Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười, 2019, 02:57:19 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ - Kissinger tại Paris  (Đọc 164682 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #200 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2009, 11:12:05 AM »

Khi chưa chính thức nhậm chức, ngày 22 tháng 12 năm 1968, Kissinger đã gặp R.Aubrac, người bạn cũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để nói lên quan điểm của ông ta về vấn đề Việt Nam. (Abrac cho biết Kissinger nói với ông ta hôm 20 tháng 12 tại một khách sạn).
Aubrac đã nói lại với Mai Văn Bộ, đại diện Việt Nam ở Pháp:

1 - Chúng tôi (tức Hoa Kỳ - Tác giả) sẵn sàng nói chuyện rất nghiêm chỉnh với họ.

2 - Chúng tôi cho rằng trước hết nên đi vào thoả thuận trên nguyên tắc về một mục tiêu cấp bách thì có hiệu quả hơn là đi vào một chương trình nghị sự phức tạp, tuy nhiên chúng tôi sẵn sàng đi vào chương trình nghị sự nếu cần.

3 - Chúng tôi không có ý định làm xấu họ, chúng tôi thấy rằng bất cứ một giải pháp nào cũng đều chú ý đến sự tôn trọng và tinh thần anh dũng của họ.

4 - Chúng tôi mong rằng họ cũng tỏ thái độ tương tự như vậy đối với chúng tôi và họ sẽ thấy ông Nixon trong khi kiên quyết có một quan điểm mới về vấn đề này thì cũng đồng thời kiên quyết đi vào một giải pháp danh dự.

5 - Với tinh thần đó, nếu họ muốn thông báo cho chúng tôi một số ý kiến chung của họ thì chúng tôi sẽ nghiên cứu với thái độ xây dựng và triệt để bí mật. Chúng tôi mong họ có thái độ như vậy.”


Ngày 31 tháng 12 năm 1968, Mai Văn Bộ đọc cho Aubrac trả lời của Hà Nội:

1 - Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đến Paris với thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí - Hoa Kỳ cũng phải nghiêm chỉnh và thiện chí.

2 - Cơ sở để giải quyết vấn đề (Việt Nam) là lập trường bốn điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và năm điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trong việc tìm giải pháp hoà bình. 

3 - Hội nghị bốn bên có họp được mới có thể thảo luận về những vấn đề thực chất tiến tới một giải pháp hoà bình - Nếu Mỹ muốn thông báo thêm ý kiến chung và cụ thể, Việt Nam sẵn sàng nghiên cứu
” ((H.Kissinger đã viết không hoàn toàn chính xác lời của R.Aubrac chuyển cho Mai Văn Bộ- và trả lời của Mai Văn Bộ. Xem H.Kissinger, Sđd, tr.269).

Bốn hôm sau, Aubrac lại đọc cho Mai Văn Bộ ý kiến của Mỹ:

1 - Chính quyền Nixon sẵn sàng thương lượng nghiêm chỉnh và có thiện chí.

2 - Chính quyền Nixon trịnh trọng khẳng định sẵn sàng rút quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, xem đó là bộ phận của một giải pháp danh dự. Giải pháp đó bao gồm cả việc rút quân miền Bắc Việt Nam.

3 - Chúng tôi tin rằng sự tiến bộ là tuỳ thuộc vào những đề nghị cụ thể thực hiện một nền hoà bình trong danh dự.

4 - Chúng tôi khẳng định lại chúng tôi sẵn sàng xem xét những ý kiến của Hà Nội một cách thận trọng, thiện chí và hoàn toàn bí mật.”


Aubrac nói:

- Kissinger bình luận thêm như sau: Thời gian bắt đầu của một Chính quyền là một dịp tốt hiếm có để làm những việc mà sau đó có thể khó khăn.

Con đường Aubrac vẫn được sử dụng cho đến sau khi Nixon đưa ra tám điểm ngày 14 tháng 5 năm 1969. Tháng 6, ông Aubrac lúc đó là một quan chức của Tổ chức Lương nông của Liên Hợp Quốc (FAO) - đi công tác ở Lào. Ngày 14 tháng 6 ông đến sứ quán Việt Nam ở Viêng Chăn dự định sang Hà Nội gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh - nhưng lúc này Chủ tịch đã mệt không tiếp ông được. Ông đã thông báo cho ông Nguyễn Chân, đại biện Việt Nam ở Lào, những điểm mà Kissinger đã nói cho ông biết hôm 22 tháng 5 như sau:

1 - Tổng thống muốn nhắc lại lòng tin tưởng của ông rằng một nền hoà bình công bằng có thể thương lượng được.

2 - Tống thống muốn khai thác nhiều con đường khác ngoài khuôn khổ hiện nay của cuộc thương lượng. Thí dụ nếu có thể, các nhà thương lượng Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau ngoài khuôn khổ Paris để thảo luận những nguyên tắc chung của một giải pháp. Nếu các nhà thương lượng đặc biệt của Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thể đạt tới thoả thuận về nguyên tắc thì những cuộc thương lượng về kỹ thuật cuối cùng có thể trở lại Paris.

3 - Chính phủ Hoa Kỳ tin rằng tất cả các bên liên quan đang ở ngã ba đường và những biện pháp đặc biệt là cần thiết để đảo ngược chiều hướng chiến tranh.”
(Xem thêm: R.Nixon, Thememoirs fr.Nixon Sđd, tr. 391.)

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #201 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2009, 11:12:13 AM »

Dưới thời Johnson, Washington đã dùng con đường Pháp để tiếp xúc với Việt Nam qua ông Jean Sainteny, người rất quen biết ở Việt Nam từ 1946 và năm 1966 đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội.

Lần này, Nixon gặp Sainteny (16 tháng 7 năm 1969) nhờ trao thư cho Hồ Chủ tịch và yêu cầu ông ta nói thêm rằng nếu từ nay đến 1 tháng 11 là hạn cuối cùng không có sự khai thông nào trong thương lượng, Mỹ sẽ dùng những biện pháp gây hậu quả lớn, những biện pháp mạnh mẽ.  

Ngày 19 tháng 7, Sainteny gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ chuyển thư của Nixon gửi Hồ Chủ tịch. Thư của Tổng thống Hoa Kỳ không đề ngày tháng, nhưng ông cho biết thư này gửi ngày 18 tháng 7 năm 1969.

Bức thư viết:
Thưa Chủ tịch!

Tôi biết rằng khó có thể thông cảm với nhau một cách có ý nghĩa qua cái hố của bốn năm chiến tranh. Nhưng chính vì cái hố đó mà tôi muốn nhân dịp này khẳng định lại một cách hết sức trịnh trọng ý muốn của tôi làm việc cho một nền hoà bình chân chính
”.

Thư nhắc lại đề nghị trong diễn văn ngày 14 tháng 5 của Nixon mà ông ta cho là "thích đáng cho các bên" và cũng nói đến “sẵn sàng thảo luận cả những kế hoạch khác", đặc biệt là mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

Bức thư kết luận:

Đã đến lúc phải đưa bàn Hội nghị đến một giải pháp nhanh chóng cho cuộc chiến tranh bi thảm này. Ngài sẽ thấy chúng tôi sẵn sàng và cởi mở trong một nỗ lực chung để đem lại những lợi ích của một nền hoà bình cho nhân dân Việt Nam anh dũng. Hãy để cho lịch sử ghi lại rằng trong giai đoạn quyết liệt này hai bên đã hướng về phía hoà bình chứ không phải hướng về gây hấn và chiến tranh"

Ngày 25 tháng 8, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời:

Mỹ vẫn kéo dài chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam... gây nhiều tội ác với nhân dân miền Nam Việt Nam và làm cho nước Mỹ càng hao người tốn của. Tôi công phẫn về những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất nước chúng tôi. Tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết vô ích ở Việt Nam”.

Hồ Chủ tịch nói Kế hoạch mười điểm của Mặt trận là cơ sở lôgic và hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam.

Muốn có hoà bình, Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Đó là con đường đế Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự".

Người kết luận:

Với thiện chí của phía ngài và phía chúng tôi, chúng ta có thể đi tới những cố gắng chung để tìm một giải pháp đúng đắn cho vấn đề Việt Nam".

Đây cũng là văn kiện đối ngoại cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
« Sửa lần cuối: 27 Tháng Chín, 2009, 08:36:52 PM gửi bởi macbupda » Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #202 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:11:16 PM »

CHƯƠNG IV
VIỆT NAM HOÁ VÀ THƯƠNG LƯỢNG

Một diễn đàn mới

Trong cuộc gặp gỡ tháng 7 với Xuân Thuỷ, J.Sainteny nói rằng Tổng thống Mỹ nhờ ông hai việc. Thứ nhất là chuyển thư của Nixon gửi Hồ Chủ tịch, ông đã làm xong; việc này chỉ có ba người biết và bây giờ có thêm Xuân Thuỷ nữa. Phó Tổng thống Agnew và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng không biết. C. Lodge, trưởng đoàn Mỹ ở Hội nghị Paris cũng không biết. Thứ hai là bố trí cho H.Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông J. Sainteny đề nghị cuộc gặp giữa hai người sẽ vào ngày 4 tháng 8, hôm đó Kissinger sẽ từ Lon don đến. J.Sainteny còn sẵn sàng dành nhà riêng của ông ta cho cuộc tiếp xúc đó. Bộ trưởng Xuân Thuỷ đồng ý.

Cũng trong tháng 7 này, toàn thế giới nín thở nhìn Neil Amstrong, con người đầu tiên của Trái Đất, từ con tàu Apollo XI đặt bước chân đầu tiên xuống bề mặt Mặt Trăng. Ngày 23 tháng 7, Nixon đi tới Nam Thái Bình Dương để đón Amstrong đổ bộ xuống biển. Đây là cơ hội tốt để ông đi thăm một loạt nước: Guam, Philippin, Inđônêxia, Thái Lan, miền Nam Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Rumani và Anh. Trong dịp này, Kissinger sẽ bí mật qua Paris để gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ.

Cuộc gặp diễn ra tại nhà riêng của ông Sainteny, số 204 phố Rivoli. Chiều hôm đó, Kissinger cùng đi với Anthony La ke, người phụ tá thân cận, và tướng Vernon Walters, tuỳ viên quân sự của Mỹ, Xuân Thuỷ đi cùng Mai Văn Bộ và Nguyễn Đình Phương. Đây là lần đầu tiên Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông ta chưa gặp Xuân Thuỷ nhưng cũng đã nghe tiếng.

Ngay trong lần gặp đầu, cũng như sau này, Kissinger thấy sự đàng hoàng và sự tự tin của ông Xuân Thuỷ cũng như ông Lê Đức Thọ và các đồng chí khác của các ông đã gây ấn tượng sâu sắc đến ông ta. Họ là những người đánh du kích, sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài thất thường, chỉ xảy ra trong khuôn khổ những lần đấu tranh của họ. Mặc dầu vậy “khi họ đối diện với người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, họ tỏ ra tinh tế, kỷ luật và kiên nhẫn biết bao" (H.Kissinger Sđd, tr. 292.). Ít nhất khi tiếp xúc với các chiến sĩ Việt Nam, ông Kissinger đã thấy phẩm chất khác thường của họ làm cho người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới phải kiêng nể?

Vào câu chuyện, Kissinger hoan nghênh cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên như thế này. Nhìn Mai Văn Bộ hôm ấy làm phiên dịch cho Xuân Thuỷ, ông nói đã biết Mai Văn Bộ từ năm 1967 và rất tiếc khi đó tìm mọi cách mà không gặp được vì ông ta có mang theo thông điệp của Johnson. Ông nhắc lại quá trình theo dõi của ông ta về vấn đề Việt Nam và biết tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta nói rằng trong bất cứ cuộc thảo luận nào giữa hai bên đều được phía Mỹ tiến hành với sự kính trọng tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta hỏi là đã có thư trả lời cho bức thư của Nixon chưa? 

Xuân Thuỷ:

- Chúng tôi đã được ông Sainteny chuyển bức thư không đề ngày tháng của Tổng thống Nixon gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức thư đó đã được chuyển về Hà Nội.

Kissinger:

- Đó là lề lối làm việc quan liêu của Hoa Kỳ, không đề ngày tháng vào bức thư của Tổng thống. Tôi không biết lý do vì sao như vậy Nhưng ngày của bức thư đó là ba ngày trước khi bức thư đó được chuyển đến các ngài.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #203 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:12:26 PM »

Tiếp đó Kissinger bắt đầu nói về một số vấn đề mà Tổng thống Nixon yêu cầu ông ta thông báo lại cho ta. Ông ta nói rằng ở Washington người ta đọc rất kỹ tất cả những lời phát biểu của Xuân Thuỷ, nhưng "chúng tôi khó mà đành giá là các ngài làm như vậy chỉ để đạt mục đích tâm lý hay các ngài thành thật nghĩ như vậy".

Sau khi nhắc lại Mỹ có thiện chí và thành thật muốn hoà bình, ông nói: Đến tháng 11 này thì cuộc đàm phán đã được một năm (ý ông ta muốn nói thoải mái chấm dứt ném bom miền Bắc - Tác giả). Trong thời gian đó, Hoa Kỳ đã làm những việc đơn phương rất có ý nghĩa: ngừng tăng quân, ngừng ném bom bộ phận rồi chấm dứt ném bom hoàn toàn, rút 25.000 quân chiến đấu Mỹ, đã tuyên bố chấp nhận kết quả bầu cử tự do ở miền Nam. Rồi ông ta phàn nàn: Hầu như chưa có đáp ứng có ý nghĩa nào. Ở cấp cao nhất có thể được và hết sức thành thật, Hoa Kỳ định có một cố gắng nửa để giải quyết cuộc tranh chấp này trên một cơ sở đúng đắn ... vào thời gian chấm dứt ném bom cách đây một năm, ngày 1 tháng 11.

Rồi ông ta xin phép đọc trả lời những điểm mà phía Việt Nam đã nêu lên nhiều lần, câu trả lời đã được đích thân Tổng thống thông qua:

- Hoa Kỳ sẵn sàng rút tất cả lực lượng của Mỹ không trừ một loại nào ra khỏi Việt Nam, xem đó như là một bộ phận của chương trình rút các lực lượng ngoại nhập.

“Tôi nói điều này hoàn toàn không có một sự bảo lưu nào".

- Hoa Kỳ không có ý định duy trì một căn cứ nào trên lãnh thổ Việt Nam.

"Điều này cũng hoàn toàn không có sự bảo lưu nào".

- Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ kết quả nào của một quá trình chính trị tự do.

Ông ta đưa ra một số ý kiến về quá trình chính trị đó:

- Quá trình chính trị hợp lý phải ghi nhận tương quan lực lượng hiện có... Không bên nào có thể đòi bên kia chấp nhận một cương lĩnh chính trị trên cơ sở những đề nghị tỏ ra bên kia thất bại mà không có sự phản đối ... Chúng tôi không đòi hỏi các ngài phải giải tán các lực lượng cộng sản, các ngài cũng không được đòi hỏi chúng tôi phải giải tán lực lượng không phải cộng sản.

Ông cũng nhắc lại sẵn sàng thảo luận mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các điểm khác của Mỹ. Ông ta cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ biết rằng để chứng tỏ thiện chí của Hoa Kỳ, từ nay đến ngày 1 tháng 11, Mỹ sẽ rút thêm một số quân nữa khỏi miền Nam, phần nào nhiều hơn số lượng lần trước... sẽ giảm bớt mười phần trăm số phi vụ của máy bay B52 và hoạt động của máy bay chiến thuật.

Ông ta tiếp:

- Để làm cho cuộc đàm phán được nhanh chóng, Tổng thống Hoa Kỳ sẵn sàng mở thêm một con đường tiếp xúc nữa với Việt Nam ... cử một phái viên cao cấp có thẩm quyền để đàm phán đi đến kết quả... Nếu cuộc đàm phán này có được thì Hoa Kỳ sẽ điều chỉnh các hoạt động quân sự để tạo ra một hoàn cảnh thuận lợi nhất để đi đến một giải pháp.

Người ta hiểu người phái viên cao cấp có thẩm quyền đó không phải ai khác mà chính là Kissinger. Ông ta nói tiếp:

- “Tổng thống cũng yêu cầu tôi nói với các ngài một cách hết sức trân trọng là nếu đến 1 tháng 11 không có sự tiến bộ quan trọng nào để đi đến một giải pháp thì chúng tôi buộc phải tiến hành một cách hết sức miễn cưỡng những biện pháp có hiệu quả lớn lao".

Ông Kissinger cải chính rằng cuộc chiến tranh này không phải là cuộc chiến tranh của Nixon vì nếu cuộc chiến tranh là của ông Nixon thì ông ta không thể tự cho phép mình không thắng trong cuộc chiến tranh đó.

Ông ta không quên phàn nàn về đặc điểm các cuộc tiếp xúc giữa hai bên ở Hội nghị Paris và cho rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận tình trạng đó quá thời hạn mà ông ta đã nói ở trên.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #204 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:13:27 PM »

Xuân Thuỷ hỏi rõ thêm một số vấn đề như ý nghĩa và mối liên quan giữa việc rút thêm quân và giải quyết tất cả các vấn đề từ nay đến 1 tháng 11, vấn đề diễn đàn mới ngoài Kléber. Ông Cố vấn Nhà trắng giải thích thêm và nói rõ về điểm sau cùng này như sau:

Ông sẵn sàng đến Paris hoặc một nơi nào khác thuận tiện vào những ngày cuối tuần để thảo luận với Xuân Thuỷ hoặc một người nào khác, chẳng hạn Bộ trưởng Ngoại giao hoặc Thủ tướng của Việt Nam, miễn là có sự bảo đảm rằng các cuộc gặp gỡ đó dẫn đến một giải pháp nhanh chóng và giải quyết những vấn đề quan trọng nhất. Ông ta nhấn mạnh "Việc tôi tham gia là bí mật".

Xuân Thuỷ nói tóm tắt quá trình can thiệp và xâm lược của Mỹ, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, mục tiêu đấu tranh của ta hiện nay, giải pháp mười điểm của Mặt trận và thái độ của Việt Nam đối với Lào và Campuchia. Đồng chí nhấn mạnh: Mỹ phải rút quân, từ bỏ Thiệu- Kỳ-Hương, lập Chính phủ liên hiệp.

Kissinger ngắt lời Xuân Thuỷ:

- Chúng tôi sẵn sàng thảo luận giải pháp mười điểm nhưng chúng tôi không sẵn sàng thảo luận bất cứ giải pháp nào với tính chất như một học sinh đi thi phải hỏi vấn đáp về Thập Điều, chúng tôi cho rằng mười điểm là mười điểm chứ không phải là mười điều lệnh. Về vấn đề rút quân Hoa Kỳ không điều kiện ... ngài cũng như chúng tôi đều biết rằng cần phải có sự có đi có lại để thiết lập một mối tương quan lực lượng trong trường hợp có sự rút quân đó.

Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại việc rút quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ là không điều kiện. Còn lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam do các bên miền Nam Việt Nam giải quyết với nhau.

Nhắc đến tám điểm của Nixon, Xuân Thuỷ nói:

- Chúng tôi phải đặt câu hỏi tại sao Mỹ đưa quân đến nhanh được mà lại không rút nhanh được? Tại sao các ngài không đề ra năm hoặc sáu tháng rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam?

Kissinger:

- Tôi xin trả lời ngay, hay đợi ngài nói hết?

Xuân Thuỷ:

- Tôi xin nói hết đã. Mỹ nói rút 25.000 quân - 25.000 so với 540.000 quân Mỹ không có nghĩa lý gì. Dù nay mai Mỹ có rút thêm phần nào lớn hơn 25.000 quân nữa thì cũng không có nghĩa lý gì. Chính sách của các ngài là chính sách rút quân nhỏ giọt, kéo dài sự chiếm đóng quân sự của các ngài ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi nghi ngờ thiện chí của các ngài. Vấn đề thứ hai là chế độ ở miền Nam, Chính quyền ở miền Nam, tuyển cử ở miền Nam, ông Nixon chỉ nói phớt qua nhưng vấn đề quan trọng là ai đứng ra tổ chức tuyển cử. Tổng thống Nixon nói Chính quyền Sài Gòn hiện nay là hợp hiến, hợp pháp và tán thành đề nghị tuyển cử của Nguyễn Văn Thiệu. Nếu chúng ta ngồi ở đây nói chuyện với nhau một cách thẳng thắn và thực tế thì chúng ta không nên nói như thế, bởi vì cái hợp hiến, hợp pháp của Chính quyền đó như thế nào thì nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới đều biết.

Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #205 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:14:39 PM »

Xuân Thuỷ tiếp tục lên án Thiệu-Kỳ-Hương là phát xít, không muốn hoà bình. Nếu Mỹ cứ duy trì Chính quyền đó thì không giải quyết được vấn đề - và đòi thay đổi con người và chính sách của Chính quyền đó.

- Chính quyền Sài Gòn còn lại - chúng tôi cũng thừa nhận nó là một thực tế, nhưng phải có một Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần đứng ra tổ chức bầu cử mới là hợp tình hợp lý...

Kissinger hỏi về những điểm khác so với những điều đã nói tại chỗ Kléber. Xuân Thuỷ nói:

- Điều khác hôm nay là tôi đã nói rõ với ngài về rút quân thế nào, thứ hai là Chính phủ liên hiệp lâm thời là thế nào, thành phần nó ra sao, nó không phải hoàn toàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời mà là nhiều thành phần: một bên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời, một bên là phần còn lại của Chính quyền Sài Gòn sau khi đã thay đổi Thiệu-Kỳ-Hương và thay đổi chính sách tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, hai bên sẽ thương lượng với nhau cùng với những người khác tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời.

Kissinger nhắc lại về vấn đề rút quân là kết quả của một giải pháp:

- “Các ngài có thể điều chỉnh tốc độ rút quân của chúng tôi bằng tốc độ rút quân của các ngài. Nếu các ngài không muốn xem lực lượng Mỹ và lực lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như nhau thì chúng ta có thể thảo luận một phương thức khác trong đó vẫn giữ được sự khác nhau".

Ông ta nhắc lại Hoa Kỳ sẽ không thay Thiệu hoặc Kỳ hoặc Hương, cũng như không đòi thay đổi người lãnh đạo nào đó của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, rồi ông nói rằng không có ý định giành ở bàn Hội nghị lợi thế nào cả mà Hoa Kỳ không thực hiện được trong chiến tranh, không có ý định làm nhục ai cả.

So sánh hai vấn đề quân sự và chính trị, Kissinger cho rằng phía Việt Nam cho Mỹ nói chưa thật chính xác về vấn đề rút quân, còn phía Mỹ lại cho rằng Việt Nam quá chính xác về vấn đề chính trị. Rồi ông kêu gọi đi vào vấn đề chứ không nói về các điểm nữa nếu muốn hoàn thành công việc vào 1 tháng 11.

Kissinger thừa nhận vấn đề chính trị là phức tạp hơn nhiều nhưng bây giờ chưa phải là lúc thảo luận. Ông ta nói rằng không thể đánh lừa ta đi vào một giải pháp không phù hợp và Hoa Kỳ cũng không chấp nhận một giải pháp mất thể diện.

Cuộc tranh luận còn kéo dài thêm, nhưng cuối cùng chấm dứt với sự thoả thuận giữ bí mật cuộc nói chuyện và có gì mới sẽ thông báo cho nhau. Theo yêu cầu của Việt Nam, ông ta để lại địa chỉ của tướng V.Walters để ta liên hệ. Phía ta giới thiệu Mai Văn Bộ.

Kissinger xin rút lui trước để ra sân bay đi Bỉ, nhưng Xuân Thuỷ và Mai Văn Bộ đã đứng dậy bắt tay những người đối thoại của mình và bước ra trước. Đây là lần đầu tiên đại diện có thẩm quyền cao nhất của Tổng thống Nixon chính thức trình bày quan điểm của họ một cách rõ ràng đồng thời đây là một cuộc thăm dò có ý nghĩa chiến lược mà Mỹ tiến hành trong lúc ta gặp khó khăn.

Cuộc gặp đầu tiên Xuân Thuỷ - Kissinger đã giúp hai bên trình bày quan điểm của mình. Điều quan trọng hơn là nó đã mở ra một diễn đàn mới, song song với diễn đàn Kléber, vạch con đường để đi tới một giải pháp cho vấn đề Việt Nam. 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #206 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:15:32 PM »

Đánh vào “đất thánh” Campuchia

Từ mùa hè đến cuối năm 1969, trên chiến trường miền Nam nhân dân ta tiếp tục gặp khó khăn. Hoạt động quân sự giảm, chủ yếu là pháo kích vào một số căn cứ địch, đợt mạnh nhất là vào tháng 11 nhưng ít kết quả. Trong khi đó "ở khu V, vùng giải phóng ở đồng bằng và giáp ranh bị thu hẹp”. Ở Nam Bộ, đến cuối năm 1969 địch đã lấn và chiếm gần hết vùng giải phóng của ta ở nông thôn đồng bằng Nam Bộ. Địch tăng tỷ lệ quân cơ động tại chỗ và lực lượng tổng dự bị chiến lược lên hơn hai lần... Hình thái cuộc chiến tranh đang xấu đi theo chiều hướng bất lợi cho cách mạng và chiến tranh cách mạng... Lịch sử đi vào một khúc quanh co (Đại tướng Văn Tiến Dũng. Toàn thắng Sđd, tr. 47-48.).

Trên toàn chiến trường địch lập 5800 ấp chiến lược, đóng 6964 đồn bốt kiểm soát 10.000.000 dân. Vùng giải phóng và làm chủ của ta từ 7.700.000 dân đầu năm 1968 nay tụt xuống còn 4.700.000 dân. Địch còn tăng cường đánh phá rất ác liệt các tuyến vận tải Bắc - Nam hòng cắt đứt việc tiếp tế hậu cần cho miền Nam  (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Tập II, tr. 40.)

Giữa lúc đó thì Hồ Chủ tịch qua đời, để lại di chúc thiêng liêng:

“Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa nhưng nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn".

Những lời tâm huyết đó không chỉ là niềm tin mà còn là tâm tư của Người lúc ra đi khi miền Nam còn gặp khó khăn.

Mỹ nuôi nhiều hy vọng. Họ tích cực tìm thắng lợi trên chiến trường. Trong cuộc gặp gỡ với Xuân Thuỷ hôm 18 tháng 7, C. Lodge nói: .

- “Chúng tôi nhận thấy các hoạt động quân sự và thâm nhập vào miền Nam Việt Nam ở mức độ thấp hơn trước. Nếu chúng tôi có thể tin chắc rằng sự thay đổi ấy là một khuynh hướng lâu dài thì Tổng thống Nixon sẽ chú ý tới điều đó trong khi quyết định về mức quân số và thời gian biểu của việc giảm bớt lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nếu ngài có thể bảo đảm với chúng tôi điều đó thì chúng tôi hoan nghênh”.

Để tăng sức ép với Việt Nam và tranh thủ dư luận, ngày 15 tháng 9, Nixon tuyên bố đợt rút quân mới 35.000 người và nhắc lại rằng: "Thời gian cho các cuộc thương lượng có ý nghĩa đã đến".

Hai hôm sau, trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ông ta lại nói "thời gian cho hoà bình đã tới" và kêu gọi Đại biểu 126 nước dùng các cố gắng tốt nhất về ngoại giao để thuyết phục Hà Nội đi vào nghiêm chỉnh thương lượng để chấm dứt chiến tranh (R.Nixon. Hồi ký. Sđd tr. 397-398.)

Washington còn gây sức ép với các nước có tàu chở hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam như Chypre, Malta, Singapor, Somalie. Nước nào không nghe thì Mỹ cắt viện trợ, Mỹ còn tung tin sẽ phong toả cảng Hải Phòng và tiến công miền Bắc nước ta.

Nếu như tình hình trên chiến trường tạm thời thuận lợi cho Washington thì tình hình chống chiến tranh Việt Nam ở trong nước làm ông ta rất lo ngại.

Trong sáu tháng đầu cầm quyền của Nixon, nhân dân Mỹ còn giữ thái độ chờ xem. Nhưng lúc nào họ đã thấy rằng không phải Bắc Việt Nam mà chính là Mỹ đang kéo dài chiến tranh. Vì vậy cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Mỹ nổi lên ngày càng mạnh.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #207 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:16:37 PM »

Từ đầu tháng 7, Phụ nữ Đấu tranh cho hoà bình đã tổ chức đốt thẻ gọi quân dịch ở New York. Họ cử người sang Canada gặp Đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhiều thị trưởng gửi thư lên Nixon đòi đình chỉ gọi con em của họ sang Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh liên tiếp diễn ra trước Lầu Năm Góc. Tổ chức các nhà kinh doanh vì hoà bình ở Việt Nam báo cho Nixon biết là "tuần trăng mật" đã qua rồi. Nhiều cuộc biểu tình trước nhà riêng của Nixon tại miền Tây nước Mỹ đã xảy ra khi ông về nghỉ. Ngày 3 tháng 9, 250 nhà tâm lý học Mỹ biểu tình trước Nhà Trắng tố cáo cuộc chiến tranh là một sự điên rồ.

Các hoạt động trên được các báo chí Mỹ hết sức ủng hộ và đưa lên trang nhất. Sau khi Hồ Chủ tịch mất, phong trào lại rộ lên.

Sau kỳ nghỉ hè, các nghị sĩ ở hai Viện liên tiếp lên tiếng phản đối chính sách của Nixon ở Việt Nam. Họ nói kế hoạch hoà bình của Nixon là quá mập mờ và đòi ông có sáng kiến mới cho hoà bình sau cái chết của Hồ Chủ tịch. Họ tố cáo Chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính cho hoà bình. Có người đòi rút quân Mỹ trước cuối năm 1970.

Càng gần đến ngày "tạm ngừng hoạt động", các nghị sĩ chống chiến tranh càng đẩy mạnh hoạt động đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt các cuộc tấn công ở miền Nam chừng nào Việt cộng không lợi dụng tình hình. Nhiều nghị quyết đòi cắt kinh phí cho chiến tranh Việt Nam được đưa ra bắt đầu cuối năm 1970. Ngày 10 tháng 10, giám đốc của 79 Trường Đại học và Cao đẳng gửi thư cho Nixon đòi đưa ra một chương trình rút hết quân Mỹ về nước.

Ngày 15 tháng 10, bắt đầu đợt "tạm ngừng hoạt động", 20.000 người biểu tình ở New York, 30.000 người ở New Haven Green, 50.000 người trước Đài kỷ niệm Washington, 100.000 người ở Boston. Hàng ngàn cờ Mặt trận được giương cao. Tất cả đòi hoà bình ngay tức khắc.

Đó là hình ảnh của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về một cuộc chiến tranh “không ai muốn" mà Nhà Trắng rất đau lòng. Uy tín của Nixon giảm sút mạnh mẽ. Kissinger phải cay đắng mà nhận xét rằng:

“Các con chim bồ câu đã tỏ ra là một giống chim đặc biệt dữ tợn và những năm tháng qua đi đã không làm cho chúng hiền hơn" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd. tr. 308. ).

Nixon phải chống đỡ với tình hình nội bộ mà ông không kiểm soát nổi, nhưng vẫn theo đuổi ý đồ tìm chiến thắng trong chiến tranh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1969, Nixon đọc diễn văn bác bỏ tất cả các yêu sách của lực lượng chống chiến tranh. Ông nói rằng kế hoạch để chấm dứt chiến tranh của ông là chiến lược gồm hai mặt: Việt Nam hoá và thương lượng. Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh cho đến khi có một giải pháp hoà bình công bằng và danh dự và cho đến khi Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ được. Ông ta đưa ra thời hạn rút hết quân trong một năm. Tiếp đó kêu gọi "đa số thầm lặng” trong nhân dân Mỹ ủng hộ ông.

Mấy hôm sau, đại sứ Liên Xô ở Hà Nội thông báo cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng:

Diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon hoàn toàn không có nghĩa là để không muốn tiếp tục đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Paris hoặc ở một nơi nào khác, hoặc thông qua những nước khác”.

- Hoa Kỳ sẵn sàng thảo luận bất cứ đề nghị nào... nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam, sẵn sàng giải thích diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon nếu phía bên kia có vấn đề gì đặt ra liên quan đến bài phát biểu đó.

- Hoa Kỳ tiến hành thương lượng với thái độ nghiêm chỉnh và muốn tìm giải pháp thoả hiệp nếu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không đòi chỉ thảo luận mười điểm của họ và đòi thực hiện không điều kiện mười điểm đó. 

- Chính phủ Hoa Kỳ hy vọng rằng việc giảm thâm nhập của quân miền Bắc, giảm thương vong của Mỹ và giảm các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam trong thời gian qua là kết quả của một quá trình nào đó của Hà Nội bắt đầu từ khi Kissinger gặp Xuân Thuỷ ngày 4 tháng 8 đến nay.

- Chính phủ Hoa Kỳ sẽ hoan nghênh quá trình này (tức ba việc nói trên) nếu nó phù hợp với đường lối chính trị của nhà lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Washington hiểu như vậy không đúng và phía bên kia muốn xét lại quá trình đó thì Hoa Kỳ buộc phải có biện pháp trả đũa
". 
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #208 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:17:47 PM »

Người Mỹ hy vọng Hà Nội thay đổi đường lối sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. 

Ngày 29 tháng 11, tướng Walters đến gặp Mai Văn Bộ, nói rằng Cố vấn về an ninh của Nhà Trắng, Tiến sĩ Kissinger mong được gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ vào ngày 13 hoặc 14 tháng 12 (H.Kissinger nói tướng Walters gặp Xuân Thuỷ là không đúng. Xem: H. Kissingcr. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 456.).

Mấy hôm sau, C. Lodge từ biệt Xuân Thuỷ vì ông không còn đảm đương trách nhiệm trưởng đoàn đàm phán của Mỹ ở Paris nữa - và cũng không nói ai sẽ thay ông ta.

Ngày 10 tháng 12, Hà Nội chỉ thị cho đoàn Việt Nam ở Paris:

"Xuất phát từ tình hình chung, nhất là sau diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon, ta tỏ thái độ cứng để tấn công lại Mỹ, không chịu sức ép của họ".

Ngày 12 tháng 12, Mai Văn Bộ trả lời cho tướng Walters:

Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường như trong diễn văn chiến tranh ngày 3 tháng 11 năm 1969 của ông Nixon. Hơn thế nữa, ông Nixon còn hạ thấp Hội nghị Paris về Việt Nam, đòi chúng tôi có đáp ứng thì mới cử người chính thức thay thế ông Lodge. Từ tháng 8 năm 1969, ông Nixon đã bác bỏ tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời: "Nếu Hoa Kỳ tuyên bố rút hết toàn bộ và không điều kiện quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam trong thời hạn sáu tháng thì các bên sẽ thảo luận về lịch rút quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ và vấn đề bảo đảm an toàn cho việc rút quân đó.

Rõ ràng Hoa Kỳ vẫn đòi chúng tôi phải trả giá cho việc thay thế ông Lodge và không chịu xem xét đề nghị của đối phương một cách nghiêm chỉnh mà chỉ đòi chúng tôi phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ... Hoa Kỳ vẫn cố tìm thắng lợi quân sự, chưa muốn giải quyết đúng đắn vấn đề Việt Nam bằng đàm phán. Vì vậy nếu có cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ như ông Kissinger đề nghị thì cũng không có gì bổ ích. Cho nên khi nào có hoàn cảnh thuận lợi, phía Hoa Kỳ có gì mới thì hai bên có thể sẽ lại gặp nhau
”.

Vào đầu năm 1970, trên chiến trường miền Nam Việt Nam lực lượng kháng chiến vẫn ở trong thời kỳ khó khăn lớn. Trái lại, Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn thu được những thắng lợi đáng kể trong chính sách Việt Nam hoá chiến tranh.

Nhưng họ cũng thấy rằng thắng lợi đó chưa vững chắc. Họ nhận định:

"Hà Nội tìm cách tranh thủ thời gian đến lúc quân Mỹ đã giảm đi một cách đủ cho họ đương đầu với quân lực Sài Gòn với các phương tiện cân bằng hơn " (H.Kissinger. Sđd, tr. 453.).

Tướng A.Haig, Cố vấn quân sự và phụ tá cho Kissinger trong đàm phán bí mật ở Paris, đã nhận xét sau mười ngày điều tra ở chín tỉnh miền Nam rằng. “Sự cải thiện đã chậm lại trong những tháng cuối năm 1969. Không có gì tin rằng đối phương đã bỏ cuộc...”.

Thực tế khách quan là các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam dọc biên giới Campuchia - Nam Việt Nam, nhất là ở vùng Mỏ Vẹt và Móc Câu, vẫn là một mối uy hiếp cho Sài Gòn. Mỹ phải tìm cách thanh toán mối đe doạ đó, bảo đảm cho Việt Nam hoá thắng lợi. Họ đang tính toán những nước cờ mới: Bảo vệ Sài Gòn từ xa.

Người Mỹ biết, vì sự thật là như thế, rằng Chính phủ Campuchia để cho Quân giải phóng qua lại và đóng quân trên đất Campuchia, đặc biệt là vùng căn cứ 353, tổng hành dinh của Trung ương cục miền Nam chính là vùng Mỏ Vẹt - Móc Câu.
Logged
SaoVang
Đại tá
*
Bài viết: 8205



« Trả lời #209 vào lúc: 20 Tháng Chín, 2009, 11:18:20 PM »

Thực hiện cái mà ông ta gọi là “điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam" của Chính quyền ông, Tổng thống Nixon ra lệnh cho máy bay B52 ném bom vùng Mỏ Vẹt-Móc Câu từ ngày 18 tháng 3 năm 1969. Nhưng Cơ quan Tình báo Mỹ thấy sau 3600 phi vụ B52 (tính đến ngày lục quân Mỹ đánh vào Campuchia), Trung ương cục miền Nam vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục chỉ đạo chiến tranh.

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, lực lượng thân Mỹ do tướng Lon Non cầm đầu làm đảo chính lật đổ Hoàng thân Norodom Sihanouk. Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Nixon quyết định cho quân Mỹ tiến công lớn vào Campuchia, bất chấp sự phản đối của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao W.Roger và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng M. Laird. Phát biểu trên Đài truyền hình ngày 30 tháng 4 năm 1970, Nixon tuyên bố cuộc tiến công quân sự đó không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh sang Campuchia mà vì mục đích chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Tuy ông ta nói mạnh “đã dám chơi với lửa thì phải chơi đến cùng" (J.Amter. Vietnam Verdict - Continm, N. Y. 1982, tr. 197).

Trước sự phản đối ngày càng mạnh của dư luận Mỹ và thế giới, ngày 30 tháng 6, nghĩa là hai tháng sau khi đánh vào Campuchia, Nixon đã phải ra lệnh cho quân Mỹ rút khỏi Campuchia. Cũng nên nói thêm ở đây là ông còn phải trả giá đắt hơn nữa cho các cuộc ném bom B52 bí mật xuống Campuchia.

Trên chiến trường Lào, từ năm trước Mỹ đã tổ chức cuộc hành quân hỗn hợp Mỹ - Thái Lan và phỉ Vàng Pao đánh chiếm khu Cánh Đồng Chum tháng 9 năm 1969, và tháng 10 họ đã đánh rộng ra khu vực Xiêng Khoảng, tiến gần tới phía tây Nghệ An (Lịch Sử KCCM. t.II, tr. 42.). Nhưng sang đầu năm 1970, liên quân Lào - Việt đã tiến công mạnh vào vùng mới chiếm đóng của địch và tháng 2 năm 1970 toàn bộ địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum, căn cứ bọn phỉ Vàng Pao ở Long Chẹng bị uy hiếp

Các thương lượng bí mật của Kissinger ở Paris nhằm che giấu ý đồ tăng cường chiến tranh trong kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh", lợi dụng tình hình để thương lượng trên thế mạnh.

Tháng 1 năm 1970, Hà Nội cho rằng Chính quyền Nixon đang tập trung giải quyết vấn đề chủ yếu là số quân Mỹ cần và có thể rút và rút trong thời gian bao lâu để quân nguỵ miền Nam không đổ vỡ lớn, làm thế nào vấn đề miền Nam không còn là vấn đề gây cấn nhất trong cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới của Nixon vào năm 1972. Vì thế thời gian có tính chất quyết định là cuối năm 1970 và trong năm 1971 chúng ta phải đẩy mạnh tiến công toàn diện đập tan âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ (Văn Tiến Dũng. Sđd, tr. 53.).

Tháng 3 năm 1970, Ban lãnh đạo Hà Nội đề ra nhiệm vụ, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến... đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế kết hợp tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu địch xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định (Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, t.II. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1968, tr. 169.)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM