Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 24 Tháng Một, 2020, 06:09:46 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tuổi thơ dữ dội - Phùng Quán  (Đọc 105387 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #150 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:22:49 PM »

 17
Lê Kim, biệt danh là Kim-điệu, đội viên đội Thiếu niên Trinh sát của trung đoàn 101, trong danh sách điệp viên của Sở Mật thám Phòng Nhì Pháp, có mật danh là "M.13". M.13 được bố trí tung lên chiến khu Hoà Mỹ - chiến khu đầu não của kháng chiến Thừa Thiên - với nhiệm vụ đặc biệt là chụp ảnh, đánh cắp bản đồ bố phòng chiến khu: Đó là một trong những nhiệm vụ khẩn cấp nhất của kế hoạch tấn công tiêu diệt chiến khu của giặc. "M.13" trong thời gian hoạt động sẽ được sự hỗ trợ, hợp tác và liên lạc với hai điệp viên khác: "B.15", một cô gái hăm mốt tuổi, chuyên buôn bán hàng lậu quan trọng cho chiến khu, có chân trong tổ chức kinh tài của kháng chiến tỉnh, và "H.21", một người đàn ông trạc ba lăm tuổi trong vai nông dân ở đồng bằng lên chiến khu, tìm mua mây, giang về làm nhà.
Kim-điệu ở chiến khu thấm thoát đã gần được hai tháng. Hắn đã ba lần bắt liên lạc với "B.15", và gửi báo cáo về Sở Phòng Nhì Pháp, tình hình tiến triển của kế hoạch "F.20" (kế hoạch đánh cắp bản đồ bố phòng chiến khu). Hắn cũng nhận được lời khen và chỉ thị của cấp trên, cần phải tiến hành thật gấp kế hoạch "F.20". Cách đây mười ngày hắn nhận được hàng đặc biệt phục vụ kế hoạch, do "B.15" chuyển giao: một máy ảnh tình báo loại hiện đại nhất, súng lục, đạn và tiền. Những thứ này, Kim-điệu đựng trong một túi chất dẻo, và chôn giấu cạnh cái hố tiểu của đội, cách lán chừng trăm mét.
Cái hố xí này các em đào chỉ để vậy, ít khi dùng đến. "Nhất lá me nhì khe nước chảy", cái thú đi vệ sinh ở vùng đồi núi sông suối này được các em tổng kết thành vần vè như vậy. Cây me dại có hoa tím, mọc bạt ngàn trên các ngọn đồi trọn vùng Tiền chiến khu. Lá me dày và mịn như nhung the, loại giấy vệ sinh thiên nhiên tuyệt vời. Còn gì thích thú hơn, ngồi một mình trên đỉnh đồi lộng gió, xung quanh hoa me nở tím ngắt, các cành cây như những cánh tay chìa ra cho bạn những tờ giấy vệ sinh xanh mịn như nhung the! Và cũng thích thú không kém khi ngồi dạng chân "trút bầu tâm sự" giữa hai tảng đả sạch bóng và ẩm ướt, bên dưới là dòng nước trong như lọc loang loáng, rì rào, hai bên là vách núi hoang vắng vang vọng tiếng vượn hót chim kêu…
Kim-điệu đã chọn được chỗ giấu "hàng" vừa kín đáo, vừa thuận tiện, cần lúc nào có thể lấy ngay lúc đó. Đồng thời lại tránh được những cặp mắt tò mò của những người chạm trán bất ngờ.
Cả đội Kim-điệu gờm sợ nhất là Bồng -da-rắn, còn gờm sợ hơn cả đội trưởng. Mỗi lần nó bất ngờ chạm phải cái trán thấp chằn chặn, hai má sần sùi những vết đen như vẩy rắn, cặp mắt húp với tia nhìn chằm chặp của Bồng, không hiểu sao Kim-điệu cứ thấy gai người và lạnh dọc xương sống. Nó có cảm giác tia mắt Bồng cứ dính chặt vào người nó, bám theo từng cừ chỉ, lời nói. Và sẽ đến một lúc nào đó, Bồng sẽ bất ngờ chỉ vào mặt nó, hét tướng lên: "Mi là thằng Việt gian!". Kim-điệu cảm thấy mừng rỡ thật sự là Bồng ít khi có mặt ở chiến khu.
Chiều hôm qua, lúc ngồi ăn cơm, đội trưởng nói với Kim-điệu và Mừng: "Trong khoảng một tuần nữa, cả đội sẽ rút hết về chiến khu. Công việc bám địch nặng nhọc ở đồng bằng sẽ giao lại cho các anh lớn. Anh vừa nhận được chỉ thị của Ban tham mưu trung đoàn sáng nay".
- Rứa bọn em thì làm chi? - Mừng hỏi.
- Các em sẽ thay nhau làm việc tại các đài quan sát của chiến khu. Thì giờ còn lại sẽ tập trung học văn hoá để chuẩn bị đầu năm sau ra khu Bốn vào trường Thiếu sinh quân của Bộ Tư lệnh quân khu Bốn.
Đội trưởng nói thêm:
- Chính uỷ trung đoàn đã quyết định rút anh Thuật ở phòng Chính trị, trước đây đỗ tú tài Tây, về đội dạy văn hoá cho các em. Tuần sau đội mình tha hồ vui!
Tin của đội trưởng cho biết làm Kim vô cùng lo ắng, hoảng sợ bồn chồn. Nếu đội tập trung về đông đủ, công việc của nó sẽ trở nên khó khăn nguy hiểm gấp trăm lần. Nó có thể bị bại lộ bất ngờ trước mấy chục cặp mắt của bọn trẻ thường xuyên nhìn ngó nó… Cách đây nửa tháng, Lê Mãi, một điệp viên lợi hại của ty An ninh, đã bị cơ quan bảo vệ chiến khu theo dõi phát hiện. Lê Mãi bị toà án quân sự tỉnh tuyên án tử hình và xử bắn tại chỗ.
Nỗi nguy hiểm thường trực của nghề gián điệp làm cho Kim-điệu mỗi lần nghĩ đến đều toát mồ hôi hột. Nó tự trấn an: Nhưng tuy vậy tất cả những nguy hiểm ấy vẫn còn xa, còn có thể thoát khỏi nhờ vào tài trí, sự bình tĩnh và gan dạ của mình. Trong khi đó những điều hứa hẹn vô cùng hấp dẫn của Sở Mật thám Phòng Nhì Pháp lại ở ngay trước mắt, coi như gần cầm chắc trong tay. Trước hôm bố trí để nó nhảy lên chiến khu, chính tên quan ba Sô-lê đã gọi nó đến gặp, và nói: "Tên bé con ngu ngốc, cứng đầu Trần Lượm, bạn của em, chúng tôi đã bắn chết trong một vụ hắn mưu tính vượt tù mới gần đây. Còn em là một chú bé thông minh, khôn ngoan, nên em đã sống và sẽ sống hết sức sung sướng trong tương lai. Sau khi em hoàn thành kế hoạch "F. 20", em sẽ được rút khỏi chiến khu, sẽ được chúng tôi thưởng nhiều tiền. Và sau đó chúng tôi sẽ gửi em sang Pháp hoặc sang Mỹ theo học tại một trường tình báo vào loại lớn nhất. Nước Pháp cần đào tạo nhiều nhân tài cho Việt Nam".
Sau hai đêm trằn trọc, thức trắng đêm trên cái sạp nứa trần trụi lạnh lẽo, cạnh thằng Mừng ghẻ lở đầy người, tanh tưởi như cá chết, Kim-điệu suy đi tính lại và quyết định phải hành động thật gấp trước ngày cả đội về tập trung. Nhưng còn một điều trở ngại làm cho nó do dự, chưa thể quyết định dứt khoát sẽ hành động vào ngày giờ nào. Nó chưa bắt được liên lạc với điệp viên "H.21". Theo chỉ thị của cấp trên trực tiếp, "H.21" sẽ lên tiếp tay cho nó trong việc chuyển tấm bản đồ chụp ảnh được ra khỏi chiến khu. Theo ám hiệu được quy định từ trước, "H.21", người đàn ông đóng vai nông dân ở đồng bằng tìm lên Hoà Mỹ mua mây giang về dựng lại nhà bị giặc đốt, sẽ mặc áo bà ba vải đà, vai áo bên trái vá một miếng vải đen, một khăn bông cáu bẩn vắt vai phải, quần xắn cao quá gối, ống trái xắn cao hơn ống phải, vai vác cái đòn có treo một cuộn dây mây. Cho đến hôm nay, đã quá mất một ngày thời hạn "H.21" phải có mặt ở chiến khu theo như quy định. Hai hôm nay, ngày nào Kim-điệu cũng thơ thẩn đi ìại trên con đường xuyên qua làng Hoà Mỹ Tiền chiến khu, hong hóng chờ người đàn ông mặc áo đà, vác đòn xóc có treo cuộn dây mây…
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #151 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:23:41 PM »

 18
Bồng-da-rắn cắm cúi mải miết đi trên con đường quanh co, khúc khuỷu từ đồng bằng lên chiến khu. Em đội cái nón lá rách tưa, khoác áo tơi lá cũ, mặc dầu trời không mưa.
Cặp chân trần săn chắc, đen đúa, nổi đầy vảy đen đen như vảy rắn, bê bết bùn đất, bước từng bước ngắn và nhanh. Em đã đi suốt bốn tiếng đồng hồ, chỉ dừng lại ngồi nghỉ hai lần, mỗi lần khoảng mươi phút. Em đang có việc rất gấp, cần lên chiến khu báo cáo. Đêm qua bọn giặc tập trung quân và xe pháo khá đông ở mấy vị trí dọc đường quốc lộ trong địa bàn mà tổ bám địch của em phụ trách. Em là tổ trưởng, hai tổ viên là Võ Trà và Hiền.
Bọn địch mỗi lần tập trung quân và xe pháo là để chuẩn bị càn quét một vùng nào đó. Nhưng còn quan trọng hơn là chúng có thể chuẩn bị để tấn công chiến khu.
Từ vị trí bám địch lên đến chiến khu phải đi mất hơn một buổi đường. Hiền đòi đi thay em, nhưng em đã đội nón, khoác tơi, tay cầm cây roi tre, nói:
- Hai gót chân mi nứt nẻ như củ sắn mì rứa, mi đi lên thấu côi đó thì mi què mất. Hai đứa bay ở lại nhớ bám sát tụi hắn nghe? Nếu thấy tụi nó còn tiếp tục tập trung thêm quân, xe pháo, thì một đứa ở lại, một đứa lên báo cáo tiếp nghe!
Đi được gẩn hai tiếng đồng hồ, Bồng thấy bụng đói cồn cào.
Từ sáng tới giờ, em chưa có miếng gì vào bụng. Mà em là đứa xấu máu đói, hễ đói là xây xẩm mặt mày. Và ác cái là mỗi lần lên cơn đói, là em ngửi thấy mùi bánh mì nóng, nước miếng cứ tứa ra đầy mồm, nhồ không kịp. Và cơn đói lại càng hânh hạ em khổ sở hơn. Em nổi cục, chửi: "Tổ cha hắn! Biết ri hồi đó mình đừng làm nghề bán bánh mì, mà làm quách nghề cắt cỏ ngựa cho rồi!". Nhưng bây giờ mà hối tiếc về nghề nghiệp thì đã muộn. Em có cảm giác cái mùi bánh mì nóng giòn thơm phức vẫn ngủ ở một xó nào đó trong hai lỗ mũi hếch của em. Và chỉ chờ lúc lên cơn đói là nó thức dậy, hành hạ em cho bõ ghét.
Ngang qua một ruộng khoai lang tốt um, em dừng lại. Ngó trước ngó sau không thấy ai, em liền nhảy đại xuống, dùng hai tay bới trộm một bụi khoai. Em bứt củ phủi sạch đất, nhét đầy hai bọc quần. Vừa phủi đất những củ khoai nâu bóng, em vừa lẩm bẩm nói: "Không được lấy của đồng bào từ cây kim sợi chỉ. Nhưng tui có lấy kim chỉ mô, tui chỉ lấy mấy củ khoai sống ăn cho đỡ đói mà đi cho tới chiến khu thôi. Đồng bào đừng chửi tui mà tội". Rồi em nhe răng cười chữa thẹn với vồng khoai.
Vừa đi em vừa cạp khoai sống, nhai rau ráu. Cơn đói dịu dần, sức lực trở lại, em sải bước nhanh hơn. Còn cách chiến khu chừng vài cây số, em chợt nghe có tiếng gọi ơi ới sau lưng:
- Chú em ơi, chú em! Cho tui hỏi nhờ một chút!
Em quay lại thấy một người đàn ông từ con đường kiệt bên trái đi ra. Người đàn ông đội nón, mặc áo vải đà, quần xắn đến bắp vế, vai vác đòn xóc, một đầu đòn xóc lủng lẳng một cuộn dây mây…
Bồng đứng im lặng, chằm chằm nhìn ngườì đàn ông, trán cau lại.
Người đàn ông sải chân bước tới gần, hỏi giọng có chút nịnh nọt:
- Chớ chú em có biết đường lên Hoà Mỹ không? Chú em chỉ giúp cho tui với. Tui lên đến đây thì bị lạc. Chú em có hút thuốc không? Tui có thuốc lá Phong Lai đây…
- Anh lên đó có việc chi? - Bồng hỏi, mắt không rời khuôn mặt người đàn ông.
- Tui lên mua ít mây về làm lại cái nhà. Nghe nói trên đó lấy được nhiều mây song lắm, mà toàn loại mây thiệt tốt… Rứa chú em đi mô đó?
- Tui đi tìm trâu lạc…
- Chú em có biết đường lên trên đó không?
- Cũng hơi biết biết. - Bồng trả lời lấp lửng.
Tui cũng đã lên trên đó hai lần, nhưng toàn đi đêm, nên không nhờ được đường. Tui gánh đồ tiếp tế cho các eng "trên nớ"?
- Anh ở xã mô dưới đó mà tìm thấu Hoà Mỹ mua mây?
- Tui ở Phong Thạnh… Chú em có biết xã tui không?
- Cũng hơi biết biết…
Bốn con mắt bất ngờ chạm nhau. Và người đàn ông như không chịu nổi tia nhìn chằm chằm của Bồng, phải cụp vội mắt xuống, nhìn tránh chỗ khác. Anh ta móc túi áo, lấy ra hai lá thuốc nâu sẫm, bứt nhỏ, dùng một mảnh lá thuốc quấn thành điếu sâu kèm to bằng ngón cái. Y lại móc túi áo lấy ra hai lá thuốc đưa cho Bồng.
- Chú em hút điếu chơi? Thuốc lá tui cháy đượm mà tàn trắng lắm.
- Tui con nít làm chi biết hút thuốc!
- Rứa mà ở làng tui, con nít còn nhỏ hơn chú, đứa mô cũng hút.
- Tui cũng định đi lên phía Hoà Mỹ tìm trâu lạc. Anh có đi tui chỉ đường giúp…
- Rứa thì may cho tui quá!
Bồng đi trước, người đàn ông theo sau, Bồng cắm cúi bước, bất chợt hỏi, đầu không quay lại:
- Xã Phong Thạnh, anh ở ấp mô rứa?
- Tui ở ấp bốn. Cái ấp gần kề trảng cát đó. Tổ cha ba thằng Tây! Tụi hắn đốt nhà tui ri là lần thứ ba. Mà mây giang dưới tui đắt hơn vàng.
- Anh tên chi rứa hè?
- Tui là Hoành, chú em có dịp về xã tui hỏi Hoành du kích ai cũng biết. Ghé vô tui chơi cho biết nhà.
Bồng cắm cúi, im lặng bước. Đi được một quãng khá xa, Bồng lại hỏi như để cho có chuyện:
- Ở dưới đó anh có biết quán bánh canh mệ Ruồi không?
- Quán bánh canh ở ấp một chớ chi? Sáng ni trước khi lên đây, tui cũng tạt vô mệ làm hai tô. Chà, bánh canh mệ ngon thiệt?…
- Ừm… Cái cầu khỉ bắc ngang qua con hói trước mặt nhà mệ, dạo nó bị gãy, không biết đã làm lại chưa hè?
- Sửa lại rồi. Bắc thêm mấy cây cau chừ dễ đi lắm… Chú em có biết trên Hoà Mỹ nhà bà con mô lấy được nhiều mây tốt không? Chú em chỉ giúp, tui mà mua được, xin biếu chú em vài chục bạc, ăn bánh canh chơi…
- Cũng có biết một hai nhà, rồi tui chỉ giúp eng chớ tiền bạc chi…
Bồng dẫn thẳng người đàn ông đi mua mây vào trạm gác Tiền tiêu chiến khu. Trạm gác có một tổ bốn chiến sĩ. Cả bốn anh Bồng đều quen biết. Lúc Bồng vào ba anh đang ở dưới bếp lúi húi sừa soạn bữa cơm chiểu - nói cho đúng hơn là bữa sắn chiều. Một anh trực ngồi trên cái ghế làm bằng khúc cây sần sùi, gác ngang trên bộ chân ghế cành cây buộc chéo, đóng xuống đất. Khẩu tiểu liên cũ kỹ, gác ngang trên đùi anh. Một tay anh cầm cái nhíp làm bằng vỏ đạn, sờ sờ cằm nhổ râu.
- Nhà mấy anh ni chuyên bán mây, toàn loại tốt, mua bao nhiêu cũng có. - Bồng quay lại nói với người đàn ông đang vác đòn xóc đứng khựng trước cổng trạm gác.
- Chào các eng!
- Chào anh. - Anh lính gác bỏ nhíp vào túi áo, nhìn người đàn ông rồi nhìn Bồng.
Bồng ngoắc tay, gọi:
- Vô đây đã! Vô đây đã!
Người đàn ông ngập ngừng một chút rồi bước vào sân, hai đầu gối run run…
Bồng bỏ nón tơi xuơng đất, bước lại cho dỡ nhẹ đòn xóc trên vai người đàn ông. Em đỡ rất nhanh làm anh ta không kịp giữ lại rồi đem dựng cái đòn xóc ở một góc lán. Em nhìn hai đầu nhọn đòn xóc nói lấp lửng:
- Cái đòn xóc mới toanh mà nhọn đã gớm, chắc đẽo rồi còn đem hui lửa. Khi cần đập lộn, lợi hại không thua chi cây mác lào?
Người đàn ông tự nhiên rùng mình, và để che giấu nỗi lo sợ, anh ta moi trong túi áo ra một cuộn thuốc lá ngọn, mời chào xun xoe:
- Mời eng hút điếu thuốc chơi. Thuốc Phong Lai cháy đượm mà tàn trắng…
Anh lính gác hỏi Bồng:
- Anh ta ở mô lên rứa? Em đưa vô đây có việc chi?
Bồng ngoảnh mặt lại, chỉ vào mặt người đàn ông, trừng mắt nói:
- Thằng cha ni là Việt gian mò lên dò xét chiến khu? Các anh trói lại cho tui rồi giải vô công an chiến khu xét.
- Chú ăn nói chi mà hàm hồ rứa? - Người đàn ông hoảng hốt kêu lên. - Tui là du kích dưới xã Phong Thạnh lên tìm mua mây làm lại cái nhà bị Tây mới đốt. Tui mới mua được một cuộn dưới Đất Đỏ, định hỏi đường lên trên ni tìm mua thêm mấy cuộn nữa…
Bồng bĩu môi, giọng hằm hằm:
- Du kích cứt chi mi! Mi tưởng lừa được tau như lừa con nít à? Mi khai là người xã Phong Thạnh, nhưng hỏi chi cũng nói trật lất! Xã Phong Thạnh làm chi có quán bánh canh mệ Ruồi? Quán mệ Ruồi bên xã Phong Nhiêu tê! Làm chi có cầu khỉ bắc qua trước quán? Tau hỏi lừa mi rứa mà mi dám nói cầu sửa lại rồi lại bắc thêm cây cau dễ đi lắm…
Anh tổ trưởng và hai anh trong tổ đang bóc sắn để luộc phía sau bếp, bỏ dao chạy ra, đứng vây lấy người đàn ông.
Người đàn ông tái mặt lắp bắp nói:
- Tui có cả giấy chứng nhận của Uỷ ban xã cấp đây chớ…
Y móc túi áo trên lấy ra một giấp gấp làm tư, đưa cho anh tổ trưởng. Anh tổ trưởng đọc:
"Giấy chứng nhận - Họ và tên: Nguyễn Văn Hoành - là du kích xã - Ấp Bốn, Xã Phong Thạnh. Uỷ ban hành chánh kháng chiến xã. Chủ tịch - ký thay Phó chủ tịch".
Bên dưới cái dấu Uỷ ban xã, hình chữ nhật, mực đen. Nét chữ con dấu rõ và sắc.
Bồng-da-rắn cũng nghển cổ xem giấy, nhưng xem con dấu đóng bên dưới là chính. Các anh chưa ai có ý kiến gì, Bồng lên tiếng:
- Giấy bạc Cụ Hồ tụi hắn còn làm giả đẹp hơn, huống hồ thứ con dấu ni! Các anh cứ trói hắn lại cho em. Để em vô Xê-ca Một báo cáo với các anh ở ban Quân báo Trung đoàn. Các anh sẽ ra xét thật giả mới được.
Anh tổ trưởng nhìn người đàn ông, đầu khẽ gật gật, rồi nói:
- Anh chịu khó để tui trói lại. Nếu cấp trên xét đúng anh là người đi mua mây thì tụi tui thả ra…
Người đàn ông mặt mày nhăn nhó, giọng kể lể thiệt thà:
- Cái thân tui răng mà khổ ri không biết! Sáng ni vừa ra ngõ vấp luôn con rắn bò qua đường, tui e đi răng cũng gặp chuyện rủi ro, y như rằng! - y vừa nói vừa bứt lá thuốc cuộn hút.
Một anh vô nhà lấy ra sợi dây dừa, trói giật cánh khuỷu người đàn ông, dây trói vòng qua trước ngực. Anh chỉ vào góc lán:
- Anh ngồi tạm vô đó chờ người trong Xê-ca ra xét xử. Thời buổi chiến tranh, mong anh thông cảm.
- Thông với cảm kiểu ni thì cũng chết tui luôn.
Bồng quát:
- Không nói lôi thôi? Ngồi vô xó tê! Các anh phải coi chừng hắn, chứ hắn em chắc là trăm phần trăm Việt gian!
Người đàn ông đành nặng nề bước đến chỗ Bồng chỉ, ngồi xuống dựa chân cột. Anh tổ trưởng nói với Bồng:
Em đi luôn vô Xê-ca Một báo cáo với Ban Quân báo trung đoàn, giúp các anh nghe.
Bồng mang tơi, đội nón nhưng chưa đi vội.
Em đứng nhìn người đàn ông bị trói với nét mặt lầm lì cau có Em bỗng bước lại gần, giật phắt điếu thuốc lá đang bốc khói y ngậm một bên mép, ném ra xa. Rồi không nói không rằng, em bỏ đi.
Trong một khoảnh khắc, cặp mắt người đàn ông lóe lên ánh căm tức rợn như ánh dao trong tay kẻ sát nhân. Nhưng y vội dập tắt ngay, trở lại bộ mặt thật thà, sợ sệt. Y hỏi người ưnh gác:
- Chờ ông nớ làm chức chi mà coi bộ dữ dằn rứa?
- Là Phó Tổng chỉ huy chiến khu đó! Thật vô phước cho anh lại nhè vô ông nớ mà hỏi đường! - Anh lính gác trả lời giọng đùa tưng tửng.
- Rứa mà tui cứ lầm là chú em giữ trâu đi tìm trâu lạc!
- Cứ chi anh lầm? - Anh lính gác vẫn đùa tưng tửng? - Tụi Tây cũng lầm mà cả tụi đây cũng lầm?
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #152 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:24:37 PM »

 Trong câu nói đùa tưng tửng của anh lĩnh gác về Bồng-da- rắn cũng có chứa ít nhiều sự thật. Những thành tích chiến đấu và tính tình ngang bướng của người chiến sĩ thiếu niên này được cả chiến khu biết đến. Họ thường kể lại với nhau và cười ngất. Mới đây nhất là chuyện kiện cáo lôi thôi giữa đại đội trưởng Đặng Đình Đăng và Bồng. Ngày đó, một số cán bộ chỉ huy thích lấy những biệt hiệu nghe kêu choang choang như chuông: Phi Long, Phi Hùng, Phi Hổ… Đại đội trưởng Đặng Đình Đăng, đại đội tám, tiểu đoàn mười sáu, lấy biệt hiệu là Sơn Hùng. Dưới các thư từ, giấy má, công văn gửi đi gửi lại trong chiến khu, Đình Đăng đều ký tên là Sơn Hùng, với nét chữ lằng ngoằng bay bướm. Bồng-da-rắn ghét đại đội trưởng Đăng ra mặt: "Đánh giặc chẳng ra cứt chi, gan như gan thỏ, chỉ được cái to miệng hò hét bắt lính xung phong còn mình thì chạy sau cùng. Chiến lợi phẩm có cái chi tốt thì bớp trước! Mà mặt mũi lúc mô cũng vênh vênh ta đây anh hùng". Bồng bình luận về đại đội trưởng Sơn Hùng như vậy.
- Sơn Hùng! - Bồng thường nhắc cái biệt hiệu ấy với các bạn trong đội bằng giọng khinh khi. - Nghe kêu choang choang như phèng la mấy cha làm xiếc ở chợ Đông Ba!
Một bữa, Bồng nói với Tư-dát:
- Người ta đặt biệt hiệu, tau cũng đặt biệt hiệu chơi! Tau đặt biệt hiệu là Cứt Hùng. Mi văn hay chữ tốt, viết giúp biệt hiệu lên nón cho tau với.
Tư-dát khoái chí, mài đá non, viết hai chữ Cứt Hùng to tướng lên cái nón lá rách của Bồng. Ngày chủ nhật, Bồng đội cái nón đi dạo khắp Tiền chiến khu. Bộ đội, cán bộ từ các Xê-ca ra Tiền chiến khu dạo chơi khá đông. Họ đọc chữ viết trên nón của Bồng, cười hỏi:
- Em viết cái chi trên nón đỏ lòe rứa?
- Biệt hiệu của em đó.
- Cứt Hùng, biệt hiệu chi nghe thúi hoắc?
- Người ta tài giỏi, hùng, nọ, hùng tê, em đánh giặc như cứt thì đặt biệt hiệu là Cứt Hùng chớ răng.
Thế là dọc các quán ăn, người ngồi trong quán đua nhau gọi: "Ê Cứt Hùng vô đây ăn chén chè chơi! Ê, Cứt Hùng, vô đây anh đãi mấy cái bánh bột lọc!".
Họ gọi, họ cười vui như tết, vì họ biết Bồng định xỏ xiên ai.
Cũng như Bồng, nhiều người không ưa đại đội trưởng Đăng.
Bất ngờ đại đội trưởng Đăng từ trong quán đi ra cùng với mấy o bào chế, chạm trán Bồng. Hôm đó Đình Đăng diện ngất: áo quần kaki ga-bạc-đin, lưng thắt xanh-tuya Mỹ, một bên hông đeo xệ khẩu côn mười hai, hông bên kia lúc lắc cây dao găm chiến lợi phẩm. Trong trận Cầu Nhi, Đình Đăng phụ trách thu chiến lợi phẩm. Những thứ sang trọng trên người anh đều kiếm được trong trận đó.
Lúc ngồi trong quán ăn bún bò, nghe gọi ầm ĩ Cứt Hùng, Cứt Hùng, Đình Đăng tự nhiên chột dạ.
Mấy o bào chế đọc hai chữ đỏ choét trên nón Bồng, bụm miệng cười. Sơn Hùng giận tím mặt, chỉ cái nón hỏi Bồng:
- Mi viết cái chi trên đó?
- Dạ biệt hiệu của tui!
Bốp! Bốp! Sơn Hùng vung tay tát Bồng hai tát liền, làm em ngã dúi, mũi chảy máu cam. Vừa tát, Sơn Hùng vừa rít lên:
- Hỗn! Con nít mà hỗn!
Bồng lồm cồm đứng dậy, đưa tay quệt máu mũi, mặt đỏ kè như con kỳ nhông sắp cắn nhau. Bộ đội, cán bộ đi qua, xúm quanh hai người.
- Quyền chi mà anh được đánh tui? - Bồng gân mặt hỏi.
- Con nít mà hỗn, tao còn đánh nữa.
- Tui hỗn cái chi mà anh kêu tui hỗn?
Sơn Hùng chỉ cái nón của Bồng văng bên rệ đường:
Tại sao mày dám viết như thế?
- Biệt hiệu của tui thì tui viết? Anh là đại đội trưởng, nhiều giấy má công văn thì anh viết biệt hiệu vô giấy. Tui là thằng liên lạc, không có giấy, thì tui phải viết lên nón chớ răng?
- Sao mày dám đặt biệt hiệu kiểu đó?
- Anh lấy quyền chi mà cấm tui đặt biệt hiệu kiểu nọ kiểu tê? Tui đánh giặc như cứt thì tui đặt biệt hiệu Cứt Hùng, đó là quyền của tui?
Bồng cúỉ lượm cái nón, nói:
- Anh đừng cậy lớn ăn hiếp con nít? Tui sẽ vô kiện với Chính uỷ trung đoàn.
Em xăm xăm đi thẳng vô Xê-ca Một, gặp chính uỷ Trần Quý Hai. Chính uỷ nghe em trình bày đầu đuôi sự việc, phải cố lắm mới nhịn được cười. Chính ông cũng ghét cái mốt đặt những biệt hiệu huênh hoang của một số cán bộ cấp dưới.
Trong thâm tâm ông đồng ý với chú bé liên lạc, nhưng vẫn nghiêm nghị phê bình chú không nên chọc tức người lớn. Sau đó, ông cho gọi đại đội trưởng Đăng vào trung đoàn bộ và xạc cho anh một trận nên thân về tội hành hung chiến sĩ. Cuối cùng ông nhẹ nhàng nói: "Đồng chí là một cán bộ chỉ huy, lại là đảng viên. Đồng chí phải hết sức giữ mình, tránh những hành động quá lố, làm trò cười cho quần chúng".
Đại đội trưởng bị xạc, cay hơn ăn ớt. Nhưng sau hôm đó, dưới các công văn giấy tờ, anh đã trở lại với cái tên cúng cơm Đặng Đình Đăng.
Chuyện đó đã tức cười nhưng chưa tức cười bằng chuyện này:
Chính trị viên tiểu đoàn mười tám Hoàng Lý, trước Cách mạng đỗ bằng tú tài toàn phần. Anh tham gia cách mạng và làm cán bộ chính trị, nhìn anh cách cây số cũng đoán biết là thành phần trí thức. Người anh cao, gầy, tay chân mảnh khảnh, đeo kính cận, tóc để dài chải ốp vào hai bên đầu. Dáng anh đi hơi gù gù, súng lục đeo thõng bên hông, tưởng chừng như khẩu súng quá nặng làm cho anh phải gù lưng xuống mới đeo nổi.
Một lần, anh vô quán mệ Sanh ăn bánh bèo. Mệ Sanh người Hoàng phái, trước mở quán bánh bèo gần cầu Gia Hội.
Mệ theo kháng chiến, chạy lên chiến khu lại mở quán bánh bèo. Bữa đó, anh Lý ăn bốn đĩa liền, mỗi đĩa mười chiếc. Đĩa cuối anh đã no tức bụng, ăn hết có hai chiếc. Ăn không hết mà bỏ thì hơi tiếc. Anh nhìn ra đường và trông thấy Bồng đi ngang qua. Anh ngoắc tay gọi em vào.
- Đãi chú mấy cái bánh bèo. - Anh chỉ đĩa bánh bèo ăn thừa.
Bồng đưa mắt nhìn đĩa bánh bèo, nhìn bát nước chấm chấm dở, vụn tôm cháy lợn cợn đáy bát. Lưỡng lự một chút, em ngồi xuống, ăn ba cái bánh bèo còn lại trong đĩa. Mỗi cái em dùng đũa gấp làm đôi, không chấm nước chấm, bỏ luôn vô miệng nuốt ực như không phải bánh bêo mà thuốc ký ninh. Mệ Sanh nhìn Bồng ăn, kêu lên:
- Chớ cháu ăn uống kiểu chi mà lạ rứa? Phải ăn từ từ, chấm nước chấm mới thấy ngon. Ai lại đi nuốt lôống như nuốt hột thị?
Bồng miệng cười mà mặt không cười:
- Dạ… cháu ăn kiểu của cháu mệ ạ.
Ăn xong, Bồng chào mệ, chào chính trị viên, lặng lẽ bước ra khỏi quán.
Mệ Sanh tinh ý, nhận thấy thái độ của chú bé liên lạc coi bộ khác khác. Anh Lý có lẽ vì cận thị nặng nên không thấy gì. Vả lại anh còn bận quay sang nói chuyện với một anh bên Uỷ ban tỉnh vừa bước vào quán.
Sau hôm đó, cả đội thấy Bồng ky cóp để dành tiền. Trước nay em là đứa bạn hào phóng, hoang tàng, có đồng nào em rủ bạn tiêu sạch đồng ấy. Bởi vậy, thấy em ky cóp từng đồng từng hào bỏ vào cái ống tre, giấu dưới đầu nằm, các bạn đều lấy làm lạ. Cả năm đó, các bạn không thấy Bồng mua lấy cái kẹo, thậm chí cả sắn luộc. Tư-dát hỏi trêu Bồng:
- Mi định để dành tiền cười vợ chắc?
Bồng trả lời:
- Chưa chừng mà thiệt cũng nên.
- Mi định cưới ai rứa?
- Cưới ông Bụng.
Ông Bụng chính là ông già đã đưa đường cho đội từ chiến khu Trò lên chiến khu Hoà Mỹ. Bồng nhận ông Bụng làm cha nuôi cả đội đều biết. Ông làm nghề đốt than gánh về bán ở đồng bằng. Ông có túp lều ở gần kề chân núi, cạnh con đường đi vào Xê-ca Một.
Một hôm, vào ngày chủ nhật, Bồng đập ống tiền. Em đếm tiền, lẩm nhẩm tính toán, rồi hốt tất cả cho vào bọc. Em đi dạo qua các quán hàng ăn. Dọc đường em gặp chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Lý.
- Anh ạ!
- Chú mình đi đâu đấy?
- Dạ em định vô tiểu đoàn bộ tìm anh, may gặp anh ở đây… Có công văn của trung đoàn à?
- Dạ không… Anh với em vô quán kéo ghế đi.
Chính trị viên tưởng Bồng vòi anh cho ăn quà, vỗ vỗ túi nói:
- Tiếc quá, bữa ni anh bó xu?…
- Dạ em mời anh mà…
- Mời anh? Hách nhỉ?
Bồng đưa anh Lý vào quán mệ Sanh.
- Mệ ơi, mệ chày cho con chục đĩa bánh bèo. Mệ chày cho ngon vô, cho nhiều tôm cháy, tóp mỡ, rồi tính mắc hơn cũng được. Con mời chỉ huy con mà mệ!
Chính trị viên trợn tròn mắt sau cặp kính cận:
- Chục đĩa, làm chi nhiều thế? Liệu chú mình có đủ tiền trả không đó?
- Dạ đủ chớ. Ăn xong hai anh em mình đi uống cà phê sữa chơi hí.
Chính trị viên đang vui, ăn rất thiệt tình. Hai anh em ăn bay cả chục đĩa bánh bèo.
- Mệ tính tiền cho con đi mệ.
Bồng dốc tất cả số tiền trong túi ra bàn, đủ cả tiền đồng, tiền hào, tiền xu… Bồng đếm tiền trả, còn thừa lại mấy đồng.
- Chứ chú mình lấy tiền đâu ra mà lổn nhổn đủ loại thế? - chính trị viên vừa xỉa răng vừa hỏi.
- Dạ em bỏ ống gần một năm ni…
- Bỏ ống cả năm đem tiêu hoang một bữa? Để dành mà mua sắm cái gì có hơn không?
- Dạ em bỏ ống là cốt để mời anh. - Bồng nói giọng tỉnh khô. Em tuy là thằng liên lạc, nhưng đã mời ai là mời đàng hoàng, chứ không mời đồ ăn dư như anh mời em kỳ năm ngoái.
Chính trị viên điếng người. Lúc bấy giờ anh mới sực nhớ đến đĩa bánh bèo còn thừa, mời Bồng dạo nọ. Mặt chính trị viên tái rồi đỏ. Anh phải hết sức mới giữ nổi bình tĩnh. Anh nhìn Bồng qua cặp kính cận, hỏi gần như thì thầm:
- Nhưng tại sao lúc đó em lại ăn?
- Dạ, em không ăn sợ anh ngượng…
Có thể nói chuyện Bồng-da-rắn đãi chính trị viên tiểu đoàn Hoàng Lý làm chấn động cả chiến khu.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #153 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:24:59 PM »

 Tôi là bạn chiến đấu của Bồng từ những năm thơ ấu. Tôi biết "cả một đờỉ" Bồng, bạn ấy chỉ phục có một người là Lê Thuyết, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 227, và sau này là Trung đoàn trưởng trung đoàn 101, lúc đó anh vừa tròn hai mươi bảy tuổi. Bồng thường nói với chúng tôi về anh Lê Thuyết: "Chăc mạ anh phải ăn gang, ăn sắt mà đẻ ra anh thì anh mới gan dạ được đến như rứa".
Với nhiều người, "cả một đời", có nghĩa là bốn mươi, năm mươi, bảy mươi thậm chí trăm tuổi. Nhưng với Bồng "cả một đời" chỉ có mười sáu tuổi. Bồng đã hy sinh lẫm liệt cho Tổ quốc lúc vừa tròn mười sáu tuổi. Nhưng đó là một câu chuyện khác, và sẽ được kể lại trong một cuốn sách khác. Còn bây giờ tôi phải kể tiếp chuyện đang kể dở.
19
Bồng bước vào lán, chưa kịp bỏ tơi nón, đã nói với Mừng và Kim:
- Có thằng Việt gian xớ rớ định mò lên dò la chiến khu, tao lừa dẫn vô trạm gác, trói luôn.
Mừng và Kim đang lúi húi bên bếp nấu cơm chiều, nghe vậy bỏ bếp chạy lên. Mừng với vẻ mặt hớn hở của con nít sắp được nghe kể chuyện đời xưa, tíu ưt hỏi:
Đầu đuôi răng mà anh bắt được, anh kể cho nghe với…
Bồng sôi nổi kể với hai bạn chuyện người đàn ông vác đòn xóc Mừng miệng há hốc nghe chuyện. Em ngạc nhiên hỏi:
- Nhưng làm răng anh vừa ngó thấy hẳn anh đã biết ngay hắn là Việt gian?
- Tau cần chi ngó, chỉ ngửi mùi tau cũng biết?
- Tài hè… Rứa mùi Việt gian như răng?
- Như mùi cứt!
Mừng tít mắt cười, hỏi:
- Rứa Vệ Quốc Đoàn mình có mùi không?
- Răng lại không có.
- Mùi Vệ Quốc Đoàn thì như răng?
- Mùi áo quần rách rưới cả năm mặc độc một bộ mùi ghẻ, mùi rận, mùi sốt rét, mùi sắn nước ruốc với rau tàu bay… mùi… mùi yêu nước, ghét Tây, ghét Việt gian! Như thằng Quỳnh đó, hắn nằm dưới đất đen, nhưng cứ đi qua mộ hắn là tau ngửi thấy mùi Vệ Quốc Đoàn xông lên, chảy cả nước mắt?
Khi nghe Bồng tả lại dáng dấp, cách ăn mặc, cái đòn còn vác trên vai có treo cuộn dây mây, của người đàn ông bị bắt, Kim giật bắn người. Hắn thầm kêu: "Thôi chết rồi, có lẽ là H.21". Để giấu nỗi hoảng sợ, Kim vờ lúi húi chất thêm củi vào bếp, nghĩ bụng: "Nếu đúng là H.21 thì mình làm răng đây? Chừ làm cách răng để biết được thằng cha ấy có đúng là H.21… Nếu chạy ra coi, thằng Bồng có thể sinh nghi…".
May lúc đó, Mừng hăm hở nói:
- Tui phải chạy ra coi thằng Việt gian nớ mới được. Tui chưa được thấy mặt mũi thằng Việt gian khi mô! Tui phải bắt chước anh ngửi coi mùi Việt gian như răng.
- Mặt mũi Việt gian thì cũng như mi với tau, - Bồng quẳng tơi nón xuống sạp nứa nói. - Khác chi? Có khác là mặt mày tụi chó nớ béo tốt. phương phi, không có ghẻ ruồi, da không vàng bủng, không xanh lét như anh em mình.
- Anh Kim, ta chạy ra coi thằng Việt gian chơi hí? - Mừng quay sang nói với Bồng. - Anh ở nhà nấu cơm giúp nghe. Bữa ni có canh rau tàu bay, môn thục nấu ruốc. Anh phải hấp hết cả rá sắn tụi tui vừa bóc vỏ, mới đủ ăn đó.
- Đội trưởng mô rồi?
- Anh vô Xê-ca Bốn có việc, phải gần tối anh mới về.
Tuy suýt soát tuổi nhau, nhưng Bồng bao giờ cũng đối xử với Mừng như đứa em út. Em thường nói với các bạn về Mừng: "Hắn dại quá đi! Thấy cái chi lạ cũng đòi coi, ai nói chi cũng tin. Người ta nói chơi hắn cũng cứ tưởng nói thật. Lừa hắn còn dễ hơn lừa con nít lên ba?."
Kim giả bộ ngại ngùng:
- Đây ra đó xa bất chết, chạy đi chạy về bở cả hơi tai.
Mừng cứ nằn nì chèo quéo:
- Xa chi, chạy ù cái là đến. Đi, đi coi cho vui đi anh?
Kim tỏ vẻ miễn cưỡng, theo Mừng chạy ra đường.
Hai đứa bước vô trạm gác. Anh lính gác đeo khẩu tiểu liên tuyn, hỏi:
- Hai chú đi mô đó? Chắc lại có lệnh lạc chi của trung đoàn?
- Tụi tui ra coi mặt thằng Việt gian.
Việt gian coi làm chi cho nhớp mắt? - anh cười - Việt ngay đây! - Anh chỉ vào ngực mình nói - Các chú coi có hơn không?
- Coi Việt ngay thì tui coi tui còn rồi! - Mừng cười, nói - Tề, tề Việt gian ngồi chách bách đó tề!
Mừng giật giật tay Kim, chỉ người đàn ông bị trói đang ngồi tựa lưng vào cột lán.
Mừng bước đến sát trước mặt người đàn ông, mắt ngó hau háu, mũi hít hít, thắc mắc tự hỏi to thành tiếng:
- Răng không ngửi thấy mùi chi cả hè?
Kim vừa ngó thấy người đàn ông, lập tức nhận ra ngay "H.21". Tất cả các ám hiệu đều đúng như quy định. Nó run rẩy vì hoảng sợ và thất vọng. Ý nghĩ đầu tiên ập đến trong óc nó: sáng mai chắc "H.21" sẽ bị công an chiến khu tra hỏi. Hắn sẽ khai ra mọi chuyện, thế là rồi đời? Mình có thể bị xử bắn, ít ra cũng phải vô tù, bị giam giữ chưa biết đến khi mô. Tiền bạc, chuyến đi du học nước ngoài mà quan ba Sô-lê vừa hứa hẹn, phút chốc tan thành mây khói…
Người đàn ông ngồi ở góc lán cũng nhìn Kim chằm chằm, và khẽ nháy mắt ra hiệu. "H.21" cũng đã nhận ra đồng bọn, vì trước khi lên chiến khu, y được Sở mật thám cho xem kỹ ảnh của Kim. Kim lo sợ anh lính giặc nhận ra cái nháy mắt của "H.21", liền vờ quay lại hỏi chuyện anh:
- Răng chưa giải hắn vô trong tê mà còn trói hắn ở đây, anh?
- Trong tê vừa cho liên lạc ra báo là cứ giam tạm anh ta ở đây sáng sớm mai sẽ có người ra hỏi cung.
- Có chắc hắn là Việt gian không anh?
- Cũng không biết nữa. Phải chờ sáng mai mới rõ trắng đen. Anh lính gác chép miệng nói tiếp - Cũng tại số anh ta đen đủi lại nhè đúng cái ông thiên lôi Bồng của đội các chú mà hỏi đường nên mới ra nông nỗi ni. Lỡ không phải "Vê-giê" mà chịu trói ngồi cả đêm rứa, nghĩ cũng cực!
Người đàn ông nghe lỏm chuyện, nói giọng rầu rĩ:
- Oan ức tui quá các em ơi! Các em thả cho tui về với vợ con chớ không thì đêm ni vợ con tui khóc hết nước mắt!
Anh tổ trưởng gác tên là Ngưu, đã đứng tuổi, trước Cách mạng làm nghề kéo xe kéo. Anh từ sau lán bước ra, nói:
- Anh ráng chờ đến sáng mai, họ ra xét hỏi, nếu đúng anh là người ngay thì họ thả cho về thôi. Thời buổi kháng chiến, mỗi người gắng chịu cực một chút.
"H.21" nói giọng lễ phép, khúm núm:
- Dạ bẩm eng, tui cũng biết rứa, có dám oán trách chi mô! Chỉ khổ cái là ở nhà vợ dại con thơ, mỏi mắt ngóng tui về. Lúc đi, tui hẹn là chiều nay răng cũng về…
Mặt trời đã lặn khuất sau phía dãy núi xanh mung lung sương khói. Đất trời chiến khu bàng bạc một màu tím hoa sim bầm.
Mừng nói:
- Ta về thôi anh Kim, sắp tối rồi. Tui cứ ngửi mãi thằng cha nớ mà chẳng thấy mùi chi.
Kim sa sầm nét mặt, nói giọng tức tối:
- Thằng nớ nói trạng cóc rứa mà mi cũng đeo queo mà tin!
Mừng liền bênh:
- Anh mới lên chiến khu nên chưa biết mô. Anh Bồng nói cái chi cũng trúng phắp. Cả trung đoàn trưởng cả chính uỷ cũng còn nghe ý kiến anh ấy chứ anh đừng tưởng!
Kim đang rối ruột gan nên chằng buồn cãi lại. Người đàn ông bỗng gọi hai đứa:
- Hai chú chi ơi! Tui thèm thuốc quá, mà không làm răng vấn được Nhờ hai chú lấy thuốc trong bọc tui, vấn giúp cho tui điếu thuốc.
Kim hỏi anh lính gác:
- Hắn xin hút thuốc, anh có cho hút không?
- Chú em vấn giúp cho hắn một điếu cũng được.
Kim bước lại gần, xẵng giọng hỏi:
- Thuốc men mô thì đưa đây. Tui phải về không tối.
- Dạ trong bọc tui, có cả thuốc cả máy lửa trong đó.
Kim cúi xuống móc cuộn thuốc lá trong túi áo hắn. Cặp mắt hắn vụt sáng lóe trong bóng tối nhập nhoạng góc lán. Hắn hỏi, giọng thật thà:
- Trên ni có nhiều người bán mây song không chú?
Kim-điệu rùng mình. Đó là câu mật khẩu quy định.
- Không chú ý nên tôi không được rõ lắm. - Kim đáp lại như máy. Nó bứt nhỏ hai lá thuốc, xé một mảnh lá nguyên làm giấy quấn thành điếu thuốc to cỡ ngón tay cái. Nó móc túi áo bên kia lấy cái bật lửa Tàu bò, bật lửa châm thuốc cho hắn.
Hắn rít một hơi khói, nói như gió thoảng:
- Đặt cái bật lửa xuống đất, cạnh chân.
Kim bỏ xấp thuốc vô túi hắn, và thả nhẹ cái bật lửa xuống đất "H.21" đưa bàn chân đè lên. Kim đứng lên, giọng cáu bẳn:
- Thuốc thiếc, làm người ta mất bao nhiêu thì giờ?
Trên đường trở về đội Mừng hỏi:
- Liệu thằng nớ có phải Việt Gian không anh hè?
- Đã chắc chi!
Đi một quãng, Kim làm như vừa chợt nhớ ra, nói với Mừng:
- Chút nữa về, mi đừng kể chuyện tau vấn thuốc giúp hắn với thằng Bồng nghe? Không thằng nớ lại chửi tao là dại, đi vấn thuốc giúp cho Việt gian!
- Ử lỡ không phải "Vê-giê" mà tối ni phải ngồi cho muỗi đốt cả đêm nghĩ cũng thương anh hí?
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #154 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:25:26 PM »

 20
Đã quá nửa đêm, chiến khu Hoà Mỹ vùi sâu trong bóng đêm. Khói núi dâng lên mỗỉ lúc một thêm dày đặc. Tiếng sông Ô Lâu rì rào, tiếng coọng nước quay kẽo kẹt bất tận, nghe vang, sâu thẳm… tiếng lau lách xạc xào, tiếng những thân tre, lồ ô cọ vào nhau, hoà với tiếng dòng sông nghe như một bè trẩm dìu dặt.
Ở trạm gác tiền tiêu, đống lửa đốt giữa nhà đang lụi dần trong tiếng nổ lép bép, chỉ còn nhấp nháy những đốm than.
Khí núi về đêm càng giá buốt. Anh lính gác ngồi trước cửa lán, khẩu "tuyn" gác ngang đầu gối, ngủ gà ngủ gật.
Tên "H.21" ngồi dựa vào cái cột mà hắn bị trói liền vào đó, đầu gục xuống ngực, vẻ như đang ngủ rất say. Điếu thuốc lá tắt ngấm còn ngậm bên mép. Phía sau bức phên liếp ngăn ngôi lán ra làm hai, anh tổ trưởng và hai chiến si nằm ngủ úp thìa trên sạp nứa trần trụi, đắp hai cái bao tải được khâu liền nhau. Khẩu "mút-cơ-tông" và hai bao đạn anh Ngưu gối trên đầu Hai phiên đổi gác, các anh đều thấy người đàn ông vẫn ngồi nguyên trong tư thế đầu cúi gằm xuống ngực mà ngủ, nên yên tâm không chú ý đến hắn nữa. Một anh còn thương hại hắn lạnh, ném lên người hắn cái bao tải. Hắn vẫn ngồi im không động đậy.
Lúc này bất ngờ hắn từ từ ngóc đầu dậy. Cặp mắt đảo nhanh nhìn ra phía anh lính gác ngồi cửa, lóe ánh hung hiểm.
Hắn nhấc bàn chân trái lên để lộ cái bật lửa, với một động tác khéo léo không ngờ, hắn dùng hai ngón chân bàn chân trái kẹp dựng cái bật lửa lên, dùng ngón chân bàn chân phải mở nắp, và đánh bánh xe bật lửa. Cái bật lửa trông cũ kỹ mà nhạy không ngờ. Ngọn lửa cháy sáng lung lay, lung lay. Hắn cúi gập người châm lửa vào đầu thuốc lá tắt ngấm. Rít mấy hơi cho đầu thuốc cháy đều, hắn thả bật lửa xuống đất. Ngọn lửa tắt. Hắn cúi đầu xuống ngực trở lại tư thế cũ, vờ như vẫn tiếp tục ngủ say. Hắn thận trọng châm đầu thuốc lá vào sợi dây dừa trói vòng qua ngực.
Ở Huế ngày trước các quán bán thuốc lá Cẩm Lệ, thường treo sợi dây dừa một đầu có lửa để khách hàng châm thuốc hút. Dây dừa có đặc tính nhạy cháy và ngùn lửa như nùn rơm.
Sợi dây dừa trói tên "H.21" khá to, hắn châm khoảng mười hơi thuốc sợi dây mới bén lửa, ngún cháy. Và khoảng ba phút sau, sợi dây dừa đứt. Hắn đã rời khỏi cây cột trói hắn vào đó. Điếu thuốc trên môi hắn lúc này chỉ còn dài khoảng hai đốt ngón tay. Hắn gắng hết sức nghiêng người châm đầu thuốc vào dây trói hai khuỷu tay. Hắn phải rít điếu thuốc cháy sát đến tận môi, sợi dây trói mới bén lửa. Hắn nhả vội điếu thuốc xuống đất, thổi nhè nhẹ vào chỗ lửa ngùn cháy. Năm phút sau hắn đã tự cởi trói hoàn toàn. Người nông dân ngờ nghệch đi mua dây mây, hiện nguyên hình tên biệt kích có hạng.
Trước cừa lán, anh lính gác thức ngủ nhiều đã thấm mệt và quá buồn ngủ. "H.21" vẫn ngồi khẽ cử động xoa bóp hai cánh tay cho bớt tê dại. Hắn hất cái bao tải trên vai xuống đất, đứng bật ngay dậy. Hắn nhảy chồm tới phía anh lính gác nhanh như thú dữ vồ mồi, giật phắt khẩu tiểu liên anh gác ngang trên đùi. Anh lính gác bị tước súng bất thình lình, vụt tỉnh cơn buồn ngủ, chới với, hốt hoảng, chồm dậy để giật khẩu súng lại. Nhưng hắn đã kịp thời nhảy lùi lại, co chân đạp anh ngã nhào xuống đất. Anh chưa kịp kêu, hắn đã bật chốt an toàn khẩu súng, nổ liền hai phát vào giữa ngực anh. Ba anh lính ngủ sau phên liếp nghe súng nổ, bừng tỉnh, nhảy xuống sạp. Nhưng vừa ló mặt ra ngoài phên liếp, cả ba anh đã hứng cả băng đạn tiểu liên quất ngang mặt.
Hạ thủ xong cả tổ gác trạm tiền tiêu, tên "H.21" xách súng lùi vào bóng tối, vượt qua sông Ô Lâu.
Trời vừa rạng sáng, cả chiến khu Hoà Mỹ đã biết tin bốn chiến sĩ tổ gác trạm tiền tiêu phía Nam Xê-ca bị một tên Việt gian giết hại.
Gian lán chật ních những người. Trung đoàn trưởng, Tham mưu trưởng trung đoàn cũng có mặt. Các anh xem xét hiện trường, nhìn sợi dây trói còn ngùn lửa, cái bật lửa nằm lăn lóc trên mặt đất, phán đoán diễn biến của sự việc.
Có lẽ người tức giận hơn cả trước cảnh tượng này là Bồng-da-rắn. Em báo cáo với các anh đầu đuôi việc em lừa bắt tên Việt gian đội lốt đi mua mây, cả việc em đã giật phắt điếu thuốc tên này đang hút, vứt đi. Em nhìn xác bốn anh lính gác, đau xót, tức tối nói:
- Tui chắc là một trong bốn anh ni đã thương hắn, vẫn thuốc cho hắn hút, hắn mới đốt được dây trói!
Em cúi nhìn những gương mặt bất động đầy máu của các anh lính gác, vừa khóc vừa nói:
- Tui đã dặn đi dặn lại các anh, hắn đúng là Việt gian, phải gác xách cho cẩn thận, rứa mà các anh không tin tui, các anh cứ vấn thuốc cho hắn hút? - Em bất thần gào to như điên dại - Chờ anh mô đã vấn thuốc cho hắn hút? Răng không anh mô nói đi!
Nhưng cả bốn anh lính gác đều câm lặng, mang theo sự bí ẩn xuống mồ.
Trong số những người có mặt lúc đó, có hai người là Mừng và Kim biết điều bí ẩn này. Nhưng Mừng sợ hãi không dám nói, còn Kim ngoái mặt làm bộ đau xót nhưng trống ngực nó đập rộn lên vì mừng. Thế là nguy cơ đe doạ nó không còn nữa!
Mừng đứng úp mặt vào cây cột lán và khóc. Đôi vai con nít gầy guộc trong tấm áo rách rưới của em cứ rung lên từng hồi.
Kim đến kéo tay em đi ra một góc sân, thì thầm với giọng hăm doạ:
- Mi mà nói lộ chuyện ra thì cả tao cả mi sẽ bị trung đoàn xử bắn. Họ không tha mô. Mi nhớ nghe!
Mừng kéo vạt áo lau nước mắt, buồn bã gật đầu.
Trung đoàn trưởng ra lệnh cho mọi người giải tán, trở về đơn vị. Ông nói với tham mưu trưởng:
Việc này anh cần thông báo gấp cho toàn trung đoàn. Các đơn vị phải tổ chức học tập, liên hệ, rút kinh nghiệm. Đây là một bài học vô cùng sâu sắc và đau đớn: với kẻ thù, nếu mất cảnh giác, chúng ta phải trả bằng giá máu?
21
Nhưng rồi đơn vị Thiếu niên Trinh sát chưa kịp tổ chức học tập về ý thức cảnh giác cách mạng như thông báo và chỉ thị của Trung đoàn, em Mừng vì đại dột đã phạm tiếp một lỗi lầm khác, nghiêm trọng không kém, mà em phải trả giá bằng chính cả cuộc đời em.
Sáng hôm đó, Bồng được đội trưởng cử về đồng bằng gọi các tổ trinh sát về gấp chiến khu để học tập và chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.
Đội trưởng cùng với Mừng và Kim dọn dẹp, sửa sang, tổng vệ sinh lán trại để đón đội về. Kim-điệu đang nhổ cỏ quét sân thì nhăn nhó kêu đau bụng. Đội trưởng cho vào lán nằm nghỉ.
Nó nằm co người, tay ôm bụng. Chốc chốc nó lại vò giấy chạy vào hố xí. Mỗi lần đi ngoài nó ngồi khá lâu, lúc trở về vào bước chân lảo đảo, nằm vật xuống sạp nứa, thở dốc, vẻ rất mệt nhọc. Đội trưởng tìm miếng gừng, giã nhỏ hoà nước cho nó uống. Anh nói:
- Nếu không khỏi thì sáng mai anh sẽ đưa em vào bệnh viện.
Đội trưởng và Mừng dọn dẹp gần đến trưa mới xong. Cả hai anh em lấm láp từ đầu đến chân. Hai anh em định ra sông tắm giặt. Đội trưởng nói:
- Hai tay em ghẻ lở loét thế kia thì giặt thế nào được. Cởi áo quần, anh giặt cho một thể. Em ở nhà trông nhà. Anh tắm giặt xong, em sẽ ra tắm sau.
Đội trưởng gom gần chục cái bao tải quân trang của các em, ôm cùng với áo quần của Mừng, đi ra sông Ô Lâu. Hôm đó trời nắng to, anh muốn giặt sạch phơi khô để lúc các em ở đồng bằng lên có cái mà đắp.
Đội trưởng đi được một lúc, Kim chống tay ngồi dậy, làm bộ nhăn nhó nói với Mừng:
- Tau đi ngoài nhiều, chừ thấy đói bụng quá. Mi ra quán o Liền mua giúp cho tau mấy chục đồng xôi chè, đem về đây hai đứa ta cùng ăn… Hay mi thích ngồi ăn luôn ngoài quán thì ăn trước đi, rồi mang về cho tau một ít thôi. Nó móc túi quần sau lấy đưa cho Mừng mấy tờ giấy bạc mười đồng.
Mừng ngần ngừ:
- Nhưng đội trưởng dặn phải ở nhà coi nhà. Sợ bỏ đi, anh về anh la… Hay chờ đội trưởng tắm giặt về rồi tôi đi mua cho.
- Thì tau coi cho cũng được chớ răng? Tau đau nằm nhắm mắt rứa chứ có ngủ được mô.
Nghĩ đến xôi chè, Mừng cũng thấy bụng cồn cào, thèm rệu nước miệng. Em cầm hai cái ca để mua chè đậu đen đặc.
Mừng nói:
- Rứa anh coi giúp cho tui với nghe. Có hai đến hỏi việc chi, anh cứ nói họ ngồi đó chờ, rồi đội trưởng lên. Anh nhớ đừng cho họ tự tiện đi vô buồng của đội trưởng nghe. - Em chỉ về phía cuối lán - trong nớ anh để nhiều giấy tờ tài liệu mật…
Cuối lán, đội trưởng đan phên liếp ngăn ra một khoảng rộng chừng ba bốn mét vuông, làm buồng làm việc. Buồng có cánh cửa ken bằng tre lồ ô chẻ nhỏ. Trong buồng có một sạp nứa hẹp, một cái bàn mặt nứa ghép, một cái ghế làm bằng khúc thân cây. Chân bàn, ghế đều đóng sâu xuống đất kiểu thông dụng trong khắp các lán trại ở chiến khu. Cạnh bàn có khuôn cửa sổ, cánh cửa cũng bằng phên liếp mở đóng theo kiểu chống lên, hạ xuống.
Nghe Mừng dặn dò, Kim cau trán gắt:
- Mi không phải dặn. Tau chẳng dại thua mi mô!
Mừng chạy ra khỏi lán. Quán o Liền bán xôi chè là quán xa nhất, ở cuối dãy hàng quán Tiền chiến khu.
Kim đang nằm ôm bụng, lập tức vùng ngay dậy. Nó chạy ra phía hố xí, rẽ lau lách, chui sâu vào bên trong. Đến bụi lau rậm có đánh dấu bằng một khúc cây mục, nó khom người rúc đầu moi dưới đất lên cái túi vải nhựa bên trong đựng khẩu súng lục kiểu Xanh-tê-chiên, đạn và máy ảnh chuyên dùng của điệp viên. Nó giắt súng vào bên trong bụng áo, máy ảnh đút túi, rồi chạy vụt trở vào lán.
Nó đẩy cánh cửa gian buồng của đội trưởng. Chiếc xà cột da sờn cũ mà đội trưởng vẫn dùng từ ngày còn ở mặt trận Huế, treo lủng lẳng trên con sỏ tre. Cái xà cột này là vật bất ly thân của đội trưởng, đi đâu anh cũng mang theo. Lúc nãy vì phải ôm cả một bao tải, áo quần, nên anh phải để xà cột lại buồng, và dặn Mừng trông nhà. Tất cả những sự việc này đều không lọt khỏi mắt Kim, mặc dầu lúc đó nó đang nằm ôm bụng, nhắm mắt.
Nó đứng lên sạp lấy cái xà cột, mở nắp, ghé mắt lục tìm bên trong và rút ra tấm bản đồ bố phòng chiến khu. Mặt sau tấm bản đồ này có bồi vải mỏng để giữ cho bản đồ khỏi rách. Nó trải rộng tấm bản đồ lên mặt bàn nứa, chống hé cái cừa liếp lên để lấy ánh sáng. Nó rút máy ảnh trong túi quần ra và đưa lên chụp tấm bản đồ bố phòng chiến khu từng khuôn một. Nó phải chụp mười khuôn mới hết tấm bản đồ. Vừa chụp xong khuôn cuối cùng, bỗng có tiếng Mừng gọi phía trước cửa lán:
- Anh Kim mô rồi? Chỉ mua được xôi, chưa có chè - chè chưa chín!
Nó không ngờ Mừng quayvề sớm đến thế! Nó luống cuống hoảng hốt, đặt cái máy ảnh xuống góc bàn, gấp vội tấm bản đồ định nhét trả vào xà cột. Nhưng Mừng đã xô cửa buồng bước vào, tay vẫn lăm lăm cầm gói xôi. Thấy Kim cầm tấm bản đồ đã gấp làm tám, nhưng chỉ thoáng nhìn Mừng biết ngay đó là tấm bản đồ tối mật. Mừng tái mặt, kêu run, hoảng sợ:
- Uỉ chao? Răng anh dám tự tiện lục tấm bản đồ đó của đội trưởng ra coi?
- Tao định coi nhờ đường vô Xê-ca Bảy đi lối nào gần hơn, để lỡ chiều ni nó có phải đi bệnh viện thì đi lấy một mình…
Kim ấp úng chống chế và loay hoay nhét tấm bản đồ vào xà cột, Và treo trảo lên con sỏ tre.
- Cần đi thì tui dắt anh đi, việc chi phải coi trộm bản đồ? Đội trưởng mà biết thì anh giận lắm! - Mừng nói giọng run rẩy, và hai mắt em nước mắt đã rơm rớm. Mừng chợt thấy cái máy ảnh nhỏ xíu như một thứ đồ chơi, để ở góc bàn, đưa tay ra cầm lấy và hỏi:
- Cái chi ri?
Kim hoảng sợ đưa tay chộp lấy cái máy ảnh, nhét vào túi áo bên trái và cài khuy nắp túi áo lại, miệng luống cuống ừ ào:
- Cái hộp đựng tiền của tao…
Mừng đứng sững, mắt đăm đăm nhìn Kim. Kim bỗng ôm bụng nhăn nhó, tay vò vò tờ giấy loại, nói giọng cuống quýt:
- Tao lại buồn đi ca-bi-nê… Mi cứ ăn xôi trước đi, chút nữa tau vô tau ăn… ăn rồi, mi chạy ra quán coi chè đã chín chưa, mua về cho tau ăn với nghe… Vừa nói Kim vừa ôm bụng lách mình bước ra khỏi buồng và chạy về phía hố xí.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #155 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:25:52 PM »

 22


Mừng đặt gói xôi lên sạp nữa, nhìn theo Kim ôm quẩn chạy cuống quýt. Gương mặt em mỗi lúc một trở nên cau có. Cặp mắt trong suốt, thơ ngây của em lần đầu tiên thoáng đục ánh nghi ngờ. Em kéo chéo áo lên miệng, nhai nhai,nghĩ ngợi: "Răng anh ấy lại dám cả gan lục bản đồ tối mật của đội trưởng ra coi trộm hè? Mà điệu bộ anh ấy lúc ngó thấy mình bước vô, coi hốt hoảng và gian gian như răng ấy. Việc ni mình hải báo cáo với đội trưởng mới được, anh ấy có giận không chơi với mình nữa cũng thôi…". Mừng chợt nhìn gói xôi trên sạp, em vụt nghĩ ra một điều nghi ngờ: "Chắc anh ấy lừa mình đi mua xôi, chè, để ở nhà một mình coi trộm bản đồ cho dễ… May mà mình nóng ruột, không chờ chè chín, chạy về sớm… Chớ không thì anh ấy coi kỹ rồi, bỏ vô như cũ, mình làm răng biết được? Mà tấm bản đồ đó chỉ có trung đoàn trưởng với đội trưởng môi có. Mọi lần đi ỉa, đội trưởng cũng mang đeo bên hông…Chắc bữa ni anh phải ôm nhiều đồ đi giặt, đeo theo sợ ướt, nên anh mới treo nó ở nhà, dặn mình phải chú ý coi nhà. Nhà ni thì có cái chi sợ mất mà phải coi? Đội trưởng dặn rứa là có ý dặn mình phải coi tấm bản đồ đó. Rứa mà mình tham ăn miếng xôi, miếng chè, mình đã bỏ nhà mình đi! Mình mà báo cáo thiệt với đội trưởng, chắc anh phải la dữ lắm, chưa chừng anh còn kỷ luật cũng nên. Rồi anh ghét mình, không tin mình nữa…". Nghĩ đến đó, Mừng thấy ngực đau nhói, mũi cay cay muốn khóc. Và em càng thấy giận Kim hơn. "Mình đã giấu đội trưởng chuyện hắn vấn thuốc cho thằng Việt gian hút - trong ý nghĩ Mừng đã chuyển gọi Kim từ anh sang hắn vì quá giận - nhờ rứa thằng Việt gian mới đốt được dây trói cướp súng, bắn chết các anh trạm gác. Việc ni không ai biết, nhưng hai hôm ri đêm mô mình cũng nằm mê thấy chuyện đó… Mình không dám ngó mặt đội trưởng, cứ phải len lén như thằng ăn cắp… Mà hắn đi ỉa chi lâu rứa hè?".
Và ngay lúc đó Mừng bất giác nhớ lại rất rõ việc "Cái hộp đựng tiền" mà thằng Kim hớt hải chộp lấy, đút nhanh vô túi áo. Mình ở với hắn đã lâu mà chưa lần mô thấy hắn bày cái hộp đó ra. Mỗi lần đi ăn hàng, hắn toàn rút tiền trong túi quần ra, rứa mà bữa ni tự nhiên lại có cái hộp đựng tiền? Mà hộp đựng tiền chi lại có con mắt đen đen nằm chính giữa, lấp láy như mắt thằng kẻ cắp?".
Cái hộp đựng tiền có mặt gương bỗng làm Mừng chợt nhớ có lần đội trưởng nói chuyện với cả đội: "Tụi Việt gian, gián điệp, thường dùng một loại máy chụp bóng rất nhỏ, nhỏ bằng cái hộp diêm, để chụp trộm các tài liệu mật của kháng chiến. Các em cần chú ý phát hiện để kịp thời tóm cổ chúng, không cho chúng làm hại kháng chiến". "Hay cái hộp đựng tiền đó là cái máy chụp bóng mà đội trưởng nói?". Nghĩ đến đó, Mừng bất giác toát hết mồ hôi, người em run lên như sắp lên cơn sốt rét vì lo sợ thay cho chiến khu, cho kháng chiến… "Ê thằng Kim là Việt gian, gián điệp đó? Hắn chụp trộm bản đồ bố phòng chiến khu mang về cho tụi Tây!".
Điều em bất chợt phát hiện đó, đối với em thật vô cùng khủng khiếp. Em lao ra phía nhà xí, gọi to:
- Kim! Kim? Kim!
Nhà xí trống không. Em đứng như chôn chân gọi to mấy tiếng nữa:
- Kim! Kim! Ơi Kim!
Chỉ có tiếng lau lách xạc xào đáp lại em.
Trong khoảnh khắc đó, sự dại dột, ngây thơ, ngờ nghệch của chú bé mười ba tuổi vụt biến mất nhượng chỗ cho sự suy luận sáng suốt và trực giác nhạy bén của người chiến sĩ trinh sát bất thình lình đánh hơi thấy kẻ thù và nguy cơ kháng chiến bị chúng rắp tâm làm hại. "Chắc hắn bỏ chạy trốn về với Tây rồi, chứ ỉa đái chi! Hắn giả đò đau bụng! - Em đấm tay vào đầu, đau khổ kêu lên: "Mình ngu quá? Rứa mà cứ ngồi chờ cho hắn đi ỉa xong?".
Mừng vốn rất thông thạo mọi đường ngang ngõ tắt ở chiến khu. Em đoán: "Hắn chạy về với Tây thì phải chạy về phía đồn Sơn Quả là gần nhất. Cầm hèn chi hắn hay hỏi mình, đường mô về Sơn Quả là gần hơn cả. Rứa mà mình dại quá, lại bày cho hắn nữa chớ!". Em lại đấm tay bôm bốp vào đầu. - "Nhưng tau còn biết khối đường đi tắt mà mi chưa biết mô?" - Em nói to lên thành tiếng.
Chạy đến trạm gác tiền tiêu phía Tây nam chiến khu, em hỏi mấy anh lính gác:
- Có thấy Kim ở đội em đi ngang qua đây không?
- Không? Không thấy! Có việc chi rứa? - Anh lính gác trực hỏi.
- Dạ em đi tìm hắn có việc. - Em trả lời rồi chạy biến. Em sợ đứng lại kể chuyện dài dòng, thằng Kim sẽ chạy về thấu đồn mất.
Chắc hắn chạy đường tắt vòng qua sau trạm gác mà có lần mình bày cho hắn, nên các anh không thấy. Ý nghĩ đó lóe ra trong óc em như chớp đạn.
Em chạy thẳng đến cây bứa rừng rất cao mà em đã trèo hái quả nhiều lần. Em thoăn thoắt trèo tuổi lên chót vót ngọn cây, nhìn về phía những dãy đồi cỏ tranh và lau lách xa xa. Em thấy bóng thằng Kim chạy lúp xúp, lúc ẩn lúc hiện giữa bạt ngàn lau lách. Em tụt nhanh gần như thả mình từ ngọn cây xuống đất. Em cắm đầu lao đi với ý nghĩ: "Phải chạy theo đường tắt qua rú Quao, đón đầu hắn may ra mới kịp".
Con đường tắt rú Quao tuy gần nhưng ít người dám đi lại, vì khúc núi này có con cọp thọt hay rình bắt người, trâu bò.
Cọp thọt một lần mắc bẫy của người Tà Ôi nhưng thoát được nên rất tinh khôn và hết sức hung dữ. Trung đoàn đã cử những tay thiện xạ bậc nhất, rình phục cả tháng trời nhưng không giết được. Đồng bào Hoà Mỹ đồn rằng nó ăn thịt người nhiều nên đã thành tinh.
Nhưng lúc này Mừng chẳng còn nhớ gì đến cọp thọt, cọp lành. Em chạy băng băng với tất cả sức lực bé bỏng của em.
Nhiều lần vấp phải đá, rễ cây, ngã dúi dụi, nhưng em vùng ngay dậy chạy tiếp. Những đọt mây gai như vuốt mèo, vắt vẻo tua tủa hai bên lối mòn hoang vắng, móc vào áo quần da thịt em, như muốn lôi giữ em lại. Em không kịp đứng lại để gỡ, cứ bươn bừa tới phía trước. Bộ áo quần rách, càng rách tướp, da thịt em trên mặt, trên đôi tay chân trần gầy tóp teo bị gai móc rách xước từng đường dài, máu chảy ròng ròng. Nhiều cành gai bịt em lôi theo, bẻ gãy, treo lủng lẳng trên lưng áo, trên cái quần đùi, vá víu và dầy như mo vì quết tẩm máu mủ ghẻ cái, ghẻ ruồi lâu ngày…
So với thằng Kim, sức vóc Mừng chỉ bằng một nửa, và trong tay em không một tấc vũ khí. Dù có đón đầu hắn được đi nữa, làm sao em đủ sức bắt giữ hắn lại? Cái điều đơn giản đó hầu như em không hề nghĩ tới. Đó là một nét khờ khạo ngây thơ trong tính cách chiến sĩ của em. Em chỉ nhớ là vì mình mải tham ăn miếng xôi, hớp chè, mà đến nỗi để thằng gián điệp lấy trộm bản đồ tối mật của kháng chỉến mà cấp chỉ huy giao cho mình coi giữ. Bây giờ em phải gắng hết sức đuổi theo hắn để đòi lại. Và phải gắng chạy cho thật mau để đón đầu thằng Việt gian? Đó là toàn bộ ý nghĩ của em lúc này.
Mừng vừa kịp nhào ra khỏi lối mòn lau sậy ngập dầu, bắt mùi với con đường chính, thì thằng Kim cũng vừa lúp xúp chạy đến.
Thằng Kim chạy được đến quãng đường này bụng hắn đã khấp khởi mừng: "Thoát rồi?". Chỉ còn khoảng hai cây số nữa là đến đồn Sơn Quả. Ở đó đã có người của "dơ bê" ở Huế lên đón hắn, như tin tức cuối cùng mà "B.15" đã chuyển cho hắn. Và tấm bản đồ bố phòng chiến khu - tiền bạc và tương lai đời hắn - đang nằm gọn trong túi áo ngực trái. Hắn vừa chạy vừa đưa tay sờ nắn cái máy ảnh tình báo cồm cộm trước ngực…
- Kim! Mi là đồ con chó! Mi là thằng Việt gian!
Tiếng quát giận dữ sát ngay trước mặt làm cho thằng Kim đứng khựng ngay lại như bất thẩn va phải bức tường chắn ngang, hắn trợn tròn mắt, há hốc mồm nhìn Mừng máu me đầy người, áo quần rách tưa treo lủng lẳng những cành gai mây, ánh mắt tóe lửa, sừng sững ngay trước mặt. Hắn hoang mang sững sờ tưởng chừng như Mừng vừa chui từ dưới đất lên! Hắn bất giác run rẩy vì khiếp đảm. Hắn cảm thấy mình trở nên yếu đuổi, bé nhỏ trước mặt Mừng, mặc dẩu hắn vạm vỡ to xác gấp đôi Mừng. Đầu hắn mê mụ đi vì cảm giác kinh hoàng. Hắn lắp bắp mãi mới hỏi được một câu khá ngớ ngẩn:
- Mi chạy đường mô mà mau dữ rứa?
- Chạy đường mô mi hỏi làm chi? Hỏi để về báo cho Tây à?
- Tau không ngờ mi là thằng Việt gian! Mi đưa trả ngay tấm bản đồ chiến khu đây, không thì mi chết!
- Bản đồ chi? Thì tau đã đút trả vô xà cột rồi, mi cũng thấy đó - Thằng Kim luống cuống chống chế.
- Mi đừng nói láo! Tau biết hết rồi! Cái hộp đựng tiền là cái máy chụp bóng gián điệp. Mi lừa cho tau đi mua xôi chè để mi chụp bóng trộm bản đồ đem về cho Tây! Mi đang để trong bọc tê? - Mừng chỉ túi ngực áo thằng Kim, mặt giận phừng phừng.
Biết không thể chối được, thằng Kim giở giọng dụ dỗ:
- Mừng, hay mi đi với tau luôn thể. Về dưới Huế tau sẽ xin việc cho mi làm. Ở mãi chiến khu làm chi cho khổ. Tau thương mi nhất đội. Có tiền tau chỉ cho một mình mi ăn, tau có tiếc với mi cái chi? Đi với tau Mừng nghe! - Miệng nói, chân hắn bước tới định đưa tay ra khoác vai Mừng, kéo đi cùng về đồn giặc.
Người ta nói sức mạnh tinh thần và vẻ đẹp cao cả thường toả hào quang, có thể lấn át, đè bẹp những kẻ to xác nhưng tâm hồn hèn hạ. Có lẽ điều đó có lý. Không hiểu sao thằng Kim to con gấp đôi Mừng, trong lưng có giắt súng, mà đứng trước Mừng, hắn trở nên khiếp nhược, sợ hãi, đánh rơi mất sức mạnh của mình.
"Póc!". Một mảnh giấy vo tròn, Mừng bất thần ném vào mặt hắn, trúng luôn con mắt trái - rơi lăn lóc xuống đất.
Đó! Tiền của mi đó! - Mừng căm giận hét lên - tiền mi đưa cho tau mua xôi chè còn dư đó. Tau không thèm mô! Mi kể công mi cho tau ăn à? Tau tưởng mi là Vệ Quốc Đoàn thì tau mới ăn. Tau mà biết mi là Việt gian thì một hột xôi tau cũng ỉa vô!
Mừng thọc luôn cả bàn tay vào cổ móc họng, khạc nhổ lia lịa. Em uất giận quá. Em muốn móc họng để mửa ra những thứ hắn đã cho mình ăn, trả lại cho hắn. Nhưng em chỉ nhổ khạc ra được toàn nước miếng. Giận dữ và bất lực, em oà lên khóc.
Bị đồng bạc vo viên ném trúng mắt và những lời nguyền rủa của Mừng làm cho thằng Kim vụt nổi xung. Và hắn đã tìm lại được sức mạnh của hắn.
- Tổ cha mi! Tau sẽ giết chết mi! - Hắn nhào tới, nhe răng, trợn mắt, điệu bộ hung dữ như con chó bị đánh quá đau. Vẻ hung dữ của tên Việt gian mười sáu tuổi này, chắc sẽ làm cho cả người lớn cũng phải hoảng sợ. Nhưng người chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn mười ba tuổi lại cúi xuống lượm một hòn đá nhào tới tấn công trước, Mừng vung tay cầm hòn đá, đập tận sức vào ngực áo trái của tên Việt gian "Rốp!" qua lần vắt áo kaki khá dày, nghe rõ tiếng chiếc máy ảnh chuyên dùng của điệp viên, vỡ vụn. Trong ruột máy ảnh chứa cuốn phim chụp bản đồ bố phòng chiến khu.
Bàn tay cầm hòn đá của Mừng lở loét những mụn ghẻ cái, bình thường không nắm lại được. Em xán hòn đá vào ngực Kim mạnh đến nỗi các mụn ghẻ tóe máu đỏ lòm cả bàn tay và hòn đá.
Thằng Kim đưa tay ôm chụp ngực kêu "ối" như bất thần trúng phát đạn. Hắn đứng sững, chết lặng người, tay bóp bóp túi áo. Trong túi lạo xạo những mảnh vụn. Tấm bản đồ bố phòng chiến khu mà hắn phải liều đổi lấy bằng mạng sống của hắn mới có được - tiền bạc và tương lai của đời hắn - chỉ một giây đã bị hoàn toàn phá nát! Cặp môi hắn tự nhiên run run, trắng ra như phấn, cả khuôn mặt tái nhợt méo mó vì tức giận - căm giận và tuyệt vọng làm hắn nổi điên? Hắn chồm tới ôm chặt lấy Mừng quật nhào xuống giữa lối mòn lổn nhổn sỏi đá.
Mừng đau quá muốn chết ngất. Hắn cưỡi lên người Mừng mà đấm tát, cào cấu, miệng gầm ghè không thành tiếng, tưởng chừng ăn thịt được, hắn cũng không tha!
Hắn xé toạc cái áo của Mừng, xoắn xoắn lại làm dây trói quật hai tay Mừng ra sau lưng. Hắn nghiến răng riết hết sức hai múi dây trói. Hắn đứng phắt dậy, rút khẩu Xanh-tê-chiên giắt trong cạp quần ra, bật chốt an toàn, chĩa mũi súng vào mặt Mừng đang nằm dài dưới đất, chửi:
- Tổ cha mi! Đứng lên đi về đồn với tau! Mi phá nát cái bản đồ chiến khu thì tau nộp mi thay vô đó! Mi thuộc lòng hết đường cả chiến khu, mi cũng là cái bản đồ? Tau không nộp được cho Tây bản đồ chết, thì tau nộp bản đồ sống! - Ý nghĩ đó bất chợt đến với hắn, làm hắn thích thú cười gằn. Mừng nằm dài dưới đất, hai tay bị trói chặt sau lưng, em ngóc đầu cố hết sức để ngồi lên nhưng không nổi. Cái áo rách của em bị thằng Kim xé làm dây trói, trên người em chỉ còn lủng liểng cái cổ áo và mấy tua giẻ rách. Em phơi ra dưới nắng trưa chang chang cái thân hình còm nhom, da bọc xương bị ghẻ ruồi ăn không còn sót chỗ nào. Cặp mắt em hấp háy vì chói nắng. Em cố rướn mi mắt, hết nhìn nòng súng loá nắng chĩa vào mặt mình, lại nhìn cái túi áo thằng Kim lúc nãy còn cộm lên bí mật của kháng chiến bây giờ đã xép rẹp. Ánh mắt em lộ vẻ hả hê. Em nhắm chặt mắt lại, nói với giọng ngạo mạn:
- Tau nằm đây, tau không đi mô hết! Tau là Vệ Quốc Đoàn, tau không đi theo ba cái đồ Việt gian!
- Không đi thì tau xách đầu mi tau lôi đi! Mi chửi tau là Việt gian, chứ cha mi cũng là Việt gian hạng nặng.
- Mi đừng nói láo!
Cha mi là lão Năm-ngựa, ngực xăm đầy rồng rắn, tau còn lạ chi. Chừ cha mi là võ sĩ Năm-ngựa, làm quan hai mật thám, chuyên tra tấn Việt minh.
Mừng mở mắt, nhìn Kim, sững sờ:
- Mi nói thiệt à? - Mừng hỏi, giọng trờ nên yếu đuối run rẩy.
Gương mặt lấm láp đất bụi của Mừng vụt nhăn nhúm, đau đớn như bất thần nhận một nhát dao vào chỗ hiểm. Em không yêu cha, cha đã bỏ mạ em đi lấy vợ hai. Cha đã đánh đập hành hạ mạ và lấy mất đôi bông tai vàng… Những kỷ niệm cũ về cha là những kỷ niệm xé lòng, như em đã kể với đội trưởng và Vịnh-sưa vào cái đêm ở mặt trận Huế. Nhưng dù vậy, cha vẫn là cha… em là con, em phải gánh chịu nỗi khổ, nỗi nhục. Em bật kêu to, nghẹn ngào, xé ruột: "Úi chao i, cha ơi!…". rồi em ngất đi.
Thằng Kim bối rối, cúi xuống lay gọi mãi Mừng vẫn không tỉnh. Không thể đứng đây lâu hơn vì bộ đội có thể đuổi theo.
Nhưng cũng không thể bỏ được tấm bản đồ sống chiến khu Hoà Mỹ. Mặc dù lúc này hắn cũng sắp ngã quỵ vì mệt, nhưng hắn cố thắng cơn mệt.
Hắn giắt súng vào bụng áo, vực Mừng ngồi dậy, cõng xốc lên lưng. Hắn không ngờ Mừng có thể nhẹ đến thế như chỉ có toàn xương với da.
Hắn cõng Mừng lúc đi lúc chạy, về phía đồn Sơn Quả, dưới nắng như dội lửa…
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #156 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:26:33 PM »

 23

Việc Kim và Mừng, hai đội viên đội Thiếu niên trinh sát bỏ trốn khỏi chiến khu đã làm chấn động cả chiến khu.
Nhiều người bàng hoàng, sửng sốt.
Năm hôm sau, Ban Quân báo trung đoàn nhận được báo cáo của tổ chức quân báo nội thành về sự kiện Kim và Mừng.
"Tôn Thất Kim là con của một viên chức cao cấp trong chính quyền bù nhìn Bảo Đại. Tên Kim bị bắt và đã xưng khai. Chính hắn đã dẫn đường cho bọn quân Ban Hành động ty An ninh mật thám Huế vây đánh chỗ trú quân bí mật của tổ quân báo ở Vĩ Dạ, bắn chết anh Đồng-râu, đem phơi xác ở Đập Đá Sau đó chúng kéo về phục kích bắt Lượm và Tư-dát ở gần cống Bao Vinh.
Tên Kim được sở mật thám phòng Nhì Pháp bí mật đưa vào Thủ Đức học một lớp điệp viên ngắn ngày, rồi đưa trở lại Huế.
Chúng bố trí cho tên Kim vượt tù, cướp súng, trở lại chiến khu với mục đích điều tra lực lượng quân ta và tình hình bố phòng chiến khu. Lên đến chiến khu, tên Kim đã bắt liên lạc với tên Mừng, vốn là con của tên võ sĩ Năm-ngựa, một tên mật thám ác ôn khét tiếng ở Huế.
Tên đàn ông giả dạng đi mua mây là một điệp viên lợi hại được bọn giặc cử lên chiến khu để bắt liên lạc với tên Kim, nhận tài liệu, tin tức đánh cắp được.
Chính tên Kim đã giúp tên này đốt cháy dây trói cướp súng và hạ sát cả tổ gác trạm tiền tiêu.
Sau sự việc này hai tên Kim và Mừng sợ bị lộ, đã bỏ trốn khỏi chiến khu, chạy về đồn Sơn Quả. Vừa về đến đồn, hai tên đã được xe của sở Mật thám Phòng Nhì chở ngay về Huế…".
Việc tên Kim bị bắt, đầu hàng, rồi trở thành điệp viên, mọi người không lấy làm lạ lắm. Nhưng việc Mừng lộ mặt là điệp viên của giặc, làm hầu hết mọi người ở chiến khu bàng hoàng, sửng sốt.
Đội trưởng Lê Thắng được Ban Quân báo trung đoàn mời vào Xê-ca Một báo cáo lại toàn bộ những sự việc có liên quan đến tên Mừng điệp viên. Từ việc bằng cách nào nó lọt được vào hàng ngũ của Đội Thiếu niên Trinh sát hồi mặt trận Huế mới nổ súng, đến việc sau khi tên Kim lên chiến khu, hai đứa đi đâu cũng có nhau và tiêu tiền như rác… vân vân và vân vân… xâu chuỗi những sự kiện này lại, Ban Quân báo trung đoàn đi đến kết luận: tên Mừng là điệp viên được bọn mật tám Pháp khôn khéo cài vào hàng ngũ Vệ Quốc Đoàn từ ngày đầu kháng chiến, và chắc chắn nó đã cung cấp cho giặc không ít những tin tức quan trọng về lực lượng kháng chiến của ta… Nếu không có những tình huống bất ngờ vừa rồi, thì không biết quân ta còn nuôi ong tay áo đến bao giờ.

Mừng vốn là đội viên ở chiến khu nhiều hơn cả, được cả khu biết tên, biết mặt. Khi nghe tin Mừng là điệp viên nằm vùng của giặc, tất cả đều phải kinh ngạc. Sực nhớ lại những việc làm, lời nói và dáng bộ con nít ngờ nghệch của nó, tất cả đều phải lắc đầu kêu lên: "Trời đất, nó đóng vai chú bé ngây thơ mới tài tình, quỷ quyệt làm sao". Nó đã qua mặt hết, lừa được hết, kể cả những cán bộ chiến sĩ từng trải, có nhiều kinh nghiệm cách mạng nhất của chiến khu.

Lê Hường, trưởng ban Quân báo trung đoàn, hỏi đội trưởng Thắng:
- Trong suốt quá trình chỉ huy, gần gũi nó, đồng chí có một phút nào thoáng nghi ngờ nó là gián điệp không?
Đội trưởng ngồi bóp bóp trán, lắc đầu buồn bã trả lời:
- Không, không hề! Tôi đã tin nó như tin vào bản thân tôi vậy. Thế mà không ngờ…
Gương mặt anh hiện vẻ đau khổ sâu sắc. Nỗi đau khổ của người đã đặt toàn bộ lòng tin yêu vào một kẻ mà bất ngờ được phát hiện đó là đứa phản bội quỷ quyệt, đê tiện nhất.
Lê Hường đầu gật gật, nói:
- Có thể nói thằng bé này là một điệp viên bẩm sinh, một điệp viên thần đồng?
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #157 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:27:42 PM »

Phần thứ tám (đoạn kết)

1


Mồng một Tết. Trong lúc nhân dân ở thành phố, ở đồng bằng, mặc áo quần đẹp, đi lại chúc tết nhau: "Vạn sự như ý", thì các chiến sĩ tiểu đoàn mười tám xuất phát từ chiến khu Truồi, lội suối băng rừng, hành quân về phía đèo Phát Tượng - một ngọn đèo hiểm trở vùng cực nam Thừa qhiên.
Ngoài súng đạn, ba lô, ruột tượng gạo rang làm lương khô, mỗi chiến sĩ được phát hai đòn bánh tét. Số bánh tét này là của nhân dân khắp các làng quê huyện Phú Lộc gởi lên chiến khu ủng hộ bộ đội vào những ngày trước Tết. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định để dành toàn bộ số bánh làm lương ăn cho trận đánh phục kích tàu ở đèo Phát Tượng mà tiểu đoàn đã nghiên cứu chuẩn bị từ một tháng trước đó. Dự kiến của Ban chỉ huy, trận đánh có thể kéo dài từ một đến ba ngày.
Trưa mồng bốn Tết, cả tiểu đoàn đã nằm trên trận địa phục kích, dưới mưa xuân rả rích. Mưa không nặng hạt, đúng điệu mưa xuân, nhưng phải dầm mưa suốt ngày đêm, áo quần của các chiến sĩ đều ướt sũng, nước ngấm vào da thịt lạnh thấu xương… chờ địch đã qua một ngày, một đêm, địch vẫn chưa xuất hiện. Mỗi chiến sĩ bóc đến đòn bánh tét thứ hai…
Ở trung đội trợ chiến, một chiến sĩ xạ thủ súng mười hai ly bảy, bóc đòn bánh tét của mình, đòn bánh được gói rất khéo. Hai đầu đòn bánh đều nhau, tròn trịa như cải ống bương, khéo từ lá gói, đến nút lại lạt buộc.
Anh chiến sĩ vừa mở lá một đầu đòn bánh, mắt bỗng trợn tròn, ngạc nhiên. Anh gọi hai người bạn cùng đang bóc bánh:
- Lạ quá các cậu ơi! Trong đòn bánh tét của mình có bức thư?
Bức thư được bọc cẩn thận trong mảnh lá chuối hơ lửa, viết bằng mực tím, nét chữ nắn nót nhưng xiêu vẹo của người mới biết đọc biết viết. Bức thư chắc là được bỏ thêm vào sau khi bánh đã luộc chín nên nét chữ không nhòe. Ba chiến sĩ ngồi xổm dưới công sự đào dưới lùm cây rậm, tụm đầu đọc bức thư:
"Kính thưa các anh bộ đội!
Dạ thưa các anh tui tên là Niệm, làm nghề bán bún bò gánh: Trước tê tui ở Bao Vinh, tui có đứa con tên là Mừng, cháu mười ba tuổi, cháu trốn tui đi theo các anh Vệ Quốc Đoàn đánh Tây ở Huê. Dạ, đời tui chỉ có một mạ một con cực khổ trần ai lắm các anh nờ. Tui gắng gỏi sông cũng chỉ vì con, mặt trận Huế bể, người trong xóm tui rủ nhau hồi cư hết, nhưng tui về mà làm chi các anh ơi, về mà lui cui lút cút một đèn, một bóng thì thà chết đường chết chợ cho xong. Tui gánh bún bán mua đắp đổi qua ngày côt để tìm con tui coi cháu còn sống hay chết, mà tìm khắp sáu huyện chẳng thấy tăm dạng con mô.
Tui nghe đồn cháu theo các anh lên chiến khu, tui xin du kích uỷ ban các xã, các huyện cho tui đi theo gánh đồ đoàn tiếp tế lên chiến khu để tìm cháu mà chiến khu mô cũng nói với tui là không chộ cháu ở đây, cực thân tui lắm các anh nờ. Bữu ni nhân ngày Tết nhất! Tui gói năm đòn bánh tét mô tui cũng bỏ một phong thơ như ri, gửi lên cho các anh ở chiến khu ăn Tết, may ra các anh ăn trúng đòn bánh của tui đọc thấy thơ ni biết được con tui chừ đang ở mô thì gửi giấy về làng Thệ Chí Đông tin cho tuỉ biết với. Được như rứa tui đội ơn các anh suốt đời.
Nay kính thơ
Niệm"
Anh chiến sĩ bóc đòn bánh tét tên là Tiến, trước đây là cu li nhà máy vôi Long Thọ. Anh mồ côi cha mẹ từ ngày mới chập chững biết đi. Hai vợ chồng người bác họ nuôi anh… Đời anh chưa bao giờ biết được thế nào là tình yêu của mẹ. Bởi vậy mà bức thư của người mẹ đi khắp các làng mạc hói hà cả tỉnh Thừa Thiên để tìm con làm anh lạ lùng lắm. Mãi đến hôm nay, hăm ba tuổi đẩu, do bức thư tình cờ tìm thấy trong đòn bánh tét anh ăn trước giờ xung trận, anh mới phát hiện ra một điều rủi ro bất hạnh lớn nhất của đời anh là không biết được tình yêu của mẹ. Và anh đã khóc. Thấy anh khóc hai người bạn trong tổ đại liên mười hai ly bảy nói:
- Có rứa mà cũng khóc. Vô duyên òm? - Nhưng chính mắt hai người cũng ướt nhòe.
- Mưa chi mưa ác! Thúi đất thúi đai! - Hai anh nói và quay mặt chùi vội nước mắt.
Anh xạ thủ Tiến có một nhược điểm làm cả đơn vị thường xúm lại trêu chọc: Anh không nói được vần tờ. Tên anh là Tiến anh tự xưng là Yến, tiểu đoàn trưởng anh gọi là yểu đoàn ưởng, bức thư anh gọi là bức hư.
Tiến bò dọc theo mép đồi, đến công sự của Ban Chỉ huy tiểu đoàn, nộp bức thư và kể lại đẩu đuôi.
Chính trị viên Lê Bích đọc đi đọc lại bức thư ba lẩn. Lát sau có thêm hai chiến sĩ ở đại đội một bò đến, nộp một bức thư giống hệt bức thư Tiến nộp.
Anh Tiến ngồi trên mép công sự, chằm chặp nhìn chính trị viên tiểu đoàn. Anh hỏi:
- Chừ anh định răng với cái "hư ni"?
- Theo ý đồng chí ta nên như thế nào?
- Heo ý ui, a phải đi ìm con giúp cho chị ni.
- Nếu tôi cử đồng chí đi làm nhiệm vụ này, đồng chí có đồng ý không?
- Lúc mô đi!
- Đi ngay bây giờ, mà chuyến đi sẽ vất vả ghê gớm đấy. Đồng chí phải đi xuyên dọc Trường Sơn, ghé qua tất cả các chiến khu từ cuối tỉnh đến đầu tỉnh. Bỏ rẻ cũng phải mất mười lăm ngày vượt núi. Tìm thấy hay không, đồng chí phải từ chiến khu Hoà Mỹ về đồng bằng, vượt phá Tam Giang qua làng Thệ Chí, tìm chị đó báo tin cho chị biết. Đồng chí có biết làng Thệ Chí không?
- Có trước đây tui cũng có ra làng ni thuê thuyền chở đá vôi cho nhà máy.
- Từ làng Thệ Chí, đồng chí phải đi theo đường sát biển, qua cửa Thuận An, đi cho đến núi Tuý Vân, rồi nhờ thuyền đò của bà con ngư dân vượt đầm Cầu Hai, về lại chiến khu Truồi.
- Vất vả rứa chứ hơn nữa ui cũng chẳng ngại. Ui hương chị ta quá, ui muốn ngó mặt mũi chị như răng mà hương con đến nước nớ… Ui chỉ iếc là không đánh được ận ni…
Chính trị viên kê tờ giấy khống chỉ lên xà cột, viết thư gửi các chiến khu:
"Kính gửi các đồng chí lãnh đạo các chiến khu: Bạch Mã, Truồi, Độn Bồ, Khe Tre, Nam Đông, Binh Điền, Trạm Ba, Trò, Hoà Mỹ.
Chúng tôi xin giới thiệu với các đồng chí, đồng chí Đặng Tiên là chiến sĩ tiểu đoàn mười tám, có nhiệm vụ đến chiến khu của các đồng chí để tìm một liên lạc tên là Mừng, con của người phụ nữ có bức thư mà chúng tôi gửi kèm theo đây. Kính mong các đồng chí hết sức giúp đỡ đồng chí Tiên, tìm xem trong chiến khu của các đồng chí từ trước đến nay có em liên lạc nào tên là Mừng, nếu có mà đã hy sinh rồi thì cũng báo cho đồng chí Tiên biết để đồng chí về báo với mẹ em hiện đang ở làng Thệ Chí.
Chào quyết thắng.
Chính trị viên tiểu đoàn mười tám.
Lê Bích"
Bị chú: Đồng chí Đặng Tiên của chúng tôi có một khuyêt tật là không nói được vần tờ. Bởi vậy trong lúc đồng chí Tiên trình bày, trò chuyện mong các đồng chí nắm được và thông cảm".
Chính trị viên điều ở đơn vị lên thêm cho Tiến một ruột tượng gạo rang, một ống muối ruốc ớt. Và trang bị cho anh một hộp diêm, một khẩu tiểu liên và hai băng đạn, một cây dao rựa.
Đúng như chính trị viên dự kiến, anh Tiến đã đi từ trận địa phục kích đến chiến khu Hoà Mỹ - chiến khu cuối cùng của Thừa Thiên - mất mười tám ngày ròng rã. Anh đã phải vượt qua hàng nghìn dốc núi, lội qua hàng trăm con suối cạn, suối sâu năm lần chạm trán với cọp, voi, bò tót, lợn lòi, trăn thì không ngày nào không gặp. Anh đã ghé lại tất cả các chiến khu đã ghi trong thư. Đến chiến khu nào, các đồng chí lãnh đạo cũng cho biết, cách đây tám tháng, sáu tháng, năm tháng, ba tháng… có một chị tên là Niệm trong đoàn dân quân từ đồng bằng gánh gạo, muối, tiếp tế chiến khu, hỏi thăm đứa con trai của chị tên là Mừng, mười ba tuổi, trốn nhà đi Vệ Quốc Đoàn từ ngày mặt trận Huế nổ súng.
Bởi vậy, làm sao có thể tả hết nỗi đau đớn thất vọng của người Vệ Quốc Quân có tâm hồn hiệp sĩ này khi ra đến chiến khu Hoà Mỹ, được tin là chú bé liên lạc mà anh phải mất mười tám ngày trời băng rừng vượt núi, nhiều lần suýt làm mồi thú dữ, để tìm kiếm, lại là một tên gián điệp ranh ma, xảo quyệt, vô cùng lợi hại. Và cách đây chưa lâu, hắn đã cùng với một tên gián điệp khác, đánh cắp bí mật của kháng chiến trốn khỏi chiến khu chạy về đồn giặc.
Cặp mắt anh vụt đỏ kè. Anh bặm môi, nghiến răng kêu lên dữ tợn:
- Hằng yên ni hề có ời đất, ui mà còn sống, nhất định có ngày ìm được cái hằng con ranh con lộn đó, ui nghiền nát đầu hắn ra như nghiền con rận!
Nhưng anh còn một nhiệm vụ nữa là phải tìm về làng Thệ Chí để báo tin cho người mẹ tìm con bất hạnh. Anh cảm thấy nhiệm vụ này còn khó khăn khủng khiếp hơn cả nhiệm vụ báo tử. Anh thật sự hoảng sợ đến toát mồ hôi hột mỗi lần nghĩ đến nó.
"Ui chao ôi, mới mười ba uổi mà hắn đã là một tên gián điệp lợi hại, ranh ma, quỷ quyệt hì không biết hắn học cái nghề bán nước đó ừ khi mô?"
Anh cứ rên rỉ hoài như vậy trong suốt mấy ngày liền nấn ná ở chiến khu Hoà Mỹ. Trong mấy ngày đó anh Tiến cứ ở với đội Thiếu niên Trinh sát. Các em bây giờ đã tập trung hết về đội. Sau một đợt học tập chuyên môn chính trị ngắn ngày, các em được phân công phụ trách các đài quan sát của chiến khu. Nhiệm vụ bám địch ở đồng bằng giao lại cho các anh lớn mới được trung đoàn bổ sung về đội. Do đó đội bây giờ được đổi tên là Đội Trinh sát của trung đoàn. Anh Tiến hỏi chuyện các em về "cái thằng Mừng Việt gian" tính nết thường ngày, mặt mũi hắn như răng? Nghe các em kể nó thân nhất với thằng Nghi liên lạc của trung đoàn bộ, anh vô Xê-ca một tìm gặp Nghi hỏi chuyện.
Em Nghi kể cho anh nghe chuyện cái đêm em đèo ngựa đưa Mừng về thăm mạ ở làng Phò. "Về đến ngõ hắn lại nhờ em vô nhà nhắn tin với mạ, còn hắn thì đứng nép ngoài hàng rào ngó vô mà khóc. Hắn sợ mạ đập đầu xuống đất mà kêu la không cho hắn đi Vệ Quốc Đoàn nữa". Anh Tiến ngạc nhiên nói: "Rứa hắn là đứa bụng dạ không đến nỗi mô hè?". Nhưng ngẫm nghĩ một lúc, anh nói tiếp: "Đã mang thân đi làm Việt gian bán nước chắc chi hắn thật bụng? Hắn làm rứa cất để che mắt thế gian". Và anh bỗng phát hiện ra một điều mới mẻ. "Chưa chừng cả con mạ hắn là Việt gian cũng nên, cha Việt gian, con Việt gian, thì mạ Việt gian là cái chắc! Thôi, đúng rồi con mạ hắn giả dạng xin đi tiếp tế lên chiến khu là cốt để dò la tin tức chiến khu về báo cho Tây chứ tìm con tìm kiếc cóc chó chi! Việc sờ sờ ra rứa mà mình không nghĩ ra, đúng là mình ngu hết chỗ nói".
Đang từ thương xót, cảm phục, anh chiến sĩ có tâm hồn hiệp sĩ, phút chốc đùng đùng nổi giận. Anh càng tiếc cay tiếc đắng cái công mười tám ngày đêm băng ngàn lội suối đi tìm con giúp cho cả cái nòi Việt gian!
Rồi anh quyết định phải cấp tốc trở lại con đường cũ, báo ngay với các chiến khu biết để đề phòng con mụ Việt gian giả đò tìm con. Và ngay trưa hôm đó, anh đeo ruột tượng lương khô vào lưng, khoác khẩu tiểu liên, xăm xăm trở về chiến khu Truồi, theo con đường rừng vô cùng gian khổ và nguy hiểm.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #158 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:27:52 PM »

***
Một buổi sáng tinh mơ mùa hè năm 1948. Chiến khu Hoà Mỹ vừa mới thức giấc. Núi rừng, cây cỏ, sông Ô Lâu còn phủ kín trong màn sương trắng đục. Một chú bé không biết từ phía nào lại chui ra khỏi con đường lau lách, bước vào trạm gác tiền tiêu phía tây nam chiến khu.
Chú bé độ cái mũ bêrê màu rượu chát còn mới tinh kéo sụp che gần kín trán, mặc bộ áo quần kaki màu xanh lá cây, chân đi dép da. Cả người chú ướt đẫm sương. Chắc chú phải đi bộ cả đêm, lội qua nhiều khe suối, băng qua nhiều đám bùn lầy nên hai ống quần ướt đến bẹn, trát đầy bùn, dính bết vào bắp chân. Gương mặt chú hốc hác, cặp mắt thâm quầng, bước đi lảo đảo kiệt sức. Chú bé chào anh lính gác đang còn ngái ngủ:
- Anh ạ…
- Chú ở mô và mô đây sớm rứa?
- Anh không nhìn ra em à? Em thằng Mừng ở đội Thiếu niên Trinh sát đây mà.
Anh lính gác như không còn tin vào mắt mình nữa, bước đến nhìn sát vào tận mặt chú bé, kêu:
- Đúng ìà mi rồi? Mi còn dám vác mặt mo lên đây à? Chứ mi ở mô mò lên đây?
- Dạ, dưới đồn Sơn Quả. Em trốn khỏi đồn từ chiều bữa qua…
Nghe tiếng chộn rộn trước sân, cả tổ gác trạm gác tiền tiêu bước ra đứng vây quanh chú bé. Họ đều nhận ra đúng là Mừng, tên gián điệp ranh ma, xảo quyệt, cách đây ba tháng đã cùng với tên Kim điệp viên lợi hại trốn khỏi chiến khu.
Họ có thể tưởng tượng đủ mọi điều, nhưng việc Mừng dám trở lại chiến khu và ngang nhiên khai rằng từ đồn giặc đến đây, thì ngoài sức tưởng tượng của họ.
Anh tổ trưởng thốt lên:
- Thằng ni gớm thật?
- Mi là thằng gan già!
Gương mặt mệt mỏi của Mừng vụt tươi lên. Em tưởng đó là lời khen.
- Dạ… em phải chạy gần suốt cả đêm, mà phải toàn lủi trong bụi rậm. Em mệt quá, các anh cho em về lán ngủ một giấc rồi chút nữa em về đội. - Mừng nói, cặp mắt ríu lại, xắm nắm định bước vô lán.
- Ngủ à? - Anh tổ trưởng quắc mắc giận dữ. - Trói cổ nó lại!
Mừng đứng khựng lại, vẻ mặt ngơ ngác nhìn anh:
- Em làm chi mà trói em?
- Làm Việt gian gián điệp chớ còn làm chi?
Anh tổ trưởng bước tới, như sắp tát em. Em bước thụt lùi hốt hoảng đưa tay lên đỡ mặt. Và lúc này em như vụt hiểu ra không phải các anh tổ trạm gác đùa vui với em như mọi lần.
Em rơm rớm nước mắt nói:
- Thằng Kim mới Việt gian chứ em đời mô…?
- Không nói lôi thôi! Trói cổ nó lại! Đồng chí Tánh. - Anh tổ trưởng gọi một trong ba chiến sĩ tổ gác - Vô Xê-ca Một báo ngay cho ban Quân báo trung đoàn ra giải quyết. Lấy sợi dây điện thoại ra đây. Phải rút kinh nghiệm xương máu, không được trói tụi ni bằng dây dừa.
- Ồ, thằng Kim vấn thuốc châm lửa giúp thằng gián điệp chớ có phải em mô…
- Bay cùng một duộc cả! Mới rãy mũi đã làm Việt gian bán nước. Tụi ni phải đem bắn quách, để sống làm chi cho nhớp đất?
Anh tổ trưởng hằm hằm nói, chụp hai cánh tay Mừng bẻ quặp ra phía sau lưng, dùng sợi dây điện thoại trói em giật cánh khuỷu. Trói xong, không nén nổi giận dữ, xô em một cái, em ngã chúi mặt cạnh chân cột lán. Từ trong bụng em văng ra một khẩu súng lục "côn mười hai", nước thép xanh biếc. Anh nhảy tới chộp lấy khẩu súng như sợ em nhanh tay chộp mất.
Anh cầm khẩu súng, bàn tay rung rung như khẩu súng quá nặng, lật đi lật lại ngắm nghía. Gương mặt anh méo mó vì tức giận. Anh chìa khẩu súng ra trước mặt Mừng, chửi:
- Tổ cha mi! Rứa cái chi đây? Mi còn chối nữa hay thôi?
- Thằng ni gớm thật! Anh lính gác nhìn nó với ánh mắt dễ sợ - Không trói hắn nhanh chắc hắn đã cho cả tụi mình ăn đạn!
Anh tổ trưởng bấm chốt kéo "sác-giơ" ra. Sác-giơ đầy đạn vàng chóe.
Mừng ngồi co rúm nép sát chân cột, nhìn các anh với cặp mắt ngơ ngác, thất thần, Em nói, môi run run:
- Khẩu súng nớ em lấy cắp của cha em… em định giấu mang về cho đội trưởng… Em… em… - giọng em bỗng nghẹn tắc. Em nhìn hết anh tổ trưởng đến mấy anh trong tổ gác. Em vụt hiểu ra, không một ai tin lời em hết. Em bật oà khóc. Em ngọ nguậy cánh tay định đưa lên cùi nước mắt và em nhớ ra hai tay mình đã bị trói. Nước mắt giàn giụa, lã chã, tắm hai gò má, trôi xuống miệng, xuống cằm, giọt giọt xuống đất. và lúc đó phía ngoài đường có nhiều tiếng chân chạy, tiếng hỏi chộn rộn, xôn xao:
- Mô? Mô? Thằng Việt gian mô rồi?
Mừng nhận ra giọng nói quen thuộc của các bạn.
Gần đủ mặt các bạn trong đội tràn vô sân trạm gác. Thì ra anh Tánh trên đường chạy vô Xê-ca Một, báo cáo với ban Quân báo trung đoàn, gặp các em đang rầm rập chạy ra sông Ô Lâu rửa mặt. Anh liền gọi các em.
- Các em ơi! Thằng Mừng lại mò lên chiến khu!
- Anh nói giỡn chi rứa?
- Thì các anh đã tóm cổ hắn trói ngoài trạm gác tề?…
- Ui chao! Chuyện chi hiện nguỵ! Ta ra coi đi. - Các em xôn xao kêu lên và chạy luôn ra trạm gác.
Gặp lại các bạn Mừng thổn thức nói:
- Các cậu ơi anh Du, anh Đoàn, anh Châu… nói giúp cho tui với. Tui không phải là Việt gian… các anh ni nghi tui…
Có lẽ em tin rằng các bạn sẽ xúm lại bênh em, cởi trói cho em. Nhưng các bạn đứng túm tụm giữa sân, nhìn nó như chưa hề quen biết nó bao giờ. Nhiều em nhổ nước bọt, kêu lên, giọng ghê tởm, khinh bỉ:
- Nghi cứt chi nữa?
- Việt gian rành rành còn giả đò khóc?
- Mần Việt gian có khác? Bê-rê tề, áo quần kaki tề, xăng- đan tề?… Ngó mà gớm ghiếc!
- Trong người hắn lại giắt cả súng lục mới keng đây các chú nì! - Anh tổ trưởng đưa khẩu "côn mười hai" cho cả đội coi.
- Hắn mà gặp tụi mình giữa đường chắc hắn nổ cho tụi mình mỗi đứa một phát vô giữa đẩu!
- Nì! Mi ngửi cứt Tây có thơm không mi?
Hoà-đen hát rống lên bài "Mắng Việt gian": "Mi nghe chăng hỡi ai mê mùi phú quý quên non sông"
- Rứa mà thằng Quỳnh còn viết cả nhạc kịch để khen hắn nữa chớ? Thằng Quỳnh mà biết chuyện ni, chắc hắn phải chết thêm lần nữa?
- Đồ chó? - Châu-sém bước đến đứng sát trước mặt Mừng chửi với ánh nhìn tóe lửa. Rồi thuận tay, Châu-sém chụp cái mũ bê-rê trên đầu Mừng quăng xuống đấy, lấy chân chà lên. - Mi đi mần Việt gian cho sướng cái thân mi, mà để lây tiếng xấu cho cả đội! - Nó nhổ cả một bãi nước bọt to tướng trúng bẹt giữa khuôn mặt đầm đìa nước mắt của Mừng.
Bồng-da-rắn cũng bước đến đứng cạnh Châu-sém, nhìn Mừng chăm chăm. Ánh mắt em không giận dữ khinh bỉ như các bạn, mà lộ vẻ đau đớn, buồn bã đến xé lòng.
Trước những lời nguyền rủa của các bạn, gương mặt Mừng tái nhợt như xác chết. Em ngước nhìn Bồng, ánh mắt van lơn, cầu khẩn. Ánh mắt con chim non bị người ta vặn cổ, sắp chết.
- Anh Bồng, anh nói giúp cho tui với, - Mừng lắp bắp nói qua nước mắt. - Anh ngửi được mùi Việt gian, mùi Vệ Quốc Đoàn mà… Anh nói giúp cho tui với…
Bồng không nói gì, vẻ mặt lầm ìì, nhìn hai cánh tay Mừng bị trói chặt bằng dây điện thoại, hai bàn tay bị tụ máu đỏ lên.
Nó nói với anh tổ trưởng trạm gác:
- Anh trói hắn chặt quá. Nới bớt cho hắn một chút…
- Chú mi thương hắn à? Phải trói chặt hơn nữa tê? Trói lỏng để cho hắn chồm lên giật súng bắn chết anh ẻm mình, như cái thằng cha mua mây dạo nọ? - Anh tổ trưởng nhìn Bồng với cặp mắt chê trách nói tiếp. - Rứa mà trung đoàn lại thông báo tuyên dương chú mi là có tinh thần cảnh giác cách mạng cao?
Bồng không trả lời anh, lẳng lặng bỏ đi ra ngoài đường.
Logged

quangcan
Global Moderator
*
Bài viết: 3234



« Trả lời #159 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2012, 04:28:18 PM »

 2
Mừng được cởi trói, ngồi trước cái bàn mặt nứa ở gian ngoài trạm gác.
Lê Hường, Trưởng ban Quân báo trung đoàn, ngồi bên kia bàn, đối diện với em. Cuốn sổ tay và cây bút máy Parke gác trên sổ, đặt trước mặt anh. Anh nói, giọng nghiêm khắc:
- Chú mày phải khai rõ ràng, khai hết, khai cho thật. Nếu khai thành thật, chú mày sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Nếu đối trá, quanh co, phải trả giá đắt đó. Chú mày có biết kỷ luật thời chiến đối với bọn Việt gian gián điệp là thế nào không? Xử bắn? - Anh dằn giọng, đầy hăm doạ.
Rõ ràng, giọng của anh Trưởng ban Quân báo nói với Mừng không còn là giọng anh chỉ huy nói chuyện với chú em liên lạc, mà giọng một cán bộ nghiệp vụ đang lấy cung kẻ thù. Mừng lúc này đã hiểu rõ điều đó. Cả người em run rẩy đau đớn, gương mặt mệt lả, tuyệt vọng.
Thấy em vẫn ngồi lặng lẽ khóc, anh hỏi:
- Trước hết, chú mày phải nói cho tôi biết chú mày là người của cơ quan mật thám nào? Đơ-bê? Xuya-rơ-tê Phê-đe-ran? Hay Ty An ninh?
- D ạ… em là Vệ Quốc Đoàn… em không biết chi hết…
Mừng ngước gương mặt tắm nước mắt mà em chẳng buồn lau, nhìn lên Hường…
Cách đây chưa lâu, mỗi lần chạy liên lạc vô Xê-ca Một, qua lán của ban Quân báo, anh Lê Hường thường ngoắc gọi em vào hỏi em:
- Bữa ni em có việc chi phải vô Xê-ca Năm không?
Xê-ca Năm là đóng xưởng bào chế thuốc. Từ Xê-ca Một vô Xê-ca Năm phải trèo qua ba dốc núi. Mặc dầu không phải có việc chi vô đó nhưng em biết anh Hường cần gì, nên em vui vẻ nói: "Có em cũng có công văn chạy vô xưởng bào chế" - "Rứa thì nhờ em tiện thể đưa giúp cái nỉ cho chị Tịnh Nhơn". Anh móc túi áo lấy ra phong thư dán kỹ, trao cho Mừng. Anh cười, mặt hơi đỏ lên, dặn thêm: "Em nhớ đưa riêng cho chị Nhơn thôi nghe… Có mặt các chị khác thì đừng đưa…". "Em biết rồi! Em biết rồi!…". Mừng nhanh nhảu nói, cầm lấy phong thư dầy cộm, chạy đi.
Chị Tịnh Nhơn đẹp nhất xưởng bào chế. Hai má chị bầu bầu, lúc nào cũng đỏ hây hây như có bôi giấy hương. Mừng biết anh Hường và chị Nhơn thương nhau… Lần mô mang thư vô cho chị, chị cũng có thư gửi ra cho anh: "Nhờ em đưa giúp chị…". Em còn biết đưa loại thư này không giống như đưa giấy tờ công văn. Cầm công văn lỡ bị làm nhớp một chút cũng không can chi. Mà tay em lúc nào cũng kềnh càng đầy ghẻ; cầm không khéo, máu mủ ghẻ dính vô phong bì ngay. Bởi vậy, thư của hai người bao giờ em cũng cẩn thận bọc trong ngọn lá vả rừng hoặc ngọn lá nón, để giữ cho phong bì được sạch. Có lần chị Nhơn hỏi: "Tại răng lúc mô cũng thấy em gói thư vô ngọn lá như gói cái bánh rứa?" - "Em sợ tay em làm nhớp mất cái thư quý của chị" - Mừng chìa hai bàn tay chi chít những nốt ghẻ cái cương mủ xanh lè, và nhiều nất lở loét chảy máu.
Cặp mắt đen lay láy và trong vắt như nước suối của chị mở to nhìn em không chớp, và tự dưng láng láng nước mắt. Thấy chị khóc, em lúng túng, lo lắng, vội vã chạy xuơng dốc núi: "Em phải về không sợ đi lâu đội trưởng la".
Chừ thì anh Hường ngồi đó, hỏi em với cái giọng như chưa hề quen em khi mô. Anh không gọi em là em như mọi khi mà gọi là chú mày. "Chắc anh nghi mình là Việt gian anh mới gọi rứa. Chừ mà chị Nhơn gặp mình, chị cũng gọi mình là "chú mày" như anh Hường… Ai người ta còn thèm tử tế với cái đồ Việt gian?". Ý nghĩ đó làm em bật khóc to nức nở.
Anh Hường vỗ bàn làm cuốn sổ và cây bút nhảy lên như bị kiến nhéo:
- Chú mày khai đi! Không phải khóc, mất thì giờ!
- Dạ, em chẳng biết chuyện chi mà khai… Tại vì thằng Kim… em cứ tưởng hắn là Vệ Quốc Đoàn, có ngờ mô hắn là Việt gian. Bữa đó hắn kêu đau bụng. Đội trưởng xuống sông giặt áo quần, bao tải cho cả đội, giao em ở nhà coi nhà. Hắn nhờ em ra quán o Liên mua xôi chè. Em mà biết hắn là Việt gian đời mô em đi… có thèm xôi chè đến chết em cũng không đi. Rứa mà em dại quá, em lại bỏ nhà em đi, để hắn ở nhà một chắc. Em mua xôi về, chè chưa chín…
Lê Hường cau trán, anh vụt nhớ chi tiết này: trên sạp nứa nằm lăn lóc gói xôi đỗ đen khá to, anh Thắng đã cầm ném ra bụi rậm vì sợ trong xôi có bỏ thuốc độc.
-… Em thấy thằng Kim đang ở trong buồng, coi tấm bản đồ bố phòng chiến khu. Em tức quá, la hắn: "Răng anh dám lục bản đồ mật của đội trưởng ra coi?". Hắn nói: "Tau coi nhờ đường vô bệnh viện, để chiều tau xin đi chữa bệnh". Cơi chi mà biết hắn là Việt gian thì em đã chạy xuống sông báo cho đội trưởng… Em thấy trên bàn có cái hộp chi đen đen mà có mặt gương ở giữa, em cầm lên coi, hỏi hắn: "Hộp chi mà đẹp ri?" - Hắn giật lại, nói là hộp đựng tiền, rồi bỏ mau vô bọc cài nút lại. Hắn ôm bụng kêu đau bụng, nói em cứ ăn xôi trước, hắn vô ăn sau. Rồi hắn chạy ra nhà tiêu. Em ngồi chờ hắn vô, em nghĩ… Em nhớ có lần đội trưởng kể: Tụi Việt gian hay dùng máy chụp bóng nhỏ như cái bao diêm để chụp trộm tài liệu bí mật của kháng chiến… Rứa là em sợ quá, em nghĩ: "Hay cái hộp đựng tiền nớ là cái máy chụp bóng, hắn dùng chụp trộm bản đồ bố phóng chiến khu?". Em liền chạy ra cầu tiêu tìm hắn, nhưng hắn đã chạy mất rồi. Cơi chi em biết hắn là Việt gian thì em đã giữ chặt cái máy đó, không cho hắn giựt lại. Em chạy đuổi theo hắn để bắt giữ hắn lại. Em trèo lên ngọn cây bứa, ngó về phía dồn Sơn Quả, thấy bóng hắn chạy lúp xúp đằng xa. Em liền chạy vòng đường tắt qua rú Quao, đón đầu hắn. Em chặn được hắn lại. Em đòi lại cái máy chụp bóng bắt hắn quay lui. Hắn xông vô đập em. Em chụp hòn đá, nhè túi áo hắn có đựng máy chụp bóng, em xán thật mạnh. Cái máy bể tan. Hắn vật em xuống đất, xé áo em làm dây trói em lại rồi đập em tràn cả máu mũi, máu miệng. Hắn rút khẩu súng lục dắt trong lưng quần ra, chỉ vô mặt em, bắt em phải đi theo hắn về đồn Sơn Quả. Em nằm dài ra giữa đường, giả đò đau quá không đi được. Rứa là hắn cõng em một mạch chạy về đồn Sơn Quả. Em ở lại với hắn trong đồn một đêm, nằm chung lộn với mấy thằng Bảo vệ quân. Sáng hôm sau có chiếc xe Jeep thằng Tây đen cầm máy, chở em với hắn thẳng về Huế, đến một nhà có rất nhiều lính Tây. Hắn đi vô nhà đó tự nhiên như đi vô nhà hắn. Hắn nói tiếng Tây xì xồ với tụi Tây. Rồi hắn ở lại đó luôn, còn em tụi hắn đem giam vô lao Toà Khâm, nhốt em vô cái nhà nhỏ tối câm. Em ở đó được hai ngày thì cha em đến đón em. Cha em mặc đồ Tây, đeo lon quan hai, bên hông đeo khẩu súng lục ni. - Mừng chỉ khẩu súng "côn mười hai" để trên bàn. - Tay cầm roi cặc bò ngúc ngoắc, ngúc ngoắc. cha em dắt em ra ngồi trên xe Jeep, vặn lái chở em về nhà riêng Phú Cam. Trong nhà có dì ghẻ em. Dì ghẻ em theo đạo, trên cổ có đeo cái thập ác với dây chuyền vàng. Trên bàn thờ có ông Chúa đứng dang tay chéo chân, với người đàn bà bồng con nít. Cha em ăn cơm thịt bò, thịt gà, ra phố mua cho em mũ dép, mấy bộ quần áo, rồi chở đi nhà thương bôi thuốc cho lành ghẻ. Cha em nói: "Con đi theo Việt Minh làm chi cho khổ, ghẻ đầy người, chỉ còn da bọc xương. Ở đây với cha, với dì ít lâu, ăn uống tẩm bổ cho lại người, chữa cho lành bệnh, rồi cha xin việc cho mà làm". Em nói: "Con nhỏ ri biết làm việc chi?" - Cha em nói: "Rứa mà Tây họ đang cần con đó. Con mà biết nghe họ, làm việc cho họ thì con muốn chi được nấy". Em hỏi: "Cha có biết chừ mạ con ở mô không?" - Cha em nói: "Mạ con bị Tây bắn chết ngoài Phò Trạch rồi" - Mừng trở sống bàn tay quệt nước mắt, nức nở hồi lâu rồi kể tiếp: "Em ở nhà cha em được hơn mười ngày, cha em chở em đến chỗ cha em làm việc. Một cái nhà lầu ba tầng, có rất nhiều Tây, nhiều Việt gian đi đi lại lại. Cha em đưa em vô một gian buồng rất rộng trên vách có treo tấm bản đồ chiến khu mình, nhưng to bằng cả chiếc chiếu. Trong buồng có mấy thằng Tây, mấy thằng Việt gian xì xồ nói tiếng Tây, hút thuốc. Cha em cầm cái que gỗ tròn, dài hơn mét, chỉ lên bản đồ nói: "Con chỉ cho các quan Tây coi chỗ mô tụi Việt minh trên Hoà Mỹ đóng các cơ quan như trung đoàn bộ, tỉnh uỷ, uỷ ban tỉnh, công binh xưởng, kho đạn, kho lúa gạo, chỗ mô bố trí các ụ súng bắn máy bay, đường mô có gài mìn. Con mà chỉ trúng, các quan Tây sẽ thưởng cho con nhiều áơ quần đẹp, nhiều tiền tha hồ mà tiêu xài". Em ngó tấm bản đồ, giả đò như không biết, hỏi cha em: "Cái tờ giấy to đại chang ni là cái chi rứa cha?". Mấy thằng Tây, Việt gian kêu ồ ồ. Cha em quạu mặt nói: "Thằng Kim nói mi đọc bản đồ làu làu, mi đừng có làm bộ giả đui, giả điếc? Mi mà không chỉ thì các quan đây xách cổ mi đi bắn, cha cũng không xin được mô". Một thằng Việt gian đeo gương mát hỏi em: "Em đã nhìn thấy cái bản đồ giống như thế này bao giờ chưa?". Em nói: "Dạ có, em có nhìn thấy, cấp chỉ huy em cũng có một cái giống như ri, nhưng nhỏ chỉ bằng tờ báo, mà vẽ cũng không được khéo như ri. Hắn nói: "Theo lời thằng Kim thì chú mình đọc bản đồ giỏi như một sĩ quan tham mưu". Em nói: "Anh Kim nói chọc em chớ em ở trên chiến khu mới học i tờ tờ i ti, em làm răng đọc được cái bản đồ to mà chữ nhiều bắt loạn ri". Hắn xách tai em hỏi: "Rứa thì em ở trên đó Việt minh sai làm những việc chi?" - "Dạ, em chạy liên lạc, đưa công văn giấy má đến các cơ quan". - "Rứa chắc chú mi phải thuộc hết đường trong chiến khu?" - Em nói: "Dạ, đường thì tui thuộc, chạy liên lạc mà không thuộc đường, lạc bậy vô giữa rú, cọp hắn tha mất xác". Em cứ nói huyên thuyên rứa mà coi bộ cả tụi hắn cũng tin. Rứa là tụi hắn với cha em nói tiếng Tây xì xồ với nhau, rồi cha em nói với em: "Thôi đi về". Cha em vặn xe, chở em về nhà. Em ở nhà chơi không đến có hai tháng, nhiều lần em muốn trốn lên chiến khu, nhưng em không thuộc đường, sợ đi lạc bậy vô đồn Tây thì chết. Rứa rồi cách đây năm ngày, cha em với mấy thằng Việt gian chở em lên đồn Sơn Quả. Cha em nói: "Tây họ sắp sửa đánh lên chiến khu, bắt sống hết tụi Việt minh ẩn núp trên đó, đem về bắn cho dân Huế coi chơi. Con ở đây đợi lúc quân đội họ tấn công lên, thì họ gọi con đi dẫn đường. Con phải dắt chỉ cho họ những chỗ tụi Việt minh đầu sỏ ẩn núp, các chỗ để súng đạn, lúa gạo… Họ mà bắt trúng, họ sẽ thưởng cho con tiền ngàn, tiền vạn". Em giả đò mừng rỡ nói: "Dạ, tưởng việc chi, việc dắt đường thì con làm được. Con sẽ dắt họ đi khắp chiến khu để họ tha hồ mà bắt Việt minh". Ở đồn Sơn Quả, ngày mô em cũng đi ra đi vô cổng đồn cho tụi lính gác quen mặt em. Trưa hôm qua, cha em uống rượu với thằng đồn trưởng say mềm. Em chờ cho cha em ngủ say, em mở bao da lấy khẩu súng lục giắt vào lưng, rồi đi ra cổng đồn, thằng lính gác hỏi đi mô, em nói đi hái sim chín. Trước cống đồn có một vạt đồi sim chín rụng đầy đất, thằng gác nói: "Hái nhiều nhiều đem về cho anh ăn với nghe!". Em dạ. Em lũi vô giữa bãi sim, qua hết bãi sim đến đồi tranh. Em nhắm thẳng hướng chỉến khu em lũi. Em chạy gần thấu trạm gác thì trời đã tối được một lúc lâủ nhưng em không dám vô, em sợ các anh gác tưởng em là Việt gian, các anh bắn. Em chui vô giữa bụi lau rậm, ngồi núp ở đó cho tới sáng em mới vô. Đầu đuôi có rứa thôi anh nờ…
Logged

Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM