Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Bảy, 2020, 11:12:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tường Trình Của Một Quân Nhân - William C. Westmoreland  (Đọc 26540 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #10 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:36:19 pm »

Tôi trả lời: “Tôi hoàn toàn hiểu rõ và thưa đại sứ, tôi tán thành hoàn toàn như vậy”. Thế là chấm dứt được vấn đề.

Những dấu hiệu cho thấy các đơn vị Bắc Việt Nam đang chuyển vào Nam càng làm tăng thêm mối lo lắng của tôi. Ít ra đã có những tin tức là một trung đoàn thuộc sư đoàn 325 của Bắc Việt Nam đã có mặt ở Tây Nguyên từ tháng 12-1964 và sau đó tin đó là đúng; và ngay khi tướng Johnson trở về nước ngày 12-3, đã có những bằng chứng cụ thể là toàn bộ sư đoàn 325 đã có mặt ở đó từ tháng 2-1965. trong những ngày cuối cùng của tháng 3, các đơn vị của một trung đoàn Nam Việt Nam đóng gần một tiểu đoàn ở Đăk To thuộc tỉnh Kontum đã đụng độ với 2 tiểu đoàn Bắc Việt Nam và viên chỉ huy rất có khả năng của trung đoàn Nam VIệt Nam đã bị giết. Sự có mặt của địch là điều không thể phủ nhận được. Câu hỏi duy  nhất còn lại là Bắc Việt Nam định tham chiến với một lực lượng lớn đến mức nào.

Tôi nghĩ cần phải mất một năm mới tăng đượng quân số của Nam Việt Nam lên gần 650.000 người, đủ để đối phó với sức mạnh đang tăng lên của Việt cộng nếu không có quân tăng viện của Bắc Việt Nam. Trong khi đó, Việt cộng đã chứng minh ở Bình Giã tháng 12-1964 là họ sẵn sàng chuyển sang giai đoạn theo thuyết của Mao Trạch Đông, tức là chiến tranh bằng đơn vị lớn. Việc họ tập trung ở vùng quân đoàn 1 và Tây Nguyên, và khả năng có sự can thiệp quy mô lớn của Bắc Việt Nam đã cho thấy rõ ràng là mùa mưa đến ở Tây Nguyên và châu thổ sông Cửu Long vào tháng 5 và tháng 6, chỉ còn khoảng 2 tháng nữa, sẽ làm nổ ra một cuộc khủng hoảng. Vì mùa mưa luôn luôn là thời gian tốt nhất cho địch mở các cuộc hành quân lớn.

Cho dù việc ném bom miền Bắc có đạt được mục tiêu, hoàn toàn không chắc chắn là làm cho Bắc Việt Nam phải lùi bước, tôi có thể thấy cuộc khủng hoảng đó sẽ xảy ra trong vòng trên dưới 6 tháng và từ đầu chi cuối, tôi vẫn nghĩ rằng thắng lợi ở miền Nam Việt Nam phải đi đôi với ném bom miền Nam nếu muốn có những kết quả dứt khoát. Nếu tổng thống Johnson quyết tâm thắng lợi ở Nam Việt Nam như trước Johnson đã thông báo với tôi, tôi thấy, trong khi chò đợi những kết quả của việc ném bom và mở rộng quân đội Nam Việt nam, không có giải pháp nào ngoài giải pháp phải hành động thực sự.

Tướng Johnson đã xác minh điều mà Bộ trưởng Mc Namara đã viết cho đại sứ Taylor trước khi tướng Johnson đến Sài Gòn rằng tổng thống Johnson thấy chiến dịch ném bom không phải là cái thay thế cho những hành động tăng cường ở Nam Việt Nam. Như tổng thống đã chỉ rõ trong bức điện lời lẽ gay gắt gửi cho đại sứ cuối tháng 12, ông thấy ném bom miền Bắc không phải tự nó là liều thuốc vạn ứng và ông nêu ra khả năng đưa bộ binh Mỹ vào miền Nam. Ông và những người khác trong chính phủ rõ ràng đã đi tới kết lậu là Mỹ phải có một số hành động nữa ở miền Bắc tìm ra “cái gì mới” nữa, nếu muốn tránh sức ép chống miền Bắc có thể phát huy tác dụng.

Những kiến nghị của tướng Johnson khi ông trở về Washington đã phản ảnh phần lớn những điều suy nghĩ của tôi. Ngoài việc yêu cầu thêm viện trợ Mỹ, tăng thêm sự yểm trợ chiến đấu, chẳng hạn như máy bay và trực thăng, ông đã yêu cầu thành lập một lực lượng quốc tế để giữ vai trò chống thâm nhập dọc khu phi quân sự, một biện pháp mà tôi vẫn ủng hộ, và đưa một sư đoàn lục quân Mỹ vào để bảo vệ khu liên hợp Biên Hòa – Tân Sơn Nhất hoặc vùng cao nguyên Trung phần. Điển sau là điểm tôi muốn cộng với lữ đoàn lục quân mà tôi đã yêu cầu tứ trước cho Biên Hòa và Vũng Tàu. Tôi đã nhắc lại với tướng Johnson những yêu cầu trước đây của tôi về quân hậu cần và công binh. Nếu muốn tăng thêm quân Mỹ, thì cần phải xây dựng một bộ máy hậu cần cho họ.

Vì xây dựng một cơ cấu hậu cần không phải một sớm một chiều mà làm được, tôi đã yêu cầu từ mấy tháng trước, ngay sau khi xảy ra các sự kiện vinh Bắc Bộ, vào mùa hè năm 1964, là phải có một bộ tư lệnh hậu cần và một đội công binh (mỗi đơn vị bằng khoảng một lữ đoàn) nhưng không đạt kết quả. Đáp ứng lại một yêu cầu khác mà tôi nêu ra trong tháng 12-1964, Bộ quốc phòng đã cử một phái đoàn do trung tướng Richard D. Meyer dẫn đầu cùng với một nhân vật dân sự phụ trách về hậu cần là Glenn Gibson, sang xem xét các yêu cầu về hậu cần của tôi. Theo sự chỉ dẫn của Thứ trưởng quốc phòng Vance, phái đoàn chỉ kiến nghị tăng thêm một con số, thật đáng nực cười, theo chỗ tôi nhớ là 39 người tăng cho một bộ tư lệnh yểm trợ của lục quân Mỹ nhỏ tí xíu. Đầu tháng 2, tôi đã nhắc lại yêu cầu đó nhưng lại là một lần nữa không có kết quả gì.

Tuy tổng thống Johnson đã chuẩn y thêm viện trợ quân sự này và thêm viện trợ chiến đấu, ông đã không có hành động gì ngay về kiến nghị thành lập một lực lượng quốc tế dọc khu phi quân sự và cho thêm một sư đoàn Mỹ. Ông cũng không chuẩn y cho quân lính hậu cần và công binh mà tôi cần có. Điểm sau này là một sai lầm lớn vì chừng nào còn tồn tại khả năng đem quân Mỹ vào thì phải bắt tay chuẩn bị về hậu cần. Sự trì hoãn quá lâu việc cung cấp thêm công binh và hậu cần là một thiếu sót sẽ gây rắc rối cho chúng tôi và hạn chế các khả năng của chúng tôi trong một thời gian dài.

Cũng may là vào khoảng thời gian đó, Bộ trưởng Mc Namara đã chấp thuận cho làm một sân bay mới hết sức cần thiết ở các tỉnh phía Bắc nằm dọc bờ biển phí Nam Đà Nẵng gọi là sân bay Chu Lai. Sở dĩ có cái tên Chu Lai không phải có trong ngôn ngữ Việt nam mà lấy theo cách người Việt Nam đọc tên viên tư lệnh lính thủy đánh bộ Krulak đến thăm địa điểm làm sân bay, thấy cách đọc đó lý thú, do đó cái tên Chu Lai ra đời.

Khi được tướng Johnson cho biết là tổng thống tán thành ý kiến của tôi là cần phải có một biện pháp mới để nhen lại cố gắng ở Nam Việt Nam, tôi bắt đầu ngay khi tướng Johnson trở về, tiến hành một cuộc nghiên cứu tình hình tỉ mỉ và những đường lối hành động có khả năng thực hiện, vừa để cụ thể hóa ý nghĩ của tôi, vừa để có một cơ sở cho các kiến nghị gửi tới đại sứ Taylor, đô đốc Sharp và các cấp trên của tôi ở Washington. Tôi cảm thấy chúng ta phải có một quyết định hết sức trọng đại, một quyết định không phải được thực hiện mà không có sự bàn bạc và phân tích hết sức cẩn thận.

Trong năm 1964, chúng tôi đã mở rộng lực lượng ở Nam Việt Nam đến mức có thể kham được và cũng tăng thêm nhiều cố vấn Mỹ. Dù đã làm như vậy rồi, một chương trình khẩn cấp nhằm tăng thêm và cải tiến quân đội Nam Việt Nam, tự nó cũng không đảm bảo được sự sống còn của Nam Việt Nam. Tuy rằng một lực lượng chống thâm nhập, gồm nhiều nước tham gia với 5 sư đoàn sẽ được triển khai dọc khu phi quân sự và vùng cán soong Lào là điều cần có, tôi thấy không có khả năng xin được quyền thành lập lực lượng đó để khắc phục được kịp thời những khó khăn và hậu cần để có tác động cần có. Do đó, trong khi tiến hành một chương trình thực tế nhằm tăng cường lực lượng quân sự Nam Việt Nam, tôi thấy chẳng có cách lựa chọn nào khác là đem thêm quân Mỹ vào.

Ngoài lữ đoàn lục quân mà tôi đã yêu cầu đem vào để bảo vệ Biên Hòa và Vũng Tàu, và thêm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ để bảo vệ Phú Bài, tôi cho rằng muốn chặn đứng các mưu đồ của địch ở cao nguyên miền Trung, tôi đã đề nghị cho một sư đoàn lục quân Mỹ vào đó, trong khi đó thành lập các cơ sở hậu cần dọc biên giới Quy Nhơn và Nha Trang để yểm trợ cho các hoạt động quân sự ở miền Trung. Tôi còn đề nghị thêm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ cho Đà Nẵng và có thể sau đó thêm tiểu đoàn thứ 5 để bảo vệ sân bay mới ở Chu Lai. Do đó, quân số tham chiến trên bộ đã được đề nghị sẽ tương đương với 2 sư đoàn hoặc 17 tiểu đoàn hành động[1].

Tôi đã nghiêm túc nghiên cứu một đề nghị khác mà đại sứ Taylor đưa ra như là một phương pháp thí nghiệm là quân Mỹ được giới hạn ở các chốt dọc ven biển, Mỹ có thể đảm bảo an toàn cho các khu vực quan trọng, đồng thời hạn chế việc dính líu và thương vong của mình; và đồng thời cũng chứng minh cho Bắc Việt Nam thấy rằng người Mỹ quyết tâm theo đuổi đường lối của mình.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #11 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:36:49 pm »

Tôi không tán thành chiến lược đóng chốt. Như tài liệu nghiên cứu của ban tham mưu của tôi hồi đó, nó thể hiện “một việc sử dụng tĩnh tại, hèn hạ lực lượng của Mỹ ở vùng đông đúc dân cư mà ít có khả năng tác động trực tiếp hoặc tức khăc đối với kết cuộc của tình hình”. Nó có giải phóng một số ít đơn vị của quân đội Nam Việt Nam sẽ hoạt động ở các nơi khác và sẽ không có tác động gì đến tình hình nguy kịch của cao nguyên Trung phần. Điều quan trọng hơn hết là nó sẽ đặt quân Mỹ trong thực tế vào một loạt những yêu cầu không liên hệ với nhau, lưng dựa vào biển, về cơ bản vào một thế phòng thủ. Nó sẽ để cho địch được quyền đánh lúc nào và đánh ở đâu, và mỗi lần họ đánh là gây thất bại cho ta, hầu như định trước cuộc chiến đấu ở các vùng đông dân và hạn chế cơ sở nhân lực có sẵn để tuyển quân nhằm mở rộng quân đội Nam Việt Nam.

Sĩ quan tác chiến của tôi, Bill Depuy, đã cầm tập tài liệu phân tích và những đề nghị của tôi về Washington vào cuối tháng 3-1965 cùng với đại sứ Taylor và đại sứ cũng về theo yêu cầu của tổng thống để thảo luận xem cần có những biện pháp mới nào. Lúc họ đã ra đi rồi, Việt cộng cho nổ một quả bom ở Sài Gòn phá hủy khách sạn Majestic nằm dọc sông Sài Gòn, nơi đóng sứ quán Mỹ.

Giả vờ hỏng máy, hai người dừng xe trước ngôi nhà đó, nhảy ra khỏi xe rồi chạy trốn. Cảnh sát Việt Nam ra lệnh cho họ dừng lại, nổ súng, giết chết cả 2 người và mấy giây sau chiếc xe nổ tung. Một nữ thư ký người Mỹ và một hạ sĩ quan hải quân Mỹ bị giết chết, 54 người Mỹ bị thương, trong đó có Peer de Silva, giám đốc CIA ở Sài Gòn, ông hầu như bị mất cả 2 mắt; 15 người dân thường Việt Nam đi trên đường phố bị giết và nhiều người ở cạnh đó bị thương.

Phần lớn những người bị thương bên trong ngôi nhà là do mảnh kính vỡ, các nhân viên khi nghe tiếng súng nổ liền chạy ra cửa sổ, do đó họ bị thương.

Sáng hôm đó, 30-3, tôi có dịp đến sứ quán gặp quyền đại sứ Alexis Johnson. Nếu tôi đến đúng hẹn thì chắc tôi đã có mặt ở hành lang lúc vụ nổ xảy ra. Qua máy bộ đàm trên ô tô, tôi được tin vụ nổ xảy ra lúc tôi còn cách sứ quán 2 khối nhà. Lúc tôi đến nơi xảy ra vụ nổ, ý nghĩ đầu tiên của tôi là phải đi tìm đại sứ Johnson và những người khác trong sứ quán chúng tôi đã nghỉ lại. Vì đại sứ Taylor đi vắng, nếu Alexis Johnson bị chết thì tôi sẽ là nhân vật cao cấp nhất của phái bộ Mỹ. Biết đâu còn có bom nổ chậm. Tôi quyết định trở về sở chỉ huy của tôi và nắm các phương tiện thông tin liên lạc.

Tại sở chỉ huy, tôi chỉ thị cho đội quân y của lục quân và quân cảnh phải có mặt tại hiện trường. Tuy có gặp khó khăn, tôi đã nói chuyện điện thoại được với đại sứ và biết rằng ông có bị choáng nhưng vẫn bình tĩnh. Khi nỗi lo lắng của tôi đã bớt, tôi đánh một bức điện về Washington báo cáo sự kiện này. Đến sứ quán, tôi thấy Johnson bị vết cắt ở mặt nhưng không nghiêm trọng lắm và tôi đưa ông về văn phòng của tôi để được an toàn. Mất một nhân vật quả quyết như vậy của phái đoàn Mỹ thì sẽ là một đòn rất nghiêm trọng.

Sau vụ nổ bom đó, tổng thống Johnson yêu cầu cấp ngân quỹ để xây một sứ quán mới, nằm ở bên kia một công viên cách dinh tổng thống Việt Nam, nơi mà ba năm sau đó là chiến trường của cuộc tấn công nữa nổi bật của đặc công Việt cộng.

Tại Washington, đại sứ Taylor thấy tổng thống và hầu hết các cố vấn cao cấp của ông gần đi tới một quyết định đem thêm quân Mỹ đến, nhưng vẫn còn giao động.

Sau chuyến đi thăm của tướng Johnson tại Việt nam, hội đồng tham mưu trưởng liên quân có đề nghị đưa đến 2 sư đoàn Mỹ và một sư đoàn nữa thì đề nghị Cộng hòa Triều Tiên cung cấp. Đề nghị đó và có cả tài liệu phân tích của tôi đã được xem xét tại các cuộc họp của  hội đồng an ninh quốc gia trong 2 ngày đầu của tháng 4, có đại sứ Taylor tham dư. Rõ ràng đại sứ đã trình bày ý kiến của ông có kết quả vì tổng thống Johnson tán thành quan điểm của ông về đóng chốt coi đó là một biện pháp tạm thời và chuẩn y chỉ gửi sang thêm 3 tiểu đoàn của Mỹ tức là các tiểu đoàn lính thủy đánh bộ mà tôi đã đề nghị cho Đà Nẵng và Phú Bài, cộng với một đội công binh và hậu cần. Đồng thời tổng thống hủy bỏ tư thế hoàn toàn phòng thủ của lính thủy đánh bộ và theo kiến nghị của đại sứ - cho phép mở các cuộc hành quân tấn công từ căn cứ họ vào sâu 50 dặm.

Lúc tôi đọc quyết định của tổng thống thì đây là một sự thử nghiệm theo như đại sứ Taylor yêu cầu. Mặc dù quân đóng ở các chốt sẽ cải thiện an ninh của các sân bay là cái thật sụ cần thiết, họ sẽ không có tác dụng rõ rệt nào đối với tình hình chung của chiến trường do đó tôi vẫn cho rằng còn phải làm nhiều việc nữa. một số cố vấn của tổng thống Johnson vẫn cho rằng nếu quân Mỹ được triển khai vào trong nội địa, họ có thể một ngày nào đó chiến đấu để tìm đường ra biển, vượt qua đám quân Việt Nam nổi loạn, một ví dụ về căn bệnh tinh thần đã gây hoang mang cho một số quan chức ở Washington.

Rốt cuộc sự chấp thuận của tổng thống về công binh và quân hậu cần hình như đã báo trước sẽ có thêm quân chiến đấu sau này, mặc dù tổng thống muốn hành động từ từ, từng bước với hy vọng làm cho dư luận công chúng ủng hộ. Giữ thấp hình bóng chiến tranh vẫn còn là khẩu lệnh lúc đó. Mặc dù ông xem chiến lược đóng chốt chỉ có tính chất thử nghiệm, một chỉ thị vội vàng trong một cuộc họp ở Honolulu để vạch chi tiết cho chiến lược đó đã cho thấy rõ ràng là ông đã quyết tâm làm thử.

Trước hội nghị, các bộ quốc phòng và ngoại giao đã phối hợp nêu lên một số đề nghị để đại sứ Taylor và tôi xem xét. Một số những đề nghị đó là điển hình cho những gợi ý cụ thể mà nhiều cơ quan Washington đã thường xuyên vặn hỏi chúng tôi. Nhiều đề nghị mâu thuẫn nhau, còn những vấn đề khác thì từ lâu chúng tôi đã làm thử và đã hủy bỏ, trong khi có nhiều lúc các chỉ thị nêu ra lại chi tiết đến mức như chửi vào mặt tình báo. Tôi thường ngạc nhiên, không rõ Eisenhower ở châu Âu hay Mc Acthur ở Thái Bình Dương trong Thế chiến II đã phản ứng như thế nào trước những chỉ thị tỉ mỉ đến như vậy.

Đưa chuyên viên tuyển quân Mỹ đến để thúc đẩy việc tuyển quân của quân đội Nam Việt Nam... Đưa chuyên viên quân vụ của lục quân Mỹ vào các cấp chính quyền cấp tỉnh... Đưa 50 hoặc nhiều hơn nữa lính Mỹ vào các tiểu đoàn quân đội Nam Việt Nam để tăng cường xương sống cho họ... Phân phối trực tiếp lương thực cho quân lính và gia đình họ chứ không thông qua cơ cấu chỉ huy của quân đội Nam Việt Nam... Đội chuyên trách này hay đội chuyên trách nọ đến Sài Gòn... Tất cả đều sôi sục lên với những cái mà họ cho là những ý kiến mới. Bộ máy quan liêu Washington hình như không thể hiểu được rằng chính phủ mới phôi thai của Nam Việt nam và quân đội của họ không thể trong một lúc tiếp thu được quá nhiều chương trình như vậy. Có lúc đại sứ Taylor đã điện cho Mc George Bundy: “Ông Mac, chúng ta không có cách nào bảo vệ mình tốt hơn khỏi bạn bè của chúng ta quấy phiền hay sao? Tôi biết rằng ai cũng muốn giúp đỡ nhưng một việc làm như vậy là giết người một cách êm ái!”.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #12 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:37:14 pm »

Cùng với đại sứ Taylor và đô đốc Sharp, tôi đã họp ở Honolulu ngày 20-4 với bộ trưởng Mc Namara, tướng Wheeler, John Mc Naugton và người anh của Mc George Bundy là ông William Bundy, hồi đó làm trợ lý bộ trưởng ngoại giao phụ trách các vấn đề Viễn Đông. Tuy thừa nhận mục tiêu chiến lược là đập tan ý chí của địch bằng cách tước bỏ thắng lợi của địch ở miền Nam, không ai thấy có bất kỳ hy vọng trước mắt nào cải thiện được nhiều đến cuộc chiến tranh nội bộ, tức là điều thiết yếu nếu muốn cho Bắc Việt Nam chịu lùi bước. Để thực hiện việc sử dụng hạn chế đã được chuẩn y số quân Mỹ và do đó hy vọng mang lại sự cải tạo tình hình, những người tham dự hội nghị đã đề nghị thêm 9 tiểu đoàn Mỹ, một lữ đoàn lục quân quân gồm 3 tiểu đoàn Mỹ cho Biên Hòa – Vũng Tàu và 1 lữ đoàn nữa để thiết lập các chốt ở Quy Nhơn và Nha Trang và 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ cho vùng Chu Lai. Theo một quyết định do hội đồng an ninh quốc gia đề ra lúc đại sứ Taylor về Washington, chúng tôi đề nghị có đại diện của các nước khác: một tiểu đoàn Úc và 3 tiểu đoàn Nam Triều Tiên. Tính cả 4 tiểu đoàn lính thủy đã lên bờ hoặc đã được chuẩn bị, như vậy có nghĩa là có 15 tiểu đoàn của Mỹ và 4 tiểu đoàn của các nước khác - tức là bằng 17 tiểu đoàn mà tôi đã yêu cầu cuối tháng 3-1965. Theo đề nghị đó, lực lượng Mỹ sẽ có tất cả 82 ngàn người và của tất cả các nước khác là 7.250 người.

Mặc dù số tiểu đoàn như vậy, tôi vẫn không có lực lượng cho cao nguyên trung phần nguy kịch. Nhưng tôi có thể tự an ủi ở chỗ một lữ đoàn tại Quy Nhơn và Nha Trang đảm bảo được một mức độ bảo vệ chống địch cắt đôi đất nước và lực lượng mà tôi hy vọng có được cho BIên Hòa – Vũng Tàu, lữ đoàn dù 175 có thể được sử dụng là lực lượng dự bị cơ động trong trường hợp có khủng hoảng ở cao nguyên. Hơn nữa, báo cáo cuối cùng của hội nghị có ghi nhận khả năng triển khai thêm nữa, trong đó có một sư đoàn cơ động bằng máy bay của Mỹ, tức là đơn vị mà tôi muốn có cho cao nguyên và thêm quân Triều Tiên để đưa phần đóng góp của Triều Tiên lên khoảng một sư đoàn.

Sư tham gia của đồng minh ở Việt Nam đã được thảo luận từ lâu vì Washington coi Việt Nam cũng như Triều Tiên là sự thử thách của thế giới tự do chống hành động xâm lược của cộng sản. Từ lâu, ngay cả sau khi tổng thống Johnson kêu gọi “có thêm cờ”, vào đầu năm 1964, Mỹ đã tập trung không phả vào việc cung cấp quân mà vào sự giúp đỡ về kinh tế và kỹ thuật, và đến cuối năm 1964, đã có 15 nước ngoài Mỹ đóng góp, tháng 2-1965, Cộng hòa Triều Tiên đã đưa tới một lực lượng đặc nhiệm gọi là đơn vị Bove, hình thành một tiểu đoàn công binh để công tác về các dự án dân sự. Có điều kỳ lạ là hệ thống thông tin báo chí của Mỹ ít nói về sự đóng góp này.

Những cuộc khảo luận nghiêm túc về việc đưa quân các nước khác đến đã bắt đầu từ tháng 12-1964 nhưng hồi đó Nam Việt Nam tỏ ra thờ ơ, chưa nói là phản đối. họ tỏ ra nhạy cảm, như lịch sử của họ đã chứng tỏ, khi có quân nước ngoài trên đất nước họ. Nhưng khi sự cần thiết phải có thêm quân đã trở thành cấp bách vào tháng 3 và tháng 4-1965, đại sứ Taylor dễ dàng tranh thủ được sự tán thành của Nam Việt Nam.

Việc có thêm nhiều quân Mỹ và thế giới thứ 3 (hoặc nước thứ ba để phân biệt với Nam Việt Nam và Mỹ) tất yếu đẻ ra vấn đề phải thỏa thuận về quyền chỉ huy. Làm thế nào để được sự thống nhất về chỉ huy mà lịch sử quân sự từ bao nhiêu năm đã tỏ ra là điều cốt tử? Tôi có nên đòi hỏi có một bộ tham mưu tổng hợp Mỹ - Nam Việt Nam - nước thứ 3 không? Một người Nam Việt Nam hay một người lính Mỹ nắm cương vị chỉ huy? Mỹ khó lòng mà cho phép quân lính của mình đặt dưới quyền chỉ huy của người Nam Việt Nam, còn người Nam Việt Nam thì cũng rất nhay cảm. Vừa mới giành được độc lập, họ rất tự hào về chủ quyền của họ đồng thời họ cũng sợ tạo ra cái vẻ đúng sự thật cho những lời tố cáo của cộng sản nói rằng họ là bù nhìn của Mỹ. Không có tình hình tương tự với tình hình trong chiến tranh Triều Tiên vì dù quyền chỉ huy bao trùm ở Triều Tiên về cơ bản là do người Mỹ nắm, nó vẫn nằm dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, mà cả ở Việt Nam.

Tôi đã yêu cầu một sĩ quan đã hết nhiệm kỳ phục vụ ở Nam Việt Nam là Jimmy Collins, nói được tiếng Pháp, có quan hệ tốt với người Việt Nam, ở lại để thăm dò quan niệm về việc duy trì hai bộ chỉ huy riêng biệt của Mỹ và của Nam Việt Nam nhưng tôi có thành lập một bộ phận hỗn hợp chịu trách nhiệm trước hai bộ chỉ huy về các vấn đề quốc tế. Tính nhạy cảm của người Việt Nam đã sớm bộc lộ rõ ràng khi có cuộc thảo luận đầu tiên của tôi về vấn đề này với các tướng Thiệu và Minh thì họ nói họ có nghe nói về nhiệm vụ của tướng Collins và họ lấy làm lạ về chuyện đó. Báo chí Sài Gòn đã đoán già đoán non về việc người Mỹ nắm quyền chỉ huy và trên các bài xã luận các báo đã phản đối việc nhượng bộ chủ quyền Nam Việt Nam.

Trong quá trình đưa các đơn vị của Mỹ đến vào đầu tháng 5-1965 có sự xảy ra tranh luận là phải sử dụng các đơn vị đó như thế nào. Điều này làm cho tôi rất ngạc nhiên vì khi tổng thống Johnson chuyển nhiệm vụ của các đơn vị Mỹ ra khỏi tư thế phòng thủ và cho phép tiến hành “các cuộc hành quân chiến đấu chống nổi loạn” thì tôi cho đó là một quyền hành rộng rãi rồi.

Ngày 1-5, tôi đã gửi về Washington quan niệm của tôi về cách thức phát triển các cuộc hành quân như thế nào. Trong giai đoạn 1, các đơn vị sẽ đảm bảo an ninh cho các chốt mà tôi muốn gọi là các khu vực căn cứ và trong khi bảo vệ các khu vực này, họ có thể hành quân ra ngoài tầm hoạt động của đại bác loại nhẹ. Trong giai đoạn 2, các đơn vị sẽ tiến hành các cuộc hành quân tấn công và tuần tiễu sâu có hợp tác với Nam Việt Nam. Trong giai đoạn 3, họ sẽ là lực lượng dự bị khi các đơn vị quân đội Nam Việt Nam cần sự giúp đỡ và họ cũng tiến hành các cuộc hành quân tiếng công rộng rãi. Đồng thời, tôi có nêu rõ là khi các căn cứ dọc biển được an toàn thì số quân đó sẽ chuyển vào đảm bảo an ninh cho các căn cứ bên trong nội địa và từ đó tỏa đi hoạt động. Tôi còn kiến nghị các địa điểm đóng quân cho các lực lượng đó đã được bàn ở Honolulu khi có các đợt triển khai sau này, trong đó có một sự đoàn cơ động bằng máy bay. Tôi đặc biệt muốn có một tiểu đoàn để đảm bảo an ninh cho vịnh Cam Ranh, ở phía Nam Nha Trang, một trong những hải cảng thiên nhiên tốt nhất ở Đông Nam Á.

Đại sứ Taylor đã tán thành quan điển của tôi và các bản sao tài liệu này đã được gửi đến bộ quốc phòng, hội đồng tham mưu trưởng liên quân và bộ ngoại giao thông quan CINCPAC, tôi cho rằng nếu không có ý kiến ngược lại tức là Washington cũng đã chấp thuận. Để đàm bảo nhận định của tôi là đúng, tôi gợi ý với đại sứ Taylor khi ông chuẩn bị vào đầu tháng 6 đi họp một cuộc hội nghị khác ở Washington, nhờ ông nói lại ý kiến của tôi với bộ trưởng ngoại giao Rusk.

Chuyến đi của đại sứ về Washington trùng hợp với một vụ rắc rối giữa báo chí và chính phủ Johnson về vấn đề liệu nhiệm vụ của các lực lượng Mỹ ở Việt Nam đã thay đổi hay chưa. Cuộc tranh cãi này xuất phát từ một chỉ thị mật mà tổng thống Johnson đã đề ra cho những người có liên quan đến quyết định đầu tháng 4 được phép mở các cuộc hành quân tấn công từ các chốt vào sâu tới 50 dặm. Trong ít tuần lễ sau đó, các nhà báo ở Việt Nam đã có thể tự do thấy rằng lính thủy đánh bộ và lính dù 173 không phải cứ nằm trong các hầm cáo của họ chờ địch đến - tức là điều ngu xuẩn đứng về mặt phòng thủ. Hó có thể dễ dàng thấy các đơn vị Mỹ đã tuần tiễu vào sâu và đôi khi mở các cuộc hành quân chiến đấu quy mô lớn. Thế nhưng Nhà Trắng khi đối phó với báo chí lại nói quanh co.

Trên vô tuyến truyền hình, bộ trưởng Rusk đã thừa nhận rằng: “Chúng ta đừng hy vọng rằng những con người đó sẽ nằm yên ở đó như những con thỏ bị thôi miên chờ Việt cộng tới đánh”, nhưng ông cũng thông báo rằng họ ra ngoài căn cứ để làm cho địch liểng xiểng và ngăn chặn các cuộc tấn công lớn vào các căn cứ. Bí thư báo chí của tổng thống nói trắng ra rằng “không hề có sự thay đổi trong nhiệm vụ của các đơn vị chiến đấu trên bộ của Mỹ ở Việt Nam trong những ngày hoặc những tuần lễ vừa rồi. Tổng thống không hề ra một chỉ thị nào về vấn đề này cho tướng Westmoreland trong thời gian vừa qua hoặc bất cứ lúc nào”. Ông giải thích “mặt khác, tướng Westmoreland cũng có quyền trong phạm vi nhiệm vụ đã giao, sử dụng số quân đó để yểm trợ cho quân đội Nam Việt Nam khi phải đương đầu với cuộc tấn công xâm lược và khi ông xét thấy tình hình quân sự chung đòi hỏi một cách cấp bách.”

Đó không phải là một điều giả dối mà là một điển hình về nói lập lờ và tôi không thích như vậy. Theo tôi, nhân dân Mỹ có quyền được biết rõ ràng, trong khuôn khổ những hạn chế về an ninh quân sự, xem chúng ta điều con cái họ đi làm những gì và họ cho rằng có thể giấu những việc làm đó đi mặc dù những con mắt mở to của báo chí và vô tuyến truyền hình tỏ ra tất nhiên rồi. Làm theo thói lập lờ tức là gây ra hoặc góp phần gây ra một lỗ hổng về lòng tin rất rắc rối, có tính chất chia rẽ, là tình trạng từ lâu đã xâu xé chính quyền và cuối cùng, ảnh hưởng xấu đến sự tín nhiệm đối với một số tuyên bố của tôi.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #13 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:37:38 pm »

Trong khi những thông số về sử dụng quân Mỹ vẫn còn là vấn đề, việc đẩy mạnh các hoạt động như đã dự kiến đã bắt đầu với mùa mưa Tây nam và với thời tiết rất xấu của mùa mưa.

Đầu tháng 5, một trung đoàn Việt cộng – trung đoàn đầu tiên tấn công với lực lượng như vậy kể từ trận Bình Giã trước đó 6 tháng – đã gây thiệt hại lớn ở Sông Bé, thị xã tỉnh Phước Long, dọc biên giới Campuchia, phía Bắc Sài Gòn. Chỉ với sự chi viện tích cực của máy bay và với việc đưa một trung đoàn mới của quân đội Nam Việt Nam bằng trực thăng của Mỹ mới cứu được thị xã. Đến cuối tháng ở Ba Gia, thuộc tỉnh Quảng Ngãi, một trung đoàn Việt cộng đã hầu như tiêu diệt sạch một tiểu đoàn của Nam Việt Nam trong một trận phục kích và sau đó đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn khác đang tìm cách tới ứng cứu, trong đó viên cố vấn Mỹ O’ Sulivan đã chiến đấu rất anh hùng.

Sức ép của cao nguyên miền Trung nặng nề tới mức quân chính phủ đã phải bỏ nhiều quận lỵ, sau khi đánh tràn vào một quận ở tỉnh Pleiku, Việt cộng bắt đầu bao vây một trại lực lượng đặc biệt CIDG ở gần đó là trại Đức Cơ trong thời gian hơn 2 tháng.

Ngày 10-6, chiến sự lại nổ ra ở tỉnh Phước Long, tại quận lỵ Đồng Xoài với một trận tấn công của các bộ phận thuộc hai trung đoàn Việt cộng đã san bằng trại CIDG - lực lượng đặc biệt bên ngoài thị trấn, tiêu diệt đơn vị đầu tiên của một tiểu đoàn dự bị thuộc quân đội Nam Việt Nam được chở đến bằng trực thăng, và ngăn không cho số quân còn lại của tiểu đoàn đổ xuống. hai tiểu đoàn cứu viện nữa cũng bị đánh thiệt hại nặng nề trước khi Việt cộng rút lui sau đó hai ngày.

Trong khi địch tăng cường gây sức ép, đánh đường sá, thôn ấp khắp cả nước thì những dự kiến về tình báo của MACV về sự tham chiến của Bắc Việt Nam thật là đen tối. Ngoài một sư đoàn Bắc Việt Nam đã được xác định ở cao nguyên, các chuyên viên tình báo thấy có khả năng thêm 2 sư đoàn nữa đã thâm nhập. Một sư đoàn có lẽ tới địa điểm bên kia biên giới Lào.

Tổn thất của quân đội Nam Việt Nam lên cao chưa từng có. Tuy đã được phép của Washington thành lập một sư đoàn mới của quân đội Nam Việt Nam, tôi đã phải hủy bỏ kế hoạch và ra lệnh ngừng động viên thêm bất cứ đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam. Nếu muốn duy trì các đơn vị hiện có ở mức độ lực lượng chiến đấu có thể chấp nhận được thì phải lấy tất cả tân binh bổ sung cho chúng. Thời gian tôi hy vọng tranh thủ được để đem vào những số quân an ninh hạn chế của Mỹ đồng thời tăng cường sức mạnh của quân đội Nam Việt Nam rõ ràng là không đủ nữa rồi. Một cuộc khủng hoảng đang tăng thêm báo hiệu một kiểu chiến tranh nửa chính quy mà quân Pháp đã phải đối phó trong những giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh mà họ tham gia. Giai đoạn ba của Mao Trạch Đông đã đến.

Vẫn còn có thể làm được một số ít biện pháp lấp lỗ hổng. Hưởng ứng một quyết định mà tổng thống Johnson đã đề ra trước đó, một số tàu tuần dương của Mỹ đã đến để gia nhập bộ phận hải quân của MACV, giúp tàu thuyền Việt Nam ngăn chặn sự thâm nhập bằng đường biển.

Nhắc lại yêu cầu mà tôi đã nêu ra nhưng không có kết quả hồi tháng 3, tôi đã yêu cầu cho máy bay B-52 của bộ chỉ huy không quân chiến lược oanh tạc các vùng căn cứ của Việt cộng. Các cuộc tấn công trước đây của máy bay chiến thuật đã tỏ ra tương đối không đạt kế quả gì, vì Việt cộng đã có hầm hào sâu và phân tán các cơ sở của họ. Cũng khó ma2 đưa đủ máy bay ném bom chiến thuật rải ra trên các mục tiêu phân tán cùng một lúc để gây thiệt hại cho quân địch khi họ bỏ trốn hết.

Khi yêu cầu đã được chấp thuận, trận oanh tạc đầu tiên diễn ra ngày 18-6-1965 đánh vào ba căn cứ địch ở chiến khu Đ. Các đội tuần tra đi điều tra thiệt hại gây ra đã có những báo cáo rất đáng chú ý. Trong những tháng sau đó, việc sử dụng máy bay ném bom chiến lược để yểm trợ chiến thuật đã tỏ ra là vô giá. Trái với những lời nói cay cú của những người chỉ trích, coi việc ném bom đó giống như dùng một chiếc búa để giết một con ruồi, B-52 đã trở thành vũ khí mà địch sợ hơn hết. Do bay cao nên dưới đất không trông thấy hoặc nghe được, nó đã gây ra sự bất ngờ với sức mạnh tàn phá.

Hầu hết các mục tiêu của B-52 đều ở trong rừng, thường rất xa khu dân cư và thường là những nơi tập trung quân hoặc trại căn cứ. Trong những tháng đầu, Washington đã xét duyệt mọi mục tiêu đã đề nghị tới mức phi lý. Lúc Clark Clifford, một ủy viên trong ban cố vấn tình báo đối ngoại của tổng thống đến thăm Sài Gòn năm 1965, tôi đặc biệt bực tức vì bị từ chối không cho phép đánh, có lẽ vì có kẻ nào từ Washington cho rằng họ đã thấy trên bức ảnh chụp mục tiêu từ trên máy bay có một túp lều tranh, chắc là có dân ở trong đó. Tôi yêu cầu Clifford nói lại rằng nếu Washington không còn tin ở tôi nữa mà dẫn chứng là trường hợp này thì kẻ nào đó cần đưa ra một vị tư lệnh khác thay tôi. Sau đó, sự can thiệp như vậy có giảm bớt.

rong suốt thời gian tôi ở Việt Nam chỉ có 2 trường hợp là B-52 có gây thiệt hại cho các khu dân cư. Trường hợp thứ nhất là vùng chung quanh Bảy Núi tại châu thổ sô Cửu Long năm 1967, lúc nhiều quả bom đã rơi chệch nên trúng vào một xã. Trường hợp thứ hai là vào đầu năm 1968, lúc mục tiêu là một tiểu đoàn địch ở trong rừng rậm gần sông Sài Gòn. Một quả bom rơi chệch và nổ ở vòng ngoài của một xã. Mức chính xác của máy bay ném bom khổng lồ này hầu như không thể tưởng tượng nổi!

Trong lúc khủng hoảng quân sự phát triển thì cảnh rối ren mới lại bao trùm sân khấu chính trị. Thủ tướng Quát đã tỏ ra hoạt động có hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên, thậm chí đã không khéo dẹp tan âm mưu yếu ớt gây ra một cuộc đảo chính của đại tá Thảo trong tháng 5, nhưng thời kỳ của Quát trên dàn nhạc Sài Gòn đã điểm.

Lúc Quát cải tổ nội các sau âm mưu đảo chính, hai bộ trưởng mà ông đề nghị gạt ra đã không chịu rút lui vì quốc trưởng Sửu ủng hộ, nói rằng thủ tướng không có quyền cách chức các bộ trưởng mà không được quốc trưởng tán thành. Động cơ của Sửu khó mà biết được. Có thể là ông làm theo quyền hành của ông vì hiến pháp nói không rõ về vấn đề này nhưng rất có thể ông bị các đối thủ của Quát tác động, chủ yếu là các giới công giáo đấu tranh vì  họ thấy đã có dịp gạt bỏ Quát. Vì lo các tướng lĩnh sẽ can thiệp nên đại sứ Taylor đã hoãn chuyến về Washington dự định trong tháng 6 nhưng tướng Thiệu đã đảm bảo với tôi là các nhà quân sự bằng lòng để các nhà chính trị giải quyết các bế tắc của họ.

Vì cả hai bên không muốn nhượng bộ nhau, Quát và Sửu đã từ chức và giao chính phủ cho giới quân sự. Các tướng lĩnh đã thành lập một hội đồng chỉ đạo quốc gia gồm 10 và do Thiệu làm chủ tịch. Dưới sự bảo trợ của hội đồng, một chính phủ mới đã được ra đời ngày 19-6. Với cương vị chủ tịch, Thiệu là quốc trưởng còn Kỳ làm thủ tướng.

Việc cử Kỳ làm cho đại sứ Taylor bối rối, trước hết là vì ông biết rất ít về Kỳ trừ việc nổi tiếng là con người hay ve gái. Vì đã bàn bạc nhiều với Kỳ, lại được tư lệnh không quân của tôi, Joe Moore báo cáo về những đức tính tốt đẹp của Kỳ, tôi ít bối rối hơn. Cũng như đại sứ, tôi không có cách nào biết là ê kíp Thiệu - Kỳ rốt cuộc có đưa lại được một mức độ ổn định chính trị cho đất nước không. Lúc đó, triển vọng hình như sẽ xảy ra cảnh rối ren nữa theo cách cũ.

Chính phủ Thiệu - Kỳ là chính phủ thứ 5 trong vòng 18 tháng kể từ lúc Diệm đổ và đã xảy ra 3 cuộc đảo chính không thành công. Cuộc khủng hoảng quân sự phát triển trên nhiều mặt là hậu quả trực tiếp của sự bất ổn về chính trị. Với những chính phủ ra đời rồi rút lui như thế, Sài Gòn là một cánh cửa quay, ttôi thấy ít có khả năng là bản thân người Nam Việt Nam có thể vượt qua được cuộc khủng hoảng quân sự.

Việc đại sứ Taylor về Washington trở lại vẫn không giải quyết được sự quanh co mập mờ mà tôi vẫn thấy trong các chỉ thị của Washington về cách thức sử dụng quân Mỹ.

Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #14 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:38:09 pm »

Cảnh huyên náo xảy ra ở Mỹ giữa giới báo chí và chính phủ trong thời gian Taylor trở về hình như đã không cho phép có những chỉ thị rõ ràng hơn.

Bê bối nghiêm trọng và những trận thử thách của quân đội Nam Việt Nam ở Ba Gia và Đồng Xoài; và thấy khả năng tôi phải ném quân Mỹ ra nếu muốn tránh sự thất bại thật sự cho một lực lượng lớn của quân đội Nam Việt Nam, tôi bèn chất vấn đô đốc Sharp về quyền hành của tôi. Ông ta phải trả lời rằng tôi là người ở chiến trường và sẽ “phải cân nhắc cái lợi cái hại”, nhưng ông vẫn đảm bảo với tôi là tôi sẽ có quyền hành. Ông nói thêm: “Tôi chắc rằng ông đã nhận thức được là sẽ có những hậu quả nghiêm trọng nếu những lực lượng lớn của Mỹ ra trận đầu tiên mà bị thất bại”. Cũng như tôi, hiển nhiên đô đốc Sharp còn nhớ số phận của binh đoàn cơ động số 100 trước đây 11 năm.

Những tiếng nổ ầm ầm của cuộc khủng khoảng chính trị mới nhất ở Sài Gòn đã bắt đầu và cuộc khủng hoảng quân sự khắp Nam Việt Nam đã quá rõ ràng trong lúc tôi đã suy nghĩ rằng nếu Mỹ có ý định thực hiện mục tiêu của mình là tước bỏ thắng lợi của địch ở Nam Việt Nam thì Washington phải nhìn vào công cuộc một cách thực tế. Tôi kết luận rằng không có nhiều lính chiến đấu trên bộ của Mỹ thì Nam Việt Nam sẽ không thể chịu đựng nổi sức ép của các lực lượng Bắc Việt Nam và Việt cộng kết hợp lại.

Tôi biết nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của Nam Việt Nam tán thành quan điểm này. Địch đang tiêu điệt các tiểu đoàn nhanh hơn số có thể lập lại được và nhanh hơn số chúng ta trù tính tổ chức theo chương trình tăng cường khẩn cấp cho quân đội Nam Việt Nam.

Tôi hiểu rất rõ tính chất nghiêm trọng của câu kết luận mà tôi đưa ra. Lực lượng Mỹ lớn có nghĩa là những sự hy sinh, số bị thương và số chết của Mỹ sẽ lớn, có thể kéo dàitrong một thời gian lâu, không phải mấy tháng mà nhiều năm. Tôi thấy là không thể cóthắng lợi nhanh mà thấy thất bại sẽ đến nhanh. Tôi cũng biết là mình đang coi thường khẩu hiệu tránh một cuộc chiến tranh trên bộ ở châu Á, nhưng tôi thừa nhận rằng khẩu hiệu đó phải được thay đổi chiếu theo các mục tiêu của quốc gia, như đã được thay đổi trong quá khứ.

Tôi rất có ý thức mình là một nhhà quân sự, không chịu trách nhiệm vạch ra chính sách mà chỉ thực hiện chính sách. Nhưng nếu hội đồng an ninh quốc gia và tổng thống thấy vì lợi ích của nước Mỹ mà phải cứu Nam Việt Nam khỏi chủ nghĩa cộng sản thì tôi, với tư cách là tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam, phải có trách nhiệm đứng về phương diện quân sự góp ý kiến là cần phải làm những gì để thực hiện mục tiêu đó. Trong hội đồng của phái bộ ở Sài Gòn do đại sứ làm chủ tịch, chưa hề có ai nhắc tới việc rút ra để mặc cho người Nam Việt Nam. Cũng như tôi, những người khác trong phái bộ Mỹ chịu trách nhiệm không phải vạch ra chính sách hoặc chiến lược lớn mà thi hành chính sách.

Trong bức điện ngày 9-6, tôi có nói với CINCPAC và hội đồng tham mưu trưởng liên quân rằng sức mạnh của địch đang tăng lên với tốc độc mà quân đội Nam Việt Nam rõ ràng không thể địch nổi và tôi tin rằng Bắc Việt Nam sẽ ném vào bất cứ cái gì mà họ cho là cần thiết “để  làm lệch cán cân”. Tôi nói nếu không tăng viện thêm quân Mỹ và quân nước thứ ba thì quân đội Nam Việt Nam sẽ không thể đứng vững trước sức ép.

Lúc đó, ở Nam Việt Nam có một tiểu đoàn Úc và 9 tiểu đoàn Mỹ. Tôi yêu cầu triển khai nhanh các tiểu đoàn khác đã được bàn: 9 tiểu đoàn Triều Tiên, 3 tiểu đoàn bộ binh của lục quân Mỹ và sư đoàn cơ động bằng máy bay của lục quân Mỹ (sau tổ chức thành sư đoàn kỵ binh bay số 1) có 8 tiểu đoàn. Tôi còn yêu cầu thêm một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ nữa để đưa lực lược thủy bộ của lính thủy đánh bộ III lên mức sư đoàn, thêm các đơn vị không quân chiến thuật, thêm máy bay trực thăng và thêm quân hậu cần. Có thể vì số quân thêm sau đó đã được bàn với hội đồng tham mưu trưởng liên quân rồi được lên con số tổng cộng 10 tiểu đoàn của các nước khác nên bức điện của tôi được gọi ở Washington là “yêu cầu 44 tiểu đoàn”.

Ít ngày sau đó, vào giữa tháng 6, tôi đã nhấn mạnh rằng tôi thấy 44 tiểu đoàn không phải là lực lượng để giành chiến thắng, mà là một biện pháp lấp lỗ hổng để cứu quân đội Nam Việt Nam khỏi thất bại.

Tôi cho rằng làm như vậy đòi hỏi phải có một hình thức tổng động viên nào đó và Washington phải là rõ cho công chúng thấy bằng một sự phân tích thành thực, khách quan, đầy đủ về vấn đề này và những việc chúng ta phải làm.

Trong bức điện, tôi không hề tìm cách che dấu Washington công việc hõan sẽ kéo dài bao lâuhoặc sẽ cần bao nhiêu quân. Để nhắc lại ý kiến của tôi, tôi đã gửi một bức điện cho hội đồng tham mưu trưởng liên quân vào cuối tháng để trả lời một câu hỏi của tổng thống do hội đồng chuyển giao là liệu tôi có nghĩ rằng 44 tiểu đoàn sẽ đủ thuyết phục kẻ địch chịu lùi bước không.

Tôi viết “câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi cơ bản là không”. Phải chờ đến cuối năm 1965 thì mới đưa được 44 tiểu đoàn đến Việt Nam và “thiết lập được sự cân bằng quân sự”. Về năm 1966, tuy tôi hy vọng “giành được và duy trì được thế chủ động về quân sự”, tôi không thể nói sẽ cần thêm bao nhiêu quân nữa. Điều này tùy thuộc ở nhiều biến cố có thể đưa vào. Tôi viết “theo linh tính, tôi tin rằng có thể cần thêm nhiều lực lượng Mỹ nữa”. Lại một lần nữa tôi nhắc lại yêu cầu của tôi có một tính hình thức động viên hạn chế nào đó mà tôi thấy “rõ ràng và cấp bách”.

Sau này tôi được biết là đề nghị của tôi đã gây ra cuộc tranh luận gay gắt ở Washington như đã dự kiến. Trong khi cuộc tranh luận diễn ra, tổng thống bằng một biện pháp tạm thời đã cho tôi được quyền trong tháng 6 đưa quân Mỹ vào “yểm trợ cho Nam Việt Nam” trong bất kỳ tình huống nào.

Mắc dù điều đó đã gần tới việc hủy bỏ chiến lược đóng chốt, tôi vẫn cảm thấy chưa được tụ do hành động và những điều tôi có thể làm được theo quyền lực của tôi vẫn bị hạn chế vì số quân có trong tay.

Theo quyền lực mới, tôi đã thực hiện một kế hoạch mà tôi đã phát triển cho lữ đoàn dù 173, do thiếu tướng Ellis Williamson chỉ huy, là tiến hành cuộc hành quân phối hợp với tiểu đoàn Úc, một trung đoàn quân đội Nam Việt Nam, 2 tiểu đoàn dù của Nam Việt Nam.

Ngày 27-6, các lực lượng đó (lữ đoàn dù lúc này chỉ có 2 tiểu đoàn) đã mở một cuộc đánh thăm dò hạn chế 3 ngày vào chiến khu Đ, lần đầu tiên kể từ nhiều năm, ngoài quân cộng sản chưa có quân nào vào được nhanh như vậy. Đây là một cuộc hành quân nhằm chuẩn bịn cho quân Mỹ và quân Úc bước vào các cuộc hành quân giai đoạn thứ 3 như tội đã vạch ra trước đây, đồng thời phá hỏng và đảo lộn cán cân của quân địch đang ở vị trí đánh vào căn cứ không quân ở Biên Hòa. Nhiều cuộc giao chiến ác liệt với Việt cộngg đã diễn ra, trong đó quân Mỹ và quân Úc chiến đấu rất xuất sắc.

Là một bộ phận trorng quá trình tổng thống đi tới một quyết định theo yêu cầu của tôi xin thêm quân, ôngg đã cử một phái đoàn tìm hiểu thực tế sang thăm Sài Gòn trong vòng 5 ngày bắt đầu từ ngày 16-7. Phái đoàn do bộ trưởng Mc Namara cầm đầu và có tướng Wheeler và Henry Cabot Lodge (ông Lodge đến cuối tháng 7 thì trở sang làm đại sứ Mỹ nhiệm kỳ thứ 2 lúc nhiệm kỳ 1 năm cua Maxwell Taylor gần kết thúc).
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #15 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:38:35 pm »

Với các vị khách đến thăm tôi chỉ có thể nêu lại chững lo lắng của tôi và những kiến nghị của tôi đã chuyển Washington. Mặc dù đại sứ Taylor đã xác nhận quan điểm về tính chất nghiêm trọng của tình hình quân sự và đồng ý dùng quân Mỹ để giúp sức, ông và phó đại sứ Alexis Johnson đều muốn chuyển quân vào từ từ để cho nhân dân Việt Nam có đủ thời gian thích ứng với sự có mặt tăng thêm của quân Mỹ. Tuy tôi cũng thấy đó là một vấn đề nhưng tôi cho rằng sự giúp đỡ là cấp bách và chúng ta có khả năng chứng minh một cách rộng rãi bằng lời nói và việc làm rằng chúng ta khác người Pháp - bộ trưởng Mc Namara hẳn là đã tán thành ý kiến của tôi vì thái độ của ông trong suốt các cuộc họp là thái độ chấp thuận yêu cầu 44 tiểu đoàn và còn thêm nữa nếu cần.

Quả vậy, ngay trước khi bộ trưởng Mc Namara tới, tôi đã yêu cầu nhân viên đánh giá xem sẽ cần có thêm bao nhiêu quân Mỹ và quân đồng minh để làm cho địch thấy là họ không thể thắng được. Khi đưa ra sự đánh giá này, tôi cố tránh xét tới việc tăng thêm quân Nam Việt Nam vì ông không muốn gắn thắng lợi vào một con số như vậy. Trong các cuộc họp của ông với tôi ở Sài Gòn trong suốt tháng 7 và trong nhiều cuộc họp khác trong những tháng sau, ông có nói với tôi cần xin thêm số mà tôi cần có để thi hành nhiệm vụ và không hạn chế các yêu cầu của tôi. Tôi cũng không phải lo gì đến các vấn đề kinh tế, chính trị và dư luận... Cứ để tất cả những vấn đề đó cho ông giải quyết.

Hầu như không thể đệ trình bộ trưởng một con số thật có ý nghĩa. Cuối cùng, tôi chỉ nói rằng, theo tôi nghĩ, thêm 24 tiểu đoàn nữa, cộng với 44 tiểu đoàn đã được xem xét, cộng thêm với quân yểm trợ chiến đấu và quân hậu cần nữa, thì sẽ là cho chúng tôi ở vào tư thế bắt đầu “giai đoạn thắng” cho chiến lược của chúng ta. Nói như vậy có nghĩa là lúc đầu phải có 175.000 quân Mỹ, sau đó thêm 100.000 quân nữa. Nhưng tôi có lưu ý rằng các hành động của Việt cộng và Bắc Việt Nam rất có thể làm thay đổi những con số này.

Đúng là họ đã làm như vậy, mà làm nhiều lần. Tôi đã tính toán trên cơ sở một quan niệm về các cuộc hành quân sẽ được thực hiện trorng 3 giai đoạn tổng quát:

Giai đoạn 1: đưa quân Mỹ và quân đồng  minh cần có vào “để ngăn chặn xu hướng đang thua” từ nay đến cuối 1965.

Giai đoạn 2: trong nửa đầu năm 1966, tiến hành tấn công bằng quân Mỹ và quân đồng minh ở “các khu vực được ưu tiên hàng đầu” nhằm tiêu diệt các lực lượng địch và lập lại các chương trình bình định.

Giai đoạn 3: nếu địch cứ kiên trì, họ có thể bị đánh bạo và lực lượng cũng như các căn cứ của họ sẽ bị tiêu diệt trorng thời gian một năm đến một năm rưỡi sau giai đoạn 2.

Các tác giả tập tài liệu của Lầu Năm Góc nối tiếp đã sử dụng sự đánh giá này làm cơ sở để nói rằng Washington hy vọng giành thắng lợivào cuối năm 1967. Tôi không hề có hy vọng như vậy và không hề tiên đoán ngày chấm dứt chiến tranh. Các tác giả vô dành đó đã định ra thời gian “một năm đến một năm rưỡi” của giai đoạn 3 từ “nửa đầu năm 1966”, tức thời hạn mục tiêu rộng rãi giành cho giai đoạn 2 để bắt đầu chứ hông phải giai đoạn kết thúc. Theo tôi, nghiên cứu đáng ngờ của họ, họ không hề nói lại giai đoạn 2 có thể kéo dài bao lâu, mà trong quan niệm của tôi, tôi cũng không dự đoán nó sẽ kéo dài bao lâu.

Sau khi đã nghiên cứu rất lâu vấn đề tăng cường binh lực với hội đồng tham mưu trưởng liên quân trước khi tới Sài Gòn, bộ trưởng Mc Namara đã ủng hộ quan diểm của tôi về 44 tiểu đoàn và về lực lượng tiếp sau mặc dù ông có nâng mức ước tính tăng thêm cú là 24 tiểu đoàn kên 27 tiểu đoàn để có tất cả 71 tiểu đoàn theo những ý kiến bàn bạc từ trước của hội đồng tham mưu trưởng liên quân.

Bộ trưởng còn muốn tổng thống ra lệnh động viên lực lượng cảnh bị quốc gia và lực lượng dự bị có tổ chức vào quân ngũ, một biện pháp mà tôi thấy là quá sớm.

Mặc dù tôi muốn có sự biểu thị về quyết tâm của quốc gia, tôi vẫn lo là nếu không có một đạo luật của quốc hội thì việc đổi quân lực lượng dự bị chỉ trong 1 năm, ma tôi biết là 1 năm thì không làm ăn gì được ở Nam Việt Nam, nếu không có một chiến dịch ồ ạt, liên tục ném bom Bắc Việt Nam, điều mà tôi biết là chính phủ có thể không chấp nhận. Tôi rất nhớ việc tổng thống Kennedy động viên lực lượng dự bị hồi nổ ra cuộc khủng hoảng Berlin, thời hạn 1 năm chưa hết thì có những sức ép mạnh mẽ nổi lên đòi đưa thanh niên về nước - một điều mà sau này tổng thống Johnson có cho tôi biết là ông cũng nghĩ như tôi. Với điều kiện là có một chế độquân dịch công bằng, không có trường hợp ngoại lệ đặc biệt nào với bất cứ ai, trừ những nhân viên công tác dân sự hết sức cần thiết, tôi tin rằng gánh năng chiến tranh có thể chia đều cho thanh niên Mỹ trong một thời gian kéo dài và tôi thấy đây sẽ là một cuộc chiến tranh lâu dài. Việc động viên lực lượng dự bị chỉ nên tiến hành sau khi địch đã gần thất bạo và có thêm nhiều quân Mỹ là có thể cầm chắc được điều này.

Các cuộc thảo luận của chúng tôi ở Sài Gòn trong tháng 7 hóa ra còn phải bàn cãi nữa. Đến ngày thứ hai, bộ trưởng Mc Namara đã nhận đuợc bức điện của thứ trưởng quốc phòng Vance cho biết là tổng thống Johnson đang xét việc động viên lực lượng dự bị và ông tán thành đề nghị 44 tiểu đoàn.

Đồng thời tại cuộc họp ngày 28-7, tổng thống lại thông báo công khai quyết định của ông là không gọi các đơn vị dự bị vào nhiệm vụ chiến đấu. Thế nhưng, rõ ràng là ông đã đi đến quyết định là ông sẽ phải có một nỗ lực lớn ở Việt Nam bằng quân đội Mỹ. Ông nói, ông đưa ra quyết định này, căn cứ vào những “bài học lịch sử”.

“Hôm nay tôi đã lệnh đưa sang Việt Nam sư đoàn cơ động bằng máy bay và một số lực lượng khác để đưa lực lượng chiến đấu của chúng ta từ con số 75.000 người lên 125.000 người ngay tức khắc. Sau này sẽ cần thêm lực lượng nữa về số lượng này sẽ được gửi sang khi có yêu cầu”.

---

[1] Một tiểu đoàn chiến đấu có thể hành động với bộ binh, bộ binh cơ giới hoặc thiết giáp, còn tiểu đoàn yểm trợ chỉ dùng pháo binh, công binh hoặc máy bạy
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #16 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:39:16 pm »


Cuộc khủng hoảng chính trị

...Trong một buổi nói chuyện với tổng thống Johnson tại khách sạn của ông nhân có hội nghị Honolulu năm 1966, ông có hỏi tôi rằng nếu tôi là địch thì bước sắp tới tôi sẽ làm gì? Vì tôi thường nghĩ đến chuyện đó nên tôi có thể trả lời không chút do dự: Chiếm Huế.

Để đi tới kết luận đó, không đòi hỏi phải sáng suốt lắm. Là kinh đô cũ, Huế tượng trưng cho một nước Việt Nam thống nhất. Chiếm Huế sẽ có tác động tâm lý sâu sắc tới người Việt Namở 2 miền Nam Bắc và trong việc làm này, Bắc Việt Nam có thể chiếm được 2 tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam để làm điểm mặc cả trong cuộc thương lượng. Bị cắt rời khỏi phần còn lạicủa Nam Việt Nam bởi những ngọn núi cao và chỉ qua được nhờ đèo Hải Vân nằm sát biển, lại không có hải cảng, hai tỉnh đó đã đẻ ra những khó khăn nghiêm trọng về mặt phòng thủ.

Việc mất trại CIDG - lực lượng đặc biệt ở thung lũng A Shau tháng 3-1966, mở thung lũng đó cho kẻ địch vào, khiến cho quân Bắc Việt Nam tiến vào Huế hoàn toàn có thể xảy ra.

Hơn nữa, tôi có chú ý đến một bài báo đăng trên tờ báo chính thức của Bắc Việt Nam, tờ Nhân dân kể chuyện một sư đoàn Bắc Việt Nam tập dượt thâm nhập lén lút băng qua một khoảng cách trên 50 km, bí mật tập hợp lại rồi tấn công bất ngờ. Tôi liền nghĩ ngay đến Huế, coi Huế có thể là mục tiêu cho một cuộc hành quân như vậy.

Từ tháng 2-1966, các tin tức tình báo đã bắt đầu cho thấy Bắc Việt Nam thâm nhập rất nhiều qua khu phi quân sự vào 2 tỉnh phía Bắc. Lúc tôi xem xét tình hình một cách cặn kẽ thì rõ ràng là có 2 sư đoàn Bắc Việt Nam. Họ đã đặt ra một mối đe dọa rõ ràng cho các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên và cho Huế.

Việc quân Bắc Việt Nam tiến vào 2 tỉnh phía Bắc có một mục tiêu nữa là kéo quân Mỹ ra khỏi công tác bình định ở phía Nam, đây là một khả năng chắc chắn. Nhưng dù bị đánh như thế nào và dù tuyến phòng thủ qua đèo Hải Vân đã bảo vệ tốt hơn nhiều so với tuyến dọc khu phi quân sự, tôi vẫn không thể để mất 2 tỉnh đó.

Ảnh hưởng tâm lý đối với người Nam Việt Nam, chưa nói đối với nhân dân Mỹ, sẽ rất tai hại.

Tôi cũng thấy không có lý do gì để thôi không giao cho lính thủy đánh bộ Mỹ chịu trách nhiệm ở 2 tỉnh đó nữa bằng cách chuyển quân của lục quân Mỹ lên phía Bắc. Mặc dù quân đội Nam Việt Nam đã bảo vệ ở cực Bắc, tất cả vùng quân đoàn I vẫn thuộc trách nhiệm của tướng Walt và nhiều nhân tố đã khiến tôi lúc đầu bố trí lính thủy đánh bộ ở phía Bắc vẫn có giá trị đối với 2 tỉnh phía Bắc cũng như đối với các nơi khác trong vùng, đặc biệt là khu vực đó rất hẹp nên đại bác của hải quân có thể bao gần như toàn bộ các khu dân cư, tổ chức nặng nề của lính thủy đánh bộ hứa hẹn cho họ có sức bám trụ phòng thủ và khả năng của họ tự mình tiếp tế cho mình qua các đầu cầu đã làm cho mọi người ít phải lo vì thiếu cảng.

Để chuẩn bị chuyển lên phía Bắc, tôi chuẩn bị vạch kế hoạch mở rộng sân bay Phú Bài, xây dựng lại một sân bay ở xa lên phía Bắc tại Đông Hà có khả năng tiếp nhận máy bay vận tải cỡ lớn và xây dựng một cảng cho tàu đổ bộ ở Huế. Đồng thời tôi chỉ thị tìm một địa điểm cho một sân bay mới để tiếp nhận các máy bay ném bom chiến thuật ở gần Huế.

Cũng lúc này lại có một cuộc khủng hoảng chính trị mới nổ ra ở các tỉnh phía Bắc, tập trung vào những nới trước đây đã có rắc rối: Huế và Đà Nẵng. Nếu có trường hợp với một cuộc tấn công liên tục của Bắc Việt Nam, nó có thể dẫn tới hậu quả là mất cả 2 tỉnh và cũng có thể mất cả Nam Việt Nam. hồi đó, nhiều người sợ xảy ra như vậy vì đây là sự rối loạn chính trị nghiêm trọng nhất làm quốc gia nghiêng ngả kể từ thời tổng thống Diệm.

Không phải tất cả mọi người đều thờ ơ kể từ khi ê kíp Thiệu - Kỳ lên cầm quyền tháng 6-1965.

Tiếp theo một sắc lệnh được ban hành sau đó 2 tháng, không cho sinh viên được miễn quân dịch như trước, sinh viên đã cùng Phật giáo biểu tình ở Quảng Trị và Đà Nẵng. Tuy chính phủ có sửa đổi sắc lệnh này, các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn trong một thời gian. Dù sao, việc bắt lính trong sinh viên không phải là vấn đề thực sự. Sinh viên và Phật giáo cho là họ đã có vai trò của những anh hùng trong việc lật đổ Diệm, thì một chính phủ quân sự lên cầm quyền mà không có đại diện của họ tham gia là điều tất nhiên dẫn đến các cuộc biểu tình.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #17 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:39:43 pm »

Mặc dù có mọi nỗ lực của các cố vấn lực lượng đặc biệt Mỹ, sự nổi loạn trong hàng ngũ người Thượng vẫn tiếp diễn. Tháng 8-1965, những người ủng hộ FULRO đã bất thần tấn công trại CIDG - lực lượng đặc biệt gần Ban Mê Thuột và mang đi mấy chục khẩu súng, nhưng phản ứng mau lẹ của quân đội Nam Việt Nam đã khiến cho bọn nổi loạn phải đầu hàng. Tháng 12-1965, người Thượng lại chiếm một quận lỵ nhưng một lần nữa phản ứng mau lẹ của quân đội Nam Việt Nam nhanh chóng dẹp tan cuộc nổi loạn. Ngay sau hội nghị Honolulu tháng 12-1965, Thiệu - Kỳ đã đưa một lãnh tụ người Thượng vào nội các giữ chức đặc ủy về công tác người Thượng. Điều này rõ ràng có làm giảm bớt sự bất mãn của người Thượng.

Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở phía Bắc phát triển vào tháng 3-1966 sau khi Hội đồng quân sự do Thiệu - Kỳ cầm đầu cách chức tư lệnh quân đoàn I, tướng Nguyễn Chánh Thi. Đây không phải là nguyên nhân mà chỉ là cái cớ để sinh viên và Phật giáo viện ra để châm ngòi nổ cho sự bất mãn của họ và tranh thủ sự ủng hộ đối với mục tiêu của họ là gạt bỏ chính phủ quân sự ở Sài Gòn.

Trên nhiều mặt, tướng Thi rất giống Kỳ. Trông bề ngoài họ cũng giống nhau: dịu dàng, ngọt ngào, người gầy, có để ria mép, thích cái lòe loẹt, sặc sỡ, nghênh ngang.

Cả hai đều rất can đảm. Có lúc Thi đã được cất nhắc để làm thủ tướng nhưng rồi bị gạt đi để nhường cho Kỳ. Lúc bị Việt cộng bắt, Thi căm ghét chúng đến mức hễ ông nhắc đến Việt công là trên mặt ông hiện lên một kiểu liếc mắt rất điểu cáng. Mặc dù những tham vọng chính trị của Thi có thể rất hạn chế, ông nổi tiếng trong các tướng lĩnh bạn bè của ông vì đã hợp tác với giới Phật giáo đấu tranh và cứ mỗi lần ông về Sài Gòn là nẩy sinh mức độ khiếp đảm nào đó vì người ta sợ ông có động cơ gì đây.

Chưa đầy 24 giờ sau khi tướng Thi bị cách chức, hàng ngàn sinh viên đã xuống đường phố Đà Nẵng đòi trả lại chức vụ cho Thi đồng thời tổ chức chính phủ Sài Gòn. Thị trưởng Đà Nẵng không can thiệp, một “Hội đồng đấu tranh quân sự” được thành lập vội vã đã đề ra một bộ máy kiểm tra nhằm tăng thêm cảnh rối ren và đưa binh lính Nam Việt Nam tham gia phong trào. Mấy ngày sau đó, hàng ngàn Phật tử họp mít tinh ở Đà Nẵng và cùng với sinh viên tổ chức biểu tình trên các đường phố. Phong trào lan ra Huế, là nơi sinh viên đã chiến đài phát thanh của chính phủ, phát liên tục những lời tố cáo chính phủ. Các khẩu hiệu chống Mỹ bằng tiếng Anh, nhằm khiêu khích để gây ra những xung đột với lính Mỹ, xuất hiện trên các đường phố tại 2 thành phố, bàn thờ, tượng Phật chắn các đường giao thông. Giọng chống Mỹ trong các cuộc biểu tình tăng lên, có lẽ nhằm mục đích buộc đại sứ Lodge gây sức ép với chính phủ chịu thỏa mãn với các yêu sách của những người biểu tình. Một cuộc tổng bãi công đã làm tê liệt Đà Nẵng trong mấy ngày. Để loại trừ khả năng xảy ra các vụ xung đột với người Mỹ, tướng Walt đã cấm tất cả nhân viên quân sự Mỹ vào Huế và Đà Nẵng.

Bóng ma nội chiến nằm lơ lửng trên các cuộc biểu tình, quân lính Nam Việt Nam ở các tỉnh phía Bắc bắt đầu chia thành phe này, cánh nọ. Quân lính thuộc sư đoàn 1 thiện chiến của quân đội Nam Việt Nam gốm đa số theo đạo Phật, được nuôi dưỡng để tôn kính các nhà sư; họ sẽ phản ứng như thế nào khi các nhà sư bảo họ quay lại chống chính phủ? Bằng cách từ chối mệnh lệnh bảo ông thôi chức ở bộ chỉ huy quân đoàn I để vào Sài Gòn và bằng cách tung ra những lời tuyên bố gay gắt từ một nơi bí mật tại Huế, tướng Thi đã bồi thêm nhiệt tình cho đám người ly khai. Đây là một sự chạm tránh giữa 2 người hùng cứng đầu cứng cổ: Thi và Kỳ. Các cuộc biểu tình không có dấu hiệu giảm bớt.

Tôi đã theo dõi chặt chẽ cuộc khủng hoảng. Theo lời khuyên của đại sứ Lodge, tôi đã bàn bạc thường xuyên với Thiệu và các nhà lãnh đạo khác của Sài Gòn và tiếp xúc bằng điện thoại hoặc họp bàn trực tiếp với tướng Walt, đại tá Arch Hamblen, phó cố vấn cao cấp thuộc lục quân Mỹ, và một cố vấn chính trị rất tinh khôn của sứ quán, Samuel Thomson - một người đã có nhiều kinh nghiệm ở các tỉnh phía Bắc, nói tiếng Việt rất thạo. Tôi chỉ thị rằng các cố vấn Mỹ và tất cả mọi phương tiện yểm trợ của Mỹ phải rút ra khỏi bất cứ đơn vị nào của quân đội Nam Việt Nam đã thôi không nghe theo các mệnh lệnh của chính phủ lại đi giúp đỡ những người ly khai.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #18 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:40:10 pm »

Theo gợi ý của tôi, đại sứ Lodge đã nêu rõ với thủ tướng Kỳ, sự lo ngại của Mỹ là 228 người Mỹ ở vùng quân đoàn I đã chết khi chiến đấu cho Nam Việt Nam trong vòng 3 tuần lễ xảy ra “hành động điên rò” này - chữ của tôi dùng – và nhân dân Mỹ hẳn phải hoang mang. Tôi cho một sĩ quan tình báo báo cáo với các nhà lãnh đạo chính phủ Nam Việt Nam về mối đe dọa của Việt cộng và Bắc Việt Nam đang tăng lên ở vùng quân đoàn I, đồng thời gợi ý chuyển tin này cho thị trưởng Đà Nẵng, nhà sư đấu tranh Thích Trí Quang và những người khác biết để họ dùng ảnh hường của họ dẹp tan các cuộc biểu tình.

Với hy vọng tránh điều quân ra và tránh khả năng gây ra một cuộc xung đột vũ trang, Thiệu - Kỳ đã tìm cách thỏa mãn một số biểu hiện bất bình trorng chính phủ. Họ báo tin trong vòng 2 tháng, một hội đồng đại diện sẽ thảo ra một cuộc trưng cầu dân ý, sẽ tổ chức bầu cử, có thể vào cuối năm 1966. Nếu không làm như vậy thì tình trạng ly khai lại càng phát triển. Các cuộc biểu tình lan đến Sài Gòn, Pleiku và Nha Trang. Ở Nha Trang, nhưng người biểu tình đã đốt cháy thư viện của USIS. Một số chỉ huy quân đội Nam Việt Nam ở địa phương bắt đầu phát súng đạn cho sinh viên. Điều rắc rối hơn hết là hôm 2-4, 3.000 quân thuộc sư đoàn 1 quân đội Nam Việt Nam mặc quân phục diễu hành qua các đường phố ở Huế sau đội quân nhạc của sư đoàn, hô các khẩu hiệu đòi lật đổ chính phủ.

Thiệu - Kỳ đã nhanh chóng báo cho tôi biết là không họ không thể ngồi chờ cho cuộc khủng hoảng qua đi được nữa. Họ đã đưa 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Nam Việt Nam ra căn cứ không quân Đà Nẵng với hy vọng là một cuộc phô trương lự lượng như vậy sẽ làm cho Đà Nẵng chịu lùi và sau đó là Huế. Vì là một cuộc khủng hoảng nội bộ, tôi từ chối sử dụng máy bay Mỹ vào việc ấy.

Quân lính được chuyển ra bằng đường biển và bằng chiếc máy bay cũ C-47 do Mỹ cho Nam Việt Nam trước đây. Lưu ý tướng Walt, tôi yêu cầu giữ thái độ trung lập, nhưng dù trung lập cũng đầy rẫy hiểm họa, đúng như Walt đã nhanh chóng phát hiện được. Lúc lính thủy đánh bộ Nam Việt Nam đến, họ thấy một lực lượng ly khai của quân đội Nam Việt Nam gồm khoảng 2.000 quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Đàm Quang Yên đang tiến vào căn cứ không quân. Một nửa hàng quân của Yên đã vượt quá một chiếc cầu cách Đà Nẵng mấy dặm thì một đại đội lính thủy đánh bộ Mỹ đã nghĩ cách cho một chiếc xe tải của mình đổ nhào trên cầu để chặn lại. Làm như vậy để tướng Walt có thì giờ dàn xếp một cuộc họp với Yên và buộc Yên hứa là không tấn công căn cứ không quân nếu lính thủy đánh bộ Việt Nam không tiến vào thành phố Đà Nẵng.

Khi đã trông thấy tướng Walt, đại tá Yên vẫn quyết tâm phô trương lực lượng bằng cách chĩa 4 khẩu đại bác vào căn cứ không quân Đà Nẵng. Walt đã phái đại tá John Chaisson ra ngăn chăn việc này (John Chaisson sau này làm ở bộ tham mưu của tôi với cương vị thiếu tướng, giám đốc trung tâm hành quân chiến đấu).

Đại tá Chaisson đã cố ý cho trực thăng của mình đáp xuống trước mũi các khẩu đại bác của Yên, trong đó có 2 khẩu đại bác 155 mm. Trong khi ông nói chuyện với Yên thì máy bay ném bom chiến đấu của lính thủy đánh bộ Mỹ lượn trên đầu, đại bác của họ chĩa vào các khẩu đại bác của Yên và một tiểu đoàn bộ binh của lính thủy đánh bộ Mỹ bố trí các vị trí cạnh đó.

Chaisson nói với Yên: vì không muốn thấy máy bay Mỹ và sinh mạng người Mỹ bị đại bác mà bản thân người Mỹ đã cung cấp cho người Việt Nam hủy diệt, người Mỹ sẽ nổ súng.

Vì Yên từ chối, không chịu nhượng bộ, các pháo thủ của ông bắt đầu mở hòm đạn, đặt ngòi nổ để chuẩn bị bắn.

Nhắc lại những lời cảnh cáo của ông một cách mạnh mẽ, Chaisson quay lại, lên máy bay và đi.

Dưới cái nắng gay gắt giữa trưa, tình trạng căng thẳng hình như không thể chấm dứt được cứ kéo dài. Thần kinh mọi người đang căng thẳng thì cuối cùng lính thủy đánh bộ Mỹ nhìn qua ống nhòm thấy đám pháo thủ bé nhỏ đó dừng lại, không chuẩn bị bắn nữa. Họ tháo ngòi nổ và bỏ các quả đạn vào hòm. Cuộc khủng hoảng trước mắt đã qua.

Một không khí yên tĩnh nhưng đầy lo âu bao trùm lên Đà Nẵng và Huế. Mặc dù tướng Thi vẫn còn ở Huế, tư lệnh mới của quân đoàn I, tướng Nguyễn Văn Chuân đã cố sức dàn hòa mâu thuẫn và thuyết phục thủ tướng Kỳ dừng cho quân vào 2 thành phố. Hội đồng quân sự cầm quyền hứa ân xá cho tất cả những người đã tham gia cuộc quấy rối và ban hành một sắc luận quy định việc tuyển cử tự do bầu ra quốc hội lập hiến trong vòng từ 3 đến 5 tháng. Phật giáo đồng ý chấm dứt quấy rối nhưng thề sẽ hoạt động trở lại nếu chính phủ không giữ lời hứa.

Tôi khó mà thỏa mãn với tình hình này. Các tuyên úy Phật giáo ở tỉnh Pleiku công khai chiêu mộ người trong bình lính, các giới Phật giáo ở phía Bắc tìm cách tổ chức các sĩ quan cấp dưới trong các đơn vị quân đội nam Việt Nam, và một số người lãnh đạo trong chính phủ muốn gây ra một sự kiện ở vùng quân đoàn I để lấy cớ đưa quân đến lập lại trật tự. Nhưng tôi thấy trước mắt chưa có cuộc khủng hoảng nổ ra nên tôi đã lợi dụng dịp yên tĩnh này đáp máy bay sang Honolulu ngày 12-5 để nói chuyện với Oley Sharp và nghỉ ngơi ít ngày.

Tôi đang ở bãi biển với gia đình thì người phụ tá mời tôi đến nói chuyện điện thoại. Người nói chuyện với tôi là bộ trưởng Rusk ở Washington. Bộ trưởng cho biết là Kỳ đã cho máy bay chở một lực lượng đặc nhiệm gồm lính dù Việt Nam tới căn cứ không quân Đà Nẵng. Quân lính đã vào Đà Nẵng và chiếm đài phát thanh, tòa thị trưởng, sở chỉ huy quân đoàn I. Tướng Chuân đã bị cách chức dưới sức ép của Phật giáo và người tư lệnh thứ ba đã được chỉ định là tướng Tôn Thất Đính, nhưng theo Kỳ nói, tướng Đính đã nằm dưới ảnh hưởng của Phật giáo.

Lúc Đính từ chối không tuân lệnh vào Sài Gòn, Kỳ bèn thay Đính bằng tướng Huỳnh Văn Cao – tôi rất ngạc nhiên khi được tin này, vì Cao là con người dao động, kém cỏi trong việc chịu trách nhiệm, mà tôi đã thấy ngay sau khi ra đón máy bay của tôi lúc tôi đến Sài Gòn.

Sau này tôi được biết là Hội đồng quân sự cầm quyền đã chọn Cao để giao nhiệm vụ đó mặc dù Cao phản đối. Cao có nói với người Mỹ là nếu tướng Westmoreland có mặt hôm đó, Cao sẽ không được yêu cầu nậhn công việc đó vì tướng Westmoreland không tin tưởng ở Cao.

Lại một lần nữa các nhà lãnh đạo Việt Nam đã hành động trong khi đại sứ Mỹ về Mỹ trong chuyế đi thường kỳ của ông và lúc đó tôi cũng đi vắng.

Nhưng nếu tôi được hỏi ý kiến, tôi sẽ tán thành việc đưa quân dù đến Đà Nẵng.

Mặc dù giới Phật giáo tuyên bố huênh hoang là họ chỉ cần có một chính phủ dân sự, thực sự họ đang tìm cách có một chính phủ mà họ có thể chi phối được. Nếu Thiệu - Kỳ đồng ý nhượng bộ thì kết quả là giới Công giáo, các giáo phái, các giới lao động và các giới khác sẽ gây rối loạn. Thậm chí có thể nổ ra nội chiến.

Tôi tin rằng Thiệu và Kỳ hoàn toàn có khả năng xử lý được tình hình, còn về phía Mỹ thì có những đại diện rất có khả năng, gồm phụ tá của đại sứ Lodge, William J. Porter, phụ tá của tôi, Johnny Heintges, và một tham mưu trưởng có nhiều kinh nghiệm trong nhiều năm ở Việt Nam hơn bất kỳ người Mỹ nào khác mà tôi hoàn toàn tin tưởng, trung tướng William B. Rosson.
Logged
daibangden
Moderator
*
Bài viết: 14469


Чёрный Орёл


« Trả lời #19 vào lúc: 25 Tháng Giêng, 2009, 03:40:40 pm »

Tôi nói với bộ trưởng Rusk là tôi muốn tránh nhảy xổ vào một cách quá đột ngột vì sợ mình tỏ rõ sự lo lắng quá đáng của Mỹ về việc này. Tại Washington, đại sứ Lodge cũng theo cách như vậy, nhưng sau một ngày, bộ trường Mc Namara tỏ ra nôn nóng và ra lệnh cho tôi trở lại. Tôi đáp máy bay trở lại Sài Gòn ngày 20-5.

Lúc trở về, tôi được biết tình hình chỉ huy của quân đoàn I Nam Việt Nam đã chuyển thành một màn kịch của Thi và viên tư lệnh mới bị cách chức là tướng Đính đang cố thủ ở Huế. Đính không chịu thừa nhận thực tế là ông đã bị cách chức còn Thi thì nắm quyền chỉ huy về thực tế sư đoàn 1 quân đội nam Việt Nam.

Đính có nói với một cố vấn Mỹ rằng giỏi lắm thì chính phủ bắt giam vợ con ông ở Sài Gòn và nếu xảy ra như vậy thì cùng lắm ông có thể cưới một người vợ khác.

Tuy có thổ lộ là ông thật ra không muốn nhận quyền chỉ huy, tư lệnh mới của quân đoàn, tướng Cao, khi ấy ở Đà Nẵng, vẫn chấp nhận sự thách thức là ra Huế để cố gắng đưa sư đoàn 1 nam Việt Nam trở lại với chính phủ. Cùng đi với ông trên một chiếc trực thăng của lục quân Mỹ có phụ tá, cố vấn cao cấp Arch Hamblen. Sau khi đã nói chuyện với các sĩ quan sư đoàn 1, Cao và Hamblen sắp lên máy bay thì một đám đông khoảng 100 sinh viên và một số lính ùa tới máy bay. Lúc máy bay bắt đầu lên thì một trung úy quân đội Nam Việt Nam dùng một khẩu súng cỡ 45 bắn hai phát vào cánh quạt ở đuôi máy bay. Theo hiệu lệnh của Hamblen, một lính Mỹ gác súng máy ở cửa máy bay liền nổ súng giết viên trurng úy Nam Việt Nam. Mặc dù chiếc trực thăng có bị hư hỏng, phi công vẫn cho máy bay lên được nhưng rồi phải hạ xuống bên ngoài thành phố để chuyển những người trên máy bay sang chiếc trực thăng hộ tống.

Cao quá là tồi! Cao vừa trở lại Đà Nẵng thì xung đột với Nguyễn Ngọc Loan, giám đốc cảnh sát quốc gia, được thủ tướng Kỳ cử đi chỉ huy cảnh sát chống bạo động để giúp lập lại trật tự ở Đà Nẵng. Loan, nguyên là một đại tá không quân, đề nghị cho phép tấn công vào các chùa của Phật giáo vì đó là những cứ điểm mạnh còn lại trong tay của những phần tử ly khai. Vì Cao cũng là người theo Công giáo, ông sợ rằng nếu ông ra lệnh tấn công thì chỉ làm tình hình gay go thêm. Ông ta từ chối.

Lúc Arch Hamblen tới gần đồn chỉ huy của quân đoàn I, ông đã nhìn qua cửa sổ thấy Loan tay chống nạnh đang tranh luận rất hùng hồn với Cao, trong khi đó các sĩ quan khác đi đi lại lại, còn một người khác đứng sau Cao đang vung khẩu súng lục gần đầu Cao. Hamblen chạy vội lại. Sau đó, Cao có nói việc Hamblen đã đến cứu sống ông. Cao đã gắn bó với Hamblen và tìm chỗ trốn tránh trong văn phòng của S. Thomson tại sở chỉ huy của tướng Walt, ở đây ông không hoạt động gì và bỏ hầu hết thì giờ vào việc cầu nguyện. Cao nói ông không tin người Việt Nam nào, trừ vợ ông. Ông viết thư cho tôi, xin được trở thành công dân Mỹ, tham gia lính thủy đánh bộ hoặc lục quân, chiến đấu chống cộng sản bất cứ nơi nào trên thế giới.

Tuy đã tìm cách tuân theo chỉ thị là giữ thái độ trung lập, tướng Walt vẫn thấy khó mà làm được như vậy. Sự kiện đầu tiên xảy ra ở Đà Nẵng ngày 18-5, lúc lính thủy đánh bộ Mỹ gác một đầu cầu bắc qua sông Hàn, trên con đường dẫn tới những cơ sở tiếp tế quan trọng thì được tin quân lính ly khai Nam Việt Nam ở đầu cầu bên kia đã đặt chất nổ để phá cầu. Lew Walt đã đích thân thuyết phục viên tư lệnh Nam Việt Nam gỡ bỏ chất nổ đi. Lúc ông đang nói chuyện huyên thuyên với người Việt Nam ở giữa cầu thì một sĩ quan công binh lính thủy đánh bộ bò xuống chân cầu cắt hết dây điện gây nổ.

Cuối cùng, lúc Walt đã nhận được tín hiệu của viên sĩ quan công binh, ông bèn chấm dứt cuộc nói chuyện vô bổ và hẹn cho viên tư lệnh Nam Việt Nam trong vòng 5 phút phải rút quân đi và gỡ bỏ chất nổ. Mấy phút trôi qua, viên tư lệnh Viện Nam vẫn im lặng. Lúc giờ hẹn đã đến, ông ta nói bằng tiếng Anh với Walt (lúc đầu ông ta giả vờ không biết tiếng Anh): “Này, thưa tướng quân, chúng ta sẽ cùng chết với chiếc cầu này”. Đưa cánh tay phải lên cao, ông lại bỏ tay xuống một cách nhẹ nhàng.

Lúc tướng Walt thấy người lính Nam Việt Nam ở phía đầu cầu bên kia ấn chiếc cần điện xuống, ông chỉ còn có thể cầu nguyện là viên sĩ quan công binh của ông lúc này đã làm tốt công việc.

Viên sĩ quan công binh đã làm tốt công việc được giao. Lúc lính thủy đánh bộ ùa qua cầu để chiếm đầu cầu bên kia, Walt liếc nhìn viên sĩ quan Việt Nam thất vọng rồi ông quay gót đi chậm chạp.

Tối hôm đó, quân ly khai Việt Nam chiếm giữ một kho đạn bên ngoài Đà Nẵng chứa hàng tấn thuốc nổ có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho thành phố và sân bay. Lúc quân trung thành Việt Nam dọa tấn công chiếm lại kho đạn, quân ly khai thề sẽ cho nổ tung. Theo chỉ thị của tôi, tướng Walt đã can thiệp. Có lẽ vì hành động của Walt trước đó ở chiếc cầu, quân ly khai sau mấy ngày thương lượng đã đồng ý vô hiệu hóa kho đạn bằng cách chia quyền bảo vệ với lính thủy đánh bộ Mỹ.

Vì các trận đánh nhau trên đường phố Đà Nẵng thỉnh thoảng lại nổ ra, thủ tướng Kỳ đã ra lệnh chuyển máy bay của không quân Việt Nam tấn công các ổ kháng cự còn lại. Biết rằng còn nhiều nhân viên dân sự Mỹ ở Đà Nẵng, tướng Walt đã thuyết phục tư lệnh không quân Việt Nam ở địa phương hủy bỏ các cuộc tấn công. Tư lệnh không quân Việt Nam từ chối, lấy lý do làm theo chỉ thị của Sài Gòn. Được biết rằng các máy bay cánh quạt cất cánh ở căn cứ không quân, tướng Walt đã ra lệnh báo động cho bốn chiếc phản lực của ông. Lúc máy bay Việt Nam bắn rocket vào quân ly khai ở gần một doanh trại lính thủy đánh bộ Mỹ, 3 phát rocket đã nổ trong doanh trại làm bị thương 3 lính thủy đánh bộ. Cho 2 chiếc phản lực cất cánh để bao vậy từ phía trên các máy bay Việt Nam, tướng Walt đã bảo cho tư lệnh không quân địa phương biết là nếu bắn thêm một quả đạn rocket nữa, ông sẽ ra lệnh cho máy bay của ông nổ súng từ trên không. Không dễ dàng chịu khuất phục, viên tư lệnh Việt Nam cho 4 chiếc máy bay cất cánh bay cao hơn máy bay phản lực của lính thủy đánh bộ. Với thái độ kiên quyết, tướng Walt cho thêm 2 chiếc phản lực cất cánh và lập tầng máy bay thứ tư trên không trung.

Máy bay đã bay lượn trong 2 giới. Cuối cùng, ở Sài Gòn, Kỳ chịu nhượng bộ. Máy bay Việt Nam trở lại căn cứ.

Thái độ của các quan chức Washington trong quá trình nổ ra cuộc khủng  hoảng, đối với tôi, thật là khó hiểu. trong những tuần lễ đầu xảy ra rối ren, Washington ra lệnh thi hành chính sách đứng ngoài cuộc, chờ xem bên nào có khả năng thắng thế mới thò bàn tay của Mỹ vào. Thật là vô lý! Tuy chính phủ Thiệu - Kỳ rõ ràng là chính phủ quân sự và không được ai bầu ra, nó vẫn là một chính phủ, chắc chắn có khả năng đưa lại sự ổn định cần thiết để tiếp tục chiến tranh hơn một chính phủ do các phần tử cấp tiến trong các tôn giáo lập ra vì các chính phủ này đã bị các nhóm thiểu số khác thách thức ngay tức khắc. Có lẽ phản ánh lối suy nghĩ chính thức ở Washington, tướng Wheeler đã hỏi ý kiến tôi về việc giữ lại mỗi khoản viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ, đồng thời rút quân Mỹ về các trại căn cứ với hy vọng thức ép cả 2 bên giải quyết những mâu thuẫn của họ với nhau. Rõ ràng làm như vậy là không nên trừ khi Mỹ có ý định rút hoàn toàn khỏi Việt Nam, một điều chưa được thảo luận với tôi hoặc theo tôi biết, chưa hề được Washington tính đến.

Còn đối với Washington, các quan chức bên ấy thấy diễn biến tình hình sôi động hơn nhiều, nghiêm trọng hơn nhiều so với tình hình thực tế, một phần vì họ nhận được tin qua báo chí và truyền hình. Thích Trí Quang và các nhà lãnh đạo ly khai khác lại cố ý sử dụng báo chí nước ngoài để giới thiệu lập trường của họ. Báo chí đã phát đi những lời kêu gọi có tính chất phản kháng để yêu cầu tổng thống Johnson, nước Mỹ, Hồng thập tự Quốc tế và bất cứ diễn đàn nào giúp họ. Báo chí và truyền hình thường xuyên có mặt để đưa tin, chụp ảnh về sự kiện tự thiêu của các nhà sư ở Huế, và lúc 2 người trong giới báo chí đến chậm không được chứng kiến một vụ tự thiêu của một bà vãi, những người biểu tình châm lửa đốt lại cho họ thấy.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM