Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Tư, 2020, 01:40:30 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước-Tập 4  (Đọc 100697 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #40 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:10:26 PM »


Cuối tháng 4-1966, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ thị cho quân, dân ta trên các chiến trường sử dụng một bộ phận thích hợp bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định của địch, giữ vững các vùng căn cứ và thế trận của ta. Giữa tháng 6-1966, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương chỉ đạo các chiến trường tranh thủ mùa mưa tích cực chuẩn bị, xây dựng lực lượng, đồng thời mở đợt hoạt động quân sự trên cả ba vùng chiến lược, vận dụng sáu phương thức tác chiến của chiến tranh nhân dân, đánh bại các cuộc hành quân càn quét, hành quân bình định của địch, phá kế hoạch chuẩn bị cho mùa khô của chúng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Sáu phương thức tác chiến chiến lược được thể nghiệm trong mùa mưa 1966 là biểu hiện của sự tích cực, chủ động, kiên quyết và liên tục tiến công tiêu diệt địch bằng các lực lượng và hình thức tác chiến phù hợp, giữ vững và mở rộng thế làm chủ của cách mạng ở mọi nơi, mọi lúc. Vận dụng có hiệu quả sáu phương thức tác chiến này, ta buộc địch phải phân tán lực lượng ra để đối phó một cách lúng túng, bị động, khiến cho chúng có quân đông mà hoá ít, mạnh mà hoá yếu, phương tiện cơ động nhanh, nhưng không kịp thời chi viện lẫn nhau, không biết tập trung lực lượng vào nơi nào.

Quán triệt phương thức tác chiến ấy, quân và dân miền Nam đã vượt qua bom đạn ác liệt và sự khắc nghiệt của thời tiết mưa lũ triền miên, bám trụ kiên cường, chủ động mở cuộc tiến công Hè - Thu quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn vào lực lượng Mỹ cũng như ngụy Sài Gòn.

Ở miền Đông Nam Bộ - điểm nóng nhất sau cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất, đầu tháng 4-1966, quân Mỹ và quân ngụy mở hàng chục cuộc hành quân càn quét với lực lượng từ tiểu đoàn đến trung đoàn ra các vùng giải phóng, các trục đường giao thông ở đông bắc, tây và tây nam Sài Gòn - Gia Định, hòng liên kết các chi khu, căn cứ, đồn bốt đang bị cô lập lại với nhau. Âm mưu của địch trong mùa mưa là “co cụm bảo toàn lực lượng, tránh những trận đánh lớn, chuẩn bị cho cuộc phản công lần thứ hai khi mùa khô đến”. Bộ chỉ huy Miền đã chỉ đạo quân và dân các tỉnh trong khu vực tích cực chủ động đánh địch, kiên quyết làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của chúng. Ngày 9-4-1966, khi phát hiện được Bộ chỉ huy Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ cho hai lữ đoàn cùng với Lữ đoàn dù 173 và quân đồng minh Ôxtrâylia, Niu Dilân mở cuộc hành quân càn quét vào một số vùng thuộc các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc tỉnh Bà Rịa, Sư đoàn 5 bộ binh chủ lực Miền và du kích địa phương đã kịp thời tổ chức đánh trả. Tại huyện Long Đất, trưa ngày 10-4-1966. Trung đoàn 4 (Sư đoàn 5) chặn đánh một tiểu đoàn Mỹ càn quét từ Xuân Sơn vào Tầm Bó. Với thế trận chuẩn bị sẵn, sau nửa ngày chiến đấu, quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên Mỹ, bẻ gẫy mũi tiến công chính, buộc địch phải dừng lại giải quyết hậu quả. Phát huy thành tích đã đạt được, trưa ngày11-4-1966, quân và dân Bà Rịa tiếp tục tiến công một tiểu đoàn Mỹ đang càn quét hỗ trợ cho quân ngụy lập ấp chiến lược ở xã Lâm Xuân, đánh thiệt hại tiểu đoàn này, thu gần 100 súng các loại, cắt đứt đường số 2 từ Bình Giã đi Bà Rịa, hỗ trợ nhân dân phá banh hàng chục ấp chiến lược.

Địa bàn Bà Rịa - Long Khánh chẳng những là bức bình phong bảo vệ phía đông, đông nam Sài Gòn, mà còn là nơi có rừng núi, sông suối nối liền với cao nguyên Lâm Đồng ở phía bắc, Vũng Tàu ở phía nam, Biên Hoà, Bình Dương ở phía tây, rất thuận tiện cho việc hành quân, trú quân và xây dựng căn cứ địa của lực lượng cách mạng. Do vậy, dù bị ta đánh đi đánh lại trong hai tháng 3 và 4-1966, Mỹ và ngụy vẫn không cam chịu thất bại tiếp tục ra lệnh cho Lữ đoàn 2, Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ, Tiểu đoàn 3 lính Hoàng gia Ôxtrâylia, hai chi đội xe thiết giáp thuộc Trung đoàn 11 và một đại đội pháo binh Niu Dilân mở cuộc hành quân càn quét Anđi Hốc vào vùng giải phóng Long Phước nhằm tiêu diệt căn cứ Tỉnh uỷ Bà Rịa - Long Khánh, thiết lập vành đai an toàn cho Sài Gòn. Ngày 6-5-1966, sau gần một tuần dùng phi pháo đánh phá rất ác liệt vào các khu vực Minh Đạm, Hắc Dịch. Đất Đỏ, Cẩm Mỹ, Rừng Lá và nhiều điểm dọc các tuyến đường số 1, 15, 20, 2, 52, các đơn vị quân Mỹ và đồng minh của Mỹ ồ ạt đổ bộ vào Long Phước hòng diệt lực lượng cách mạng ở vùng này. Được sự chỉ đạo chặt chẽ kịp thời của Bộ Tư lệnh Miền, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 4 (Sư đoàn 5), Tiểu đoàn 445 tỉnh Bà Rịa - Long Khánh đã vượt qua gian khổ, ác liệt tổ chức chống càn bảo vệ chiến khu Long Phước. Từ ngày 6-5 đến ngày 29-5-1966, Trung đoàn 4 bộ binh và lực lượng vũ trang địa phương bám sát mọi hoạt động của quân Mỹ, tổ chức tập kích vào các vị trí đóng quân của địch. Ngày 8-5, Tiểu đoàn 1 kết hợp với Tiểu đoàn 445 đánh lui hai tiểu đoàn thuộc Lữ đoàn 2 Mỹ càn quét vào trung tâm Long Phước, bắn cháy hai xe tăng, một máy bay lên thẳng, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội Mỹ. Ngày 29-5, Tiểu đoàn 2 tập kích cụm quân Mỹ ở Trảng Chim, diệt và làm bị thương hàng chục tên Mỹ. Bị tiến công dồn dập, tổn thất nặng nề, quân Mỹ và quân đồng minh của chúng phải co cụm chống đỡ trong thế tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng địch phải bỏ dở cuộc hành quân.

Cùng thời gian này, Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 5 bộ binh Quân giải phóng hoạt động ở khu vực tam giác đường số 1, số 20 và số 2 thuộc địa phận Long Khánh - Hoài Đức đã bao vây Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 52, Sư đoàn 18 quân ngụy đang càn quét gom dân lập ấp chiến lược ở khu vực Ông Đồn - đường số 20. Sáng ngày 18-6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 5 Quân giải phóng tiêu diệt một đại đội địch hành quân trên đường số 20, phá huỷ sáu xe quân sự. Địch cho hai đại đội của Tiểu đoàn 1 và sáu xe M113, có máy bay và pháo binh yểm trợ đánh vào khu vực quân ta chốt giữ. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 5 Nguyễn Thới Bưng hạ lệnh cho Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 1 đánh vỗ mặt, chia cắt, diệt từng bộ phận đội hình địch. Bị đánh từ ba hướng, địch bỏ súng, bỏ xe tháo chạy tan tác. Trong trận này, Trung đoàn 5 bộ binh Quân giải phóng tiêu diệt một tiểu đoàn ngụy, bắn cháy 16 xe quân sự, thu 75 súng các loại. Với thành tích đạt được trong trận đánh, Trung đoàn 5 và Tiểu đoàn 3 được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng hai. Chiến thắng Long Phước - Ông Đồn, đường số 2 và 20 trong hai tháng 5 và 6-1966 của Sư đoàn 5 và lực lượng vũ trang Bà Rịa - Long Khánh đã phá tan ý đồ lập “lá chắn thép” bảo vệ phía đông Sài Gòn của địch. Nó là nguồn cổ vũ, động viên quân và dân miền Đông Nam Bộ vượt qua mọi khó khăn, ác liệt, giữ vững thế trận tiến công địch.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #41 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:11:37 PM »


Tại tỉnh Long An, ngày 17-4-1966, Lữ đoàn 2, Sư đoàn 25 Mỹ đóng quân tại Đồng Dù mở cuộc hành quân càn quét vùng Đức Hoà. Tỉnh đội Long An đã chủ động sử dụng Tiểu đoàn 269 phối hợp với bộ đội địa phương và du kích huyện Đức Hoà chặn đánh quyết liệt các cánh quân của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng chục lính Mỹ, thu 13 súng các loại. Giữa tháng 5-1966, quân Mỹ ở Đồng Dù lại mở cuộc hành quân càn quét bốn xã phía tây hai huyện Đức Hoà, Đức Huệ nhằm “loại trừ các tụ điểm hoạt động của Việt cộng”. Nhưng một lần nữa quân Mỹ đi càn lại rơi vào thế trận của chiến tranh nhân dân tỉnh Long An, gần 100 tên Mỹ bị du kích phục kích và sập hầm chông, vướng mìn, cạm bẫy, chúng buộc phải bỏ ý định “làm sạch cỏ Đồng Tháp Mười trước mùa mưa 1966”. Tỉnh Tây Ninh - một trong những trọng điểm đánh phá tự do của phi pháo địch. Những ngày cuối tháng 4 đầu tháng 5-1966, Mỹ - ngụy đã ném đủ loại bom đạn các cỡ vào các vùng Cà Tum, Xa Mát, Lò Gò, Xóm Giữa... và dọc sông Vàm Cỏ, hòng diệt các cơ quan Trung ương Cục, Bộ Chỉ huy Miền, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam. Cùng với việc dùng phi pháo đánh phá ác liệt căn cứ của ta, địch mở hàng chục trận càn quét vào các vùng lõm, vùng ven - nơi bộ đội và du kích đang bám trụ. Ngày 16-4-1966, quân Mỹ huy động ba tiểu đoàn lính Mỹ có hàng chục xe thiết giáp yểm trợ hành quân càn quét ba xã An Tịnh, Gia Lộc, Lộc Hưng huyện Trảng Bàng. Ngày 20-4-1966, quân Mỹ-ngụy ở thị xã Tây Ninh cho hai tiểu đoàn có máy bay và pháo binh chi viện, mở cuộc hành quân giải toả tỉnh lộ 22 nhằm nới rộng vành đai an toàn cho khu vực Thiện Ngôn, Tân Biên... Với tinh thần chủ động tiến công tiêu diệt địch, trong bốn ngày từ 17 đến 20-4, quân dân hai huyện Trảng Bàng, Tân Biên đã đánh hơn 20 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 195 tên Mỹ, bắn cháy 10 xe M113, bắn rơi hai máy bay lên thẳng, buộc chúng phải bỏ dở cuộc hành quân. Giữa tháng 5-1966, quân dân vùng ven Sài Gòn - Gia Định liên tục đánh nhỏ tiêu hao lực lượng quân Mỹ và quân ngụy đóng ở trong các thị trấn, thị tứ, trại lính, làm cho chúng phải nơm nớp lo sợ. Đêm 21-5, một tiểu đoàn bộ đội chủ lực Miền, tập kích Trường Huấn luyện lính thuỷ đánh bộ Mỹ ở Thủ Đức, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên. Năm ngày cuối tháng 5, bộ đội địa phương và du kích hai huyện Gò Vấp, Hóc Môn liên tiếp tiến công địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên, bức rút hai đồn. Trong suốt hai tháng 4 và 5, Mỹ và quân đội Sài Gòn dùng xe cày ủi và đốt phá làng mạc, ruộng vườn để lập vành đai trắng. Quân và dân Củ Chi đã anh dũng bám trụ địa đạo, bắn tỉa diệt hàng chục tên Mỹ trong căn cứ Đồng Dù, phục kích đánh một đại đội địch hành quân ở Tân Thông Hội, chụp bắt bọn ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân ở thị tứ Bắc Hà gây cho địch nhiều thiệt hại.

Hoạt động quân sự của các lực lượng vũ trang hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị phát triển. Đầu năm 1966, cùng với làn sóng đấu tranh đòi lật đổ Thiệu - Kỳ diễn ra sôi động ở Đà Nẵng, Huế, các tầng lớp nhân dân Sài Gòn được sự chỉ đạo của các tổ chức cách mạng, đã xuống đường mít tinh, tuần hành, bãi khoá bãi thị, v.v… Ngày 7-4-1966, hàng chục nghìn người Sài Gòn, số đông là công nhân, nông dân, trí thức bất chấp lệnh giới nghiêm của ngụy quyền, từ bốn phía nội, ngoại thành cùng kéo đến bao vây nơi làm việc của Nguyễn Cao Kỳ, đòi Thiệu - Kỳ từ chức. Nhân ngày Quốc tế Lao động 1-5, hơn hai chục nghìn người - chủ yếu là công nhân, học sinh, sinh viên kéo đến trụ sở Tổng Liên đoàn lao động biểu tình đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống thất nghiệp. Sau đó, gần 40 nghìn người (nhiều đoàn người ở các quận mới kéo đến) gồm đủ các thành phần công, nông, trí thức và một số gia đình binh sĩ ngụy kéo đến bao vây toà Đại sứ Mỹ, hô vang khẩu hiệu “đế quốc Mỹ cút đi”, “nội bộ Việt Nam do người Việt Nam giải quyết”. Cảnh sát đô thành Sài Gòn do Nguyễn Ngọc Loan làm giám đốc, đích thân điều xe chở hàng trăm cảnh sát đến đàn áp đoàn biểu tình và giải vây cho sứ quán Mỹ. Nhóm cảnh sát bị chìm ngập trong biển người hừng hực khí thế đấu tranh, Nguyễn Ngọc Loan đành bó tay, chấp nhận các yêu sách của quần chúng.

Bên cạnh phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, trí thức, giới Phật giáo cũng xuống đường phản đối dữ dội Thiệu - Kỳ đàn áp, phá hoại chùa chiền. Ngày 9-5-1966, hàng nghìn tăng ni, phật tử ở Sài Gòn - Gia Định tổ chức lễ cầu siêu cho các nạn nhân đã bỏ mình vì đạo ở Đà Nẵng, Huế. Sau lễ cầu siêu là cuộc tuần hành khổng lồ từ Viện hoá đạo đến quảng trường Quách Thị Trang, giương cao biểu ngữ đòi Mỹ không được dùng vũ lực xâm lược Việt Nam, tẩy chay chế độ tay sai Sài Gòn. Mặc dù các cuộc biểu tình bị cảnh sát Mỹ - Thiệu đàn áp, nhưng các cuộc đấu tranh của giới phật giáo vẫn phát triển mạnh mẽ, làm cho Mỹ - ngụy lúng túng, hoang mang. Kết qủa đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn - Gia Định trong ba tháng (4, 5, 6) được Hội nghị Thường vụ Khu uỷ miền Đông Nam Bộ tháng 11-1966 đánh giá: “Trong vòng mấy năm nay, đây là lần đầu tiên quần chúng đô thị biểu thị một khí thế chống Mỹ mạnh nhất, với nội dung đúng đắn nhất”1.
________________________________________
1. Báo cáo tình hình đô thị Sài Gòn tháng 5 đến tháng 10-1966, thông qua tại Hội nghị Thường vụ A50 mở rộng, tháng 11-1966, lưu trữ tại phòng KHCN-MT Quân khu VII.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #42 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:12:15 PM »


Bước sang tháng 6-1966, thực hiện kế hoạch tác chiến mùa mưa của Quân uỷ và Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn 9 đã mở đợt hoạt động quân sự ở khu vực phía tây và tây bắc Sài Gòn - Gia Định. Ngày 6-6, quân dân Bình Long nổ súng tiến công năm vị trí địch quanh thị xã, loại khỏi vòng chiến đấu hai đại đội quân ngụy đóng dã ngoại ở phía bắc sân bay Técních, thu, phá huỷ nhiều đồ dùng quân sự. Để trấn an tinh thần bọn ngụy, ngày 8-6-1966 Sư đoàn 1 bộ binh Mỹ cho Lữ đoàn 3, có hai chi đoàn xe cơ giới hỗn hợp, từ căn cứ Chân Thành theo đường 13 lên giải toả chiếm lại các vị trí đã mất. Khoảng 13 giờ chiều cùng ngày, đoàn xe cơ giới Mỹ lọt vào trận địa phục kích của bộ đội ta ở khu vực cầu Tàu Ô. Lập tức hai tiểu đoàn 4 và 5 - Trung đoàn 52, Sư đoàn 9 Quân giải phóng nổ súng đánh chặn đoàn xe địch. Bị đánh bất ngờ và bị tổn thất khá nặng (tám xe M41 và M113 bị cháy), 20 xe còn lại lùi cách cầu 2km co cụm hình vòng cung vừa chống trả, vừa gọi phi pháo chi viện. Mặc dù bị hoả lực Mỹ chặn đánh quyết liệt, đó đây đã có người thương vong, nhưng chiến sĩ ta không nao núng, các mũi, các hướng vẫn bám diệt từng chiếc xe, từng tên lính Mỹ, quyết không để chúng kịp hoàn hồn. Thấy hai chi đoàn xe cơ giới có nguy cơ bị tiêu diệt, chỉ huy Lữ đoàn 3 Mỹ tung nốt lực lượng còn lại vào cuộc chiến để cứu nguy cho đồng bọn. Quân cứu viện địch mới tiến tới cầu Cần Đâm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 (lực lượng dự bị của Trung đoàn 2) xuất kích vận động tiến công. Hai trận địa hoả lực cối 82, ĐKZ75 và hơn chục tay súng B40 được đồng đội yểm trợ đã bình tĩnh, bắn cháy sáu xe thiết giáp địch, khiến chúng phải dừng lại gọi phi pháo chi viện. 18 giờ ngày 8-6, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 9 cho Trung đoàn 2 thu dọn chiến trường, rút khỏi trận địa. Sau một ngày chiến đấu quyết liệt, Trung đoàn 2 đã bắn cháy, phá hỏng 40 xe quân sự (có 12 xe tăng M41, 19 xe M113), loại khỏi vòng chiến đấu gần 500 tên địch, bắn rơi tám máy bay các loại. Phát huy thắng lợi đã giành được, chiều ngày 27-6-1966, Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 bí mật tổ chức trận địa phục kích trên đường 13, chặn đánh đoàn xe cơ giới địch chạy từ Hớn Quản lên đón quân Mỹ ở Lộc Ninh. Đêm 29-6-1966, vượt qua một đêm mưa gió tầm tã, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 1 đã bố trí xong trận địa ở trảng Ba Nghì cách Lộc Ninh 7 km và cầu Cần Lê 2 km. Sáng 30-6-1966, trời vừa ngớt mưa, đoàn xe địch ở Hớn Quản chạy lên Lộc Ninh dưới sự hộ tống của tám chiếc máy bay trực thăng vũ trang. Đợi cho đoàn xe địch lọt vào khu quyết chiến điểm, Trung đoàn trưởng Bùi Thanh Vân mới hạ lệnh cho Tiểu đoàn 1 nổ súng đánh chặn đầu. Tiểu đoàn 3 từ hướng nam đường 13 vận động đánh khoá đuôi. Địch đang lúng túng chống trả thì Tiểu đoàn 2 đảm nhiệm khu quyết chiến điểm đồng loạt tiến công vào giữa đoàn xe địch. Bị khoá chặt từ hai đầu, xe địch phải co cụm vào nhau dùng hoả lực chống trả. Gần trưa địch cho hàng chục lần chiếc máy bay bắn phá vào trận địa ta, yểm trợ cho trực thăng, đổ quân xuống phía tây trảng Ba Nghì hòng đánh vào phía sau đội hình của Trung đoàn 1. Trận đánh trở lên phức tạp, bộ đội ta vừa phải diệt xe cơ giới, vừa đánh bộ binh địch phản kích. Mặc dù nhiều cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, nhưng đơn vị vẫn giữ vững thế trận tiến công địch, đến 19 giờ tiếng súng mới ngừng hẳn. Kết quả, Trung đoàn 1 diệt 43 xe quân sự, phần nhiều là xe tăng, bọc thép M113, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên Mỹ.

Chiến thắng Cần Đâm - Tàu Ô, Cần Lê - trảng Ba Nghì trong tháng 6 - 1966 khẳng định bộ đội ta có đủ sức dẻo dai chiến đấu liên tục cả mùa khô và mùa mưa, đóng góp cho nghệ thuật quân sự những bài học kinh nghiệm về chiến thuật phục kích, vận động phục kích đánh cắt giao thông.

Để phối hợp với Sư đoàn 9 đánh cắt giao thông, Khu uỷ và Bộ Chỉ huy quân sự miền Đông giao nhiệm vụ cho tỉnh đội Phước Thành bằng mọi giá phải cầm chân cho được Lữ đoàn 3 - Sư đoàn 1 Mỹ tại căn cứ Phước Vĩnh, không để chúng hành quân ứng cứu cho đồng bọn. Bộ Chỉ huy tỉnh đội Phước Thành đã hiệp đồng cùng các cơ quan dân chính, đôn đốc bộ đội và nhân dân tiến hành bao vây căn cứ địch làm cho chúng hoang mang căng thẳng. Cuộc bao vây do nhân dân tiến hành lấy bộ đội địa phương và dân quân du kích làm nòng cốt giành được thắng lợi. Suốt một tuần lễ cuối tháng 6, lực lượng ta bao vây chốt chặn Lữ đoàn 3 Mỹ trong căn cứ, tạo điều kiện cho Sư đoàn 9 diệt địch trên đường 13.

Các trận đánh của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong hai tháng (từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 6 - 1966) loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, phá hỏng hàng trăm xe quân sự trên đường 13 và đường 15, làm cho quân Mỹ, quân ngụy và quân đồng minh của Mỹ phải bỏ dở các cuộc hành quân càn quét gom dân, lập ấp chiến lược ở phía đông và tây Bắc Sài Gòn, co lực lượng về giữ các căn cứ, làm cho ý định liên kết các căn cứ với nhau của chúng không thực hiện được.

Cùng thời gian này, ở miền Tây Nam Bộ, tuy Bộ Chỉ huy Mỹ không đưa quân Mỹ đến trực tiếp chiến đấu như chiến trường miền Đông Nam Bộ, nhưng chúng tăng cường khá nhiều cố vấn và phương tiện chiến tranh hiện đại chi viện tho quân đội Việt Nam Cộng hòa hành quân càn quét, bình định. Khu uỷ và Bộ Chỉ huy Quân khu IX đã lãnh đạo, chỉ huy quân và dân miền Tây Nam Bộ đẩy mạnh hoạt động tác chiến chống địch hành quân càn quét; đồng thời phát động phong trào chiến tranh nhân dân rộng khắp, mở mảng, nối vùng, kiên quyết chống địch chia cắt. Quân và dân tỉnh Cần Thơ từ tháng 4 đến tháng 6 đã chủ động chặn đánh địch đi càn quét sáu lần, diệt và làm bị thương hơn 200 tên địch, phá hỏng 8 xe M113, bức rút 6 đồn bốt ở Ô Môn, Bình Thuỷ. Ngày 2-7-1966, một phân đội pháo binh Quân khu IX tập kích sân bay Trà Nóc, phá hỏng 30 máy bay, đốt cháy hai kho xăng dầu và nhiều nhà cửa. Trong 10 ngày cuối tháng 7, quân dân Mỹ Tho hai lần đánh đồn Mỹ Hổ, diệt 110 tên, loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 3 Sư đoàn 9 ngụy. Chiến thắng của quân dân Mỹ Tho uy hiếp tuyến phòng ngự đường số 4 của Mỹ - ngụy, khiến chúng nơm nớp lo sợ. Đầu tháng 6 - 1966 phong trào bao vây, đánh lấn của quân và dân Tây Nam Bộ phát triển mạnh.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #43 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:14:07 PM »


Tại Sóc Trăng, trong tháng 6, Tiểu đoàn Phú Lợi cùng du kích địa phương tiến công đồn Trà Mơn, phá banh ấp chiến lược Bưng Triết, Bưng Buối; tiến công diệt đồn Xẻo Me (10-6), tập kích đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn chủ lực ngụy đi yểm trợ cho quân địa phương bình định (11-6). Bốn ngày sau, quán và dân Sóc Trăng lại diệt đồn Lai Hòa, hỗ trợ nhân dân phá ấp chiến lược Rây Chóp, giải tán chính quyền ngụy, bắt bọn tề điệp, ác ôn.

Phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Sóc Trăng, lực lượng vũ trang nhân dân Bạc Liêu tích cực hoạt động đánh địch ở vùng ven đô, và xây dựng lực lượng du kích cùng cơ sở cách mạng trong lòng địch. Cuối tháng 5-1966, các đội võ trang công tác của tỉnh bám trụ ở ven thị xã đã xây dựng được năm đội du kích gần 100 người. Đội du kích Vĩnh Hưng với hơn 10 tay súng, trong hai tháng 5 và 6-1966 đánh 16 trận, diệt 30 tên, thu 10 súng cá nhân. Hai trung đội du kích Châu Hưng và Vĩnh Mỹ phục kích đánh mìn, bắn tỉa diệt gần 100 tên địch. Nữ biệt động Nguyễn Thị Sảnh dùng mìn clâymo hẹn giờ đặt tại nhà hàng Thanh Tân, diệt 8 tên (2 Mỹ, 6 ngụy). Ở vùng đất mũi Cà Mau, trong những ngày cuối tháng 5 đầu tháng 6-1966, quân và dân ta bao vây dài ngày chi khu quân sự Đầm Dơi, buộc địch trong đồn phải “án binh bất động” cả tuần, bỏ dở các đợt gom dân lập ấp chiến lược. Bọn chỉ huy địch ở thị xã Cà Mau huy động 1.500 quân, có máy bay, pháo binh và xe thiết giáp yểm trợ đến giải vây cho Đầm Dơi. Khi quân địch vào đúng trận địa ta chuẩn bị sẵn, bộ đội và du kích Đầm Dơi đã tiến công dũng mãnh liên tục gần một ngày, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên địch, bắn rơi 4 máy bay, phá huỷ 5 xe M113, buộc chúng phải tháo chạy về thị xã Cà Mau.

Trên khu vực Hà Tiên - Rạch Giá - U Minh, vào mùa mưa lực lượng thanh niên xung phong của tỉnh, hơn một nửa là nữ giới bước vào các đợt vận chuyển vũ khí, lương thực dài ngày do Trung ương Cục cung cấp cho Quân khu IX. Mùa khô, nhiều điểm của đường vận chuyển bị địch thường xuyên đổ quân khống chế. Mùa mưa, tuy địch ít đổ quân hơn, nhưng chúng lại thường xuyên dùng máy bay trực thăng bay lượn rà soát, bắn phá ngăn chặn. Lực lượng vận tải phải “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến” mới bảo đảm được hàng hóa kịp thời phục vụ chiến đấu. Giữa mùa nước nổi, có đoạn dài hơn 20 km nước ngập đến cổ, cỏ bấc mọc giăng đầy, các chiến sĩ vận tải phải trầm mình dưới nước suốt đêm, đầu đội hàng, tay rẽ lác, da thịt bị cứa rách. Nam giới chịu đựng gian khổ đã đành, nhưng nữ giới thì vất vả không sao kể xiết. Nhiều chị em bị bệnh tật hoành hành đã hy sinh trên đường vận chuyển. Mùa mưa 1966, mỗi viên đạn, cân gạo đến được miền Tây Khu IX đều thấm đẫm mồ hôi và máu của lực lượng vận tải các tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Hoà chung tiếng súng tiến công của quân dân các tỉnh Nam Bộ, quân dân các tỉnh Khu V, Trị - Thiên, Tây Nguyên bước vào đầu Hè - Thu đã tiến công địch mạnh mẽ, rộng khắp quy mô cấp trung đoàn, sư đoàn quyết phá tan kế hoạch củng cố chuẩn bị cho cuộc phản công mùa khô lần thứ hai của địch. Tại Phú Yên, giữa tháng 5 - 1966, Bộ Tư lệnh Phân khu nam (Quân khu V) và Tỉnh đội Phú Yên sử dụng lực lượng vũ trang mở đợt hoạt động Hè 1966, trọng điểm là hai huyện Tuy An, Đồng Xuân. Phương châm hoạt động tác chiến là kết hợp nhỏ và vừa, tiến công liên tục, đều khắp, làm hạn chế các đợt hành quân gom dân, lập ấp chiến lược của địch. Hai trung đoàn chủ lực 10 và 20 của Phân khu nam được giao nhiệm vụ chốt giữ các khu vực đường số 6, Hòn Ngang, Hòn Quánh đề phòng địch đổ bộ đường không, đồng thời chi viện cho bộ đội địa phương tỉnh, huyện tập kích tiêu diệt một số cứ điểm, đồn bốt xung quanh quận lỵ Tuy An. Từ ngày 15 đến ngày 30-5, quân và dân Phú Yên đồng loạt tiến công các điểm Tam Giang, Hòa Đa, Hòn Đồn, Hòn Đình, Đèo Thi, loại khỏi vòng chiến đấu 240 tên địch (có 46 tên Mỹ), thu 120 súng các loại. Đợt hoạt động cuối tháng 5 đầu tháng 6 của quân, dân Phú Yên đã phá vỡ tuyến phòng thủ của địch trên đường số 6 từ Chí Thạnh đến La Hai. Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ đóng ở An Khê hai lần đến ứng cứu cho quân đội Sài Gòn, nhưng vẫn không giải toả được áp lực của ta. Cay cú trước thất bại, bọn chỉ huy Mỹ ở Vùng chiến thuật II buộc phải đưa hai lữ đoàn còn lại của Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 từ An Khê vào tăng viện. Trong vòng một tuần (từ 18 đến 24-6), quân Mỹ đánh vào gò Thì Thùng, hậu phương huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. Dựa vào hệ thống địa đạo, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 10 và 20 bám trụ kiên cường bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ, bắn rơi 8 máy bay.

Chiến thắng Hòn Đồn, Đèo Thi, Chí Thạnh, gò Thì Thùng trong hai tháng 5 và 6 - 1966 của quân và dân Phú Yên đã phá tan luận điệu tuyên truyền của địch là đã tiêu diệt hai trung đoàn chủ lực của ta ở vùng này trong cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất.

Ở Bình Định, chấp hành lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu V, giữa tháng 6 - 1966, Sư đoàn 3 chủ lực quân khu mở đợt hoạt động tiến công vào hệ thống phòng thủ của địch dọc theo lưu vực sông Côn, chủ yếu là huyện lỵ Vĩnh Thạnh. Địch phản ứng quyết liệt, chúng dùng trực thăng đổ hai tiểu đoàn Mỹ và một tiểu đoàn Nam Triều Tiên xuống các điểm cao xung quanh huyện lỵ Vĩnh Thạnh hòng bao vây, tiến tới tiêu diệt lực lượng của ta, giải toả cho Vĩnh Thạnh. Cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 3 chuyển sang đánh địch phản kích. Ngày 16-5-1966, Trung đoàn 2 chặn đánh một tiểu đoàn Mỹ sục sâu vào hậu phương của ta, loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội Mỹ. Ngày 17-5, ta tiêu diệt gần hết một đại đội Nam Triều Tiên ở Hòn Nong. Tiểu đoàn đặc công của sư đoàn tập kích diệt một đại đội pháo 105 mm. Trung đoàn 12 diệt một đại đội Mỹ ở Phú Tự. Tháng 6 - 1966, Sư đoàn 3 lật cánh xuống đánh cắt giao thông địch trên đường số 1 ở bắc Phù Mỹ và Phù Cát tăng cường đánh địch ở bắc Hoài Nhơn. Bị quân ta kìm chân đánh tiêu hao ở bắc Hoài Nhơn, Lữ đoàn 3 không vận Mỹ dùng phi pháo, xe thiết giáp đánh phá dữ dội thôn Trường Sơn và Thành Sơn (xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn), quyết đánh bật bộ đội và du kích ra khỏi hai làng này. Cuộc chiến đấu không cân sức giữa một tiểu đoàn chủ lực ta với bốn tiểu đoàn Mỹ diễn ra ác liệt suốt ngày. Quân ta bị địch bao vây. Tối đến ta phá vây rút ra ngoài để bảo toàn lực lượng. Sáng hôm sau, có chỉ điểm, quân Mỹ mang theo chó bắc giê vào làng lùng sục. Đi đến đâu chúng cũng đốt nhà, bắn giết trâu bò, heo, gà đến đấy. Chúng bắt hàng chục ông, bà già đánh đập, tra khảo nhưng không ai khai báo. Một cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng diễn ra. Các cụ ông, cụ bà đem gia súc, gia cầm bị bom đạn giết hại đến tố cáo tội ác địch, đòi chúng bồi thường thiệt hại. Cuộc đấu tranh chính trị giằng co và gay gắt, cuối cùng lính Mỹ buộc phải lui quân. Mười tám thương binh trú ẩn dưới các hầm bí mật được bảo toàn. Đây là một trong những cuộc đấu tranh chính trị trực diện đầu tiên của quần chúng với quân chiến đấu Mỹ trên chiến trường Bình Định thắng lợi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #44 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:14:48 PM »


Hạ tuần tháng 6 - 1966, bộ đội chủ lực quân khu pháo kích căn cứ chỉ huy tiền phương của Sư đoàn không vận Mỹ ở núi Một, Phù Cát, loại khỏi vòng chiến đấu gần một trăm tên Mỹ, phá hỏng 20 máy bay trực thăng và xe quân sự. Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Bình Định đánh quân địch càn quét và chặn viện từ nam Phù Mỹ đến Phù Cát. Tại thôn Khánh Phước, xã Cát Hanh, Tiểu đoàn 52 bộ đội tỉnh phục kích, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Nam Triều Tiên. Sau đó, tiểu đoàn phục kích diệt đoàn xe Mỹ chở vũ khí từ Phù Mỹ đi chợ Gồm, đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ đi hộ tống, bắn cháy bảy xe quân sự. Tiểu đoàn 50 tập kích đại đội bảo an ở chợ Gồm diệt hàng chục tên, buộc chúng không dám đi càn quét. Các trận đánh của lực lượng vũ trang Bình Định đã hỗ trợ tích cực cho du kích và nhân dân địa phương xây dựng, củng cố làng xã chiến đấu, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân.

Tại Quảng Ngãi, đầu tháng 5 - 1966 địch dùng Trung đoàn 4 thuộc Sư đoàn 2 ngụy (có một tiêu đoàn biệt động quân Vùng chiến thuật II hỗ trợ) liên tục đánh phá vùng giải phóng thuộc hai huyện Nghĩa Hành và Mộ Đức - tâm điểm của phong trào cách mạng tỉnh. Dựa vào quân chủ lực càn quét đánh phá yểm trợ, ba đại đội địa phương quân tiến hành gom dân lập ấp chiến lược ở Thi Phổ, Núi Đồi, Phú Sơn (huyện Mộ Đức)... Để đánh bại các cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ căn cứ, đêm 11-5, một bộ phận hoả lực của tiểu đoàn 83 bộ đội tỉnh phối hợp với Đại đội đặc công 506A tập kích đánh thiệt hại nặng đại đội bảo an đóng tại Gò Cấm, mở thông hành lang từ tây xuống đông huyện Mộ Đức, rồi di chuyển về hướng Hành Thịnh. Sư đoàn 2 quân chủ lực ngụy lập tức mở cuộc hành quân đánh vào Hành Thịnh hòng tiêu diệt Tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi. Chúng huy động vào cuộc hành quân này Trung đoàn 4 quân cộng hoà, Tiểu đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ ngụy và hai đại đội địa phương quân tiểu khu Quảng Ngãi cùng hàng chục máy bay lên thẳng, xe bọc thép. Các trận địa pháo ở núi Nón, Gò Sát (Mộ Đức), quận lỵ Nghĩa Hành, quận lỵ Minh Long trực tiếp chi viện hoả lực cho cuộc hành quân.

Sáng ngày 15-2-1966, địch cho máy bay trinh sát quần lượn, quan sát khu vực từ An Ba đến núi Rú, xã Hành Thịnh. Liền sau đó, đại bác từ các trận địa núi Vòm, Gò Sát, Nghĩa Hành, Minh Long... bắt đầu bắn cấp tập vào các khu vực An Ba, Xuân Ba, Thuận Hoà, Gò Mít, đèo Quán Thơm, An Chỉ, dọn đường cho bộ binh đổ quân. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 83 bộ đội tỉnh Quảng Ngãi ra lệnh dừng ngay cuộc sinh hoạt chính trị, cho các đại đội triển khai trận địa sẵn sàng chiến đấu. Đúng như dự đoán, sau khi bắn phá bừa bãi các vùng nghi có quân ta hoạt động, địch cho 22 máy bay trực thăng chở Tiểu đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ ngụy đổ xuống Thuận Hoà, làm lực lượng chủ yếu từ hướng tây đánh xuống. Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 4) đổ xuống núi Nhà, núi Rú, từ hướng đông nam đánh ra. Một tiểu đoàn còn lại của Trung đoàn 4, có xe tăng yểm trợ đánh theo đường số 1 từ Mộ Đức lên. Để chắc ăn, bọn địch còn cho hai đại đội nghĩa quân chốt ở Hành Phước chặn đường không cho quân ta vượt qua sông Vệ, quyết tiêu diệt bằng được Tiểu đoàn 83 tại Hành Thịnh.

Đứng trước tình hình địch đông gấp bội, lực lượng ta ở vào thế bị bao vây bốn phía, trong Ban Chỉ huy tiểu đoàn nảy sinh tư tưởng dao động. Nắm bắt được hiện tượng ngại hy sinh ác liệt, Tỉnh đội phó Phạm Ngọc Hiệp, Tham mưu trưởng tỉnh đội Lương Văn Thư và Ban Chỉ huy tiểu đoàn đã mở cuộc họp nhằm củng cố tư tưởng và xác định quyết tâm. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Trinh phát biểu bình tĩnh, dứt khoát: “chỉ có cách tiêu diệt địch mới bảo tồn được đơn vị, mới giành được thắng lợi”. Quyết tâm của tiểu đoàn trưởng và một số cán bộ trong Ban Chỉ huy đã củng cố lòng tin, tăng thêm ý chí chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.

Hồi 9 giờ, Tiểu đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ Sài Gòn đánh xuống Hành Thịnh. Đại đội 3, Tiểu đoàn 83 chốt chặn khu vực Xuân Đình gặp địch, nổ súng tiến công loại khỏi vòng chiến đấu 70 tên, trong đó có tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Biết có bộ đội chủ lực chốt giữ, bọn địch dừng lại củng cố, và xin cấp trên chi viện. Địch đang hoang mang, dao động, Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 83 thay đổi phương án tác chiến: dùng Đại đội 3 bí mật lùi ra bờ sông Vệ, ẩn náu chờ địch, khi chúng lọt vào trận địa, bất ngờ đánh thốc sau lưng đội hình chúng. Các đại đội khác chuyển đội hình (chỉ để một bộ phận nhỏ chốt giữ trận địa) sẵn sàng hiệp đồng chiến đấu với Đại đội 3. Do xử lý tốt các tình huống chiến thuật, quân ta từ thế bị động chuyển sang thế chủ động.

Đúng 11 giờ, tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ ngụy được phi pháo chi viện tối đa thúc nhau tiến vào khu vực phục kích của ta. Cả Tiểu đoàn 83 được lệnh xuất kích. Đại đội 3 ở bờ sông Vệ chia làm 3 mũi đánh thẳng vào quân địch. Bọn địch bất ngờ bị đánh hiểm, lúng túng quay lại chống cự với Đại đội 3, lập tức Đại đội 1 Tiểu đoàn 83 từ phía chính diện bật dậy đánh thẳng vào giữa đội hình địch, chia cắt chúng ra từng mảnh để tiêu diệt. Địch không chống cự nổi, rối loạn, chạy thục mạng qua cánh đồng. Nhưng Đại đội 2 đón lõng ở đây kịp thời chặn địch lại, tiêu diệt. Trong hơn một giờ chiến đấu táo bạo, dũng cảm, quân ta tiêu diệt đánh thiệt hại gần như toàn bộ Tiểu đoàn 5 lính thuỷ đánh bộ quân đội Sài Gòn.

Thấy đồng bọn bị tiêu diệt, bọn chỉ huy địch ở núi Vom lồng lộn, ra lệnh cho Trung đoàn 4 (có 22 xe tăng, xe bọc thép yểm trợ) từ núi Nhà, núi Rú và từ Mộ Đức đánh lên, quyết tiêu diệt bằng được Tiểu đoàn 83 “cộng quân”. Được chiến thắng cổ vũ, Đại đội 4 hoả lực và Đại đội 1 bộ binh do đại đội trưởng Lý Đình Huấn chỉ huy, đánh giỏi, tiêu diệt bốn xe tăng cùng hàng chục tên địch, bẻ gãy mũi tiến công chủ yếu của địch, buộc chúng từ bỏ cuộc tiến công trong ngày... Chiến thắng Hành Thịnh biểu hiện sự trưởng thành mọi mặt của lực lượng vũ trang Quảng Ngãi cả về chiến thuật, kỹ thuật và ý chí quyết tâm, mưu trí và sáng tạo.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #45 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:22:28 PM »


Học tập đơn vị chiến thắng Hành Thịnh, đêm 15-7-1966, Tiểu đoàn 48 bộ đội địa phương Quảng Ngãi tiến công cứ điểm Gò Sỏi - nơi có một tiểu đoàn Mỹ (thiếu) và một chi đội xe bọc thép mới tăng cường chiếm giữ. Hơn một giờ chiến đấu quyết liệt táo bạo. Đại đội 2 do đại đội trưởng Phạm Văn Mến chỉ huy đảm nhiệm hướng chủ yếu tiến công từ tây bắc xuống; Đại đội 1 do đại đội trưởng Võ Hữu Thọ chỉ huy đảm nhiệm hướng thứ yếu đánh từ tây nam lên, loại khỏi vòng chiến đấu gần 200 tên Mỹ, phá huỷ 4 xe bọc thép, làm chủ trận địa, thu nhiều vũ khí các loại. Chiến thắng Gò Sỏi chứng minh dù quân Mỹ được trang bị hiện đại và phòng thủ vững chắc thế nào cũng không tránh khỏi bị Quân giải phóng tiêu diệt và ai cũng có thể đánh được Mỹ và đánh thắng Mỹ.

Trên chiến trường Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng), trong Hè - Thu 1966, tuy không diễn ra những trận đánh lớn như ở Bình Định, Quảng Ngãi, nhưng cả hai hình thức đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị vẫn phát triển đồng đều liên tục, rộng khắp làm cho địch hoang mang, lo sợ. Đêm 24-5-1966, Đại đội 16 đặc công tỉnh tập kích diệt đồn An Hà (đông thị xã Tam Kỳ 2 km) loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội biệt kích ngụy. Tiểu đoàn 72 bộ đội Quảng Đà hiệp đồng đánh chiếm ấp chiến lược An Hà xã Kỳ Phú - vòng ngoài cụm căn cứ quân sự Chu Lai.

Để bảo vệ mục tiêu quan trọng này, sáng ngày 25-5-1966, Sư đoàn 3 Mỹ ở Tam Kỳ cho một tiểu đoàn có hai chi đoàn M113 yểm trợ tìm diệt Đại đội 16 đặc công và Tiểu đoàn 72 tỉnh đang đứng chân ở xã Kỳ Sanh. Nhưng các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh được du kích xã Kỳ Sanh hỗ trợ và dựa vào làng chiến đấu Vĩnh Bình đánh trả quyết liệt, bé gẫy nhiều mũi tiến công của địch. 12 giờ ngày 25-5, địch dùng xe M113 đột kích vào trận địa ta. Tiểu đội trưởng Đồng Phước Huyến dùng thủ pháo, lựu đạn đánh hỏng một xe M113. Huyến bị thương gãy một chân, nhưng anh vẫn bám chắc trận địa, nằm chờ địch. Đợi cho xe địch đến gần, Huyến dồn sức trườn lên đánh quả thủ pháo cuối cùng, diệt thêm một số lính Mỹ, bẻ gẫy mũi tiến công của địch. Anh đã anh dũng hy sinh. Đồng Phước Huyền được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Cùng thời gian này, được bộ đội địa phương hỗ trợ, các tổ du kích Khương Thọ, Khương Nhơn (xã Kỳ Khương), Xuân Vinh. Đức Bố (xã Kỳ Chánh), thôn 4, thôn 8 (Kỳ Sanh), thôn 3, thôn 5 (Kỳ Hoà) xung quanh vành đai diệt Mỹ Chu lai, đã phục kích gài mìn, bắn tỉa loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên Mỹ.

Những ngày đầu tháng 6 - 1966, Trung đoàn 31 Sư đoàn 2 bộ binh (bộ đội chủ lực quân khu), phối hợp với địa phương liên tục chiến đấu ở nam bắc đường 16 (tây Thăng Bình và nam Quế Sơn) loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên Mỹ, bắn rơi 12 máy bay, bắn cháy sáu xe thiết giáp, hỗ trợ đắc lực cho phong trào chiến tranh du kích chống địch càn quét, giữ vững vùng giải phóng...

Đòn tiến công quân sự ở Quảng Đà giành thắng lợi đã thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân phát triển. Nổi bật nhất là các cơ sở hoạt động bí mật của ta trong thành phố Đà Nẵng đã vận động quần chúng xuống đường biểu tình đòi Mỹ phải cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của người Việt Nam. Khẩu hiệu “đả đảo Mỹ, đả đảo Thiệu - Kỳ” được giương kẻ trên các phố. Các tổ chức thanh niên, sinh viên đi đấu tranh đòi được vũ trang để bảo vệ an ninh thành phố. Sinh viên “quyết tử” từ Huế cũng kéo vào Đà Nẵng chi viện.

Cùng thời gian này một số tỉnh vùng sâu như Khánh Hoà và Khu VI, tuy bị địch đánh phá, kìm kẹp gắt gao, cơ sở vật chất thiếu thốn, nhưng không vì thế mà các hoạt động quân sự và đấu tranh chính trị giảm sút, không phát triển. Ngược lại, phong trào vẫn được giữ vững. Chi bộ đảng thị trấn Ninh Hoà (Khánh Hoà) bị tề điệp ác ôn lùng sục gắt gao, nhưng được nhân dân đùm bọc, che chở vẫn tồn tại lãnh đạo nhân dân đấu tranh. Du kích Lạc Hoà bất chấp bom đạn ác liệt, phối hợp với địa phương đánh bại cuộc càn quét của ba tiểu đoàn ngụy và một tiểu đoàn Mỹ. Trung tuần tháng 5 - 1966, tiểu đội du kích xã Ninh Thọ diệt 24 tên Mỹ, ngụy. Ở tỉnh Bình Thuận, ngày 18-6, Tiểu đoàn 482 bộ đội địa phương tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện Hàm Thuận đánh địch ở ấp Bình An, phục kích diệt một đại đội của Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 44 ngụy từ Phan Thiết kéo lên giải toả. Tiếp theo, lực lượng vũ trang tỉnh tiến công quân địch ở Tân Điền - một ấp chiến lược chỉ cánh thị xã Phan Thiết 5 km, diệt hoàn toàn đại đội bảo an số 784. Đầu tháng 7-1966, quân ngụy tập trung lực lượng mở cuộc hành quân Quyết thắng 8 vào vùng giải phóng Hàm Thuận. Tiểu đoàn 482 cùng Tiểu đoàn 840 phối hợp với du kích chặn đánh, loại khỏi vòng chiến đấu gần 100 tên địch. Đặc biệt trong thời gian này, cùng với các lực lượng vũ trang Tuyên Đức đánh địch trên đường số 11 Di Linh... phong trào đấu tranh của nhân dân thành phố Đà Lạt cũng bùng lên tương đối mạnh. Đầu tháng 5-1966, thanh niên, sinh viên liên tiếp tổ chức những đêm xuống đường đốt lửa trại “để nhìn rõ mặt kẻ thù” vạch mặt bọn tội phạm chiến tranh, đốt hình nộm Mắc Namara và L.Giônxơn. Giữa tháng 5-1966, nhiều cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng đã nổ ra tại thành phố Đà Lạt. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của 500 quần chúng trước Phòng thông tin Hoà Kỳ, đòi Mỹ rút khỏi Đà Lạt. Sau đó, đoàn biểu tình tuần hành đến khu thị trưởng thành phố, chiếm đài phát thanh, tuyên truyền ước nguyện tự do độc lập của dân tộc. Địch huy động lực lượng đàn áp cuộc biểu tình, chiếm lại đài phát thanh. Như lửa đổ thêm dầu hơn một vạn quần chúng lập tức tràn xuống đường kéo đến bao vây toà thị chính, chất vấn ngụy quyền, phản đối hành động đàn áp của địch, đòi bồi thường tính mạng những người bị sát hại. Đến cuối tháng 5-1966, để bảo toàn lực lượng, Tỉnh uỷ Tuyên Đức chủ trương chuyển phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng sang hoạt động hợp pháp, tránh bộc lộ lực lượng. Các đội vũ trang công tác bí mật bám quần chúng, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho những cuộc đấu tranh mới. Cuộc đấu tranh của nhân dân Đà Lạt trong tháng 5-1966 để lại cho ta nhiều kinh nghiệm quý về việc vận dụng phương châm, phương thức sách lược đấu tranh ở đô thị.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #46 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:22:59 PM »


Phối hợp với chiến trường đồng bằng Trung Trung Bộ, bước vào Hè - Thu 1966, Đảng uỷ, Bộ Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên chủ trương mở đợt hoạt động tiêu diệt và kìm chân một bộ phận quân Mỹ, ngụy, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, phối hợp với chiến trường toàn Miền.

Đêm 21-5-1966, cùng lúc với trận pháo kích sân bay thị xã Kon Tum phá hủy chín máy bay, diệt hàng chục tên Mỹ, Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 24 nổ súng, bao vây Tu Mơrông kìm chân không cho địch đi càn quét. Để giải vây cho đồng bọn, Trung đoàn 42 ngụy và Tiểu đoàn 21 biệt động quân ở Kon Tum liền mở cuộc hành quân Tân Thắng. Một bộ phận chủ yếu của cuộc hành quân này bị quân ta chặn đánh quyết liệt, phải co cụm chống đỡ. Thấy quân ngụy bị đánh đau bọn chỉ huy Mỹ ở Vùng chiến thuật II lập tức điều Lữ đoàn 1, Sư đoàn dù 101 từ Cam Ranh lên Kon Tum mở cuộc hành quân cứu nguy cho quân ngụy. Các chiến sĩ Trung đoàn 24 bám trụ trận địa kiên cường, liên tiếp tiến công vào các cụm quân Mỹ và quân ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên.

Trong lúc quân dù Mỹ bị giam chân ở bắc Kon Tum, ngày 20-5-1966, Trung đoàn 66 (thiếu) tập kích địch ở khu vực đồn Mo, Tiểu đoàn 966 Trung đoàn 320 pháo kích Plây Girăng, gây nhiều khó khăn, thiệt hại cho địch. Lữ đoàn 3 Sư đoàn 25 Tia chớp nhiệt đới từ Củ Chi (Đông Nam Bộ) phải không vận vội vã ra Sùng Lễ, Chư Pa, giải vây cho Plây Girăng. Nhưng chúng chưa kịp phản công đã bị Trung đoàn 33 đánh phủ đầu ở Sùng Lễ. Đến ngày 29 - 5, hai Trung đoàn 66 và 33 phối hợp tiến công đánh thiệt hại một tiểu đoàn Mỹ ở Chư Pa.

Trước lối đánh nhỏ và vừa liên tục trên nhiều hướng từ bắc Kon Tum tới nam Gia Lai của lực lượng vũ trang Tây Nguyên, ý đồ chiến lược phản công ồ ạt tìm diệt chủ lực ta của quân Mỹ không thực hiện được. Quân Mỹ cũng như quân chủ lực Sài Gòn tiếp tục bị xé lẻ từng đại đội, tiểu đoàn để đối phó với các cuộc tiến công của Trung đoàn 95 và Trung đoàn 66 ở khu vực Sùng Lễ, Sùng Thiện, Đức Vinh, Đức Nghiệp...

Ngày 3-7-1966, Đại đội 2 Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 đánh thiệt hại nặng một đại đội Mỹ chốt giữ phía tây đồn Đức Vinh 2 km. Cay cú trước thất bại, quân Mỹ từ đồn Đức Vinh có xe thiết giáp yểm trợ, phản kích vào trận địa Đại đội 2 để lấy xác đồng bọn. Các chiến sĩ Đại đội 2 đã biến trận địa phục kích thành điểm chốt kiên cường, thu hút, giam chân, tiêu hao quân địch. Đại đội 1, Đại đội 3 kịp thời vận động đến bao vây, tiến công vào hai bên sườn. Nhờ kết hợp chặt chẽ giữa chốt giữ trận địa của Đại đội 2 và xuất kích đánh tạt sườn của Đại dội 1, Đại đội 3, nên ta diệt gọn một đại đội, đánh tan đội hình phản kích của quân Mỹ. Trận đánh của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 66 đã hình thành bước đầu chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, mở ra khả năng mới để nâng tốc độ đánh tiêu diệt của lực lượng vũ trang Tây Nguyên lên trình độ cao hơn. Từ thượng tuần tháng 7, Tây Nguyên bước vào giữa mùa mưa. Những cơn mưa lớn dai dẳng hết ngày này sang ngày khác, tưởng chừng mọi hoạt động của bộ đội bị ngừng lại. Nhưng trên các hướng bắc Kon Tum và tây Gia Lai, bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương vẫn tiếp tục tiến công địch ở khu vực Đức Vinh, đường 21, Ba Bỉ, Làng Le, Ia Mơ, Đức Cơ, Chư Bồ, Chư Pông, Chư Pa. Quân Mỹ và quân ngụy liên tiếp bị tiêu hao, tiêu diệt từng đại đội và bị căng kéo khắp nơi.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, du kích các tỉnh Tây Nguyên hoạt động tích cực, phát huy được tác dụng kìm giữ, tiêu hao quân địch, hỗ trợ cho phong trào phá ấp giành dân. Lực lượng công binh địa phương cùng du kích cài mìn, đánh phục kích, bắn tỉa từng tốp xe, tốp lính địch tuần tra bảo vệ các đường số 14, 19, 21. Dân quân du kích các huyện 40, 67, 16 tỉnh Kon Tum, huyện 4, 5, 7, 8 tỉnh Gia Lai, huyện 2, 11 tỉnh Đắc Lắc đã tổ chức những bãi chông, mìn, thò, xung quanh vùng căn cứ, hạn chế được các cuộc càn quét lùng sục của địch, đồng thời tham gia chiến đấu trên đường số 14, 18, 19, gây cho địch một số thiệt hại. Đặc biệt đêm 3 - 9, các chiến sĩ đặc công Gia Lai táo bạo tập kích sân bay An Khê, phá huỷ gần 30 máy bay lên thẳng, làm cho Sư đoàn kỵ binh không vận số 1 Mỹ choáng váng.

Cùng với các hoạt động quân sự, cán bộ, chiến sĩ các đội vũ trang công tác và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đã vượt qua muôn vàn khó khăn, kiên trì thực hiện phương châm bốn bám: dân bám đất, du kích bám địch, chi bộ bám dân, cấp trên bám cấp dưới, tổ chức những đợt đấu tranh chính trị, binh vận thắng lợi. Nhân dân xã Đắc Uy, Mang Khênh (Kon Tum), huyện 4, 5 (Gia Lai), xã Khuê Ngọc Điền (Đắc Lắc) vận dụng ba mũi giáp công đấu tranh làm thất bại các cuộc càn quét của Mỹ - ngụy, giữ được dân, bảo vệ cơ sở. Những hoạt động đó đã tạo ra thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, buộc Mỹ, ngụy phải phân tán đối phó bị động, nên quân chúng đông mà hoá ít, hoả lực nhiều nhưng không phát huy được tác dụng.

Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phát triển mạnh đã thúc đẩy quân và dân hai tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị xốc tới đánh địch. Ngay sau mùa khô 1965 - 1966, Trung đoàn 95B (Sư đoàn 325B) tiến hành bao vây A Sầu, khống chế đường bộ, đường không, tạo điều kiện cho Trung đoàn 101B đánh quân tiếp viện vòng ngoài. Sau một tuần lễ liên tục vây ép, tiến công, Trung đoàn 95B đã làm chủ tiền đồn A Sầu, loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên địch. A Sầu được giải phóng, mở thông tuyến hành lang miền Tây từ nam đường số 9 đến Quảng Đà (Quảng Nam - Đà Nẵng), tạo thêm thuận lợi cho việc tiếp tế chuyển quân của ta. Ở phía bắc tỉnh Quảng Trị, đội 10 đặc công, Tiểu đoàn 47 (Trung đoàn 270), Phân đội 12 đặc công và dân quân du kích hai huyện Do Linh, Cam Lộ mở đợt tiến công các đồn Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cầu Dài, diệt và làm bị thương gần 300 tên. Trong đó trận đánh căn cứ Dốc Miếu của Đội 10 đặc công đạt hiệu quả chiến đấu cao, loại khỏi vòng chiến đấu 210 tên (có 50 tên bị bắt sống), phá huỷ 8 khẩu pháo 105 mm, thu 70 súng các loại. Đây là trận đánh điển hình của bộ đội đặc công (có bộ binh phối hợp) vào nơi địch phòng thủ khá mạnh trên vĩ tuyến 17.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #47 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:23:28 PM »


Mặc dù bị thất bại nặng trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, nhưng mùa mưa năm 1966, quân Mỹ, quân Sài Gòn và quân đồng minh của Mỹ vẫn mở nhiều cuộc hành quân quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn càn quét, chuẩn bị bàn đạp dọc các trục lộ giao thông, và đánh phá cày ủi làng mạc, ruộng vườn để lập và củng cố các vành đai phòng thủ ở Trảng Lớn (Tây Ninh), Củ Chi (Gia Định), Bến Cát (Bình Dương), Đồng Tâm (Mỹ Tho), Trà Nóc (Cần Thơ), Hoà Vang (Đà Nẵng), Chu Lai (Quảng Nam), An Khê (Gia Lai).

Thực hiện ý định trên đây, mùa mưa 1966, ở miền Đông Nam Bộ, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn 25 Mỹ triển khai lực lượng chiếm các đường số 13, 22 rồi dùng một bộ phận đánh lên căn cứ Dương Minh Châu, khu tam giác sắt (Củ Chi, Bến Cát, Trảng Bàng), trong khi đó, Lữ đoàn 196, Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 9 Mỹ cùng với Trung đoàn Hoàng gia Ôxtrâylia, Sư đoàn 18 ngụy đánh xuống Bình Tuy, Phước Tuy. Hai lữ đoàn còn lại của Sư đoàn 9 Mỹ và Sư đoàn 7 bộ binh quân ngụy càn quét khu vực phía tây Sài Gòn. Ở đồng bằng sông Cửu Long, quân đội Sài Gòn càn quét, củng cố tuyến phòng thủ sông Trẹm, Biển Bạch, U Minh Thượng, U Minh Hạ, Ngọc Hiển, Đầm Dơi, v.v... Ở Trung Trung Bộ, quân đội Sài Gòn và quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên mở 121 cuộc hành quân thăm dò và tiến công vào khu vực đường số 19, 14, 21, 9, càn quét dồn dân ở huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), Điện Bàn (Quảng Nam), v.v...

Quân và dân ta ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Khu V, Tây Nguyên, Trị - Thiên đã tích cực đánh địch, phá kế hoạch chuẩn bị của chúng.

Nhiều trận đánh trong mùa mưa làm cho Mỹ và Sài Gòn phải kinh ngạc sức tiến công liên tục, bền bỉ và hiệu quả của Quân giải phóng.

Ngày 2-7-1966, Đoàn 30 bộ đội chủ lực miền Đông tiến công vào hai tiểu đoàn Mỹ thuộc Sư đoàn Anh cả đó ở sóc Tà Thiết và Bàu Nhum. Trận đánh diễn ra quyết liệt từ 5 giờ đến 6 giờ sáng. Cán bộ, chiến sĩ Đoàn 30 loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên Mỹ.

Ngày 23-8, các chiến sĩ đặc công Rừng Sát mưu trí đánh chìm chiếc tàu Batong Rudơ Victory trọng tải 10.000 tấn tại ngã ba Vàm Cống, sông Lòng Tàu.

Tháng 10-1966, lực lượng vũ trang và quần chúng cách mạng huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau bao vây chi khu Đầm Dơi. Suốt một ngày kiên trì bao vây, đánh lấn, bộ đội, du kích và nhân dân Ngọc Hiển đã bức địch rút chạy khỏi Đầm Dơi. Trong trận này đồng chí Công, du kích xã Tạ An Khương bắn rơi một máy bay phản lực Mỹ; nữ đồng chí Dương Thị Cẩm Vân suốt 100 ngày vây hãm địch, luôn có mặt ở tuyến tiền tiêu, diệt nhiều địch, được Bộ Tư lệnh Quân khu IX tặng danh hiệu “Nữ kiện tướng chiến hào”.

Ở Trị - Thiên từ ngày 7-7 đến ngày 8-8-1966, lực lượng vũ trang ta đánh bại cuộc hành quân Háctinh, Đếchhao và Đồng Cỏ của hơn một vạn quân Mỹ ra vùng Cam Lộ và Cồn Tiên, Dốc Miếu.

Nhân đà quân Mỹ tập trung mở các cuộc hành quân ở chiến trường Quảng Trị, lực lượng vũ trang Khu V đẩy mạnh hoạt động Hè - Thu, tiến công địch ở Gò Hội (15-7), cầu Phù Ly (8-9) thuộc tỉnh Bình Định; tập kích hoả lực trận địa pháo Mỹ ở núi Ông Sầm, nơi đóng quân của trung đoàn xe cơ giới Mỹ ở Cẩm Bình thuộc Quảng Nam, diệt gần 900 tên Mỹ, Nam Triều Tiên và quân ngụy Sài Gòn. Cũng trong tháng 8 và 9, Quân giải phóng Tây Nguyên đánh địch trên đường số 19, Đức Cơ, Chư Pa... diệt bốn đại đội Mỹ, v.v...

Cuộc tiến công mùa mưa năm 1966 của quân, dân ta ở miền Nam đã đẩy địch lún sâu thêm vào thế bị động trên chiến trường, làm cho việc chuẩn bị phản công chiến lược lần thứ hai của quân Mỹ gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng. Oétmolen phải khẩn thiết yêu cầu Nhà Trắng và Lầu Năm góc tăng quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam lên 542.588 tên cho năm 1967.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #48 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:25:14 PM »


II- MỞ HƯỚNG TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC MỚI, BUỘC ĐỊCH PHẢI PHÂN TÁN LỰC LƯỢNG
VÀ LÚN SÂU VÀO THẾ BỊ ĐỘNG TRÊN CHIẾN TRƯỜNG


Tháng 4-1966, sau chiến thắng mùa khô lần thứ nhất, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương họp xem xét kết quả hoạt động quân sự, chính trị, binh vận trên các chiến trường Trị - Thiên, Khu V, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, đánh giá những mặt mạnh, yếu của từng chiến trường. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhận thấy những nhận định của Hội nghị lần thứ 12 BanChấp hành Trung ương Đảng hồi tháng 12 - 1965 đã được thực tiễn chứng minh là đúng: quân Mỹ vào miền Nam làm cho tính chất ác liệt của cuộc chiến tranh tăng lên gấp bội, nhân dân ta phải chịu nhiều tổn thất, hy sinh, nhưng so sánh lực lượng địch, ta vẫn không thay đổi, ta vẫn giữ vững thế chủ động tiến công. Nhờ đó, nhân dân ta đã phát huy có hiệu quả chiến lược chiến tranh nhân dân, đánh thắng quân Mỹ hiệp đầu trong cuộc chiến tranh cục bộ. Đây là thắng lợi bước đầu rất quan trọng, là cơ sở để quân và dân ta ở miền Nam “kéo địch ra khỏi hang ổ mà đánh, căng địch ra mà đánh, chen vào giữa địch mà đánh, luồn sâu vào hậu phương địch mà đánh”1 trong nhưng năm tiếp sau. Với ưu thế tuyệt đối về chính trị - tinh thần và ý chí quyết tâm, lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam đã vận dụng linh hoạt phương châm đấu tranh “hai chân, ba mũi, ba vùng”, chủ động tiến công, làm thất bại mục đích chiến lược tìm diệt của quân Mỹ trong mùa khô lần thứ nhất.

Tuy nhiên, phong trào chiến tranh nhân dân địa phương phát triển không đều giữa các chiến trường. Nhiều nơi, nhiều địa phương, đơn vị lúng túng trong việc vận dụng các hình thức đấu tranh, chưa kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với đấu tranh chính trị, binh vận, nên hiệu quả chiến đấu không cao, phong trào lên, xuống thất thường. So với chiến trường Khu V, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long thì ở Trị - Thiên tuy có thu được một số thắng lợi mới, nhưng phong trào đấu tranh phát triển rất thậm. Trong suốt mùa khô 1965-1966, địch ở Trị - Thiên - Huế yếu, quân Mỹ tập trung không nhiều (từ một đến hai trung đoàn), nhưng ba thứ quân của ta hoạt động tác chiến phối hợp với toàn Miền không tích cực, kém hiệu quả, hầu hết các trung đoàn chủ lực 9, 577 và Tiểu đoàn 806... đứng chân ở các vùng giáp ranh Trị - Thiên - Huế không chủ động tiến công địch, không hỗ trợ được cho phong trào du kích chiến tranh. Nhiều đội vũ trang công tác nằm ở vùng sâu không nhận được chỉ thị phát động quần chúng đấu tranh phối hợp chiến trường, làm cho tình hình cách mạng ở Trị - Thiên - Huế chẳng những không phát triển mà có chiều hướng suy giảm. Do đó, địch chưa phải đối phó lớn với ta ở Trị - Thiên - Huế, mà tập trung lực lượng càn quét đánh phá ác liệt các tỉnh đồng bằng Khu V, miền Đông Nam Bộ, gây nhiều tổn thất cho phong trào cách mạng ở những nơi này.

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thấy rằng để đưa phong trào cách mạng ở Quảng Trị, Thừa Thiên tiến lên một cách vững chắc, hỗ trợ tích cực cho phong trào các tỉnh đồng bằng Khu V, Nam Bộ, trực tiếp là vùng đồng bằng Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, vấn đề căn bản nhất là tiếp tục giáo dục nâng cao tư tưởng tiến công địch cho lực lượng vũ trang và nhân dân, vận dụng sáng tạo phương châm đấu tranh cách mạng và các hình thức tiến công quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị, binh vận thích hợp với hoàn cảnh cụ thể của Trị - Thiên.

Về tổ chức, tháng 4-1966, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định tách Trị - Thiên ra khỏi Khu V, thành lập Khu uỷ Trị - Thiên bao gồm Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và thành phố Huế, đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Bộ Chính trị uỷ nhiệm cho Quân uỷ Trung ương trực tiếp chỉ đạo mọi mặt đối với Khu uỷ Trị - Thiên. Căn cứ vào nhiệm vụ của Bộ Chính trị giao cho, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Quân khu Trị - Thiên đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Khu uỷ Trị - Thiên, do Thiếu tướng Trần Văn Quang, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Bí thư Khu uỷ, kiêm Tư lệnh quân khu. Quân uỷ Trung ương cũng xác định nhiệm vụ cho chiến trường Trị - Thiên: “Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ, ra sức chuẩn bị lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang thành phố để phục vụ kế hoạch tổng công kích và tổng khởi nghĩa khi có điều kiện chín muồi... Cắt đứt đường giao thông chiến lược của địch, xây dựng đường hành lang của ta, giành thắng lợi về mọi mặt và tạo nên một tình thế mới trên chiến trường Trị - Thiên, phối hợp tốt với các chiến trường khác trong mọi tình huống kể cả tình huống đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh trên đất liền ra Trung - Hạ Lào”2.
________________________________________
1. Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 63.
2. Nghị quyết của Thường trực Quân uỷ Trung ương Về nhiệm vụ của chiến trường Trị - Thiên, tháng 4-1966, bản sao lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11364



« Trả lời #49 vào lúc: 10 Tháng Tư, 2010, 09:26:33 PM »


Tháng 5-1966, ngay sau khi thành lập, Khu uỷ và Quân khu uỷ Trị - Thiên họp quán triệt nhiệm vụ Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương giao cho chiến trường và đề ra chủ trương đẩy mạnh hoạt động trong những tháng đầu Hè - Thu 1966 để phối hợp với quân và dân toàn miền phá cuộc chuẩn bị mùa khô tới của địch. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện của Thừa Thiên - Huế bí mật luồn sâu xuống các huyện Quảng Điền, Hương Trà, Hương Thuỷ... cùng dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến nhỏ, lẻ, hỗ trợ nhân dân nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Ở một số khu vực có số lớn quân Mỹ chiếm đóng như Phú Bài, Đồng Lâm, cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ vũ trang công tác và du kích địa phương vận động nhân dân xây dựng “vành đai diệt Mỹ” để bao vây quân địch trong các căn cứ, kiềm chế và tiêu hao chúng, tạo điều kiện cho ta phát triển chiến tranh nhân dân. Đầu tháng 6 - 1966, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 chủ lực quân khu được lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ đã đánh bại một tiểu đoàn Mỹ càn quét xã Phong Chương, bắn rơi bốn máy bay.

Cũng trong thời gian này, bộ đội đặc công tỉnh tập kích kho hậu cần dã chiến của địch ở An Cựu, loại khỏi vòng chiến đấu 100 tên. Ba huyện miền núi xây dựng và phát triển 45 tổ bắn máy bay, cùng hàng trăm dân quân cơ động phối hợp với bộ đội địa phương bao vây đồn bất, bắn tỉa, gài chông, bẫy, tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Cuối tháng 6-1966, Trung đoàn 6 sử dụng Tiểu đoàn 2 và các đại đội công binh, trinh sát, hoả lực của trung đoàn do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quốc Khánh chỉ huy, tổ chức trận phục kích địch trên quốc lộ số 1 đoạn cầu Nhi. Sáng ngày 29-6, bộ đội ta vừa chiếm lĩnh xong trận địa, thì 26 xe GMC chở đầy lính, có 2 xe M113 hộ tống từ Huế ra ứng cứu cho đường 9 - Quảng Trị đến trận địa phục kích của ta. Đợi cho đoàn xe địch đi vào khu vực cầu Nhi, các tổ hoả lực và công binh chặn đầu khoá đuôi mới giật mìn, nổ súng. Bọn địch ở hai đầu chưa kịp hoàn hồn, hai đại đội bộ binh ta ở chính diện được lệnh xung phong ra mặt đường diệt xe địch. Sau gần 15 phút chiến đấu, cả 28 xe đều bị bắn cháy, phá huỷ. Tiểu đoàn 2 lính thuỷ đánh bộ Sài Gòn gần như bị diệt gọn. Hãng AFP ngày 4-7 nhận xét: đây là trận đánh giao thông lớn nhất kể từ khi lính viễn chinh Mỹ hành quân ra các tỉnh cực bắc Vùng chiến thuật I.

Kết quả hoạt động quân sự và chính trị trong hai tháng 5 và 6-1966 trên chiến trường Trị - Thiên có bước phát triển mới, tuy vậy, những hoạt động đó còn nhỏ, lẻ, chưa làm cho địch phải tập trung lực lượng đối phó lớn.

Để buộc chủ lực cơ động chiến lược của Mỹ và Sài Gòn phải đối phó với khối chủ lực của ta ở miền Bắc, tạo thuận lợi cho chiến trường Khu V, Nam Bộ, Tây Nguyên mà trực tiếp là vùng đồng bằng hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên tiến công và nổi dậy, tháng 6-1966, Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị gọi tắt là Mặt trận B5. Nhiệm vụ chủ yếu của mặt trận là “tạo nên một hướng tiến công mới của ta vào nơi yếu của địch trên chiến trường miền Nam, buộc địch phải phân tán lực lượng lên chiến trường rừng núi, thực hiện tiêu diệt chiến lược đối với quân cơ động chiến lược của địch bằng lực lượng chủ lực mạnh của ta ở miền Bắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến trường khác, trực tiếp nhất là vùng đồng bằng Trị - Thiên, làm cho địch bị động càng bị động hơn, ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh trên bộ ra miền Bắc, đặc biệt là vùng Quân khu IV của ta”1.

Để đi tới quyết định mở hướng tiến công chiến lược mới liên quan đến thế trận chung toàn Miền với hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Quân uỷ Trung ương đã nghiên cứu, phân tích kỹ so sánh lực lượng địch, ta trên từng chiến trường và khả năng tác chiến của khối chủ lực miền Bắc khi quân Mỹ dồn lực lượng ra Trị - Thiên. Quân uỷ Trung ương chú trọng đến khả năng phối hợp, hỗ trợ nhau giữa các chiến trường để tạo nên sức mạnh tổng hợp trên từng hướng chiến lược. Miền Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Khu V là những địa bàn chiến lược quan trọng, nơi có vùng giải phóng, phong trào chiến tranh du kích phát triển, khối chủ lực Quân giải phóng hoạt động mạnh, uy hiếp hậu phương và cơ quan đầu não của Mỹ, chính quyền Sài Gòn. Bộ Chỉ huy Mỹ ở Sài Gòn đã huy động lực lượng đánh phá ác liệt nhằm tiêu diệt chủ lực ta và phá căn cứ kháng chiến, bảo đảm an toàn cho các căn cứ, cơ quan đầu não của chúng. Ta thì quyết bám trụ, mở những đợt tiến công và phản công quyết tiêu diệt lực lượng Mỹ cũng như ngụy Sài Gòn, tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân áp sát các đô thị. Đây chính là nơi tranh chấp quyết liệt nhất giữa ta và địch. Vì vậy, cuộc chiến tranh càng trở nên ác liệt, trong khi đó ở chiến trường miền núi Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và miền núi Trị-Thiên là những chiến trường ta có điều kiện đánh tiêu diệt địch tốt nhất, nhưng lực lượng chủ lực Mỹ cũng như quân đội Sài Gòn ít so với các nơi khác. Phải kéo địch lên vùng rừng núi để tiêu diệt, “chia lửa” với vùng đồng bằng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã chỉ đạo xây dựng Mặt trận B2 (Đông Nam Bộ), Mặt trận B3 (Tây Nguyên) ngay trước khi đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam. Qua tác chiến mùa khô 1965 - 1966, các chiến trường này chẳng những đã thu hút một lực lượng chủ lực cơ động của Mỹ và Sài Gòn, mà còn tỏ rõ là địa bàn có khả năng đánh tiêu diệt địch về chiến dịch, chiến lược.

Sau mùa khô lần thứ nhất, đế quốc Mỹ cấp tốc tăng quân lên gần 40 vạn tên, thì việc mở Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị là chủ trương rất kịp thời, đúng đắn của Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu xa và sự chỉ đạo chiến tranh cách mạng linh hoạt và sáng tạo của Đảng ta. Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị sẽ là nơi thu hút, giam chân một lực lượng lớn lính thuỷ đánh bộ Mỹ vốn quen tác chiến ở những vùng ven biển. Mỹ có thể ném vào chiến trường rừng núi Quảng Trị hai, ba sư đoàn trong tổng số bảy sư đoàn Mỹ có mặt ở Nam Việt Nam để đối phó với ta. Lực lượng chủ lực tinh nhuệ Mỹ quen tác chiến vùng biển, lên rừng núi hiểm trở, bản thân chúng đã tự hạn chế sức mạnh vốn có của chúng; nhưng bộ đội ta lại có điều kiện phát huy sở trường đánh trên địa hình rừng núi. Mặt khác, ta có điều kiện phát huy sức mạnh lớn nhất của khối chủ lực cơ động Quân đội nhân dân. Các đơn vị chủ lực ở miền Bắc có thể thay phiên nhau vào tác chiến ở Quảng Trị. Việc mở Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị là một đóng góp mới vào việc đẩy mạnh thế tiến công của ta, làm đảo lộn thế bố trí chiến lược của địch, phá vỡ ý định của Mỹ đưa quân chiến đấu Mỹ vào đồng bằng sông Cửu Long - nơi đông dân, nhiều của có thể khai thác phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ; đồng thời, ta cũng phá luôn âm mưu và kế hoạch dùng bộ binh đánh ra vùng nam Quân khu IV của định. Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị ra đời đã tạo điều kiện cho các chiến trường khác trong toàn Miền đẩy mạnh tác chiến diệt địch và giành dân, nhất là vùng đồng bằng hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên.
________________________________________
1. Nghị quyết Thường vụ Quân uỷ Trung ương, tháng 6-1956, bản sao lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM