Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 08:49:51 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris  (Đọc 166549 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #400 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:22:04 PM »

PHỤ LỤC 1
CÔNG HÀM CỦA MỸ GỬI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 1972

Tổng thống đã xem lại kỹ biên bản cuộc gặp giữa Tiến sỹ Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ. Tổng thống đã chỉ thị là message sau đây cần nhân danh Tổng thống chuyển cho các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

1- Tổng thống cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Hoa Kỳ đã đến rất gần một sự thoả thuận. Trong khi giải quyết một cuộc chiến tranh có thời gian và cường độ như vậy không tránh khỏi các thời gian biểu phải được thỉnh thoảng điều chỉnh lại.

2- Tổng thống không thể đồng ý về một cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger, hoặc về một cuộc ngừng bắn đơn phương một số hoạt động quân sự của Mỹ trừ phi trong khuôn khổ của một thoả thuận đã hoàn thành.

3- Vì những sự bất đồng về điều 7 và điều 8 và vì tính chất không thoả đáng của một vài tuyên bố đơn phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên thời gian cho một cuộc đi thăm như vậy chưa chín muồi.

4- Tổng thống cho rằng một cuộc gặp khác giữa Tiến sĩ Kissinger và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ hoặc với bất cứ thành viên nào khác của Ban lãnh đạo Hà Nội sẽ đưa tới một sự thoả thuận trong vòng hai hoặc ba ngày.

5- Vì lý do đó phía Mỹ đề nghị một thời gian biểu sau đây:

- Ngày 22, 23 và nếu cần thì ngày 24 tháng 10 có một cuộc gặp giữa Tiến sĩ Kissinger và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ở Vientiane. Nơi gặp sẽ luân phiên giữa Sứ quán Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

- Ngày 25 và 26 tháng 10 (hoặc ngày 26 và 27 tháng 10 tuỳ thuộc vào thời gian dài ngắn của cuộc gặp ở Vientiane) Tiến sĩ Kissinger đi Hà Nội thảo luận kế hoạch sau chiến tranh với các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

- Ngày 27 hoặc 28 tháng 10, Tiến si Kissinger trở về Washington.

- Ngày 28 hoặc 29 tháng 10 công bố đồng thời sự thoả thuận cuối cùng.

Thời gian biểu này có thể sẽ chậm chỉ ba hoặc bốn ngày so với kế hoạch đã định lúc đầu.

5- (Theo nguyên bản của Mỹ có thể là sai - người dịch). Nếu Vientiane là nơi không thể chấp nhận được, Tiến sĩ Kissinger sẽ sẵn sàng trở lại Paris vào bất cứ ngày nào thích hợp với Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ trong tuần lễ từ 23 tháng 10. Tuy nhiên điều đó sẽ ít hiệu quả hơn.

6- Mỹ có thể sẽ chấm dứt ném bom ngày hôm trước cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger như đã thỏa thuận giữa ông ta và cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.

7. Như là một dấu hiệu của thiện chí, Mỹ sẽ duy trì những sự hạn chế ném bom hiện nay trong khi các cuộc thương lượng đang tiếp diễn.

8- Tổng thống muốn xác định lại ý định nghiêm chỉnh của ông để hoàn thành sự thoả thuận trong thời gian biểu mới đề nghị. Với cố gắng và hiểu biết chung, chúng ta có thể thành công.

Tiến sĩ Kissinger đã yêu cầu rằng bản dự thảo đính theo đây được chuyển đến ông Xuân Thuỷ. Bản dự thảo đó không nói lên lập trường đã được thoả thuận toàn bộ hoặc là bộ phận trong giai đoạn này của cuộc thương lượng.

Paris ngày 18 tháng 10 năm 1972
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #401 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:23:19 PM »

PHỤ LỤC II
CÔNG HÀM CỦA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ GỬI MỸ NGÀY 19 THÁNG 10 NĂM 1972

Các nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhận được message của Mỹ chuyển hồi 16 giờ ngày 18 tháng 10 năm 1972 nhân danh Tổng thống Mỹ.

Sau đây là message nhân danh Thủ tướng chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chuyển đến Tổng thống Mỹ.

1- Sau nhiều lần gặp riêng, đại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Mỹ đã đi đến thoả thuận về những vấn đề cơ bản để chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam. Hai bên cũng đã thoả thuận về ngày Tiến sĩ Henry A.Kissinger vào Hà Nội và ngày ký kết chính thức Hiệp định tại Paris. Đúng như Tổng thống Mỹ khẳng định trong message của Mỹ ngày 18 tháng 10 năm 1972, hai bên chỉ còn chưa thỏa thuận về hai vấn đề còn lại là điều 7 và điều 8 bản dự thảo Hiệp định.

2- Để tỏ thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí của mình, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm hết sức mình để gạt bỏ những trở ngại cuối cùng nhằm hoàn thành bản Hiệp định, bảo đảm ngày Tiến sĩ Henry A.Kissinger vào Hà Nội và ngày ký chính thức Hiệp định như đã thỏa thuận.

Do đó, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý công thức do phía Mỹ đưa ra về vấn đề thay thế vũ khí nói trong điều 7 và những đề nghị của Tiến sĩ Henry A.Kissinger về điều 8 trong cuộc gặp ngày 17 tháng 10 năm 1972.

Về vấn đề thay thế vũ khí trong điều 7, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý công thức mà Mỹ đưa ra trong lần gặp ngày 17 tháng 10 năm 1972: “Vì mục đích duy trì hoà bình, không phải để tấn công, hai bên miền Nam sẽ được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh bị hao mòn hoặc hư hỏng từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự giám sát của Ban Liên Hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát”.

Về điều 8, căn cứ vào đề nghị của Mỹ trong cuộc gặp riêng ngày 17 tháng 10 năm 1972, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý công thức do Mỹ đã đưa ra như sau:

Điều 8 

a). Việc trao trả những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành cùng một ngày với việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.

b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người bị chết, nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người vẫn còn coi là mất tích trong chiến đấu.

c) Vấn đề các nhân viên dân sự Việt Nam khác bị giam giữ ở miền Nam Việt Nam không bao gồm trong điều 8 (a) ở trên sẽ do các bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Những bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn để giảm đau khổ và đoàn tụ các gia đình.

"Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề trong vòng ba tháng sau khi ngừng bắn có hiệu lực" .

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận lời cam kết đơn phương của Tiến sĩ Henry A.Kissinger: "Chính phủ Mỹ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để làm cho số lớn những nhân viên dân sự bị giam giữ ở miền Nam Việt Nam được trao trả trong hai tháng và số còn lại sẽ được trao trả hết trong tháng thứ ba".

Với cố gắng lớn để giải quyết những trở ngại cuối cùng nói trên, phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà coi như vậy là văn bản Hiệp định đã được hai bên thoả thuận hoàn toàn về tất cả các vấn đề. Hai bên không được có sự thay đổi gì nữa, như Tiến sĩ Henry A.Kissinger đã hứa hẹn trong các cuộc gặp riêng.

3 - Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cho rằng việc thoả thuận về hai vấn đề còn lại cuối cùng để hoàn thành văn bản của Hiệp định đã gạt bỏ mọi trở ngại cho việc ký kết chính thức Hiệp định vào ngày 30 tháng 10 năm 1972 tại Paris theo đúng thời gian biểu mà hai bên đã thỏa thuận trong lần gặp ngày 11 tháng 10 năm 1972. Do đó cần phải thực hiện những điều đã thoả thuận về việc Tiến sĩ Henry A.Kissinger vào Hà Nội theo thời gian đã định, mà không cần có cuộc gặp mới giữa Tiến sĩ Henry A.Kissinger và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại một địa điểm khác trước khi Tiến sĩ Henry A.Kissinger vào Hà Nội như phía Mỹ mới đề nghị trong message ngày 18 tháng 10 năm 1972. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý với phía Mỹ là cuộc gặp giữa những nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, kể cả Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ, với Tiến sĩ Henry A.Kissinger ở Hà Nội sẽ thảo luận về quan hệ giữa hai nước sau chiến tranh. .

4- Như vậy là Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà một lần nữa đã có những cố gắng rất lớn để bảo đảm thực hiện đúng thời gian biểu mà hai bên đã thoả thuận, nhằm nhanh chóng chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nhắc lại những việc chính trong thời gian biểu mà hai bên đã thoả thuận trong lần gặp riêng ngày 1 tháng 10 năm 1972:

- Mỹ chấm dứt ném bom và thả mìn miền Bắc Việt Nam ngày 21 tháng 10 năm 1972.

- Tiến sĩ Henry A.Kissinger gặp những nhà lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Hà Nội ngày 22 và ngày 23 tháng 10 năm 1972; đồng thời ký tắt Hiệp định tại Hà Nội.

- Ký Hiệp định chính thức tại Paris giữa Bộ trưởng Ngoại giao của hai bên đúng ngày 30 tháng 10 năm 1972.

5- Để đáp ứng thiện chí của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Mỹ có trách nhiệm giữ đúng những điều đã thoả thuận trong nội dung Hiệp đính và đúng thời gian biểu đã thoả thuận.

Nếu phía Mỹ cứ tiếp tục mượn cớ này hoặc cớ khác trì hoãn việc thực hiện thời gian biểu mà hai bên đã thoả thuận thì cuộc đàm phán nhất định sẽ hoàn toàn tan vỡ, chiến tranh ở Việt Nam sẽ kéo dài và phía Mỹ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những việc xảy ra đó trước nhân dân Mỹ, nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #402 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:25:18 PM »

PHỤ LỤC III
CÔNG HÀM CỦA MỸ GỬI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1972
Mười giờ sáng ngày 20 tháng 10 năm 1972

Sau đây là message nhân danh Tổng thống nước Mỹ gửi cho Thủ tướng Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

1- Phía Mỹ hoan nghênh thiện chí và thái độ nghiêm chỉnh của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thể hiện trong message ngày 19 tháng 10 năm 1972. Với hai điều khoản trong Điều 7 và 8 mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thoả thuận trong message của mình, văn bản của Hiệp định bây giờ có thể xem là đã hoàn thành. Nhằm mục đích làm cho rõ ràng và tránh những chỗ khó hiểu, phía Mỹ đã xoá bỏ khoản đầu của đoạn 2 trong điều 7, và nay toàn bộ điều 7 như phía Mỹ chấp nhận là như sau:

“Điều 7 - Kể từ khi thực hiện ngừng bắn cho tới khi thành lập Chính phủ như qui định trong những điều 9(b) và 9(i) của Hiệp định này, hai bên Việt Nam sẽ không nhận việc đưa quân đội, Cố vấn quân sự và nhân viên quân sự kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh vào Nam Việt Nam. Hai bên Nam Việt Nam sẽ được phép thay thế trong từng thời kỳ vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh đã bị hao mòn hoặc hư hỏng sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, dưới sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát".

2- Tuy nhiên vẫn còn phải giải quyết vấn đề những tuyên bố đơn phương của hai bên. Để tránh mở đầu quan hệ mới trên cơ sở những sự hiểu lầm, nhất thiết cần phải nói rõ về những lời tuyên bố này.

a) Đối với vấn đề tù binh, phía Mỹ đã tuyên bố rất nhiều lần là dù trong bất cứ trường hợp nào Mỹ cũng không có thể ký một Hiệp định mà không bảo đảm một cách vô điều kiện việc trao trả lại tất cả những tù nhân quân sự và dân sự trên khắp Đông Dương. Do đó, lời lẽ trong bản tuyên bố đơn phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao ngày 17 tháng 10 trong đó có nói là việc trao trả những tù nhân ở Lào là phụ thuộc vào một giải pháp ở Lào và không nói tới những tù nhân ở Campuchia, là không thể chấp nhận được. Phía Mỹ đã làm việc trên giả định của những lời bảo đảm của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ chịu trách nhiệm về việc trao trả mọi tù nhân quân sự và dân sự Mỹ bị giam giữ trên khắp Đông Dương. Do đó Mỹ yêu cầu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra một bản tuyên bố đơn phương theo tinh thần bản đã trao ngày 8,9 và 12 tháng 10 năm 1972, nói như sau;

“đối với những quân nhân và thường dân Mỹ bị bắt giữ ở những nước Đông Dương ngoài Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cam kết sẽ thu xếp để xác minh và trao trả (idenitification and return) cho các nhà chức trách Mỹ theo cùng thời gian với việc thả những quân nhân và thường dân Mỹ bị bắt giữ ở Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng bảo đám rằng điều khoản trong Hiệp định toàn bộ về việc xác định (verification) những quân nhân và thường dân Mỹ coi là mất tích trong chiến đấu cũng sẽ áp dụng ở Lào và Campuchia”.

b) Đối với Lào, phía Mỹ chấp nhận văn bản của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao ngày 13 tháng 10 năm 1972, giống như bản của Mỹ trao ngày 12 tháng 10 năm 1972, như sau:

“Trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc của Hiệp định Genève năm 1962 về Lào, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ hoan nghênh những cuộc thương lượng hiện nay giữa hai bên hữu quan Lào, và sẽ tích cực góp phần để mau chóng đưa những cuộc thương lượng đó tới thành công, để có thể có một cuộc ngừng bắn ở Lào trong vòng 1 tháng sau khi Hiệp định về ngừng bắn và lập lại hoà bình ở Việt Nam có hiệu lực”.

“Sau khi ngừng bắn ở Lào, những người nước ngoài ở Lào sẽ thu xếp những thể thức thực hiện điều 15 (b) của Hiệp định về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam ".

c) Đối với Campuchia, phía Mỹ hành động trên cơ sở những tuyên bố sau của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ tại những cuộc gặp riêng với Tiến sĩ Kissinger ngày 26 và 27 tháng 9 và ngày 8 và 11 tháng 10 năm 1972.

Những vấn đề chiến tranh ở Việt Nam và Campuchia liên quan chặt chẽ với nhau; khi chiến tranh đã giải quyết ở Việt Nam thì không có lý do gì tiếp tục ở Campuchia (27 tháng 9).

- Một khi vấn đề Việt Nam đã giải quyết, thì vấn đề Campuchia chắc chắn sẽ được giải quyết; và việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam sẽ gây ra một ảnh hưởng rất lớn dẫn đến chấm dứt chiến tranh ở Campuchia có lẽ ngay tức khắc. (8 tháng 10).

- Hai bên chúng ta hiểu với nhau là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ tôn trọng nguyên tắc là mọi lực lượng nước ngoài, kể cả lực lượng của chính Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, phải chấm dứt hoạt động quân sự ở Campuchia và rút khỏi Campuchia và không được đưa trở lại. (ngày 26 tháng 9).

- Ở Campuchia, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng sẽ theo những nguyên tắc như ở Nam Việt Nam và Lào, nghĩa là sẽ không đưa vào trở lại Campuchia quân đội, vũ khí và dụng cụ chiến tranh (ngày 11 tháng 10); và .

- Như đã nói trong điều 18, những nghĩa vụ do Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày ký Hiệp định. (ngày 11 tháng 10).

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #403 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:25:25 PM »

Mỹ nhắc lại quan điểm của mình như Tiến sĩ Kissinger đã trình bày vào ngày 11 tháng 10 năm 1972, là nếu như trong khi chờ đợi một giải pháp ở Campuchia, lại có những hành động tấn công ở đó làm nguy hại đến tình hình hiện tại, thì những hành động như vậy sẽ trái với tinh thần điều 15 (b) và những giả định (assumption) làm cơ sở cho Hiệp định này.

3- Đối với những tuyên bố đơn phương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trao ngày 17 tháng 10 năm 1972, lập trường của Mỹ là như sau;

A- Đối với những quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong thời kỳ sau chiến tranh, vấn đề này sẽ được thoả thuận trong cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger và có thể được giải quyết một cách thỏa đáng. 

B- Đối với những hoạt động trinh sát, phía Mỹ xác nhận là khi Hiệp định này có hiệu lực thì những hoạt động trinh sát chống Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ chấm dứt.

C- Đối với những tàu chở máy bay của Mỹ, phía Mỹ không thể chấp nhận một sự hạn chế nào về việc quá cảnh của những tàu chở máy bay, như Tiến sĩ Kissinger đã vạch rõ với Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngày 11 tháng 10 năm 1972. Như vậy sự hiểu biết (understanding) về vấn đề này là chỉ nói về nơi đậu (stationing) của những tàu chở máy bay của Mỹ.

D- Đối với những phát triển tình hình nội bộ ở Nam Việt Nam, vấn đề được đề cập tới trong tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thảo luận trong khuôn khổ những đề nghị của Mỹ ngày 26 và 27 tháng 9 năm 1972. Những đề nghị trên này bị Hiệp định đang được hoàn thành này vượt qua rồi (superseded). Phía Mỹ cho rằng vấn đề những phát triển tình hình nội bộ ở Nam Việt Nam đã được nói đầy đủ trong điều 9 của bản dự thảo Hiệp định và không có sự hiểu biết nào thêm. 

4- Một khi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xác nhận (confirm) những hiểu biết này như nói trong đoạn (2) và (3) ở trên, thì Hiệp định coi là hoàn thành.

5- Với giả định là vấn đề những tuyên bố đơn phương sẽ được giải quyết thoả đáng, phía Mỹ đề nghị thời gian biểu sau, thời gian biểu này sẽ chỉ mang lại một sự thay đổi 24 tiếng đồng hồ về thời gian ký Hiệp định.

A- Vì có những sự chậm trễ gây ra do sự cần thiết nhận được những trả lời về những vấn đề còn lại, phía Mỹ đề nghị rằng Tiến sĩ Kissinger sẽ tới Hà Nội vào ngày 24 tháng 10, vào thời giờ đã thỏa thuận và sẽ rời Hà Nội ngày 26 tháng 10.

B- Sẽ có sự đưa tin đồng thời về Hiệp định tại Washington và Hà Nội vào ngày 27 tháng 10 năm 1972 vào hồi 21 giờ 00 (giờ Washington).

C- Việc ký Hiệp định sẽ tiến hành ngày 31 tháng 10 tại Paris.

D- Tuy Hiệp định đến khi ký kết mới có hiệu lực, nhưng phía Mỹ, để tỏ thiện chí, sẵn sàng thực hiện ngừng bắn từ ngày 28 tháng 10, vào hồi 12 giờ trưa, giờ Washington, và sẽ thu xếp để những lực lượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà cũng sẽ có hành động tương tự.

E- Giả định rằng phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đồng ý về thời gian biểu sửa đổi này, Mỹ sẽ chấm dứt ném bom ở Bắc vĩ tuyến 20 vào sáng ngày 23 tháng 10 năm 1972 và mọi cuộc ném bom bắn phá và thả mìn ở Bắc Việt Nam vào chiều tối ngày 23 tháng 10 năm 1972.

F- Phía Mỹ yêu cầu xác nhận gấp (urgent) về những sự hiểu biết nói trong message này. Phía Mỹ cũng yêu cầu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà xác nhận về những điều thu xếp về việc loan báo (ublicity) cuộc đi thăm Hà Nội của Tiến sĩ Kissinger như đã nói trong tài liệu do Tiến sĩ Kissinger trao cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ ngày 17 tháng 10 năm 1972. Ngay sau khi nhận được những lời xác nhận (confirmation) thì phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể tin là phía Mỹ sẽ tiến hành theo thời gian biểu đề nghị ở trên.

G- Phía Mỹ tiếc là có sự trì hoãn 48 tiếng đồng hồ trong việc thực hiện thời gian biểu này, nhưng cho rằng đó là những điều không thể tránh khỏi bởi vì vấn đề phức tạp và cần phải hiểu nhau một cách rõ ràng (precise). Mỹ không tin rằng nay là lúc hai bên đã tới rất gần sự kết thúc của một cuộc xung đột rất lâu dài, mà phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại tiến hành trên cơ sở những sự đe doạ.

H- Phía Mỹ nhắc lại sự tin tưởng là việc kết thúc chiến tranh, nay rất gần, sẽ đưa lại một thời kỳ mới trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #404 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:27:50 PM »

PHỤ LỤC IV
VĂN BẢN THỎA THUẬN NGÀY 20 THÁNG 10 NĂM 1972

Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với sự thoả thuận của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Công hòa miền Nam Việt Nam.

Chính phủ Mỹ với sự thoả thuận của Chính phủ Việt Nam Cộng hoà.

Nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam trên cơ sở tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần củng cố hoà bình ở châu Á và thế giới.

Đã thoả thuận, cam kết tôn trọng và thi hành những điều khoản sau đây: 

Chương I.
CÁC QUYỀN DÂN TỘC CƠ BẢN CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

Điều 1

Mỹ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam đã công nhận.

Chương II
CHẤM DỨT CHIẾN SỰ - RÚT QUÂN

Điều 2

Một cuộc ngừng bắn sẽ được thực hiện trên khắp miền Nam Việt Nam kể từ 24 giờ (giờ GMT), ngày 27 tháng giêng năm 1972 (giờ Đông Dương) , nghĩa là... giờ, ngày…, tháng... năm 1972 (giờ GMT).

Cùng ngày giờ nói trên, Mỹ sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự của Mỹ chống lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bằng mọi lực lượng trên bộ, trên không, trên biển, bất cứ từ đâu tới, và sẽ chấm dứt việc thả mìn tại vùng biển, các cảng và sông ngòi của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ sẽ tháo gỡ, làm mất liệu lực vĩnh viễn, phá huỷ tất cả những mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi ở miền Bắc Việt Nam, ngay sau khi Hiệp định này có hiệu lực.

Việc chấm dứt hoàn toàn chiến sự nói trong điều này là lâu dài vững chắc.

Điều 3

Các bên cam kết giữ vững ngừng bắn, bảo đảm hoà bình lâu dài và vững chắc.
 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #405 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:27:58 PM »

Bắt đầu từ khi ngừng bắn:

a) Những lực lượng của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà sẽ ở nguyên vị trí của mình trong lúc chờ đợi thực hiện kế hoạch rút quân. Ban liên hợp quân sự bốn bên nói trong điều 11 sẽ qui định những thể thức.

b) Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên nói trong điều 12 sẽ qui định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.

c) Các lực lượng chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lượng không chính qui của các bên ở miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau và nghiêm chỉnh tuân theo những điều qui định sau đây:

- Ngăn cấm mọi hoạt động vũ lực trên bộ, trên không và trên biển;

- Ngăn cấm mọi hành động đối địch, khủng bố và trả thù của cả hai bên.

Điều 4

Mỹ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.

Điều 5

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký Hiệp định này, việc rút hoàn toàn ra khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, Cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Mỹ và các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà, sẽ hoàn thành. Cố vấn của các nước nói trên cho các tổ chức bán quân sự và lực lượng cảnh sát cũng sẽ rút trong thời hạn đó.

Điều 6

Việc huỷ bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ và các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam sẽ hoàn thành trong thời hạn 60 ngày, kể từ khi ký Hiệp định này.

Điều 7 .

Từ khi thực hiện ngừng bắn cho đến khi thành lập Chính phủ qui định trong điều 9(b) và 9(i) của Hiệp định này, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ không được nhận việc đưa vào miền Nam Việt Nam quân đội, Cố vấn quân sự và nhân viên quân sự kể cả nhân viên kỹ thuật quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ được phép từng thời gian thay thế vũ khí, đạn dược, dụng cụ chiến tranh đã bị phá huỷ, bị hao mòn hoặc hư hỏng, từ sau khi ngừng bắn, trên cơ sở một đổi một, cùng đặc điểm và tính năng, có sự kiểm soát của Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam và của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #406 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:29:36 PM »

Chương III
VỀ NHỮNG NGƯỜI CỦA CÁC BÊN BỊ BẮT VÀ GIAM GIỮ

Điều 8

a) Việc trao trả những nhân viên quân sự của các bên bị bắt và những nhân viên dân sự nước ngoài của các bên bị bắt sẽ tiến hành song song và hoàn thành cùng một ngày với việc rút quân nói trong điều 5. Các bên sẽ trao đổi danh sách đầy đủ những nhân viên quân sự và những nhân viên dân sự nước ngoài nói trên vào ngày ký kết Hiệp định này.

b) Các bên sẽ giúp đỡ nhau tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và những nhân viên dân sự nước ngoài của các bên bị mất tích trong chiến đấu, xác định vị trí và bảo quản mồ mả của những người bị chết nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc cất bốc và hồi hương hài cốt và có những biện pháp khác cần thiết để tìm kiếm tin tức những người còn coi là mất tích trong chiến đấu.

c) Vấn đề những nhân viên dân sự Việt Nam khác bị giam giữ ở miền Nam Việt Nam và không bao gồm trong điều 8(a) ở trên sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên cơ sở những nguyên tắc của điều 21 (b) của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm việc đó trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, nhằm chấm dứt thù hằn để giảm đau khổ và đoàn tụ các gia đình.

Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này trong vòng hai tháng sau khi ngừng bắn có hiệu lực.

Chương IV
VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM

Điều 9

Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Mỹ cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam sau đây:

a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng.

b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.

c) Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngừng bắn và giữ vững hoà bình ở miền Nam Việt Nam; giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng thương lượng và tránh mọi xung đột bằng vũ lực.

d) Mỹ tuyên bố tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; Mỹ không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị hoặc cá nhân nào ở miền Nam Việt Nam và không tìm cách áp đặt một Chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn.

e) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

- Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia.

- Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu. tài sản và quyền tự do kinh doanh.

f) Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lập một cơ cấu Chính quyền lấy tên là Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc nhận chức, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương về việc thành lập các hội đồng cấp dưới. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một Hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và làm hết sức mình để thực hiện việc này trong vòng ba tháng sau khi ngừng bắn có hiệu lực, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam là hoà bình, độc lập và dân chủ.

g) Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc có nhiệm vụ “đôn đốc” hai bên miền Nam Việt Nam thi hành các Hiệp định ký kết giữa các bên, duy trì ngừng bắn, giữ vững hoà bình, thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, bảo đảm tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ như đã nói trong điều 9 (b) và qui định thủ tục và thể thức tổng tuyển cử. Các cơ quan quyền lực mà cuộc tổng tuyển cử đó sẽ bầu ra sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam thông qua hiệp thương mà thoả thuận.

Hội đồng Quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc cũng sẽ qui định thủ tục và thể thức tuyển cử địa phương theo như hai bên miền Nam Việt Nam thoả thuận.

h) Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh. Trong số những vấn đề hai bên miền Nam Việt Nam thảo luận có vấn đề các biện pháp giảm số quân của các lực lượng vũ trang hai bên và phục viên số quân đã giảm.

i) Miền Nam Việt Nam thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập, tôn trọng những điều khoản quân sự của Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam qui định việc không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, Cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình. Miền Nam Việt Nam sẽ duy trì quan hệ với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị và xã hội, nhận viện trợ kinh tế, kỹ thuật của bất cứ nước nào không kèm theo điều kiện chính trị.

Vấn đề nhận viện trợ quân sự sau này cho miền Nam Việt Nam sẽ thuộc thẩm quyền của Chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #407 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:31:54 PM »

Chương V
VẤN ĐỀ THỐNG NHẤT NƯỚC VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ QUAN HỆ GIỮA HAI MIỀN NAM, BẮC VIỆT NAM

Điều 10

Như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam đã qui định, giới tuyến quân sự ở vĩ tuyến 17 chỉ có tính chất tạm thời, không phải là ranh giới về chính trị hoặc về lãnh thổ.

Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bầng phương pháp hoà bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam, không .bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ do miền Nam và miền Bắc Việt Nam thoả thuận.

Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam sẽ sớm bắt đầu thương lượng, nhằm lập lại quan hệ bình thường về mọi mặt.

Trong khi chờ đợi thống nhất đất nước, miền Nam và miền Bắc Việt Nam không tham gia bất cứ liên minh quân sự hoặc khối quân sự nào, không cho phép nước ngoài có căn cứ quân sự, quân đội, Cố vấn quân sự, nhân viên quân sự trên đất mình, như Hiệp định Genève năm 1954 về Việt Nam đã qui định.

Chương VI
CÁC BAN LIÊN HỢP QUÂN SỰ - ỦY BAN QUỐC TẾ KIỂM SOÁT VÀ GIÁM SÁT - HỘI NGHỊ QUỐC TẾ

Điều 11

a) Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ cử ngay đại diện để thành lập Ban Liên hợp quân sự bốn bên có nhiệm vụ phối hợp các bên trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này:

- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam. 

- Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà.

- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam;

- Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà.

- Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam.

- Điều 8 về việc những người của các bên bị bắt.

b) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí. Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

c) Ban Liên hợp quân sự bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký kết Hiệp định này và chấm dứt hoạt động sau khi việc thi hành đoạn đầu của điều 2, điều 3 (a), điều 3 (c), điều 5, điều 6 và điều 8 đã hoàn thành.

d) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, thể thức làm việc, phương tiện hoạt động và chi phí của Ban Liên hợp quân sự bốn bên.

Điều 12

Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Cộng hoà sẽ cử ngay đại diện để thành lập một Ban Liên hợp quân sự hai bên miền Nam Việt Nam có nhiệm vụ phối hợp hai bên miền Nam Việt Nam trong việc thực hiện các điều sau đây của Hiệp định này liên quan đến hai bên:

- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình.

- Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam.

- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam, sau khi Ban Liên hợp quân sự bốn bên chấm dứt hoạt động của mình.

- Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các qui định khác của điều này.

- Điều 9 (h) về vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam.

Những vấn đề bất đồng sẽ chuyển cho Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

Sau khi Hiệp định này được ký kết, Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ thoả thuận ngay những biện pháp và tổ chức nhằm thực hiện ngừng bắn và giữ gìn hoà bình ở miền Nam Việt Nam.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #408 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:32:03 PM »

Điều 13

a) Sau khi ký kết Hiệp định này, thành lập ngay ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát.

b) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế bảo đảm có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với bốn bên những vấn đề về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này:

- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam.

- Điều 3 (a) về việc ngừng bắn của lực lượng của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà.

- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn giữa các bên ở miền Nam Việt Nam.

- Điều 5 về việc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam quân Mỹ và quân của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà.

- Điều 6 về việc huỷ bỏ các căn cứ quân sự của Mỹ và của các nước ngoài khác đồng minh của Mỹ và của Việt Nam Cộng hoà ở miền Nam Việt Nam.

- Điều 8 về việc những người của các bên bị bắt.

Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Các bên sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ kiểm soát đó.

c) Cho đến khi Hội nghị Quốc tế bảo đảm có những sắp xếp dứt khoát, Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ báo cáo với hai bên miền Nam Việt Nam về việc kiểm soát và giám sát việc thi hành những điều sau đây của Hiệp định này:

- Đoạn đầu của điều 2 về việc thực hiện ngừng bắn trên khắp miền Nam Việt Nam;

- Điều 3 (b) về việc ngừng bắn giữa hai bên miền Nam Việt Nam;

- Điều 3 (c) về việc ngừng bắn ở giữa các bên ở miền Nam Việt Nam;

- Điều 7 về việc không được đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam và về các quy định khác của điều này;

- Điều 9 (b) về tổng tuyển cử tự do, dân chủ ở miền Nam Việt Nam ;

- Điều 9 (h) về những sự thoả thuận đạt được giữa hai bên miền Nam Việt Nam về việc giảm số quân của các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam và việc phục viên số quân giảm đó.

Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ lập những tổ kiểm soát để làm nhiệm vụ của mình. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ thoả thuận ngay về chỗ đóng và sự hoạt động của các tổ đó. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ làm dễ dàng cho hoạt động của các tổ kiểm soát đó.

d) Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát sẽ gồm đại diện của bốn nước: Ba lan, Canađa, Hunggari, Inđônêxia. Đại diện các nước trong Uỷ ban Quốc tế sẽ luân phiên làm chủ tịch trong từng thời gian do Uỷ ban Quốc tế quy định.

e) Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát thi hành nhiệm vụ của mình theo nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của miền Nam Việt Nam.

f) Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí.

g) Uỷ ban Quốc tế và kiểm soát và giám sát sẽ bắt đầu hoạt động khi ngừng bắn có hiệu lực ở Việt Nam. Đối với các điều liên quan đến bốn bên nói trong điều 13 (b), Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình khi nhiệm vụ kiểm soát và giám sát của Uỷ ban đối với các điều đó đã hoàn thành. Đối với các điều liên quan đến hai bên miền Nam Việt Nam nói ở điều 13 (c) Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát chấm dứt hoạt động của mình theo yêu cầu của chính phủ được thành lập sau tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam nói ở điều 9 (b).

h) Bốn bên sẽ thoả thuận ngay về tổ chức, phương tiện hoạt động và chi phí của Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát. Mối quan hệ giữa ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Hội nghị Quốc tế bảo đảm nói ở điều 14 sẽ do Uỷ ban Quốc tế và Hội nghị Quốc tế thoả thuận.

Điều 14

Các bên thoả thuận về việc triệu tập Hội nghị Quốc tế trong vòng 30 ngày kể từ khi ký Hiệp định này để ghi nhận các Hiệp định đã ký kết, bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hoà bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, góp phần vào hoà bình và bảo đảm hoà bình ở Đông Dương.

Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ sẽ đề nghị các bên sau đây tham gia Hội nghị Quốc tế này: Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà Pháp, Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ Lan, bốn nước trong Uỷ ban Quốc tế kiểm soát và giám sát và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cùng với các bên ở Hội nghị Paris về Việt Nam.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #409 vào lúc: 25 Tháng Mười, 2009, 10:33:20 PM »

Chương VII
ĐỐI VỚI CAMPUCHIA VÀ LÀO

Điều 15

a) Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hoà triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Campuchia và nhân dân Lào đã được các Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương và Hiệp định Giơnevơ năm 1962 về Lào công nhận: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của các Quốc gia đó. Các Chính phủ nói trên tôn trọng nền trung lập của Campuchia và Lào, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Mỹ và Chính phủ Việt Nam Cộng hoà cam kết không dùng lãnh thổ của Campuchia và Lào để xâm phạm chủ quyền và an ninh của các nước khác.

b) Các nước ngoài sẽ chấm dứt mọi hoạt động quân sự ở Lào và Campuchia, rút hết và không đưa trở lại vào hai nước đó quân đội, Cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh.

c) Công việc nội bộ của Campuchia và Lào do nhân dân mỗi nước này giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài.

d) Những vấn đề liên quan giữa ba nước Đông Dương sẽ do các bên Đông Dương giải quyết trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. 

Chương VIII
QUAN HỆ GIỮA VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ VÀ MỸ

Điều 16

Nước Mỹ mong rằng Hiệp định này sẽ mang lại một thời kỳ hoà giải với Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà cũng như với tất cả các dân tộc ở Đông Dương. Thi hành chính sách truyền thống của mình, nước Mỹ sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và toàn Đông Dương.

Điều 17

Việc chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam và việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định này sẽ tạo điều kiện thiết lập những quan hệ mới bình đẳng và cùng có lợi giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đồng thời, những việc đó sẽ bảo đảm hoà bình vững chắc ở Việt Nam và góp phần giữ gìn hoà bình lâu dài ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Chương IX
NHỮNG ĐIỀU KHOẢN KHÁC

Điều 18

Hiệp định này bắt đầu có hiệu lực kể từ khi ký. Tất cả các bên có liên quan sẽ thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định này.

Làm tại Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, bằng tiếng Việt Nam, tiếng Anh và tiếng Pháp. Bản tiếng Việt Nam và bản tiếng Anh là những bản chính thức và có giá trị như nhau. Bản tiếng Pháp để tham khảo sẽ soạn thảo sau.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM