh cuộc nổi dậy chỉ khởi sự nếu bảo đảm được chiến thắng, nếu không thì tốt hơn là rút những người cộng sản ra khỏi quân đội của Trương Phát Khuê, và tìm về lập một căn cứ tại nông thôn.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #8 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:10:09 PM »

Chu Ân Lai và một số lãnh tụ khác bất tuân lệnh của Lominadze, có lẽ vì đã tập trung quá nhiều nỗ lực vào việc chuẩn bị. Tất cả tránh trường hợp căng thẳng chờ đợi để thăm dò Trương Phát Khuê. Một số người chủ trương rằng mũi tên đã đặt lên cung rồi thì phải được bắn đi. Chu Ân Lai quyết định cứ tiến hành cuộc nổi dậy như đã định, và cuộc nổi dậy Nam Xương bùng nổ sáng ngày 1-8-1927, do Hạ Long làm tư lệnh và Diệp Dĩnh làm phó tư lệnh. Lúc đó là đầu tháng 8, trời đẹp nhưng rất oi bức nên quân đội chính phủ phải ngủ ngay ngoài sân trại, và do đó rất chểnh mảng việc bố phòng.

Cuộc tấn công xảy ra rất mau lẹ, và quân của Chu Ân Lai làm chủ được thành phố vào lúc hừng sáng. Trên 800 quân chính phủ tử trận. Số tổn thất của cộng quân nặng hơn gấp ba lần. Tuy nhiên quân cộng sản không thể chiếm giữ thành phố được lâu, vì đệ nhị quân đoàn của tướng Trương Phát Khuê lập tức tiến tới bao vây Nam Xương. Trong vòng ba ngày, quân cộng sản rút lui khỏi thành phố, tiến về phía nam. Ngày 6-8 Nam Xương lại thuộc về chính phủ Quốc dân đảng. Tuy cuộc nổi dậy Nam Xương thất bại, cộng quân chỉ làm chủ thành phố được ba ngày, nhưng đó là thành tích đầu tiên của cộng sản, và có hậu quả quan trọng cho công cuộc cách mạng cộng sản Trung hoa. Các lãnh tụ quan trọng nhất của phe cộng sản Trung hoa đều tham dự cuộc nổi dậy này, như Chu Ân Lai, Trần Nghị, Hạ Long, Lưu Bá Thừa, Lâm Bưu, Chu Ðức... Kể từ đó, ngày quân lực của hồng quân Trung hoa được tổ chức hàng năm vào ngày 1-8, để tưởng niệm cuộc nổi dậy quan trọng đầu tiên của hồng quân tại Nam Xương.

Lực lượng nổi dậy tại Nam Xương phải ra đi ngày 3-8, và tiến về Quảng Ðông với ý định đánh chiếm thành phố Quảng Châu. Ðoàn quân rút lui khỏi Nam Xương đem theo tất cả vũ khí chiếm được và tiền bạc của ngân hàng Nam Xương. Nhưng khi toán quân 21 ngàn người này tới địa phận tỉnh Quảng Ðông thì chỉ còn lại 8 ngàn người. Nhiều người dồ đào ngũ, người thì chết vì bệnh thời khí và đói khát. Với một quân số ít ỏi như vậy thì không đủ sức mạnh chiếm được Quảng Châu, các lãnh tụ cộng sản liền tạm chiếm hải cảng Sán Ðầu, nhưng chỉ vài ngày sau thì bị một lực lượng Quốc dân đảng hùng hậu hơn đánh tan. Phần lớn các lãnh tụ cộng sản thất bại bỏ trốn sang Hương Cảng bằng thuyền nhỏ. Diệp Kiếm Anh và Diệp Dĩnh ở lại Hương Cảng một thời gian. Hạ Long trở lại nguyên quán và xây dựng một đội quân khác. Lưu Bá Thừa thì bỏ sang Nga để học quân sự. Trong nhóm các lãnh tụ cộng sản tham dự cuộc nổi dậy tại Nam Xương, chỉ một mình Chu Ðức đã sống sót về mặt quân sự. Chu Ðức dẫn được một lực lượng hai ngàn người đi theo một con đường khác, và sau này gia nhập với lực lượng của Mao Trạch Ðông tại Tỉnh Cương Sơn.

Sau khi thất bại tại Sán Ðầu, Chu Ân Lai ngã bệnh sốt rét. Ông nghỉ tại Hương Cảng một thời gian rồi lén trở lại Thượng Hải và hoạt động cho Trung ương đảng. Sau này trong một dịp nói chuyện với Hồng vệ binh, Chu Ân Lai phát biểu cảm tưởng về cuộc nổi dậy Nam Xương như sau: "Thực ra Trương Quốc Ðào cũng đúng một phần và tôi sai khi chúng tôi tranh luận tại Nam Xương. Vào lúc đó, tham gia cuộc đấu tranh vũ trang là đúng. Nhưng vấn đề là đáng lẽ chúng ta phải đoàn kết với nông dân. Nếu như sau cuộc nổi dậy, chúng ta phân tán đI để xây dựng các cơ sở trong các vùng nông thôn tỉnh Giang Tây thì sức mạnh của chúng ta rất lớn. Trái lại, chúng ta lại tìm cách chiếm những thành phố bằng sức mạnh quân sự của chúng ta. Ðó là một chính sách dựa vào quan điểm quân sự thuần túy. Chúng ta đi từ Giang Tây đến Quảng Ðông, mục tiêu đầu tiên là chiếm Sán Ðầu với mục đích nhận được viện trợ của Liên xô. Một mặt chúng ta muốn chiếm các thành phố, mặt khác, chúng ta muốn dựa vào viện trợ của ngoại quốc. Do ảnh hưởng của hai tư tưởng đó, chúng ta không đoàn kết với nông dân... Tôi bắt đầu phạm sai lầm khi tôi 29 tuổi. Nay tôi đã 69 tuổi, nhưng vẫn phạm sai lầm."

Sau những thất bại liên tiếp, Trần Ðộc Tú bị khiển trách và mất chức Tổng Bí Thư. Cù Thu Bạch được chọn lên thay thế. Trong dịp này Mao Trạch Ðông được chỉ định tổ chức cuộc Nổi Dậy Mùa Thu tại Trường Sa.

Mao Trạch Ðông Và Cuộc Nổi Dậy Mùa Thu Tại Trường Sa

Mao Trạch Ðông không tham dự cuộc nổi dậy tại Nam Xương, vì lúc đó Mao còn bận tổ chức cuộc Nổi Dậy Mùa Thu tại Trường Sa, thủ phủ tỉnh Hồ Nam. Mao sinh năm 1893 trong một gia đình nông dân tại Thiều Sơn, cách Trường Sa 40 dặm. Thân phụ Mao là Mao Châu Thẩm, một nông dân vừa cần kiệm vừa tham lam. Ông nội của Mao bị chủ nợ xiết tất cả ruộng đất vì không trả nổi nợ. Về sau Mao Châu Thẩm cố gắng chuộc lại và mua thêm đất, và tài sản nhà họ Mao lên đến 3.7 mẫu ruộng. Hàng năm nhà họ Mao sản xuất được 7 tấn thóc và được coi là một địa chủ, vì có tá điền giúp việc. Thân phụ Mao rất nghiệm khắc với con cái, và thường hay đánh mắng con cái để duy trì sự tuyệt đối vâng lời và phục tùng. Ngay từ lúc 4 tuổi, Mao đã phải ra đồng làm việc như một nông dân. Thân phụ Mao hàng tháng cấp phát gạo và trứng cho tá điền, nhưng Mao chưa bao giờ được ăn trứng và thịt cá.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
TuongLinh
Thành viên
*
Bài viết: 874



« Trả lời #9 vào lúc: 14 Tháng Năm, 2011, 09:10:38 PM »

Thân phụ Mao quyết định phải cho con trưởng là Mao Trạch Ðông đi học, không phải vì ông muốn cho con khá, mà là vì ông làm ăn phát đạt, bước sang ngành buôn gạo và cho vay lãi, nên cần một người con biết viết để giúp ông, và cũng vì ông vốn mù chữ. Nhờ thế Mao được đi học lúc 7 tuổi. Trường học của Mao theo lề lối giáo dục cổ điển, dùng nhục hình để bắt học sinh phải chăm học. Hành động phản kháng chống đối đầu tiên của Mao là tại trường học. Hồi Mao 10 tuổi, một hôm Mao bỏ trường để phản đối lối trừng phạt bằng roi vọt. Mao không dám về nhà vì sợ bị bố đánh. Nhưng cuối cùng gia đình cũng bắt được Mao đem về nhà. Nhưng một điều làm Mao ngạc nhiên là không bị thân phụ đánh mắng gì cả. Không những thế, từ đó trở đi thân phụ Mao đối xử với Mao dịu dàng hơn, và thày giáo cũng không dám đánh Mao nữa.
Một ngày lúc Mao được 13 tuổi, thân phụ Mao mời một số khách lại chơi. Hai bố con bất đồng ý về một vấn đề, và Mao bị thân phụ mắng là "quân lười biếng vô dụng". Mao vô cùng tức giận, cãi lại bố rồi vùng vằng bỏ nhà ra đI, hăm dọa sẽ tự tử. Bà mẹ vội vàng đuổi theo và năn nỉ Mao trở lại, nhưng cậu bé cứng đầu ngỗ nghịch cứ xăm xăm bước ra bờ ao, và có vẻ muốn nhảy xuống ao trầm mình. Mao kể lại cố sự này: "Bố tôi cũng đuổi theo tôi và bắt tôi phải quay về nhà. Ông nhất định bắt tôi phải khấu đầu tạ tội, một hình thức phục tùng. Tôi đồng ý chỉ quỳ một chân thôi, nếu bố tôi hứa từ đó không được đánh tôi nữa. Thế là cuộc xung đột giữa tôi và bố tôi chấm dứt. Từ kinh nghiệm này tôi học được một điều là khi nào tôi bảo vệ quyền lợi của tôi bằng cách nổi loạn chống lại thì bố tôi lui, nhưng nếu tôi cứ tiếp tục yếu đuối hàng phục thì bố tôi cứ chửi mắng và đánh đập tôi." Bài học của đời sống gia đình đã dạy Mao tinh thần nổi loạn, và phải chống đối tất cả để trở thành lãnh tụ số một.

Mao Trạch Ðông được học ngay tại trường làng, và trong năm năm, Mao đã đọc hết Tứ Thư Ngũ Kinh. Nhiều năm sau đó, Mao tỏ ra chê bai cái học của mình. Mao nói với một nhà báo Tây phương: "Tôi rất ghét Khổng Tử." Nhưng thực ra Mao đã nghiền ngẫm và bắt chước các tác phẩm danh tiếng của nước Trung Hoa cổ, và trong các tác phẩm của mình, Mao thường hay trích dẫn những lời nói của Khổng Tử và Mạnh Tử. Trong những năm cuối cùng của đời mình, Mao đã thu thập rất nhiều tác phẩm cổ điển; các tư tưởng cổ điển ngày càng ăn sâu vào tâm trí Mao, đúng như Mao thường nói: "Hãy dùng quá khứ phục vụ hiện tại."
Ðúng ra Mao Trạch Ðông đã áp dụng triết lý của Khổng Tử và Mạnh Tử vào đường lối suy tư của mình. Khổng Tử và Mạnh Tử tha thiết sửa đổi thực tế chứ không tìm cách chạy trốn khỏi thực tế. Ðó cũng là căn bản tư tưởng chính trị của Mao. Mao rất thích câu nói của Mạnh Tử: "Nếu ý Trời muốn thiết lập hòa bình và trật tự khắp bốn phương thì còn ai ngoài ta thực hiện điều đó?" Mao say mê đọc các tiểu thuyết danh tiếng của Trung Hoa như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du và Hồng Lâu Mộng. Mao thuộc lòng nhiều đoạn trong Tam Quốc Chí và Thủy Hử, và nhiều đoạn trong lịch sử Trung Hoa, đặc biệt là những cố sự về tranh dành quyền lực giữa những nhân vật chính trị. Mao đã áp dụng tất cả những sách vở đã đọc vào chiến thuật du kích của mình. Khi các kẻ thù của Mao lên án Mao chiến đấu tại Tỉnh Cương Sơn và trong cuộc Vạn Lý Trường Chinh đúng theo những gì Mao đã đọc trong cuốn Thủy Hử, thì quả thực họ đã khen ngợi Mao một cách chính xác nhất. Mao không bao giờ phủ nhận điều đó. Mao còn dùng cuốn Binh Thư của Tôn Tử như một cuốn sách gối đầu giường. Mao đặt cuộc cách mạng Trung Hoa trên căn bản hoàn toàn Trung Hoa.

Khi Mao Trạch Ðông được 14 tuổi thì bị cha mẹ bắt lấy vợ, và cưới cho Mao một cô gái 20 tuổi, hơn Mao 6 tuổi. Mao rất bất mãn việc bắt buộc phải lấy vợ do cha mẹ chọn mà không có sự đồng ý của Mao, và không bao giờ Mao công nhận người con gái do cha mẹ cưới hỏi là vợ mình. Mao cũng không bao giờ gần gũi người con gái ấy. Mao biết mùi vị tình dục rất sớm. Ngay từ năm 12 tuổi, Mao đã thành công dụ dỗ một cô gái xinh đẹp trong làng làm tình với mình. Cô gái ấy cũng bằng tuổi Mao.

Tuy Mao có vẻ bất hiếu ngỗ nghịch với thân phụ, nhưng Mao lại hết lòng yêu mến và vâng lời mẹ. Mao chịu ảnh hưởng của bà mẹ trong những năm niên thiếu. Thân mẫu Mao tên là Vương Kim Muội, một người đàn bà siêng năng, tốt bụng và hiểu biết. Bà thường giúp đỡ những người bần cùng. Vào những lúc đói kém, bà thường lén chồng lấy gạo cho các nông dân nghèo đói. Bà rất sùng đạo Phật, và chính vì bà, Mao trở thành một Phật tử lúc còn trẻ. Khi mẹ bị bệnh, Mao cầu nguyện Ðức Phật cho mẹ chóng bình phục, và lúc 15 tuổi, Mao đã đi hành hương tại ngôi chùa trên núi Hằng Sơn, cách xa Thiều Sơn trên 100 dặm. Hằng Sơn là một trong năm ngọn núi thiêng của Trung hoa.
Logged

Điều vĩ đại chính là điều giản dị - Sức mạnh chân chính nằm trong sự dịu dàng
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM