Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 01 Tháng Tư, 2020, 01:23:12 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung  (Đọc 97384 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #90 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:43:07 PM »

Đứng trước tình hình chính trị khủng hoảng, xã hội phân hoá, rã rời, lòng dân ly tán, kinh tế sau nhiều năm chiến tranh bị suy sụp nghiêm trọng, tài chính khô kiệt, văn hoá, tư tưởng đã xuất hiện nhiều thiên hướng cản trì và hủ lậu. Thù trong giặc ngoài vẫn còn đe doạ từ nhiều phía.  Trước thực tế đau lòng đó của đất nước, đòi hỏi Quang Trung phải có những chính sách cải cách, đổi mới, kiên quyết và mạnh mẽ mới hòng cứu vãn tình thế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, bế tắc đã dồn ứ cả trăm năm về trước.

Trong bài Chiếu lên ngôi đọc tại Phú Xuân ngày 22 tháng 12 năm 1788, vua Quang Trung đã nhấn mạnh “nhân nghĩa, trung chính là đạo lớn của con người. Trẫm nay cùng dân đổi mới”.  Muốn đổi mới, cải cách đất nước, phải có chính sách mới, chính sách từ thực tế của xã hội được các trí thức tâm huyết soạn ra.

Nhìn nhận đúng khả năng to lớn của trí thức trong công cuộc xây dựng đất nước, dù trí thức đó là sản phẩm của chế độ cũ thời Lê - Trịnh tạo ra.  Xuất thân không là trí thức, nhưng vì yêu cầu dựng nước, nên Nguyễn Huệ không những không thành kiến với trí thức mà còn hết sức trân trọng và thuỷ chung nên ông đã tập hợp được nhiều trí thức tâm huyết, tận tuỵ với nước, với vua như Trần Văn Kỷ, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thiếp.

Nguyễn Huệ đã mạnh dạn phong tước hầu với chức Trung thư lệnh cho Trần Văn Kỷ ngay từ buổi đầu sơ ngộ ở Phú Xuân, cũng như lần đầu gặp Ngô Thì Nhậm ở Thăng Long, Nguyễn Huệ cũng phong tước hầu với chức Tả thị lang Bộ Lại, là bộ quan trọng nhất dưới thời phong kiến, trực tiếp trông coi việc nội chính Bắc Hà. Trước Nguyễn Huệ và sau Nguyễn Huệ, hiếm có ai nhìn nhận đúng đắn về vai trò của trí thức và mạnh dạn sử dụng tài năng của trí thức vào việc dựng nước như ông. Mặc dù, Nguyễn Huệ là người ít học, xuất thân từ một gia đình nông dân ở một vùng ngoại biên của văn hoá kinh kỳ.

Quan điểm sử dụng trí thức của Quang Trung được thể hiện rõ ràng trong bài Chiếu lập học.  “Dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước chọn nhân tài làm gốc. . . Trẫm buổi đầu dựng nghiệp, tôn trọng việc học, lưu tâm yêu mến kẻ sĩ, muốn có người thực tài ra giúp đất nước”.

Và chúng ta thấy con người Quang Trung lồng lộng bao dung trong bài Chiếu cầu hiền, có đoạn cuối như sau: “Vậy ban chiều xuống, quan liêu lớn nhỏ và dân chúng trăm họ, ai có tài năng học thuật, mưu hay giúp ích cho đời đều được phép dâng thư tỏ bày công việc, lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để đấy, chớ không ai bắt tội vu khoát, những người có tài nghệ gì có thể dùng được cho đời, thì cho các quan văn võ tiến cử, lại cho dẫn đến yết hiên, tuỳ tài mà bổ dụng. 

Hoặc có người từ trước đền nay giấu tài ẩn tiếng, không ai biệt đều cũng cho phép dâng thư tự cử chớ ngại cho thế là “đem ngọc bán rao”. 

Ôi! Trời đất bế tắc thì hiền tài ẩn náu. Xưa thì đúng vậy, còn nay trời đất thanh bình, chính lúc người hiền gặp gỡ gió mây. Những ai tài đức, đều nên gắng lên được rạng rỡ chôn vương đình, một lòng cung kính đểcùng hưởng phúc tôn vinh.  Bô’cáo gần xa đểcùng nghe biết” .

Chỉ có nhân tài kiệt xuất mới dám sử dụng những tài năng lớn trong thiên hạ và các tài năng trong thiên hạ sẽ phát huy hết khả năng của mình khi đất nước xuất hiện minh chúa.

Nguyễn Huệ đã đưa tài năng của thế kỷ XVIII lên một tầm cao, làm đất nước ta nhanh chóng chuyển biến và phát triển mạnh mẽ. Đất nước thịnh cường là nhờ có Nguyễn Huệ và những nhân tài giúp rập bên ông. 

Khác với đội quân thời Trung cổ chuyên đi cướp bóc của cải và nô lệ, năm 1786 Nguyễn Huệ ra Thăng Long đã tìm ngay các tiến sĩ, quan lại của Lê - Trịnh, chọn trong họ những người có tài để đưa về Phú Xuân nhằm thực hiện một nền văn trị lâu dài.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #91 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:43:45 PM »

Ông tìm các thợ rèn giỏi đưa về Phú Xuân để phát triển kỹ thuật của một kinh đô và một nền quân chính cần được đẩy mạnh kiến thiết và được xây dựng ở một tầm mới của thời đạt. Việc cầu hôn với công chúa Ngọc Hân của nhà Lê là một chiến lược thu dụng nhân tài Bắc Hà về với Phú Xuân. 

Nhịp sống mới của thời đại Quang Trung xuất phát từ hai nguồn, đó là một nền thương võ dân giã của Đàng Trong và một nền văn hiến uyên thâm của Đàng Ngoài, hội nhập và cuồn cuộn sinh lực tạo cho Phú Xuân một sức sống kỳ diệu mà lịch sử dân tộc lần đầu tiên bắt gặp, tạo nên một phong cách riêng của Tây Sơn.

Phong cách đó vốn được ẩn chứa từ lâu đời và bàng bạc khắp mọi nơi, để cuối cùng kết tụ thành tinh hoa mà chúng ta có thể nhận ra từ con người Nguyễn Huệ chứ không nhầm lẫn được với một thời đại nào khác ngoài Nguyễn Huệ - Thế kỷ XVIII - Việt Nam.

Chính đặc điểm này đã làm Nguyễn Huệ vượt hẳn lên Nguyễn Lữ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Ánh, lên trên Lê Chiêu Thống và đám di thần Trịnh - Lê cùng thời với ông.

Tính cách đó chúng ta có thể cảm khoái khi nghe Nguyễn Huệ nói với Ngô Thì Nhậm trong những ngày binh lửa ở chiến trường chống Thanh tại Thăng Long: “Phải phiền ông làm một bài thơ đế đuổi giặc. Nếu không được thì túi dao, bao kiếm là phận sự của kẻ võ thần”.

Thế mới thấy cái tinh anh của Nguyễn Huệ, khi chính ông, một danh tướng mà đã khám phá ra tính diệu kỳ của cây bút, của thơ văn trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước.

Và Ngô Thì Nhậm đã thành công, những bản văn ngoại giao do ông soạn ra làm nhà Thanh phải kiêng nể và khiếp sợ, không dám động đến dân tộc ta mặc dù khí thế phục thù sau bại trận Đống Đa vẫn còn hừng hực trong lòng Càn Long và bọn quan tướng nhà Thanh tự cao, tự đắc.

Trong muôn vàn nho sĩ, quan lại được các chế độ Trịnh - Nguyễn đào tạo mà Nguyễn Huệ đã tiếp xúc Nguyễn Huệ vẫn mến phục những người có tài năng thực sự, có tâm huyết thực sự với nước với dân, những người có bản lĩnh, có tính khí khẳng khái cho dù trong quan điểm chính trị có khác ông.  Nhưng vì hiểu họ là sản phẩm của một xã hội khổ đau và đầy biến động nên Nguyễn Huệ kiên trì thuyết phục, chăm lo để có những thực tài ra cùng ông giúp nước. Như trường hợp Nguyễn Đăng Trường, Trần Công Xán, Nguyễn Thiếp. . . 

Có những người Nguyễn Huệ tin ngay, giao giữ những trọng trách của đất nước như Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Phan Huy Ích. . . Có những người dùng mà không tin nhưng cần thiết phải sử dụng cho một giai đoạn trước mắt như Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm . . .

Cái ưu việt của Nguyễn Huệ là nhãn quan nhận biết bản chất và lòng trung thành của con người ngay từ lúc sơ ngộ. Không một mưu đồ hắc ám, xấu xa nào có thể che mắt được Nguyễn Huệ.  Đặc điểm đó làm cho Nguyễn Huệ mạnh dạn tin và dùng các trí thức cũ ở ruột xã hội đầy rẫy những biến động như thế kỷ XVIIT.

Năng lực dùng người của Nguyễn Huệ là một thành công lớn cho sự nghiệp Tây Sơn. Tính rộng lượng, bao dung và thuỷ chung đối với trí thức là một đặc điểm để ông thu phục nhân tài trong thiên hạ, kể cả những người theo Tây Sơn ngay từ đầu dưới cờ của Nguyễn Nhạc như Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở, Nguyễn Văn Tuyết. . . Nhưng họ không theo Nguyễn Nhạc để về lại Quy Nhơn và là quê hương của họ ngay sau thời điểm đoạn giao giữa hai anh em Tây Sơn tại Phú Xuân vào năm 1786.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #92 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:46:02 PM »

Trí thức đến vời Nguyễn Huệ vì họ thấy mục tiêu đấu tranh của Nguyễn Huệ phù hợp với nguyện vọng chân chính của trí thức nên họ đã nhiệt thành phục vụ, muốn sự nghiệp của họ góp nên sự nghiệp của Nguyễn Huệ và đó chính là sự nghiệp của Tây Sơn, của dân tộc.

Nguyễn Huệ là một tài năng hiếm có của đất nước, nhưng quan trọng hơn, ông đã biết sử dụng trí tuệ của nhiều tài năng khác ở khả năng cao nhất trong nhiều hoàn cảnh khác nhau để phục vụ cho đất nước, cho sự nghiệp Tây Sơn.

Những nho sĩ thời Lê - Trịnh, sau khi xoá bỏ cái u tịch, trì trệ lâu đời ở Thăng Long, tự cải tạo mình và vươn theo yêu cầu mới đến Phú Xuân. Nguyễn Huệ đã chắp cánh cho họ, đưa họ ra khỏi cảnh cá chậu chim lồng để tung bay trong bão táp của cuộc đấu tranh xã hội, để cùng ông gánh vác những trách nhiệm lớn lao của đất nước, của dân tộc. 

Buổi đầu, các chức vụ quan trọng ở trong triều và trấn nhậm các địa phương, Nguyễn Huệ thường giao cho các võ tướng cao cấp đã từng theo ông chiến đấu bấy lâu. Nhưng dần dần các văn thần thay các chức vụ chủ chốt trong công cuộc trị nước, kể cả chức Thượng thư bộ Binh.

Để bổ sung cho đội ngũ quan lại có đủ năng lực thực hiện chính sách “văn trị” là việc cấp thiết, nên sau khi đánh tan quân Thanh (1789), Quang Trung đã tổ chức kỳ thi Hương đầu tiên ở Nghệ An, để tuyển chọn nhân tài do Nguyễn Thiếp làm chánh chủ khảo.

Quang Trung ước mong có một nhà nước vững mạnh và có hiệu lực nên rất chú trọng đến chất lượng của công việc đào tạo. Trong Chiếu lập học, Quang Trung đã chỉ rõ : “Nho sinh và sinh đồ cử đợi đến kỳ thi vào thi hạng ưu thì được tuyển vào, hạng kém thì bãi học ở trường xã còn như sinh đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch” . 

Thế mới biết tính kiên quyết của Quang Trung, muốn cải tổ hệ thống quan lại các cấp cho phù hợp với yêu cầu mới của đất nước, Quang Trung cũng là vị nguyên thủ đất nước đầu tiên thông cảm với sự lạc hậu, mù chữ của quần chúng lao động nên đã tổ chức cho các địa phương “chọn nho sĩ trong xã có học thức, hạnh kiểm đặt làm thầy dạy, giảng tập cho học trò của mình”.

Như vậy ngay cả giáo viên trường làng, Quang Trung cũng không coi nhẹ hai tiêu chuẩn vừa tài, vừa đức và được dân làng tín nhiệm.

Bản thân Quang Trung cũng phải học văn hoá và lịch sử Việt Nam do một quan bí thư riêng “mỗi tháng 6 lần chầu để giảng giải kinh sách” (1) nên ông khá am tường về lịch sử và văn hóa dân tộc. 
 
Trống đồng được phát hiện với ý nghĩa giá trị đích thực của nó là thời Tây Sơn. Lần đầu tiên trống đồng thời Hùng Vương được phát hiện ở Thanh Hoá và đưa về Phú Xuân trưng bày như một di sản của văn hoá dân tộc (2). 

Về luật pháp, buổi đầu Quang Trung cho áp dụng chế độ quân chính, sự “nghiêm khắc” đó, tất nhiên sẽ đưa lại hiệu quả nhất định trong xã hội biến động, phức tạp, tình hình an ninh chính trị bất ổn liên tục xảy ra.

Ngay cả những người thiếu thiện cảm với Tây Sơn cũng thừa nhận sự hiệu lực nhất định của biện pháp cai trị đó. Sách Tây Sơn thuật Được có nhận xét, vua Quang Trung không lập pháp lệnh, điều ước việc thưa kiện đều do miệng ngài phân xử, có tội thì phần nhiều dùng đòn mà đánh để trừng trị. Bầy tôi ở trong hay ngoài đều sợ oai của ngài, không dám can tội hối lộ”.

_______________________
(1) Tây Sơn thuật lược, bản dịch của Tạ Quang Phát.
(2) Theo Minh Đô sử, Q. 40, chiếc trống đồng này do binh sĩ Tây Sơn phát hiện được ở xã Đan Nê, phủ An Định vào tháng 7 năm 1788. 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #93 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:49:37 PM »

Dù thế, Quang Trung rất công bằng với mọi người kể cả bà Ngọc Hân, Bắc cung Hoàng hậu cưng chiều của quốc vương, có lần cũng bị Quang Trung ra lệnh đánh 20 dùi về tội bao che cho việc bà mẹ (thân mẫu - vợ vua Hiển Tông), vì thân mẫu của Ngọc Hân đã xin tha cho các quan lại nhà Lê bất phục Tây Sơn, trong đó có viên quan Đốc Chiên đã dùng 100 thoi vàng mua chuộc, hối lộ cho quan Tây Sơn vào năm 1788” (1).

Chứng kiến trong những ngày đầu Nguyễn Huệ đưa quân Tây Sơn ra Đàng Ngoài, giáo sĩ Le Roy ở Nam Định có viết như sau: “Những người Nam Hà ấy (quân Tây Sơn) đã áp dụng sự xử án khắc nghiệt. Mới thấy tố cáo, chẳng cần đợi xét xử lôi thôi họ đã chém đầu bọn trộm cướp, dân chúng thích sự xử phạt n] vậy và sự liêm khiết của quân Tây Sơn. Vì họ không cướp bóc ai, họ chỉ biết chặt đầu mà thôt. Điều đó đã khiến cho yên bình một vài nơi trong một thời gian” (2).

Năm 1787, giáo sĩ Thiebaud cũng xác nhận điều đó “quân trộm cướp không dám hành nghề”. Năm 1790, giáo sĩ La Mo the cũng viết: “Phải nói trắng ra rằng, tình cảnh không đến nỗi tệ. Dưới triều đại này chúng tôi được che chở khỏi bị lũ cướp phá phách, và về phần đạo giáo thì chúng tôi được hưởng tự do và an ninh hơn các triều đại trước” (3).
 
Nhưng luật pháp nhà nước không thể kéo dài sự tuỳ tiện và khắc nghiệt như thế được. Nguyễn Thiếp đã có lần thấy sự sai trái đó và đề nghị với vua Quang Trung “Nhà nước thì uy võ có thừa mà ân trạch chưa ban (1791).

Thật ra, vào cuối năm 1788, vua Quang Trung đã thấy sự phi lý đó và đã tìm cách sửa sai, trong Nhật ký của Giáo hội Bắc kỳ năm 1788 có ghi lại nội dung một sắc lệnh của Quang Trung... “từ trước đến nay, các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hoà bình nên ta cũng noi gương các vị tiền bối mà đánh dấu ngày khởi đầu triều đại ta bằng cách soạn ra bộ Luật để dân chúng sống trên đất ta nghiêm ngặt tuân theo”.

Lệnh của vua Quang Trung là trong thời gian từ một đến hai tháng phải soạn xong bộ luật nói trên, nhằm tạo dựng một thể chế nhà nước - pháp quyền hoàn chỉnh sau ngày mới lên ngôi ở Phú Xuân (1788) nên có lẽ tác dụng của bộ luật đó còn nhiều hạn chế, nhưng chắc chắn đã được bổ sung và hoàn chỉnh dần trong những năm sau.

Có một bộ luật được soạn thảo một cách hoàn chỉnh dưới thời vua Quang Trung đã được dịch ra tiếng Pháp, do một linh mục người Việt thực hiện vào năm 1793. Trong một bức thơ của giáo sĩ Sérard ở Bố Chánh, Quảng Bình viết ngày 5 tháng 6 năm 1793 đã tiết lộ điều đó, bức thư có đoạn viết: “Về việc dịch luật Bắc Hà, thì linh mục Văn đã dịch cả tập hay một phần, tôi đã có đọc được qua quyển sách đó” (4)

Năm 1822, một người Anh là Crawfurd đến Việt Nam, có thuật lại rằng. “Tôi đã gặp những thương nhân Hoa kiều ở Huế, đã nói chuyện với họ.  Họ đã sống dưới chế độ Tây Sơn và chế độ nhà Nguyễn, họ nói chắc chắn rằng, triều đại Tây Sơn cai trị công bằng và ôn hoà hơn nhà nước hiện tại (tức Minh Mạng) hay cha nhà vua ấy (Gia Long) (5). 

________________________
(1) Nhật ký Giáo hội Bắc Kỳ năm 1788, tài liệu của Nha Văn khố quốc gia Paris (Pháp), tr. 220.
(2) Thư viết ngày 11 tháng 7 năm 1788 gửi cho ông Blandin ở Paris, tài liệu công bố ở B.E.F.E.O, 1913, T. XII, số 7, tr.8. 
(3) Thư gửi ông Letondal, tập Tonkin 700, tài liệu AMEP, tr. 1399.
(4) Thư gửi ông Blandin, tập Tonkin 962, tài liệu AEP, tr. 521. 
(5) Jean Chesneaux, dẫn trong Contribution à L’histoire de la Nation Vietnamienne, tr. 62.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 09:52:39 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #94 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:52:15 PM »

Muốn nước giàu dân mạnh phải lo phục hồi và phát triển kinh tế, vua Quang Trung đã có chủ trương đúng đắn đối với ngành sản xuất nông nghiệp, cho đó là nghề gốc của dân, là nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước phong kiến tiến bộ. Có phục hồi nông nghiệp mới ổn định được trật tự xã hội, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác, nhất là kinh tế hàng hoá đã tiêu điều sau chặng đường dài bị tàn phá bởi chiến tranh và những biến động của đất nước. 

Ước mong của vua Quang Trung có một nền nông nghiệp thịnh vượng được chứa đựng trong bài Chiếu khuyên nông, bài chiếu có đoạn viết: “Chính sự đạo vương cốt để vun gốc vén ngọn, làm cho dân yên ổn cấy cày, nhờ đó trong nước không có người lười biếng, ngoài đồng không có đất bỏ hoang. Trải qua buổi loạn ly binh lửa liên miên, lại thêm nạn đói kém, nhân dân lưu tán, ruộng còn được bốn, năm phần mười so với trước.

Trẫm chịu mệnh trời, giữ nghiệp lớn, bôn bề trong lặng. Nay buổi đầu đại định, chính sách khuyên khích sản xuất làm cho dân giàu phải được tiến hành lần lượt.

Xét ra trốn tránh công việc, giấu giếm của cải là thói thường ở đời, cho nên phương pháp đề phòng không gì tốt hơn là phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn đất hoang, phàm dân du thủ du thực về làng chăm lo đồng áng . . .”

Vua Quang Trung cũng có một hoài bão xây dựng nền kinh tế công thương nghiệp phát triển trên tinh thần tự cường mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều hàng hoá nhằm không ngừng thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân dân.

Một cuộc đối thoai giữa vua Quang Trung và Nguyễn Thiếp tại Nghệ An trên đường ra Bắc đánh giặc Thanh đã cho chúng ta biết quan điểm của Quang Trung. Quang Trung hỏi:

- Nghe thầy học tinh lý số, lại có tài mưu lược, nay Tôn Sĩ Nghị sang, thầy đã có cách nào chưa?

Nguyễn Thiếp thưa rằng:

- Thần tốc?

Quang Trung nói:

- Phải, phải. Tôi nay ra đánh cho nó chết. Tôi mà dẹp yên được giặc Tàu, xin rước thầy về dạy học. Tôi muốn khí dụng gì cũng chẳng phải mua của nước Tàu.

Nguyễn Thiếp thưa lại rằng: Chỉ có thuốc bắc là phải dùng của Tàu mà thôi (1)

Câu nói đó của Quang Trung, bao hàm một tinh thần độc lập cao, không để cho nền kinh tế bị lệ thuộc nước ngoài và ngoại bang chi phối, chứ không có nghĩa là cắt đứt quan hệ ngoại thương với Trung Quốc và các nước khác.

Sau chiến thắng giặc Thanh (l789), vua Quang Trung đã chủ động viết thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An, đề nghị “mở cửa ải thông chợ búa, khiến cho hàng hoá không ngơng đọng để làm lợi cho dân” (2). 

Chấp nhận yêu cầu đó, nhà Thanh mở cửa ải Bình Nhi, Thuỷ Khẩu, Du Thôn cho thương nhân người Hoa sang buôn bán, họ lập các phố Kỳ Lừa, Mục Mã, Hoa Sơn. Các phố này nằm trên lãnh thổ của ta, gần biên giới Trung Quốc. Thương nhân người Hoa đã lập hai cửa hiệu Thái Hoà và Phong Thịnh ở các phố trên để buôn bán. Thương nhân qua lại buôn bán đều miễn thuế.

____________________
(1) Dẫn lại Lê Thúc Thông, trong Tạp chí Nam Phong số 102.s
(2) Bang giao lục trong Ngô gia văn phái.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:26:45 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #95 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 09:57:35 PM »

Năm 1790, vua Quang Trung lại đề nghị lập nhà hàng ở phủ Nam Ninh, thuộc tỉnh Quảng Tây để thương nhân người Việt sang buôn bán” (1)

Chính sách ngoại thương rộng rãi đó làm nhiều thuyền buôn Trung Quốc đến buôn bán trực tiếp với Phú Xuân, Quang Trung đã mời gọi các thuyền buôn Tây đến đầu tơ buôn bán.

Ngày 1 tháng 5 năm 1792, trong một bức thư viết từ Bố Chánh, ông Sérard đã có ghi lại: “ông Girard được cử làm thầy thuốc cho Tiếm vương (Quang Trung) ở Phú Xuân. Có lẽ tôi phải kêu gọi đến ông Girard ở Phú Xuân để nhờ ông ấy giao thư cho thuyền buôn Trung Hoa cập bến tại đó, hay yêu cầu ông ấy đích thân mạng theo nếu Tiếm vương bắt ông ấy đi Quảng Châu mời người Âu Châu đến kinh đô buôn bán như ông đã dự định năm ngoái “ (2)

Với tư cách là người trong cuộc, ông Girard viết: ‘Ngày 17 tháng 3 năm 1791, tôi được giới thiệu đế n gặp Tiếm vương (Quang Trung), các quan đã khuyên Tiếm vương nên mời người Âu châu vào cung, không chỉ dành cho thầy thuốc mà thôi...  Năm ngoái ông ta (Quang Trung) muốn gửi tôi đi Ma Cao kêu gọi người Âu châu đền buôn bán tại vương quốc ông. . .

Năm nay có cơ hội, một chiếc tàu từ Áo Môn tới và một chiếc tàu khác từ Mani qua, vì bất bình với việc làm ăn ở Đồng Nai, nên đến đất Tiếm vương nơi tôi ở và bán cho ông ta 100.000 cân lưu huỳnh, tôi bắt buộc du hành Ma Cao. Tôi đã tới hôm 3 tháng 7”. (3)
 
Ở cạnh kinh đô, giáo sĩ Sérard theo dõi được các hoạt động ngoại thương giữa Phú Xuân và phương Tây đã viết: Họ (quân Bắc Hà) muốn nhiều tàu bè Âu châu đến hải cảng của họ với những hàng hoá mà họ đòi hỏi, nhưng chỉ có hai tàu tới, một chiếc trước đây bị bạc đãi bởi quan trấn thủ phủ Châm (Quảng Nam) nên đã nhổ neo và tẩu thoát để tránh tai họa. Chiếc kia từ Ma cao đến, đã được tiếp đãi tử tế hơn, nhưng tôi tin rằng nó chở nhiều hàng hoá cho Tiếm vương (Quang Trung) và triều đình ông ta” (4).
 
Nhưng đôi khi, hoài bão thì chính đáng lớn lao nhưng thực tế và khách quan không cho phép thực hiện thì hiệu quả sẽ thấp.

Bởi vì ở thế kỷ XVIII, đương thời thế lực thương mại nào của phương Tây cũng kèm theo âm mưu xâm lược và độc chiếm thị trường, nên những người “bạn hàng” này chắc không mấy được quyến rũ, bởi một hoàng đế giàu tính tự cường, độc lập đã từng làm nhiều kẻ thù khiếp sợ.

Đó là lý do chính để chúng ta thấy các thuyền buôn phương Tây xuất hiện nhiều hơn ở các cảng thuộc vùng kiểm soát của Nguyễn Ánh hơn là của Quang Trung.  Trong quan hệ với Trung Quốc, mặc dù là nước nhỏ nhưng Quang Trung luôn xác định cho mình tư thế của người chiến thắng. Ước mong có một quân đội mạnh, một nền kinh tế phát triển để bảo vệ quyền tự chủ của dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước .

Trong thơ gửi cho viên Quản đạo Tả Giang kiêm Tổng lý binh vụ đạo Quảng Tây là Thang Hùng Nghiệp, Quang Trung đã phân tích sâu sắc những điểm yếu cơ bản của địch và thế mạnh của ta: “Việc quân cốt hoà chứ không cột đông, cột tinh nhuệ chứ không cốt nhiều. Người khéo thắng là thắng ở chỗ mềm dẻo, chứ không phải lấy mạnh đè yếu lấy nhiều hiếp ít mà được” (5).

Sau ngày đại thắng quân Thanh, Quang Trung làm tờ biểu gửi cho Càn Long để kể tội Tôn Sĩ Nghị, nhưng mục đích để mỉa mai hóm hỉnh vua nhà Thanh “không biết việc đó quả do đại Hoàng đế sai khiến hay do Tôn Sĩ Nghị vì một người đàn bà sai khiến mong lập công ở biên cương để cầu lợi lớn” (6). 


__________________
(1) Thư gửi ông Blandin, Tonkin 692, tr. 366.
(2) (3) Thư viết ngày 25 tháng 11 năm 1792 cho ông Boiret, Fowkin 692, tr. 897.
(4) Thư viết từ Bố Chánh, gửi ông Boiret và Descuvriere, Tonkin 692, tr. 427.
(5) Ngô Thì Nhậm, Bang giao hảo thoại, viết tay. 
(6) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 36b. 
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:26:17 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #96 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 10:03:09 PM »

Với tư thế vững vàng của người chiến thắng, vua Quang Trung đã vạch trần bản chất tham lam, độc ác của nhà Thanh và kiên quyết dùng mọi biện pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong tờ biểu gửi cho Càn Long, Quang Trung đã chỉ rõ:

“Nay lấy thiên triều to lớn để đi tranh giành với một nước nhỏ để thoả lòng tham lam, tàn bạo, lại muôn đeo đuổi vũ lực đến cùng, xua quần chúng ra nghi trận địa để chịu thảm độc, thì lòng Thánh thượng cũng không nỡ làm thế, nếu vạn nhất đánh nhau liên miên không dứt thì lúc đó thần không còn lấy nước nhỏ để trọng nước lớn nữa, buộc phải nghe theo mạng trời. Việc xảy ra không thể lường trước được, để rồi ra sao thì ra”.

Tiếp được thư của vua Quang Trung, Thang Hùng Nghiệp kinh sợ nói với sứ giả Hô Hổ hầu rằng: “Nay không phải là lúc hai nước đánh nhau, sao lại nói toàn giọng tức giận”. (1). 

Còn càn Long sau ngày bại trận đã xuống chỉ cho viên Tổng đốc Lưỡng Quảng mới nhậm chức là Phúc Khang An và triều thần, sau khi phân tích tình hình nước ta, nào là “lam chướng, dịch lệ, nước độc” nào là “dân tình hay phản trắc, hay sinh sự” rồi “Trẫm đã nghĩ kỹ, thực không nên làm” và kết luận “Tóm lại, bấy giờ không nên đánh” (2). 

Sau đó, trong một lần dụ ban hành ngày 19 tháng 4 năm 1789, Càn Long đã nhấn mạnh: “Ý Trẫm nhất định không cho tiến binh nữa “ (3). 

Do nắm chắc được ý đồ của đối phương nên vua Quang Trung đã tài tình và đúng đắn khi xác định mối quan hệ với Trung Quốc ngay từ lúc mới tiến quân trên đường ra Bắc đánh giặc Thanh. 

Quang Trung đã nói với Ngô Thì Nhậm dưới chân núi Tam Điệp: “Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có sẵn, chẳng qua mười ngày, có thể đuổi được người Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo báo thù, như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao. Không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ dân giàu nước mạnh, thì ta có sợ gì chúng” (4)

Do trước đó nhà Mạc hèn nhát nộp đất cho nhà Minh, có lần quan sở tại đòi xin trả lại cho chủ cũ, nhưng nhà Thanh không chịu, chúng cho lập bia cắm làm địa giới trên đất trấn “’Tuyên Quang và Hưng Hoá”, lấy sông Đỗ Chúc làm giới hạn của hai nước. Cũng có lần thủ lĩnh nông dân Hoàng Công Chất đã chiếm lại đất của 7 châu đó, nhưng sau cuộc khởi nghĩa thất bại, nhà Lê cũng bỏ mất luôn.  Sau ngày đánh bại giặc Thanh, vua Quang Trung làm tờ biểu xin đòi lại đất 7 châu ở Hưng Hoá (5).
 
Đoạn cuối bài biểu, Quang Trung tỏ ra rất cương quyết:

“Thần không dám bỏ rơi phần đất ấy, coi là đất hoang giấu giếm tình hình không đưa ra ánh sáng. Vì vậy đánh liều làm tờ biểu nhờ công tước Phúc Khang An, Tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển tâu. 

Thần sẽ phái quan viên đền đầu địa giới Hưng Hoá tra xét cẩn thận về đia giới 7 châu để được Người cho đem lại đất bản quốc” (6).

Mặc dù Quang Trung đã nêu lên những bằng chứng xác đáng về chủ quyền và sự hợp lý khi đòi trả lại đất, nhưng bọn quan lại Trung Quốc bác bỏ, lấy cớ là cương giới xác định từ lâu rồi.

Biết việc đòi lại đất không thể có lời nói khéo, không thể chỉ có nói suông mà được, Quang Trung đã quyết định dùng vũ lực để đòi lại đất đã mất.

_________________________
(1) Đại Nam chính biên liệt truyện, Q. 30, t. 87a.
(2) Đại Nam thực lục, Q. la23, t. 29b
(3) Đại Nam thực lục, Q. 1525, t. 12b.
(4) Đại Thanh thực lục, Q. 1525, t. 12b.
(5) Các châu: Trung lang, Lễ Truyền, Hoàng Nhám, Tuy Phụ, Hợp Phì, Lai Châu và Khiêm Châu.
(6) Ngô Thì Nhậm, Bang giao hảo thoại, tài liệu chép tay
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:34:05 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #97 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 10:16:51 PM »

Đại Nam chính biên liệt truyện ghi lại rằng:

Vào năm 1790, vua Quang Trung gửi thư cho Tổng đốc Lưỡng Quảng xin phân rõ biên giới cũ. Tổng đốc Lưỡng Quảng cho rằng biên giới đã đinh rồi, trả lại thư. Vua Quang Trung bất bình, khuyên khích quân sĩ làm tàu thuyền âm thầm có chí dòm ngó đất Quảng Đông - Quảng Tây. Ngài thường nói với các tướng lĩnh rằng: Rộng cho ta vài năm bồi dưỡng uy lực, nhuệ khí, ta nào sợ chúng” (1). 

Một hôm, vua Quang Trung hỏi viên quan bí thư rằng (2):

- Sử sách sao chép quá nhiều việc thế?

 Quan bí thư trả lời:

- Sử sách chép sự tích thiện ác của đế vương và lý do Hưng phế để đời sau ghi chép mà răn đe.

Quang Trung hỏi:

- Như thế xưa nay có ai đánh Tàu không?

Thưa :

- Nước ta có Trần Hưng Đạo, đánh quân Tàu ở sông Bạch Đằng, Lê Thái Tổ đánh quân Tàu ở Đông Quan, nhưng đều đánh khi chúng tiến sang, chứ chưa có tiến sang đất Tàu mà đánh chúng. 

Quang Trung nói:

- Nay ta sẽ đánh Tàu cho ngươi xem. Vua Quang Trung ra lệnh cho công viện may vá lại chiến y rồi giao cho gia thiếp các đại thần cất giữ, hẹn đủ 20 vạn chiếc áo mới ban cấp cho quân sĩ để đánh Quảng Tây” (3).
 
Quang Trung đã liên kết với Thiên địa hội, một tổ chức bí mật của nhân dân Trung Quốc để chống lại nhà Thanh. Thu nạp bọn cướp biển gọi là giặc Tàu ô, các thủ lĩnh Tàu ô quy thuận được, Quang Trung cho tập kết ở Biện Sơn, phong chức tước, cấp ấn tín, bằng sắc, cấp lương thực trở về đánh phá miền ven biển các tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến, Triết Giang. . . 

Năm 1792, để thăm dò thái độ nhà Thanh, vua Quang Trung cử một phái đoàn do tướng Vũ Văn Dũng làm Chánh sứ với hai yêu cầu: xin cầu hôn với công chúa nhà Thanh và xin đòi đất Lưỡng Quảng để đóng đô.

Với thái độ kiên quyết, Quang Trung đã chuẩn bị công phu về vũ lực và áp lực ngoại giao để lấy lại cho được 7 châu đã mất. Trước uy thế lớn mạnh của ta dưới thời Quang Trung, vua Thanh đã nhượng bộ hai yêu sách trên, nhưng rất tiếc ở thời điểm huy hoàng của “ước mơ vượt biên giới” đó thì vua Quang Trung từ trần, việc đòi đất vì thế đành dở dang.

Trong mối quan hệ đối với Nguyễn Ánh ở Gia Định, cứ như các tài liệu của triều Nguyễn để lại, thì lực lượng Nguyễn Ánh mới là đối thủ làm cho Quang Trung đáng gờm nhất, đã ám ảnh nhà vua cho đến lúc chết.

Sách Đại Nam chính biên liệt truyện ghi là:

Trước khi mất vua Quang Trung gọi Trần Quang Diệu và các tín thần lại dặn rằng: ‘”Ta mở mang cương giới, khai thác đất đai bao trùm cả nước Nam, nay bị bệnh ắt không dậy được, Thái tử tư chất khá cao, nhưng tuổi còn bé, ngoài thì có Gia Định là quốc thù. Vua Thái Đức, Nguyễn Nhạc tuổi già ham dật lạc cầu an, không lo hậu hoạ. Sau khi ta mất rồi, trong một tháng phải lo chôn cất sơ sài cho xong việc mà thôi. Bọn ngươi phải phò Thái tử sớm dời về Vĩnh Đô để không chế thiên hạ. Nếu không khi quân Gia Định ra đến, bọn ngươi không có chỗ chôn đấy” (4)

Ghi chép của những người viết sử triều Nguyễn như vậy không phải là không có lý. Vì sau khi đánh bại giặc Thanh, kẻ thù nguy hiểm nhất và bức thiết nhất trong lúc này là tập đoàn Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp. Những mối quan hệ hoà hoãn cấp thời diễn ra sau đó với Trung Quốc chỉ vì để rảnh tay mở mặt trận về phía Nam, những giáo sĩ phương Tây lúc bấy giờ đã hết sức lo ngại về những sự cố sẽ diễn ra giữa Phú Xuân và Gia Định.

___________________________
(1) Q.30, t. 40a.
(2) Quan bí thư này người Ngọc Đống, Thanh Hoá, một tháng 6 lần vào cung để giảng sử sách cho vua Quang Trung. 
(3) Tây Sơn thuật lược, Sđd, tr. 161.
(4) Q. 80, t. 42b. 
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:19:05 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #98 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 10:21:56 PM »

Trong nhật ký về Giáo hội Bắc Kỳ, có ghi lại việc sau: “khi vua Quang Trung đánh giặc Thanh xong, ông trở về Phú Xuân vào ngày 2 tháng 3 năm 1789. Quang Trung định thực hiện một chuyến đi vào Nam sau đó. Mục đích của chuyến đi này là gì?  Có phải muốn đánh ông Hoàng muốn cướp ngôi vua Nam Kỳ của ngài không? Chúng tôi chưa biết rõ điều đó, mặc dù có nhiều tin đồn truyền đi về việc đó từ lâu nay” (1).
 
Trong một bức thư ngày 23 tháng 7 năm 1790, Sérard viết: Chúng tôi mới hay tin bốn chiếc tàu của lũ giặc Trung Hoa bị bắt giữ. Bọn này đã đầu hàng quân phiến loạn Nam Hà của chúng ta và được quân này cấp môn bài. Chúng dẫn 4 thuyền về kinh đô (Phú Xuân) có lẽ Tiếm vương (Quang Trung) dùng làm chiến thuyền. Vì ông này định đánh nhau với vua Nam hà ở Dou Nai (2).

Đến ngày 1791 , giáo sĩ Nunsius Orta trong một bức thư đề ngày 20 tháng 5, có viết: “vua chính thống Nam Hà ở Dou Nai gần Cao Miên có gửi một hoàng tử sang châu Âu.Theo dư luận thì ông đủ sức chống lại quân lực của Tây Sơn để chiếm lại vương quốc ông. Nhưng thanh thế của ông thì ngày càng gia tăng” (3).
 
Năm 1792, vua Quang Trung cử một đoàn ngoại giao sang Trung Quốc xin cầu hôn với công cháu nhà Thanh và xin đòi đất Lưỡng Quảng đóng đô, nhằm thu hút sự bận tâm chính trị của nhà Thanh vào trận ngoại giao mới mẻ, táo bạo, chủ động của Quang Trung.

Lúc này, vua Thanh lại lo đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nông dân Thiên địa hội và những cuộc đánh phá ven biển của các hải tặc Trung Quốc mà Quang Trung đã liên kết làm nhà Thanh không còn hơi sức đâu để lo nghĩ về một cuộc phục thù bằng võ lực, để Quang Trung rảnh tay triển khai lực lượng đánh Nguyễn Ánh ở Gia Định. 

Theo sử sách nước ta, của Trung Quốc và các giáo sĩ đương thời ghi lại cho biết, vua Quang Trung đã có kế hoạch đánh Gia Định với một lực lượng quân chủ lực huy động đến 30 vạn dự án của chiến dịch như sau:

1 - Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tích cực chuẩn bị lực lượng, đóng thêm thuyền chiến phối hợp với quân “Tàu ô” đánh thẳng vào Biên Hoà, Gia Định. 

2- Bộ binh từ Phú Xuân theo đường thượng đạo qua Lào, xuống Chân Lạp, phối hợp với quân Chân Lạp, từ phía Tây đánh thẳng vào Sài Gòn và chặn đường biên giới Chân Lạp không cho địch tháo lui. 

3- Thuỷ quân từ Phú Xuân thẳng vào Côn Lôn, Hà Tiên, đánh ngược lên Sài Gòn, chặn mọi ngả đường không cho quân Nguyễn Ánh trốn thoát ra các hải đảo hoặc trốn chạy sang Xiêm.

Để chu đáo trong việc chuẩn bị hành quân và cũng để yên lòng dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, ngày 28 tháng 8 năm 1792 (tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5), vua Quang Trung có lệnh truyền cho quan lại và quân dân hai phủ có đoạn như sau:

“Bây giờ theo lệnh của Hoàng đại huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm quân theo hai đường thuỷ bộ vào dẹp giặc, Trẫm sẽ đập tan bọn cựu Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục. Còn nhân dân hai phủ, các ngươi đừng lo âu đừng sợ giặc, các ngươi hãy để mắt nhìn, để tai nghe xem Trẫm làm gì. Các ngươi sẽ thấy rằng, Trẫm chỉ đánh một trận là Bình Khang, Nha Trang, như mảnh xương tàn của các thây vua Gia Định. Cũng như Phú Yên đã từng là trung tâm chiên trường và suốt từ dải Bình Thuận vào tới Chân Lạp sẽ túc khắc được thu phục. Như thế để ai nấy đều hiểu rằng Trẫm và Hoàng đại huynh là hai anh em ruột, là cùng chung một dòng máu, Trẫm không bao giờ quên điều đó”.

Tháng 9 năm 1792, thời điểm thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao do phái đoàn Vũ Văn Dũng đang có mặt tại cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh và cũng vào lúc Quang Trung ở Phú Xuân, Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn đang ráo riết chuẩn bị triển khai kế hoạch đánh tập đoàn Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định.

Bài hịch của Quang Trung truyền đi, được binh sĩ và nhân dân nô nức chờ đợi. Nhưng chưa đầy 20 ngày sau, ngày 16 tháng 9 năm 1792, sau một cơn bạo bệnh, Quang Trung đã qua đời. Đây là một tổn thất lớn cho sự nghiệp Tây Sơn và cả dân tộc, không gì bù đắp nổi. 

Nếu việc đánh Gia Định được triển khai đúng như kế hoạch của vua Quang Trung đã đề ra, chắc tình thế đất nước từ đó và cả sau này có thể lạc quan hơn.

Nhưng Quang Trung đã qua đời! Như một ngôi sao sáng, vụt tắt. Sự nghiệp đánh giặc phải chịu lỡ làng, một hoài bão đấu tranh thống nhất và xây dựng đất nước giàu mạnh phải chịu dở dang. Rồi còn chịu mang tiếng vì có lỗi lầm là đã chọn người kế tục không xứng đáng.

Nhưng hoài bão về đánh giặc, dựng nước của vua Quang Trung còn nóng hổi sinh khí cũng như thực tiễn và kinh nghiệm của nó đối với thời đại chúng ta.

_______________________
(1) Tài liệu lưu trữ MEP, tr. 268.
(2) Thư gửi Lentondal, tập Tonkin 700, SEMP, tr. 1416.
(3) Thư gửi Letondal, tập Tonkin, SMEP, tr. 1458.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #99 vào lúc: 06 Tháng Tư, 2009, 10:22:56 PM »

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Dương Văn An: Ô châu cận lục, biên dịch Bùi Lương, Văn hoá á châu, Sài Gòn, 1962.

2. Phan Thuận An: Lăng Ba Vành và mộ Quang Trung ở Huế trong sách Nguyễn Huệ - Phú Xuân, Nxb Thuận Hoá, 1986.

3. Đỗ Bang: Lăng Quang Trung một ẩn số lịch sử, báo Dân trí, ngày 1 - 7 - 1982. .

4. Đỗ Bang: Nửa thế kỷ tìm lăng Quang Trung, Những phát hiện mới khảo cổ học năm 1982, Viện khảo cổ học Hà Nội.

5. Đỗ Bang: Vấn đề lăng Quang Trung ở Huế, T/c Tổ Quốc, số 9 năm 1992.

6. Đỗ Bang và các tác giả: Nguyễn Huệ - Phú Xuân, Nxb Thuận Hoá 1984.

7. Đỗ Bang: Những dấu tích thời Tây Sơn, 10 năm khảo tìm và suy nghĩ, Tạp chí Văn hoá Bình Trị Thiên số 4 năm 1988.

8. Barrow (J): Voyage Cochinchine en 1973, Tradition de Malte Rum, tập II, Q. 177.

9. Cadière (L): Documents relatifà lépoque de Gia Long, B.E.F.E.O., 1912.

10 Cadière (L): Tombeaux, Annamites danh les environs de Huế, B.A.V.H., 1928.

11. Đại Việt quốc thư bản dịch, Sài Gòn 1967. 

12. Trần Viết Điền: Lăng Ba Vành có phải là lăng Quang Trung - Nguyễn Huệ, báo Bình Trị Thiên, ngày 4 -12-1987.

13. Trần Viết Điền: Chưa thể xếp lại hồ sơ lăng Ba Vành, Tin Huế, số 48, tháng 1 năm 1988.

14. Trần Viết Điền: Xung quanh vấn đề lăng Ba Vành và bộ hồ sơ giả, báo Bình Trị Thiên, ngày 21 - 5- 1988. 

15. Trần Viết Điền: Lời giải của phương trình nửa thế kỷ:  lăng Ba Vành, Tạp chí Sông Hương, số 30 năm 1988. 

16. Nguyễn Hữu Đính: Một phương pháp để khám phá lăng Ba Vành ở làng Cơ Chánh, Huế là ai? Của Ý Đức hầu Lê Quang Đại hay của Quang Trung - Nguyễn Huệ, báo cáo Hội thảo khoa học về phong trào Tây Sơn, Huế 6, 1986.

17. Lê Trọng Hàm: Minh Đô sử, Q. 29, Q. 32, Q. 40, tài liệu chữ Hán, viết tay, Viện sử học Việt Nam. 

18. Hoàng Xuân Hãn: La Sơn phu tử, Minh Tân, Paris, 1952.

19. Nguyễn Đình Hoè: Notes sur les cendes des Tay Son danh la prison du Kham Đong, B.A.V.H. - 1914. 

20. Lê Văn Hoàng: Quang Trung, mộ hồi ký, báo Bình Trị Thiên, số ngày 15 - 2 e 1988.

21. Phan Huy Ích: Dụ Am ngâm lục, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1987.

22. Phan Huy ích: Dụ Am văn tập, tơ hếu viện nghiên cứu Hán Nôm bản chữ Hán, ký hiệu 604/ A.

23. Trương Dương Kỳ: Đông Hoa toàn lục, Q. 117, tư liệu khoa Sử trung Đại học Tổng hợp - Hà Nột. 

24. Ngô Cao Lảng: Lịch triều tạp kỷ, bản dịch, Nxb Khoa học xã hội, HN, 1975.

25. Lê Quý Dật sử, bản dịch của Phan Văn Thám, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1987.

26. Phan Huy Lê: Một số di tích Tây Sơn tại các tỉnh phía Nam, Hội nghi thông báo khảo cổ học, Viện khảo cổ học năm 1977, Kỷ yếu.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Tư, 2009, 10:33:02 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM