Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 05 Tháng Ba, 2021, 08:46:43 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mẫn và tôi  (Đọc 85484 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #60 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 04:09:25 pm »

Tổ cô Xuân ngả cái nia ăn cơm bên bếp. Tôi biết chỗ tôi là mâm đàn ông, nếu tôi bưng xuống ngồi ăn chung thì cả nhà đều không bằng lòng, nên cứ lẳng lặng chén no.
Mẹ Sáu giã cành cạch thứ là gì trong cái cối đất nung, bốc mùi hăng hăng quen mũi mà tôi không nhớ ra. Chợt mẹ ngừng giã, nói với các cô, vốn hơi nặng tai nên mẹ xuống giọng và tiếng vẫn to:
- Bây dỗ con Mẫn chút nghen. Nó uống nước rau răm cầm kinh miết, tao nể phải làm giùm, mà lo về sau nó hết đường chửa đẻ, tuổi già không con ở với ai, chồng bị mất nòi cũng bỏ đi lấy đứa khác. Nuôi thằng Hoàn rồi phải trả lại cho cha nó chớ. Khí huyết đờn bà đâu có dễ…

Chị em suỵt liền liền, mẹ nói thầm hẳn. Tôi ngẩn người. Ra đấy là mùi răm. Mà phải, Mẫn chưa bao giờ kêu đau bụng, cũng không dấm giúi giặt băng và phơi chỗ khuất như mấy chị tôi quen. Lâu nay tôi quên bẵng cái khó riêng ấy của Mẫn, chắc anh em khác đều quên. Các cô chưa chồng, nhất là các cô nông dân, lại cố giấu kinh nguyệt đến cái độ không hiểu nổi vì sao, thật tội

*
* *


Xong bữa, mẹ Sáu mới chịu chỉ tôi ra gò Trúc. Chị Tám đến đấy tìm Mẫn đang dọn mã bà mẹ.

Trời trưa phủ mây trắng tã đều, sáng dịu. Nồm thổi mát. Ruộng gần ruộng xa đầy những áo trắng. Súng chưa ngòi nổ, bà con làng Cá đã ùa ra đồng giành lúa với giặc, mặc kệ đạn rít trên lưng khom. Gặt rộ rồi.
Ở nơi đầu gió này, quanh năm súng rền thay biển động, công việc của từng núi từng núi cứ đổ xô tới như sóng thần. Làng Cá quẩy sùng sục từ hai giờ sáng tới nửa đêm. Đường xóm đầy nghịt người ra đồng từ gà gáy đầu, áo trắng nón trắng cả cho tụi trực thăng đỡ bắn bậy, cái vằng treo ngoặc trên cổ, xách ấm nước đùm cơm, vác đòn xóc và cuốc để moi thêm hầm tránh pháo dọc bờ ruộng. Các ông lão lội ngoài gò, tìm chỗ làm kho giấu thóc tạm, sau mới đào hầm.

Đội du kích chặn phía đường nhựa, sáng nay đánh lùi bọn dân vệ thọc vào Nhơn-thọ và đẩy một đại đội chính quy đi tuồn mặt đường xuống lội cát mé dưới. Từ nửa buổi trở đi, anh chị em mới thay phiên nhau về giúp người nhà đang bươn chải trên ruộng chín rục. Từng đồng chí mím môi ghì sợi dây bó lúa, gánh gặt đòn xóc chạy vội về nhà, lại tất tưởi phóng ra đồng, súng nhảy hoài trên lưng áo ướt sũng. Sau bữa cơm tối chập chuội miếng mặn miếng lạt, làng Cá lại chia đôi. Người yếu xếp lúa thành nhả, đánh trâu đạp. Người khỏe đi đào hào cắm chông, nửa đêm về còn gánh thóc đi giấu, được thúng nào biến luôn thúng ấy.
Thằng Chinh con xuống nằm dưới Lộc-chánh, ở đấy còn một đại đội chính quy vớo trung đội dân vệ của hắn, nai lưng ra sửa cái ấp chiến lược bị phá. Mới rút đi sáng hôm qua, hắn đã đưa quân tràn lên hai lần, hằm hè cướp thóc vùng mới mất. Gọi là càn cũng được đi, nhưng đó là một kiểu càn nửa cướp nửa trộm, vừa bệ rạc vừa làm ta mất thì giờ không ít. Lính địch thập thò bên dưới đướng cái dòm lên, thấy vắng du kích thì ào vào xóm cướp nhanh cút vội, bị bắn bụp xẹt vài phát chúng nằm bắn trả, nổ nhiều thì co cẳng chạy, kêu cối 81 ở Lôc-chánh và pháo 105 An-tân bắn lên một hồi, tụi chỉ huy cho tăng gác ngay để chặn đồng bào đi kiện pháo. Chắc hẳn cái thế kéo cưa lừa xẻ này sẽ kéo dài ít lâu, khi ta chưa đủ sức đưa Nhị-lộc nổi dậy, địch thiếu quân không líp nổi vùng Tứ-nhơn, chỉ hàng ngày thò tay nắn gân nhau qua đường nhựa.
- Ê hèm, chào anh chủ lực! Ra rửa máy đó hả?
Chà, đang vội mà gặp ông thầy Mười, gay đấy.

Ông cụ coi vậy mà đã ngót bảy mươi, cháu nội cháu ngoại đủ cả, chỉ cắt thuốc nam và lể ban lể sốt vừa hai bữa rượu, còn bao nhiêu ngày tháng ông chống gậy dạo chơi, tìm người chịu nghe để kể tích xưa hàng buổi một.
Tôi được ông thích vì còn một ít chữ Hán dính ruột đủ đọc câu đối, có thể đưa đẩy đôi lời thánh hiền chép sẵn trong sách Minh tâm bửu giám, lại rất chăm chú nghe ông hôm sốt nằm ngoài gò. Nhưng bây giờ chị Tám ở huyện về đang tìm tôi, chắc là gấp…

- Lại đây tôi chỉ anh coi. Đình làng ta đặt đây là đúng chỗ thiên ngư nhỡn. Các cụ hồi đó xin xăm ba lần được cả ba, mới dám cất đình trên chỗ mắt cá, sau mới suy ra thần cho là chí lý, miễn đừng đào giếng thì thôi, chớ xây đình trồng cây coi như khai quang điểm nhỡn cả làng….

Tôi vâng dạ, đợi thời cơ rút êm. Thế nhưng câu chuyện của ông lão càng về sau càng hay, tôi bắt ham. Ngồi dưới gốc đa, ngắm trùm tóc trắng sổ lắt lay dưới cái khăn quấn dối, chợt nghĩ đến ngày pho sử sống này biến đi, tôi bỗng lo lo thế nào.
Nói dại, lỡ lớp người mai sau quen rào ông bà như cụ thầy thuốc này thường trách, chắc sẽ xảy ra lắm sự đau lòng… Ngôi đình cổ này, nếu thoát bom Mỹ, sẽ bị phá lấy gạch xây chuồng heo. Cây đa nhiều thế kỷ sẽ bị xẻ đóng ghế. Thằng cháu Hoàn lớn lên sẽ sổ toẹt ngay những “chuyện đời xưa lẩm cẩm”, sẽ gạt mấy mươi năm đánh Pháp đánh Mỹ ra khỏi trí nhớ cho nhẹ, cũng chẳng thèm biết rằng mẹ nó đã chết vì đã đẻ ra nó, bà nuôi nó đã đưa lưng che mảnh cho nó, cô gái trẻ mà nó gọi là mẹ Mẫn phải ăn đói đánh giặc để giữ nó sống. Lịch sử bắt đầu từ đó thôi mà… Tôi thoảng rùng mình. Không thể được. Không thể xảy ra tai họa như thế trong lòng một dân tộc đã phải đi tưới lại cho máu đẫm từng tấc đất mới sống còn tới ngày nay. Ông thầy Mười trách hơi nặng đấy. Lứa tuổi chúng tôi ham bắn máy bay hơn viếng đình chùa, đúng, nhưng chúng tôi biết cái giá rất đắt phải trả để giành lại một viên ngói tráng men xanh. Và nếu đàn con cháu chúng tôi chăm nghe tin sao Hỏa hơn đọc tích cũ, ông cũng đừng lên án chúng vội, phải để chúng làm nên lịch sử mới cho nước ta chứ. Vị đô đốc họ Trần hẳn cũng gật đầu ưng ý: những người anh hùng rất dễ hiểu nhau.

- …Tấm bia ghi ơn ông đô đốc chôn thiệt sâu anh à, dưới nền đình, là bởi trào Nguyễn bắt đập. Các cụ tiếc của, lén giấu. Tốn kinh lắm. Phải cho ghe đi mua cẩm thạch nguyên phiến trên núi Ngũ-hành, khúc từ An-tân lên đây chở bằng xe bốn trâu kéo, bị đường lún phải vòng quang gò, trâu chết lăn ra hai con, mới có tên đèo Trâu-lăn đó. Được cả xứ ruộng thành thử dám làm to vậy chớ. Tạc bia cũng rước thợ Huế vô, công trả bằng bạc lượng chớ tiền kẽm họ chê nặng… Anh biết bốn câu thơ từ bất của làng Cá không?
Ông mừng ra mặt khi tôi thú thực là chưa biết. Vậy là ông còn “tủ”. Tay vé chòm râu đen nhánh – ông đùa với lũ cháu rằng tâu sinh ra sau ắt phải trẻ hơn tóc – ông kể thong thả. Tôi vẫn vừa thích vừa sốt ruột.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #61 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 04:12:15 pm »

Các quan phủ Tam-kỳ thay nhau trị làng Cá. Quan đầu nhạo rằng nửa người nửa cá thì đổi tên là Á-nhơn. Hắn chia làng Cá thanh bốn thôn thượng, hạ, nội, ngoại, đặt hương chức riêng cả. Rồi hắn xử cho đất làng Cá trả về chỗ cũ hết. Tới đó, dân làng nổi loạn. Cả ngàn người vác chĩa ba đòn xóc ra dàn trên đường quan, rượt viên đề lại với sáu chủ đất Lộc-chánh lên đòi ruộng, cả lính huyện cũng chạy mửa mật. Vụ kiện kéo dài gần chục năm, khi đẫm máu, khi dịu lại. Quan phủ sau tính nước vỗ êm, cưỡi ngựa về thăm làng, nhân cuộc rượu mà đổi tên bốn thôn cho ngọt tai: Nhơn-phước, Nhơn-lộc, Nhơn-thọ, Nhơn-ái. Vẫn không lấy được đất. Tới quan khác nổi khùng, bắt mấy chục cụ lão làng Tứ-nhơn lên chôn chân phơi nắng giữa sân phủ. Học đòi vua Gia-long đặt lệ tứ bất trong triều, hắn cũng làm bốn câu tứ bất, cho viết bảng to cắm trên đường quan, chỗ rẽ vào làng Cá:

Bất đáo Nhơn-ái đê
Bất ẩm Nhơn-phước khê
Bất giao Nhơn-lộc hữu
Bất giá Nhơn-thọ thế.

Rốt cuộc, Tứ-nhơn chịu trả cho Lộc-chánh số ruộng công, ruộng thờ, ruộng nhà nghèo tự vỡ lấy. Bấy nhiêu thôi. Quan không dám trị tới cùng, chốn địa đầu này lắm núi, dân hóa ra cướp thì chẳng quân nào dẹp nổi. Sáu nhà giàu Lộc-chánh đã mất đất còn mất đèo của đút quan, lần lượt bỏ xứ đi hết. Cuộc chia ruộng lạ lùng này cứ thắng, dù quân Tây-sơn không còn. Dân Lộc-chánh cũng dựa hơi làng Cá mà đòi bớt tô, giảm xâu thuế, đến lượt làng họ bị tách làm đôi, từ đó thêm Lộc-thứ…
- Còn con voi ông đô đốc với mẹ con Sáu Thìn chạy vô núi Chúa nữa, nói anh khó tin…

May cho tôi, một chị tới mời ông đi lể ban vói chai làn rượu cầm tay, rất mừng khi tôi giục ông cứu bệnh như cứu hỏa. Tôi cũng được dịp chuồn hẫng, tự hẹn sẽ xếp hẳn mấy đêm đến nhà ông nghe bù.
Con đường băng ruộng ra gò Trúc bị thu hẹp còn nhỏ xíu. Hai bên lề cỏ bày ngổn ngang những tấm đệm rơm dày để đắp trên người chống mảnh pháo chụp, những ấm nhôm và mo đài nước chè, gói cơm nắm, rất nhiều nón lá bỏ ra cho mát. Những câu ghẹo phóng theo theo tôi tới tấp, gặt vội dưới pháo mà miệng các cô không kịp kéo da non:
- Mang lệnh tổng khởi nghĩa mới gấp quá vậy chớ!
- Con mình khóc đói rồi hả anh?
- Chị Hai ơi chị Hai, đi đâu bỏ ảnh vật vờ tội chưa…
- Một, hai, một, hai ,vấp nè, vấp!

Ai nói con gái miền Trung hiền nhỉ? Tôi liệu bề chọi không nổi, cắm đầu đi biến. Bà con cười rần rần. Sau những ngày vật lộn đứt hơi, tiếng cười trên ruộng mới quý làm sao, tắt rồi mà vẫn sôi sôi mãi trong ngực tôi. Đến khi mấy em dắt trâu ăn rong quanh các miệng hầm bật lên hát “hé hò hé”, tôi không đi được nữa. Tôi ngồi xuống ngay bên bụi mua, rút que xỏ lại quai dép, để cho những giọng trong như nước giếng Tiên chảy vào tai, tan mát rượi trong thân tôi mỏi và bức sốt.

Nghe mẹ rống đâu
Đâm đầu mà nhảy
Huơ con nghé nhỏ
Ham cỏ bỏ bầy…

Có lẽ các em hát hay nhất khi nghêu ngao một mình. Tôi muốn đứng lâu trong buổi trưa nồm lộng dưới trời bông xốp này, nghe mãi thứ tiếng tuyệt vời của sự sống là tiếng hát trẻ thơ ngân dài rung rung như sơn ca mới tập hót, bay vút trên cái nền đen lổn nhổn của súng giặc nổ. Quân thù chỉ có nổ và nổ, một đại mang trên lưng hàng vạn tiếng nổ to nhỏ, những vật từ xa bay tới còn nổ ồn hơn. Các em hát nữa đi cho anh nghe tiếp, bởi anh cứ phải tìm đến nơi nào còn nổ nhiều hơn cả. Hãy gửi tiếng hát theo anh nhé, hãy truyền cho anh sức lớn lên của các em, dù chỉ qua một chút vang vọng mong manh như sợi tơ trời.

*
* *


Mẫn với chị Tám vừa giẫy sạch cỏ chung quanh mã. Coi bộ chị Tám ung dung, chẳng ồ á gì khi tôi đến, chắc việc thường thôi. Ba Tám đang cắm thêm những cành gai tre ngăn trâu bò. Út Hòa bó một chùm bông trang đỏ và trắng. Tong hoành nhất chỉ có thằng cháu Hoàn. Nó được đi chơi xa với mẹ Mẫn, sướng mê, nhảy tưng tưng trên mã bà chán lại trèo xuống ôm chân mẹ, bi bô không ngớt. Tôi mới cho đi tàu bay một lát tối qua mà nó đã nhớ tên, chạy a tới đón: “Chú… chú Xiêm!”. Cháu mặt xinh, rất bụ, bồng sướng tay, bị cái lắm rôm và ghẻ chân vì ngủ hầm nhiều. Nó nghe gì thuộc nấy. Mẹ Sáu cũng hoảng, ai lai mẹ mắng nó: “Mày khôn quá thành tinh Hoàn à”, hôm sau thấy nó vừa đá con mèo vừa kêu: “Mày còn xành chinh mèo à”.
Trong câu giỡn của Mẫn, tôi nhận ra ý phân bua:
- Lâu lắm em mới họp tổ một lần, đi viếng mồ liệt sĩ, bà khách cũng tới tham quan. Giữa ngày mùa, việc búi xờm xờm…
- Có cả khách không mời mà đến!

Chị Tám cười, đứng cuốc:
- Xưa bày nay làm, giáp Tết bà con mới giẫy mã ăn heo. Nhà mày giẫy mã nhè khi người ta gặt, ông xã ra bắt kia, gà đâu tạ làng?
- Lúa đổ bồ rồi gà mọc đuôi tôm, muốn mấy có nấy!
Nhà Mẫn cũng sắp gặt.

Sau lụt, ba chị em hở tay lúc nào chạy ra đồng lúc ấy, hì hụt cào cát bồi, đắp bờ, dọn cấy được bốn ang giống ruộng nhà, tạm bỏ một ang giống bị sỏi đá phủ dày quá. Số ba ang giống cấy rẽ phải trả lại chủ, thiếu công làm. Sau đó chỉ còn Mẫn, đi công tác đâu về lại tạt xuống ruộng hối hả làm cỏ một lát, nước nôi nhờ bà con coi giùm. Bây giờ Út Hòa đang cự nự rằng anh Tâm được vô Đoàn mà chẳng gương mẫu chút xíu nào, rảnh vài ngày ở làng chỉ xách ná cao-su chơi rông. Con Ba Tâm chê em nhác đừ nhác đượng, người khác đậu y một tá còn Hòa chỉ đậu nửa tá.

Mẫn can hai em:
- Cho qua, cho qua. Chiều nay vầy nè: hai đứa đang rảnh, coi như chủ lực gặt. Chị mắc việc ngập đầu, chiều gánh lúa, ừ chưa?
- Mà anh Ba phải làm kho giấu lúa, mất ảnh đền!
- Đền, đền mấy chục tháng học uổng cơm!

Út Hòa đỏ tía tai, ném cuốc cái bịch. Mẫn dỗ:
- Các anh chị cười kìa. Thầy thuốc kiêm mẹ hiền, mẹ gì mà tự ái nhè… Thôi nghen, tao chỉ huy hai đứa không nổi, tao rút lui, bây bầu ai kệ bây! Rồi, ai biểu cãi lộn… Anh Thiêm coi ớn không?
Khi tôi gặp Mẫn đang tắm cho cháu Hoàn hay giọi lại cái lều dựng tạm sau lụt, Mẫn thường buông một câu đùa phân trần, nghe tội tội. Hình như Mẫn nghĩ một đồng chí không chôn nhau cắt rốn ở đây mà lao vào đánh giặc chẳng kể ngày đêm, thì Mẫn là người làng còn phải lăn lộn gấp mấy mới phải, ai lại đi lo việc nhà. Tôi biết, chén cơm manh áo là mối lo canh cánh của những cán bộ như Mẫn.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #62 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 08:08:28 pm »

Cả trăm công tác từ trên rót xuống xã như qua cái phễu đều được nhấn là quan trọng bậc nhất, chủ yếu, trọng tâm, khẩn cấp, trung tâm đột xuất, hàng đầu; tất cả đều đòi hỏi cấp xã phải nghiên cứu kỹ, biến thành ý thức thường xuyên, phát huy sáng tạo, nhất là phải luôn gương mẫu đi đầu; tất cả các đồng chí thuộc các ngành to nhỏ về “quây phong trào” đều trách lãnh đạo xã chưa quan tâm đúng mức đến ngành mình, đều đòi ưu tiên không nhất thì nhì… Mẫn lại không nằm trong loại cán bộ “phiên phiến xong thôi”, ghét thói đùn việc lẩn khéo, nên càng bận rối mù. Bận mấy cũng cứ phải ăn. Mẫn phải nuôi mình, nuôi cháu Hoàn - mẹ Sáu tốt thật mà rất nghèo - gửi gạo cho Út Hòa đi học, sắm quần áo cho hai em để chúng khỏi tủi thân với bạn bè. Riêng Mẫn chỉ có một bộ bà ba lụa đen còn lành, để dành mặc khi có mít-tinh hay họp đông, còn hằng ngày đánh hoài cặp quần áo vải chéo rẻ tiền, vai đã vá đụp mà nước nhuộm gặp mưa vẫn thôi ra xám da. Sáng nay tôi đến nhà Mẫn tìm chú Tâm, dòm qua cái nong rách dựng thay cửa, thấy trong căn lều rỗng có ba hòn đá kê bếp, một cái soong méo, vài cái chén úp trong rổ. Đáng giá nhất chỉ có cái bàn thờ treo dưới mái, bên bát hương đặt một khung ảnh mạ vàng giả mới tinh khôi nhưng chưa có ảnh lồng vào, những nét óng ánh chỉ làm rõ thêm cảnh rách rưới xung quanh.

Khó đếm được bao nhiêu vạn đồng đã qua tay Mẫn trong cả ngàn đêm phá ấp chiến lược.
Mấy năm trước, hồi vùng biển và ven thị trấn chưa nổi dậy, đồng bào ở đấy cứ gióng theo ánh lựa đốt rào ấp mà đến tìm cách mạng; hàng trăm cây tre gỗ chất thành núi, lửa vùng vẫy bốc cao gấp đôi ngọn tre, là ngọn đèn pha chỉ đường vào bến chắc chắn khi mặt trời chưa mọc. Kéo tới cái cửa khẩu Tam-sa hầu hết là các bà các chị, đi dễ và cũng cần đi hơn đàn ông. Thăm về, mỗi người rỉ tai cho năm bảy bà con bạn bè đáng tin nhất: “Lên đó, nhớ tìm chị Hai Mẫn nghen. Con gái mới lớn mặt bấm ra sữa mà chỉ huy con trai rắp rắp, cha cha, chị ta kẹp cây súng máy bên hông vầy nè, rượt lính chạy té cứt. Nghe đồn một mình chị xách giỏ lựu đạn vô đánh sở Mỹ giữa Tam-kỳ, kinh chưa, tụi ác ôn sợ le lưỡi cóc… Nó lớn bằng con Út nhà bà chớ bao lăm, ừ thì hơn chút xíu, cao tay lắm cũng mười bảy mười tám, nói với tôi nó xưng cháu chớ chưa dám xưng em mà! Với lại đàn bà con gái, hiểu bụng nhau hơn…” Xuýt xoa. Tấm tắc. Một đồn mười, mười đồn trăm, có người chưa bạo mấy cũng liều lên Tam-sa “coi thử ra sao”, về nhà thì thào hàng tháng những Hai Mẫn là Hai Mẫn. Nhiều bà từ Đà-nẵng, Hội-an vào thăm con đi Giải phóng, không gặp, giúi cả gói tiền và nhẫn vàng vào tay Mẫn, khóc thút thít ra về. Mấy chị được Mẫn nhắn lên lấy thư và ảnh của chồng tập kết, mừng rú, cởi luôn đồng hồ đeo tay hoặc dây chuyền vàng nhét bừa vào túi Mẫn. Đông nhất là những người quảy lên một gánh mắm hay gánh cá, bán được bao nhiêu tìm Mẫn đưa hết, gửi cho cách mạng.

Đồng bào ở xa đã vậy, ngay bà con Tam-sa ủng hộ cái gì cũng chỉ muốn giao cho Năm Tuất và Mẫn. Anh Luân nằm hầm ngay trong ấp, cần tránh lộ mặt, chân sưng đi lại cũng khó. Ba Thấn sục khắp nơi, nói dẻo như kẹo kéo mà bà con ít tin, buộc lòng mới đưa.
Nhận được bao nhiêu, Mẫn ghi sổ, nộp vào quỹ không sót một xu, nhất định nhờ Năm Tuất chuyển thẳng lên huyện chứ không giao cho Ba Thấn. Hắn về ton hót sao đó, Tám Liệp cự Mẫn một trận vì lấn quyền cán bộ kinh tế, còn bóng gió những sự cầm đầu dính tay, muốn ngoi đầu lên tới cấp trên. Hồi đó cái vụ Tam-sa đóng góp sút đang bị tạm gác, Mẫn trả lời lạnh ngắt: “Chú ở xa không biết, người ta đồn rum là đồn của ông kinh tế xây nhà gạch kia nè. Cháu lo đánh giặc không kịp thở, ham gì lấn việc của ai, đã mệt lại dễ mang tiếng. Có điều anh Thấn bôi xấu cháu, cháu chịu được, ảnh ăn cắp đồng tiền của bà con gửi cho cách mạng… mẹ cháu nuôi cán bộ mà bị đòn hộc máu hoài…” Mẫn nghẹn lời bỏ đi, và Tám Liệp phàn nàn: “Cứ lấy nước mắt làm đầu, chẳng chịu nghe phải trái”.

Nhiều bà mẹ Tam-sa thương Mẫn, muốn nhận làm con nuôi, sắm cho cái võng hay cặp quần áo, Mẫn cũng nộp hết. Đến đây, anh chị em du kích và cả anh Luân đều kêu Mẫn giữ kẽ quá, gàn nữa. Mẫn cãi:
- Chú nghĩ thử, hễ cháu thôi làm cán bộ, bà con có cưng cháu nữa không?
Khi kể với tôi những chuyện trên đây, anh Luân lại thấp giọng như sợ Mẫn nghe đâm kiêu:
- Lão coi, nó cả nghĩ khiếp không? Mình cứng họng đó lão. Nhiều khi bà con níu kéo mời mọc, một anh Tư hai anh Tư, mình không nói mà trong bụng thấy sướng sướng, chà, họ trọng mình quá hè. Té ra họ thương chung cách mạng, thương nước thương nòi chớ thương riêng gì thằng Tư Luân này. Mình làm Bí thư, coi như thay mặt Đảng nhận cái thương đó để chuyển cho anh em, hễ mình giữ lấy xài thì coi như mình tham ô, ý con nhỏ là vậy đó… Mà phải, đồng chí mình lặn lội trên núi cao, sống nay chết mai trong tù, nằm dưới cống ngầm Sài-gòn, số đó đáng ăn gà uống rượu nhứt thì lại không được gần dân, còn mình ở đây… không khéo lại giống như tay giao liên lén lấy hàng chuyển trên đường dây!

Tôi ngắm vóc người khô khẳng của anh, nhớ tới những lúc Mẫn ngã ngất vì kiệt sức, chẳng biết bàn góp sao cho phải. Các đồng chí ở xã không được xu phụ cấp nào, nếu ăn một bữa cơm bà con mời cũng ngại là bớt xén… Anh Luân gãi cái đầu trọc:
- Con Mẫn gớm lắm. Nó nói cắn cựa là tay làm hàm nhai thôi. Hồi ở Tam-trân, nắng này mà trưa tròn bóng nó ra cuốc đất một mình. Bà con ra giựt cuốc, rầy om: “Chấm cho mày đủ cái điểm gương mẫu rồi đó, chịu mày dẫn đầu sản xuất cho tụi tao theo rồi đó, thôi vô, đừng nướng xác nữa!”. Nó cười, nói chiều sửa soạn đi phá ấp dưới kia. Cô bác thương, lấy cuốc ra làm dùm cho nó mau được nghỉ. Ngó đi ngó lại, mỗi năm nó làm ra bảy tám chục ang lúa với ba bốn ngàn bụi sắn như chơi, thừa tự túc còn gởi nuôi em nữa, ai thiếu nó cho. Về dưới này căng hết chỗ căng, vậy chớ nó làm đá gà từng giờ một cũng cào cát được gần hết số ruộng. Sức mình theo nó không nổi đâu lão… Mà cái lứa con nít mới lớn trong thời kỳ đánh Mỹ bây giờ sao nó mau khôn kỳ cục lắm. Lão coi, mỗi đứa một bao một súng, ném đâu làm được việc đó, gặp giặc là đánh ngon, vô lớp chánh trị là giảng bài, hẹn nửa tháng ấp chiến lược phải nổi dậy thì mới mươi ngày đã nghe lửa đốt trống đánh, chuyện ruộng đất rắc rối vậy cũng làm chạy ro… Nói thiệt với lão, Tám Liệp chưa thấy cái mới đó, mình khuyên miết mà hắn không tin cứ nghĩ số trẻ thừa gan mà thiếu óc, tay to hơn đầu, làm thiên lôi được chứ đừng để làm ông trời. Dân mình khác xưa nhiều, cán bộ đảng viên được rèn giũa hung rồi, hắn không răn theo cho kịp cứ trụt lần lần ra sau, trước cầm đầu bây giờ ra anh cầm đuôi, mình giận mà cũng thương hắn. Sắp tới đại hội chi bộ, chắc hắn truột luốt hết, nhiều đồng chí đang đòi kỷ luật hắn nữa, lão mới về còn nổi khùng huống chi mấy anh em.

Tôi muốn cãi rằng anh Liệp sa sút không chỉ vì “chưa thấy cái mới”. Thiếu gì đồng chí phải xa phong trào lâu mà vẫn gắng gỏi, được quí trọng lãnh đạo tốt! Ngay như anh Luân đấy, quanh năm phàn nàn rằng dốt, lạc hậu, theo không kịp anh em, mà đố có gỡ được chức bí thư Tam-sa, trừ phi cấp trên điều đi chữa bệnh hay giao việc nặng hơn! Có lẽ anh biết tôi nghĩ khác, nên buông tiếp mấy câu lơ lửng và hơi buồn:
- Nghề đời, tư túi của công cũng có năm bảy đường tư túi. Kiếm lợi còn dễ truy, tới người kiếm quyền, kiếm danh, chà, kiểu tham ô đó mới khó thấy. Thiệt tới rầy…

Mặt anh sắt lại và già hẳn đi trong một loáng. Anh chống gậy nhúc nhắc theo mấy bác nông hội mời họp. Câu chuyện đằm thắm rồi cay đắng này ghim vào trí nhớ của tôi, giúp tôi hiểu thêm chiều sâu suy nghĩ của anh cán bộ ngót năm muơi tuổi, cả ngày chỉ cười hề hề và bông lơn cho bà con cười theo, lặng lẽ trút dúm sức khỏe cuối cùng còn lại sau tám năm tù để “vực cày một lứa trâu tơ” rồi mới chịu nghỉ. Có lúc tôi tưởng anh dễ tính và nông cạn, thích ở giữa để chữa đôi bên, thân ai cứ khen phứa cho người ta vui bụng…
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #63 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 08:09:44 pm »

Mẫn can xong hai em, chợt kêu:
- Ngó coi thằng Hoàn, rứt hết bông của bà rồi. Bỏ xuống con!
- Bông chủa bà… Hoòng cho mẹ…
- Ừ, cho mẹ. Thôi sắm sửa về ta, lỡ pháo bắn không chỗ núp. Bật lửa đâu Tâm?

Mẫn quay lưng về phía tôi. Áo Mẫn trắng vá một miếng to trên vai phải, dây sùng nhai áo chẳng kém chó con ngứa răng. Cô cán bộ gương mẫu đến độ bà con la trời này đánh giá tôi ra sao nhỉ? Đánh giặc khá, vô tư, hay cáu gắt, lười biếng, ừ, lười biếng là cái chắc, dạo ở ngoài gò cứ ngủ lăn quay, cơm dọn xong mới dậy đánh thẳng một lèo năm chén… Mặt tôi nóng hực. Tôi luống cuống rút khăn lau mặt, làm như nóng chỉ tại trời. Khốn khổ, hồi ấy tôi không để ý gì cả. Dù Mẫn có trách tôi lười, chắc tôi cũng nhăn răng cười khà, coi đó là cái tật xấu dễ thương của cánh con trai chỉ ưa ăn no vác nặng mà ngại những việc tỉ mẩn.
May sao không ai nhìn tôi cả. Mẫn thắp hương cắm đầu mã xong, kéo cháu Hoàn đến bên, cầm hai tay nó chắp lại:
- Chào bà, cháu về với mẹ. Nói đi con.

Thằng bé bật cười to, đạp chân nhảy cẫng lên. Có lẽ nó tưởng mẹ đùa, chỉ đống đất bảo gọi bằng bà, Mẫn quỳ một gối, ghé tai nó van vỉ:
- Con nói, mẹ thương… Chào bà, cháu về với mẹ…
- Bà nhấu chơm Hoòng ăn!
- Không. Chào bà…
- Mẹ xương Hoòng hắm hắm, mẹ chơi bới Hoòng!

Mẫn cau mày làm nghiêm: “Hoàn, hư lắm nghen…”. Cặp môi Mẫn chợt run bắn, mím lại vẫn run. Mẫn úp mặt vào lưng đứa con nuôi nấc dồn, giữ cho không ra tiếng. Thằng nhỏ cứ quầy trong tay Mẫn, cười hết hai hàm răng sữa, mấy khi mẹ chơi nhiều trò như hôm nay. “Bắt mẹ… bắt mẹ…”, nó reo lanh lảnh, cố ngoái tay ra sau túm tóc Mẫn, nắm tai Mẫn. Những ngón tay hồng tí xíu đang ấn vào mũi gai gãy nằm trong ngực tôi. Cháu ngoẹo cổ, thấy tôi, kêu: “chú Xiêm… bắt mẹ cho Hoòng!”. Mắt cháu tròn, sáng rực, sáng không chịu nổi. Tôi cúi đầu, nhắm mắt như bị chói, thấy chập chờn những mảnh thịt lật đỏ tươi trên vải đen. Nhiều tiếng nấc sụt sùi, cố nín, và chuỗi cười vẫn giòn như thủy tinh gieo.

Mười phút sau chúng tôi ra về. Môi dưới Mẫn còn dấu răng cắn lún sâu, gần chảy máu. Mẫn đi trước, ôm Hoàn lên ngực như ôm bao gạo cho khỏi cấn những băng đạn và túi lựu đạn đeo bên hông. Nó bíu hai tay trên vai Mẫn, rụt cổ tròn vai hệt một chú chó con vịn vành thúng dòm quanh bếp, cười chảy dãi với tôi. Rồi nó giãy, đòi bồng. Mẫn phải tháo nốt nịt đạn đưa cho Tâm để bồng nó bên sườn. Anh cu có âm mưu riêng: nó lùa tay vào áo Mẫn tìm vú. Mẫn hoảng, lôi tay nó ra, nó hét tướng:

- Vú âu? Tả vú mẹ ấy! Tả vú Hoòng!
Mặt Mẫn đỏ tận cổ áo. Tôi đón, nó không chịu, cứ rống như còi sừng trâu. Mẫn đành bồng nó chạy vội vào trong một nhà cạnh đường, đóng sập cửa ngay sau lưng. Chúng tôi cười một mẻ tức bụng. Ghê thật sức mạnh của một đứa bé, nó bắt người ta sống và chết vì nó, khóc, đấy rồi cười đấy cũng vì nó…

Lúc này tôi mới nhìn kỹ chị Tám, thấy chị có cái gì là lạ. Giữa mùa nắng mà da chị trắng ra nhiều. Chị hay đưa mắt liếc xéo, nói thầm và giơ tay che miệng, đi đường phẳng vẫn nhấc chân hơi cao như dò đêm trên đất lạ. Tôi hỏi chặn ngọn:
- Chị mà phải nằm hầm như tụi tôi à?
- Quen rộng quá cũng rầy…
- Việc gì gấp vậy chị?
- Gấp mấy cũng phải đợi ông trời lặn. Tính rủ anh đi ăn cá biển một lửa chơi. Hồi sáng Mỹ đổ bộ Châu-lai rồi. Thằng nào lên bờ cũng hỏi sao không thấy ông Tư Thiêm ra đón. Tin giờ chót mới bấy nhiêu.
- À…

Tôi cười to. Tôi khoái vì đã đoán gần trùng ngày quân Mỹ vào Chu-lai. Cuộc đua nước rút giành lại vùng bàn đạp đã thắng sát nút, ta vừa kịp chiếm đỉnh, dẫn trận đón Mỹ. Ngon rồi. Cái thế từ trên lao xuống đã bày ra rồi. Thế nhưng, tiếp theo nỗi mừng bồng bột ấy là một xúc động không rõ nét dâng lên chầm chậm và nặng, pha lẫn nhiều thứ, hình như có cái mệt của những ngày vật lộn với quân ngụy, cái nôn nao muốn biết ngay đánh ngay kẻ thù mới, và… đúng, tôi không lầm, có nỗi đau thầm kín của người lính khi biết một mảnh đất dẹp sắp bị giặc băm vằm.
- Hai Mẫn có cả mớ cơ sở riêng của nó dưới Tam-giang, Tam-hải. Con nhỏ dài tay thiệt. Anh Bảy viết thơ biểu nó cắt một số ở gần Châu-lai, đưa qua cho anh với tôi nắm để theo dõi căn cứ. Nó chịu rồi, tối nó dẫn đi bàn giao. Chiều nay ta gặt giùm nó một buổi nghen anh?
- Phải quá đi chớ!

Tôi thường được cử đi dọn chỗ đánh, nhiều lần thấm đau như thế mà không nói ra. Dù nói, bà con cũng gạt ngay: “Cái mạng các anh không tiếc, tụi tôi tiếc gì nhà cửa ruộng vườn!”. Rồi thì con người còn của, còn da lông mọc còn chồi nên cây, cả kho triết lý đầy ắp của một dân tộc đời này tiếp đời kia phải gánh tro nhà cháy ra bón ruộng, đã quen nén những xót xa riêng để nói lên nghĩa cả. Mỹ vào. Làng Cá nằm trong vành đai trắng. Hơn một ngàn người sống trên hòn đảo xanh này đã ít nhiều đoán được những gì sẽ xảy ra. Họ gặt vội lấy lúa nuôi quân, đào thêm hầm hào, lượm sẵn hàng đống mảnh pháo để xách đi đấu lý.
- Mỹ vô… thì đánh Mỹ chớ sao!
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #64 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 08:12:58 pm »

Chương XV

Mặt trời còn một con sào Mẫn đã gọi chúng tôi ngừng gặt, trêu luôn:
- Để coi cậu tú bó lúa,bảo đảm lắm ,gánh tới nhà còn y nguyên cây đòn với cặp dây !
Tôi gạt mồ hôi cằm,vặn lưng trả, miếng ngay:
- Hèn gì có kẻ mách vơi chị Bỉnh,hồi cứu lụt.....
- Sao ?
- Cái anh gìcao ,trắng trắng,bô tướng như học trò thành phố đó,coi như rác ! Tạch- tạch- sè chánh hiệu mà!

Mẫn ngớ người ngồi cười phá, cười đến không đứng được nữa,ngồi thụp xuống bờ ruộng mà cười rũ.Đến khi tôi nâng hai cánh tay đặt trên vai Mẫn
gánh lúa nặng ước sáu chục cân, Mẫn mới kêu ((Thôi,biết ông giỏi rồi ! )).
Tới đâu tôi cũng bị hiểu lầm vì vóc người lêu nghêu và nước da không chịu ăn nắng ,trông rất chi là lình cậu , là "phóng văn lính " tức lính văn phòng . Cộp một trận, phát rãy hay cày ruộng vài ngày tôi mới được nhận là lính chiến,gốc gác làm ăn. Có lẽ chính cái mẽ ngoài phản chủ ấy nó thúc tôi học nghề thật kỹ để xóa nhanh cái ấn tượng "dân thầy",hóa ra nó cũng có lợi.

Đến nay,về nơi nào chưa quen ,tôi thường nhét xúng ngắn vào bao-cái câu"súng lục là súng bao vây đầu phồng" sống dai gớm ! - lội xuống ruộng trước ,để cho sự tin cậy của bà con bắt đầu từ chỗ mỗi cuộc đời cách mạng bắt đầu ,từ giọt mồ hôi rớt xuống chén cơm.Câu chuyện sau đó mới thật là tâm sự giữa những người đồng cảnh đồng tình. Dần dà,nếu có dịp sửa giúp cái máy nổ,bày những câu gọi hàng lính Mỹ,nói tình hình thế giới trước một lớp học,tôi mới được xếp vào loại "con nhà nghèo được cách mạng dạy nên khôn" Như thế đúng thực sự hơn là lối coi tướng của cô Mẫn.Tuy những anh học trò mới đi bộ đội thường được bà con cưng hơn một chút_nhà khá giả mới đủ tiền cho con ăn học, đời học trò ở phố phường xa mưa nắng bom đạn,bây giờ đánh Mỹ mới nếm mùi cực khổ,coi thiệt tội..._nhưng tôi biết mức tin cậy có khác với những anh được gọi là " lính cùi đày",cả người lẫn nết đều vững như hòn đá kê chân cột.Các bà mẹ vốn thương con út và tin con đầu lòng.

Vừa chơi ác,đặt cho Mẫn một gánh nặng xong,tôi hối ngay.Mẫn không khỏe mấy, chỉ được cái dẻo dai.Tôi nắm đòn xóc giữ lại : "Giỡn thôi,để anh...",. Mẫn lắc đầu ghạt tay tôi :'nhà gần mà ! ".
Tôi trông theo Mẫn chạy thoăn thoắt mới hết lo, quay sang bó tiếp cho Út Hòa, Ba Tâm,giả vờ không nghe câu đùa lơ lửng của chị Tám đang xếp các lượm lúa : "Họ thương nhau ghê ta ! ".
Thưa bà chị hay giễu, chị muốn cười hở mười cái răng, nháy nháy với người thứ tư nào đó ,ví von bóng gió về cây si hay bệnh cảm,xin cứ việc ! Tôi buộc miệng , xưng anh với Mẫn , đã lỡ cho nó lỡ luôn , hơn Mẫn bẩy tuổi không làm anh được à ? Tôi cãi thầm với chị Tám như thế , đến lúc chị giằng tay tôi , kêu :
- Cậu Tú ơi cậu Tú , trả thù dữ vậy sao sống nổi !
- Ờ......

Thì ra tôi đang đạp chân riết một bó lúa to bằng bồ , phần chị . Tôi vội chống chế :
- Không...tôi tính về trước một gánh...
- Rồi bỏ lúa ai xóc ? Đây về nhà có phục biệt kích đâu mà phải kèm?

Tôi đóng kỹ cái vai anh khờ ,chỉ cặm cụi bó một đôi đũa nhẹ hơn cho chị Tám, một đôi khác cho Mẫn đi chuyến thứ hai,còn bao nhiêu làm một gánh vét sòng. Mẫn trở ra ruộng, sững sốt kêu tôi phá sức,sụn xương sống còn gì.Thật tình tôi cũng hơi lo lo, lâu nay chẳng gánh gồng gi, sợ mất thói quen.Tôi bắt đầu tính xem trên chặng đường vào xóm có mảng tường hay tảng đá nào có thễ kê đòn mà nghỉ chăng,nếu run đấu gối không gánh được nữa như keo gánh thi năm ngoái. Mẫn ghé vai cho tôi đặt gánh,lại đứng đợi tôi mới chết chứ.Trót yêng hùng rồi,đâm lao phải theo lao...Không ngờ tôi mạnh đến thế. Xóc bó lúa"sạt"một tiếng la lút như đâm lê vào bù nhìn rơm,nhấc bổng nó lên xóc bó thứ hai mà không hề ti vai hay chống đầu đòn xuống đất,chạy thẳng một mạch về sân nhà Mẫn,dọc đường chỉ đổi vai một lần,tất cả dều gọn trơn.Khoảng chín chục cân,tự phá kỷ luc rồi, bà con trông thấy cứ tấm tắc. Chém chết tui cũng không dám nhận rằng đó là kết quả của một câu nói khích, và nhất định không trông thấy vẻ mắt bối rối củ Mẫn cùng nụ cười gán ghép ủa chị Tám. Khờ mà!
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #65 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 08:17:30 pm »

Đêm nay chúng tôi xuống biển phía bắc Chu-lai.Lội cát phải mặc màu nhạt.Tôi gội gấp mươi gàu nước giếng,thay bộ ka-ki bạc màu nhất.Chị Tám mặc bà ba màu lục trông hệt bà đồng.Mẫn mượn được cái áo xanh trời,nhưng cứ bị quần đen không có gì thay đổi,tôi cho mượn tấm dù hoa hai chéo phủ đến gối,coi như ổn.Ba Tâm đòi mãi mới được theo chị,chỉ mặc quần đùi vải rằn và cởi trần.

Tam-sa ở cuối tỉnh cuối huyện,cấp trên gửi giấy hỏa tốc báo địch càn thì nó đã càn xong xuôi cả. Anh Luân và Mẫn lặn lội đi móc được một số cơ sở riêng ở thị trấn An-tàn và vùng bắc Chu-lai, hễ địch tăng quân dồn xe thì họ báo cho Tam-sa biết, hụt xe Lam đã có xe gắn máy,xe đạp. Lâu lắm các đội công tác An-tàn,Tam-hải,Tam-giang mới hay mình bị phỗng trên tay,kiện với huyện. Anh bảy quai nón cười xòa:"Các cha thừa đất bỏ hoang,Hai Mẫn tới vỡ,phải để nó hưởng lộc ba năm không đánh thuế!",hôm nay chị Tám và tôi được "sang tên"sáu cơ sở gần Chu-lai, coi như cái vốn đầu tiên để bủa thêm một mạng lưới nữa quanh căn cứ Mỹ.Chị Tám tìm hiểu mặt đấu tranh chính trị,tôi mặt quân sự.Có thể Ba Tâm được ghép với chúng tôi để chạy thư thẳng về huyện va H.68,chú năn nỉ riết nhưng anh Bảy còn ngại nhỏ quá.

Ăn xong chúng tôi đi ngay.Quân phục dang liên miên dọc đường Một,đổi chỗ luôn,phải trông chừng chúng từ khi còn sáng.Chúng tôi băng ruộng lên phia bắc,gặp tổ du kích gác trên đồi lấy tin:địch rải dày mé dưới mặt đường chặn giữa làng Cá với Lộc-chánh.Phải vòng lên xa nữa.Tới một xóm lẻ còn trơ các nền nhà cháy,Mẫn dừng lại,tủm tỉm:

_ Em la dân bổn địa,chỉ huy dân tứ chiếng,ừ nghen?Bây giờ em ra đường ,chi Tám giũ chà là,anh Thiêng với Tâm ai liệng xoài giỏi hơn thì ở lại đây,ai kém đi liên lạc.Ám tín hiệu,đường tiến đường lui nhớ kỹ chưa?
Đây la xóm Gò-xoài,bị địch đốt trụi dể dồn vào ấp chiến lược.Vườn xoài bỏ hoang lu bù,tôi nèm lựu đạn không tồi,nhung mới thử sức vài lần đã chịu thua Ba Tâm.Chú ta chưa rút ná cao-su ma trái lớn trái nhỏ đã rớt lịch bịch.Khúc cây vọt khỏi tay Tâm,xoay tít nhu bánh xe,quất trúng những nhánh xoài đầy trái vàng đung đưa.Lớn chút nữa tay này ném lựu đạn hẳn là lọt lỗ châu mai thun thút!
Tôi theo Mẫn băng gò qua chỗ quan sát cách chừng nửa cây số,càng tớ gần đường càng dò kỹ,có khi địch lên dò tận đây.Chúng tôi nằm bên một gốc mua,thò đầu dòm xuống sườn dốc,súng đơm sẵn.

Con đường bị băm nát thừ lâu quãng này còn sót đường ray hai kẻ dòng đen song song trên đá lót xám,chạy qua cát trắng.Cỏ gấu loang từng màng nâu đỏ.Dương liễu mọc thấp cành lá thưa đâm ngang thành bụi. Xa hơn một ít là vệt đen rộng và bóng của đường nhựa ,hai mép quét vôi trắng phòng ta chôn mìn, bị những cồn cát nhấp nhô tre khuất từng đoạn. Phía bắc cách ba trăm thước có cặp lô-cốt giữ cầu. Phía Nam hình như vắng.

- Tụi nó kia , anh .Chỗ cống xi-măng ngó xuống. Mẫn chỉ mé tay phải . toi nhìn kỹ cái cống trắng , nơi cậu Ri đánh mìn lật một chiếc GMC đầy lính tháng trước . Địch nằm cách đường nhựa chừng hai chục thước , nép sau những bụi ngũ sắc rậm. Áo quần chúng chìm vào mầu lá ,nòng Ga Ran sơn lá mạ cũng vậy ,tôi nhận ra chúng nhờ vào cái báng súng nâu đen cựa quậy bên những đường cong tròn bóng của mũ sắt ,cây lá không có nét cong đều như thế . Người đi dọc đường nhựa không thấy được địch , nhờ dòm xuyên hông chúng tôi mới moi ra . Mỹ vào có khác, ngụy đem sác đi rào dây kinh ,dạo trước Năm Ri dẫn tôi đi dễ hơn nhiều . Cũng trên đường Một này ,anh em xê mình đóng trong kia đang đạp xe " kính ông" vào thị trấn Tam Quan ăn phở ,tôi ở đây núp rình mãi mới tìm được chỗ vọt ngahng .ức thật...

Mỗi lần xuống vùng địch,tôi lại thấy mình thành con trâu trắng làm khổ mọi người , "trâu trắng đi đâu mất mùa tới đó" . Các đồng chí phải lo dẫn tôi đi đêm , xếp hồm bí mật.gác đầu ngõ cuối xóm ,quá đỗi cồng kềnh.Trong khi đó Út Liềm cứ đạp xe vo vo đi khắp nơi ; chị Tám và Mẫn lựa lúc vắng bọn ác ôn quen mặt là thay áo trắng ra dạo đường nhựa , tán gẫu với lính tha hồ.

Tôi quay về gọi chị Tám và Ba Tâm . Chả là được một túm bằng trái dừa. Bao lưng của chị Tâm đầy cộm những soài . Dão này địch chặn soát và bắn súng vung vãi nên bà con dưới biển ít lên vùng đất vườn Tứ Nhơn, chứ trước kia, "mít non gửi xuống cà chuồn gửi lên" cứ kìn kìn . Lần nào xuống biễn Mẫn cũng nhớ mang quà ,mùa nào thức ấy.
Bốn cúng tôi ngả ra liên hoan nhỏ trong lúc đợi tối , Mẫn nhắc :
- Tiểu liên thôi nghen. Xuống dưới kia còn trung liên, đại liên,mấy bữa nay
biển trúng cá lu bu.

Pháo An-tân bắt đầu rền dài bắn lên dọc sông Rù rì :đợt pháo quen lệ của địch lúc cánh đồng lớn đã trớm đen dưới bụng tàu rà. Chúng tôi xâu rép vào thắt lưng,lên đạn,ung dung bước qua hai thanh ray gỉ,dẫm lên những mớ gỗ toác và sắt quằn của những đoàn tàu quân sự bị lật ,xác mới đè xác cũ ,nay đã đều không còn tuổi . Đến gần đường nhựa chúng tôi nghe ngóng lâu hơn. Rồi Mẫn vẫy tay. Mỗi người phóng mấy bước trên nhựa ấm ,thoáng thấy vài mảng sỏi Xám vá đụp, hít một bụng hơi xăng,rồi chạy thẳng một lèo trên bãi trống

Vượt non cây số chúng tôi mới dừng nghỉ chỗ cát trũng,vừa nghe tiếng máy rù rù. Xe địch đi đổi lính . Đèn pha đặt trên các xe boc sắt quyét loang loáng qua đầu. Xe tải chạy cách nhau khá xa ,không bật đèn ,không dừng,cứ việc bò chậm trong khi quân mới nhẩy xuống và quân cũ leo lên. Tụi sư Hai ngụy làm cái trò đấy để số du kích bám đường không biết chúng thu quân hay rải quân,dọc tuyến chỗ nào kín chỗ nào hở,khá ranh đấy.
Chúng tôi đi dọc xuống biển. Sau lưng chúng tôi , các ổ phục kích của địch đang đổi chỗ ,đơm súng chặn đường về ở đâu không rõ.
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #66 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 09:13:06 pm »

Biết không thể sốt ruột được mà tôi vẫn sốt ruột . Sự đời nó vẫn vậy.
Đi chừng nửa giờ trên trẳng cát phẳng và trần trụi ,chúng tôi đến một xóm lẻ. Chị S.12 mở toang cửa ,vặn to ngọn đèn hoa kỳ, đánh thức chồng dậy mà coi " Chị Hai Mẫn với cán bộ mình cả mờ " , cho con đi gọi hàng xóm nữa , y như giữa vùng giải phóng . Chị Tám đưa con mắt hỏi Mẫn ,Mẫn giật khẽ ,ra ý " không ẩu đâu" . Chị S.12 kéo tôi đến bàn đèn coi mặt ,giảng một hơi.
- Xóm đây năm nhà mà một bụng anh ạ. Dân cách mạng nòi hết. Tụi tôi ăn giỗ với nhau ,thề rồi ai lén đi báo cáo báo chồn với tụi hội đồng thì mấy nhà khác muốn tự tay chặt hay rước Giải phóng về ngứt cái đầu tủy lỏng , chị Hai cầm quân đánh giặc trên làng cá chứ đâu xa... Chẳng có hằng lính nào đang đêm dám léo hánh tới đây,mà tới thì tụi tôi biết trước cả bưổi. Tụi nó nói ở xóm lẻ dễ chứa Việt cộng,mà cũng đúng vậy ,nó đem xe em-mờ tới hốt vô ấp, cả xóm dàn ra đòi đổi mạng nó mới buông...Mỹ đổ bộ hả? có nghe gì đâu !

Bà con trong xóm kéo đến chật nhà ăn xoài với chà là,uống trè nhỏ ,tán lu bu chuyện. Tất nhiên ,tôi phải xuýt xoa vì trót sinh sau đẻ muộn ,không được quen ông Lê Tự Cường mà cả huyện đều biết , làm tới chức trung đoàn hay trung đội gì đó hồi đánh Tây, cùng sáu con em của xóm này vừa tập kết vừa đi Giải Phóng . Xóm nhỏ mà niềm tự hào thật lớn. Ai cũng nhắc cho tôi nhớ kỹ đây là đất mình ,dân mình ,tới đây muốn hát bội làm tuồng bao nhiêu thì cứ thả cửa,gửi lại vài ba chục anh em cả tháng bà con cũng giấu và nuôi được hết.

Tôi ngó quanh, sững sờ .Tưởng chỉ miền núi mới có những làng " Độc Lập" chứ ,những làng mấy trăm năm nay ẩn kín trên núi cao,dân đi đâu thì đi chứ chưa hề có ngừi nào lọt được vào làng , đến thời chống Mỹ này mới mở cửa đón anh Giải phóng là một. Ra giữa biển cát này cũng có những hòn đảo tự do ,trắng địch.
Bà con xúm trách Mẫn lâu không xuống ,và phân bua liền cho Mẫn,"nói vậy chứ tụi tao nghe nổ như rang bắp trên Tứ Nhơn đi chợ thấy vợ lính a vô mua hương đèn với hàng mã, biết bay làm ăn to lắm ! Được mấy trăm khiêng cả thẩy ? ".

Chị Tâm bắt gặp tôi liếc đồng hồ lần nữa,bật cười.Tôi chỉ muốn đuổi theo cái tin giật gân đợi mãi bấy nay....
Bộ đội gặp nhau,vừa mở miệng đã hỏi độp:"đánh chác sao đó?".Chị cơ sở gặp chị cán bộ thì trăm thứ chuyện tri kỷ vụn dây mơ rễ má cứ nối nhau tuôn ra bằng hết,từ trởi cho con cá bè một gánh nhảy sang thằng cảnh sát mặt sẹo chực đốt nhà,vụ chồng con nhào kẹo với vụ hỏi thuyền bắt ghe,có trái mìn nổ thiệt tới ngon va có cái điều trước sau em cũng phải ừ một tiếng cho ảnh yên bụng lên núi mà sao em mắc cỡ quá chị à.Thêm một lần"xuống cơ sở"này nữa, tôi càng hiểu rõ dân mình đã ngấm đẫm chất cách mạng đến cái độ lựu đạn vùi lẫn trong thúng khoai,bà mẹ dặn con đuổi trân ăn mạ và dỡ gai rào miệng hố chông cùng một giọng,việc đánh Mỹ nằm lộn lạo trong việc gái trai thương nhau.

Những đêm hội ồn ã hay thầm lặng của bà con đón cán bộ thế này diễn đi diễn lại,đọng dần trong tôi hình ảnh rất khác biệt của ba con vùng tạm chiến.Hai mươi năm đánh giặc,chưa hết,chúng ta đang bước vào cuộc chiến tranh mới,dữ dội gấp bao nhiêu lần chưa rõ nhưng chắc chắn là sẽ kéo dài.Người dân vùng tạm chiến vẫn sống kiểu riêng,đánh kiểu riêng trong nhiều năm nữa.Nỗi khỗ và sự nghiệp anh hùng của họ,vốn đã sâu đã cao như biển và núi kẹp hai bên sườn dải đất này sẽ còn cao sâu thêm mãi.Có không nhỉ,có dân tộc nào trên trái đất này giàu chiến sĩ dịch hậu như ta,có dân tộc nào mà cả một mảng lớn đã vật lộn trong lòng giặc suốt một phần năm thế kỷ,không một ngày xả hơi,còn đủ sức đấu võ đấu lý đến một nữa thế kỷ nếu cần,để thắp lại cái tia chớp đỏ thoáng thấy năm xưa và giữ nó sáng mãi?

Chi Tám phải gỡ Mẫn ra khỏi nhóm các bà các chị hết khóc lại cười.Ra đến trảng chị búng tai Mẫn:
_Anh Thiêm đang nôn nao tìm Mỹ,mày cứ sa đà,anh dòm muốn đứt cái mặt đồng hồ kìa.
_ Thiệt hả? Còn sớm chưa vô ấp được đâu anh.Với lại em thương quá...Nhà chị Mùi có tới hai hầm bem ở tốt lắm, hồi nào bám căn cứ mệt anh chị cứ về đó nghỉ,khỏi qua tuyến đường nhựa.
_Địch dày bấy nhiêu chớ dày gấp mười,cậu Tư cũng bươn lên tới làng Cá cho coi!

Câu chẹo ỡm ờ của chị Tám khiến Mẫn nín thít và tôi chột dạ:có lúc nào tôi quá lộ liễu không nhỉ?
Trăng muộn mới hửng một vầng sáng dưới những dãy mây viền vàng mé biển chưa soi đến đây.Sân bay Chu-lai phải bắn đèn dù không ngớt.Một cặp cối to 106ly7 giã đền nhịp đôi.Chúng tôi đi ngoằn ngoèo trên cát dẽ và trắng nhờ nhờ,giữa những bụi con nổi bóng đen kịt như người ngồi xổm,rồi bước ra một quãng gò cát nhấp nhô,chân lún sâu hơn.Lâu lắm mới qua vùng gò cát,sao mà nhớ quá đỗi chặng bãi biển từ Quy-nhơn vào Gành-ráng.Mỗi bước leo lên trụt lùi mất một nửa,bù cho khi xuống bước chân duỗi dài thêm gấp rưỡi.Tôi đưa mắt tìm những búi cỏ chông chông để thả đua ngựa theo gió,bị xóc luôn một chùm gai xương rồng vào đấu ngón chân cái , nhổ vội lại gãy lằm lì,đành để vậy. Mắt tôi tốt nhưng Mẫn đi đêm tài hơn nhiều. Mỗi lần nửa đôi bắp chân trắng của Mẫn lại làm lộ tiêu cho tôi tránh những tấm gai xương nằm lẫn trong cát như bàn chông.

Người thứ hai được Út Liềm báo trước ,ra ngoài ấp đón chúng tôi.Cô Tươi mới trạc mười chín ,dẫn cả chồng theo ,chẳng biết sợ ma hay ngại chồng ghen,có thể vì cả hai. Chúng tôi ngồi lọt giữa bốn tường thành đá ong của một ngôi mả to trên đỉnh gò . Cô bắt chồng đi gác với Ba Tâm ,không cho nghe chuyện nói ngường ngượng:
- Ảnh mới trốn quân địch về ,chánh trị chưa vững.Em hối ảnh đi giải phóng vinh dự lắm ,ảnh lảng lảng miết ,sau thú thiệt "hễ mình đi tôi mới đi" .Bây giờ ảnh tránh trỏ trong ấp .Thằng ấp trưởng ăn tiền lớp này tới lớp khác ,đục đẽo miết mà còn dọa nghe ức ói,chưa biết hồi nào nó trói giải lên Quân vụ thị trấn... Chị cho tui em lên cả hai nghen chị ?
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #67 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 09:17:06 pm »

Cô S.16 này nhạy hơn chị Mùi , nghe tin Mỹ vào , cô rủ bạn xuống cửa Xuân Quang hỏi dò, tụi ngụy ghẹo chán mới mới kể rằng Mỹ vô sân bay đâu hai trăm ,lót ổ nằm nín hơi, Việt cộng nói Mỹ công tử bột vậy mà đúng y ,lính tráng gì mà mới bước ra nắng đã đỏ như cắc kè ,khui bia hộp uống ọc ọc miết. Cô nghe chỉ được bấy nhiêu, không thấy thằng Mỹ nào cả. tôi hơi thất vọng. Nhưng khi tôi dặn những điều cần nắm thêm về quân Mỹ, cô hỏi lại rất kỹ , lặp đến thuộc lòng. Cơ sỡ của Mẫn chưa thạo việc, được chịu khó .tôi bấm đèn pin bọc nhựa xanh cho cô nhận mặt chị Tám và tôi ,ròi soi xét cô Tươi :người còn xinh hơn tên ,hèn gì cậu Xấn không chịu rời .cho thoát cả hai thì mất ngừi theo dõi Mỹ ,thôi để cô khuyên chồng ít lâu nữa xem sao .Tươi ra gọi chồng vào, ngọt giọng như dỗ đứa em trai bướng ;
- Em thưa với các anh các chị rồi đó, hồi nào anh ưng thì em dẵn lên Nhơn-ái giao cho chị Hai. Em mắc việc nước , chớ vợ không theo chồng thì theo ai.

Cậu Xáng rất to cao , coi chừng cõng một đế cối 81 trên lưng không ăn nhằm gì. Cậu lúng búng mấy câu phân trần ,rồi theo vợ đi vào ấp ,trông tức cười mà cũng tội tội .

Chúng tôi nhắm hướng biển đi xuống. Mấy chiếc C 47 liên tiếp xà qua đầu mỗi chiếc đeo một chùm đèn màu hình chữ thập,thêm một đốm giữa bụng nháy đều. Điện kết chuỗi quanh đường băng bật sáng ,tôi sửng sốt khi thấy những ngọn đỏ cuối sân chỉ cách chúng tôi chừng bốn trăm thước. Chà chà, cặp mắt bồ câu của cô Tươi đặt ở chỗ lợi thế quá mất ,tha hồ coi Mỹ. Đèn pha trên máy bay thốc xuống một luồng sáng xanh ,hạ thấp dần ,nhảy nhảy trên dải bê tông ,chạy tới mảng sáng của đài chỉ huy đàng xa .Rồi phựt một cái ,tất cả tắt ngấm ,những chiếc tầu ngầm lớn lặn tõm xuống biển ,chỉ còn đạn cối chớp léo ình ình chung quanh chổ nó vừa chìm.Quân ngụy vây vòng trong vòng ngoài mà chúng vẫn giấu hình ghê thật.

Trăng trên biển mọc nhanh vòn vọt. Một quả bóng đỏ từ dưới nước ngoi lên ,lừng lững nhấc mình khỏi đường chân trời mang vết khứa răng cưa của những rặng dương cuối đất. Dạo ở núi ,tôi rất thèm xem lại con trăng to và đỏ như thể bốc vội ,đổ suối bạc to dần qua mặt sóng đến bên tôi.Trăng hiện trên rừng bao giờ cũng nhỏ ,xanh đứng yên trên lá .tôi thêm vòm trời mở ra mênh mông với cái nét thẳng băng nơi gặp biển,thèm nằm ngửa cho các chùm sao xuống sát tầm tay với như một dàn nho chua ,thèm dầm mình trong sóng tãi bọt và sứa trên bãi ,thèm thở gió mặn chua pha mùi đất . Cảnh trời nước của quê nội tôi đấy.

Qui Nhơn thời Tây .Căn nhà ổ chuột thấp hơn căn nhà Khải Định ,gần biển mà gió không chui vào nổi. Suốt mùa hè anh hai và tôi đêm đêm vác chiếu ra ngoài bãi cát ,bên những gốc dừa gốc tra ,chịu mùi phân người để nằm xa chỗ tắm của Tây đầm ,tránh tụi bu-lít đá vào mông đánh thức .Mỗi đêm vài lần anh em tôi ngồi dậy đội chiếu đợi qua cơn mưa dông ,hay đâm đầu chạy thục mạng khi lính lê dương say đuồi hiếp cả đàn bà đàn ông.

Qui Nhơn đẹp ,mát, lắm cá .Người ta đến Qui Nhơn tắm biển, dưỡng bệnh ăn trơi ,trai gái. Thành phố quê hương bấy giờ đè nặng lắm trên đôi vai còng còng của ba tôi ,sửa máy cho hãng xe S.T.A.C.A .., mỗi ngày làm mười hai tiếng mà mòn đời không mua nổi một chiếc xe đạp tã.Anh em tôi, hai đứa trẻ rơi vãi trên đất cảng dắt nhau đi lánh các các phố sang lắm xe chẹt vào dùi cui gõ-óc ,chỉ dám hưởng phần mấy trái me rụng quãng gần nhà thờ, những bông phượng héo để chọi đá gà hoặc thổi phình vỗ bép vào trán,lúc đói thì đập những trái bàng khô lầy cái nhân beo béo mà nhấm .Vui mắt chỉ có ngồi trên bến xem cặp tàu bay Nhật chạy rì rì trên phao rõ lâu mới cất cánh nổi khỏi mặt sông Thi-nại , về sau bị mấy chục tầu bay Mỹ ném bom tan hết. Tôi chưa hiểu gì về Qui Nhơn sau cách mạng ,đã theo cả nhà tản cư về quê Mẹ .Hết những năm đánh Tây , tôi lại chưa chịu đòn tù ngay tại nơi sinh :hai chặng đời tại Qui Nhơn ,hai lằn tôi bị hất ra .Đứa trẻ lên chín bỏ đi với cái đói và cái sợ thắt gút trong ruột. Còn tràng hai mươi tám thì mang hằn máu hận thù trong mắt.

Lạ thay ,tôi vẫn yêu Qui Nhơn.Tôi hay nhắc tới những phố xinh xắn , những máy nước đầu dường có tay quay trên đỉnh ,những hè phố lát thứ gạch gì có rãnh sâu kẻ ô chống trượt ,những con tàu lớn kéo còi ghé vào cái kè đá đưa xe lửa chạy ra biển ,những bầy cá đối kết thành bè bơi đi thuyền , mặc dù tất cả cái đó đều không phải là của tôi .Tôi cứ nhớ Qui Nhơn. Phải chăng vì cái xấu và sự lãng quên đều chung một mầu đen , nên khi quay nhìn lại bức tranh của quá khứ tôi chỉ còn thấy những mảng màu sáng nhất ? Hay vì một thói quen thôi, những đứa trẻ ở mướn cực muốn chết mà vẫn thương con trâu ngang sừng của chủ và nhớ rặng dừa trước ngõ nhà chủ ? Đúng hơn , có lẽ vì hình ảnh thật của phố cảng đã được tôi nhào lặn lại theo mẫu mới của mơ ước....
« Sửa lần cuối: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 09:19:20 pm gửi bởi hoacuc » Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #68 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 09:28:05 pm »

Mẫn quay lại:
_Gần tới ấp rồi,Tâm lên sát chị nghen,có gì tiếp tay chị ít trái lựu. Chị Tám với anh Thiêm đi sau chừng năm chục thước cho chắc.

Tôi hơi khó chịu. Mẫn thuộc đường phải dẫn đầu, chứ tôi đâu phải non đến nỗi núp sau lưng Mẫn! Tôi chia Ba Tâm trụt lại sau kèm chị Tám, còn Mẫn với tôi đi trước cản địch. Mẫn ngần ngừ rồi gật:
_Dạ,cũng được. Hễ chạy lạc Tâm dẫn chị Tám vòng xuống bến bà Huyến nghe em. Mà súng đằng trước nổ ít thì khoan chạy, đội Tam-hải có mấy cậu mới, chưa hỏi đã bắn, để ý coi chị rẹt cac-bin hãy rút.
Chúng tôi vào một ấp chiến lược sát cửa sông để nhận chị S.22 và một số du kích bí mật do chị tự chọn,không chịu cho Mẫn biết hết tên. Ấp này có lính đóng,gác kỹ. Mẫn đi một quãng ngắn lại thụp xuống, cúi sát đất nhìn ngược lên, xem đường nét lởm chởm của các bụi cây đen đằng trước,tìm vệt thẳng củ nòng súng hay hình tròn của đầu người,thêm chỗ eo của cái cỗ nữa không thể lẫn. Tôi chỉ có việc bắt chước.

Men rặng duối dại một quãng, Mẫn dừng lại ghé tai tôi:
_Nó kìa!
_Đâu?
_Dọc đường đất...

Một con đường đắp nổi bằng đất thịt màu sẫm với hai hàng dương,cách chúng tôi chừng sáu chục thước,chạy qua cát trắng vào ấp.Tôi nhìn lâu mới thấy một đóm lửa nhỏ xiu hửng đỏ,chìm, lại hửng sáng. Sáng trăng này địh không cần soi pin xem giờ,nhưng khó nhịn được thuốc lá. Mẫn dừng đợi chị Tám và Tâm, thì thào:
_Hồi nãy nó rình ở đây,mới kéo ra phục đường.Có mùi Bát-tô,xà-bông thơm,mồ hôi khét nghẹt.

Tôi hít mấy hơi, không nhận ra gì cả. Xin thua cô xã hội, tai kém còn đổ lỗi cho sốt rét được, chứ cái mũi không tinh chỉ tại hút thuốc thôi.
Vòng hướng khác, chúng tôi đi vòng qua những vạt mè,lá và trái quệt vao tay dính rin rít,đến gần cái vệt đen dài cắt ngang trảng cát. Nhiều châm đèn dầu nhấp nháy. Dòm ngược lên đã thấy hàng rào lông nhím dựng như bàn chải trên nền mây sáng. Tiếng đóng đinh vào thuyền gỗ nghe trầm và dội xa.Chó sủa,có người nạt chó.Một đóm lửa to đi lừ lừ bên trong rào,những nét bóng của tre nguyên cây hiện thấp thoáng,chắc là dàn canh đang gác chuyển đèn:các vọng gác đưa chuyền cho nhau một cây đèn gió,địch trên chòi cao ngó chừng. Nhiều tiếng cười ré giật gân. Tiếng loa vẳng từ xóm xa,gió tạt không nghe rõ,chắc lại gọi "đinh công xây ấp tân sanh, ai bất tuân coi như phần tử Việt Cộng", địch đã biến Việt Cộng thành những người an nhàn nhất trên đời.

Tôi nhắm chừng phải đợi lâu đấy,mới chín giờ rưỡi, dân và lính địch còn thức cả.Mẫn moi cát sau lưng một tấm bia mả bằng xi-măng, lấy cái hộp nhỏ đựng mẩu giấy có mấy chữ nguệch ngoạc: Đêm 16,từ 10 tới 12gio _ S.22. Tôi đón xem xong, buộc miệng:
_Hụt rồi.Nay mới mồng hai tháng năm thôi.
_Tính lịch ta chờ anh!
_À...Vậy đợi một tiếng nữa...
_Đồng hồ anh lấy giờ Đông-dương hả?Vô được rồi.Thằng Ba gác ngoài,chị đưa anh chị...Nhăn gì?Em còn nhỏ ai chịu cho gặp đâu mà theo!

Sao tôi ngớ ngẩn vậy ta?Đã biết xuống vùng sâu phải theo giờ Sài-gòn và theo tuần trăng để biết đêm sáng đêm tối, mà trước mặt Mẫn tôi lại quên, hệt một cậu chưa từng ra khỏi vùng giải phóng. Trót rồi,tôi sẽ gỡ bằng những động tác vượt hai sông ba núi rất thạo, để Mẫn và chị Tám biết tôi dày dạn chẳng kém ai. Trong loại công tác này,một đồng chí bị đánh giá là non gan hay vụng dại sẽ được mời ở lại làng Cá ngủ cho khỏe,đi theo chỉ gây vạ cho anh em và cơ sở...

Lại hẫng nữa, Mẫn đưa chúng tôi đến chỗ hẹn, một cô du kích mặt bôi đen đón sẵn, dẫn chúng tôi đàng hoàng đi qua cổng ấp mở toang,mấy bác dân canh còn dặn Mẫn nhớ nhớ ghé lấy cá ngừ kho khô chớ để lâu nó thiu. Tôi mừng khấp khởi. Được một "lõm căn cứ" ngay bên cửa sông thế này, tha hồ ăn dầm năm dề giữa rốn thằng Mỹ! Chị Tám chép miệng:"Mày giàu ngầm quá Mẫn ơi".
Chúng lôi dẫm vỏ chuối cả. Chị S.22 khăng khăng không chịu chuyển sang cho người khác nắm.

Bộ mặt chữ điền sẫm màu bánh mật mỗi lúc một đanh trước ánh đèn cứ để to ngọn. Đôi mắt xếch nhìn tôi,nhìn chị Tám như muốn xách đặt trên bàn cân coi thử nặng bao lăm. Mẫn đã nói chị là du kích hồi đánh Tây,vào tù rất gan, nay thuộc loại "cơ sở đẻ mau" tức là tự mình sâu chuỗi thêm hàng loạt cơ sở mới. Chị nắm gần hết một xóm trong cái ấp chiến lược khá to này,chỉ cho Mẫn biết chị có một tiểu đội du kích bí mật,cho gặp bà S.26 là giao liên của chị,vậy thôi.Tuy Mẫn lấy giọng kính cản nhất để rỉ tai chị về"hai đồng chí cấp trên lãnh đạo vùng ta"chị S.22 vẫn chan chát:

_Con Hai đây tôi biết, công an quận đánh hộc máu mà nó không khai một tiếng làm thuốc.G ặp người vậy thì tôi sống gởi nạc thác gởi xương, chẳng đợi ai thúc,cũng chẳng cần biết đúng hay sai nguyên tắc. Đội Tam-hải đòi quản,tôi sạc rồi đó, các anh nắm xã tôi mà thấp thò tận đâu đâu.tôi không tin! Tù ba năm tám tháng, tra gãy xương sườn,vậy chớ còn ăn được hột cơm la tôi còn theo Cụ Hồ đánh Mỹ, còn nuôi hai đứa nhỏ đợi ảnh tập kết về. Bà con đây biết địch có chẻ óc tôi ra cũng không lấy được một cái tên, họ mời theo. Nói anh chị bỏ qua, chưa biết anh chị có chịu nổi các thứ tàu bay tàu lặn không, hay lại dắt ác ôn đi chỉ từng mặt, khai từng chén cơm họ mời?
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
hoacuc
Thành viên
*
Bài viết: 1597



« Trả lời #69 vào lúc: 30 Tháng Mười Hai, 2007, 09:39:54 pm »

Đâu bảy tám năm trước, chị đào hầm nuôi một anh cán bộ tỉnh, "cá tươi sữa hộp cho ăn mập trắng mập mềm". Sau này anh bi bắt, chịu đòn không nổi, dẫn lính về khui hầm nhà chị. Vào tù, chị để ý xem rất kỹ những ai gan lì, hỏi họ tên quê quán,dò xem về sau họ sống hay chết, bị giam hay được thả. Chị gặp Mẫn và nghe tiếng anh Tư Luân. Vừa ra khỏi nhà giam chị đã đi tìm đầu mối, gần trước xa sau,c uối cùng được Mẫn giao công tác.

Mẫn dỗ dành mãi nói rằng chi Tám và tôi đều qua tù đày cả rồi, đáng bật thầy của Mẫn, chị mới chịu buông lửng một câu:
_Thôi được anh chị cứ lui tới nhà tôi ít lâu coi thử, có sao cũng một mình tôi lãnh đủ...
 
Tôi nghĩ ngay đến một nét củ bà con làng Cá hơi giống chị S.22. Trưa nay anh Tám Liệp thấy vắng càn mới về thăm làng một buổi,mặc ka-ki đeo túi dết,dắt theo cậu Qui lăng xăng.Anh dạo các xóm,ra đồng xem gặt,chào hỏi nhắc gặt mau giấu kỹ,chớ nên quên đào hào vót chông,vân vân.Bà con ngừng tay mời anh bát nước rồi ai lo việc nấy.Bốn năm ông lão tìm chỗ làm kho mật không ra,chạy đến hỏi tôi,tôi khuyên gặp anh Liệp,các ông lắc đầu:"Hỏi rồi làm trái chắ ảnh giận,làm theo thì...ảnh biết cái khỉ khô gì đâu,thôi hắt!"Họ băng đồng đi tìm anh Luân.Mẫn,Nẳm Ri,ai cũng được,trừ anh chủ tịch xã đang ngồi nói tình hìn thế giới ở nhà bên.Cay thật!.

Ra khỏi ấp,Mẫn xấu hổ cứ phân trần mãi cho chị S.22:
_Chỉ bị phản một lần bây giờ chờn miết.Đề em nói chú Luân viết thơ,chỉ phục chú Luân nhứt.Số du kích của chỉ moi túi lấy lưu đạn,khi gài khi ném,hạ được cả chục đứa mà không lộ.Ở xóm này ngó thấy đường ô-tô,thấy sân bay,lợi lắm anh chị đừng bỏ uổng.
_Đới nào!"Trâu đô,rô mề,trê ổ,ai chịu bỏ".Mà tụi tôi vận động mấy cũng nhe còng hơn cô hồi đầu...

Mẫn tròn mắt:
_Không đâu anh.Chỉ gành một gánh ca lên Tam-sa bán,nủa đêm ra chỗ đốt rào ấp tìm em nói gọn trơn:"Tao coi mày cách mạng thứ thiệt,cho mày bốn trăm đây,có công tác gì chia tao phụ với".Ba năm rồi,em mới xuống đây có hai lần,chỉ với bà chị S.26 lên ta hoài,Năm Ri tưởng điệp đôi bắt miết!.

Chúng tôi lại đăm ra giữa trảng rộng, nơi địch ít phục nhất vì chẳng biết phục chỗ nào. Đỡ cái nạn nhất bộ nhất bái,mắt tai bớt căng.Gió thổi thông thốc, tấm dù Mẫn quàng bay xòe dưới trăng, đùa với những nét thân thể Mẫn mà từ lâu tôi đã nhận là rất đẹp. Đi một lát Mẫn cởi tấm dù, xếp nhỏ lại giắt vào thắt lưng cười: "Để vậy thầy Thiêm rầy chết, mục tiêu bằng cái bồ mà lại vẫy cho địch nó thấy!". Chà, nếu tôi dám bảo Mẫn đừng rời đôi cánh nhỉ. Thầy Thiêm nghỉ phép rồi,chỉ còn cậu thợ ảnh đi bên Mẫn thôi, con mắt to bằng ống kính f.2 là ít, rất ham tìm những trò chơi ánh sáng đột ngột củ trăng soi nhiều góc độ...

Cảnh trăng trên cát gợi nhớ những tấm ảnh tôi tập chụp bằng loại phim bắt tia cực đỏ,cây đen và đất trắng xóa trông hệt mùa đông miền cực Bắc.Hồi nào nhỉ,tôi đã biến trưa thành trăng khuya bằng kính xám trung tính ND8...A,nhớ rồi. Đó là lần tôi chụp những cảnh ngoài trời đạt nhất,và sau dó suýt đập máy.
Mộng Nga có hàng chục cô bạn cùng tuổi đều ham cười duyên trước ống kính và trên nóc tủ, đều tin rằng ảnh đẹp là do mình xinh, ảnh xấu tại thằng thợ tồi. Bao giờ tôi cũng chụp họ trong xưởng, bật từ năm đèn trở lên, sau đó còn sửa phim cho họ thành minh tinh màn bạc cả, giống hay không chẳng cần. Chỉ một lần nể lời Duy Hảo nằn nèo mãi, tôi mới cùng đi chơi bãi tắm Mỹ-khê và chụp cho hai anh em hai cuộn phim 6x6,một màu và một đen trắng, mảy Rô-lay thay kính màu liên tiếp. Khi đi thì cự chẳng đã, khi cầm máy tôi bị quỷ ám ngay, có khi mất nửa giờ vè vè chung quanh Mộng Nga mới bấm được một kiểu ưng ý. Nga mặc áo dài hay áo tắm đều ăn ảnh, lại chịu khó vâng lời đạo diễn.Tôi tráng, sửa và phóng rất kỹ, chiếu hôm sau đem dến cho anh em Nga một xấp ảnh 13x18, riêng Nga có 6 ảnh màu có thể lên bìa tạp chí cả. Nga mừng rú, cả nhà xúm lại túm tắc, mẹ Nga không ưa tôi mà vẫn trầm trồ tiếc hồi trẻ chưa có tấm nào đẹp như thế, cô em Nga ghen với chị muốn khóc. Tôi chuồn lặng lẽ, chợt thấy chán ngấy chán lợm, ghét tôi và tơm cái nghề phó nháy. Là bởi khi tôi phóng xong bác thợ già chấm ảnh vô tình kể rằng bãi Mỹ-khê bây giờ chôn hàng trăm"ông bà bên kia", thỉnh thoảng người ta đào được những xác còn dây trói ké, mang vết dao cắt cổ hay rạch bụng. Thì ra suốt một buổi tôi đã dẫm trên thây dồng chí đồng bào, mê mẩn tìm đường nét và màu sắc trên vai, ngực,đùi của một cô gái an không ngồi rồi, chao ôi nhục! Từ đó tôi cạch, không chịu đi chụp ngoài trời cho bất cứ ai, mặc kệ chủ giục và các cô quen chê gàn chê lười.

Bây giờ khác rồi tôi muốn ngắm Mẫn đi ngược gió, tóc mai bay lất phất dưới mũ tai bèo, vai hơi nghiêng phía tay phải kẹp các-bin, thân thon dẻo rướn về phía trước, chợt thèm được ghi một hình ảnh đẹp hiếm có, chưa chắc sau này còn thấy lại. Tấm ảnh chụp Mẫn đêm nay, tôi có thể kẹp trong sổ tay, giữ mãi trong túi ngực, xem đi xem lại đến già mà không gợn chút ân hận nào. Và nếu ai đó bấm hộ cho hai chúng tôi đi bên nhau...

_Gần tới xóm rồi.Đây có mấy gò cát cao,tụi hải thuyền hay lên ngủ nín, coi chừng nghen. Ta đi rải như hồi nãy. hễ chạy lạc thì coi dấu trên cát, trở lại chỗ hộp thơ chị S.22, nhớ chưa Tâm?
Logged

Hãy làm cho từng ngày bạn sống trở nên có ý nghĩa. Hãy nâng niu từng phút giây bạn có.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM