Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười, 2019, 09:24:41 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris  (Đọc 164619 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #340 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:52:37 PM »

Trước thái độ lật lọng quá rõ ràng của Nixon, ngày 25 tháng 10, các nhà lãnh đạo Hà Nội quyết định đưa ra công khai tình hình gặp riêng, công bố Hiệp định đã thoả thuận giữa hai bên. Đó là chủ trương đã dự tính từ trước. 

Ngày 26 tháng 10 năm 1972, Chính phủ ta ra tuyên bố “về tình hình cuộc đàm phán về vấn đề Việt Nam hiện nay”, tóm tắt quá trình đàm phán ở Paris trong hơn bốn năm qua, sự tiến triển của cuộc thảo luận từ đầu tháng 10 và việc hoàn thành Hiệp định ngày 22 tháng 10, những điểm chủ yếu của thoả thuận, cùng thời gian biểu mà hai bên đã thoả thuận. Ta cũng công bố một số công hàm mà Mỹ gửi cho ta về việc này và bác bỏ những lý do không chính đáng của Mỹ nêu ra để trì hoãn việc ký kết và qui trách nhiệm kéo dài chiến tranh cho Mỹ.

Bản tuyên bố cũng khẳng định lập trường của ta giữ đúng những lời cam kết và đòi Chính phủ Hoa Kỳ cũng phải giữ đúng những điều đã cam kết, ký bản Hiệp định đã thoả thuận vào ngày 31 tháng 10 năm 1972.

Đây là một đợt đấu tranh công khai có tiếng vang rất rộng. Đoàn ngoại giao ở Hà Nội được thông báo tương đối đầy đủ. Các đại sứ và đại diện ta ở nước ngoài cũng thông báo cho các nước sở tại. Rất nhiều cuộc họp báo đã được tổ chức ở Hà Nội, Paris và thủ đô của nhiều nước. Các hãng thông tấn báo chí, đài phát thanh các nước trong nhiều ngày liên tiếp đưa tin tức về việc này.

Hãng U.P.I. của Mỹ đưa tin rằng Bắc Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân Mỹ. Hãng A.F.P của Pháp nhận xét: Nixon bị dồn vào chân tường... bị đặt vào tình thế nghiêm trọng phải lựa chọn giữa các khả năng: ký sớm Hiệp định, hoặc bỏ rơi Thiệu hoặc tiếp tục chiến tranh.

Nhiều nhân vật quan trọng trong chính giới Mỹ, chủ yếu là phe đối lập đòi Nixon phải ký sớm Hiệp định, không để Thiệu bác bỏ.

Nửa đêm hôm đó, Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc tiếp đại diện của hai miền Nam Bắc Việt Nam và nói: "Việt Nam Dân chủ Cộng hoà công bố là cần thiết, đòi Nixon ký Hiệp định vào ngày 31 tháng 10 là đòi hỏi đúng... Mỹ không thể trốn tránh trách nhiệm của mình".

Sáng hôm sau, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Côxưghin cũng tiếp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời và nói: “Đêm 26 tháng 10, Bộ Chính trị Liên Xô họp nghiên cứu tuyên bố của Việt Nam và ủng hộ một trăm phần trăm”.

Trong các ngày sau đó, Chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa cùng nhiều Chính phủ khác, các tổ chức hoà bình và hữu nghị trên thế giới... đều lên tiếng ủng hộ ta, tố cáo Mỹ kéo dài chiến tranh và lên án gay gắt Chính quyền Thiệu.

Nixon viết: “Ngày thứ năm, 25 tháng 10, điều mà chúng ta vẫn lo sợ đã xảy ra: người Bắc Việt Nam đã công bố hiệp định hoà bình... Họ tiết lộ hai trong số các điện của tôi gửi Phạm Văn Đồng và nhấn mạnh rằng chúng ta kéo dài cuộc nói chuyện nhằm âm mưu duy trì Chính quyền bù nhìn ở Sài Gòn nhằm mục đích kéo dài chiến tranh xâm lược” (R.Nixon. Hồi ký. Sđd, tr 794 - 705.).

Về phần mình, Kissinger viết:

“Người ta đánh thức tôi dậy vào lúc năm giở ba mươi sáng thứ năm, 25 tháng 10 để báo cho tôi biết rằng Hà Nội đã công bố trong nhiều giờ... sự giải thích của họ về các vấn đề xảy ra và tiết lộ quá trình đàm phán trong tháng qua... Sau sự tiết lộ của Hà Nội, chúng ta không có cách nào khác là phải giải thích lại... " (H. Kissinger. Ở nhà Trắng Sđd, tr 1456 1457-1459.)

Và trong cuộc họp báo hôm đó, Kissinger tuyên bố “hoà bình đã ở trong tầm tay".

Đây là một tuyên bố bịp bợm, mà Nixon thừa nhận đã gây ra cho ông ta nhiều "lo lắng" vì ông ta muốn leo thang sau bầu cử. Kissinger cũng tự trách mình và cũng có lúc đề nghị xin từ chức vì lời tuyên bố đó. 

Kissinger cũng thừa nhận rằng lời tuyên bố đó của ông, ngay lập tức bị các báo chí Mỹ nắm lấy xem đó là tượng trưng cho trò lá mặt lá trái của Chính phủ... trong vấn đề Việt Nam.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #341 vào lúc: 11 Tháng Mười, 2009, 09:52:51 PM »

*
*   *

Việc lật lọng này đã được Nhà Trắng tính toán từ trước:

Sau khi miền Nam được giải phóng ta tìm thấy trong Dinh Độc lập biên bản hội đàm giữa Nguyễn Văn Thiệu và Kissinger  trong những ngày 17 và 18 năm 1972 tại Sài Gòn. Biên bản có đoạn:

"Tiến sĩ Kissinger nói rằng hiện nay Hoa Kỳ đang trải qua một thời kỳ sôi động và càng sôi động với cuộc bầu cử Tổng thông sắp đến. Đảng Dân chủ cố biến vấn đề Việt Nam thành đề tài chính của cuộc tranh cử. Các bộ máy tuyên truyền của đảng này cùng với báo chí và truyền thanh, truyền hình tại Hoa Kỳ đều đòi một giải pháp nhanh, rất có hại cho Việt Nam (Sài Gòn) ... Do đó nhu cầu đối với chúng ta (tức Mỹ - Sài Gòn - Tác giả) là làm cách nào để khỏi bị cộng sản ép buộc làm theo ý họ, nghĩa là xoay sở cách nào để cho qua được hai tháng sắp tới. Sau thời gian này mọi việc sẽ dễ dàng hơn”.

Tiếp đó Kissinger trình bày dự thảo đề nghị của Mỹ sẽ đưa ra trong cuộc họp ngày 15 tháng 9 tới và nói với Thiệu;

"Chúng ta phải đáp ứng với cộng sản bằng mọi đề nghị mà họ có thể chấp nhận được hòng tránh sự kiện họ đơn phương công bố đề nghị của họ. Hơn nữa đề nghị mới của chúng ta cũng phải cho dư luận thấy rằng Hoa Kỳ muốn giúp nhưng miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lại chính trị của mình".

Kissinger nói thêm rằng, chúng ta phải để cho đề nghị mơ hồ, đừng quá chính xác hầu (để còn) bàn cãi các chi tiết sau này trong các diễn đàn khác. Kissinger nói ông sẽ gặp lại Lê Đức Thọ vào ngày 15 tháng 9 tại Paris và sẽ đưa đề nghị mới này cho cộng sản. Theo ông Kissinger thì sau này khi đưa đề nghị này, sẽ diễn biến như sau:

a) Nếu Bắc Việt chấp nhận đề nghị: 

Ngày 15 tháng 9, đưa đề nghị cho cộng sản. .

Ngày 1 tháng 10, cộng sản trả lời chấp nhận.

Mở ngay các diễn đàn và thảo luận chi tiết, thời gian một tháng.

b) Nếu Bắc Việt không chấp nhận đề nghị: 

Ngày 15 tháng 9, đưa đề nghị cho cộng sản.

Ngày 1 tháng 10, cộng sản trả lời không chấp nhận.

Ngày 5 tháng 10, Hoa Kỳ công bố đề nghị, giải thích cho dư luận (sẽ thêm được một tháng đến sau tuần “trăng mật" với dư luận).

Nhưng dù trường hợp nào đi nữa, chúng ta cũng có lợi vì phụ thêm thời gian, giúp Tổng thống Nixon vượt qua cuộc tranh cử
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #342 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:14:56 AM »

CHƯƠNG IX
THOẢ THUẬN VÀ THƯƠNG LƯỢNG LẠI
.

Sau khi vượt bầu cử

Nixon trúng cử nhiệm kỳ Tổng thống thứ hai với tỷ lệ cao: 60,7% phiếu bầu so với 37,5% phiếu bầu cho Mc Govern. Nỗi lo của Nixon về cuộc bầu cử đã qua, nhưng ở Thượng viện, Đảng Cộng hoà lại mất ba ghế, và ở Hạ viện Đảng Dân chủ vẫn nắm đa số. Như vậy lực lượng đối lập với Nixon không những không giảm đi mà còn tăng thêm. Xu hướng đòi chấm dứt nhanh chóng cam kết của Mỹ ở Đông Dương lại mạnh lên. Khó khăn của Tổng thống mới vẫn còn đó.

Mâu thuẫn giữa Washington và Sài Gòn vẫn gay gắt và bùng nổ công khai. Nếu như Nixon coi thoả thuận tháng 10 với ta là “hoàn hảo" thì ngày 01 tháng 1 tại Sài Gòn, Thiệu tuyên bố công khai rằng đó là một Hiệp định “đầu hàng".

Nixon cho rằng “sau bầu cử nhiệm vụ đầu tiên là phải chấm dứt chiến tranh" nhưng Thiệu tỏ ra phản đối mà Nixon không thể bỏ rơi ông ta được.

Nixon phải cử tướng Haig đi Sài Gòn thuyết phục Thiệu, nói cho ông ta rõ rằng Thượng viện Mỹ còn bồ câu hơn trước bầu cử, mặt khác Mỹ tổ chức cầu hàng không - với cái tên Enhance plus tăng cường nữa- ồ ạt đưa vũ khí vào Sài Gòn.

Thiệu vẫn gửi thư cho Nixon đòi sửa đổi trên 60 điểm trong hiệp định - những đòi hỏi mà Nixon cho là không thực tế.

Trên đường sang Pháp gặp Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ, Kissinger mang theo đòi hỏi của Thiệu - đặc biệt các vấn đề liên quan đến khu phi quân sự - tình hình riêng biệt của miền Nam và vấn đề rút một phần Quân đội miền Bắc khỏi miền Nam.

Nixon biên thư cho Thiệu một mặt hứa sẽ hết sức cố gắng để thực hiện các sửa đổi của Thiệu, nhưng mật khác cũng nhắc Thiệu rằng đừng nuôi dưỡng nhiều ảo tưởng vào khả năng và nghị lực của Mỹ có thể đi quá xa trong việc sửa đổi để làm tốt hơn nữa một Hiệp định mà Mỹ xem như đã hoàn hảo (R.Nixon. Hồi ký. Sđd, tr. 717, 718).

Ngày 18 tháng 11, Thiêu còn cử đặc phái viên Nguyễn Phú Đức sang Washington gặp Nixon. Thiệu muốn trì hoãn cuộc gặp giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. Nhà cầm quyền Mỹ còn gặp đại diện Liên Xô và Trung Quốc để tìm cách tác động đến Hà Nội theo hướng ôn hoà hơn, nghĩa là theo yêu cầu của Mỹ.

Trong buổi chiêu đãi Kiều Quán Hoa, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc cầm đầu phái đoàn Bắc Kinh tại khoá họp của Liên Hợp Quốc ở New York, Kissinger đã nêu lên nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề Campuchia.

Như ta đã biết, Washington muốn có ngừng bắn cùng một lúc ở ba nước Đông Dương để cứu vớt bọn Lon Nol mà Kissinger gọi là “đứa con mồ côi của Mỹ" (H.Kissinger ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1471). Ông ta nhấn mạnh với Kiều Quán Hoa sự thống nhất về quyền lợi giữa Trung Quốc và Mỹ đối với một nước Campuchia độc lập, không bị nước ngoài (ám chỉ Việt Nam) đô hộ. Kiều chỉ gợi ý Kissinger gặp Sihanuc đang ở Bắc Kinh. Kissinger từ chối.

Lúc ấy, qua tiếp xúc với Việt Nam, Hoàng thân Sihanuc tỏ ra muốn thương lượng, nhưng lực lượng kháng chiến ở trong nước do Khơme đỏ chỉ huy không muốn nói chuyện. Họ muốn chiến thắng hoàn toàn.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #343 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:15:42 AM »

Tại Paris ngày 27 tháng 10, Mỹ gửi công hàm cho Việt Nam nói rằng "Hoa Kỳ hiểu sự không hài lòng do sự không thực hiện được thời gian biểu gây ra" và đề nghị một đợt gặp riêng khác bắt đầu từ ngày 1 tháng 11 năm 1972 và “kéo dài chừng nào cần thiết đế hoàn thành Hiệp định”.

Phía Hoa Kỳ cũng khẳng định lại là một khi đã thoả thuận được một văn bản tại Paris và trong khi những cuộc trao đổi tiếp sau đó Hoa Kỳ sẽ hoàn toàn chấm dứt ném bom miền Bắc. Hoa Kỳ cũng đồng ý không yêu cầu thêm sự thay đổi nào nữa sau khi đạt tới thoả thuận sau cuộc gặp tới Hoa Kỳ (gạch dưới - Tác giả). Hoa Kỳ cũng khẳng định lại Kissinger sẽ đi Hà Nội ký tắt văn bản Hiệp định vào 20 tháng 11.

Mãi đến ngày 4 tháng 11, ta mới trả lời công hàm này. Ta chọn thời điểm này để tỏ ra ta không vội vã, cũng không trông chờ kết quả bầu cử ở Mỹ. Điều đó cũng có nghĩa nếu Mc Govern hay Nixon thắng cuộc, ta đều chủ động. Trong công hàm ta đề nghị cuộc họp tới bắt đầu từ 14 tháng 11.

Ngày 7 tháng 11, Mỹ nhận họp vào 15 tháng 11. Nhưng do Lê Đức Thọ ốm nên ta lui lại 20 tháng 11.

Đi vào giai đoạn đàm phán lại này hai bên đã có một cơ sở chung là văn bản Hiệp định 20 tháng 10 năm 1972. Ta có tư thế vững vàng, thuận lợi hơn từ sau tuyên bố 26 tháng 10. Dư luận quốc tế đồng tình và ủng hộ ta, đòi Mỹ sớm ký Hiệp định. Ta có cơ sở để giữ vững nguyên tắc và nội dung. Tuy ta có cơ sở vững vàng còn Mỹ thì yếu về đạo lý, nhưng ta dễ sa vào thế phòng ngự.

Về thời gian, ta không bị thúc bách như hồi tháng 10, trái lại Mỹ ở vào thế phải sớm chấm dứt chiến tranh, nhất là Quốc hội mới sắp bắt đầu họp lại.

Nhưng vấn đề phức tạp trong giai đoạn mới này là việc Thiệu tham gia - tuy không trực tiếp - vào cuộc nói chuyện làm cho nó gay gắt hơn.

Chủ trương của ta trong cuộc đàm phán lại là giữ vững những vấn đề về nguyên tắc và nội dung đã đạt được, đòi Mỹ không được sửa đổi các nguyên tắc và nội dung đó và phải sớm ký kết Hiệp định. Từ lâu ta đã thấy Mỹ dùng con bài thể thức hoặc trao đổi với Nguỵ để kéo dài. Ta phải tìm cách ngăn chặn. Ta phấn đấu buộc Mỹ ký Hiệp định vào khoảng 20 tháng 1 năm 1973.

"Hà Nội cũng tính đến khả năng thứ hai là nếu Mỹ - Nguỵ giành được lợi thế trên chiến trường, Mỹ lợi dụng được hoà hoãn với Liên Xô, Trung Quốc, gây khó khăn cho ta, bám giữ những yêu sách vô lý và dùng nguỵ để kéo dài đàm phán thì chiến tranh còn tiếp tục Cần hết sức đề phòng và chuẩn bị cho khả năng này".

Khi nhận được công hàm ngày 7 tháng 11 của Mỹ, đoàn ta ở Paris đã phát hiện nhiều ẩn ý của Washington. Họ đề ra một chương trình làm việc trong bốn ngày, mà ngày đầu tiên là bàn về những vấn đề thuộc về nội dung Hiệp định. Ngày thứ hai, thứ ba là bàn về các thay đổi về kỹ thuật và so sánh hai bản tiếng Việt và tiếng Anh, ngày thứ tư giải quyết những vấn đề còn lại.

Đó là mâu thuẫn nổi bật so với công hàm ngày 27 tháng 10 của họ và trái với tuyên bố của Mỹ nói rằng văn bản Hiệp định "xem như đã hoàn thành". Mỹ lại đòi "có hai tuần sau khi hoàn thành văn bản Hiệp định đế có những cuộc trao đối cuối cùng” (với Sài Gòn - Tác giả). Họ còn đòi thêm, bàn cả Nghị thư và Uỷ ban Quốc tế. Đó là những vấn đề rất dễ kéo dài. 

Mỹ đã lật lọng thì những ẩn số đó càng làm cho Hà Nội thêm cảnh giác.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #344 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:16:47 AM »

Ngày 20 tháng 11, các nhà báo đã vây ngôi nhà của hoạ sĩ F.Léger, và từ bên kia đường General Leclerc, đối diện với ngôi nhà của hoạ sĩ Pháp, một số nhà báo đã dựng lên những chòi cao để từ đó quan sát và chụp ảnh quang cảnh bên trong và các Đại biểu hai bên khi nghỉ ngơi ra dạo ngoài sân hay trong vườn. Kissinger cho rằng việc này do ta bố trí, còn Lê Đức Thọ thì nói đó là nhờ Kissinger sắp xếp hộ.

Dự đoán được sự bực bội của ta sau sự lật lọng của Hoa Kỳ, Kissinger tìm cách làm cho không khí hoà dịu thoái mái. Ông ta nhắc lại lời mời Lê Đức Thọ sang giảng bài ở Đại học Havard có thể ngay trong học kỳ mùa xuân sắp tới - vui vẻ hỏi thăm sức khoẻ của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch hôm đó cũng đến dự. Khi Xuân Thuỷ đề nghị hôm nay làm việc đến 16 giờ thì Kissinger vui vẻ nhận lời ngay, cho như vậy là quá sớm vì ông ta đã quen làm việc đêm...

Nhưng tất cả không ngăn được Lê Đức Thọ đọc một bài chuẩn bị sẵn dài năm trang, nói lên thiện chí của Việt Nam, tố cáo sự lật lọng của Mỹ và kết luận:

“Chúng tôi đã bị người Nhật, người Pháp, người Mỹ lừa dối, nhưng chưa bao giở sự lừa dối lại trắng trợn như lần này".

Về sự cần thiết phải có sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, Lê Đức Thọ nhắc lại lời nói đó của Kissinger trước đây và hỏi:

- Ông nói với chúng tôi như vậy rồi ông lại lật ngược đi thì ông nghĩ chúng tôi hiểu ông là người như thế nào?

Tuy bị phê phán Kissinger cố giữ bình tĩnh mà còn khen Lê Đức Thọ vẫn khỏe mạnh, vẫn mở cuộc tấn công như thường lệ. Ông ta còn nói rằng đã góp phần thống nhất hai miền vì “cả miền Nam lẫn miền Bắc đều ghét tôi". Ông khen Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ thương thuyết có nguyên tắc, nói là biểu dương công khai thiện chí và thái độ nghiêm chỉnh của ta sau ngày 8 tháng 10.

Bây giờ Kissinger mới thanh minh rằng cuộc chiến tranh này đã quá kéo dài nên khi đi đến gần giải pháp thì mới thấy nẩy ra những vấn đề phức tạp... cả những vấn đề chưa kịp suy nghĩ tới. Ông ta cho rằng Việt Nam có nhiều tuần lễ để suy nghĩ trao đổi với đồng minh trước khi đưa ra dự thảo ngày 8 tháng 10. Còn Mỹ thì thời gian sau ngày đó rất chật hẹp. Cuối cùng ông ta nhắc lại ý muốn chấm dứt chiến tranh sớm, không muốn kéo dài thương lượng. Ông ta còn bịa ra câu chuyện rằng ông ta được tin chắc chắn là sẽ mở cuộc tấn công lớn khi ông ta vào Hà Nội do đó việc Mỹ không ký Hiệp định là một việc may mắn

Kissinger trịnh trọng tuyên bố. 

- Chúng tôi giữ nguyên tắc đã được thoả thuận, giữ thực chất đã đạt được trong tháng 10. Chúng tôi chắc rằng chúng ta có thể giải quyết được vấn đề trong mấy tuần sắp tới. Chúng tôi chắc rằng có thể làm xong phần lớn văn bản trong tuần này. Sau khi chúng tôi thoả thuận xong trong tuần này thì chúng tôi không đòi thêm gì nữa.

Lê Đức Thọ hỏi lại:

- Vừa rồi ông nói là ông giữ nguyên tắc và thực chất đã đạt được trong tháng 10?

Kissinger:

- Tôi đã nói như vậy.

Lê Đức Thọ:
- Nếu các ông có thái độ như vậy thì chúng tôi cũng có thái độ như vậy.

Kissinger, với lời lẽ lắt léo: 

- Hai bên sẽ có ý kiến khác nhau thực chất là như thế nào.. Chúng ta sẽ bàn...

Lê Đức Thọ:

- Tôi cũng tạm thời đồng ý với ông như ông đã nói dứt khoát không thay đổi nữa. Lần này mà thay đổi thì chắc chắn là chỉ còn có tiếp tục chiến tranh.

Cuộc thăm dò về ý đồ thương lượng lại của nhau như vậy đã mất hết buổi sáng.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #345 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:18:02 AM »

Buổi chiều, Kissinger đưa ra những sửa đổi. 

Đầu tiên ông ta đòi xoá bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam trong Lời mở đầu cũng như ở tất cả các chỗ khác nơi nào có ghi tên chính thức của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Họ không muốn thừa nhận có hai Chính quyền ở miền Nam!

Điều lớn thứ hai là Kissinger đòi rút tất cả lực lượng không phải Nam Việt Nam ra khỏi miền Nam. Họ không muốn công nhận có hai Quân đội ở Nam vĩ tuyến 17. Kissinger còn đòi số quân mà hai bên phải phục viên phải trên cơ sở bên này một thì bên kia cũng một, và đưa ra số quân phục viên về sinh quán của họ. Ông ta còn đòi một sự di chuyển của lực lượng vũ trang đó trên thực tế - không phải ghi vào Hiệp định - một sự di chuyển về thực tế mà người ta có thể chấp nhận được.

Trong vấn đề Lào và Campuchia, Kissinger đòi lực lượng vũ trang các nước Đông Dương phải ở bên trong các Quốc gia của họ, đòi thay đổi vùng do các bên kiểm soát thành vùng đóng quân khi ngừng bắn. Họ không chấp nhận có hai địa bàn ở Nam Việt Nam.

Về vấn đề trao trả người của các bên bị bắt còn bị giam giữ, Kissinger không nói gì đến các nhân viên dân sự của Chính phủ Cách mạng Lâm thời còn bị tù đày mà còn đòi ta phải trao trả càng sớm nếu có thể được một số tù binh Mỹ trên toàn Đông Dương cho nhà cầm quyền Washington và phải cam kết với Mỹ và Uỷ ban Quốc tế về những người của Mỹ bị mất tích.

Về vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, ngoài việc đòi bỏ tên Chính phủ Cách mạng Lâm thời, Kissinger đòi xoá bỏ ba thành phần của Uỷ ban hoà hợp hoà giải dân tộc, bỏ hệ thống cấp dưới, và tổ chức này không có khả năng đôn đốc hai Chính quyền trong việc thi hành Hiệp định. Cố vấn Nhà Trắng nói nhiều đến khu phi quân sự, đòi tổ chức Hội nghị bảo đảm quốc tế ở Genève chứ không phải ở Paris. Ông ta còn đòi thảo luận các Nghị định thư về Uỷ ban Quốc tế và Uỷ ban Liên hợp song song với việc thảo luận Hiệp định tại Hội nghị bốn bên ở Kléber.

Kissinger cố tình giảm nhẹ trách nhiệm của Mỹ.

Ông ta nói về điều 1:

“Tổng thống tôi nhận thấy rằng viết như thế này thì Mỹ dường như là người phạm tội và nếu chúng ta xác nhận lại mối quan hệ trong thời gian tới thì viết như thế là điều không tốt. Chúng tôi sẵn sàng có nghĩa vụ tôn trọng độc lập, chủ quyền... của Việt Nam nhưng chúng tôi không có cách nào để ký một Hiệp định mà trong đó chúng tôi tự cho mình như người phạm tội”.

Ông ta đưa ra công thức:

“Nền độc lập, thống nhất, chủ quyền của Việt Nam phải được tất cả các nước công nhận".

Ông ta cũng bỏ cả đoạn trong văn bản tháng 10 nói

“Hoa Kỳ không cam kết với bất cứ xu hướng chính trị nào hoặc cá nhân nào ở miền Nam, không tìm cách áp đặt một Chính phủ thân Hoa Kỳ nào ở Sài Gòn”.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #346 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:19:02 AM »

Kissinger không nói gì về trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam, không nói gì đến số tiền mà có lúc ông ta đã hứa. Kissinger để lộ sẽ thông qua vấn đề Mỹ viện trợ để giải quyết việc này như đối với các Quốc gia khác xin viện trợ của Mỹ.

Cố vấn Nhà Trắng còn đòi ngừng bắn cùng một lúc ở Lào và ở Campuchia sau khi có ngừng bắn ở Việt Nam. Ông nói sẽ đề nghị với đồng minh của Mỹ ở Phnom Pênh ra một tuyên bố đơn phương và mong rằng phía bên kia cũng làm như vậy. Ngoài ra ông còn đòi lập lại Uỷ ban Quốc tế ở Campuchia.

Kissinger thêm rằng ông ta đã nói với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Kiều Quán Hoa về hậu quả nghiêm trọng nếu chiến tranh tiếp diễn ở Campuchia để ông này nói với những người đến Bắc Kinh thì nói cho người đó biết là ý kiến của Mỹ. Kissinger thêm:

- Tôi cũng đã nói với ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc là sau một thời gian yên tĩnh ở Campuchia thì triển vọng cuộc thương lượng sẽ lớn hơn nhiều.

- Tôi muốn biết ông Kiều Quán Hoa trả lời như thế nào? - ông Lê Đức Thọ hỏi.

Kissinger nói:

- Tôi cho rằng họ không nói trái với quan điểm của chúng tôi, tức là đồng ý với chúng tôi. Nhưng cũng có thể vì lịch sự mà họ không muốn nói gì trái. Cảm tưởng của tôi là họ đã hiểu lập trường của chúng tôi về vấn đề này.

Trước khi đến Paris, Lê Đức Thọ cũng đã dừng chân ở Bắc Kinh nên Kissinger hỏi ông về thái độ của Trung Quốc về vấn đề Campuchia.
Lê Đức Thọ trả lời:

- Họ nói với chúng tôi lúc nào cũng phải tôn trọng các quyền dân tộc của mỗi nước. Việc giải quyết công việc của mỗi nước là công việc của nhân dân nước đó.

Kissinger tiếp tục nói về đề nghị mới của Mỹ trong cách đàm phán: bỏ việc ký kết hai bên mà đề ra việc ký bốn bên cùng một lúc với một số Nghị định thư. Ông ta lại đưa ra một thời gian biểu mới:

- Thoả thuận xong các văn bản Hiệp định cuối tuần này, hai ngày sau đó thì chấm dứt ném bom miền Bắc, ký tắt vào ngày 10 tháng 12 chính thức ký Hiệp định ngày 15 tháng 12.

Nhìn lại một cách tổng quát thì Mỹ đòi sửa lại hầu hết các chương trong Hiệp định, nhất là các chương về ngừng bắn, rút quân và chính trị nội bộ miền Nam, gồm các vấn đề thực chất sau đây: Đòi rút quân miền Bắc, không công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời, hạ thấp vai trò của Uỷ ban hoà hợp hoà giải dân tộc muốn duy trì miền Nam thành một Quốc gia riêng, giảm nhẹ trách nhiệm của Mỹ, nâng cao yêu sách về Campuchia và Lào.

Tất cả các sửa đổi đó nhằm nâng cao thế mạnh về chính trị và pháp lý cho Nguỵ quyền Sài Gòn, hạ thấp uy thế của cách mạng miền Nam - không muốn công nhận trên danh nghĩa hai Chính quyền, hai Quân đội, hai địa bàn ở miền Nam, chuẩn bị cho những hoạt động phá hoại sau này của Nguỵ.

Kissinger sau này viết: .

“Bài phát biểu cốt để gây cảm xúc nhưng tác dụng của nó đã bị hỏng ngay lập tức khi tôi đề cập đến sáu mươi chín điều sửa đổi do Sài Gòn đòi hỏi. Đó là một sai lầm nặng nề về chiến thuật. Danh sách đó quá vô lý, nó vượt quá những điều mà tôi đã dự tính công khai cũng như trong nội bộ và chắc chắn nó làm tăng thêm ý đồ vốn mạnh mẽ của Hà Nội giữ nguyên lập trường cũ của họ và chờ đợi cho chúng ta bị nghẹt thở vì thời gian mà Quốc hội định ra cho chúng ta. Nếu tôi đưa ra những yêu sách đó là cốt để cho người ta khỏi trách tôi là không chú ý tới quyền lợi của Sài Gòn và đề nghị cho Thiệu dễ chấp nhận" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1476).

Một điều đáng chú ý là trong suốt buổi gặp này Kissinger luôn tỏ ra vui vẻ, luôn nói rằng các đề nghị ông ta đưa ra không phải là thực chất, chỉ là câu chữ, sửa đổi như vậy là để rõ ràng hơn, để dễ dàng cho công việc. Khi Lê Đức Thọ nhận xét những điều ông ta đưa ra là tiêu cực thì ông ta vội bào chữa rằng sửa đổi đó là trung lập xen thêm vào các câu nói bông đùa và những khái niệm lý thuyết về triết học, cốt là cho đối phương nuốt trôi được những cục xương quá cứng. Kissinger tỏ ra không hiểu đối phương. Ông ta còn nói rằng người ta còn yêu cầu ông ta sửa đổi nhiều hơn nữa nhưng ông ta không làm và mong ông Thọ hiểu cho.

Lê Đức Thọ nói cho Kissinger biết những vấn đề ông ta nêu ra có những vấn đề thực chất và nguyên tắc. Đó là khó khăn lớn và nhấn mạnh:

- Nếu đó là những đề nghị cuối cùng của các ông không thay đổi nữa thì không giải quyết được.

Kissinger đáp:

- Đó là những đề nghị cuối cùng nhưng không phải là tối hậu thư.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #347 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:20:26 AM »

Thương lượng lại

Sau cuộc gặp này, đoàn ta ở Paris thấy rằng ngoài một số câu chữ, Kissinger đã đề ra đến sáu vấn đề về thực chất.

Trong lúc Mỹ tăng cường hoạt động quân sự và tăng cường lực lượng cho Nguỵ để giành ưu thế trên chiến trường thì trong đàm phán và hoạt động ngoại giao họ đã đưa ra nhiều đòi hỏi quá đáng, ép ta phải lùi so với những điều kiện hai bên đã thoả thuận trước, nhất là những vấn đề liên quan đến yêu cầu tối thiểu của ta đã nói ở trên.
Hà Nội cho rằng ý đồ của Mỹ là nếu ép được ta nhượng bộ thì Mỹ có thể giải quyết nhanh để kết thúc chiến tranh có lợi cho Mỹ, nếu không thì Mỹ kéo dài đàm phán, tiếp tục chiến tranh.

Vẫn phải đề phòng hai khả năng:

- Nếu trong đàm phán Mỹ phải lùi trên những vấn đề về thực chất thì có thể ký Hiệp định trước ngày 20 tháng 1 năm 1973.

- Nếu Mỹ giữ lập trường ngoan cố thì điều đó chứng tỏ Mỹ muốn kéo dài đàm phán để tiếp tục chiến tranh.

Nhưng dù Mỹ muốn đi vào giải quyết sớm thì cũng khó đi đến thoả thuận trong đợt gặp riêng này mà còn phải kéo dài vài cuộc gặp nữa.
Ta cũng cho rằng về thời gian ta không vội. Nếu Nixon muốn giải quyết chiến tranh trước khi nhận nhiệm vụ nhiệm kỳ mới 20 tháng 1 năm 1973 và muốn đưa một số tù binh về nước trước lễ Noel thì chính họ bị thời gian thúc bách. Ta cần phát huy lợi thế của ta để buộc họ phải giữ nội dung đã thoả thuận.

Hà Nội vẫn theo đường lối đã có: vừa đấu tranh công khai và bí mật, vừa kết hợp trong và ngoài nước, kết hợp hoạt động ngoại giao và đấu tranh trên dư luận tố cáo âm mưu của địch.

Hà Nội cũng tăng cường những biện pháp phòng thủ để sẵn sàng đánh trả những bước phiêu lưu đầy tội ác của Nixon. Đợt gặp lại trong thời gian này dưới con mắt của Hà Nội đã trở thành một cuộc thương lượng lại đầy khó khăn do Mỹ gây ra.

Hôm sau, 21 tháng 11, khi bước vào cuộc họp, Lê Đức Thọ tỏ rõ ngay một thái độ không khoan nhượng. Ông nhắc lại công hàm của Nixon nói Hiệp định xem như đã hoàn thành, và bài phát biểu của Phó Tổng thống Mỹ Agnew hôm 29 tháng 10 năm 1972, nói rằng chỉ còn vài câu chữ cần nói rõ thêm chứ không thêm gì về thực chất, và ông Thọ phê phán khá gay gắt những vấn đề lớn mà Kissinger đưa ra hôm qua không phải là những vấn đề chi tiết mà là những vấn đề về thực chất và nguyên tắc quan trọng mà ta không thể chấp nhận được.

Trước hết, Lê Đức Thọ nêu ra việc Kissinger đòi bỏ hết vai trò của chính phủ Cách mạng Lâm thời mà chỉ nói các bên tham gia Hội nghị, và nhất quyết đòi ghi tên Chính phủ cách mạng Lâm thời và tên các Chính phủ khác vào Hiệp định. Ông Thọ nêu rõ vai trò to lớn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời ở miền Nam cũng như trên trường quốc tế lúc đó đã được hơn sáu mươi nước công nhận.

Thứ hai, Lê Đức Thọ nêu rõ rằng từ nhiều năm nay ở miền Nam Việt Nam có ba vùng - một vùng do Chính quyền Sài Gòn kiểm soát - một vùng do chính phủ Cách mạng Lâm thời kiểm soát và một vùng tranh chấp. Việc Kissinger đòi xoá bỏ các vùng do Chính phủ Cách mạng Lâm thời kiểm soát - một điều cả quân Mỹ và quân Nguỵ không làm được từ xưa tới nay - là một đòi hỏi vô lý, ông Thọ đòi phải giữ lại quy định cũ ghi rõ chữ “vùng kiểm soát của mỗi bên” trong Hiệp định.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #348 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:21:25 AM »

Lê Đức Thọ bác bỏ mạnh mẽ nhất là việc Mỹ đòi rút quân miền Bắc. Ông nhắc lại quan điểm của ta nhiều năm nay, khẳng định quyền chống xâm lược của nhân dân Việt Nam và vạch rõ không thể đặt việc rút quân gọi là "miền Bắc" ngang hàng với việc rút quân Mỹ. Đặt vấn đề như vậy không chính đáng, trái với đạo lý, chính trị và pháp lý mà Kissinger trước đây đã phải công nhận.

Lê Đức Thọ lại nhắc đến diễn văn của Phó Tổng thống Mỹ không thể đề ra việc rút quân miền Bắc khỏi miền Nam được. Đuối lý Kissinger nói:

- Chúng tôi phải cách chức người đã soạn diễn văn đó cho Agnew.

Sang Chương III, về việc trao trả những người bị bắt, Lê Đức Thọ càng tỏ ra cứng rắn thêm: rút lui sự thoả thuận của ta hồi tháng 10 đối với tù chính trị ở miền Nam và đòi thả hết các nhân viên dân sự miền Nam còn bị giam giữ cùng một thời gian với việc rút quân Mỹ. Ông Thọ nói lại: đấy là trách nhiệm của Mỹ chứ không phải Sài Gòn. Dẫn chứng từ báo cáo của đoàn điều tra của Hạ viện Mỹ ở miền Nam, ông Thọ nói rõ chính các nghị sĩ Mỹ đã vạch rõ Mỹ đã bỏ tiền túi xây nhà tù ở miền Nam. Lê Đức Thọ nói:

- Bây giờ ông nêu ra ký bốn bên thì bốn bên phải thả hết. Mỹ đã không chịu ký Hiệp định vào thời điểm đã thoả thuận cho nên vấn đề này lại phải đặt ra. Và đây là vấn đề chúng tôi không thể chấp nhận như cũ được.

Rồi ông hỏi Kissinger:

- Ông thấy trên thế giới có cuộc chiến tranh nào giữa các bên khi đã chấm dứt rồi, một bên trao trả những người bị bắt, còn bên kia cứ giữ lại không? Nếu một bên giữ lại thì bên kia cũng giữ lại. Đó là công bằng và hợp lý nhất... Và vấn đề này không giải quyết được thì không những nhân dân Việt Nam mà cả nhân dân thế giới cũng phẫn nộ.

Lê Đức Thọ còn đòi rút hết nhân viên dân sự Mỹ đưa vào làm các việc liên quan đến quân sự.

Ông dành nhiều thời gian để phê phán những sửa đổi của Mỹ về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam:

- Có thể nói các ông đã sửa đổi đến một mức không còn giá trị gì nữa. Những vấn đề Hội đồng hoà hợp dân tộc ba thành phần là vấn đề nguyên tắc và thực chất mà các ông đã đồng ý - bây giờ các ông lại đòi sửa đổi. Đó là điều không chấp nhận được.

Để tăng thêm sức phản kích, Lê Đức Thọ đòi lập Hội đồng ba thành phần 15 ngày sau ngừng bắn, đòi tổng tuyển cử ở miền Nam 6 tháng, đòi Thiệu phải từ chức hai tháng trước tuyển cử - hai điểm này Kissinger đưa ra hôm 15 tháng 9.

Lê Đức Thọ nói những đề nghị mà Kissinger đưa ra không thể xem xét được mà đòi lập cơ cấu Chính quyền ba thành phần như cũ. Ông nhấn mạnh:

- Hội đồng Quốc gia hoà hợp hoà giải dân tộc không phải là một Chính phủ, cũng không phải là một cơ quan hành chính, mà nó phải có quyền lực trong phạm vi nhất định trong nhiệm vụ đôn đốc việc thi hành các Hiệp định đình chiến, thực hiện tự do dân chủ...

Tuy vậy, Lê Đức Thọ cũng đồng ý với một số đề nghị mà phía Mỹ đưa ra: đổi giờ Đông Dương trong văn bản cũ thành giờ GMT, ký Hiệp định bốn bên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #349 vào lúc: 12 Tháng Mười, 2009, 11:22:59 AM »

Về Điều 1, Lê Đức Thọ nói: 

- Đúng là Hoa Kỳ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhưng vì chiếu cố đến danh dự của các ông nên chúng tôi đồng ý viết lại là: “Tất cả các nước tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

Cùng với lý do trên, ông Thọ đồng ý thay câu: “Hoa Kỳ không được áp đặt một xu hướng chính trị hay một cá nhân nào cho miền Nam Việt Nam”, bằng chữ: “Nước ngoài”.

Ta cũng đồng ý khi ký các Hiệp định thì ký luôn các Nghị định thư, nhưng không đồng ý với việc Mỹ đòi thay thế các loại vũ khí “đã dùng hết”.

Ngoài ra Lê Đức Thọ cũng đưa ra một công thức về khu phi quân sự: "Trong khi chờ đợi thống nhất Việt Nam, miền Nam và miền Bắc tôn trọng khu phi quân sự và sẽ thoả thuận về qui chế khu phi quân sự và định ra thể thức qua lại giới tuyến quân sự tạm thời".

Kissinger hoan nghênh ngay và cho đó là một tiến bộ về thực chất. Nhưng sau này ta sẽ thấy nó trở thành vấn đề rất phức tạp.

Lê Đức Thọ cũng dự kiến trong tuần làm xong văn bản Hiệp định. Hai mươi bốn giờ sau đó Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc, dành một tuần nữa cho Mỹ trao đổi với Sài Gòn. Sau đó Kissinger vào Hà Nội ký tắt. Sau khi ký tắt có thể ngừng bắn trên thực tế.

Kissinger hoan nghênh những nhân nhượng mà ông Thọ mới nêu ra nhưng cho rằng những nhân nhượng đó chỉ cải thiện không khí thương lượng chứ không ảnh hưởng gì đến các điều khoản thật sự và thực chất thi hành Hiệp định.

Ông ta vẫn giữ ý kiến cho rằng bốn bên sẽ ký với tên gọi chính thức của họ - vẫn hỏi tại sao không thể ngừng bắn cùng một lúc ở Lào và Campuchia.

Ông ta còn than phiền rằng Lê Đức Thọ đã rút đi tất cả những nhân nhượng mà Việt Nam đã đưa ra hồi tháng 10 về vấn đề tù dân sự còn bị giữ ở miền Nam. Ông ta nói những đề nghị bầu cử ở miền Nam trong sáu tháng mà ông đưa ra hồi tháng 9 đã lỗi thời. Kissinger nói rằng chắc chắn Sài Gòn sẽ không chấp nhận rằng tất cả lực lượng được gọi là kẻ địch vẫn ở lại đất nước của họ, hơn nữa lực lượng đó lại được bổ sung 30.000 người đang bị giam giữ. Ông ta nói:

- Nếu các ông giải quyết thoả đáng vấn đề lực lượng quân sự thì vấn đề tù dân sự sẽ được giải quyết một cách dễ dàng hơn. Tôi tin chắc rằng nếu có một sự rút lui các lực lượng thì việc thả người bị giam giữ có thể được thúc đẩy dễ dàng hơn. 

Kissinger nêu ra một khó khăn về kỹ thuật là nếu sau này Việt Nam nói có lực lượng miền Bắc ở miền Nam thì ông ta e ngại rằng các đơn vị này của Bắc Việt Nam sẽ không bị ràng buộc bởi các điều khoản ngừng bắn của Hiệp định.

Lê Đức Thọ phản ứng ngay:

- Ông chỉ nói có một nửa câu thôi, vì cái mà ông gọi là lực lượng Bắc Việt Nam đó là những đơn vị gồm những con em miền Nam, có những người thanh niên miền Bắc tổ chức thành những đơn vị vào thật. Những đơn vị đó thuộc lực lượng Quân đội Giải phóng miền Nam và do đó đã nói trong Hiệp định rồi.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM