Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Chín, 2020, 04:42:42 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Một cây cầu quá xa  (Đọc 120480 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #220 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 04:49:20 pm »

Những chiếc xe tăng của lực lượng cận vệ Ireland từ từ tiến lên, đi qua làng Oosterhaut về phía trái và các trang trại Ressen và Bemmel bên phải. Từ xe của mình đại úy Langton nghe thấy trung úy Tony Samuelson, chỉ huy toán xe tăng dẫn đầu, thông báo tên các nơi này. Samuelson báo lại rằng chiếc xe tăng đi đầu đã áp sát ngoại vi Elst. Những người Ireland đã gần đi được nửa chặng đường tới Arnhem. Trong khi nghe Langton nhận ra “chúng tôi chỉ có một mình”. Nhưng sự căng thẳng đã dịu xuống trong đội hình. Trung úy phi công Love nghe tiếng động cơ trên không và nhìn thấy những chiếc Typhoon đầu tiên xuất hiện. Trời đã quang đãng tại Bỉ, và lúc này các phi đội xuất hiện trong tầm nhìn, lần lượt nối tiếp nhau. Trong khi họ bay vòng trên đầu, Love và Sutherland nhẹ nhõm tựa lưng vào ghế.

Trong chiếc xe của mình, đại úy Langton đang nghiên cứu bản đồ. Toàn đội hình đã vượt qua đường rẽ đi Bemmel ở phía phải. Đúng lúc đó, Langton nghe thấy một tiếng nổ lớn. Nhìn lên, anh trông thấy “một bánh dẫn xích của xe Sherman treo lơ lửng trong không khí trên cụm cây phía trước”. Anh hiểu ra ngay một trong số xe tăng đi đầu đã trúng đạn. Trung úy Samuelson, ở xa hơn phía trước trong đội hình, nhanh chóng xác nhận việc này.

Từ xa đại bác bắt đầu lên tiếng và khói đen bốc lên trời thành cuộn. Ở phía dưới đội hình trung úy Rupert Mahaffey biết có gì đó không ổn. Cả đội hình đột ngột chững lại. Mọi người bối rối không rõ chuyện gì vừa xảy ra, và những giọng nói trong radio trở nên méo mó ngắt quãng khi giao chiến bắt đầu. “Có rất nhiều tiếng hò hét”, Giles Vandeleur nhớ lại, “ và tôi bảo Joe có lẽ tốt hơn tôi nên đi lên phía trước xem cái quái gì đang diễn ra”. Viên chỉ huy lực lượng cận vệ Ireland đồng ý. “Hãy cho anh biết ngay khi có thể,” ông nói với Giles.

Đại úy Langton lúc đó đang đi lên phía trước. Thận trọng tiến từng bước bên những chiếc xe thiết giáp, Langton tới một khúc quặt trên đường. Ở phía trước, anh thấy cả 4 xe tăng đi đầu, trong đó có chiếc của Samuelson, đã bị hạ và có chiếc đang bốc cháy. Đạn bay tới từ một khẩu pháo tự hành nấp trong khu rừng bên trái, gần Elst. Langton ra lệnh cho lái xe ngoặt vào sân một ngôi nhà gần khúc quặt. Vài phút sau Giles Vandeleur cũng tới đó. Lập tức đạn súng máy của địch buộc mọi người phải tìm chỗ ẩn nấp. Vandeleur không thể quay lại xe bọc thép của mình để báo cáo người anh họ Joe. Mỗi lần ông này gọi người lái xe, hạ sĩ Goldman, lùi xe lại – đó là một chiếc Humber với một cửa nóc và một cửa bên – “Goldman lại nâng cửa nóc lên và bọn Đức lại nổ một tràng đạn sát trên đầu anh ta, buộc anh ta phải đóng sập cửa xuống”. Cuối cùng, không thể đợi hơn, Giles bò lại phía sau theo một đường rãnh tới xe chỉ huy của Joe.

Joe Vandeleur đã bắt đầu ra lệnh. Qua radio ông gọi pháo yểm trợ; sau đó, nhìn thấy những chiếc Typhoon trên đầu, ông ra lệnh cho Love gọi cho họ. Trong chiếc xe của RAF Sutherland cầm lấy bộ đàm. “Đây là Winecup ... Winecup,” anh gọi. “Xin hãy tới ngay”. Những chiếc Typhoon vẫn bay vòng trên đầu. Tuyệt vọng, Sutherland gọi lại. “Đây là Winecup... Winecup... Tới ngay”. Không có trả lời. Sutherland và Love nhìn nhau. “Máy liên lạc đã chết,” Love kể. “Chúng tôi không có bất cứ tín hiệu nào. Những chiếc Typhoon vẫn bay vòng trên đầu chúng tôi, và dưới mặt đất, đạn pháo địch vẫn bắn tới. Đây là tình cảnh tuyệt vọng, cay đắng nhất tôi từng trải qua, nhìn thấy họ ở trên đó mà chẳng làm được gì cả”. Love biết các phi công của những chiếc Typhoon đang chầm chậm lượn vòng kia “đã được lệnh không được tấn công bất cứ thứ gì chỉ dựa trên phán đoán”. Lúc này Giles Vandeleur đã về tới chỗ người anh họ. “Joe,” ông ta nói, “nếu chúng ta đưa thêm xe tăng lên trên con đường này đó sẽ là một cuộc tàn sát”. Cả hai người cùng đi tới chỗ đại úy Langton.

Lúc này bộ binh của lực lượng cận vệ Ireland đã rời xe tăng và tiến vào những khu vườn cây ăn quả nằm hai bên đường. Langton đã nắm quyền chỉ huy một xe tăng. Không thể tìm được nơi ẩn nấ hay rời khỏi đường, anh lái xe hết tiến lại lùi, cố gắng bắn vào khẩu pháo tự hành nấp trong rừng. Mỗi lần anh bắn một phát đạn, “khẩu súng nọ trả lời lại năm phát”.
Logged

IN PAUL WE TRUST
Paul the Octopus
Thành viên
*
Bài viết: 537


St. Paul


« Trả lời #221 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2010, 04:49:30 pm »

Viên đại úy bộ binh, người của anh này cũng đang săn lùng cùng mục tiêu nhưng lúc này đang phải nằm chết dí dưới một đường rãnh, tái mặt đi vì bực tức. “Các vị nghĩ mình đang làm cái chết tiệt gì thế?” anh ta hét lên với Langton. Viên sĩ quan trẻ vẫn bình tĩnh. “Tôi đang cố hạ khẩu pháo tự hành để chúng ta có thể tới được Arnhem,” anh đáp.

Khi hai anh em Vandeleur xuất hiện, Langton, không thành công trong việc cố hạ khẩu pháo địch, xuống xe gặp họ. “Trên đó là cả một bãi tan hoang,” Joe Vandeleur nhớ lại. “Chúng tôi cố thử tất cả. Không có cách nào để đưa xe tăng khỏi con đường xuống hai bên bờ dốc đứng của con đê mắc dịch đó. Yểm trợ pháo duy nhất tôi nhận được là từ một trận địa dã chiến, và đơn vị này quá mất thời gian trong việc định vị mục tiêu”. Đại đội bộ binh duy nhất đang bị kìm chân lại và ông không thể gọi được cho những chiếc Typhoon. “Chắc chắn chúng ta có thể tìm được hỗ trợ từ đâu đó,” Langton nói. Vandeleur chậm chạp lắc đầu. “Tôi e là không.” Langton vẫn cố nài. “Chúng ta cần phải tới đó,” anh khẩn khoản. “Chúng ta có thể đi nếu có yểm trợ”. Vandeleur một lần nữa lắc đầu. “Tôi xin lỗi,” ông nói. “Anh dừng lại đây cho tới khi nhận được lệnh mới”.

Với Vandeleur, hiển nhiên là cuộc tấn công chỉ có thể tiếp tục khi bộ binh thuộc sư đoàn 43 Wessex của thiếu tướng G.I.Thomas bắt kịp lực lượng cận vệ Ireland. Cho tới lúc đó, xe tăng của Vandeleur bị phô bày trơ trọi trên con đường xa lộ. Một khẩu pháo tự hành duy nhất chĩa vào con đường xa lộ nhô cao đã chặn đứng toàn bộ đoàn quân giải vây cách Arnhem gần 6 dặm.

Ở xa phía sau trong đoàn xe tăng, đối diện với một ngôi nhà kính gần Elst mà các cửa số vẫn còn gần như nguyên vẹn một cách kỳ diệu, trung úy John Gorman giận dữ nhìn chằm chằm vào con đường phía trước. Kể từ khi đoàn quân xa bị chặn lại ở Valkenswaard ở đoạn dưới của hành lang, Gorman đã cảm thấy muốn tiến nhanh hơn. “Chúng tôi đã đi qua từng ấy đường từ Normandy, chiếm Brussels, tiến qua nửa Hà Lan và vượt qua cây cầu tại Nijmegen,” anh hồi tưởng lại. “Arnhem và những người lính dù đó chỉ ở ngay phía trước và khi mà cái cầu khốn kiếp đó gần như đã nằm trong tầm mắt, chúng tôi lại bị chặn lại. Tôi chưa bao giờ cảm thấy tuyệt vọng cay đắng đến thế”.

Hết phần 4


Đến đây là hết bản dịch trên VNCĐ, phần còn lại chúng ta đành chờ dịch giả seahawk1 tiếp vậy Cheesy
Logged

IN PAUL WE TRUST
lamphat
Thành viên

Bài viết: 2


« Trả lời #222 vào lúc: 24 Tháng Giêng, 2013, 09:11:51 pm »

Mời các bạn xem truyện này trên thiết bị di động
http://www.mediafire.com/download.php?isn0774mgk7iqo4
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #223 vào lúc: 22 Tháng Sáu, 2015, 08:51:45 am »

Chủ thớt bỏ lâu quá rùi...e xin hoàn chỉnh cuốn này ạ




Phần 5
Chảo lửa






 
« Xe tăng của Monty đang tới ! » dọc theo vành đai phòng ngự đang co dần lại quanh Oosterbeek – từ những đường hào hẹp, những ngôi nhà bị biến thành điểm phòng ngự, các ngã tư đường, trong các vạt rừng và giữa các cánh đồng – những người lính mặt sạm đen cáu bẩn phấn chấn chuyền tai nhau tin tức. Với họ, có vẻ như cuộc thử thách dài dằng dặc trong đơn độc đã đi tới hồi kết. Đầu cầu bên sông Rhine của tướng Urquhart chỉ còn là một dải đất hẹp nhỏ xíu như đầu ngón tay trên bản đồ. Lúc này, trên dải đất chỉ dài chưa tới hai dặm, rộng một dặm rưỡi ở vùng trung tâm, và chỉ rộng vẻn vẹn một dặm theo dọc bờ sông Rhine, những con Quỷ đỏ đang bị bao vây, tấn công và bị tiêu diệt dần dần từ ba phía. Nước, thuốc men, lương thực, đạn đều thiếu hoặc đang cạn kiệt nhanh chóng. Sư đoàn không vận số 1 Anh không còn tồn tại như một sư đoàn đúng nghĩa nữa. Giờ đây, những người lính của sư đoàn một lần nữa lại cảm thấy phấn chấn trước hy vọng được giải vây. Bên cạnh đó, lúc này một trận bão lửa đang gầm rít lướt qua trên đầu họ khi các pháo đội hạng trung và hạng nặng của Anh, bố trí cách đó 11 dặm về phía nam, đang từ bên kia sông Rhine nã đạn xuống đầu quân Đức chỉ cách tiền duyên của Urquhart vài trăm mét.
Bằng điện tín, tướng Browning đã cam kết với Urquhart rằng các khẩu đội của trung đoàn pháo binh tầm trung số 64, quân đoàn 30, tới ngày thứ Năm sẽ vào tầm yểm trợ, và các sĩ quan pháo binh đã đề nghị được cung cấp mục tiêu theo thứ tự ưu tiên. Không băn khoăn về sự an toàn của chính mình, các cựu binh can trường của Urquhart nhanh chóng trả lời. Lần đầu tiên có được liên lạc tốt qua radio, những con Quỷ đỏ đã gan góc gọi pháo dập gần như thẳng xuống vị trí của họ. Sự chính xác của hỏa lực pháo thực sự khiến họ rất phấn khởi, hậu quả gây ra cho quân Đức rất nặng nề. Hết lần này tới lần khác, pháo binh Anh bẻ gãy những đợt tấn công dữ dội của xe tăng địch đang đe dọa đè bẹp những người lính dù quân phục tả tơi, râu mọc tua tủa đã kiệt sức.

Ngay cả khi đã có sự yểm trợ đáng mừng này, Urquhart biết rõ một cuộc tấn công tổng lực của quân Đức chắc chắn sẽ nghiền nát lực lượng ít ỏi của ông. Thế nhưng ít nhất giờ đây họ tin rằng vẫn còn hy vọng – một cơ hội để giật lại chiến thắng vào phút chót. Vào ngày thứ Năm này, triển vọng của trận đánh đã có vẻ sáng sủa hơn đôi chút. Urquhart đã có liên lạc, dù còn hạn chế, và một mối liên kết với bên ngoài qua hỏa lực pháo yểm trợ của trung đoàn 64. Cây cầu tại Nijmegen vẫn an toàn và đã thông suốt ; những chiếc xe tăng của sư đoàn thiết giáp cận vệ đang trên đường  tới; và nếu thời tiết không xấu đi, 1500 lính dù sung sức thuộc lữ đoàn dù Ba Lan số 1 của tướng Sosabowski sẽ được thả xuống vào cuối buổi chiều. Nếu lực lượng Ba Lan được đưa nhanh qua sông Rhine bằng chiếc phà giữa Driel và Heveadorp, bức tranh ảm đạm hiện tại có thể sẽ được thay đổi.

Thế nhưng, nếu Urquhart muốn giữ vững, tiếp tế hậu cần cũng khẩn cấp không kém gì việc người của Sosabowski đến nơi kịp thời. Vào ngày hôm trước, trong số 300 tấn đồ tiếp tế, những chiếc máy bay ném bom của RAF đã chỉ thả được 41 tấn xuống khu vực Hartenstein. Cho tới khi được tiếp tế pháo chống tăng và lựu pháo với số lượng lớn, yểm trợ đường không ở tầm thấp là vô cùng quan trọng. Không có phương tiện liên lạc với không quân – những thiết bị liên lạc đặc biệt siêu cao tần của Mỹ, được vội vã chuyển tới tay người Anh chỉ vài giờ trước khi xuất phát hôm 17, đã bị cài đặt sai bước sóng và trở thành vô dụng – các sĩ quan của sư đoàn không vận đành phải thừa nhận rằng dường như RAF chưa sẵn sàng từ bỏ sự thận trọng và thực hiện những phi vụ oanh tạc mà những người lính dù biết rõ là cần thiết và đã sẵn sàng chấp nhận phần rủi ro. Urquhart liên tục gửi yêu cầu tới Browning, khẩn thiết đề nghị sử dụng máy bay cường kích và máy bay ném bom để tấn công « các mục tiêu cơ hội » mà không cần lưu ý tới vị trí của những con Quỷ đỏ. Đó là cách tác chiến của lực lượng đổ bộ đường không ; nhưng không phải cách của RAF. Thậm chí ngay vào giai đoạn nguy kịch này, các phi công vẫn khăng khăng yêu cầu chỉ rõ mục tiêu địch một cách chính xác như trên bản đồ - một điều hoàn toàn bất khả thi với những người lính dù đang bị bao vây và giam chặt bên trong một đầu cầu đang mỗi lúc một thu nhỏ lại. Không có phi vụ không kích tầm thấp nào được tiến hành, bất chấp việc mọi con đường, cánh đồng, vạt rừng xung quanh dải phòng ngự,  và trải dài về phía động tới tận Arnhem, đều có phương tiện cơ giới hoặc vị trí quân đối phương.

Chẳng có không yểm dù đã khẩn thiết yêu cầu, lại bị bó hẹp trong chu vi phòng thủ luôn bị địch tập kích bằng đạn cối và có nhiều chỗ đã phải đánh giáp lá cà, những con Quỷ đỏ giờ chỉ biết đặt hy vọng vào đoàn thiết giáp Cận vệ - mà họ tin rằng đang tiến đến chỗ mình. Urquhart thì lại bi quan hơn. Quân số ít hơn địch 4 lần, lại luôn bị pháo binh và xe tăng tập kích, thương vong cứ tăng lên đều đặn, Urquhart biết chỉ có những nỗ lực cực kỳ phi thường mới có thể cứu được cái sư đoàn tan nát của mình. Nhận thức lực lượng nhỏ bé của mình có thể bị quân Đức nghiền nát, viên tướng người Scotland gan lỳ, dũng cảm vẫn cố giữ vẻ lãnh đạm ngay cả lúc bảo với ban tham mưu của mình: " Chúng ta phải giữ đầu cầu bằng mọi giá."

Chu vi phòng thủ lúc này được chia làm 2 khu vực; Đại tá Pip Hicks cố thủ phần phía tây; còn phía đông là của đại tá Shan Hackett. Cánh quân phía tây của Hicks được lính của trung đoàn tàu lượn, công binh Hoàng Gia, tàn quân của trung đoàn Biên phòng; 1 số quân Ba Lan cùng 1 đám lính thuộc nhiều đơn vị khác với đủ loại quốc tịch phòng thủ. Bên phía đông là số lính sống sót thuộc các tiểu đoàn 10 và 156 của Hackett, cộng thêm 1 vài phi công tàu lượn và trung đoàn Khinh pháođổ bộ đường không số 1 (1st Airlanding Light Regiment). Phần cong lên ở đầu bắc chu vi phòng thủ (gần tuyến đường sắt đi Wolfheze) do quân đại đội dù độc lập số 21 của thiếu tá Boy Wilson - gồm toàn lính dù tiền sát mở đường - và tiểu đoàn Biên phòng Scotland của Đức Vua dưới quyền trung tá R. Payton Reid chống giữ. Đầu bên kia, phía nam kéo dài từ cái nhà thờ trung cổ Oosterbeek lên đến các điểm cao Westerbouwing ở phía tây, Hackett còn chỉ huy thêm 1 số đơn vị của trung đoàn Biên phòng cùng 1 đám hỗn hợp gồm tàn quân của các tiểu đoàn 1,3,11 thuộc trung đoàn Nam Staffordshires và lính trợ chiến của thiếu tá Dickie Lonsdale, người đã bị thương 2 lần - gọi là "lực lượng Lonsdale". Chính giữa khu vực này là quân của trung tá Sheriff Thompson, những pháo thủ can trường của những pháo đội vẫn đang tiếp tục chiến đấu trong tuyến phòng ngự với lượng đạn bị tiêu hao nhanh chóng.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #224 vào lúc: 23 Tháng Sáu, 2015, 08:05:44 am »

*Chú thích: Việc chu vi phòng thủ phía đông nam được củng cố là nhờ ở sự nhạy bén của trung tá Sheriff Thompson. Đó là người trong bối cảnh hỗn loạn lúc binh lính rút khỏi Arnhem ngày 19/9 đã đứng ra chỉ huy, nhanh chóng tổ chức tới phòng thủ ở khu đất cao phía trước trận địa pháo của mình. Số quân này, cùng với những người bị cắt rời khỏi đơn vị trước đó - khoảng 150 phi công tàu lượn cùng pháo thủ dưới quyền,cả thảy gồm 800 người - được gọi là "Lực lượng Thompson". Sau khi quân số được tăng thêm họ mới được đặt dưới quyền điều động của thiếu tá Lonsdale. Họ rút lui cuối ngày 20/9 và được Thompson đưa về trận địa pháo của mình. Do tình hình biến chuyển, vẫn còn xảy ra trục trặc nhưng ngay sau khi Thompson bị thương hôm 21/9 thì tất cả lính bộ binh trong khu vực có trận địa pháo đều chuyển về nằm dưới sự chỉ huy của cái sau này gọi là "Lực lượng Lonsdale". Riêng những phi công tàu lượn thì vẫn thuộc quyền điều động của Lữ đoàn 1 đổ bộ đường không.

Trên bản đồ trận liệt thì đơn vị nào cũng có vị trí rất rõ ràng, nhưng theo những người sống sót sau này nhớ lại thì thực ra chẳng hề có chu vi phòng thủ, chẳng có chiến tuyến cũng như ranh giới giữa các đơn vị mà tất cả mạnh ai nấy đánh. Chỉ có những người lính còn choáng váng, đẫm máu, băng bó đầy mình lao ra trám những lỗ thủng mỗi khi chúng xuất hiện. Khi đại tá Hicks đến thăm những binh sĩ kiệt sức, đang kiên quyết bảo vệ vị trí của mình nơi đầu cầu của mình thì ông thấy rằng: "Sắp đến hồi chung cuộc, và tất cả chúng tôi ai cũng biết điều đó, dù vẫn gắng giữ vẻ lạc quan."

Ko hề biết hành động can trường bám trụ chỗ cây cầu của Frost đã kết thúc -  dù trung tá Sheriff Thompson cũng có nghi ngờ khi kết nối điện đài giữa pháo binh và thiếu tá Munford đột ngột bị đứt -  Urquhartvẫn hy vọng là đoàn thiết giáp Cận vệ sẽ tới chỗ tàn binh của tiểu đoàn 2 kịp lúc.*
* Chú thích: Munford đã phá hủy thiết bị truyền tin của mình ngay sáng sớm hôm thứ 5 khi quân Đức bắt đầu xiết chặt vòng vây số lính ít ỏi còn cố bám trụ. Ông nhớ lại: "Xe tăng và bộ binh địch đã tiến lên trên cầu. Tôi tham gia vào việc chuyển thương binh mới về điểm tập trung rồi đập nát cái máy. Trung tá Thompson chẳng thể làm gì cho chúng tôi được nữa và mọi người đều muốn trở về với sư đoàn ở Oosterbeek". Munford đã bị bắt ở ngoại ô Arnhem khi đang cố gắng tìm về phòng tuyến quân Anh.

Đó là cây cầu duy nhất bắc qua sông Rhine - tuyến phòng thủ thiên nhiên cuối cùng của Đế Chế thứ III - mục tiêu chính ngay từ lúc đầu của Montgomery nhằm kết thúc chóng vánh cuộc chiến. Mất nó, tình trạng nguy ngập mà sư đoàn 1 không vận và đặc biệt, sự hy sinh gian khổ mà những người lính dũng cảm dưới quyền Frost phải chịu, sẽ trở thành vô nghĩa. Như Urquhart đã từng nói với Frost và Cough, ông chẳng có gì để giúp họ cả. Chỉ có sự thần tốc của thiết giáp quân đoàn 30 mới có thể cứu bọn họ mà thôi.

Ưu tiên trước nhất lúc này của Urquhart là đưa được quân Ba Lan của Sosabowski sang sông và tới chu vi phòng thủ nhanh như lúc họ đáp xuống.Bến phà kéo bằng dây cáp đặc biệt phù hợp với hoạt động này. Công binh của Urquhartđã đánh điện báo cho bộ tư lệnh Quân đoàn biết "phà chạy cáp lớp 24 có khả năng chở đến 3 chiếc xe tăng." Dù Urquhart vẫn còn lo về địa thế cao của đồi Westerbouwing và khả năng pháo binh Đức có thể khống chế bến vượt từ đó, nhưng tới lúc này vẫn chưa có đơn vị địch nào tới được đây. Vì quân cố thủ trong chu vi ít quá nên chỉ rút ra được 1 trung đội thuộc trung đoàn 1 Biên Phòng đến bảo vệ vị trí này. Trong thực tế thì vùng đất cao 2 bên bờ sông hoàn toàn bỏ ngỏ. Đại đội D của thiếu tá Charles Osborne thuộc trung đoàn 1 Biên phòng được giao làm nhiệm vụ này ngay khi mới đổ bộ hôm Chủ Nhật nhưng anh ta lại nói: "Chúng tôi chưa bao giờ chiếmWesterbouwingcả. Bọn tôi được lệnh đi trinh sát tìm vị trí đóng quân cho tiểu đoàn. Tuy nhiên đến khi xong việc và quay về sở chỉ huy thì kế hoạch thay đổi." Đến thứ 5 thì lính của Osborne "đã di chuyển dần vào 1 vị trí gần khách sạn Hartenstein" chứ ko ai lên chiếm những điểm cao quan trọng kia cả.

Vào hôm thứ 4, công binh đã cho 1 toán thám sát xuống sông Rhine để báo cáo tình hình bến phà, độ sâu, địa thế 2 bên bờ sông và tốc độ dòng chảy hiện tại. Anh lính công binh Torn Hicks cứ nghĩ chuyến điều nghiên này là để " giúp tập đoàn quân số 2 khi nó định vượt sông." Hicks cùng với 3 lính công binh nữa và 1 hướng đạo người Hà Lan, đã dùng phà vượt sông Rhine. Anh thấyông lão Pieter,bàn tay đang bị thương giữ sợi dây cáp lợi dụng dòng chảy để đưa phà sang bên kia sông. Anh cột trái lựu đạn vào sợidây dù, và cứ cách 1 bộ lại thắt 1 nút, rồi tiến hành đo độ sâu và tốc độ dòng chảy. Đến đêm thứ 4, khi bãi đổ bộ của quân Ba Lan đã chuyển đến Driel, thì 1 toán thám sát khác lại được điều tới bến phà. Binh nhấtRobert Edwards nhớ lại: "Đó là 1 việc tình nguyện. Chúng tôi xuống đoạn sông ở Heveadorpđi tìm bến phà rồi sẽ ở lại bảo vệ nó."

1 trung sĩ, 1 hạ sĩ cùng 6 binh sĩlên đường trong đêm tối. Edwards nói: "Đạn cối và pháo rơi xuống ầm ầm còn chúng tôi thì lao vào khoảng rừng rậm nằm giữ bọn tôi và Heveadorp." sau nhiều lần bị nã pháo thì có 1 phi công tàu lượng bị thương. Họ tới chỗ bờ sông được đánh dấu trên bản đồnhưng lại chẳng thấy bến phà đâu cả. Nó đã hoàn toàn biến mất. Dù có khả năng là phà đang được neo bên bờ nam, người ta vẫn bảo toán thám sát sẽ tìm thấy nó bên phía bờ này. Các binh sĩ lập tức tản ra, lục soát 1 khoảng dài 1/4 dặm 2 bên bến phà phía bắc. Cuộc tìm kiếm chẳng có kết quả gì. Ko tìm được cái phà của ông Pieter. Theo ký ức của Edwards, thì viên trung sĩ chỉ huy đã kết luận rằng phà đã bị chìm hoặc chẳng hề tồn tại. Vừa tảng sáng thì mấy người lính thôi ko đi tìm nữa và bắt đầu hành trình quay về đầy nguy hiểm.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #225 vào lúc: 25 Tháng Sáu, 2015, 09:20:47 am »

Chỉ mấy phút sau, họ vấp phải hỏa lực súng máy dữ dội khiến thêm 3 người nữa bị thương và toán thám sát lại phải lộn lại chỗ bờ sông. Viên trung sĩ quyết định mọi người phải chia nhau ra thì mới có cơ trở về được. Edwards đi với tay hạ sĩ cùng 2 phi công tàu lượn. Sau "1 cuộc chạm trán chớp nhoáng với lính Đức" nhóm của anh tới được chỗ cái nhà thờ ở Oosterbeek Hạ. Edwards nằm lăn ra đất, cả 2 chân đều găm đầy: "mảnh đạn nhỏ, máu chảy sũng giày tôi." Trong ngôi nhà gần nhà thờ, 1 lính quân y đã băng vết thương rồi bảo anh nghỉ ngơi. Edwards nhớ lại: " ngôi nhà đầy nhóc thương binh nặng. Mùi hôi của những vết thương và xác chết thật là kinh khủng." Anh quyết định bỏ đi tới chỗ sở chỉ huy đại đội, đóng trong 1 tiệm giặt ủi. " để trình diện. Tôi báo cho 1 sĩ quan biết chuyện cái phà rồi chui vào hố chiến đấu cùng 1 phi công tàu lượn. Chẳng biết những người kia có về được hay ko nữa và cũng ko biết những gì xảy ra cho mấy người bạn đã cùng tôi tới nhà thờ."

Sau đó 1 lúc, tướng Urquhart, vẫn chưa hay biết gì về số phận của Frost đánh điện cho Browning như sau: Địch đang tấn công cầu rất dữ. Tình hình rất nguy cấp. Địch từ Heelsum phía đôngvà Arnhem phía tây đánh tới. Tình thế rất nghiêm trọng và những đơn vị còn lại của sư đoàn phải lập chu vi phòng thủ vòng tròn quanh Hartenstein. Cả 2 khu vực đều rất cần chi viện. Vẫn kiểm soát được bến phà Heveadorp.

Mãi đến khi thông điệp được truyền qua mạng thông tin của trung đoàn 64 thì Bộ chỉ huy sư doàn mới biết chuyện ko tìm thấy phà. Các sĩ quan của Urquhartthì cho rằng quân Đức đã đánh chìm nó mất rồi.Thế nhưng phà của ông Pieter vẫn còn nguyên. Có lẽ pháo bắn đã làm dây neo của nó bị đứt. Rốt cục sau này dân Hà Lan lại tìm thấy nó dạt vào bờ tận cây cầu đường sắt bị phá hủy cách đó 1 dặm và vẫn nguyên vẹn. "Nếu bọn tôi tìm thêm mấy trăm mét nữa gần Oosterbeek thì đã thấy nó rồi." Edward nói.

Đến sáng thứ 5 khi Urquhart về bộ chỉ huy sau khi đi kiểm tra công tác phòng thủ Hartenstein thì ông mới biết tin dữ. Quân Ba Lan sẽ được thả dù xuống trong vài tiếng nữa, vậy mà cách nhanh nhất để đưa lính của Sosabowski tới tăng cường chu vi phòng thủ lại chẳng còn.*

* Chú thích: câu truyện thật sự về cái phà mới xuất hiện đầu tại đây. Các sử gia đều chính thức nói rằng nó đã bị chìm. Quan điểm của họ cho rằng quân Đức đã dùng pháo hủy phà hoặc kéo nó đi chỗ khác trong vùng kiểm soát của mình. Ko một nhật ký chiến trường, biên bản hay chiến lệ nào của phía Đức chứng minh cho giả thiết trên. Qua phỏng vấn các sĩ quan Đức - chẳng hạn như Bittrich, Harzer, Harmel và Krafft - tôi ko thấy ai nhớ ra có những hoạt động kiểu như vậy. Giả sử quân Đức muốn chiếm con phà đi nữa thì chắc chắn họ cũng gặp phải những khó khăn trong việc định vị nó giống như Edwards đã báo cáo. Bất luận thế nào đi nữa, cũng chẳng sĩ quan Đức nào nhớ đã từng ra lệnh cắt cáp nhằm ngăn ko cho quân Anh sử dụngphà cả.

Từ trên cửa sổ chiếc Dakota dẫn đầu trong đoàn máy bay trở lữ đoàn dù Ba Lan số 1 tới bãi thả dù ở Driel nhìn xuống, thiếu tướng Stanislaw Sosabowski mới: "Biết được sự thật về những gì mình đã ngờ vực bấy lâu". Từ Eindhoven chỗ đoàn máy bay rẽ sang hướng bắc ông nhìn thấy "hàng trăm xe cộ đang ùn ùn hỗn loạn suốt dọc con đường". Khói bốc lên cuồn cuộn, đạn pháo địch rót xuống nhiều điểm dọc xa lộ. Xe cộ cháy rừng rực. "Xác xe chất đống 2 bên lề đường." Tuy nhiên chẳng biết làm thế nào mà đoàn xe vẫn tiếp tục di chuyển. Sau đó khi tới Nijmegen thì đoàn xe mới dừng lại. Nhìn xuyên qua những đám mây thấp ở phía tay phải, Sosabowski thấy con đường đã tắc nghẽn, khiến xe tăng phải dừng lại. Hỏa lực địch đang rót xuống đầu đoàn quân. 1 lát sau, khi đoàn máy bay nghiêng cánh hướng tới Driel thì cây cầu Arnhem mờ mờ đã hiện lên trong tầm mắt. Xe tăng đang từ phía bắc vượt qua cầu tiến xuống phía nam.

Sosabowski nhận ra đó là tăng của Đức. Thật sốc và choáng váng, giờ ông mới biết quân Anh đã để mất cây cầu.
Vào đêm thứ 4, bức xúc do thiếu thông tin về tình hình của Urquhart, Sosabowski đã dẹp bỏ hết sự cẩn trọng của mình. Ông đòi được gặp tướng Brereton, tư lệnh Tập đoàn quân không vận số 1 của đồng minh. Theo đại tá George Stevens, sĩ quan liên lạc với lữ đoàn Ba Lan thì Sosabowski đã bức xúc tuyên bố rằng nếu như chưa được biết: "về tình hình chính xác của Urquhart quanh Arnhem thì lữ dù Ba Lan sẽ ko đi."Stevens hoảng hốt vội đem theo tối hậu thư của Sosabowski về bộ tư lệnh Tập đoàn quân không vận 1. 7g sáng thứ 5 thì ông mang tin của Brereton về. Stevens thừa nhận có những rối loạn nhưng cuộc tiến công vẫn diễn ra đúng theo kế hoạch, bãi thả dù vẫn ở Driel ko thay đổi và "bến phà Heveadorp vẫn ở trong tay quân Anh." Sosabowski đã dịu lại. Lúc này khi nhìn xuống toàn cảnh của trận đánh thì ông mới nhận ra rằng "mình còn biết nhiều hơnBrereton." Giận điên lên khi thấy ở Oosterbeek có thiết giáp Đức và cơn mưa đạn phòng không sắp đón chào binh sĩ của mình, Sosabowski tin chắc lữ đoàn mình đã bị đem "hy sinh trong 1 thảm họa hoàn toàn của người Anh". Sau đó 1 lát, ông nhảy ra khỏi cửa máy bay giữa làn đạn phòng không dày đặc. Vị tướng 50 tuổi lưu ý lúc đó chính xác là 5.08 phút chiều.

Đúng như Sosabowski lo sợ, lính Ba Lan đã nhảy xuống ngay hỏa ngục. Cũng như trước đó, quân Đức đã đợi sẵn. Họ đã theo dõi đoàn máy bay từ Dunkirk cho đến tận lúc này, và đã tăng cường tại đây vô số súng phòng không. Khi đoàn máy bay vận tải đến gần thì bỗng hiện ra 25 máy bay Messerschmitt nhào từ trên mây xuống bắn xối xả.

Trong khi lơ lửng, Sosabowski nhìn thấy 1 chiếc Dakota, 2 động cơ đầy lửa đỏ đang lao xuống mặt đất. Hạ sĩ Alexander Kochalski cũng thấy 1 chiếc khác đang bị rơi. Chỉ có chừng chục lính dù nhảy thoát ra trước khi nó rơi xuống đất bốc cháy. Anh nhìn thấy rất hiều luồng đạn "như thể tất cả súng ống dưới đất đều nhắm vào mình". Dù của Hạ sĩ Wladijslaw Korob bị bắn thủng lỗ chỗ. Anh đã tiếp đất cùng với 1 đồng đội bị mất đầu.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #226 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2015, 08:06:40 am »

Tại Oosterbeek, chỉ cách nơi thả lính dù Ba Lan chừng 2 dặm rưỡi, trận đánh có 1 lúc tạm lắng. Mọi súng ống Đức dường như đang phải tập trung hết vào những người lính đang lơ lửng, chẳng có gì để tự vệ. "Giống như toàn bộ các súng pháo của địch đều hướng lên và nổ cùng 1 lượt" pháo thủ Robert Christie nhớ lại. Thời gian được 'tạm tha' này thật là quý giá: mọi người tận dụng ngay cơ hội để di chuyển xe jeep và trang thiết bị, đào hố cá nhân, mang đạn dự trữ đến, sửa lại lưới ngụy trang và vứt vỏ đạn trống ra khỏi chiến hào chật ních người.

Trên con đường đắp cao cách đó 6 dặm, đại úy Roland Langtonngười dẫn đầu đoàn xe tăng đã dừng lại trên con đường đi Arnhem 6 tiếng trước đó, chứng kiến cuộc thả dù mà lòng quặn thắt. Đó là cảnh tượng khủng khiếp nhất anh từng chứng kiến. Tiêm kích Đức lao vào những chiếc máy bay chở lính Ba Lan ko có gì tự vệ bắn "chúng tan tành ngay trên trời". Lính dù cố gắng thoát khỏi những chiếc máy bay đang cháy. " trong đó có vài chiếc đã chúi mũi lao xuống đất." Thân hình những người lính "nhào lộn trong không trung, hoặc rơi xuống từ từ, đã chết trước khi tiếp đất." Langton tí nữa phát khóc tự hỏi "Không yểm đâu cả rồi?". "Hồi trưa người ta nói là ko thể đánh tới Arnhem được vì tất cả những máy bay có sẵn đều phải giành cho quân Ba Lan. Vậy thì chúng nó đâu? Thời tiết chăng? Vô lý. Bọn Đức thì bay được vậy tại sao chúng ta lại ko?" Langton chưa bao giờ cảm thấy thất vọng như thế. Từ trong thâm tâm anh biết nếu có máy bay chi viện thì "Xe tăng của mình đã có thể vọt tới những đồng đội đáng thương ở Arnhem". Trong nỗi lo âu, tuyệt vọng ấy anh chợt thấy mình suy sụp.

Dù rất kinh hoàng vì bị cả máy bay kết hợp với súng phòng không đánh dữ, hầu hết lữ đoàn Ba Lan đều hoàn thành chuyến nhảy dù bộ của mình một cách phi thường. Ngay khi họ vừa xuống đất, đạn pháo phòng không cùng đạn trái phá - bắn ra từ xe tăng và pháo phòng không trên suốt đoạn đường Nijmegen đi Arnhem cùng các pháo đội đóng ở bắc Driel - lại dập xuống túi bụi. Sosabowski thấy dường như toàn khu vực chỗ nào cũng nằm dưới làn đạn súng máy cả. Bị đánh mạnh từ trên trời rồi lại bị hỏa lực bắn chéo cánh sẽ quất dưới đất, các binh sĩ giờ lại phải mở đường máu thoát ra.Sosabowski đáp xuống gần 1 con kênh.

Trong lúc tìm chỗ nấp, ông chạy ngang qua xác 1 người lính "nằm dài trên cỏ, tay chân giang ra theo hình chữ thập", Sosabowski sau này đã viết: "1 viên đạn hoặc miểng pháo đã gọt gần như bay mất đỉnh đầu cậu ấy. Tôi tự hỏi cho đến khi trận đánh chấm dứt thì liệu mình còn phải chứng kiến bao nhiêu lính dười quyền chết như thế nữa, cho dù sự hy sinh của họ chẳng hề vô ích?". Thất kinh trước màn chào đón dữ dằn của quân Đức, toàn bộ dân cư Driel giờ lại bị lính dù tràn ngập. Tất cả các thôn làng, vườn tược, kênh mương thủy lợi, đê quai lấn biển và cả thị trấn đều có lính dù nhảy xuống. 1 số binh sĩ bị rơi xuống sông Rhine đã ko kịp gỡ dù ra nên đã bị nước cuốn trôi, chết đuối. Bất chấp đạn pháo cùng súng máy bắn về phía mình người dân Hà Lan vẫn chạy ra cứu giúp những lính Ba Lan xấu số. Trong đó có cả Cora Baltussen, thành viên hội chữ thập đỏ.

Cuộc đổ bộ, tập trung trong khu vực thả dù rộng chưa đầy 2 dặm phía nam Driel, đã khiến dân thị trấn rất đỗi ngạc nhiên. Ko có lính dù tiền sát đi trước còn dân Hà Lan dưới đất thì chẳng hề biết gì về kế hoạch này. Cưỡi trên chiếc xe đạp có lốp làm bằng gỗ, Cora Baltussenchạy xe trên con đường đê nhỏ hẹp phóng về hướng nam đến 1 nơi gọi là Honingsveld, nơi có vẻ có nhiều lính dù nhảy xuống. Rất đỗi kinh hãi, cô nghĩ chẳng ai có thể sống sót nổi trước lưới lửa quân Đức và chắc mẩm số thương vong sẽ là rất cao. Cora rất ngạc nhiên khi thấy những người lính tập hợp thành đội ngũ dưới làn đạn rồi theo từng nhóm chạy đến nấp dưới chân đê. Thật ko thể tin là họ còn đông đến thế.Sau đó cô nghĩ bụng "Vậy là cuối cùngmấy chàng Tommies cũng đã đến Driel."

Dù ko nói tiếng Anh nhiều năm rồi nhưng Cora vẫn là người duy nhất ở Driel biết thứ ngôn ngữ này. Ngoài việc hoạt động với chức trách y tá do hội chữ thập đỏ đào tạo, Cora còn hy vọng sẽ làm thêm cả công việc thông dịch viên nữa. Trong khi phóng về phía trước cô thấy mấy người lính cứ xua tay rối rít chắc hẳn để :"bảo tôi tránh khỏi con đường vì sợ tôi bị dính đạn." Nhưng Cora đang "Hăng hái đến ngốc ngếch" nên ko nhận thấy những viên đạn đang bay viu víu quanh mình. Gặp nhóm lính đầu tiên cô la lớn "Hello Tommies" rồi bỗng rất bối rối khi nghe tiếng họ trả lời. Họ nói thứ ngôn ngữ khác- ko phải là tiếng Anh. Cô cố lắng nghe hồi lâu. Có 1 số người Ba Lan bị ép đi lính cho Đức đã từng đóng tại Driel mấy năm trước nên cô nhận ra ngay đó là tiếng Ba Lan. Điều này càng khiến cố cảm thấy bối rối.

Sau nhiều năm sống dưới ách kẻ thù, nên Cora rất cảnh giác. Có mấy lính Anh cùng phi hành đoàn 1 chiếc máy bay rơi đang trốn trong nhà máy Baltussen lúc này. Hình như đám Ba Lan cũngđang ngờ vực, họ nhìn cô với vẻ rất dè dặt. Bọn họ ko nói được tiếng Hà Lan, nhưng cũng có mấy người lính đánh bạo hỏi mấy câu thăm dò bằng thứ tiếng Anh và tiếng Đức rất tệ. Họ hỏi cô từ đâu đến? Ở Driel có bao nhiêu người? Trong thị trấn có lính Đức ko? trang trại Baarskamp ở đâu? Việc họ hỏi đến Baarskamp kiến Cora trả lời bằng hàng tràng tiếng Anh lẫn tiếng Đức. Trang trại này nằm ngay phía đông thị trấn, cô đã nghe anh mình là Josephus, 1 thành viên kháng chiến, nói chủ của nó là 1 tên phát xít Hà Lan. Cô biết quanh Baarskamp có 1 số lính Đức trong các khẩu đội pháo phòng không có công sự xây bằng gạch đóng dọc trên đường đê sông Rhine. Cô nài nỉ "Đừng đi tới đó, bọn Đức đầy ở đó đấy." Lính Ba Lan có vẻ nghi ngại. " Họ ko biết liệu tôi có đáng tin không?" Cora nhớ lại: "Tôi chẳng biết làm gì cả nhưng rất sợ những người lính cứ đi đến Baarskamp rồi bị sụp bẫy ở đó." Trong số quân nhân đứng quanh đó có cả tướng Sosabowski.Cora nhớ lại: "Ông ta chẳng có dấu hiệu gì đặc biệt và trông cũng giống y như mấy người khác. Mãi hôm sau tôi mới biết cái ông nhỏ con, rắn rỏi ấy là ông tướng."
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #227 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2015, 08:59:08 am »

Cô còn nhớ Sosabowski lúc đó vẫn bình tĩnh gặm 1 quả táo. Ông có vẻ rất quan tâm đến thông tin về trang trại Baarskamp của cô; hoàn toàn ngẫu nhiên nó lại được chọn là điểm tập kết chính của lữ đoàn. Cho dù Cora nghĩ ko ai trong nhóm lính kia tin lời mình, các sĩ quan của Sosabowski cũng cho lính liên lạc đi báo tin cho các toán quân khác về tình hình ở Baarskamp. Người đàn ông nhỏ con rắn chắc đang ăn táo lúc này mới hỏi: "Bến phà ở chỗ nào?"
1 sĩ quan giở bản đồ ra, Cora chỉ vị trí của nó rồi thông báo: "Nhưng, nó ko hoạt động nữa." Dân Driel từ hôm thứ 4 đã ko thấy người lái phà đâu cả. Họ nghe Pieter bảo là dây cáp bị đứt và phà đã bị phá hủy. Sosabowski choáng người khi nghe tin này. Khi đổ bộ, ông đã điều 1 toán thám sát đi tìm vị trí cái phà. Giờ thì điều mà ông sợ đã trở thành hiện thực. Ông nhớ lại "Tuy vẫn đợi toán thám sát về báo, nhưng thông tin của cô gái trẻ này có vẻ chính xác. Tôi cảm ơn cô rất nhiều."*

*Chú thích: 1 số ghi chép khác nói Cora là thành viên của 'thế giới ngầm'(tức phe kháng chiến.ND) được gửi đến để báo cho Sosabowski biết phà đang nằm trong tay quân Đức. Cora nói "sự thật ko thể thêm bớt. Tôi chưa bao giờ là thành viên phe kháng chiến cả, mặc dù các anh của tôi đều tham gia. Người Anh ko tin tưởng phe kháng chiến nên chắc chắn chúng tôi ở Driel chẳng hề biết gì cả cho tới tận lúc quân Ba Lan nhảy xuống đầu."

Một nhiệm vụ nặng nề đang nằm trước mặt. Muốn nhanh chóng tới cứu những người lính đang bị vây của Urquhart, Sosabowski sẽ phải đưa lực lượng mình vượt qua đoạn sông Rhine rộng 400m bằng thuyền hoặc bè trong đêm tối. Ông chẳng biết liệu công binh của Urquhart có tìm được thuyền ko hay nơi nào có thể kiếm được chúng. Ông biết việc các điện đài viên của mình ko thể bắt liên lạc được với sở chỉ huy sư đoàn 1 Không vận của Anh. Cũng chẳng biết gì về kế hoạch mới có thể đã được đề ra. Lúc này, trong khi Cora cùng nhóm của mình đi cứu chữa thương binh thì Sosabowski quan sát lính dưới quyền vận động dưới màn khói bom đánh chiếm những vị trí trong khu vực, địch chống cự rất yếu ớt. Cho đến nay thì sự chống trả chủ yếu mà lữ đoàn phải đối mặt vẫn chỉ là đạn pháo và cối. Vẫn chưa thấy xe tăng địch xuất hiện.Mặt đê quai lấn biển có vẻ quá mềm đối với xe tăng. Vừa bối rối vừa bực bội, Sosabowski đặt sở chỉ huy trong 1 nhà trại chờ tin của Urquhart. Ông còn buồn hơn khi biết lữ đoàn 1500 quân của mình lại có 500 lính ko thể đến được. Thời tiết xấu khiến cho số máy bay chở gần như toàn bộ 1 tiểu đoàn buộc phải qua về căn cứ ở Anh quốc. Số quân còn lại cuả ông lại phải trả 1 cái giá quá đắt đỏ vì tổn thất: Dù chưa biết con số chính xác, nhưng đến đêm thì mới gom được 750 quân, trong đó có hàng chục người bị thương.

Đến 9 giờ tối mới có tin của Urquhart. Ko thể bắt liên lạc với Sosabowski bằng điện đài. Đại úy Zwolanski, sĩ quan liên lạc của Ba Lan trong sở chỉ huy của Urquhart đành bơi qua sông Rhine. Sosabowski nhớ lại: "Tôi đang nghiên cứu bản đồ thì bất ngờ anh chàng phi thường đó, ướt nhẹp, phủ đầy bùn đất mặc quần sọoc mò tới."

Zwolanski nói cho ông tướng biết Uruquhart: "muốn ta vượt sông trong đêm và đã có sẵn bè để chở." Sosabowski lập tức lệnh cho 1 số lính ra bờ sông đợi sẵn. Họ chờ gần hết đêm mà bè vẫn chưa thấy tới. Sosabowski kể: "Đến 3g sáng thì tôi biết kế hoạch này, vì lý do nào đó, đã thất bại. Tôi đành kéo quân về lập chu vi phòng thủ." Ông chờ đợi sáng ra "bộ binh Đức sẽ tiến công với hỏa lực của trọng pháo ". Mọi cơ hội để vượt sông Rhine "dưới sự che chở của bóng đêm giờ đã tiêu tan."

Trước đó,tại khách sạn Hartenstein bên kia sông, Urquhart đã gửi cho Browning 1 bức điện, nội dung như sau:

(212144). Ko có tin tức gì về các đơn vị của sư đoàn ở Arnhem suốt 24 giờ qua. Số quân còn lại của sư đoàn đang trong 1 chu vi phòng thủ hẹp. Có những trận đột kích cục bộ dưới hỏa lực súng cối và súng máy. Chủ yếu bị thiệt hại là vì pháo tự hành. Chúng tôi bị thương vong nặng. Mọi thứ sắp cạn kiệt. Khẩn thiết mong được cứu viện trong 24 giờ nữa.

Trong sở chỉ huy nhỏ của mình ở Brussels, gần bộ tư lệnh Cụm tập đoàn quân 21 của Montgomery. Hoàng thânBernhard, tổng tư lệnh quân lực Hà Lan ngày càng đau khổ khi theo dõi từng bước tiến quân. Đất nước Hà Lan từng có thể dễ dàng giải phóng hồi đầu tháng 9 giờ đã trở thành bãi chiến trường vĩ đại.Bernhard chẳng đổ lỗi cho ai cả. Cả quân Anh lẫn quân Mỹ đều hy sinh tính mạng để cứu Hà Lan thoát khỏi ách áp bức tàn bạo. Tuy nhiên, Bernhard mau chóng cảm thấy thất vọng với Montgomery cùng bộ tham mưu của ông ta. Vào thứ 6, ngày 22/9, khi Bernhard biết đoàn thiết giáp Cận Vệ đã phải dừng tạiElst còn quân Ba Lan được thả xuống Driel chứ ko phải phía nam cầu Arnhem thì vị Hoàng thân 33 tuổi này đã mất hết bình tĩnh. "Sao lại vậy?" Ông giận dữ gặng hỏi vị tham mưu trưởng của mình là thiếu tướng "Pete" Doorman. "Tại sao người Anh ko chịu nghe chúng ta? Tại sao hả?"

Những cố vấn cao cấp của Hà Lan đã bị loại khỏi kế hoạch Market-Garden cho dù ý kiến của họ rất có giá trị.Bernhard nhớ lại: "Ví dụ nếu chúng tôi kịp biết các vị trí được chọn để thả dù và khoảng cách giữa chúng với cầu Arnhem, thì người của tôi chắc chắn sẽ có ý kiến". Nhưng vì "Montgomery nhiều kinh nghiệm quá đi nên Bernhard cùng ban tham mưu "đã chẳng hỏi han gì và mặc nhiên chấp nhận mọi việc." Tuy nhiên đến khi các vị tướng Hà Lan biết Quân đoàn 30 sẽ chọn trục đường nào để tiến quân thì họ đã rất lo và cố gắng thuyết phục những ai muốn nghe để cảnh báo những hiểm họa khi phải hành tiến trên đường đê. Bernhard nói: "Trong trường Tham Mưu Hà Lan, chúng tôi đã nghiên cứu, thử nghiệm rất kỹ vấn đề này và biết xe tăng sẽ ko thể đi trên đó mà thiếu bộ binh." Các sĩ quan Hà Lan đã nói đi nói lại nhiều lần với bộ tham mưu của Montgomery rằng Market-Garden sẽ chẳng thể diễn ra êm xuôi nếu như xe tăng ko đi kèm với bộ binh. Tướng Doorman còn diễn tả "mình đã đích thân thử nghiệm đi cùng thiết giáp ngay trên đó hồi trước chiến tranh" như thế nào.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #228 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2015, 08:12:52 am »

Theo Bernhard thì người Anh " tỏ ra chẳng ấn tượng gì lắm trước thái độ tiêu cực của chúng tôi" dù rằng mọi người " đều tỏ ra rất lịch sự, người Anh vẫn thích kế hoạch của họ hơn nên ko chịu nghe quan điểm của chúng tôi." Họ thường xuyên có thái độ kiểu: "Đừng lo lắng, cậu bé. Bọn tôi sẽ làm mọi việc ổn cả thôi." Ngay cả đến giờ, Bernhard lưu ý: "mọi việc đều đổ tại thời tiết cả. Ấn tượng chung trong bộ tham mưu của tôi là người Anh luôn coi chúng tôi là lũ ngốc vì dám hồ nghi chiến thuật quân sự của họ." Trừ 1 số sĩ quan cấp cao, Bernhard biết mình :"Chẳng được bộ tham mưu của Montgomery ưa thích gì lắm vì tôi đã nói ra những điều xui xẻo và giờ thì chúng lại trở thành sự thật -  và thông thường người Anh ko thích bị đám nước ngoài chết tiệt vạch ra cái sai của mình." *

* Chú thích: Trung úy Rupert Mahaffey của trung đoàn Cận Vệ Ireland còn nhớ 1 sĩ quan thuộc lữ đoàn công chúa Irene Hà Lan đã tới ăn tối cùng các sĩ quan Cận Vệ ngay sau khi xe tăng của họ bị chặn ở Elst. Viên sĩ quan Hà Lan nhìn quanh bàn rồi nói: "các anh sẽ trượt kỳ thi này mất thôi." Anh giải thích là đây là 1 bài thi mà trường Tham Mưu Hà Lan hay ra để kiểm tra xem xem cách nào đúng nhất nhằm tiến đánh Arnhem từ Nijmegen. Có 2 sự lựa chọn: a) tấn công theo đường sắt; b) tiến chừng 1-2 dặm rồi rẽ trái, thực hành vượt sông Rhine, rồi đi vòng sang bên sườn. Tay sĩ quan kia nói "Ai chọn cách đi thẳng sẽ bị đánh trượt, còn ai rẽ trái vượt sông thì mới được qua."

Từ sở chỉ huy của mình tại Brussels, Bernhardđã ko báo hết tường tận mọi việc về London cho vị nữ hoàng 64 tuổi Wilhelmina cùng chính phủ Hà Lan lưu vong. Bernhardnói: "Họ chẳng thể tác động gì được tới kế hoạch quân sự của người Anh. Sẽ ko hay ho gì nếu nữ hoàng hoặc chính phủ chúng tôi đưa vấn đề này ra với Churchill. Ông ta chẳng bao giờ can thiệp vào 1 chiến dịch quân sự ngoài chiến trường. Danh tiếng của Monty là quá lớn. Chúng tôi chẳng thể làm gì được."

Nữ hoàng Wilhelmina cũng lo lắng dõi theo trận đánh. Cũng giống như con rể của mình, bà mong Hà Lan được giải phóng nhanh chóng. Giờ thì nếu Market-Garden thất bại, thì hoàng gia e rằng " Đức sẽ trả thù nhân dân rất khủng khiếp. Nữ hoàng nghĩ quân Đức, mà bà cự kỳ căm ghét, sẽ ko tha cho họ."

Thoạt đầu, khi chiến dịch đang tiến triển, khi Bernhard vừa báo với Wilhelmina rằng: "chúng con sẽ sớm chiếm lại ruộng đất và mấy lâu đài của hoàng gia" thì vị nữ hoàng đã trả lời: "Đốt hết cả đi." Khi Bernhard choáng người lắp bắp hỏi "Mẹ nói gì ạ?" thì nghe Wilhelmina bảo: "Ta sẽ ko bao giờ đặt chân vào những nơi mà bọn Đức đã làm ô uế. Không bao giờ!"Bernhard cố gắng làm bà nguôi giận "Mẹ à, đừng trầm trọng hóa vấn đề như thế. Dù gì đi nữa chúng đếu rất hữu dụng. Ta có thể dùng thuốc DDT để tẩy uế mà." Nữ hoàng vẫn nhất quyết hạ lệnh: "Đốt hết mấy lâu đài đó đi. Ta sẽ ko bao giờ đặt chân vào đấy nữa." Vị Hoàng thân từ chối: "Nữ hoàng rất giận khi thấy tôi cùng bộ tham mưu vào ở trong cung điện (chứ ko phá hủy nó) mà ko hỏi ý kiến bà trước. Suốt nhiều tuần bà chẳng thèm nói chuyện với tôi trừ những việc quân chính. Giờ thì Bernhard cùng bộ tham mưu chỉ còn biết "chờ đợi và hy vọng. Diễn biến tình hình thật cay đắng và thất vọng. Chưa bao giờ tôi nghĩ sai lầm sẽ phải trả bằng giá cao đến thế." Thậm chí Bernhard còn lo sợ hơn nữa cho số phận đất nước Hà Lan: "Nếu quân Anh bị đẩy lùi khỏi Arnhem, thì người Hà lan sẽ phải đối mặt với 1 mùa đông rất khủng khiếp."
 





2



OOSTERBEEK, ốc đảo yên bình giữ cuộc chiến tranh, giờ đã thành trung tâm của trận đánh. Đã gần 72 tiếng đồng hồ kể từ thứ 4, thị trấntrở thành 1 cái lò sát sinh. Pháo và súng cối đã biến nó thành 1 đống hổ lốn. Quang cảnh thanh bình của thị trấn đã hoàn toàn biến mất. Thay vào đó là cảnh tượng tàn phá tan hoang với hố đạn pháo khắp nơi, chiến hào ngang dọc, gỗ và sắt vụn nằm lổng chổng, tro bụi bay đầy trời. Trên những thân cây cháy đen là những mảnh vải, rèm cửa bay phấp phới 1 cách ma quái. Vỏ đạn rỗng bằng đồng sáng lấp lánh trong các bụi cây cao ngang đầu gối dọc đường đi. Phố xá bị chặn bởi xe cộ cháy, cây đổ, khung cửa, bao cát đồ nội thất và thậm chí bằng cả đàn piano nữa. xác lính nằm cạnh xác dân đặt phía sau mấy ngôi nhà, kho đụn sập dở, bên lề đường và tại những khu vườn tan hoang. Khách sạn,khu nghỉ dưỡng lúc này đều đã biến thành bệnh viện, xung quanh đầy rẫy tranh ảnh, đèn vỡ, đồ nội thất. Những tấm rèm diêm dúa khi xưa giờ rũ xuống, rách nát bẩn thỉu. Gần như nhà nào cũng bị ảnh hưởng, 1 số đã cháy trụi. Thị trấn hầu như chẳng còn cái cửa sổ nào còn nguyên vẹn.

Trong khu vực hoang tàn mà quân Đức gọi là "chảo lửa" này, những người dân Hà Lan - gồm từ 8-10.000 người cả đàn ông, phụ nữ, trẻ nhỏ - đang phải vật lộn để tồn tại. Họ chen chúc trong hầm nhà, chẳng có nước, điện lẫn khí đốt. Và cũng như các binh sĩ trong vùng, hầu hết đầu nhịn đói. Những người dân tự chăn sóc người bị thương của mình lẫn quân Anh đang phòng ngự và đôi khi cả lính Đức đang tấn công nếu bắt gặp. Tại khách sạn Schoonoord, 1 trạm xá lớn tọa lạc ngay trên tuyến đầu, Hendrika van der Vlist, con gái ông chủ đã viết vào nhật ký như sau:

Ko còn sợ nữa, chúng tôi đã vượt qua hết. Những người bị thương đang nằm khắp xung quanh, 1 số đang hấp hối. Chúng tôi sẽ vẫn tiếp tục làm như vậy nếu cần thiết. Trong khoảng thời gian này chúng tôi đã hoàn toàn đoạn tuyệt với cuộc sống trước đây. Chẳng còn đồ đạc cá nhân nữa. Khách sạn đã hoàn toàn hư hỏng. Thậm chí tôi còn chẳng băn khoăn về nó nữa. Làm gì có thời giờ. Nếu cần thì chúng tôi cũng sẵn sàng hy sinh hết.
Logged
ngthi96
Thành viên
*
Bài viết: 498


« Trả lời #229 vào lúc: 01 Tháng Bảy, 2015, 03:13:57 pm »

Bám trụ dọc đường, ngoài đồng, trên mái nhà sau những công sự bên cửa sổ những ngôi nhà đổ, gần nhà thờ ở Oosterbeek Hạ, hay trong công viên Hartenstein tan hoang là nhưng anh lính dù mắt trũng sâu đầy căng thẳng. Âm thanh của trận bắn phá cứ ầm ầm hầu như liên tục khiến cho cả lính lẫn dân hầu như điếc đặc. Mọi người ở Oosterbeek hầu như đã bị sốc đến độ tê liệt. Chẳng còn ý niệm về thời gian, mọi thứ đều mờ mờ ảo ảo. Tuy lính và dân vẫn giúp đỡ an ủi nhau với hy vọng được cứu thoát, nhưng phần lớn đều đã quá kiệt sức nên cũng chẳng thiết gì nữa đến chuyện sống còn. Trung tá R. Payton Reid, chỉ huy tiểu đoàn 7 Biên phòng Scotland nhận xét: "Khổ nhất là thiếu ngủ. Các binh sĩ đã bước đến ngưỡng ko còn có gì quan trọng trên đời hơn là việc được ngủ." Đại úy Benjamin Clegg của tiểu đoàn dù 10 nói: "Tôi thèm ngủ hơn mọi nhọc nhằn khác- gần như đến độ ngủ rồi chết luôn cũng được." Còn trung sĩ Lawrence Goldthorpe, phi công tàu lượn, thì bảo: "Đôi lúc tôi còn ước gì mình bị thương để có thể nằm xuống và nghỉ ngơi chút ít." Nhưng ko ai được phép nghỉ cả.

Trên toàn chu vi phòng thủ hình ngón tay đưa lên - từ khách sạn Dreyeroord màu trắng ( được lính tráng gọi là "Nhà trắng") nằm trên cực bắc tới chỗ cái nhà thờ xây hồi thế kỷ thứ 10 ở Oosterbeek Hạ - các binh sĩ phe tiến công lẫn phòng thủ đều chiến đấu hết sức quyết liệt, khí tài, nhân lực của họ lẫn lộn với nhau. Lính Anh thường xuyên sử dụng súng đạn thu được của quân Đức. Xe tăng Đức bị diệt chính vì mìn của mình. Binh sĩ Đức lái xe jeep Anh và sử dụng hàng tiếp tế của lính dù. Đại tá Harzer, chỉ huy sư đoàn Hohenstaufen nhớ lại "Đó là trận đánh ít tốn kém nhất mà tôi từng tham gia. Mọi thức ăn, thuốc lá và đạn dược đều là của 'chùa' hết." 2 bên giành đi giật lại các vị trí của nhau thường xuyên đến nỗi nhiều lính biết rõ vị trí bên cạnh giờ nào địch chiếm, giờ nào của mình. Với người dân Hà Lan đang nấp trong hầm trú ẩn dọc chu vi phòng thủ thì việc đổi chủ liên tục kiểu này thật đáng sợ.

Jan Voskuil, kỹ sư hóa chất đã đưa toàn bộ gia đình - bố mẹ nuôi, vợ là Bertha cùng con trai Henri lên 9 tuổi - sang nhà bác sĩ Onderwater vì ở đấy có vẻ an toàn hơn với hầm nhà được gia cố bằng bao cát. Trong khi 2 bên đang đánh nhau có 1 tổ diệt tăng Anh chiến đấu trên đầu họ. Lát sau, 1 sĩ quan SS cùng mấy tên lính bật cửa hầm ùa vào tra hỏi xem có lính Anh trốn dưới này ko? Nhóc Henri lúc đó đang chơi 1 cái vỏ đạn của súng đại bác gắn trên cánh máy bay Anh. Tên sĩ quan Đức giơ cái vỏ đạn lên quát lớn: " Nó được bắn ra từ súng của Anh. Tất cả lên hết!" Voskuil sợ mọi người trong hầm sẽ bị xử bắn nên lập tức can thiệp. " Anh nói với tay sĩ quan "Xem đi, đây là vỏ đạn của máy bay Anh. Con tôi nó chỉ nhặt được đem chơi thôi mà." Gã Đức đột ngột ra dấu cho lính lên khỏi hầm, và để yên cho đám người Hà Lan. Một lúc sau cửa hầm lại bật mở. Mọi người thở phào khi thấy lính dù Anh bước xuống nhìn quanh. Voskuil nghĩ: "thật kỳ diệu, với áo ngụy trang, mũ sắt vẫn cắm đầy lá giống như thánh Nicholas vậy, họ chia cho mọi người sô cô la và thuốc lá lấy từ 1 xe tải chờ đồ tiếp tế của Đức."

Binh nhấtAlfred Jones, lính dù tiền sát của thiếu tá Boy Wilson, cũng bị cuốn vào sự rối rắm của trận đánh. Đang chốt trong 1 căn nhà chỗ giao lộ gần khách sạn Schoonoord, thì Jones cùng những người khác trong trung đội thấy 1 xe tham mưu Đức chạy tới gần. Đám lính dù ngơ ngác giương mắt nhìn chiếc xe dừng lại ngay căn nhà bên cạnh. Jones nhớ lại: "Bọn tôi cứ ngây ra nhìn. Đến khi tên lái xe ra mở cửa cho tay sĩ quan vào nhà rồi còn giơ tay chào kiểu Hitler nữa thì tất cả mới bừng tỉnh, toàn trung đội đã nổ súng và diệt được cả đôi."

Một số cuộc chạm trán còn ly kỳ hơn nữa. Trong khi dẫn 1 toán trinh sát chiến đấu từ bụi cây rậm gần ngã tư Dennenkamp trên đầu bắc chu vi phòng thủ chu ra, trung úy Michael Long, thuộc trung đoàn tàu lượn đã đụng đầu ngay với 1 lính Đức còn trẻ. Tên này đang cầm khẩu tiểu liên Schmeisser còn Long thì cầm súng lục. Viên trung úy hô lớn để mọi người tản ra và nổ súng, nhưng tên Đức đã nhanh hơn "chỉ vài phần trăm của giây". Long trúng đạn vào đùi ngã xuống còn thằng Đức "chỉ bị xước tai phải." Long thất kinh khi thấy hắn ta ném 1 quả lựu đạn "rơi xuống cách chỗ tôi chỉ chừng 45cm". Long cuống cuồng đá "củ khoai tây" văng ra xa. Lựu đạn nổ nhưng ko gây thiệt hại gì. Long nhớ lại: "Hắn lục soát khắp người tôi lấy 2 quả lựu đạn rồi ném chúng vào đám cây sau lưng vào đám lính của tôi. Rồi bình tĩnh như không ngồi lên ngực tôi nổ súng." Trong khi khẩu tiểu liên Schmeisser quạt vào mấy bụi cây thì vỏ đạn nóng bỏng rơi qua cổ áo vào trong người Long. Giận quá, Long lấy cùi trỏ thúc vào người tên kia chỉ mấy cái vỏ đạn và la lên: “Sehr warm." (ấm quá! –tiếng Đức). Thằng Đức nói “oh, jar” rồi nhích người cho vỏ đạn rơi xuống đất. Hắn ngừng bắn 1 lát rồi lại lần mò khắp người Long. Thấy hắn định vứt túi cứu thương của mình đi, viên trung úy liền chỉ tay vào đùi mình. Tên Đức cũng chỉ vào cái tai mà đạn của Long bắn sượt qua. Hai người lính băng bó cho nhau trong lúc tiếng súng vẫn nổ ầm ầm trong các bụi cây quanh đó. Sau đó Long bị giải về nơi giam tù binh.

Cừ từ từ chậm rãi, chu vi phòng thủ teo tóp dần vì các binh sĩ tử trận, bị thương hoặc bị bắt. Trung sĩ George Baylis, phi công tàu lượn, người đã mang sang Hà Lan đôi giày nhảy vì cho rằng ở đây người ta khoái khiêu vũ bị lính Đức “trục ra” khỏi 1 cái rãnh được ngụy trang trong vườn. Baylis bị bắt đứng dựa vào tường để khám xét và hỏi cung. Cứ mặc kệ, Baylis bình tĩnh lôi gương ra săm soi bộ mặt cáu bẩn râu ria ko cạo của mình rồi hỏi mấy lính Đức “Có ai biết buổi khiêu vũ nào ở thị trấn ko vậy?”.

Những lính dù khác lại thực sự được nghe nhạc nhảy. Loa phóng thanh Đức đang phát 1 bài ca thịnh hành trong Đệ Nhị Thế Chiến, là bài "Tâm trạng" của Glenn Miller. Trong các công sự, chiến hào nhiều binh sĩ hốc hác lặng lẽ lắng nghe. Khi bản nhạc kết thúc thì có 1 giọng tiếng Anh cất lên: “Hỡi các binh sĩ thuộc sư đoàn 1 Không vận, các anh đã bị vây chặt. Đầu hàng đi hay là chết!”.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM