Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Bảy, 2020, 05:53:03 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý Thường Kiệt-Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý  (Đọc 54544 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #40 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2009, 11:40:32 pm »


2- Binh tướng

Như trên đã nói, đời Lý dùng dân quân; khi hữu sự mới gọi dân ra lính (II/2). Trong trận đánh Tống, chắc rằng cấm binh phần lớn ở nhà, vì vua còn nhỏ tuổi, không xuất chinh. Quân tinh nhuệ là quân hạ du, tập trung ở miền đông, do Lý Thường Kiệt điều khiển. Còn miền bắc thì có thổ quân, do thủ lĩnh các châu đốc suất. Các thổ dân đi đường bộ, đưa cả vợ con đi theo. Sau trận, Vương An Thạnh có gọi là kẻ lái buôn từ nước ta về, để dò hỏi; người ấy trả lời rằng: “Khi Giao Chỉ vào cướp, quân có sáu vạn, trong đó nhiều đàn bà, trẻ con. Man dân kéo hết cả nhà theo, chỉ để một vài người ốm yếu ở nhà”1 (TB 275/13b). Lời ấy chắc là nói các dân man động mà thôi. Còn quan quân, đã có qui củ. Vả đi đường thủy, chắc không thể đem người nhà đi theo nhiều được, hai đạo quân ấy có từ sáu vạn đến mười vạn2.

Lý Thường Kiệt lĩnh thủy quân, từ Vĩnh An đánh vào ven bể Quảng Đông (VSL). Đó là Đại quân.

Còn các quân từ biên giới miền tây Quảng Tây kéo vào có Tông Đản quản lĩnh (TT). Tông Đản là ai? Sử ta không hề nói đến, ngoài việc cấm quân đánh thành Ung lần này. Tống sử và Tống thư cũng không đâu nói đến. Nhưng sách TB và các sách Tống, như TS 488 TS 495, có chép tên Nùng Tông Đán, người châu Quảng Nguyên. Ta đã thấy Nùng Tông Đán đã theo Tống rồi bỏ Tống nhiều lần (xem V/8). Tháng 6 năm Bính Thìn (1076), ti An Nam tuyên phủ tâu rằng: “Đã sai đô giám Quế Châu là Nùng Tông Đán kiểm điểm đinh tráng Hữu Giang, để đánh Lưu Kỷ”. Vua bảo: “tuy Tông Đán đã hiệu thuận và là kẻ dũng mạnh, nhưng các con còn theo Lưu Kỷ. Ta sợ Tông Đán cũng theo nốt. Vậy nên chọn các viên có mưu lược đi theo Tông Đán”. (TB 276/1b).

Có lẽ Tông Đản ở sử ta là Nùng Tông Đán ấy, hoặc là một con y. Chữ Nùng dùng đầu tên có thể chỉ giống người Nùng mà thôi, chứ không phải hẳn là chỉ họ. Vì sự hai âm Đản và Đán rất gần, hai tên có thể là một chăng?3

Các quan man động ấy đóng từ Quảng Nguyên đến châu Tô Mậu, trước các trại Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cô Vạn, Thiên Long. Lưu Kỷ cầm quân vùng Quảng Nguyên. Có lẽ Tông Đản chỉ là một bộ tướng. Vùng Môn Châu có Hoàng Kim Mãn, vùng Lạng Châu có phò mã Thân Cảnh Phúc (IV/4) và vùng Tô Mậu có Vi Thủ An cầm quân.

Khí giới thì ngoài cung nỏ, trường thương mà hai bên đều dùng, ta có tên tẩm thuốc độc, và máy bắn đá.

Ta lại dùng nhiều voi để xung phong. Voi có thể do cả đường thủy và đường bộ tiến vào.
______________________________________
1. Xem câu chuyện giữa vua Tống và Vương An Thạch (VII/10). Tô Tử Nguyên cũng có nói với An Thạch rằng: quân Giao Chỉ, một nhà tám người thì bảy người đi, còn một người ốm yếu ở nhà. (TB 276/13b).
2. Sử ta, như TT và VSL, chép mười vạn. Sách TB có lúc chép 6 vạn (276/13b), có lúc chép 8 vạn (271/6b). Những số ấy cũng đều có lý. Dân các châu kéo vào Ung Châu, thì khó lòng đếm được, nhất là phu phen đi theo không có định số. Còn số quân chắc có thể đến 6 vạn.
3. TS quyển 495 chép: Họ Nùng có Tông Đán, coi động Lôi Hỏa, cũng là khá hiệt liệt. Đời Gia Hữu thứ 2 (1057) đã từng vào cướp đất Tống. Viên coi Quế Châu là Tiêu Cố chiêu dụ Tông Đán, y bèn theo, được trao chức trung vũ tướng quân. Con Tông Đán là Nhật Tân, nguyên coi động Ôn mẫu, được trao chức tam ban chức phụng. Năm Gia Hữu thứ (1062), cha con Tông Đán đem các động Lôi Hỏa, Kế thành nộp cho huyện quan, và xin ở Lạc Châu, để đời đời làm dân Tống, vua Tống ban cho mỗi người họ Nùng một chức, Tông Đán được coi châu Thuận An, và được ban trâu, muối, vóc... Sau đó Nhật Tân coi thuế ở Ung Châu.
    “Đời trị bình (1064-1067), Tông Đán có hiềm khích với tụi Lý Nhật Tôn (Thánh Tông) và Lưu Kỷ, nên sợ chúng ép bức. Viên coi Quế Châu là Lục Sằn sai người đến dỗ. Tông Đán bèn bỏ châu mình mà dời nhà vào nội địa. Vua Tống ban cho chức hữu thiên ngưu vệ tướng quân”.
    TS quyển 488 (Giao Chỉ truyện) chép lược hơn, nhưng cũng phù hợp với trên. Năm đầu niên hiệu Trị Bình (1064) Giao Chỉ đòi lại Nùng Tông Đán và con là Nhật Tân, với đất hai động Ô Mẫn. Hàn Kỳ bàn với vua Tống nên trả lại V/8.
    TB 394/6a chép: Tông Đán nộp đất Vật ác; Tống đổi ra châu Thuận An.
    Trong trận Ung Châu, Nùng Nhật Tân bị chết, nên được vua Tống tặng cho chức giám áp Ung Châu (tháng hai năm B.Th 1076, TB 273/3a). Còn Tông Đán vẫn theo Tống, nhưng vua Tống không tin lắm. (V/8)
    Những việc trên, tuy làm cho ta không tin chắc rằng Nùng Tông Đán đã theo Lý đánh Ung Châu, nhưng cũng không đủ để bác thuyết ấy. Sau khi quân Thường Kiệt rút về và đại quân Tống tới, có nhiều tù trưởng trước là tướng theo Lý, bấy giờ lại theo Tống như Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn vân vân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #41 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2009, 11:45:54 pm »


3. Khởi công. Trận Khâm Liêm


Phần Lý kỷ còn chép lại rất sơ sài về việc hành binh này. Ta không thể biết chi tiết cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt. Tống sử và các Tống thư chỉ chép rõ việc người Tống làm. Còn việc người ta, họa hoằn có một vài chi tiết. Sách TB cho ta biết thêm một vài việc. Nhờ những lời tâu của biên lại Tống, có ghi ngày tháng, nên ta có thể căn cứ vào đó mà đoán một cánh khá tường tận những hồi biến chuyển của cuộc tấn công do Lý Thường Kiệt chỉ huy.

Như đã nói trên, biên thùy ta giáp địa hạt Ung Châu có hình một góc tư vòng tròn, đường bán kính trung bình dài 150 cây số, mà trung tâm là thành ung (IV/1). Ba đường chính đi Ung, đường Quảng Nguyên, đường Quang Lang và đường Tô Mậu đều xấp xỉ như nhau. Về phía đông, góc tư đường vòng tròn kia tiếp với bờ bể châu Khâm và châu Liêm. Đường từ Khâm đến Ung lại ngắn hơn cả, dài chừng 120 cây số; quân đi mất độ năm ngày đường.

Lý Thường Kiệt đã mưu tính chiến lược rõ ràng. Thổ binh đóng ngoài vòng biên giới sẽ lần lượt kéo vào chiếm đất Tống và trong lúc đầu, quấy rối gần biên thùy mà thôi. Chủ ý là làm cho Tống tưởng rằng quân ta sẽ do các đường bộ kéo vào đánh Ung. Thổ binh ta sẽ phá những trại Hoành Sơn Thái Bình; Vĩnh Bình Cổ Vạn, là những đồn che đỡ cho Ung. Trong lúc ấy, quân Tống ắt sẽ kéo xuống miền tây và tây nam để cứu các trại ấy. Mặt đông nam châu Ung sẽ bỏ ngỏ, vì từ Ung đến Khâm là hoàn toàn đất Tống.

Lúc quân Tống trong hạt Ung Châu đã đổ xô vào phía tây và tây nam, Lý Thường Kiệt liền đưa đại quân đi đường thủy, từ châu Vĩnh An tới Khâm Châu và Liêm Châu. Đường đi đến Khâm chỉ mất chừng vài ngày. Đại quân đổ bộ ở Khâm, rồi tiến thẳng tới Ung. Như vậy, đại quân ta chỉ chừng bảy ngày đã từ đất nhà đến thẳng căn cứ địa Ung Châu.

Nếu quân Tống bỏ thành Ung để dời xuống cứu các trại biên thùy, thì thành Ung có thể mất liền. Nếu Tống để nhiều quân giữ thành Ung, thì các thổ binh ta sẽ tiến dễ dàng. Từ mọi bề, quân ta cùng kéo tới thành Ung, và thành này sẽ bị vây mấy mặt.

Chiến sách ấy đã thấy rõ ràng trong cuộc chuyển binh của ta vào cuối năm Ất Mão (1075).

Ta đã thấy rằng vào tháng tư nhuận, Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên đã đem 3.000 quân đánh châu Qui Hóa làm Tống phải động tâm và phải phái quân giúp viên coi châu ấy là Nùng Trí Hội (VI/7).

Nhưng cuộc tấn công thật bắt đầu vào tháng chín.

Ngày G.Tu, 15 tháng 9, 700 quân tới đánh trại Cổ Vạn (DL 27-10-1075, TB 268/10b). Chắc là quân ấy từ châu Tô Mậu kéo vào. Tin này đến 28 tháng 10 mới về đến kinh (B.Th, DL 8-12-1075; TB 269/23b), và đến ngày 11 tháng 11, triều đình Tống mới hay rằng Cổ Vạn đã mất, và “ở Quảng Nguyên có nhiều hương binh họp và soạn sửa vào cướp”. (K.Ti, DL 21-12-1075; TB 270/2b ).

Tin từ biên giới về đến Biên Kinh mất một tháng rưỡi, cho nên các biến cố ở biên đang dồn dập, mà triều đình Tống vẫn tưởng rằng chỉ có những việc cướp nhỏ mà thôi. Vua Tống dặn Lưu Di phải sai các tuần kiểm kê phòng cho nghiêm, không được khinh chiến (TB 269/23b). Khi nghe tin trại Cổ Vạn mất, vua lại bảo Lưu Di kê tên những người có chiến công và giúp đỡ những người có nhà bị cướp và bị đốt. (TB 270/2b)

Trong lúc ấy thì có sao chổi hiện; làm cho vua Tống càng lo. Ngày mồng 7 tháng 10 năm Ất Mão (DL 17-11-1075, TB 269/13a), sao chổi hiện ở chòm sao Chẩn. Ngày 8, đuôi dài ba thước) có lẽ cầm thước dơ thẳng tay, nhắm mà đo). Ngày 9, dài 5 thước. Ngày 10, dài 7 thước, trỏ xiên về sao Thái Hạt. Đêm 19 mới tắt (TB 269/18b). Theo phép đối chiếu trên trời dưới đất, sao Chẩn là tinh phận phương nam. Theo sự tin của Á Đông, sao chổi là điềm sắp có binh đao, tật dịch. Theo các nhà chiêm tinh bấy giờ đoán, thì sắp có binh đao trên đất Giao Chỉ.

Riêng Vương An Thạch là một nhà học giả rất có óc thực tế và không tin dị đoan (TTh 13). Sử Tống còn trách An Thạch để việc sao chổi hiện ba ngày không tâu vua (TB 271/15b). Ở nước ta, Thường Kiệt có tin điều lành dữ hay không? Ta không biết. Nhưng theo óc dị đoan đương thời, thì sao chổi hiện lần này1, chắc làm cho người ta càng tin rằng quân Tống sắp kéo vào đánh nước ta.

Trong khi bang giao Tống Lý đang gay go, sự sao chổi hiện, làm tăng lòng lo âu và nghi kị. Có lẽ vì đó, Lý Thường Kiệt càng quyết tâm phát quân tấn công vào đất Tống.

Bộ binh ở Tả Dực được lệnh xuất quân trước, tràn qua Vĩnh Bình để đến Ung Châu (VSN). Quân các châu dọc biên giới kéo vào chiếm các trại Vĩnh Bình, Thái Bình; quân từ Lạng Châu vào lấy những châu Tây Bình, Châu Lộc. Quân Quảng Nguyên và châu Môn chiếm trại Hoành Sơn. Các tướng Tống chống cự rất hăng hái, nhưng đều bị bại. Chúa trại Hoành Sơn là Lâm Mâu Thăng, viên quan hạt Vĩnh Bình là Tô Tá, viên quản hạt Thái Bình là Ngũ Cử, và viên giám áp trại Thái Bình là Quách Vĩnh Nguyên đều tử trận. (TB 273/4b)

Lưu Di chưa biết nguy cơ đã đến, còn xin bốn vạn quan tiền để mua lương trữ ở Ung Châu. (23-10, T.Ho, DL 3-12-1075, TB 269/21b)

Bấy giờ, biên giới Ung Châu rất bỏ ngỏ. Man dân sẵn oán Tống, quân lính ít được tập tành. Lưu Di đương thay lính, bỏ trát binh mà dùng quân thương trượng. Các tướng trễ nải. Quân ta tới đâu như là vào chỗ không người (VSL)

Trong khi ấy, đại quân Lý Thường Kiệt đã cưỡi thuyền theo bờ bể, từ châu Vĩnh An vào cửa bể Khâm Châu và Liêm Châu (TB 271/1b). Bộ binh đóng gần biên giới Khâm Châu cũng kéo vào các trại Như Hồng, Như Tích và Để Trạo.

Quân Tống bị đánh bất ngờ, không chống cự. Ngày M.Dn, 20 tháng 11, Khâm Châu bị chiếm (DL 30-12-1075; TB 270/5a). Ba ngày sau, Liêm Châu cũng bị mất luôn. (2-1-1076; TB 270/8a)2.

Những chúa trại chung quanh Khâm Châu đều bị giết; Ngũ Hoàn chúa trại Như Tích và Trương Thủ chúa trại Để Trạo đều chết. (TB 273/4b)

Viên coi Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái (theo LNĐĐ 10, còn TB 273/4b chép Trần Vĩnh Linh). Trước lúc quân ta tới, đã có kẻ nói hở chuyện cho người Tống biết rằng: Giao Chỉ sắp đánh úp Khâm Châu. Người Khâm mách với Vĩnh Thái, nhưng y không tin. Chiến thuyền Lý thình lình vào bến rất gấp. Vĩnh Thái vừa bày rượu uống. Có người báo tin quân Lý tới, nhưng Vĩnh Thái vẫn không để ý đến. Quân Lý đột nhập vào thành, bắt được Vĩnh Thái và tất cả bộ hạ, không phải gia phong một hợp nào. Sách LNĐĐ chép chuyện trên, kể nối rằng: “Quân Giao Chỉ nói với Vĩnh Thái: “Chúng ta chỉ lấy của cải mà thôi, chứ không giết chúng mày đâu”. Sau khi lấy sạch của, lại đem giết hết. Sau đó, người Khâm Châu Tô Tượng thờ Vĩnh Thái ở miếu Thành Hoàng, và tôn làm thần Chuyển Tí đại vương. Nhưng người đời sau vẫn cười chê Vĩnh Thái là ngu muội. Khi muốn chế nhạo ai là không thông tuệ, thì gọi người ấy là “Trần Thừa Chỉ!”. Thừa Chỉ hàm của Vĩnh Thái, theo LNĐĐ 10; còn TB chép Thừa chế.

Cùng với Vĩnh Thái, còn có các viên giám áp Văn Lương, Ngô Phúc, viên tuần kiểm Tưởng Cẩn, các viên chỉ sứ Tống Đạo, Đinh Toại, viên giám thuế Âu Dương Dẫn đều bị hại. (TB 273/4b)

Ở Liêm Châu quân Tống cũng thua rất nặng. Hình như ở đây, các quan Tống được tin Khâm Châu mất, có phòng bị và chống cự ít nhiều. Tám nghìn thổ đinh bị ta bắt làm phu khiêng xuống thuyền đồ vật cướp được, xong rồi đều bị giết (Thần Tông TL và VKT). Lỗ Khánh Tôn coi Liêm Châu bị chết cùng nhiều bộ hạ: tri huyện Hợp Phố Lương Sở, giám áp Chu Tông Thích, chỉ sứ Ngô Tông Lập. (TB 273/4b)

Nói tóm lại, trong các trận mở đầu, Lý Thường Kiệt đã lợi dụng được hai điều cốt yếu trong chiến lược xưa nay: triệt để dùng sở trường của mình là thủy quân, và rình chỗ bất ngờ mà đánh úp. Thắng lợi hoàn toàn đã về quân Lý, cũng là phải lẽ.
______________________________________
1. Các sử ta không còn thấy chép việc sao chổi hiện.
2. Về ngày mất Khâm và Liêm, đây theo sách TB 270/8a. Trong sách TTh, Tư Mã Quang chép ngày 20 và 23 tháng chạp. Ấy là lầm, vì theo TB 270/5a, hai ngày ấy là tin về đến Biện kinh. Lại theo sách Tông giám cương mục quyển 71, Liêm Châu mất ngày G.Ta, tức sáu ngày sau Khâm Châu.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #42 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2009, 11:49:22 pm »


4- Tiến vào nội địa

Chiếm xong hai hải cảng Khâm, Liêm, Thường Kiệt liền đưa quân tiến vào nội địa.

Bấy giờ, Tống không còn quân để cản quân ta. Nhưng Thường Kiệt sợ dân Tống oán thù và quấy đường tiếp tế ở hậu phương, cho nên ông phải tìm danh nghĩa cho cuộc hành quân.

Muốn phô trương danh nghĩa, Thường Kiệt sai yết bảng dọn đường kể tội quan Tống. Lời lộ bố nói rằng: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Trung Quốc. Các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu (Lưu Di) không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy...”. Ông lại biện luận rằng mình chỉ tự thủ. Ông tuyên bố: “Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao Chỉ”.

Thường Kiệt lại lợi dụng sự phân tranh trong triều đình Tống giữ hai phái tân và cựu, để chia rẽ quân dân địch. Trong các lộ bố, có nói: “Trung Quốc dùng các phép thanh miêu, trợ dịch, làm dân khốn khổ. Nay ta đem quân tới cứu”. (TTh 13 và TB 271/15b)

Người đời sau kể rằng “dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam; rồi cùng nhau bày phương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp” (NBS). Bởi vậy, tiến quân vào nội địa càng thêm dễ dàng.

Trong lúc ấy, đạo quân Tông Đản tràn qua các trại ở phía tây. Trong tháng 11, Vĩnh Bình, Thái Bình, Thiên Long, Cổ Vạn đều mất (TB 271/7a). Ngày 10 tháng chạp, quân Tông Đản kéo thẳng đến Ung Châu. Thành Ung bắt đầu bị vây. (Đ Zu, DL 18-1-1076; TB 271/6b).

Đại quân ở Khâm và Liêm cũng tiến lên phía bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu, như ta sẽ thấy sau. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm châu Bạch (ĐĐSL 8 ). Viên tuần kiểm Thẩm Tông Cổ bị chết. (TB 273/5a). Đạo quân ấy lại tiến lên Dung Châu. Viên đô tuần kiểm các châu Bạch, Dung là Phan Nhược Cốc và chỉ sứ châu Dung là Vương Đạt và Tào Quăng cũng đều tử trận (TB 274/3b). Hình như đạo quân ấy dừng ở khoảng này, để chặn quân từ phương đông tới cứu Ung Châu.
« Sửa lần cuối: 13 Tháng Tư, 2009, 11:57:05 am gửi bởi chuongxedap » Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #43 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:22:57 pm »


5- Phản động của Vương An Thạch

Tin tức bây giờ chuyển chậm, vì dịch trạm ở miền nam chưa tổ chức. Tuy Khâm Châu bị chiếm ngày 20 tháng 11, mà đến mồng 6 tháng sau, ti kinh lược Quảng Tây đóng ở Quế Châu mới được tin vào tâu: “Người Giao Chỉ họp quan thủy ở Triều Dương (tức là Vĩnh An Châu, hay là Hải Ninh bây giờ. Sách TB 271/5b chép Hồ Dương, sai vì tự dạng), sắp sửa đi hai đường vào cướp”. Đúng một tháng sau khi Khâm Châu bị mất, tin mới tới triều đình Tống (20 tháng Chạp, Đ.Vi, DL 28-1-1076; Tb 270/5a).

Ba ngày sau lại tiếp tin Liêm Châu cũng mất luôn. Các tướng ở địa phương bối rối đã đành; mà vua tôi Tống cũng rất đỗi hoang mang. Triều đình náo động.

Báo tin mất Khâm Châu, ti kinh lược Quảng Nam tây lộ xin viện binh: 20.000 quân, 3.000 ngựa và một tháng lương, tất cả lấy dọc đường từ kinh đến Quảng Tây. Lại xin chừng mười sứ thần theo quân, xin thêm khí giới, đồ dùng, và xin điều động các dân Khê Động. Muốn điều khiển quân mau chóng, ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía bắc Ung Châu. (TB 271/12a)

Ngày 20 tháng 12, được tin báo Khâm Châu mất vua Tống Thần Tông liền hạ lệnh chuẩn bị các trạm, cấp đủ người và ngựa, để đem tin cho chóng. Lại sai Trương Thuật, Tả Quí Thành tới ti kinh lược Quảng Tây để chuẩn bị tướng lệnh (TB 271/12a). Sợ quan ta thừa thế đi thuyền đến Quảng Châu, vua Tống ra lệnh cho quan coi Quảng Châu phòng bị cẩn mật. Về mặt trận Quảng Tây, dặn các tướng phải cố thủ ở các thành và nơi hiểm yếu và chớ khinh địch. Lời chiếu nói rằng: “Giao Chỉ chiếm Khâm Châu chưa lui. Sợ nó theo bờ bể dòm ngó Quảng Châu, nên phải lo giữ. Nay xét thấy quân các đồn ở Quảng Tây yếu và ít, mà lại phân tán ra. Nếu không cố thủ các thành, thì quân ta sẽ tan rã, và tiếng tăm giặc sẽ lan ra, làm tăng thế nó. Vậy chiếu cho Quảng Tây, hãy bảo các tướng giữ thành, chớ có khinh địch”. (TB 271/12a)

Hai ngày sau, lại có tin báo Liêm Châu cũng mất. Triều đình Tống càng thêm lo, hoang mang rất mực. Vua Tống liền hạ chiếu cho ti kinh lược Quảng Tây, dặn rằng: “Nếu xem chừng có quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ mấy chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, lương thực, thì phải chở tháo đi, đừng để lọt vào tay giặc”. (TB 271/12b). Sau đó lại ra một lệnh trái ngược nói rằng: “Nếu quân bỏ thành đi chỗ khác, thì lo rằng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ti đều phải trở lại thành mình”. (TB 271/13a)

Cũng ngày ấy (22 tháng chạp), vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây. Cấp cho Quảng Tây 50.000 quan tiền và sai các lộ chung quanh trữ lương thực để mộ quân1. Sai mộ 3.200 đinh tráng ở các châu Thú, Ung, Tân, và dặn nếu không đủ thì mộ thêm thổ dân để dùng. Vua Tống lại sai chọn trong các châu quận những người dân trai trẻ, khỏe mạnh, đảm dũng đem tới Quế Châu; cứ 5000 người lập một chỉ huy, rồi dạy vũ nghệ, và đặt tên là quân Tân đằng hải (TB 271/13b). Vua Tống lại định đem quân Hà Bắc xuống miền nam để ti kinh lược Quảng Tây dùng; đạo quân thứ 35 xuống Quế Châu, đạo quân thứ 19 xuống Đam Châu (Tràng Sa bây giờ.). Sai hai lộ Kinh, Hồ sắm 7.000 cung nỏ bằng gỗ để cấp cho Quảng Tây. (TB 271/14a)

Ý vua Tống là vận động cấp tốc binh sĩ để ngăn quân ta tiến lên phía bắc. Đối với dân gian, vua Tống sai tồn tuất cho nhà có người chết trận. Nếu có ai muốn chạy lánh nạn lên Lĩnh Bắc (vùng Hồ Nam), thì cũng đưa lên. (TB 271/13b)

Vương An Thạch rất tức giận, khi được tin Lý Thường Kiệt chỉ trích chính sách tân pháp trong lời lộ bố yếu dọc đường, bèn định sai tướng đem đại quân đi đánh đất ta. Ngày 25 tháng chạp (T.Ho, DL 2-2-1076; TB 271/15a), vua Tống Thần Tông chọn viên ngoại lang lại bộ, hiện coi Diên Châu (Thiển Tây), là Triệu Tiết, làm An nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản, kinh lược chiêu thảo sứ và kiêm chức Quảng Nam tây lộ an phủ. Vua lại sai hoạn quan Lý Hiếu làm phó an phủ sứ và Yên Đạt (TS chép lầm ra Yên Quì vì tự dạng) làm phó đô tổng quản, Ôn Cảo làm quản câu, coi việc kê cứu thư từ. Rồi sai thảo một tờ chiếu đặc biệt, gọi là Thảo Giao Chỉ chiếu để ban ra một cách long trọng.

Theo lời Tư Mã Quang, thì chính tay Vương An Thạch thảo lời chiếu ấy, để trả thù lời lộ bố của Lý Thường Kiệt chỉ trích các tân pháp của y. Lời chiếu rằng:

“Chúa nước An Nam đời đời được phong tước vương, cho nên con cháu được ta thừa nhận và vỗ về Tiên Triều đã từng tha lỗi cướp họ Lê. Nay lại phạm vào nội địa, giết hại lại dân. Can tội với nước thiên tử, như thế không thể tha thứ được!

“Quân Trời tới đánh, thật có danh nghĩa!

“Nay Trẫm sai Triệu Tiết làm An Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản, kinh lược chiêu thảo sứ; Lý Hiến làm phó an phủ sứ và Yên Đạt là phó đô tổng quản.

“Các người hãy cất quân thủy, lục tiến chóng đi! Trời tỏ muốn giúp, nên đã có điềm sao chổi tốt, người rõ lòng gian, nên đều căm giận quân địch ác.

“Chiếu cho quân Giao Chỉ hay: khi thấy quan quân đến thì đừng chạy. Dân chúng đã chịu khổ sở lâu ngày. Nếu dỗ được chúa mày vào nội phụ, Trẫm sẽ ban tước lộc cho. Càn Đức còn trẻ, việc làm loạn không phải tự người gây ra. Ngày nào người tới chầu, Trẫm sẽ tha thứ cho...”. (TTh 13)

Ta nên để ý đến sự vua Tống quan tâm đến danh nghĩa của cuộc chinh phạt này. Trước đó, vua và An Thạch bàn chuyện đánh Giao Chỉ vua do dự và cho rằng chưa phải lúc dụng binh. An Thạch đáp: “ Binh không có lúc nào là không dùng được”. Vua nói: “Dụng binh bây giờ không có danh nghĩa gì cả”. An Thạch sỗ sàng trả lời: “Nếu Bệ hạ quả muốn dụng binh, sao lại không có danh nghĩa?” (Theo lời Trần Quán, TB 244/4a)

- Lần này danh nghĩa rõ ràng. Tự nhiên An Thạch lấy cớ
___________________________________
1. Quảng Tây biện 57 vạn thạch gạo, Quảng Đông biện 57 vạn thạch gạo và 10 vạn thạch đậu, Kinh nam biện 3 vạn thạch gạo, Phúc Kiến biện 3 vạn thạch gạo (TB 271/12a).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #44 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:23:38 pm »


6. Vây Ung Châu

Trong khi triều đình Tống vội vã đối phó, quân LýThường Kiệt đã lục tục kéo trên đường Khâm Ung, để họp cùng quân Tông Đản đến đó trước (TT và VSL)

Ta đã thấy rằng sau khi lấy được Khâm, Liêm, Lý Thường Kiệt chia quân làm hai đạo: một mặt, từ Liêm Châu kéo lên lấy châu Bạch, hình như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới; một mặt, đại quân rời Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Sau ngày 10 tháng chạp (Đ.Zu, DL 18-1-1076) đại quân mới đến thành Ung (TB 271/6b)

Hai đạo quân ta kẹp lại, bắt đầu vây chặt Ung Châu.

Thành Ung có tiếng rất chắc. Chính Vương An Thạch cũng đinh ninh rằng quân ta không thể phá nổi (TB 273/10a). Quan Tống giữ thành Ung lại là một người kỳ cựu, lão luyện, thông minh và rất cương quyết ấy là Tô Giàm. Trận Ung Châu, bởi thế, sẽ rất khốc liệt, và sẽ là một trường tranh đấu giữa mưu trí của Lý Thường Kiệt và lòng dũng cảm của Tô Giàm.

Giàm là một văn quan, giữ những chức nhỏ ở Quảng Nam từ lâu và được coi giữ Ung Châu đã năm năm. Giàm đã biết rằng chính sách của quan trên là Thẩm Khỉ, Lưu Di, thế nào cũng gây ra họa chiến tranh. Nhiều lần can Khỉ rồi Di, mà không được (VI/5,6,7). 

Lúc nghe quân ta tới gần Ung, Giàm nghĩ rằng Ung cách Quế không xa, viện binh chỉ 14 ngày đường đã đến nơi, cho nên quyết tâm đóng thành cố thủ.

Giàm liền kiểm điểm binh lính trong quận. Kể cả cấm binh, sương binh và quân già yếu, chỉ có cả thảy 2.800 người. Giàm bèn hô hào người trong quận, bảo người nào có ai dũng thì bày tỏ phương lượng, rồi chia nhau phòng thủ. (TB 271/7a)

Dân nghe tin, rất sợ hãi; đạp nhau chạy, đông không biết bao nhiêu mà kể. Thấy quân dân nao núng, Giàm đem hết của công và tư bày ra cho quân xem, rồi nói: “Khí giới ta đã dự bị đủ, lương thực trữ cũng không thiếu. Bây giờ giặc đã đến dưới thành. Chỉ còn cách cố thử lấy thành để đợi ngoại viện. Ắt là ta sẽ thắng. Nếu có một ai chạy, thì lòng dân sẽ náo động, và đại sự sẽ hỏng. Nếu chúng ngươi nghe ta, thì sẽ được hậu thưởng. Nếu có ai không nghe mà bỏ chạy, thì ta sẽ chém”. (TS 446 và TB 271/7b)

Trước đó, con Giàm là Tử Nguyên, vốn làm quan ở Quế Châu, đưa vợ con tới thăm Giàm. Lúc sắp trở về, thì thành Ung bị vây. Tuy vậy, Tử Nguyên muốn đưa vợ con đi. Giàm không cho, và chỉ để Tử Nguyên một mình đi thôi. Ấy vì sợ nếu bà con mình chạy, thì dân gian sẽ chạy hỗn loạn. (TS 446; TB 272/7b)

Có một viên đại hiệu, tên Địch Tích, muốn trốn. Giàm sai người nấp ngoài cửa, bắt được quả tang, đem chém và bêu đầu để làm gương. Vì thế, trên dưới ai cũng nín hơi mà nghe theo. (TB 271/7b và TS 446)

Giàm lại mộ được hơn một trăm quân cảm tử, chèo thuyền trên sông Ung Giang, đón đánh quân ta. Chúng chém được mười voi lớn (TB 271/6b) và hai tướng (TS 446)..

Quân Lý vây thành càng ngày càng riết. Giàm đốc thúc quân cố thủ. Muốn an ủi nhân tâm. Giàm phao tin rằng viện binh sắp tới. Giàm lại dùng thứ cung thần tí bắn một phát được nhiều tên. Bắn ra giết nhiều lính và voi. Quân Lý dùng công cụ (một thứ máy bắn đá?) tứ bề trèo lên cao nhắm bắn vào trong thành, giết nhiều quân phòng thủ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #45 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 01:28:54 pm »


7- Diệt viện binh. Trận Côn Lôn quan

Lúc thành Ung sắp bị vây, Giàm sai sứ về Quế Châu, ở cách về phía bắc chừng 400 cây số, để cầu viện. Quan coi Quế Châu là Lưu Di sai viên đô giám Trương Thủ Tiết đem quân đi cứu. Nhưng Thủ Tiết nghe báo rằng ta đông gấp mười, nên dùng dằng không chịu đi liền. Trái lại Thủ Tiết đem binh đi vòng theo đường Quí Châu để tới Tân Châu. Y trú binh lại ở trại Khang Hòa để chờ xem sức Giàm chống lại với ta thắng bại thế nào đã. Không thấy viện binh đến, mà vòng vây đã thắt chặt, Giàm phải cho người mang lạp thư, nghĩa là thư viết vào giấy rồi vò vào trong sáp mà ngậm trong miệng, lọt ra vòng vây để cấp cáo với đề điểm hình ngục Tống Cầu. Lúc nhận được thư, Cầu khóc và giục Thủ Tiết tiến binh. Thủ Tiết hốt hoảng không biết làm thế nào; bèn đem quân đóng ở núi Hỏa Giáp (TS chép Đài Giáp), rồi kéo tới giữ ải Côn Lôn giữa đường Ung Tân, cách Ung chừng 40 cây số. (TB 272/1a và TS 446).

Thường Kiệt được tin, đưa quân đến đón đánh. Thình lình quân ta tiến tới, quân Tống chưa đánh đã chạy. Thủ Tiết nhu nhược không điều khiển nổi binh sĩ, liền bị thua. Nhiều tên quân hàng theo ta (TB 277/17a). Thủ Tiết bị giết1. Ấy vào ngày 4 tháng giêng năm Bính Thìn (T.Zu, DL 11-2-1076; TB 272/1b). Các viên đề cử Tả Giang Ôn Nguyên Dụ, đô giám Hồ Nam Trương Biện, tuần kiểm các châu Ung và Tân Hứa Dự, tuần kiểm các châu Liễu, Tân, Tượng Vương Trấn đều bị giết chết. (TB 273/4b)



8. Phá Ung Châu

Thành Ung Châu bị vây từ mồng mười tháng chạp năm trước, đến bấy giờ gần một tháng. Nhưng thành cao và chắc, Giàm lại giỏi điều khiển binh lính. Quân Lý không sao lọt. Muốn dòm vào trong thành, ta dùng vân thê, là một thứ thang bắc chuyền nối nhau rất cao, rồi sai các tù binh trèo lên mà trông vào thành. Bốn bề dựng thang. Thang vừa dựng, Giàm sai bắn hỏa tiễn, tức là một thứ pháo thăng thiên, đốt cháy thang. (TS 446 và TB 272/7b).

Cầm cự nhau mãi. Bên ta, quân và voi chết rất nhiều. Quân mất một vạn rưởi (TB 271/7b). Quân ta dùng tên độc bắn lên thành. Trên thành người và ngựa chết rất nhiều.

Ta tại đào đường hầm lót da cho kín nước, định chui vào thành. Giàm để ta tiến tới gần, rồi phóng hỏa đốt các huyệt (TB 272/7b). Có tù binh bắt được ở Côn Lôn, tên Triệu Tú, bày cho ta dùng hỏa công, nghĩa là bắn các chất cháy như nhựa thông vào thành (TB 281/13b), trong thành thiếu nước, không thể chữa được cháy (TB 273/15a)

Ta vây thành đã 42 ngày, mà không sao phá được. Thường Kiệt sắp kéo quân lui. Lại có tù binh xui ta dùng phép thổ công: quân ta lấy đất bỏ vào bì, xếp chồng vào nhau thành bực thềm để lên thành. 

Bao đất chất hàng vạn, dần dần cao như núi. Chốc lát đã cao đến vài trượng. Quân Lý nối tiếp nhau như kiến mà trèo lên, rồi lọt vào trong thành. Ấy là ngày Canh Thìn 23 tháng giêng.2 (DL 1-3-1076; TL và TB 272/7b)

Trong khi thành bị vây, lương hết, giếng cạn. Người Ung phải vốc nước bẩn mà uống. Nhiều người mắc bệnh lị chết chất chồng đống. Nhưng không ai nản chí và phản lại. Giàm biết thế nguy, nhưng vẫn chống rất hăng. Giận tụi Thẩm Khỉ, Lưu Di đã gây việc binh đao mà lại không chịu tới cứu, Giàm muốn dâng sớ kêu kiện, nhưng đã tiệt đường. Giàm bèn yết bảng ở chợ kể tội Khỉ, Di, mong lời đạt đến vua Tống. (TS 446 và TB 272/8a)

Lúc quân ta vào lọt trong thành Ung, Giàm còn đem lính bị thương ra chống lại, ruổi ngựa đánh rất hăng. Nhưng thấy mình không còn đủ sức chống nữa, bèn nói với bộ hạ rằng: “ta quyết không chịu chết về tay giặc”. Giàm bèn trở về dinh, tự giết 36 người nhà, kể cả hai con và hai cháu (theo TS, còn TB nói Giàm bảo 36 người nhà chết trước). Giàm giấu thây người nhà vào một cái hầm, rồi tự thiêu mà chết.3 (TB 272/8a và TS 446 )

Quân dân thấy Giàm nghĩa khí như vậy, không ai chịu hàng. Vì Giàm kháng cự lâu, quân Lý tức giận. Lúc vào thành, quyết tìm bắt Giàm cho được. Khi biết Giàm đã chết, chúng tìm xác cũng không thấy. Tức giận, chúng giết sạch dân thành, kể cả quan lại, lính tráng, thổ đinh, cư dân, cả thảy hơn năm vạn người. Các sách TB 272/8a và TS 4346 còn chép rằng quân Lý sắp đầu người thành đồng; mỗi đống 100 đầu mà có tới 580 đống.

Thường Kiệt sai phá thành Ung, lấy đá lấp sông để ngăn quân cứu viện.

Lấy xong Ung Châu, Thường Kiệt kéo quân lên phía bắc, ý muốn lấy Tân Châu. Viên coi Tân Châu, là Cổ Cắn Lặc, nghe quân ta kéo gần đến thành, bỏ thành chạy chốn. (TB 280/2b)
_______________________________________
1. Lúc luận công, đáng lẽ con Thủ Tiết được bổ làm quan, nhưng ngày 27 tháng 7 năm B.Th (1076), viên khu mật tâu: “... Nhưng xét ra, thì Thủ Tiết nhu nhược, không điều khiển được quân. Quân lính nhiều người hàng giặc, và bày cho giặc làm súng pháo để đánh thành Ung. Nay xin chỉ bổ cho hai con y mà thôi”. (TB 277/17a).
2. Về ngày Ung Châu mất, mỗi sách chép một khác. TTh chép ngày 21 tháng giêng. ĐĐSL cũng chép ngày ấy. BM chép ngày A.Ma, nhưng tháng giêng không có ngày ấy. Trên đây, theo Thần tông Thực lục mà TB chép lại.
3. Vua Tống Thần Tông được tin Tô Giàm chết, rất thương tiếc. Ngày 15 tháng 2, vua nhịn ăn để tỏ lòng xót thương. Bèn tặng Giàm chức Phục quốc công, tiết độ sứ, và ban tên thụy Trung Dũng. Vua Tống lại cấp mười khoảnh ruộng hạng nhất ở khu đệ nhất trong kinh thành. Ban chức cho những người thân thuộc, và thăng chức cho con là Tử Nguyên, duy nhất sống sót vì Giàm đã để cho rời khỏi Ung trước khi Ung mất, làm tây đâu cung phụng hạp môn chỉ hậu. Tử Nguyên được bổ làm phó tướng, đi mộ thủy quân. Vua Thần Tông đặc biệt mời Tử Nguyên đến mà an ủi. Vua nói: “Nếu không có cha người giữ Ung Châu, thì thành ấy cũng chỉ như Khâm và Liêm, giặc vừa đến đã mất. Như thế thì giặc thừa thắng đánh tràn, và các châu Tân Tượng, Quế cũng không giữ nổi. Đời Đường, Trương Tuần, Hứa Viễn giữ Mục dương để che cho Giang Hoài, công so với cha ngươi không hơn gì xa.”.
    Vua Tống lại thăng cho Tử Nguyên chức điện trung thừa, thông phán Ung Châu. Còn các con khác như Tử Minh, Tử Chính, các cháu như Quảng Uyên, Trực Ôn, chết ở Ung với Giàm, đều được ưu tặng. (TB 273/9b, TS 446). Vua Tống lại sai lập đền thờ Tô Giàm ở Ung Châu. (TS 446)
    Việc Ung Châu mất, làm náo động nhân tâm ở Tống. Trước vì Ung là cử vào phương nam cho nước Tống. Sau vì Giàm tử tiết ở đó. Sự tử tiết trong thời đại trọng nho, có tiếng dội rất to. Người đương thời ngợi ca khí tiết của Tô Giàm. Ngô Xử Hậu, trong sách Thanh sương tạp ký có kể chuyện sau này: trước đó, Xử Hậu là đồng liêu với Giàm ở Việt Châu; y có làm thơ khen Giàm có công chống với Nùng Trí Cao ở Anh Châu. Trong thơ có câu: “Yến hầm tướng quân dục bạch đầu, tích niên trung dũng động nam châu.”. Sau đó vua Tống ban tên thụy cho Giàm là Trung Dũng. Xử Hậu cho thơ y là câu sấm.
    Chữ Giàm cũng có âm Giam hay Cảm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #46 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 08:56:46 pm »


9- Lui quân và đề phòng

Bấy giờ đại quân Tống từ bắc đã kéo xuống. Mà quân Lý đánh Ung trong hơn một tháng, coi chừng cũng mỏi mệt. Vả mục đính chính của ta là phá các cứ điểm của Tống có thể dùng đánh ta. Nay các thành Ung, Khâm, Liêm đã bị phá, các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Thiên Long, Cổ Vạn đã bị đốt. Như thế, ta xuất quân cũng thắng lợi rồi.

Vả chăng nếu quân Tống tiến gấp, chúng có thể qua vùng khê động vào thẳng các châu Quảng Nguyên, Môn, Lạng và Tô Mậu, trong khi quân ta bị kẹt ở vùng Ung. Vì cớ ấy sự rút quân ta về là cần kíp. (VII/10)

Thường Kiệt hạ lệnh lui quân. Tháng ba năm Bính Thìn (1076), quân ta ra khỏi đất Tống. Tư Mã Quang (TTh 13) nói ngày 21-1 Ung Châu mất, ngày 23-1 Lý rút quân về, không hợp với sách TB, nhưng không sách nào khác nói rõ ngày Lý rút khỏi Ung.

Biết Tống sắp sửa kéo quân tới trả thù, Lý Thường Kiệt ra sức đề phòng trước. “Ngày ngày ông sai tụ tập binh lính để tập trận; nhóm họp voi ngựa, tập duyệt phép chạy, phép xung phong” (theo lời chiếu cho Quách Quì 20-7 năm B.Th; TB 277/4b)

Một mặt khác; Lý hết sức do thám hành động của quân Tống. Lúc hạ Ung Châu, có bắt được 2000 nhà sư. Ta thu lấy băng sắc. Rồi sai thám tử cạo đầu, mặc áo cà sa, mang bằng sắc ấy, giả làm Sư Tống, vào đất Tống dò xét (TB 277/12a). Ta lại dùng dân thuyền chài ở ven bể cho lẫn vào đất Tống để thám thính. (TB 276/6b)

Dân và quân Tống bị ta bắt đem về, được đưa tới ở Nghệ An, Thanh Hóa xa biên thùy Tống, kẻo khi quân Tống vào, các tù nhân ấy có thể theo quân Tống. Hạng trên 20 tuổi, phải khắc trên trán ba chữ Đầu nam triều nghĩa là hàng Nam triều. Hạng dưới 20 tuổi và trên 15 tuổi phải sung làm lính, và theo tục bấy giờ, phải khắc trên trán ba chữ Thiên tử binh. Còn đàn bà, con gái thì phải khắc vào cánh tay hai chữ Quan khách nghĩa là khách của nhà nước. (TS 488)

Các tù ấy hình như cũng không bị giam cầm nghiêm ngặt. Trong bọn tù có Triệu Tú, là người thuộc đội quân Trương Thủ Tiết, bị Thường Kiệt bắt ở ải Côn Lôn, và bày cho ta dùng hỏa công ở Ung Châu. Tháng 10 năm Bính Thìn (1076), bọn Triệu Tú, tất cả ba mươi người, từ trại Nghệ An trốn, cưỡi thuyền vượt bể để về bắc; nhưng gặp gió, bị giạt vào Lê Động ở đảo Hải Nam ngày nay. (TB 267/3b)

Thường Kiệt lại dò biết Tống dụ Chiêm Thành và Chân Lạp họp lực đánh ta. Tháng tám năm ấy (Bính Thìn 1076), Thường Kiệt đem quân vào tuần du ở các châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh mà Chiêm Thành mới nhường cho ta bảy năm trước. Ông vẽ địa tô các châu ấy để tiện việc phòng thủ. Muốn củng cố địa vị của ta ở những châu mới ấy, ông chiêu dân tới ở, và tổ chức cai trị lại. Đổi tên Địa Lý ra Lâm Bình và Ma Linh ra Minh Linh. (TT). 

Về việc này, sử ta (TT) chép rằng “vua sai Lý Thường Kiệt đánh Chiêm Thành1, nhưng đánh không thắng, bèn vẽ bản đồ...” Nhưng chắc chắn rằng mục đính cuộc xuất quân này không phải là để xâm chiếm Chiêm Thành. Bấy giờ quân Tống đã tụ tập nhiều ở Ung Châu. Thường Kiệt chỉ đi tuần tra kiểm soát sự phòng thủ, để ngừa sự bất trắc ở miền nam thôi. Sự họa bản đồ và di dân tới ở các châu mới kia đủ tỏ ý định ấy.

Tâm trí Lý Thường Kiệt bấy giờ phải chuyên chú về sự Tống đương soạn sửa uy hiếp miền bắc.

Sau trận Lý tấn công, vùng Tả Giang trên đất Tống bị tàn phá. Muốn ngăn Tống kéo quân xuống, quân ta đã dùng phép thanh dã. Các kho tàng, tiền bạc, lương thực đều bị đốt cháy. Quân Lý, nhất là thổ binh, lại mang cả nhà đi theo, cho nên đã cướp của cải, bắt đàn bà, con gái Tống rất nhiều. (Theo lời tâu Trương Phương Bình, TB 276/18b). Dân gian chạy tán loạn vào rừng núi. Nhiều khê động quay theo Lý. Người Tống dẫu muốn phục thù, trước hết cũng mất nhiều thì giờ để khôi phục và sắp đặt vùng ấy đã. (TB 275/12b và TB 276/19b)
____________________________________
1. TT chép việc đánh Chiêm Thành vào tháng 8 năm trước (A.Ma 1075). VSL không chép việc ấy. SK cho ta biết rằng sách Việt sử bị lãm của Nguyễn Nghiễm chép chuyện ấy vào năm B.Th 1076. Chép như thế mới đúng lý. Nhưng ta không biết Nguyễn Nghiễm dựa vào đâu mà chép khác TT.
    Trong khoảng sử về Lý, TT còn chép lầm một vài chỗ khác.
    Còn như VSL, thì không nói đến việc nầy. Ấy tỏ rằng việc tuần du nầy không quan hệ lắm. Vậy chắc không phải để đánh Chiêm.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #47 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 08:57:27 pm »


10- Ảnh hưởng

Trên đây, tôi đã nhờ một chi tiết ghi trong các sách Tống, để kể lại cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống. Tự nhiên, sách Tống đã tìm mọi cách để giảm vũ công ta, như nói có người Tống bày mưu kế hay chiến thuật. Nhưng thế cũng không che nổi sự thất bại lớn lao và chua cay của Tống. Ta hãy xem những ảnh hưởng của nó, sẽ hiểu rõ.

Sau khi Tống bị đại bại, tại triều Tống, vua và tể thần không ai chịu nhận lỗi mình. Người này đổ lỗi cho người kia. An Thạch viết trong tư kỷ của mình rằng: “Vua sai Khỉ kinh chế kín việc Giao Chỉ, các đại thần không hay. Phàm Khỉ tâu xin gì vua cũng nghe” (TB 244/3b). Thần Tông thì chối không hề sai Khỉ làm bậy; tự tay viết chiếu kể tội Khỉ, có nói: “trước đây Thẩm Khỉ ở Quảng Tây nói dối là nhận được mật truyền của triều đình báo soạn đánh Giao Chỉ” (TB 272/2a). Người đương thời cũng kết tội Khỉ như thế ấy (TB 272/2a), và nhiều kẻ buộc hẳn lỗi tại An Thạch tham lập công (Trần Quán, TB 244/4a).

Sau ngày Khâm và Liêm mất, Lưu Di bị cách chức và Thạch Giám được bổ thay (tháng 12 năm Ất Mão 1075).

Ngày mồng 9 tháng Giêng (B.Da, DL 16-2-1076); TB 272/2a), vua Tống sai Thạch Giám và Cho Ốc xét tội Thẩm Khỉ và Lưu Di, tuy rằng trước đó vua có hạ chiếu kể tội hai viên coi Quế Châu ấy. (VI/th3)

Thất trận, An Thạch đổ hết tội cho các thuộc hạ. Kỳ thật, ai cũng biết chính y là chủ mưu và hoàn toàn phải mang trách nhiệm. Sau khi nghe quân mình thua trận liên tiếp ở Quảng Tây, Vương An Thạch muốn bưng bít, kẻ sợ dư luận bài xích. Lúc được tin Ung Châu bị vây, An Thạch nói: “Thành Ung rất chắc, quyết là không phá nổi”. Vua cho là đúng. Đến khi Ung Châu mất, vua muốn triệu hai ti trung thư và khu mật tới hội nghị ở các Thiên Chương. An Thạch can rằng: “Hội ở đó thì việc thất lợi này thành ra việc to. Bất nhược hội ở Đông Phủ”. Tư Mã Quang (TTh 13) chép lời ấy và thêm rằng: Vương An Thạch lo, tỏ vẻ ra lời nói và sắc mặt, đến nỗi Vương Thiều phải bảo: “Ông ở đây còn lo như thế, huống chi kẻ ở ngoài biên khích ! Xin ông án trọng, để trấn tĩnh vật tình”. (TB 273/10a)

An Thạch lo sợ như vậy, là vì y để hoàn toàn hy vọng vào việc lập biên công, để gây thanh thế cho mình ở trong triều và ngoài nước. Y lại rất tin rằng thành Ung vững chắc. Khi biết Ung Châu bị vây, y đã lập tâm cho Triệu Tiết đem đại quân, thừa hư đánh thắng vào đất Lý (TB 276/2b). Đến khi thấy mưu mình thất bại, y hoang mang, bối rối.

Ngày 24 tháng 5 năm Bính Thìn 1076, vua Tống Thần Tông phàn nàn với An Thạch rằng: “Đời vua Chân Tông. Lúc Lê Hoàn chết, có thể lấy Giao Chỉ; thế mà bỏ mất cơ hội”. An Thạch nói: “Khi Nùng Thiện Mỹ nội phụ (1074), Giao Chỉ không dám cố nài (VI/5). Bấy giờ Càn Đức mới lên ngôi. Trong ngoài, dân chưa theo. Trong nước ai cũng sợ Trung Quốc tới đánh...

Nay có người buôn bán ở Giao Chỉ, nhân theo giặc tới Ung, rồi trốn thoát. Đã gọi nó tới và hỏi rằng: “ngày trước Giao Chỉ vào cướp có 6 vạn người, mà trong đó nhiều đàn bà, con gái, ông già, kẻ ốm, có phải thế không?” Kẻ kia trả lời: “Nhà có sáu người thì năm người đi theo quân, còn một người nữa không đi được, nên ở lại”. Xem vậy, cả nước Giao Chỉ đã vào cướp. Trong nước chúng đã không còn ai. Ta bỏ mất cơ hội, thật là đáng tiếc!”. (K.Vi, DL 28-6-1076; TB 276/13b).

Trên đây là một chứng tỏ rằng An Thạch và vua Tống lăm le muốn thừa cơ lấy nước ta. Sau đây còn có một chứng khác, tỏ rõ rằng An Thạch trước khi Ung Châu mất, muốn thừa hư đánh úp ta, và sau khi ấy, lại bối rối và hối hận. Ngày mồng 6 tháng 6, vua Tống và An Thạch cãi nhau về việc dùng người đi phụ dụ các khê động đã theo ta, lúc quân ta tới Tả Giang. Vương Thiều nói: “Trước, định cuối xuân đầu hạ đánh Giao Chỉ. Sau, ti tuyên phủ lại đổi ý.” Vua hỏi: “Sao lại thế?” An Thạch trả lời: “Tôi khi trước thấy Giao Chỉ đánh Ung Châu chưa hạ được, trong nước chúng bỏ không; nên tính có thể hành động chóng mà đánh úp ở hậu phương nó. Làm như thế, thì ta không cần đánh quân nó đương cướp ở đất ta, mà chúng cũng bị tan. Sau khi Ung mất, sự đánh úp chúng không thể bàn đến nữa.” An Thạch lại nói thêm: “Đáng lẽ, ta phải đánh khi Càn Đức mới lập. Bấy giờ, các khê động đều muốn nội phụ. Nếu lúc ấy ta muốn đánh Giao Chỉ, thì chỉ cần mộ 2 vạn tinh binh, chọn 5,6 tướng vừa vừa, là có thể làm xong chuyện. Tôi trộm nghĩ rằng nếu bấy giờ ta đoán được sự ngày nay chúng không tuân lệnh, thì ta đã có tiếc gì mà không cử binh. Thế mới biết rằng: việc bốn cõi biên thuỳ, nếu không lo sự lớn hơn sự bé, làm việc khó trước việc dễ, thì đến nhọc quân tốn của.” (DL 9-7-1076; TB 276/2b và 3a)

Vua tôi Tống tiếc rẻ không đánh ta trước, nhưng lại không biết rằng sở dĩ Tống bị đánh trước, là vì Tống dự bị đánh ta. Trong cuộc xung đột nam bắc này, hai bên rất rõ ý nhau. Chỉ có bên khéo toan tính, hành động nhanh chóng, là bên thắng. Chuyến này, nhờ Lý Thường Kiệt, nước ta đã đi bước trước, cho nên mới thắng một cách hoàn toàn và khỏi thua về sau.

Nhưng Vương An Thạch cũng không phải kẻ tầm thường. Y tính toan rất đúng lẽ. Khốn nỗi, trên vì vua còn do dự, dưới vì tướng vụng về, cho nên gây thành thất bại ấy. Hãy nghe tiếp câu chuyện của vua tôi Tống còn kể dở trên kia.

Vua Tống nói: “Ngày trước, nếu ta muốn hưng binh cho lợi, thì trước phải luyện binh đã.” An Thạch trả lời: “Cứ bắt đầu làm đi, thì kẻ có tài tự nó luyện lấy. Nếu không bắt đầu, thì binh khó lòng mà luyện được; nếu ta đêm ngày tập mà không biết địch khí ra sao, thì lúc cử sự, sẽ bất lợi. Nếu ta cứ sử sự đi, thì kẻ có tài và kẻ bất tài sẽ phân biệt. Ta sẽ thưởng bạt kẻ có tài, kẻ bất tài cũng phấn khởi.” An Thạch thích hoạt động, nên hay bênh thuyết “phải hoạt động mới thấy tài, và chỉ có kẻ bất tài mới không hiếu sự.” Vua Tống nói: “Cũng phải dùng đến quân có sẵn, rồi mới có thể cử sự được; và ta cũng phải xét sức có thể thắng hay không, mới nên cử sự.” An Thạch trả lời: “Lúc Càn Đức mới lập, ta chỉ cần hai vạn tinh binh là xong việc. Ở Trung Quốc, há lại không thể mộ được hai vạn quân giỏi, năm bảy tướng vừa hay sao? Lúc quân ta diệt được Giao Chỉ, uy ta sẽ có. Rồi ta báo cáo cho Thiểm Tây biết, quân dân Thiểm Tây sẽ có thắng khí. Với thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ. Mà nếu nuốt được Hạ, thì ai dám quấy nhiễu Trung Quốc nữa”. (Nhật lục, TB 276/2a, 2b và 3a)

Mộng Vương An Thạch đã tan. Vương An Thạch hối cũng không kịp. Tuy y đã dự bị việc phục thù, nhưng dư luận xôn xao; các triều thần nhao nhao chỉ trích. Trong các thư tịch đời Tống còn lại, các danh nhân như Tư Mã Quang, Trích Hạo, Phương Chính Bình, vân vân, còn chép một vài mẩu chuyện về việc xuất quân bất lợi của An Thạch. An Thạch hoàn toàn cô lập, trở nên chán nản. Không đợi kết quả của cuộc phát quân phục thù mà mình đã chủ mưu. An Thạch phải xin từ chức. Ấy vào tháng 10 năm Bính Thìn (1076).

Một ảnh hưởng bất ngờ của cuộc thắng trận của Lý Thường Kiệt là: không những nó đánh đổ âm mưu xâm lược của Tống, không những nó đánh đổ kẻ chủ mưu cuộc xâm lược ấy, mà nó còn là cớ cuối cùng đánh đổ một cuộc cách mạng về tư tưởng, về chính trị, về kinh tế vĩ đại nhất ở thế giới trong đời trung cổ.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #48 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 09:09:56 pm »


PHẦN THỨ HAI
KHÁNG TỐNG ĐÒI ĐẤT



CHƯƠNG VIII
TỐNG SỬA SOẠN PHỤC THÙ
1. Tướng tá - 2. Bộ binh - 3. Thủy binh - 4. Lương thực. 5 - Chuyên chở - 6. Y dược


Trên kia đã nói, sau khi nghe tin Khâm và Liêm đã mất. Vua Tống và tể tướng Vương An Thạch quyết định một mặt ngăn ngừa quân ta tiến đánh sang mé đông và mé bắc; một mặt sắp sửa binh mã, đánh thẳng vào nước ta, để gỡ vây cho thành Ung.

Nhưng trong khi sửa soạn, Ung Châu cũng mất. Và sau đó, quân ta cũng tự ý rút về. Cho nên An Thạch phải đổi chiến lược. Mục đích mới là chinh phục nước ta và sát nhập đất đai ta vào Tống. Trong lời dặn tướng Quách Quì, ngày 28 tháng hai (G.Dn, DL 6-3-1076; TB 273/13b) vua Tống nói: “Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như ở nội địa”.

Muốn chắc chắn đạt mục đích chuyến này, Tống đã sửa soạn một cách chu đáo lạ thường. Trong gần một năm, từ tháng chạp năm Ất Mão 1075 đến tháng mười năm sau, Tống sửa soạn kỹ càng về đủ mọi phương diện: tướng tá, quân thủy, quân bộ, khí giới, lương thực, chuyên chở, thuốc thang, tuyên truyền, phủ dụ và mưu lược



1 - Tướng tá

Chương trên đã kể rằng ngày 25 tháng Chạp năm Ất Mão (DL 2-2-1076) Tống Thần Tông cử Triệu Tiết làm tướng, Lý Hiến làm phó, cầm quân xuống đánh ta. Tờ chiếu xuất quân là tự tay Vương An Thạch thảo ra. Ngày 24 tháng giêng, vua giục Tiết về chầu. (TB 272/8b)

Triệu Tiết, xuất thân tiến sĩ. Bấy giờ còn coi Diên Châu (Diên An ngày nay, ở Thiểm Tây). Vì có công ngăn Hạ1, nên mới được vua bạt thăng làm thiên chương các đại chế (TS 332), và được An Thạch thích. Còn Lý Hiến là một hoạn quan, tuổi mới hơn ba mươi; đáng lẽ chỉ được coi nơi cung cấm. Nhưng từ nhà Đường, có tệ hoạn quan, gần gũi vua, nên được tin cậy và được trao việc chính và việc quân.

Việc chọn tướng như vậy không làm cho triều đình hài lòng, huống chi An Thạch thường định đoạt điều gì, cũng chỉ bàn bạc với vua, chứ không hỏi ý kiến đại thần khác. Có quan ngự sử Thái Thừa Hi tâu (ngày 28 tháng Giêng) rằng: “Người ta phàn nàn sự vua không hỏi ý kiến hai phủ Trung thư và Khu Mật, và sự Lý Hiến trần tính thẳng, chứ không qua hai phủ. Vậy vua nên cho các quan hai phủ biết đến các việc, để họ bàn, rồi vua hãy định sau” (TB 272/12b).

Nhất là sự chọn hoạn quan Lý Hiến cầm quân càng bị chỉ trích. Có Dương Hội dâng sớ can vua không nên dùng hoạn quan và không nên bỏ ngỏ bắc biên (VKT 9).

Lời sớ có đoạn nói rằng: “Tôi nghe sách Quân chí có nói: kẻ giỏi đánh, đánh chỗ tưởng không cần giữ; kẻ giỏi giữ, giữ chỗ tưởng không đánh đến. Nay đưa tướng giữ những nơi Đàm, Quảng (Hồ Nam và Quảng Tây), mà ở Mân, Tuyền, Phúc (Phúc Kiến) chưa hề bàn đến cách giữ. Tuy rằng giặc phải vượt qua Quảng rồi mới đến Mân, nhưng tôi lo rằng chúng tiện gió vượt bể, bất ý sẽ tới. Như thế thì hóa ra ta nhãng giữ chỗ tưởng không đánh đến.

“Giao Chỉ quấy phương nam, mà tướng tá chọn lấy tại chỗ phải phòng bị là miền tây. Vạn nhất ở đó, giặc (nước Hạ) thừa hư vào cướp, thì điều lo lại lớn hơn. Làm thế cũng trái với phép phải giữ chỗ tưởng không đánh đến.

“Tôi lại thấy chiêu thảo phó sư Lý Hiến tuổi mới hơn ba mươi, chức mới đến phòng ngự. Mà nay bệ hạ mưu đánh Giao Chỉ ắt là thành công. Vậy xin Bệ hạ nghĩ đến sự sau khi thành công, Hiến sẽ được yêu dùng. Tuổi y chưa cao, mà quyền sẽ sớm thịnh. Bệ hạ xử trí sẽ khó. Xin nghĩ đến sự có thể có nguy cơ...”.

Vua Tống cũng không nghe lời can ấy. Nhưng hai tướng Tiết và Hiến bất hòa. Tiết lại sợ Hiến cậy thế được vua thân tín, lấn quyền chánh tướng. Cho nên Tiết tâu rằng: “Triều đình đặt chức phó đô tổng quản (cho Hiến) là cốt để bàn góp việc quân. Còn Tiết chế hiệu lịnh thì xin quy nhất vào tay chánh đô tổng quan (Tiết). Hiến thấy vậy, lấy làm mếch lòng. Vả Tiết muốn rằng phàm việc gì cũng tâu qua hai phủ, mà Hiến thì muốn tâu thẳng lên vua (TB 273/1b).
__________________________________
1. Triệu Tiết xuất thân tiến sĩ. Lúc nước Hạ chống Tống, Quách Quì được sai đi tuyên phủ Thiểm Tây. Quì đóng quân ở Diên An. Tiết giúp việc ở đó. Bấy giờ Quì, Tiết mộ kỵ binh ở dân bản thổ được 17.000. Tiết tập luyện chúng, trở nên hay hơn chính binh. Tống Thần Tông rất khen, mới cất Tiết lên chức Thiên chương các thị chế. Vì vậy, lúc tiến đánh Giao Chỉ, vua Tống và Vương An Thạch liền cử Tiết cầm quân (ĐĐSL 91)
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #49 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2009, 09:11:33 pm »


Một hôm, Hiến hỏi Tiết: “Trong việc quan, nếu có chỉ vua về chỉ huy, thì làm thế nào? có tuân theo không?” Tiết trả lời: “Chỉ ấy phải thì nên theo, chỉ ấy không phải thì nên không theo. Trong quân phải tiện nghi”. Tiết hiểu rõ quyền và bổn phận một tướng tại ngoại; còn Hiến quen tính tôi tớ ở cấm đình, nên chỉ chịu sai bảo mà thôi.

Hai người trở nên ghét nhau, nhiều lần cãi nhau trước mặt vua (TB 273/1b). Tiết xin vua bãi Hiến (TS 332). An Thạch bênh Tiết nói: “Không nên bắt chước đời Đường lúc suy, giao việc nước cho hoạn quan” (TB 273/1b). Vua bằng lòng nghe theo, và hỏi Tiết: “Nếu Hiến không đi, thì lấy ai thay?” Tiết tâu: “Có Quánh Quì đã lão luyện biên sự”.

Nguyên, tại triều, Vương An Thạch và Ngô Sung không ăn ý với nhau về việc đánh Giao Chỉ. An Thạch nói đánh chắc được. Sung nói nếu có được cũng vô ích. (TB 273/1b)

An Thạch lại không thích Quách Quì. Trước đó An Thạch đã đổ cho Quì đã làm hỏng việc đào sông Hi Hà, và đã truất Quì. An Thạch lại là người thích Tiết, nên chỉ muốn để Quì làm phó mà thôi. Trái lại, Sung che chở Quì và xin cho Quì làm chánh. Hai bên cãi nhau. Vua hỏi thẳng Tiết rằng: “Khanh thống soái, mà Quì làm phó hay sao?”

Câu hỏi làm Tiết lúng túng, vì bụng muốn làm chánh soái mà không lẽ nói ra. Nên Tiết tâu một cách miễn cưỡng rằng: “Vì nước mà làm việc chung. Sao lại hỏi ai chánh, ai phó? Tôi chỉ xin giúp việc mà thôi.” (TB 273/1b).

Thế là Quách Quì được cử làm nguyên soái, và vô cớ, Tiết tự truất mình xuống làm phó. Đó là một cớ lớn làm cho sau này hai người trở nên bất hòa, và sự hành binh thất bại cũng căn do ở đó phần lớn.

Trong cuộc xung đột giữa Ngô Sung và Vương An Thạch, An Thạch đã thua. Ảnh hưởng An Thạch từ đó sụt kém.

Ngày mồng 2 tháng hai (M.Ty, DL 9-3), vua hạ chiếu cử Quách Quì lên chức tuyên huy nam viện sử, thay Triệu Tiết làm An Nam đạo hành doanh mã bộ quân đô tổng quản chiếu thảo sứ và kiêm chức tuyên phủ sứ ở các lộ Kinh Hồ, Quảng Nam. Triệu Tiết thay Lý Hiến. Hiến bị bãi. Yên Đạt vẫn làm phó đô tổng quản.

Quì là một võ tướng như Địch Thanh xưa. Vì anh có quân công, nên Quì được tập dụng. Quì đã từng giúp Phạm Trọng Yêm giữ biên thùy giáp Hạ. Bấy giờ Quì còn coi phủ Thái Nguyên (TB 273/1a và ĐĐSL 62 ).

Tính Qùi cẩn thận, bàn việc rất đứng đắn, nhưng có bề cẩn thận quá, hóa ra rụt rè chậm chạp. Vua Tống Thần Tông cũng biết vậy. Vua muốn hai tướng tương đắc với nhau để làm việc. Lúc Tiết vào chào để xuống trước miền nam (15-2, T, Su, DL 22-3) 1, vua dặn Tiết rằng: “Muốn dùng thổ binh, phải lấy lợi mà nhử chúng. Quách Quì tính hạ tiện; khanh nên dụ y rằng triều đình không sợ tổn phí đâu. Quì lại hay nghiêm quá, không hiểu hạ tình. Tướng tá không giám nói gì với y. Khanh nên nói thay cho họ, chớ có khinh để họ quá” (TB 273/8b).

Ngày hôm ấy, chính là ngày ti khinh lược Quảng Tây tâu việc Ung Châu mất. Vua rất lo lắng. Được tin Tô Giàm tử nghĩa, vua nhịn ăn để tỏ lòng thương tiếc.

Ngày 18 tháng 2, vua ban cho Quì 1000 lượng bạc và 1000 tấm quyến (G, Th, DL 25-3; TB 273/11b)

Ngày 20 (B, Ng, DL 27-3; TB 273/11b). Quì về đến kinh, yết kiến vua, vua đặc biệt tiếp tại điện Diên Hòa. Vua hỏi: “Dẹp An Nam bằng chước nào?” Quì cẩn thận trả lời: “Về việc binh, khó lòng ở xa mà tính được. Xin đợi đi đến Ung Châu, rồi sẽ hiến phương lược”. Vua lại hỏi: “Dùng quân phải thế nào?” Quì đáp: “Xin đưa theo tất cả tướng, lại, quân sĩ cũ ở các châu Phủ Diên tại Hà Đông (Thiểm Tây)”. Đó là vì Quì vừa cầm quân ở châu ấy muốn đem bộ thuộc quen dùng của mình đi theo. Ý ấy cũng hợp với ý vua. Từ ngày 13 tháng giêng (C, Ng, DL 7-2), đã có lệnh được chọn những tướng được sung vào việc cầm các đạo quân nam thảo. Các tướng ấy đều lấy ở các doanh tại tây bắc2.

Vua Tống bằng lòng, rồi cắt công việc, bèn sai Triệu Tiết xuống miền nam trước, để trông coi những quân đã mộ ở các miền ấy. Ngày 21 tháng 2 (Đ, Vi, DL 28-3), lại sai Tiết coi riêng về việc lương thực (TB 273/11b, 12b)
____________________________________
1. Chú ý: Về sau, khi nào không chép năm, tức là năm Bính Thìn, DL 1076.
2. Trong số những tướng ấy có: 1. Diêu Tự hiện làm hàm hạt ở Kinh nguyên; 2. Lý Hạo hiện làm hàm hạt ở Hi Hà; 3. Trương chi Giám tướng hiện đóng quân ở Tần Phượng; 4. Dương Vạn hiện làm đô giám ở Hoàn Khánh; 5. Lôi Tự Văn tướng làm đô giám ở Hoàn Khánh; 6. Lữ Chân phó tướng hiện làm đô giám Diên Phu; 7. Lý Hiếu Tôn hiện làm đô giám ở Hoàn Khánh; 8. Trương Thế Cự hiện làm phát khiển ở Phong Châu; 9. Địch Tường hiện tướng đóng ở Hà Bắc; 10. Khúc Chẩn phó tướng hiện đóng ở Diên Phu; 11. Quản Vi phó tướng hiện đóng ở Kinh Tây; 12. Vương Mẫn phó tướng hiện đóng ở Hà Đông (TB 22/3b)
    Sau này các tướng Diên Tự, Trương Thế Cự, Khúc Chẩn sẽ đem quân theo Quách Quì và có lập được chiến công, cho nên TB có nói tới. Còn các tướng kia, không biết có đi hay không.

Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM