Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 02:39:51 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris  (Đọc 164671 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #90 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:17:19 AM »

CHƯƠNG XIII
BÔNG CÚC VẠN THỌ.
(MARIGOLD)

“Bông cúc vạn thọ" (Marigold) đã được nhiều người biết đến và viết:

Trong cuốn “Việc tìm kiếm bí mật hoà bình ở Việt Nam”, David Kroslow và Stuart H.Loory đã dành cả phần đầu cuốn sách cho Bông cúc vạn thọ trước khi đề cập đến những sáng kiến khác, dù có trước, của Nhà Trắng.

Trong Hồi ký của mình, Tổng thống Johnson cho biết từ mùa hè năm 1966 Jannsz Lewandowskí, đại diện Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế, sau khi đi Hà Nội về, bắt liên lạc với đại sứ Mỹ Cabot Lodge ở Sài Gòn. Từ đó, các cuộc nói chuyện và trao đổi ý kiến giữa hai người được chuyển về Nhà Trắng dưới mật danh "Bông cúc vạn thọ" và kéo dài trong sáu tháng. Ông cho rằng cuộc đối thoại đó và các cuộc vận động ngoại giao có liên quan chắc sẽ được các nhà viết sử ngoại giao quan tâm nghiên cứu. Ông đổ trách nhiệm cho người Ba Lan nên không có cuộc nói chuyện giữa người Việt Nam và người Mỹ lúc bấy giờ: “Không những người Ba Lan đã đặt cái cầy trước con bò, mà hơn thế nữa, nói cho cùng họ cũng chẳng có con bò nào cả". Để củng cố cách lý giải của mình, ông còn trích một câu của nhà báo Australia Burchett trả lời báo Washington Post hai năm sau: “ý kiến đó do nhũng người bạn của Hà Nội thật sự có ý định tốt nghĩ ra để cho trắng đen rõ ràng là Mỹ có thể chấp nhận được gì rồi đề nghị với Hà Nội" (L.B.Johnson: Sđd, tr. 306-307.).

Vậy các nhà viết sử ngoại giao vẫn cần làm sáng tỏ vấn đề "Bông cúc vạn thọ" để xem đó là sáng kiến của Hà Nội hay của Mỹ.

Người đầu tiên thường được nêu tên là Lewandowski. Năm 1966, Lewandowski là một đại sứ trẻ, mới ba mươi lăm tuổi, là Trưởng đoàn Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế về Việt Nam. Tuy trẻ, ông đã từng được giao nhiều chức vụ quan trọng trước khi sang Việt Nam: thành viên của phái đoàn Ba Lan tại Liên Hợp Quốc; đại biện lâm thời Ba Lan tại Tan-da-ni-a. Mới sang miền Nam Việt Nam một thời gian ngắn, nhờ tiếp xúc rộng rãi với đoàn ngoại giao và nhiều nhân vật của chế độ Sài Gòn, ông đã nắm bắt được tình hình, nhận thấy thế chiến thắng của Việt Nam, thế thất bại của Mỹ.

Nhà ngoại giao đầu tiên mà Lewandowski đến thăm là đại sứ Italia G.D’Orlandi khi đó là Trưởng đoàn ngoại giao ở Sài Gòn. Một thời gian sau, ông đến chào lễ tân đại sứ Mỹ Cabot Lodge. Như đại sứ Ba Lan tại Hà Nội. Siecleski đã thông báo cho Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Văn Tiến ngày 12 tháng 7 năm 1965, Lodge đã đề nghị gặp Lewandowski tại nhà D’Orlandi ngày 9 tháng 7. Trong cuộc gặp này, Lodge nói là theo chỉ thị của Tổng thống Johnson, ông ta muốn trình bày vấn đề sau đây:

Mỹ mong muốn rằng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng được thông báo là Mỹ muốn có giải pháp chính trị chung cho cuộc khủng hoảng Việt Nam và sẵn sàng bàn bạc cơ sở cho giải pháp đó. Nếu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đồng ý bàn bạc thì Chính phủ Mỹ muốn nhận được câu trả lời cho những câu hỏi sau đây:

“Một: Khi nào, ở đâu, hoặc với ai có thể bàn bạc được?

Hai: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ có phản ứng gì hoặc không có phản ứng gì đối với việc ngừng ném bom?

Ba: Người Việt Nam có sẵn sàng cam kết là giữ hoàn toàn bí mật về giai đoạn đầu của cuộc đàm phán không?

Việc bàn bạc những cơ sở cho một giải pháp chính trị cần phải hiểu theo nghĩa rộng như cuộc đối thoại về những ý kiến của mình đối với giải pháp chính trị.

Cần hiểu rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng có thể là một bên khi có đàm phán không có ý nghĩa là một bên duy nhất, nhất là việc giải quyết hiện nay bao gồm cả việc ngừng hoạt động quân sự, đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
".

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #91 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:18:25 AM »

Lodge giải thích thêm về điểm hai là không phải chỉ việc ra tuyên bố mà phải giảm bớt một cách thực sự và rõ ràng các hoạt động của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trong việc chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các hoạt động quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Thực tế đây cũng chỉ là một phần thăm dò với tinh thần cuộc vận động tháng 5 năm 1955 của Washington. Nhưng Johnson đã hủy ý nghĩa cuộc thăm dò đó ngày 28 tháng 7 khi ông ta quyết định "lao đến cùng vào con đường chiến tranh".

Một kết luận cần rút ra từ câu chuyện này là: Từ tháng 7 năm 1966, Lốt đã sử dụng Đoóc-lan-đi làm trung gian để có liên lạc với Hà Nội qua vị đại sứ mới của Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế. Không biết sau đó có bao nhiêu cuộc gặp gỡ giữa D’Orlandi và Cabot Lodge về vấn đề Việt Nam, chỉ biết rằng đầu tháng 11, D’Orlandi được chỉ thị trở về Roma. Sau khi trở lại Sài Gòn, ông ta mời Leuwandowski ngày 14 tháng 11 đến nhà riêng để nói chuyện. Khi Leuwandowski đến thì Cabot Lodge đã ở đó. Cuộc nói chuyện giữa Cabot Lodge và
Leloandowski bắt đầu với sự hiện diện của D’Orlandi Trong buổi làm việc với đại tá Hà Văn Lâu, Trưởng phái đoàn liên lạc ngày 20 tháng 11, Leuwandowski đã thông báo nội dung cuộc nói chuyện với Cabot Lodge như sau:

“Sau vài câu xã giao, Cabot Lodge nói ông muốn gặp tôi nói chuyện về vấn đề Việt Nam. Tôi nói nhiệm vụ chính thức và duy nhất của tôi là đại diện Chính phủ Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế mà công việc là giám sát việc thi hành Hiệp nghị Genève và những vấn đề có liên quan đến việc thi hành Hiệp nghị đó, đối với công việc của Uỷ ban thuộc phạm vi công tác của tôi, tôi sẵn sàng bình luận.

Cabot Lodge nói hoàn toàn hiểu vị trí của tôi. Mục đích của ông ta là làm sáng tỏ lập trường của Mỹ cho bản thân tôi biết rõ thôi.

Cabot Lodge bắt đầu nói về Hội nghị Manila không làm thay đổi gì tình hình bằng cách phân chia trách nhiệm về vấn đề Việt Nam cho tất cả những thành viên của Hội nghị. Mỹ vẫn được hoàn toàn tự do tiếp tục cố gắng của mình đề tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam. Sau khi nhắc lại rằng Mỹ luôn luôn cố gắng tìm đến một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam. Ông nói những vấn đề sau đây:

Mỹ đi đền kết luận là mọi cố gắng để xuống thang không phản đối. Không có kết quả gì. Vì vậy hiện nay Mỹ cố gắng tìm đến một giải pháp toàn diện hơn.

Washington đang hoạt động để tìm ra một giải pháp như vậy tức là làm sao có được một cơ cấu ngừng bắn và tất cả những vấn đề còn lại, kể cả việc rút quân đội Mỹ khỏi Việt Nam.

Mỹ không nghĩ rằng nếu như tuyên bố công khai về biện pháp như vậy thì không phải là cách thích đáng phù hợp với tình hình và điều kiện của đối phương. Vì vậy, Mỹ không có ý định công bố tài liệu nào hay tuyên bố công khai về kế hoạch này.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #92 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:18:33 AM »

Vấn đề của Mỹ hiện nay là Mỹ không biết liệu một đề nghị nào đó của Mỹ đưa ra có được xét đến hay không? Có nhiều người đã nói hoặc đã tỏ ra mình có thể đại diện cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay Mặt trận Dân tộc Giải phóng và họ nói có những con đường thích hợp. Bây giờ Mỹ nhận thấy những người này thật ra không có cương vị gì mà chỉ là vì lợi ích riêng của họ, hoặc là để quảng cáo thôi.

Cabot Lodge hiện muốn biết rằng nếu một đề nghị như trên được thảo ra thì liệu có thể chuyển đạt được đến người thích hợp hay không? Và lời bình luận đề nghị đó có thể chuyển cho Mỹ được không? Người thích hợp là người hiểu biết rõ ràng về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân. tộc Giải phóng.

Với ý định như thế, Mỹ sẵn sàng xét và bình luận một cách bí mật bất cử đề nghị nào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cùng đưa ra hay đưa ra riêng rẽ.

Bây giờ Mỹ nhận thấy là trước khi bất cứ hình thức trao đổi nào có thể bắt đầu được thì việc ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là điều cần thiết. Mỹ bây giờ sẵn sàng làm như vậy nếu như việc đó có tác dụng trực tiếp. Mỹ không chờ đợi tác dụng đó sẽ xảy ra ngay lập tức. Mỹ không đề ra một điều kiện tiên quyết nào. Mỹ chỉ muốn có sự bảo đảm là việc đó sẽ dẫn đến những cố gắng thực tế để có đàm phán nhằm tìm ra giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam.

Mỹ bây giờ hiểu là Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ không đồng ý đàm phán để đổi lấy việc ngừng ném bom. Mỹ không muốn gây cảm tưởng là việc nói chuyện trực tiếp hay gián tiếp đã bắt đầu là do Mỹ đã ngừng ném bom. Vì vậy, Mỹ sẵn sàng làm theo cách sau đây:

Giai đoạn A: Ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, và trong thời gian đó không có hành động gì thêm.

Giai đoạn B: Tất cả những việc còn lại, nghĩa là trực tiếp hay gián tiếp trao đổi những đề nghị thực tế về mọi vấn đề quan trọng.

Cabot Lodge yêu cầu tôi bình luận về lời tuyên bố của ông ta. Tôi trả lời là không được phép bình luận gì về lời tuyên bố của ông ta vì tất cả những điều tôi nói ra chỉ là quan điểm của cá nhân. Tôi nói tiếp: nếu Mỹ thật sự cần phải ngừng ngay lập tức và không điều kiện việc ném bom và mọi hành động chiến tranh khác chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Mỹ phải ngừng ngay mọi hành động đối địch với nhân dân miền Nam Việt Nam trên đất, trên biển, trên không. Mỹ cần phải rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam và thanh toán các căn cứ quân sự của Mỹ. Mỹ cần phải công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng là đại diện duy nhất, chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ cần công nhận và không được gây trở ngại gì trên con đường của nhân dân Việt Nam tiến tới thống nhất nước Việt Nam.

Cabot Lodge không bình luận gì câu trả lời của tôi".

Cuộc nói chuyện đến đây chấm dứt.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #93 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:19:33 AM »

Tối hôm đó, Lewandowski và D’Orlandi lại gặp nhau trong cuộc chiêu đãi do sứ quán Nhật Bản tổ chức nhân dịp Bộ trưởng Bộ Kinh tế Nhật Bản đến miền Nam Việt Nam. D’Orlandi cho Lewandowski biết là Cabot Lodge muốn gặp Lewandowski để nói một điều rất quan trọng liên quan đến cuộc nói chuyện vừa qua. Lewandowski trả lời đồng ý.

Hôm sau, ngày 15 tháng 11, Lewandowski gặp lại D’Orlandi tại nhà riêng của D’Orlandi và D’Orlandi cũng có mặt trong cuộc gặp này. Về nội dung của cuộc nói chuyện thứ hai này, Lewandowski nói với Hà Văn Lâu như sau:

"Cabot Lodge nói rằng ông muốn gặp lại tôi vì hôm qua tôi đã nhắc lại lập trường chính thức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Như vậy, ông ta cho rằng nếu như thế thì tôi không thể thấy được hoặc khước từ nhìn thấy khả năng trao đổi ý kiến giữa các bên hữu quan.

Lodge còn cảm thấy rằng việc tôi từ chối không chịu bình luận nội dung lời tuyên bố của ông, dù với tư cách cá nhân không chính thức, có nghĩa là tôi cho rằng lập trường của Mỹ và lập trường của các bên hữu quan khác là hoàn toàn đối lập nhau,

Sau khi đã suy nghĩ, Lodge đi đến kết luận là cần nói thật rõ cho tôi biết là lập trường như thế của tôi không gạt bỏ khả năng trực tiếp hay gián tiếp trao đổi ý kiến với nhau được. Ông muốn bình luận thêm như sau:

Một: Mỹ sẵn sàng ngừng ném bom nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nếu như việc ấy có thể mở đường cho một giải pháp hoà bình. Mỹ không đòi hỏi bất cứ lời tuyên bố nào của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà về việc thâm nhập hay công nhận sự có mặt của Quân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam Việt Nam hiện nay hay trước đây.

Hai: Mỹ đã tuyên bố sự sẵn sàng của Mỹ rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam và thanh toán các căn cứ của Mỹ trong sáu tháng (như Tuyên bố Manila).

Ba: Mỹ sẵn sàng chấp nhận Chính phủ miền Nam Việt Nam được bầu ra một cách dân chủ, với sự tham gia của tất cả mọi người dưới sự giám sát quốc tế.

Bốn: Việc thống nhất đất nước phải do chính người Việt Nam quyết định, không có sự can thiệp của nước ngoài. Vì lý do đó, cần phải lập lại hoà bình và thành lập một cơ quan đại diện để có thể biết chắc được nguyện vọng của nhân dân (Đây là ghi theo lời của Lốt, tôi không hỏi rõ thêm).

Năm: Mỹ muốn đi khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng Mỹ không thể rút lui chỉ để nhường chỗ cho Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Sáu: Mỹ sẵn sàng chấp nhận một cách đầy đủ và trung thành một miền Nam Việt Nam trung lập.

Bảy: Mỹ sẵn sàng trao đổi ý kiến. trực tiếp hay gián tiếp về tất cả những vấn đề được đề cập hoặc chưa được đề cập trong cuộc nói chuyện này.

Mỹ cần nói rõ là không thực tế nếu yêu cầu Mỹ tuyên bố đơn giản chấp nhận bốn điểm hay năm điểm”.
Leuwandowski chỉ nghe và không bình luận, Cabot Lodge còn nói thêm rằng ông ta bảo ý kiến nói với Leuwandowski là ý kiến của cấp trên, của giới quyết định của Mỹ

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #94 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:21:19 AM »

Lãnh đạo Việt Nam ta trả lời Lewandowski như sau:

"Đồng chí lấy danh nghĩa của mình nói với đại sứ Cabot Lodge rằng nếu Mỹ thấy cần xác nhận những điều mà ông ta đã nói với đồng chí thì phía Mỹ có thể trực tiếp nói với đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava".

Ngày 2 tháng 12, khi gặp lại Lewandowski, Cabot Lodge tán thành cuộc gặp gỡ ở Varsava và nói sẽ điện ngay về cho Tổng thống Johnson. Ngày 3 tháng 12, Cabot Lodge cho Lewandowski biết rằng Johnson sẽ chỉ thị cho đại sứ Mỹ ở Varsava đến gặp đại diện nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava vào ngày 6 tháng 12 năm 1966.

Sau khi được thông báo rằng Mỹ sẽ đến gặp đại sứ Việt Nam tại Varsava ngày 6 tháng 12, Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ thị cho đại sứ Đỗ Phát Quang sẵn sàng tiếp đại sứ Mỹ Gronouski vào ngày đó. Bộ cũng cử một nhà ngoại giao trẻ, đồng chí Nguyễn Đình Phương (hiện nay là đại sứ ở Thuỵ Điển) cấp tốc đi Varsava với một kế hoạch hướng dẫn đại sứ Đỗ Phát Quang. Trước khi Nguyễn Đình Phương lên đường, Thứ trưởng Nguyễn Cơ Thạch còn dặn:

Dù máy bay có rơi mà đồng chí có chết thì trước khi chết cũng phải huỷ cho được bản kế hoạch này”.

Nhưng ngày 3 và 4 tháng 12, máy bay Mỹ ném bom Hà Nội. Bộ Ngoại giao Ba Lan yêu cầu đại sứ Mỹ giải thích tại sao lại có những cuộc oanh kích Hà Nội trước khi có cuộc gặp gỡ giữa đại sứ Việt Nam và đại sứ Mỹ tại Varsava. Grô-nốt-xki thanh minh rằng việc ném bom Hà Nội là tác chiến bình thường, rằng hoạt động quân sự ở hai miền Nam và Bắc Việt Nam không liên quan đến cuộc nói chuyện.

Mặc dầu vậy, đại sứ Đỗ Phát Quang cả ngày 6 tháng 12 vẫn sẵn sàng tiếp Gronouski, nhưng ông ta không đến. Sau này Mỹ giải thích rằng ông ta lại đợi đại sứ Đỗ Phát Quang ở sứ quán Mỹ. Còn Tổng thống Johnson thì lại nói rằng người Ba Lan đã hứa sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ này, nghĩa là cuộc gặp không thành là do trách nhiệm của phía Ba Lan.

Đại sứ Mỹ không chịu đến gặp đại sứ Việt Nam ngày 6 tháng 12 như đã thoả thuận. Hơn năm mươi máy bay Thần sấm và Con ma của Mỹ đã lần đầu tiên tấn công Thủ đô Hà Nội trong hai ngày liên tiếp trước khi cuộc gặp gỡ bắt đầu. Ngày 13 và 14 tháng 12 Mỹ lại ném bom trung tâm Hà Nội. Việt Nam chỉ có thể hiểu rằng Washington không muốn có cuộc nói chuyện đó.

Ngày 28 tháng 12 năm 1966, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh mời đại sứ J.Siclecki đến và nói như sau (Những lời phát biểu của Bộ trưởng Nguyễn Duy Trinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng được ghi theo lời kể của Nguyễn Tư Huyên, Trưởng phòng phiên dịch Bộ Ngoại giao.)

"Chúng tôi đã nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh những gợi ý của các đồng chí. Hôm nay tôi xin trình bày ý kiến của chúng tôi.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #95 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:21:27 AM »

Ngày 20 tháng 11 năm 1966, đồng chí Lelvandoloski đã thông báo cho chúng tôi ý kiến của Cabot Lodge. Chúng tôi có suy nghĩ về ý kiến đó.

Ngày 5 tháng 11, đồng chí Phạm Văn Đồng đã gợi ý đế đồng chí Lelvandolvski nói với Lodge: “Nếu phía Mỹ cần xác nhận lại với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà những điều mà Lodge đã nói với Leuwandowski thì Mỹ có thể trực tiếp nói với đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại Varsava". Câu nói đó coi như ý kiến của bản thân đồng chí Leuwandowski chứ không phải ý kiến của chúng tôi. Tất nhiên, nếu Mỹ có xin gặp và chúng tôi có tiếp thì đó cũng chỉ là một hoạt động ngoại giao bình thường, không phải là cuộc gặp gỡ bắt đầu cho việc thảo luận đàm phán. Các đại diện của chúng tôi ở nước ngoài vẫn tiếp những người, kể cả người Mỹ, đến sứ quán chúng tôi trình bày quan điểm của họ, hoặc hỏi rõ lập trường của chúng tôi về vấn đề Việt Nam.

Nhưng Mỹ đã lật lọng, trước sau nói khác nhau. Chúng lại tăng cường ném bom miền Bắc. Nghiêm trọng hơn nữa chúng đã ném bom cả Hà Nội, chỉ trong hai tuần lễ đã bốn lần đánh vào nội thành Hà Nội.

Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 12, chúng tôi đã nói với đồng chí Sieclacki rằng chúng tôi phải xem xét lại việc đại sứ chúng tôi tiếp đại sứ Mỹ tại Varsava nếu họ yêu cầu. Chúng tôi cũng đã chỉ thị điều đó cho đại sứ của chúng tôi ở Ba Lan.

Nhưng từ đó, Mỹ vẫn như không hiểu và tiếp tục nhờ các đồng chí Ba Lan chuyển ý kiến của họ. Âm mưu của Mỹ vẫn là “thương lượng không điều kiện". Họ đòi chúng tôi phải có hành động cụ thể đáp ứng trong giai đoạn B (thì chúng mới thực hiện giai đoạn A). Thủ đoạn của Mỹ là leo thang để thúc ép, mỗi lần leo thêm một bậc thang, Mỹ lại đòi chúng tôi trả giá. Họ còn mặc cả việc ngừng ném bom Hà Nội.

Chúng tôi kiên quyết bác bỏ những đề nghị có tính chất kẻ cướp đó của Mỹ. Các đồng chí lãnh đạo Ba Lan đã tán thành thái độ đó của chúng tôi. Chúng tôi hoan nghênh các đồng chí đã phê phán Mỹ một cách mạnh mẽ. Trước tình hình hiện nay, chúng tôi thấy không thể để cho Mỹ thực hiện âm mưu “trao đổi trực tiếp hay gián tiếp" trong khi Mỹ vấn tiếp tục ném bom miền Bắc. Vì vậy chúng tôi sẽ không xét tới những lời của Gronouski nếu ông ta cứ tiếp tục trình bày với các đồng chí”.

“Câu chuyện coi như đã chấm dứt".
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #96 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:22:15 AM »

Trong câu chuyện "Bông cúc vạn thọ", Lewandowski đã cho ta thấy rõ vai trò của đại sứ Italia D’Orlandi. Trong hồi ký củamình, Tổng thống Johnson không một lần nào nhắc đến tên ông D’Orlandi trong vấn đề Bông cúc vạn thọ. Nhưng trái với lời hứa và lòng mong muốn giữ bí mật của Cabot Lodge, báo chí Mỹ đã tung Bông cúc vạn thọ ra với nhiều chi tiết hấp dẫn.

Ngày 3 tháng 2 năm 1967, phóng viên báo Washington Post tại Liên Hợp Quốc đưa tin:

"Tháng 12 vừa qua, Bắc Việt Nam đã dứt khoát chấp nhận một gợi ý của Mỹ về nói chuyện trực tiếp đế giải quyết chiến tranh.

Cuộc thu xếp đã đi quá đà đến mức chỉ định Varsava làm địa điểm nói chuyện. Nhưng sau cuộc ném bom vào Hà Nội ngày 13 và 14 tháng 12 (mà Hà Nội lên án đã giết hại nhiều dân thường), Bắc Việt Nam đã rút sự chấp thuận đó, tố cáo Mỹ là không trung thực. Nguồn tin phương Tây nói trên tiết lộ tin này sau khi Tổng thống Johnson quả quyết rằng không hề có dấu hiệu nghiêm chỉnh nào về ý muốn nói chuyện hoà bình của cộng sản. Sự phủ nhận của Tổng thống gây ra sự nghi ngờ lớn ở đây (Liên Hợp Quốc - Tác giả) về ý muốn của Tổng thống trong số những người biết rõ chi tiết của cô gắng đã thất bại này” .

Một số báo khác cũng đưa tin rằng:

"Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Italia Fanfani nói với khách rằng việc ném bom đó là sai lầm.Fanfani đã cho khách biết rằng ông ta đã cảnh cáo Chính phủ Mỹ về tai hại của việc ném bom ngay sau hai lần ném bom ngày 3 và 4 tháng 12 và trước việc ném bom ngày 13 và 14" (David Kraslos và Stuart H.Loosry: Sđd, tr. 77.).

Dư luận tỏ ra bất bình với Nhà Trắng.

Trong cuộc họp báo ngày 9 tháng 2, bị chất vấn về vấn đế này, Ngoại trưởng Dean Rusk không dám xác nhận hay phủ nhận.

Ngày 8 tháng 5 năm 1967, hãng A.P phát một bài dài kể tỉ mỉ về Bông cúc vạn thọ. Trước ngày đó, Ngoại trưởng Mỹ hứa với các nhà báo là sẽ công bố việc này, nhưng sau khi có bài của hãng A.P người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không bình luận. Khi công bố chính thức sự kiện về Bông cúc vạn thọ. Bộ Ngoại giao Mỹ làm như chính phía Việt Nam đã chủ động đề ra việc tiếp xúc và đàm phán bí mật với Mỹ khi Mỹ vẫn ném bom miền Bắc Việt Nam. Họ cũng làm như chính phía Ba Lan (sau khi Lewandowski đi Hà Nội về ngày 26 tháng 6 năm 1966) đã được sự đồng ý của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã đưa ra một kế hoạch mười điểm làm cơ sở đàm phán và gặp đại sứ Italia nói là "Có một đề nghị hoà bình rất cụ thể”' dẫn tới thoả hiệp chính trị giải quyết vấn đề Việt Nam. Họ nói điều kiện đàm phán của Hà Nội là Mặt trận Dân tộc GIải phóng tham gia thương lượng và một cuộc ngừng ném bom miền Bắc và phía Mỹ đã thoả thuận cuộc gặp gỡ ở Varsava từ ngày 6 tháng 12 năm 1966. Ý nghĩa của cách trình bày như thế là phía Việt Nam đã đồng ý đưa ra mười điểm làm cơ sở để thảo luận, (qua Lewandowski) và phía Mỹ đã có thiện chí chấp nhận.

Cũng trong dịp này, ngày 9 tháng 5, tờ Unita cơ quan của Đảng Cộng sản Italia cho biết:

"Chính đại sứ D’Orlandi đã cho Lewandowski biết rằng ông ta muốn ghi trên giấy tờ một điều có thể dẫn đến khả năng hai bên hữu quan đồng ý. Sau đó, chính D’Orlandi đã gặp đại sứ Ba Lan trong Uỷ ban Quốc tế để xây dựng kế hoạch mười điểm. Kế hoạch này được trao cho Cabot Lodge, trong đó nêu rõ Mỹ không có ý đồ đối với Việt Nam nói chung và Hà Nội không có ý đồ thôn tính Nam Việt Nam. Tờ Unita nhận xét là: Trên thực tế trở lại Hiệp nghị Genève năm 1954, Lốt đồng ý chuyển cho Johnson.

Hãng A.F.P khi đưa tin này từ Roma nhận xét rằng Unita không nêu rõ nguồn tin nhưng các nhà quan sát ở Roma nhắc lại rằng Ngoại trưởng Italia Fanfani đã hai lần nói trước Quốc hội là đại sứ Italia ở Sài Gòn đã thu xếp những cuộc tiếp xúc và việc đó đã đưa đến kết quả tốt nhất chưa từng có nước nào thu được.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #97 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:22:56 AM »

Ngày 10 tháng 5, Bộ Ngoại giao Italia xác nhận nguồn tin của Unita.

“Theo David Kraslou và Stuart H.Loory, D’Orlandi biết rõ lập trường của Mỹ và Bắc Việt Nam quá xa nhau, tuy vậy, ông ta vẫn suy nghĩ làm sao hai bên có thể ngồi lại trong hoàn cảnh đó để cố tìm ra một giải pháp. Ông nói suy nghĩ của mình với đại sứ Leuwandouwski trong Ủy ban Quốc tế. Hai người có ý nghĩ chung là làm sao đưa đại diện của hai bên đến một địa điểm nào đó gặp nhau để có thể trao đổi ý kiến về một loại giải pháp lâu dài cho Nam Việt Nam. Mùa hè năm 1966, qua một số người Mỹ mới thăm Hà Nội về, Mỹ cho rằng Hà Nội bị đánh đau, giao thông bị tắc nghẽn và có dấu hiệu rõ là Hà Nội muốn thương lượng. Lốt đề nghị với Johnson đẩy mạnh ném bom miền Bắc hơn nữa để ép Hà Nội đi vào bàn Hội nghị theo điều kiện của Mỹ, Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ thấy con đường do D’Orlandi mở ra đáng được khai thác.

Các cuộc ném bom Bắc Việt Nam ngày càng ác liệt, pháo đài bay B.52 rải thảm bom ở khu phi quân sự, quân Mỹ tiếp tục được ồ ạt đưa vào miền Nam. Trong bối cảnh đó, gợi ý của D’Orlandi rơi vào lãng quên. Hội nghị Manila ngày 24 và 25 tháng 10 năm 1966, với sự tham gia của bảy nước châu Á và Thái Bình Dương, thực chất là nhằm động viên thêm tiềm lực đế đấy mạnh chiến tranh ở Việt Nam, nhưng đế che đậy mục đích chiến tranh của nó, Hội nghị đã đưa ra bản tuyên bố về bốn mục tiêu của tự do và đặc biệt là việc rút quân của các bên tham chiến ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng sáu tháng khi Bắc Việt Nam rút quân về phía Bắc.

Sau Hội nghị Manila, Averen Harriman đến Roma. Ngày 2 tháng 11, Ngoại trưởng Fanfani tổ chức chiêu đãi ông, trong cuộc chiêu đãi này có mặt đại sứ D’Orlandi được gọi từ Sài Gòn về. Nhân dịp này, Harriman đã bàn bạc lâu với D’Orlandi, sau đó Harriman điện về Washington đề nghị thông báo cho Lốt biết lập trường thương lượng của Mỹ để Lốt trao đổi với Lewandowski. D’Orlandi cũng trở về ngay Sài Gòn. Khi đó Lewandowski chuẩn bị ra Hà Nội theo chương trình của mình đã dự định trước. D’Orlandi yêu cầu Lewandowski hoãn chuyến đi một tuần, sau đó tổ chức các cuộc gặp ngày 14 và 15 tháng 11 giữa Cabot Lodge và Lewandowski, với sự có mặt của D’Orlandi như trên đã nói" (David Kraslowvà Stuart H.Loory: Sđd, tr. 14-21.).

Chúng ta cứ cho là khi câu chuyện được nêu ra D’Orlandi đã có ý nghĩ là tìm cách gì cho hai bên gặp nhau, trao đổi ý kiến để tìm ra một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Nhưng sau khi ý kiến đó biến thành những cuộc trao đổi, bàn bạc giữa ông ta và đại sứ Lodge thì rõ ràng không còn là câu chuyện riêng của D’Orlandi nữa, nhất là sau cuộc bàn bạc với Harriman tại Roma. Kế hoạch giai đoạn A và giai đoạn B mà Cabot Lodge nói với Lewandowski, với sự có mặt của D’Orlandi ngày 14 và 15 tháng 11 để chuyển cho Hà Nội là lập trường của Mỹ không hơn không kém. Nhưng tại sao Johnson khi nói về Bông cúc vạn thọ lại không nhắc đến tên đại sứ D’Orlandi? Nếu chỉ nhắc đến như trên thì có gì là hại cho Mỹ? Johnson im lặng ở đây chỉ là để không chịu nhận những gì Cabot Lodge đã nói với Lewandowski đã đưa ra với sự đồng ý của Nhà Trắng và Bộ Ngoại giao Mỹ để cuối cùng nói rằng chính Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đề ra việc gặp gỡ với Mỹ nhưng rồi sau lại không đến cuộc gặp đó. Việc Mỹ nói rằng Lewandowski đã đưa ra mười điểm làm cơ sở thảo luận ở Vasava (Johnson gọi là dự án Lewandowski) là hoàn toàn sai. Bằng chứng rõ ràng nhất là chính Lewandowski cũng không biết mười điểm đó.
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Chín, 2009, 08:27:44 AM gửi bởi macbupda » Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #98 vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 10:23:43 AM »

Khi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 6 tháng 5 năm 1967, đúng năm tháng sau cuộc gặp bất thành ở Varsava, Lewandowski đã nói:

"Vấn đề này đã cũ nhưng gần đây báo Bưu điện Washington lại đưa tin có mười điểm của Mỹ mà Cabot Lodge nói với ông ta là:

Một: Hoa Kỳ thành thật muốn giải quyết cuộc xung đột ở Việt Nam bằng con đường thương lượng hoà bình.

Hai: Cuộc thương lượng hoà bình nhằm mục đích giải quyết toàn bộ vấn đề cuộc xung đột ở Việt Nam. Ở miền Nam Việt Nam sẽ bảo đảm quyền lợi của bên đang đánh nhau với Hoa Kỳ” (Sách: Ngoại giao bí mật chiến tranh Việt Nam của G.C.Herring trang 279 cũng nói đây là mười điểm do Lewandowski đưa ra. Điểm hai này có thêm câu đầu “Các cuộc thương lượng này không được giải thích như là thương lượng về sự đầu hàng của những người chống lại Hoa Kỳ ở Việt Nam”.)

Ba: Hoa Kỳ sẽ không nhấn mạnh việc đòi duy trì lực lượng vũ trang và căn cứ quân sự Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam và sẽ thực hiện rút quân như đã nói trong thông cáo Manila.

Bốn: Hoa Kỳ sẵn sàng đưa ra đề nghị xây dựng và thảo luận với Đại biểu các bên đang đánh nhau với Mỹ ở miền Nam Việt Nam đế giải quyết toàn bộ vấn đề Việt Nam bao gồm vấn đề ngừng bắn và vấn đề rút các lực lượng Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam. Các cuộc nói chuyện sẽ tiến hành bí mật.

Năm: Trong khuôn khổ giải pháp chung, Hoa Kỳ không phản đối việc thành lập một Chính phủ Nam Việt Nam đúng với ý chí của nhân dân và có sự tham gia của các bên đang đánh nhau với Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử tự do và dân chủ. Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận một sự kiểm soát quốc tế thích đáng đối với cuộc tuyển cử đó. Hoa Kỳ cam kết hoàn toàn tôn trọng kết quả của cuộc bầu cử.

Sáu: Hoa Kỳ cho rằng vấn đề thống nhất nước Việt Nam phải do người Việt Nam tự giải quyết lấy sau khi hoà bình được lập lại và có những cơ quan đại diện cho nhân dân miền Nam Việt Nam.

Bảy: Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận và hoàn toàn tôn trọng nền trung lập của miền Nam Việt Nam.

Tám: Hoa Kỳ sẵn sàng ngừng ném bom miền Bắc nếu việc đó có thể làm dễ dàng cho việc tìm ra một giải pháp hoà bình. Để có việc ngừng ném bom này, không cần thiết nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải nhận hoặc xác nhận các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã hoặc đang thâm nhập miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẵn sàng tránh gây ấn tượng cuộc thương lượng đã bắt đầu dưới sự đe doạ của bom đạn hoặc để đổi lấy việc ngừng ném bom.

Chín: Hoa Kỳ không loại trừ khả năng thống nhất nước Việt Nam nhưng không đồng ý thống nhất dưới áp lực quân sự.

Mười: Tuy Hoa Kỳ sẵn sàng tìm kiếm một giải pháp hoà bình nhưng không nên trông chờ Hoa Kỳ tuyên bố bây giờ hay sau này là Hoa Kỳ chấp nhận bốn điểm hay năm điểm".

Chỉ có bình luận câu sau đây của C.L Cooper, một phụ tá thân cận của Averen Harnman đã có mặt trong cuộc chiêu đãi của Fanfani tại Rô-ma tháng 11 năm 1966, là chân thành và thẳng thắn:

Hồi tưởng lại, thêm nhiều quan chức ở Washington hồi đó nghĩ rằng toàn bộ diễn biên sự việc ở Varsava đối với người Ba Lan cũng như đối với Hà Nội là cốt cho Hà Nội một lúc xả hơi. Cuối năm 1966 và đầu năm 1967, Chính quyền Mỹ không quan tâm đến thương lượng. Các sáng kiên ngoại giao không được xen vào làm cản trở các hoạt động quân sự.

Quan điểm chỉ đạo lúc đó của Nhà Trắng là đánh và đánh mạnh hơn nữa!" (C.L.Cooper: Sđd, tr. 341-342).

Sự thật về Marigold là thế đó?

Marigold của Johnson đã chẳng "Thức giấc với những giọt lệ đầm đìa" như Marigold của Winiam Shakespear mà đã chết thảm hại. Ngày 23 tháng 12 năm 1966, Johnson ra lệnh tạm ngừng ném bom trong một vòng tròn bán kính mười dặm quanh Hà Nội để đại sứ Gronouskicó cớ đến gặp Ngoại trưởng Rapcaki ngày 30 tháng12 với hy vọng Bắc Việt Nam sẽ xem xét lại thái độ "cứng rắn" củahọ. Nhưng cả những cố gắng đó của Nhà Trắng để làm "sống lại" Marigold đều là vô ích (Xem thêm: Giócgiơ C.Hearing: Sđd, tr. 211-370.)
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Chín, 2009, 08:38:20 AM gửi bởi macbupda » Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #99 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 08:46:53 PM »

CHƯƠNG XIV
NHÀ BÁO MỸ ĐẦU TIÊN ĐẾN BẮC VIỆT NAM

Đó là Harisson Salsbury, trợ lý Tổng biên tập Nelv York Times. Ông đến Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 1966.

Trong những ngày lưu lại Bắc Việt Nam, ông đã tiếp xúc với nhiều quan chức Bộ Ngoại giao và nhiều nhân vật trong đó có ông Nguyễn Văn Tiến đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông cũng đã đi thăm một số nơi ở trung tâm Hà Nội bị ném bom, thăm thị xã Phủ Lý và thành phố Nam Định bị bom Mỹ tàn phá nặng nề.

Có thể nói sau mỗi ngày làm việc, ông đều có bài gửi về toà soạn. Trong năm bài đầu ông đã khẳng định máy bay Mỹ không phải là đánh vào bê tông và sắt thép mà thật sự đã đánh vào trung tâm Hà Nội, đánh những mục tiêu dân sự, và những cuộc ném bom đó không mang lại những kết quả mà Lầu Năm Góc mong đợi.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tiếp ông Salsbury ngày 2 tháng 1 năm 1967. Dưới đây trích phần chủ yếu cuộc nói chuyện.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi muốn nói chuyện vó ông một cách bình thường. Ông có gì cần nói thì cứ nói hết. Tôi cũng vậy. Bây giờ thì ai bắt đầu nào?

Salsbury:

- Có lẽ là Ngài.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi nghiên cứu những câu hỏi của ông, cả những câu hỏi ông hỏi tôi và hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Salsbury:

- Nó cũng tương tự như nhau.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

- Tôi nghĩ nên nói hai vấn đề chính: thứ nhất là chiến tranh, thứ hai là giải pháp.

Phải nói về chiến tranh trước, từ đó mà thấy vấn đề giải pháp.

Về chiến tranh thì có thể quan điểm của tôi và của ông có khác nhau. Nếu không hiểu đúng về cuộc chiến tranh thì cũng không thể hiểu đúng được những vấn đề có liên quan đến chiến tranh. Về cuộc chiến tranh, điều cơ bản nhất là nguồn gốc của chiến tranh, nguyên nhân chủ yếu của chiến tranh, cụ thể là ai gây ra chiến tranh. Về vấn đề này, quan điểm của chúng tôi rất rõ rệt và dần dần có nhiều người trên thế giới đồng ý với chúng tôi. Ông có đọc lời phát biểu nhân dịp năm mới của Tổng thống De Gaulle không (Salsbury trả lời: có). De Gaulle nói cuộc chiến tranh này do Mỹ gây ra và là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, đáng ghét. Từ đó ông ta rút ra kết luận: Mỹ phải rút khỏi miền Nam Việt Nam. Về điểm này ông có ý kiến gì?


Salsbury:

- Ý kiến riêng của tôi thì cách nhìn như vậy là đúng. Rất tiếc đó không phải là ý kiến của Chính phủ tôi.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Chín, 2009, 09:43:13 PM gửi bởi SaoVang » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM