Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Hai, 2020, 07:41:48 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chặng đường Đỏ từ Stalingrad-hồi ức của 1 người lính Tartar Xô viết  (Đọc 36756 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 08:19:54 AM »

Em mạn phép lão Tieungoclang mang cái này qua đây.

Lời nói đầu

“Điều đó không được phép xảy ra lần nữa” Khẩu hiệu như vậy đã xuất hiện sau Ngày Chiến thắng, đã trở thành một quy tắc quan trọng trong chính sách đối nội và ngọai giao của Liên Xô. Khi chiến thắng, sát vai các đồng minh của mình, trong cuộc chiến tranh đẫm máu nhất lịch sử lòai người, đất nước đã phải gánh chịu những tổn thất hết sức to lớn. Gần 27 triệu người chết (khỏang 15% dân số thời bình). Hàng triệu đồng bào tôi hy sinh trong chiến đấu, bỏ mạng trong trại tập trung của Đức, chết đói chết rét trong vòng vây Leningrad hay trên đường đi sơ tán. Chính sách “vườn không nhà trống”, vốn được cả hai đội quân sử dụng trong khi rút lui, làm hủy diệt những vùng đất mà trước chiến tranh nuôi sống 88 triệu người và sản suất tới 40 % GDP. Hàng triệu người mất nhà cửa và buộc phải sống trong những điều kiện không thể chịu đựng nổi. Nỗi sợ hãi rằng một thảm họa như vậy có thể lặp lại ám ảnh cả đất nước. Đó là một trong những l‎í do khiến các nhà lãnh đạo đất nước thông qua những ngân sách quốc phòng khổng lồ, trở thành gánh nặng đáng sợ cho nền kinh tế. Do chính nỗi sợ hãi thực tế đó, những người dân thường thường tích trữ trong nhà một lượng đáng kể những “hàng hóa chiến lược” – muối, diêm, đường, thực phẩm đóng hộp… Tôi còn nhớ khi mình còn bé bà tôi – người đã trải qua nạn đói trong chiến tranh – lúc nào cũng cố gắng ép tôi ăn thứ gì đó, và bà rất không vui khi tôi từ chối! Đám trẻ con chúng tôi, ra đời khỏang ba mươi năm sau chiến tranh, tiếp tục chơi đánh trận giả trên đường phố Cuộc Chiến tranh Vệ quốc. Chúng tôi chia ra “phe ta” và “quân Đức” và từ tiếng Đức đầu tiên chúng tôi học được là “Hände hoch”, “Nicht schiessen” và “Hitler Kaputt”. Hầu như mỗi ngôi nhà ta đều có thể tìm thấy một vài người còn nhớ về chiến tranh. Tôi vẫn giữ những huy huân chương của bố tôi và một cái thùng đựng mặt nạ phòng độc của Đức nằm trong góc hành lang căn hộ tôi – một thứ đồ tốt để ngồi lên khi ta phải buộc dây giày!

Một mong ước quên đi những ám ảnh về chiến tranh càng nhanh càng tốt, để chữa lành vết thương – cũng như hàn gắn những sai lầm của ban lãnh đạo và chỉ huy quân sự của đất nước – dẫn tới một chiến dịch tuyên truyền dựa trên hình ảnh một người lính Xô viết vô danh, “gánh trên vai mình tòan bộ sức nặng của cuộc chiến chống lại phát xít Đức”, trong khi ca ngợi “chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Liên Xô”. Thái độ này có ý‎ nghĩa tuyên truyền một lối hiểu giản đơn, về những gì thực sự đã xảy ra. Kết quả là, những hồi ức xuất bản thời Xô viết bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cả kiểm duyệt bên ngòai (của nhà xuất bản hay bộ văn hóa - ND) lẫn bên trong (của chính tác giả - ND). Chỉ tới cuối thập niên 80 thì sự thật về chiến tranh mới xuất hiện.

Đó là thập kỷ mà cuốn sách của Mansur Abdulin được xuất bản. Năm ngóai, khi tôi nhìn thấy nó lần đầu tiên, tôi nhận ra rằng tôi đang cầm một hồi ức của “nhân dân Liên Xô anh hùng”, được viết bởi chính người thực về việc thực. Điều khiến những hồi ức này trở nên rất độc đáo chính là Abdulin đã tham gia các họat động ngòai tiền tuyến trong suốt một năm trời, trong khi thống kê cho ta biết trung bình một lính bộ binh Hồng quân chỉ sống sót trên chiến trừơng trong khỏang hai tuần, sau đó anh ta sẽ bị giết hoặc bị thương. Thời kỳ này cho phép Mansur thu nhặt những kinh nghiệm phong phú, mà ông có đề cập trong cuốn sách này. Là một người kể chuyện có tài, Abdulin, bằng lối khách quan và thẳng thắn, mô tả cuộc sống của mình trong chiến hào. Ông ý thức rõ rằng cuộc giao chiến mà ông phải tham gia, không cho ông cơ hội sống sót nào. Mục đích chủ yếu của ông là dâng hiến cuộc đời mình càng hữu ích càng tốt, tức giết chết những kẻ khác, tiêu diệt càng nhiều kẻ thù càng tốt. Chiến tranh ở Mặt trận phía Đông được đánh dấu bởi mức độ căm thù và khốc liệt đáng sợ, liên quan sâu sắc tới chính sách của Đức muốn tiêu diệt hòan tòan Liên Xô và bắt công dân của nó làm nô lệ. Các độc giả Phương Tây đã có cơ hội tìm hiểu về các kinh nghiệm từ phía Đức, nhờ đọc sách của các cựu chiến binh như Guy Sajer hay Gunter K. Koschorrek, trong khi hồi ức của các binh lính Xô viết hầu như không thể tiếp cận được. Đó là tại sao tôi luôn cảm thấy rất nhiệt tình để cho ra đời bản dịch tiếng Anh này.

Nhưng làm sao tôi có thể tìm thấy tác giả? Cuốn sách được xuất bản 13 năm trước và Abdulin giờ hẳn không ít hơn 80. Ông còn sống hay không? Làm sao tôi gặp được ông? Trong cuốn sách có ghi rằng ông sống ở Novotroitsk, tại vùng Orenburg. Tôi gọi cho phòng thông tin của thị trấn nhỏ này nằm ở vùng Nam Ural. Co gái đầu bên kia điện thọai ban đầu nghe nhầm họ tên, và trả lời rằng cô không có người tên như vậy trong danh sách. Tim tôi như chìm xuống! “Anh nói tên ông ấy là gì?” “Abdulin”. “Ôi xin lỗi, tôi lại đang tìm Abdullin”. Chờ một lát… Vâng, chúng tôi có một Abdulin M. G.”. Tôi lập tức gọi cho Mansur và tự giới thiệu: “Ông thấy thế nào về việc sọan một bản dịch tiếng Anh cho sách của mình?” “Tại sao không? Cứ thử xem nào… “

Artiôm Drabkin,
Maskva, 2004
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Sáu, 2009, 08:32:45 AM gửi bởi danngoc » Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 08:24:04 AM »



Chương 1: Mặt trận



                                                       


            Chiến tranh, mặt trận, nghĩa là bắn giết. Bằng cối, đại liên, tiểu liên hay đại bác. Tôi bắn phát đạn thật sự đầu tiên vào ngày 6 tháng 11 năm 1942 tại phương diện quân Tây Nam, từ một khẩu súng trường tự động SVT. Đây là điều đã diễn ra….


            Vài ngày trước trận tấn công, mỗi đại đội tổ chức mít ting trọng thể “Hướng về ngày kỷ niệm lần thứ 25 của Liên bang Xô Viết”. Chúng tôi tuyên thệ theo mệnh lệnh của Đất Mẹ – “Không lùi!”- khi băng qua sông Đông. Dòng sông yên ả, hành lang di chuyển tốt, và với những nhịp vận động nhanh, chúng tôi đến một hẻm núi cao của phía bờ bên phải.


“Đi cẩn thận!” chúng tôi luôn nghe lời cảnh báo này, và với những lính súng cối như chúng tôi, nó có ý nghĩa quan trọng, riêng biệt. Lính súng cối mang theo nòng, giá đỡ và chân đế: nếu đi nhanh và bị ngã hoặc chỉ loạng choạng, những thứ đó-theo quán tính sẽ đập bẹp sọ bạn. Tôi đã thấy nhiều thương vong do khinh suất ở những người lính bị vấp chân, chỉ do những thứ nặng nề vác theo.


            Chúng tôi tiến vào một vùng đất như bị bỏ hoang. Có lẽ chúng tôi đang bước trên những bao tải cũ và những bụi cỏ. Trong bóng tối, chúng tôi không thể thấy cái gì dưới chân chúng tôi. Có mùi gì đó thật khó chịu. Chúng tôi chạy tránh khỏi chúng, tiến lên, tiến lên! Một viên pháo sáng xuất hiện trên trời, và trong ánh sáng đó chúng tôi chợt nhìn thấy những gương mặt của xác chết. Cả quân ta và quân Đức.


            Có nhiều pháo sáng hơn. Tôi lén nhìn các bạn đồng đội: họ có thấy không? Có, họ có thấy. Nhưng mọi người như lặng câm. Không ai mở miệng. Dù chỉ một tiếng rủa. Chiến tranh là chiến tranh. Là như thế. Và có gì tự nhiên hơn! Tôi vừa bước sang tuổi 19, tôi biết những người khác cùng tuổi. Mọi người đều có cùng một kinh nghiệm: một khóa học bắn ngắn gọn ở trường bộ binh Tashkent.




Tôi nhảy qua vài thi thể, và trong đầu tôi loé lên một ý nghĩ: sao con người trở nên quen với điều này quá nhanh, tại thời điểm họ nhận thấy không thể tưởng tượng được. Một suy nghĩ khác – một suy nghĩ lạ lùng trong hoàn cảnh này – tôi hài lòng với chính bản thân mình. Nếu có một đồng đội nhìn tôi, anh ta sẽ không thấy gì chỉ là sự tập trung bình thường. Ở mặt trận, giống như mọi người khác – hoặc không tệ hơn những người khác – có nghĩa là giá trị của bạn được đảm bảo. Đó là điều chính yếu của lòng tự trọng. Tuy nhiên, tôi bị giật mình bởi cảnh tượng nôn mửa đó gây ra bởi ánh hoả châu (đây là mặt thật của chiến tranh, bản chất của nó, khi một thông báo đại loại như “Đã hi sinh anh dũng” đưa ra), tôi, tuy vậy, vẫn hoạt động bình thường như mọi người khác, cố không bị vấp hoặc chúi xuống khi nghe tiếng rít của một viên đạn bay đến.


            Chúng tôi gập người xuống khi chạy những mét sau cùng. Bờ vách thấp dần: tiếng đạn rít nghe rất chậm. Rốt cuộc, tôi nhảy vào được trong chiến hào: vẫn còn sống, không trầy da, ba lô và súng còn đây. Sau vài phút nghỉ thở, tôi đã sẵn sàng để bắn vào những gì theo lệnh.


            “Sao bọn ông chậm thế?” Chúng tôi nghe thấy giọng nói riết róng, thô lỗ vang lên, khi những người lính tuyến đầu đột ngột hiện lên trong chiến hào, như những bóng ma. Mang theo cối, súng máy, họ hành quân trở lại vào hẻm núi nơi chúng tôi vừa đi ra. Tôi đã tưởng tượng ra một  cuộc gặp gỡ khác hẳn, và sự biến mất nhanh chóng của những người lính “tiền nhiệm” để lại một cảm giác khó chịu. Thật ra, tôi đã mong rằng những “người cũ” sẽ ngồi lại với chúng tôi một chút, chỉ cho chúng tôi phải làm gì, chiến đấu như thế nào…



- “Cu làm tao mắc cười quá” Pavel Suvorov, khẩu đội trưởng của chúng tôi, tặc lưỡi nói “Họ phải qua sông Đông khi trời còn tối, và cần có thời gian để về tới hậu phương mà không bị bọn Nazi phát hiện”.



Sự thể hiện đầy vui vẻ của Suvorov đã thuyết phục tôi một điều rằng: tại lúc mà chúng tôi nhảy vào đây, chúng tôi đã thành những người lính tiền tuyến. Và dù việc gì xảy ra lúc đến, không ai sẽ nhớ, hoặc suy xét lại. Sự thật rằng chúng tôi chỉ là những học sinh sĩ quan mới tinh đến từ trường lính bộ binh.



Thật đáng kinh ngạc cho bản năng tự-duy-trì công việc ở người lính. Dường như mọi người khác đều trải qua cùng một cảm giác như tôi: nhưng chúng tôi đã bắt đầu nghe lính thông tin gọi nhau, “Khoá-nòng đây, nghe tôi không? Hết”, trong khi những tay pháo binh kéo khay đạn về phía khẩu pháo của họ,  còn lính súng máy thì lắp khẩu Maxim lên công sự. Trong đại đội chúng tôi, những khẩu cối cũng đã sẵn sàng xung trận, và Fuat Khudaibergenov cùng với tôi (trong khẩu đội Suvorov, anh ta là người nạp đạn còn tôi là xạ thủ pháo) cũng đã chuẩn bị đạn dược đâu vào đó cạnh khẩu cối. Từ khi chiến tranh, mỗi chúng tôi phải cố gắng trở thành một bánh răng hiệu quả trong cỗ máy chiến tranh. Đó là điều quan trọng nhất.



Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 08:31:11 AM »



Và khi đã xong các việc cần thiết, có thể nhìn quanh một chút. Các chiến hào trông cũ kỹ và mòn vẹt.



-         “Điều này có nghĩa rằng chúng ta đã trụ ở đây khá lâu rồi !”, Nikolai Makarov – ở một khẩu đội bên cạnh – giải thích.



Tất cả các khẩu đội trong đại đội chúng tôi đều học cùng trường.



-         “Hoặc vừa chiếm lại của bọn Đức” Victor Kozlov phản đối.



Cả hai đều nói thầm thì, như thể họ đã chiến đấu cả đời rồi. Pháo sáng của bọn Đức tiếp tục phóng lên trời, soi sáng tận đáy chiến hào, trong khi súng máy tiếp tục khạc đạn.



“Sợ chúng ta tấn công đêm à?” Ivan Konski cười, và trong mắt anh ta, ánh lên trong nguồn sáng nhợt nhạt, biểu lộ một bí mật, nó làm tôi câm lặng. Đại uý Buteido, đại đội trưởng của chúng tôi, vừa gửi vài tay đến vị trí quan sát, và báo tôi nên sẵn sàng để thay thế họ khi bình minh.



-         “Ôi, Mansur, nóng à?” đại đội phó, chính trị viên đại đội Fatkulla Khismatullin, người Tartar hỏi.



Anh ta đến với chúng tôi cùng chỉ huy. Trước chiến tranh, Khismatullin là giáo viên sử, và anh thường hỏi chúng tôi cặn kẽ với nơi chúng tôi sinh và ước mơ trong đời của chúng tôi. Đó là dành cho một cuốn sách anh ấy dự kiến sẽ viết sau này. Anh ta dịch câu hỏi của anh ta sang tiếng Nga để Buteido và những người khác có thể hiểu:



-         “Tôi hỏi Mansur rằng có thấy nóng không?”



Mọi người cười to. Vấn đề là, tôi sinh ra ở Siberia, và trong các buổi tập tôi bị gục vài lần do cái nóng ở Tashkent. Tôi đã từng sợ rằng nhà trường sẽ loại tôi. Chúng tôi luôn nhớ lúc ở trường, chúng tôi phải luôn giặt áo choàng hằng ngày vì muối và mồ hôi, và nó thường bị rách ở các đường may chỉ sau nửa tháng. Chúng tôi ao ước sao mình được ra mặt trận.



-         “Chúng ta giờ đang ở tiền tuyến” Buteido ghút lại, nhìn vào đồng hồ “và đừng quên những gì đã được dạy…”.



Viên đại đội trưởng đầy kinh nghiệm, người đã tham gia từ những ngày đầu chiến tranh dặn chúng tôi, giữa những điều khác, đại loại như sử dụng liều phụ nhiều lần để làm sạch nòng cối khỏi cặn thuốc súng sau khi bắn. Nếu nòng không được thông, quả cối bên trong sẽ di chuyển chậm lại, và như vậy, trong quá trình bắn chiến đấu, sẽ có tình huống một quả đạn được tọng vào trong khi quả trước chưa được bắn, và nó có thể gây nổ trong nòng…



-         “Bây giờ các bạn có thể nghỉ ngơi” Buteido nói, rồi cùng Khismatullin cúi gập người đi dọc theo chiến hào.


Ngay lập tức, Sergie Lopunov quay sang hỏi xin Fuat kim và một ít chỉ, trong khi Victor Kozhevnikov xin giấy và bút chì. Chúng tôi biết rằng tay nạp đạn này (chỉ Fuat) luôn có trong quân trang những thứ người ta cần như: kim, chỉ, dây giày, cúc áo, kéo, dao cạo, vaseline, xà bông, xi đánh giày, bàn chải, băng gạc, iốt v.v…



Fuat như luôn có mọi thứ dù yêu cầu đặc biệt. Và anh ta không bao giờ ở không. Ngay bây giờ, trong khi chúng tôi chìm trong hồi tưởng, thì anh ấy sử dụng thời gian rảnh ấy để vá lại vết rách ở lần vải lót cái áo choàng của mình và xem xét vết vỡ ở gót đôi ghệt của Nikolai Makarov. Anh ấy là một tay thợ may, thợ đóng giày, đầu bếp siêu hạng, và khi cần, là thợ rèn hoặc thợ mộc.



Những thứ như bánh mỳ, đường hoặc makhorka (một loại thuốc lá rẻ tiền – NV), chúng tôi không bao giờ chia chúng như ở các trung đội khác vẫn làm, một tay nào đó lấy một phần và hỏi “Ai”, trong khi một tay khác quay lại là nói “Ivanov”, “Petrov” hoặc “Sidorov”. Fuat chịu trách nhiệm chia đồ, và khi một người nào lấy từ cái áo không thấm nước của anh ta một trong 40 phần được chia thì chắc chắn rằng những người khác cũng sẽ được đúng tầm ấy.



Dịch từ tiếng Uzbek, họ của anh, Khudaibergenov nghĩa là “món quà thượng đế”. Cha Fuat là người Tartar còn mẹ là người Uzbek. Anh ấy cùng tuổi với tôi, một đồng đội to lớn và khoẻ mạnh. Fuat ít nói, nhưng có một lần anh làm chúng tôi ngạc nhiên khi mời mọi người, sau chiến tranh, đến chơi nhà anh và thử dùng món cơm thập cẩm (pillaw – một món khoái khẩu của nguời Trung á, với cơm, thịt sườn, rau, dầu, gia vị và nước xúp – NV). Chúng tôi đã phải hứa đến nhà anh ở Tashkent. Tôi thì có điều kiện thực hiện lời hứa hơn những người khác: trước chiến tranh, gia đình chúng tôi chuyển từ Siberia đến vùng mỏ Sargardon ở Trung á, và như vậy đường về nhà tôi có ngang qua Tashkent.



 



Tôi viết cả những điều đó vào lá thư gửi về nhà. Tôi ném lá thư lên chồng thư tín, chính xác lúc đó là khoảng 2 tiếng trước khi tôi đi thực hiện nhiệm vụ của mình – tôi tràn ngập trong sợ hãi. Ivan Konski như đang ngủ say và mơ về vùng quê Smolensk. Còn đầu óc tôi vẫn tràn ngập hình ảnh đáng sợ: những gương mặt chết tím tái. Tôi cố đuổi hình ảnh đó bằng cách hồi tưởng lại tuổi thơ.




Tôi sinh ra trong một gia đình thợ mỏ vào ngày 14 tháng 9 năm 1923. Chúng tôi sống ở một ngôi làng người Tashtagol gọi là Sukhoi, bao quanh bởi những cánh rừng nguyên sinh rậm rạp. Trong nhiều thế kỷ, là nơi sống của những người Tashtagol bản địa, những người Tartar, Estionia, Hungaria, Đức, Nga-theo-đức-tin-cổ tự do và trốn chạy, và cả hậu duệ của những người Cossack vốn từng tham gia vào cuộc khởi nghĩa nông dân - lãnh đạo bởi Yemellian Pugachev (1773-1775).



Mỗi sắc dân có tôn giáo, chúa trời hoặc những thánh thần nào đó mà họ tôn sùng. Tỉ như, một gia đình có một cái lỗ ở góc phòng, và qua đó họ liên hệ trực tiếp với thần linh; gia đình khác thì có một cây thông nhỏ trong sân, chỗ mà họ cho là linh thiên. Họ trang trí cành lá với vài miếng giẻ và cầu nguyện.


 



Những người đó có Chúa trời, luật lệ và nguồn gốc riêng, chung sống hoà bình với nhau. Họ có điểm chung là một cộng đồng mê tín: họ tin rằng tất cả được cai quản bởi đấng tối linh, người sẽ trừng phạt kẻ xấu. Dân địa phương, dù thuộc quốc tịch hay tôn giáo, cũng đều thống nhất ở một ý niệm thần bí khác: rừng, sông, đồi, hồ, đầm lầy hoặc mỏ đều có một vị thần sở hữu, cai quản, vị thần đó sẽ bảo vệ cho sự giàu có và sự sở hữu đó. Nếu có ai thách thức làm điều gì xấu, vị thần đó chắc chắn sẽ dìm chết hắn ta mà không để lại dấu vết gì.



Bố mẹ tôi đều là những người ngoài, người nhập cư, Đảng viên – và không tôn giáo. Nhưng vì họ là những người duy nhất biết đọc viết, dân địa phương kính trọng họ. Bố tôi là kỹ thuật viên ở mỏ và là Đảng viên ĐCS, rất chú trọng vào đạo đức năng lực công nhân. Mẹ tôi, dù học ít, dạy hàng xóm viết – dù chỉ tên họ.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 08:36:13 AM »



Tôi sinh sau ngày chế độ chuyên chế Nga sụp đổ và lực lượng bạch vệ cũng bị dẹp tan trong nội chiến 1918-1921. Những trẻ em Liên Bang Xô Viết thời đó phải chịu tình trạng đói kém kéo dài, thêm vào là những dịch bệnh tệ hại như đậu mùa, lao phổi, dịch tả và sốt phát ban. Thường thì chẳng có ai làm mộ cho các trẻ chết. Những phụ nữ nông dân chôn con mà không hề khóc lóc, mà còn cho thấy sự vui mừng của họ khi bớt đi một miệng ăn phải nuôi. Nhiều người lớn – và cả trẻ em – có lối sống khác. Mẹ tôi, thỉnh thoảng lại bị lên cơn cuồng hậu quả của việc thiếu đói và tuyệt vọng triền miên, và khi đó bà điên cuồng gào lên: “ Tôi treo cổ chết đây ! Tôi bỏ các người (chỉ tôi, em trai tôi và cha tôi) … !”



 



Và vì cuộc sống kinh khủng mà mẹ tôi đã không xấu hổ hoặc dấu diếm - trước mặt anh em tôi – rằng bà ghen tỵ với những người bạn của bà: những phụ nữ mà con của họ đã chết cả. Dù rằng tôi chỉ mới 3 hay 4 tuổi khi đó, nhưng tôi hiểu mẹ và không buồn với những cảm xúc khó khăn đó. Tôi cầu nguyện với đấng tối linh (mà tôi tin là hiện hữu) ban cho cha mẹ tôi sức khoẻ, và cầu thần hầm mỏ bảo hộ cho cha tôi khi ông vào hầm mỏ. Tôi cố chịu đựng những cơn đói kinh khủng mà không khóc. Có một lần, thầy thuốc khám tôi và bảo mẹ tôi rằng:



-         “Con bà không bị bịnh gì, nó chỉ bị thiếu máu và vì vậy nên yếu ớt. Vị thuốc tốt nhất là cho nó ăn!”



 



Kể từ đó tôi sợ bị đứt tay. Vì tôi sợ tôi sẽ chết do bị chảy hết máu, và khi đó mẹ tôi có dịp vui mừng vì bớt đi một miệng ăn !!!


 



Dân địa phương thường ghé thăm bố mẹ tôi bởi lẽ họ là người có học duy nhất trong vùng. Những người khách hỏi han nhiều vấn đề quan trọng khác nhau như:



-         Đồng chí Abdulin, đồng chí là đảng viên, hãy thẳng thắn cho tôi biết – có Chúa trời hay không?



Rồi họ im lặng, nín thở chờ câu trả lời của cha tôi.



-         Tiếc là không có Chúa trời – cha tôi nói – nhưng loài người luôn cần có một nhân vật đầy quyền năng, thông hiểu mọi thứ, thưởng thiện – phạt ác, do vậy họ hư cấu ra Chúa trời để mọi người trên thế giới này thấy hạnh phúc.



Nghe như vậy, mắt những người khách trợn lên như muốn nhảy ra khỏi hốc mắt, cha tôi nhanh chóng làm cho họ dịu lại.



-         Nhưng trên nhân loại, thay vì Chúa, có một đấng công lý tối linh bao trùm lên chúng ta, giúp ta không lạc lối và không bị diệt vong.



Luận điểm này dường như đảm bảo cho mọi người và thêm vào hi vọng cho tương lai tươi sáng. Những người khách gục gặc những bộ râu vĩ đại với vẻ hài lòng và nói:



-         Ngừơi ta chỉ có thể sống như vậy – Không đức tin, không thể!



Họ cúi chào và ra về.




Từ khi còn bé con, tôi đã thích vẽ, thích đục đẽo cưa bào và thích sáng tạo, làm những đồ vật khác lạ. Và khi tôi còn là học sinh, tôi đã là một tay làm ván và giày trượt tuyết khá nghề. Tôi cũng làm một cái lồng chim theo mẫu một căn nhà tranh của nông dân, lũ chim sáo đá có một nơi ở tuyệt vời và chúng hay om xòmn với nhau vì một chỗ tốt trong đó. Tôi cũng là một thành viên tích cực của nhóm chơi tàu lượn và máy bay mô hình.



Năm 12 tuổi, tôi đã có được các huy hiệu “Sẵn sàng lao động và chiến đấu”, “Tay súng Vorosilov” (những huy hiệu này cấp cho những ai vượt qua các chỉ tiêu về thể thao và bắn súng), tôi đã vào rừng với súng để săn gà rừng. Tôi đã mơ mình sẽ trở thành một nghệ sỹ, một diễn viên, một kỹ thuật viên mỏ, một thợ chụp ảnh, rồi thì phi công, lái xe và sỹ quan Hồng quân.



 



Có lần tôi làm một cái camera bằng gỗ (nó đại loại là một cái camera đục lỗ, camera thụ động, một thiết bị đơn giản được dùng rộng rãi trước thời máy chụp ảnh hiện đại ra đời ở thế kỷ 19), nhưng không có gì để làm thấu kính, dù chỉ là một cặp mắt kiếng – và tôi đã dùng dùi nóng, dùi một cái lỗ, làm một cái kính mờ mờ với tro. Ttôi đã rất ngạc nhiên khi nhìn qua đó và thấy rõ ràng chú chó săn của tôi đang chạy ngang qua ở đằng xa. Nhưng con chó bị lộn ngược!



Dân khu mỏ, biết đến thứ đồ chơi mới mẻ của tôi đã rất nhiệt tình tán dương: “Cu nhỏ Mansur Abdulin thiệt khá. Hắn làm một cái đồ chơi tuyệt vời, nhìn qua đó, toàn bộ đàn bà-con gái bị lộn ngược đầu xuống và váy bị tốc ngược qua đầu. Và lúc đó tha hồ ngắm nhé, họ không mặc quần! Ha-ha!”. Vì vậy, phụ nữ mỗi khi thấy tôi với cái đồ chơi đó, la hét hoảng loạn và cố chạy hoặc trốn đi. Cuối cùng họ phục kích, đánh ngã tôi và lấy món đồ, véo mũi và gần như xé rách tai tôi.



 



Một dịp khác, có lẽ là người tham gia bền bỉ và khá nhất trong đội kịch nghiệp dư, tôi được phân một vai sĩ quan Bạch Vệ (đối thủ của Hồng Quân trong cuộc nội chiến 1918-1921 – ND), với một cặp kìm nóng đỏ tra tấn những người Cộng sản chiến đấu trong hàng ngũ Hồng quân bị bắt. Nhưng buổi diễn không bao giờ kết thúc, bởi lẽ một vài anh chàng khán giả đã xông lên sân khấu gào toán lên “Giết bọn Trắng!” doạ đánh tôi, chắc do tôi diễn quá đạt. Tôi phải chịu đựng khá nhiều cho ước mơ làm diễn viên của mình.



Tôi cũng vẽ rất khá, và đã trang trí cho vài quyển tập viết (vốn được cung cấp rất ít) bằng những bức tranh của tôi, và kết quả là cha tôi đã “trang trí” cho mông của tôi với thắt lưng da của ông thật lực đến nỗi mà cả tuần sau tôi vẫn phải nằm tênh hênh, sấp bụng giơ đít cho bọn gián xem….




Cả thời thơ ấu của tôi ở khu mỏ Miasski. Khi lớn hơn một tí, cả mùa hè từ sáng đến tối, cùng với đám con trai và vài đứa con gái, chúng tôi tìm vàng: sàng những mẩu đất cát trong những chậu kim loại đơn giản hoặc những các xẻng đào vào. Lúc này cuộc sống chúng tôi đã khá hơn: ít bị đói và có tiền để mua quần áo.



 



Năm 1940, để được cấp sổ gạo, tôi bỏ học và đi làm trong mỏ, với công việc là đẩy xe gòong. Nhưng chiến tranh đã nổ ra ngày 22 tháng 6 năm 1941. Là một thợ mỏ, tôi không bị động viên, nhưng tôi lại xoay sở để gia nhập quân đội.



Bốn chúng tôi là Nikolai Koniayev, Ivan Vanshin, Victor Karpov và tôi. Cùng đến phòng đăng ký tuyển quân và cố thuyết phục người cán bộ ở đó rằng nghiệp vụ mỏ của chúng tôi không ghê gớm đến mức phải giữ chúng tôi ở xa mặt trận, nhưng anh ta vẫn khăng khăng: “Tôi không thể, tôi được lệnh từ Uỷ ban Quốc phòng, tôi không có quyền!”, Và- tôi nhớ lại điều đó với một nụ cười- chúng tôi đe doạ anh ta rằng sẽ đột nhập vào một cửa hàng trong đêm: khi đó chúng tôi có khả năng sẽ bị đưa đến một tiểu đoàn trừng giới, ở toà, chúng tôi sẽ khai rằng vì thiếu tá Galkin cố ngăn chúng tôi ra trận!



Vị thiếu tá giải quyết ngay vấn đề. Anh ta gọi thẳng cho ai đó để được phép. Và ngay lập tức, chúng tôi đã thấy mình trần truồng đứng trước những cặp mắt xăm soi của một uỷ ban tuyển chọn học sinh sỹ quan cho trường phi công. Chỉ có hai trong số chúng tôi được chọn: bạn thân nhất của tôi Nikolai Koniayev và Victor Karpov. Vanshin và tôi trở lại phòng tuyển quân và cùng trong ngày, anh ta đi đến trường xe tăng Chirchiks, còn tôi thì đến trường bộ binh Tashkent (được mang tên V.Lenin). Dĩ nhiên tôi ghen tị với bọn họ. Nhưng số phận đã định đoạn rằng, chỉ tôi, một lính bộ binh, sống sót sau cuộc chiến.


 



Sau khi tốt nghiệp ở trường, tôi, một lần nữa lại bị cản trở đến với các hoạt động tích cực. Là một học viên gương mẫu, tôi được gọi ở lại trường làm giảng viên. Và đồng đội ghen tị với tôi, số khác thì lưu ý một cách hằn học: “ Hắn muốn ra trận biết bao nhiêu, nhưng chúng ta thấy điều gì rồi đấy!”. Không bao giờ, tôi đã có kế. Tôi âm mưu với một học viên ưu tú khác, họ anh ta là Taktzer. Anh ta ăn một mẩu xà phòng giặt, và vào bệnh viện. Anh ta bị tiêu chảy, còn tôi thì đến gặp chính uỷ trường với một đề nghị: “Hãy để Taktzer lại, còn tôi thì chuyển vào danh sách ra trận!”. Tất cả đồng đội đã vui mừng khi thấy tôi – ít ra là vì tôi hát hay nhất – và tôi thì nhận nhiệm vụ cùng với một đội 700 thiếu uý mới toanh.





Khi chúng tôi đến sư đoàn, các đồng đội của tôi được phân về các trung đoàn khác nhau, còn tôi thì ở lại sở chỉ huy, làm dự bị. Tôi không mong muốn ở lại phía sau, nhưng, thật vô ích để van vỉ xin ra một trung đoàn tiền tuyến. Câu trả lời thường là: “ Trong quân ngũ không có những thứ đại loại như tôi sẽ không, tôi không thể hay tôi không biết thế nào”.



 



Vào một ngày, tôi đang ở sở chỉ huy, sư trưởng cho gọi tôi. Không để cho tôi báo cáo, sư trưởng ấm áp cho tôi ngồi và đẩy một gói Kazbek đến bên ghế và bảo “ Hút thuốc đi!”. Tôi từng để ý những lúc ông ta nhìn tôi: kiểu như nhìn dân Gipsy trong phiên chợ hoặc ngắm con ngựa mà ông ta yêu thích. Tôi không can đảm hút thuốc trước mặt một vị tướng và chuẩn bị cho điều tệ hại nhất, tôi cũng biết là ông đang tìm một sĩ quan phụ tá. Như thường lệ, sư trưởng đang chuyếch choáng say. Ông nhìn tôi bằng cặp mắt bò mộng của mình và lầm bầm một cách hách dịch, gần như không đánh lưỡi:



-         Hôm nay, tôi quyết định ký lệnh điều động anh làm sĩ quan phụ tá của tôi. Tôi hài lòng với kết quả học tập và trình diễn của anh, tôi đợi sự đồng ý của anh.



-         Tôi đề nghị được chuyển đến trung đoàn 1034, nơi những đồng đội của tôi đang phục vụ



Tôi trả lời.



-         Tôi đã không nghĩ rằng anh từ chối! Anh không tin là không có gì lãng mạn ở chiến tuyến à? Đó chỉ là một lò sát sinh! Hãy nói “đồng ý” và anh sẽ không hối tiếc vì điều đó. Tôi tin là anh sẽ có được nhiều huân chương và thăng cấp. Hãy suy nghĩ. Tôi sẽ không tệ với anh!



-         Không, thưa đồng chí Tướng quân. Tôi không biết đánh giầy, nhưng tôi biết chiến đấu.



-         Nhưng tại sao?



Ông ta nhướng đôi mày rậm rạp, thành một vạch xám thẳng, và giữ chúng lơ lửng đề phòng câu trả lời của tôi.



-         Thưa, tôi đã thề với bạn tôi là sẽ cùng chiến đấu.



-         Sẽ không ai trong số bạn anh từ chối lời đề nghị vừa rồi đâu.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:09:44 AM »

Và đó là là điều đã đưa tôi, cuối cùng, đến với tiền tuyến cùng đám bạn học sinh sỹ quan. Tôi đã bảo với Chính uỷ trung đoàn rằng tôi muốn là một người lính thường và được rèn giũa, bởi tôi sẽ thấy ngại khi phải chỉ huy những người lính ở cái tuổi, có thể bằng cha tôi; và rằng tôi muốn có kinh nghiệm “nghe mùi thuốc súng”. Do đã có đủ thiếu uý nên yêu cầu của tôi được chấp nhận.



 



Tôi có biết rằng tôi đối mặt với tử thần không? Tôi có. Và tôi cũng chưa hề tưởng tượng ra một hình ảnh đặc biệt như thứ mà tôi vừa thấy ở dưới chân hẻm núi trong ánh sáng tím tái của hoả châu. Nhưng con người thật lạ thường! Lúc này đây, ở làng Brichmulla đầy hoa, cách hẻm núi đó hàng ngàn cây số, tôi tự biết rằng, tôi vẫn sẽ hăng hái đến phòng tuyển quân, và đề nghị được đưa đến đó.



Tôi thật tình không muốn chết, nhưng cũng như vậy, tôi không muốn sống với lương tâm bị cắn rứt. Cứ nghĩ rằng tôi sẽ bị day dứt thế nào khi ở lại mỏ: tôi sẽ phải nói thế nào khi chiến tranh chấm dứt? Rằng tiến tuyến cũng cần những người có khả năng, đặc biệt là ở mỏ để phục vụ cho việc bảo vệ tổ quốc? Điều đó đúng. Nhưng bạn không thể giải thích điều này cho mọi người; thuyết phục mọi người. Cả những cô gái cũng đựơc gọi ra trận. Nhưng tôi muốn sống biết bao! Thật kinh khủng khi thành những xác ma ở một hẻm núi, chiếu sáng bởi ánh tím hoả châu…



 



Dòng suy nghĩ bị ngắn quảng bởi sự xuất hiện của Suvorov, người, dường như cũng không thể ngủ:



-  “Mansur à, sợ không?”



Tôi cảm thấy như ai đó đánh vào bụng,



-  “Nào, đừng có xấu hổ” anh ta nháy mắt “ai cũng sợ cả”.



Tôi thẳng thắn thừa nhận rằng đã nhìn những người khác nhưng không thấy gì.



- “Họ cố không để lộ ra thôi” Suvorov giải thích với một giọng thân ái và nháy mắt lần nữa như chia sẽ một bí mật “Cậu cũng không để lộ ra. Vểnh đuôi lên nào!”.



 



Tôi vui vẻ trở lại. Suvorov hơn tôi 7 tuổi, một quân nhân chuyên nghiệp, trước chiến tranh phục vụ trong Trung đoàn Mat-cơ-va số 1 và đã đựơc tặng thưởng huân chương Sao đỏ. Tôi hỏi anh rằng có khi nào anh quá sợ không?



- “Cậu nghỉ là anh không muốn sống à?” Anh mỉm cười. “Nhưng chúng ta có thể làm gì hả cu Mansur? Chúng ta không bảo chúng, nhưng chúng đến (một đoạn lời trong bài hát phổ biến). Chúng muốn đất đai. Của cậu và của anh! Chúng là “Ubermenschen”- dân thượng đẳng- cậu hiểu không? Chúng ta chỉ đáng để đánh giày cho chúng. Cậu thích như thế à? Và với mọi người chỉ có một con đường: chiến đấu. Một cuộc chiến lớn. Mọi người không thể chỉ đứng và nhìn, sợ hoặc không…”




Trời đã sáng. Những tay súng máy Đức đã thôi bắn. Và cũng không còn hoả châu. Đêm đã qua. “Nào, đi nào, anh sẽ chỉ cậu lối đi” Suvorov nói.



Điểm quan sát được nguỵ trang cẩn thận. Suvorov nhìn vào kính viễn vọng và sau đó nhường chỗ cho tôi, nhưng vẫn đứng cạnh, hạ giọng:



- “Chúng cách khoảng 300m” anh nói ”và ngược nắng”.



Anh chúc tôi may mắn và rời đi.



Chúng bị ngược nắng. Điều này có nghĩa là tôi có thể tự do quan sát vị trí của chúng. Tôi đặt điểm ngắm cố định cho khẩu súng trường tự động – lên đạn, tỳ báng súng vào vai, tôi cảm thấy được khẩu súng – mọi thứ ổn cả – và tôi ngắm vào chiến hào quân địch gần kề, trong khi những suy nghĩ khác nhau chạy qua tâm trí tôi.



 



Tôi nhớ những cánh rừng Siberi quê tôi. Tôi vẫn là một đứa trẻ. Một dấu X khắc lên thân cây thông làm đích ngắm. Một chạc cây Bu-lo chống trên đất đỡ cho cây súng săn nặng. Tôi được 8 tuổi và cha tôi đang dạy tôi bắn: “Con đến đây, và ngắm như thế này này!”. Người dạy tôi cách ngắm, và tôi vụng về ghì lấy cây súng. Điểm ngắm và dấu X nằm ngay trên một đường thẳng. Tôi rất vội vàng, vì trong rừng phải bắn rất nhanh: gà rừng sẽ không ở lại chờ, chúng bay mất! Tôi bấm cò, nhưng không có gì xảy ra cả. Phải chăng tay tôi quá yếu? Tôi ước rằng cha tôi hoãn việc dạy tôi bắn cho đến khi tôi lớn hơn! Đỏ mặt vì căng thẳng, tôi bóp cò lần nữa với tất cả sức lực. Cha tôi đang giục tôi: “ Đừng ngắm nữa, bắn đi!”. Tôi cố bóp và bóp, thấy như mình muốn nổ tung vì căng thẳng.



Đột nhiên tôi bắn ra – không phải đạn – mà là một phát rắm to, với một âm thanh kinh khủng nghe như tiếng xé vải dầu mà chúng tôi thường dùng may đồng phục thợ mỏ. Cha tôi cười nghiên ngả. Ông cười đến nỗi phải ngồi xuống và ngẩng đầu lên, tôi có thể thấy rõ từng chiếc răng trắng khoẻ của ông. Sau đó, ông chỉ tôi thấy rằng tôi đang bóp cái kẹp thay vì cò súng. Rốt cuộc, tôi bắt đầu bắn tốt, làm cha tôi hiếm khi đủ thời gian để nạp đạn cho khẩu súng. Tôi vui mừng, nhưng người còn vui hơn.


Tôi bối rối làm sao khi nghĩ rằng đây không phải là gà rừng, tôi từng săn, mà là con người?  Và tôi nhớ vài điều khác. Tôi nhớ hai tuần trước, sau khi sư đoàn của chúng tôi vội vã lên một chuyến tàu quân sự (trung đoàn 1034 lên tàu ở một ga nhỏ tên là Koltubanka) và đi ra mặt trận, chúng tôi bị máy bay địch ném bom. Những tay lái tàu đột ngột cho tàu chậm lại hoặc chạy nhanh lên phía trước. Những trái bom không làm hư hại đoàn tàu, nhưng những phi cơ bọn Đức, bay thấp, bắn được vào vài toa bằng súng máy. Khói TNT và than đá, mùi đất cháy, máu của người chết và bị thương, tiếng rên: tất cả những thứ này tôi đã thấy, đã thở và đã nghe, dù rằng chiến trường còn cách hàng trăm cây số. Nhiều đồng đội của tôi đã hi sinh mà chưa giết được tên Fritz nào. Điều này có xảy đến với tôi không? Tôi có bị giết không? Tôi có chết một cách vô nghĩa không? Không thể! Chết mà không kịp thấy được kẻ thù sau bấy nhiêu cố gắng để được ra trận ư?



 



Bây giờ điều duy nhất mà tôi thấy là thảo nguyên bát ngát đến tận chân trời. Mọi vật vẫn yên lặng. Không một tiếng động. Đột nhiên, có sự di chuyển đằng trước. Tim tôi đập loạn. Khẩu súng của tôi rất tuyệt – tôi có thể bắn trúng một cái lon ở khoảng cách 100m. Đột nhiên, tôi thấy nóng ran. Mục tiêu rõ dần lên. Bọn Đức. Chúng đang đi trong chiến hào. Bao nhiêu tên nhỉ? Chúng mang rơm trên vai, ràng bằng dây thắt lưng. Chúng quay lại, và bây giờ tôi có thể thấy 3 tên. Chúng đi  theo chiến hào của bọn chúng dọc chiến tuyến. Tôi phải bắn ngay. Tôi quyết định ngắm vào tên đi giữa. Nhưng việc gì xảy ra đây? Tôi dường như không thể đưa khe ngắm, đầu ruồi và mục tiêu vào thẳng hàng: nếu đầu ruồi và mục tiêu thẳng thì tôi mất khe ngắm! Nếu có khe ngắm thì mất đầu ruồi!. Tôi toát mồ hôi. Nó chảy đầy vào mắt tôi. Khẩu súng run rẩy trong tay tôi. Sự thật là tôi đã trượt, tôi kéo cò. Sự yên lặng bị tiếng nổ phá vỡ.



 



Bọn Đức ngay tức khắc biến mất, và tôi – từ từ, như thể bị thương- tuột xuống đáy điểm quan sát. Lúc đó tôi thấy ghét mình vô cùng! Đồ thất bại! Một cơ hội ngon ăn bị trượt! Tôi tin là tôi đã quá sợ, quá lo vì sợ tôi chết mà không kịp gây tổn thất nào địch. Giá mà tôi có thể giết một tên trong bọn chúng! Để cân bằng. Chính suy nghĩ đó đã làm tôi run và bắn vội vàng sớm hơn khi chúng vào tầm. Tôi chả ra ôn gì cả!



Tất cả những điều đó lướt qua óc tôi trong giây lát. Sau đó tôi lại đứng dậy, tì báng súng vào vai. Ồ, bọn Fritz đâu rồi? Dĩ nhiên là chúng chuồn rồi. Không, chúng vẫn đang chạy trong hào, cúi người thấp hơn và đi chậm hơn. Một suy nghĩ thoáng qua: “Bây giờ thì không thể bắn hạ được chúng”. Khe ngắm, đầu ruồi, mục tiêu thằng hàng. Thật lạ, tôi không còn run. Mọi thứ sẳn sàng. Tôi chuyển điểm ngắm cách vài căn-ti-mét về phía trước tên Nazi ở giữa và bóp cò một cách êm ả.



 



Tên Fritz đi đầu gập đôi người đến mức chỉ còn thấy bó rơm trên lưng, tiếp tục chạy, nhưng tên thứ hai thì đứng thẳng người, đầu hắn giật ra sau một cách bất-tự-nhiên, xoay vòng rồi đổ sụp xuống như một con búp bê bằng giẻ. Lo nhìn nạn nhân của tôi chậm chạp ngã xuống, tôi quên không để ý tên thứ ba như thế nào. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là “Không có anh chàng nào sẽ tin là mình đã hạ được một tên Đức”. Chỉ một phút trước tôi đã nguyền rủa mình, nhưng bây giờ tôi ngập tràn tự hào “ Giá như chỉ một tay trong chúng tôi có thể nhìn thấy”.



 



Bỗng nhiên tôi nghe tiếng gọi:



- “Tốt lắm, Abdulin, tốt lắm! Sao cậu không là komsorg (nghĩa là bí thư chi đoàn – đoàn TNCS Komsomol - ND) đại đội nhỉ?”



Tôi thấy đại uý Chetkaxov, chính uỷ tiểu đoàn. Anh hạ ống nhòm xuống và cười với tôi:



- “Cậu là người đầu tiên trong tiểu đoàn gây đựơc tổn thất lên quân địch”.



Anh ấy nghe tiếng súng, quay người bò đến điểm quan sát và thấy tôi hạ tên Đức. MỘt giờ sau, Chetkasov bảo tôi rằng tôi là người đầu tiên trong cả trung đoàn hạ đựơc một kẻ địch, và tôi sẽ được nhận một huy chương “Vì lòng dũng cảm”.



 



Tôi phải nói rằng, sau đó, tôi đã làm được nhiều điều quan trọng hơn trong những tình huống phức tạp hơn là phát súng thành công đầu tiên này. Và tôi không nhận được huân chương nào cho những điều đó. Nhưng tư tưởng chiến tranh là mối quan hệ vật chất.  Mọi người nên nhớ rằng trung đoàn của chúng tôi chủ yếu là những học sinh sĩ quan thiếu kinh nghiệm; và rằng trung đoàn vừa đến mặt trận; và đó là yếu tố cần thiết để đưa chúng tôi thích nghi với điều kiện hoạt động càng sớm càng tốt. Ở mỗi đại đội, chính trị viên thường nói với mọi người về mục tiêu hiện cần đạt được đó là: mỗi chiến sỹ phải tiêu diệt được ít nhất một địch quân để kỷ niệm ngày Cách mạng CNXH.



 



Vị chính uỷ tặng tôi một cuốn sổ. Trang đầu, anh đã chính tay viết những dòng trích sau: “ Ngày 6 tháng 11 năm 1942, tại phương diện quân Tây Nam, gần làng Kletskaia, học sinh sỹ quan Lê Nin, trường bộ binh Tashkent, Mansur G. Abdulin, là người đầu tiên ở trung đoàn 1034 gây tổn hại cho địch quân, giết một tên Hít le để vinh quanh kỷ niệm ngày thứ 25 Cách mạng tháng 10 vĩ đại. Chính uỷ tiểu đoàn  Đại uý Chetkasov”. Chính uỷ chúng tôi là một người tốt. Tôi nhớ anh ta như trong hình ảnh một bài hát, “ Mọi người biết chính uỷ, anh không trẻ không già…”.



Và nhanh sau đó tôi gia nhập Đảng Cộng Sản và được bầu làm partorg (tức bí thư chi bộ - ND) đại đội. Tôi viết cả những điều đó vào lá thư thứ hai gửi cho cha tôi, một người Bolshevik già. Ông hẳng sẽ tự hào về con trai mình! Tôi đã viết rằng tôi đã giết một tên Nazi và vì vậy “ Con sẽ không thấy hối tiếc cho dù điều gì sẽ xảy ra…” và thêm vào “Đây là một nơi kinh khủng …”

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #5 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:11:40 AM »



Chương 2: Trận đánh đầu tiên



 



            Ở về phía thượng nguồn, phía sau chúng tôi, là vùng Kulikovo, nơi mà 6 thế kỷ trước, quân Nga đã đánh bại quân bộ lạc Mông Cổ Mamai. Còn ở trước chúng tôi, cách một khu phân tuyến rộng 300m, là bọn rợ Hitle mà chúng tôi phải tiêu diệt.



 



            Ngày 14 tháng 11 năm 1942, trung đoàn chúng tôi được lệnh đột phá và chiếm tuyến phòng ngự của quân Đức. Về cơ bản thì đây là một trận trinh sát chiến đấu: dù vào lúc đó, những người lính không được cho biết về chiến thuật của chỉ huy, chúng tôi không có nhận thức được về sự thật này. Không có pháo binh yểm trợ, chúng tôi ào lên vị trí địch, trong khi đó bọn Fritz – để chống lại bước tiến của trung đoàn chúng tôi- buộc phải bắn bằng tất cả các loại hoả lực, và như vậy làm lộ vị trí của chúng. Đó là yếu tố cần thiết để các chỉ huy xác định chính xác vị trí các mục tiêu cho cuộc phản công sắp tới. Và dĩ nhiên, chúng tôi thất bại trong việc xuyên thủng tuyến quân Đức nhưng đã thành công trong việc xác định hoả lực quân địch. Chúng tôi mất nhiều người trong trận đánh, khi kết thúc, ở tuyến trận địa của chúng tôi chỉ còn đúng



một tiểu đoàn trấn giữ.



 



Bức tranh tổng thể của trận đánh đầu tiên trở nên rõ ràng hơn trong đêm đó, khi trận đánh kết thúc, tôi với những người sống sót đứng nhìn gần khu phân tuyến. Đó là một đêm mưa phùn. Trời trở rét. Trong bóng tối, chúng tôi có thể nghe tiếng đá vỡ lạo xạo dưới chân. Và khi trăng lên, dưới ánh sáng lạnh lẽo, là một quần thể hàng trăm bức tượng mang dáng vẻ con người - những người lính chết cứng trong đá. Một số thì nằm ngửa một cách thẳng thớm, số khác thì xoắn người, vặn vẹo. Người thì ngồi nhổm với cánh tay giơ cao, như thể giục giã đồng đội tiếp tục tấn công. Những khuôn mặt hoá đá với cặp mắt mở trừng trừng và miệng như đang hét. Nhiều thi thể khác chất chồng trên dây kẽm gai, đè bẹp chúng sát đất với sức nặng của chính họ, làm lộ rõ một lối đi đến chiến hào bọn Quốc Xã. Tâm trí của con người không thể hiểu thấu được cảnh đó, khó chấp nhận cái quần thể đông cứng đó là sự thật cuộc sống. Như thể nếu ai đó đột ngột bật camera lên và những khung hình đông cứng có thể bắt đầu chuyển động.



Tuyết bắt đầu rơi. Trận bão tuyết đã che đi những cảnh tượng kinh khủng của cuộc chiến khỏi mắt chúng tôi. Đến sáng, mặt đất như được phủ lên một tấm chăn trắng khổng lồ. Một tấm vải liệm. Và bấy giờ tất cả những gì có thể thấy chỉ là một thảo nguyên trải dài: không vết gợn, thanh thản. Như thể sự trong sạch nguyên thuỷ trị vì một cách bất diệt ở nơi đây. Và điều đó kéo dài đến tận ngày 19 tháng 11.





Phần lớn số đồng đội học sinh sỹ quan của tôi đã hi sinh trong trận đánh đầu tiên đó, là tiền đề cho cuộc phản công thắng lợi của chúng tôi ở khu vực Stalingrad. Tôi tự hỏi Khismatullin có thể biết được rằng họ muốn làm gì trong cuộc đời không? Anh ấy, cũng đã hi sinh trong trận chiến.



Sáng ngày 19 tháng 11 năm 1942, hàng tảng đất to đột ngột bị bẻ vụn từ những bức tường lạnh lẽo của các chiến hào; mặt đất dưới chân lắc lư như thể là một miếng cao su lớn;và không khí cũng rung lên, kích động bởi những thứ gì đó to lớn, một lực vô hình, như muốn xé màng nhỉ và phổi chúng tôi. Lúc đó, qua vùng-đất-không-người, mặt đất nổ tung, văng lên hàng cột sỏi đất lớn lên không trung và rơi xuống như một chiếc khăn trùm đen nặng nề, tối tăm lên chiến hào quân Đức: tiếng súng quân ta, cô đặc vào một tiếng gầm đầy sát khí đơn độc, những sứ giả của cuộc phản công mong đợi từ lâu ở Stalingrad.



 



Chúng tôi muốn hét lên “Hurrah!” nhưng chỉ phát ra được những âm thanh như “a-a-a…”. Mọi âm thanh rung chuyển! Và thật là lố bịch khi nghe những tiếng be be đó của chính mình và người khác: chúng tôi tốt hơn là nên im lặng khi đại bác lên tiếng! Trong lúc đó, tấm rèm đen từ đất cát vỡ vụng vẫn bao trùng lên chiến tuyến bọn Quốc Xã: “Chưa đủ phải không?” một ý nghĩa chợt đến, “pháo thủ của chúng ta lãng phí quá nhiều đạn, họ phải tiết kiệm một ít!”. Nhưng có lẽ, làm quá một tý so với cái cách quanh đây là tốt hơn.



 



Tiếng gầm của đại bác đột nhiên ngớt đi. Vào phút đó, từ vùng tuyết sau chúng tôi, hàng trăm chiếc tăng xuất hiện và băng về phía trước, vượt qua chiến hào của chúng tôi. Sau khi nằm xuống và chờ chúng vượt qua chiến hào, chúng tôi nhảy lên: Suvorov, chỉ huy pháo đội mang máy ngắm, tôi, nòng, Fuat Khudaibergenov, giá đỡ, số 4, chân đế và số 5, đạn. Chúng tôi chạy thẳng vào bức tường đầy bụi đen đang chậm chạp rơi xuống.



 



Chúng tôi vượt qua tuyến phòng thủ của bọn Nazi, nhưng ở đó không còn gì cả trừ đất đá và khói. Không còn bất kỳ một người sống nào! Tốt, có vẻ như sự hi sinh của những đồng đội chúng tôi năm ngày trước đây không phải là vô giá trị: biết được vị trí của hoả lực địch quân, pháo binh phe ta hôm nay đã quét sạch các mục tiêu, và cuộc phản công thắng lợi. Chúng tôi không thể thấy thi thể của quân địch: chúng đã bị chôn vùi trong trận pháo kích.




Tôi nhớ đám quân Rumani đầu hàng mà không chống cự, hô “Antonescu kaputt! Stalin gut! Rus Kamerad gut!” và tiếp tục chơi bài Katiusha (một bài hát Nga rất phổ biến – NV) bằng đàn organ-hơi. Ngựa của họ cũng rất tuyệt: đẹp và chải chuốt. Những bộ yên cương làm bằng da tốt, không cốt yên hoặc vòng cổ mà chỉ là những tấm đai dày và rộng. Thùng xe (ngựa) thì trang trí theo kiểu người Gypsy. Một số trông rất sang trọng với cửa sổ, rèm và chạy bằng bánh cao su. Sư đoàn bộ binh chúng tôi tức khắc chuyển thành kỵ binh! Mọi người đều có một con ngựa! Nhưng sang ngày hôm sau bọn ngựa phải bị bỏ lại.



Đám pháo thủ chúng tôi quyết định thay lũ ngựa lùn Mông Cổ bằng ngựa kéo xe của Rumani. Nhưng ngay hôm sau đã thay ngược trở lại: họ vui mừng thấy đám ngựa Mông Cổ bị bỏ rơi đó không hề chán nản mà vẫn chạy cùng, như những chú chó trung thành. Lông lá, nhỏ bé, tiều tuỵ và ít chăm sóc, lũ ngựa Mông Cổ rất dai sức và phục vụ chúng tôi đến cuối cuộc chiến. Trong khi bọn ngựa nòi Rumani lần lượt bị bỏ lại. Dù đẹp và đỏm dáng, chúng quá mỏng manh cho chiến tranh.



Bạn đã từng thấy một con ngựa bị thương chưa? Tôi đã thấy. Đó là con ngựa tôi đã cưỡi được vài cây số, cho đến khi một quả đạn nổ cạnh chúng tôi. Tôi rớt xuống sau khi lộn vài vòng trong không trung. Khi đó tôi thấy con vật: chân trước cố chống lên, cử động giật cục như đang nhảy; toàn thân nó đẫm mồ hôi, các cơ rung lên với một cố gắng vô vọng. Con vật tội nghiệp không hiểu rằng nó không thể đứng dậy được nữa. Mũi nó phập phồng, hồng hồng và thấm đẫm máu. Nó rên rĩ như người, và nhìn tôi với cặp mắt mở to, nó khóc. Tôi đứng gần đó nhưng không đủ nghị lực để bắn. Vài người lính già đã dừng lại và chấm dứt sự đau đớn cho con ngựa tội nghiệp. Họ rút khẩu carbine dí vào tai nó và bắn.



Tôi đang khóc khi viết những dòng này. Chú ngựa đã chết đó nghĩ gì khi nó nhìn tôi với cặp mắt mở tròn? Rằng con người là một giống loài bệnh hoạn, một quái trạng của tạo hoá? Không, quan điểm này chỉ được biết bởi chính con người. Ở thời khắc sau cùng, con ngựa đã mong đợi ở tôi – một con người – sự giúp đỡ và bảo vệ




Vùng Kalach bên bờ sông Đông được giải phóng bởi lực lượng tăng. Lũ bộ binh chúng tôi chỉ tiến vào thị trấn đã đựơc tự do đó một ngày sau. Chúng tôi không tham gia vào chiến dịch đó, chúng tôi chỉ đi qua vùng này thôi. Trước khi vào Kalach, khi đơn vị chúng tôi đang hành quân kéo dài trên xa lộ -  vài tay cưỡi ngựa, những người khác thì đi bộ – đột nhiên chúng tôi nghe tiếng hét…



- “Máy bay oanh tạc”



Máy bay nào? Hôm nay trời mù sương! Rồi tôi nghe tíêng động cơ ro ro. Tôi thấy bọn chúng: những chiếc máy bay ném bom bụng phệ của bọn Đức, bay thấp dưới 100m. Chúng ngay trên dòng người của chúng tôi, thảy xuống những món đồ của thần chết.



Bom rơi như mưa trên lộ, nhưng chúng không nổ liền. Trong vài giây, tôi cố chạy lên phía trước, nhảy qua những người nằm chúi xuống đất khi nghe báo động. Tôi chạy tránh hoặc nhảy qua những quả bom vừa rơi xuống, có chừng mười quả trước mặt tôi. Tôi nghe những tiếng nổ phía sau – tiếng ầm vang liền nhau, vụn đất rơi trên đầu.



Đột nhiên, trong đầu tôi loé lên rằng tôi phải chuyển hướng chạy, nên quẹo phải rời khỏi con đường. Và tôi đã làm như vậy. Nhưng ngay lúc đó, trứơc mặt tôi, tôi thấy một vật kim loại bự lăn tròn trong hào. Tôi không có thời gian để đi vòng qua nó. “Nó rơi xuống bao lâu rồi?” tôi tự hỏi “mình có làm được không?”. Tôi cảm thấy bực bội khi  nhảy qua nó bởi vì tôi thấy mình chậm quá, như thể có một khối nam châm lớn đang hút tôi lại. Sau chừng nửa phút, tôi chạm được đến đất. Có thứ gì đó bay qua đầu tôi và rớt xuống phía trước. Tôi nhảy qua. Cái gì vậy? Một cái đầu ngựa cùng với dây cương: tôi nhận ra đó là con ngựa của trung đội trưởng. Tôi nhào xuống và dán người sát đất, tìm một chỗ trú ẩn. Sức nổ xé tan chiếc ba lô sau lưng tôi và ném nó đi. Đờ đẫn, tôi chệch choạng đứng lên, ho và nôn mửa như muốn dốc ruột ra. Đất đen quanh tôi – hoàn toàn không còn tuyết – những mẫu chân tay đẫm máu, mùi cháy khét, tai tôi đau nhứt.



Trong đầu tôi, vẫn lưu một hình ảnh khi đang chạy theo bản năng: một quả bom tròn đáp đúng vào lưng ngựa trung đội trưởng chúng tôi. Anh ấy bị xé vụn, một chân rớt trên đất, chân kia còn trên bàn đạp. Con đường nhầy nhụa máu: những gì còn lại của những người đã nằm xuống khi nghe tiếng báo động.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #6 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:12:26 AM »



Chiếc cầu qua sông Đông, vốn được lính tăng dùng để đột kích vào làng, đã bị không quân Đức phá huỷ: chúng tôi qua sông trên mặt băng trơn nhẵn, hầu như không thể đi. Nặng nề với nòng, với giá đỡ, chân đế của khẩu cối, chúng tôi hoàn toàn có thể làm vỡ băng – đặc biệt nếu ai đó bị trượt ngã – và tất cả sẽ kết thúc trong dòng nước lạnh lẽo. Chúng tôi được lệnh mang đầy đất trong mũ, trong vạt áo khoát và ném chúng ra phía trước, mỗi người đi cách nhau 5m. Bằng cách đó, chúng tôi lần lượt vượt qua lớp băng mỏng manh, lấp lánh.



Mặt băng võng xuống dưới chân chúng tôi, đe doạ sẽ vỡ bất kỳ lúc nào. Chung quanh tôi chỉ nghe những tiếng thở nặng nề và những tiếng càu nhàu khe khẽ. “Yên nào”, “Cậu đi nặng như voi ý!”,”Cẩn thận”. Cây cầu ở gần đấy. Đội công binh sửa trên đó trông như một bầy kiến. Xe hơi, xe ngựa dồn cứng trước cầu và vẫn còn rất nhiều đang đi đến. Pháo cũng phải chờ công binh sửa các nhịp cầu hỏng, vì lớp băng quá mỏng để có thể đi qua được. Nhưng còn chúng tôi, bộ binh thì đã sẵn sàng bên tả ngạn. Thiết giáp của chúng ta ở đâu nhỉ? Trên tất cả các ngả đường từ sông Đôn đến thị trấn – trong chiến hào, trong mương rãnh, dọc đường – chúng tôi thấy nhiều xác quân Nazi và những khí tài hỏng của chúng. Lực lượng tăng-thiết giáp hoạt động rất tuyệt.



Chúng tôi đến Kalach vào lúc rạng đông. Những con phố vắng là chứng nhân cho các phi vụ ác liệt của quân địch. Mọi thứ đồ đạt, của cải, bị bỏ lại – rơi vãi chung quanh. Những cánh cửa sổ mở toang, kính vỡ ở khắp nơi. Dường như bọn Fritz nhảy qua cửa sổ xuống đường. Ở đằng kia, mọi người có thể thấy một xác lính Đức mặc áo dài, tựa vào bậu cửa…




Quân địch ở đâu nhỉ? Cách đó tám kilomét là Illarionovskaia, một ngôi làng lớn. Tiểu đoàn trưởng Dudko và chính uỷ Alexander Chetkasov cho gọi tôi và một anh Mayorov nào đó, một học sinh sỹ quan trường Không ảnh Orsk (Orsk Aerial Photography School). Chúng tôi được lệnh rằng chúng tôi có 4 tiếng đồng hồ để đến đó, tìm hiểu xem bọn Đức có đó không và báo cáo lại. Mayorov lớn hơn tôi chừng 2,3 tuổi, một tay tráng kiện, chắc nịch và tầm thước. Anh ấy được giao chịu trách nhiệm.



Để tiết kiệm thời gian, chúng tôi quyết định là sẽ đi xa chừng nào có thể trên chiếc xe đạp lấy được. Lúc đó là 8h chiều. Chúng tôi đạp tốc lực trên đường mòn vẹt bởi bọn Đức rút lui, vượt qua những chốt tiền tiêu và biến vào bóng tối.



Một lát chúng tôi đến một ngã ba đường. Tôi không biết Mayorov thế nào, còn ở trường bộ binh Tashkent, họ dạy chúng tôi những điều cơ bản về một cuộc trinh sát đêm: vì thế khi anh bạn đồng sự quyết định rằng chúng tôi nên chia ra và mỗi người đi một lối, tôi thuyết phục anh ấy rằng như vậy quá nguy hiểm. Nếu bọn Đức đang chiếm ngôi làng và đội tuần tra của chúng ở đâu đó gần đây thì sao? Tôi cho rằng cả hai con đường đều đến làng Illarionovskia nhưng từ các hướng khác nhau, và sẽ tốt hơn nếu hai người cùng đi trước-sau, như vậy người đi sau có thể yểm hộ cho người đi trước. Nhưng Mayorov không nghe.



“Cậu sợ à?” anh ấy lên giọng hỏi. Bấy giờ, tôi không có cách nào hơn là tuân lệnh, bởi tôi không muốn bị cho là một kẻ non gan, và cũng vì mệnh lệnh không phải là thứ để tranh cãi.



“Chúng ta sẽ gặp lại ở đây!” Mayorov gầm gừ,” nếu thấy xe của tôi còn ở đây thì đợi tôi chừng 15,20 phút, không hơn”. Và sau đó anh ấy chọn đi một lối và tôi lối còn lại…



            Tình hình đột nhiên trở nên vô vọng. Nếu bọn Đức còn trong làng, thì chúng sẽ đặt lính gác: ẩn nấp, nguỵ trang và nằm chờ. Còn tôi thì đi thẳng về bọn chúng, lộ rõ và không có yểm trợ: không phải như một tay trinh sát mà như một người tù chuẩn bị ra thẩm vấn – một con mồi dễ dàng cho quân địch. Trong giây lát chúng có thể xuất hiện ở quanh đây, trói gô tôi mà không có ai phía sau bắn chúng.



Tôi cầm quả lựu đạn chống tăng ở tay trái, để có thể rút chốt an toàn bằng tay phải. Tôi sẽ không để chúng bắt sống tôi. Nhưng tôi thấy bất an với hành động “trinh sát” điên khùng này.



Gợm đã, Mansur!  Ngộ nhỡ trực giác của mi sai, và đúng ra là chỉ có một con đường đến Illarionovskai thì sao? Như vậy rõ ràng là quyết định phân chia ra của Mayarov là đúng. Đầu óc tôi xoay sang những khả năng khác, tất cả đều xì xào “Hãy sẵn sàng hi sinh, nhưng phải giữ tinh thần, và chuẩn bị cho mọi điều”.



 



Tôi nằm xuống đất và cố tính xem tôi có thể thấy bao xa từ đây – có lẽ chừng 200m. Thảo nguyên phía trước tôi phủ đầy tuyết. Tôi không nghe thấy âm thanh gì đáng ngại (Tôi biết đất truyền âm tốt). Và đây là cách tôi đi: cứ mỗi 200m, tôi áp tai vào đất, lắng nghe một chút, rồi nhổm dậy, đi và rồi lại nằm xuống…



Đột nhiên tôi nghe tiếng ngựa ợ hơi. Mi thật may mắn, Mansur ạ! Phát hiện ra kẻ thù trước là cứu được mạng! Tôi trườn về phía trước vài mét như một con rắn, khẩu tiểu liên và lựu đạn sẵn sàng.



 



Tôi thấy hai người đàn ông trên lưng ngựa. Nhưng lũ ngựa không phải loại dành cho kỵ binh mà ngựa kéo xe. Tôi bối rối. Cả hai người đó đều đội ushanki (mũ lông trùm tai truyền thống của người Nga-NV), vậy họ không phải là bọn Nazi. Họ phi rất chậm và nói chuyện khe khẽ. Có thể chúng là bọn Politsai (lực lượng cảnh sát bản địa do Đức dựng nên – NV)? Nhưng tôi không thấy mang vũ khí. Bấy giờ họ đã đến trước mặt tôi.



“Đứng lại, giơ tay lên!” họ dừng lại và giơ tay ngay lập tức. “Các ông là ai? Từ đâu đến và đi đâu?”. Hai tay đó im lặng, nhìn tôi một cách nghi ngại. Tôi tiến gần họ, tay lăm lăm khẩu tiểu liên. Khi nhìn thấy bộ quân phục Hồng quân, họ bắt đầu luyến thoắng: rằng họ từ làng Illarionovskaia và rằng bọn Đức đã thiết lập phòng thủ ở đó. Tôi lục soát và tin rằng họ nói thật, tôi gửi họ về trung đoàn để báo cáo. Còn tôi thì quay trở lại nơi Mayorov và tôi để xe đạp lại. Tôi chờ Mayorov, nhưng anh ấy đã không trở lại dù 20 hay 40 phút ….



 



Khoảng 5 ngày sau, chúng tôi tiến công vào làng Illarionovskaia. Khi bọn Đức đã bị đá ra ngoài, chúng tôi tìm thấy thi thể đầy thương tích của Mayorov gần sở chỉ huy bọn Nazi. Anh nằm úp mặt. Trên đầu còn một lớp lót nhưng không thấy nón. Áo khoát cho thấy dấu vết của thắt lưng (anh ấy có một cái thắt lưng rất rộng theo kiểu Rumani) và chân vẫn còn giày, xà cạp. Những tù nhân của bọn Đức chứng nhận rằng anh đã không hé nửa lời trong các cuộc thẩm vấn và sau đó anh bị bắn chết. Chúng tôi chôn anh trên một quả đồi nhỏ phía bên phải ngoài làng. Anh sinh ra ở vùng Oriol.



 



Tôi biết là tôi không chịu trách nhiệm cho cái chết của Mayorov, nhưng vẫn bị dày vò bởi sự lưỡng lự của tôi. Lẽ ra tôi không nên quá xấu hổ khi bị coi là một kẻ nhát gan? Lẽ ra tôi nên cố thuyết phục anh ấy rằng phương án của tôi là tốt hơn? (quả thật là cả hai con đường đều đến làng Illarionovskaia). Hoặc lẽ ra tôi nên bỏ qua lệnh cuả anh và vẫn đi theo để yểm hộ anh? Đã quá trễ rồi cho việc suy xét các khả năng- nhiều đồng đội của tôi đã ngã xuống trước hoặc sau sự kiện này – nhưng cái chết của Mayorov ám ảnh tôi cho đến tận ngày nay.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #7 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:14:34 AM »



Trong một đêm nào đó sau sự kiện làng Illarinovskaia, một người lính trong đại đội tên là Nikolai bị thương. Có một câu chuyện kỳ lạ trong mối quan hệ của chúng tôi…



 



Sau khi trận bom mà tôi đã kể trước đây, chúng tôi rời tàu, đại đội hành quân từ ga Filonovo về phía sông Đon. Trong suốt cuộc hành quân chúng tôi không nhận được chút bánh mì nào, bởi vì bộ phận hậu cần bị lạc và không tìm được chúng tôi. Anh em rất đói, đến nỗi tôi bắt đầu nghĩ rằng chúng tôi sẽ bị chết đói hơn là bị bắn bởi quân Nazi. Đói lả, mọi người đều nản lòng. Chúng tôi yếu đến mức không còn sức để chửi bộ phận hậu cần. Trước đó, anh em mong sớm qua sông Đon và có mặt ở tiền phương. Nhưng giờ thì đầu óc tôi quay mòng mòng! Giá mà lúc đó là mùa hè, tôi sẽ kiếm vài thứ cỏ và rễ nào đó để ăn. Tôi chắc chắn sẽ tìm được chúng dù đây là thảo nguyên chứ không phải là rừng Siberi..



 



Sau khi chúng tôi đến điểm tập kết, ở sông Đôn, sỹ quan quân nhu, một thượng sỹ (có lẽ bản gốc là starshina-chức chuẩn úy quân nhu. Danngoc), đột nhiên lại xuất hiện. Dù rất mừng đã tìm thấy được chúng tôi, anh ta, tuy thế vẫn rất lo lắng: vì lỗi của mình mà cả một đại đội bị bỏ đói cả tuần. Lúc đầu, tôi tưởng anh ta chả mang theo tý bánh mỳ nào bởi vì trước đây trông anh thường béo tốt hồng hào, còn bây giờ thì hốc hác và tái nhợt, rõ ràng là yếu đi bởi đói, chỉ đủ sức lê bước thôi. Nhưng lũ ngựa của anh thì khoẻ mạnh, béo đến nức vai, kéo theo một toa xe hai bánh lớn, nặng trĩu.



 



Tay thượng sỹ lê vào giữa đám – đang nằm mê mệt trên mặt đất – mời đến nhận bánh mỳ, đường, makhorka. Chúng tôi có thể nghe thấy mùi bánh mỳ đen trong toa xe, và bắt đầu đến. Tuy chả ai còn đủ sức để gắt gỏng, nhưng chúng tôi vẫn quyết định là sẽ ăn trước rồi chửi anh ấy sau!



 



Mỗi người được một ổ bánh. Viên thượng sỹ vội giải thích rằng anh đã phải cho ngựa ăn bánh mỳ. Chúng tôi không trách, bọn ngựa trông béo tốt, và nếu không có bánh mỳ chúng không thể kéo xe. Thực vậy, nếu chúng chết thì toàn bộ bánh mỳ chắc mất, dù gì thì tay thượng sỹ cũng là một người được!



Anh ta cắt một mẩu bánh nhỏ từ ổ bánh và khuyên chúng tôi làm theo anh.  Anh bảo chúng tôi không nên ăn quá 100g cho lần đầu, không thì sẽ bị đau dạ dày. “Này các cậu, đừng ăn tham quá” anh ấy nói “sẽ bị đau đấy! Các cậu chỉ nên mút từng tý, như ăn kẹo ấy, từng mẫu một thôi!”. Pavel Suvorov gật đầu đồng tình: “Thượng sỹ nói đúng, anh ấy biết mình đang nói gì”.



 



Không khí ẩm uớt của đầu tháng 11 loang đầy mùi chua của bánh mỳ đen. Chúng tôi gần như thở ra bánh mỳ. Dạ dày từng người tham gia vào việc hấp thụ nó. Cuộc sống trở lại với chúng tôi, mang lại cảm xúc cho từng người, và nhớ rằng chúng tôi đã gần chết như thế nào. Chúng tôi cười nhạo tay thượng sỹ với vẻ mặt lo sợ khi nhìn thấy chúng tôi nằm thẳng cẳng trên đất. Và cũng cười vì một anh quân nhu béo tốt ngày nào giờ trơ xương như mọi người. “Tôi không đụng tới bánh mỳ”, anh nói, vui vẻ với lương tâm trong sạch “tôi no, nhưng cả đại đội đói!!”. Giờ thì mọi việc ổn cả và chúng tôi có một buổi tiệc thực sự.




Nhưng lại có việc không vui. Tôi muốn ăn thêm một miếng nữa nhưng ổ bánh trong giỏ của tôi biến mất. Tôi không tin vào mắt mình! Mọi người trong đại đội trở nên kích động. Tiếng la lối của anh em tới tai tiểu đoàn trưởng. Lúc đó chỉ huy là đại uý Feodor Gridasov. Anh ấy lùn, tóc cắt ngắn và mặt đỏ như thể anh mới vừa từ bania (tức nhà tắm hơi kiểu Nga – NV) ra. Anh luôn đeo huân chương Cờ đỏ (Order of the Red Banner ??) trên ngực. Gridasov đã bị thương, sau một thời gian trong bệnh viện, anh vừa trở về trung đoàn chúng tôi. Tiểu đoàn trưởng hỏi việc gì đang xảy ra. Bất đắc dĩ, chúng tôi thuật lại. “Tên vô lại đó sẽ bị bắn tại chỗ!”, anh tháo bao súng và lấy khẩu súng ngắn ra.



 



Mọi người trong đại đội vớ lấy ba lô và giốc ngược mọi thứ bên trong ra áo mưa. Chỉ còn một cái còn cài, và chủ nó dường như lo lắng phải mở nó ra. Hiểu rằng số mệnh đã định, anh ta cuối đầu tránh những cái nhìn thấu xương của chúng tôi. Anh bắt đầu (mở) khi nghe viên đại uý lên đạn súng lục. “Soát cái đó!”, tiểu đoàn trưởng trỏ vào cái ba lô. Tôi chen qua Nikolai (nên của người ăn cắp), đẩy hắn sang bên, theo lệnh của tiểu đoàn trưởng, cúi xuống ba lô và ngay tức khắc đưa tay vào trong ba lô. Ở đó, những ngón tay tôi nhận thấy có hai ổ bánh mỳ. Mọi người chờ đợi trong yên lặng. Tôi đứng dậy: lập nghiêm rồi báo cáo: “Không thấy ổ bánh bị mất!”.



 



Trong giây phút, gương mặt đại uý thoáng qua vẻ bối rối, nhưng rồi mất ngay, và trong mắt anh, tôi đọc được “Good man!” (chỗ này em không dịch vì để vậy hay hơn-Tieungoclang). Anh bỏ súng lại vào bao và không một lời, quay bước về lại sở chỉ huy.



 



Anh em trong đại đội nhẹ nhõm thở phào. Không ai nói gì thêm về ổ bánh bị mất, và mỗi người cắt một mẫu bánh của họ, cho vào áo tôi. Còn Nikolai thì lấy tay che mặt, nằm yên cạnh đồ đạt của anh xuống vài tiếng đồng hồ. Một người đã bị kết án với một cái chết thổ thẹn đã được tha thứ….



Hai hay ba tuần sau đó, Nikolai bị thương nặng ở phổi do một mảnh đạn pháo. Chúng tôi có thể nghe tiếng rít không khí khi chúng vào ra ở ngực anh ấy. Chuyện đó xảy vào một một đêm sau sự kiện làng Illarionovskaia. Không có quân y trong tiểu đoàn chúng tôi. Sau trận đánh, chúng tôi tự thu nhặt và mang thương binh đến các bệnh xá, vốn thường nằm gần trung đoàn bộ – hơi xa, theo ý tôi! Bất hạnh thay, lúc ấy đại đội lại bị bỏ đói 24 giờ, và chúng tôi lại sốt ruột nằm chờ cấp dưỡng đến, khi đó tôi lại được lệnh mang thương binh về tuyến sau.




Trời sụp tối rất nhanh, tôi đeo đai của chiếc cáng tải thương tự chế có gắn ván trượt vào người. Tôi lập tức lên đường, chậm chạm kéo theo người bị thương nằm sóng xoài, trong khi đầu óc miên man nghĩ về việc bao giờ thức ăn đến và khi nào tôi trở về. Nikolai vẫn bất tỉnh. Ván trượt dưới cáng tải thương gây ra tiếng động rào rào khi đi qua tuyết, vì vậy tôi chỉ có thể xác định anh ấy còn sống không khi dừng lại. Tôi dừng và lại dừng, cứ mỗi lần lại lắng nghe tiếng rít ở ngực người lính bị thương: anh ấy vẫn chưa chết. Tôi tự ép mình phải đi vòng qua những chiến hào và hố đạn pháo.



 



Đêm xuống, tôi bắt đầu nghĩ rằng tất cả những cố gắng này là vô nghĩa, vì thương binh sẽ chết trước khi tôi kịp đưa anh đến trạm phẫu, khi đó đột nhiên tôi nghe tiếng gọi:



- “Mansur…”.



Tôi dừng lại. Phải chăng tôi tưởng tượng? Không! Nikolai tỉnh lại.



- “Masur….”.



Tôi cố cửi dây đai và đi lại chỗ anh ấy:



- “Masur, bắn tôi đi … hoặc để mặc tôi lại nếu anh không thể… tôi làm anh kiệt sức mất…”



Nhưng lời anh ấy như làm tăng sức mạnh của tôi! Tôi tròng đai vào và tiến lên, không hề dừng lại, như thể tôi trốn chạy khỏi những suy nghĩ tối tăm đáng thổ thẹn: như tôi đã thú nhận, đầu chuyến đi, đâu đó trong óc tôi, có hi vọng rằng Nikolai sẽ chết và tôi có thể thoát khỏi gánh nặng này, rằng tôi có thể quay lại đúng lúc để có được một suất ăn nóng hổi. Tại sao điều xấu và điều tốt lẫn lộn trong tôi?!



 



Tôi trông có vẻ kinh khủng trong đêm tối: răng nhe ra, thở khò khè, mắt như nhảy ra khỏi hốc. Nhưng tôi quyết đưa Nikolai đến trạm phẫu dù còn sống hay chết! Tôi không thể nói rằng tôi đã cứu sống anh ấy lần thứ hai bởi vì một sự ưa thích biệt lệ với anh. Chỉ là tôi cố gắng để có một lương tâm trong sạch, quyết tâm chiến thắng con quỷ tồi tệ – điều mà tôi ghét – đang có trong tôi!



 



Tôi như chìm ngỉm trong khe núi chen đầy những đơn vị thuộc tuyến sau. Mùi thức ăn ngon hoà lẫn với mùi phân ngựa, mùi khí đốt, mùi cỏ khô sộc vào mũi, làm đấu óc tôi choáng váng! Khi đến được khu hầm trú ẩn, tôi thấy được ánh sáng hắt ra từ những ô cửa nhỏ. Tôi thử vào một trong số các hầm, cửa mở ra: tôi hỏi với một giọng khản đặc rằng tôi có thể đưa thương binh vào đây không.



-         “Trung đoàn nào?”. Một tay hộ lý có gương mặt mập bự đứng trước mặt tôi hỏi



-         “1034” Tôi trả lời



-         “Vậy thì anh phải đi tiếp thôi, đây là trung đoàn 1026” và cánh cửa nặng nề đóng sầm lại.



 



Đột nhiên tôi thấy rã rời, không thể kéo Nikolai đi cho dù chỉ một bước. Anh ấy đang rên rỉ và nói cuồng. Tôi tiếp tục đi. Tôi có thể làm gì với tay quan liêu kia? Tôi những muốn nã một phát đạn vào cái trán hẹp của hắn: nhưng khi đó tôi sẽ đối mặt với một phiên toà quân sự và một phát đạn để đổi lại!



Đến một hầm trú ấn khác (những hầm này vốn được bọn Nazi dựng lên, đẹp). Tôi gõ cửa và lại một tay hộ lý khác xuất hiện, một làn hơi đầy mùi vị bao quanh. Tôi hỏi:



-         “ Trạm xá nào đấy”



-         “1036” anh ta trả lời



-         “Chúng ta đúng chỗ rồi” Không chút lưỡng lự, tôi nói dối ngay “ đây là một thương binh nặng!” ---(ghi chú: trung đoàn Mansur thật ra là 1034)



 



Tôi bước sải vào trong hầm, không nhìn lại phía sau, đến đứng cạnh một cái bàn như thể  là chủ chỗ này. Những cô y tá mang Nikolai vào, anh vẫn còn nằm trên cáng.



-         “Cho tôi chút gì để ăn với” tôi nói.



Một đĩa cháo lúa mạch đặc, nóng, thơm ngát đặt ngay trước mặt tôi. Tôi ăn và ngủ gục ngay trên chiếc bàn đó.



Họ đánh thức tôi dậy khi trời vẫn còn tối vì biết rằng tôi phải về lại đại đội trước lúc rạng đông. Tôi đã ăn sạch phần cháo nên họ cho tôi nửa ổ bánh mỳ để đi đường. Tôi nghe tiếng gọi:



-  “Mansur, lại đây…”.



Tôi đến góc xa nhất của căn hầm: Nikolai của tôi vẫn còn sống!



-        “Mansur, khi nào tôi còn sống, tôi sẽ không quên anh…. Chúa sẽ phù hộ anh an toàn trở về …”.



Suốt nửa chặng đường đến trạm xá tôi kéo theo sau một kẻ cướp đã đựơc tôi tha thứ; sau đó, khi anh ấy yêu cầu tôi bắn hoặc bỏ anh ta lại, tôi lại chạy trốn khỏi những ý nghĩ tệ hại của tôi: và bây giờ, tôi nói lời chia tay với một đồng đội, và cầu mong rằng anh ấy sẽ sống và bình phục.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #8 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:16:26 AM »

Còn nói về xe nhà bếp, có một tay anh nuôi tại tiểu đòan bộ binh chúng tôi, một tay chuẩn hạ sĩ (lance coporal – khó dịch quá vì không có trong QĐ VN) có cái họ ngộ ngĩnh: ‘Tsibulia’, trong tiếng Ukraina có nghĩa là ‘củ hành’. Tên của anh ta là Kuzma. Cánh bộ binh chúng tôi, khi nhận phần cháo đặc của mình, thườngcười trêu anh ta, trêu chọc cái họ của anh, cái họ dường như quá hợp với công việc của anh: ‘Kuzma, nói thật cho chúng tớ xem! Cậu tự chế ra cái tên ấy cho mình là có mục đích, để các thủ trưởng sẽ ban cho cậu một vị trí ấm áp, nơi cậu có thể chén thả cửa tùy thích phải không?’ Thành thạo đảo cái muôi cháo, anh ta trả lời, ‘Ô, mấy anh chàng này! Giá như tên của tớ khác đi, tớ hẳn đã không phải hùng hục làm cái công việc như nô lệ này!’


Khi Tsibulia chia cháo cho chúng tôi, anh ta có thể phân biệt chính xác – thậm chí cả trong bóng tối – anh lính có tính cách ra sao đang đứng trước mặt: ‘Tớ có thể nhìn thấu qua cậu, và tớ biết rằng cậu chưa nhận được phần cháo!’ Tay binh nhì xấu hổ và không thốt nổi lời nào. Một tay lính khác đi tới với chiếc cà mèn thiếc: khẩu súng trường lấp lánh, chiếc xẻng của anh ta sắc như lưỡi dao cạo, vì thế có thể sử dụng trong chiến đấu như một thanh kiếm; trong balô anh ta có hai quả lựu đạn chống tăng và đầy một cơ số đạn; anh ta mệt lử và hốc hác, giống như một nông dân quen lao động cực nhọc. Trong trường hợp ấy, Tsibulia khá hào phóng với món cháo và múc cho anh một suất thứ hai. Rồi kế tiếp là một anh chàng ‘bảnh bao’: anh ta khóac một chiếc áo chòang sĩ quan và đeo một chiếc dây lưng sĩ quan còn mới, rộng bản, có lẽ chôm chỉa được ở đâu đó; thắt lưng anh ta đeo một khẩu Parabellum lấy được của bọn Đức; còn trên đầu là chiếc mũ lông Astrakhan. Thay vì một cà men lính theo quy định, chàng ‘bảnh bao’ có một cái hộp kim lọai tháo từ bao đựng mặt nạ phòng độc của Đức, có thể chứa ít nhất bốn suất cháo. Với một thái độ nghiêm nghị anh ta đứng trước mặt anh nuôi với ‘cái xô’ ấy và yêu cầu: ‘Đổ đầy vào!’ Tsibulia không tranh cãi với anh ta, nhưng lặng lẽ đổ vào chỉ một phần cháo, mặt luôn giữ một vẻ lạnh lùng với anh chàng ‘bảnh bao’ kia. Anh kia không nhúc nhích mà khăng khăng: ‘Tại sao, hả đồ chó, mày có cả chảo đầy thế kia mà!’ ‘Ừ, chỗ cháo này chắc chắn còn nhiều hơn cả mớ óc trong đầu của ku em đấy!’ Chúng tôi cười nghiêng ngả, đến nỗi quân Đức nghe thấy thế liền bắn sang mấy lọat đạn. Trên ngực áo khóac của Tsibulia ta có thể thấy một chiếc huy chương. Anh ta có quyền tự hào về nó, anh ta thực sự xứng đáng nhận nó, vì anh ta đã hành động như một anh hùng…




Đó là vào một ngày bộ chỉ huy sư đoàn lệnh cho đại đội chúng tôi tiến công quân địch, để “nắn thẳng” một địa đoạn chiến tuyến. Trong đêm, dưới hoả lực hỗ trợ của pháo binh, chúng tôi bò đến sát chiến hào quân Fritz và ào lên tấn công; đánh cận chiến. Quân ta hi sinh rất nhiều – bởi phe địch đông hơn chừng 3 lần – tôi đã tưởng chừng như cả đại đội sẽ bị xoá sổ, như theo mệnh lệnh số 227 “Không lùi!” của Tổng tư lệnh tối cao (Mệnh lệnh số 227 của Stalin ban hành tương tự như mệnh lệnh “Trụ vững” của Hittler vào mùa đông 1941. Trong đó, mọi binh sỹ tiền tuyến bị cấm rút lui, và được giám sát bởi các đơn vị đặc biệt, vốn có quyền bắn bỏ những ai định làm như vậy – ND).



Vào thời khắc định mệnh đó, một phép màu đã xảy ra. Chúng tôi nghe thấy tiếng tiểu liên ở sau lưng quân địch, và lập tức tất cả bọn Nazi biến mất khỏi chiến hào! Sau đó, chúng tôi rất ngạc nhiên thì nhận ra rằng, chính Tsibulia – tưởng như đang ngủ trong chiếc xe ngựa hậu cần hai bánh của anh ta – đã thâm nhập vào tuyến địch. Thì ra, bọn ngựa bị những phát đạn nổ gần làm hoảng sợ đã phi thẳng về chiến hào kẻ thù, mang theo tay anh nuôi đang ngủ gà gật. Khi Tsibulia tỉnh dậy, nhận ra tình thế, và anh bắn ngay vào quân Fritz, với hi vọng rằng, ít ra, đổi mạng mình với giá đắt nhất: chính hành động anh hùng đó đã mang lại cho Tsibulia huy chương Vì lòng dũng cảm.

Logged

Chết vì ghét người!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #9 vào lúc: 05 Tháng Sáu, 2009, 09:18:09 AM »



Chương 3: Máy khâu giết người



 



Ngày 23 tháng 11 năm 1942, khi các lực lượng của phương diện quân Tây Nam tiến lên phía trước thì nhận được một mệnh lệnh mới: liên lạc với các đơn vị đang hành quân từ phía nam lên để cùng phối hợp. Tôi nhớ cái ngày này với một chuỗi hình ảnh các trận chiến không ngớt.



 



Như thường lệ, nặng trĩu với nòng, giá đỡ, bệ cối, chúng tôi liên tục tiến lên, chiếm lĩnh vị trí, tấn công kẻ địch đang chống cự mãnh liệt. Và tôi lại thấy những lính cối ngã xuống. Trong số đó có một đồng chí tốt và khoẻ mạnh đến từ Bodaibo. Anh là một người Siberia chính gốc, một tay đào vàng, và rất thân thiết với tôi bởi chính tôi cũng lớn lên ở khu mỏ vàng Miasski.



 



Là bí thư chi bộ đại đội, tôi phải làm tròn cái nhiệm vụ không mấy vui vẻ của mình: thu thập thẻ quân nhân từ các tử sỹ. Lúc đó, tôi quay lại và nhanh chóng cửi ba lô ra khỏi thi thể anh ta. Nhưng tôi không thể hiểu nổi cái vật nặng gì đã đập vào đầu anh chàng Siberia này, chắc chắn đó không thể là một bộ phận nào đó của khẩu cối. Tôi lật tấm bạt của anh lên và kinh hoàng nhận ra rằng đó là một chiếc máy khâu (máy may) xách tay! Tôi cảm thấy đau khổ. Ôi, nguyên nhân thật sự của cái chết là đây! Tay Siberia này là một chiến binh quả cảm với cái đầu lạnh và mạnh mẽ. Nhưng là một người dân, anh cũng là một người công nhân tốt và là một người đàn ông tử tế với gia đình. Với anh, chiếc máy khâu chính là biểu tượng của sự phồn thịnh. Anh muốn mang nó về sau chiến tranh để tặng cho vợ.



Tôi nhớ lại cuộc sống trước chiến tranh: một chiếc máy hát, hay một chiếc xe đạp là đã đủ hiếm rồi, còn với máy khâu, thì chỉ có hai cái cho toàn bộ dân làng tôi! Và giờ đây, một trong những cái máy khâu đó, thật kỳ lạ, đã giết chết người đàn ông Siberia này: vì tôi không tìm thấy một vết thương nào trên người anh. Chẳng qua là anh bị trượt chân khi đang vận động và ngã xuống. Tôi đã không nói với ai trong đại đội về tai nạn này – vì không muốn người đã khuất bị chì chiết hay bị phán xét một cách khắc nghiệt – nhưng có lẽ tôi đã sai? Bởi lẽ đây có thể là một bài học tốt cho mọi người.





Lữ đoàn tăng số 69 tham gia chiến đấu ở cùng khu vực của sư đoàn bộ binh 293 chúng tôi. Bên lính tăng đã có một khoảng thời gian khó khăn. Quân Đức tăng cường mạnh mẽ cho lực lượng chống tăng đang phòng thủ và những chiếc tăng phe ta phải chịu đựng thêm nhiều quả đạn xuyên giáp. Một trong số chúng bắn trúng chiếc tăng mà đại đội tôi theo tùng thiết. Chiếc xe bùng cháy dữ dội như thể làm bằng gỗ. Một lính tăng nhảy ra, người anh bị bén lửa từ đầu đến chân, hét lên “ Cứu lấy đại tá!”. Anh nhào xuống tuyết và lăn tròn, cố dập tắt lửa trên người. Trong khi vẫn cố hét: “Này anh em, hãy cứu lấy đại tá!”.



 



Mọi người cố chạy vòng chiếc tăng bị cháy. Nó có thể nổ tung trong vòng vài giây. Tôi muốn  thoát ra như mọi người khác. Tôi phải nhanh lên – đây không phải là việc chậm buổi uống trà hay gì khác – mà tôi đang trong một trận chiến. Bộ óc láu cá của tôi nghĩ đến một lý lẽ bào chữa: những người chạy trước tôi có nhiều thời gian để cứu người bị mắc kẹt hơn, bởi một chiếc tăng thường sẽ nổ tung chỉ sau hai hoặc ba phút bắt lửa. Nhưng lương tâm tôi lại ở phía khác, nó bảo rằng: “Đừng để mất giây nào cả, hãy leo lên chiếc tăng!”. Trí óc tôi thì bác lại: “Không thể! Không thể kịp”. Nhưng lương tâm đã chiến thắng, và tôi đã cảm thấy sức nóng cùng tiếng rít sèo sèo của vỏ sắt chiếc xe dưới đôi găng ẩm ướt. Thật nan giải. Tôi không thể trèo lên và thấy không có thanh kẹp hay một mấu lồi nào để bám. Nhưng đã quá trể để dừng lại, tôi nhảy lên cho đến khi thấy có thể xoay sở được chỗ trèo.



Từ cửa sập trên đỉnh, một màn khói nóng, cay xè sộc vào mặt tôi. Lúc đó, đôi bàn tay của người lính tăng bị kẹt túm chặt lấy áo khoát của tôi. Tôi cúi xuống, đưa tay vào sâu hơn – như vậy dễ lôi ông ấy ra khỏi cái cửa hẹp hơn – nhắm chặt mắt và quay mặt sang nơi khác: dù sao cũng không thể nhìn thấy gì qua làng khói dày đặc. Cuối cùng (chưa bao giờ có một thân người nào cho tôi cảm giác nặng như vậy), tôi lôi được ông ra và chúng tôi nhào xuống lớp tuyết êm ái. Vâng, rất êm ái, nhưng chúng tôi không thể ở đấy! Viên đại tá bị gãy cả hai chân. Tôi lôi ông xa chiếc tăng chừng nào có thể được, chừng 20, 30 mét. Vụ nổ thật dữ dội. Tháp pháo bị bắn tung lên chừng 5 thước trong không trung, lộn vòng và đâm sầm xuống đất. Những mảnh kim loại tung toé lên trời. Vị đại tá ôm lấy tôi: “Ôi con trai ta! Ta sẽ không quên đâu! Tên con là gì? Abdulin? Ta sẽ không quên! Mà này, hãy giữ khẩu súng ngắn này…”. Vài tay lính tải thương chạy đến, đưa ông lên cáng trượt và kéo ông về phía sau ….




Ba mươi năm sau, nguyên soái Oleg Losik, người trong những ngày đó chiến đấu trong thành phần của quân đoàn cơ giới 4 bên cạnh sư bộ binh 293, đã giúp tôi xác định danh tánh viên đại tá: Chính uỷ tiểu đoàn G.V. Provanov của Lữ tăng số 69.



 



Chắc chắn rằng chúng tôi đã không chiến đấu vì những tấm huy chương. Khi tôi trèo lên chiếc tăng đang cháy, tôi không nghỉ gì về việc thưởng công. Tôi chỉ nghĩ rằng “ Ta sẽ phải làm được trước khi nó nổ!”. Tuy nhiên, đồng đội tôi (một trong số họ, Ivan Yevstigneyev, vẫn sống ở một làng thuộc quận Sterlitamak của Bashkiria, anh ấy phục vụ trong cùng một trung đoàn và vẫn nhớ sự kiện đó) chúc mừng tôi, mong chờ tôi được nhận một tấm huy chương  (có luật tặng thưởng cho người đã cứu chỉ huy khỏi tình trạng nguy hiểm tính mạng – ND). Sau chiến tranh, tôi mang hi vọng sẽ tìm thấy lại được vị đại tá đó, hay ít ra, biết được ông đã như thế nào. Cho đến năm 1975, tôi nghe rằng người của lữ tăng 69 tin là Provanov chết trong chiếc xe cháy và khẳng định không tìm thấy thi thể ông. Lúc đó, vị đại tá bị mất tích được truy tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Tôi đồ chừng rằng người của quân chủng, sau trận chiến, đến khám xét qua loa những gì còn lại của chiếc tăng, đưa ra kết luận rằng vị chính uỷ tiểu đoàn đã bị thiêu cháy bên trong. Nhưng thật sự việc gì xảy ra với ông sau khi chúng tôi tách ra, khi những người lính cứu thương đưa ông lên cáng thương và đi về phía trạm xá? Phải chăng ông bị pháo bắn trúng? Ông bị tan xác sau khi thoát khỏi một cái chết trong chiếc tăng cháy? Hoặc ông chết do mất nhiều máu? Và trong trường hợp sau, ít ra họ cùng tìm thấy những giấy tờ chứng thư của ông chứ?



 



Mọi người bảo rằng tôi không gặp may. Tại sao? Vì tôi không nhận được huy chương. Nhưng vị đại tá – nếu ông thực sự chết sau khi được cứu sống một cách phi thường – mới thật sự bất hạnh hơn!



Sau khi chia tay vị đại tá, tôi chạy theo đồng đội của mình ….
Logged

Chết vì ghét người!
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM