Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Hai, 2020, 10:30:52 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vasily Grossman - Nhà văn nơi chiến trường  (Đọc 46891 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #90 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:29:09 AM »

       Himmler đã đến thăm Treblinka đầu năm 1943 vào thời điểm cuối mùa đông. Hắn kiểm tra khu trại và một người đã nhìn thấy hắn tại đó kể rằng hắn đã tới bên một hố chôn tập thể và nhìn xuống rất lâu mà không nói gì. Viên Tổng chỉ huy (Reichshuhrer) SS bay đi ngay trong ngày bằng máy bay riêng, trước khi đi, Himmler ra một mệnh lệnh cho các chỉ huy trại làm bối rối tất cả mọi người: “Đại úy (Hauptsturmfuhrer) Baron von Perein cùng cấp phó là Korol và trung úy Franz phải ngay lập tức thiêu hủy toàn bộ các xác chết, mang tro than ra khỏi trại và rải trên các cánh đồng và đường xá”. Lúc đó đã có hàng triệu xác chết và nhiệm vụ này có thế nói là quá khó khăn và phức tạp. Nhiệm vụ này cũng có nghĩa là không được chôn người chết nữa mà phải đốt. Tại sao Himmler lại bay tới đây kiểm tra và ra một mệnh lệnh cá nhân rõ ràng như vậy? Chỉ có thể có một lời giải thích: chiến thắng của Hồng quân tại Stalingrad.

      Mới đầu, việc đốt xác không được thuận lợi lắm, những cái xác không chịu cháy. Tuy nhiên người ta nhận ra rằng xác phụ nữ cháy tốt hơn xác đàn ông nên các công nhân - tù nhân thử dùng xác phụ nữ làm mồi để xác đàn ông dễ cháy hơn.Một lượng lớn xăng dầu đã được dùng để đốt xác nhưng như thế quá lãng phí và cũng không có tác dụng tốt lắm. Mọi thứ dường như đi vào ngõ cụt. Nhưng một giải pháp đã sớm được tìm ra, một gã đàn ông mập lùn khoảng 50 tuổi đã tới, đó là một chuyên gia.

       Các lò thiêu bắt đầu được xây dựng dưới sự hướng dẫn của tay chuyên gia. Các lò thiêu này có kiểu dáng đặc biệt. Máy xúc đào một con hào dài 250 - 300m, rộng 20 - 25m và sâu 5m. Các rầm bằng bêtông cốt sắt được đặt dưới đáy thành 3 hàng cách đều nhau, bên trên chúng đặt các thanh thép thành một lớp sàn vắt ngang hố, sau đó chúng lại đặt tiếp các thanh ray lên trên các thanh thép, mỗi thanh ray cách nhau khoảng 5 - 7cm. Đó là một kết cấu khổng lồ tạo nên lò thiêu quái quỷ này.Một tuyến đường ray khổ hẹp mới được xây dựng dẫn từ các hố chôn tập thể tới hố đốt xác.Một hố đốt xác khác cũng được xây dựng ngay sau đó và tiếp theo là cái thứ ba với cùng kích cỡ. Trong mỗi cái lò nướng này có thể đốt được 3.500 - 4.000 xác một lúc.

       Những người đã từng làm việc tại khu đốt xác kể rằng các lò đốt này làm họ liên tưởng tới những ngọn núi lửa. Hơi nóng khủng khiếp làm cháy xém cả mặt các công nhân, ngọn lửa bốc cao tới 8 - 10m, những cột khói dầy đặc có mùi mỡ cháy bay lên trời tạo thành những đám mây nặng nề đứng im phía trên khu trại.

       Vào buổi đêm, dân địa phương tại các làng xung quanh có thể nhìn thấy ngọn lửa từ bất cứ đâu trong khoảng cách 40km. Chúng bốc cao hơn cả những ngọn thông bao bọc khu trại. Mùi thịt người cháy phủ kín khu vực xung quanh. Khi gió thổi về hướng trang trại của người Ba Lan cách đó 3km ai nấy đều cảm thấy như nghẹt thở trước cái mùi ghê rợn đó. Khoảng 800 tù nhân phải làm công việc đốt xác này. Công việc quái đản đó diễn suốt ngày đêm trong tám tháng mà vẫn không thể đốt hết hàng triệu xác chết vì các chuyến tàu vẫn liên tục đổ tới các nạn nhân mới.

       Các chuyến tàu đến từ Bulgaria luôn làm bọn SS và Wachmanner vui sướng một cách quỷ quyệt, các nạn nhân không hề có ý niệm gì về số phận đang chờ đợi họ, mang theo nhiều tài sản có giá trị, nhiều thứ ngon lành trong đó có bánh mì trắng.

      Tiếp sau đó là các chuyến tàu đến từ Grodno và Bialystok, sau nữa là từ các khu Do Thái Warsaw nổi loạn.Một nhóm dân Digan đến từ Bessa-rabia, khoảng 200 đàn ông cùng 800 phụ nữ và trẻ em. Những người Digan đi bộ tới với một dãy xe ngựa kéo theo sau. Đó là những người vốn rất ranh mãnh. Họ tới dưới sự áp giải của chỉ hai lính gác, cả hai hoàn toàn không biết rằng họ đang dẫn những người này tới chỗ chết. Các nhân chứng nói rằng những phụ nữ Digan đã vỗ tay khi nhìn thấy tòa nhà đẹp đẽ, nơi đặt các phòng hơi ngạt, và không hề nghi ngờ gì về số phận đang chờ đợi họ. Bọn Đức đã được một cuộc vui đặc biệt trong vụ đó.

       Phải chịu đựng những nỗi đau khủng khiếp nhất là các nạn nhân đến từ các khu Do Thái. Phụ nữ và trẻ em bị tách khỏi đám đông và đưa thẳng đến lò thiêu thay vì đưa vào phòng hơi ngạt trước. Các bà mẹ trở nên điên loạn khi bị dồn cùng những đứa con vào lò thiêu đang rực cháy, nơi hàng ngàn xác chết cũng đang chìm trong khói lửa. Những xác chết quằn quại, giẫy giụa trong lò lửa như thể chúng đang sống lại vậy, có cả những xác phụ nữ đang mang thai nổ tung bụng vì sức nóng và những hài nhi chưa kịp sinh ra bị thiêu cháy ngay trước ổ bụng vỡ toác của người mẹ. Những cảnh tượng đó có thể làm cả những người mạnh mẽ nhất trở nên hoàn toàn mất trí.

     Quả là rất khó khăn khi đọc câu chuyện này. Xin độc giả hãy tin tôi, viết nó ra cũng khó khăn không kém. Ai đó chắc sẽ hỏi: ? Tại sao phải viết nó ra, nhớ đến nó làm gì?? Đó là trách nhiệm của người viết, phải nói ra sự thật khủng khiếp này, đó cũng là trách nhiệm công dân của người đọc, phải nhớ lấy nó. Tất cả những ai quay lưng bịt mắt với sự thật này là những kẻ lăng mạ vong linh những người đã chết. Tất cả những ai không biết về sự thât này sẽ không bao giờ hiểu được kẻ thù là hạng quỷ dữ nào mà Hồng quân của chúng ta phải chiến đấu để tiêu diệt đến cùng.

      Bọn SS ở Treblinka bắt đầu cảm thấy nhàm chán. Quy trình đưa các nạn nhân vào phòng hơi ngạt đã từng làm chúng hưng phấn nay trở thành việc thường ngày.

      Khi việc đốt xác bắt đầu, bọn SS dành nhiều thời gian bên các lò thiêu, lấy việc xem cảnh tượng mới này làm trò giải trí. Tay chuyên gia đến từ Đức đi lại giữa các lò thiêu từ sáng đến tối, nói rất nhiều và luôn trong trạng thái kích động. Người ta kể rằng chưa từng có ai thấy hắn tỏ ra lo lắng hay thậm chí là nghiêm nghị, nụ cười không bao giờ rời khỏi khuôn mặt hắn. Khi các xác chết rơi xuống các thanh thép, hắn thường nói: ? Đồ ngốc, đồ ngốc.? Đó là câu ưa thích của hắn.

      Thỉnh thoảng bọn SS tổ chức một thứ tương tự như picnic bên các lò thiêu; chúng ngồi bên những tường chắn gió uống rượu, ăn nhậu và ngắm ngọn lửa. Những người ốm yếu cũng bị xử lý tại đây. Một con hào tròn được đào rồi đặt các giàn thiêu dưới đáy, các xác chết bị đốt tại đó. Những chiếc ghế dài thấp và nhỏ đặt quanh hào như thế đó là một sân vận động. Những chiếc ghế này nằm sát bờ hào khiến người ngồi trên đó gần như ngồi ngay trước lò thiêu. Những người ốm yếu già cả được đưa tới, sau đó tên SS  buộc họ ngồi trên những chiếc ghế đó đối diện với ngọn lửa bốc lên từ những thân người. Khi họ đã có vẻ không thể chịu đựng được thêm, những kẻ ăn thịt đồng loại bắn vào những mái đầu hoa râm của họ và đẩy vào lưng họ. Cả người chết lẫn chưa chết hẳn đều rơi vào ngọn lửa.

       Chúng tôi vốn không bao giờ quá quan tâm đến những trò vui thô tục Đức nhưng chắc chắn là hầu như không ai trên hành tinh này có thể tưởng tượng được những trò vui của bọn SS ở Treblinka. Chúng đã tổ chức các cuộc đấu bóng cho các nạn nhân, dàn đồng ca của các nạn nhân, các cuộc khiêu vũ cho các nạn nhân ?

     Thậm chí có cả một bài thánh ca đặc biệt tên là  Treblinka? được chúng viết cho các nạn nhân, nó có lời lẽ như sau:

        Fur uns gibt heute nur Treblinka

         Die unser Schiksal ist ?? (9)


         Những người đang bị thương cũng bị bắt phải học những bài tình ca Đức ngu ngốc chỉ ít phút trước khi họ bị giết:

        Ich bruch das Blumelein

       und schenkte is dem schonste

       geliebste Madelein ?? (10)
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #91 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:32:24 AM »

      Tên chỉ huy trại chọn vài đứa bé từ một trong các chuyến tàu, giết hết bố mẹ chúng, mặc cho chúng những bộ quần áo đẹp nhất, cho chúng rất nhiều kẹo, chơi với chúng, và sau đó ra lệnh giết chúng chỉ vài ngày sau khi hắn đã chán với trò chơi này. Một trong các trò giải trí chính là các cuộc hãm hiếp và hành hạ những cô gái trẻ đẹp vào ban đêm, các cô gái này đã được chọn sẵn từ mỗi chuyến tàu chở nạn nhân. Đến sáng, chính những tên hiếp dâm lại dẫn họ đến phòng hơi ngạt.

     Tất cả các nhân chứng đều nhớ một đặc trưng thường gặp ở bọn SS tại Treblinka: chúng đều yêu thích lý thuyết về xây dựng và triết học. Tất cả chúng đều tự cho phép mình thuyết giảng trước các tù nhân. Chúng khoác lác và giảng giải về ý nghĩa vĩ đại của Treblinka đối với tương lai. Tất cả chúng đều tin tưởng chân thành và sâu sắc về tầm quan trọng và tính đúng đắn trong công việc của chúng.

     Chúng cũng tập luyện thể thao - chúng chăm chút nhiệt tình cho sức khỏe bản thân và sự tiện nghi trong cuộc sống của chúng từng ngày. Chúng làm vườn và trồng hoa xung quanh khu nhà ở dành cho lính. Chúng đi nghỉ phép ở Đức vài lần mỗi năm vì bọn chỉ huy nghĩ rằng công việc của chúng rất không tốt cho sức khỏe và muốn bảo đảm cho bọn chúng. Khi về đến nhà, chúng đi loanh quanh đầu ngẩng cao, đầy tự hào.

      Mùa hè năm 1943 là thời kỳ nóng bất thường tại khu vực này. Trời không mưa, không mây, không gió trong nhiều tuần. Công việc đốt xác được đẩy lên cao độ. Các lò thiêu rực sáng suốt ngày đêm trong sáu tháng nhưng mới chỉ đốt được độ hơn nửa số xác chết. Các tù nhân làm công việc đốt xác có lẽ đã không thể đứng vững trước việc làm trái đạo lý khủng khiếp này nên đã có từ 15 - 20 người tự sát mỗi ngày. Nhiều người trong số họ chọn cái chết như một cách vi phạm quy định có tính toán.

       "Ăn một viên đạn quả là một kết cục xa xỉ", Kosezky, một bác sỹ đã thoát khỏi khu trại nói. Mọi người bảo tôi rằng sống ở Treblinka còn khủng khiếp hơn là chết nhiều lần. Tro than của người chết được chất lên tàu hỏa mang ra khỏi hàng rào trại. Các nông dân làng Wulka bị bọn Đức cưỡng bách phục vụ cho chúng chuyển tro than sang xe ngựa kéo và đem rải dọc con đường dẫn từ khu trại chết chóc này tới khu trại giam giữ người Ba Lan. các tù nhân trẻ em dùng xẻng rải tro thậm chí ngay trên mặt đường.

       Thỉnh thoảng chúng còn tìm thấy một đồng xu hay một chiếc răng vàng. Những đứa trẻ này được gọi là "Lũ trẻ từ con đường đen". Con đường trở nên đen nhẻm vì tro than cứ như được trải nhựa. Bánh xe nghiến lên chúng phát ra tiếng lạo xạo đặc biệt, khi tôi lái xe trên đó tôi đã nghe thấy tiếng lạo xạo thê lương đó, chúng vang nhẹ như một tiếng than ...

       Trong bài hát "Treblinka" mà bọn Đức bắt 800 tù nhân làm công việc đốt xác phải hát trong khi làm việc, có những lời van vỉ của các tù nhân rằng họ sẽ ngoan, hy vọng rằng họ sẽ được thêm " một chút xíu, một chút xíu niềm vui, dù rằng đó chỉ là được nhìn cuộc đời thêm một phút".

       Có một ngày hạnh phúc ở địa ngục Treblinka ... Các tù nhân lập kế hoạch nổi dậy. Họ chẳng có gì để mất, tất cả họ đã bị tuyên án tử. Mỗi ngày họ tồn tại giờ đây là một ngày chịu sự hành hạ, tra tấn. Bọn Đức tất nhiên chẳng bao giờ cám ơn họ, những nhân chứng của một tội ác khủng khiếp. Tất cả họ rồi sẽ có kết cục trong phòng hơi ngạt và sẽ có người khác thay thế. Chỉ vài chục người sống sót ở Treblinka qua vài tuần hay vài tháng, còn lại thì chỉ vài ngày. Đó là những người có chuyên môn - thợ mộc, thợ đục đá, thợ may, thợ cắt tóc. Họ chính là những người lập ra ủy ban nổi dậy. Họ không muốn trốn thoát cho đến khi họ phá hủy được Treblinka.

       Một đợt nóng ngột ngạt đến vào cuối tháng bảy. Khi mở các hố chôn tập thể, hơi bốc lên như thể đó là một nồi nước sôi khổng lồ. Mùi hôi thối khủng khiếp và sức nóng đủ để làm chết người - những tù nhân gày gò vác các xác chết đi thỉnh thoảng cũng rơi luôn vào lò thiêu mà chết. Hàng tỉ con nhặng béo múp vì có quá nhiều thứ để ăn bò lúc nhúc trên mặt đất và bay vù vù trên trời.

      Quyết định khởi nghĩa sẽ bắt đầu vào ngày 2/8. Tín hiệu là một phát súng (11). Những ngọn lửa mới đã bốc lên nhưng lần này không phải là ngọn lửa nhớp nhúa từ những xác chết bị đốt mà là ngọn lửa rực rỡ, hừng hực, hung bạo phát ra từ nòng súng. Các tòa nhà trong trại bị đốt ... Tiếng súng nổ như sấm dậy, súng máy khạc đạn từ các tháp canh bị những người nổi dậy chiếm. Không khí trở nên náo loạn với những tiếng huyên náo và đổ vỡ, tiếng đạn rít át cả tiếng vù vù của lũ nhặng nhơ bẩn. Những tên phát xít nhuốm đầy máu hiện lên trong đám lửa. Vào ngày 2/8, máu của bọn quỷ dữ SS đã đổ xuống mảnh đất địa ngục Treblinka ... Tất cả chúng đều hoảng loạn, quên tiệt mất rằng hệ thống phòng thủ của Treblinka đã được chuẩn bị rất tốt, quên rằng những loạt đạn chết chóc đã được bố trí hướng vào các lối ra, quên cả lấy vũ khí của chính chúng.

      Trong khi Treblinka bốc cháy, những người nổi dậy phá vỡ các hàng rào, mặc niệm nắm tro tàn của các nạn nhân, bọn SS và cảnh sát đổ tới từ khắp nơi để săn lùng họ. Hàng trăm con chó cảnh sát đã được đưa tới sau đó. Máy bay Đức cũng được huy động. Cuộc chiến tiếp tục trong rừng và đầm lầy. Chỉ có rất ít người nổi dậy sống sót, nhưng điều khác biệt mà họ làm được ở đây là gì? Họ đã chiến đấu, với vũ khí trong tay. (12)

       Treblinka ngừng tồn tại sau ngày 2/8. Bọn Đức thôi không đốt những xác chết còn lại, phá hủy luôn tòa nhà bằng đá, dỡ bỏ hàng rào thép gai, đốt các trại lính bằng gỗ còn chưa bị những người nổi dậy đốt. Các thiết bị lắp đặt nên cái nhà máy giết người này bị cho nổ hoặc tháo dỡ chất lên tàu hỏa đem đi. Các máy xúc cũng được cho nổ hoặc đem đi. Vô số hố chôn người tập thể được lấp đất lại, sân ga bị phá hủy cho đến viên gạch cuối cùng, đường ray và tà vẹt cũng bị tháo dỡ hết. Đậu được trồng trên nền cũ của khu trại và Streben,một dân khai hoang, dựng một ngôi nhà nhỏ ở đó. Giờ đây, ngay cả ngôi nhà đó cũng không còn tồn tại, nó cũng bị đốt nốt (13). Bọn Đức có ý định gì khi xóa bỏ hoàn toàn mọi thứ ở đây? Để che đậy tội ác giết người? Nhưng sao lại chỉ những thứ nằm trên mặt đất? Himmler đã không còn quyền lực đối với những kẻ tòng phạm: chúng cúi đầu, những ngón tay chúng run rẩy mân mê tà áo, nghẹn ngào từng tiếng kể lại câu chuyện về tội ác của chúng, những lời kể nghe thật điên loạn, mê sảng, không thể tin được. Một sỹ quan Soviet mang dải băng xanh được tặng thưởng vì chiến công tại Stalingrad viết lại tất cả lời khai của những tên giết người, hết trang này đến trang khác.Một anh lính gác đứng bên cửa ra vào, môi mím chặt. Anh ta cũng có huân chương vì Stalingrad trên ngực và khuôn mặt anh ta cũng tối sầm lại lạnh lùng.

      Chúng tôi đi vào trại và bước trên mảnh đất Treblinka. Những quả đậu nhỏ bé mở tung khi chỉ cần chạm rất nhẹ hoặc thậm chí tự mở khi có rung động nhẹ; hàng triệu hạt đậu rơi đầy mặt đất. Tiếng những hạt đậu rơi xuống đất, tiếng lách tách của những quả đậu vỡ ra pha trộn vào nhau thành một bản nhạc buồn bã nhẹ nhàng, nghe giống như tiếng những chiếc chuông nhỏ dùng trong đám tang ngân lên từ sâu dưới lòng đất, vừa đủ để nghe thấy, thê lương, mênh mang, êm đềm.

     Mặt đất ném ra những khúc xương gãy, răng, quần áo, giấy tờ. Trái đất không muốn giữ những bí mật đó. Các bằng chứng tự trồi lên khỏi mặt đất như những khối ung nhọt tự vỡ ra. Chúng nằm đây, trong tình trạng mục nát là những tấm váy của những nạn nhân đã bị giết, quần áo giầy dép của họ, những hộp xì gà đã phủ rêu xanh, những bánh xe đồng hồ, dao gọt bút chì, bàn cạo râu, giá nến,một chiếc giày trẻ con đính ngù lông đỏ, khăn tắm thêu kiểu Ukraina, đăng ten đồ lót, kéo, đê khâu, áo ngực phụ nữ, những dải băng. Cách đó một chút là hàng đống mảnh bát đĩa rải thành một con đường trên mặt đất.

      Xa hơn nữa - như thể có bàn tay ai đó đã đưa chúng ra ánh sáng từ những hố sâu dưới lòng đất - lòi ra những thứ mà bọn Đức đã cố chôn chặt: hộ chiếu Soviet, những cuốn vở có chữ viết bằng tiếng Bulgaria, ảnh chụp những đứa trẻ từ Warsaw và Vienna, những bức thư trẻ con nguệch ngoạc, một quyển thơ, một câu kinh thánh in trên mảnh giấy ngả vàng, hộp đựng thức ăn kiểu Đức ... Và khắp nơi là hàng trăm chai dầu thơm đủ mầu xanh, hồng, xanh lơ ... một mùi thối rữa khủng khiếp phủ lên mọi thứ, cái mùi không gì có thể xua tan được dù là lửa, mặt trời, mưa, gió hay tuyết. Hàng trăm đám ruồi nhặng bò lổm ngổm trên những thứ đã thối rữa một nửa đó, kể cả giấy tờ và các bức ảnh.

      Chúng tôi bước loạng choạng hết chỗ này qua chỗ khác trên địa ngục không đáy Treblinka, và rồi đột nhiên dừng lại.Một mớ tóc vàng gợn sóng, sáng màu và đẹp, rực rỡ như đồng thau bị dẫm đạp trên mặt đất, cạnh đó là một lọn tóc vàng nữa, tiếp đó lại có những bím tóc đen dày và nặng hiện lên trên mặt cát, và nữa ... và nữa ... Dường như chúng là những thứ đựng trong một - chỉ một túi đựng tóc - đã từng được đưa đi. Tất cả đều là thật. Rốt cuộc thì hy vọng rồ dại rằng tất cả mọi thứ chỉ là một giấc mơ đã tiêu tan. Những quả đậu vẫn vỡ lách tách, lách tách, những hạt đậu rơi xuống như tiếng chuông nguyện hồn ngân lên từ sâu trong lòng đất. Và ai nấy đều cảm thấy nếu như tim mình có thể ngừng đập ngay bây giờ mới có thể cảm nhận được từng lời than, từng nỗi thống khổ mà loài người có lẽ không bao giờ có lại.

       Không có gì ngạc nhiên là Grossman đã rất khó đứng vững trước những gì bản thân ông tìm thấy. Ông đã sụp đổ vì căng thẳng thần kinh, stress và kinh tởm trong chuyến trở về Moscow vào tháng tám. Ehrenburg đã phải qua nhà báo Pháp Jean Cathala nhờ ông chuyển chi tiết những gì phát lộ khi giải phóng Majdanek và Treblinka. Grossman có lẽ đã quá phát ốm để có thể rời khỏi giường mà gặp mọi người.

                       ……………………………………………..

      (1)Treblinka là một địa điểm nhỏ nằm cách thị trấn Ostrow Mazowiec-ka 25km về phía đông bắc, thị trấn này nằm ở tây bắc Warsaw trên con đường tới Bialystok. Trại nằm cách sông Bug khoảng 6km. Hai trại Aktion - Reinhard khác là Sobibor và Belzec.

      (2) Ở đây Grossman vẫn đang nói về Treblinka I. Viên sĩ quan chỉ huy đầu tiên của Treblinka II là Obersturmfuhrer (cấp bậc trong các lực lượng bán vũ trang phát xít như SS, SA, Gestapo ... thấp hơn đại đội trưởng nhưng cao hơn trung đội trưởng, đôi khi được dùng để chỉ trung đội trưởng SS Waffen) Imfried Eberl, đến tháng 8/1942 Obersturmfuhrer Franz Stangl thay thế, chỉ huy phó là Kurt Franz

      (3)Grossman, trên cơ sở những ước lượng của ông về số lượng các đoàn tàu và sức chở của chúng mà ông nghe được, đã tính rằng có khoảng 3 triệu người đã bị giết tại đây. Nghiên cứu sau này đã cho ra con số từ 750.000 đến 880.000 nạn nhân. Lý do con số ước lượng của Grossman quá lớn so với thực tế rất đơn giản: Ông đã đúng về số lượng toa là 60 cho mỗi đoàn tàu nhưng có vẻ đã không phát hiện ra chiều dài nhà ga trong trại quá ngắn cho chúng. Các đoàn tàu đã phải dừng ở vài chỗ để cắt lại một số toa và mỗi lần chỉ có một phần đi vào ga. Tức là không phải có năm đoàn tàu với 60 toa đến trại mỗi ngày mà thường mỗi đoàn tàu đều được chia làm năm phần.

       (4)Theo ước tính của Trung tâm Simon Wiesenthal có khoảng 876.000 người đã bị giết tại Treblinka. Con số này bao gồm 738.000 người Do Thái từ Generalgouvernement (phần đất Ba Lan bị Đức chiếm từ tháng 9/1939, đến tháng 8/1941 mở rộng ra toàn Ba Lan), trước hết là từ các khu người Do Thái ở Warsaw; 107.000 người từ Bialystok; 29.000 người Do Thái từ các nơi khác của châu Âu; và 2.000 người Digan.

      (5)Phần lớn các báo cáo cho rằng công việc tại Treblinka được tiến hành bởi khoảng 25 tên SS và 100 lính gác Wachmanner người Ukraina, tuy vậy một số báo cáo khác như bản báo cáo này của Grossman có lẽ đã tính luôn số lính gác trên tàu hỏa không thuộc biên chế trại Treblinka. Grossman có lẽ đã không phát hiện ra sự thật rằng lính Wachmanner đều là người Ukraina, vì vậy ông gọi là "lính SS" và "cảnh sát". Các công nhân được chọn từ các tù nhân Do Thái đến từ trước chỉ được sống thêm vài tuần rồi cũng bị giết nốt.

      (6)Achtung!: Chú ý! (tiếng Đức)

      (7)Cấp hạ sĩ quan SS tương tự như thượng sĩ.

     (8)Untersturmfuher là cấp sĩ quan SS tương đương trung úy trong quân đội. Kurt thực tế là phó của Stangl.

     (9)Chỗ dành cho chúng tôi giờ đây chỉ là Treblinka
         Đó là số phận của chúng tôi ??

     (10) Tôi hái một bông hoa nhỏ
        và trao nó cho người đáng yêu nhất
        người con gái được yêu thích nhất ??

     (11)Người tổ chức chính của cuộc nổi dậy là Zelo Bloch, một trung úy người Do Thái trong quân đội Czech. Cuộc nổi dậy đã phải bắt đầu sớm vì một tên lính gác SS đã nghi ngờ. Hắn đã bị bắn nhưng việc này làm cuộc nổi dậy bắt đầu khi chưa kịp chuyển phần lớn số vũ khí ra khỏi kho vũ khí mà những người nổi dậy đã chiếm được bằng cách đánh một chìa khóa phụ.

     (12)Có khoảng 750 tù nhân đã thoát khỏi những vòng rào thép gai nhưng chỉ có 70 người sống được tới ngày nhìn thấy tự do một) năm sau đó.

     (13)Gia đình Streben đã làm khu vực này trông giống như 1 trang trại của người Ukraina.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #92 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 05:42:13 PM »

                                                                                      PHẦN NĂM


                                                               GIỮA ĐỐNG ĐỔ NÁT CỦA CHẾ ĐỘ QUỐC XÃ-1945


                                                           ==============================



                                                                   HAI MƯƠI NHĂM - WARSAW VÀ LODZ


       Sau cuộc tổng tấn công mùa hè năm 1944 buộc Wehrmacht rút từ Beresina về Vistula, Hồng quân cần một chút thời gian để bổ sung nhân lực và trang bị. Cuối tháng bảy, khi Phương diện quân Belorussia 1 của Rokossovsky đến được ngoại ô phía đông Warsaw, các trạm phát thanh Soviet đã loan báo về cuộc khởi nghĩa của người Ba Lan trong vùng Đức chiếm đóng. Nhưng Stalin không có ý định tới giúp đỡ họ hay thậm chí là để cho Đồng minh tiếp viện cho họ bằng đường không. Lý do là vì cuộc khởi nghĩa này do Armia Krajowa (Quân đội Quốc gia) tổ chức và chỉ huy - đây là lực lượng trung thành với chính phủ lưu vong tại London chứ không phải Uỷ Ban Giải Phóng Quốc gia, tổ chức Cộng sản bù nhìn được thành lập tại Lublin. Cuộc khởi nghĩa Warsaw anh hùng và bất hạnh đã chỉ diễn ra từ ngày 1/8 đến ngày 2/10 là bị dập tắt. Không hề có một dòng ghi chép nào của Grossman đề cập đến sự kiện này, điều đó cho thấy nhà cầm quyền Soviet đã hoàn toàn ỉm đi tin tức về nó. Sau khi quân Đức nghiền nát cuộc nổi dậy, chúng đã phá huỷ một cách có hệ thống một phần thành phố như sau này Grossman mô tả.

       Để chuẩn bị cho đợt tấn công tiếp theo sẽ bắt đầu vào tháng 10/1944, Stavka lập kế hoạch tiến hành đồng thời ba cuộc tấn công với bốn triệu quân. Tháng 1/1945, hai phương diện quân Soviet đánh vào Đông Phổ từ hướng nam và hướng đông, trong khi đó Nguyên soái Zhukov giờ đây nắm quyền chỉ huy Phương diện quân Belorussia 1 và Nguyên soái Konev chỉ huy Phương diện quân Ukraina 1 tấn công tây Ba Lan và Silesia từ các đầu cầu qua sông Vistula ở phía nam Warsaw. Khó khăn trong việc tiếp tế đạn dược và đồ hậu cần cho một chiến dịch quá lớn như vậy lại càng gặp nhiều trở ngại do chính sách đốt sạch, phá sạch của người Đức, trong đó có cả việc phá hoại hệ thống đường tàu hoả Soviet trên đường chúng rút lui. Grossman rời Moscow vào trung tuần tháng 1/1945 để đi theo Phương diện quân Belorussia 1, xe của ông dừng tại Kaluga, cách Moscow chừng 250km về phía tây nam.

       Một cụ già Kaluga suy đoán hợp lý và thành thạo như mọi nhà quan sát nói khi đóng nắp thùng xăng đằng sau chiếc jeep của chúng tôi: "Ra thế, các anh đang tới Warsaw. Chiến tranh giờ đã chuyển tới đó, đã từng có một mùa đông tôi phải mở bồn để cho dầu chảy xuống rãnh, đó là lúc trước khi bọn Đức tới Kaluga. Mười năm nữa lũ nhóc sẽ học về điều đó ở trường rồi hỏi tôi: "Thật hả Dedka (ông nội), bọn Đức đã tới Kaluga àh?"

      Chiến dịch Bagration mùa hè vừa qua đã cực kỳ thành công, nhưng chiến dịch mới này đã nhanh chóng cho thấy đây mới là cuộc tiến công nhanh nhất của Hồng quân. Zhukov và Konev bị Stalin thúc giục đã chỉ còn tập trung vào tốc độ tiến quân, chọc thủng các phòng tuyến và làm quân đội Đức hoàn toàn mất phương hướng. Họ lại được sự giúp đỡ to lớn nhờ tính cố chấp của Hitler, hắn đòi hỏi mọi mệnh lệnh phải được chính hắn kiểm tra trước khiến cho các chỉ huy tại chiến trường không còn một chút tự do trong hành động, và đến khi họ nhận được quyết định từ Berlin thì tình hình tại chỗ đã thay đổi trên mọi phương diện.

      Grossman, chưa bao giờ quên những thất bại khủng khiếp và nhục nhã năm 1941, đã rất được các chỉ huy tối cao Hồng quân ưa thích. Từ một người say mê các tay bắn tỉa Stalingrad, ông giờ đã chuyển sang một kiểu anh hùng mới - lính tăng, những người đã mạo hiểm xông vào tận hậu phương quân Đức, khiến quân thù không bao giờ có cơ hội để tái tập hợp lực lượng.

      Lính tăng, một số vốn là lính kỵ binh, nhưng lính tăng đồng thời cũng là pháo thủ và thợ cơ khí. Họ thừa hưởng tính táo bạo của kỵ binh và văn hoá của pháo binh. Trình độ cơ khí của họ thậm chí còn cao hơn cả cánh pháo binh. Nếu bạn muốn kiếm một chỉ huy tiền phương vừa là chuyên gia về tăng vừa là chuyên gia về pháo, bạn chỉ việc kiếm một lính tăng tuyến đầu, anh ta đã được trui rèn để trở thành một chỉ huy cho mọi loại binh chủng.

      Vấn đề chính, đặc biệt là đối với các đơn vị mũi nhọn tiến quá xa các đơn vị hậu cần và kỹ thuật, là phụ tùng thay thế để kịp thời sửa chữa cho những chiếc xe tăng đang hành tiến. Những chiếc ô tô thường xuyên bị làm thịt để phục vụ cho mục đích này.

      Cuộc tấn công của Phương diện quân Belorussia 1 bắt đầu ngày 14/1/1945 từ hai đầu cầu Magnuszew và Pulawy. Tuyến phòng thủ của quân Đức bị các tập đoàn quân 5 Xung kích và 8 Cận vệ chọc thủng, Tập đoàn quân 8 Cận vệ chính là Tập đoàn quân 62 tại Stalingrad trước đây, chỉ huy vẫn là tướng Chuikov. Mục tiêu chính là vượt sông Pilica, một nhánh của sông Vistula, để làm bàn đạp cho các tập đoàn quân xe tăng cận vệ 1 và 2 chọc thủng tuyến phòng ngự và đột phá vào hậu tuyến quân Đức. Đại tá Gusakovsky,hai lần Anh hùng Liên Xô, người mà Grossman biết rất rõ, đã không đợi có cầu để chuyển trang thiết bị qua sông. Sau này ông kể với Grossman ông đã lệnh cho những chiếc xe tăng của mình phá vỡ mặt băng bằng đạn pháo rồi bò đáy qua sông như thế nào. Đó quả là một cơn ác mộng với cánh lái tăng.

       "Vượt sông Pilica. Chúng tôi bắn vỡ mặt băng và bò đáy qua sông, nhờ đó tiết kiệm được hai đến ba giờ. Đám băng vỡ to những quả núi trôi trước mũi xe tăng và đập vào vỏ phát ra những tiếng động khủng khiếp. Khi những chiếc tăng còn đang bò dưới đáy sông gồ ghề, lính bộ binh Đức trang bị những khẩu Panzerfaust (1) là thứ đáng sợ nhất ...

      Chúng tôi tiến cực kỳ nhanh; có những ngày đi được 115 - 120km trong 24h. Xe tăng quân ta tiến về Berlin còn nhanh hơn cả tàu hoả.

     Cánh phải của họ là Lữ đoàn tăng 47 Cận vệ, được tăng cường quân của một số binh chủng khác, đã tiến thẳng tới chiếm sân bay ở nam Sochaczew, một  vị trí then chốt ở tây Warsaw. Các trung đoàn không quân Soviet đã thiết lập căn cứ mới tại đây chỉ trong vòng có 24h. Những điểm đặc sắc trong cuộc tiến công của quân ta. Các chiến sĩ xe tăng chiếm được những sân bay của bọn Đức, điều đó cho phép không quân ta có điều kiện hỗ trợ các đơn vị cơ động.Một  bước phát triển mới nữa là phối hợp bộ binh với pháo tự hành. Cánh bộ binh ngày càng yêu mến những cỗ pháo tự hành, chúng khiến họ không còn cảm thấy trần trụi.                                             
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #93 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 05:49:12 PM »

        Ngay khi Phương diện quân Belorussia 1 tấn công từ các đầu cầu, Tập đoàn quân 47 bố trí tại cánh phải đã tiến vòng qua Warsaw, trong khi đó Tập đoàn quân Ba Lan 1 dưới quyền chỉ huy của quân đội Soviet đã tiến vào ngoại ô thành phố. Chỉ huy quân Đức trong thành phố chỉ còn trong tay có bốn tiểu đoàn được trang bị rất không phù hợp với việc phòng thủ nên đã quyết định di tản thủ đô Ba Lan. Hitler nộ khí xung thiên vì quyết định này và ra lệnh cho Gestapo thẩm vấn toàn bộ các sĩ quan có liên quan, kể cả tướng Guderian tham mưu trưởng OKH trực tiếp điều phối các hoạt động trên Mặt trận phía Đông.

      Quân Soviet tiến vào thành phố đã gần như bị phá huỷ hoàn toàn và không còn dân cư. Từ một thành phố có dân số 1.310.000 người trước chiến tranh, nay chỉ còn 162.000 dân còn ở lại.Một sĩ quan đã tả lại thành phố chỉ hơn "Một  đống đổ nát và tro tàn phủ tuyết" chút xíu. Grossman là một trong những phóng viên đầu tiên vào thành phố, không có gì đáng ngạc nhiên, nơi đầu tiên ông muốn tới thăm là khu tập trung người Do Thái (ghetto) tại Warsaw.

      Ngày 15/10/1941, bọn Nazi đã làm hàng rào vây kín khu ghetto và dùng nó làm trại tập trung dân Do Thái Ba Lan và các nước khác. Có những thời điểm có tới 380.000 người Do Thái đã bị giam giữ tại đây trước khi bị đưa đến chỗ chết. Phần lớn họ bị chuyển từ ga Umschlag-platz nằm ở góc đông bắc ghetto tới Treblinka. Vào ngày 19/4/1943, khi trong ghetto chỉ còn lại 40.000 người Do thái, một bộ phận nhỏ trong số họ đã nổi dậy chỉ với một ít vũ khí mà những người Ba Lan bên ngoài tuồn vào theo đường cống ngầm. Cuộc nổi dậy đã bị nghiền nát không thương tiếc. Tuy vậy điều đáng ngạc nhiên là những người nổi dậy đã chiến đấu chống các đơn vị SS trong suốt gần hai tháng.

      Đối với Grossman, tới Warsaw rõ ràng là một khoảnh khắc xúc động, điều này được ông ghi lại trước hết trong sổ, sau đó là trong một bài viết trên tờ Krasnaya Zvezda.

      Warsaw! Lời đầu tiên tôi nghe được tại Warsaw là khi đang trèo qua một cây cầu gẫy, một người lính lộn trái túi ra và nói với tôi: "Xem đây, tôi chỉ còn mỗi mẩu bánh mì khô này."

      Ortenberg mô tả chuyến đi tới Warsaw của Grossman hơi khác. Sông Vistula không hoàn toàn đóng băng, chỉ có những tảng băng trôi trên mặt nước. Grossman bỏ xe lại ở Praga, ngoại ô Warsaw nằm trên bờ đông sông Vistula và tìm cách vượt qua khúc sông nằm giữa hai mố còn lại của cây cầu Poniatowsky. Ạnh ta tới được khối bê tông ở đỉnh trụ cầu, hai người lính trung niên hạ một cái thang cứu hoả để Grossman trèo sang từ trên trụ cầu cao 8m, vẫn còn thiếu 2m nữa mới tới mặt băng, hai người lính buộc dây vào đầu thang để hạ nó xuống thêm. Grossman trèo qua bằng thứ dụng cụ tự tạo nguy hiểm lúc lắc trong gió liên tục đó, cám ơn hai người lính đã giúp mình rồi đi bộ vào thành phố.

       "Đây là lần đầu tiên trong đời," cậu ta nói, "tôi phải dùng một cái thang cứu hoả để vào một thành phố." Grossman và nhiều phóng viên khác, những người vốn là dân thường trước chiến tranh, đã thay đổi như lời nhận xét của Ilya Ehrenburg. "Cái cách mà con người ta thay đổi khi đến với mặt trận mới kỳ diệu làm sao! Thời bình không ai có thể nhầm lẫn giữa Grossman và một người lính, nhưng tại mặt trận anh ta tạo ấn tượng giống như một vị trung đoàn trưởng nào đó."

      Trèo dọc theo những tấm dầm thép cong vẹo của cây cầu đã bị đánh mìn, chúng tôi tới được trụ cầu xây bằng đá cao nằm trên bờ trái Vistula. Người lính gác già đứng bên đống lửa nhỏ. Ông nói với người lính tiểu liên đứng gần đó bằng giọng rất thật thà: "Xem này, người anh em, thật tốt là tôi vừa tìm thấy một mẩu bánh mì khô trong túi." Đó là những lời đầu tiên tôi nghe được tại Warsaw. Sau đó tôi được biết người lính già khoác áo choàng xám tả tơi này là một trong những người đã bảo vệ Moscow trong cái năm khủng khiếp đó (1941) và đã vượt qua 12.000km để tham gia vào nhiệm vụ vĩ đại này: chiến đấu để giải phóng.

      Khi chúng tôi đến nơi, thành phố mới giải phóng Warsaw trông thật hùng vĩ và buồn, thậm chí có vẻ thảm thương. Phố xá đầy những đống gạch vụn. Những quảng trường rộng và các đại lộ dẫn thẳng tới trung tâm thành phố nằm giữa một mạng lưới các con phố nhỏ rắc rối, khúc khuỷu. Nó nhắc tôi nhớ tới những con đường mòn mà những người thợ săn vạch ra trong những cánh rừng rậm rạp hay trên những rặng núi. Những cư dân địa phương giờ đang dần trở về Warsaw phải trèo qua những đống gạch vụn; chỉ có rất ít phố mà ô tô hay xe ngựa kéo có thể đến được.

        Một đám người cả già lẫn trẻ đầu đội mũ, mình khoác áo choàng hoặc áo mưa rách tả tơi đang đi bộ hay kéo những cái xe nhỏ chất đầy hòm xiểng. Các cô gái trẻ vừa đi vừa hà hơi vào những ngón tay lạnh giá, nhìn những đống đổ nát bằng con mắt buồn thảm. Họ là một đám đông tới hàng trăm, hàng nghìn người.

        Vladislava và Sofia Kobus là hai cô gái người Ba Lan đã từng sống trong hầm với những người Do Thái - những người Do Thái này đã trốn xuống đất, sống hàng năm trời dưới hệ thống cống ngầm Warsaw và trong những căn hầm. Họ là Yakov Manzhitsky, công nhân nhà máy bít tất Lodz và người em trai Aron, Isai Davidovic Ragozhek, kế toán viên, Abram Klinker, một người bầm dập tả tơi làm công việc thiêu xác tại sở chỉ huy Gestapo Warsaw, anh ta vốn là thợ giày. Tôi đến gần những con người đó giữa phố xá vắng lặng, mặt họ trắng bệch như tờ giấy, hình dáng họ gây shock cho bất cứ ai nhìn thấy. Người thợ làm bít tất nhỏ thó đã mang từ khu ghetto về cái hố nơi anh ta trốn cả một xô đầy tro xương người Do Thái, anh ta đã lấy số tro này từ sân nhà thờ Do Thái trong ghetto. Anh ta sẽ đi bộ tới Lodz ngày mai, mang theo xô tro.

       Ghetto Warsaw.Một bức tường cao gấp rưỡi thân người xây bằng hai hàng gạch đỏ, đỉnh tường bằng xi măng gắn mảnh chai. Những viên gạch được đặt rất ngay hàng thẳng lối, bàn tay nào đã làm ra nó?

       Trong ghetto: đó là cả một biển những đá và gạch vụn, không còn một bức tường nào nguyên vẹn - hãn hữu lắm mới tìm thấy một viên gạch còn nguyên. Sự tức giận của lũ quái vật thật là khủng khiếp.

      Cuộc gặp gỡ với những người trốn dưới hầm nhà 95z phố Zhelyaz-naya. Họ đã bị biến thành chuột cống hay khỉ. Câu chuyện về hai người Do Thái đến từ Lodz đã chạm trán nhau trong bóng tối của căn bếp một căn nhà đổ, nơi chuột và người Do Thái tìm tới uống nước mỗi đêm. Klinker kêu lên khi nghe thấy tiếng động: "Tôi là người Do Thái, nếu anh là một người nổi dậy thì xin hãy cho tôi theo." Tiếng trả lời vọng ra từ bóng tối: "Tôi cũng là người Do Thái." Họ nhận ra cả hai đều đến từ Lodz, họ lần tìm nhau trong bóng tối và ôm chầm lấy nhau.

      Nơi họ lẩn trốn nằm ngay giữa Sở sen đầm và Gestapo, trên tầng bốn một ngôi nhà đã bị phá huỷ một nửa. Một  cô gái tóc quăn người Ba Lan che chở cho họ. Bố cô gái khi biết đã chỉ đòi họ trả một zloty để mua rượu, "nếu không tôi sẽ tố cáo các anh." Anh chàng Abram Klinker đã định tặng tôi thứ tài sản duy nhất còn lại - một cây bút máy.Grossman kể lại trong một bài báo trên tờ Krasnaya Zvezda câu chuyện về cái "boongke" giấu mình trong tầng bốn của một ngôi nhà đổ.

      Chúng tôi tới thăm "boongke" - nơi lẩn trốn bí mật của sáu người Ba Lan và bốn người Do Thái trong nhiều tháng. Trí tưởng tượng phong phú nhất của con người cũng không thể nghĩ ra một cái hốc đá nằm trên tầng bốn của một ngôi nhà đổ lại chính là nó. Để tới được đây, người ta phải trèo lên những bức tường dốc đứng của một cầu thang sụp, leo qua một vực thẳm nhờ một cái xà nhà vốn là một phần của sàn nhà, và trườn qua một con rãnh hẹp tối đen nằm trong một nhà kho. Chúng tôi được một cô gái Ba Lan dẫn đường, cô đã từng sống ở đây. Cô ta bình thản đi trên chiếc xà nhà, và tôi phải thú thực rằng mặc dù tôi đã trải qua ba năm rưỡi trên mặt trận, tim tôi thỉnh thoảng vẫn đông cứng lại trong chuyến du hành này, mồ hôi vã ra và mọi thứ trở nên đen tối trong mắt tôi. Vậy mà những người sống trong "boongke" đã từng chỉ dám di chuyển trong bóng tối, trong những đêm không trăng. Ghetto. Ai mà tưởng tượng nổi những toà nhà ở đây đã từng cao đến thế nào nếu chỉ nhìn vào những đống gạch vụn khổng lồ này. Giữa biển gạch vụn là hai nhà thờ công giáo Ba Lan (2).Một  cái đầu phụ nữ được tạc bằng đá nằm lẫn trong đống gạch vụn đỏ. Những khu phố thảm hại như một khu rừng hoang dại làm bằng các tàn tích xây dựng. Toà giáo đường Do Thái trông tối tăm và xám xịt. Trong sân trong là những tay vịn lan can bằng gỗ đỏ cháy thành than, chúng từng được dùng để đốt xác những người nổi dậy tại khu ghetto Warsaw này.Một  đống tro ở góc sân - tro của những người Do Thái (3). Những cái bình, những mảnh quần áo, một chiếc giầy phụ nữ, một cuốn sách kinh Do Thái rách nát nằm lăn lóc.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #94 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 05:52:41 PM »

      Cuộc kháng cự tại khu định cư Do Thái bắt đầu ngày 19/4 và kết thúc vào ngày 24/5, người đứng đầu cuộc nổi dậy là Chernyakov đã tự sát ngày 23/7/1942. Các thành viên Hội đồng người Do Thái trong ghetto - Gustav Tselikovsky, , Sherishevsky, Alfred Stegman, Maximilian Lichtenbaum - đều bị bắn vào đầu tháng năm.Trong cuộc nổi dậy tại ghetto Warsaw, Shmul Zigelbaum (thường gọi là Đồng chí Arthur) sống tại London cũng đã tự sát để tạo sự chú ý của dư luận thế giới đối với tấn thảm kịch của người Do Thái (4).

      Từ Warsaw, Grossman tiếp tục đi theo làn sóng thắng lợi của Hồng quân tới thành phố Lodz, nơi bọn phát xít từng sử dụng khu ghetto tại đây làm trại tập trung. Lodz được Tập đoàn quân 8 Cận vệ của Chuikov giải phóng ngày 18/1, chỉ bốn ngày sau khi cuộc tấn công bắt đầu. Bước tiến thần tốc của quân đội Soviet đã không cho phép nhà cầm quyền Đức có đủ thời gian phá huỷ thành phố.

       Có tới 500 nhà máy to nhỏ tại Lodz. Các giám đốc và ông chủ đã chạy mất nên lúc này chúng do các công nhân quản lý. Nhà máy điện, xe điện, tàu hoả đều đang làm việc hết công suất.Một  cụ già lái tàu hoả chạy điện nói: "Tôi đã lái tàu 50 năm, tôi sẽ là người đầu tiên lái tàu đến Berlin."

       Sở chỉ huy Gestapo: toà nhà vẫn nguyên vẹn, mọi thứ đâu vẫn ở đấy. Ảnh các lãnh tụ Đảng Công nhân Xã hội Quốc gia Đức bị vứt xuống đất, những đứa trẻ dận ủng nỉ đang nhảy nhót trên mặt Goering và Hitler.

       Các nhà máy sản xuất đạn dược: có tất cả ba cái,hai đã bị không quân Anh phá huỷ, cái thứ ba tại Lodz đang được chúng tôi nghiên cứu hôm nay - hai tổ hợp khổng lồ để sản xuất ngư lôi. Nó được xây dựng từ năm 1944 nhưng chưa bao giờ sản xuất được hết công suất. Có những con hào nhỏ trong sân đào song song các phân xưởng. Những chiếc bàn trong căng tin, vài chiếc trên ghi dòng chữ: "Dành riêng cho người Đức." Một  công nhân Ba Lan nói: "Trong khi tôi làm được tám quả (ngư lôi), một người Đức có thể làm 45 quả." Ngày làm việc kéo dài 12 tiếng. Có hai bếp ăn trong căng tin - một cho người Đức và một cho người Ba Lan, có hai loại vé ăn - Đức và Ba Lan.Một  bích chương to tướng bằng tiếng Đức treo trong mỗi phân xưởng ghi: "Bạn chẳng là gì cả, đất nước mới là tất cả."

       Trừng phạt: khi một công nhân đi làm muộn, đánh rơi dụng cụ hoặc tỏ ra lười biếng, đốc công sẽ cho họ ăn bạt tai và tống vào xà lim phạt nằm dưới hầm các phân xưởng.

       Lodz đã bị đổi tên thành Litzmannstadt để tưởng nhớ một viên tướng Đức (5). Chúng tôi, bốn người Do Thái, giới thiệu về nước Nga cho gia đình một viên tướng Nga đã quá cố tên là Shepetovsky. Con gái viên tướng tên là Irena không biết một chút tiếng Nga nào, bà chỉ nói được tiếng Đức và tiếng Ba Lan. Gekhtman hát những bài dân ca vùng Volga cho bà nghe bằng giọng run run rất diễn cảm.

      Tại ghetto Lodz. Bài hát của ghetto là: "Đừng nên buồn khóc, ngày mai mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn, mặt trời cũng sẽ mọc."

      Khu ghetto được thiết lập ngày 1/5/1940. Mỗi tuần tại đây có ba ngày đẫm máu - thứ tư, thứ năm và thứ sáu. Trong ba ngày này bọn Đức Volkdeutsche (6) giết hại người Do Thái ngay trong nhà họ.

     Mới đầu trong khu ghetto có 165.000 người Do Thái Lodz, 18.000 người Do Thái đến từ Luxembourg, Áo, Đức và Tiệp Khắc, 15.000 người Do Thái Ba Lan đến từ các khu định cư Do Thái khác - thí dụ như Kamish và một vài nơi nữa - và 15.000 người đến từ Chenstohova. Số lượng người Do Thái trong ghetto vào thời điểm đông nhất là 250.000 người. Nạn đói xảy ra, có khoảng 150 người chết mỗi ngày, bọn Đức lấy làm không vui vì tỷ lệ chết quá thấp này. (7)

    Trong đợt Aktion đầu tiên vào tháng 12/1942, 25.000 thanh niên nam nữ khoẻ mạnh đã bị đem đi, giả như đi làm việc nhưng thực ra họ bị giết sạch. Đợt Kinder - Aktion đầu tiên thì đã diễn ra từ tháng 9 cùng năm, tất cả trẻ em từ mới lọt lòng cho đến 14 tuổi cùng với người già, người bệnh tật đều bị giết (tổng số là 17.000 người). Những chiếc xe tải chở đám trẻ đi và 2h sau đã thấy quay lại để nhận chuyến hàng mới. Bọn giết người đã làm việc một cách có hệ thống, lấy mỗi lần 800 - 1.000 người để "đi làm" và giết họ. Đến ngày 1/1/1944 chỉ còn 74.000 người còn lại trong ghetto,một  tay lái buôn trà tên là Hans Biebow là chỉ huy ghetto.

       Trước khi xoá sổ khu ghetto (Cool, Oberburgermeister (thị trưởng) Bratvich và Hans Biebow loan báo rằng để bảo vệ những người Do Thái tại Lodz đã làm việc cho đất nước suốt bốn năm qua, Lãnh tụ đã quyết định sơ tán họ về tuyến sau. Không một người Do Thái nào tập trung tại ga xe lửa. Biebow phải kêu gọi tập hợp một lần nữa và cho bắt nhiều người Do Thái đến nhưng rồi lại cho họ về, nói rằng hắn tin vào lòng thành của họ. Sau đó họ lại bị bắt đem đi bằng vũ lực, 2.000 - 3.000 người/ngày. Những giấy tờ tìm thấy trong các toa hàng trống cho biết họ bị đưa tới Maslovitsy (9) và Oswencim (Auschwitz). Sau khi ghetto Lodz bị xoá sổ hoàn toàn, vẫn còn 850 người sót lại. Mũi thọc sâu của xe tăng ta đã cứu được họ.

      Tổ chức tại ghetto Lodz. Nó có tiền riêng, bưu điện và tem thư riêng, trường học, nhà hát, xưởng in và 40 nhà máy may mặc, nhiều nhà máy nhỏ khác, vài viện điều dưỡng, một thư viện ảnh, một viện sử học, vài bệnh viện và trung tâm cấp cứu, nông trại, đồng ruộng, vườn rau, 100 con ngựa. Nó còn có cả huân huy chương riêng để thưởng cho những người lao động. Chaim Rumkowsky, giám đốc ghetto, một người Do Thái có học thức, là người nắm được các số liệu (10).

      Rumkowsky tự tuyên bố mình là Giáo trưởng Do Thái, đầu đội chiếc khăn cầu nguyện rất xịn, lão chỉ đạo mọi hoạt động từ trong giáo đường, ra các giấy chứng nhận kết hôn và li hôn, trừng phạt những người bồ bịch lăng nhăng. Lão cưới một nữ luật sư trẻ (11) khi đã 70 tuổi và có nhiều bồ bịch là các nữ sinh (12). Những bài thánh ca được soạn để ca tụng lão. Lão tự tuyên bố mình là người lãnh đạo và vị cứu tinh của người Do Thái. Lão là trợ thủ đắc lực của Gestapo.

      Trong những lúc giận dữ, Rumkowsky thường đánh người bằng gậy hoặc cho họ ăn bạt tai. Trước chiến tranh lão ta là một nhà buôn thất bại và phá sản. Câu chuyện về cái chết của lão: khi người em trai cũng bị tống lên tàu hoả, Rumkowsky vẫn còn ảo tưởng về quyền lực của mình đã tuyên bố với đám Gestapo là nếu không thả tự do cho ông em thì chính lão sẽ lên tàu theo. Thế là lão bị tống luôn lên tàu đưa tới Auschwitz, cô vợ trẻ cũng bị đưa đi chết cùng. Rumkowsky đã từng rất tự hào vì chuyện một bức thư được gửi từ Berlin cho Chaim Rumkowsky nhưng không đề địa chỉ, vậy mà bức thư đó vẫn đến được tay lão ở Lodz.

     Lodz là Manchester của Ba Lan. 15.000 thợ may đã từng may quần áo cho quân đội Đức tại đây. Họ được cấp 400gr bánh mì mỗi ngày và 900gr đường mỗi tháng. Trong khi đó, những người sống tại khu ghetto Warsaw chỉ được cấp 80gr bánh mì mỗi ngày.

       Genicksschuss - một viên đạn vào gáy. (13)

       Niềm tin tôn giáo của những người Do Thái trong ghetto sụt giảm thảm hại; thực tế những công nhân Do Thái vốn không sùng đạo lắm. Biebow thường gửi nhiều vitamin cho dân ghetto. Trợ lý của Rumkowsky, một người Do Thái tên là Gertler có quan hệ với Gestapo nhưng đã làm được nhiều việc tốt, ông là người rất tốt và mọi người đều rất yêu mến ông.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #95 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 05:57:28 PM »

        Khi Gertler trở nên có quyền thế và người Đức tỏ ra rất tôn trọng ông, Rumkowsky trở nên thù ghét ông.

        Bệnh viện của ghetto khiến các bác sĩ khắp Châu Âu phát sợ, một giáo sư nói: "Tôi chưa từng thấy một cơ sở y tế nào kiểu này ở Berlin."

       Cái chết anh dũng của bác sĩ Weisskopf tại khu ghetto Lodz - ông định cắn cổ tên phát xít Bibach.

      Cuộc nổi dậy tại ghetto Lodz do Kloppfisch lãnh đạo, ông vốn là một kỹ sư người Lodz.

      Lodz và Poznan là hai thành phố quan trọng nhất của Warthegau, phần đất phía tây Ba Lan bị bọn Nazi thôn tính và đặt tên theo con sông Warthe. Hitler chỉ định Arthur Greiser là người đứng đầu phần đất này. Hơn 70.000 người Ba Lan đã bị giết trong quá trình thanh lọc sắc tộc để lấy chỗ cho người Đức tới định cư tại đây. Hàng trăm ngàn người khác bị tống vào các trại lao động và trại tập trung. Sau người Do Thái, người Ba Lan là dân tộc bị thiệt hại với tỷ lệ lớn nhất trong WW2, thậm chí còn cao hơn cả Liên Xô.

       Bọn Đức buộc tất cả nông dân Ba Lan rời bỏ nhà cửa, ruộng đất, mùa màng, nông cụ, bắt họ sống trong những khu nhà tạm và buộc họ làm việc như nông nô. Những người Đức phần lớn vốn sinh trưởng tại địa phương nhưng cũng có một số đến từ Ukraina (160.000 người). Trẻ em con nhà nông dân Ba Lan không được đến trường và phải làm việc từ lúc 12 tuổi. Nhà thờ bị đóng cửa, chỉ để lại 1/20 số nhà thờ, số còn lại bị biến thành kho. Những người nông nô được trả 20 mark mỗi tuần và được cho ăn, trẻ em là 6 mark/tháng. Nông dân người Đức được đặc quyền giữ lại đủ sản phẩm để nuôi sống gia đình mình.

       Một nông dân Ba Lan đã bị tống đến Dachau chỉ vì nói với người hàng xóm Đức của mình (trước khi người Đức thôn tính vùng đất này vào tháng 9/1939) rằng: "Sao anh cứ nói tiếng Đức thế, anh có ở Berlin đâu?" Trước chiến tranh, bọn phát xít thường tụ tập trong các buổi mít tinh của Đảng quốc xã dưới lớp vỏ là các buổi cầu nguyện.

       Người định cư Đức đến thành hai làn sóng – một vào năm 1941 và lần còn lại vào năm 1944. Người Đức bán lậu bánh mì cho người Ba Lan với giá 5 mark/kg, bột mì là 25 mark/kg, mỡ lợn 200 mark/kg. Hàng ngàn giáo viên, bác sĩ, luật sư, cha cố Ba Lan đã bị đưa đến Dachau và bị giết.

      "Bọn Đức gọi vùng đất của chúng tôi là Warthegau, chúng cấm nông nô đi bất cứ đâu. Chúng tôi là những kẻ nô lệ."

       Người Ba Lan bị cấm tới cửa hàng, công viên và vườn tược, bị cấm đi tàu điện vào chủ nhật còn ô tô thì cấm tiệt. Bauerfuhrer (14) Schwandt có ba nông nô và ba phụ nữ, hắn béo khủng khiếp và không trả cho nông nô gì hết. Trước chiến tranh hắn có một quán bar, một kho hàng tạp hoá và 4 morgen đất (mẫu, mỗi mẫu tương đương khoảng 0,4ha). Giờ hắn sở hữu 50 morgen đất.

        Một trong các nhiệm vụ của nông dân người Đức là đảm bảo cho việc trưng thu nông sản luôn được đầy đủ. Người Ba Lan không được cấp vodka còn người Đức thì được vào những ngày nghỉ lễ. Người Ba Lan sẽ lĩnh án ba tháng tù nếu sử dụng bật lửa xăng.

       Một số người Đức không tin rằng người Nga sẽ tới và cười nhạo những người đóng những cỗ xe ngựa lớn để chất tài sản lên đi chạy loạn. Họ không tin điều đó cho đến tận ngày cuối cùng.

      Bộ binh Hồng quân di chuyển bằng xe ngựa, xe bò và cả xe mui trần bóng lộn. Các chú lính rít makhorka, ăn uống và đánh bài. Các toa tàu hàng được trang hoàng bằng các tấm thảm, lái tàu ngồi trên những chiếc giường lông chim êm ái. Binh sĩ  không thèm ăn khẩu phần quân đội nữa, họ có đủ thịt lợn, gà. Đã xuất hiện những khuôn mặt tròn xoay hồng hào trong đám lính, điều chưa từng xảy ra trước đây. (15)

        Dân thường Đức bị xe tăng ta bắt giờ đã được thả và đang quay lại. Họ hay bị ăn đòn dọc đường, người ta tháo yên cương ngựa của họ, người Ba Lan đang cướp bóc họ. "Các người đang đi đâu thế?" Tôi hỏi. Họ trả lời bằng tiếng Nga: "Tới Nga." Tại đây có 5 loại người Đức: dân tới từ Biển Đen, từ Balkan, từ các nước Baltic, Volksdeutsche và Reichsdeutsche (16).

       Grossman sớm nhận ra rằng tư cách của lính Hồng quân thay đổi khi sang nước khác. Ông vẫn cố lý tưởng hoá những người lính tiền tuyến, đẩy mọi trách nhiệm về những việc làm sai trái cho các đơn vị tuyến sau như hậu cần hay vận tải. Trong thực tế, chính lính tăng mà ông rất sùng bái mới là những tay cướp bóc và hãm hiếp tồi tệ nhất.

      Những người lính tuyến đầu hành quân suốt ngày đêm dưới làn đạn, họ thật thánh thiện và trong sạch. Cánh lính hậu tuyến đem theo nạn hãm hiếp, rượu chè, cướp bóc. 250 cô gái Nga đang làm việc trong nhà máy Focke - Wulf, bọn Đức đã bắt họ tới đây từ Voroshilovgrad, Kharkov và Kiev. Theo chỉ huy Chính trị tập đoàn quân, những cô gái này không có quần áo, đầy rận và phù thũng vì đói. Tuy nhiên theo nhà báo phụ trách tờ báo của tập đoàn quân, những cô gái này vẫn còn sạch sẽ và ăn mặc đầy đủ cho đến khi quân ta tới, đám lính đã trói họ lại, bịt mắt và lấy đồng hồ đeo tay của họ. Các cô gái Soviet mới được giải thoát thường phàn nàn rằng họ đã bị lính ta hãm hiếp.Một cô vừa nói với tôi vừa khóc: "Ông ta là một lão già, còn nhiều tuổi hơn cả bố tôi."

          ..............................................................................

      (1)Panzerfaust là súng phóng hoả tiễn vác vai được nền công nghiệp phát xít Đức sản xuất với số lượng lớn vào giai đoạn cuối chiến tranh, đây là một vũ khí chống tăng rẻ tiền.

      (2)Có lẽ Grossman đang nhắc tới Nhà thờ Máu Trinh Nữ ở 24 phố Lechno, trung tâm Công giáo nằm trên con dốc giữa khu dành cho người Do Thái. 

      (3)Không phải tất cả đều là tro người Do Thái. Bọn Nazi cũng sử dụng khu ghetto đổ nát này làm nơi hành quyết những người Công giáo Ba Lan.
 
      (4)Ông là thành viên Uỷ ban Quốc gia thuộc Chính phủ Ba Lan lưu vong đóng tại Exile.

     (5)Trung tướng Karl Litzmann chết năm 1915 khi đang cố đánh chiếm Lodz trong WW1. Ông ta được tặng thưởng "Pour le Mérite".

     (6)Volksdeutsche là những người Đức sinh sống ngoài lãnh thổ Đế chế. Họ có thể là người thuộc chủng tộc Đức vốn sinh sống tại địa phương hay người Đức được chính quyền Nazi đưa tới để thiết lập nên quận Gau hay Warthegau nằm ở tây bắc Ba Lan, sau đó sáp nhập vào Đế chế Đức, người Ba Lan tại đây bị thanh lọc sắc tộc. Các chỉ huy Đức như tướng Guderian được chính phủ bù nhìn tại đây trao những điền trang lớn để tỏ lòng biết ơn.

     (7)Trong tổng dân số gần 5.000.000 người của Warthegau vào năm 1939 có 380.000 người Do Thái và 325.000 người gốc Đức bản địa.

     (8)Himmler ra lệnh xoá sổ khu ghetto ngày 10/6/1944, vài ngày sau D - Day.

    (9)Maslovitsy cũng là nơi thiếu tá Sharapovich phát hiện ra kho sách quý mà bọn Đức đã lấy từ Thư viện Turgenev ở Paris. Số sách này được chở về Thư viện Lenin ở Moscow.

    (10)Mordechai Chaim Rumkowsky là một nhân vật gây tranh cãi sau này. Vốn là một doanh nhân phá sản, ông ta được người Đức coi là  Judenalteste, hay Bố Già Do Thái, vì có được quyền lực tuyệt đối tại ghetto thông qua quyền điều phối nguồn cung cấp lương thực. Một  cách độc đoán, ông ta không chỉ điều hành ghetto như thể nó là thái ấp của riêng mình mà còn quyết định ai phải chết và ai sẽ được sống bằng cách lựa chọn những người sẽ bị chuyển tới Chelmno và sau này là Auschwitz. Lời kể của Grossman có lẽ còn quá lạc quan, có năm thậm chí có tới 20% dân số ghetto chết vì bệnh tật và đói khát.

    (11)Tên cô ta là Regine Weinberger.

    (12)"Bồ" của Rumkowsky là những cô gái trẻ bị buộc phải trở thành tì thiếp của ông ta.

    (13)Nghĩa đen trong tiếng Đức là bắn vào cổ nhưng thực tế là chỉ việc bắn vào gáy hướng lên sọ.

    (14)Bauerfuhrer là thủ lĩnh Đảng Quốc xã tại mỗi địa phương đồng thời là người tổ chức nông dân.

    (15)Lính Hồng quân cũng cướp bóc của nông dân Ba Lan gần bằng người định cư Đức.

    (16)Ở trường hợp này Volksdeutsche có nghĩa là người dân tộc Đức thiểu số tại Ba Lan. Reichsdeutsche tất nhiên là người Đức sống tại lãnh thổ Đức trước 1939.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2015, 07:11:04 AM »

                                                                                                  HAI SÁU


                                                                            VÀO HANG Ổ CỦA CON QUÁI VẬT PHÁT XÍT


       Trong chuyến hành trình, Grossman tiếp tục đi cùng với sở chỉ huy Tập đoàn quân Cận vệ 8 của tướng Chuikov. Chuikov rất tức giận khi Nguyên soái Zhukov ra lệnh cho Tập đoàn quân Cận vệ 8 của ông phải chuyển hướng sang thành phố pháo đài Poznan, trong khi các tập đoàn quân khác đang ào ạt tiến về phía sông Oder. Zhukhov chính là người đã từng bị Chuikov ghét cay ghét đắng vì giành được quá nhiều vinh quang trong trận Stalingrad. Trận công phá Poznan là trận chiến đường phố khó khăn nhất mà Hồng quân phải đối mặt kể từ sau trận Stalingrad.

      Một chỉ huy trung đoàn phàn nàn: "Vậy đấy, chúng tôi xông vào phố, đám thường dân chạy về phía quân ta và kêu lên: "Những người giải phóng của tôi! Những vị cứu tinh của tôi!" Ngay lúc đó bọn Đức phản kích và đẩy lùi quân ta. Một khẩu pháo tự hành của chúng xuất hiện. Và tôi nhìn thấy vẫn những thường dân đó chạy ngược trở lại và bắt đầu ôm chầm lấy bọn Đức. Vậy là tôi lệnh cho bắn thẳng vào chúng bằng đạn ghém."

     Trận chiến đường phố vẫn đang tiếp diễn. Những khu phố không có chiến sự đầy chật người. Những quý bà quý cô đội những cái mũ kiểu cách, mang túi sách điệu đà đang sẻ thịt một con ngựa chết nằm trên vỉa hè.

     Chuikov đang tổ chức cuộc chiến đường phố tại Poznan. Sau trận Stalingrad, ông được xem là chuyên gia số một về tác chiến đô thị. Về mặt lý thuyết, bản chất của trận Stalingrad là bộ binh ta đóng những cái nêm vào giữa các đơn vị cơ giới Đức và những điểm yếu của bộ binh Đức. Còn bây giờ, hoàn cảnh đưa đẩy Viện sĩ hàn lâm (1) Chuikov vào tình thế không thể từ chối giải quyết cùng một tình huống như ở Stalingrad, nhưng đây là Poznan, vai trò của ông hoàn toàn ngược lại. Ông đang tấn công dữ dội quân Đức tại các con phố Poznan bằng lực lượng cơ giới khổng lồ và chút ít bộ binh. Và ngày càng có nhiều tên Đức lì lợm chống trả trong một cuộc chiến với chúng là vô vọng.

     Chuikov đang ngồi trong căn phòng lạnh lẽo, sáng đèn dưới tầng một của một villa hai tầng. Điện thoại đang reo trên bàn, các chỉ huy đơn vị báo cáo về trận chiến đường phố Poznan. Trong những quãng tạm nghỉ giữa các cuộc điện thoại và báo cáo, Chuikov nói với tôi về trận đánh chọc thủng tuyến phòng ngự Đức tại khu vực Warsaw.

     "Chúng tôi đang học tập người Đức cách đặt lịch trình làm việc từng ngày cho mỗi tháng. Ban ngày, quân địch thường bỏ tuyến chiến hào đầu tiên và quay lại đó vào ban đêm. Vì vậy trước khi tiến công, chúng tôi gửi các thông điệp vô tuyến suốt đêm, bật nhạc và nhảy nhót, làm mọi thứ trở nên hỗn độn đồng thời đưa tất cả các đơn vị lên các vị trí tuyến đầu.

      "Vào 8h30, thời điểm mà quân địch thường rời khỏi tuyến đầu, chúng tôi khai hoả một loạt 250 khẩu pháo. Ngay ngày đầu tiên quân ta đã chọc thủng tuyến đầu. Chúng tôi nghe được điện đài Đức, trong đó viên chỉ huy Tập đoàn quân IX gọi các sư đoàn trực thuộc mà chẳng nhận được câu trả lời cặc nào (bloody). Vào lúc đó quân ta đã đập tan hai  sư thiết giáp ngay tại chỗ tập trung của chúng ở tuyến sau. Tổng thể thì chúng tôi làm theo cách sau: Một đợt không kích, một đợt pháo kích và sau đó là tiến công. Sáng hôm đó có sương mù. Chúng tôi đã giữ chúng trên một cái đe là tuyến đầu quân ta và đập chúng bằng cái búa là lực lượng pháo binh. Nếu chúng tôi chỉ cần chậm 1h, quân ta sẽ bắn vào những vị trí trống. Và bọn Đức có vẻ như đã kiệt sức ở tầm chiến lược, chỉ có toàn Landwehr và Volkssturm ở đó.(2)

      Chuikov nghe điện thoại, lại gần bản đồ để xem và nói: "Tôi sắp phải đeo kính đến nơi rồi." Ông đọc một báo cáo, cười mãn nguyện và rê bút chì trên tờ lệnh. Ông nói: "Cánh phải của Marchenko có lẽ đã cảm nhận được sức mạnh hoả lực của Glebov. Đó là kiểu bắn gối đầu, cũng sẽ sớm có liên lạc thôi." Ông quát vào telephone: "Nếu chúng định thọc về phía tây hãy để chúng ra chỗ trống rồi nghiền nát chúng như thịt băm, bọn chó chết."

      Sau đó Chuikov tiếp tục nói chuyện với Grossman."Lính tráng tỏ ra buồn chán khi phải phòng ngự. Họ khao khát được kết thúc chiến tranh. Họ khởi động trong 2 - 3 ngày, và sau đó tiến 30 - 50km mỗi ngày.

      "Thực sự là có những vụ cướp bóc trong lúc hành tiến: Một chiếc tăng đang đi, một chú lợn sữa ngồi vắt vẻo trên chắn xích. Chúng tôi dừng lại để cho quân ăn, thức ăn của ta chưa bao giờ đủ ngon đối với binh lính. Cánh lái xe đang chạy quanh các toa hàng, chơi accordion y như trong quân đội của Makhno (3).

      "Pháo đài Poznan ... Quân ta đang di chuyển trên đỉnh pháo đài, bọn Đức bắn lên từ trong pháo đài. Thế là công binh đổ vào trong khoảng hơn 200 lít dầu lửa rồi đốt, bọn Đức nhảy vọt ra như chuột. Và anh biết điều ngạc nhiên nhất là gì không??, với tất cả kinh nghiệm chiến tranh và những trinh sát hoàn hảo, chúng tôi đã bỏ sót một điều vặt vãnh. Chúng tôi đã không để ý rằng Poznan là pháo đài hạng nhất, một trong những pháo đài mạnh nhất Châu Âu. Chúng tôi nghĩ nó chỉ như các thị trấn khác và định chiếm nó trong hành tiến, và thế là chúng tôi kẹt ở đây."

       Poznan đã không thất thủ hoàn toàn cho đến tận khi Chuikov ra lệnh tổng tấn công pháo đài ngày 18/2, sau chín ngày pháo kích nặng nề. Vào lúc đó những lính phòng thủ trong vòng vây đã bị bỏ cách quân nhà 200km. Lựu pháo 203mm bắn thẳng vào tường ở tầm trực xạ để đục thủng nó, sau đó đến lượt súng phun lửa và lựu đạn được sử dụng để quét sạch hết phòng này đến phòng khác. Đêm 22/2, thiếu tướng Ernst Gomell chỉ huy quân Đức tại pháo đài nằm lên lá cờ chữ thập ngoặc trong phòng mình rồi tự sát bằng súng. Lính phòng thủ pháo đài đầu hàng.

      Grossman đã không đợi đến lúc cuộc công phá pháo đài kết thúc, ông đi theo các đơn vị tiền tiêu của Tập đoàn quân 8 Cận vệ tiến vào lãnh thổ Đế chế Đức. Mặc dù rất muốn lý tưởng hoá những người lính Hồng quân bình thường, ông cũng cảm thấy ghê sợ với tệ nạn rượu chè của họ.
 
       Cái chết dớ dẩn của đại tá Anh hùng Liên Xô Gorelov, chỉ huy lữ đoàn tăng Cận vệ. Đầu tháng hai, ông chọn một điểm dừng chân dọc đường cách biên giới Đức vài km, tại đây ông bị một  lính Hồng quân say rượu bắn chết. Katukov (4) đã từng rất quý mến Gorelov; khi ra lệnh cho Gorelov và Babadzhanyan ông thường gọi họ bằng tên thân mật: Volodya và Arno. Đây không phải ví dụ duy nhất về những vụ say rượu tồi tệ.

      Tất cả công dân Soviet, bất kể lính hay dân thường, đều cảm thấy choáng váng với sự thay đổi khi vượt qua biên giới Đức. Số lượng lớn kỳ lạ của các công trình hoàn hảo và sự phồn hoa ở nơi này khiến họ không hiểu sao những người sống ở đây lại muốn rời bỏ nó để đi xâm lược nước Nga.

       Mờ sáng, sương mù và mưa phùn. Mùi ẩm mốc phát ra từ rừng cây. Có những vũng nước trên đường. Những cây thông đen, trang trại, kho thóc, những ngôi nhà chóp nhọn.Một  khẩu hiệu lớn: "Hỡi những người lính, đây chính là Hang ổ của con quái vật Phát xít."

       Phong cảnh nơi đây thật mê hoặc. Cây cối thấp nhưng to và rất đẹp, những con đường trải nhựa hoặc láng xi măng cũng đẹp. Những cỗ xe của pháo binh, pháo tự hành, xe tham mưu của quân ta chất đầy chiến lợi phẩm đang đi từ Poznan tới trông thật thảm hại.

       Một cô gái Nga mới được giải thoát tên là Galya nói với tôi về cách đối xử khác nhau giữa những người bị bắt từ những nơi khác nhau trên thế giới: "Có quy định khác dành riêng cho người Pháp."

       Từ Poznan đến biên giới Đức trước năm 1939, tuyến đường nối Kustrin và Berlin dẫn họ qua thị trấn Schwerin. Khi tới đây Grossman nhận thấy Tập đoàn quân Cận vệ 8, đơn vị mà ông từng rất ngưỡng mộ ở Stalingrad, đang cướp bóc và hãm hiếp. Sau chiến tranh, Grossman xác nhận với con gái rằng "Hồng quân đã biến thành một đạo quân xấu xa ngay sau khi vượt qua biên giới Soviet."
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2015, 07:14:17 AM »

      Mọi thứ bốc cháy, cảnh cướp bóc diễn ra khắp nơi. Gekhman và tôi được cấp một ngôi nhà còn sót lại. Mọi thứ còn chưa bị động tới, bếp lò vẫn còn ấm, một cái ấm nước nóng vẫn đang đặt trên bếp, chủ nhân ngôi nhà chắc vừa chạy khỏi đây không lâu, những cái đĩa vẫn còn đầy. Tôi dứt khoát cấm động vào chúng (cả với chính tôi). Sỉ quan chỉ huy thị trấn tới đề nghị tôi cho một đại tá vừa từ Bộ Tổng tham mưu tới ở cùng. Tất nhiên tôi đồng ý. Vị đại tá thật oai vệ, khuôn mặt tốt bụng đặc Nga. Suốt đêm chúng tôi phải nghe tiếng ngáy vẳng ra từ căn phòng nơi vị đại tá mệt mỏi đang ở. Sáng hôm sau ông ta bỏ đi không nói không rằng. Chúng tôi vào phòng ông: thật hỗn độn, vị đại tá đã vét sạch những cái đĩa như một tên kẻ cướp chính hiệu.

     Một bà già lao mình ra khỏi cửa sổ một ngôi nhà cháy.

     Chúng tôi vào nhà, có một vũng máu trên sàn, giữa vũng máu là một ông cụ, bị một tên kẻ cướp bắn chết. Có vài cái chuồng thỏ và chim ngoài sân, chúng tôi mở cửa để cứu chúng khỏi ngọn lửa,hai con vẹt đã chết trong lồng.

      Sự khiếp sợ hiện rõ trong mắt những người phụ nữ già trẻ.Tại nhiệm sở của sĩ quan chỉ huy thị trấn.Một nhóm tù binh Pháp phàn nàn rằng một số lính Hồng quân đã lấy đồng hồ của họ, chỉ đưa cho họ một rub cho mỗi chiếc.

      Một phụ nữ Đức vận đồ đen, cặp môi khô nẻ, đang nói bằng giọng thì thào. Bà ta đến cùng cô con gái vị thành niên trên mặt và cổ đầy vết thâm tím, mắt sưng húp, tay có vết bầm tím ghê sợ. Cô gái này bị một lính đại đội thông tin của sở chỉ huy tập đoàn quân hiếp. Hắn cũng đang ở đây, má đỏ hồng, mặt phị mỡ, mắt lờ đờ. Viên chỉ huy thị trấn cật vấn hắn mà không có vẻ nhiệt tình lắm.

      Những điều đáng sợ đang diễn ra với phụ nữ Đức. Một  trí thức Đức đang nói bằng thứ tiếng Nga lắp bắp kèm cử chỉ kích động rằng vợ anh ta đã nhận mấy "người khách mới" - tức là lính Hồng quân - vào ở nhờ và đã bị mười người hiếp ngày hôm nay. Người vợ cũng đang có mặt ở đó.

       Nhiều tiếng thét của phụ nữ vọng ra từ cửa sổ.Một sĩ quan người Do thái đã bị bọn Đức giết hết cả nhà được yêu cầu ở lại trong tầng hầm nhà một tên Gestapo đã đào tẩu. Đám phụ nữ còn lại trong nhà được an toàn khi anh ta còn ở đó, khi anh ta đi, tất cả họ đều khóc lóc van xin anh ở lại. Những cô gái Soviet được giải thoát khỏi các trại tập trung giờ cũng phải chịu đựng nhiều đau khổ. Đêm xuống, vài cô trốn nhờ vào phòng dành cho phóng viên của chúng tôi. Cả đêm chúng tôi bị đánh thức vì những tiếng thét: một trong số các phóng viên đã không thể cưỡng được sự cám dỗ. Sự ầm ĩ này gây nên một cuộc tranh luận và sau đó trật tự được tái lập.

       Câu chuyện về một người mẹ đang cho con bú đã bị hiếp trong nhà kho. Họ hàng của cô tới bên nhà kho yêu cầu kẻ đang hãm hiếp cô buông tha cho cô một lúc vì đứa trẻ cứ khóc suốt vì đói.

      Ban đêm vẫn sáng tỏ, mọi thứ bốc cháy.

     Khi đại tá Mamaev bước vào một ngôi nhà Đức, 4 - 5 đứa trẻ im lặng đứng dậy giơ tay hàng.

     Việc giải phóng nước Đức dẫn tới nhiều số phận đảo ngược một cách kịch tính. Những tù nhân và nô lệ giờ cướp bóc lại những tên chủ cũ. Nhiều phụ nữ Liên Xô trẻ đã bị gửi tới Đức từ các vùng tạm chiếm để làm việc trong các nông trại hay nhà máy. Những tù binh Hồng quân thì còn phải chịu đau khổ hơn cả nô lệ trong các trại tù binh.

     Những đám đông khổng lồ đang đi trên đường. Tù binh từ mọi quốc gia: Pháp, Bỉ, Hà Lan ..., tất cả đều mang theo đồ cướp được. Chỉ có người Mỹ là đi bộ mà không mang gì, thậm chí không có cả mũ, họ không cần gì hết ngoại trừ rượu, một số chào đón chúng tôi bằng cách vẫy những cái chai. Thường dân đến từ các nước châu Âu khác đi những con đường khác, phụ nữ mặc áo hở ngực, cả đám kéo theo hàng ngàn chiếc xe đẩy chất đầy đồ cướp được. Thật là một cảnh hỗn loạn điên rồ và buồn cười. Đâu là người phương Đông? và đâu là người phương Tây?

       Những thương phế binh - tù binh Hồng quân được giải phóng. Một người trong số họ có vẻ buồn rầu và ốm gần chết nói: "Tôi sẽ chẳng bao giờ về được tới nhà." Khi bọn Đức định thủ tiêu họ, những thương phế binh này đã cắt dây thép gai, cướp được một khẩu tiêu liên và một cây súng trường, và quyết chiến.

      Một cô gái Nga bị đưa tới Đức làm nô lệ nói: "Bọn Frau (Đức) xuống địa ngục hết đi. Tôi chỉ tiếc là đã bỏ sót đứa con trai sáu tuổi của mụ ấy."

      Sau Schwerin, Grossman tới Landsberg, hạ lưu sông Warthe, con sông này đổ vào sông Oder tại Kustrin. Theo cách tính toán gần với ý tưởng của Stalin, đại quân Soviet có trách nhiệm đánh cướp số tài sản Đức tương ứng với những gì mà Liên Xô bị tàn phá trong chiến tranh. Các nhân viên kế toán dân sự ăn vận oai không kém một đại tá Hồng quân, những người Đức ngoan ngoãn mở các két sắt trước mặt họ. Sẽ có vấn đề thực sự tồi tệ với lính Hồng quân nào định mở két để lấy tiền cho riêng mình. Họ thường xài một cây Panzerfaust, kết quả là két sắt bị phá tan cùng với mọi thứ bên trong. Một két sắt tại Landsberg. Nhiệm vụ của chúng tôi là mở nó. Bên trong có vàng, trang sức, nhiều bức ảnh chụp trẻ con, phụ nữ và người già. Một thành viên đội tháo két nói với tôi: "Chúng giữ mấy bức ảnh ở đây làm cái căng củ cọt gì nhỉ?"

      Sư trưởng nói với sư phó, người vừa tới để chỉ đạo việc bắn pháo sáng được chuẩn hơn: "Tôi ị vào đống pháo sáng của anh. Ngồi xuống và ăn tối với tôi nào."

     Trong cửa hàng văn phòng phẩm của một tên Đảng viên Nazi béo ị, vào ngày mà hắn tan tành sự nghiệp. Một cô bé đến vào buổi sáng, yêu cầu hắn cho xem mấy tấm bưu thiếp. Lão già to béo, âu sầu, thở khó khăn ném một tá bưu thiếp lên bàn trước mặt cô bé. Cô bé cẩn thận lựa chọn rất lâu rồi lấy một tấm in hình một cô gái mặc váy đẹp đứng bên một quả trứng vỡ, một chú chim đang bay ra khỏi quả trứng. Lão già nhận 25 xu của cô bé, bỏ vào máy thu tiền. Tối đó hắn chết trên giường, tự sát bằng thuốc độc. Cửa hàng vừa đóng cửa, một đám người ồn ã vui vẻ đã ào vào mang hết đồ đạc tài sản ra khỏi căn hộ của hắn.

      Ngay khi bắt kịp những người bạn và người quen cũ, Grossman lại hỏi han về những câu chuyện của họ. Babadzhanyan, giờ là chỉ huy Quân đoàn xe tăng cận vệ 11 trong Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1 của Katukov, vị chỉ huy dũng cảm mà Grossman tưởng đã hy sinh năm 1941.

     Câu chuyện của Babadzhanyan: "Chúng tôi xuất phát tại Vistula tối 15/1 qua một lỗ thủng trên tuyến phòng ngự địch đối diện khu vực do Chuikov phụ trách và tới Oder ngày 28/1. Một  viên đại uý Đức đang tới Poznan lấy thuốc lá đã bị chúng tôi thộp cổ ngay trên biên giới. Có một hôm quân ta tiến được tới 120km. Tất cả các việc chính đều được tiến hành trong đêm, ban đêm xe tăng sẽ được an toàn hơn. Xe tăng ta là lực lượng đáng sợ vào ban đêm, họ có thể thọc sâu tới 60km dù không có người dẫn đường địa phương giống như những gì họ đã làm trên đất Ba Lan. Tuy nhiên người dẫn đường địa phương cũng rất quan trọng, một đêm có một ông già người Đức đã dẫn xe tăng ta thọc sâu rất thành công.

      "Một viên tướng Đức bình thản cởi quần áo chui vào giường sau khi đánh dấu trên bản đồ là đối phương còn cách 60km, và hắn bị chúng tôi xông vào nhà lúc nửa đêm."

      Grossman cũng tới gặp Gusakovsky lần nữa, viên sĩ quan tỏ ra không biết khiêm tốn là gì.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2015, 07:16:29 AM »

       Lữ đoàn của Gusakovsky đã thành công rực rỡ. Mặc dù cầu cống đều bị phá huỷ và khắp nơi đầy chướng ngại vật chống tăng nhưng vẫn còn một con đường nguyên vẹn. Bọn Đức định dùng nó cho một cuộc phản công. Gusakovsky đã xông theo con đường này, vòng qua tất cả các điểm phòng ngự của địch. Lữ đoàn của ông ngao du trong vùng hậu phương địch suốt hai ngày trong khi các lữ đoàn khác phải đi vòng vèo hoặc tấn công trực diện vào các cứ điểm địch.

      Đại tá Gusakovsky,hai lần Anh hùng Liên Xô, chỉ huy lữ đoàn tăng: "Thành phố (chắc là Landsberg) bị một đại tá chiếm, trong khi lệnh của Tổng tham mưu trưởng (Nguyên soái Zhukov) đã giao việc này cho mười viên tướng."

     Khi Hồng quân tiến tới Berlin, từ sĩ quan đến binh lính đều ước mơ bắt sống được Hitler. Họ tin tưởng mình sẽ được thưởng Sao Vàng Anh hùng Liên Xô và trở nên nổi tiếng suốt đời. Trong khi đó các sĩ quan tình báo trong các sở chỉ huy miệt mài bên những tài liệu thu được từ các phòng lãnh sự Đức với hi vọng tìm ra thêm nhiều điều nữa về những kẻ lãnh đạo Nazi. "Trong một phòng phụ trách tình báo, tôi được cho xem một tờ lệnh có chữ ký của Hitler, bên dưới có dòng chữ và chữ ký: "Xác nhận đúng bản gốc, Đại uý Sirkis.""

      Đầu tháng hai, Grossman tới Oder, con sông cuối cùng trước Berlin. Lính Hồng quân tính đường sang hướng tây theo đơn vị "con sông", bắt đầu bằng sông Volga ở Stalingrad, và Grossman cũng vậy.

     Chúng tôi tới Oder trong một buổi sáng đẹp trời, nơi này đã gần Berlin lắm rồi. Cảm giác thật kỳ lạ khi đi trên con đường nông thôn đầy bùn, giữa những bụi gai nhỏ, cây thấp mọc lố nhố, những quả đồi nhỏ dốc xuống sông, những ngôi nhà nhỏ nằm rải rác đây đó trên cánh đồng phủ đầy cỏ sau vụ đông - tất cả cảnh vật này đã từng hiện ra nhiều lần dưới mắt tôi trên suốt quãng đường 80km tới Berlin.

     Và bất thần, trong buổi sáng mùa xuân đó, bên dòng sông Oder, tôi nhớ tới những gì xảy ra trong mùa đông sắt máu 1942, trong cơn bão tuyết tháng một dữ dội, trời đêm đỏ thẫm vì ánh lửa phát ra từ những ngôi làng bị bọn Đức đốt, một chú đánh xe ngựa quấn mình trong chiếc áo khoác da cừu bất thần kêu lên: "Hey, đồng chí, đến Berlin đi đường nào?" Cánh lái xe ô tô và xe ngựa cười ran. Tôi tự hỏi không biết anh chàng vui tính đó, người hỏi đường tới Berlin ở gần Balakleya, còn sống hay chăng? Và cả những người đã bật cười vì câu hỏi ba năm về trước đó? Tôi muốn gào lên, thét lên với tất cả những người anh em binh sĩ, những người đã nằm lại mãi mãi trên đất Nga, Ukraina, Belorussia, Ba Lan rằng: "Các đồng chí, có nghe thấy chúng tôi nói gì không? Chúng tôi đã làm được!"

      Ngày thứ hai sau khi Hồng quân tiến vào nước Đức, chúng tôi bắt gặp một đoàn 800 trẻ em Soviet đang đi bộ về hướng đông thành hàng dài tới vài km.Một số binh lính và sĩ quan đứng bên đường, chăm chú và câm lặng nhìn kỹ từng khuôn mặt đám trẻ. Họ là những người cha đang đi tìm con bị bọn Đức bắt đi. Một viên đại tá đã đứng đó suốt  4h, lưng thẳng, mặt đanh lại tối sầm và buồn bã. Đến chập tối ông mới trở lại xe: ông đã không tìm thấy con.

      Tôi xem những cuốn vở của học sinh ở trường. Ngay từ lớp nhất phần lớn là các bài tập, tiểu luận, văn miêu tả, được viết bằng nét chữ xiên xẹo của trẻ con, tất tật đều về đề tài chiến tranh và thành tựu của Đảng quốc xã. Chân dung, tranh cổ động, slogan trên tường lớp học đều chỉ nhằm một mục đích - tôn vinh Hitler và chủ nghĩa phát xít ...

      Những người dân Đức đã chối bỏ mọi tội lỗi, sự tàn phá khủng khiếp cùng những nỗi đau khổ mà nước Đức phát xít và đội quân của nó đã gây ra cho đất nước Liên Xô.

                        …………………………………………. 

  (1)Grossman dựa theo một câu đùa cũ của chính Chuikov khi ông này nói rằng mình đã tìm ra một Viện hàn lâm về chiến tranh đường phố tại Stalingrad.

     (2) Thực ra không có Landwehr, đây là tên lực lượng dự bị địa phương trong WW1, Volkssturm là lực lượng thay thế cho lực lượng trên dưới thời Nazi. Các sĩ quan thường gọi lực lượng gồm những người già và trẻ con này là "món hầm", một thứ hỗn hợp khó nhai gồm thịt thiu và rau xanh.

     (3) Nestor Makhno lãnh đạo một lực lượng du kích lớn theo chủ nghĩa vô chính phủ ở Ukraina trong thời Nội chiến, đánh cả hai phe Bạch vệ và Hồng quân. Họ di chuyển rất nhanh bằng những cỗ xe ngựa loại nhỏ, một số có gắn súng máy.
 
    (4) Đại tướng M. I. Katukov, chỉ huy Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1 đã chiến đấu cùng Tập đoàn quân Cận vệ 8 trên mọi nẻo đường từ Vistula đến cuộc tấn công cuối cùng vào Berlin.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 761


« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Ba, 2015, 06:50:07 PM »

                                                                                   HAI BẢY-TRẬN BERLIN


     Đầu tháng một, ngay sau khi các tập đoàn quân của Zhukov tiến tới sông Oder, cách Berlin chưa đầy 100km, hàng quân đã dừng lại. Chỉ huy Tập đoàn quân Cận vệ 8 Chuikov chỉ trích Zhukov vì thất bại trong việc tấn công Berlin ngay. Thực tế là chính Stalin đã cấm mở rộng tiến công vì các đơn vị xe tăng cần được tái trang bị còn bộ binh đã quá kiệt sức. Stavka lệnh cho Zhukov và Rokossovsky quét sạch cánh phải là vùng Pomerania trên bờ biển Baltic. Nhiệm vụ này cùng với việc tái bố trí các tập đoàn quân sau đó có nghĩa là chiến dịch cuối cùng đánh vào Berlin phải lùi lại đến giữa tháng bốn.

     Vào lúc này Grossman đã quay về Moscow nhưng ông cương quyết đòi quay lại Berlin để chứng kiến giờ phút tận số của nó. May mắn thay, các đồng đội phóng viên của ông bao gồm cả chiến hữu cũ Troyanovsky đều yêu cầu ông có mặt ở đó và tờ Krasnaya Zvezda đã cho ông đi đúng lúc. Sau này Troyanovsky kể: "Hôm 14/4, các phóng viên tờ Krasnaya Zvezda được tướng K. F. Telegin thành viên Hội đồng quân sự Mặt trận mời đến. "Tôi sẽ viết giấy giới thiệu cho các anh qua sông Oder," ông nói. "Các anh có thể chọn bất kỳ tập đoàn quân nào, chỉ có điều tôi đề nghị các anh đừng tập trung hết vào tập đoàn quân của Chuikov." Có lẽ Nguyên soái Zhukov không muốn viên chỉ huy đã chỉ trích mình giành được mọi sự quảng cáo.

     Chiến dịch mở màn ngày 16/4, Phương diện quân Belorussia 1 của Zhukov tấn công về hướng tây từ Oder nhằm thẳng vào Berlin, trong khi đó Phương diện quân Ukraina 1 của Nguyên soái Konev tấn công lệch phía nam từ tuyến sông Neisse. Sau đó Stalin cho phép Konev chuyển hướng về phía Bắc nhằm vào Berlin, ông muốn tạo ra một cuộc đua quyết liệt giữa hai vị nguyên soái nhằm nhanh chóng bao vây tiêu diệt Berlin. Sau khi người Mỹ chiếm được cầu Remagen ngày 7/3, Stalin sợ rằng họ có thể đến Berlin trước.

     Các lực lượng của Zhukov đã phải trải qua một thời gian khó khăn hơn dự định khi tiến công ồ ạt vào các điểm cao tại khu vực Seelow nằm trên vùng đồng bằng ngập nước của sông Oder, họ chịu nhiều thương vong trong khi các chỉ huy liên tục thúc ép tiến lên. Pháo binh đến tận tối 20/4 mới di chuyển được tới vị trí đủ sức bắn tới Berlin nhưng trận công phá thành phố chỉ bắt đầu bốn ngày sau đó. Tập đoàn quân Cận vệ 8 của Chuikov và Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 1 của Katukov đánh từ phía đông nam, Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 2 và Tập đoàn quân Xung kích 3 đánh từ phía bắc, Tập đoàn quân Xung kích 5 đánh từ phía đông. Quân của Konev là các Tập đoàn quân Xe tăng Cận vệ 3 và Tập đoàn quân 28 cũng tiến về thành phố từ hướng nam và các đơn vị bạn đã bắt đầu pháo kích vào nhau. Vào lúc này Grossman đang trên đường từ Moscow tới Berlin, ông rời thủ đô Soviet để thực hiện chuyến đi cuối cùng với tư cách là phóng viên chiến tranh ngày 20/4, ngày sinh nhật cuối của Hitler. Sau này ông kể lại trong một bài viết về những gì nhìn thấy và suy nghĩ trên đường tới Berlin.

       Một ngôi làng đã bị bọn Đức đốt. Tất cả những gì còn lại là những đống gạch vụn, một cái giếng đã bị lấp và một số khung nhà thép gỉ sét. Khói vẫn bốc lên từ một chỗ đất thấp cách đó không xa, đó là nơi các cư dân trước đây của ngôi làng đang sống trong những công sự do Hồng quân đào trong quá trình chiến đấu.Một  bà già tóc bạc trắng, các con trai đều đã chết trong chiến tranh, đưa cho chúng tôi một gáo nước và nói bằng giọng u uất: "Chúng ta có hồi sinh được không?" và bà chỉ ngôi làng đã cháy trụi với một cái lắc đầu.

      Xa hơn nữa trên con đường cái quan là Neva, rồi Volkhov, rồi Terek, rồi tới những cánh rừng Karelia xum xuê, những núi non Caucasus, những đồi, những gò, đâu đâu cũng đầy mộ lính.

      Những đứa trẻ, những binh lính, hạ sĩ quan, sĩ quan Hồng quân, những chàng trai tốt bụng đã vĩnh viễn ngủ say. Suốt dọc con đường chúng tôi đi đầy những nấm mộ của những người con đã hy sinh được đóng một tấm bia gỗ với mấy nét chữ khắc vội. Những cơn mưa bào mòn dần những cái tên, tập hợp tất cả họ thành một cái tên duy nhất.

      Chiếc xe bị hỏng máy gần biên giới Ba Lan và chúng tôi phải chờ nhiều giờ ngoài đồng trống. Trong khi chờ sửa xe, tôi tới thăm một căn nhà nhỏ, hôm đó là chủ nhật, bà chủ nhà và các con đã đi nhà thờ, chỉ còn một bà cụ và một khách qua đường đang ở nhà, anh ta là một người lính đã được cho giải ngũ vì bị thương. Anh kể giờ anh không còn phải đi bộ quá xa nữa, anh sắp tới đích là vùng Orel rồi. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện. Người khách tên là Alexei Ivanovich, tuổi ngoài 40. Anh đã chiến đấu trên tiền tuyến từ ngày đầu chiến tranh và đã ba lần bị thương, anh là lính một đơn vị cối. Áo khoác của anh rách tả tơi vì mảnh đạn và dính đầy dầu mỡ, anh đội mũ ushanka mùa đông, quấn xà cạp và đi một đôi ủng nặng nề, đồ đạc mang theo là chút ít thứ có thể xách được về nhà. Anh đã ở nhờ tại đây khoảng hai tuần, giúp bà chủ nhà gieo hạt để được trả công ba pút lúa mạch và sẽ được đi nhờ ngựa ra ga chiều tối nay, hy vọng sẽ lên được một toa hàng rỗng nào đó đang trên đường từ tiền tuyến về để đỡ một quãng đường về nhà. Alexei Ivanovich hết sức vui mừng vì kiếm được số lúa mạch này, anh còn dẫn tôi lên đồi và mỉm cười khi thấy tôi vỗ vỗ lên những túi lúa căng đầy.

      Sau đấy anh kể tôi nghe bọn Đức đã đốt làng anh như thế nào, gia đình anh hiện đang phải sống trong những căn hầm đào dưới đất. “Sẽ rất tốt nếu tôi không trở về nhà với hai bàn tay trắng,” anh nói. “Tôi sẽ mang về cho mọi người chút lương thực, tôi đã thấy họ khó khăn thế nào khi tôi được về phép sau lần bị thương thứ hai. Không hiểu họ sống kiểu gì trong những căn hầm? Nó tối tăm ẩm ướt, nhiều sâu bọ. Mùa hè thì mọi sự không quá tồi tệ nhưng mùa đông thì quả thật là khó khăn.”

     Grossman cũng có nhiều ghi chép trong chuyến ra mặt trận cuối cùng này.

    Trên chiếc jeep Willy rời Moscow, đi qua Minsk chúng tôi nhìn thấy có lửa cháy, người ta đang đốt cỏ dại mọc trên đồng trong chiến tranh.

    Bầu trời xám xịt, mưa suốt ba ngày.Một  mùa xuân sắt máu tiếp theo những năm chiến tranh sắt máu. Một  thời kỳ hòa bình khó khăn đang đến sau những năm chiến tranh khó khăn: những trại tù binh đang được xây dựng khắp nơi, dây thép gai được rải, tháp canh được xây để trông giữ những tên tù binh Đức đang được những đội hộ tống đưa tới. Sau khi chiến tranh kết thúc chúng sẽ phải sửa những con đường bị tàn phá vì sự di chuyển của quân đội.

    Quãng đường từ Brest đến Warsaw cũng bị tàn phá nặng nề. Nhưng đi quá về phía tây thì đường xá khô ráo hơn và trời cũng đẹp hơn. Những hàng cây bên đường – táo vào sơ ri, đều đang trổ hoa. Trong những nhà nghỉ thôn dã của dân Berlin phủ đầy hoa – tulip, tử đinh hương, hoa hồng, táo, sơ ri và mơ, chim hót véo von. Tự nhiên không hề tỏ vẻ tiếc thương cho ngày tàn của chủ nghĩa phát xít.

    Tại thị trấn Landsberg gần Berlin, trẻ con đang chơi đùa trên nền các ngôi nhà. Các chiến sĩ ta vào lúc này đang dứt điểm đế quốc Đức tại Berlin, còn tại đây lũ trẻ với gươm giáo gỗ, chân khẳng khiu dài nghêu, tóc cắt ngắn sát đầu, ngón tay vàng sỉn, đang gào thét chói tai, đâm chém nhau, nhảy nhót man dại, như thể nơi đây đã phát sinh một cuộc chiến mới, bất tận, vĩnh cửu.

    Vòng xoay trên xa lộ Đức. Các câu chuyện kể rõ ràng đã phóng đại độ rộng của nó. Con đường cao tốc dẫn tới Berlin. Những đám đông người mới giải phóng. Hàng trăm nông dân Nga râu ria xồm xoàm đang cuốc bộ qua cùng một số phụ nữ và rất nhiều trẻ con. Gương mặt các nông dân phủ đầy râu và những người lớn tuổi hơn trông có vẻ tối tăm ảm đạm. Họ là các starosta (1), những tên cảnh sát địa phương hạ tiện, chúng đã chạy tới tận Berlin và giờ buộc phải bỏ nơi đó. Người ta nói Vlasov đã tham gia trận đánh cuối cùng tại Berlin cùng với người của hắn (2).

    Càng gần tới Berlin, cảnh vật xung quanh trông càng giống vùng ngoại ô Moscow.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM