Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 29 Tháng Năm, 2020, 08:42:27 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Phú Yên - Đất & Người Đất anh hùng  (Đọc 43843 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #60 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 04:56:51 pm »

Cuộc đời chiến sĩ thanh niên xung phong(TNXP) trải qua nhiều khó khăn gian khổ, từng đói cơm lạt muối, trèo đèo lội suối thế nhưng anh em không nản lòng. Nhiều lúc đi trong mưa bom bão đạn vẫn vững lòng, đưa hàng về an toàn để giúp cho bộ đội ta đánh thắng hết trận này đến trận khác.
 
Gia nhập đơn vị TNXP từ  năm 1969, sau đó đơn vị cử tôi, đồng chí Phan Ngọc Dũng cùng với một số người đi xuống cửa khẩu An Định( huyện Tuy An) mua thực phẩm. Trên đường về đến đoạn đường qua trảng sim Gò Rộng bị máy bay địch phát hiện, chúng tôi buộc phải chạy sâu vào rừng. Lúc này mọi người đều mang vác rất nặng, nên không thể chạy kịp, đành bỏ hàng lại để thoát thân. Địch phát hiện thấy người nên thả bom dữ dộị Cả cánh rừng, quần áo, hàng hoá, tư trang của cả đoàn đều bị cháy trụi, mỗi người chỉ còn duy nhất một bộ quần áo đang mặc. Sau đó, đoàn cũng về đến đơn vị an toàn. Đến tháng 3-1970, tôi và một số đồng chí khác bám cửa khẩu mua thực phẩm cho đơn vị, khi về thì bị phục kích ở Quốc lộ1. Chúng bắn liên tục làm đội hình tán loạn, pháo sáng thấy rõ người nhưng chúng tôi vẫn giữ gùi hàng trên vai không thể để mất được và thoát chết trở về cứ.
 
Nhớ nhất là có một lần, chỉ một mình tôi xuống cửa khẩu nhận hàng, khi đi đến giữa đường thì gặp bọn địch đổ bộ tại Hòn Lúp rồi bao vâỵ Tôi bị kẹt giữa rừng sim nên không dám đi xa vì máy bay oanh tạc suốt ngày đêm. Một mình, vừa sợ, vừa đói, 3 ngày đêm liền tôi sống trong cảnh không thức ăn, nước uống. Đến khi địch rút đi khỏi thì tôi cũng không còn đủ sức để đi nữa, phải bò ra ngoài đường chờ người ngang qua nhờ giúp đỡ và may mắn thay có anh Trần Văn Bảy tìm thấy nấu cho một chút cháo để ăn. Đợt sau, tôi được phân công xuống Tuy Hoà 2 nhận lương thực, khi đi đến dốc Gò Rộng, xã Hoà Trị thì gặp biệt kích. Bọn chúng cho máy bay oanh tạc bốn phía, phải chạy vào rừng núp dưới giao thông hào gần đường. Lúc này, tôi và đồng chí Long bàn cho anh em tản vào rừng, nếu ở đây sẽ bị máy bay thả bom chết. Vừa vào được khu rừng nhỏ thì bị biệt kích thả bom xăng, anh em chạy đến đâu lửa bom “chạy” theo đến đó. Mọi người ra khỏi thì đã cháy hết tư trang, chỉ còn một số hàng hoá anh em góp lại mang lên. Khi đến suối thì gặp đồng chí Hồng Quang và đồng chí đưa chúng tôi về căn cứ an toàn.
 
Đến tháng 6-1971, tiểu đội tôi mang đạn xuống Tuy Hoà 2. Đoàn đi có các đồng chí Lê Thị Tuyết Nga, Nguyễn Thị Hoa, Trương Thị Diệu, Nguyễn Thị Chín, Lê Nguyên Đức Thị, Trần Văn Bảy, Nguyễn Văn Lộc  và Lê Trần Thị Giọng. Chúng tôi đang trên đường xuống suối Cái thì máy bay địch đổ quân ở Gò Sân, Gò Chợ, tiểu đội bị kẹt chính giữa cùng với tổ thu mua lương thực tỉnh. Trong lúc này, pháo bắn tung vào giữa đội hình làm cho một số chị em bị thương nặng, nhưng lại không có dụng cụ để rửa, phải vót cây làm kẹp để thay băng và rửa bằng nước muốị Đến khi địch rút khỏi, chúng tôi mới chuyển về đơn vị, số còn lại tiếp tục xuống làng mang gạo, muối lên để nuôi cán bộ.
 
Năm 1972, địch càn Suối Ché, tôi cùng đơn vị di chuyển qua Tân Lương vào buôn Ma Lức tránh địch. Sáng hôm sau, địch đổ bộ vào buôn, tất cả các đồng chí đều tránh và dời bà con dân làng đi hết, còn lại một mình tôi vừa mang hàng, vừa dắt đồng chí Phạm Kỳ Châu (lúc đó đang bị bệnh) chạy theo anh em, đến một góc rừng mới gặp nhau, rồi nghỉ lại chờ đến tốị Sau đó mọi người đưa đồng chí Châu vượt  qua Tân Lương về lại Suối Ché.
 
Đến tháng 11-1972, tôi được cử đi công tác tại xã An Chấn (huyện Tuy An), cùng đi với đồng chí Ánh Hồng, Trương Văn Khanh. Xuống đến xã An Thọ phát hiện có địch, tôi liền kéo hai người chạy trở lại thì gặp các anh đi xuống, chúng tôi cản lại không cho đị Vừa dứt tiếng, chúng tôi chạy lên phía trước thì bọn địch cũng vừa giáp đường, chúng bắn làm anh Khanh bị thương.
 
Năm 1973, đơn vị phân công tôi cùng đồng đội xuống mua hàng về cung cấp cho toàn ngành giao thông vận tải, đi lên đến cầu Bảy Bổ thì gặp lính Đại Hàn phục kích. Trời lúc đó sáng trăng, chúng thấy người đồng thanh hô “Vi-xi” (VC – Việt cộng). Chúng tôi phải nhào xuống ruộng. Lúc này đồng chí Nguyễn Thị Phận không chạy nổi phải kéo chạy, còn đồng chí Phụng thì bám đường vượt qua, chúng tôi về đến nơi yên ổn cả người lẫn hàng. Tháng 2-1974, tôi được phân công đi nhận hàng chi viện tiền phương, làm trung đội phó trung đội 2 thuộc đoàn 20 Ban chi viện tỉnh Phú Yên, đóng quân bên địa phận tỉnh Đắc Lắc. Trung đội chúng tôi toàn là nữ làm nhiệm vụ chuyển hàng vượt qua đường 14 để giao cho đơn vị bên kia đường. Khi vượt qua bên kia đường 14 thì bị địch bắn nhưng chúng tôi thoát nạn, vẫn bảo toàn lực lượng hàng hoá đưa đến nơi tập kết đầy đủ.
 
Không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt và máu của TNXP đã đổ xuống trên chiến trường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược. Song, ý chí và tinh thần chiến đấu anh dũng của những người TNXP đã chiến thắng được kẻ thù.               
HỒ THỊ HỒNG CỬU (Cựu TNXP thời chống Mỹ)
 
KIM CHI (gh
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #61 vào lúc: 15 Tháng Tám, 2010, 04:59:30 pm »

Ngay khi rời ghế nhà trường, cả hai lên đường vào Nam, góp sức mình vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc. Họ không tiếc tuổi xanh của mình, không sợ khó, sợ khổ, hết lòng vì thương bệnh binh trên các mặt trận.
 
Cả hai nữ bác sĩ ấy đều đã về hưu, mỗi người một công việc, nhưng vẫn còn tâm huyết, gắn bó với nghề vì sức khỏe của cộng đồng.
 
NGƯỜI PHỤ NỮ NƠI TUYẾN

Hai nữ bác sĩ Huỳnh Thị Kim Huê và Phan Thị Tín - Ảnh: Tư Liệu
Trong căn nhà của mình ở hẻm Ngô Quyền (phường 4, TP Tuy Hòa), bác sĩ Huỳnh Thị Kim Huê bồi hồi nhớ lại những năm tháng gian khổ nhưng ấm áp tình thương, dồn hết tâm sức cùng các đồng nghiệp cứu từng thương bệnh binh khỏi tay tử thần. Tốt nghiệp Trường đại học Y khoa Hà Nội vào tháng 2-1966, hưởng ứng lời kêu gọi của nhà trường, cùng một số sinh viên khác, Kim Huê viết đơn tình nguyện vào Nam phục vụ kháng chiến. Tháng 4 năm đó, bà được học chính trị và đến tháng 6 bắt đầu cuộc hành quân vào chiến trường miền Nam. “Chỉ có những ngày đầu tiên là được đi ôtô nhưng cũng phải ngụy trang rất khéo. Đến làng Ho (Quảng Trị) cả đoàn bắt đầu đi bộ theo đường mòn Hồ Chí Minh để vào Nam.” Bà Huê kể. Ròng rã suốt 3 tháng trời băng rừng, lội suối, có lúc máy bay Mỹ lượn trên đầu, tới tháng 9, cả đoàn đến Ban Y tế Phú Yên. Vừa chân ướt chân ráo tới bà gặp ngay một trận càn rất ác liệt của Mỹ. Địch đóng quân và càn quét cả tháng mới rút đi. Tình hình yên ổn, bà được phân công về Tuy An hoạt động. Bà bộc bạch: Tới Tuy An, tôi rất ngỡ ngàng, mọi thứ  không như lúc đầu mình tưởng tượng. Không có nhà cửa, phòng ốc gì cả, trạm xá huyện lúc bấy giờ chỉ là một bãi đất trống. Tôi hoang mang vô cùng nhưng rồi hiểu ra: chiến tranh mà. Thế là bắt tay vào làm việc. Thương bệnh binh ở trạm chưa đông lắm, chỉ khoảng vài chục người. Ban ngày mắc võng giữa rừng để nghỉ ngơi, tiêm thuốc, rửa vết thương, thay băng cho thương binh, khi có địch thì tất cả đều di tản. Ban đêm, tôi cùng các y tá, hộ lý hấp các dụng cụ chuyên dùng vào việc cứu chữa thương bệnh binh. Nếu làm ban ngày thì sợ khói bay lên, địch sẽ phát hiện ra chỗ chúng ta đang ở. Lúc này Tuy An đang là vùng chiến tranh ác liệt vì giáp ranh với vùng địch chiếm đóng. Địch càn vùng này thì ta lại phải di chuyển tới vùng khác. Chính vì thế, một tháng trạm xá di chuyển không biết bao nhiêu lần. Ác liệt nhất là giai đoạn 1966 – 1968. Địch ra sức càn quét, bắn phá khắp nơi, thế mà tại trạm xá, thương bệnh binh vẫn được bảo vệ an toàn. Máy bay của địch quần trên cao kêu gọi thầy thuốc của ta chiêu hồi. Có khi kêu đích danh bà. Nhưng tinh thần của những chiến sĩ áo trắng không lung lay, hết lòng cứu chữa cho thương bệnh binh để họ tiếp tục cầm súng ra chiến trường, tất cả vì độc lập dân tộc.
 
Có một kỷ niệm mà bà Huê không bao giờ quên. Đó là năm 1968, địch càn dữ dội, bệnh xá phải chuyển lên đồi lau vùng 1 An Lĩnh. Đêm, địch thả bom liên tục làm ba cô y tá bị thương. Bệnh nhân có lúc phải nhịn đói suốt 2, 3 ngày liền. Y, bác sĩ có bao nhiêu thức ăn cũng đều dành cho bệnh nhân của mình, chỉ uống nước cầm hơi. Đến ngày thứ năm, các đồng chí bảo vệ của ta lần xuống để nắm tình hình và lấy nước về uống, luộc rau ăn qua ngày. Sau đó, địch rút quân, ta  kiểm tra tình hình chắc chắn rồi đưa bệnh nhân về lại trạm xá an toàn.
 
Trong những năm chiến tranh ác liệt ấy, ngay tại vùng 2 An Lĩnh, bệnh nhân bị sốt rét ác tính khá nhiều, nhiều người chết phải chôn gần trạm xá. Cũng trong thời gian đó, chính cô cũng đứng ra mổ thành công cho một sản phụ mẹ tròn con vuông. Sau giải phóng, mẹ con tìm đến nhà cảm ơn.
 
Bà Huê tâm sự: “Hồi đó, ai cũng sống xa nhà nên rất thương yêu nhau, mọi người đều làm việc hết mình, tận tình chu đáo, không ai lo nghĩ đến bản thân mình cả”. Sau giải phóng, bà về công tác tại bệnh viện tỉnh. Năm 1991, bà được chuyển qua Bảo hiểm y tế cho đến năm 1996 thì nghỉ hưu. Hiện nay, hằng ngày bà vẫn đạp xe đến Phòng khám tư nhân Lê Lợi để góp sức mình vì sức khỏe cộng đồng.
 
NHỮNG KỶ NIỆM Ở BỆNH XÁ TRÚC BẠCH
 
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài, khó khăn đầy gian khổ hy sinh. Bệnh xá Trúc Bạch là nơi điều trị các thương bệnh binh nặng. Và ở đó, đội ngũ y bác sĩ không quản ngại ngày đêm giành giật sự sống cho bệnh nhân.
 
Bác sĩ Phan Thị  Tín đã trải tuổi xuân của mình ở Bệnh xá Trúc Bạch. Bà nhớ lại chặng đường vào Nam phục vụ sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966: 25-12 đi vào Nam, mãi cho đến tháng 4-1967 mới đến được Phú Yên, được Ban dân y đón và phân công xuống bệnh xá huyện Đồng Xuân. Bà làm việc tại đó một thời gian, đến năm 1971 về Bệnh xá Trúc Bạch làm bác sĩ điều trị. Qua các chiến dịch, thương bệnh binh nặng từ các nơi chuyển về khá đông. Đội ngũ y bác sĩ ở bệnh xá làm việc quên ăn, quên ngủ với mong muốn duy nhất là làm sao cứu sống được những đồng đội, đồng chí của mình. “Lực lượng y bác sĩ rất ít, tất cả đều dồn sức mình lo chạy chữa cho các bệnh nhân. Người thì lo thuốc men điều trị, người lo phần hậu cần, ăn uống. Tinh thần làm việc hăng say đoàn kết, ý thức tập thể rất cao. Trong suốt thời gian diễn ra các trận càn của địch (từ năm 1966 đến năm 1968), Bệnh xá không để xảy ra sai xót nào” - Bà Tín kể.
 
Năm 1973 bà trở thành Bệnh xá trưởng. Hai năm sau đó, khi tỉnh nhà giải phóng, chính bà là người đầu tiên đi tiếp quản Bệnh viện Phú  Yên. “Lúc đó, Bệnh viện chỉ là một căn nhà dã chiến, mọi thứ đều thiếu thốn nhưng ai cũng làm việc hăng say và tích cực, phục vụ bệnh nhân tận tình chu đáo” - Bà nhớ lại. Đến năm 1977, bà về Bệnh viện Y học cổ truyền, năm 1978 làm Trưởng khoa Sản Bệnh viện đa khoa tỉnh. Năm 1994 công tác tại UBDSGDTE, đến năm 1999 về nghỉ chế độ.
 
Cùng tốt nghiệp một trường, cùng vào Nam một năm, cả đời phục vụ nhân dân, giờ đây thanh thản tuổi già bên con cháu thân yêu của mình, hai nữ bác sĩ ở chiến khu ngày nào mong sao cuộc sống yên bình, mọi người đều mạnh khỏe để cùng nhau xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
 
KIM CHI
 
 
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #62 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 11:06:08 am »

Quân giới Phú Yên phục vụ toàn quốc kháng chiến


Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với muôn vàn khó khăn. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh đứng đầu, đã sáng suốt lãnh đạo nhân dân ta nâng cao tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường, quyết tâm giữ vững lời thề của Tuyên ngôn độc lập, nguyện “đem hết cả tinh thần và lực lượng, tính mạng, của cải và tài sản để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.



061211-ducluudan.jpg

Đúc lựu đạn bằng khuôn đất sét – Ảnh: Tư liệu
Bởi vậy từ ngày 23-9-1945 thực dân Pháp gây hấn đánh chiếm nam Bộ, ở Phú Yên đã nổi lên phong trào toàn dân vũ trang bằng vũ khí thô sơ và thành lập các đơn vị vũ trang tập trung; hàng loạt các lớp huấn luyện quân sự ngắn ngày được mở ra ở Sông Cầu để đào tạo cấp bách số cán bộ quân sự cần thiết. Và ngày 10 tháng 10 năm 1945, xưởng quân giới đầu tiên của Phú Yên chính thức thành lập. Sự kiện này không chỉ là mốc mở đầu cho sự phát triển của một ngành khoa học quân sự ở tỉnh, là khởi điểm quan trọng để từ đó Quân giới Phú Yên khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc.[/img]
Dù chưa có đủ những điều kiện vật chất cần thiết, song do những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của lịch sử, Quân giới Phú Yên ra đời bắt đầu từ những khốn khó, thiếu thốn của một mô hình sản xuất công nghiệp nhỏ bé lạc hậu đang từng bước cố gắng định hình và định hướng đi ban đầu của ngành Quân giới Phú Yên còn non trẻ… Ngay từ những bước đi ban đầu này, Quân giới Phú Yên đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong khả năng có được để phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Cuối năm 1945, quân Pháp từ Nam bộ đánh lấn dần ra Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Tình thế chiến sự diễn biến nhanh chóng. Tổ chức quân sự cũng có những thay đổi. Chi đội 4 Phú Yên được thành lập thay cho Ủy ban Quốc phòng, do đồng chí Lê Văn Đức làm đội trưởng. Đồng chí Ngô Hoàng Anh được rút sang lực lượng chiến đấu. Việc tiếp tục xây dựng và phát triển lực lượng Quân giới được giao cho đồng chí Nguyễn Hữu Dũ. Để kịp thời đối phó với tình hình chiến sự ngày một lan rộng, Ủy ban Việt Minh và Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh ra lời kêu gọi toàn dân tham gia làm vũ khí và chủ trương tổ chức các công binh xưởng, đáp ứng nhu cầu vũ khí trang bị cho các lực lượng vũ trang đủ sức ngăn cản bước tiến của quân thù.

Hưởng ứng lời kêu gọi này, hầu như toàn bộ các tổ chức thợ thuyền ở thị xã Tuy Hòa đã tập trung về Sông Cầu để chuẩn bị lập công binh xưởng. Mọi tầng lớp nhân dân lao động trong tỉnh, từ những thợ kim hoàn, thợ da, thợ hớt tóc, công nhân Nhà máy đường Đồng Bò v.v… đến những thợ thủ công có tay nghề giỏi như ông Hồ Kiến Mão, ông Xáng, và cả những người có trình độ kỹ thuật cao đã từng tốt nghiệp ở trường kỹ nghệ thực hành của Pháp – tất cả đều tình nguyện tham gia lực lượng những người sản xuất vũ khí. Họ hiến dâng vô tư cho Tổ quốc, cho Cách mạng tài sản, máy móc, nguyên vật liệu và cả chính cuộc đời mình. Những chiếc xe than của ông Đỗ Trực, Nguyễn Tiếm, Nguyễn Thanh ngay đêm chuyên chở những khối máy móc thiết bị từ garage Công Tín Xương, garage Hoàng Văn Cái, xưởng của ông Hồ Kiến Mão, ông Sáng…, từ những lò rèn của ông Sáu Méo, ông Hoàng Mây, ông Mười Do… hối hả đổ về Sông Cầu khẩn trương xây dựng xưởng.

Sau khi cơ bản hoàn thành công việc tập kết trang thiết bị, ngày 10 tháng 10 năm 1945, công binh xưởng Cao Thắng đứa con đầu lòng của ngành Quân giới Phú Yên chính thức ra đời. Đồng chí Đỗ Trực – một trong những người đã tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành, có tay nghề cao và có ý chí trong chuyên môn được anh em tín nhiệm cử ra tuyên bố thành lập xưởng. Cùng với đồng chí Nguyễn Hữu Dũ, đồng chí Đỗ Trực đã trực tiếp chỉ đạo sản xuất, hướng dẫn hoạt động của công binh xưởng.

Khi tiếng súng kháng chiến đã lan ra trên toàn quốc cũng là lúc yêu cầu về vũ khí, súng đạn trở nên cấp thiết hơn, một số công binh xưởng khác tiếp tục ra đời. Hơn một năm, sau ngày thành lập công binh xưởng đầu tiên, cuối năm 1946 công binh xưởng 83 thuộc Trung đoàn 83, đại đoàn 27 ra đời. Khi mới thành lập công binh xưởng 83 đóng tại thôn Ngọc Sơn, xã Hòa Mỹ, do đồng chí Nguyễn Hữu Chiêu (còn gọi là Hội Đồng Chiêu) phụ trách. Lực lượng khá mỏng, với gần 20 công nhân, xuất thân từ tổ cơ khí chi đội 4 cũ, đảm nhiệm các nhiệm vụ: đốc công, kế toán, quản lý, đúc, nguội, liên lạc và sưu tầm nguyên vật liệu.

Cùng thời gian này, trước yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang địa phương – các đơn vị dân quân ở các huyện cần phải được trang bị vũ khí phù hợp với chiến trường chiến tranh du kích. Tỉnh ủy Phú Yên quyết định thành lập công binh xưởng dân quân Phú Yên, tên thường gọi là “Cơ xưởng dân quân”. Tỉnh đội Phú Yên chịu trách nhiệm tổ chức công binh xưởng này, đồng chí Nguyễn Tất Dung phụ trách, biên chế ban đầu khoảng 25 người mà nòng cốt là những cán bộ dân quân được đào tạo tại công binh xưởng Cao Thắng. Cơ xưởng dân quân khi mới thành lập đóng tại xóm Vườn, thôn Phú Vang, xã Xuân Sơn, huyện Đồng Xuân.

Như vậy đến cuối năm 1946, ở Phú Yên đã có 3 công binh xưởng được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động. Đó là công binh xưởng Cao Thắng, công binh xưởng 83 và cơ xưởng dân quân. Nhìn chung, bên cạnh những thuận lợi không nhỏ là lòng yêu nước, tinh thần nhiệt tình cách mạng và ý chí quyết tâm cao của đội ngũ những người thợ quân giới, những khó khăn cơ bản mà ngành quân giới Phú Yên từ buổi ban đầu đã phải trực tiếp đương đầu, đó là con người có kỹ thuật, trang thiết bị và nguyên vật liệu.

Trong số những công binh xưởng đã thành lập, Cao Thắng là công binh xưởng mang tính quy mô hơn cả, và ngay từ đầu nó đã xứng đáng là con chim đầu đàn của ngành quân giới Phú Yên, là nơi hội tụ đông nhất, mạnh nhất về trí và lực của tầng lớp công nhân cách mạng Phú Yên trong thời kỳ lịch sử đầy biến động này.

 
ĐỖ THÍNH
Logged
tuanquoc19
Thành viên
*
Bài viết: 103



« Trả lời #63 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2010, 11:08:24 am »

Đồng Xuân êm ả chiều cuối năm

Không náo nhiệt như các nơi khác, không gian chiều cuối năm ở Đồng Xuân yên tĩnh đến mênh mông.Tại thị trấn La Hai, chợ hoa tết không tập trung ở một điểm mà dàn trải, lác đác ở nhiều nơi: ở các ngã ba, ở trước các hiên nhà ven con đường chính chạy dọc theo thị trấn , và nhiều nhất là ở trước cửa Chi cục Thuế Đồng Xuân.

 

Nhưng ở một góc độ khác, chúng tôi ghi nhận được một Đồng Xuân chiều cuối năm thật sâu lắng: Đó là những sinh hoạt gia đình đầm ấm, các cháu nhỏ quây quần cùng bà bên một nồi bánh chưng đang lên khói, phía trong, một bàn thờ gia tiên nghi ngút hương và những màu sắc độc đáo trong một sân trường đang tạm nghỉ tết, nơi có cây bàng đang mùa thay lá mới, dăm ba đứa trẻ quây quần với nhau vui một trò chơi  trong một khung trời tuổi thơ tuyệt đẹp.

 

Có một Đồng Xuân êm ả chiều cuối năm.

 

080206-Cho-La-Hai.jpg

Chợ La Hai
080206-Cho-hoa-tet-DX.jpg

Điểm bán hoa Tết trước Chi cục Thuế Đồng Xuân
080206-Khoi-bep.jpg

Khói bếp chiều cuối năm
080206-bang-thay-la.jpg

Mùa bàng thay lá

 

Nhóm ảnh của Dương Thanh Xuân
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM