Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Tư, 2020, 05:49:34 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vasily Grossman - Nhà văn nơi chiến trường  (Đọc 47607 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #80 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2015, 06:15:02 PM »

                                                                                 HAI MƯƠI HAI


                                                                         VƯỢT QUA UKRAINA TỚI ODESSA



      Đầu tháng ba, Grossman đi theo sở chỉ huy Phương diện quân Ukraina 3. Quân Đức vẫn đang đóng giữ ven bờ Biển Đen dù bị Phương diện quân Ukraina 1 thọc sườn từ phía bắc.

      Trong tuần đầu tháng ba, Nguyên soái Zhukhov thay thế Vatutin bị thương nặng ngày 29/2 trong cuộc phục kích của du kích UPA người Ukraina. (1) Zhukhov trực tiếp chỉ huy một cuộc tấn công mới về hướng Ternopol. Cũng trong tuần đầu tháng ba đó, Phương diện quân Ukraina 2 của Nguyên soái Konev tấn công về hướng Uman, dọc đường đã đánh chiếm được một số lượng lớn kho tàng của đối phương. Sau năm ngày tiến công, tính đến ngày 10/3, 200 xe tăng, 600 pháo và hàng nghìn xe cộ Đức bị sa lầy dọc đường và phải bỏ lại đã rơi vào tay quân Nga trên đường hành tiến. Lính Hồng quân nguyền rủa thứ bùn lầy mùa xuân có cái tên rasputitsa này, nhưng người Đức còn khổ sở vì nó hơn nhiều. Các
mũi nhọn thiết giáp của Konev đã sốc tới trước chiếm nhiều đầu cầu vượt sang phía nam sông Bug. Họ chỉ còn cách biên giới Moldovia và sông Dnestr chưa đến 100km, con sông này cũng bị vượt qua vào ngày 17/3, mười hai ngày sau khi cuộc tấn công bắt đầu. Các sư đoàn Đức, giờ chỉ còn một phần nhỏ sức mạnh bình thường, đã phải chiến đấu để thoát khỏi bị bao vây và bỏ chạy thật nhanh, luồn lách qua quân Soviet. Trong nhiều trường hợp, chỉ nhờ được Luftwaffe tiếp tế bằng dù chúng mới có thể chạy tiếp. Tuy nhiên mong muốn chạy thoát của quân Đức là rất cao, không người Đức nào muốn chịu chung số phận với Tập đoàn quân VI của Paulus tại Stalingrad.

       Cùng lúc đó, trong nhiều cuộc tấn công phối hợp với nhau, Phương diện quân Ukraina 3 của Malinovsky xuất phát từ Ingulets đã vượt liền hai con sông và sắp cắt rời bảy sư đoàn Đức. Cuộc tiến công đã gặp nhiều yếu tố thuận lợi.

       Trước cuộc tấn công, Hội đồng Quân sự Phương diện quân đã phải tính tới mọi điều kiện thời tiết, chăm chú theo dõi phong vũ biểu. Một chuyên gia thời tiết được triệu tập tới, đó là một ông cụ nắm rõ thời tiết địa phương và có thể dự báo bằng cách quan sát một số dấu hiệu mà không ai khác ngoài cụ biết. Các sĩ quan đều quan tâm đặc biệt đến tình hình thời tiết.

      Ngày 6/3, Phương diện quân Ukraina 3 của tướng Rodion I. Malinovsky mở cuộc tấn công dọc theo bờ Biển Đen nhằm chiếm Odessa. Đối phương là Tập đoàn quân VI Đức - đơn vị được tái lập sau khi tiền thân của nó bị tiêu diệt ở Stalingrad theo lệnh của Hitler nhằm lấp liếm thất bại. Mũi nhọn là lực lượng kỵ binh của trung tướng I. A. Pliev gồm Quân đoàn 4 Kỵ binh Cận vệ và Quân đoàn 4 Cơ giới. Kỵ binh tỏ ra rất hữu hiệu trong tình trạng bùn lầy nặng.

       Sở chỉ huy tiền phương đóng tại làng Novaya Odessa, cách Odessa khoảng 90km. Bùn lầy khủng khiếp. Nếu không được Rudnyi giúp chắc tôi không thể mang nổi vali từ sân bay đến sở chỉ huy.

       Tiến quân trong bùn cần những nỗ lực to lớn. Lượng nhiên liệu vốn đủ để chạy xe hàng trăm km giờ chỉ chạy được vài trăm mét. Các đội cơ động đang cắt dây thông tin, các tuyến hậu cần và giao liên của địch. Thỉnh thoảng có trường hợp bọn Đức tháo chạy tán loạn.

       Khắp thảo nguyên ngập trong tiếng gầm của xe cộ và máy kéo các loại đang cố băng qua bùn lầy. Các "con đường" có thể rộng tới hàng trăm mét.

       Grossman đã mô tả rất chi tiết cuộc tiến công này trong một bài báo đăng trên tờ Krasnaya Zvezda.  Cuối cùng thì thời tiết cũng nóng dần lên, một đám mây bụi đã bắt đầu xuất hiện bay quanh những chiếc xe tải. Một viên đại uý gầy gò đen nhẻm với áo khoác phủ đầy bụi nâu đỏ sung sướng hít sâu thứ không khí đầy bụi: "Ôi, cứ tưởng tượng đến thứ bùn lầy tồi tệ trước kia là tôi thấy đám bụi này còn đẹp hơn tất cả những bông hoa xuân. Đối với chúng tôi thứ mùi bụi bậm này thật là tốt đẹp."

      Vài ngày trước, tiếng gầm chói tai của những chiếc xe tải 1.5 tấn, xe Yaz 5 tấn (2), máy kéo, xe xích kéo, Dodge và Studebaker vang không ngừng trên khắp thảo nguyên. Những cỗ xe gầm lên giận dữ cố thoát khỏi đám bùn bám chặt khiến những người lính không thể ngủ nổi. Những bánh xe quay tít một cách vô dụng, chỉ làm bắn lên từng đám bùn, lún sâu thành từng vết trên mặt đường nhầy nhụa. Hàng nghìn người lính gầy gò, mồ hôi đầm đìa nghiến răng nghiến lợi đẩy đằng sau mỗi chiếc xe hoặc vét bùn ra khỏi bánh xe suốt ngày đêm dưới những cơn mưa không dứt. Ba lần đáng nguyền rủa cái mùa tuyết tan ướt át này ...

      Ai sẽ kể lại kỳ công của những con người này? Ai sẽ tái hiện thiên anh hùng ca về cuộc tiến công vô tiền khoáng hậu này, cuộc tiến công không ngừng nghỉ suốt ngày và đêm? Những người lính hành quân bộ mang theo gấp rưỡi cơ số đạn (3), áo choàng ướt đẫm và nặng như chì. Những cơn gió bắc độc địa rú rít quanh họ, làm áo choàng của họ đóng băng cứng ngắc như một tấm thép. Ủng của họ kẹt xuống lớp bùn như thể chúng nặng cả pút. Có khi người ta chỉ đi được 1km/giờ một cách vô cùng khó khăn trên con đường này. Khắp nhiều km quanh đây không có một khoảnh đất khô ráo nào, binh lính ngồi ngay xuống bùn mà nghỉ hoặc tháo ủng ra quấn lại xà cạp. Lính cối theo sau lính súng trường, mỗi người đều đeo theo sáu quả đạn buộc bằng dây thành một băng vòng từ sau lưng ra trước ngực.

      “Cũng ổn thôi,” họ nói. “Bọn Đức còn khó khăn hơn nhiều, giờ đây thời tiết này là cái chết cho chúng ..

       Không có việc gì đáng sợ hơn việc bắc cầu qua sông Nam Bug. Công binh chỉ lập được một đầu cầu bé tí trên bờ tây, quân địch tấn công mạnh và những người lính công binh bắc cầu không chỉ dưới hỏa lực Đức mà là ngay giữa luồng đạn bắn thẳng vào mình. Đầm lầy như một nồi bột nhão không có đáy:Một xúc gỗ được ném xuống thử đã chìm sâu 11m. (4)

      Các tập đoàn quân của Malinovsky đã chiếm được thành phố Nikolayev nằm ở cửa sông Nam Bug, con đường tới Odessa đã mở ra trước họ. Nguyên soái Konev quyết định đã tung một số đơn vị về hướng nam nhằm bao vây các Tập đoàn quân VI và VIII Đức cũng như Tập đoàn quân III Rumany xấu số giữa các lực lượng của ông và các tập đoàn quân của Malinovsky.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #81 vào lúc: 14 Tháng Ba, 2015, 06:21:27 PM »

       Lãnh đạo quân đội Đức đã đưa chỉ huy Sư XVI Cơ giới (5) ra tòa án binh. Đây là lời trần tình của hắn: “Không có xe cộ, lính của tôi còn yếu hơn một sư đoàn bộ binh.”

      Quân địch rất sợ bị bao vây. Chúng không tin rằng tuyến phòng thủ của chúng đủ mạnh vì các chỉ huy đã lừa chúng quá nhiều.

      Một sĩ quan tiêu biểu của quân ta trong thời kỳ mới là: (1) Ý chí; (2) Tin cậy; (3) Coi khinh quân địch; (4) Có khả năng tổ chức chiến đấu với tăng và pháo chứ bộ binh cần ít thôi; (5) Có khả năng đảm bảo đạn dược trong một trận chiến lớn mà lượng dự trữ lại rất yếu kém; (6) Biết cách thúc giục cấp dưới nhưng ko phải bằng những câu khẩu hiệu, điều đó chỉ tổ tốn máu vô ích. Họ thúc giục binh sĩ vượt các con sông vì thà dùng bè cây còn nhanh hơn chờ hàng ngày trời thiết bị vượt sông. Càng tiến nhanh quân địch sẽ càng phải chạy nhanh.

      Odessa đứng vững được tới ngày 10/4, nó chủ yếu được phòng ngự bởi Tập đoàn quân III Rumany. Quân Rumany chiếm đóng vùng tây nam Ukraina tỏ ra dễ chịu hơn nhiều nếu so sánh với cách cư xử của quân Đức đối với dân cư vùng tạm chiếm. Grossman tham gia vào đoàn quân giải phóng và đã đi xem xét khắp Peresyp, một quận của Odessa.

      Trong ngày Odessa được giải phóng, khu cảng trống rỗng, khói bốc cuồn cuộn, tiếng gầm của xe pháo vang khắp thành phố. Từng đám người đổ ra. Những xác chết cháy đen được đưa ra khỏi toà nhà của bọn Gestapo. Xác một cô gái đã cháy thành than mà mớ tóc vàng rất đẹp vẫn còn nguyên.

     Dòng chữ trên căng tin của lính Rumany: "Lối vào cấm người Đức."

     Cuộc họp đầu tiên của Thành uỷ Odessa, bí thư Thành uỷ mời tôi tham dự. Đây là lần đầu tiên một người ngoài Đảng như tôi được mời vào một cuộc họp như vậy.

     Có rất nhiều đồ ăn - đường, bánh, bột mì. Những người dân địa phương chửi rủa người Rumany một cách miễn cưỡng, như thể chỉ để cho phải phép.

     Viễn cảnh kết thúc chiến tranh thúc đẩy tinh thần lạc quan trong nhiều người dân cũng như Hồng quân. Với sự thất bại của chủ nghĩa phát xít, người ta bảo nhau rằng có lẽ Stalin sẽ giải tán lực lượng đặc vụ NKVD và các trại cải tạo Gulag. Grossman cũng nghe được những lời như vậy trong các chiến hào Stalingrad và chia sẻ niềm hy vọng này. Tuy nhiên giờ đây ông đã cảm thấy những người Stalinist sẽ chẳng thay đổi gì hết.
 
     Những cụ già Odessa trên đại lộ, nói chuyện oang oang về việc tái tổ chức chính quyền Soviet sau chiến tranh.

    Một nhà thơ đã có tác phẩm được xuất bản trong một cuốn thơ tiếng Rumany nhan đề "Hôm nay tôi hát" nói chuyện với tôi. Ông ta là một người cực kỳ khó ưa. Đột nhiên tôi nhìn thấy mẹ ông ta đứng dưới cửa sổ bên ngoài, đôi mắt bà ta nhìn ông con với vẻ đầy sợ hãi.

     Aisenshtadt Simon, con trai một giáo sĩ Do Thái nổi tiếng ở thị trấn nhỏ Ostrovet (6) đã được một cô gái Nga cứu. Cô đã giấu anh trong phòng mình hơn một năm. Câu chuyện của anh về ghetto (khu tập trung Do Thái) tại Warsaw, về cuộc nổi dậy, về những người Ba Lan đã tuồn vũ khí vào. Người Do Thái Ba Lan phải đeo băng tay trắng, người Do Thái Bỉ và Pháp đeo băng vàng. Treblinka gần Warsaw là trại huỷ diệt người Do thái, trong đó có một phòng lắp những con dao di động đặt trong tầng hầm, dưới một banya (nhà tắm hơi). Những thân người sẽ bị cắt thành từng mảnh rồi đem đốt. Có hàng núi tro cao từ 20 - 25m. Tại một chỗ khác người Do thái bị đẩy xuống một cái hồ đầy acid, tiếng thét của họ khủng khiếp tới mức nông dân địa phương phải bỏ nhà mà đi. 58.000 người Do thái Odessa đã bị thiêu sống ở Berezovka (7).Một số bị đốt chết trong các toa tàu hoả, những người khác bị đưa tới một bãi trống nơi bọn Đức phun xăng lên người họ rồi châm lửa đốt.

     Lời kể của Bí thư Thành uỷ Ryasentsev. Domanevka (Cool là nơi người Do thái bị hành quyết. Chính bọn cảnh sát người Ukraina tiến hành cuộc hành quyết này.Một mình tên cảnh sát trưởng Domanevka đã tự tay giết 12.000 người.

    Tháng 11/1942, Antonescu ban hành luật trao quyền cho người Do Thái (9), các cuộc thảm sát vốn đã diễn ra trong suốt năm 1942 bị cấm chỉ. Cảnh sát trưởng Domanevka và tám tay chân thân tín nhất bị người Rumany bắt đưa đi Tiraspol (10) để xét xử. Phiên toà đã xử hắn ba tháng cải tạo lao động vì những hành động bất hợp pháp với người Do thái.

     Bản án bất công này là tác phẩm của tay uỷ viên công tố Domanevka,một luật sư người Nga sống ở Odessa, hắn là kẻ đã giết 8 - 9 người mỗi ngày chỉ để cho vui. Hắn gọi thế là "đi săn", hắn thường giết người bằng cách rút thăm. Trẻ con bị hắn thiêu sống bằng cách ném xuống hố rải rơm đang cháy.

     Vào lúc lệnh của Antonescu được ban hành, còn khảng 380 người Do thái ở Odessa sống sót và độ 40 đứa trẻ trong một trường mẫu giáo, họ không còn ngay cả quần áo giầy dép. Tổng số người Do thái Odessa bị thảm sát là khoảng 90.000. Những người sống sót được nhận viện trợ từ Uỷ hội người Do thái Rumany. Những người Do thái Rumany cũng bị hành quyết như người Do thái Odessa, họ bị lừa tới Domanevka. Đây là cách mà một trong những triệu phú giầu nhất Rumany bị giết. Ông ta được đưa tới Domanevka với lý do là để thiết lập một khu mỏ khai thác đất sét dành cho công nghiệp làm đồ gốm tại địa phương. Có ba người Do thái khác đã tham gia vào việc tra tấn và hành quyết ông, cả ba đều đã bị bắt.

      Tại Odessa, chúng đã bố ráp người Do thái vào sau đó đến ngày 10/1/1942 lùa họ tới khu ghetto ở Slobodka. Lúc đó rất lạnh, khi bị lùa lên tàu đã có hàng trăm xác chết của những người già, trẻ em và phụ nữ bị vứt lại trên phố.


      Ngoài việc nhận thấy rằng rất nhiều người quen biết mình giờ đã chết, Grossman cũng có một kinh nghiệm trái ngược trong mùa xuân năm đó, cách Berdichev ko xa. Ông đến thăm lữ đoàn tăng của Phương diện quân Ukraina 1 đang được tái trang bị tại Vinnitsa, đây vốn là nơi đặt sở chỉ huy của Hitler, mật danh Wehrwolf. Ông đã ăn tối với lữ đoàn trưởng, "Một người thấp bé, bình tĩnh và bản chất tốt", như Ortenberg mô tả trong một bài viết. "Trong bữa tối, khi nói chuyện về ngày giờ và địa điểm các trận chiến, Grossman đã nhận thấy người này rất giống nhân vật Babadzhanyan chỉ huy trung đoàn 395 mà ông đã biến thành người hùng trong tiểu thuyết "Nhân dân bất diệt". "Phải, là tôi đấy," Babad-zhanyan xác nhận. "Nhưng anh đã cho tôi chết rồi còn đâu."

      ""Tôi đã giết anh," Grossman trả lời, "nhưng tôi cũng có thể cải tử hoàn sinh cho anh.""

                       …………………………………………….

      (1)UPA - Ukrainska povstanska armiia - Quân khởi nghĩa Ukraina, tổ chức dân tộc chủ nghĩa và chống cộng cực đoan từng cộng tác với Đức nhưng quay lại tấn công chúng khi quân Nazi đối xử tàn nhẫn với người Ukraina tại các vùng tạm chiếm.

      (2)Yaz 210G là loại xe tải đáng tin cậy của Hồng quân, trọng tải 5 tấn, có chắn bùn cả sáu bánh. Các tài xế Soviet khoái xe Mỹ được cung cấp theo Thoả ước Lend - Lease hơn, nhưng mặt khác lại ghét tất cả các loại xe Mỹ viện trợ ở điểm là chúng chạy bằng xăng, dễ bắt cháy nếu trúng đạn hơn các loại chạy bằng diesel như T34.

      (3)Cơ số đạn tiêu chuẩn được tăng thêm 50% trong cuộc tiến công vì vấn đề hậu cần trở nên quá khó dự đoán do không biết đâu sẽ là điểm dừng để chuyển sang phòng ngự.

     (4)Ngày 11/3/1944, các bộ phận của Tập đoàn quân Xe tăng 2 của Bogdanov và Xe tăng 6 của Kravchenko đã chiếm được một số đầu cầu qua sông Nam Bug.

      (5)Ở đây đang nhắc tới Sư 16 Panzergrenadier, chỉ huy là Thiếu tướng Gunther Von Manteuffel, sau này sư đoàn được tái lập với tên Sư 116 Thiết giáp.

      (6)Thị trấn này nằm cách Odessa khoảng 270km về phía bắc.

      (7)Berezovka hay Berozovka nằm cách Odessa khoảng 80km về phía bắc trên tuyến đường sắt chạy từ Cherkassy đến Nikolayev.

      (8)Domanevka là một thị trấn khác cách Berezovka 40km về phía bắc - đông bắc.

      (9)Thống chế Ion Antonescu, nhà độc tài Rumany chống cộng nhưng không chia sẻ với đồng minh Đức chủ nghĩa bài Do thái. Nhà cầm quyền Rumany đã được chính phủ Đức công nhận cho một khu bán tự trị tại khu vực Odessa.

     (10)Tiraspol là một thị trấn lớn nằm bên sông Dnestr thuộc Moldovia mà người Rumany đã đòi lại sau khi nó bị Stalin chiếm năm 1940. Ngay sau khi Hồng quân tái chiếm nó đã bị sáp nhập lại vào Liên Xô.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #82 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2015, 05:12:24 PM »

                                                                                        HAI MƯƠI BA


                                                                                CHIẾN DỊCH BAGRATION


      Sau khi giải toả hoàn toàn Leningrad và chiếm lại Ukraina một cách nhanh chóng, Stalin tiếp tục được các tướng lĩnh của Stavka tư vấn. Họ bao gồm Zhukov, phó tổng chỉ huy tối cao; Vasilevsky, tổng tham mưu trưởng; tướng Antonov (1), phó tổng tham mưu trưởng; tướng Shtemenko (2), chỉ huy hành quân.

       Sau khi quân Đức thất bại tại mặt trận phía nam và bị đẩy bật về Rumany, Grossman chuyển sang hướng bắc, tới biên giới phía đông Belorussia, vùng lãnh thổ Soviet cuối cùng còn nằm dưới ách chiếm đóng của bọn Nazi. Ông nhận thấy giờ đây mình còn ở gần nơi chiến tranh bắt đầu hơn cả ba năm về trước. Đông Belorussia là điểm xuất phát của những chiến dịch tham vọng nhất trong cuộc chiến Nazi - Soviet.

      Stavka đã được người Mỹ và người Anh thông báo Chiến dịch Overlord sẽ bắt đầu vào cuối tháng năm. Kế hoạch tấn công mấu lồi khổng lồ Belorussia (Ban công Belorussia) được vạch ra với những quy định nghiêm ngặt về bảo mật. Ngoài Stalin, chỉ có năm người nữa biết được bí mật của kế hoạch. Họ biết rằng họ phải đánh lừa được người Đức về hướng tấn công chính. Các tập đoàn quân xe tăng tại phía nam vẫn giữ nguyên vị trí và tập trung lại với nhau làm ra vẻ đang chuẩn bị một cuộc tổng tấn công nữa về hướng nam vùng đầm lầy Pripet. Liên lạc điện đài bị buộc phải ngừng tại ba phương diện quân Ukraina giống như trước mỗi cuộc tấn công và tin đồn về hải quân đang đổ bộ lên bờ biển Đen thuộc Rumany được lan truyền. Người Đức đã thua trong cuộc đấu trí này, họ tăng cường các đơn vị tại phía nam đặc biệt là quanh khu vực Lvov.

      Kế hoạch Soviet với 1.250.000 quân tham chiến được lên xong ngày 20/5. Cùng lúc đó, những đơn vị xe tăng mới được tăng cường bí mật di chuyển tới biên giới phía đông Belorussia. Đích thân Stalin đặt mật danh cho chiến dịch là Bagration, viên tướng vĩ đại người Gruzia đã bị trọng thương trong trận Borodino. Rokossovsky, một người Ba Lan từng bị bắt trước chiến tranh và bị các đặc vụ NKVD của Beria tra tấn, đã đối đầu với Stalin trong một cuộc tranh luận ác liệt về giai đoạn khởi đầu chiến dịch, ông muốn chia quân thành hai cánh tấn công về hướng Vitebsk và Bobruisk, thọc vào hai bên sườn "Ban công Belorussia" để bao vây Minsk. Cả Molotov và Malenkov đều cố gàn Rokossovsky đừng đấu với Vozhd – Lãnh tụ. "Anh có biết anh đang cãi nhau với ai không?" họ nói. Nhưng Stalin đã tỏ ra khâm phục dũng khí của Rokossovsky và chấp nhận quan điểm của ông.

       Các lực lượng đồng minh phương Tây đổ bộ lên Normandy ngày 6/6 trong khi Hồng quân vẫn còn phải sốt ruột chờ đợi những thiết bị mới đang tới mà hệ thống đường sắt thì đã bị quá tải nặng nề. Grossman ghi lại phản ứng về những sự kiện tại Normandy.

       Đề tài Mặt trận thứ II đã mở được mọi người nhiệt tình hưởng ứng ngay từ ngày đầu tiên. Các cuộc hội họp, bắn súng ăn mừng được tổ chức nhưng sau đó niềm hứng khởi giảm rất nhanh.

      Một câu nói tiêu biểu: Một người nói trên tàu hỏa khi nghe được tin Đồng minh tấn công: "Vậy đấy, giờ thì có lẽ họ sẽ thậm chí không xuống tàu với chúng ta."

     Một số binh lính hoặc thậm chí sĩ quan chưa bao giờ có cơ hội biết về cuộc sống bên ngoài đơn vị nên đã dội bom một người ngoài như Grossman bằng những câu hỏi.

      Các sĩ quan và binh lính rất hay hỏi về tình hình thế giới, và rất nhiều người hỏi. Họ hỏi về Mặt trận thứ hai, tình hình Nhật, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và cả trăm vấn đề khác. Các câu hỏi về vấn đề ngoại giao ít hơn một chút. Khi hỏi, người ta có vẻ muốn tìm hiểu về diễn biến và thời gian chiến tranh.

       Grossman đi theo Tập đoàn quân 65 của tướng Batov,một  bộ phận của Phương diện quân Belorussia 1 do Rokossovsky chỉ huy, vào thời điểm diễn ra cuộc tổng tấn công. Sau nhiều trì hoãn, cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 22/6, đúng ngày kỷ niệm ba năm cuộc xâm lược của bọn Nazi. Hai ngày sau, ba tập đoàn quân của Rokossovsky - Tập đoàn quân 3 của Gorbatov, 48 của Romanenko và 65 của Batov - đã vượt qua vùng rừng ngập nước phía bắc đầm lầy Pripet để tấn công Tập đoàn quân IX Đức quanh Bobruisk trên sông Beresina. Ngày 27/6, quân phòng thủ Đức - khoảng 5.000 người thuộc Sư 383 Bộ binh - đã chặn được những đợt tấn công ồ ạt đầu tiên vào thành phố nhưng sau đó chúng nhận ra rằng chúng đã bị bao vây. Viên sư trưởng, tướng Hamann (3), đã cố gắng đánh mở đường về phía bắc thành phố nhưng lối thoát đó đã bị Tập đoàn quân 3 của Gorbatov cắt đứt. Grossman mô tả lại lại những gì nhìn thấy tại Bobruisk khác với phần lớn phóng viên Soviet khác chỉ toàn ca ngợi sức mạnh tập thể của Hồng quân. Ông luôn thích cá nhân hoá những con người đang ở giữa cảnh chém giết tàn bạo của chiến trường.

       Đôi khi bạn phát run lên vì những gì nhìn thấy, máu trong tim trào sôi, và bạn biết rằng hình ảnh này sẽ ám ảnh suốt cuộc đời bạn. Thật kỳ lạ khi bạn ngồi viết về nó, bạn không thể viết được hết ra trên mặt giấy. Bạn đang viết về một quân đoàn tăng, về pháo binh nặng, nhưng bất giác lại nhớ về những đàn ong bay vù vù trong một ngôi làng cháy rực, một cụ già người Belorussia chân trần trèo lên khỏi con hào nơi cụ náu mình trước những quả đạn pháo và xua đàn ong đi bằng một  cành cây, những người lính nhìn cụ và, lạy Chúa, ai nấy đều có thể đọc được biết bao điều trong đôi mắt thâm trầm và u uất của cụ. Trong cặp mắt nhỏ bé đó chứa đựng tất cả tâm hồn của con người đã chịu đựng và vượt qua cuộc chiến với chiến thắng ...

      Làm cách nào để nhận ra những người quen cũ ở Stalingrad (4) giữa khói bụi, tiếng gầm của động cơ, tiếng nghiến của xích xe tăng vào pháo tự hành cùng tiếng rít của những hàng dài xe ngựa kéo đang đi về hướng tây, cùng với đó là hàng đoàn phụ nữ chân đất đầu đội khăn và trẻ em đi về phía đông, trở về nhà? Vài người tốt bụng chỉ cho chúng tôi cách nhận biết nhờ biểu tượng nổi tiếng của sư đoàn cho đỡ phải dừng xe và hỏi han không cần thiết, đó là chú lạc đà Kuznechik (Châu chấu) trong đơn vị hậu cần của trung đoàn pháo. Chú lạc đà này đến từ Kazakhstan và đã đi cùng sư đoàn trên mọi nẻo đường từ Stalingrad đến Beresina. Các sĩ quan liên lạc thường tìm Kuznechik của đội hậu cần chứ không cần hỏi để tìm xem sở chỉ huy ở đâu dù sở chỉ huy có luôn di chuyển suốt ngày đêm. Chúng tôi ghi nhận lời chỉ bảo kỳ cục này một cách vui vẻ và lên đường.

     Thứ đầu tiên chúng tôi nhìn thấy khi quay lại với đám đông ầm ĩ và bụi mù trên con đường chính là một chú lạc đà màu nâu đang kéo một cỗ xe. Nó gần như trọc, không còn tí lông nào trên đầu, đích thị đây là Kuznechik nổi tiếng rồi.Một đám tù binh Đức đang đi bên kia đường, chú lạc đà quay cái đầu xấu xí về hướng chúng, môi dưới trề ra với vẻ khinh bỉ. Chắc là màu sắc khác thường của quân phục đám tù binh hoặc thứ mùi kỳ quái phát ra từ chúng đã thu hút sự chú ý của nó. Tay đánh xe lạc đà nói với đám lính áp giải tù binh với giọng tỏ ra rất nghiêm túc: "Đưa mấy tên Đức cho chúng tôi luôn đi, Kuznechik đang muốn ăn chúng!" Và ngay sau đó chúng tôi được biết tiểu sử của chú lạc đà. Nó thường trốn giữa những thùng đạn pháo khi có pháo kích, từng bị ba vết thương nhẹ và đã được trao huy chương "Vì đã bảo vệ Stalingrad". Chỉ huy trung đoàn pháo Kapramanyan đã hứa thưởng huân chương cho tay đánh xe nếu cậu ta đến được Berlin cùng Kuznechik. (5) Chúng tôi đi theo hướng Kuznechik chỉ và tìm thấy sư đoàn.

       Tôi không tìm thấy nhiều người quen cũ tại sư đoàn của Gurtiev, tôi nhớ rất rõ họ dù chỉ qua những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi. Bản thân Gurtiev đã hy sinh trong trận đánh giải phóng Orel khi một quả đạn pháo bắn trúng điểm quan sát, ông đã lấy thân mình che cho tướng Gorbatov. Máu của viên - tướng - của - những - người - lính này dính cả vào mũ của Gorbatov.

      Khi chúng tôi đến Bobruisk, vài ngôi nhà vẫn còn cháy đùng đùng, số khác chỉ còn là đống đổ nát. Hãy để Bobruisk dẫn lối con đường báo thù! Với nhiều khó khăn, chiếc xe của chúng tôi len lỏi giữa những đống đổ nát và những chiếc xe tăng, pháo tự hành Đức móp méo. Binh lính bước qua xác những tên Đức. Hàng trăm, hàng ngàn cái xác phủ khăp mặt đường, trong những con hào, dưới những gốc cây, trên những cánh đồng lúa mạch xanh non. Ở vài chỗ xe phải cán qua những xác chết nằm dày đặc trên mặt đất. Mọi người đang hết sức bận rộn với việc chôn chúng, nhưng chúng quá nhiều đến mức việc này không thể hoàn tất chỉ trong một ngày. Hôm nay trời vẫn nóng phát ngốt và người ta phải đi bộ hay lái xe với khăn tay bịt mũi. Nơi đây đã biến thành cái vạc dầu của thần chết do những người báo thù thực hiện - cuộc báo thù ghê rợn, không thương xót dành cho tất cả những kẻ không chịu hạ vũ khí mà định đào thoát về phía tây.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #83 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2015, 05:15:23 PM »

       Một tên lính Đức bị thương vào chân đang ngồi bên bờ sông Beresina, cạnh con đường dẫn vào thành phố Bobruisk rực cháy đã bị tàn phá. Hắn ngẩng đầu nhìn đoàn tăng pháo đang đi qua cầu. Một người lính Hồng quân lại gần hắn, múc ít nước sông vào cà mèn đưa cho hắn uống. Tôi không thể không nghĩ đến chuyện tên Đức này đã làm gì vào mùa hè năm 1941, khi những đoàn thiết giáp và binh lính Đức tiến về phía đông cũng trên cây cầu này, không biết hắn sẽ làm gì nếu thấy một người lính ta bị thương vào chân ngồi bên bờ cát. Grossman được chấp thuận cho phỏng vấn các tướng lĩnh Đức bị bắt làm tù binh. Trung tướng Von Lutzov, chỉ huy Quân đoàn 35, dân Phổ, 52 tuổi, bị bắt gần Bobruisk trong Một vòng vây khác (6). Theo hầu hết các báo cáo, viên tướng này đã suy sụp vì căng thẳng khi phải phòng thủ một vị trí không còn có thể phòng thủ mà Hitler lại từ chối đề nghị cho hắn được rút quân.

      (Nguyên) Trung tướng Lutzov ko ca ngợi quân ta có điều gì đặc biệt giỏi giang. Theo hắn binh lính ta không có sự sáng tạo, nếu không có người chỉ huy họ sẽ không biết làm trên trận địa. Pháo binh ta thì mạnh nhưng máy bay Soviet bỏ bom mà chẳng ngắm gì cả.

      Lutzov phàn nàn về việc hắn hoàn toàn thiếu tự do hành động. Ví dụ, hắn cần được bộ chỉ huy tập đoàn quân chấp thuận cho bỏ vị trí, tập đoàn quân lại cần chấp thuận của Cụm tập đoàn quân, Cụm tập đoàn quân lại cần chấp thuận của Bộ Tổng tham mưu (7). Lutzov chỉ nhận được lệnh chấp thuận cho rút khi vòng vây quanh Quân đoàn 35 đã khép kín.

      (Nguyên) Tướng SS Heyne nói về bản thân: "Tôi là một Front-schwein." (Cool

       Hầu hết tướng lĩnh, sĩ quan và binh lính Đức bị bắt trong Chiến dịch Bagration đều bị áp giải về Moscow để đưa đi diễu trong buổi diễu binh mừng chiến thắng ngày 17/7. Truyền thông Soviet đã tô vẽ thêm là nhiều đứa trẻ Nga đã chờ đợi ngày này để xem những con quỷ bị báo thù chứ không phải là những người lính bại trận. Trong bất kỳ trường hợp nào cũng cần nhấn mạnh thất bại to lớn này của quân đội Đức, Wehrmacht đã mất khoảng 1/3 triệu quân, còn nặng nề hơn cả trận Stalingrad.

       Báo cáo từ các sĩ quan tình báo Soviet cũng cho Grossman biết đối nét về những giấy tờ tịch thu được và các cuộc thẩm vấn tù binh.

       Tịch thu được một tấm bản đồ của bọn Đức. Các chi tiết hoàn toàn giống với bản đồ mà bộ phận tình báo của ta vẽ, không chỉ vị trí các sư đoàn mà cả các đơn vị dự bị, các điểm tập trung quân, v.v..., giống tất.

      Một sĩ quan tù binh Đức nói các sĩ quan Đức cãi nhau suốt về đòn tấn công tiếp theo của người Nga. Số ít cho rằng quân Nga sẽ đánh trên toàn tuyến, số khác, nhiều hơn, nói về cái bẫy chuột khổng lồ có tên "Belorussia".

      (Trước cuộc tấn công của quân Soviet) Thống chế Bush đi thăm các đơn vị tiền tuyến để "xem niềm lạc quan và sự kiên định" của họ. Người Đức đã định rút bớt một số đơn vị từ tiền tuyến về sâu trong nội địa, có lẽ tin này liên quan tới cuộc tấn công của lực lượng Đồng Minh.

       Trên đường tiến công tới Minsk ở phía tây bắc, Grossman lại nhập vào Tập đoàn quân 65 của tướng Batov. Chỉ trong có hơn một tuần, tuyến phòng thủ của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm đã bị phá vỡ. Quân Đức mất 200.000 người và 900 xe tăng, nhưng thương vong của phía Soviet cũng khá lớn ở nhiều vị trí. Thậm chí các tướng lĩnh Hồng quân còn tỏ ra chai sạn trước những cuộc tàn sát đẫm máu. Ngay cả khi chiến dịch đã bắt đầu, Hitler và Bộ chỉ huy tối cao Đức vẫn còn chưa mường tượng được kế hoạch của người Nga là đánh vào hai cánh như một cái càng cua, bên trong đó vây trọn Minsk và toàn bộ Cụm tập đoàn quân Trung tâm.

       Ngày 3/7, xe tăng Soviet đã tới vùng ngoại ô Minsk. Thêm 100.000 quân Đức nữa rơi vào rọ, gần 1/2 số đó bị giết. Ghi chép của Grossman về giai đoạn này khá tuỳ tiện, vừa có vẻ tàn bạo, ham muốn trả thù, vừa là những mô tả thực tế. Lính Ý, những kẻ cũng từng gây tội ác trên nước Nga vì lý tưởng phát xít mà phần lớn chúng bản thân chẳng hề tin theo, sau đó nhận ra mình chỉ là tù binh hay nô lệ cho người Đức. Grossman cũng nghe được chuyện một số trường hợp cựu binh Hồng quân phục vụ trong quân Đức đã bị xử tử. Lính Ý bị người của Vlasov hành quyết (9). Tù binh Hồng quân bị tàn sát vào đêm 12 rạng ngày 13/2/1944, đến sáng suốt chiều dài phố Sovyetskaya chất đống hàng nghìn xác chết.

      Lửa cháy tại các khu dân cư ven sông; hàng trăm nghìn người đã mất mọi thứ trong lửa đang ngồi trên những gì còn lại: ghế tựa, tranh ảnh, sừng hươu; những cô gái cầm theo bếp.Tù binh Đức đang đi; trông chúng thật ảm đạm.Một  tên vuốt phẳng quần áo và chào mỗi khi gặp một chiếc xe.

     Một phiên bản khác của câu chuyện này cho biết tù binh Đức đang trong giai đoạn khủng hoảng.

     Các cuộc giết chóc trả thù được xem là bình thường sau cuộc chiến chống du kích kinh hoàng diễn ra trên khắp Belorussia mà người Đức và những kẻ giúp sức cho chúng đã làm, những kẻ mà Hồng quân thường quy tất là Vlasovtsy (người của Vlasov).

     Một du kích nhỏ thó đã giết chết hai tên Đức bằng một cây cọc hàng rào. Anh ta đã cãi nhau với người lính áp giải hàng tù binh để đòi cho được hai tên Đức đó, anh khẳng định hai tên này chính là những kẻ đã giết con gái Olya và hai con trai anh. Anh ta dần nhừ tử hai tên Đức rồi đập vỡ sọ chúng, vừa đánh vừa gào khóc: "Cú này cho con - Olya! Cú này cho con - Kolya!" Khi chúng đã chết rồi anh vẫn còn dựng xác chúng tựa vào một gốc cây để đánh tiếp.

      Những người của Vlasov đang bị hành quyết. Đồng bào giết nhau, một người Orel giết một người Orel, một người Uzbek giết một người Uzbek.

      Không còn một sân bay Đức nào phía trước, những chiến đấu cơ quân ta sải cánh trên đất đai ta. Tổ quốc ta sẽ không phải bừng cháy lâu nữa.

       Có tiếng harmonica. Ai đó đã lấy được một chiếc kèn harmonica Đức. Đó đúng là thứ nhạc cụ dành cho lính tráng vì nó là thứ duy nhất có thể chơi dễ dàng ở bất cứ đâu, thậm chí ngay cả khi ngồi trên thùng xe xóc nảy.

       Binh lính sư đoàn thuộc 14 dân tộc (10).
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #84 vào lúc: 15 Tháng Ba, 2015, 05:19:27 PM »

       Vì quá khó tìm giấy cuốn thuốc lá nên đã có nhiều trường hợp người ta dùng cả giấy chứng thương và các giấy tờ quan trọng khác để vấn thuốc hút.

      Điện đài viên Skvortsov là người nhỏ thó và chất phác. Anh có ba cô vợ chưa cưới. Một cô đã gửi ảnh cho anh, nhưng đó không phải ảnh cô ta. Cô thứ hai may cho anh một cái áo sơmi cỡ 48 trong khi anh mặc cỡ 46. Anh quát các cô gái ở bộ phận Chính trị: "Tất cả chúng ta đều phục vụ ở đây. Tại sao bạn không được trao ngôi sao hay quân hàm? Khi chiến tranh kết thúc, bạn sẽ chẳng được gì."

       Pháo thủ Konkov, trung sĩ cận vệ, là người duy nhất sống sót. Anh bèn buộc 40 tên tù binh Đức kéo khẩu lựu pháo ra, doạ dẫm chúng bằng cây tiểu liên để buộc chúng bắn trực xạ vào quân địch.

      Grossman rất được tướng Batov hâm mộ, ông là chỉ huy Tập đoàn quân 65, đơn vị được Rokossovsky giao dẫn đầu mũi nhọn tiến về phía tây, hướng tới Warsaw.

     Batov không có vẻ là một người Nga lạc quan, ghét các thủ tục kể cả việc vinh danh chiến công.

     Và giống như các chỉ huy giỏi nhất tại Stalingrad, Batov tin tưởng vào các bài tập thực tế giống như Gurtiev đã bắt lính đào hào, núp dưới đó rồi cho xe tăng chạy qua.

      Huấn luyện trước một cuộc tấn công. "Nếu có một vũng nước sâu tới ngực thì phải tiến hành tập luyện trong vũng nước đó. Nếu có một con mương - tập dưới mương." Nói chuyện với một tham mưu trưởng pháo binh về pháo binh Nga, súng Nga. Kiệt tác của pháo binh Nga là cây lựu pháo 152mm, nó vừa là dã pháo vừa là lựu pháo.

      Pháo binh thừa hưởng tinh thần Nga. Tiền sát pháo là một lính bộ binh, anh ta mang tới cho khẩu pháo nhiệt tình và sự táo bạo của người lính chiến. Hoả lực góp vào đó sức mạnh. Người Đức bắt đầu cuộc chiến với óc tôn thờ kỹ thuật thì nay phải trở về với việc tôn trọng bộ binh, còn chúng ta bắt đầu cuộc chiến với những người lính bộ binh và càng ngày càng tìm ra nhiều cách hỗ trợ bộ binh bằng kỹ thuật.

      Lính trinh sát Đức rất tồi. Chúng khai hoả bừa bãi, bỏ súng dễ dàng. Chúng bỏ chạy thậm chí còn trước cả bộ binh, còn bộ binh thì thường bỏ chạy trước cả pháo binh.

       Mặc dù thuốc phóng của pháo Đức là nitroglycerine, mạnh hơn pyroxylin của ta, nhưng dã pháo Đức thường mỏng mảnh và không dài bằng pháo ta.

       Ngày 13/7, thêm một đòn đánh nữa giáng xuống quân Đức. Phương diện quân Ukraina 1, giờ chỉ huy là Nguyên soái Konev, tấn công vào Lvov, cuộc tấn công mà người Đức đã tưởng là sẽ diễn ra trước Chiến dịch Bagration. Đây là giai đoạn đầu của cuộc tiến công sẽ mang các tập đoàn quân của Konev thẳng tới Vistula, tại đó Hồng quân đã chiếm được đầu cầu Sandomierz trên bờ tây chỉ sau hai tuần tiến công, đầu cầu này chỉ cách Warsaw chưa đến 200km về phía nam. Cùng lúc, Phương diện quân Belorussia 1 của Rokossovsky cũng tấn công về phía tây nhằm hướng Vistula cả ở phía bắc và nam Warsaw.

      Khi Tập đoàn quân 65 đang tiến như vũ bão trên đất Ba Lan, những người lính Soviet có những cảm giác lẫn lộn về những người dân địa phương. Điều này đặc biệt đúng với những người biết rõ nhà nước Liên Xô đã làm những gì tại Ba Lan vào năm 1939, đó là đâm sau lưng họ như một phần của Thoả ước Molotov - Ribbentrop. Người Ba Lan trở thành những kẻ thù tự nhiên, phần lớn họ tỏ ra chống Cộng và là những kẻ phản động trong con mắt Soviet. Tuy nhiên họ cũng chống Đức rất dữ dội và đã kháng cự một cách quả cảm. Giờ đây họ lại phải chịu cảnh bị cướp bóc và hãm hiếp do bàn tay của những người đến giúp giải phóng cho họ. Grossman, không hề nghi ngờ gì về thói bài Do Thái đã đến mức nổi tiếng của người Ba Lan, có lẽ cũng có những cảm giác lẫn lộn như vậy khi ghi lại những dòng tốc ký mà ông có nhắc đến sau này. "Về người Ba Lan. Theo Thiên Chúa giáo. Chia thành những trung đội gồm toàn tín đồ và những trung đội vô thần, trung đội cha cố, giáo chức."

       Ông viết một bài chào mừng giải phóng Ba Lan. Grossman không đề cập gì đến sự kinh sợ mà những người dân Đông Ba Lan đã trải qua trong cuộc xâm lược của Hồng quân năm 1939, khi đất nước họ bị bọn Nazi Đức và Liên Xô chia nhau. Rất nhiều bần nông đã trông đợi cuộc cải cách ruộng đất mà chính phủ bù nhìn cộng sản Ba Lan đóng tại Lublin hứa. Việc chăm lo cho giáo dục lại trở thành lý do khiến người ta sợ đây chỉ là chính sách của những người Stalinist muốn nhổ bỏ văn hoá gốc để áp đặt quyền lãnh đạo cộng sản.

       Từ những cánh rừng đang mùa rụng lá, từ những lùm cây bụi cỏ, hàng nghìn nông dân Ba Lan đang đổ ra những con đường làng phủ đầy cát, đi bộ hay xe kéo. Họ mang về làng những tài sản đã giấu được khi bọn Đức chiếm đóng. Họ cưỡi bò hay ngựa. Từng đám đông nông dân đội mũ phớt và mặc áo jacket, đi bộ, những phụ nữ nông dân đầu đội khăn và đeo tạp dề, vác theo quần áo rét, chăn gối, gương, thảm tự làm, đi theo những đơn vị xe tăng, bộ binh, kỵ binh ta. Đây thực sự là biểu hiện rõ ràng nhất cho tình hữu nghị và niềm tin của những người nông dân Ba Lan vào Hồng quân. Những người nông dân Ba Lan quay về làng mang theo lương thực và tài sản giấu trong rừng ngay khi pháo Soviet vẫn còn gầm chứng tỏ người nông dân Ba Lan hiểu rõ đạo đức và bản lĩnh Chính trị của quân đội ta.

     Tôi hỏi nhiều người đang chào đón Hồng quân, họ nói những lời mà tôi đã nghe nhiều lần:

     "Chúng tôi chờ đợi như chờ Chúa tới!"

      Chỉ có đúng một lời phàn nàn là tôi không nghe được điều gì từ một loại người, nhìn thấy nước mắt của một loại người ở Ba Lan: người Do Thái. Không còn người Do Thái nào ở Ba Lan, họ đã bị giết sạch, từ cụ già cho đến trẻ mới sinh. Thân xác họ bị đốt trong những lò thiêu. Và tại Lublin, thành phố Ba Lan với cộng đồng người Do Thái lớn nhất, hơn 40.000 người Do Thái đã sống tại đây trước chiến tranh, tôi không tìm thấy dù chỉ một đứa trẻ, một phụ nữ, một cụ già nào có thể nói thứ ngôn ngữ mà ông bà tôi nói.

       Một thời gian ngắn sau đó Grossman đã tìm ra sự thật khi ông tiếp tục tìm hiểu về hoạt động thảm sát người Do thái tại Trung Âu. Người Ba Lan dù phần lớn chống cộng nhưng hoàn toàn không giống người Ukraina, chỉ có rất ít người cộng tác với bọn Nazi.

                   ……………………………………………….  

  
       (1) Tướng Aleksei I. Antonov (1896 - 1962) được xem là sĩ quan tham mưu giỏi nhất của Hồng quân trong cuộc chiến, ông trở thành tổng tham mưu trưởng năm 1945.

       (2) Tướng Sergei M. Shtemenko (1907 - 1976) là chỉ huy hành quân và lên thay Antonov khi ông này thăng chức năm 1945. Shtemenko không phải trải qua cuộc thanh trừng mà Stalin tiến hành với nhiều tướng lĩnh Soviet kỳ cựu ngay trước chiến tranh. Ông trở thành tổng tham mưu trưởng năm 1948.

       (3) Trung tướng Hamann bị bắt sống, sau đó bị xử tử nào năm 1945 vì tội ác chiến tranh.

       (4) Ở đây chắc Grossman đang nhắc tới Sư 308 Bộ binh cũ do tướng Gurtiev chỉ huy tại Stalingrad, đơn vị được chuyển thành Sư 120 Bộ binh Cận vệ vào tháng 9/1943. Sư đoàn gồm phần lớn là dân Siberi này đã bảo vệ nhà máy Barrikady (Chiến Luỹ) trong trận Stalingrad. Trong chiến dịch Bagration sư đoàn là một bộ phận của Tập đoàn quân 3.

      (5) Chú lạc đà Kuznechik còn nổi tiếng hơn nữa vào năm sau khi chú đến được Berlin và được cậu đánh xe dẫn đi xuyên qua thành phố đến nhổ nước bọt vào toà nhà Reichstag.

      (6) Trung tướng Kurt Jurgen Freiherr Henning von Lutzov, sinh năm 1892 tại Marienwerder, bị xét xử tại Moscow ngày 29/6/1950 vì tội ác chiến tranh với mức án 25 năm tù (mức án này được áp dụng cho nhiều tướng lĩnh Đức khi Chiến tranh Lạnh đang leo thang). Được phóng thích và cho hồi hương tháng 1 năm 1956.

      (7) OKH (Oberkommanko des Heeres), Bộ Tổng tham mưu, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động trên Mặt trận phía Đông. OKW (Oberkom-mando des Wehrmacht) chịu trách nhiệm về mọi hoạt động ở các nơi khác.

      (Cool Trung tướng Hans Walter Heyne chỉ huy Sư 6 Bộ binh cũng bị bắt tại khu vực Bobruisk. Heyne thực ra không phải là thành viên SS, đây chỉ là form mà nhiều báo cáo Soviet sử dụng bừa bãi. "Frontschwein" chắc là một câu đùa của Heyne, thành ngữ thường được dùng hơn là "Fronthase", dịch nghĩa là "thỏ mặt trận". Heyne lúc đó 50 tuổi, dân Hanover, bị xử án 25 năm, phần lớn thời gian thụ án ở Vorkuta, được phóng thích và cho hồi hương tháng 12/1955.

     (9) Khó mà chắc được họ có phải thành viên của Quân đội Giải phóng nước Nga (ROA) do tướng Vlasov chỉ huy hay không. Các đơn vị ROA đã bị chuyển sang Mặt trận phía Tây. Từ "người của Vlasov" thường bị Hồng quân sử dụng bừa bãi cho bất kỳ ai là "cựu công dân Soviet" mặc quân phục Wehrmacht. Thậm chí cả các Hiwis hay Hilfsfreiwillige, những người bị bắt buộc làm lính canh trong các trại tù binh hay trại lao động cũng bị gọi như vậy.
    
     (10) Không rõ Grossman có còn đi cùng Sư 120 Bộ binh Cận vệ trong giai đoạn này hay không. Dân tộc được ghi trong chứng minh thư mỗi người Liên Xô - người Nga, người Ukraina, người Kazakh, v.v... Ngay cả người Do Thái cũng được xem là một dân tộc riêng trong nhiều giấy tờ và bảng thống kê của Hồng quân.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #85 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:10:34 AM »

                                                                                  HAI MƯƠI BỐN - TREBLINKA


      Tháng 7/1944, Grossman một lần nữa cùng với Troyanovsky trở lại hàng ngũ Tập đoàn quân Stalingrad, lúc này đã được đổi tên là Tập đoàn quân Cận vệ 8 của tướng Chuikov. Troyanovsky mô tả lại con đường đến thành phố Lublin, đông Ba Lan: "Tuyến đường đến Lublin chật ních binh sĩ theo đúng nghĩa đen. Không quân hai bên đều tích cực hoạt động. Phóng viên Vasily Grossman và tôi luân phiên nhau theo dõi bầu trời. Lúc này đang có mưa. Nước ngập các đường hào, hố bom và pháo nhưng chúng tôi vẫn thường phải nhảy xuống đó để trốn những chiếc Messerschmitt địch."
         
     Troyanovsky cũng kể lại cuộc gặp của họ với tướng Chuikov. Grossman đã  không tốn nhiều thời gian để phỏng vấn vị tướng, hai tay ông đều đang phải băng bó.

     "Lublin thế nào?" Grossman hỏi.
     
    "Lublin sẽ được giải phóng. Đó là việc sẽ xảy ra trong ít giờ nữa nhưng có một vài điều khác làm tôi lo lắng." Chúng tôi im lặng một  lúc. "Nhìn xem, giờ quân ta hầu như đã có thể sờ thấy Berlin, nhưng tôi sợ các vị lãnh đạo Tổng hành dinh (Stavka) có thể đổi ý và chuyển Tập đoàn quân của tôi sang hướng khác. Điều này đã xảy ra vài lần trước đây. Từ trước đến nay điều tuyệt vời nhất theo cảm nghĩ thông thường và logic của chúng tôi chỉ là: Những chiến sĩ Stalingrad (Stalingradtsy) sẽ tiến vào Berlin!"

     Trong khi Chuikov cáu kỉnh vì Tập đoàn quân của ông có thể mất quyền tiến vào Berlin thì những binh sĩ của ông chợt phát hiện một cái trại ở Maj- danek, phía bên kia thành phố Lublin.

      Các mũi thọc sâu của Hồng quân vào Ba Lan trong mùa hè năm 1944 đã làm phát lộ nhiều sự thật khủng khiếp còn hơn cả những vụ thảm sát ở Babi Yar, Berdichev và Odessa. Majdanek, trại tù binh chiến tranh dành cho các binh sĩ Hồng quân bị bắt, đã bị biến thành trại tập trung và lò sát sinh. Các tù nhân từ Sở chỉ huy Gestapo tại Lublin bị hành quyết trong trại ngay cả khi chiến sự vẫn tiếp diễn trong thành phố. Ngày 24/7, lò thiêu người của trại bị đốt cháy nhằm che đậy những tội ác đã diễn ra tại đây, chỉ ngay trước khi quân đội Soviet tới được trại.

     Cho dù Grossman đã có mặt ở đó nhưng đối thủ cạnh tranh của ông là Konstantin Simonov, người thay chỗ ông ở Stalingrad, vẫn tới trại để viết về các tội ác của bọn Nazi cho tờ Krasnaya Zvezda. Simonov,một  người được quý mến tại trung đoàn, đã tránh nhấn mạnh đến nguồn gốc Do Thái của những nạn nhân trong bài viết của mình. Ban Tuyên huấn Hồng quân cũng gửi tới đây những nhà báo phương tây từ Moscow, và Kremlin lập một ủy ban đặc biệt để điều tra những tội ác do bọn Đức gây ra tại Trại Tập trung Majdanek. Vì có nhiều người Ba Lan không phải Do Thái và tù nhân Nga cũng bị đưa vào Majdanek nên nhà cầm quyền Soviet thấy có thể sử dụng trại này cho mục đích tuyên truyền của mình.

      Trại Treblinka nằm xa hơn về phía bắc do một đơn vị khác của Phương diện quân Belorussia 1 chiếm giữ gần như cùng lúc với Majdanek. Đó là loại trại kiêm lò sát sinh Aktion - Reihard đầu tiên bị chiếm nhưng lực lượng SS, lực lượng do Himmler trực tiếp chỉ huy, đã phá hủy hầu như mọi dấu vết về sự tồn tại của nó (1). Hồng quân chỉ phát hiện tại đây khoảng 40 người còn sống sót thoát khỏi trại - một số trong đó là nhờ trốn vào khu rừng thông vây quanh trại. Grossman được chấp thuận cho đến đó và đã không bỏ lỡ chút thời gian nào để phỏng vấn những người còn sống sót và cả các nông dân Ba Lan địa phương. Tính toán của ông, được xây dựng cẩn thận dựa trên các cuộc phỏng vấn những người đã từng ở trong trại, là 800.000 nạn nhân, thường được xem là phần có giá trị nhất trong các bài viết của ông.Một cách bản năng, Grossman có vẻ như đã nhận ra ý nghĩa chính của câu chuyện.

     Làm thế nào mà một đội quản trại với khoảng 25 tên SS thô lỗ được hỗ trợ bởi chừng 100 người Ukraina Wachmanner có thể giết được quá nhiều người như vậy? Ông sớm phát hiện ra rằng chúng thực hiện được việc đó là nhờ các thủ đoạn lừa đảo, theo đó chúng đánh lạc hướng suy nghĩ của nạn nhân rồi đưa họ tới tình trạng khiếp sợ tuyệt đối. Bài viết này được đăng tải trên tạp chí Znamya số tháng 11 dưới tiêu đề "Địa ngục mang tên Treblinka", sau đó được đăng lại trong văn bản của Tòa án Quân sự Quốc tế Nuremberg.

     Tiết kiệm, cẩn thận và sạch sẽ - đó là những phẩm chất tốt thường có ở nhiều người Đức, chúng chứng tỏ hiệu quả trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Nhưng Hitler đã sử dụng những phẩm chất này trong tính cách Đức để làm những tội ác chống loài người. Tại các trại lao động ở Ba Lan, bọn SS xử sự với con người như thể họ là súp lơ hay khoai tây.

     Khu trại được chia thành những ô hình chữ nhật. Các trại dành cho lính được xây thành hàng thẳng tắp. Cây bulô được trồng dọc theo những con đường rải cát, cúc tây và thược dược mọc trên mặt đất màu mỡ. Có những hồ nhỏ láng bê tông dành cho các loài thủy cầm và cả hồ nước có bậc lên xuống thuận tiện dành cho việc giặt giũ, các khu nhà phụ dành cho người Đức,một  tiệm bánh, một tiệm cắt tóc, garage, trạm xăng và các kho. Trại Majdanek ở Lublin và hàng tá trại lao động khác được bọn Gestapo lập ra để hoạt động lâu dài và được quản lý chặt chẽ, được tổ chức theo cùng một kiểu với những khu vườn nhỏ, vòi phun nước và đường láng bê tông.

     Trại No. 1 tồn tại từ mùa xuân năm 1941 đến 23/7/1944. Những tù nhân còn sống bị thủ tiêu khi họ đã có thể nghe thấy tiếng ì ầm từ xa vọng tới của pháo Soviet. Sáng sớm ngày 23/7, lính gác và lính SS uống một chút rượu schnapp để lấy dũng khí rồi bắt đầu tiến hành xóa sổ khu trại. Đến tối, tất cả tù nhân đã bị giết và chôn xong.

     Một thợ mộc từ Warsaw, Max Levit, đã sống sót. Anh ta bị thương và nằm dưới các xác chết của bạn tù đến đêm rồi bò vào rừng. Anh ta kể cho chúng tôi mọi chuyện diễn ra như thế nào, khi đó anh ta vẫn nằm dưới một con hào và nghe thấy một nhóm 30 trẻ em trai là tù nhân trong trại hát bài "Đất Mẹ bao la của tôi" ngay trước khi bị hành quyết. Anh ta còn nghe thấy một đứa trẻ thét lên: "Stalin sẽ báo thù cho chúng tao!". Anh ta cũng nghe thấy thủ lĩnh nhóm trẻ, Leib Tóc Đỏ, một chú bé được cả trại yêu quý, khi ngã xuống hào sau loạt đạn còn chồm lên một chút và nói: "Cha thằng cảnh vệ, mày bắn trượt rồi. Bắn lại đi, một lần nữa xem nào!".

    Giờ chúng tôi đã biết được toàn bộ câu chuyện về "Trật tự Đức" (Ordnung) trong trại lao động này ... Chúng tôi biết về công việc tại khu khai thác cát, về những người không thực hiện đúng quy định đã bị ném xuống hầm từ trên vách đá. Chúng tôi biết được khẩu phần ăn: 170g  bánh mì và nửa lít nước bẩn mà chúng gọi là súp. Chúng tôi biết thế nào là chết đói, về những người bị phù thũng được đưa ra ngoài hàng rào thép gai bằng xe cút kít để bắn. Chúng tôi biết về các cuộc truy hoan quái đản của bọn Đức, tại đó chúng hãm hiếp các cô gái rồi bắn họ ngay sau đó, những tên Đức say xỉn cắt vú phụ nữ bằng dao và ném nhiều người từ trên cửa sổ tầng thượng cao 6m xuống đất, đám khách khứa cũng say xỉn đem 10 - 15 tù nhân vào khu nhà của lính thực hành các kiểu giết người một cách chậm rãi trong suốt đêm: bắn vào tim, sau gáy, mắt, mồm, thái dương ...
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #86 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:13:25 AM »

       Chúng tôi biết về viên trưởng trại, một tên Đức gốc Hà Lan tên là Zan Eilen (2),một kẻ giết người, yêu thích những con ngựa tốt, tay lái lụa và phóng đãng. Chúng tôi biết về Stumpfe, kẻ mà mỗi khi giết một tù nhân hoặc chứng kiến một vụ hành quyết lại nổi hứng cười phá lên. Hắn được đặt biệt danh là "Tiếng cười chết chóc" ... Chúng tôi biết về tên Đức một mắt đến từ Odessa, Svidersky, biệt danh "Thầy giáo búa". Hắn được xem là chuyên gia giết người máu lạnh, là kẻ trong vài phút đã giết 15 đứa trẻ từ 8 đến 13 tuổi bị kết tội không hoàn thành công việc. Chúng tôi biết về tên SS gầy còm Preie trông giống một người Digan biệt danh "Lão già". Hắn luôn có vẻ buồn rầu và trầm lặng. Hắn giải buồn bằng cách ngồi bên hố rác của trại rình các tù nhân trốn tới đây để nhặt vỏ khoai tây ăn. Hắn bắt họ mở mồm ra rồi bắn vào đó.Chúng tôi biết tên của những tay chuyên gia giết người Schwarz và Ledeke, trò giải trí của chúng là bắn vào những tù nhân đang đi bộ về khi ngày làm việc kết thúc lúc trời nhá nhem tối. Tất cả bọn chúng không còn một chút tính người nào. Đầu óc, trái tim, tâm hồn, ngôn từ, hành động và những thói quen của chúng đều méo mó như một bức tranh đả kích nhưng vẫn làm chúng ta nhớ lại những đặc điểm, suy nghĩ, tình cảm và thói quen thông thường của người Đức.

      Quy định của trại, giấy tờ của những tên sát nhân, những trò đùa quái đản đôi khi lại được một tên Đức say xỉn thực hiện, những bài ca được hát lên giữa vũng máu, những lời chúng luôn nói với những người tù bất hạnh, những lời giảng đạo, những câu kinh được in ngay ngắn trên những mảnh giấy đặc biệt - tất cả là những quái thai đáng khinh bỉ của truyền thống sôvanh Đức; của tính kiêu ngạo, ích kỷ, tự phụ, cứng nhắc Đức; của sự lạnh lùng sắt đá, lãnh đạm trước số phận của mọi sinh vật trên Trái Đất xuất phát từ niềm tin độc ác rằng âm nhạc, thơ ca, ngôn ngữ, luật pháp, hố xí, bầu trời, nhà cửa ... Đức đều là thứ cao cấp nhất trong Hoàn Vũ.

      Tuy nhiên những người sống ở Trại No. 1 đều biết rõ rằng còn có những thứ khủng khiếp hơn khu trại này hàng trăm lần. Tháng 5/1942, người Đức bắt đầu xây dựng một trại khác, thực chất là một cái lò sát sinh.

      Quá trình xây dựng diễn ra nhanh chóng. Hơn 1.000 công nhân đã được sử dụng. Theo kế hoạch của Himmler, việc xây dựng khu trại này phải được giữ bí mật tuyệt đối và không một ai có cơ may sống sót mà ra khỏi trại ... Bọn lính canh nổ súng mà không báo trước cả những người vì rủi ro nào đó mà đi gần trại ở khoảng cách dưới 1km ... các nạn nhân được đưa lên tàu hỏa rồi tới một tuyến đường ray đặc biệt mà không hề biết rằng số phận mình đã đến lúc cáo chung. Thậm chí ngay cả lính áp tải trên tàu cũng bị cấm đến gần khu vực hàng rào thứ hai của trại...

      Khi các nạn nhân đã xuống hết khỏi các toa tàu để bị đưa vào lò sát sinh, viên trưởng trại sẽ gọi điện để một chuyến tàu mới có thể đến, đoàn tàu rỗng thì chạy tiếp một đoạn đến khu mỏ khai thác cát để chất đầy cát cho chuyến về. Lợi thế của Treblinka là rất rõ ràng, vị trí này thuận tiện để tiếp nhận các chuyến tàu chở đầy nạn nhân đến từ khắp nơi: phía bắc, phía nam, phía đông hay phía tây.

       Các chuyến tàu đã qua lại đây suốt 13 tháng. Mỗi chuyến tàu có 60 toa và trên mỗi toa có đánh số: 150, 180 hoặc 200. Đó là số người được chở trên mỗi toa. Các công nhân hỏa xa và nông dân địa phương đã bí mật đếm số lượng các chuyến tàu đó. Những nông dân làng Wulka (làng gần khu trại nhất) ... đã nói với tôi rằng có những hôm sáu chuyến tàu đã đi qua tuyến đường sắt Sedletz này và gần như không có ngày nào không có ít nhất một đoàn tàu qua đây. Sedletz là tuyến đường sắt để phục vụ duy nhất cho trại Treblinka.

       Bản thân khu trại với hàng rào bao quanh, các kho chứa đồ của những nạn nhân đã bị hành quyết, ga tàu hỏa và các nhà phụ chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ chiều rộng 80m và chiều dài 600m. Nếu ai đó có chút nghi ngờ dù là nhỏ nhất về số phận của hàng triệu người (3) đã bị đưa đến đây thì chỉ cần nghĩ xem nếu họ không bị bọn Đức giết ngay sau khi tới nơi thì họ có thể ở đâu?

     Số người này có thể tương đương dân số một nước nhỏ hoặc một thủ đô Châu Âu. Diện tích trại cũng quá nhỏ ngay cả là để những người bị đưa tới đây chỉ sống thêm vài ngày sau khi tới nơi. Không có đủ phòng trong vòng rào kẽm gai cho dòng người đổ đến từ khắp Châu Âu, từ Ba Lan và Belorussia. Trong 13 tháng đó, tức là 396 ngày, các đoàn tàu rời trại chỉ chở theo cát hoặc để không, không có bất cứ một ai trong những người đã đến.

     Trại No. 2 quay về ... Hỡi những tên sát nhân, họ ở đâu, những người mà chúng mày đã mang đến đây ấy?  Mùa hè năm 1942, giai đoạn quân đội phát xít có nhiều thắng lợi lớn, được xem là thời điểm thuận lợi để tiến hành giai đoạn hai của kế hoạch diệt chủng ... Vào tháng bảy, những chuyến tàu đầu tiên bắt đầu đến Treblinka từ Warsaw và Chenstohova. Chúng nói với mọi người rằng họ được đưa tới Ukraine để làm nông. Mỗi người được phép mang theo 20 kg hành lý và lương thực. Trong nhiều trường hợp, bọn Đức đã buộc các nạn nhân mua vé tàu tới ga Ober - Maidan, đó là cái tên được nhà chức trách Đức dùng làm vỏ bọc cho Treblinka.

      Lý do phải đặt cho Treblinka cái tên mới vì đã bắt đầu có tin đồn lan truyền khắp Ba Lan về địa điểm khủng khiếp này, bọn SS cũng dừng sử dụng từ Treblinka khi buộc mọi người lên tàu. Tuy nhiên, cách mà mọi người được đối xử trên tàu đã khiến các họ mất đi mọi hy vọng về số phận tương lai. Tối thiểu là 150 nhưng thường là từ 180 đến 200 người bị tống lên mỗi toa hàng. Trong suốt hành trình, đôi khi chỉ kết thúc sau 2 - 3 ngày, các tù nhân không hề được cung cấp nước. Mọi người khổ vì khát tới mức phải uống cả nước tiểu của chính mình. Lính canh bán nước uống với giá 100 zloty mỗi hớp và thường là chỉ nhận tiền của mọi người nhưng không hề đưa lại nước.

     Mọi người bị nhồi nhét đè cả vào nhau và có khi phải đứng suốt quãng đường. Những người có vấn đề về tim thường chết trước khi hành trình kết thúc, đặc biệt là trong những ngày hè nóng nực. Do cửa chốt trong suốt thời gian tàu chạy cho đến khi hành trình kết thúc nên các xác chết bắt đầu thối rữa làm bốc mùi khắp toa ... Nếu một hành khách bật diêm trong đêm, lính canh sẽ bắn vào thành toa xe ...Các đoàn tàu đến Treblinka từ các nước châu Âu khác mang phong cách khác hẳn (4). Mọi người trên tàu không hề được nghe gì về Treblinka và đến phút cuối vẫn tin rằng họ được đưa đi làm việc ... Các đoàn tàu đến từ các nước châu Âu khác không cần lính gác mà chỉ có các nhân viên hỏa xa bình thường, chúng có cả các toa giường nằm và toa ăn. Hành khách mang theo cả hòm xiểng, vali và cũng được cho ăn uống đầy đủ. Con cái họ chạy nhảy lung tung tại các ga mà đoàn tàu dừng lại, hỏi xem còn bao xa nữa mới tới Ober - Maidan ...

     Thật khó nói bị đưa đến cái lò sát sinh này theo cách nào thì đỡ kinh khủng hơn: Biết rằng mình đang đến mỗi lúc một gần cái chết? Hay hoàn toàn không biết gì, chỉ liếc nhìn từ khung cửa sổ một toa hành khách tiện nghi khi những kẻ trên sân ga Treblinka đang gọi điện thoại về trại thông báo chi tiết về chuyến tàu vừa tới và số lượng người trong đó. Bề ngoài, để lừa được đến cùng những người đến từ các nước châu Âu khác, điểm đến chết chóc này đã được ngụy trang như một ga tàu khách. Trên sân ga vốn có sẵn chừng hai chục toa tàu có vẻ như đang được bốc dỡ có hẳn một tòa nhà ga với đầy đủ quầy bán vé, nơi gửi hành lý và quán ăn. Có cả mũi tên chỉ đường ở mọi nơi, trên đó ghi "Đi Bialystok", "Đi Baranovichi" hay "Đi Volokovysk" v.v... Thậm chí còn có cả ban nhạc chơi trong nhà ga khi có tàu tới và tất cả các nhạc công đều ăn vận bảnh chọe. Nhân viên mặc đồng phục đường sắt thu vé của các hành khách và đưa họ xuống sân ga.

     3 - 4.000 con người tay xách nách mang đi xuống ga, có cả người già và người ốm, các bà mẹ bồng con nhỏ trên tay, những đứa trẻ lớn hơn thì được giữ gần bố mẹ, tất cả tò mò nhìn sân ga. Có gì đó như là điềm gở trong sân ga này khi mặt đất có vẻ như đã bị dẫm đạp bởi hàng triệu người. Ánh mắt lo lắng của mọi người nhanh chóng nhận ra có điều gì đó đáng sợ.

     Có vài đồ vật bị bỏ lại trên mặt đất, hình như sân ga vừa được quét dọn vội vàng chỉ vài phút trước khi các hành khách xuất hiện - một bọc quần áo, một chiếc hộp mở toang, một bàn chải cạo râu, vài cái chảo tráng men. Sao chúng lại bị bỏ ở đây? Và tại sao nhà ga này lại là điểm cuối tuyến đường vì chẳng còn đường sắt dẫn đi đâu nữa, bên ngoài hàng rào thép gai cao 3m chỉ có những bụi cỏ vàng ệch.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #87 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:16:05 AM »

       Những tuyến đường sắt dẫn đi Bialystok, đi Sedlez, đi Warsaw, Volokovysk ở đâu? Và rồi bỗng xuất hiện những tay lính gác vừa cười đểu cáng vừa nhìn như muốn đo đạc đánh giá từng người: những người đàn ông đang chỉnh lại cà vạt, những bà già gọn gàng sạch sẽ, những chú bé mặc sơ mi lính thuỷ, những cô gái mảnh khảnh đã cố giữ cho quần áo phẳng phiu trong suốt cuộc hành trình dài, những bà mẹ trẻ đang âu yếm chỉnh lại lớp chăn bọc quanh những đứa con, những chú nhóc đang nhăn mặt ...

       Cái gì sau bức tường đồ sộ cao 6m được che phủ dày đặc bởi những cành thông vàng và chăn đệm kia? Ngay những tấm chăn đó cũng là những tín hiệu cảnh báo: chúng có đủ màu sắc, được nhồi bông và làm từ lụa hay satin. Chúng làm những người mới đến nhớ đến những tấm chăn lông vịt mang theo. Sao những chăn đệm đó lại có ở đây? Ai đã mang chúng đến? Và chủ nhân những tấm chăn đó đâu? Tại sao họ lại không cần đến chúng nữa? Rồi cả những người đeo băng xanh kia là ai? Mỗi người nhớ lại những ý nghĩ vừa chợt xuất hiện trong đầu, những nỗi sợ hãi, những lời xì xào đồn đại. Không, không, đó không thể là sự thật! Mọi người cố thoát khỏi những suy nghĩ ghê sợ. Những người mới tới cũng ko có nhiều thời gian để sợ hãi khi tất cả mau chóng được xếp vào hàng. Tất nhiên lúc nào cũng có chút chậm trễ. Trên mỗi chuyến tàu đều có những người tàn tật, ốm yếu, già cả chỉ có thể lê bước một cách khó khăn. Nhưng cuối cùng tất cả đã ở trong sân ga.

      Một hạ sĩ quan SS giải thích to và rõ ràng rằng những người mới tới phải bỏ hành lý lại sân ga rồi vào khu nhà tắm; chỉ được mang theo giấy tờ cá nhân, tài sản có giá trị và một túi nhỏ đồ dùng khi đi tắm. Hàng tá câu hỏi lập tức xuất hiện trong đầu những người đang đứng trên sân ga: liệu họ có thể mang theo đồ lót sạch, liệu những hành lý đang chất đống trong sân ga có bị lẫn lộn hay mất mát? Thế nhưng một lực đẩy kỳ lạ đã khiến họ bước đi, vội vàng nhưng lặng lẽ, không hỏi han, không nhìn lại đằng sau, tới thẳng chiếc cổng trên bức tường thép gai cao 6m được ngụy trang bằng những cành cây. Họ đi qua những chướng ngại vật chống tăng, một hàng rào thép gai cao gấp ba chiều cao một người bình thường, một con hào chống tăng rộng 3m. Rồi thêm một hàng rào thép gai nữa, lần này là loại dây thép gai nhỏ hơn được quấn thành vòng thả trên mặt đất, chúng có tác dụng làm mắc kẹt chân người nào định chạy qua giống như chân ruồi trong mạng nhện. Rồi lại thêm một bức tường có chăng dây thép gai cao nhiều mét nữa.

      Và càng ngày cảm giác khủng khiếp và hoàn toàn tuyệt vọng càng xâm chiếm suy nghĩ của những người bất hạnh: không thể chạy trốn, quay lui hay chống cự. Những họng súng máy đang chĩa vào họ từ các chòi canh. Gọi người khác giúp đỡ? Nhưng xung quanh chỉ có những tên SS và lính gác cầm tiểu liên, lựu đạn và súng ngắn. Chúng là sức mạnh. Trong tay chúng là xe tăng, máy bay, đất đai, thành phố, bầu trời, đường tàu hoả, luật pháp, báo chí, truyền thông. Cả một thế giới câm lặng, bị đàn áp, bị biến thành nô lệ bởi một lũ kẻ cướp mặc áo nâu nắm giữ quyền lực. London đã im lặng và New York cũng vậy. Chỉ có ở đâu đó bên bờ sông Volga, cách đây nhiều nghìn km, những cỗ pháo Soviet đang nhả đạn.

      Cùng lúc đó, trên sân ga, một nhóm công nhân tay đeo băng xanh đang lặng lẽ và thành thạo mở các vali và bao gói. Tư trang của những người mới tới được phân loại và đánh giá. Chúng ném xuống đất những bộ đồ khâu được sắp xếp cẩn thận của ai đó, những cuộn chỉ, những bộ đồ lót trẻ em, áo lót, khăn trải giường, quần áo trẻ em, dao ăn, đồ cạo râu, thư từ, ảnh chụp, nước hoa, gương, mũ, áo valenki trần bông dùng khi trời lạnh, giày phụ nữ, bít tất, dây đăng ten, áo ngủ, những gói bơ, cafe, những lọ ca cao, khăn trùm đầu, giá nến, sách, bánh bít cốt, đàn viôlông, nôi trẻ con.

      Những công nhân này cần kỹ năng để có thể phân loại hàng nghìn đồ vật trong vài phút và định giá chúng. Một  số thứ được chọn ra để gửi về Đức. Số khác - những thứ đồ hạng hai, cũ hoặc đã bị sửa chữa - sẽ phải đốt đi. Công nhân nào làm sai, ví dụ để một chiếc vali giả da cũ vào đống đồ đa được chọn để gửi đi Đức, hay ném một đôi tất Paris còn nguyên tem nhà sản xuất vào đống bít tất đàn ông cũ, sẽ gặp phải nhiều rắc rối. Mỗi công nhân chỉ có thế nhầm lẫn một lần.

      Bốn mươi  tên SS và 60 Wachmanner làm công việc "vận chuyển" này (5). Đó là những gì chúng làm trong giai đoạn đầu mà tôi vừa mô tả: đón tàu, đưa mọi người xuống "nhà ga", theo dõi các công nhân phân loại và đánh giá hành lý. Khi làm việc này, các công nhân thường bí mật bỏ mồm những miếng bánh mì, đường hay kẹo tìm thấy trong các gói thức ăn. Điều đó không được phép. Tuy nhiên việc rửa tay và mặt bằng nước hoa sau khi kết thúc công việc thì lại được phép vì thiếu nước và chỉ có bọn Đức là lính gác được dùng nước để rửa ráy. Và khi các nạn nhân, lúc này vẫn còn sống, chuẩn bị vào nhà tắm thì hành lý của họ đã bị phân loại, những thứ có giá trị được cất vào kho. Còn lại hàng đống thư từ, ảnh chụp trẻ con mới sinh, anh em, chồng chưa cưới, lễ kỷ niệm đám cưới vàng, tất tật hàng ngàn thứ quý báu, vô cùng quan trọng với người sở hữu chúng nhưng chỉ là rác rưởi với những kẻ sở hữu Treblinka, sẽ được chất đống và chở đi đổ trong những hố rác khổng lồ, nơi đã có sẵn hàng trăm ngàn thư từ, bưu thiếp, danh thiếp, ảnh, những mảnh giấy đầy nét vẽ trẻ con nguệch ngoạc tương tự. Sân ga được quét qua loa và lại sẵn sàng đón nhận một chuyến hàng mới gồm những con người đã bị kết án tử.

      Nhưng mọi việc không phải bao giờ cũng diễn ra suôn sẻ như tôi vừa tả. Các cuộc nổi loạn thỉnh thoảng cũng nổ ra khi các nạn nhân biết được điểm đến của họ là gì.Một nông dân địa phương tên là Skrzeminski đã hai lần thấy mọi người xông ra khỏi tàu, quật ngã lính canh và chạy về phía rừng. Tất cả họ đều bị giết đến người cuối cùng. Trong một lần như vậy, một người đàn ông cắp theo bốn đứa trẻ tuổi từ bốn đến sáu tuổi và tất cả đều bị giết. Một bà nông dân tên là Maria Kobus cũng kể về nhiều vụ nổi loạn tương tự. Một lần như vậy có 60 người đã chạy được tới rừng nhưng vẫn bị giết.

       Nhưng nếu không có gì xảy ra mỗi đợt tù nhân mới chuyển tới sẽ được đưa vào bãi thứ hai nằm bên trong hàng rào trại. Một đồn lính lớn nằm ngay giữa bãi, và ba cái khác nằm bên tay phải.Hai trong số đó đồng thời là kho quần áo, cái thứ ba là kho chứa giày dép. Xa hơn nữa, phía tây trại là nhà cho bọn SS, lính gác, kho lương thực và sân trại. Ô tô và xe thiết giáp đậu trong sân. Tất cả trông như những trại thông thường khác, giống như Trại No. 1. Ở góc đông nam sân trại có một hàng rào thưa làm bằng cành cây cắm xuống đất, bên trên cắm một chiếc ủng ghi chữ "Viện điều dưỡng". Tất cả những người yếu ớt và bệnh tật sẽ được lựa ra từ trong đám đông và đưa vào đây. Một viên bác sĩ đeo tạp dề trắng và băng chữ thập đỏ trên tay trái tới gặp họ. Tôi sẽ nói sau về những gì diễn ra tại cái viện điều dưỡng này. Tiếp đó, bọn Đức dùng những khẩu súng ngắn tự động Walther để giải thoát cho những người già cả khỏi phải chịu thêm những gánh nặng của cuộc đời.

      Điểm mấu chốt trong giai đoạn hai của việc chuyển giao những người mới đến này là trấn áp ý chí họ bằng cách liên tục ra các mệnh lệnh ngắn và nhanh. Bọn chỉ huy ra lệnh bằng giọng mà Quân đội Đức đã rất tự hào: giọng nói đó chứng minh dân tộc Đức là thượng đẳng.

      Âm "r" được phát mạnh ra từ cổ họng nghe giống tiếng roi quất, những tiếng quát "Achtung!" (6) vang khắp đám đông. Trong sự im lặng nặng nề, tiếng những tên Scharfuhrer (7) vang lên to, rõ ràng, dằn từng tiếng. Những tiếng đó bọn chúng đã tự học và nhắc lại nhiều lần mỗi ngày, trong nhiều tháng: "Đàn ông ở đây! Phụ nữ và trẻ em cởi quần áo trong doanh trại bên trái!”.

     Theo lời các nhân chứng, đó thường là lúc những cảnh tượng khủng khiếp bắt đầu. Những cảm nhận về tình mẫu tử, nghĩa vợ chồng, lòng hiếu thảo nói với mọi người rằng họ đang nhìn thấy nhau lần cuối. Những cái nắm tay, những nụ hôn, lời cầu phúc, nước mắt, những lời ngắn gọn mà dưới lớp vỏ ngôn ngữ người ta gửi cho nhau toàn bộ tình yêu, sự đau khổ, xúc động, tuyệt vọng. Những tay chuyên gia tâm lý SS biết cách cắt đứt những cảm giác đó ngay lập tức, dập tắt chúng.

      Những nhà tâm lý học tử thần đó biết những quy luật thông thường đã được chứng minh là đúng trong tất cả các lò sát sinh trên thế giới. Thời điểm cha mẹ lìa con, ông bà lìa cháu, vợ lìa chồng này chính là lúc mấu chốt, ngay lúc đó những tiếng quát "Achtung! Achtung!" lại vang khắp đám đông. Đó chính là thời điểm thích hợp để làm rối trí mọi người một lần nữa, reo rắc hy vọng cho họ, nói với họ những quy định chết chóc có thể cho họ giữ được mạng sống. Từng từ được nói ra nghe như tiếng kèn trumpet:
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #88 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:21:57 AM »

       "Phụ nữ và trẻ em phải cởi giầy dép khi vào doanh trại. Bít tất bỏ vào trong giầy. Bít tất trẻ con bỏ trong sandal, ủng hay giầy. Giữ gọn gàng!" Và ngay sau đó là mệnh lệnh tiếp theo: "Vào nhà tắm, chỉ được mang theo giấy tờ tùy thân, tiền bạc,một  khăn tắm và xà phòng. Tôi nhắc lại ..."

      Trong doanh trại nơi phụ nữ cởi quần áo đã có những thợ cắt tóc. Những người phụ nữ trần truồng bị cắt trụi tóc bằng tông đơ. Tóc giả bị gỡ khỏi đầu các bà già.Một hiện tượng tâm lý khủng khiếp diễn ra: theo các thợ cắt tóc, đối với phụ nữ, việc cắt tóc chết chóc này là bằng chứng rõ rệt nhất cho việc họ chuẩn bị được tắm hơi (banya). Các cô gái dùng tay phủi tóc xuống và đôi khi hỏi: "Lần sau bạn có cắt tóc ở đây nữa không? Bạn cắt tóc không bằng phẳng lắm."

      Phụ nữ thường cảm thấy thoải mái sau khi được cắt tóc, và hầu như tất cả những gì có trong doanh trại là xà phòng và những tấm khăn tắm. Một số cô gái trẻ bật khóc tiếc thương cho những bím tóc dài, đẹp của mình.

      Việc cắt tóc đó là để làm gì? Nhằm mục đích đánh lừa những phụ nữ đó? Không, nước Đức cần số tóc đó. Tóc là một thứ nguyên liệu. Tôi đã hỏi nhiều người, người Đức làm gì với hàng đống tóc được cắt từ mái đầu của những xác chết còn sống đó?

      Mọi lời chứng đều cho biết những đống tóc khổng lồ đủ kiểu đen, vàng, quăn, tết bím đó đều được tẩy sạch, bỏ vào túi và gửi về Đức. Mọi nhân chứng đều xác nhận đúng là tóc được đóng trong túi gửi về Đức. Chúng được dùng làm gì? Không ai trả lời được câu hỏi đó. Chỉ khi viên trưởng trại nêu trong bản cung của hắn rằng tóc được dùng trong hải quân để nhồi đệm hoặc bện dây cáp cho tàu ngầm, tôi nghĩ mọi việc mới trở nên sáng tỏ.

      Đàn ông cởi đồ ngay trên sân. Thông thường, bọn Đức chọn 150 - 300 người khỏe mạnh trong chuyến tàu đến đầu tiên buổi sáng. Họ sẽ được sử dụng để chôn các xác chết và thường sẽ bị giết vào hôm sau. Đàn ông phải cởi quần áo thật nhanh gọn, cởi giầy và tất theo hiệu lệnh, gấp gọn áo lót, áo khoác và quần dài. Quần áo và giày dép được nhóm công nhân thứ hai phân loại, họ mang băng tay đỏ để phân biệt với những công nhân làm công việc "vận chuyển". Quần áo giày dép phù hợp để chuyển về Đức lập tức được đưa vào kho. Mọi nhãn mác bằng kim loại hay vải sẽ phải được gỡ bỏ cẩn thận.

         Những thứ còn lại sẽ bị đốt hoặc chôn lấp. Cảm giác lo lắng tăng lên từng phút. Có mùi gì kỳ lạ và đáng lo ngại lúc này vẫn còn bị át đi bởi mùi khí chlorine. Số lượng khổng lồ của lũ ruồi quấy nhiễu mọi người cũng thật kỳ lạ. Tất cả chúng đến từ đâu, ngay tại đây, từ rừng thông vây quanh hay từ dưới mặt đất bị dẫm đạp này? Mọi người thở hổn hển, sợ hãi, run rẩy, nhìn chăm chú vào từng thứ dù là nhỏ nhất hy vọng chúng có thể cho họ lời giải đáp, giúp họ hiểu, vén lên một chút bức màn bí mật về những gì đang chờ đợi họ. Và tại sao lại có tiếng máy xúc hạng nặng gầm rú ở phía nam?

      Tiếp đó một thủ tục nữa bắt đầu. Mọi người trong tình trạng trần truồng bị dẫn tới quầy thu tiền mặt và trình các giấy tờ tùy thân, tài sản có giá trị theo yêu cầu. Và một lần nữa, những tiếng quát khủng khiếp, như thôi miên vang lên: "Achtung! Achtung!" ... Che dấu tài sản sẽ bị trừng trị bằng cái chết ... "Achtung! Achtung!" Một Scharfuhrer ngồi trong một căn lán nhỏ đập đập một thanh gỗ, lính SS và Wachmanner đứng sau hắn, cạnh lán là những thùng gỗ, các tài sản có giá trị được ném vào đó: một thùng tiền giấy, một thùng tiền xu, một thùng chứa đồng hồ, nhẫn, khuyên tai, trâm cài tóc, vòng tay.

     Các giấy tờ tùy thân, những thứ chẳng ai trên thế giới này còn cần đến nữa, bị vứt xuống đất - đó là những giấy tờ của những thân xác trần truồng sẽ nằm dưới đất đen trong vòng một giờ nữa. Vàng và các tài sản giá trị mới là thứ chủ yếu cần được phân loại cẩn thận - hàng tá thợ kim hoàn xác định độ nguyên chất của các loại quý kim, giá trị của các đồ trang sức, độ trong suốt của kim cương. Thật kỳ lạ là những kẻ ghê tởm này cần dùng tới đủ mọi thứ, thậm chí cả giấy và vải - bất kỳ thứ gì có thể được bất kỳ ai cần tới, đều có thể là quan trọng và cần thiết đối với chúng. Chỉ có thứ quý giá nhất trên thế giới, cuộc sống con người, là bị chúng chà đạp dưới gót giày.

     Chính tại đây, trong quầy thu tiền này, thời khắc bước ngoặt đã điểm. Việc làm khổ các nạn nhân bằng những lời dối trá chấm dứt; trong vài phút các nạn nhân đi từ hy vọng đến tuyệt vọng, từ ảo tưởng được sống đến nhìn thấy cái chết ... Đến giai đoạn cuối cùng này, giai đoạn cướp bóc những xác chết còn đang sống, bọn Đức chuyển sang đối xử với các nạn nhân một cách hết sức thô bạo. Chúng giật những chiếc nhẫn khỏi ngón tay của các nạn nhân, giật khuyên tai ra khỏi tai. Chính vào lúc đó, dây chuyền giết người này cần tới phương pháp mới để thực hiện công việc một cách hiệu quả. Đó là lý do những tiếng quát "Achtung!" được thay bằng tiếng rít: "Schneller! Schneller! Schneller!" Nhanh, nhanh lên! Chạy tới chỗ chết đi!

       Chúng tôi được biết thực tế tàn khốc trong những năm đó là khi các nạn nhân rơi vào tình trạng trần truồng họ mất hoàn toàn sức chống cự, khả năng đấu tranh với hoàn cảnh. Khi cơ thể trở nên trần trụi, người ta ngay lập tức mất hết sức sống và chấp nhận số phận. Ngay cả những người vốn hết sức khao khát được sống cũng trở nên thụ động.

      Nhưng để cho chắc, những tên SS còn áp dụng thêm vào giai đoạn cuối của dây chuyền giết người này một phương pháp tàn ác nữa để đẩy những nạn nhân vào tình trạng u mê, một trạng thái shock tâm lý hoàn toàn. Chúng làm như thế nào? Bằng những hành động tàn ác đến mức phi lý, điên loạn được thực hiện bất thình lình. Những nạn nhân trần truồng đã mất tất cả mọi thứ nhưng vẫn còn đông hơn những con quái vật bận đồng phục SS hàng ngàn lần và vẫn còn thở, nhìn, suy nghĩ, tim họ vẫn còn đập. Những tên lính gác quật cho những bánh xà phòng và khăn tắm rơi khỏi tay các nạn nhân, xếp họ vào hàng, năm người một hàng. Vừa làm chúng vừa quát: "Hande hoch! Marsch! Schneller! Schneller! Schneller!"

      Họ bước xuống một con đường thẳng với hoa và cây linh sam trồng hai bên. Con đường này dài 120m, rộng 2m và dẫn tới lò sát sinh. Dây thép gai chăng hai bên đường, lính gác áo đen và bọn SS mặc áo nâu đứng đó vai chạm vai. Con đường được rải cát trắng và các nạn nhân phải đi trên đó với hai tay giơ sau đầu, họ có thể nhìn thấy dấu chân còn mới trên mặt cát mềm: vết chân nhỏ nhắn của phụ nữ, nhỏ hơn nữa của trẻ em, vết chân vụng về của các cụ già.

       Những vết chân phù du trên mặt cát của hàng ngàn người đã bước qua đây, giống như 4.000 người đang bước lúc này, giống như hàng ngàn người khác sẽ lại bước qua sau hai giờ nữa, những người lúc này đang chờ đoàn tàu rẽ vào tuyến đường sắt dẫn vào rừng. Những người đang để lại vết chân nơi đây bước đi cũng giống như những người đã đi hôm qua, 10 hôm trước, 100 ngày trước, cũng giống những người sẽ đi ngày mai, 50 ngày sau, giống như mọi người đã đi trong suốt mười ba tháng tồn tại của địa ngục Treb-linka. Bọn Đức gọi lối đi này là "Con đường có đi không về".Một tên dáng người nhỏ thó có họ là Sukhomil theo dõi mọi người trong suốt thời gian họ đi, hắn vừa nhăn nhở vừa kêu: "Các bé, các bé! Schneller! Schneller! Nước trong nhà tắm lạnh đấy. Schneller, Kinder, Schneller!" Và hắn phá lên cười, đứng lên ngồi xuống, nhảy nhót. Mọi người, hai tay vẫn phải giơ lên, bước trong im lặng giữa hai hàng lính gác, dưới những cây gậy, những họng súng, những chiếc dùi cui cao su. Trẻ con phải chạy để theo kịp người lớn. Nói về giai đoạn cuối cùng này, con đường đau khổ này, mọi nhân chứng đều nhắc tới sự hung bạo của một con quái vật đội lốt người có tên Zepf, một tên SS, chuyên gia giết trẻ con. Tên quái vật này có thân hình đồ sộ và rất khoẻ, hắn thường bất ngờ túm lấy một đứa bé nhấc khỏi hàng rồi đập đầu xuống đất như thể đứa bé là một cây gậy hoặc xé đứa bé ra làm đôi.

       Công việc của Zepf rất quan trọng. Nó làm tăng sự kinh hoàng cho các nạn nhân khốn khổ và cho họ thấy sự tàn ác đến mức phi lý khiến ý chí và tinh thần của họ bị đè bẹp. Hắn là một cái đinh vít cần thiết trong cỗ máy vĩ đại của nước Đức phát xít.
Logged
huytop
Thành viên
*
Bài viết: 764


« Trả lời #89 vào lúc: 16 Tháng Ba, 2015, 12:25:50 AM »

      Và tất cả chúng tôi đều cảm thấy hết sức ghê sợ, ko phải bởi tự nhiên đã sinh ra những con quái vật này. Có nhiều loại quái vật trên đời - ví dụ như Cyclop, quái vật hai đầu, cũng như đủ loại quái vật thần thoại và kẻ ác đáng sợ tương tự. Thứ làm chúng tôi ghê sợ là những con quái vật này thay vì phải bị giam giữ riêng biệt và nghiên cứu như một hiện tượng tha hóa tâm lý lại sống bình thường trên đất nước này, thậm chí được coi là một công dân tích cực và cần thiết.

      Quãng đường đi từ "quầy thu tiền" đến lò sát sinh mất khoảng 60 - 70 giây. Các nạn nhân, được hối thúc bởi những cú đánh và những tiếng quát inh tai "Schneller! Schneller!", đến bãi thứ ba và dừng lại đó một lúc trong hoảng hốt. Trước mặt họ là một căn nhà đẹp xây bằng đá có những phần trang trí bằng gỗ trông giống một tòa lâu đài cổ. Năm bậc đá rộng dẫn tới một cái cổng thấp nhưng rất rộng, chắc chắn và được trang trí đẹp, bên lối vào có cả hoa trồng trong các chậu.

     Tuy nhiên ngoài việc đó ra tất cả mọi thứ xung quanh đều hỗn độn, người ta có thể thấy những đống đất mới đào ở mọi nơi.Một chiếc máy xúc khổng lồ ném ra hàng tấn đất cát vàng trong tiếng nghiến ken két của những răng thép làm bụi bốc mù trời. Chiếc máy xúc này đào suốt từ sáng đến tối để tạo nên những hố chôn tập thể khổng lồ, tiếng gầm của nó trộn lẫn với tiếng sủa điên cuồng của hàng tá becgiê Đức.

     Hai tuyến đường ray khổ hẹp chạy hai bên tòa nhà chết chóc đó, dọc theo đường ray những người đàn ông mặc áo khoác rộng thùng thình đang mang gì đó chất lên thùng những chiếc xe tải tự đổ. Cánh cổng rộng của tòa nhà chết chóc từ từ mở ra và hai phụ tá của sếp Schmidth xuất hiện trên lối vào. Chúng đều là những kẻ tàn bạo và điên loạn, một tên cao, khoảng ba mươi tuổi, vai rộng, có gương mặt ngăm đen dữ dằn và tóc đen, tên kia trẻ hơn, lùn, tóc nâu vuốt keo, da mặt vàng vọt. Chúng tôi biết tên họ của những kẻ chống loài người đó. Tên cao cầm một đoạn ống dẫn gas to tướng dài độ 1m, tên kia vũ trang một thanh kiếm.

     Ngay lúc đó, bọn SS thả lũ chó đã được huấn luyện ra. Lũ chó xông thẳng vào đoàn người, xé toạc cổ họng họ bằng hàm răng sắc nhọn. Bọn SS thì nện các nạn nhân bằng báng súng tiểu liên, xô đẩy những phụ nữ đang sợ chết khiếp và hét lên man rợ: "Schneller! Schneller!".Hai  tên phụ tá của Schmidth đứng bên lối vào tòa nhà lùa các nạn nhân qua cánh cửa mở để vào phòng hơi ngạt.

      Vào lúc đó một trong những sĩ quan chỉ huy Treblinka là Kurt Franz xuất hiện bên tòa nhà, dắt theo con chó của hắn tên Barry. Hắn đặc biệt huấn luyện con chó này khả năng lao vào các nạn nhân để xé tan đám đông, khiến họ chạy tán loạn mỗi người một phương. Kurt Franz đã có một công việc tốt ở trại này. Khởi nghiệp từ một hạ sĩ quan SS, hắn đã thăng tiến dần lên cấp sĩ quan khá cao là Untersturmfuher (Cool.

       Câu chuyện về những xác chết còn sống ở Treblinka, những người cho đến phút cuối cùng chỉ còn giữ được hình ảnh về những con người nhưng không hề có tí tâm hồn người nào, làm rung động đến tận đáy con tim người nghe, khiến họ không thể nào ngủ được. Đó là câu chuyện về những phụ nữ đã cố bảo vệ những đứa con bằng cách truyền cho chúng lòng can đảm trước cái chết, đó là câu chuyện về những người mẹ trẻ đã che chở những đứa bé bằng chính da thịt mình. Tôi đã được nghe câu chuyện về một cô bé 10 tuổi đã an ủi cha mẹ đang khóc than bằng những lời lẽ từng trải đến kỳ lạ, về một  chú bé đã kêu lớn khi bước vào phòng hơi ngạt: "Mẹ ơi, đừng khóc! Nước Nga sẽ trả thù cho chúng ta!".

     Tôi đã được nghe kể về hàng tá trường hợp những nạn nhân trước tình cảnh này bắt đầu phản kháng. Tôi được nghe về một người đàn ông trẻ đã đâm một sĩ quan SS bằng dao. Về một thanh niên khác bị đưa tới đây từ một khu Do Thái nổi dậy ở Warsaw đã làm được một điều kỳ diệu là giấu được một quả lựu đạn lấy được của bọn Đức ngay cả khi anh ta đã hoàn toàn trần truồng và ném nó vào đám đông những tên sát nhân.

      Chúng tôi cũng được nghe kể về trận chiến giữa nhóm những người nổi dậy với bọn lính gác và SS kéo dài suốt đêm. Những tiếng súng và lựu đạn nổ đến tận sáng và khi mặt trời lên, cả bãi đất phủ đầy xác những người nổi dậy ... Chúng tôi được nghe kể về một cô gái cao lớn đã giằng lấy khẩu carbine từ tay một tên Wachmann trên "Con đường có đi không có lối về" để đánh lại hắn. Cô đã bị tra tấn và hành quyết rất dã man, tên của cô không bao giờ được biết và không ai được phép tỏ ra tôn trọng hành động đó.

      Dân làng Wulka, làng gần Treblinka nhất, kể rằng thỉnh thoảng tiếng thét của những phụ nữ bị giết nghe quá khủng khiếp đến mức làm cả làng mất trí và bỏ chạy vào rừng để thoát khỏi những tiếng rú chói tai xuyên qua những vòm cây, qua bầu trời, qua mặt đất. Rồi đột nhiên tiếng rú im bặt, im lặng một lúc rồi lại tiếp tục hàng loạt tiếng rú mới thê thảm không kém, chuyển thành tiếng rít ghê rợn thấu xương làm bủn rủn tâm hồn những người phải nghe chúng. Điều này xảy ra 3 - 4 lần mỗi ngày.

     Tôi đã hỏi một tên đồ tể bị bắt tên là Sh. về những tiếng thét đó, hắn giải thích phụ nữ bắt đầu thét lên từ khi lũ chó được thả ra và cả đám tù nhân bị lùa vào lò sát sinh. "Họ có thể nhìn thấy cái chết đang đến gần, và đến với cả một đám đông lớn bọn họ. Họ bị đánh rất tàn bạo và lũ chó xé xác họ ra."

     Sự im lặng đột ngột diễn ra khi cánh cửa phòng hơi ngạt đóng lại và tiếng thét lại nổi lên khi một nhóm tù nhân mới bị đưa tới tòa nhà chết chóc. Điều đó xảy ra 2, 3, 4 và đôi khi là 5 lần mỗi ngày. Đó là một dây chuyền đặc biệt của cỗ máy giết người này.

    Cũng phải bỏ chút thời gian để trình bày về công nghệ giết người phức tạp ở Treblinka, tôi xin trình bày ngay. Nó đã phát triển từ từ và vẫn đang mọc lên những phân xưởng mới. Đầu tiên,ba phòng hơi ngạt nhỏ đã được xây dựng. Khi việc xây dựng vẫn còn đang tiến hành đã có nhiều chuyến tàu chở tù nhân tới, chúng buộc phải giết họ bằng vũ khí lạnh - rìu, búa và dùi cui - khi phòng hơi ngạt chưa sẵn sàng, bọn SS không muốn nổ súng vì tiếng súng có thể tiết lộ mục đích của Treblinka. Ba phòng hơi ngạt đầu tiên được xây bằng bêtông, rộng 5m x 5m và cao 190cm. Mỗi phòng có hai cửa:Một  để đưa các nạn nhân vào và cái kia để lôi các xác chết ra. Cửa lôi xác ra này rất rộng, tới 2,5m.Ba  phòng hơi ngạt được xây liền nhau thành một khối.

      Tuy nhiên ba phòng hơi ngạt này không đủ công suất để thỏa mãn ý muốn của Berlin. Ngay sau khi ba phòng này bắt đầu vận hành, chúng đã khởi công xây dựng tòa nhà tôi vừa mô tả ở trên. Các chỉ huy Treblinka rất thỏa mãn và tự hào vì đã bỏ xa kỷ lục về công suất của mọi "nhà máy giết người" của Gestapo. 700 tù nhân làm việc trong năm tuần để xây dựng nhà máy giết người mới này. Khi việc xây dựng hoàn thành,một chuyên gia cùng với nhóm giúp việc từ Berlin tới lắp đặt hệ thống thiết bị cho các phòng hơi ngạt. Mười phòng hơi ngạt mới được đặt đối xứng hai bên một hành lang rộng xây bằng bêtông ... mỗi phòng có hai cửa ... các cửa để lôi xác mở ra một nhà ga đặc biệt được xây dựng ở cả hai bên tòa nhà, những tuyến đường ray khổ hẹp chạy trong nhà ga này.

      Các xác chết bị chất đống trong ga rồi nhanh chóng được bốc lên các xe ô tô chạy trên loại đường ray này và được chở tới những hố chôn tập thể khổng lồ vẫn được những chiếc máy xúc khổng lồ đào suốt ngày đêm. Sàn phòng hơi ngạt dốc từ hành lang đổ về phía nhà ga, chúng làm công việc lấy các xác chết ra được nhanh chóng (các xác chết được mang ra khỏi các phòng hơi ngạt cũ theo cách cổ điển: khiêng cáng hoặc túm lấy mà kéo). Các phòng hơi ngạt mới rộng mỗi chiều 7 - 8m. Tổng diện tích sàn các phòng hơi ngạt mới bây giờ lên tới 460m vuông và tổng diện tích tất cả các phòng hơi ngạt tại Treblinka là 635m vuông.

       Trong đoạn này, Grossman viết dựa trên tính toán của ông về số lượng người bị giết trên mỗi chuyến tàu và theo đó dẫn tới con số ước lượng ba triệu người đã bị giết trong 10 tháng.

       Không hiểu chúng tôi có đủ can đảm để mô tả lại những gì các nạn nhân cảm thấy, những gì họ phải trải qua trong những giờ khắc cuối cùng trong phòng hơi ngạt? Chúng tôi biết rằng họ đã câm lặng ... Trong tình trạng bị nhồi nhét khủng khiếp đến gãy xương, đến ngạt thở, họ đứng người nọ ép vào người kia. Cuối cùng khi làn hơi chết chóc nhớp nhúa phun xuống họ vẫn đứng nguyên đó như một khối thống nhất.

      Hình ảnh nào lóe lên trong những cặp mắt đờ đẫn trước cái chết đó? Thời thơ ấu của họ, những ngày tháng thanh bình hạnh phúc, hay chuyến đi tàn khốc mới rồi? Hay vẻ mặt tươi cười của những tên lính SS trên sân ga? "Thì ra đây là lý do chúng cười." Ý thức họ mất dần, phút đau đớn khủng khiếp cuối cùng đã tới ... Không, điều đó không thể tưởng tượng được ... Các xác chết vẫn đứng, lạnh dần đi.

       Các nhân chứng nói rằng trẻ em có thể thở được lâu hơn người lớn. Các phụ tá của Schmidt quan sát qua một lỗ nhỏ khoảng 20 - 25 phút sau đó, đó là lúc phải mở cửa phòng hơi ngạt thông ra sân ga dành cho xe chạy trên đường ray khổ hẹp. Các tù nhân trong bộ áo liền quần bắt đầu công việc "bốc dỡ". Do sàn phòng hơi ngạt dốc ra phía sân ga nên các xác chết tự đổ ra phía đó. Những người đã từng chứng kiến việc "bốc dỡ" phòng hơi ngạt cho tôi biết mặt các nạn nhân đều rất vàng,một chút máu rỉ ra từ mũi và miệng của khoảng 70% người trong số họ. Các nhà sinh lý học sẽ giải thích hiện tượng đó.

       Các xác chết được bọn SS kiểm tra. Nếu ai đó bị phát hiện còn sống, rên rỉ hoặc cử động, họ sẽ bị bắn bằng súng ngắn. Sau đó một nhóm trang bị kẹp nha sĩ sẽ vặn những chiếc răng vàng và platin khỏi miệng các xác chết. Những chiếc răng này sau đó được phân loại theo giá trị, đóng vào hộp và gửi về Đức. Có vẻ như lý do là vặn răng người chết thì dễ dàng hơn là khi họ còn sống.

     Các xác chết được chất lên xe tải đưa tới những hố chôn tập thể khổng lồ. Tại đó chúng bị đặt thành hàng sát nhau, hết lớp này đến lớp khác. Các hố chôn đó sẽ được để nguyên đấy không lấp đất, chờ đến khi đầy mới lấp ... Và trong khi đó, khi các công nhân chỉ mới bắt đầu "bốc dỡ" phòng hơi ngạt, viên Scharfuhrer phụ trách "vận chuyển" đã nhận được một mệnh lệnh ngắn gọn bằng điện thoại. Viên Scharfuhrer lập tức thổi một hồi còi, đó là tín hiệu cho tay lái tàu, và một đoàn tàu hai mươi toa khác lại từ từ vào nhà ga được núp dưới tên gọi "Ga Ober - Maidan" ... Những chiếc máy xúc vẫn làm việc, gầm rú, đào suốt ngày đêm những hố chôn người mới dài hàng trăm mét. Những hố chôn có trước vẫn được để nguyên không lấp để chờ đến khi đầy, chúng sẽ không phải chờ đợi lâu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM