Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Hai, 2020, 11:10:12 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chân lý thuộc về ai - Grant Evans - Kelvin Rowley  (Đọc 70420 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2007, 03:37:27 PM »

Những Hoa kiều ở Việt Nam và cuộc khủng hoảng người tị nạn

Trong suốt năm 1977, căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh cũng tăng lên chung quanh thái độ của Việt Nam đối với một triệu rưởi Hoa kiều (gọi là người Hoa), trong đó 250.000 ở miền Bắc. Cũng như ở nhiều nước Đông Nam Á, những Hoa kiều ở Việt Nam vẫn duy trì một nền văn hoá Trung Quốc riêng biệt và các mối quan hệ gia đình với chính Trung Quốc. Phần đông đã đến đây làm ruộng hoặc buôn bán trong những giai đoạn ban đầu của việc mở rộng buôn bán hiện đại ở Đông Dương, và vào giữa thế kỷ XX, một số người Trung Quốc đã đóng một vai trò nổi bật trong công cuộc buôn bán và ngân hàng ở nhiều nước Đông Nam Á. Trước năm 1949, Bắc Kinh khăng khăng đòi tất cả Hoa kiều tiếp tục được giữ quy chế công dân Trung Quốc. Nếu họ muốn lấy quy chế công dân nước cư trú, họ phải có hai quốc tịch chứ không được từ bỏ quốc tịch Trung Quốc. Các Chính phủ Trung Quốc đòi quyền lãnh ngoại nghĩa là quyền có thể can thiệp ở các nước khác để bảo vệ kiều dân của họ.


Sau khi giành được độc lập sau chiến tranh thế giới thứ hai, các chính phủ quốc gia trên khắp Đông Nam Á thường đưa ra những đạo luật có lợi cho các nhóm dân tộc bản xứ, hoặc hạn chế các hoạt động của người Hoa. Trong phần đông các nước, người Hoa buộc phải từ bỏ quy chế hai quốc tịch: hoặc là họ là cồng dân Trung Quốc, hoặc là họ trở thành công dân nước cư trú, chứ không được cả hai. Trước một bối cảnh như vậy, các người cộng sản đã đánh giá lại quy chế truyền thống của Trung Quốc về quyền lãnh ngoại. Trong những năm 1950 theo sáng kiến của Chu Ân Lai, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chính thức từ bỏ yêu sách về quyền lãnh ngoại đó, xem đó như là một sự chấp nhận những nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia.


Ở Việt Nam, Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ở Việt Nam, nhưng không thoả thuận được với chế độ Sài Gòn. Năm 1955 Trung ương hai đảng cộng sản đã đi đến kết luận rằng các kiều dần Trung Quốc ở miền Bắc sẽ nằm dưới quyền lãnh đạo của Việt Nam, sẽ được hưởng những quyền lợi giống như các công dân Việt Nam và sẽ được khuyến khích tự nguyện nhận quốc tịch Việt Nam sau “khi được kiên trì thuyết phục và giáo dục về hệ tư tưởng”. Hiệp định không nói rõ thời gian cần thiết cho quá trình chấp nhận quốc tịch, tuy sau đó người Việt Nam đã tuyên bố: “Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam năm 1956 La Quý Ba, nói thời gian cần thiết để chuyển người Hoa thành công dân Việt Nam là từ 8 đến 10 năm, hoặc dài hơn một ít”. Nhưng người Việt Nam thì cho rằng thời gian đó là quá lâu so với thực tế ở các nơi khác.


Trong khi chờ đợi, người Trung Quốc ở Bắc Việt Nam được hưởng một địa vị đặc quyền. Năm 1980, một người Hoa 71 tuổi tị nạn từ miền Bắc nhắc lại rằng: “Chúng tôi là những người sung sướng nhất, người Hoa ở miền Bắc có tất cả quyền lợi và đặc ân của công dân Việt Nam và không phải chịu một thiệt thòi nào. Từ khoảng năm 1970, người Việt Nam tìm cách cho chúng tôi trở thành công dân Việt Nam nhưng ít người trong chúng tôi coi đó là có lợi cho chúng tôi. Chúng tôi cũng bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử của họ. Chúng tôi được xem như người Việt Nam trong tất cả các phương diện, trừ việc chúng tôi không phải làm nghĩa vụ quân sự”. Đó là một đặc quyền trong chiến tranh và người Trung Quốc tất nhiên là chẳng tha thiết gì để được đồng hoá.


Sức ép của Chính phủ Hà Nội đối với người Hoa về sự đồng hoá đã tăng lên trong những năm 1960 ở Bắc Việt Nam, khi người Hoa, làm theo cách mạng văn hoá của Trung Quốc, đã bắt đầu những hoạt động “Hồng vệ binh” và tố cáo Đảng Việt Nam là “xét lại”. Lo ngại về khả năng Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thao túng người Hoa, năm 1970 chính phủ Bắc Việt Nam bắt đầu giảm bớt những bài học về lịch sử và ngôn ngữ trong các trường Trung Quốc; một vài năm trước đó, những bảng tên bằng chữ Trung Quốc đã biến mất ở các cửa hiệu Hà Nội và Hải Phòng. Tuy nhiên so với các hành động của chế độ Sài Gòn, và so với điều sẽ xảy ra sau năm 1975, thì chính sách của miền Bắc đối với người Hoa trước năm 1975 là ôn hoà và khoan dung.


Năm 1956, chế độ miền Nam của Ngô Đình Diệm đã buộc người Hoa lấy quốc tịch Việt Nam, nếu không bị đuổi ra khỏi Việt Nam. Bắc Kinh phản đối hành động đó, nói rằng những biện pháp của miền Nam là “một điều vi phạm quyền hợp pháp của người Trung Quốc hải ngoại ở Nam Việt Nam". Hà Nội ủng hộ Bắc Kinh và đó là tuyên bố duy nhất của Hà Nội về quy chế của người Trung Quốc ở miền Nam trước năm 1978. Tuy nhiên, Mặt trận dân tộc giải phóng đã đưa ra một số lời tuyên bố giữa năm 1960 và 1968 đặc biệt nói rằng “tất cả các đạo luật và biện pháp của chế độ bù nhìn Mỹ về người Hoa sẽ bị huỷ bỏ” và “các người Hoa có quyền tự do chọn quốc tịch của mình”.


Khi những người cộng sản Việt Nam vào Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, vấn đề người Hoa vẫn chưa được giải quyết. Người Hoa tiếp đón họ ở Chợ Lớn với cờ nước Trung Hoa và ảnh của Mao Trạch Đông. Đó có lẽ là ý đồ của người Hoa muốn tỏ ra rằng họ đứng về phía những người lãnh đạo cộng sản mới của họ, nhưng với tình hình ngày càng căng thẳng trong quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh, ý đồ đó tỏ ra không thành công. Ngược lại, nó tăng thêm những nghi ngờ của những người cộng sản Việt Nam về lòng trung thành dân tộc của người Hoa ở Việt Nam.


Tháng giêng năm 1976 để thăm dò chiều sâu của vấn đề, chính phủ Việt Nam ra lệnh cho người Hoa đăng ký quốc tịch của họ; đa số người Hoa lúc đó đăng ký là người Trung Quốc, không thừa nhận việc họ buộc phải nhận quốc tịch Việt Nam trong những năm 1956-1957. Rõ ràng có phần lo ngại, chính phủ lại ra lệnh cho họ đăng ký lại trong tháng 2, lần này theo quy chế đã nêu dưới chế độ Diệm.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2007, 03:38:44 PM »

Vấn đề người Hoa đã được Hà Nội nhận thức như là một thử thách của chủ quyền Việt Nam, chứ không phải như là một vấn đề đối nội đơn giản.


Các quan hệ năm 1976 giữa Việt Nam và Trung Quốc còn thân thiện và dường như phần đông người Hoa ở miền Nam tuân theo những hành động của chính phủ Hà Nội. Nhưng khi cuộc xung đột giữa hai chính phủ nổi lên thì người Hoa bị kẹp vào giữa.


Bắc Kinh không bình luận gì về vấn đề người Hoa cho đến cuối năm 1976, thậm chí đến giữa năm 1977, có thể vì các nhà lãnh đạo Trung Quốc quá bận rộn với cuộc đấu tranh phe phái nội bộ của họ. Nhưng tháng 2 năm 1977 các xã luận của tờ Nhân dân Nhật báo và tờ Hồng Kỳ cho thấy sự quan tâm trở lại đối với vấn đề người Trung Quốc hải ngoại.


Tháng 6 năm 1977, phó thủ tướng Trung Quốc Lý Tiên Niệm đưa vấn đề người Hoa ở Việt Nam ra cho thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông ta trách ông Đồng đã “không tham khảo Trung Quốc" về vấn đề đó và cảnh cáo rằng “mỗi nước đều có trách nhiệm bảo vệ các quyền hạn và lợi ích chính đáng của công dân của mình sinh sống ở các nước khác”. Lý ngụ ý rằng tất cả người Hoa là kiều dân Trung Quốc ngày nay cho dù họ đã lấy quốc tịch Việt Nam. Điều này đã bị Hà Nội xem như một thách thức đối với chủ quyền của họ. Cùng với cuộc tranh chấp âm ỉ trên biển Đông, và tình hình xấu đi nhanh chóng tại biên giới Việt Nam-Campuchia vấn đề người Hoa đã đặt hai nước vào một quá trình xung đột.


Do đó, khi Bắc Kinh bắt đầu một chính sách mới hung hăng về người Trung Quốc hải ngoại vào cuối năm 1977, họ đã gây ra sự lo ngại ở Việt Nam. Những lo ngại của Hà Nội đã được tăng lên khi chính sách mới đó được phác hoạ trong Nhân dân Nhật báo ngày 4 tháng giêng năm 1978. Nó nói đến người Trung Quốc hải ngoại như “một phần quốc gia Trung Quốc… với số phận của họ gắn liền chặt chẽ với số phận của tổ quốc”, và ý định của Bắc Kinh là “củng cố công tác ngoại kiều” và “đoàn kết với những người Trung Quốc hải ngoại thuộc giai cấp tư sản” và “làm việc tích cực với họ… để thành lập một mặt trận yêu nước thống nhất rộng rãi” nhằm phục vụ mục tiêu bốn hiện đại hoá. Đây là bước tách xa các chính sách những năm 1950 của Chu. Rồi ngày 26 tháng 2 tại Đại hội Quốc dân lần thứ năm ở Bắc Kinh, chủ tịch Hoa Quốc Phong tuyên bố rằng Trung Quốc chống lại mọi âm mưu buộc các người Trung Quốc hải ngoại thay đổi quốc tịch.


Những lo ngại của Hà Nội đặc biệt tập trung vào vấn đề lòng trung thành chính trị của cộng đồng người Hoa ở miền Nam. Ở đây, các nhà kinh doanh Trung Quốc đã luôn luôn giữ độc quyền các công ty bán buôn và xuất nhập khẩu, và với tư cách là một nhóm năm quyền lực kinh tế to lớn, đã thường cản trở một cách có hiệu quả các cố gắng cải cách kinh tế dưới chế độ Thiệu. Chế độ cộng sản mới cũng vấp phải vấn đề tương tự như vậy, khi giao thiệp với tập đoàn đầu sỏ thương mại đó. Một tạp chí của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích như sau về tình hình ở miền Nam tháng 8 năm 1978: “Giai cấp tư sản thuộc dòng dõi Trung Quốc… kiểm soát hầu như tất cả các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt kiểm soát chặt chẽ ba lĩnh vực then chốt: chế biến, phân phối và tín dụng. Vào cuối năm 1974, chúng kiểm soát hơn 80 phần trăm các cơ sở về lương thực, hàng dệt, hoá chất, kim khí, các công nghiệp xây dựng và điện, và hầu như nắm độc quyền thương mại, 100 phần trăm bán buôn, hơn 50 phần trăm bán lẻ và 90 phần trăm xuất nhập khẩu. Chúng hoàn toàn kiểm soát việc mua thóc gạo… Vì chúng kiểm soát việc cung cấp hàng hoá cho thị trường, chúng có thể thao túng giá cả… thông qua hệ thống xuất nhập khẩu, hệ thống vận tải và hệ thống các nhà buôn vừa và nhỏ thuộc nguồn gốc Trung Quốc… Chúng xây dựng một thế giới khép kín dựa trên một hệ thống các bè phái, mỗi bè phái có người đứng đầu, để tránh sự can thiệp trực tiếp của chính quyền địa phương. Mỗi phái có ngân sách riêng, trường học, bệnh viện, báo chí, tổng hành dinh và nghĩa địa riêng với một ngành hoạt động đặc biệt. Đó thực sự là một quốc gia trong một quốc gia…” (tờ Việt Nam Courrier, số 78 tháng 11 năm 1978).


Một tỷ lệ lạm phát 80 phần trăm năm 1977 và những vấn đề thiếu lương thực và đầu cơ tích trữ không chấm dứt được, đã làm cho những người cộng sản tiếp tục thấy rõ sức mạnh của các nhà tư bản ở miền Nam. Hà Nội sợ rằng chúng dễ bị lôi kéo vào các mục tiêu chính sách đối ngoại của Bắc Kinh, và điều đó, kết hợp với sự sa sút nghiêm trọng của nền kinh tế ở miền Nam do cuộc xung đột với Campuchia gây ra, làm cho các nhà lãnh đạo Việt Nam lo ngại về một cuộc suy sụp của đất nước từ bên trong và từ bên ngoài theo ý đồ của Trung Quốc. Tiếp theo Phnôm Pênh không chịu đáp ứng một đề nghị hoà bình quan trọng của Hà Nội ngày 5 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam họp phiên thứ 4 rất ý nghĩa và thông qua hai quyết định gắn bó với nhau về mặt chiến lược: quyết định thứ nhất là tìm cách lật đổ Pol Pot; quyết định thứ hai là đập gãy lưng tập đoàn do Trung Quốc khống chế ở miền Nam.


Cuộc tiến công vào “tập đoàn thương mại” ở Sài Gòn-Chợ Lớn đã được tiến hành một ngày thứ sáu (24 tháng 3) khi nhiều nhà buôn lớn chuẩn bị đi nghỉ cuối tuần ở bờ biển Vũng Tàu, khoảng 70 kilômét đông nam thành phố. Khoảng 30.000 nhà kinh doanh bị quốc hữu hoá; những người cộng sản trẻ được động viên tiến hành hoạt động này nói họ đã phát hiện những kho cất giấu hàng hoá và vàng thỏi. Tuy nhiên, hàng nghìn những nhà kinh doanh nhỏ khác và những người buôn lẻ, được tiếp tục hoạt động. Những biện pháp này đã được mở rộng ra toàn miền Nam trong tháng 4. Rồi, ngày 3 tháng 5, một đồng tiền quốc gia mới được đưa ra để thay thế cho các đồng tiền riêng rẽ của miền Bắc và miền Nam. Việc này càng làm yếu thêm vị trí kinh tế của những nhà buôn giàu và thắt chặt sự kiểm soát của chính phủ đối với nền kinh tế. Những người mất việc do những biện pháp này bị buộc phải rời các đô thị để đến các vùng kinh tế mới tại biên giới Campuchia. Nhiều người thích rời đất nước hơn.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2007, 03:40:16 PM »

Số người bỏ Việt Nam ra đi trong ba năm đầu sau năm 1975 trung bình là 35.000 mỗi năm. Con số này tăng lên hơn gấp đôi trong sáu tháng đầu năm 1979. Phần đông những người này là những “thuyền nhân” chạy sang các nước Đông Nam Á hoặc Hồng Công; và trong năm 1978-1979, tuyệt đại đa số là người Hoa. Cộng vào với những “thuyền nhân”, phải tính thêm khoảng 250.000 người Hoa vượt biên giới sang Trung Quốc giữa tháng 4 năm 1978 và mùa hè 1979.


Những nhà lãnh đạo cộng sản ở Bắc Kinh rêu rao rằng người Việt Nam “khai trừ, hành hạ và đuổi các Hoa kiều”. Để trả lời, tờ Nhân dân, ngày 29 tháng 5 năm 1978, hỏi tại sao Trung Quốc lại quan tâm tha thiết như vậy với “một nhóm tư sản Việt Nam gốc Trung Hoa” trong khi không hề biết đến hàng nghìn người Trung Quốc ở Campuchia đã bị hành hạ, giết hại và đuổi ra khỏi nước.


Trái với miền Nam, người Hoa ở miền Bắc duy trì những tiếp xúc chặt chẽ với Trung Quốc, và họ không phải trực tiếp đương đầu với vấn đề quốc tịch. Nhưng như một người tị nạn giải thích, tất cả đã thay đổi năm 1978. Anh ta nói: “Đầu tháng 5 năm 1978, Xuân Thuỷ (người đã thay mặt cho Hà Nội tại cuộc hội đàm hoà bình ở Paris) trả lời một buổi phát thanh của đài Bắc Kinh tố cáo Việt Nam hành hạ người Hoa. Ông ta ghi nhận rằng Trung Quốc và Việt Nam đã thoả thuận năm 1954 rằng người Hoa sẽ dần dần trở thành những công dân Việt Nam. Lời công bố đó là một điều bất ngờ đối với chúng tôi. Nó chưa hề được bao giờ đưa ra công khai. Điều làm cho chúng tôi lo ngại nhất là việc phải đi lính, mà chúng tôi xem là con đường chắc chắn dẫn đến cái chết. Nó cũng có nghĩa là người Hoa có bà con ở Trung Quốc sẽ không còn có thể đi thăm họ nữa. Điều này rất quan trọng về những lý do kinh tế cũng như tình cảm. Theo thói quen, người Hoa có thể cứ ba năm thì về thăm Trung Quốc một lần. Những người đi có thể mang hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc và mang hàng hoá Trung Quốc trở lại Việt Nam để bán ở chợ đen, như vậy, công bố nói trên cũng có nghĩa là một sự thiệt hại về kinh tế”.


Trong một không khí như vậy, những tin đồn hoảng hốt về chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam và về điều có thể xảy ra cho người Hoa nếu họ tiếp tục ở lại Việt Nam, đã thúc đẩy một cuộc tháo chạy khỏi miền Bắc. Cả người Việt Nam lẫn người Trung Quốc đều đổ cho nhau về việc làm cho những tin đồn đó lan rộng. Việc bỏ chạy ở miền Bắc qua biên giới trên đất dễ thực hiện hơn qua hải phận (ít có người Hoa nào ở miền Nam muốn chạy sang Campuchia của Pol Pot). Brnce Grant đã viết: Một khi đã được bắt đầu thì “phong trào ra khỏi Việt Nam và vào Trung Quốc không thể nào chặn lại được, bởi vì nó bị thúc đẩy vì tin đồn, sự khiếp sợ và sự tuyên truyền ngày càng hiểm độc về chiến tranh giữa Bắc Kinh và Hà Nội. Một khi đã bắt đầu, phong trào tự nó tiếp tục phát triển nhanh chóng. Những đợt ra đi từ miền Bắc ảnh hưởng nhanh chóng đến cộng đồng người Trung Quốc ở miền Bắc ảnh hưởng nhanh đến cộng đồng người Trung Quốc ở miền Nam cũng như những biện pháp quốc hữu hoá và cải cách tiền tệ ở miền Nam cũng gây những tác động không ổn định đối với người Hoa ở miền Bắc. Vào giai đoạn này các nhà chức trách Việt Nam vẫn còn tìm cách làm cho người Hoa nản lòng không bỏ miền Bắc vì họ là một bộ phận có ý nghĩa trong lực lượng lao động lành nghề, nhất là ở các mỏ và trong thành phố cảng Hải Phòng.


Ở miền Nam, nhiều người Hoa đã nhiệt liệt đáp ứng chủ trương của Trung Quốc giành quốc tịhc Trung Quốc trở lại cho họ. Họ hy vọng rằng với tư cách là kiều dân nước ngoài họ sẽ làm ăn tốt hơn về mặt kinh tế, sẽ tránh được quân dịch và có thể rời đất nước giống như những kiều dân Pháp và Ấn Độ ở miền Nam. Những tính toán này của họ ít liên quan đến lòng trung thành chủng tộc hoặc quốc gia đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam không nhìn tình hình đó bằng cách như vậy, và những cuộc biểu tình của người Hoa ở Chợ Lớn đòi quốc tịch Trung Quốc càng làm tăng thêm những lo ngại của Hà Nội đối với họ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2007, 03:41:24 PM »

Khi Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công bố ngày 26 tháng 5 năm 1978 rằng họ đang đưa tàu biển đến Việt Nam để đón “các Hoa kiều nạn nhân”, thì khoảng 250.000 người Hoa ở Chợ Lớn đã đăng ký xin đi. Sau khi gây ra việc xin hồi hương của người Hoa, người Trung Quốc lại không chịu tiếp tục công việc đó, lấy cớ rằng Việt Nam không chịu thừa nhận rằng “các kiều dân Trung Quốc" đang bị khai trừ và hành hạ. Việc đó làm cho giới lãnh đạo Việt Nam cảm thấy càng không chắc chắn về lòng trung thành của người Hoa đồng thời cũng làm cho người xin ra đi bị lộ mặt và dễ bị chính phủ đàn áp. Kết quả cuối cùng là Hà Nội nhìn toàn bộ vấn đề là một phần của âm mưu Trung Quốc làm cho Việt Nam mất ổn định. Chính liền sau sự kiện đó và trong tình hình căng thẳng ngày càng tăng ở các biên giới Việt Nam-Campuchia và Trung Quốc-Việt Nam, mà Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định tháng 6 năm 1978 “rõ ràng xác nhận Trung Quốc là kẻ thù chính của Việt Nam".


Khi Trung Quốc đóng cửa biên giới của mình đối với những người tị nạn tháng 7 năm 1978, thì người Việt Nam nhanh chóng xem đó là một âm mưu nhằm duy trì “một quốc gia Trung Quốc nhỏ trên lãnh thổ Việt Nam" có thể được dùng để “gây rối và náo động”.  Bởi thế cho nên từ tháng 9 trở đi, Hà Nội bí mật cộng tác với các nghiệp đoàn người Trung Quốc hải ngoại hoạt động ở Hồng Công, Đài Loan và Singapore để làm dễ dàng việc đưa ra khỏi Việt Nam những người Hoa đã tỏ ra “không trung thành” bằng việc muốn trở lại quốc tịch Trung Quốc và muốn rời đất nước.


Việc chính phủ Việt Nam tham gia vào việc tổ chức cuộc ra đi tất nhiên đã làm tăng một cách đột ngột số người ra đi. Trong thời gian tháng 12 năm 1978 và tháng giêng năm 1979, việc ra đi ngừng lại một lúc, nhưng tiếp theo cuộc xâm lược của Trung Quốc, nổi lên một tâm lý chống Trung Quốc trên khắp nước, làm cho số người ra đi ở cả miền Bắc lẫn miền Nam tăng vụt lên như rocket. Nhiều người Hoa ra đi bởi vì họ biết rằng trong cuộc xung đột đang tăng lên giữa Trung Quốc và Việt Nam, thì những người Trung Quốc ở Việt Nam sẽ không tránh khỏi số phận của món thịt kẹp giữa bánh sandwich. Những người khác thì bị quét đi vì khiếp sợ. Và nhất là từ giữa năm 1978 trở đi, một số lớn người, cả người Hoa lẫn người Việt Nam ở mức độ thấp hơn, muốn ra đi để tránh các điều kiện kinh tế đang xấu đi. Dù lý do muốn đi của họ là gì, tất cả đều biết rằng ra đi bằng con đường chính thức sẽ quá chậm và kéo dài, họ muốn ra đi ngay, chứ không phải trong vòng 5 năm, và ký giao kèo với cái mà các nhà báo gọi đùa là “Công ty du lịch bằng thùng gỉ”.


Nhưng thật ra không phải là đùa. Để được đi càng nhanh càng tốt, thuyền nhân sẵn sàng chịu những mạo hiểm hơn. Họ bị những chủ thầu vô lương tâm lừa lọc, và cái giá của sự thoát thân của họ chưa phải trả xong khi đã thanh toán bằng tiền và vàng. Họ thường ra đi trên những chiếc thuyền nhỏ, quá đông người và ọp ẹp dùng chạy sát bờ biển chứ không phải ra khơi. Ít người trong họ thạo nghề đi biển hoặc hàng hải. Họ thường thiếu lương thực và nước vì tính toán không đúng thời gian và khoảng cách, và nhiều thuyền bị đánh vỡ ở giữa đại dương. Nhiều người định đi đến các bờ biển Thái Lan hoặc Malaysia bị chết trong các cuộc tiến công tàn ác của những cướp biển hoạt động trong Vịnh Thái Lan.


Người ta rêu rao trong năm 1979 rằng khoảng 40 đến 70 phần trăm thuyền nhân đã chết trong cuộc chạy trốn của họ. Những con số như vậy đã được lấy làm cơ sở để buộc tội rằng chính phủ Việt Nam phạm phải tội diệt chủng đối với người Hoa, rằng chính phủ đó đã cố ý dùng đại dương như “phòng hơi độc của người xấu số”. Tất nhiên, chínhh tính chất của cuộc ra đi làm cho không có những con số chính xác được, nhưng rõ ràng là những con số đó đã bị thổi phồng quá đáng. Tỷ lệ chết thực sự của các “thuyền nhân” thấp hơn nhiều, khoảng dưới 10 phần trăm. Nhưng ngay sự ước tính đã giảm đi đó cũng còn là đáng sợ, nghĩa là trong bốn năm 1976-1979 “hơn 300.000 sinh mạng đã chết một cách không cần thiết ở biển”.


Có lẽ cuộc ra đi này của thuyền nhân làm tổn hại hình ảnh quốc tế của Việt Nam hơn là cuộc xâm lược Campuchia. Ngay trong năm 1978, dòng người ra đi đã làm tổn thương nghiêm trọng đến các quan hệ đang phát triển của Việt Nam với các nước ASEAN, là những nước phải chịu gánh chính. Tất cả các nước đó đều có vấn đề người Trung Quốc hải ngoại của riêng mình và vào năm 1979, nhiều người ở ASEAN xem các hành động của Việt Nam như là một âm mưu làm mất ổn định phần còn lại của Đông Nam Á.


Một trong những tác động quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng người tị nạn là nó đẩy các nước ASEAN cùng nhau phối hợp các chính sách đối với Việt Nam và Đông Dương của họ và do đó mà làm yếu đi nền ngoại giao của Việt Nam trong vùng.


Vào tháng 7 năm 1979, cuộc khủng hoảng người tị nạn trên thực tế đã đến đỉnh cao. Tại Hội nghị Geneva tháng đó, Tổng thư ký Liên hợp quốc đã có thể nói trong diễn văn bế mạc của ông rằng: “Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cho phép tôi báo với các bạn rằng trong một thời gian phải chăng nữa, chính phủ đó sẽ tìm mọi cách chấm dứt các cuộc ra đi bất hợp pháp”. Trong ba tháng tiếp theo, số người tị nạn rời Việt Nam giảm xuống một cách hấp dẫn; việc đó đã làm cho người ta không tin như trước vào những lời phản đối chính phủ Việt Nam rằng Chính phủ đó đã không kiểm soát được cuộc ra đi, và từ đó các cuộc ra đi đã giảm đi một cách vững chắc. Vào giữa năm 1979 thuyền nhân rời Việt Nam với tỷ lệ gần 5 phần nghìn một tháng. Đến năm 1983, chỉ còn khoảng 3.000 mỗi tháng. Và càng về sau, họ ra đi ít vì lý do chính trị hơn là đi tìm sự giàu có của phương Tây.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2007, 05:40:08 PM »

Đỉnh cao tiền định

Khi cuộc xung đột với Trung Quốc và cuộc khủng hoảng trong nước tăng lên thì cuộc chiến đấu với lực lượng Pol Pot cũng tăng lên. Tháng 6 năm 1978, khi ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định xác nhận dứt khoát Trung Quốc là kẻ thù chính của Việt Nam, họ cũng quyết định sẽ can thiệp ở Campuchia để tiêu diệt chế độ Pol Pot. Công cuộc chuẩn bị cho cuộc xâm chiếm đã bắt đầu. Trong khi đó thì Hà Nội khởi xướng một cố gắng tuyệt vọng cuối cùng nhằm bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Ngày 11 tháng 7, thứ trưởng ngoại giao Phan Hiền công bố ở Tokyo rằng Việt Nam sẽ bỏ tất cả các điều kiện tiên quyết cho việc bình thường hoá quan hệ với Mỹ. Chính quyền Cater không chịu thừa nhận sự thay đổi đó, nhấn mạnh rằng không được thông báo chính thức và đòi “phải có văn bản viết”.


Trên thực tế, một cuộc đấu tranh lớn đang xảy ra trong nội bộ chính phủ Mỹ về chính sách đối ngoại lúc đó. Cố vấn an ninh quốc gia của Cater, Brê-din-xki cho rằng Mỹ phải có đường lối cứng rắn chống Liên Xô bằng việc chơi “con bài Trung Quốc" chống lại ảnh hưởng Xô Viết ở châu Á. Ở Đông Dương thì thái độ đó có nghĩa là ủng hộ Trung Quốc, và mở rộng ra, là ủng hộ Pol Pot trong cuộc tranh chấp của họ chống lại chính phủ thân Matxcơva ở Hà Nội. Còn ngoại trưởng của Cater, Xây-rớt Van-xơ thì bảo vệ một nền ngoại giao mềm dẻo hơn khi giao thiệp với Liên Xô, đặc biệt là duy trì hoà dịu chứ không phải cố ý làm trầm trọng thêm những căng thẳng chiến tranh lạnh. Tháng 3 năm 1978, Hôn-brúc, một người ủng hộ Van-xơ đã lập luận chống lại Brê-din-xki và cho rằng Mỹ không được cột mình quá chặt vào chính sách của Trung Quốc ở Đông Á và chính vì lợi ích của Mỹ mà phải tìm cách ổn định vùng Đông Nam Á bằng việc bình thường hoá quan hệ với Hà Nội. Nhưng vào giữa năm thì rõ ràng là Brê-din-xki chứ không phải Van-xơ định ra bước đi của chính sách đối ngoại Mỹ.


Vào giữa năm 1978 Việt Nam bị lún sâu vào khủng hoảng kinh tế và một lần nữa ở trong tình trạng chiến tranh, và nhu cầu viện trợ từ thế giới bên ngoài trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Ngày 29 tháng 7 năm 1978 Việt Nam trở thành thành viên của Hộí đồng tương trợ kinh tế (COMECON). Trong tuân tiếp theo sau đó, Trung Quốc chậm dứt tất cả viện trợ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam, gọi số nhân viên kỹ thuật còn lại về nước và xi vả hết lời giới lãnh đạo Hà Nội, nào là theo đuổi “bá quyền khu vực”, nào là đóng vai trò “Cu-ba của phương Đông” và nào là “bạn nhỏ cùng hội” trong mưu đồ Xô-viết kiểm soát Đông Nam Á.


Tại Mỹ Brê-din-xki lợi dụng bước đi đó của Việt Nam đề lâm cơ sở cho lấp luận về sự lệ thuộc của Việt Nam vào Liên Xô. Cố vấn của ông ta về Trung Quốc, Michael Oksenberg (nổi tiếng về nhận xét của ông ta rằng Việt Nam là “hầm chứa phân của nền văn minh”), gợi ý rằng Việt Nam có thề bi mật bị buộc phải cho người Xô-viết các quyền dặt căn cứ tại vịnh Cam Ranh. Hôn-brúc nhanh chóng, bằng một báo cáo của CIA, bác bỏ lời tố cáo đó, và kết quả là Hôn-brúc được phép bắt đầu hội đàm với thứ trưởng bộ ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch. Những cuộc hội đàm đó bắt đầu ngày 16 tháng 9: Việt Nam một lần nữa đòi viện trợ xây dựng lại, nhưng nhanh chóng gạt bỏ ý kiến đó để bình thường hóa mà không cần điều kiện trước; rõ ràng đây là một có gắng thăm dò cuối cùng: Cả hai bên đã đồng về nguyên tắc việc bình thường hóa. Rồi ông Thạch thúc việc ký vào tháng 11, rõ ràng nhằm đi trước bật kỳ hành động nào của Việt Nam chống Cam-pu-chìa. Hôn-brúc trì hoãn, nói rằng cần phải đợi các cuộc bầu cử nghị viện và việc ký có thề tiến hành vào tháng 11, chừng nâo không có thay đổi gì trong các quan hệ của Việt Nam với Liên Xô và không có hành động nào chống Cam-pu-chia.


Nhưng Việt Nam không thề chấp nhận những cam kết mơ hồ như vậy Việt Nam đang chịu sức (ép bên trong và bên ngoài đòi hỏi phải đẩy nhanh biếu thời gian ngoại giao quân sự đã được quyết định hồi tháng 6. Vào tháng 10, Việt Nam thấy rõ ràng phái cứng rắn đang khống chế chính quyền Mỹ và mọi trì hoãn thêm nữa sẽ chỉ để cho Trung Quốc có thời gian tô vẽ hình ảnh quốc tế của Phnôm Pênh và để cho họ tiếp tục cuộc chiến tranh biên giới tai hại.


Ngày 3 tháng 11 năm 1978, Việt Nam ký Hiệp ước hữu nghi và hợp tác 25 năm với Liên Xô. Hiệp ước gồm 6 hiệp định kinh tế và một điều khoản quân sự yêu cầu các bên tham khảo ý kiến nhau khi có đe dẹa tiến công chống một trong hai bên. Điều này rõ ràng là một có gắng của Việt Nam nhằm chống lại một sự trả đũa của Trung Quốc tiếp theo cuộc phản công Phnôm Pênh mà Việt Nam định cho tháng 12.


Cùng ngây, Xai-rớt Van-xơ cuối cùng thừa nhận rằng Việt Nam đã xóa bỏ tất cá các điều kiện tiên quyết cho cuộc hội đàm với Mỹ. Nhưng việc này đã quá chậm để có thể ảnh hưởng đến sự diễn biến của các sự kiện: hiệp ước Xô-Việt đã bị Brê-din-xki vồ ngay lấy cho nên khi Hôn-brúc và Thạch gặp nhau cuối tháng đó đề tìm cách kết thúc cuộc hội đàm về bình thường hóa, thì ông Thạch phát hiện rằng Mỹ cửng rắn nêu các điều kiện tiên quyết. Việt Nam sẽ phải bảo đảm không xâm chiếm Cam-pu-chia, và, theo cách nhìn của Mỹ, không khuyến khích việc nhập cư bất hợp pháp vào các nước khác, và không gây ra một cuộc chiến tranh được Liên Xô ủng hộ, với Trung Quốc. Ông Thạch đã bác bỏ tất cá các điều nói bóng gió về các yêu sách đó. Trước tình hình như vậy, cả hai người cho những tài liệu không được ký kết vào cặp và với bộ mặt nghiêm nghị ở cả hai bên, cuộc gặp tan vỡ.


Rõ ràng là các kh “hoà bình” lạc quan của những năm 1975-1976 nhằm xây dựng lại Việt Nam sau chiến tranh đã bị thất bại. Nhưng không có bằng chứng rằng đó là do chủ nghĩa bành trướng cuồng tín của phía Hà Nội. Ưu tiên bao trùm của họ là phát triển một đất nước còn rất nghèo. Trong quan hệ của họ với phương Tây trong giai đoạn ngay sau chiến tranh, người Việt Nam cố dùng ngoại giao để giành lợi ích kinh tế lớn nhưng đã không thành công. Các quan hệ của họ với các nước ASEAN đã phát triển thuận lợi cho đến khi bị phá hoại vì cuộc khủng hoảng ghép đôi vấn đề Cam-pu-chia và vấn đề thuyền nhân trong những năm 1978-1979.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2007, 05:43:16 PM »

3-Lào: Sự lu mờ của chủ nghĩa cộng sản “trung lập”

Sự chấm dứt viện trợ Mỹ cho Lào giữa năm 1975 đã thực sự chấm dứt thời gian Lào nằm trong phạm vi ảnh hưởng của phương Tây, trong khi việc tiếp quản hoàn toàn của Pa-thét Lào tháng 12 năm đó ghi nhận bước chuyển quyết định của Lào vào “phe xã hội chủ nghĩa”. Chính vì sự hiểu biết quá đơn giản của các nhà báo và viện sĩ viết về Đông Dương mà từ lúc đó trở đi, Lào đã trở thành một “thuộc địa” của Việt Nam. A–tơ J.Đôm-men (Arthur J.Dommen) tác giả của một công trình nghiên cứu lớn về Lào trước khi xảy ra cuộc tiếp quản của cộng sản, bây giờ gọi đất nước đó là “một chư hầu của Việt Nam" và chính phủ Viêng Chăn là “bù nhìn” của Hà Nội (xem quyển “Lào: chư hầu của Việt Nam" của A–tơ J.Đôm-men-ND). Một chuyên gia khác Mác-tin Xtu-át-Phốc (Martin Stuart-Fox) đã viết về Lào: “Tất cả các lĩnh vực làm ra quyết định lớn, từ chính sách ngoại giao cho đến kế hoạch kinh tế và an ninh quân sự đều phụ thuộc vào sự chỉ huy của Việt Nam“. Thực vậy, nhiều người đã lập luận rằng Lào là một nguyên mẫu cho việc thành lập “Liên bang Đông Dương", gồm có Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Không có ai đưa quan điểm này ra một cách mạnh mẽ bằng Đôm-men: “Việc đóng quân của Việt Nam ở Lào ngày nay rõ ràng nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và công cuộc xây dựng văn hoá không phải của Lào mà của một Đại Việt Nam, mà những người kế tục ông Hồ Chí Minh dự tính và được khối Xô-viết ủng hộ. Nước Đại Việt Nam còn quá hơn trong Liên bang Đông Dương mà ông Hồ dự kiến khi ông còn bận tâm với việc đuổi người Pháp… Việt Nam đã thay Pháp với tư cách là một cường quốc thực dân ở Đông Dương" (xem quyển “Lào: chư hầu của Việt Nam” đã dẫn-ND).


Không ai chối cãi rằng mối quan hệ giữa Lào và Việt Nam là một mối quan hệ không ngang nhau, trong đó Hà Nội có nhiều ảnh hưởng hơn Viêng Chăn; một sự nghiên cứu lướt qua nhất về những khả năng chính trị mà hai chế độ đó có thể thu thập được cũng nhanh chóng cho thấy rõ thực tế trên đây. Thế nhưng nhiều nhà văn khi thảo luận mối quan hệ Lào-Việt Nam đã làm lu mờ tất cả các khác biệt cốt yếu giữa thôn tính thẳng thừng, liên bang, ách thực dân với việc thành lập các liên minh giữa những quốc gia có chủ quyền. Trong đoạn vừa trích dẫn, Đôm-men dường như tưởng tượng rằng việc thành lập một “Liên bang Đông Dương" là ngang với việc thôn tính của một quốc gia mà anh ta gọi là “Đại Việt Nam” và anh cũng cho rằng điều đó đã xảy ra ở Đông Dương. Trước một sự tưởng tượng võ đoán như vậy, cần phải có một vài nhận xét sơ đẳng. Trước tin, không có thực thể chính trị nào mà Đôm-men nhắc đến, đang tồn tại trên thực tế hiện nay. Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã được Liên hợp quốc, Mỹ, Trung Quốc và một loạt các chính phủ khác thừa nhận như một quốc gia có chủ quyền với mọi quyền hạn, trong đó có quyền lập liên minh với các quốc gia có chủ quyền khác mà họ muốn; nhưng không có thể chế nào có thể gán cho cái tên ““Liên bang Đông Dương" hoặc ““Đại Việt Nam”.


Nếu chúng ta tập trung vào các mối quan hệ chính thức, mà không có chút nào là không quan trọng cả, thì những tuyên bố đó, có thể chứng minh là không đúng. Đấy chỉ là cách nói cẩu thả nguỵ trang thành một bản phân tích chính trị. Nhưng nếu chúng ta gạt sang một bên những lời lẽ hồ đồ mà họ dùng thì những điểm cơ bản mà các tác giả như Đôm-men và Xtu-át Phốc muốn nói có hai mặt: Mặt thứ nhất là mặc dù về chính thức của chính phủ Việt Nam. Mặt thứ hai là sự kiểm soát đó là có hại cho Lào. Nói một cách khác, người ta cho rằng mối quan hệ đó là theo kiểu mà một số tác giả gọi là “thực dân mới”.


Để cung cấp tư liệu cho lời rêu rao đó, cần phải có một sự nghiên cứu chi tiết và có kinh nghiệm hơn là các tác giả đó đã làm. Từ đầu, phải nhấn mạnh rằng vấn đề đang tranh cãi không phải là vấn đề không bình đẳng, hoặc là vấn đề ảnh hưởng của Việt Nam ở Lào, mà là vấn đề kiểm soát và bóc lột Lào của Việt Nam. Tính chất cho là hiểm độc của cường quốc Việt Nam phải được chứng minh đầy đủ, chứ không thể chỉ là sự khẳng định hoặc giả sử.


Chắc chắn, không thể tranh cãi gì về thực tế rằng mối quan hệ giữa hai chính phủ đó là một mối quan hệ chặt chẽ, chính Thủ tướng Lào và Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã là người đầu tiên nói về “mối quan hệ đặc biệt” giữa Việt Nam và Lào trong một diễn văn tại Đại hội lần thứ tư của Đảng Cộng sản Việt Nam cuối năm 1976: “Trong lịch sử của cách mạng thế giới, những gương của tinh thần sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản không thiếu, nhưng chưa hề bao giờ ở đâu có một liên minh của tinh đoàn kết chiến đấu tồn tại lâu dài đặc biệt như vậy. Tình đoàn kết và liên minh lâu dài đó đã đề cao giá trị của mỗi dân tộc. Mỗi bên hợp lực với nhân dân của hai nước kia để chiến đấu và đưa lại thắng lợi, đồng thời hoàn thành nghĩa vụ lịch sử cao quý trước mỗi nước chúng ta và trước phong trào cách mạng của thế giớí. Các quan hệ giữa Việt Nam và Lào đã trở thành những quan hệ đặc biệt rất trong trắng, khắc sâu với một lòng trung thành gương mẫu và hiếm có mà càng ngày càng được củng cố và phát triển". Chắc chắn là Đôm-men sẽ xem diễn văn này chẳng hơn gì một chư hầu ca tụng chủ của mình tại triều đình. Tuy vậy, như chúng ta sẽ thấy diễn văn của Cay-xỏn có lẽ là một ví dụ hiếm có của những lời lẽ chính trị nói lên những niềm tin thực sự.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2007, 05:44:57 PM »

Phần lớn các bài phê bình “mối quan hệ đặc biệt” Lào-Việt Nam cho rằng có một sự “đối kháng” tự nhiên giữa chủ nghĩa quốc gia Lào và chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, và liên minh giữa hai nước bao hàm sự lệ thuộc của Lào vào Việt Nam. Phần lớn điều này đã không được dựa vào những quyết đoán mập mờ về những “đối kháng lịch sử" giữa hai nước và những bất đồng chủng tộc, nhưng không có ai thực sự tranh luận quan điểm này một cách đầy đủ, chi tiết, và cũng giống như nhiều vấn đề khác, nó vẫn là một giả định “coi như là điều dĩ nhiên”.


Một trong số ít công trình nghiên cứu có kinh nghiệm về vấn đề này là công trình nghiên cứu của Pôn Lan-giơ (Paul Langer) và Giô-dép Da-xlốp (Joseph Zasloff) thuộc Rand Cóc-po-rê-sơn (Rand Corporation) trong những năm 1960. Họ kết luận: “Một thuyết được chấp nhận rộng rãi cho rằng người Lào không thích người Việt Nam. Nghiên cứu của chúng tôi vạch ra một mối quan hệ phức tạp hơn. Một người Lào vùng thấp điển hình ít biểu lộ chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi hoặc tinh thần bài ngoại sâu sắc và hiểm độc thường thấy ở châu Á cận đại và thường chĩa vào các dân tộc láng giềng. Do vậy, trong quảng đại quần chúng, các cảm giác chống Việt Nam không tỏ ra gay gắt. Tuy nhiên, đúng là nhiều người của giới thượng lưu Lào sợ cái mà họ nhận thức như là tính chất hăng hái của Việt Nam, cũng như sợ tổ chức và năng lực của họ… Cảm giác của sự không tương xứng so với người Việt Nam thường thấy rõ ở những người Lào có học mà các quan chức thực dân Pháp đặt dưới quyền người Việt Nam trước kia. Các quan chức này theo đuổi những chính sách sử dụng người có phần phân biệt đối xử đối với người Lào”. Những người thượng lưu nói đến trên đây là những người thượng lưu của chính phủ hoàng gia Lào được Mỹ ủng hộ, chứ không phải những người thượng lưu của Pa-thét Lào.


Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy rằng các mâu thuẫn đối kháng chủng tộc tồn tại giữa người Lào và người Lào và người Việt Nam không còn nghiêm trọng bằng những mâu thuẫn đối kháng giữa các nhóm khác trong một nước như Ô-xtrây-li-a, hoặc giữa chủng tộc Lào với các bộ lạc miền rừng núi, hoặc thậm chí, giữa chính các nhóm bộ lạc với nhau. Những cảm giác như vậy chỉ trở nên có ý nghĩa về mặt chính trị nếu chúng bị các nhóm chính trị có tổ chức của đảng hoặc của chính phủ thúc đẩy và khai thác về mặt chính trị. Cánh hữu của Lào chẳng hạn, khuyến khích các cảm nghĩ chống Việt Nam, còn những người cộng sản thì không làm như vậy. Một đề tài lớn của chính phủ Pa-thét Lào là hoà hợp chủng tộc.


Điều khác thường về mối quan hệ lâu dài giữa các người cộng sản Việt Nam và Lào là khó mà tìm được một ví dụ cho thấy hai phong trào bất hoà với nhau. Từ năm 1949 trở đi các nhà lãnh đạo Pa-thét Lào đã được Việt Nam ủng hộ trong mọi trường hợp về quân sự, chính trị và ngoại giao: họ đã được ủng hộ khi họ quyết định vào chính phủ liên hiệp năm 1958 và khi chính phủ này bị sụp đổ dưới sức ép của phái hữu, họ vẫn được Việt Nam ủng hộ và chờ đón khi họ thoát trở lại rừng núi. Người Việt Nam ủng hộ họ bằng các hành động quân sự và bằng ngoại giao chung quanh hội nghị Giơ-ne-vơ về việc thành lập một chính phủ liên hiệp mới ở Lào năm 1962, và ngay cả tại các cuộc thương lượng ở Paris. Thực vậy, trong những lúc nguy ngập như vào cuối những năm 1950, điều chắc chắn là các khu vực căn cứ của Pa-thét Lào sống sót chỉ là nhờ sự ủng hộ của Việt Nam.


Việc không xảy ra những xung đột quan trọng tất nhiên cho thấy những người cộng sản Lào nghiêng về kiểu chủ nghĩa Mác của Việt Nam. Do đó dường như không hề có bất kỳ mâu thuẫn cơ bản nào về hệ tư tưởng giữa hai phong trào.


Vì vậy cho nên lợi ích quốc gia của những người cộng sản Lào và Việt Nam có xu hướng về mặt lịch sử tụ lại với nhau chứ không phải tách rời nhau, và trước hết chính vì lý do mà Cay-xỏn có thể nói với lòng tự tin như vậy về “tinh thần sáng ngời của chủ nghĩa quốc tế vô sản” gắn liền hai nước với nhau.


Do đó, có thể thấy rằng các chính phủ Việt Nam và Lào sẽ cộng tác chặt chẽ với nhau sau năm 1975. Hai tháng sau khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân Lào, Cay-xỏn đã dẫn đầu một phái đoàn Đảng và chính phủ thăm Hà Nội (5 đến 11 tháng 2 năm 1976). Trong chuyến đi thăm này, hai nước cam kết củng cố sự hợp tác kinh tế và văn hoá, và Việt Nam sẵn sàng giúp Lào huấn luyện các chuyên gia kinh tế, khoa học và các chuyên gia kỹ thuật khác. Hiệp ước hữu nghị ký tháng 7 năm 1977 mở rộng việc đó bằng cách nhân mạnh ý muốn tăng cường sự hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước. Những cam kết viện trợ chủ yếu là một chiều: Việt Nam để cho Lào vào cảng Đà Nẵng mà không phải trả thuế và cho Viêng Chăn vay không lấy lãi trong những năm 1978-1980. Năm 1983, báo Nhân Dân đưa thêm những chi tiết về viện trợ của Việt Nam. Việt Nam cam kết cung cấp từ 1976 đến 1985, 1,3 tỷ đồng (146,7 triệu đô-la Mỹ) để trả tiền xây dựng thị xã Sầm Nưa và hai thị trấn nhỏ hơn; sửa chữa 300 ki-lô-mét đường; cung cấp 900 chuyên gia; và đào tạo một nửa trong số 10.000 sinh viên Lào ra nước ngoài. Tờ báo nói rằng “gần một nửa” số viện trợ đó sẽ được hoàn lại. Đó hoàn toàn không phải là sự thực hành tiêu chuẩn chủ nghĩa thực dân mới.


Hiệp ước cũng nói rằng Lào và Việt Nam sẽ “hợp tác chặt chẽ với nhau trong việc tăng cường khả năng quốc phòng và bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”. Chắc chắn là việc đó phục vụ tốt cho các mục tiêu ngoại giao khu vực của Việt Nam. Vào giai đoạn này, cuộc tranh chấp với Pôn Pốt đang tiếp diễn, và cùng lúc Việt Nam bị sức ép ngày càng tăng của Trung Quốc trên biển Đông. Hiệp định với Lào bảo đảm một mặt biên giới hữu nghị của nhau, ngăn chặn điều mà Hà Nội coi như một khả năng bị các lực lượng thân Trung Quốc “bao vây” hoàn toàn.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Chín, 2007, 05:47:16 PM »

Tuy nhiên, cũng cần phải thừa nhận rằng bản thân chính phủ Lào cũng có lợi ích lớn trong việc hợp tác quân sự với Việt Nam. Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào là một quốc gia yếu có một biên giới với Thái Lan dài và trên thực tế không thể bảo vệ được. Quan hệ giữa các chính phủ Băng Cốc và Viêng Chăn, và không khí dọc theo biên giới đó trở nên căng thẳng trong năm 1977. Chính phủ Viêng Chăn cũng phải đối phó với sự quấy nhiễu của mấy trăm du kích cánh hữu, phần đông là những người ủng hộ Vàng Pao hoạt động trong vùng rừng núi của Trung Lào và từ các trại tị nạn ở Thái Lan. Một kết quả tức khắc của hiệp ước là cuộc tiến công lớn cuối năm 1977 vào lực lượng còn lại của “đội quân bí mật” Vàng Pao mà sang đầu năm 1978 thì dường như bị đập tan.


Hiệp ước hợp pháp hoá sự có mặt của quân đội Việt Nam đã từng đóng trên đất nước nhiều năm rồi. Chính sự có mặt của quân đội đó đã bị coi như bằng chứng chính của sự thống trị của Việt Nam ở Lào. Con số chính xác chưa hề bao giờ được tiết lộ, nhưng chắc chắn là lớn. Theo một quan chức chính phủ Lào cho là cấp cao, chạy sang Thái Lan năm 1979, thì số lượng quân đội Hà Nội ở Lào là vào khoảng 24.000 đến 30.000 vào cuối năm 1977 và sau đó thì tăng lên 50.000 khi những căng thẳng khu vực tăng lên. Hiện nay phần đông số quân đó đóng gần biên giới Lào-Trung Quốc. Trong chuyến đi thăm Lào của chúng tôi đầu những năm 1980, chúng tôi chẳng hề nhận thấy có quân chiến đấu nào ở Viêng Chăn. Như vậy việc triển khai này không phải để đe doạ nhân dân Lào bằng một lực lượng quân sự như một thuyết của “chủ nghĩa thực dân mới” rêu rao như vậy.


Một số lượng quân đội cũng tham gia công tác xây dựng trên khắp đất nước. Ở Xiêng Khoảng, con đường nối liền với Việt Nam được gia cố thêm để có thể chở nhiên liệu thiết yếu từ Việt Nam đến, chúng tôi thấy họ đang làm đường. Những đội quân không có vũ trang, chẳng giống tý nào một đội quân chiếm đóng cả. Trong suốt thời gian có mặt, quân đội Việt Nam tỏ ra rất thông cảm với nhân dân địa phương. Thực vậy, trong thời gian dài có mặt ở Lào, hiếm có báo cáo về sự đối xử thô bạo của quân đội đối với nhân dân. Quân đội Việt Nam dường như cũng hành động tương tự như vậy ở Cam-pu-chia cận đại, nhờ kinh nghiệm của họ ở Lào. Nguyên thủ tướng Lào, hoàng thân Xu-va-na Phu-ma, người tiếp tục ở lại Viêng Chăn cho đến khi mất tháng giêng năm 1984 ông ta nói: “Ngày mà chúng tôi có được hoà bình, người Việt Nam sẽ trở về đất nước của họ… có quân Mỹ và Pháp ở Tây Đức, vậy Tây Đức có mất nền độc lập của họ không? Tôi nghĩ là không. Ở đây cũng giống như vậy”.


Hiệp định năm 1977 cũng nói rằng hai nước “sẽ chiến dịch biên giới Việt Nam-Lào thành một biên giới hữu nghị anh em”, và sau đó một hiệp định đã được ký kết, vạch ra đường biên giới. Ít có vấn đề khó khăn ở đây vì các khu vực ở hai phía biên giới đều nằm dưới sự kiểm soát của những nhóm chính trị đang hợp tác với nhau, và cả hai đồng ý rằng biên giới do người Pháp vạch ra trước đây phải được chấp nhận. Người Pháp đã lấy đường phân huỷ của dãy núi Trường Sơn làm biên giới, và cả hai bên chấp nhận nguyên tắc đó. Nhưng khu vực này chưa hề bao giờ được khảo sát một cách đầy đủ, và một vài bản đồ hiện tại vẽ lại biên giới cắt ngang thượng nguồn của một số sông. Vì một số sông chảy vào sông Mê Công (qua Lào) và số khác chảy vào vịnh Bắc Bộ (qua Việt Nam) cho nên điều chỉnh theo nguyên tắc do Pháp đề ra sẽ bù đi bù lại mà thôi. Tuy nhiên, theo chúng tôi biết thì hai bên cũng chưa làm gì để định dứt khoát đường biên giới và hiệp định cũng chẳng được công bố.


Mặc dù vậy, về sau Hà Nội ca ngợi các quan hệ biên giới với Lào xem đó là một “mẫu mực cho tình láng giềng và tình hữu nghị tốt”, chắc là ám chỉ những khó khăn mà họ gặp phải với Trung Quốc và Cam-pu-chia (trước đây-ND) về các vấn đề này. Mặt khác, Đôm-men đưa ra một đánh giá điển hình theo kiểu phương Tây: “Văn bản không hề bao giờ được công bố, nhưng người ta cho là nó phợp pháp hoá những điều chỉnh có lợi cho Việt Nam mà chính phủ Lào trước kia không muốn nhượng bộ. Đã có tin rằng Việt Nam đang biến vùng biên giới tranh chấp ở các tỉnh Xiêng Khoảng và Xa-van-na-khét thành thuộc địa”. Đôm-men hoặc bất cứ ai cũng không thể đưa ra bằng chứng nào để làm nền tảng cho những quyết đoán đó.


Chúng tôi không thăm vùng biên giới ở Xiêng Khoảng nhưng theo các nhà báo Nhật đã thăm vùng đó, và theo ngững người tị nạn Hmông mà tôi gặp và đã sống dọc theo biên giới từ năm 1977, những quyết đoán của Đôm-men về vấn đề thuộc địa hoá là không đúng. Đối với tỉnh, chúng tôi nhặt ra một mẩu tin lý thú về biên giới. Một linh mục từ Xa-van-na-khét nói rằng số người theo đạo Thiên chúa trong tỉnh đã tăng lên từ khi ở phía biên giới Việt Nam nay đã trở về quyền pháp lý của Lào. Do đó chi tiết duy nhất mà chúng tôi có về “điều chỉnh: biên giới theo hiệp định năm 1977 là có lợi cho Lào. Tuy vậy chắc chắn là những điều chỉnh ở nơi khác có thể có lợi cho Việt Nam để bù lại.


Ngay dù cho việc ký hiệp ước là do những quan hệ xấu đi của Việt Nam với Trung Quốc và Cam-pu-chia thúc đẩy, nhưng Hà Nội vẫn giữ kín điều đó trong năm 1977 vì lợi ích của “sự đoàn kết quốc tế vô sản”. Vì vậy một tuyên bố chung của Lào và Việt Nam nói đến sự cần thiết “củng cố tình đoàn kết chiến đấu của họ và các quan hệ hợp tác với Liên Xô và Trung Quốc”, và hiệp ước kêu gọi một “tình đoàn kết chiến đấu, một sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau đối với nước Cam-pu-chia anh em”. Lo ngại trước mắt của Lào là chế độ Tha-nin cực hữu ở Băng Cốc và Lào muốn phá vỡ độc quyền của Thái về con đường ra biển.


Ngay từ đầu, đó là mục tiêu đã được tuyên bố của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào và con đường thông qua Cam-pu-chia đã nằm trong tính toán của Lào. Tháng 12 năm 1975, Phu-mi Vông-vi-chít, phó thủ tướng và bộ trưởng ngoại giao, nói về một kế hoạch công tác với Việt Nam để xây dựng các con đường ra biển. Rồi ông ta nói tiếp: “Ngoài Việt Nam ra, chúng tôi có thể có đường ra biển qua Cam-pu-chia. Sau khi xây dựng những con đường đến Pắc-xế và Cam-pu-chia, chúng tôi có thể đi đến cảng Công-pông Xom ở Cam-pu-chia. Thái tử Sihanouk đã nói rằng chúng tôi chỉ cần nói với ông chúng tôi muốn có phương tiện ở đâu là có thể xây dựng những phương tiện đó như chúng tôi mong muốn. Nếu điều đó được thực hiện, chúng tôi sẽ có nhiều đường ra biển. Chúng tôi sẽ chọn con đường phải trả tiền vận chuyển hàng hoá ít hơn. Điều đó sẽ làm cho chúng tôi không cần thiết phải quỵ luỵ trước bất cứ ai, như chúng tôi đã làm trước đây…”.


Theo yêu cầu của chính phủ Cam-pu-chia, một phái đoàn chính phủ Lào đi Phnôm Pênh từ ngày 15 đến 18 tháng 12. Phái đoàn do tướng Xi-pra-xớt dẫn đầu đã hội đàm với thủ tướng Pen Nút và các nhà lãnh đạo Khơ-me khác trong một “không khí nói là cực kỳ hữu nghị, thân ái và nồng nhiệt”. Tuy nhiên, tiêu điểm chính của cuộc hội đàm dường như là sự có mặt tiếp của Mỹ ở Thái Lan và việc đòi các căn cứ ở đó. Chắc chắn Xi-pra-xớt đã phát hiện trong khi ở Phnôm Pênh rằng Pen Nút cũng như thái tử Sihanouk không có quyền gì trong việc điều khiển Cam-pu-chia dân chủ. Sau đó chẳng có gì được thực hiện về các kế hoạch để cho Lào sử dụng phương tiện Công-pông Xom.


Không còn nghi ngờ gì về việc Hà Nội đã thành công trong việc xây dựng “mối quan hệ đặc biệt” mong muốn giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Nhưng rất sai lầm nếu xem đó là mối quan hệ thực dân, giữa người chủ và kẻ lệ thuộc. Viêng Chăn có đủ lý lẽ của chính mình để thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ hơn với Hà Nội. Chúng ta cũng cần xét các quan hệ của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với Thái Lan, Trung Quốc và Cam-pu-chia cũng như với Việt Nam để có một toàn cảnh cân đối.


Với tư cách là một nước nhỏ và yếu, Lào thường xuyên nhận thấy rằng số phận của mình đã bị những hành động của các nước mạnh hơn quyết định. Vị trí chiến lược của Lào ở Đông Nam Á không cho phép Lào rút vào sự biệt lập được: Lào có quan hệ biên giới đáng lo ngại với tất cả các nước lớn trong khu vực: Trung Quốc, Việt Nam Thái Lan, Miến Điện và Cam-pu-chia. Việc dính líu vào các tranh chấp của họ là điều không tránh khỏi, tuy bản thân Lào chẳng được gì trong các cuộc xung đột giữa các dân tộc khác. Các nhà chính trị Lào thèm muốn giữ được chính sách trung lập, nhưng ít khi làm được như vậy.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Chín, 2007, 05:49:20 PM gửi bởi ptlinh » Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2007, 08:07:55 PM »

Lào và Thái Lan

Hầu như tất cả các nhà bình luận cận đại về nền chính trị Đông Dương không chú ý đến sức mạnh của Thái Lan trong mối quan hệ với Lào. Trước năm 1975, chính phủ Băng Cốc đã có ảnh hưởng lớn đối với những nhà chính trị chính phủ hoàng gia Lào, đã tích cực ủng hộ chính phủ đó trong cuộc nội chiến bằng việc cho phép máy bay Mỹ tiến công Pa-thét Lào xuất phát từ căn cứ không quân U-đon ở đông bắc Thái Lan, và khi cuộc ngừng bắn được công bố năm 1973, đã có ít nhất 20.000 quân “tình nguyện” Thái chiến đấu chống cộng sản ở Lào. Thắng lợi của cộng sản, do đó, đã đột ngột giảm ảnh hưởng của Thái Lan trong khu vực mà Thái Lan đã xem là của riêng mình. Tuy nhiên, ngay dù người Thái bị đẩy trở về phía bên kia sông Mê Công, họ vẫn giữ được một vũ khí chính trị hùng mạnh, đó là ”khả năng phong toả nước Lào nằm giữa đất liền”.


Thái Lan đã để cho Lào dùng lối ra chính của mình để tiếp xúc với thị trường thế giới. Hơn nữa, bản thân Thái Lan luôn luôn là bạn buôn bán chính của Lào. Ví dụ trong thời gian 1973-1976, 65 phần trăm xuất khẩu của Lào là cho Thái Lan, và hàng hoá từ Thái Lan chiếm 98 phần trăm nhập của Lào năm 1973. Nhưng mặt khác, Lào là một bạn hàng rất nhỏ trong toàn bộ buôn bán của Thái Lan. Điều nổi bật của tình hình này là một phần lớn buôn bán đã diên ra ở biên giới, và vì đường giao thông bên trong Lào rất ít và lạc hậu nên nhiều bộ phận của nền kinh tế Lào lại gắn với nền kinh tế Thái Lan chặt chẽ hơn là với nền kinh tế bên trong của Lào. Tác động tổng hợp của tình hình này là Băng Cốc có khá nhiều sức mạnh kinh tế đối với Viêng Chăn, nhiều hơn Việt Nam hiện nay hoặc trong một tương lai trước mắt!


Có lẽ thật là mỉa mai vì chính sức mạnh phong toả của Băng Cốc đã thúc đẩy việc thành lập Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào tháng 12 năm 1975. Nền kinh tế của Lào vào cuối năm 1975 đã gặp khó khăn vì tình hình không ổn định do tính chất kéo dài của sự tiếp quản cả cộng sản sau khi thành lập chính phủ liên hiệp tháng 4 năm 1974. Việc chấm dứt viện trợ của Mỹ vào giữa 1975 đã làm cho lạm phát tăng rất nhanh, cho nên khi người Thái đóng biên giới với Lào ngày 18 tháng 11 vì những xung đột biên giới, thì tác động kinh tế đối với Lào là ngay tức khắc và tai hại. Đối với nhân dân các đô thị trên sông Mê Công và các kb của chính phủ hoàng gia Lào trước đây, việc này đưa lại sự khắc khổ chưa từng thấy. Cuộc khủng hoảng buộc những người cộng sản Lào triệu tập quốc hội đầu tháng 12, tuy họ không hy vọng khẳng định được sự kiểm soát hoàn toàn cho đến khi tổ chức được các cuộc bầu cử đã được công bố dự định vào tháng 4 năm 1976. Báo Thế giới (Le Monde) bình luận: “Việc thái độ của Thái Lan trở nên cứng rắn, việc đóng biên giới kéo dài dọc theo sông Mê Công và việc dừng cung cấp nhiên liệu và lương thực, không nghi ngờ gì, đã làm cho những người cộng sản Lào thắt chặt hàng ngũ và phát động một chuyển biến chính trị để giúp đối phó nhanh chóng với các vấn đề kinh tế đó”.


Vì những hành động của Thái Lan trong cuộc nội chiến, các người cộng sản Lào có đủ lý lẽ để phải thận trọng về những ý định của Băng Cốc đối với chế độ mới. Tuy nhiên từ đầu năm 1976, các người ôn hoà chiếm ưu thế trong nền chính trị của Thái Lan. Biên giới được mở lại ở nhiều điểm tháng giêng và đến tháng 3 thì các nhà chức trách Thái định ngày 20 tháng 7 là hạn cuối cùng cho bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ rút khỏi đất nước. Tháng 4, nhà lãnh đạo tự do của Đảng dân chủ, Xê-ni Pra-mốt lãnh đạo chính phủ liên hiệp ở Băng Cốc. Ông ta tán thành một chính sách giảm căng thẳng với Đông Dương cộng sản. Những quan hệ với Lào được cải thiện nhanh chóng sau đó. Hai chính phủ ký một thông cáo ngày 3 tháng 8 tuyên bố rằng các quan hệ giữa họ với nhau sẽ dựa vào năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình đã được nêu ra đầu tiên ở Giơ-ne-vơ và bao gồm những điều khoản có liên quan đến một loạt các thoả thuận về thương mại và chính trị.


Sự bình thường hoá đó đã bị các đảng cánh hữu và các nhà quân sự mạnh mẽ phản đối. Họ lật đổ chính phủ Pra-mốt tháng 10 năm 1976, đặt lên một chính phủ do thẩm phán phản động Tha-nin Crây-vi-chiên đứng đầu. Đó là một đòn vật chất đánh vào quan hệ Thái-Lào và đến năm sau thì các điểm buôn bán ở biên giới giữa hai nước bị hạn chế, trong khi những lời tố cáo lẫn nhau về các sự kiện biên giới bay qua, bay lại giữa Viêng Chăn và Băng Cốc.


Việc thiết lập chế độ Tha-nin ở Băng Cốc trùng hợp với tình hình kinh tế xấu đi nhanh chóng ở Lào mà đến năm 1977 đã đến tỷ lệ khủng hoảng. Một cuộc hạn hán nhẹ năm 1976 đã trở thành nghiêm trọng năm 1977. Một cuộc nghiên cứu chung của bộ nông nghiệp Lào và chương trình phát triển của Liên hợp quốc tháng 9 năm 1977 ước tính rằng mùa đã mất 40 phần trăm trên toàn quốc so với năm ngoái, va đến một tỷ lệ khủng khiếp 95 phần trăm ở một số tỉnh ở miền Nam. Chỉ việc đưa vào nhiều viện trợ lương thực quốc tế mới tránh được nạn đói trên cả nước. Trong tình hình như vậy, những chính sách thù địch của chế độ Tha-nin bị coi như là một âm mưu trực tiếp buộc chính phủ Viêng Chăn khuất phục. Chế độ Tha-nin cũng cung cấp nơi ẩn náu an toàn cho các nhóm chống đối cánh hữu của Lào để chúng có thể tiến công phá hoại Lào từ các vùng căn cứ ở Thái Lan.


Cho nên chẳng lấy gì làm lạ về việc Pa-thét Lào đã tích cực tìm cách củng cố các quan hệ của họ với Hà Nội, đồng minh lâu đời của mình. Cuối năm 1975, Việt Nam đã hành động nhanh chóng để giúp người Lào vượt qua các khó khăn do cuộc phong toả đầu tiên đưa lại. Họ đã cho xe tải chở hàng cung cấp thiết yếu từ Đà Nẵng vượt Trường Sơn sang Xa-van-na-khét. Vào lúc đó, người Xô-viết cũng chở hàng vào bằng đường hàng không. Cả hai nước đó nhanh chóng lại viện trợ cho Viêng Chăn một lần nữa khi bị sức ép của chế độ Tha-nin. Khi Lào và Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác năm 1977, một tuyên bố sau đó rõ ràng xác nhận rằng chính sách của Thái Lan là một nhân tố thúc đẩy phía Lào: “Từ cuộc đảo chỉnh tháng 10 năm 1976, chính quyền Thái đã theo đuổi một chính sách thù địch đối với Việt Nam và Lào, dùng sức ép kinh tế để chống Lào, áp bức và khủng bố những kiều dân Việt Nam và không thi hành các thông cáo chung ký giữa Việt Nam và Thái Lan ngày 6 tháng 8 năm 1976, và thông cáo chung giữa Lào và Thái Lan ngày 3 tháng 8 năm 1976… Việc các chính quyền của một số nước thành viên ASEAN củng cố các liên minh quân sự tay đôi, dưới chiêu bài chống cộng, sẽ dẫn đến nguy cơ biến ASEAN thành một liên minh quân sự trên thực tế”. Trong khi việc nhắc đến tình hình như vừa nói trên đây là nhằm ám chỉ các hoạt động chung Thái-Ma-lai-xi-a chống lại du kích ở Nam Thái Lan, nhưng Việt Nam, nhất là Lào, rõ ràng cảm thấy rằng những hành động như vậy rất có thể dễ dàng quay sang chống lại họ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 09 Tháng Chín, 2007, 08:09:39 PM »

Cam-pu-chia và Lào

Vị trí địa lý chính trị của Lào tất yếu đã nhấn mạnh sự cần thiết phải hợp tác với Đông Dương. Chúng tôi đã lưu ý sự quan tâm của Viêng Chăn đến lối ra biển qua cảng Công-pông Xom. Khi cuộc xung đột giữa Việt Nam và Cam-pu-chia tăng lên, chính phủ Lào cố gắng hành động như một người trung gian. Thực vậy, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào duy trì một đại sứ quán ở Phnôm Pênh cho đến ngày 7 tháng giêng năm 1979 và chính đại sứ quán đó đã bị một loạt đạn của quân Pôn-pốt khi chúng tháo chạy khỏi Phnôm Pênh.


Các quan hệ giữa Phnôm Pênh và Viêng Chăn không hề rơi vào tình trạng gay gắt đã từng xảy ra giữa Phnôm Pênh và Hà Nội. Lý do bao trùm của tình hình đó là việc họ cùng có biên giới với Thái Lan. Như một chánh văn phòng của bộ ngoại giao Lào, Xu-ban Xri-thi-rát (Soubanh Sirithirath) đã giải thích đầu năm 1979: “Chúng tôi có thể hạn chế những vấn đề nhỏ mà chúng tôi gặp phải khi giao thiệp với Cam-pu-chia. Việt Nam thì không làm như vậy được. Tình hình chính trị khác nhau ở đó. Chúng tôi có một biên giới với Thái Lan. Còn Việt Nam thì không…”.


Một lý do chung quan trọng khác nữa cho việc không có những mâu thuẫn đối kháng Khmer-Lào, đó là việc chủ nghĩa quốc gia Cam-pu-chia đã được hình thành không phải trong mối quan hệ với Lào, và ngược lại. Cả hai chủ nghĩa quốc gia đó lại được hình thành trong mối liên quan với hai láng giềng hùng mạnh, Thái Lan và Việt Nam. Ngay trong khi xảy ra những kỳ quặc lịch sử mất trí của Pôn-pốt, bóng ma Vương quốc Lạng Xang Lào cũ cũng không hiện lên đe doạ biên giới phía bắc của Cam-pu-chia (tuy Sihanouk đôi khi nhắc đến nó một cách giận dữ). Các quan hệ Lào-Cam-pu-chia từ năm 1975 đến năm 1978 đã tương đối êm dịu, tuy không phải không bị quấy rầy. Trong một hành động ngoại giao lành mạnh hơn của chế độ Pôn-pốt, Phnôm Pênh đã viện trợ lương thực cho một nước Lào tuyệt vọng giữa năm 1977. Cái vốn chính trị mà sự viện trợ này giành được ở Viêng Chăn đã phải trả giá đắt bởi vì bản thân nhiều người Khmer lúc đó cũng gần chết đói.


Cuối năm 1977, chiến tranh biên giới giữa Cam-pu-chia và Việt Nam ở vào lúc ác liệt nhất. Một phái đoàn do chủ tịch Xu-pha-nu-vông dẫn đầu và ngoại trưởng Phu-mi Xi-pra-sớt đã đến Phnôm Pênh từ 17 đến 21 tháng 12 với cố gắng tránh một sự đổ vỡ công khai giữa các láng giềng cộng sản của mình. Trong ngày trước khi phái đoàn đến, đài phát thanh Phnôm Pênh phát đi một tóm tắt lịch sử Lào, nói lên rằng, giống như Cam-pu-chia, Lào đã là một nạn nhân trong quá khứ của “những tham vọng bành trướng của bọn phong kiến An Nam ở phía đông và bọn phong kiến Xiêm ở phía tây”. Tóm tắt đó nói rằng người Lào có mọi lý lẽ để xây dựng một sự nghiệp chung với Cam-pu-chia chống lại Thái Lan, nhưng đặc biệt hơn là chống lại Việt Nam. Không cần phải nói cũng thấy rằng phái đoàn Lào ít thành công trong việc làm dịu cuộc xung đột của chế độ Pôn-pốt với Việt Nam.


Những bất đồng giữa hai chính phủ đó, đã được thấy rõ trong diễn văn khai mạc của Xu-pha-nu-vông tại Phnôm Pênh, khi ông ta nói về việc Đảng Lào cùng với nhân dân Cam-pu-chia và nhân dân Việt Nam tiếp tục “công việc vinh quang của Đảng Cộng sản Đông Dương". Việc nhắc lại một cách có thiện cảm Đảng Cộng sản Đông Dương trước kia, đã trực tiếp thách thức đường lối của giới lãnh đạo Pôn-pốt đang tiến công người Việt Nam về việc cho là đang chủ trương một Liên bang Đông Dương. Xu-pha-nu-vông cũng nói tiếp đến Hiệp ước hữu nghị Lào-Việt, và hiệp định xác định biên giới giữa hai nước, xem đó là những gương tốt về việc các láng giềng nên tiến hành các quan hệ quốc tế như thế nào. Đó cũng là một lập trường bị các nhà lãnh đạo Cam-pu-chia dân chủ bác bỏ một cách triệt để nhất. Cũng có những tin về những xung đột trên biên giới Lào-Khmer mà cả hai bên đều cải chính vào lúc đó. Nhưng rõ ràng Xu-pha-nu-vông đã nghĩ đến tình hình đó.


Nhà báo duy nhất được đến gần vùng biên giới Lào-Khmer là Na-yâng San-da (Nayan Chanda), người đã thăm Pắc-xế tháng 11 năm 1978. Anh ta đưa tin rằng khi nói chuyện với các quan chức địa phương thì rõ ràng thấy rằng tình hình trên biên giới đã xấu đi từ cuối năm 1976. Việc Cam-pu-chia cho 3.000 tấn gạo vào giữa năm 1977 là lần cuối cùng con đường số 13 vượt qua biên giới được sử dụng, sau đó thì Khmer đỏ đào hầm cắt ngang con đường và đặt mìn. Cùng lúc đó, các đội quân tuần tiễu được tăng cường của Khmer đỏ bắt đầu bắn các ngư dân Lào trên sông và bất cứ ai đi lạc quá gần đến biên giới.


Giữa năm 1978, nhiều binh sĩ Lào đã bị giết và đại sứ Cam-pu-chia ở Viêng Chăn, Xam Xan, đến thăm vùng biên giới đã thấy những thi hài đó. Ông ta tỏ ra rất tiếc về những cái chết “đã bị gây ra vì lầm lẫn” nhưng các sự kiện như vậy vẫn tiếp tụ. Phu-mi Xi-pra-xớt thăm biên giới nhiều lần và chỉ thị cho binh sĩ Lào không được bắn lại nhằm tránh làm trầm trọng thêm tình hình có thể lôi kéo Lào vào một cuộc xung đột tốn kém. San-da cũng đưa tin rằng: “Trong cuộc nói chuyện với các quan chức địa phương, đã được tiết lộ rằng do theo đuổi chính sách láng giềng tốt, các nhà chức trách Lào đã trả trở lại (ít nhất là cuối năm 1976) một số lớn người tị nạn bỏ chạy khỏi Cam-pu-chia. Khi được hỏi đến lúc nào thì họ quyết định không trả lại những người tị nạn nữa thì một nguồn tin nói rằng: “Khi chúng tôi biết được rằng tất cả những người tị nạn trả trở về đều bị giết. Khi chundg tôi thử trả một vài người tị nạn khác trở về thì họ yêu cầu chúng tôi giết họ đi còn hơn là trả họ về Cam-pu-chia. Lúc đó chúng tôi mới nhận thức rõ ràng tình hình ở đó thật sự là xấu”.


Trong vòng 15 ngày sau khi phái đoàn Lào rời Phnôm Pênh tháng 12 năm 1977, Cam-pu-chia cắt đứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam và đưa cuộc tranh chấp giữa hai nước cộng sản ra công khai. Liên Xô và phần đông các nước Đông Âu, kể cả An-ba-ni, tức khắc lên án Phnôm Pênh. Trái lại, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, vẫn tiếp tục duy trì một đường lối trung lập trong cuộc tranh chấp. Những rêu rao của báo chí Nhật và rãng Rơ-tơ rằng Việt Nam đã đặt một sư đoàn chủ lực trên biên giới phía bắc của Cam-pu-chia ở Nam Lào, đã bị Viêng Chăn cải chính một cách mạnh mẽ ngày 17 tháng giêng năm 1978: “Đảng và chính phủ Lào… luôn luôn kiên trì trong việc theo đuổi chính sách đoàn kết với Việt Nam và Cam-pu-chia… không hề có bất kỳ hoạt động quân sự nào của lực lượng Việt Nam qua lãnh thổ Lào”. Một ngày sau, thủ tướng Cay-xỏn gửi những thư giống nhau cho hai chính phủ Việt Nam và Cam-pu-chia bày tỏ mong muốn hai chính phủ “cố gắng chúng để sớm giải quyết các cuộc tranh chấp bằng thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau”.


Việc gây chiến tranh của Phnôm Pênh làm cho lập trường “trung lập” đó ngày càng khó được duy trì. Những đề nghị hoà bình mà Việt Nam đưa ra ngày 5 tháng 2 năm 1978 đã được Viêng Chăn hoan nghênh nhưng sự bác bỏ của Phnôm Pênh làm cho hai nước càng tách xa nhau. Vào giữa năm một tuyên bố chung của Cay-xỏn và Xu-pha-nu-vông nói rằng “chúng tôi ủng hộ lập trường của Việt Nam về cách giải quyết các bất đồng” thông qua thương lượng, một biện phầpm Cam-pu-chia còn bác bỏ.


Trong lúc đó thì càng ngày Lào càng bị chế độ Pôn-pốt xem là bù nhìn của Việt Nam. E-li-da-bét Béc-cơ kể lại: “Khi tôi có mặt ở Cam-pu-chia của Pôn-pốt (tháng 12 năm 1978) các quan chức ở đó nói rằng Lào đã bị “Việt Nam hoá” và nòi giống Lào bị đe doạ tiêu diệt vì các cuộc hôn nhân bắt buộc với Việt Nam. Điều đó tỏ ra là lạ lùng nhưng cũng đáng nhắc lại bởi vì chế độ Pôn-pốt nghĩ như vậy và hành động theo hướng như vậy”. Bà ta nói thêm: Trên thực tế, người Lào đã giữ nền văn hoá riêng của mình còn tốt hơn nhiều so với Cam-pu-chia dưới chế độ của Pôn-pốt”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM